Hành trình 16 năm đi tìm âm thanh cho đồng đội

Hành trình 16 năm đi tìm âm thanh cho đồng đội

Là người có năng khiếu và đam mê âm nhạc, lại được sống và chiến đấu giữa núi rừng, ông đã lấy tre, trúc làm sáo và thổi hồn đam mê âm nhạc vào nó. Để rồi tiếng sáo của ông đã trở thành người bạn, là nguồn động viên tinh thần to lớn cho đồng đội sau những trận đánh ác liệt.

Ông Chu Đình Hỏa sinh năm 1948 tại Nghi Lộc, Nghệ An. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, như bao thanh niên khác, năm 1971, ông Hỏa hăng hái lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại nhiều chiến trường khốc liệt.

Là người có năng khiếu và đam mê âm nhạc, lại được sống và chiến đấu giữa núi rừng, ông đã lấy tre, trúc làm sáo và thổi hồn đam mê âm nhạc vào nó. Để rồi tiếng sáo của ông đã trở thành người bạn, là nguồn động viên tinh thần to lớn cho đồng đội sau những trận đánh ác liệt.

Hòa bình lập lại, ông trở về quê hương, nhưng nỗi đau chiến tranh khiến ông không thôi nghĩ về việc chế tạo ra một loại nhạc cụ giúp những thương bệnh binh, những đồng đội của mình xoa dịu mất mát. Một loại nhạc cụ mà dù không cần đến đôi tay, người ta cũng có thể cất lên những âm thanh đặc biệt.

Cây sáo “Từ Tâm” đã ra đời như thế.


…Tôi ấp ủ làm một loại nhạc cụ không cần dùng đến bàn tay, để họ và những người thương binh, hay cả người khuyết tật cũng có thể chơi được âm nhạc, để họ biểu cảm tâm hồn mình bằng âm nhạc.”

cựu chiến binh chu đình hỏa
Tiếng lòng của người lính

Tn hành lang của trung tâm người khuyết tật thành phố Vinh, một buổi biểu diễn âm nhạc đặc biệt bắt đầu. Gọi là buổi diễn đặc biệt là bởi ở đây có tới ba điều đặc biệt: những khán giả đặc biệt – một nhạc công đặc biệt và một nhạc cụ đặc biệt.

Ông Chu Đình Hỏa – một cựu chiến binh với dáng người thấp bé, trong bộ trang phục nhà binh đã nhuốm màu thời gian, đang dùng những giai điệu, những âm thanh của mình để hàn gắn vết thương tâm hồn cho những người đồng đội.

Trên tay ông Hỏa là một thứ nhạc cụ thật khó để gọi tên. Nó trông như một con bọ que bằng sắt, với hai cái ống cong dài xếp chồng lên nhau. Một đầu ống gắn vật gì đó làm từ chiếc muôi thủng, đầu còn lại gắn một cái nắp phin pha cà phê. Giữa thân lòng thòng vài ba sợi dây xanh đỏ.

Nếu ông Hỏa không rướn cổ, rướn hết sức đẩy hơi vào một cái lỗ bé tí tẹo ở đầu ống, thì thật khó để người ta tưởng tượng đây là một cây sáo. Âm nhạc phát ra từ cây sáo này kể cũng lạ: Nốt cao thỉnh thoảng bị “chói” khiến người nghe phải thoáng cau mày, còn nốt trầm lại bè ra, như tiếng còi “tẹt tẹt” của lũ trẻ.

Cây sáo mà ông Chu Đình Hỏa đã dành hơn 15 năm nghiên cứu. Ông trân trọng đặt cho nó cái tên là “Cây sáo Từ Tâm”, là tấm lòng tri ân của ông dành cho những người đồng chí, đồng đội năm xưa gửi lại một phần máu thịt nơi chiến trường.

Mình sinh ra lành lặn, đầy đủ chân tay, đó là một điều may mắn. Vậy nên mình phải chia sẻ sự may mắn đó cho những con người bất hạnh hơn.

Tâm nguyện của người lính

Cũng đã lâu rồi, ông Hỏa và những người đồng đội năm xưa mới gặp lại nhau. Dù tuổi đã cao, nhưng khi nhắc lại chuyện chiến trường, những người lính cụ Hồ năm xưa dường như trẻ lại. Theo ông đến với buổi gặp mặt hôm nay là cây sáo kỳ lạ đấy. Trầm ngâm một lúc, ông tâm sự với những người đồng đội:

Chắc thủ trưởng và các anh em vẫn đang còn nhớ, có những trận đánh rất ác liệt, nhiều anh em bị bom thù thả trúng, trong đó có cả những văn công…

Đến đây giọng ông như nghẹn lại, một ký ức loang lổ khói súng và máu ùa về:

Họ đều là những người nhạc công tài giỏi, thế nhưng chiến tranh khiến họ không thể chơi nhạc được nữa. Vậy nên tôi ấp ủ làm một loại nhạc cụ không cần dùng đến bàn tay, để họ và những người thương binh, người khuyết tật cũng có thể chơi được âm nhạc, để họ biểu cảm được tâm hồn của mình bằng âm nhạc.

“Chắc thủ trưởng và các anh em vẫn đang còn nhớ, có những trận đánh rất ác liệt, nhiều anh em bị bom thù thả trúng, trong đó có cả những văn công…”

cựu chiến binh chu đình hỏa

Và thành quả ngày hôm nay chính là cây sáo không tay kia, đang được những người đồng đội truyền tay nhau một cách trân trọng. Họ nghe ông Hỏa thổi sáo, nét mặt phảng phất sự bình yên. Tiếng sáo vang vọng trong khu vườn, xoa dịu đi những cơn đau dai dẳng vọng về trong giấc mơ của ông Hỏa mỗi tối.

Thủ trưởng của ông, Đại tá Đỗ Mạnh Hùng, năm nay đã hơn 100 tuổi nhưng vẫn rất phấn khởi khi được thấy một nhạc cụ mới. Hiểu rõ nỗi lòng của người đồng chí, ông tin tưởng rằng, cây sáo này sẽ thành công, hoàn thành được tâm nguyện của người cựu chiến binh với những người đồng đội của mình.

Được đồng đội thấu hiểu là thế, nhưng ông Hỏa vẫn còn nhiều trăn trở. Sau lần biểu diễn cho những người khuyết tật, dù không nói ra nhưng ông vẫn thấy rõ âm thanh của cây sáo chưa được hay, còn nhiều cái cần phải khắc phục.

“Tôi chỉ mong được mang cây sáo này đi gặp các chuyên gia về nhạc cụ, để họ góp ý giúp mình chỉnh sửa cây sáo cho nó hoàn thiện hơn. Và đồng thời, cũng mong muốn được mang cây sáo này vào các nghĩa trang liệt sĩ, báo cáo và tri ân đồng đội đã nằm xuống…”

Ông Hỏa nhìn về phía chân trời xa xăm. Ánh mắt ông ánh lên sự kiên định, như ánh mắt mà 15 năm trước ông bắt tay vào chế tạo cây sáo. Trong đầu ông, bất giác suy nghĩ về một hành trình…

Nguồn gốc và hành trình hoàn thiện “tiếng sáo Từ Tâm”

Nếu như động lực để nghiên cứu và sáng chế “sáo Từ Tâm” của ông Chu Đình Hỏa xuất phát từ trái tim người lính đầy hoài niệm và tấm lòng tri ân luôn hướng về đồng đội, thì nguồn cảm hứng của cây sáo lại đến từ những âm hưởng của núi rừng Tây Nguyên.

Năm 2005, ông Hỏa đã bắt đầu ấp ủ ý tưởng về cây sáo mà người chơi hoàn toàn không cần dùng tới đôi tay để tạo nhịp phách. Thế nhưng, trong suốt 5 năm mầy mò nghiên cứu, cây sáo vẫn chưa thể thành công.

Cơ duyên đến với ông vào năm 2010, khi tình cờ nghe trên sóng phát thanh một phần biểu diễn của nghệ sỹ nhân dân Y San Aleo – một nghệ sỹ sáo tại đoàn ca múa nhạc Đak Lak. Trong tiết mục đó, nghệ sỹ này đã chia sẻ về một loại sáo mới được sáng tạo bởi nghệ nhân Vũ Lân, không có lỗ và cách chơi khác biệt nhiều theo hướng tối giản với cây sáo truyền thống.

Ngay lập tức, ông Hỏa sắp xếp hành trang lên đường. Thời đó, do điều kiện kinh tế khó khăn, người cựu chiến binh chỉ có thể nán lại Tây Nguyên trong 2 ngày. Với 2 ngày ngắn ngủi, ông gặp được nghệ sỹ nhân dân Y San Aleo, được tận mắt, tận tay nghiên cứu cây sáo vỗ, nhưng chưa thể gặp được cha đẻ của cây sáo là nghệ nhân Vũ Lân.

Trở về Nghệ An, với những trải nghiệm từ chuyến hành trình, ông Hoả ngay lập tức bắt tay vào việc, nhưng phải mất đến gần 10 năm, tức là năm 2019, cây sáo Từ Tâm mới chính thức ra đời. Dù miệt mài cải tiến nhưng đến nay, giai điệu của cây sáo vẫn chưa thực sự ổn định. Đó chính là điều mà người cựu chiến binh vẫn canh cánh bên lòng.

Ông Hoả cho rằng, việc chưa được gặp gỡ nghệ sỹ Vũ Lân trong chuyến hành trình 10 năm trước đó là một thiếu sót và là mảnh ghép cuối cùng còn thiếu cho cây sáo Từ Tâm. Vì thế, ông quyết định, bằng mọi giá phải lên đường để hoàn thành nốt những điều dang dở.

Hoàn thành tâm nguyện từ trái tim người lính

Trên đường trở về, trên tay ông Hỏa không còn chỉ là một cây sáo mà đó là cả một tấm chân tình.

Dừng chân tại những nghĩa trang liệt sỹ nằm rải rác khắp miền Trung, người “lính già” cùng thứ nhạc cụ đặc biệt của mình cứ ngân nga hết giai điệu này đến giai điệu khác. Đã nhiều lần ông đến thăm đồng đội nhưng chắc chắn chưa bao giờ cảm xúc của ông lại trọn vẹn đến thế.

Ông Hỏa tâm sự: “Đó là lời thăm hỏi, lời cảm ơn và cũng là lời báo cáo của ông tới với những nguời đồng đội đang yên nghỉ rằng tôi đã tìm được, đã làm được ra cây sáo Từ Tâm, ra thứ âm thanh đặc biệt này để những đồng đội kém may mắn, có thể cùng tôi mang âm nhạc đến cho cuộc sống.”

Bởi ông tin rằng, đồng đội của ông vẫn luôn ở bên ông, đồng hành cùng ông trong suốt cuộc hành trình 16 năm qua./.

Tác giả: Lâm Phan-Hoàng Đạt
Thiết kế: Thanh Trà

Người Indonesia chật vật tìm oxy giữa đại dịch COVID

Người Indonesia chật vật tìm oxy giữa đại dịch COVID


Bên ngoài một cửa hàng nhỏ ở Nam Jakarta, hàng chục người đang xếp hàng chờ một cơ hội cứu sống người thân của họ.

Ở thủ đô của Indonesia, oxy là mặt hàng ngày càng trở nên quý giá trong bối cảnh đất nước này đang phải đối mặt với sự gia tăng không ngừng các ca nhiễm COVID-19.

“Tôi đến đây để mua một bình oxy cho mẹ mình, bà đã có kết quả xét nghiệm dương tính hôm Chủ nhật vừa rồi và chúng tôi đã tìm đến một vài bệnh viện, nhưng tất cả đều đã kín chỗ,” Pinta, một phụ nữ trong hàng người chia sẻ.

“Tôi nhận được một danh sách các địa điểm bán oxy, nhưng chúng tôi cứ tới chỗ nào là chỗ đó đóng cửa hoặc hết hàng. Tạ ơn Chúa là một người bạn đã chỉ cho tôi đến đây.”

Người dân tuyệt vọng tìm oxy cho người thân trong bối cảnh các bệnh viện quá tải dừng tiếp nhận bệnh nhân. (Bagus Indahono/EPA)

Cuộc tìm kiếm oxy ở Jakarta trong vài tuần gần đây là một cuộc tranh giành không thể đoán trước – cơ hội sống sót của một người bệnh hoàn toàn có thể giảm xuống mức thấp nhất tuỳ thuộc vào việc người thân của họ có đến được đúng cửa hàng vào đúng thời điểm hay không.

Winda, một người phụ nữ khác trong hàng cho biết cô đang cố gắng tìm oxy cho cậu em rể. “Tôi đã gặp khó khăn khi tìm mua oxy hồi đêm qua. Tôi đã tới năm chỗ, bao gồm cả cửa hàng này và một chợ thuốc lớn, nhưng chỗ nào cũng hết hàng,” cô nói.

“Chúng tôi đã đến trung tâm y tế… họ nói phải cho bệnh nhân thở oxy ở nhà trong khi chờ có giường ở bệnh viện… nhưng chúng tôi đã đợi hai ngày rồi mà vẫn chẳng có tin tức gì từ bệnh viện.”


“Chúng tôi đang lo lắng hơn bao giờ hết”

Minanti, một cô gái 29 tuổi đang chăm sóc cho người cha già của mình sau khi cố gắng đưa ông nhập viện nhưng không thành công.

Ông bị tiểu đường và có các vấn đề về tim và thận, dẫn đến nguy cơ nhiễm virus corona cao hơn. Nhưng ông vẫn không thể kiếm được một giường trong các bệnh viện đông đúc ở Jakarta.

Minanti là một trong số nhiều người Indonesia buộc phải chăm sóc cho người thân bị bệnh tại nhà. Cha của cô còn có các bệnh nền khiến ông đặc biệt dễ bị tổn thương bởi COVID-19. (Nguồn: Al Jazeera)

“Chúng tôi đã đến các bệnh viện gần nhà… chúng tôi đến đơn vị cấp cứu và họ bảo, ‘nhìn quanh đi, hết chỗ rồi,’ và họ nói là đến họ cũng gặp vấn đề về nguồn cung oxy,” Minanti cho biết.

“Một bệnh viện khác cũng đã kín chỗ. Họ có một cái lều ở phía trước của tòa nhà, đầy những người bệnh… chúng tôi cảm thấy rất sợ hãi.”

Giờ đây, giống như hàng nghìn người Indonesia khác, Minanti đã hiểu được sự vất vả khi cố gắng tìm mua một bình oxy trong làn sóng dịch bệnh này.

“Rất khó để mua được bình oxy. Chúng tôi đã đi mượn, nhưng rồi đột ngột chủ sở hữu yêu cầu chúng tôi trả nó lại vì người đó cũng mắc COVID,” cô nói. Cuối cùng, cô cũng mua được một bình oxy – nhưng việc nạp đầy lại nó lại là một cuộc vật lộn khác.

“Mua được một bình đã gần như là một phép màu rồi. Nhưng bây giờ, bố tôi phải thở oxy liên tục, vì ông thường xuyên bị khó thở,” cô cho biết.

“Chính phủ đáng ra phải phản ứng nhanh ngay từ đầu… giờ thì số ca nhiễm đang bùng nổ. Bình oxy đã khó mua rồi, nạp đầy lại nó lại càng khó hơn, trong khi các bệnh viện thì đã kín chỗ.”


“Chúng tôi không thể giúp họ”

Không chỉ người dân nói chung phải vật lộn với tình trạng thiếu oxy và thuốc men – chia sẻ với tờ Al Jazeera, các chuyên gia y tế cũng cho biết họ không có đủ các điều kiện cần thiết để giúp cho tất cả những người đang gặp khó khăn.

Bác sỹ Erni Herdiani là người đứng đầu Phòng khám sức khỏe Lemah Abang ở Bekasi, ngoại ô Jakarta. “Chúng tôi cần bình oxy, oxy để tái nạp và thuốc men. Chúng tôi điều trị các trường hợp nặng, chúng tôi cần những loại thuốc như remdesivir, và chúng tôi không thể tìm thấy chúng,” bà nói.

“Chúng tôi cần cho bệnh nhân thở oxy và dùng thuốc. Chúng tôi đang rất thiếu bình oxy… điều này nằm ngoài dự đoán của tôi. Có quá nhiều bệnh nhân cần oxy, và nguồn cung gần đây lại càng khó kiếm hơn nữa.”

Bác sỹ Erni muốn mua thêm bình oxy cho phòng khám của mình, nhưng bà nói rằng điều đó là không thể. “Hiện tại, chúng tôi không thể mua được. Chẳng có mà mua. Chúng tôi cần được chính phủ cung cấp,” bà nói.

Khi các bệnh viện ở Java và nhiều nơi khác tại Indonesia gần chạm tới công suất tối đa, các phòng khám sức khoẻ công cộng phải chăm sóc cho hàng nghìn người bệnh không thể nhập viện.

Nhưng đội ngũ của bác sĩ Erni cũng phải chịu áp lực – có chưa tới 30 nhân viên y tế tại phòng khám của bà, và họ phải chăm sóc cho hơn 300 bệnh nhân.

Mỗi ngày, một đội y tế lưu động từ phòng khám lại đến thăm bệnh cho một số bệnh nhân. Đội này đã quen với việc phát hiện ra bệnh nhân tử vong tại nhà.

“Hiện giờ, có rất nhiều [người đã mất] tại nhà. Đôi khi, chúng tôi nhận được báo cáo về người tử vong, và khi kiểm tra thi hài, chúng tôi phát hiện họ dương tính với virus,” bà nói.

Bác sĩ Erni Herdiano lãnh đạo một phòng khám sức khoẻ ở ngoại ô Jakarta. Bà cho biết ngày càng khó tìm bình oxy, oxy để tái nạp và thuốc men cần thiết để điều trị cho các bệnh nhân COVID-19. (Nguồn: Al Jazeera)

Bác sỹ Erni tin rằng các số liệu chính thức của chính phủ, với số người chết là hơn 66.000, là con số chưa chính xác. “Số liệu không được báo cáo đầy đủ. Thật buồn vì chúng tôi không thể giúp họ.”

Ngay cả các bệnh viện lớn cũng phải vật lộn với sự thiếu hụt hoặc chậm trễ phân bổ oxy.

Tuần này, ít nhất 33 bệnh nhân nhiễm virus corona thể nặng đã tử vong tại bệnh viện thành phố Jogjakarta trên đảo Java, do bệnh viện tạm thời thiếu oxy.

Một người phát ngôn của Bệnh viện Đa khoa Dr Sardjito nói với truyền thông rằng đã có sự chậm trễ từ các nhà cung cấp.

Bác sỹ Erni tin rằng các số liệu chính thức của chính phủ, với số người chết là hơn 66.000, là con số chưa chính xác. (Nguồn: AP)

‘Chúng tôi không nhận thấy vấn đề đó’

Tiến sỹ Siti Nadia Tarmizi từ Bộ Y tế Indonesia cho biết họ đã khắc phục các vấn đề hậu cần trong việc vận chuyển oxy.

“Sự việc xảy ra ở Jogjakarta… là vì số lượng bệnh nhân quá đông, lượng hàng dự trữ hết rất nhanh và chuyến hàng tiếp theo chỉ đến vào sáng hôm sau. Họ có lượng oxy hạn chế… vấn đề là thiếu thời gian,” bà nói.

“Chúng tôi đang đẩy nhanh việc phân phối. Trước đây, phải mất hai đến ba ngày, nhưng giờ chúng tôi yêu cầu (các nhà cung cấp) phải sẵn sàng gửi hàng trong chu kỳ 12 đến 24 giờ.”

Nhân viên y tế kiểm tra các bình oxy trong một lều cấp cứu cho bệnh nhân đang theo dõi COVID-19 tại một bệnh viện ở Bekasi, gần Jakarta [Ảnh: EPA]

Bộ trưởng Y tế đã chỉ thị cho các nhà sản xuất oxy chuyển hướng sang cung cấp oxy y tế thay vì oxy công nghiệp.

“Chúng tôi đang nỗ lực để giải quyết tình hình thiếu oxy, thực tế là vẫn còn công suất từ ngành khí đốt quốc gia,” Tiến sỹ Nadia trả lời tờ Al Jazeera.

Tiến sỹ Nadia cho biết ưu tiên là cung cấp oxy cho các bệnh viện và cơ sở y tế công cộng. Bà cho biết không có tình trạng thiếu oxy. “Tôi không nghĩ điều đó đã xảy ra. Hiện tại chúng tôi không nhận thấy vấn đề đó ở với các cơ sở y tế, họ có ít oxy nhưng chúng tôi đang cố gắng để lấp đầy kho cho họ,” bà nói.

Số ca nhiễm có thể tăng lên 50.000 hoặc 70.000 ca một ngày. Nhu cầu (về oxy) đã được đáp ứng nhưng nó vẫn chưa ở mức an toàn.”

“Rất khó tìm được xe cấp cứu và cơ sở y tế. Đôi khi, khi đến được cơ sở y tế, họ đã chết trên đường đi… hoặc bệnh nhân tử vong ngay tại nhà của họ.”

Tiến sỹ Nadia cho biết Bộ Y tế đã không lường trước được một sự tăng vọt về số ca mắc bệnh như vậy. “Vấn đề chính là, tuần trước, chúng tôi có một số lượng lớn bệnh nhân mà chúng tôi không ngờ tới,” bà nói. “Rất khó tìm được xe cấp cứu và cơ sở y tế. Đôi khi, khi đến được cơ sở y tế, họ đã chết trên đường đi… hoặc bệnh nhân tử vong ngay tại nhà của họ.”

Mai Nguyễn dịch (Theo: Aljazeera)

Việt Nam và “mặt trận” COVID-19: Chiến lược mới, đòi hỏi giải pháp đột phá

Việt Nam và “mặt trận” COVID-19: Chiến lược mới, đòi hỏi giải pháp đột phá

Cùng với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam đang trải qua những ngày tháng khó khăn nhất trong nhiều thập kỷ khi phải gồng mình để chống đỡ với dịch bệnh mang tên COVID-19. Có lẽ, chưa bao giờ mà bảng tin thông báo các ca bệnh hàng ngày lại nhảy liên tục và lên tới 4 chữ số… Kéo theo đó là bao nỗi vất vả của đội ngũ y tế đang chiến đấu để giành giật sự sống cho người bệnh, là những bữa cơm thiếu vắng người cha phải đi chống dịch, hay là những sinh viên đang căng mình làm công tác tình nguyện ở các bệnh viện, khu phong tỏa mà phải tạm gác lại việc học hành đang dang dở…

Tất cả đều đang nỗ lực hết sức mình để cùng hướng tới một mục tiêu chung, đó là sớm khống chế và đẩy lùi được dịch bệnh, trả lại sự bình yên cho cuộc sống của người dân.

Đây cũng là sự trăn trở, là những buổi họp xuyên đêm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước cùng với các bộ, ngành và chính quyền các cấp để có thể nhanh chóng đề ra những quyết sách mới, những chiến lược ứng phó kịp thời, linh hoạt và phù hợp với tình hình của mỗi địa phương, với đích đến là sớm đẩy lùi COVID-19, giảm thiểu tổn thất cho người dân, xã hội và cả nền kinh tế.


{1.}

Nỗi lo thường trực mang tên “biến chủng Delta”

Ghi nhận thực tế tại các địa phương cho thấy số ca mắc COVID-19 tăng rất nhanh, con số tăng hết sức chóng mặt nhưng phản ánh đúng khi các lực lượng chức năng tầm soát trong các khu phong tỏa, vùng nguy cơ cao, doanh nghiệp, ngoài cộng đồng.

Thậm chí tại Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày đều chứng kiến hơn 1 nghìn ca mắc mới và thành phố đã trải qua gần 3 tháng gồng mình chống đại dịch COVID-19… Tốc độ lây lan của virus SARS-CoV-2 nhanh hơn rất nhiều lần và nhiều ca mắc mới đã không truy vết được nguồn lây.

Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long nhận định điều này cũng phản ánh tình hình thực tế dịch bệnh trên thế giới đang tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực và đặc biệt đã xuất hiện các biến chủng mới được cảnh báo nguy hiểm hơn. Chính vì vậy nguy cơ bùng phát dịch là hiện hữu, kể cả tại các quốc gia đã đạt được độ bao phủ tiêm chủng cao. Và Việt Nam cũng đang trong giai đoạn vô cùng khó khăn khi phải đối phó với biến chủng mới đầy nguy hiểm này, nhất là nước ta mới đang trong giai đoạn đầu triển khai tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19.

Cụ thể, đợt dịch lần thứ 4 này, với biến chủng Delta có khả năng lây lan rất nhanh, đã được ghi nhận tại 58/63 tỉnh, thành phố. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết riêng đợt dịch thứ 4, Việt Nam đã ghi nhận gần 60.000 ca mắc COVID-19, hơn 300 trường hợp tử vong.

Đặc biệt, dịch bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Nam đang có diễn biến phức tạp, với số ca mắc liên tục gia tăng do dịch bệnh đã lây lan rộng trên địa bàn, nhiều ổ dịch xảy ra tại các khu chợ đầu mối, khu công nghiệp.

Khi lưu trú, công nhân Công ty Daikan Việt Nam thực hiện “3 tại chỗ” chống dịch để sản xuất. Ảnh: Công Phong – TTXVN

Trong khi đó, mặc dù tại các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, miền Bắc (từ tỉnh Phú Yên trở ra) số ca mắc mới trong tuần hầu hết đã có dấu hiệu giảm so với tuần trước đó, song nguy cơ dịch bệnh bùng phát là hiện hữu do người quay lại địa phương có lịch sử đi lại, trở về từ các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam…

Trước tình hình đầy cấp bách, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương đã thống nhất và quyết định bằng mọi cách phải tập trung lực lượng để hỗ trợ dập dịch nhanh nhất, sớm nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam. Bộ Y tế đang điều động lực lượng cán bộ y tế, tình nguyện viên với khoảng 10.000 người sẵn sàng hỗ trợ Thành phố và các tỉnh phía Nam để khẩn trương triển khai các biện pháp chống dịch.

{2.}

“Tất cả vì Thành phố Hồ Chí Minh”

Có thể khẳng định, cùng với Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa bàn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác phòng chống dịch thời gian qua.

Lý do không chỉ vì những nguy cơ, diễn biến dịch bệnh phức tạp mà Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò đặc biệt, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước.

Kể từ khi xuất hiện ca lây nhiễm COVID-19 đầu tiên cho đến nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia luôn quan tâm, bám sát tình hình dịch bệnh và thường xuyên chỉ đạo, hỗ trợ Thành phố.

Trong cuộc chiến chống lại đại dịch COVID-19, quan điểm xuyên suốt, không thay đổi của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là bảo đảm tính mạng và sức khỏe của nhân dân vẫn luôn phải là trên hết. Chính vì vậy, theo Thủ tướng, tình hình hiện nay đặc biệt đòi hỏi có giải pháp đột phá phù hợp và hành động quyết liệt, mạnh mẽ hơn để kịp thời kiềm chế, đẩy lùi và kiểm soát tình hình.

Mặc dù trong nửa đầu năm, Việt Nam về cơ bản đã và đang thực hiện tốt mục tiêu kép, nhưng Thủ tướng đã xác định thời gian tới, khó khăn, thách thức sẽ lớn hơn nhiều so với thuận lợi và thời cơ. Theo Thủ tướng, càng khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, càng phải đoàn kết, thống nhất, giữ vững nguyên tắc, phát huy trí tuệ tập thể, khiêm tốn, cầu thị, lắng nghe ý kiến, chọn giải pháp tốt nhất để tổ chức thực hiện, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân để chống dịch, sớm ổn định tình hình.

Sử dụng các thiết bị liên lạc hiện đại báo cáo tình hình sức khỏe bệnh nhân trong diễn tập tại Bệnh viện dã chiến Tiên Sơn. Ảnh: Trần Lê Lâm – TTXVN

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân cả nước luôn sát cánh bên cạnh Thành phố với quyết tâm chiến thắng dịch bệnh, vì sức khỏe của nhân dân, vì sự phát triển của Thành phố.

Vì vậy, trong lúc này, Đảng, Nhà nước, Chính phủ xác định “tất cả vì Thành phố Hồ Chí Minh,” với mục tiêu quyết tâm kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh tại Thành phố và các tỉnh trong thời gian sớm nhất, chăm lo, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân, đặt sức khỏe, tính mạng của nhân dân lên trên hết, trước hết. Các lực lượng phối hợp không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các nhu yếu phẩm tối thiểu, thiết yếu, không để xáo trộn lớn đời sống nhân dân; điều trị tích cực, cứu chữa người mắc bệnh COVID-19, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất có thể các trường hợp tử vong (tốt nhất không để xảy ra tử vong).

Với 19 tỉnh, thành phố phía Nam đang thực hiện thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác phòng, chống dịch, đặc biệt trong việc chấp hành các quy định của người dân; kêu gọi người dân hưởng ứng, tham gia và chấp hành với tinh thần “người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch COVID-19.”

“Người dân là trung tâm để chúng ta phục vụ nhưng cũng là chủ thể tham gia chống dịch. Đây là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân.”

Thủ tướng chính phủ phạm minh chính

Vì vậy, cần thống nhất công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên phạm vi cả nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức điều hành phòng, chống dịch.

Với tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký quyết định thành lập 7 “Tổ công tác đặc biệt” phòng, chống dịch COVID-19, gồm các Bộ: Quốc phòng, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Thông tin và Truyền thông, Lao động-Thương binh và Xã hội.

Tổ công tác đặc biệt đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19. Các tổ công tác đặc biệt hàng ngày báo cáo Bộ trưởng và Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 và kịp thời đề xuất, kiến nghị đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Thủ tướng nhấn mạnh cần vừa tập trung lực lượng phòng, chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khu vực phía Nam vừa thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 trên tinh thần siết chặt kỷ luật, kỷ cương về thực hiện giãn cách xã hội để giảm tốc độ lây nhiễm.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế chủ trì cùng với các bộ, ngành, địa phương có liên quan đánh giá lại toàn bộ thông tin về chủng virus, xác định rõ nguy cơ của chủng này để có đối sách phù hợp với tình hình thực tế; tập trung phân loại các ca F0, trường hợp F1, mức độ nguy cơ nặng và rất nặng để nguồn lực tập trung có trọng tâm, trọng điểm.

Về nguồn lực phòng chống dịch, Thủ tướng yêu cầu huy động cả hệ thống chính trị tại cơ sở vào cuộc, đặc biệt huy động nguồn lực bằng hợp tác công tư để cộng đồng, nhân dân, doanh nghiệp cùng tham gia tích cực. Các lực lượng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nhất là các địa phương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15, Chỉ thị 16.

{3.}

Một miếng khi đói bằng một gói khi no

Đại dịch COVID-19 khiến cả thế giới rơi vào không chỉ một cuộc khủng hoảng về y tế, mà còn khơi mào cho một khủng hoảng về kinh tế.

Khi các chính phủ hành động để ngăn chặn đại dịch, nhiều nỗ lực lại gây tác động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế. Do đó, các nước phải bổ sung biện pháp hỗ trợ đời sống người dân kèm theo các chính sách bảo vệ y tế cộng đồng.

Đợt dịch thứ 4 xảy ra với sự xuất hiện của biến thể Delta có tốc độ lây nhanh và lan ra diện rộng trong thời gian ngắn đã ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội và cuộc sống mưu sinh của người dân.

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh và xã hội Đào Ngọc Dung, cả nước có khoảng 13 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Trong đó, có trên 557.000 người bị mất việc, 4,1 triệu người phải tạm nghỉ/tạm ngừng việc, 4,3 triệu người bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên… Đặc biệt, đợt dịch thứ 4 này đã, đang xâm nhập và tác động vào các khu công nghiệp và khu chế xuất, làm nghiêm trọng hơn những tác động tiêu cực đến người lao động.

Cuộc sống công nhân lao động tại các khu nhà trọ trong khu công nghiệp

Những tác động này khiến tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) ở mức cao, thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo tiếp tục tăng và không có dấu hiệu dừng. Hầu hết các ngành kinh tế đều ghi nhận mức giảm thu nhập bình quân của người lao động so với quý trước…

Hơn 70.000 doanh nghiệp dừng hoạt động hoặc phá sản; 9,1 triệu lao động bị ảnh hưởng, 540.000 người mất việc; hàng triệu người giãn việc/ngưng việc; 40.000 lao động xong thủ tục nhưng không xuất cảnh được…

Trước những khó khăn của doanh nghiệp và người lao động, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1.7.2021 về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; có giải pháp khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ, tạm thời. Nghị quyết 68 triển khai gói 26.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp, người dân.

Thủ tướng yêu cầu tổ chức thực hiện tốt hơn nữa Nghị quyết 68 của Chính phủ về hỗ trợ những người gặp khó khăn, nhất là người lao động mất việc, người bán vé số, lượm ve chai, người lang thang, người yếu thế… Chỉ đạo hệ thống chính trị cơ sở, phối hợp với các tổ COVID-19 cộng đồng rà soát kỹ, nắm thật chắc, dứt khoát không bỏ sót những người cần hỗ trợ.

Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, đến nay, cơ bản các địa phương đã triển khai tốt Nghị quyết 68 của Chính phủ về hỗ trợ người dân, như Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 15/7 hoàn thành hỗ trợ 216.000 lao động tự do, Long An triển khai việc hỗ trợ người dân ngay trong tối ngày 11/7 theo yêu cầu của Thủ tướng tại cuộc làm việc cùng ngày.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành, người dân đang rất khó khăn, đang từng ngày mong chờ được nhận hỗ trợ theo tinh thần nghị quyết 68 của Chính phủ.

{4.}

Tận dụng “giờ vàng, ngày vàng, tuần vàng.”

Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, hiện nay, dịch bệnh COVID-19 với biến chủng mới đang tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự báo, có thể bùng phát bất kỳ lúc nào và ở đâu trên đất nước ta.

Việc thực hiện mục tiêu kép: Vừa phòng chống dịch hiệu quả với tinh thần đặt nhiệm vụ bảo vệ tính mạng và sức khoẻ của nhân dân lên trên hết, trước hết, đồng thời bảo đảm điều kiện và môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh, là một lựa chọn khó khăn nhưng đúng đắn và cần thiết đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ chỉ đạo nhất quán. 

Vì vậy, khi dịch bệnh xảy ra, càng khó khăn, phức tạp, nhạy cảm càng phải giữ đúng nguyên tắc, đoàn kết thống nhất, phát huy trí tuệ tập thể, lắng nghe ý kiến của nhau, kể cả ý kiến phản biện, đưa ra giải pháp phù hợp tình hình. Các lực lượng cần hết sức bình tĩnh, xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa ra các quyết định, trên tinh thần tất cả vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Căn cứ diễn biến của nồng độ virus và diễn biến lâm sàng, Bộ Y tế quyết định giảm thời gian điều trị và cách ly với bệnh nhân COVID-19.
(Nguồn: Vnews)

Đặc biệt, hiện nay các diễn biến dịch và công tác phòng, chống dịch là chưa có tiền lệ, nên phải bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, bổ sung mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội, có kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển, không cực đoan, không phiến diện.

Dự báo sắp tới, diễn biến dịch bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam còn phức tạp, khó lường, các ca lây nhiễm có thể tăng lên. Còn các ổ dịch tiềm ẩn, chưa phát hiện hết trong cộng đồng. Nếu không có giải pháp tốt thì dễ xảy ra vấn đề phức tạp về an ninh trật tự. Vì vậy, các địa phương cần tận dụng “giờ vàng, ngày vàng, tuần vàng” để thực hiện các nhiệm vụ hiệu quả hơn.

Với ý chí “chống dịch như chống giặc,” cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân cả nước đang ra sức chiến đấu với tinh thần “mỗi người dân là một chiến sỹ”, “mỗi gia đình, cơ quan, đơn vị, địa phương là một pháo đài chống dịch.”

Theo người đứng đầu Chính phủ, trong tình hình mới phải có cách tiếp cận mới, bám sát diễn biến tình hình dịch bệnh, căn cứ điều kiện cụ thể để đưa ra những quyết sách, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, phát huy tối đa tinh thần chủ động, sáng tạo… Để có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ này, giải pháp căn cơ, lâu dài trong phòng chống dịch COVID-19 thời gian tới vẫn phải là 5K + vaccine, trong đó vaccine có ý nghĩa chiến lược, lâu dài và quyết định./.

BÀI 1: TẤN CÔNG VÀO BA MẶT TRẬN LỚN ĐỂ DẸP ‘CƠN ÁC MỘNG’ COVID-19
BÀI 2: VACCINE – ‘VŨ KHÍ TỐI THƯỢNG’ ĐỂ ‘TẤN CÔNG ĐẠI DỊCH’
BÀI 3: ‘MẶT TRẬN’ COVID-19: CHIẾN LƯỢC MỚI, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ
BÀI 4: NHỮNG ‘ĐÒN ĐÁNH’ QUYẾT ĐỊNH GIÚP VIỆT NAM KIỂM SOÁT DỊCH
BÀI 5: NỖI ĐAU COVID-19: NHIỀU HY SINH, MẤT MÁT VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Tác giả: Cao Thùy Giang
Thiết kế: Thanh Trà

Mở cửa hay không mở cửa: Bài toán hóc búa của nước Anh

Mở cửa hay không mở cửa: Bài toán hóc búa của nước Anh

Ngày 19/7, Chính phủ Anh dỡ bỏ hầu hết các biện pháp hạn chế được áp dụng nhằm kiểm soát dịch COVID-19, trong bối cảnh các ca mắc mới đang tăng cao tại nước này, thậm chí số ca mắc mới ghi nhận ngày 18/7 ở mức cao nhất thế giới.


Ngày 19/7, Chính phủ Anh dỡ bỏ hầu hết các biện pháp hạn chế được áp dụng nhằm kiểm soát dịch COVID-19, trong bối cảnh các ca mắc mới đang tăng cao tại nước này, thậm chí số ca mắc mới ghi nhận ngày 18/7 ở mức cao nhất thế giới.

Đây là kế hoạch được Thủ tướng Boris Johnson dự kiến từ lâu, song sự xuất hiện của biến thể Delta cũng như các biến thể mới nguy hiểm khác đang khiến việc nước Anh mở cửa trở lại được đánh giá như một “canh bạc,” với nguy cơ làm sụp đổ thành quả chống dịch của “xứ sở Sương mù” thời gian qua.

Ngày 17/7, Anh ghi nhận gần 54.700 ca mắc COVID-19, so với 51.870 ca một ngày trước. Đây là ngày thứ hai liên tiếp Anh có số ca mắc mới vượt ngưỡng 50.000 ca/ngày kể từ hồi tháng Một.

Theo các cố vấn khoa học của chính phủ, Anh có thể sẽ trải qua làn sóng dịch thứ ba vào giữa tháng 8 khi các ca mắc mới có thể lên tới 100.000 ca/ngày trong vài tuần.

Mặc dù vậy, Chính phủ Anh vẫn quyết định dỡ bỏ các biện pháp hạn chế phòng dịch theo kế hoạch do các tiêu chí để mở cửa trở lại đều được đáp ứng, đặc biệt các ca nhập viện và tử vong do COVID-19 đều giảm nhờ vào hiệu quả của chương trình tiêm chủng.

Giám đốc Y tế England, Giáo sư Chris Whitty cho biết dù tỷ lệ nhập viện do COVID-19 hiện không nhỏ và đang gia tăng, con số này vẫn thấp hơn nhiều so với những làn sóng dịch trước đó.

Theo số liệu mới nhất của chính phủ, gần 4.000 người mắc COVID-19 ở Anh phải nhập viện trong tuần này, so với 3.000 trường hợp trong tuần trước. Tuy nhiên con số này thấp hơn nhiều so với mức đỉnh gần 40.000 ca hồi tháng 1.

Dữ liệu gần đây cho thấy chương trình tiêm vaccine ngừa COVID-19 đã làm giảm số ca nhập viện và tử vong, với tỷ lệ ca tử vong thấp hơn 1/1.000 ca mắc bệnh, so với tỷ lệ 1/60 vào mùa Đông năm ngoái.

Một nghiên cứu của Cơ quan Y tế công cộng Anh cũng cho thấy tiêm đủ 2 mũi vaccine Pfizer hoặc AstraZeneca có hiệu quả từ 60% đến 88% trong việc ngừa COVID-19 với biến chủng Delta, hiện đang chiếm hầu hết các ca mắc mới trên toàn Vương quốc Anh.

Vaccine cũng có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa các ca nhập viện do mắc COVID-19, với hiệu quả đạt trên 90% ở người tiêm đủ hai mũi vaccine.

Cho đến nay, hơn 46,2 triệu người – chiếm 88% tổng số người trưởng thành ở Vương quốc Anh – đã tiêm 1 mũi vaccine ngừa COVID-19, và hơn 35,3 triệu người đã tiêm đủ hai mũi, đưa Anh vào danh sách những nước dẫn đầu thế giới về chương trình tiêm chủng.

Phó Giám đốc y tế England, Giáo sư Jonathan Van-Tam, cho biết vaccine không thể hiệu quả 100%, nhưng có thể đã cứu khoảng 30.000 sinh mạng ở Anh và giúp giảm đáng kể số ca nhập viện.

Quyết định mở cửa trở lại của được Giáo sư Chris Whitty và một số nhà khoa học ủng hộ. Theo Giáo sư Chris Whitty, nếu tiếp tục lùi kế hoạch dỡ bỏ phong tỏa, có nguy cơ đỉnh dịch vào mùa Hè sẽ bị đẩy sang mùa Thu, là thời điểm cúm mùa và các loại virus khác phát triển.

Điều này có thể khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Ông cho rằng điều quan trọng là giảm số ca mắc tại đỉnh dịch, thay vì trì hoãn việc mở cửa.

“Ở New Zealand, chúng tôi luôn hướng đến Vương quốc Anh với vai trò đi đầu trong khoa học. Vì vậy thật đáng chú ý khi nước này không tuân theo những nguyên tắc y tế công cộng cơ bản.”

Ông Michael BakerGiáo sư về sức khỏe cộng đồng tại Đại học Otago, New Zealand

Tiến sỹ Hồ Quốc Tuấn, Giảng viên Đại học Bristol (Anh) cũng nhận định tỷ lệ tiêm chủng cao khiến Anh tự tin mở cửa hoạt động kinh tế bởi chính phủ tin rằng số ca bệnh nặng và nhập viện vẫn ở mức khống chế được, và Anh có thể quay trở lại trạng thái gần như bình thường, thực hiện tham vọng sống chung với virus.

Tuy nhiên, quyết định dỡ bỏ mọi biện pháp hạn chế của Anh cũng đã vấp phải sự phản đối của nhiều nhà khoa học.

Trong một lá thư gửi tạp chí y học the Lancet, hơn 1.200 nhà khoa học từ khắp thế giới đã chỉ trích kế hoạch mở cửa của Anh là “phản khoa học,” và có thể dẫn đến sự xuất hiện các biến chủng kháng vaccine, đồng thời kêu gọi Chính phủ Anh tạm dừng kế hoạch này.

Các cố vấn của chính phủ New Zealand, Australia, Israel và Italy đã bày tỏ quan ngại về chiến lược dỡ bỏ phong tỏa của Anh.

Giáo sư về sức khỏe cộng đồng tại Đại học Otago, New Zealand, ông Michael Baker cho biết: “Ở New Zealand, chúng tôi luôn hướng đến Vương quốc Anh với vai trò đi đầu trong khoa học. Vì vậy thật đáng chú ý khi nước này không tuân theo những nguyên tắc y tế công cộng cơ bản.”

Người dân thư giãn trong công viên Green Park ở London, Anh ngày 7/6/2021. Ảnh: AFP/TTXVN

Giáo sư Graham Medley, chủ trì Nhóm nghiên cứu khoa học mô hình đại dịch cúm (Spi-M) của Anh, cũng cảnh báo không thể dự đoán mức độ lây lan của COVID-19 sau ngày 19/7, bởi hành vi của người dân là không thể biết trước sau khi các quy định bắt buộc được dỡ bỏ.

Theo ông, không thể dự đoán được làn sóng dịch mới sẽ kéo dài bao lâu, bởi không như các làn sóng trước – vốn được kiểm soát nhờ lệnh phong tỏa và quy định giãn cách xã hội – làn sóng mới sẽ phát triển tự nhiên và vì vậy có thể lây lan mạnh và kéo dài.

Ông cũng cho rằng ngay cả khi số ca mắc mới không quá cao, sự gia tăng các ca mắc có thể kéo dài trong vài tuần, và vẫn tạo gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế.

Hiện tại, số người nhập viện do COVID-19 đang đều đặn tăng gấp đôi cứ sau 3 tuần, và con số này có thể đạt mức đáng ngại nếu xu hướng gia tăng tiếp tục trong những tuần tới.

Một số gia đình ở London đã tạo ra một đài tưởng niệm để tưởng nhớ những người thân yêu đã qua đời vì COVID-19, bằng cách vẽ tay gần 150.000 trái tim trên bức tường đối diện với Tòa nhà Quốc hội. (Nguồn: Vnews/Vietnam+)

Ước tính tại thời điểm đỉnh dịch, số ca nhập viện và tử vong lần lượt có thể lên tới 1.000-2.000 ca/ngày và 200 ca/ngày trong tháng 8.

Tiến sỹ Mike Tildesley, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Warwick (Anh), lưu ý mặc dù vaccine đã phá vỡ mối liên hệ giữa các ca mắc bệnh và nhập viện, song không thể nói rằng mọi người đã an toàn khi các ca mắc mới gia tăng bởi có nguy cơ virus sẽ phát triển thành các biến thể kháng vaccine.

Trước tình hình trên, Thủ tướng Anh Boris Johnson đã kêu gọi người dân cẩn trọng sau khi các quy định phòng dịch được dỡ bỏ bởi đại dịch vẫn chưa kết thúc.

Ông nhấn mạnh các ca mắc mới sẽ tăng khi lệnh phong tỏa được dỡ bỏ hoàn toàn, và người dân cần hành động có trách nhiệm để bảo vệ hệ thống y tế quốc gia và thành quả của chương trình tiêm chủng.

Chính phủ Anh cũng đưa ra những hướng dẫn mới nhằm kiềm chế dịch bệnh đang lây lan, theo đó người dân được khuyến khích đeo khẩu trang ở những nơi đông người, như trên các phương tiện giao thông công cộng và trong các cửa hàng.

“Đeo khẩu trang là yêu cầu bắt buộc đối với người sử dụng phương tiện giao thông công cộng tại thủ đô sau ngày 19/7.”

Ông Sadiq Khany, Thị trưởng thành phố London

Thị trưởng thành phố London, ông Sadiq Khany, cũng tuyên bố đeo khẩu trang là yêu cầu bắt buộc đối với người sử dụng phương tiện giao thông công cộng tại thủ đô sau ngày 19/7.

Một khảo sát mới của Văn phòng Thống kê quốc gia Anh cho thấy, 64% số người được hỏi sẽ tiếp tục đeo khẩu trang trong các cửa hàng và trên các phương tiện giao thông công cộng sau ngày 19/7, dù đây không còn là quy định bắt buộc.

90% số người được hỏi tin rằng đeo khẩu trang khi đi mua sắm và giãn cách xã hội là biện pháp quan trọng để ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Trong khi đó, 57% tỏ ra lo lắng về kế hoạch dỡ bỏ hoàn toàn các quy định phòng dịch của chính phủ.

Kết quả cuộc khảo sát là một dấu hiệu tích cực cho thấy người dân Anh đã sẵn sàng cho một trạng thái bình thường mới và sẵn lòng hợp tác với chính phủ nhằm bảo vệ thành quả chống dịch trong thời gian qua.

Hành khách tại sân bay Heathrow, phía Tây London, Anh. Ảnh: AFP/TTXVN

Cho đến nay, chưa có quốc gia nào trên thế giới thực hiện những gì Anh đang làm khi mở cửa đất nước vào thời điểm các ca mắc mới biến thể dễ lây lan đang tăng mạnh.

Các chuyên gia cho rằng làn sóng lây nhiễm này chỉ có thể kết thúc khi bức tường miễn dịch đạt được nhờ tỷ lệ tiêm chủng và sự lây nhiễm tự nhiên đủ lớn.

Tuy nhiên, liệu Anh có đạt tới đích đó trong những tháng tới hay không vẫn còn là “bài toán” chưa có lời giải./.

Tác giả: Minh Hợp-Vân Hải

[Interactive] Cập nhật diễn biến dịch COVID-19 tại Việt Nam

Làn sóng COVID-19 thứ tư (từ ngày 27/4/2021) là đợt lây lan dịch bệnh nghiêm trọng nhất tại Việt Nam, gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế xã hội, cũng như mất mát về con người. Ngoài việc thực hiện nghiêm thông điệp 5K, chính phủ đã ban hành nhiều biện pháp chống dịch mạnh mẽ như áp dụng Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ tại nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền Nam, đồng thời đẩy nhanh chiến dịch tiêm chủng vaccine lớn nhất trong lịch sử.

Qua theo dõi, số ca dương tính được phát hiện hàng ngày của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tăng cao. Do đó, Thành phố chưa đạt đỉnh dịch và tình hình này sẽ còn diễn biến phức tạp trong vài ngày tới…

Đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 này xảy ra tại Việt Nam với quy mô lớn và ngày càng khó lường khi xảy ra trên diện rộng tại hơn 50 tỉnh, thành phố.

Dịch bệnh COVID-19 trên thế giới hiện nay tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Tại nhiều khu vực, xuất hiện các biến chủng mới được cảnh báo nguy hiểm hơn, nguy cơ bùng phát dịch là hiện hữu, kể cả tại các quốc gia đạt độ bao phủ tiêm chủng trên diện rộng.

“Người dân là trung tâm để chúng ta phục vụ nhưng cũng là chủ thể tham gia chống dịch. Đây là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân.”

Thủ tướng Phạm Minh Chính

Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Nam đang có diễn biến phức tạp với số mắc liên tục gia tăng do dịch bệnh đã lây lan ra cộng đồng, với các chuỗi lây nhiễm, ổ dịch chưa xác định được nguồn lây.

Nguy cơ bùng phát dịch bệnh từ Thành phố Hồ Chí Minh sẽ lây lan rộng ra các tỉnh lân cận. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg với 19 tỉnh, thành phố phía Nam.

Các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, miền Bắc (từ tỉnh Phú Yên trở ra) số ca mắc mới trong tuần hầu hết giảm so với tuần trước đó. Tuy nhiên nguy cơ dịch bệnh bùng phát là hiện hữu do người trở về địa phương có lịch sử đi lại, trở về từ các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, cần thực hiện nghiêm các biện pháp giám sát, theo dõi và khai báo y tế.

Những tỉnh tương đối an toàn, dịch còn ít (khu vực Nam sông Hậu và Bình Phước) tiếp tục thực hiện theo chiến lược “Ngăn chặn-Phát hiện-Truy vết-Khoanh vùng-Dập dịch và Điều trị,” giống như các địa phương đang kiểm soát được dịch.

Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, cần phân loại trong 19 tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg thành 2 nhóm.

Bên cạnh đó, những địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và những khu vực dịch lây nhiễm cao, đậm đặc, lây lan rộng thì cần có những giải pháp mới, cách làm mới cho phù hợp với “2 mũi giáp công.”

Một mũi tập trung lực lượng tại những “vùng đỏ,” có mức độ nguy cơ dịch bệnh rất cao để nhanh chóng bóc F0 ra khỏi cộng đồng, từng bước làm sạch, thu hẹp ổ dịch, giảm xuống “vùng vàng” dần tiến tới “vùng xanh.” Mũi còn lại thực hiện tầm soát, sàng lọc kết hợp các biện pháp đồng bộ, giữ chặt “vùng xanh” an toàn; cô lập những “vùng vàng”, làm sạch để trở thành “vùng xanh”.

Ngoài nguồn ngân sách, Bộ Y tế đang tích cực huy động, kêu gọi sự đóng góp, chung tay của cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân… Lãnh đạo Bộ Y tế cam kết không để đội ngũ y, bác sĩ thiếu các đồ bảo hộ, bảo đảm an toàn tối đa cho lực lượng điều trị tuyến đầu.

Thân phận của những em nhỏ trở thành mồ côi vì đại dịch

Nhiều trẻ em mất cha mẹ vì Covid 19

Mai Nguyễn dịch/Theo AP

Một số em sẽ không bao giờ nhớ mặt cha mẹ đã mất vì còn quá nhỏ khi COVID-19 xảy ra. Số khác thì cố gắng giữ cho ký ức tồn tại bằng cách làm những việc cả nhà từng làm cùng nhau: làm bánh kếp hoặc chơi ghita. Số khác nữa vẫn đang nắm chặt những gì còn lại, một chiếc gối hoặc một bức ảnh, trong hành trình thích nghi với cuộc sống mới ở đó có dì, chú và anh chị em bước vào để lấp đầy khoảng trống.

Tính đến nay, 4 triệu người đã chết trong đại dịch virus corona, để lại cha mẹ, bạn bè và vợ/chồng – và có rất nhiều trẻ nhỏ đã trở thành trẻ mồ côi hoặc chỉ còn cha hoặc mẹ, những người cũng đang khóc thương cho sự mất mát mà họ đang trải qua. 

Đó là một nỗi đau đang diễn ra ở các thành phố lớn và những ngôi làng nhỏ trên toàn cầu, từ bang Assam ở đông bắc Ấn Độ đến New Jersey và nhiều nơi khác.

Và ngay cả khi tỷ lệ tiêm chủng tăng lên, những tổn thất và tác động mang tính thế hệ không có dấu hiệu giảm bớt ở nhiều nơi khi virus và các biến thể của nó tiếp tục tấn công. Khi con số tử vong do COVID-19 chính thức đạt mốc u ám mới nhất trong tuần này, Hàn Quốc đã báo cáo số ca nhiễm tăng mạnh nhất trong một ngày và Indonesia đã có ngày chết chóc nhất trong đại dịch cho đến nay.

Diego Roman bế con gái, Victoria Soto, trong bức ảnh chụp ở Lomas de Zamora, Argentina, Chủ Nhật ngày 4/7/2021. (Ảnh AP/Natacha Pisarenko)

Victoria Elizabeth Soto không để ý đến những cột mốc này. Cô bé mới chỉ được sinh ra cách đây ba tháng sau khi mẹ của em, Elisabeth Soto, đến bệnh viện ở Lomas de Zamora, Argentina trong tình trạng mang thai 8 tháng và có các triệu chứng của COVID-19.

Soto, 38 tuổi, đã cố gắng suốt 3 năm để có thai và đã hạ sinh bé Victoria vào ngày 13/4. Người mẹ đã chết sáu ngày sau đó vì các biến chứng do virus. Victoria không bị nhiễm bệnh.

Cha của cô bé, Diego Roman, nói rằng anh đang từng chút một đối mặt với sự mất mát, nhưng lo sợ rằng đứa con gái nhỏ của mình một ngày nào đó sẽ biết là bé không có mẹ. 

 “Tôi muốn con học cách nói từ ‘mẹ’ bằng cách cho bé xem một bức ảnh của mẹ”, Roman nói. “Tôi muốn con bé biết rằng cô ấy đã đánh đổi tính mạng để con bé được sống. Ước mơ của cô ấy là trở thành một người mẹ, và cô ấy đã được làm mẹ. “

Tshimologo Bonolo, 8 tuổi, chụp ảnh tại ngôi nhà của mình ở Soweto, Nam Phi, thứ Bảy, ngày 26/6/2021. (Ảnh AP/Jerome Delay)

Tshimologo Bonolo, một bé gái 8 tuổi, đã mất cha vì COVID-19 vào tháng 7/2020 và đã dành cả năm vừa qua để thích nghi với cuộc sống ở Soweto, Nam Phi mà không có cha. 

Điều khó khăn nhất là thay đổi thói quen hàng ngày: Cha của Bonolo, Manaila Mothapo, thường chở cô bé đến trường mỗi ngày, nhưng giờ cô bé phải đi phương tiện công cộng.

“Cháu từng nấu ăn, chơi và đọc sách với bố,” Bonolo nói. “Cháu nhớ nhất là được đùa nghịch trên bụng của bố.” 

Niva Thakrar, 13 tuổi, mất cha vì virus corona, trong bức ảnh chụp tại ngôi nhà của cô bé ở tây bắc London hôm thứ Hai, 5/7/2021. (Ảnh AP/Thanassis Stavrakis)

Ở phía tây bắc London, cô bé Niva Thakrar, 13 tuổi đang cắt cỏ và rửa xe ô tô của gia đình – những công việc mà người bố thường làm. Như một cách tưởng nhớ, cô bé đi dạo đến những nơi mình từng đến với bố và xem những bộ phim họ từng xem cùng nhau trước khi người bố qua đời hồi tháng 3 sau hai tháng nằm viện.

“Cháu vẫn cố gắng làm những gì bố và cháu đã từng làm trước đây, nhưng cảm giác không còn như xưa nữa,” Thakrar nói.

Jeshmi Narzary đã mất cả cha lẫn mẹ trong vòng hai tuần hồi tháng 5 ở Kokrajhar, bang Assam, đông bắc Ấn Độ.

Cô bé 10 tuổi tiếp tục sống với một người dì và hai người anh em họ, sau khi trải qua 14 ngày tự cách ly trong thời gian Ấn Độ tăng đột biến số ca nhiễm vào mùa xuân, khiến quốc gia này chỉ đứng sau Mỹ về số ca bệnh được xác nhận.

Jeshmi Narzary, 10 tuổi, ngồi trên cầu thang của nhà dì mình sau khi cả bố và mẹ cô bé đều thiệt mạng vì COVID-19, ở Kokrajhar, bang Assam, miền đông bắc Ấn Độ, hôm thứ Sáu, ngày 25/6/2021. Jeshmi được nhận nuôi bởi chị gái của mẹ là Phulmati Narzary Goyary. (Ảnh AP/Anupam Nath)

Narzary vẫn chưa vượt qua được cái chết của cha mẹ. Nhưng cô bé rất cẩn thận trong việc đeo khẩu trang và rửa tay, đặc biệt là trước khi ăn. Cô bé làm như vậy vì biết rằng “coronavirus là một căn bệnh giết chết con người.”

Kehity Collantes, 6 tuổi, cũng biết virus có thể làm gì. Nó đã giết chết mẹ cô bé, một nhân viên bệnh viện ở Santiago, Chile, và giờ cô bé phải tự mình làm bánh kếp. 

Điều đó cũng có nghĩa là: “Giờ bố cháu phải vừa làm cha vừa làm mẹ,” cô bé nói.

Kehity Collantes, 6 tuổi, chụp ảnh với chú chó của mình, Niña, ở Santiago, Chile, Chủ Nhật ngày 4/7/2021. Mẹ của Collantes đã thiệt mạng vì virus corona. (Ảnh AP/Esteban Felix)

Hai anh em Zavion và Jazzmyn Guzman đã mất cả cha lẫn mẹ vì COVID-19, và hiện cả hai đang được những người chị lớn chăm sóc. Mẹ của hai em, Lunisol Guzman, nhận nuôi hai anh em từ khi cả hai vừa mới sinh, nhưng đã qua đời năm ngoái cùng chồng khi làn sóng thứ nhất của đại dịch càn quét dữ dội tại vùng đông bắc Hoa Kỳ.

Katherine và Jennifer Guzman lập tức xin quyền giám hộ hai đứa trẻ – Zavion 5 tuổi và Jazzymn 3 tuổi – và hiện đang chăm sóc cho chúng tại Belleville, New Jersey. 

“Tôi đã mất mẹ, và giờ thì tôi là một người mẹ,” Jennifer Guzman, 29 tuổi, cho hay.

Zavion Guzman ôm em gái Jazzmyn trong lúc đang chơi ở Belleville, New Jersey hôm thứ Tư, ngày 30/06/2021 (Ảnh AP/Mary Altaffer)

Những mất mát của gia đình Navales ở thành phố Quezon, Philippines ngày một chồng chất. Sau khi trụ cột gia đình là Arthur Navales, 38 tuổi, qua đời hôm 2/4, cả nhà đã phải đối mặt với sự xa lánh của cộng đồng.  

Người vợ goá Analyn B. Navales lo sợ rằng chị không thể trả được tiền mua ngôi nhà mà họ dự định chuyển đến, vì tiền lương của mình chị là không đủ. Một vấn đề nữa là chị cũng không chắc mình có thể trả học phí cho các lớp taekwondo của các con hay không.

Cậu con trai Kian Navales, 10 tuổi, cũng từng bị nhiễm virus, và rất nhớ những lần ra ngoài ăn mì cùng bố. Cậu bé ôm chặt một chiếc gối mẹ làm cho mình và chị gái, trên gối có in hình người cha.

“Ngôi nhà của chúng cháu trở nên yên tĩnh và buồn bã. Chúng cháu không cười nhiều nữa từ khi bố mất,” Yael, cô chị 12 tuổi của Kian chia sẻ. 

Kian Navales chụp ảnh tại nhà ở thành phố Quezon, Philippines hôm thứ Ba, 06/07/2021, trong tay ôm một chiếc gối có in hình bố Arthur, người đã qua đời vì virus corona. (Ảnh AP/Aaron Favila)

Maggie Catalano, 13 tuổi, đang lưu giữ ký ức về cha mình bằng âm nhạc. 

Là một nhạc sĩ, Brian Catalano từng dạy Maggie một số hợp âm ghita trước khi ngã bệnh. Anh đã tặng cho con gái một cây ghita làm quà Giáng sinh vào ngày 26/12 năm ngoái khi trở về nhà sau 9 ngày nằm viện.

Vẫn dương tính với sức khoẻ yếu, anh phải cách ly trong phòng ngủ, nhưng có thể nghe thấy tiếng đàn của Maggie vọng qua những bức tường trong căn nhà của họ ở quận Riverside, California.

“Bố nhắn tin cho cháu rằng, ‘Con chơi hay lắm, con yêu,'” Maggie nhớ lại.

Cả nhà nghĩ rằng Brian đã chiến thắng bệnh tật – nhưng bốn ngày sau, anh đã lặng lẽ qua đời khi họ ra ngoài. 

Để vượt qua nỗi đau, Maggie dồn sức viết những bài hát và đã biểu diễn một bài trong tang lễ của bố hồi tháng 5.

“Cháu ước gì bố nhìn thấy cháu chơi đàn lúc này,” cô bé nói. Cháu ước là bố biết được cháu đã tiến bộ như thế nào.”

Maggie Catalano, 13 tuổi, ngồi chụp ảnh ở Quận Riverside, California hôm thứ Sáu, 02/07/2021. Cha của Maggie, Brian, đã qua đời vì COVID-19 tại nhà riêng vào ngày 30/12/2020 ở tuổi 49 (Video AP/Jae C. Hong)

Cần một ‘cuộc cách mạng’ về đất nông lâm trường quyết liệt hơn

CẦN ‘CUỘC CÁCH MẠNG’ QUYẾT LIỆT HƠN

VỀ ĐẤT NÔNG LÂM TRƯỜNG

Sau một loạt “bài học kinh nghiệm” được rút ra trong gần 30 năm “sắp sếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty lâm nghiệp” – giới chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý đất đai đều cho rằng: đã đến lúc cần phải có một “cuộc cách mạng” thực chất hơn cũng như “liều thuốc đặc hiệu” để không gây lãng phí nguồn lực đất đai; đặc biệt là giải quyết được hiệu quả vấn đề thiếu đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.


Phải nhìn nhận đúng bản chất nguồn gốc đất đai

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Triệu Văn Bình – Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc (Văn phòng Quốc hội) cho hay để giải quyết ổn thỏa “bài toán” đất nông lâm trường sau gần 3 thập kỷ “đổi mới” nhưng đến nay vẫn “cũ,” việc đầu tiên là cần phải nhìn nhận đúng bản chất của nguồn gốc đất đai cũng như làm rõ việc tại sao khi bắt tay vào thực hiện thì kết quả vẫn chưa được như mong muốn.

Đặc biệt theo ông Bình, tới đây, việc đổi mới đất nông, lâm trường cần phải có sự thống nhất cao và có sự chỉ đạo sâu hơn, nhất là việc xây dựng phương án để tổ chức sắp xếp, rà soát, đổi mới phải thực chất; còn nếu vẫn theo kiểu “làm cho xong” như thời gian qua thì kết quả đổi mới cũng sẽ không có nhiều thay đổi.

Mặt khác, ông Bình cũng lưu ý rằng để xảy ra tình trạng tranh chấp đất nông, lâm trường; xảy ra mua bán, chuyển nhượng đất đai trong thời gian qua, suy cho cùng là có sự buông lỏng trong cách điều hành, quản lý của các công ty lâm nghiệp và chính quyền địa phương – bởi nếu các địa phương quyết liệt hơn trong việc ngăn chặn và xử lý răn đe thì các trường hợp vi phạm đã không tràn lan như bây giờ.

“Nói đúng ra là bấy lâu nay chúng ta vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để xử lý ‘căn bệnh’ buông lỏng trong quản lý, sử dụng đất nông lâm trường,” ông Bình nói.

Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc cũng cho rằng về lý thuyết, không thể nói đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi “thiếu đất” được. Đơn cử như khu vực Tây Nguyên, ngày xưa, đất đai mà đồng bào sản xuất, canh tác “mênh mông.” Đồng bào sinh sống chủ yếu gắn liền với rừng, gắn liền với sản xuất luân canh, mỗi hộ có đến 5-7 mảnh đất, nhưng đến nay thì diện tích còn lại mà đồng bào canh tác là rất hạn chế.

Về lý thuyết, không thể nói đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi “thiếu đất” được

Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc (Văn phòng Quốc hội) Triệu Văn Bình

Vậy tại sao số lượng đồng bào thiếu đất sản xuất ngày càng tăng lên (hiện có trên 330.000 hộ) như vậy? Theo ông Bình, nguyên nhân là do có sự chồng lấn diện tích của đồng bào, địa phương với các nông lâm trường; thứ hai là nhu cầu tách hộ; thứ ba là xu hướng người dân các tỉnh, thành phố “đổ” về rất đông đã dẫn tới việc tăng dân số và tình trạng mua bán, sang nhượng, chuyển nhượng đất đai khi “sốt” giá.

Vì thế, ông Bình cho rằng “Nhà nước không thể chạy theo để giải quyết việc cứ dân kêu thiếu đất là cấp đất được.” Tuy nhiên, ông Bình cũng nêu quan điểm cho giải pháp tháo gỡ vướng mắc trên là cần phải rà soát lại toàn bộ diện tích đất đai hiện có của các nông, lâm trường theo hướng: Phần nào không phải là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ thì phải trả lại địa phương quản lý. Từ đó địa phương sẽ rà soát, xem xét để giao đất cho người nghèo sản xuất, nhất là hướng dẫn cách sản xuất hàng hóa đi kèm với yếu tố kỹ thuật để mang lại giá trị cao.

Đối với những nơi không còn đất đủ điều kiện để giải quyết cho hộ dân tộc thiểu số thì cần thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề mới và chuyển đổi nghề cho người dân. “Nếu làm được như vậy thì mới bền vững được. Còn cứ hơn 330.000 hộ đồng bào đang thiếu đất sản xuất, giờ Nhà nước lại tìm hơn 330.000ha để cấp thì không thể, về lâu dài chắc chắn cũng sẽ không giải quyết được,” ông Bình nhấn mạnh.

Cần một bài toán căn cơ và lâu dài

Vậy để hóa giải những rào cản, vướng mắc không thuận chiều với công cuộc đổi mới, Nhà nước nên thu hồi và sử dụng đất thế nào? Trả lời câu hỏi này, ông Bình cho rằng đã đến lúc cần phải đổi mới mạnh mẽ. Theo đó, thời gian tới cần phải có một “cuộc cách mạng” để giải quyết triệt để. “Nếu không, tài nguyên của quốc gia sẽ tiếp tục bị mất, người dân vẫn đói nghèo,” ông Bình cảnh báo.

Đưa ra một số đề xuất cho “cuộc cách mạng” nêu trên, ông Bình cho rằng đầu tiên là phải tách bạch được đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường. Ví dụ, ngày xưa, nhà nước giao cho nông, lâm trường 20.000ha nhưng vì để mất rừng, giờ chỉ còn lại 2.000ha, thì Nhà nước phải chấp nhận giữ lại đúng 2.000ha. Nếu là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì Nhà nước cần phải trả tiền để có bộ máy quản lý.

“Phần còn lại không còn là rừng, chỗ nào dân đang sử dụng mà trong quy hoạch còn sử dụng được thì cần chuyển đổi thành đất nông nghiệp và có kế hoạch sử dụng cụ thể. Chỗ nào không thể chuyển thì khoanh lại trồng rừng,” ông Bình gợi ý.

Cần phải có một “cuộc cách mạng” để giải quyết triệt để. “Nếu không, tài nguyên của quốc gia sẽ tiếp tục bị mất, người dân vẫn đói nghèo,”

Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc (Văn phòng Quốc hội) Triệu Văn Bình

Vấn đề thứ hai là đất đai hiện đang được Nhà nước giao cho ngành tài nguyên và môi trường quản lý, nông lâm trường do ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý nên việc quản lý, góp ý của các cơ quan cũng khác nhau, không có sự thống nhất. Do đó, giải pháp đặt ra là cần phải “quy về một mối,” quy trách nhiệm cho chính quyền địa phương và phải có một người chịu trách nhiệm chính. Rừng, đất trên địa bàn mà mất thì người đứng đầu sẽ phải chịu trách nhiệm.

Nhìn nhận ở góc độ chuyên gia, ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên cho rằng việc giải quyết nhu cầu đất sản xuất cho người dân và cân đối quỹ đất có nguồn gốc từ nông lâm trường thuộc phạm vi trách nhiệm của chính quyền các tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, có lẽ Chính phủ cần có động thái chỉ đạo quyết liệt hơn để giải quyết tình trạng bế tắc ở nhiều địa phương như Báo Điện tử VietnamPlus phản ánh. 

Nhấn mạnh đến việc quy hoạch đất nông lâm trường hay biến đất không tranh chấp thành tranh chấp để trục lợi, tại phiên họp lần thứ 56 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 27/5/2021, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng lưu ý nội dung này cần được làm rõ trong báo cáo về thực hành tiết kiệm chống lãng phí của Chính phủ.

Trước đó, góp ý kiến về quản lý và sử dụng hiệu quả đất nông, lâm trường theo tinh thần của Nghị quyết số 112/2015/QH13, tại phiên thảo luận của Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, đại biểu Dương Xuân Hòa (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn) cũng cho rằng Chính phủ cần tiếp tục quyết liệt chỉ đạo các cấp, ngành tập trung rà soát, kiểm tra cụ thể trên địa bàn từng xã để có phương án xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp, làm rõ trách nhiệm của từng cấp trên địa bàn.

Mặt khác, đại biểu Dương Xuân Hòa cũng nhấn mạnh cùng với tăng cường công tác quản lý, sử dụng đất nông, lâm nghiệp thì việc điều tra, đánh giá lại chất lượng rừng cũng cần được quan tâm vì đất lâm nghiệp trước đây được giao theo Nghị định 116 năm 1999 cho hộ gia đình – hầu hết được giao theo hình thức kê khai không bàn giao mốc trên thực địa nên không xác định được ranh giới cụ thể.

Do đó các địa phương cần thực hiện nghiêm quy định về việc bàn giao mốc giới, ranh giới sử dụng đất, lập và phê duyệt phương án sử dụng đất đối với phần diện tích mà các nông, lâm trường đã bàn giao về cho địa phương quản lý và giao cho các tổ chức, cá nhân thuê đất; trong đó cần đặc biệt quan tâm đến hộ gia đình tại địa phương thiếu đất để khắc phục tình trạng tái lấn chiếm, tranh chấp đất đai.

Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu

Rút kinh nghiệm từ thiễn tiễn qua các thời kỳ đổi mới, trong năm 2019, trên cơ sở báo cáo giám sát của Hội đồng Dân tộc, Chính phủ đã xây dựng, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2030;” trong đó dự án 2 của đề án tập trung vào việc giải quyết tình trạng thiếu đất ở, thiếu đất sản xuất cho đồng bào nghèo thiếu đất sản xuất ổn định lâu dài.

Theo mục tiêu cụ thể của đề án, đến năm 2025, cả nước sẽ sắp xếp ổn định 70% số hộ di cư tự phát, số hộ đang sinh sống trong rừng đặc dụng, khu vực xung yếu nguy hiểm; hỗ trợ giải quyết 70% số hộ thiếu đất ở, đất sản xuất; tỷ lệ độ che phủ rừng duy trì 42%; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 50%. Đến năm 2030, nước ta giải quyết căn bản tình trạng di cư tự phát trong đồng bào dân tộc thiểu số…

Trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 về việc phê duyệt đề án. Hiện nay, Ủy ban Dân tộc đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện đề án, trình Hội đồng thẩm định quốc gia để thông qua Báo cáo nghiên cứu khả thi – dự kiến chậm nhất sẽ được thông qua tại kỳ họp Quốc hội vào tháng 10/2021.

Cũng trong năm 2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Chỉ thị số 15/CT- TTg về việc “kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019.” Theo đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất nhằm mục đích: đánh giá thực trạng sử dụng đất đai của từng đơn vị hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh, các vùng kinh tế và cả nước để làm cơ sở đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai của các cấp trong 5 năm qua; và đề xuất cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất…

Mới đây, ngày 2/6/2021, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản truyền đạt ý kiến Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của số liệu kiểm kê và công bố kết quả kiểm kê đất đai 5 năm theo đúng quy định của pháp luật.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu trong việc chỉ đạo cơ quan cấp dưới thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về đất đai, thực hiện phân bổ nguồn lực hợp lý giữa đầu tư kinh phí và khai thác sử dụng đất đai nhằm bảo đảm quản lý hiệu quả nguồn lực đất đai của cả nước; chủ động phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai, phê phán những hành vi sai trái, phát hiện và đưa ra công luận các sai phạm.

Bố trí kinh phí, giải phóng sức sản xuất của dân

Góp thêm ý kiến, ông Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cho rằng để “Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2030” triển khai hiệu quả, Nhà nước cần phải bố trí kinh phí giao đất cho đồng bào dân tộc thiếu đất bằng nguồn vốn ngân sách Trung ương và xây dựng lộ trình thực hiện rõ ràng cũng như giao người đứng đầu có trách nhiệm thực hiện.

“Nếu làm được những cái ‘cần’ nêu trên, chắc chắn vấn đề thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ được giải quyết,” ông Hồng nhấn mạnh.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến, Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) thì cho rằng giải pháp căn cơ đặt ra hiện nay là cần xác định rõ nhiệm vụ giải quyết tình trạng “sản xuất nông nghiệp và người dân sinh sống trên đất lâm nghiệp” nhằm quản lý, sử dụng đất đúng mục đích; phát huy tiềm năng, lợi thế về tài nguyên rừng và nguồn lực để nâng cao đời sống người dân.

Đặc biệt, chính sách đất đai cần được đổi mới theo hướng tiếp tục làm rõ quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu về đất đai ở Trung ương và địa phương đối với từng loại đất và phân cấp trong quản lý; hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông, lâm nghiệp, đất ở, nhất là “vùng lõi nghèo của cả nước.”

Tiến sĩ Cao Thị Lý, Trường Đại học Tây Nguyên cũng kiến nghị trước mắt các địa phương cần rà soát, công nhận quyền sử dụng đất cho người dân ở nơi họ đã sinh sống và canh tác cố định lâu đời. Về lâu dài, cần có những chương trình khảo sát, đánh giá đầy đủ, cụ thể về thực trạng mâu thuẫn, thiếu đất sản xuất của người dân tộc thiểu số tại chỗ ở mỗi địa phương, tránh tình trạng lấn chiếm, mở rộng diện tích; quy hoạch đất canh tác ổn định cho người dân tộc thiểu số tại chỗ.

Cần phải có các dữ liệu thực về các cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đất đai họ đang sử dụng, phương thức sử dụng, hiệu quả sử dụng, thu nhập từ đất đai, từ đó mới có thể đưa ra chính sách điều chỉnh lại đất đai cụ thể phù hợp cho các vùng.

Giáo sự Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trên bình diện rộng hơn, giáo sự Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng để có những quyết sách đúng, cần phải có các dữ liệu thực về các cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đất đai họ đang sử dụng, phương thức sử dụng, hiệu quả sử dụng, thu nhập từ đất đai, từ đó mới có thể đưa ra chính sách điều chỉnh lại đất đai cụ thể phù hợp cho các vùng.

Theo ông Võ, nguồn lực đất đai trên vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều. Do đó, đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, có thể sử dụng phương thức đồng quản lý – đồng hưởng lợi giữa ban quản lý của Nhà nước và cộng đồng địa phương.

Đối với rừng sản xuất, Nhà nước cần giao đất của các công ty lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân làm chủ sử dụng, các công ty lâm nghiệp chỉ làm nhiệm vụ dịch vụ, giống. “Có như vậy mới thực sự giải phóng sức sản xuất của dân, làm tốt nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo nhằm tạo bền vững xã hội, từng bước làm cho đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống khá giả hơn,” ông Võ nhấn mạnh./.

‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Mệnh lệnh vẫn còn cách xa thực tế?

‘GIẢI PHÓNG’ ĐẤT NÔNG LÂM TRƯỜNG:

MỆNH LỆNH VẪN CÒN CÁCH XA THỰC TẾ?

Trên cơ sở báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thực trạng các ban quản lý, công ty nông lâm trường “làm mưa làm gió” nhờ được giao quá nhiều đất nhưng sản xuất liên tục thua lỗ, trong khi người dân thiếu đất sản xuất – ngày 27/11/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 112/2015/QH13 với mục tiêu: Tiếp tục rà soát, thu hồi diện tích đất sử dụng không hiệu quả để giao về địa phương quản lý, qua đó bố trí cho đồng bào dân tộc có đất sản xuất sử dụng ổn định.

Thế nhưng, sau 5 năm, việc thi hành “mệnh lệnh” trên phần lớn mới chỉ được các địa phương thực hiện mang tính trên giấy, khiến công cuộc đổi mới vẫn bế tắc.


Chậm bàn giao, đưa đất vào sử dụng

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường vào tháng 7/2020, diện tích đất nông lâm trường mà các công ty lâm nghiệp dự kiến bàn giao về địa phương từ khi thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2004 đến nay đạt hơn 1 triệu hécta (theo Nghị quyết số 28-NQ/TW là 621.565ha; Nghị quyết số 30-NQ/TW là 465.029ha).

Tuy nhiên, qua quá trình tham gia nghiên cứu thực tế về thực trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm trường cho Hội đồng Dân tộc, chuyên gia lâm nghiệp Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cho rằng hầu hết các địa phương hiện đang có chung tình trạng là “diện tích đất từ các nông, lâm trường trả về địa phương mới chỉ thi hành mang tính mệnh lệnh trên giấy, còn triển khai thực địa chưa làm được; tỷ lệ đất giao cho người dân cũng rất ít.”

Số liệu thống kê của Hội đồng Dân tộc qua giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 112/2015/QH13 tại một số địa phương trên cả nước cũng cho thấy tính đến cuối năm 2018, cả nước có đến 342.569ha/402.612ha đất dự kiến được giao lại cho cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn đang do các công ty nông, lâm nghiệp nhà nước hoặc chính quyền địa phương quản lý (chiếm 85,1%), chưa giao cho cộng đồng.

Tính đến cuối năm 2018, cả nước có đến 342.569ha/402.612ha đất dự kiến được giao lại cho cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn đang do các công ty nông, lâm nghiệp nhà nước hoặc chính quyền địa phương quản lý. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Từ việc chậm triển khai bàn giao đất về địa phương nêu trên đã dẫn tới hệ quả “năm nào đồng bào dân tộc thiểu số cũng kêu thiếu đất và con số thiếu đất rất cao nhưng mức độ giải quyết rất ít; trong khi đất nông lâm trường trả về nhưng chính quyền địa phương lại không giao cho dân.”

Dữ liệu mà phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus thu thập qua điều tra thực tế tại một số tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên cũng cho thấy việc chấp hành quy đinh pháp luật về thủ tục giao đất, thu hồi đất ở phần lớn các địa phương còn rất chậm.

Nhiều diện tích trên thực tế các nông, lâm trường đã giao về địa phương nhưng tỉnh vẫn chưa có quyết định thu hồi hoặc nhiều diện tích đã thu hồi nhưng vẫn chưa có quyết định giao đất, cấp sổ đỏ hộ gia đình, cá nhân sử dụng.

Đơn cử như tại Đắk Lắk, thực hiện Nghị quyết số 112, tỉnh này dự kiến sẽ thu hồi gần 539.000ha từ các nông lâm trường, công ty lâm nghiệp và các ban quản lý rừng bàn giao về địa phương quản lý. Trong số đó, riêng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp EaKa sẽ phải bàn giao 2.256ha. Tuy nhiên, đến thời điểm cuối tháng 4/2021, việc này vẫn chưa được triển khai trên thực địa.


Thậm chí, theo ông Nguyễn Phi Tiến, Phó Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp EaKar thì trong số diện tích trả về địa phương, có một phần diện tích là rừng tự nhiên và hơn 2.000ha đang bị xâm chiếm, nên sắp tới sẽ phải rà soát lại, tuy nhiên cũng phải mất khoảng 2-3 năm mới giải quyết xong.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, một lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho rằng “đây là việc lớn của tỉnh.” Vì thế, tỉnh này đã thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư tỉnh ủy làm Trưởng Ban chỉ đạo.

Cách Đắk Lắk khoảng 400km, tại tỉnh Quảng Nam, mặc dù lãnh đạo tỉnh này khẳng định việc thu hồi đất của các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả về địa phương quản lý là cần thiết, song việc thu hồi đất giao về địa phương quản lý cũng mới thống nhất được chủ trương thông qua những con số trên giấy.

Trong số 2.256ha diện tích Công ty lâm nghiệp EaKa trả về địa phương, có một phần diện tích là rừng tự nhiên và hơn 2.000ha đang bị xâm chiếm. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thông tin tới phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam cho biết thực hiện sắp xếp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, có 3 công ty nông, lâm nghiệp đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt phương án sử dụng đất; trong đó Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao su Quảng Nam bàn giao về địa phương trên 1.645ha.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi qua khảo sát thực tế, đến cuối tháng 3/2021, phương án sử dụng đất vẫn chưa được cắm mốc ranh giới, áp dụng trên thực địa.

Là người dân có thâm niên hơn 10 năm làm công nhân đi cạo mủ cao su cho Công ty Cao su Quảng Nam, anh Hồ Văn Long cho biết gần 10 năm qua, 2 vợ chồng anh đang nhận khoán của công ty gần 5 hécta với tổng thu nhập dưới 10 triệu đồng. Theo anh Long, công việc cạo mủ rất vất vả, thu nhập tuy cố định nhưng nhiều khi không đủ trang trải cho việc chi tiêu, sinh hoạt, lo cho các con học hành.

“Bây giờ nếu công ty trả đất về cho địa phương và giao cho người dân sản xuất, thực sự là điều rất vui. Tôi tin nếu được nhận đất để sản xuất ổn định, thu nhập của người dân sẽ cao hơn, bởi ngoài trồng cây lâm nghiệp, cây hoa màu, chúng tôi có thể nuôi thêm bò, kinh tế gia đình chắc chắn sẽ ổn định hơn,” anh Long nói, song cũng không quên thổ lộ rằng đó là mong ước thôi, còn thực tế không biết bao giờ.

Nguyên nhân dẫn tới việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị chậm được đại diện nhiều địa phương lý giải là do tỉnh nghèo, thiếu kinh phí. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thiếu kinh phí đo đạc vì “tỉnh nghèo”

Đi tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 112 song “mệnh lệnh” mà Quốc hội đặt ra, phần lớn mới chỉ được các địa phương thực hiện trên giấy, đại diện lãnh đạo các tỉnh khi trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đều đưa ra lý do chậm là bởi “khó khăn về kinh phí.”

Đơn cử như tại Kon Tum, để thực hiện yêu cầu Nghị quyết số 112, ngày 3/8/2018, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 808/QĐ-UBND về việc “phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán xác định ranh giới sử dụng đất, đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng sử dụng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường trên địa bàn” với tổng kinh phí dự toán lên tới hơn 292,4 tỷ đồng (từ nguồn kinh phí Trung ương hỗ trợ). Thời gian thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 8/20218 đến tháng 12/2020.

Tuy nhiên, thực tế việc triển khai chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là phần diện tích đất trả về địa phương quản lý – do chưa có kinh phí đo đạc chi tiết làm cơ sở xây dựng phương án sử dụng đất để giao cho người dân. Lý do đơn giản là “tỉnh nghèo.”

“Đất ở đây bán cả tỉnh không bằng nơi khác bán một lô, nên rất khó khăn”

Ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum

Lý giải rõ hơn, ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – người được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh ủy quyền trao đổi với phóng viên VietnamPlus cho biết để triển khai dự án trên, hàng năm ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 70% tổng nhu cầu kinh phí; 30% còn lại là vốn đối ứng của địa phương được lấy từ 10% tổng số nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

“Thế nhưng, đất ở đây bán cả tỉnh không bằng nơi khác bán một lô, nên rất khó khăn. Vì thế, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã lập phê duyệt dự án, dự toán gửi lên Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét bố trí kinh phí,” ông Lộc cho hay.

Ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho rằng đất ở đây bán cả tỉnh không bằng nơi khác bán một lô, nên rất khó khăn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cùng chung thực trạng trên, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk cho rằng lý do khiến việc thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm từ ban quản lý, công ty lâm nghiệp khó thực hiện là do phần lớn diện tích người dân đã canh tác ổn định từ trước năm 2015; nếu thu hồi sẽ cần rất nhiều kinh phí…

Tại tỉnh Quảng Nam, ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng cho biết để triển khai thực hiện kịp thời và hiệu quả Nghị quyết số 112, tỉnh này đã đề nghị Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) trình Chính phủ hỗ trợ kinh phí với tổng số tiền trên 87,2 tỷ đồng để tỉnh tiếp tục thực hiện “Đề án tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” và hỗ trợ kinh phí hơn 6,9 tỷ đồng để thực hiện dự án cắm mốc ranh giới cho 3 công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Để làm rõ hơn thực tế trên, ngày 22/4/2021, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã liên hệ Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường và được giới thiệu chuyển nội dung tới ông Lê Thanh Khuyến, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai. Thế nhưng sau gần 1 tháng rưỡi im lặng, với nhiều lần “đá bóng” phát ngôn từ cấp trên xuống cấp dưới, ngày 4/6, người viết mới nhận được phản hồi từ đơn vị này.

Theo đó, ông Bùi Văn Hải – Cục trưởng Cục Kiểm soát quản lý và sử dụng đất đai (người được giao trả lời) cho biết: Đối với các kiến nghị của các tỉnh về kinh phí, Tổng cục quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổng hợp đầy đủ, nghiên cứu và phối hợp với các bộ, ngành khác như Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn… báo cáo Chính phủ để từng bước giải quyết.

Trang trại quy mô với ao cá, hồ phong thủy… của ông Trần Quý Kiên – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Tài nguyên và Môi trường. (Ảnh chụp năm 2018)

Có yếu tố nhóm lợi ích chi phối rất lớn

Không thể phủ nhận thực tế khách quan ở một số địa phương chậm bố trí đất cho đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu hoặc không có đất sản xuất sử dụng ổn định là do “tỉnh nghèo” – thiếu kinh phí. Song nhiều ý kiến chuyên gia cũng cho rằng nguyên nhân chủ quan là do các đia phương chưa chủ động trong việc thực hiện.

Thậm chí, không ít nơi, chính quyền địa phương thu hồi đất của lâm trường nhưng lại không giao cho người dân tại chỗ mà giao cho các công ty tư nhân. Các lâm trường có nhiều đất cũng giao lại cho những người giàu có và quyền lực. Trong bối cảnh thiếu đất, đói nghèo, người dân đã canh tác trên phần diện tích mà nhà nước đã giao cho lâm trường, điều này làm phát sinh mâu thuẫn đất đai tại địa phương.

Với kinh nghiệm tham gia nghiên cứu thực tế về thực trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm trường cho Hội đồng Dân tộc, chuyên gia lâm nghiệp Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cho rằng một phần “trở ngại” bấy lâu nay là do có yếu tố “nhóm lợi ích chi phối rất lớn.”

Cùng với đó là hiện tượng quan chức chiếm đất để tư lợi và đây cũng là rào cản khiến công tác bàn giao đất cho người dân nghèo vẫn bị vướng, bị tắc nghẽn.

Đơn cử như tại Đắk Nông, trong năm 2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông đã quyết định thi hành kỷ luật, cách chức một loạt cán bộ do để xảy ra nhiều sai phạm liên quan đến việc giao đất, giao rừng không đúng quy định. Điển hình như trường hợp ông Trần Đình Mạnh, Phó giám đốc Sở Khoa học và công nghệ (nguyên là Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Tuy Đức) – trong quá trình công tác, ông Mạnh đã “vun vén gia đình” khi để cấp dưới làm sai trong việc “hợp thức hóa hồ sơ” để vợ mình nhận chuyển nhượng từ người khác và được cấp 4 sổ đỏ (diện tích 15,7ha) từ diện tích đất rừng mà gia đình ông thuê của Nhà nước.

Hiện tượng quan chức chiếm đất để tư lợi cũng là rào cản khiến công tác bàn giao đất cho người dân nghèo vẫn bị vướng, bị tắc nghẽn

Cùng bị kỷ luật bằng hình thức cách tất cả chức vụ trong Đảng nhiệm kỳ 2005-2010, 2010-2015, ông Phạm Đặng Quang – Phó trưởng Ban thi đua khen thưởng tỉnh Đắk Nông (nguyên phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đăk G’Long) trong quá trình công tác cũng đã để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong công tác giao đất, giao rừng, cho thuê đất rừng không đúng quy định.

Hay như ở Hà Nội, trước đây, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Kết luận số 1806/KL-BTNMT ngày 15/5/2013 chỉ rõ những vi phạm trong quản lý, giao khoán đất đai của Nông trường Việt Mông (tại huyện Ba Vì). Nhưng không lâu sau đó, theo phản ánh của cử tri, đến cuối tháng 11/2014, ông Trần Quý Kiên – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Tài nguyên và Môi trường lại “gom” đất thông qua việc “mua bán viết tay” gần 8.000m2 đất (trị giá tại thời điểm đó là 1,7 tỷ đồng) với ông Đỗ Quốc Chiến tại đội 5 thôn Phú Yên, xã Yên Bài, huyện Ba Vì để làm trang trại. Việc mua bán này đã được Ủy ban Nhân dân xã Yên Bài xác nhận.

Sau đó, ông Kiên mua thêm 10.000m2 đất nữa của một số hộ lân cận, nâng tổng số diện tích đất lên 18.000 m2. Toàn bộ diện tích “gom” được, ông Kiên đã “thiết kế” thành một trang trại quy mô với ao cá, hồ phong thủy và nhà nghỉ dưỡng…

Trả lời báo chí bên hành lang Quốc hội trong năm 2018 về việc mua bán đất nông lâm trường trên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho hay “ở đây anh Kiên không làm việc với Nông trường Việt Mông mà mua lại quyền giao khoán của người dân để canh tác.” Dù vậy, ông Hà cũng lưu ý rằng “đây hoàn toàn là vấn đề cá nhân, chỉ có anh Kiên mới có thể giải thích, bảo vệ cho mình.”

Công trình xây dựng sai phạm xây dựng trên đất lâm nghiệp tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. (Ảnh Thành Đạt/TTXVN)

Những trường hợp nêu trên dù mới chỉ là một phần nổi của “tảng băng chìm” trong bức tranh hiện trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm trường, song đã phần nào cho thấy những tác động ngầm trong công tác quản lý, khiến khả năng tiếp cận đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thiếu đất càng trở nên khó khăn.

Nguyên nhân thứ hai được ông Hồng chỉ ra là hiện vẫn còn “khoảng trống” chính sách. Tức là quy định trong văn bản pháp luật của Nhà nước đã nêu rất cụ thể về trách nhiệm quản lý, sử dụng đất nông lâm trường cho nhiều ngành, cơ quan khác nhau, nhưng lại không giao cho một đơn vị nào chịu trách nhiệm chính để thi hành.

Đơn cử là hiện nay các nông lâm trường, công ty lâm nghiệp thuộc quyền quản lý của tỉnh, trong khi đất đai thuộc quyền quản lý của ngành tài nguyên và môi trường; sản xuất lâm nghiệp thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn… “Đây là lỗ hổng rất lớn dẫn tới tình trạng các bên đùn đẩy trách nhiệm, cũng như thiếu sự chủ động trong việc giải quyết,” ông Hồng nhấn mạnh./.

Bài 4: Trả đất về địa phương quản lý: Không thể để mãi cảnh “quýt làm, cam chịu”

Trả đất về địa phương quản lý: Không thể để mãi cảnh “quýt làm, cam chịu”

TRẢ ĐẤT VỀ ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ:

KHÔNG THỂ ĐỂ MÃI CẢNH ‘QUÝT LÀM CAM CHỊU’

Bày tỏ quan điểm trước những bất cập trong việc trả đất theo kiểu “dễ làm, khó bỏ” của các ban quản lý, công ty nông lâm trường có thể sẽ tiếp tục dẫn tới khiếu kiện, gây thất thoát tài nguyên quốc gia, đại diện lãnh đạo các địa phương và giới chuyên gia cho rằng không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý “quýt làm, cam chịu.”

Vì thế, để giải quyết thực tế trên, Chính phủ cần tiếp tục quyết liệt chỉ đạo các cấp, ngành tập trung rà soát, kiểm tra trên địa bàn từng xã để có phương án xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp, làm rõ trách nhiệm của từng bên liên quan.


Phải rà soát, đo đạc kỹ đất đai trước khi bàn giao

Như VietnamPlus đã phản ánh trong bài trước, một trong những vướng mắc trong việc giải quyết vấn đề đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời gian qua là bởi phần lớn các địa phương thiếu kinh phí nên không chủ động xây dựng phương án đổi mới mà để các nông, lâm trường “tự rà soát, tự đánh giá.”

Thế nhưng, khi địa phương “đá” trách nhiệm, các ban quản lý, công ty nông lâm nghiệp lại tiếp tục “làm phương án thật hay” là vẫn quản lý, sử dụng gần như được hết toàn bộ diện tích được giao; chỉ có những chỗ nào mất rừng, thực sự bị tranh chấp, bị lấn chiếm, không thể quản lý được nữa – mới trả lại và cũng không rà soát, đánh giá cụ thể để giải quyết các vướng mắc, mâu thuẫn trước khi bàn giao. Từ dó dẫn tới thực trạng nhiều địa phương “không mặn mà” trong việc nhận lại đất.

Cây cà phê trồng trên diện tích lấn chiếm đất rừng tại xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn TTXVN)

Chia sẻ với người viết về thực tế trên tại địa phương, ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum thừa nhận mặc dù Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 112/2015/QH13 về “tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng,” nhưng sau 5 năm, việc điều chỉnh lại đất đai vẫn chưa được kết quả mong muốn.

“Riêng diện tích trả về, nhất là rừng, hiện rất phức tạp bởi có phần diện tích thì chồng lấn, giao nhầm, phần công ty lâm nghiệp không sử dụng nữa hoặc sử dụng không tốt để dân xâm lấn nên giờ các công ty mới trả lại. Chưa kể phần đất trả lại, ngày xưa đã là của dân nhưng một số công ty vẫn khoanh lại thành lâm trường. Thậm chí, đất trụ sở ủy ban xã, người ta cũng khoanh luôn. Lý do là ngày xưa, các nông lâm trường thuê tư vấn chụp ảnh vệ tinh nên cứ thấy chỗ nào xanh xanh là coi như rừng, cũng chẳng căn cứ theo hiện trạng trên thực địa,” ông Lộc nhấn mạnh.

“Phần đất trả lại, ngày xưa đã là của dân, nhưng một số công ty vẫn khoanh lại thành lâm trường. Thậm chí, đất trụ sở ủy ban xã, người ta cũng khoanh luôn.”

Ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum

Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum cũng khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những phần diện tích nêu trên rất phức tạp. Nếu cấp thì phải làm rõ hiện trạng và phải có phương án sử dụng đất được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt là đất đó sẽ dùng cho mục đích gì thì mới cấp được.

Từ thực tế nêu trên, ông Lộc nêu quan điểm: Để giải quyết được hiệu quả phần đất nông, lâm trường trả về cho địa phương thì cần phải xử lý triệt để các vướng mắc. Đầu tiên là công ty lâm nghiệp trả về thì phải tiến hành đo đạc, kiểm tra và ai làm mất rừng thì phải quy trách nhiệm cụ thể rồi mới trả về địa phương…

“Nếu bàn giao một cục thì sẽ không địa phương nào giám nhận, bởi vướng tài sản trên đất và cũng rất khó bóc tách để cấp sổ đỏ. Chưa kể, nếu nhận mai mốt quy trách nhiệm là đã để mất rừng, ai sẽ chịu? Trong khi, ngành tài nguyên chỉ quản lý đất, còn tài sản trên đất là rừng thì chúng tôi không quản lý. Vì thế, việc để mất rừng hay không là do ngành lâm nghiệp quản lý và phía lâm nghiệp phải làm rõ,” ông Lộc nói.

Có chung quan điểm, ông Trần Văn Sỹ, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho rằng đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường là một loại “tài sản to.” Tuy nhiên, thực hiện theo Nghị định số 118 của Chính phủ, phần diện tích đất nông lâm trường trả về cho địa phương quản lý chưa có kinh phí để đo, cũng chưa có kế hoạch sử dụng đất cụ thể nên một số huyện chưa nhận.

Theo ông Sỹ, khó khăn hiện tại đang gây “tắc” là quy hoạch mới chưa có, quy hoạch cũ thì không còn chỉ tiêu. “Hơn nữa, các công ty lâm nghiệp không quản lý được dẫn tới tranh chấp, để mất đất thì khi bàn giao về địa phương cần phải làm rõ là bàn giao những gì? càphe, cao su đã trồng bao lâu? còn bao nhiêu đất trống? bao nhiêu đất đang xảy ra tranh chấp? bao nhiêu căn nhà đã xây trên đó?” ông Sỹ nhấn mạnh.

Ngoài ra, nhiều diện tích đất bàn giao về địa phương, trước đây nông trường, lâm trường đã giao khoán, cho thuê, cho mượn và liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư. Nhiều diện tích bị lấn, bị chiếm, đang tranh chấp. Thậm chí, nhiều trường hợp đã thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng phi chính thức, không đúng theo quy định.

Từ thực tế nêu trên, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Lắk cho rằng trước khi bàn giao đất về địa phương quản lý, sử dụng, các công ty lâm nghiêp cần phải làm rõ hiện trạng diện tích. “Có tách bạch được việc đo đạc trước khi bàn giao thì địa phương mới nhận được; không thể ngày xưa giao cho ông một cục đất sạch giờ ông lại trả một mớ mà không đánh giá gì được,” ông Sỹ nói.

Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk cũng nêu quan điểm để giải quyết vướng mắc trên, việc cần thiết hiện nay là cần tổ chức điều tra, rà soát thực trạng, thống kê tình hình người dân lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn.

Cùng với đó, các bên liên quan cần tổ chức kê khai diện tích đất xâm lấn trên lâm phần của các chủ rừng làm cơ sở cho việc phân loại đối tượng, diện tích, thời điểm lấn chiếm; đề xuất chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với một số diện tích đất lâm nghiệp không còn rừng để cấp cho các hộ dân thuộc đối tượng dự án bố trí và sắp xếp ổn định dân di cư tự do để người dân yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế.

Sau 5 năm tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh, việc điều chỉnh lại đất đai tại nhiều địa phương vẫn chưa được kết quả mong muốn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cần phải có hệ thống thông tin đất đai minh bạch

Với kinh nghiệm nhiều năm phụ trách công tác quản lý về đất đai, giáo sự Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng câu chuyện trên cũng là thực trạng thực tế đang xảy ra tại hầu hết các địa phương trên cả nước. Lý do là chính sách đất đai lâm nghiệp liên quan tới diện tích khá rộng có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh chưa phù hợp với cuộc sống thực tế.

Trong quá trình thực hiện trước đây – Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh,” diện tích đất các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương không đáng bao nhiêu so với tổng diện tích đất giữ lại. Đến năm 2014, khi thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp,” diện tích rừng giao về cho địa phương lại thường là đất xấu, đất xa khu dân cư nên đồng bào dân tộc thiểu số cũng không muốn nhận.

Ngay cả Nghị quyết số 112/2015/QH13 về “tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông, lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng,” trong nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, chủ trương của ta chủ yếu vẫn là dựa vào Nhà nước. Trong khi, thực chất Nhà nước không đủ con người, tài chính để thực hiện.

Qua phân tích nêu trên, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng chủ trương trên cần được đổi mới, chuyển sang cách thức lấy động lực từ dân, dựa chủ yếu vào sự tham gia của dân vào bảo vệ và phát triển rừng gắn với hưởng lợi từ rừng. Bởi lẽ rừng từ xưa tới nay là sinh kế của cộng đồng dân cư miền núi, họ bảo vệ vì chính sinh kế của họ, nhất là các cộng đồng truyền thống có luật tục riêng.

“Chính sách đất rừng cần được hoạch định dựa trên nguyên tắc lợi ích, nhìn thẳng vào lợi ích cụ thể từ đất đai”

Giáo sự Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

“Vì thế, chính sách đất rừng cần được hoạch định dựa trên nguyên tắc lợi ích, nhìn thẳng vào lợi ích cụ thể từ đất đai. Khi không tiếp cận theo lợi ích thì chính sách vẫn chỉ nằm trên giấy và sẽ không thể thực thi trên thực tế. Đặc biệt, khi để các công ty nông, lâm nghiệp tự rà soát đất đai mình đang nắm giữ thì khó có thể có được dữ liệu thực. Ngay cả khi chuyển về địa phương, chưa chắc địa phương đã giao cho các cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất,” ông Võ nhấn mạnh.

Có chung quan điểm, chuyên gia lâm nghiệp Ngô Văn Hồng-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển, cho rằng trong bối cảnh hiện nay cần phải có hệ thống thông tin đất đai nông lâm trường quốc doanh một cách minh bạch để nhân dân, đại biểu nhân dân, chính quyền địa phương và các tầng lớp xã hội giám sát, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất đai.

Dẫn lại câu nói của Bác Hồ “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong,” ông Hồng cho rằng nếu người dân địa phương được tham gia góp ý, tham gia giám sát, chắc chắn sẽ đảm bảo được tính minh bạch về nguồn gốc đất đai.

Ngoài ra, ông Hồng cũng nêu quan điểm bên cạnh việc minh bạch hệ thống dữ liệu đất đai, Nhà nước cần quy trách nhiệm rõ ràng, không thể để mãi cảnh “quýt làm, cam chịu” được. Theo đó, đơn vị nào được nhà nước giao thực hiện quản lý mà không thực hiện hoặc để xảy ra vi phạm thì lãnh đạo đơn vị đó phải bị xử lý, phải chịu trách nhiệm. Có như thế thì những vấn đề vướng mắc về đất đai mới thực sự được giải quyết.

Xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực

Bên cạnh các giải pháp tháo gỡ vướng mắc từ cơ chế chính sách cũng như bất cập trong quá trình quản lý, thực thi, các chuyên gia cũng đặc biệt lưu ý rằng trong bối cảnh việc “giải phóng” nguồn lực đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số đang gặp khó khăn, các địa phương cần tính đến phương án xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực (vốn, nhân lực…) tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế dưới những tán rừng; phát huy vai trò chủ thể của người nông dân trong quá trình giải quyết tình trạng sản xuất trên đất lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, lợi thế đất đai.

Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến, Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) việc huy động nguồn lực đầu tư phát triển gắn với quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng có hiệu quả, đảm bảo đúng mục đích sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội bền vững.


Về việc lựa chọn nhà đầu tư, tiến sĩ Trương Thị Hạnh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên cho rằng đối với các công ty mới, khi triển khai các dự án, phương án thực hiện cần phải chặt chẽ các quy trình theo quy định của pháp luật; các sở, ngành liên quan trước khi tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt, lựa chọn nhà đầu tư cần phải thẩm định kỹ năng lực của chủ đầu tư, hiệu quả của dự án.

Trước khi địa phương tiến hành giao rừng phải thực hiện công tác kiểm kê, phân loại rừng, lập biên bản giao đất, giao rừng ngoài thực địa đúng với hiện trạng rừng vốn có; các công ty cần xác định chiến lược kinh doanh để nhận diện tích vừa đủ, tránh quá khả năng dẫn đến “ôm” nhiều đất nhưng quản lý kém, không hiệu quả.

Tính đến thời điểm tháng 12.2018, tại Gia Lai, 16 doanh nghiệp xin chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su trên địa bàn đã trồng được 25.000 cao su thì có hơn 12.000ha bị chết, sinh trưởng kém. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Góp thêm ý kiến, ông Đậu Công Hiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng cần có một cơ chế đủ mạnh, đủ thuyết phục, hài hòa được lợi ích các bên liên quan trong việc thu hồi, giao đất. Trong khi chưa có được cơ chế như mong muốn, trước mắt cần công khai các qúa trình thu hồi – giao đất.

Việc công khai cần thực hiện cả 2 chiều: Bên nhận đất thu hồi (diện tích đất), bên nhận giao đất (ai được nhận, để làm gì) để các bên theo dõi, kiểm tra. Cùng với đó, cần có chế tài đủ mạnh đối với những chủ thể nhận giao nhưng không sử dụng đúng tiến độ và mục đích sử dụng.

“Cùng với đó, Nhà nước cần thường xuyên rà soát, đánh giá để đưa ra những giải pháp tốt hơn cho quá trình hậu thu hồi đất,” ông Hiệp nhấn mạnh.

Ngoài ra, ông Hiệp cũng đề xuất giải pháp tái cơ cấu lại hệ thống chiếm hữu và quản lý đất đai; sắp xếp lại các công ty nông lâm nghiệp nhà nước. Theo ông Tiến, việc tiếp tục sắp xếp lại các công ty nông, lâm nghiệp nhà nước là một vấn đề lớn.

Tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk ngày 30/6/2021, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết trong quá trình giám sát đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường, Quốc hội rất “sốt ruột” vấn đề này. (Ảnh: TTXVN phát)

Tuy nhiên, việc các công ty này hoạt động với nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn phục vụ mục đích kinh doanh là không đáp ứng các yêu cầu của phát triển bền vững, khiến các công ty không có động lực để giữ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học.

Do đó, theo ông Hiệp, việc quản lý đất nông lâm trường cần nghiên cứu chuyển đổi sang các mô hình khác và đảm bảo rằng nhà nước chỉ thực hiện các nhiệm vụ tối thiểu là bảo vệ môi trường sống, tuyệt đối không đầu tư kinh doanh vì đây là lĩnh vực rất dễ xảy ra tham nhũng, gây lãng phí.

Tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk chiều 30/6, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đề nghị Đắk Lắk rà soát lại vấn đề quản lý, sử dụng đất đai ở các nông lâm trường, tránh tình trạng để lãng phí, chưa có kế hoạch sử dụng trong khi người dân vẫn thiếu đất ở, đất sản xuất.

Theo Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, đất đai mà các công ty nông, lâm trường chuyển về địa phương là khá lớn nhưng chưa được đo vẽ, cắm mốc, lập bản đồ địa chính vẫn còn rất nhiều. Số lượng diện tích đất chưa bàn giao, chưa nhận hoặc nhận bàn giao rồi nhưng chưa có kế hoạch sử dụng cũng còn rất lớn. Đó cũng là lý do mà trong quá trình giám sát, Quốc hội rất “sốt ruột” vấn đề này.

Vì thế, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đề nghị Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Lắk nên có kế hoạch giám sát vấn đề này, nhất là đất đai tại các công ty thuộc Tổng công ty cà phê, cao su… Ngoài ra, tới đây, Quốc hội cũng sẽ xem xét tái giám sát vấn đề này để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai.

Bài cuối: Cần một ‘cuộc cách mạng’ về đất nông lâm trường quyết liệt hơn

‘Phát canh thu tô’: Mô hình liên kết ‘tư lợi’ trên lưng dân nghèo

‘PHÁT CANH THU TÔ’: MÔ HÌNH LIÊN KẾT

‘TƯ LỢI’ TRÊN LƯNG DÂN NGHÈO

Phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã nhận được nhiều thông tin phản ánh của người dân, giới chuyên gia cho thấy rằng trong nhiều năm qua, một số địa phương đã mặc tình cho các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp lợi dụng chính sách giao đất, giao rừng để chuyển nhượng đất đai, liên kết sản xuất làm giàu trên lưng của người dân nghèo.

Điều đáng nói là, việc liên doanh liên kết theo kiểu “phát canh thu tô” này đã khiến công tác quản lý đất nông, lâm trường tại nhiều địa phương bị đảo lộn, dẫn tới làn sóng chuyển nhượng, mua-bán đất từ người này qua nhiều người khác.


1

LÂM TRƯỜNG “ĐẮC LỢI” – DÂN OẰN MÌNH CHỊU KHỔ

Hơn 15 năm trước, ông Nguyễn Đình Thìn – người dân ở tỉnh Hà Nam quyết định xa quê, vào xã Cư Ealang (huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk) lập nghiệp. Sau một thời gian đi làm thuê, làm mướn cho người dân trên địa bàn, ông quyết định mua lại đất của chủ cũ để chủ động phát triển sản xuất với khát vọng “biến sỏi đá thành cơm.”

Đến nay, quyết định của ông Thìn đã thành hiện thực khi đang “sở hữu” một khu rẫy rộng lớn bạt ngàn cao su và mít cao sản. Dù vậy, cuộc sống của gia đình ông Thìn vẫn gặp phải vô vàn khó khăn. Nguyên nhân chính là bởi cơ chế liên doanh liên kết do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp EaKar đặt ra, khiến gia đình ông và nhiều người dân trong xã phải oằn mình gánh vác…

Chỉ ra một loạt bất hợp lý khiến gia đình mình bị vắt kiệt sức người lẫn sức của, ông Thìn buồn bã kể: Từ nhiều năm trước, gia đình ông đã nhận khoán đất do Công ty lâm nghiệp EaKar quản lý theo hình thức liên danh liên kết trồng mít cao sản. Theo đó, hàng năm gia đình ông phải đóng sản với những khoản phí rất bất công.

Theo hợp đồng liên kết sản xuất trồng mít cao sản, nhiều năm qua, ông Nguyễn Đình Thìn phải “đóng sản” cho Công ty lâm nghiệp EaKar 1-2 triệu đồng/ha/năm, dù phía công ty không hề bỏ ra một khoản chi phí hay có đóng góp gì. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Bất cập nhất là phí cây. Mỗi năm, nhà tôi phải nộp cho công ty từ 1-2 triệu đồng/ha; khi cây đến tuổi khai thác thì chia cây trên diện tích thực tế, công ty lâm nghiệp mặc nhiên hưởng 30%, trong khi họ không hề bỏ ra một khoản chi phí hay có đóng góp gì. Như thế, dân nghèo sao mà khá lên được,” ông Thìn giãi bày.

Câu chuyện ông Nguyễn Đình Thìn – 1 trong 63 “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2018,” đại biểu nông dân duy nhất của tỉnh Đắk Lắk được tham dự “Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X năm 2020” kể với tôi qua một cuộc điện thoại kéo dài tới gần 48 phút, khiến tôi không khỏi bất ngờ.

Khi đi vào tìm hiểu thực tế và cầm trên tay những bản chiết tính từ hồ sơ liên kết trồng mít cao sản của ông Thìn với công ty, tôi thật sự giật mình.

Năm 2013, với quyết tâm mở rộng quy mô sản xuất, ông Thìn bàn với vợ mua 11,7 hécta đất lâm nghiệp từ 2 cá nhân có địa chỉ tại tỉnh Tiền Giang và tỉnh Bình Phước (là những người từng nhận giao khoán, liên doanh liên kết trồng mít cao sản với Công ty lâm nghiệp EaKar, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, sản xuất kém hiệu quả nên đã bán lại đất) thông qua “giấy ủy quyền.” Việc này được Công ty lâm nghiệp EaKar xác nhận và tiếp tục ký hợp đồng liên kết trồng mít với hộ ông Thìn.

Theo hợp đồng trên, Công ty lâm nghiệp EaKar (bên A) có trách nhiệm giao diện tích đất lâm nghiệp cho hộ gia đình ông Thìn (bên B) để thực hiện trồng mít với mật độ 278 cây/ha; hướng dẫn kỹ thuật, chịu chi phí thiết kế kỹ thuật, chăm sóc, bảo vệ và đầu tư vốn ban đầu bằng 1/4 cây giống cho bên B (8.000 đồng/cây).

Đổi lại, bên B phải nộp bảo lưu hợp đồng cho bên A 25 triệu đồng và phải chấp hành theo chỉ đạo kỹ thuật của bên A; chịu chi phí cây giống còn lại, trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ. Khi trồng mít đến năm thứ 4 thì phải nộp sản cho bên A (quy ra thành tiền) 1 triệu đồng/ha, từ năm thứ 6 trở đi tăng lên 2 triệu đồng/ha. Khi mít đến tuổi khai thác thì bên A được hưởng “một cục” bằng 30% diện tích.

Vợ chồng ông Thìn chụp ảnh với tác giả khi đi thăm trang trại trồng mít của gia đình. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Hợp đồng quy định chi tiết là vậy, nhưng các bằng chứng mà ông Thìn cung cấp cho thấy bên A không hề bỏ ra một khoản chi phí nào, cũng không hướng dẫn kỹ thuật hay đầu tư vốn ban đầu cho bên B. Thế nhưng cứ “đến hẹn lại lên,” không cần biết người dân sản xuất có được hay không, Công ty lâm nghiệp EaKar vẫn gửi thông báo cho gia đình ông Thìn “đòi” 1/4 phí cây giống với đơn giá 1-2 triệu đồng/ha.

Thậm chí, đầu năm 2021, mặc dù tình hình sản xuất và đầu ra sản phẩm của gia đình ông Thìn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, nhưng Công ty lâm nghiệp EaKar vẫn ra thông báo yêu cầu gia đình ông Thìn phải nộp khoản phí 22,5 triệu đồng – đã trừ tiền miễn giảm cây bị chết sau nhiều lần kiến nghị.

“Nói thẳng ra là chúng tôi bị Công ty lâm nghiệp EaKar ‘gài’ câu chữ trong hợp đồng. Khi nhận ra thì đã muộn vì chúng tôi bỏ cả đống tiền đầu tư cây giống, cải tạo đất, mua thuốc, phân bón và trả tiền lương cho người lao động. Còn công ty lâm nghiệp không bỏ công sức gì vẫn ngồi hưởng. Liên kết như thế khác gì chiếc dao, công ty cầm cán, còn dân vất vả vẫn phải ngậm lưỡi,” ông Thìn bức xúc nói.

Cùng chung cảnh trên, nhiều hộ dân khác trên địa bàn xã Cư Ealang, sau nhiều năm liên kết cũng không thấy “lối thoát;” muốn đổi mới mô hình sản xuất, đưa công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào hỗ trợ sức người cũng rất bế tắc. Lý do là đất do Công ty lâm nghiệp EaKar quản lý, người dân dù mua lại, bỏ công bỏ sức khai hoang, sản xuất nhưng vì không có sổ đỏ nên cũng không thể vay vốn.

Ngay như trường hợp ông Thìn – hiện đang tạo công ăn việc làm cho hơn 10 lao động là người dân nghèo ở địa phương, hàng tháng tiếp hàng chục đoàn cán bộ phòng nông nghiệp của các huyện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và người dân ở các tỉnh lân cận đến học hỏi kinh nghiệp sản xuất trồng mít, nhưng gia đình ông cũng không thể phát triển hơn vì sổ đỏ đất đai đứng tên công ty lâm nghiệp.

2

NỞ RỘ LÀN SÓNG MUA, BÁN ĐẤT ĐAI DO BUÔNG LỎNG QUẢN LÝ

Hệ quả của thực trạng liên kết sản xuất theo kiểu “ngư ông đắc lợi” nêu trên đã khiến công tác quản lý đất nông lâm trường của Công ty lâm nghiệp EaKar bị đảo lộn khi nhiều người dân nhận giao khoán, bỏ tiền bạc đầu tư đã phải chuyển nhượng, dẫn tới làn sóng mua, bán đất từ người này qua nhiều người khác.

Thừa nhận với phóng viên VietnamPlus về thực trạng nêu trên, ông Nguyễn Phi Tiến, Phó Giám đốc Công ty lâm nghiệp EaKar cho biết ông vừa về tiếp quản công ty được hơn 3 tháng nhưng dữ liệu mà lãnh đạo trước để lại rất phức tạp, bởi nhiều hồ sơ đã bị thất lạc…

Dẫn ví dụ cụ thể, ông Tiến cho biết gần đây nhất, ông đã “truy” ra 106 hécta đất do ông Mai Sỹ Minh ở quân Đống Đa (Hà Nội) vào liên kết sản xuất với công ty từ thời 2017. Tuy nhiên, trường hợp này nhận đất mà không thực hiện sản xuất. Đáng nói là trước đây bộ phận văn thư cũng không hề lưu giữ hồ sơ, giấy tờ đến và đi.

“Trước đây, công ty liên kết với người dân lên tới hàng trăm hécta, cả hàng ngàn hồ sơ chứ không phải ít đâu. Một người ít nhất 2-3ha, nhưng ở đây người dân không phải ở một chỗ mà ở trên cả tỉnh, cả nước Việt Nam này. Cứ đụng đâu liên kết đó, ai xin cũng liên kết mà không hiệu quả. Chẳng hạn như cây cao su của một công ty ở trên địa bàn khác quản lý nhưng vẫn đem đến trồng ở đây, sau đó mới chống chế quay ngược lại làm hồ sơ liên kết,” ông Tiến cho hay.

Với cách thức liên kết mà lợi ích đổ dồn vào túi “một nhóm lợi ích” nêu trên thì Nhà nước không cần thiết phải giao đất cho các công ty lâm nghiệp quản lý. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Về việc công ty liên kết sản xuất với người dân và ăn chia sản phẩm, ông Tiến khẳng định là có. “Việc liên kết ở đây là ăn chia % sản phẩm theo nhiều hình thức khác nhau, có nơi công ty hưởng 30%, dân 70%; có hợp đồng công ty được 20%, dân 80%; thậm chí có liên kết công ty lại hưởng 60%…,” ông Tiến nói.

Tuy nhiên, trả lời về việc người dân phản ánh Công ty lâm nghiệp EaKar không hề bỏ ra kinh phí, vốn đầu tư ban đầu bằng 1/4 cây giống như hợp đồng nhưng vẫn thu sản 1-2 triệu đồng/ha/năm của dân, ông Tiến lý giải rằng: “Theo hợp đồng thì nếu công ty bỏ vốn đầu tư ban đầu (nếu có) thì mới thu. Việc không đầu tư mà vẫn ghi đầu tư, có thể là do bộ phận soạn văn bản trước đây nhầm lẫn nên mới xảy ra sai sót trong hồ sơ. Cái này, nếu làm sai thì cứ để cơ quan công an điều tra xử lý.”

Ông Tiến cũng lưu ý những hợp đồng trước đây có thể là do sự “thỏa thuận” giữa lãnh đạo cũ của công ty với người dân. Chứ công ty không hề bỏ ra khoản chi nào.

Về việc công ty liên kết sản xuất với người dân và ăn chia sản phẩm, ông Tiến khẳng định là có.

Theo tìm hiểu của phóng viên, phần lớn các hồ sơ liên kết trồng cao su, mít cao sản từ 3 năm trở về trước đều do ông Nguyễn Hồng Mạnh, nguyên là Giám đốc Công ty lâm nghiệp EaKa ký với người dân, có chữ ký và con dấu xác nhận của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Cư Ealang. Nhưng trong năm 2020, 8 người là dàn lãnh đạo công ty này, trong đó có ông Mạnh đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố, bắt tạm giam về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” do liên tục để xảy ra tình trạng khai thác gỗ, lấn chiếm đất rừng trái phép.

Trước đó, hồi tháng 11/2019, ông Mạnh đã từng bị Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đắk Lắk thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách do chưa làm tròn trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, phối hợp với cơ quan chức năng để quản lý và bảo vệ rừng.

Thực tế trên phần nào cho thấy công tác quản lý rừng, giao khoán, chuyển nhượng, sang nhượng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường do Công ty lâm nghiệp EaKar quản lý rất phức tạp. Lạ lùng hơn là việc liên kết trên lại được Ủy ban Nhân dân xã xác nhận. Để rồi, một chủ trương đúng đắn đã bị lợi dụng “phát canh thu tô,” làm giàu trên lưng người nghèo và có nguy cơ tiếp tục gây mất đất, mất rừng.

Việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu xác định nguồn gốc và cơ sở pháp lý trong việc quản lý đất đai của Công ty lâm nghiệp EaKar còn rất sơ sài, bị thất lạc. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

3

CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐÓNG GÓP CHO NHÀ NƯỚC RẤT HẠN CHẾ

Nói về thực trạng nêu trên, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk thừa nhận việc giao khoán ở một số công ty lâm nghiệp còn rất nhiều bất cập; một số nơi không còn đầu tư mà khoán trắng, thực hiện theo kiểu “phát canh thu tô” trong khi mức khoán không còn phù hợp; người nhận khoán không được quyền của người sử dụng đất như các hộ nông dân ở địa phương, dẫn đến người dân không đồng thuận và không muốn tiếp tục hợp tác với công ty.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, giá nông sản xuống thấp đã gây rất nhiều khó khăn cho các hộ nhận khoán. Một số công ty lâm nghiệp không thể hiện được vai trò trong việc tổ chức, chỉ thu sản phẩm của các hộ nhận khoán để duy trì bộ máy; việc thiết lập và lưu trữ hồ sơ, tài liệu xác định nguồn gốc và cơ sở pháp lý trong việc quản lý đất đai trước đây còn rất sơ sài, thiếu rõ ràng vì bị thất lạc. Thực tế trên đã khiến tranh chấp, khiếu kiện về đất đai diễn biến thêm phức tạp…

Nhiều công ty lâm nghiệp trên cả nước chỉ “ngồi một chỗ” liên kết với người dân và cũng không có hướng dẫn, bỏ ra kinh phí gì nhưng sau ít năm lại “phát lệnh” thu tiền

Mở rộng ra cả nước, ông Triệu Văn Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc của Quốc hội cũng khẳng định qua giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 112/2015/QH 13 của Quốc hội, cơ bản việc liên kết nêu trên là “phát canh thu tô.” Tức là công ty lâm nghiệp được Nhà nước giao đất để quản lý, bảo vệ, làm lợi cho người dân và ngân sách nhà nước, nhưng con số các nông, lâm trường, nhất là các công ty lâm nghiệp đóng góp cho nhà nước lại không đáng kể, thậm chí gần như không được gì.

Thực tế dễ thấy là, nhiều công ty lâm nghiệp ở trên cả nước, nhất là các tỉnh khu vực Tây Nguyên chỉ “ngồi một chỗ” liên kết với người dân khắp nơi và cũng không có hướng dẫn, bỏ ra kinh phí gì nhưng sau ít năm lại “phát lệnh” thu tiền…

Theo ông Bình, với cách thức liên kết mà lợi ích đổ dồn vào túi “một nhóm lợi ích” nêu trên thì Nhà nước không cần thiết phải giao cho các công ty lâm nghiệp, mà giao thẳng cho địa phương. Như vậy, người dân sẽ có cơ hội để phát triển sản xuất và nếu nộp thuế, phí cũng sẽ nộp thẳng cho Nhà nước.

Nhìn nhận ở góc độ chuyên gia, ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên cho rằng qua thực tế nêu trên, Nhà nước cần đánh giá lại mô hình nông lâm trường cũng như các công ty trách nhiệm hữu hạn lâm nghiệp một thành viên hiện nay, xem có còn phù hợp với xu thế phát triển hay không?

“Nếu mô hình này trên thực tế không còn hiệu quả, cần tính đến việc chuyển đổi hệ thống này thành 2 loại cơ bản: Những diện tích đất còn rừng phòng hộ và đặc dụng cần chuyển sang các ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ. Các khu vực đã bị chuyển đổi sang sản xuất nông, lâm nghiệp nếu khó có khả năng phục hồi cần quy hoạch lại để chuyển cho địa phương quản lý, bố trí sản xuất,” ông Nguyên chia sẻ./.

Bài 3: ‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Mệnh lệnh vẫn còn cách xa thực tế?