‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Đã đến lúc cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn

‘GIẢI PHÓNG’ ĐẤT NÔNG LÂM TRƯỜNG:

ĐÃ ĐẾN LÚC CẦN ‘CUỘC CÁCH MẠNG’ QUYẾT LIỆT HƠN

Lời giới thiệu

Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của nông/lâm nghiệp và là trụ đỡ quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Chính vì thế, mục tiêu mà Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội đã liên tiếp đặt ra từ năm 1991 đến nay là cần tháo gỡ các vướng mắc từ cơ chế chính sách cũng như bất cập từ thực tiễn quản lý ở cơ sở để “giải phóng” nguồn lực đất đai, nhất là đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường cho phát triển kinh tế. Đây cũng là giải pháp để đảm bảo an sinh xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cũng như đạt được mục tiêu phát triển thịnh vượng, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Không thể phủ nhận, sau gần 30 năm “sắp xếp, đổi mới,” đến nay việc quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường trên cả nước đã có bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, bất cập gây thất thoát, lãng phí nguồn lực đất đai; thậm chí nhiều công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng còn buông lỏng quản lý để mất rừng với hơn một nửa diện tích được giao trước đó.

Trong khi đó, nhiều địa phương thi hành các “mệnh lệnh” về quản lý, sử dụng đất nông lâm trường còn mang tính trên giấy; nhiều nơi vẫn chưa hoàn thành việc xác định ranh giới, cắm mốc thực địa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hệ quả của thực trạng trên là cả nước hiện có khoảng 58.000 hộ dân đang thiếu đất ở, hơn 300.000 hộ dân tại các vùng “lõi nghèo của cả nước” đang thiếu đất sản xuất.

Để có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng trên, mời độc giả cùng phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đi vào thực tế điều tra – từ đó hiểu vì sao Nhà nước đã ban hành rất nhiều “quyết sách lớn” đốc thúc các địa phương triển khai đổi mới nhưng rừng vẫn bị mất; đất đai liên tiếp bị lấn chiếm, tranh chấp; tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thiếu đất sản xuất ở mức cao.

Trên cơ sở thông tin đã ghi nhận, Báo Điện tử VietnamPlus đăng tải loạt bài “Giải phóng đất nông lâm trường: Cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn” như một hồi chuông cảnh tỉnh, lời kiến nghị, thúc giục các cơ quan chức năng liên quan, các nhà hoạch định chính sách lưu ý, sớm triển khai các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể hơn, để không gây lãng phí nguồn lực đất đai cũng như giải quyết được hiệu quả vấn đề thiếu đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên cả nước.


GIẢI PHÓNG ĐẤT NÔNG LÂM TRƯỜNG: 30 NĂM MỚI ‘ĐỔI MỚI’ PHẦN NGỌN

Việc sắp xếp, đổi mới và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất nông lâm trường là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trước bối cảnh các nông lâm trường quốc doanh đang bộc lộ nhiều yếu kém do được giao quá nhiều diện tích rừng và đất nhưng “đuối sức” trong quản lý, sử dụng không hiệu quả, bắt đầu từ năm 1991, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường. Đến nay, việc triển khai các “quyết sách” liên quan đến đời sống của hàng vạn người dân đã bước vào năm thứ 30.

Không thể phủ nhận, sau gần 3 thập kỷ điều chỉnh, các nông lâm trường đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, những đổi thay ấy vẫn chỉ là “bình mới, rượu cũ”.

Đầu tháng 10/2020, phóng viên VietnamPlus nhận được thông tin từ một số chuyên gia, tổ chức nghiên cứu rằng hiện nay tình trạng quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường đang rất phức tạp. Nhiều công ty lâm nghiệp “ôm” quá nhiều đất – dù đã “sắp xếp đổi mới,” nhưng tình hình sản xuất vẫn không hiệu quả; trong khi đồng bào dân tộc thiểu số tại các “vùng lõi nghèo của cả nước” vẫn thiếu đất sản xuất, đặc biệt là tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên.

Một trong những lý do dẫn tới thực trạng trên là việc triển khai sắp xếp đổi mới nông lâm trường quốc doanh vẫn còn mang nặng tính hình thức. Nghĩa là các nông, lâm trường mới chỉ tập trung vào “phần ngọn” là sắp xếp tổ chức (đổi tên gọi từ nông lâm trường quốc doanh thành ban quản lý hoặc công ty nông, lâm nghiệp.) Trong khi đó, “phần gốc rễ” của việc đổi mới là rà soát, đánh giá hiệu quả sử dụng đất còn ít được quan tâm; chưa có sự thay đổi căn bản về phương thức hoạt động, cơ chế quản lý và điều hành dẫn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh rất thấp.

Nhiều công ty lâm nghiệp “ôm” quá nhiều đất, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số tại các “vùng lõi nghèo của cả nước” vẫn thiếu đất sản xuất

Đáng nói hơn là phần lớn các địa phương không chủ động xây dựng phương án đổi mới mà để cho các nông, lâm trường “tự rà soát, tự đánh giá” và chưa có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, nhất là sự tham gia của người dân địa phương.

Mặt khác, các nông lâm trường vẫn quản lý, sử dụng gần như toàn bộ diện tích được giao, chỉ có những khu vực nào thực sự bị tranh chấp, bị lấn chiếm – mới trả lại. Thế nhưng, phần lớn diện tích đất trả lại cũng không còn quản lý được nữa vì thực chất dân đã sản xuất kinh doanh, sử dụng từ lâu đời.

Hệ quả của việc “thay bình chưa thay rượu” trên là sau gần 30 năm đổi mới, từ 663 nông lâm trường quốc doanh (một số nông lâm trường hoạt động thua lỗ đã giải thể) được sắp xếp lại còn 252 công ty nông, lâm nghiệp song tình trạng tranh chấp, mua bán, chuyển nhượng đất đai vẫn xảy ra. Thậm chí, một số công ty còn để mất đất, mất rừng với hơn một nửa diện tích từng được Nhà nước giao quản lý trước đó…

Hiện có khoảng 58.000 hộ dân đang thiếu đất ở, hơn 300.000 hộ dân tại các vùng “lõi nghèo của cả nước” đang thiếu đất sản xuất. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trong chuyến đi thực tế tại các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, chúng tôi đã thực sự đau xót khi tận mắt chứng kiến cảnh hàng chục quả đồi từng được Nhà nước giao cho các ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp quản lý – nay cây cối bị chặt hạ, đốt cháy, bỏ hoang, chẳng khác gì những “cánh rừng chết.”

Chỉ riêng trên quãng đường từ tỉnh Kon Tum qua tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến trên dưới 20 lần cảnh những vạt rừng bị thiêu rụi. Tiếng máy cưa xăng “thở dốc” khi đốn hạ cây cối vang khắp núi rừng. Hàng trăm ngôi nhà, kho xưởng và cả trụ sở xã được xây dựng trên đất nông, lâm trường… Tất cả những cảnh tượng đó đã góp phần tạo nên “bức tranh màu xám,” một thực tế không thể phủ nhận, đó là rừng Tây Nguyên đã và đang bị mất, bị xâm lấn do việc giám sát, quản lý yếu kém việc chuyển đối đất nông lâm trường.

Theo dữ liệu phóng viên thu thập được, trong vòng 10 năm (giai đoạn từ 2010-2020), diện tích rừng trên cả nước đã bị mất khoảng hơn nửa triệu hécta. Riêng năm 2019, diện tích rừng bị thiệt hại là 2.575 hécta. Trong 8 tháng năm 2020, diện tích rừng bị thiệt hại 1.881,1 hécta; trong đó thiệt hại do cháy là 1.362,9 hécta.

Tại khu vực Tây Nguyên, trong giai đoạn này, rừng đã bị mất khoảng 0,314 triệu hécta; tốc độ mất rừng tự nhiên bình quân vào khoảng 46.267 hécta/năm.

Về việc chuyển mục đích sử dụng rừng, vùng Tây Nguyên có hơn 750 dự án đề nghị chuyển mục đích sử dụng với diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm 48.980ha. Kết quả phân tích biến động sử dụng đất lâm nghiệp cho thấy trong giai đoạn 2014-2017, có tới 13% diện tích rừng bị mất đã được chuyển sang sản xuất nông nghiệp như càphê, sắn, tiêu hoặc cây sản xuất hàng năm. Tuy nhiên, nhiều diện tích trong số đó trong quá trình sản xuất đã không mang lại hiệu quả.


Đơn cử như tại xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, trước đây, đất của các hộ dân sinh sống ở xã này thuộc quản lý của lâm trường Ea Tul sau chuyển thành ban quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn, nhưng người dân xâm canh, lấn chiếm và chuyển mục đích sử dụng thành đất ở. Ngay cả diện tích đất canh tác cũng thuộc về ban quản lý rừng phòng hộ, nhưng do người dân bản địa xâm chiếm, sau bán lại cho các hộ gia đình người Kinh và chuyển quyền sử dụng sang chính chủ.

Theo người dân xã Ea Wer, đất rừng giao cho ban quản lý rừng phòng hộ quản lý và sử dụng không hiệu quả, hay nói cách khác “ban quản lý còn đất chứ không còn rừng”…

Tiến sĩ Trương Thị Hạnh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên, cho biết từ khi sắp xếp, đổi mới đến nay, trên địa bàn Đắk Lắk có 13 công ty lâm nghiệp đang quản lý khoảng 200.000ha. Tuy nhiên, theo Báo cáo số 24/BC-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh này về “thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn từ năm 2004-2014,” trong số 13 công ty lâm nghiệp trên chỉ có 1 đơn vị sản xuất duy nhất có mức lãi 4,9% sau thuế, 8 công ty chỉ đạt mức lãi thấp dưới 0,1% và 4 đơn vị thua lỗ.

Bên cạnh việc sử dụng đất kém hiệu quả, nhiều công ty lâm nghiệp còn sử dụng đất sai mục đích, bỏ hoang đất, rừng cũng như để xảy ra lấn chiếm, tranh chấp đất. Theo kết quả kiểm tra, rà soát, đánh giá các dự án phát triển nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, năm 2017 đã có hơn 16.254ha đất sử dụng sai mục đích; trên 3.786ha đất chưa sử dụng; hơn 12.598ha diện tích đất xảy ra tranh chấp…

Tại khu vực Tây Nguyên, trong giai đoạn 2010-2019, rừng đã bị mất khoảng 0,314 triệu hécta; tốc độ mất rừng tự nhiên bình quân vào khoảng 46.267 hécta/năm

Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus về nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk khẳng định có rất nhiều lý do dẫn tới việc phá rừng, lấn chiếm, tranh chấp đất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu nhất là do tình trạng đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc di cư tự do đến địa phương vẫn tiếp tục diễn ra, chưa được kiểm soát. Bên cạnh đó, các chủ rừng còn buông lỏng quản lý rừng và đất lâm nghiệp; đặc biệt là một số trường hợp làm ngơ, tiếp tay cho một số đối tượng lấn chiếm, mua bán đất rừng, trục lợi trái phép,… dẫn tới nhiều diện tích đất bị lấn chiếm trong thời gian dài.

Tại Kon Tum – tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất so với các tỉnh còn lại ở khu vực Tây Nguyên, sau khi thực hiện sắp xếp, đổi mới các nông lâm trường, hiện nay trên toàn tỉnh còn 7 công ty trách nhiệm nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp quản lý gần 280.000ha rừng và đất rừng (chiếm 37,4 diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh) do Ủy ban Nhân dân tỉnh quản lý. Nhưng sau khi rà soát, diện tích còn lại hiện nay là 258.000ha, bị hụt so với trước gần 22.000ha.

Chỉ riêng trên quãng đường từ tỉnh Kon Tum qua tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến trên dưới 20 lần cảnh những vạt rừng bị thiêu rụi. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Toàn tỉnh Kon Tum có hơn 32.000ha đất lâm nghiệp đã bị người dân lấn chiếm để làm nương rẫy, thậm chí Ủy ban Nhân dân các huyện cũng “giao nhầm đất” cho người dân “chồng” lên diện tích của các lâm trường.

Một trong những hạn chế lớn nhất là việc hồ sơ kỹ thuật, số liệu diện tích đất giữ lại và trả về địa phương còn có sự chênh lệch nhau do số liệu chủ yếu dựa vào sổ sách mà chưa thực hiện công tác chi tiết như đo đạc, kiểm kê đất đai để xác định ranh giới, cắm mốc thực địa. Chính vì thế, nhiều công ty lâm nghiệp ở các địa phương đã không quản lý được, dẫn đến tình trạng lấn chiếm, tranh chấp…

Đối lập với thực trạng các ban quản lý rừng, công ty nông lâm nghiệp được giao quản lý quá nhiều đất nhưng hiệu quả thấp, gây lãng phí nguồn lực đất đai…, trong vòng 30 năm qua, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi – nơi đang là “vùng lõi nghèo của cả nước”  vẫn đang gặp khó khăn do không có hoặc thiếu đất sản xuất.

Trong câu chuyện với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, anh Hoàng Văn Quân (38 tuổi, dân tộc Dao ở bản Qoa, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) cho biết là người dân tộc thiểu số sinh ra và gắn bó với núi rừng – bao năm qua, gia đình nhỏ với 5 nhân khẩu của anh chỉ biết trông cậy vào “nồi cơm” duy nhất là 1 sào ruộng và 1 hécta đất rừng do ông bà khai hoang canh tác từ lâu đời để lại.

Thiếu đất sản xuất, đói nghèo, gần năm nay, tôi đã phải đi khắp nơi làm thuê làm mướn để 3 đứa con không phải bỏ học giữa chừng. Thiếu đất sản xuất vất vả lắm!

Anh Hoàng Văn Quân (38 tuổi, dân tộc Dao ở bản Qoa, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai)

“Với nguồn tư liệu đất đai ít ỏi trên, hàng ngày, hai vợ chồng tôi cần mẫn bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cày cuốc để trang trải cuộc sống. Cứ tưởng cố gắng rồi trời thương, ai ngờ – năm ngoái, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai lại có quyết định thu hồi 1 hécta đất nằm xen kẽ trong rừng phòng hộ bấy lâu nay gia đình đang sử dụng (nhưng không có sổ đỏ), để triển khai dự án trạm nghiên cứu thực nghiệm mây tre. Vậy là, ‘nồi cơm bể đôi.’ Thiếu đất sản xuất, đói nghèo, gần năm nay, tôi đã phải đi khắp nơi làm thuê làm mướn để 3 đứa con không phải bỏ học giữa chừng. Thiếu đất sản xuất vất vả lắm anh ạ!” anh Quân rưng rưng chia sẻ.

Không chỉ riêng hộ gia đình anh Quân, hiện nay trên địa bàn xã Tân Dương còn khoảng hơn 100 hộ cũng đang thiếu đất sản xuất. Phần lớn đồng bào đã và đang thiếu đất đều rất khó khăn, phải đi làm thuê làm mướn để trang trải cuộc sống.

Theo số liệu điều tra thực trạng kinh tế-xã hội đối với 53 dân tộc thiểu số, hiện nay cả nước có đến 68,5% hộ dân tộc thiểu số có nhu cầu cần thêm đất để sản xuất; trong đó nhiều nhóm dân tộc ở Tây Nguyên có trên 80% số hộ thiếu đất sản xuất.

Nhiều công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng còn buông lỏng quản lý để mất rừng với hơn một nửa diện tích được giao trước đó. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Đáng chú ý, mặc dù thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số giúp hàng trăm ngàn hộ thoát nghèo, song theo báo cáo tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc Hội mới đây về thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 đẩy mạnh giảm nghèo bền vững đến năm 2020, nước ta vẫn còn 58.000 hộ dân thiếu đất ở và 303.578 hộ thiếu đất sản xuất. Những con số này cho thấy vấn đề đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều vướng mắc cần được quan tâm nghiêm túc và có giải pháp triệt để hơn.

Thực tế trên cũng đã được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà thẳng thắn chỉ ra rằng việc “giải phóng” nguồn lực đất đai mới chỉ làm được một phần và vẫn còn những xung đột, nhiều thủ tục là rào cản trong tiếp cận đất đai…

Đơn cử như vùng Tây Nguyên, theo ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương), dân số của toàn vùng này có hơn 5.800 nghìn người với 47 dân tộc sinh sống, trong đó có khoảng 37 dân tộc ít người. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều tại khu vực này khá cao, chiếm 13,8%; cao hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước là 8,4%.

Vì thế, để đảm bảo đời sống của người dân, các tỉnh Tây Nguyên đã xây dựng một số mô hình sản xuất nông lâm kết hợp trên đất lâm nghiệp để nâng cao thu nhập, đời sống, ổn định sản xuất cho người dân. Tuy nhiên, đất sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp không được cấp sổ đỏ, không được hướng dẫn kỹ thuật canh tác, không được vay vốn đầu tư… dẫn đến tình trạng người dân thiếu ăn, vay nặng lãi, đến khi thu hoạch phải trả lãi khá cao. Có trường hợp do mất mùa, không có tiền trả nợ, một số hộ gia đình đã phải trả nợ bằng nhà, bằng rẫy đang canh tác.

Thực tế trên đã tạo áp lực đến sinh kế của người dân. Đơn cử như tại huyện Ea Súp (Đắk Lắk), hộ nghèo chiếm 39%; huyện Đắk Glong (Đắk Nông) 40,9%…

Nêu con số tổng quan hơn, ông Triệu Văn Bình, Vụ Dân tộc, Văn phòng Quốc hội cho biết Tây Nguyên hiện có 180 công ty nông, lâm nghiệp và ban quản lý rừng đang quản lý trên 2,6 triệu hécta. Nguồn gốc đất của các công ty này quản lý còn nhiều bất cập, hạn chế nhưng chậm được khắc phục, dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện kéo dài. Hệ quả là khu vực Tây Nguyên hiện còn có khoảng 15.846 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở, 32.000 hộ dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất.

“Ngoài ra, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất sản xuất, không có việc làm, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, dẫn đến người dân tự phát chặt phá, đốt rừng lấy đất làm nương rẫy,” ông Bình nhấn mạnh.

Nhiều công ty lâm nghiệp ở các địa phương không quản lý được rừng đã để xảy ra tình trạng lấn chiếm, tranh chấp. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Tiến sĩ Trương Thị Hạnh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên cũng cho rằng một số công ty lâm nghiệp sau sắp xếp, đổi mới vẫn chưa đóng góp được nhiều cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Thậm chí có công ty còn khoán trắng, lợi dụng đất của nhà nước giao để “phát canh thu tô;” không hoặc ít đầu tư làm dịch vụ nông nghiệp cũng không thay đổi định mức khoán; vườn cây giao khoán đã hết khấu hao nhưng các công ty vẫn tiếp tục thu sản phẩm nên người dân chống đối, đòi công ty trả đất về địa phương để địa phương giao cho người dân.

Trong khi đó, cơ chế chính sách, pháp luật trong công tác quản lý sử dụng đất đai, sử dụng rừng, quản lý dân cư còn nhiều bất cập, chồng chéo. Các chính sách và nguồn lực đầu tư để tạo động lực thúc cho các lực lượng tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, cơ chế chính sách còn bất cập.

Bài 2: ‘Phát canh thu tô’: Mô hình liên kết ‘tư lợi’ trên lưng dân nghèo

Nạn nhân cho sự thành công của chính mình

Bài học từ sự thất bại của

“hình mẫu chống dịch” Đài Loan

Từng là một hình mẫu của cuộc chiến chống virus SARS-CoV-2, Đài Loan (Trung Quốc) nay lại thất bại trong việc phản ứng hiệu quả với một đợt bùng dịch COVID-19 lớn.

Trước đây, khi hầu hết các nước trên thế giới có hàng trăm triệu ca nhiễm và hàng triệu ca tử vong do dịch COVID-19, 23,5 triệu dân ở hòn đảo Đài Loan vẫn duy trì cuộc sống tương đối bình thường nhờ phản ứng chống dịch quyết liệt từ sớm, giúp nơi đây đi qua 250 ngày không có một ca mắc nào trong cộng đồng. 

Đài Loan đã vận động hành lang để tham gia vào cơ quan ra quyết định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dựa vào thành công không thể phủ nhận và chuyên môn của mình cùng khẩu hiệu “Đài Loan có thể giúp đỡ”.

Nhưng giờ đây, ván cờ đã lật ngược, và Đài Loan lại đang cần sự trợ giúp, sau khi một đợt bùng phát bắt nguồn từ các nhân viên hàng không hồi tháng 4 đã khiến dịch lan rộng ra toàn hòn đảo. Chính quyền có vẻ đã bị bất ngờ bởi điều mà họ nghĩ không bao giờ sẽ xảy ra: nơi từng là hình mẫu chống dịch dường như đã không chuẩn bị đầy đủ để phản ứng khi dịch bùng phát mạnh.

Tính đến nay, Đài Loan đã ghi nhận hơn 11.000 ca nhiễm và 260 ca tử vong, hơn 90% trong số này xuất hiện từ giữa tháng 5.

Bị ảnh hưởng bởi những đơn đặt hàng vaccine không đảm bảo số lượng, sự thiếu hụt vaccine trên toàn cầu và các vấn đề địa chính trị, hiện mới có chưa đầy 3% trong số 23,5 triệu dân trên hòn đảo này được tiêm chủng. 

Hôm thứ Hai vừa qua, nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn đã có bài phát biểu trên truyền hình từ văn phòng nhằm trấn an người dân rằng 750.000 liều vaccine mà Mỹ hứa hẹn sẽ sớm được giao đến.

“Chúng tôi đã cho rằng mình có thể kiểm soát tình hình”


Nhiều chuyên gia y tế và xã hội đã chia sẻ với tờ Guardian rằng khi các làn sóng lây lan dịch xuất hiện trên toàn thế giới, chính quyền đã không cập nhật những kiến thức khoa học mới xung quanh các chủng virus mới với độc lực cao hơn, ví dụ như tầm quan trọng của việc thông gió để chống lại sự lây lan khí dung; hiệu quả của việc xét nghiệm hàng loạt, hay các tấm gương của một số quốc gia đã cách ly xã hội từ sớm và quyết liệt. 

Một số người cảm thấy Đài Loan đã trở thành “nạn nhân cho chính sự thành công của mình”.

Giáo sư Chen Chien-jen thuộc trung tâm nghiên cứu gen Academia Sinica cho biết, chính quyền nghĩ rằng họ đã kiểm soát được đại dịch với hệ thống truy vết tiếp xúc và xét nghiệm chính xác, nhưng lại bị thách thức bởi tốc độ lây lan nhanh chóng của chủng Alpha lần đầu được phát hiện tại Anh, và bị choáng ngợp sau sự kiện siêu lây nhiễm hôm 9/5 – tức Ngày của Mẹ trên đảo.

Binh lính mặc đồ bảo hộ khử khuẩn một con phố sau đợt bùng dịch COVID-19 gần đây tại quận Tân Bắc, thành phố Tân Đài Bắc, Đài Loan – 27/5/2021/ Reuters

“Chúng tôi đã nghĩ rằng có lẽ mình có thể kiểm soát tình hình ở quy mô nhỏ, nhưng virus thực sự hiểm độc,” ông Chen, người từng giữ vị trí lãnh đạo Cơ quan Y tế hòn đảo Đài Loan trong đợt bùng phát dịch SARS năm 2003, và hiện là cố vấn chính quyền, cho hay.

Trung tâm chỉ huy Phòng chống dịch bệnh trung ương (CECC) của Đài Loan cho biết đã tham vấn với các chuyên gia quốc tế và chính phủ các nước trong suốt đại dịch, nhằm phát huy khả năng chống chọi hiện có, cập nhật các chiến lược và giám sát các nguồn lực có sẵn, nhưng thừa nhận: “Mặc dù chúng tôi đã kiểm soát biên giới một cách hiệu quả, thực tế vẫn còn nhiều điều cần cải thiện trong các nỗ lực phòng chống dịch bệnh ở nội địa.”

Giáo sư Chi Chunhuei, giám đốc Trung tâm y tế toàn cầu thuộc Đại học bang Oregon cho biết: “Ban đầu, chính quyền đã mất cảnh giác, không chỉ với đợt bùng phát mà còn với cả quy mô của nó, vì vậy họ đang phải sấp ngửa huy động mọi nguồn lực để ngăn chặn, bao gồm các bệnh viện và các cơ sở xét nghiệm.”

“Một trong những vấn đề ở đây là hầu hết mọi người ở Đài Loan đã có phần tự mãn.”

Giáo sư Chi cho biết 11 tháng duy trì cuộc sống bình thường cùng bốn lần thoát nạn (chuyến ghé cảng của tàu Diamond Princess, một đợt bùng phát trên tàu hải quân Đài Loan, một phi công bị nhiễm bệnh hồi tháng 12, và ổ dịch ở bệnh viện Taoyuan hồi tháng 1) đã khiến cộng đồng và cả chính quyền “tự tin thái quá” về khả năng chống dịch của mình.   Ngay cả khi có sự lây lan trong cộng đồng, người dân vẫn ngồi chật kín các hàng quán và đi du lịch trong Ngày của Mẹ.

Mười ngày sau, tức ngày 19/5, CECC đã báo cáo 264 ca nhiễm mới và yêu cầu Đài Loan nâng mức độ cảnh báo lên cấp 3 trong thang bốn cấp, hạn chế tụ tập, bắt buộc đeo khẩu trang ở nơi công cộng và đóng cửa các cơ sở kinh doanh giải trí và trường học, nhưng vẫn cho phép các nhà hàng tiếp tục đón khách ăn tại chỗ. 

CECC cũng khuyến khích những người sử dụng lao động bố trí cho nhân viên làm việc tại nhà, nhưng không bắt buộc thực thi, và cũng không lập tức công bố mức hỗ trợ tài chính cho người làm việc hay người chăm sóc từ xa.

Công viên tưởng niệm Tưởng Giới Thạch nổi tiếng của Đài Bắc gần như không một bóng người khi chính quyền chiến đấu với một đợt bùng phát ngày càng tồi tệ ở phía bắc Đài Loan. Ảnh: Helen Davidson/The Guardian

Một trong những lý do chủ yếu gây nên sự phức tạp là việc không có khả năng phân tích đầy đủ các xu hướng dịch bệnh, do sự tồn đọng hàng chục nghìn kết quả xét nghiệm từ 169 trạm xét nghiệm nhanh đã bị quá tải. 

Đến cuối tháng 5, số kết quả tồn đọng bắt đầu giảm bớt. Nhưng kết quả là đã có thêm hàng trăm ca mắc COVID-19 mới được phát hiện thông qua xét nghiệm, được bổ sung vào số liệu tổng hợp tình hình dịch bệnh. Sự tăng vọt số người nhiễm khiến một số người đặt câu hỏi liệu Đài Loan có nên áp dụng phong tỏa nghiêm ngặt hơn vào thời điểm này hay không.

“Từ quan điểm phân tích dữ liệu, tình hình thật căng thẳng,” Chase W Nelson, một nhà sinh vật học tính toán người Đài Loan tại Academia Sinica cho biết.

Quang cảnh một khu triển lãm đã được biến thành điểm tiêm vaccine COVID-19 tạm thời sau đợt bùng dịch mới ở thành phố Tân Bắc, Đài Loan, 7/6/2021/Reuters

“Tôi không nghĩ rằng kết quả này khiến mọi thứ trở nên bất khả thi, nhưng bạn cần phải cẩn thận trong việc sử dụng số liệu đã điều chỉnh khi nói về các xu hướng, vì số liệu ngày hôm nay sẽ luôn bị đánh giá thấp một cách nghiêm trọng hơn so với ngày hôm qua.”

Trở lại năm 2020


Các thành phố trên khắp thế giới đã thử điều mà Đài Loan từng làm – giữ cho nền kinh tế mở cửa trong khi vẫn áp đặt các hạn chế gần như là phong tỏa. Một số nơi, như Melbourne, phải trải qua giai đoạn phong tỏa dài hơn và gây nhiều thiệt hại. Lần tiếp theo khi phát hiện các ca lây nhiễm trong cộng đồng, họ phong tỏa mạnh hơn và sớm hơn trong một thời gian ngắn.

Nhưng chính quyền Đài Loan dường như không ủng hộ biện pháp quyết liệt này, và đã nhiều lần định nghĩa lại các yếu tố kích hoạt dẫn đến quyết định phong tỏa.

“Phòng chống dịch bệnh có nhịp điệu riêng, và không phải lúc nào áp dụng các biện pháp mạnh cũng đều mang lại hiệu quả. Chúng ta phải cân nhắc mức độ tuân thủ của cộng đồng và áp đặt các lệnh hạn chế phù hợp để tránh gây ra quá nhiều tổn hại cho xã hội,” CECC nhận định và cho rằng nâng cảnh báo lên cấp độ 4 không nhất thiết đồng nghĩa với việc phong tỏa.

Chen cho rằng New Zealand – quốc gia từng có vài đợt phong tỏa nghiêm khắc nhưng thành công – là một “hình mẫu tốt” cho Đài Loan, nhưng “chúng tôi không muốn thực hiện các biện pháp hạn chế quá chặt chẽ”.

Một phụ nữ được xét nghiệm nhanh Covid-19 tại một trung tâm xét nghiệm ở Tân Bắc sau sự gia tăng các ca nhiễm và tử vong trong nước. Ảnh: Ceng Shou Yi/NurPhoto/REX/Shutterstock

Giáo sư Yen Muh-yong, giám đốc khoa truyền nhiễm tại bệnh viện Cheng Hsin cho biết đã có những cải thiện lớn kể từ khi bắt đầu đợt dịch, nhưng ông muốn có một sự “phân khúc tín hiệu” tại Đài Loan dựa trên số ca mắc và mức độ rủi ro, cùng các giới hạn phong tỏa kéo theo đó.

Ông cho biết bản thân vẫn lo ngại rằng các đơn vị chăm sóc đặc biệt đang có nguy cơ bị quá tải khi số lượng bệnh nhân ngày càng tăng, làm tăng rủi ro dịch bệnh lây lan vào cộng đồng.

“Điều đó đã xảy ra ở thành phố New York và bắc Italy… Bạn phải chặn đứng sự truyền nhiễm, vậy nên câu trả lời là phong tỏa. Một sự phong tỏa cần thiết và được lên kế hoạch tốt.”

Phản ứng chống dịch hiện tại phụ thuộc rất nhiều vào sự tuân thủ của cộng đồng, nhưng lại vấp phải sự không hài lòng của các doanh nghiệp, với việc nhân viên của họ phải làm việc tại nhà.

Lãnh đạo Cơ quan Y tế Đài Loan hiện nay là Chen Shih-chung mới đây đã khiến giới trẻ nổi giận khi nói rằng “sự tự mãn” của những người trẻ tuổi đã dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ lây lan virus ở nhóm này. Trên mạng, nhiều người trẻ phản bác rằng họ nhiễm bệnh vì bị buộc phải làm việc trong những văn phòng không thoáng khí, bởi chính quyền không bắt buộc phải làm việc từ xa, và bởi nhiều người trẻ mắc bệnh không bộc lộ triệu chứng.

Sự bùng phát dịch ngày càng tăng ở cộng đồng người lao động nhập cư sinh sống trong các ký túc xá đông đúc đã dẫn đến những cáo buộc rằng chính quyền đã phản ứng quá chậm chạp để bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

Các cuộc đối thoại ở Đài Loan hiện nay xoay nhiều quanh vaccine, nhưng đây là bài toán không dễ giải.

“Tôi nghĩ rằng chính quyền đã bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc (về vaccine) một cách quá muộn màng,” tiến sĩ Peter Chang, tổng giám đốc Liên minh Y tế Toàn cầu Đài Loan, nhận định.

“Họ cho rằng chúng tôi rất chăm đeo khẩu trang và mọi người cũng rất nghiêm chỉnh chấp hành giãn cách xã hội, vậy nên không sao cả.”

Nhiều quốc gia từng đạt được thành công sớm trong đại dịch cũng đã phải vật lộn để mua và phân phối vaccine, nhưng Đài Loan lại vấp phải nhiều rắc rối hơn, bao gồm cả những vấn đề về địa chính trị.

CECC nói với tờ Guardian rằng họ đang nỗ lực hết mình để ngăn chặn dịch bệnh, nhưng “sự tiếp cận công bằng với các loại vaccine có hiệu quả mới là giải pháp tối thượng nhằm kết thúc đại dịch COVID-19 trên toàn cầu.”

Nhật Bản hiện đã chuyển hơn 1,2 triệu liều vaccine, và các thượng nghị sĩ Mỹ cũng đã bay đến Đài Loan vào tuần trước để thông báo về sự giúp đỡ của Mỹ cũng như nhấn mạnh vào sự ủng hộ của hai đảng lớn nhất nước với Đài Loan.

Tuy nhiên hơn hai tuần sau khi nâng mức độ cảnh báo lên cấp 3, số ca nhiễm ở Đài Loan vẫn chưa giảm mạnh. Vào thứ Hai vừa rồi, cảnh báo lại được gia hạn một lần nữa, tới hết tháng 6.

Giáo sư Chi cho rằng cấp độ 3 là đủ nghiêm ngặt, và hoài nghi khả năng thực hiện bất kỳ điều gì hơn thế của chính quyền, nhưng cũng nói rằng hiện không có thông điệp đủ rõ ràng về cách mà mọi người có thể tự bảo vệ bản thân khỏi cái mà ông gọi là “sự lây nhiễm vô hình” từ những người không có triệu chứng đang chiếm tỷ lệ cao trong cộng đồng.

“Bạn phải giả định rằng bất kỳ ai không sống chung một nhà với mình đều có thể là người mang virus,” ông nói. “Trong vòng hai tuần tới hoặc lâu hơn, đừng tụ tập trong nhà với những người không sống cùng bạn.”

Mai Nguyễn

(Dịch từ The Guardian)

Vinamilk: Không ngại thách thức!

Vinamilk: Không ngại thách thức!

“Trong bối cảnh mới đầy thách thức, Vinamilk đã có những ứng phó kịp thời để đạt mục tiêu kép là đảm bảo tăng trưởng đồng thời ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện tuân thủ các quy định về phòng chống dịch.”

Bà Mai Kiều Liên-Tổng Giám đốc Vinamilk


Đại dịch COVID-19 bùng phát trở lại từ cuối tháng Tư, sau đó lan rộng ra nhiều tỉnh thành với những diễn biến phức tạp. Bên cạnh những vấn đề xã hội, nền kinh tế tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực với những thách thức lớn.

Theo báo cáo từ Tổng cục Thống kê, người tiên dùng Việt phải thắt “hầu bao” và tổng mức bán lẻ hàng hóa cùng doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước trong tháng Năm cho thấy đã giảm 3,1% so với tháng Tư đồng thời giảm 1% so với cùng kỳ năm 2020.

Bối cảnh chung cũng khiến ngành sữa không thể tránh khỏi nhiều thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, tại buổi gặp gỡ nhà đầu tư do Công ty cổ phần Sữa Việt Nam-Vinamilk (mã chứng khoán: VNM) tổ chức ngày 5/5, ban lãnh đạo của Vinamilk khẳng định công ty đã và đang thực hiện một cách linh hoạt chiến lược kinh doanh để giữ ổn định sản xuất và tăng xuất khẩu trong tình hình mới.

Khánh thành trang trại bò sữa lớn nhất Châu Á của Vinamilk.

BÀI HỌC TỪ SỰ ỨNG PHÓ KỊP THỜI

Tổng Giám đốc Vinamilk, bà Mai Kiều Liên nhớ về thời điểm đợt dịch đầu tiên xuất hiện trong nước, “COVID-19 gây ra những khó khăn chưa có tiền lệ với nền kinh tế và ngành sữa không phải là ngoại lệ. Sữa là thực phẩm thiết yếu trong rổ hàng hóa của người tiêu dùng Việt Nam, tuy nhiên toàn ngành đã tăng trưởng âm 6% trong năm 2020 khi mà cả nước có 32,1 triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 và thu nhập bình quân của người lao động giảm 2,3% so với năm 2019.”

Song trong bối cảnh mới đầy thách thức, bà Liên cho biết Vinamilk đã có những ứng phó kịp thời để đạt mục tiêu kép là đảm bảo tăng trưởng đồng thời ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện tuân thủ các quy định về phòng chống dịch.

Thời điểm quý 1/2020, doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty ước đạt 13.241 tỷ đồng và 2.597 tỷ đồng, tương ứng đạt 21,3% và 23,2% kế hoạch năm.

COVID-19 gây ra những khó khăn chưa có tiền lệ với nền kinh tế và ngành sữa không phải là ngoại lệ.”

Bà Mai Kiều Liên-Tổng Giám đốc Vinamilk

Tiếp sau đó, dịch bệnh bắt đầu thẩm thấu vào nền kinh tế. Chặng đường về cuối năm 2020, chi phí đầu vào liên quan đến các nguyên liệu chính như bột sữa và đường đã tăng lên đáng kể và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngành nói chung và của Vinamilk nói riêng.

Tại thời điểm đó, bà Liên đánh giá “con số lợi nhuận thiếu hụt trong quý đầu năm công ty sẽ bù đắp cho 9 tháng cuối năm. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố, nhất là dịch COVID-19.”

Hướng đi được công ty xác định là định vị chiến lược đồng thời khi bắt tay vào việc, từng bước triển khai đảm bảo trình tự nghiêm ngặt, từ tự chủ được vùng nguyên liệu sữa tươi trong nước, kết hợp với mạng lưới nhà cung cấp nguyên liệu nhập khẩu từ nhiều quốc gia. Nhờ đó, Vinamilk giữ vững hoạt động sản xuất ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cả xuất khẩu.

Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ vào quản lý – là định hướng được Vinamilk thực hiện trong nhiều năm trước, đã được công ty thúc đẩy mạnh mẽ trong năm 2020 để ứng phó với điều kiện giãn cách xã hội, hạn chế giao thương do đại dịch COVID-19 diễn ra trên toàn cầu.

Cụ thể, quá trình chuyển đổi số đã được triển khai nhanh chóng, không chỉ tại công ty mẹ-Vinamilk mà còn ở các công ty con, công ty thành viên. Điển hình là việc hoàn thành triển khai hệ thống ERP – hoạch định nguồn lực doanh nghiệp, tại Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu-Sữa Mộc Châu (mã chứng khoán: MCM) chỉ trong vòng 10 tháng kể từ ngày Vinamilk tham gia vào đơn vị này.

Ngoài ra, hàng loạt các dự án chuyển đổi số khác đã và đang được triển khai trong nhiều lĩnh vực ở hầu hết các hoạt động của Vinamilk như quản trị, tài chính, nhân sự, kinh doanh quốc tế và chuỗi cung ứng…

Những công cụ này là cánh tay đắc lực giúp Vinamilk duy trì sự ổn định, đảm bảo quản trị hoạt động và hiệu suất ngay cả khi quy mô doanh nghiệp mở rộng ra gấp nhiều lần so với hiện tại.

Bà Mai Kiều Liên cho rằng nhìn lại năm 2020 nhiều biến động, một trong những thành công của Vinamilk đó chính là duy trì sự hoạt động ổn định, hiệu quả của tất cả đơn vị thành viên đồng thời đảm bảo việc làm, thu nhập và các phúc lợi cho gần 10.000 nhân viên của công ty trên cả nước.

Thực tiễn năm 2020 cho thấy rõ vai trò chủ đạo của phát triển bền vững đối với xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp. Đối mặt với bối cảnh dịch bệnh, chiến tranh thương mại, đình trệ chuỗi cung ứng toàn cầu…, Vinamilk đã linh hoạt chiến lược kinh doanh, vững vàng trong thử thách và đạt tăng trưởng dương.

Cụ thể, doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế hợp nhất năm 2020 của Vinamilk đạt lần lượt 59.723 tỷ đồng và 11.236 tỷ đồng, tăng trưởng 6% và 6,5% so với năm 2019.

Riêng Công ty Sữa Mộc Châu sau một năm về với Vinamilk đã ghi nhận sự bứt phá với doanh thu thuần năm 2020 đạt 2.823 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 281 tỷ đồng, lần lượt tăng 10,3% và 68,2% so với năm 2019.

Vinamilk xây dựng trang trại bò sữa quy mô 8.000 con tại Tây Ninh.

BIẾN ‘NGUY’ THÀNH ‘CƠ’

Bước sang năm 2021, cùng với nhiều biến số bất ngờ khó lường của dịch COVID-19, ban lãnh đạo Vinamilk tin tưởng hệ thống kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro vững chắc sẽ giúp doanh nghiệp dự phòng trước được những thay đổi, giúp biến “nguy” thành “cơ,” tận dụng và củng cố các lợi thế cạnh tranh.

Bên cạnh đó, Vinamilk không ngừng tìm kiếm những cơ hội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của đất nước. Theo phân tích từ nhóm điều hành chiến lược, một phần trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020 quy định Việt Nam sẽ giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm sữa từ châu Âu về mức 3,5%-0% so với mức 5-15% như hiện tại trong vòng 3-5 năm tới. Điều này sẽ khiến thị trường sữa cạnh tranh hơn khi sữa nhập khẩu từ châu Âu được hưởng lợi, nhưng đồng thời cũng sẽ là động lực thúc đẩy các công ty sữa nội địa gia tăng năng lực để cung cấp ra thị trường các sản phẩm chất lượng hơn.

Xác định thách thức song hành cùng lợi thế, dù chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 kéo dài tại nhiều nước trên thế giới, nhưng hoạt động xuất khẩu của Vinamilk tiếp tục đón nhận những thông tin tích cực trong quý 1/2021, với sản phẩm sữa đặc và sữa hạt được xuất sang thị trường Trung Quốc, sữa tươi có chứa tổ yến được xuất sang thị trường “khó tính” Singapore. 

Dựa trên những kết quả này, xuất khẩu dự kiến sẽ tiếp tục mạch tăng trưởng của năm 2020. Trong quý 1/2021, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của công ty ước tăng trưởng trên 8% so với cùng kỳ.

Thêm vào đó, các yếu tố thúc đẩy khác được ghi nhận từ các công ty con của Vinamilk với kết quả khả quan trong năm 2020, như Angkor Milk (công ty con của VNM tại Campuchia) có mức tăng trưởng gần 20% và Công ty Sữa Mộc Châu tăng trưởng hơn 10%. Cổ phiếu Sữa Mộc Châu đã chính thức được niêm yết trên thị trường UPCOM chỉ sau chưa đầy 1 năm về với Vinamilk.

Quỹ sữa Vươn cao Việt Nam đến với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tỉnh Yên Bái.

Ngoài ra, các dự án liên doanh ViBev giữa Vinamilk và Công ty cổ phần Tập đoàn Kido, dự án liên doanh tại Philippines đang triển khai các hoạt động kinh doanh, khai thác thị trường như kế hoạch. Theo ban giám đốc công ty, dự kiến các liên doanh này sẽ ra mắt sản phẩm mang nhãn hiệu riêng vào quý 3 và 4 năm nay.

Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, các dự án phát triển vùng nguyên liệu của Vinamilk vẫn được thực hiện đúng tiến độ. Tiêu biểu là việc đón thành công 2.100 bò sữa HF thuần chủng nhập khẩu từ Mỹ về trang trại mới của Vinamilk tại Quảng Ngãi vào ngày 21/3.

Đây là trang trại mới có quy mô 4.000 con, diện tích trên 100 ha với tổng vốn đầu tư ban đầu lên đến 700 tỷ đồng nằm trong hệ thống trang trại sinh thái “Green Farm” mà Vinamilk đang đầu tư phát triển từ đầu năm. Theo kế hoạch, công ty cũng sẽ nhập khẩu hơn 5.000 con bò sữa cao sản để gia tăng tổng đàn cho các dự án trang trại trong năm nay.

Dự kiến, trong năm 2021, Vinamilk sẽ tập trung đầu tư các dự án lớn để mở rộng quy mô. Cụ thể như dự án Trang trại bò sữa công nghệ cao kết hợp du lịch sinh thái tại Mộc Châu, Sơn La, Tổ hợp trang trại bò sữa Lao-Jagro tại Lào, Dự án chăn nuôi, chế biến và phân phối bò thịt của Vilico…

Tổng Giám đốc Vinamilk Mai Kiều Liên cho biết Vinamilk cũng đang tìm kiếm cơ hội mua bán sáp nhập (M&A) trong 3-5 năm tới để tăng trưởng thêm và cũng có thể đi theo ngành kinh doanh mới nếu tiềm năng.

Sản phẩm sữa hạt cao cấp của Vinamilk xuất khẩu đi Trung Quốc có quy cách đóng gói và thiết kế bao bì khác biệt phù hợp với thị hiếu.

Theo Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinamilk, bà Lê Thị Băng Tâm, năm 2021 có những tác động khó lường do ảnh hưởng dây chuyền của toàn bộ nền kinh tế, xã hội và chính trị toàn cầu. Đó là chưa kể những biến động, khó khăn mới cũng sẽ xuất hiện và thách thức Vinamilk.

Tuy nhiên, bà Tâm khẳng định công ty đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ chiến lược cho đến các chương trình cụ thể nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và chinh phục các mục tiêu đề ra.

Với sự chuẩn bị đó, kết quả kinh doanh trong tháng Tư của công ty tiếp tục được cải thiện so với quý 1. Cụ thể, tổng doanh thu của Vinamlik tăng 4,3%/năm vào tháng Tư; trong đó doanh thu sản xuất sữa trong nước (ngoại trừ Công ty cổ phần GTNfoods-GTN) không đổi so với cùng kỳ, doanh thu của Công ty Sữa Mộc Châu tăng 13,6%/năm và xuất khẩu tăng 35%/năm.

Theo ban giám đốc Vinamilk, hoạt động xuất khẩu tiếp tục tăng trong tháng Tư là do công ty đã tận dụng sự gián đoạn hoạt động do dịch COVID-19 đối với hoạt động của các nhà sản xuất sữa khác tại thị trường xuất khẩu tương ứng. Cụ thể, Công ty Angkor Milk công bố mức tăng doanh thu 5%/năm trong bốn tháng của năm và chậm hơn tốc độ 2 con số trong quý 1 do các ca nhiễm COVID-19 gia tăng ở Campuchia và gây ra sự gián đoạn cho nền kinh tế của quốc gia này.

Ngoài ra, giá nguyên liệu thô tăng do ảnh hưởng từ COVID-19 sẽ ảnh hưởng tới biên lợi nhuận gộp, nhưng công ty cho biết yếu tố này được hỗ trợ một phần bởi chính sách tăng giá bán vào tháng Năm…

Nhìn ở một khía cạnh khác – phản chiếu trên thị trường chứng khoán, Công ty Chứng khoán VNDirect nhận định về dài hạn, sự phục hồi tăng trưởng của Vinamilk là khả quan bởi bề dày kinh nghiệm và tài năng của ban lãnh đạo Vinamilk. Thêm vào đó, kết quả kinh doanh của công ty sẽ được cải thiện thông qua tìm kiếm cơ hội M&A cũng như chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào, tham gia thị trường chăn nuôi và đẩy mạnh xuất khẩu. Trong ngắn hạn, quý 2 và 3/2021, kết quả kinh doanh của VNM có thể kém khả quan do diễn biến giá nguyên vật liệu bởi hiện tại Vinamilk đang phụ thuộc gần 70% nguyên liệu từ nước ngoài.

“Thế nhưng, với việc đưa vào hoạt động trang trại mới tại Quảng Ngãi có diện tích 100ha, tổng vốn đầu tư 700 tỷ đồng, cộng thêm kế hoạch đón đàn bò sữa thuần chủng nhập khẩu từ Mỹ trong năm 2021 này, VNM kỳ vọng sẽ tăng tỷ lệ tự chủ nguyên liệu đầu vào lên trên 50% vào năm 2022 và 60% các năm tiếp theo,” chuyên gia VNDirect nhấn mạnh.

Phân tích đánh giá của Công ty Chứng khoán Bản Việt (VCSC) cũng cho rằng định giá của VNM hiện đang trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết bởi giá cổ phiếu đã điều chỉnh giảm từ đầu năm, trong khi các chỉ số chính của VNM (cụ thể như thị phần, biên lợi nhuận và hệ số sinh lời/vốn đầu tư) vẫn tốt hơn các công ty khác cùng ngành. Hơn thế nữa, nhóm phân tích của VCSC cũng kỳ vọng Vinamilk sẽ bảo vệ được thị phần để tiếp tục dẫn đầu ngành sữa với sức tiêu thụ đang gia tăng của Việt Nam.

Tác giả: Hạnh Nguyễn

Vaccine – ‘Vũ khí tối thượng’ để ‘tấn công đại dịch’

VACCINE
‘VŨ KHÍ TỐI THƯỢNG’ ĐỂ ‘TẤN CÔNG ĐẠI DỊCH’

Đại dịch COVID-19 đã chứng tỏ với tất cả thế giới rằng không ai an toàn cho đến khi tất cả mọi người đều an toàn. Việc tiếp cận công bằng với vaccine COVID-19 là chiến lược cấp bách và cần được triển khai hiệu quả tại nhiều quốc gia.

Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đưa ra quyết sách: “chúng ta phải có cách tiếp cận mới, tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mới, chuyển trạng thái phòng chống dịch COVID-19 từ phòng ngự sang chủ động tấn công, song phải hài hòa giữa phòng ngự và tấn công, bảo đảm hiệu quả cao nhất…” mà một trong hướng tấn công mũi nhọn, tổng lực chính là: Chiến lược vaccine.

CUỘC HÒ HẸN ĐẶC BIỆT VỚI… VACCINE

“Báo cáo cả nhà. Em đã xinh trở lại sau 2 ngày anh vaccine COVID-19 vào người. Anh ấy đã cho em những trải nghiệm vừa đau đớn nhưng sau tất cả là ngọt ngào và tiếp tục chờ đến lần thứ 2 gặp “anh ấy,” chị Ngô Thu Lan (ở Cầu Giấy) đăng lên trên trang cá nhân của mình những dòng tâm sự như vậy. “Anh ấy” đầy yêu thương của chị Lan chính là vaccine phòng chống COVID-19.

“Háo hức, sửa soạn và chuẩn bị tâm lý cả tuần nay cho sự kiện trọng đại này, tôi cũng hồi hộp, run run. Thế nhưng khi thấy đội ngũ y bác sỹ trong bệnh viện luôn ân cần hỏi han, hướng dẫn người đến tiêm, tôi bớt lo hẳn…”

— Chị Ngô Thu Lan (Cầu Giấy) —

14 giờ ngày 17/5, theo đúng như lịch được hẹn trước, chị Lan mặc cho mình bộ trang phục thoải mái nhất, tâm lý hồ hởi, sẵn sàng có mặt tại điểm tiêm chủng ở Bệnh viện Bạch Mai. Sau một hồi ký giấy, đo huyết áp, khám sàng lọc, chị hoàn tất những bước kiểm tra sức khoẻ cuối cùng để tiêm phòng vaccine COVID-19.

“Háo hức, sửa soạn và chuẩn bị tâm lý cả tuần nay cho sự kiện trọng đại này, tôi cũng hồi hộp, run run. Thế nhưng khi thấy đội ngũ y bác sỹ trong bệnh viện luôn ân cần hỏi han, hướng dẫn người đến tiêm, tôi bớt lo hẳn,” chị Ngô Thu Lan (Truyền hình Thông tấn) cho hay.

Với chị và những người đồng nghiệp cùng cơ quan, việc đi tiêm vaccine là một sự kiện được trông chờ, đầy háo hức và chiếm một vị trí rất quan trọng. Mấy ngày trước khi tiêm, mọi người râm ran hỏi chuyện, động viên nhau và lên kế hoạch chia ca kíp trực cho phù hợp.

Chị Lan nhớ lại, những ngày trước khi tiêm, thay vì hoảng loạn hay hoài nghi trước những tin đồn, thông tin bên lề cảnh báo về việc tiêm vaccine, chị Lan đã tìm đọc kỹ các thông tin về việc tiêm, hỏi bác sỹ để nắm rõ về những khả năng sau khi tiêm. Tạm an tâm sau khi cập nhật tình hình, chị sắp xếp thời gian, bố trí tạm ngưng công việc 1-2 ngày sau tiêm…

Chị Lan kể: “Sau khi tiêm về mình đã đi mua vội 1 hộp thuốc hạ sốt, 1 túi nước dừa phòng mất nước và về nhà ngay lập tức, tắm gội sạch sẽ chờ cơn sốt đến. Ngày 1, mình bẹp như con gián. 12h đêm hôm đó, chưa sốt nhưng chỗ bắp tay tiêm bắt đầu đau, người ê ẩm như bị đánh. Ngày đầu tiên sau tiêm đầu đau như búa bổ, mình uống thuốc giảm đau, xem phim cho quên cảm giác khó chịu. Sáng hôm sau thì bắt đầu sốt, đầu vẫn đau, tay vẫn đau, toàn thân mỏi nhừ. Chắc do cơ địa phản ứng. Đến ngày thứ hai thì mình khỏe dần lên. Sang ngày thứ ba thì mình đã bình thường trở lại và tiếp tục tất bật với công việc.”

Theo chị, cái gì cũng có giá của nó, tiêm vaccine cho yên tâm để rồi còn có miễn dịch cộng đồng.

Đã 15 ngày trôi qua kể từ ngày tiêm vaccine phòng COVID-19, chị Lan yên tâm và trở lại nhịp sống thường ngày, quay cuồng với những bản tin phòng chống dịch, những chương trình thiện nguyện ủng hộ cho đội ngũ y bác sỹ vùng dịch tại Bắc Giang, Bắc Ninh…

Không chỉ riêng chị Lan, thời gian qua, hơn 1 triệu người Việt Nam cũng có tâm trạng như chị: Háo hức, hồi hộp, tỷ mỷ theo dõi, lắng nghe phản ứng của cơ thể… để rồi thở phào nhẹ nhõm sau những mũi tiêm chủng an toàn.

HƠN 1,1 TRIỆU MŨI TIÊM AN TOÀN

Xác định rất sớm việc tiêm vaccine chính là bảo vệ người được tiêm khỏi mắc thể nặng và phải nhập viện, chiến dịch tiêm vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam đang được triển khai quy mô lớn ở trên toàn quốc từ ngày 8/3.

Với phương châm ưu tiên cho những người thuộc tuyến đầu, các đối tượng có nguy cơ… và trong quá trình thay đổi chiến lược phân phối ưu tiên các đối tượng tiếp theo theo nguyên tắc hài hòa và tiến tới không có ai bị bỏ lại phía sau, việc tiêm chủng được ngành y tế đưa ra theo những quy trình được tính toán để đạt đến mức độ an toàn cao nhất có thể cho mọi người dân.

“Trong hơn một năm, các nhà khoa học, doanh nghiệp, chính phủ, các nhà từ thiện và các tổ chức đa phương trên thế giới đã tập hợp lại và thực hiện một điều chưa từng có: tạo ra vaccine để chống lại một loại virus đã khiến cho cả thế giới rơi vào bế tắc. Và họ đã thử nghiệm, vận chuyển và bắt đầu triển khai tiêm những loại vaccine đó một cách an toàn trong một thời gian kỷ lục. Điều này thật sự đáng kinh ngạc” – Bà Henrietta Fore – Giám đốc điều hành Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)

Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, một trong những điểm khác với nhiều nước là Việt Nam tổ chức quy trình tiêm chủng rất chặt chẽ, rất cẩn thận, được triển khai ở cấp độ an toàn cao nhất và có sự khác biệt so với các nước khác trên thế giới, kể cả ở các nước tiên tiến.

Các cơ sở tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 phải bảo đảm tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực; thực hiện khám sàng lọc, tư vấn trước tiêm chủng và tổ chức buổi tiêm chủng an toàn theo hướng dẫn của Bộ Y tế; người đi tiêm vaccine phải ở lại điểm tiêm chủng ít nhất 30 phút sau khi tiêm để theo dõi tình hình sức khoẻ.

Người tiêm được hướng dẫn theo dõi ở nhà ít nhất 24 giờ tiếp theo và tiếp tục theo dõi đến 3 tuần sau khi tiêm; các bệnh viện luôn sẵn sàng, thường trực công tác cấp cứu đề phòng những trường hợp có phản ứng nặng sau tiêm chủng nhằm bảo đảm an toàn tối đa cho người được tiêm. Bên cạnh đó, diện đối tượng chống chỉ định tiêm chủng ở Việt Nam cũng mở rộng hơn so với các nước. Còn tại nhiều nước, công tác tiêm chủng được thực hiện ở bất kỳ một điểm nào như bệnh viện, nhà ga, hay ngay tại các điểm dừng đèn xanh, đèn đỏ…

Với phương châm đảm bảo an toàn tiêm chủng phải đặt lên hàng đầu, tiêm đến đâu chắc chắn đến đó, chính vì vậy, Bộ Y tế đã thành lập Ban Chỉ đạo an toàn tiêm chủng tập hợp các chuyên gia, giáo sư đầu ngành trên các lĩnh vực, đặc biệt là điều trị để sẵn sàng hỗ trợ các địa phương xử lý mọi tình huống không mong muốn xảy ra trong tiêm chủng.

Tính đến hết ngày 31/5, Việt Nam đã thực hiện tiêm vaccine phòng COVID-19 đợt 1 và 2 tại các tỉnh/thành phố với 1.102.099 liều cho các đối tượng là cán bộ, nhân viên y tế đang trực tiếp điều trị bệnh nhân COVID-19; các nhân viên y tế thực hiện các nhiệm vụ như lấy mẫu bệnh phẩm, xét nghiệm, truy vết; thành viên các tổ COVID-19 cộng đồng; Ban Chỉ đạo phòng chống dịch các cấp, các lực lượng công an, quân đội.

Trong số này, đã có 30.602 người được tiêm đủ 2 mũi vaccine phòng COVID-19.

Tính đến hết ngày 31/5, Việt Nam đã thực hiện tiêm vaccine phòng COVID-19 đợt 1 và 2 tại các tỉnh/thành phố với 1.102.099 liều .

NỖ LỰC TIẾP CẬN NGUỒN “VŨ KHÍ”

Ngày nay, việc xem vaccine phòng COVID-19 là “vũ khí” tối thượng đối với nhiều quốc gia nhằm thoát khỏi đại dịch đã không còn là điều bàn cãi. Từ kinh nghiệm thực tế diễn ra ở các nước đã thực hiện tiêm chủng cho thấy, chỉ có vaccine phòng COVID-19 mới đưa được cuộc sống trở lại bình thường.

Chính vì vậy, chiến lược khoác “áo giáp sắt” cho từng người dân Việt đã được Chính phủ quyết liệt thực thi. Ngày 18/5/2021, người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã  ký ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 18/5/2021 về việc mua vaccine phòng COVID-19. Theo đó, Chính phủ giao Bộ Y tế khẩn trương tổ chức thực hiện  mua vaccine một cách nhanh nhất để có thể triển khai tiêm vaccine trên diện rộng cho nhân dân.

Chiến lược khoác “áo giáp sắt” cho từng người dân Việt đã được Chính phủ quyết liệt thực thi

Trước đó, theo Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long, ngay từ rất sớm, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã có chủ trương về nhập khẩu, sử dụng, sản xuất, nghiên cứu đối với vaccine. Chính phủ cũng đã có những Nghị quyết, văn bản chỉ đạo Bộ Y tế thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu, nghiên cứu sản xuất và sử dụng vaccine trên tinh thần để người dân tiếp cận nhanh nhất, rộng nhất, đảm bảo miễn dịch cho từng người dân và cho cộng đồng.

Trong điều kiện “chống dịch như chống giặc,” khan hiếm vaccine phòng chống COVID-19 trên toàn cầu, để sớm có vaccine và tiêm cho nhân dân theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế và các bộ, ngành nêu cao tinh thần trách nhiệm vì sức khỏe nhân dân, sức khỏe cộng đồng, lợi ích của quốc gia, dân tộc; cùng cộng đồng trách nhiệm, thống nhất thực hiện các giải pháp để có vaccine sớm nhất. Đây là tình huống cấp bách, vì thế việc mua vaccine phải được xử lý theo quy định của pháp luật về các trường hợp đặc biệt, cấp bách và phải được thực hiện ngay.

Đã có 4 lô vaccine AstraZeneca về tới Việt Nam với tổng gần 2,9 triệu liều.

Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch COVID-19, từ nhiều tháng nay, Bộ Y tế đã liên tục có nhiều cuộc tiếp xúc, đàm phán, tiếp cận tất cả các nguồn vaccine phòng COVID-19 từ các nhà sản xuất vaccine, các tổ chức y tế, đại diện ngoại giao các nước có sản xuất vaccine đều được phía Việt Nam hướng tới, nhằm tranh thủ mọi khả năng, nguồn lực để có vaccine sớm nhất, phấn đấu cuối năm 2021 sẽ có miễn dịch cộng đồng.

Vì vậy, Việt Nam đã là 1 trong những quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á ký hợp đồng mua vaccine phòng COVID-19 của AstraZeneca. Việt Nam cũng là 1 trong 92 quốc gia được COVAX Facility hỗ trợ 38,9 triệu liều vaccine phòng COVID-19.

Đến nay, đã có 4 lô vaccine AstraZeneca về tới Việt Nam với tổng gần 2,9 triệu liều. Lô đầu tiên gồm 117.600 liều về ngày 24/2, lô thứ 2 của Covax về ngày 1/4 với 811.200 liều, lô thứ 3 của Covax về ngày 16/5 với 1,682 triệu liều và lô mới nhất 288.000 liều (về ngày 25/5).

Ngoài ra, đến nay, Việt Nam cũng đã đàm phán thành công với Pfizer/BioNTech (20 triệu liều), với COVAX Facility – một cơ chế chia sẻ vaccine cho toàn cầu. Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã đăng ký với COVAX để mua thêm vaccine phòng COVID-19 theo cơ chế cùng chia sẻ chi phí (10 triệu liều).

Cho đến nay, tổng số liều vaccine phòng COVID-19 Việt Nam đã đàm phán được là 170 triệu. Trong số này có 38,9 triệu liều vaccine từ chương trình COVAX, 30 triệu liều từ AstraZeneca thông qua Công ty VNVC, 31 triệu liều từ Pfizer/BioNTech... Ngoài các hợp đồng trước đây, Bộ Y tế cũng đã đặt mua của Covax thêm 10 triệu, mua Pfizer thêm 20 triệu liều…

Theo tính toán của Bộ Y tế, để tiêm cho 70% dân số từ 18 tuổi trở lên sẽ cần khoảng 150 triệu liều vaccine. Như vậy, nếu con số đàm phán 170 triệu liều sẽ được ký kết và về Việt Nam đúng theo cam kết của các đối tác, chúng ta hoàn toàn có thể đạt dược mục tiêu miễn dịch cộng đồng vào cuối năm nay.

Bộ Y tế và các cơ quan, tổ chức liên quan đang nỗ lực xúc tiến triển khai thực hiện mục tiêu cấp bách này. Theo đó, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long khẳng định, mặc dù hiện nay tình trạng khan hiếm vaccine trên thế giới vẫn căng thẳng nhưng với các thỏa thuận đã đạt được, “mục tiêu nhập khẩu được 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 trong năm 2021 là rất khả thi.”

Bên cạnh đó, người đứng đầu ngành y tế cũng nhấn mạnh về vấn đề tiến độ cung ứng vaccine. Theo đó, đây phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu để các lô vaccine có thể về sớm nhất, kịp thời cung ứng cho hai địa phương được ưu tiên là Bắc Giang và Bắc Ninh.

ĐỂ KHÔNG AI BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU, SẼ CÓ CƠ CHẾ MỞ

“Để chống dịch như chống giặc,” Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhiều lần nhấn mạnh và yêu cầu kiên quyết thực hiện có hiệu quả chiến lược vaccine, cụ thể là đẩy nhanh hơn nữa việc tiếp cận mua, nhập khẩu các nguồn vaccine theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; nhận chuyển giao công nghệ, đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu và sản xuất vaccine trong nước; tổ chức tiêm chủng cho hiệu quả, chủ động phòng ngừa sự cố và giải thích rõ khi có sự cố.

Thực hiện chỉ đạo này và để đảm bảo nguồn tài chính vững bền cho tiêm chủng vaccine phòng COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã có quyết định thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 Việt Nam để huy động các nguồn lực cho việc mua và sản xuất vaccine, đảm bảo an ninh vaccine của Việt Nam.

“Có thể nói rằng, đây là một trong những cơ chế tài chính vừa huy động tổng lực đóng góp của xã hội, tập đoàn, doanh nghiệp, cá nhân đồng thời đảm bảo ngân sách Nhà nước để đảm bảo vaccine cho người dân.”

Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh: “Có thể nói rằng, đây là một trong những cơ chế tài chính vừa huy động tổng lực đóng góp của xã hội, tập đoàn, doanh nghiệp, cá nhân đồng thời đảm bảo ngân sách Nhà nước để đảm bảo vaccine cho người dân. Đây là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong vấn đề huy động nguồn lực xã hội cho vấn đề về vaccine.”

Theo tính toán của Bộ Y tế, Việt Nam dự kiến mua 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người, với tổng nhu cầu kinh phí ước khoảng 25.200 tỷ đồng, bao gồm kinh phí mua vaccine, kinh phí vận chuyển, bảo quản, phân phối, tổ chức tiêm chủng.

Về nguồn kinh phí để mua vaccine, ngân sách Trung ương dự kiến phải bố trí khoảng 16.000 tỷ đồng, bảo đảm cho các đối tượng do Trung ương quản lý và hỗ trợ ngân sách địa phương khó khăn; ngân sách địa phương chi và huy động đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức khoảng 9.200 tỷ đồng.

Đặc biệt, khi dịch kéo dài thì nhu cầu vaccine hàng năm tăng cao, kinh phí mua vaccine lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách nhà nước thì sẽ khó đáp ứng mục tiêu phòng dịch cho toàn dân. Vì vậy cần sự hỗ trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp khác mua vaccine phòng COVID-19.

Bộ trưởng Bộ Y tế cũng khẳng định cơ quan này được giao là đầu mối nhập khẩu vaccine nhưng không có nghĩa là bộ “độc quyền” nhập khẩu mà luôn khuyến khích tất cả các địa phương, các doanh nghiệp có điều kiện, khả năng tiếp cận các nguồn vaccine đều có thể nhập khẩu.

“Tuy nhiên, Bộ Y tế cũng một lần nữa cảnh báo tình trạng “lừa đảo vaccine” khi nhiều tổ chức, cá nhân tự giới thiệu là đại diện được ủy quyền của các nhà sản xuất vaccine để chào bán vaccine, nhưng khi Bộ Y tế liên hệ thì các nhà sản xuất vaccine đều khẳng định là không đúng sự thật,” Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long chỉ rõ.

Người đứng đầu ngành y tế phân tích, theo quy định hiện hành, chỉ các công ty có chức năng nhập khẩu, kinh doanh vaccine mới được nhập khẩu vaccine. Hiện Việt Nam có 36 đơn vị có chức năng này. Các đơn vị có điều kiện tiếp cận nguồn cung vaccine hoàn toàn có thể trực tiếp làm việc với Bộ Y tế hoặc với 1 trong số 36 đơn vị này.

Các vaccine phải được Bộ Y tế cấp phép, cấp số đăng ký và các lô vaccine phải có hồ sơ chứng thực xuất xứ, chất lượng. Hiện Bộ Y tế đã cấp phép cho 3 loại vaccine gồm Astra Zeneca, Sputnik V và Vero Cell.

“Nhất thiết không để bất kỳ doanh nghiệp nào, tổ chức nào thực sự có nguồn mua được vaccine ngay mà lại không mua về được,” Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh.

Đánh giá về công tác đảm bảo vaccine trong phòng chống dịch, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ghi nhận nỗ lực của Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan trong thời gian qua và nhấn mạnh cần tìm mọi giải pháp để có vaccine sớm nhất. Mọi vướng mắc phải được tháo gỡ ngay. Mọi điều chưa rõ phải được hướng dẫn ngay.

Người đứng đầu Bộ Y tế cũng khẳng định tất cả các lô vaccine dù đơn vị nào nhập khẩu nhưng có hồ sơ chứng nhận xuất xứ, chất lượng thì đều được Bộ Y tế chỉ đạo hệ thống y tế tổ chức tiêm. Đối với Hồ sơ chứng nhận xuất xứ, chất lượng, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng lưu ý Bộ Y tế quan tâm đến tình huống các doanh nghiệp, hiệp hội qua các mối quan hệ đối tác có thể nhập được một lượng vaccine không lớn nên khó có đủ bộ hồ sơ từ nhà sản xuất. Bộ Y tế cam kết sẽ hướng dẫn, xử lý từng trường hợp một cách thuận lợi và nhanh nhất, nếu nhận được đề nghị. “Nhất thiết không để bất kỳ doanh nghiệp nào, tổ chức nào thực sự có nguồn mua được vaccine ngay mà lại không mua về được,” Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long cho hay về lâu dài, cũng như nhiều loại vaccine khác, sẽ có vaccine miễn phí theo chương trình tiêm chủng mở rộng của Bộ Y tế và vaccine dịch vụ theo nhu cầu và khả năng chi trả của một bộ phận nhân dân.

Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, đợt dịch lần này chủng mới lây nhanh hơn, triệu chứng nặng hơn. Xuất hiện hình thái lây nhiễm là cả xâm nhập và trong cộng đồng, khu công nghiệp, ở bệnh viện tuyến cuối. “So với trước đây, chúng ta phải nỗ lực gấp 10 lần để đuổi kịp tốc độ lây lan của dịch.”

Thành công của một chiến dịch tiêm chủng là phải đảm bảo tất cả các quốc gia và tất cả mọi người đều được hưởng lợi, bao gồm cả những người khó tiếp cận nhất

Vì vậy, điểm mấu chốt cho thành công của một chiến dịch tiêm chủng là phải đảm bảo tất cả các quốc gia và tất cả mọi người đều được hưởng lợi, bao gồm cả những người khó tiếp cận nhất. Và Việt Nam đang trong tiến trình để nỗ lực cao nhất đảm bảo cho mỗi người dân được bình an, đẩy lùi và khống chế dịch bệnh COVID-19.


Hiện nay, đã có 4 lô vaccine AstraZeneca về tới Việt Nam với tổng gần 2,9 triệu liều. Ngày 2/6, Bộ y tế đàm phán để Việt Nam có thể mua 20 triệu liều vaccine SPUTNIK phòng COVID-19 trong năm 2021.

Tính đến hết ngày 2/6/2021, Việt Nam đã thực hiện tiêm tiêm 1.110.111  liều vaccine phòng chống COVID-19, trong số này đã có 31.177  người được tiêm đủ 2 mũi.

Đối tượng đã được tiêm là cán bộ, nhân viên y tế đang trực tiếp điều trị bệnh nhân COVID-19, các nhân viên y tế thực hiện các nhiệm vụ như lấy mẫu bệnh phẩm, xét nghiệm, truy vết, thành viên các tổ COVID-19 cộng đồng, Ban Chỉ đạo phòng chống dịch các cấp, các lực lượng công an, quân đội.

Theo thống kê của Bộ Y tế, tính từ ngày 21/5- 28/5, đã có 19 tập đoàn, các đơn vị khối ngân hàng, các tổng công ty, công ty, doanh nghiệp hỗ trợ tài chính cho Quỹ vaccine với tổng số tiền gồm: 470 tỷ đồng; 1 triệu USD và 5 triệu liều vaccine COVID-19.

Theo thông tin từ Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, hưởng ứng lời kêu gọi của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sau 3 ngày phát động, tính đến 17 giờ ngày 2/6, số tiền từ các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc Ủy ban đóng góp, ủng hộ cho Quỹ vaccine phòng COVID-19 đã lên đến 2.360 tỷ đồng.

Cho đến nay, tổng số liều vaccine phòng COVID-19 Việt Nam đã đàm phán được là 170 triệu. Trong số này có 38,9 triệu liều vaccine từ chương trình COVAX, 30 triệu liều từ AstraZeneca thông qua Công ty VNVC, 31 triệu liều từ Pfizer/BioNTech… Ngoài các hợp đồng trước đây, Bộ Y tế cũng đã đặt mua của Covax thêm 10 triệu, mua Pfizer thêm 20 triệu liều…

BÀI 1: TẤN CÔNG VÀO BA MẶT TRẬN LỚN ĐỂ DẸP ‘CƠN ÁC MỘNG’ COVID-19
BÀI 2: VACCINE – ‘VŨ KHÍ TỐI THƯỢNG’ ĐỂ ‘TẤN CÔNG ĐẠI DỊCH’
BÀI 3: ‘MẶT TRẬN’ COVID-19: CHIẾN LƯỢC MỚI, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ
BÀI 4: NHỮNG ‘ĐÒN ĐÁNH’ QUYẾT ĐỊNH GIÚP VIỆT NAM KIỂM SOÁT DỊCH
BÀI 5: NỖI ĐAU COVID-19: NHIỀU HY SINH, MẤT MÁT VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Cao Thùy Giang
Cao Thùy Giang

VietnamPlus

Đường sắt Pháp dưới góc nhìn của một kỹ sư gốc Việt

Đường sắt Pháp dưới góc nhìn của kỹ sư gốc Việt

Năm 2021…


…đánh dấu chặng đường 40 năm tàu cao tốc TGV đi vào vận hành và trở thành một trong những niềm tự hào của nước Pháp nói chung và ngành đường sắt Pháp nói riêng.

Đây cũng là dịp để cùng nhìn lại lịch sử gần 2 thế kỷ hình thành và phát triển của hệ thống đường sắt Pháp, vốn có tuổi đời chỉ kém hệ thống đường sắt của nước láng giềng Anh.


Ra đời… như một tất yếu lịch sử


Để hiểu hơn về một trong những hệ thống đường sắt lâu đời và lớn nhất thế giới, đài RFI phỏng vấn kỹ sư Tạ Quang Anh, công tác tại Tập đoàn đường sắt quốc gia Pháp (SNCF) về quá trình ra đời mạng lưới đường sắt Pháp. Kỹ sư cho biết, ngành đường sắt Pháp được “thai nghén” trong khoảng 3 thập niên đầu thế kỷ XIX. Xuất hiện chậm hơn ở Anh, nơi chiếc máy hơi nước đầu tiên được gắn lên xe goòng chạy trên đường ray trong các hội chợ triển lãm từ khoảng giữa thập niên 1810, sự ra đời của của mạng lưới đường sắt Pháp cũng trong một bối cảnh tương tự, như là một tất yếu lịch sử. Bối cảnh tất yếu đó chính giai đoạn cuối của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở châu Âu, giai đoạn của sự gặp gỡ giữa cung và cầu. 

Về cầu, trong lĩnh vực kinh tế, đó là nhu cầu vận chuyển thành phẩm khối lượng lớn, đặc biệt trong ngành công nghiệp khai khoáng và phần nào sau này là hóa chất, dệt may, nông nghiệp. Trong lĩnh vực chính trị, đó là nhu cầu quy hoạch lãnh thổ, thống nhất giao thông, hành chính ở một quốc gia rộng lớn với nhiều đặc thù địa lý và văn hóa đa dạng. 

Thành quả của công nghệ luyện kim đã cho phép sản xuất các loại thép chất lượng cho bánh tàu và đường ray, đặc biệt là với năng lực sản xuất cho hàng nghìn km đường ray

         
Về cung, đó là khả năng đáp ứng công nghệ. Đây cũng là sự giao thoa của hai yếu tố công nghệ đã đều phát triển đến độ chín cần thiết ở thời điểm đó. Một mặt, thành quả của công nghệ luyện kim đã cho phép sản xuất các loại thép chất lượng cho bánh tàu và đường ray, đặc biệt là với năng lực sản xuất cho hàng nghìn km đường ray. Mặt khác, ở ngành cơ khí, máy hơi nước, linh hồn của cuộc cách mạng công nghiệp, dù đã vượt qua những rào cản để giải phóng sức lao động, vẫn là mảnh đất sáng tạo đầy cảm hứng cho các tối ưu hóa về hiệu năng và kích thước.

Về phía nước Pháp, năm 1823, tuyến đường sắt đầu tiên, dài 18 km nối liền một mỏ than từ vùng lân cận Saint-Etienne xuống một cảng sông Loire ở Andrézieux. Mặc dù chỉ dùng trọng lực để chở than xuống cảng sông và dùng sức ngựa để kéo vật liệu xây dựng theo chiều ngược lại, nhưng về mặt hạ tầng, song đây được coi là tuyến đầu tiên của mạng lưới đường sắt Pháp và châu Âu lục địa. Chỉ sau đó 7 năm, một tuyến khác nối Saint-Etienne với Lyon dài 58 km cũng được đưa vào khai thác. Đây là lần đầu tiên ở Pháp, đầu máy hơi nước do kỹ sư người Pháp Marc Seguin cải tiến được đưa vào sử dụng thay ngựa với vận tốc kỷ lục lúc đó là 12 km/h. Một năm sau đó, vào năm 1831, tuyến này cũng bắt đầu vận chuyển hành khách.

Năm 1823, tuyến đường sắt đầu tiên, dài 18 km nối liền một mỏ than từ vùng lân cận Saint-Etienne xuống một cảng sông Loire ở Andrézieux

Năm 1814, ngay trong những buổi đầu của lịch sử đường sắt thế giới, khi mới xuất hiện ở Anh, một báo cáo mang tính chiến lược đã được Kỹ sư trưởng Moisson-Desroches đệ trình lên Hoàng đế Napoleon, nêu lên tầm quan trọng của việc hoạch định một mạng lưới đường sắt gồm 7 tuyến tỏa từ Paris đến mọi miền của “đất nước hình lục lăng”.

Đến năm 1837, ý tưởng chiến lược của Moisson-Desroches được cụ thể hóa trong bản quy hoạch của Alexis Legrand, khi đó là Tổng công trình sư về cầu đường và hầm mỏ của Pháp. Bản vẽ mà sau này người ta gọi là “Ngôi sao Legrand” chính là bản đồ quy hoạch đầu tiên của ngành đường sắt Pháp. Cũng trong năm 1837, tuyến đường sắt chuyên dụng vận tải hành khách đầu tiên được đưa vào khai thác, nối Paris đến vùng ngoại ô Saint-Germain-en-Laye. Trên giấy tờ và trên thực địa, năm 1837 như thế có thể coi là năm “Công Nguyên” của lịch sử đường sắt Pháp.

Sau khoảng 15 năm phát triển tương đối tự phát (kể từ khi luật đường sắt 1842 quy định mô hình xã hội hóa đường sắt), đến cuối năm 1858-đầu năm 1859, Hiệp định đường sắt giữa Nhà nước với 6 công ty đường sắt là một hành lang pháp lý quan trọng để phát triển mạng lưới. Hiệp định này có ý nghĩa phân chia thị phần phát triển của các công ty tư nhân được Nhà nước ủy quyền phát triển hệ thống đường sắt huyết mạch. Năm 1865, luật được mở rộng cho phép các chính quyền địa phương được ủy quyền xây dựng và khai thác các tuyến nhánh, tuyến ngang cho các công ty đường sắt.

Tính đến trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, gần 60.000 km tuyến 1 đã phủ khắp nước Pháp, tăng 6 lần trong khoảng 60 năm

Giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX, với những cơ chế kích thích phát triển của chính quyền trung ương và địa phương, chính là giai đoạn phát triển đột phá mạng lưới đường sắt Pháp, ít nhất là về tổng chiều dài các tuyến trong toàn hệ thống. Tính đến trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, gần 60.000 km tuyến 1 (hiện tại là khoảng 30.000 km) đã phủ khắp nước Pháp, tăng 6 lần trong khoảng 60 năm. Toàn bộ các tiểu khu hành chính cấp tỉnh đều được kết nối vào mạng lưới đường sắt. Cũng trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, các lựa chọn năng lượng như điện và dầu diesel cũng được thử nghiệm và phát triển cho đầu máy.

Sự ra đời của SNCF là kết quả của việc quốc hữu hóa ngành đường sắt phục vụ kế hoạch điện khí hóa toàn bộ mạng lưới đường sắt, một bước đi chủ động sau khủng hoảng năng lượng và kinh tế những năm 1930

Năm 1938, Tổng Công ty Đường sắt Quốc gia (SNCF) được thành lập. Toàn bộ 42.700 km đường sắt cùng với các khoản nợ và trên nửa triệu nhân viên ngành đường sắt được quy về một mối. Sự ra đời của SNCF là kết quả của việc quốc hữu hóa ngành đường sắt phục vụ kế hoạch điện khí hóa toàn bộ mạng lưới đường sắt, một bước đi chủ động sau khủng hoảng năng lượng và kinh tế những năm 1930.

Đây được coi là lựa chọn kinh tế-chính trị tối ưu vào thời điểm đó, trong bối cảnh các công ty tư nhân tiền thân của SNCF gặp rất nhiều khó khăn về tài chính sau một thời gian phát triển quá nóng về hạ tầng cuối thế kỷ XIX và đặc biệt sau những năm Chiến tranh Thế giới thứ nhất không có nguồn thu nào, nối tiếp sau đó là đại khủng hoảng 1929. Các nghiệp đoàn đường sắt, đại diện cho hơn nửa triệu lao động, trở thành các nghiệp đoàn rất có tiếng nói trong xã hội, góp phần đáng kể vào các phong trào công nhân.

Bước đột phá về chất


Vận tốc khai thác lúc đó là 260km/h, cùng năm, vận tốc thiết kế và chạy thử đạt kỷ lục thế giới ở mức 380 km/h. Sự ra đời của TGV mở đầu một giai đoạn phát triển đột phá mới của ngành đường sắt Pháp. Khác với giai đoạn đột phá về hạ tầng nửa cuối thế kỷ 19, TGV đã “thu nhỏ” nước Pháp và thậm chí châu Âu với chỉ 3-4 giờ đi lại. Trong giai đoạn 1990-2010, nhiều tuyến TGV trong nước được khánh thành, đáng chú ý là tuyến Eurostar chạy qua 50 km đường hầm eo biển Manche sang Anh, tuyến Thalys đi sang Bỉ và Hà Lan…

Năm 1997, Nhà nước tách phần quản lý hạ tầng khỏi SNCF bằng việc thành lập Mạng lưới đường sắt quốc gia (RFF). Đây là bước khởi đầu của Pháp khi thực hiện các cam kết về cạnh tranh trong lĩnh vực vận tải đường sắt trong Liên minh châu Âu (EU). Đến năm 2015, RFF nhập trở lại vào 1 công ty thành viên của SNCF, sau khi đã tách rời phần khai thác thành một công ty con khác độc lập trong tập đoàn.

Năm 1981, Pháp đưa vào khai thác tuyến tàu cao tốc TGV đầu tiên nối liền Paris và Lyon.

Năm 2007, Pháp một lần nữa phá kỷ lục thế giới về vận tốc chạy thử của tàu tốc hành ở tốc độ 574,8 km/h. Cho đến nay, đây vẫn là kỷ lục thế giới cho công nghệ tàu chạy trên đường ray. Năm 2020, độc quyền nhà nước về khai thác chạy tàu chính thức kết thúc.    

Trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ XX, việc vận hành tuyệt đối an toàn 400 tấn thép trên đường ray ở vận tốc 320 km/h luôn là một biểu tượng công nghệ trong ngành vận tải hành khách mặt đất. Công nghệ TGV được xuất khẩu và chuyển giao đến nhiều nước, trong châu Âu, sang Mỹ, Morocco và cả Hàn Quốc. Đối với người Pháp, TGV là một “niềm tự hào dân tộc”. Theo một thăm dò dư luận trong dân chúng Pháp, TGV được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất trong thế kỷ 20, cùng với máy tính, điện thoại di động và lò vi sóng.

Đối với ngành đường sắt vận tải hành khách, TGV ra đời như một cứu cánh trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng thập niên 1970, sự già cỗi của hệ thống đường sắt truyền thống từ ngót nghét 150 năm khiến đường sắt không còn là lựa chọn số một cho nhu cầu đi lại khi đường bộ cao tốc phát triển mạnh và đường hàng không ngày càng có nhiều phân khúc giá dễ tiếp cận. Trong vận tải hành khách, cái quyết định không nhất thiết là tốc độ di chuyển mà là tổng hòa của thời gian di chuyển, tính tiện nghi, an toàn và dĩ nhiên là giá cả. TGV ra đời đáp ứng một cách hài hòa nhất các yếu tố này. Các tuyến TGV nối trung tâm các đô thị lớn (trong nước Pháp và sau này là châu Âu, cả lục địa và đảo quốc Anh) trong hành trình với thời gian vừa phải, độ an toàn cao, chất lượng dịch vụ tốt.

Mạng lưới đường sắt tại Pháp do Tập đoàn đường sắt quốc gia Pháp (SNCF) vận hành


Đối với những người làm kỹ thuật và công nghệ đường sắt, 20 năm thai nghén, 40 năm khai thác, hoàn thiện và phát triển của TGV đã, đang và sẽ là nguồn cảm hứng cho các sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong rất nhiều lĩnh vực, từ hạ tầng kết cấu, năng lượng, thông tin tín hiệu đến đầu máy toa xe; từ công nghiệp xây lắp chế tạo đến công nghiệp bảo trì bảo dưỡng.   

Theo kỹ sư Tạ Quang Anh, lịch sử hình thành và phát triển gần 200 năm là một lợi thế của đường sắt Pháp. Trên thế giới, ngoài Anh, không có quốc gia nào nhiều “tuổi đường sắt” như Pháp. Đây là một lợi thế lớn về mặt kinh nghiệm. Độ che phủ của mạng lưới đường sắt Pháp so với toàn lãnh thổ địa lý ở mức rất cao. Dù Pháp không phải là nước có tỷ lệ dân số đô thị quá cao, nhưng theo một thống kê, khoảng 89% dân số Pháp sống cách nhà ga dưới 10 km (trong các đô thị như Paris, khoảng cách này nhỏ hơn nhiều). Điều này góp phần không nhỏ vào việc hình thành thói quen và nhu cầu sử dụng đường sắt để di chuyển. 

Khoảng 89% dân số Pháp sống cách nhà ga dưới 10 km (trong các đô thị như Paris, khoảng cách này nhỏ hơn nhiều). Điều này góp phần không nhỏ vào việc hình thành thói quen và nhu cầu sử dụng đường sắt để di chuyển. 



Mặt khác, vận tải đường sắt ở Pháp với trên 80% điện khí hóa là ngành vận tải về cơ bản thân thiện với môi trường. Với độ che phủ lớn như trên, trong tương lai trung và dài hạn, với các cam kết giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính của Chính phủ Pháp trong khuôn khổ các hiệp định môi trường toàn cầu, vận tải đường sắt (cả hàng hóa và hành khách) chắc chắn vẫn sẽ là những ưu tiên trọng điểm của chính phủ. Do có hơn 80% mạng lưới đường sắt đã điện khí hóa, với năng lực điện hạt nhân dân dụng của Pháp, ngành đường sắt Pháp có lợi thế rất lớn về chủ động năng lượng so với phần lớn các quốc gia đường sắt.

Tuy nhiên, ngành đường sắt Pháp cũng đối mặt với một số hạn chế. Ví dụ điển hình là ngành đường sắt Anh đã đi vào giai đoạn thoái trào từ cuối thế kỷ XX. Trong trường hợp ngành đường sắt Pháp, về con người, việc thay đổi các thói quen sản xuất không còn phù hợp để ứng dụng các phương tiện và phương thức sản xuất hiện đại, trong rất nhiều trường hợp, gặp các lực cản từ chính các kinh nghiệm cũ. Về hạ tầng, đa phần mạng lưới đường sắt Pháp được thiết kế, xây dựng trước thế kỷ XX. Việc thích nghi với biến đổi khí hậu là một thách thức không nhỏ cho duy tu và bảo dưỡng mạng lưới.

TGV là một phát kiến kỹ thuật có tính kế thừa trên nền hạ tầng đá ballast và tiếp xúc giữa bánh xe và đường ray. Nhưng nếu muốn tăng vận tốc khai thác lên trên 400 km/h, cơ sở hạ tầng như vậy nhiều khả năng không còn phù hợp, nhất là khi đặt lên bàn cân với việc đội giá về chi phí duy tu bảo dưỡng. Dĩ nhiên, vận tốc chạy tàu không phải là một yếu tố tiên quyết, nhưng nếu Pháp quyết định chạy đua theo hướng này thì phải chấp nhận đi chậm hơn các nước khác đã phát triển hoặc được chuyển giao công nghệ hạ tầng đệm từ trường như Đức, Nhật Bản, Trung Quốc./.

Tác giả: Lê Mai Ly

(Theo Đài RFI)

Nỗ lực vượt ‘sóng thần’ COVID-19

Nỗ lực vượt ‘sóng thần’ COVID-19

  • “Chuyến bay C17 cất cánh tại Thủ đô Juba, Nam Sudan và hạ cánh tại sân bay Nội Bài là những giây phút mà tôi có nhiều cảm xúc dâng trào nhất. Đó là cảm giác vui mừng khôn xiết của ngày trở về với Tổ quốc, quê hương, gia đình và người thân sau gần 18 tháng ròng rã.”


BVDC 2.2 lên đường đến Nam Sudan thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của LHQ từ tháng 11/2019 với kế hoạch 1 năm.
Tuy nhiên, dịch Covid-19 bùng phát tại Nam Sudan và trên thế giới đã làm kéo dài nhiệm kỳ công tác của cán bộ, nhân viên Bệnh viện thêm gần 6 tháng.

“Chuyến bay C17 cất cánh tại Thủ đô Juba, Nam Sudan và hạ cánh tại sân bay Nội Bài là những giây phút mà tôi có nhiều cảm xúc dâng trào nhất. Đó là cảm giác vui mừng khôn xiết của ngày trở về với Tổ quốc, quê hương, gia đình và người thân sau gần 18 tháng ròng rã.”

Đó là chia sẻ của Thiếu tá Cao Thùy Dung, Điều dưỡng trưởng Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2, sau khi cùng các cán bộ, nhân viên của Bệnh viện đáp chuyến bay từ Juba, Nam Sudan trở về nước.

Lên đường thực hiện sứ mệnh gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Cộng hòa Nam Sudan từ tháng 11/2019 với thời hạn 01 năm theo kế hoạch nhưng do đại dịch COVID-19, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 đã phải kéo dài nhiệm vụ công tác trên thực địa thêm gần 6 tháng so với dự kiến với nhiều khó khăn đột xuất phát sinh.

“Vượt lên trên tất cả khó khăn, những người lính quân y Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 ở Nam Sudan đã hoàn thành sứ mệnh quốc tế cao cả.”

Trung tá, bác sỹ Võ Văn Hiển

Giám đốc Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2

“Khi nhận được thông tin bệnh viện sẽ kéo dài thời gian công tác tại địa bàn, tôi và nhiều đồng chí cảm thấy rất hụt hẫng, không biết bao giờ mình có thể trở về với gia đình, với đất mẹ Việt Nam. Tuy nhiên, là một người lính, sau giây phút suy nghĩ ban đầu, cùng sự động viên quan tâm của chỉ huy các cấp, chúng tôi đã sốc lại tinh thần, xác định rõ nhiệm vụ. Chúng tôi hiểu rằng, trong điều kiện bình thường, việc kéo dài thêm thời gian công tác tại Phái bộ là một điều hoàn toàn có thể xảy ra chứ chưa nói khi tình hình dịch bệnh đang bùng phát,” Đại úy, bác sỹ Nguyễn Việt Phương, Trưởng khoa Nội-Truyền nhiễm, Tổ trưởng Tổ điều trị COVID-19 Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2, chia sẻ với phóng viên TTXVN.

Trung tá, bác sỹ Võ Văn Hiển, Giám đốc Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 cho biết, tháng 4/2020, thời điểm dịch COVID-19 bắt đầu xuất hiện tại Nam Sudan cũng là lúc Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 phải đối mặt với sự thiếu thốn về trang thiết bị, vật tư y tế.

“Chúng tôi buộc phải chắt chiu từng chiếc khẩu trang y tế, từng viên thuốc để vừa đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, vừa đảm bảo phòng, chống dịch bệnh.”

-Trung tá, bác sỹ Võ Văn Hiển, Giám đốc Bệnh viện dã chiến cấp 2- số


Hàng hóa mang từ Việt Nam sang bắt đầu cạn dần trong khi việc tiếp tế không thể thực hiện do Nam Sudan đóng cửa biên giới, các chuyến bay quốc tế và nội địa bắt buộc phải tạm dừng.

“Chúng tôi buộc phải chắt chiu từng chiếc khẩu trang y tế, từng viên thuốc để vừa đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, vừa đảm bảo phòng, chống dịch bệnh và dự trữ phòng khi dịch bệnh bùng phát với số lượng bệnh nhân lớn,” Trung tá, bác sỹ Võ Văn Hiển chia sẻ.

Sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 trên toàn cầu đã nhanh chóng trở thành thách thức lớn nhất, chưa từng có tiền lệ đối với mọi mặt của hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trên thế giới nói chung và ở Nam Sudan nói riêng.

Diễn tập khám cho bệnh nhân nghi mắc Covid-19 (Ảnh: Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam)

Trung tá, bác sỹ Võ Văn Hiển cho biết, có những thời điểm cán bộ, nhân viên của Bệnh viện rất hoang mang, lo lắng khi diễn biến tình hình an ninh, chính trị tại địa bàn trở nên căng thẳng, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp hoặc khi trong đơn vị, hay người thân ở quê nhà đau ốm…Tất cả những điều đó đều có thể ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư, suy nghĩ của cán bộ, nhân viên Bệnh viện.

Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả khó khăn, những người lính quân y Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 ở Nam Sudan đã đoàn kết, kiên cường cùng nhau vượt qua thử thách, hoàn thành sứ mệnh gìn giữ hòa bình quốc tế cao cả, đồng chí Giám đốc Bệnh viện vui mừng chia sẻ.


Đất nước Nam Sudan vốn bị tàn phá nặng nề bởi cả một thập kỷ chìm trong xung đột, chiến tranh, đời sống người dân vô cùng khó khăn và hệ thống y tế là con số không tròn trĩnh. Vì vậy, quốc gia này khá mong manh trước “con sóng thần” mang tên đại dịch COVID-19.

“Trong điều kiện bình thường, việc kéo dài thêm thời gian công tác tại Phái bộ là một điều hoàn toàn có thể xảy ra chứ chưa nói khi tình hình dịch bệnh đang bùng phát.”

Đại úy, bác sỹ Nguyễn Việt Phương

Trưởng khoa Nội-Truyền nhiễm, Tổ trưởng Tổ điều trị COVID-19 Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2

Khu vực Bentiu, nơi Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 của Việt Nam đóng quân được xác định là địa bàn phức tạp với rất nhiều khó khăn. Các nhân viên Liên hợp quốc di chuyển nhiều, quân số ở các đơn vị thường xuyên biến động do thực hiện kế hoạch đổi quân nên dễ mang theo mầm bệnh từ nơi khác đến, trong khi cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế thiếu, không có điều kiện xét nghiệm để sàng lọc dịch bệnh. Thêm vào đó, điều kiện vệ sinh môi trường hạn chế tại đây cũng là nguy cơ rất dễ xảy ra lây lan bệnh tật.

Trong hoàn cảnh đó, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 đã chủ động triển khai khu cách ly với các phương tiện trang thiết bị cần thiết, sẵn sàng cấp cứu, thu dung và điều trị cho các trường hợp bệnh nhân nhiễm COVID-19.

Ngoài ra, bệnh viện thường xuyên tổ chức huấn luyện, diễn tập các tình huống có thể xảy ra, xây dựng quy trình đảm bảo an toàn cho cán bộ, nhân viên bệnh viện, xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ đơn vị và đảm bảo an toàn cho cán bộ, nhân viên trong các tình huống nguy hiểm.

Nơi Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 của Việt Nam đóng quân được xác định là địa bàn phức tạp với rất nhiều khó khăn.


Khó khăn, thiếu thốn như vậy nhưng đường dây nóng của Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 Việt Nam duy trì 24/7, không bỏ qua bất kỳ trường hợp nào có dấu hiệu bất thường về sức khỏe,” Trung tá, bác sỹ Võ Văn Hiển cho biết.

Bác sỹ Nguyễn Việt Phương, Trưởng khoa Nội-Truyền nhiễm, Tổ trưởng Tổ điều trị COVID-19 Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2, kể lại kỉ niệm đáng nhớ trong nhiệm kỳ 18 tháng tại Phái bộ Bentiu (Nam Sudan) khi một ca bệnh là nam sỹ quan người Mông cổ được chẩn đoán theo dõi lao màng phổi.

Bác sỹ Nguyễn Việt Phương cho biết theo quy định của Liên hợp quốc, những trường hợp như thế này sẽ phải chuyển lên bệnh viện cấp cao hơn, hoặc thậm chí phải cho hồi hương.

Tuy nhiên, trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát tại nhiều quốc gia, các chuyến bay vận chuyển bệnh nhân gần như đóng băng, bệnh nhân được quyết định theo dõi, điều trị lâu dài tại Bệnh viện. Sau nhiều lần chọc hút dịch màng phổi và điều trị thuốc chống lao tích cực theo đúng phác đồ, tình trạng lâm sàng của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt.

Bệnh nhân và các bác sỹ phụ trách y tế, chỉ huy tiểu đoàn Mông Cổ – đơn vị quân chủ lực của Phái bộ – hết sức vui mừng và cảm ơn tập thể y bác sỹ Việt Nam.

“Đây có lẽ là một ca bệnh được theo dõi và điều trị dài ngày nhất của khoa, huy động trí tuệ tập thể của nhiều cán bộ, y bác sỹ Bệnh viện trong điều kiện xét nghiệm, thuốc men, trang bị vật tư y tế tại địa bàn còn nhiều thiếu thốn,” Bác sỹ Phương nhớ lại.


Trở về nước an toàn sau 18 tháng ròng rã xa Tổ quốc, gia đình để thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, các thành viên Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 không quên những ngày tháng hoạt động trong điều kiện muôn vàn khó khăn, khắc nghiệt tại địa bàn nhưng cũng vô cùng tự hào khi được đóng góp một phần trách nhiệm của cá nhân trong nhiệm vụ chung của quân đội, quốc gia.

“Tôi cảm thấy được ý nghĩa to lớn khi được là quân nhân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam sống trong thời bình và được tham gia làm nhiệm vụ quốc tế, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ xa, nâng cao hình ảnh, vị thế, uy tín của quân đội, quốc gia, dân tộc, trong đó không thể thiếu là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong mắt bạn bè quốc tế,” Thiếu tá Cao Thùy Dung chia sẻ.

“Tôi cảm thấy được ý nghĩa to lớn khi được là quân nhân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam sống trong thời bình và được tham gia làm nhiệm vụ quốc tế, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ xa.”

Bài cuối: Hoạt động gìn giữ hòa bình góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam

Tác giả: Bảo Ngọc, Phương Anh

Nỗi đau khôn cùng của những người hít phải khói thuốc lá thụ động

Một năm trước, chị Lê Thị Tình (Thanh Hóa) như chết lặng người khi đón nhận tin dữ mình đã mắc ung thư phổi. Nhiều đêm, chị lặng lẽ quay mặt về một phía, những giọt nước mắt tuôn rơi vì lo cho các con khi không còn ai để chăm sóc, để chở che…

Khói thuốc làm hại tới hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể

Tháng 5/2020, khi thấy người gầy rạc, cơ thể không được khoẻ cùng những cơn ho đến nhiều và dồn dập, chị Tình tới Bệnh viện Phổi Trung ương khám bệnh. Sau khi làm hết các xét nghiệm, chị được bác sỹ thông báo mắc ung thư phổi giai đoạn 3.

Khi đó, chị cứ mơ hồ, không hiểu bởi mình chưa bao giờ hút thuốc lá, thuốc lào. Nhưng chỉ vài phút sau, khi bác sỹ hỏi tiền sử bản thân và gia đình chị có ai thường xuyên hút thuốc không thì chị mới nhớ ra có chồng và bố khi còn sống đều hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm. Đó cũng là yếu tố ảnh hưởng, nguyên nhân khiến chị mắc căn bệnh ung thư quái ác.

Khi đó, chị cứ mơ hồ, không hiểu bởi mình chưa bao giờ hút thuốc lá, thuốc lào. Nhưng chỉ vài phút sau, khi bác sỹ hỏi tiền sử bản thân và gia đình chị có ai thường xuyên hút thuốc không thì chị mới nhớ ra có chồng và bố khi còn sống đều hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm.

-Mega Story-

Đối với chị Tình, ung thư phổi chẳng khác nào một án tử hình.

Câu chuyện của chị Tình chỉ là một trong rất nhiều những hoàn cảnh thương tâm nạn nhân của hút thuốc thụ động. Bao năm qua, hút thuốc thụ động đã cướp đi sinh mạng của biết bao người phụ nữ vô tội.

Thạc sỹ, bác sỹ Phạm Thị Lệ Quyên – Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai cho hay có nhiều bệnh nhân đến trung tâm khám vì bệnh hô hấp. Trong đó, có nhiều trường hợp có liên quan đến khói thuốc mà bản thân họ chưa bao giờ hút. Những trường hợp như trường hợp của chị Tình có khá nhiều và có nhiều trường hợp khác rất đáng thương là khi phát hiện ra bệnh của họ đã ở giai đoạn cuối.

Bác sỹ Quyên dẫn chứng thêm về một trường hợp nữ bệnh nhân 36 tuổi ở Hà Nội cũng mắc ung thư phổi do ảnh hưởng của khói thuốc lá, thuốc lào. Qua khai thác, các bác sỹ được biết từ khi bệnh nhân còn nhỏ, trong gia đình có bố hút thuốc thường xuyên. Tới khi lập gia đình, chị thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc của chồng. Thời điểm phát hiện ra bệnh ung thư phổi cũng đã ở giai đoạn muộn.

Câu chuyện của chị Tình chỉ là một trong rất nhiều những hoàn cảnh thương tâm nạn nhân của hút thuốc thụ động. (Ảnh: Vietnam+)

Hoặc, ở trường hợp một nam thanh niên mới 26 tuổi ở Nghệ An nhưng đã mắc ung thư phổi. Ở thời điểm phát hiện, khối ung thư của nam thanh niên trên đã di căn màng phổi, di căn hạch ở cổ.

“Đây là trường hợp có hút thuốc lá từ năm 11 tuổi, trong gia đình của bệnh nhân có ông và bố hút thuốc. Do đó, có thể khi bạn ấy mới sinh ra đã tiếp xúc với khói thuốc. Khi phát hiện ra ung thư, thanh niên đó đã hút thuốc được khoảng 15 năm. Đây là trường hợp bệnh nhân vừa là nạn nhân của hút thuốc lá thụ động vừa là chủ động,” bác sỹ Quyên nhấn mạnh.

Bác sỹ Quyên phân tích, khói thuốc lá làm hại tới hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể của con người và là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới. Không chỉ người hút thuốc lá chủ động mà những người không hút thuốc nhưng hít vào khói thuốc lá do người khác thải ra cũng phải chịu những tác hại do khói thuốc lá gây ra.


Việt Nam có 6.000 người chết vì liên quan hút thuốc thụ động mỗi năm

Phân tích về tác hại của việc hít phải khói thuốc lá, thuốc lào, bác sỹ Quyên cho hay có nhiều bằng chứng cho thấy hút thuốc lá thụ động gây ra bệnh tật và tử vong tương tự như những người hút thuốc lá chủ động.

Với trẻ em, việc phải hít phải khói thuốc làm tăng nguy cơ về hen phế quản, các đợt cấp nặng của hen phế quản cũng như tăng bệnh nhiễm trùng về đường hô hấp, viêm tai giữa…

Trong khi đó, phụ nữ mang thai hít khói thuốc thường xuyên làm tăng nguy cơ đột tử ở trẻ sơ sinh. Người lớn hít phải khói thuốc dễ mắc các bệnh lý về mạch vành, ung thư phổi, tăng nguy cơ từ 20-25% so với những người không hít phải.

“Không có ngưỡng an toàn với việc hút thuốc lá thụ động. Nghĩa là, những người hút thuốc lá thụ động, dù chỉ là tiếp xúc, phơi nhiễm trong thời gian ngắn cũng gây hại cho sức khỏe.”

-Bác sỹ Phạm Thị Lệ Quyên-

Bác sỹ Quyên cũng lưu ý: “Không có ngưỡng an toàn với việc hút thuốc lá thụ động. Nghĩa là, những người hút thuốc lá thụ động, dù chỉ là tiếp xúc, phơi nhiễm trong thời gian ngắn cũng gây hại cho sức khỏe.” Thạc sỹ, bác sỹ Phan Thị Hải – Phó Giám đốc Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Bộ Y tế) cho hay hút thuốc thụ động là hít phải (hay còn gọi là phơi nhiễm) khói thuốc từ đầu điếu đang cháy hoặc khói thuốc do người hút thuốc phả ra. Khói thuốc thụ động chứa hàng nghìn các hóa chất, độc hại. Người không hút thuốc nhưng thường xuyên sống, làm việc trong môi trường có khói thuốc lá cũng mắc các bệnh như người hút thuốc.

Theo thống kê của ngành y tế, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư phổi tại Việt Nam. Khói thuốc lá chứa hơn 7.000 hóa chất, trong đó có 69 chất gây ung thư. Khói thuốc có thể tồn tại ở khắp mọi nơi và đặc biệt không có ngưỡng an toàn khi phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động, gây ảnh hưởng đến cộng đồng mà nạn nhân chủ yếu đa phần là phụ nữ và trẻ em.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên toàn cầu, mỗi năm có 1,2 triệu ca tử vong vì các bệnh liên quan đến hút thuốc lá thụ động. Trong đó có gần 760.000 phụ nữ và 180.000 trẻ em.

Tại Việt Nam, WHO ước tính mỗi năm có gần 6.000 người chết vì các bệnh liên quan đến hút thuốc lá thụ động.

Bà Hải cho hay nhằm giảm thiểu những tác hại của thuốc lá gây ra, Luật phòng chống tác hại của thuốc lá đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ năm 2013. Sau hơn 7 năm thực hiện Luật, với sự phối hợp của các bộ ngành, công tác phòng chống tác hại của thuốc lá đã đạt nhiều kết quả. Hiện nay, tình trạng hút thuốc lá thụ động ở các địa điểm công cộng đã giảm một cách rõ rệt, đặc biệt những sự kiện trong xã hội như đám cưới, đám ma, hội họp, hội thảo… góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Năm 2020-2021, tổ chức Y tế cộng đồng toàn cầu Vital Strategies tiếp tục đồng hành cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Quỹ Phòng chống tác hại của thuốc lá (Bộ Y tế) thực hiện các chiến dịch nhằm tuyên truyền hãy từ bỏ thuốc lá vì sức khỏe của người thân.

Người hút thuốc lá hay thuốc lào đều đã mất, nỗi đau để lại cho gia đình càng lớn hơn nhiều.

Chiến dịch mong muốn tăng cường nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, về tác hại của khói thuốc lá thụ động đồng thời khuyến khích những người phụ nữ lên tiếng bảo vệ bản thân và người thân khỏi thuốc lá thụ động, khuyên những người xung quanh từ bỏ thuốc lá.

LÍNH ‘MŨ NỒI XANH’ VIỆT NAM VÀ KHÁT VỌNG HÒA BÌNH CHO THẾ GIỚI

LÍNH ‘MŨ NỒI XANH’ VIỆT NAM VÀ KHÁT VỌNG HÒA BÌNH CHO THẾ GIỚI

Là một đất nước từng đi qua chiến tranh, Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình. Bản thân những người lính sinh ra khi đất nước đã im tiếng súng lại càng trân trọng hơn những điều mà thế hệ ngày nay đang được thụ hưởng. Vì vậy những chiến sĩ của lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam luôn ấp ủ trong mình khát vọng được mang màu xanh của hòa bình đến những mảnh đất đầy đau thương vẫn còn bị đạn bom giày xéo.

SỨ GIẢ CỦA HÒA BÌNH
VÀ LÒNG NHÂN ÁI

“Let us live in peace and love. Let us forget the last things”


(Xin cho chúng con được sống trong hòa bình và tình thương yêu. Hãy giúp chúng con quên đi những điều đã qua)

Đây là những dòng chữ trên tấm bảng tại một trường học ở thị xã Bentiu, Cộng hòa Nam Sudan, được một sỹ quan của Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam chụp lại khi đi làm nhiệm vụ tại địa bàn.

“Chỉ vài từ ngữ ngắn gọn nhưng có thể thấy chúng chứa đựng nỗi khát khao và mong ước của trẻ em cũng như người dân Nam Sudan. Đó là khát vọng được sống trong một môi trường hòa bình, ổn định và có cơ hội phát triển,” Thượng úy, bác sỹ Từ Quang – Đội trưởng Đội cấp cứu đường không, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 – người chụp bức ảnh trên, kể với phóng viên TTXVN ngay sau khi kết thúc nhiệm kỳ tại Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.

Thượng úy Từ Quang cho biết, do những xung đột triền miên kể từ khi Nam Sudan tuyên bố độc lập năm 2011, những đứa trẻ ở đây không còn hoặc có rất ít cơ hội được tiếp cận với giáo dục một cách đầy đủ.

Tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong đội hình Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2, bắt đầu triển khai tại Cộng hòa Nam Sudan từ tháng 11/2019, Thượng úy, bác sỹ Từ Quang được phân công phụ trách nhiệm vụ điều phối hoạt động phối hợp Quân sự – Dân sự (CIMIC).

CIMIC có vai trò là cầu nối giữa khối quân sự và khối dân sự trong nội bộ Liên hợp quốc, tham gia công tác điều phối giữa Liên hợp quốc, các tổ chức nhân đạo quốc tế với chính quyền địa phương, qua đó thực hiện các nhiệm vụ nhân đạo và phát triển bền vững tại địa bàn.

Thượng úy, bác sỹ Từ Quang (phải) trao đổi tại thực địa với sỹ quan phụ trách CIMIC của Phái bộ gìn giữ hòa bình LHQ tại Nam Sudan

“Trường học mà chúng tôi tới thăm là một trong số những ví dụ về những khó khăn chồng chất mà người dân nơi đây đang phải đối mặt,” Thượng úy Từ Quang nói.

Với hơn 1.600 học sinh song Trường tiểu học Bentiu B chỉ có 3 khối nhà gồm 2 khối nhà kiên cố và một khối nhà tranh. Nói là kiên cố nhưng tường gạch đã nứt, mái tôn thì thủng lỗ chỗ. Còn khối nhà tranh, cả mái nhà và vách tường làm bằng đất đều đã xiêu vẹo.

Thượng úy Từ Quang cho biết thêm, do chiến tranh, xung đột và nghèo đói, nhà trường không còn khả năng duy tu, bảo dưỡng. Thêm vào đó, dịch bệnh COVID-19 càn quét đất nước Nam Sudan từ tháng 4/2020 đã buộc học sinh ở đây phải nghỉ học từ nhiều tháng nay. Học sinh không đến lớp, trường lớp cũng coi như bỏ hoang.

Bên trong lớp học Trường tiểu học Bentiu B, bàn ghế ngổn ngang chỉ còn trơ khung sắt.

Với mong muốn giúp học sinh địa phương có điều kiện tốt hơn để học hành, các cán bộ, nhân viên của Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 đã tranh thủ tối đa thời gian để làm những việc không phải là chuyên môn của mình.

“Chúng tôi đã tận dụng từng mảnh gỗ từ các thùng chứa hàng để đóng bàn ghế cho các em. Kết quả của sau gần 12 tháng làm tranh thủ là 31 bộ bàn ghế và 100 bộ chữ cái đã được hoàn thành,” Thượng úy, bác sỹ Từ Quang chia sẻ.

Cán bộ, nhân viên Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 chuyển bàn ghế xuống vị trí tập kết trước khi trao tặng cho trường Bentiu B, Nam Sudan.

Trong buổi trao tặng bàn ghế mới, các em học sinh tại trường Bentiu B còn được nhận những túi quà, trong đó ngoài sách vở, bút còn có một tờ giấy nhỏ giới thiệu về Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Khi đọc tờ giấy này, các em sẽ thấy Việt Nam là một đất nước nằm bên bờ Thái Bình Dương và có diện tích chỉ bằng một nửa Nam Sudan. Hai đất nước cách xa nhau hơn mười ngàn km. Khoảng cách này là rất xa, nhưng chúng tôi hy vọng khoảng cách đó sẽ được rút ngắn bởi những kiến thức thu nhặt qua những cuốn sách được đọc trên những bộ bàn ghế này và ghi chép lại bằng những cuốn sổ này. Khi có kiến thức, các em có thể giúp cho gia đình mình và xây dựng lại đất nước Nam Sudan… Một ngày nào đó, chúng tôi tin rằng sẽ được chào đón các em tới thăm Việt Nam, chúng ta đồng ý như thế nhé?”

Câu hỏi của một vị đại diện Bệnh viện khi phát biểu tại buổi lễ được đáp lại bằng những tràng pháo tay không ngớt ngay khi phiên dịch vừa dứt lời, Thượng úy, bác sỹ Từ Quang cho biết.

Các em học sinh trường Bentiu B nhận những túi quà của Cán bộ, nhân viên Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 trong buổi lễ trao tặng bàn ghế mới cho nhà trường.

Thượng úy Từ Quang chia sẻ: Bản thân những người lính sinh ra khi đất nước đã im tiếng súng vô cùng trân trọng những điều mà thế hệ ngày nay đang được thụ hưởng. Đó là ngày ngày được đi làm, đi học, được sinh sống trong một xã hội bình yên.

Có lẽ, chính vì điều đó mà khi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và dù hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt với muôn vàn khó khăn tại địa bàn, các chiến sỹ “mũ nồi xanh” Việt Nam luôn ý thức được trách nhiệm và sứ mệnh cao cả của mình.

“Tôi chỉ có mong muốn một ngày người dân nơi đây sẽ có một cuộc sống ấm no, an lành, hạnh phúc.”


(Trung tá Nguyễn Thị Minh Phương, Quan sát viên quân sự, Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan)

Chứng kiến tận mắt sự nghèo đói, khổ cực của người dân ở những vùng bị ảnh hưởng nặng nề từ xung đột phe phái và bất ổn chính trị, Trung tá Nguyễn Thị Minh Phương có nhiều kỷ niệm sâu sắc không thể quên trong nhiệm kỳ công tác tại Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Cộng hòa Nam Sudan trên cương vị quan sát viên quân sự.

Với đặc thù công việc thường xuyên đi tuần tra, trinh sát ngắn ngày và dài ngày trong khu vực đảm nhiệm, Trung tá Phương có nhiều cơ hội tiếp xúc với chính quyền và người dân địa phương, qua đó nắm bắt tình hình cũng như tâm tư, nguyện vọng của họ.

Trung tá Nguyễn Thị Minh Phương trò chuyện với một em gái ở trại tị nạn Lasu (12/2019). Theo lời chia sẻ của em, gia đình em đang bị ly tán, trường học đóng cửa nên em không thể đến trường. Em mơ ước được học và trở thành bác sĩ trong tương lai để giúp người dân địa phương có sức khỏe tốt, chống lại dịch bệnh, nhất là dịch Ebola đang là vấn đề nổi cộm ở khu vực vùng biên này.

Trung tá Nguyễn Thị Minh Phương chia sẻ: “Chuyến tuần tra dài ngày đầu tiên của nhiệm kỳ để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất khi cô chứng kiến hình ảnh một em gái chỉ trong độ tuổi 16-18 bế hai bé song sinh nhỏ như hai con mèo con mới sinh và đang khóc ngằn ngặt vì mẹ không có đủ sữa do không có gì để ăn.”

“Tim tôi như thắt lại. Cũng là một người mẹ, tôi thực sự rất khó kìm nén cảm xúc của mình khi nhìn thấy tình cảnh này.” Trung tá Nguyễn Thị Minh Phương tâm sự.

Cảm xúc ấy sau đó đã được Trung tá Phương gửi gắm qua bốn câu thơ giản dị:

“Em ngoan, em ngủ giấc nồng

Trong vòng tay của tấm lòng yêu thương

Bình yên qua mọi nhiễu nhương

Ngày mai tươi sáng, rộng đường đón em.”

Nhận thấy sứ mệnh vô cùng quan trọng và ý nghĩa của những người lính gìn giữ hòa bình, Trung tá Phương chia sẻ, cô tự hứa với bản thân phải nỗ lực hoàn thành thật tốt nhiệm vụ, góp phần đẩy nhanh tiến trình thực hiện các hiệp định hòa bình, tái thiết đất nước Nam Sudan sau xung đột.

“Tôi chỉ có mong muốn một ngày người dân nơi đây sẽ có một cuộc sống ấm no, an lành, hạnh phúc,” Trung tá Phương chia sẻ.

Em bé Nam Sudan trong vòng tay của nữ quân nhân lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam

Kết thúc nhiệm kỳ tại Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, nhiều chiến sỹ “mũ nồi xanh” Việt Nam sau khi trở về Tổ quốc vẫn còn lưu luyến với nhiều kỷ niệm tại địa bàn. Nhưng có lẽ, điều trăn trở lớn nhất với những người lính bộ đội Cụ Hồ ấy vẫn là làm sao để người dân ở Nam Sudan nói riêng và các quốc gia đang còn xung đột trên thế giới sớm được hưởng hòa bình, hạnh phúc.

Khu vực Lasu thuộc tiểu bang Yei là điểm nóng về xung đột và vấn đề nhân đạo ở Nam Sudan. Trong ảnh: Sỹ quan của Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam trao đổi, thảo luận với người đại diện cho người dân trại tị nạn ở khu vực Lasu thuộc tiểu bang Yei, biên giới Nam Sudan (Tháng 12/2019) để nắm bắt tình hình.

Sứ mệnh cao cả đó vẫn đang và sẽ được tiếp nối bởi các thế hệ người lính Quân đội nhân dân Việt Nam trong trang phục lực lượng “mũ nồi xanh”  của Liên hợp quốc.

Bài 2: Nỗ lực vượt ‘sóng thần’ COVID-19


Tác giả: Bảo Ngọc, Phương Anh

Hoạt động gìn giữ hòa bình góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam

Trong những năm qua,lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực, được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế công nhận và đánh giá cao.
(Nguồn: Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam)

Trong những năm qua, Việt Nam đã tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, được bạn bè quốc tế công nhận và đánh giá cao.

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong quá khứ, Việt Nam hiểu rõ giá trị của một nền hòa bình thực sự”.

-Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam-

“Trải qua nhiều cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong quá khứ, Việt Nam hiểu rõ giá trị của một nền hòa bình thực sự. Việc cử các lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình tại các phái bộ ở Châu Phi cũng là một đóng góp của quân đội và đất nước ta vào việc duy trì hòa bình bền vững trên thế giới,” Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam khẳng định.

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng cho biết, trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình, Việt Nam đã đưa ra rất nhiều sáng kiến được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế công nhận và đánh giá cao, góp phần tạo nên vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

“Trong thời đại hiện nay, việc bảo vệ cho nhân loại sống trong môi trường hòa bình và ít chịu hậu quả của các thách thức phi truyền thống là nhu cầu của mỗi quốc gia mà Việt Nam đang thực hiện rất tốt,” Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng chia sẻ với phóng viên TTXVN.

Đến nay, Việt Nam đã ký được 9 văn bản hợp tác về gìn giữ hòa bình với 9 quốc gia đối tác và hai văn bản hợp tác về gìn giữ hòa bình với Liên hợp quốc và EU. Đây là những hợp tác thể hiện trong lĩnh vực đa phương, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng song phương với các nước.

Bắt đầu tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc từ năm 2014, đến nay Việt Nam đã cử 53 lượt sỹ quan hoạt động theo hình thức sỹ quan tham mưu, quan sát viên quân sự, phân tích tình báo, điều phối viên quân sự tại các phái bộ Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Từ tháng 10/2018, Việt Nam đã cử 189 cán bộ, y, bác sỹ của 3 Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1, số 2 và số 3 đi thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ của cả hai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 và số 2 đều được Chỉ huy Phái bộ và Liên hợp quốc đánh giá cao. Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc phụ trách hoạt động gìn giữ hòa bình Jean-Pierre Lacroix đã gửi thư cảm ơn Chính phủ Việt Nam về sự đóng góp y tế này, Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng cho biết.

Trong bối cảnh dịch COVID-19, các sỹ quan của Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam đã áp dụng nghiêm túc các quy định phòng, chống dịch để triển khai tại các địa bàn. Tiêu biểu, một nữ quân nhân Việt Nam đã may 800 chiếc khẩu trang cho các sỹ quan trong Phái bộ, tạo ra nếp nghĩ cần phải có hành trang tự bảo vệ mình để đối phó với một đại dịch chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Sứ mệnh của Việt Nam tại Nam Sudan là một hình mẫu điển hình về hoạt động cứu trợ y tế.”

-Thiếu tá Adam R. Lulay, sỹ quan hoạt động song phương thuộc Văn phòng hợp tác Quốc phòng Hoa Kỳ-

Bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ của Liên hợp quốc, các sỹ quan của lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam còn hỗ trợ nhân dân nước sở tại bằng nhiều hoạt động nhân đạo như nuôi dạy trẻ em, hướng dẫn người dân địa phương cách trồng rau xanh để đảm bảo hậu cần tại chỗ… tạo nên vẻ đẹp của bộ đội Cụ Hồ trong mắt người dân và chính quyền các nước sở tại.

Thiếu tá Adam R. Lulay, Sỹ quan hoạt động song phương thuộc Văn phòng hợp tác Quốc phòng Hoa Kỳ, cho rằng những kinh nghiệm trong hoạt động gìn giữ hòa bình của Việt Nam có thể trở thành bài học được áp dụng cho nhiệm vụ gìn giữ hòa bình sắp tới.

“Sứ mệnh của Việt Nam tại Nam Sudan là một hình mẫu điển hình về hoạt động cứu trợ y tế, đặc biệt trong bối cảnh thách thức về dịch bệnh như hiện nay”, ông Adam R. Lulay nhấn mạnh.

Là một chuyên gia của Liên minh châu Âu (EU) được cử sang Việt Nam làm cố vấn cho Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam, Trung tá Stéphane Pierrat cho rằng Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng tất cả các yêu cầu của Liên hợp quốc và điều này được thể hiện qua những đóng góp trên thực tiễn hoạt động của các bệnh viện dã chiến của Việt Nam tại Nam Sudan.

Ông Stéphane Pierrat cho biết, Liên hợp quốc và các nước đánh giá cao những đóng góp của Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam trong thời gian qua.

Sỹ quan của Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tiếp xúc với phụ nữ, trẻ em ở khu trại tị nạn Lasu (12/2019), hướng dẫn việc giữ gìn vệ sinh, chăm sóc sức khỏe. (Ảnh: Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam)

Các sỹ quan trong Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam tại Nam Sudan không chỉ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội mà còn giúp đỡ người dân nước sở tại và được họ chào đón, ông Stéphane Pierrat khẳng định.

Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ, mà họ còn truyền cảm hứng đối với bạn bè quốc tế về những giá trị của Việt Nam

-Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam-

“Tôi đã nhìn thấy các sỹ quan Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ và trở về nước với nụ cười rất tươi. Và tôi cũng thấy những nụ cười ấy trên môi của các sỹ quan mới lên đường. Chắc hẳn họ đều rất tự hào khi được tham gia nhiệm vụ này”, ông Stéphane Pierrat nói.

Còn theo bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, hoạt động của Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam được đánh giá rất cao trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tỷ lệ nữ quân nhân tham gia cao hơn so với tỷ lệ khuyến khích của Liên hợp quốc.

Trong 6 năm qua, Việt Nam đã cử 20 nữ quân nhân trong đội hình Bệnh viện dã chiến cấp 2, chiếm tỷ lệ gần 16% và 4 sỹ quan nữ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc theo hình thức cá nhân, cao hơn tỷ lệ khuyến khích là 15% của Liên hợp quốc.

“Điều này đã thể hiện cam kết về bình đẳng giới một cách rất cao của Việt Nam. Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ, mà họ còn truyền cảm hứng đối với bạn bè quốc tế về những giá trị của Việt Nam”, Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam nhấn mạnh.

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục gìn giữ hòa bình Việt Nam cho biết, tuy là một nước mới tham gia nhưng Việt Nam đã để lại dấu ấn rất lớn trong lòng bạn bè quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc và các phái bộ Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi, góp phần tạo nên vị thế, uy tín trong khu vực và trên thế giới.

Với những đóng góp thực tiễn ở các phái bộ cũng như trong các hoạt động cụ thể của Liên hợp quốc, Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam đã và đang góp phần nâng cao tiếng nói của Việt Nam trong thúc đẩy thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, trong đó có duy trì một nền hòa bình bền vững trên thế giới,” Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng khẳng định.

“Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam đã và đang góp phần nâng cao tiếng nói của Việt Nam trong thúc đẩy duy trì một nền hòa bình bền vững trên thế giới”.

Thiếu tướng Hoàng Kim Phụng, Cục trưởng Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam

Tác giả: Bảo Ngọc, Phương Anh

Vì sao COVAX “lỡ nhịp” trong phân phối vaccine?

Vì sao COVAX “lỡ nhịp”

trong phân phối vaccine?

Ngay từ giai đoạn đầu của đại dịch COVID-19, giới chuyên gia y tế toàn cầu đã tiên liệu một kịch bản tồi tệ: vaccine ngừa COVID-19 sẽ được sản xuất, song phần lớn chúng chỉ đến được các nước giàu có đủ khả năng để mua vaccine. Người dân ở những nước nghèo sẽ bị “bỏ lại phía sau” để rồi mắc bệnh mà không có vaccine cứu chữa.


Để ngăn chặn điều này, các chuyên gia đã thiết lập một sáng kiến toàn cầu mang tên COVAX nhằm đảm bảo mọi quốc gia trên thế giới đều có cơ hội tiếp cận vaccine cho dù họ có năng lực chi trả như thế nào. Mùa Thu năm 2020, COVAX đặt ra mục tiêu rõ ràng: Mua 2 tỷ liều vaccine và phân phối đến các quốc gia thiếu vaccine trước cuối năm 2021.

Tuy nhiên, hiện nay đã là cuối tháng 5/2021, COVAX mới chuyển giao được hơn 68 triệu liều. Nói cách khác, COVAX mới chỉ đi được 3,4% quãng đường để đạt được mục tiêu nói trên.

Ác mộng này đã trở thành hiện thực. Khoảng 1,5 tỷ liều vaccine đã được phân phối trên toàn thế giới. Thế nhưng, chỉ 0,3% trong số đó đến được các quốc gia thu nhập thấp. Tại những nước như Ấn Độ và Brazil, hàng nghìn người không được tiêm chủng đang hấp hối từng ngày vì COVID-19, thậm chí con số này còn ngang bằng số người Mỹ được tiêm chủng. 

Khoảng 1,5 tỷ liều vaccine đã được phân phối trên toàn thế giới. Thế nhưng, chỉ 0,3% trong số đó đến được các quốc gia thu nhập thấp.

Người dân xếp hàng chờ tiêm vaccine phòng COVID-19 tại Prayagraj, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, ngày 25/5/2021. Ảnh: THX/ TTXVN

Cố vấn kỳ cựu thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phụ trách về chương trình COVAX, ông Bruce Aylward chia sẻ: “Mọi người hỏi tôi: ‘Điều gì khiến ông tỉnh giấc vào ban đêm? Biến chủng của virus?’. Chúa ơi, không! Chính là cách hành xử của con người, sự không sẵn lòng chia sẻ! Làm sao người khác có thể ngon giấc vào ban đêm? Họ nên được truyền sức mạnh để giải quyết điều này!”

Nếu ông Bruce Aylward và các đồng nghiệp tại COVAX không thành công trong việc ngăn ngừa tình trạng bất bình đẳng trong vấn đề cung vaccine toàn cầu, thì đó không phải vì họ không nỗ lực. Họ đã đưa được những liều vaccine “cứu mạng” tới 124 quốc gia, từ Argentina tới Zambia, và thuyết phục các nước giàu ra tay giúp đỡ. Bà Kate Dodson, Phó Chủ tịch phụ trách vấn đề y tế toàn cầu tại Quỹ COVAX, khẳng định: “COVAX là một công cụ thiết yếu. Tôi cho rằng điều này là không cần bàn cãi. Tuy nhiên, chương trình này đang khá chật vật hiện nay”.

Đâu là nguyên nhân khiến COVAX gặp khó khăn? Đâu là chướng ngại lớn nhất đang ngáng đường? Giới chuyên gia xác định ba rào cản chính: Tiền, nguồn cung vaccine và sự sẵn lòng chia sẻ vaccine toàn cầu. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhấn mạnh đây đều là những vấn đề có thể giải quyết được. Và mỗi cá nhân có thể làm gì đó để chung tay giải quyết vấn đề.


“Thiếu vốn đầu tư và vốn đến quá trễ”

WHO là một trong ba tổ chức chỉ đạo chương trình COVAX. Hai tổ chức còn lại là Gavi – một đối tác công-tư đi đầu trong nỗ lực tiêm chủng tại các quốc gia đang phát triển, và Liên minh đổi mới sẵn sàng ứng phó dịch bệnh – một tổ chức hợp tác quốc tế có mục tiêu sản xuất vaccine nhanh chóng khi dịch bệnh bùng phát.

Ba tổ chức đã hợp tác nhằm xây dựng COVAX trở thành một cơ cấu thu hút tài chính độc nhất không vì lợi nhuận. COVAX được thiết kế để hoạt động như một quỹ tương hỗ chỉ dành riêng cho vaccine. Ý tưởng ở đây là các quốc gia thu nhập cao sẽ góp quỹ tài trợ công tác nghiên cứu và phát triển một danh mục gồm nhiều “ứng cử viên” vaccine khác nhau. Khoản đầu tư này sẽ giúp tăng khả năng tìm ra được một vaccine hiệu quả và phát triển loại vaccine này để sau đó cung cấp miễn phí cho 92 quốc gia thu nhập thấp không có khả năng mua vaccine.

Ý tưởng ở đây là các quốc gia thu nhập cao sẽ góp quỹ tài trợ công tác nghiên cứu và phát triển một danh mục gồm nhiều “ứng cử viên” vaccine khác nhau.

Nhân viên y tế tiêm vaccine ngừa COVID-19 của Pfizer/BioNTech cho người dân tại Nagano, Nhật Bản ngày 21/4/2021. Ảnh: AFP/TTXVN

Cơ chế này dường như có lợi cho cả đôi bên. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả cơ chế này như mong muốn ban đầu, cần có đủ số nước giàu tham gia đầu tư cho cơ chế COVAX và cam kết nhận vaccine thông qua quỹ này.

Tuy nhiên, nhiều chính phủ lại thực hiện các thỏa thuận song phương riêng lẻ với các công ty như Pfizer và Moderna, làm đình trệ quá trình triển khai những hợp đồng sản xuất lượng lớn vaccine dự kiến sản xuất trong năm 2021 theo cơ chế COVAX. Hệ quả là cơ chế Covax đã không nhận được đủ số vốn cần thiết ngay từ giai đoạn đầu của đại dịch để có thể triển khai việc mua và cung cấp vaccine cho các nước nghèo.

Bà Amanda Glassman, Giám đốc chính sách y tế toàn cầu tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu – một nhóm chuyên gia hoạt động phi lợi nhuận có trụ sở tại London và Washington, khẳng định: “Vấn đề chính hiện nay đó là thiếu vốn và vốn đến quá trễ. Nếu COVAX có đủ tiền ngay từ tháng 3/2020, thì việc chuyển giao vaccine có lẽ đã khác. Nếu có đủ tiền thì COVAX đã có thể dự trữ được vaccine trong khoảng thời gian từ tháng 3-7/2020”.

COVAX đã thiếu vốn để triển khai hoạt động mua vaccine. Và hiện nay, cơ chế này thậm chí còn không có nguồn vốn để mua đủ số liều vaccine đủ để tiêm cho 20% dân số ở mỗi quốc gia thu nhập thấp, thuộc nhóm nhân viên y tế và những người dễ bị lây nhiễm, trước cuối năm 2021. Để thực hiện được điều này, nó cần huy động thêm 2,6 tỷ USD nữa.

Ông Aylward khẳng định vấn đề vốn vẫn là rào cản trước tiên của COVAX. Vấn đề cấp thiết hiện nay đó là COVAX phải huy động thêm vốn bởi cơ chế này cần tiền mặt để mua thêm những liều vaccine đang bắt đầu được rao bán trực tuyến như Novavax và Sinopharm. Theo người phát ngôn của Gavi, đến trước tháng 6/2021, COVAX cần ít nhất 1,6 tỷ USD trên mức vốn đảm bảo hiện nay mới có thể “chốt đơn” cho năm 2021 và đầu năm 2022. Nếu không, vaccine sẽ bị các nước giàu “nẫng tay trên” giống như họ từng làm hồi năm 2020.


“Nguồn cung đang vô cùng khan hiếm đối với Covax”

Thách thức lớn thứ 2 mà COVAX đang đối mặt đó là vaccine và nguồn nguyên liệu thô để sản xuất ra chúng hiện đang rất thiếu thốn. Điều này xảy ra một phần do các nước giàu đã mua rất nhiều vaccine từ sớm, như đã đề cập ở trên. Một lý do khác đó là đại dịch khiến kế hoạch sản xuất gặp khó khăn.

Nhà cung cấp chính cho Covax là Viện Serum của Ấn Độ, tổ chức đang sản xuất vaccine AstraZeneca. Tuy nhiên, với tình hình đại dịch COVID-19 đang hoành hành tại Ấn Độ, nguồn cung vaccine của nước này đã được chuyển sang phục vụ trong nước. Lệnh hạn chế xuất khẩu đồng nghĩa với việc COVAX hiện nhận được ít vaccine hơn kỳ vọng và buộc phải hoãn việc cung cấp vaccine cho các quốc gia. Ông Dodson nói: “Nguồn cung đang vô cùng khan hiếm đối với Covax”. Đây là ví dụ minh họa cho việc chúng ta cần một kế hoạch toàn cầu để tăng quy mô và an ninh trong sản xuất vaccine.

Nhà cung cấp chính cho Covax là Viện Serum của Ấn Độ, tổ chức đang sản xuất vaccine AstraZeneca. Tuy nhiên, với tình hình đại dịch COVID-19 đang hoành hành tại Ấn Độ, nguồn cung vaccine của nước này đã được chuyển sang phục vụ trong nước.

Nhân viên y tế tiêm vaccine phòng COVID-19 cho người dân tại New Delhi, Ấn Độ, ngày 15/5/2021. Ảnh: THX/ TTXVN

Đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng, bởi nó không đơn thuần chỉ là việc xây thêm nhà máy tại nhiều quốc gia hơn với năng suất cao hơn. Thay vào đó, nó đòi hỏi sự phối hợp của nhiều yếu tố như chuyển giao bí quyết công nghệ và nhân sự tới các quốc gia thiếu thốn, chuyển nguyên liệu thô để ngăn tình trạng khan hiếm và nới lỏng quyền sở hữu trí tuệ. 

Trong bối cảnh nguồn cung vaccine vẫn là một bài toán nan giải thì giới chức các công ty dược phẩm chế tạo vaccine trên thế giới như Moderna hoặc Pfizer đề cập sự cần thiết phải tiêm mũi nhắc lại trước cuối năm 2021 đối với những ai đã được tiêm mũi đầu tiên ngay từ thời kỳ đầu đại dịch. Trang mạng cnet.com dẫn lời Giám đốc điều hành hãng dược phẩm Pfizer Albert Bourla khẳng định: “Dữ liệu mà chúng tôi thu thập và phân tích cho thấy chúng ta sẽ cần tiêm mũi nhắc lại trong khoảng thời gian 8-12 tháng sau khi tiêm mũi đầu tiên”. Giải thích về việc này, ông Anthony Fauci, Giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh Truyền nhiễm quốc gia của Mỹ, nói rằng kháng thể chống virus corona không tồn tại mãi mãi nên chắc chắn cần phải tiêm mũi nhắc lại trong khoảng một năm sau khi tiêm mũi cơ bản đầu tiên.


“Hãy tặng một liều vaccnine”

Cuối cùng, COVAX muốn các nước giàu chia sẻ. Điều đó đồng nghĩa các nước giàu cần chia sẻ những liều vaccine đã được chuyển giao cho họ. Ví dụ, Mỹ hiện có khoảng 73 triệu liều đang nằm trong kho dự trữ. Tuy nhiên, sẽ là lý tưởng hơn nếu các nước giàu tặng lại vaccine trước khi chúng tới tay họ. Ông Aylward giải thích rằng việc tặng lại các nước khác sau khi đã nhận về nước mình sẽ khó khăn vì liên quan đến công tác vận chuyện đảm bảo vaccine được bảo quản lạnh không bị gián đoạn ở bất kỳ khâu nào.

Ngoài ra, ông Aylward cho rằng khi những liều vaccine mới được rao bán trực tuyến, các nước giàu không nên “tranh chỗ” để được nhận vaccine trước. Nếu họ đã ký hợp đồng với nhà sản xuất vaccine, bản hợp đồng sẽ giữ chỗ cho họ trong danh sách khách hàng chờ, song họ có thể, và nên, nhường lại chỗ đó cho các quốc gia đang cần vaccine khẩn cấp hơn.

Trong tháng 5, Quỹ WHO đã phát động một chiến dịch gây quỹ mang tên “Hãy tặng một liều vaccine”. Chiến dịch này kêu gọi mỗi cá nhân ủng hộ 7 USD để mua tặng một liều vaccine cho ai đó tại một quốc gia thu nhập thấp thông qua COVAX.

Bà Ruth Faden, người sáng lập viện nghiên cứu y học trong trị liệu của Đại học Johns Hopkins, cho rằng nếu có đủ số người đóng góp, chiến dịch có thể sẽ tạo ra sự khác biệt đáng kể. Tuy nhiên, bà hiểu rõ rằng việc huy động vốn tư nhân sẽ không giúp COVAX thu được hàng tỷ USD mà tổ chức này đang cần. Đây thực sự là việc dành cho các chính phủ và cần sự chung tay của lãnh đạo các nước giàu. Về phần mình, ông Aylward hi vọng sẽ có nhiều cá nhân và chính phủ thể hiện sự quan tâm tới thế giới thông qua việc đầu tư vào COVAX.

Ngọc Hà

(Theo vox.com/cnet.com)