Tư lệnh Phòng chống dịch COVID-19

Những ngày cuối tháng Tư đầu tháng Năm mùa Hạ đỏ lửa cũng là khi COVID-19  bùng phát đợt dịch thứ 4 với nhiều diễn biến mới, phức tạp hơn kéo dài đến tận tháng Chín với con số mắc bệnh lên đến kỷ lục: 473.530 ca (tính từ 27/4 đến 18h ngày 1/9/2021), trong đó có 11.868 người đã không qua khỏi.

Như vậy, chỉ trong vòng 4 tháng, số ca bệnh đã gấp hơn 100 lần so với thời gian trước đó, kể từ ca bệnh đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam  vào tháng 2/2020 đến thời điểm 27/4, toàn quốc chỉ mới ghi nhận 4.214ca. Con số người thiệt mạng vì virus SASR-CoV-2, thời gian trước 27/4 cũng chỉ là con số lẻ (65) so với con số của hơn 120 ngày qua (11.064).

Điểm lại các con số để thấy rằng, đợt dịch thứ 4 này thực sự ác hiểm, khi những con số vẫn cứ tiếp tục tăng lên dẫu cả hệ thống chính trị, toàn xã hội đã vào cuộc ngay với mục tiêu cao nhất là đẩy lùi dịch bệnh, đặt tính mang và sức khỏe của nhân dân lên hàng đầu.

Ngay khi có dấu hiệu dịch bùng phát, vào ngày 2/5, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chủ trì cuộc họp khẩn về phòng chống COVID-19 để thảo luận các giải pháp hiệu quả cần tập trung thực hiện để đẩy lùi, ngăn ngừa dịch bệnh.

Người đứng đầu Chính phủ, khi đó đã yêu cầu phải kích hoạt mọi phương án phòng chống dịch, để sẵn sàng phát hiện nhanh, thần tốc khoanh vùng và bao vây dập dịch… trên tinh thần phân cấp triệt để cho các cấp, các ngành chủ động, sáng tạo, phát huy hết năng lực, sở trường cũng như điều kiện của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, đồng thời gắn với trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị trong phòng chống dịch và khắc phục hậu quả một cách hiệu quả nhất; cá thể hóa trách nhiệm cá nhân, tăng cường phân cấp, giám sát, kiểm tra của cơ quan chức năng.

Điểm cốt yếu được Thủ tướng nhắc nhở khi đó chính là “Không được có tâm lý chủ quan, lơ là, mất cảnh giác để dẫn đến hậu quả khó lường”.

Sau đó 3 ngày, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2021 vào ngày 5/5, người đứng đầu Chính phủ đã chỉ đạo: Chúng ta phải có cách tiếp cận mới, tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mới, tạo cơ sở cho tổ chức thực hiện. Theo đó, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần: “chuyển trạng thái phòng chống dịch từ phòng ngự sang chủ động tấn công, song phải hài hòa giữa phòng ngự và tấn công, bảo đảm hiệu quả cao nhất.” Và, một trong hướng tấn công mũi nhọn, tổng lực mà Thủ tướng đưa ra đó chính là: Chiến lược vaccine.

Quay trở lại câu chuyện vaccine, vào thời điểm trước khi đợt dịch thứ 4 bùng phát, những liều vaccine đầu tiên về Việt Nam được nhìn với sự e dè. E dè cũng phải thôi, ngay trên thế giới cũng có một trường phái nói không với vaccine (mọi loại vaccine), mà vaccine phòng chống COVID-19 lại là một loại quá mới.

Một thực tế khác, vaccine cũng không có nhiều, những nước giàu có, họ đã xếp hàng để mua cho người dân từ rất sớm, khi mà dịch bệnh tại xứ sở của họ bùng phát. Việt Nam khi đó, mới chỉ có vài trăm ca bệnh, số tử vong mấy chục người chưa phải là địa bàn được ưu tiên để mua vaccine.

Quyết sách “tấn công dịch bệnh” bằng “vũ khí vaccine” của người đứng đầu Chính phủ là một chiến lược hoàn toàn mới và vô cùng đúng đắn, kịp thời.


Theo tính toán, để tiêm được cho 75 triệu dân, nguồn lực cần khoảng 25.200 tỷ đồng, trong đó, ngân sách đã chuẩn bị được hơn 14.000 tỷ đồng, đã huy động được 8.645 tỷ đồng (đến 30/8). Hiện, tổng số liều vaccine phòng COVID-19 Việt Nam đã đàm phán và được cam kết là 149,9 triệu liều.


Trong điều kiện “chống dịch như chống giặc,” khan hiếm vaccine phòng chống COVID-19 trên toàn cầu, để sớm có vaccine và triển khai tiêm vaccine trên diện rộng cho nhân dân, Thủ tướng đã ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 18/5/2021, trong đó yêu cầu Bộ Y tế và các bộ, ngành nêu cao tinh thần trách nhiệm vì sức khỏe nhân dân, sức khỏe cộng đồng, lợi ích của quốc gia, dân tộc; cùng cộng đồng trách nhiệm, thống nhất thực hiện các giải pháp để có vaccine sớm nhất.

Nghị quyết cũng nêu rõ, đây là tình huống cấp bách, vì thế việc mua vaccine phải được xử lý theo quy định của pháp luật về các trường hợp đặc biệt, cấp bách và phải được thực hiện ngay, đẩy nhanh việc tiếp cận mua, nhập khẩu các nguồn vaccine song song nhận chuyển giao công nghệ, đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu và sản xuất vaccine trong nước; tổ chức tiêm chủng cho hiệu quả, chủ động phòng ngừa sự cố và giải thích rõ khi có sự cố. Thủ tướng nhấn mạnh, thành công của một chiến dịch tiêm chủng là phải đảm bảo tất cả các quốc gia và tất cả mọi người đều được hưởng lợi, bao gồm cả những người khó tiếp cận nhất theo quan điểm “vaccine tốt nhất là vaccine tiêm sớm nhất.”

Để đảm bảo nguồn tài chính vững bền chiến lược vaccine, Quỹ vaccine phòng COVID-19 Việt Nam đã được thành lập để huy động các nguồn lực cho việc mua và sản xuất vaccine, đảm bảo an ninh vaccine của Việt Nam. Sau 3 tháng kể từ khi ra mắt, cơ chế tài chính vừa huy động tổng lực đóng góp của xã hội, tập đoàn, doanh nghiệp, cá nhân đồng thời đảm bảo ngân sách Nhà nước để đảm bảo vaccine cho người dân này đã thu hút 8.645 tỷ đồng, trong đó đã có 282 tỷ đồng được chi dùng để mua vaccine.

Việc quyết tâm triển khai Chiến lược vaccine được thể hiện qua chính sách ngoại giao vaccine rộng rãi. Người đứng đầu Chính phủ đã không ngại ngần trong việc chủ động yêu cầu sự giúp đỡ của các quốc gia, các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài mà ông có điều kiện tiếp cận thông qua điện đàm, gặp gỡ…


Cho đến 31/8, tổng số vaccine COVID-19 về Việt Nam từ nhiều nguồn khác nhau là hơn 27 triệu liều, riêng vaccine AstraZeneca có hơn 17 triệu, Moderna có hơn 5 triệu, Pfizer có khoảng 3 triệu, vaccine Sinopharm có 2,5 triệu và 12.000 liều vaccine Sputnik V. Trong số này, hơn 14 triệu liều ( 14.169.000) là được tặng, viện trợ từ chính sách ngoại giao vaccine.


Sau hơn 3 tháng quyết liệt triển khai, Chiến lược vaccine đã đạt được những thành quả đáng khâm phục. Vào thời điểm tháng 5/2021 chúng ta mới chỉ có 2,9 triệu liều vaccine được mua và cấp thông qua chương trình COVAX, nhưng đến ngày 31/8 số vaccine được tài trợ, nhập khẩu về là hơn 27 triệu liều. Đã có hơn 20 triệu liều được tiêm cho người dân thuộc “vùng nóng,” những đối tượng ưu tiên… trong đó, gần 3 triệu liều là tiêm mũi thứ 2.

Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, có khả năng kéo dài, nhất là tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam, gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch và các hoạt động kinh tế – xã hội, tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống của nhân dân, vào sáng 24/8, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì buổi làm việc với tập thể lãnh đạo chủ chốt về công tác phòng chống dịch Covid-19.

Hội nghị đã thống nhất phân công Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch (Ban Chỉ đạo). Theo đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ trực tiếp chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, đáp ứng yêu cầu huy động nhanh nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực, biện pháp để sớm ngăn chặn, kiểm soát dịch bệnh trên phạm vi cả nước.

“Thống nhất chủ trương đối với các kiến nghị của Chính phủ về các giải pháp huy động lực lượng, bổ sung nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch, Tổng Bí thư yêu cầu Ban cán sự đảng Chính phủ phối hợp chặt chẽ với Đảng đoàn Quốc hội triển khai các bước để khẩn trương cụ thể hóa, bố trí ngay nguồn nhân lực, vật lực cần thiết cho các cấp, ngành, địa phương; đồng thời tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc thực hiện nghiêm túc, hiệu quả” – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Lãnh đạo chủ chốt về công tác phòng, chống dịch COVID-19 (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Ngay sau đó, ngày 28/8/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính ban hành Quyết định số 84/QĐ-BCĐ về Quy chế làm việc và phân công nhiệm vụ cụ thể cũng như trách nhiệm cá nhân của các thành viên Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 (Ban Chỉ đạo) trong từng lĩnh vực cụ thể.

Theo đó, thành viên Ban Chỉ đạo các cấp cần thực hiện hoạt động theo quy chế quy định, phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tự giác, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước nhân dân về phòng, chống dịch COVID-19; triển khai hiệu quả các nhiệm vụ được giao, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện dần, không nóng vội, không cầu toàn; phát huy tinh thần trách nhiệm với mục tiêu tất cả vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân

Trưởng Ban Chỉ đạo cũng yêu cầu các địa phương các cấp kiện toàn Ban Chỉ đạo, đặc biệt tại các địa phương đang thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội theo tiêu chí: Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Chỉ huy trưởng, có quy chế làm việc, phân công trách nhiệm cho rõ ràng, có cơ chế giao ban của các cấp, báo cáo cấp trên trực tiếp hàng ngày, tổ chức ứng trực, tiếp nhận, xử lý mọi thông tin 24/24, nhất là đối với người dân.

“Cả nước đồng lòng, chung sức cùng Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và các tỉnh lân cận để chống dịch. Ngoài các lực lượng công an, quân đội, y tế, cả hệ thống chính trị và các lực lượng cựu chiến binh, phụ nữ, thanh niên… tại chỗ và chi viện từ Trung ương, các tỉnh, thành phố cùng vào cuộc tích cực…” Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ngay sau khi đảm nhiệm vị trí Trưởng Ban Chỉ đạo, vị Tư lệnh đã có chuyến công tác xuống “vùng đỏ đậm đặc” của dịch COVID-19 là Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương với mục tiêu phấn đấu từ 15/9 kiểm soát được dịch bệnh ở những vùng này.

Tại Bình Dương, người đứng đầu Chính phủ đã trực tiếp kiểm tra khả năng đáp ứng của các đường dây nóng về an sinh, y tế của địa phương. Thủ tướng đề nghị người dân gọi vào các số điện thoại địa phương cung cấp, yêu cầu hỗ trợ y tế và gói an sinh và ông đã đứng đợi nhân viên y tế đến. Trước đó, khi kiểm tra tại TP. Thủ Đức (TP.HCM), Thủ tướng cũng đã nắm bắt và nêu ra thực tế về việc nhiều người dân vẫn chưa biết số điện thoại liên hệ của cấp xã, phường, thị trấn khi cần hỗ trợ khẩn cấp về an sinh, y tế… . Thủ tướng đã yêu cầu chính quyền cơ sở phải dán tờ rơi tại từng khu trọ, từng nhà… để người dân biết các số điện thoại hỗ trợ.

Từ những thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương, trong các cuộc làm việc với lãnh đạo chủ chốt hai địa phương này (có kết nối trực tuyến xuống các điểm cầu xã, phường…) và tại cuộc họp trực tuyến với 20 tỉnh, thành phố đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg về công tác phòng, chống dịch COVID-19 diễn ra sáng 29/8, vị Tư lệnh phòng chống dịch đã đưa ra những quyết sách cụ thể, thực tế cho từng bộ, ngành, địa phương cho từng lĩnh vực. 

Kết luận cuộc họp tại Thông báo 226/TB-VPCP, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh chiến lược phòng chống dịch của thời gian tới là: Phòng dịch vẫn là chính, là cơ bản, chiến lược, lâu dài; tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác.

Ghi nhận và đánh giá cao sự cố gắng nỗ lực của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn xã hội; biểu dương sự đóng góp của cộng đồng nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình tổ chức về phòng, chống dịch COVID-19 thời gian qua, song song vơid đó Thủ tướng yêu cầu cần kịp thời sơ kết, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung các biện pháp phù hợp trong thực tiễn triển khai công tác phòng, chống dịch cho giai đoạn kế tiếp.

“Tư tưởng ‘các phường, xã là pháo đài’ cần phải được quán triệt đến từng người dân, để nhân dân đồng lòng thực hiện nghiêm giãn cách. Thần tốc xét nghiệm xác định nguồn lây để bóc tách F0 ra khỏi cộng đồng, rút ngắn chu kỳ xét nghiệm bao phủ và trả kết quả; Tiếp cận người bệnh sớm nhất, phân loại bệnh nhân để áp dụng và phân luồng điều trị tại gia đình hoặc tập trung; tăng cường nhân lực, phương tiện cho các cơ sở y tế để cứu chữa bệnh nhân COVID-19 giảm tối đa ca tử vong…” – Thủ tướng Phạm Minh Chính.

Người đứng đầu Chính phủ chỉ đạo các địa phương đang thực hiện CT16 phải nhân rộng các tổ công tác, trạm cung ứng, y tế lưu động; tổ chức khám, chữa bệnh ngay từ đầu, ngay tại cơ sở để phân loại, đáp ứng phù hợp; tổ chức hậu cần, cấp phát lương thực, thực phẩm ngay tại phường, xã, ngõ, xóm, tổ dân phố, thậm chí tới từng hộ dân; tổ chức vận động nhân dân “ai ở đâu ở đó”, đặc biệt là đối với những người dân, lao động không tự ý ra khỏi vùng dịch về quê, vì sức khỏe chính mình và vì cộng đồng…

Các địa phương chủ động xây dựng kịch bản xấu hơn, cao hơn để chuẩn bị nhân lực, vật lực. Tập trung thành lập trung tâm chỉ huy phòng, chống từ tỉnh xuống huyện, xã để chỉ huy chống dịch hoạt động 24/24; tăng cường giám sát từ tỉnh đến xã.

Với lực lượng y tế, Thủ tướng yêu cầu lực lượng quân y tăng cường xe cứu thương, ôxy cho các “vùng đỏ” đồng thời bổ sung thêm điều kiện cho các trung tâm y tế ở cấp huyện, phường, xã… Yêu cầu Bộ Y tế tiếp tục ưu tiên phân bổ vaccine và thuốc điều trị cho các “vùng nóng” như TP.HCM, Bình Dương, đặc biệt ưu tiên cho số công nhân, người lao động, khu đông người.

Khi dịch bệnh bùng phát, triển khai ngay thực hiện nghiêm giãn cách xã hội theo tinh thần “ai ở đâu ở đó,” đặc biệt cách ly triệt để, chặt chẽ, nghiêm ngặt các ổ dịch, ngăn chặn tuyệt đối không để dịch bệnh lây lan ra vùng nông thôn nơi có hạ tầng y tế còn hạn chế. Tiến hành phân loại, quản lý chăm sóc, thu dung, điều trị ca bệnh ngay tại cơ sở, tại các trạm y tế lưu động để giảm ca bệnh nặng, giảm tử vong; phát hiện sớm, cách ly nhanh, điều trị tích cực, không để quá tải y tế ở tuyến trên. Trong điều trị, Thủ tướng yêu cầu tổ chức hợp tác công-tư để cùng phòng, chống dịch, kết hợp Đông y và Tây y, áp dụng các phương pháp cổ truyền với hiện đại trong điều trị.

“Bảo đảm an dân, trật tự an toàn xã hội, yêu cầu người dân không ra khỏi nhà trong thời gian thực hiện tăng cường giãn cách xã hội. Có các biện pháp tuyên truyền phù hợp, hiệu quả để người dân hiểu công tác phòng, chống dịch là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi người dân, tự giác bảo vệ cho mình, cho gia đình, góp phần bảo vệ cho cộng đồng; phát huy tinh thần tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn.” “Phải đảm bảo an sinh xã hội, đáp ứng khi người dân cần, không để người dân thiếu ăn, thiếu mặc; Phải đáp ứng mọi yêu cầu y tế cho mọi người dân; tăng cường thêm năng lực y tế cho xã, phường như ôxy, thiết bị…cũng như bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân trong thời gian giãn cách xã hội…” – Thủ tướng Phạm Minh Chính.

Người đứng đầu Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương xác định các điểm xanh, vùng xanh để bảo vệ chặt và mở rộng dần. Khẩn trương nghiên cứu di dời một bộ phận dân cư tại các khu vực có mật độ dân cư cao, khu nhà trọ đông người, khu tập trung nhiều người nghèo, chật chội… đến các địa điểm thông thoáng, an toàn như trường học, cơ sở lưu trú, nhà văn hóa… để hạn chế lây nhiễm dịch bệnh.

Các địa phương cần phải gần dân, sát sao thực tế an sinh của người dân, xem xét ét mở rộng đối tượng được hỗ trợ theo Nghị quyết 68 của Chính phủ. “Công tác tuyên truyền cần kịp thời, đầy đủ và phổ biến kiến thức, hướng dẫn người dân phòng, chống dịch, đồng thời đấu tranh thông tin xấu độc,” Thủ tướng nhấn mạnh.

“Công tác chỉ đạo, điều phối các nguồn lực chi viện, hỗ trợ và nguồn lực tại chỗ phải được tập trung, thống nhất; các lực lượng phối hợp hoạt động trơn tru, hệ thống vận hành hiệu quả; trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh thì tiếp tục bàn, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, vì mục tiêu cao nhất là sức khỏe, tính mạng của nhân dân.”– Thủ tướng Phạm Minh Chính.

Trên tinh thần không để đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất, người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh: “Chính phủ khuyến khích thực hiện duy trì, phát triển sản xuất tuy nhiên phải bảo đảm an toàn phòng, chống dịch nghiêm ngặt theo quy định.” Ông cũng yêu cầu các địa phương phải hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai tổ chức sản xuất không được ra những quy định riêng, không ban hành giấy phép con. Để triển khai, Thủ tướng yêu cầu áp dụng triệt để các biện pháp công nghệ quản lý, ban hành quy định quản lý đi lại trong thời gian giãn cách xã hội tại các địa phương. Căn cứ tình hình cụ thể, giao cho một cơ quan quản lý ban hành, giao cho cơ quan công an thống nhất quản lý, cấp giấy phép đi lại.

“Cần thống nhất nhận thức khống chế dịch tuyệt đối là rất khó khăn (ngay cả nước có độ bao phủ cao về vaccine, dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp và khó kiểm soát) nhưng phải có cách làm, phương án chống dịch thích ứng, phù hợp, hiệu quả với tinh thần đặt sức khỏe, tính mạng của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Mục tiêu trong thời gian tới cần ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh nhanh nhất, hiệu quả nhất có thể theo Nghị quyết số 86/NQ-CP đã đề ra, thực hiện mục tiêu kép.”– Thông báo 226/TB-VPCP.

Diễn biến mới nhất vào chiều 31/8, sau khi cùng đoàn công tác đến kiểm tra Bệnh viện điều trị người bệnh Covid-19 quy mô 500 giường tại quận Hoàng Mai (Hà Nội), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có chuyến thị sát đột xuất tại phường Thanh Xuân Trung (quận Thanh Xuân), nơi đang được coi là ổ dịch lớn nhất, nóng nhất tại Hà Nội hiện nay với 311 ca mắc COVID-19.

Tại đây, Thủ tướng đã trao đổi và nói chuyện với từng người dân để nắm tình hình. Ông đã đề nghị được xem giấy đi đường và giấy chứng nhận tiêm vaccine của một shipper, kiểm tra công tác đảm bảo an toàn phòng chống dịch của một số cửa hàng bán hàng thiết yếu trên đường Nguyễn Tuân.

Người dân đã hết sức ngạc nhiên và cảm động khi được người đứng đầu Chính phủ hỏi cũng như hướng dẫn chi tiết cách thức giao hàng, bán hàng và thu tiền của khách thế nào để bảo đảm an toàn phòng, chống dịch. Tiếp đó, Thủ tướng đã đến kiểm tra chốt kiểm soát ở ngã ba Nguyễn Trãi – Nguyễn Tuân, động viên các thành viên Tổ COVID-19 cộng đồng đang làm việc tại đây để tìm hiểu về thực tiễn kiểm soát người dân đi lại trên đường.

Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Công điện số 1108/CĐ-TTg về việc tăng cường thực hiện phòng, chống dịch COVID-19 trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9.

Nội dung công điện nêu rõ: Rút kinh nghiệm từ kỳ nghỉ lễ 30/4, yêu cầu chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo thực hiện nghiêm, có hiệu quả biện pháp phòng, chống dịch trên địa bàn.

Cụ thể: “Với các địa phương đang trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, dứt khoát thực hiện theo tinh thần “ai ở đâu ở đó”; không để tập trung đông người, không để người dân di chuyển, ra đường gia tăng trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9. Xử lý nghiêm trường hợp vi phạm quy định về phòng, chống dịch bệnh.

Nguồn: VTV

Với các địa phương không áp dụng CT16, cần thực hiện nghiêm, đầy đủ biện pháp phòng, chống dịch theo quy định, nhất là 5K; dừng tổ chức lễ hội, tập trung đông người không cần thiết.

Tổ chức tốt công tác đảm bảo an sinh xã hội, an ninh, an toàn trật tự xã hội; tuyệt đối không để đứt gãy chuỗi cung ứng an sinh, bảo đảm tiếp cận y tế từ sớm, từ xa, từ cơ sở trong thời gian nghỉ lễ.

Người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp chịu trách nhiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động phòng, chống dịch trên địa bàn; đồng thời, tổ chức ứng trực 24/24h với lực lượng tham gia chống dịch để kịp thời phát hiện, xử lý vấn đề phát sinh.”

ĐẢNG LÃNH ĐẠO

Yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong hơn 9 thập kỷ qua, kể từ ngày thành lập Đảng, đã chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.

Một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công

Về quan điểm, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Về hình thức, Đảng chủ trương động viên, tổ chức và đoàn kết lực lượng của toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất nhằm khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dân tộc, yêu nước để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc.

Về phương pháp cách mạng, Ðảng đặt nhiệm vụ khởi nghĩa vũ trang để giành độc lập, giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm. Trên quan điểm đó, Ðảng ta đã chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng.

Một yếu tố khác cũng góp phần rất quan trọng trong thành công của Cách mạng Tháng Tám là nghệ thuật phân tích, dự báo thời cơ, chuẩn bị lực lượng. Trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, Đảng ta đã dự báo chính xác thời cơ khởi nghĩa.

“Cơ hội cho dân tộc ta, giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc” tháng 10/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Cơ hội cho dân tộc ta, giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh.”

Sau đó, Người chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (ngày 22/12/1944), tiếp đến là lập Ủy ban quân sự cách mạng và xây dựng chính quyền (các Ủy ban dân tộc giải phóng và Ủy ban nhân dân cách mạng), thành lập Khu Giải phóng Việt Bắc… để chuẩn bị, sẵn sàng khởi nghĩa.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân Ðại hội họp và ra Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc. Thực hiện Nghị quyết của Ðảng và Quốc dân Ðại hội, chỉ trong vòng hai tuần từ 14 đến 28/8/1945, nhân dân cả nước ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.7, tr.25)

“Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn”

Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Nhờ đó, trong 30 năm liên tục, từ 1945-1975, Đảng tổ chức, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến trường kỳ giành những thắng lợi to lớn, viết tiếp “những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc,” làm nên những “sự kiện có tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc.”

Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”

Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến-Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, đánh dấu thời khắc của chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.” (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Với đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

Song song với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế-xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với Nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã giành được những thành tựu quan trọng, chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của, hoàn thành vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam; tạo những cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này.

Có thể thấy, “trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với Nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước.” (Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV)

Đại hội Đảng lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy sức mạnh, tiềm năng để đưa đất nước tiến lên. (Ảnh: TTXVN)

Đảng lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới

Sau khi đất nước được thống nhất, trong muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa khôi phục kinh tế, vừa tiến hành hai cuộc chiến đấu chống xâm lược ở hai đầu biên giới, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước vừa đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất, vừa tìm tòi, tháo gỡ khó khăn, khắc phục trì trệ, khủng hoảng kinh tế-xã hội, từng bước hoạch định đường lối đổi mới.

Năm 1986, Đảng đề ra đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Từ đó, đất nước không những vượt qua khủng hoảng kinh tế, mà còn trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sức mạnh đất nước không ngừng được tăng cường toàn diện, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực ngày một nâng cao.

“Đến nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có quy mô dân số gần 100 triệu người với mức thu nhập bình quân 2.800 USD/người; đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế, trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các hoạt động của cộng đồng quốc tế… Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.” (Diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng 3/2/1930-2020)

“Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.”

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân.

“Thực tiễn đó khẳng định một chân lý: ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác,” như lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930-2020)./.

Áp phích chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026. (Ảnh: Vietnam+)

Tuyên ngôn Độc lập – Ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam

Tuyên ngôn Độc lập

Ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Bản Tuyên ngôn đã thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” Trải qua 76 năm, Tuyên ngôn Độc lập vẫn mang tính thời sự sâu sắc cả trên bình diện trong nước và quốc tế.

Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc

Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm đỉnh cao, tiêu biểu, phản ánh đầy đủ nhất, sâu sắc nhất quan điểm triết học, quan điểm chính trị và cả quan điểm nhân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó chứa đựng cả những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc.

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”

Chủ tịch hồ chí minh

Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791.

Từ việc đề cập đến quyền của con người như một sự tất yếu của tạo hóa, không ai có thể xâm phạm được, là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển sáng tạo, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc. “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.” 

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc.

Nghiên cứu về Tuyên ngôn Độc lập, Giáo sư Shingo Shibata (Nhật Bản) cho biết “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình.”

Bởi vậy, có thể nói Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn là tuyên ngôn về quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Và việc nâng tầm quyền con người lên thành quyền dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một cống hiến về nguyên lý lý luận của Người vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”

Quyền độc lập dân tộc, quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc là những giá trị cơ bản nhất của nhân quyền. Nhưng dưới chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam, những quyền đó bị tước bỏ và chà đạp. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.”

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong những bể máu… Về kinh tế, chúng bóc lột công nhân, nông dân đến tận xương tủy… Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho nhân dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng…” 

Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến và đế quốc, giành lại độc lập, tự do và quyền con người. Như vậy, nhân quyền ở Việt Nam không phải là giá trị do ai ban phát mà là kết quả của cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam.

Cuộc đấu tranh đó đã làm cho “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.”

Với hệ thống lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục gói gọn trong hơn 1.000 chữ, Tuyên ngôn Độc lập là một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, đặt cơ sở cho việc thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam với mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc.

Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” đồng thời nhấn mạnh, “các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.” 

Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”

Với hệ thống lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục gói gọn trong hơn 1.000 chữ, Tuyên ngôn Độc lập là một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, đặt cơ sở cho việc thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam với mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc; soi sáng con đường cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

Mãi trường tồn với thời gian

76 năm đã trôi qua, nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc, về khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do, vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đặc biệt, những giá trị về quyền con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng trong Tuyên ngôn Độc lập là những giá trị bất hủ. Từ đó đến nay, nhân dân Việt Nam đã không ngừng phấn đấu cho quyền con người và đạt được nhiều kết quả tích cực, rất quan trọng.

76 năm đã qua, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn luôn ngời sáng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất, bảo vệ và thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)

Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và luật. Với những thành tựu về việc bảo đảm quyền con người (cả trên lĩnh vực đối nội và đối ngoại), Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016).

76 năm đã trôi qua, nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Kể từ ngày bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đến nay, vị thế đất nước đã có nhiều đổi thay, lời thề lịch sử “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” luôn rọi sáng mọi trái tim, khối óc của người Việt Nam yêu nước trên mọi vùng, miền của Tổ quốc và định cư ở nước ngoài.

Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của toàn dân tộc, giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành được những thành tựu to lớn trong đấu tranh thống nhất đất nước, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, sau gần 35 năm tiến hành đổi mới, nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm, quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực; Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam dần được cải thiện, hiện đang thuộc nhóm trung bình cao và đứng thứ 118/189 quốc gia (năm 2019); mức sống chung của người dân từng bước được nâng lên.

Trên khắp phố, phường của Thủ đô Hà Nội được trang hoàng rực rỡ cờ, hoa, băng rôn, ápphích…chào mừng Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)

Cùng với đó, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia trên thế giới; gia nhập và tích cực xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN; tham gia có hiệu quả các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế trên nhiều cấp độ.

Năm tháng sẽ qua đi, nhưng tinh thần bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn luôn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam, không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lý mà còn bởi giá trị nhân văn cao cả về quyền con người, quyền của dân tộc được sống trong độc lập, tự do như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấp ủ và cống hiến cả cuộc đời mình để thực hiện./.

Trao những yêu thương trong mùa dịch COVID-19

Chia sẻ khó khăn, trao yêu thương trong mùa dịch COVID-19

VietnamPlus | MegaStory

Vào những ngày này, cả nước một lần nữa lại hướng về miền Nam ruột thịt, nơi người dân và chính quyền đang ngày đêm vật lộn với dịch bệnh bùng phát trầm trọng. Số ca nhiễm bệnh và tử vong cứ tăng từng ngày, và duy trì ở mức cao trong nhiều ngày nay, vượt ra ngoài dự báo và gây lo lắng, bất an cho cả người dân và chính quyền ở nhiều tỉnh thành phía Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…

Trong nỗ lực huy động toàn hệ thống chính trị cùng miền Nam dập dịch đồng thời với các nhiệm vụ cấp bách về đảm bảo kinh tế, an sinh và an toàn xã hội, hơn lúc nào hết, truyền thống “lá lành đùm lá rách,” “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” của người Việt từ bao đời lại được phát huy mạnh mẽ. Cộng đồng cả nước, bao gồm các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp…. bằng nhiều hình thức khác nhau chung tay hỗ trợ nỗ lực của Chính phủ, chính quyền và người dân phía Nam trong cuộc chiến với dịch bệnh và những hệ lụy của nó đối với nền kinh tế và cuộc sống dân sinh, đặc biệt là của những người dân nghèo, những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

Ngay từ những ngày đầu dịch bệnh bắt đầu diễn biến  phức tạp, người dân miền Trung đã gửi hàng chục tấn cá khô, rau củ, quả theo các chuyến xe nghĩa tình vào tiếp sức cho nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; các địa phương trong cả nước nơi thì ủng hộ lương thực, nông sản, tiền mặt, nơi lại tiếp sức bằng lực lượng tình nguyện viên, y bác sỹ… nhằm góp thêm nguồn lực cùng Thành phố gồng mình chống dịch.

Theo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến ngày 15/8, Ban Vận động, tiếp nhận và phân phối Quỹ Phòng, chống dịch COVID-19 Thành phố đã tiếp nhận hơn 908,6 tỷ đồng tiền mặt và hàng hoá, thiết bị chống dịch. Bên cạnh các cá nhân, tập thể, các tỉnh, thành phố, lực lượng doanh nghiệp có vai trò tiên phong, với đóng góp to lớn trong suốt cuộc chiến chống dịch của Thành phố Hồ Chí Minh.

Chung tay cùng chính quyền Thành phố, nhiều doanh nghiệp đã tự nguyện hiến đất, trung tâm thương mại, nhà xưởng để xây dựng bệnh viện dã chiến. Nhiều doanh nghiệp đóng góp bằng sức người, sức của, bằng chính những sản phẩm của mình, từ xe cứu thương, thuốc men, đến thực phẩm, sữa, nước uống giải nhiệt… với tinh thần hết lòng vì tuyến đầu chống dịch, hết lòng vì sức khoẻ cộng đồng.

Bà Hoàng Mai Quỳnh Hoa, Chánh Văn phòng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, từ ngày dịch bùng phát đến nay, kho lúc nào cũng đầy ắp rau củ quả, nước uống, sữa, thiết bị y tế… do các địa phương, doanh nghiệp ủng hộ Thành phố.

“Kể sao hết những ân tình dành cho Thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm khó khăn này, có những chuyến hàng lên tới hàng nghìn tấn. Chúng tôi chỉ còn biết cố gắng phân phối thật nhanh, đến đúng người dân và các đơn vị đang cần để hỗ trợ họ sớm vượt qua đại dịch,” bà Hoa nói.

Cũng theo bà Hoa, chuyến hàng, trong số rất nhiều chuyến hàng gần nhất của các mạnh thường quân, là 1.000 thùng sữa tươi sạch và 1.000 thùng trà tự nhiên TH true TEA (tổng cộng 72.000 sản phẩm) do Tập đoàn TH gửi tặng sẽ được chuyển tới các bệnh viện tuyến đầu một cách nhanh nhất để tiếp sức cho các y bác sỹ.

Đây không phải chuyến hàng đầu tiên Tập đoàn TH gửi tặng lực lượng tuyến đầu chống dịch, trước đó, tại Lễ phát động toàn dân tham gia phòng chống dịch và ra mắt Trung tâm tiếp nhận, hỗ trợ hàng hóa thiết yếu phục vụ người dân khó khăn bởi dịch bệnh COVID-19 (Thành phố Hồ Chí Minh), Tập đoàn TH, Bac A Bank, cùng Quỹ Vì Tầm Vóc Việt cũng đã gửi tặng người dân, lực lượng chống dịch Thành phố 72.000 ly sữa tươi và đồ uống tốt cho sức khỏe.

Gần đây nhất, chiều 25/8, BAC A BANK và Tập đoàn TH, thông qua Quỹ vì tầm vóc Việt, đã trao tặng người dân Thành phố Hồ chí Minh 500.000 sản phẩm sữa tươi sạch và đồ uống trị giá hơn 4 tỷ đồng. Các sản phẩm thiết yếu mang thương hiệu TH gửi tặng người dân thành phố gồm sữa tươi sạch, nước uống sữa trái cây tự nhiên TH true JUICE milk, nước trái cây tự nhiên TH true JUICE, nước tinh khiết từ mạch nước ngầm núi lửa triệu năm TH true WATER. Phát biểu tại sự kiện, bà Thái Hương chia sẻ: “Món quà này là sự nỗ lực của mỗi cá nhân, doanh nghiệp khi đồng hành cùng Chính phủ, quân đội đưa tới người dân, góp phần thực hiện triệt để giải pháp “Ai ở đâu ở yên đó” để chiến thắng COVID-19. Cách làm của doanh nghiệp nâng cao sự đoàn kết, góp phần đồng hành cùng nhân dân vừa thực hiện tuân thủ quy định phòng dịch, vừa tăng cường dinh dưỡng, tăng sức đề kháng cho mỗi người.”

Món quà giàu dưỡng chất hỗ trợ tăng sức đề kháng gồm sữa tươi sạch và trà tự nhiên TH true TEA, trong đó TH true TEA là sản phẩm mới ra mắt. Với thành phần hoàn toàn từ thiên nhiên, TH true TEA giàu chất chống oxy hóa, giàu các hoạt chất giúp giảm căng thẳng mệt mỏi, hỗ trợ miễn dịch.

Lãnh đạo Trung tâm tiếp nhận, hỗ trợ hàng hóa cho biết món quà ý nghĩa của TH sẽ được phân bổ tới các chốt phong tỏa và người dân ở các khu vực cách ly. Trong điều kiện phục vụ cộng đồng dưới thời tiết nắng nóng và liên tục, những ly sữa tươi và trà uống liền tự nhiên giàu dưỡng chất và vitamin sẽ giúp dân phòng và nhân viên các đơn vị chức năng tăng sức đề kháng phòng chống dịch bệnh.

Thành phố Hồ Chí Minh hiện đã ghi nhận hàng trăm nghìn ca nhiễm bệnh trong đợt dịch thứ tư. Sau gần 40 ngày giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và 16 tăng cường, và sẽ còn tiếp tục những đợt tiếp theo nữa, lực lượng chống dịch Thành phố Hồ Chí Minh vô cùng vất vả, cuộc sống của người dân nhất là người nghèo, người khó khăn, người lao động tự do bị ảnh hưởng nặng nề. Trong bối cảnh đó, các hoạt động an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp trong đó có Tập đoàn TH đã tích cực hỗ trợ lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, chung tay cùng lực lượng tuyến đầu và người dân đẩy lùi dịch bệnh.

Từ khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát đến nay, Tập đoàn TH và BAC A BANK đã thông qua Quỹ Vì tầm vóc Việt thực hiện nhiều đợt trao tặng sữa và đồ uống tốt cho sức khỏe với tổng số trên 3,2 triệu ly sữa và các sản phẩm đồ uống khác đến ngành y tế, lực lượng chống dịch, người dân cách ly tại các bệnh viện và địa phương đang là điểm nóng về dịch bệnh trong cả nước, trong đó phải kể đến Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Đà Nẵng, Nghệ An…

Sự sẻ chia đó luôn được thể hiện kịp thời, đúng lúc. Sản phẩm ủng hộ, trao tặng phù hợp với nhu cầu tiếp nhận, góp phần giúp ngành y và người dân phòng chống dịch hiệu quả.

Năm 2020, hàng ngàn ly sữa tươi cùng với các nhu yếu phẩm chống dịch khác như gạo, khẩu trang vải, nước rửa tay, nước súc họng… cũng đã được Tập đoàn này trao tới các tuyến đầu chống dịch, khu cách ly, trung tâm y tế, trẻ có hoàn cảnh khó khăn, các gia đình nghèo ở xóm chài… chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch COVID-19.

Năm 2020 và 2021 nền kinh tế thế giới và Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, Tập đoàn TH cũng không nằm ngoài “vòng xoáy” này nhưng vốn là một nghiệp coi trọng trách nhiệm xã hội, được sáng lập và dẫn dắt bởi một nữ doanh nhân tâm huyết với các hoạt động thiện nguyện, bà Thái Hương và Tập đoàn TH vẫn luôn tiên phong trong việc chung tay cũng Chính phủ vì cộng đồng.

Tại lễ ra mắt Quỹ vaccine phòng chống COVID-19 Việt Nam Tập đoàn TH và BAC A BANK thông qua Quỹ vì tầm vóc Việt đã công bố ủng hộ Quỹ Vắc xin phòng chống COVID-19 với số tiền 46 tỷ đồng.

Cũng tại lễ ra mắt Quỹ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính bày tỏ xúc động trước sự chung vai sát cánh của người dân và các doanh nghiệp với tinh thần “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”

Thủ tướng nhấn mạnh: “Đây là Quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn, góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc – chiến thắng đại dịch COVID-19… Để sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường, Đảng và Nhà nước thực hiện mục tiêu sớm tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân nhằm đạt được sự miễn nhiễm cộng đồng và việc này cần duy trì hàng năm. Tiêm vaccine là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính quyết định và có tính chiến lược để thoát khỏi đại dịch COVID-19.”

Đại diện BAC A BANK và Tập đoàn TH cũng bày tỏ mong muốn Chính phủ, Bộ Y tế sớm hoàn thành việc nhập khẩu, sản xuất vaccine các đơn vị sẵn sàng các phương án tiêm phòng cho cán bộ, nhân viên, bảo vệ nguồn nhân lực để đẩy mạnh hoạt động.

Bà Trần Thị Như Trang – Giám đốc Quỹ vì tầm vóc Việt cho biết: “Chúng tôi tin tưởng, đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 cũng như duy trì các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế. Chúng tôi, BAC A BANK, Tập đoàn TH và Quỹ vì tầm vóc Việt cũng như nhiều doanh nghiệp, tổ chức cá nhân khác, với tấm lòng và trách nhiệm vì sức khỏe cộng đồng, vì quốc gia, dân tộc, quyết tâm chung tay cùng cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đẩy lùi đại dịch.”

Còn nhà sáng lập Tập đoàn, TH bà Thái Hương, đã từng chia sẻ: Chống dịch như chống giặc nên mọi người dân Việt Nam đều đang thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng nhất trí trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh này. Với tôi, sự giúp đỡ một cách tự nguyện xuất phát từ tấm lòng, tấm lòng đã ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam chúng ta. Từ một em bé biết dùng tiền tiết kiệm để mua khẩu trang tặng mọi người đến các doanh nghiệp, tổ chức đều có tấm lòng chia sẻ, không phân biệt tuổi tác, thu nhập, trình độ. “Ngoài tinh thần tự nguyện, với tôi đây còn là một phần trách nhiệm của cá nhân, doanh nghiệp cần đồng hành cùng Chính phủ và cộng đồng trong khó khăn. Đối với tôi và Tập đoàn TH, BAC A BANK thì các hoạt động vì cộng đồng, xã hội không chỉ là một hoạt động cần có trong kế hoạch hằng năm mà còn là một điều hạnh phúc cần lan tỏa.”

Doanh nhân Thái Hương vẫn miệt mài trên con đường “vì hạnh phúc đích thực” và “vì sức khỏe cộng đồng” mà mình đã chọn theo đuổi suốt hơn 10 năm qua, để kiến tạo nên những dự án kinh doanh “tử tế”. Giữa bối cảnh đại dịch, phong tỏa, cách ly tại hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước khiến hoạt động kinh doanh bị đình trệ, trong tháng 8/2021, Tập đoàn TH vẫn liên tục ra mắt các dự án mới, sản phẩm mới như trà xanh vị chanh tự nhiên và trà Ô Long tự nhiên TH true TEA. Các sản phẩm này hoàn toàn sử dụng các nguyên liệu tự nhiên, không có phụ gia tổng hợp và chất bảo quản, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. BAC A Bank thì đầu tư nâng cấp dịch vụ Ngân hàng điện tử với phiên bản hoàn toàn mới của Internet Banking và Mobile Banking giúp khách hàng thanh toán thuận tiện hơn trong bối cảnh xã hội giãn cách và thanh toán điện tử lên ngôi.


“Đối với tôi và Tập đoàn TH, BAC A BANK thì các hoạt động vì cộng đồng, xã hội không chỉ là một hoạt động cần có trong kế hoạch hằng năm mà còn là một điều hạnh phúc cần lan tỏa.”

— Bà Thái Hương, Nhà sáng lập Tập đoàn TH chia sẻ


Không chỉ chiến đấu giành “sự sống” cho chính doanh nghiệp mình, các dự án mới của TH còn góp phần an sinh xã hội, tạo thu nhập cho dân địa phương cũng là chung tay cùng Chính phủ vượt khó dập dịch. Bên cạnh những sản phẩm sữa, sữa hạt bổ dưỡng, những thức uống mới như trà chanh, trà thảo dược lại có mặt trong các túi quà đến với các chiến sỹ tuyến đầu chống dịch, đến với những hộ dân nghèo và trẻ em vùng sâu, vùng xa…

“Hãy trân quý Mẹ Thiên nhiên, Người sẽ cho mình tất thảy”, hay “Không tối đa lợi nhuận mà tìm kiếm sự hài hòa về lợi ích”, “Vì sức khỏe cộng đồng”, “Thân thiện với môi trường”… là những tư tưởng, triết lý kinh doanh đầy trách nhiệm xã hội đã trở thành thương hiệu của nhà sáng lập TH. Và tất cả những tư tưởng này đều được khởi nguồn từ tâm thế của một người mẹ. Có thể nói, bà là người “thắp lửa” và thổi hồn cho những dự án mà mình triển khai bằng tấm lòng và trái tim của người mẹ.

Chính vì vậy, bà luôn đồng cảm với các mảnh đời không may mắn đặc biệt trong những ngày dịch bệnh diễn biến phức tạp mới thấy hết được tình cảm của người đứng đầu Tập đoàn TH dành cho các bệnh nhân cũng như người lao động. Điển hình, mới đây tại An Giang, Tập đoàn TH và BAC BANK thông qua Quỹ vì tầm vóc Việt đã trao tặng 2.000 bộ xét nghiệm nhanh COVID-19 trị giá gần 400 triệu đồng đến Sở Y tế tỉnh. Hay như Tập đoàn cũng đã ủng hộ 2 tỷ đồng cho bà con Nghệ An về quê bị ảnh hưởng dịch COVID-19…

Dự kiến trong thời gian tới, Tập đoàn TH và BAC A BANK cũng sẽ trao tặng 24 máy thở chức năng cao cho các bệnh viện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để chữa trị cho các bệnh nhân không may mắc COVID-19.

Trong tình thế khó khăn của đất nước, các doanh nghiệp như Tập đoàn TH đã không chỉ âm thầm chiến đấu vượt qua nghịch cảnh để đảm bảo công ăn việc làm, thu nhập cho người lao động, chiến đấu cho sự sống của chính doanh nghiệp mình mà còn gánh bớt khó khăn, sát cánh cùng nỗ lực dập dịch của Chính phủ.

Dẫu con đường phía trước còn không ít thử thách, còn phải chứng kiến nhiều mất mát mà trong đó mất mát lớn nhất là sức khỏe và tính mạng người dân, nhưng với sự quyết tâm, đồng lòng của cả hệ thống các cấp, sự sẻ chia đùm bọc của người dân và doanh nghiệp trên cả nước, chắc chắn Việt Nam sẽ vượt qua đại dịch COVID-19, khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh và cuộc sống bình thường./.

Chân dung của một

DANH TƯỚNG

Đức độ, tài năng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đem lại niềm tin yêu trọn vẹn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; lòng mến mộ của bạn bè quốc tế và cả sự khâm phục của những người hôm qua còn là đối thủ của ông. Ông là một trong số ít các nhân vật trở thành huyền thoại ngay khi còn đang tại thế. 

Nhà chiến lược và chỉ huy quân sự lỗi lạc

Xuyên suốt lịch sử từ khi thành lập nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại dấu ấn lớn ở cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trực tiếp chỉ huy những trận chiến mang tính “sống, còn” của dân tộc.

Ông không chỉ là vị tướng huyền thoại trong lòng người dân Việt Nam, mà còn là một thiên tài quân sự được thế giới trân trọng, cảm phục và suy tôn là một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới qua mọi thời đại.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra và lớn lên tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước.

Chính mảnh đất quê hương giàu truyền thống cách mạng và anh hùng cùng truyền thống yêu nước của gia đình đã hun đúc nên nhân cách và quyết định con đường đi của ông.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số I – Quyết định thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tham gia cách mạng từ rất sớm, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho trọng trách thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) để đẩy mạnh đấu tranh vũ trang trong thời kỳ chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, tiếp đó là Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt hai cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. 

Ông là người đã trực tiếp dẫn dắt “đội quân thơ ấu” từ hai bàn tay trắng, từ súng trường chân đất lớn lên trong suốt cuộc trường chinh mười ngàn ngày và đã đánh bại 10 đại tướng của quân đội viễn chinh nhà nghề của hai đế quốc lớn.

Ông từ một thầy giáo dạy sử, không qua một trường lớp quân sự, trở thành danh tướng, “một tư lệnh của các tư lệnh, một chính ủy của các chính ủy” – như cách định nghĩa của Thượng tướng Trần Văn Trà.

Ông từ một thầy giáo dạy sử, không qua một trường lớp quân sự, trở thành danh tướng

(Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam)

Có thể khẳng định, trong tất cả những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những chiến dịch quân sự trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn là một trong những nhân vật lịch sử đứng ở vị trí hàng đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Là người cầm quân tiếp thu và thể hiện đầy đủ tư cách một người tướng gồm sáu đức tính Trí-Tín-Dũng-Nhân-Liêm-Trung mà Bác Hồ đã dạy. Những đức tính ấy, nhất là Trí và Dũng, bộc lộ rất sớm.

Điều này có thể thấy qua cuộc đấu trí, đấu lực quy mô lớn đầu tiên giữa hai quân đội rất chênh lệch về trang bị kỹ thuật và trình độ tác chiến trong Chiến dịch Việt Bắc mùa khô năm 1947, để khẳng định rằng tài cầm quân ở tầm chiến lược của ông xuất hiện ngay từ những năm đầu của kháng chiến toàn quốc.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ: Chủ tịch Hồ Chí Minh (giữa), Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên phải) và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đông Xuân 1953-1954, mưu kế chiến lược của Đại tướng được thể hiện rất tài tình. Ông đã thành công trong việc phân tán lực lượng cơ động của địch và đánh địch trên khắp chiến trường Đông Dương bằng các biện pháp nghi binh, lừa địch mà chính tướng Nava cũng phải thú nhận rằng đến hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp đã bị phân tán ra các chiến trường. Do vậy, khi ta tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng cơ động của địch không thể tập trung lớn để đối phó được nữa. 

 Trên chiến trường Điện Biên Phủ, ông đã đưa ra một quyết định lịch sử: thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc.”

Trên chiến trường chính – Điện Biên Phủ, ông đã đưa ra một quyết định lịch sử – “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời tôi,” như sau này đại tướng đã chia sẻ.

Đó là thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc.” Với quyết định sáng suốt này, trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã giành được toàn thắng cao nhất với sự hy sinh xương máu thấp nhất.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Để giáo dục cho quân đội, ông đã viết lý luận về đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Để tạo thực lực về cơ sở vật chất và lực lượng cho cách mạng miền Nam, ông đã đề xuất mở đường chiến lược Trường Sơn. Con đường chiến lược Hồ Chí Minh đã hình thành từ đó, đã tiếp sức cho cách mạng miền Nam và tiến thẳng đến dinh lũy của kẻ địch vào ngày toàn thắng.

Lợi dụng thời cơ, ta giải phóng Huế, Đà Nẵng đẩy địch vào thế tan rã. Và với sự nhạy bén và quyết đoán của nhà chiến lược quân sự, ông đã chỉ huy các mũi tiến công của đại quân ta bằng mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng”.

Mệnh lệnh của ông vừa là tiếng kèn xung trận vừa là chiết xuất của một tư duy quân sự thiên tài trước thời khắc hệ trọng lịch sử của dân tộc.

Có thể nói, với nhãn quan thiên tài về quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kế thừa tinh hoa quân sự của thế giới, phát huy cao độ nghệ thuật chiến tranh nhân dân của truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, phát huy tư tưởng quân sự và sự chỉ đạo sâu sát của Chủ tịch Hồ Chí Minh để làm nên những chiến thắng vẻ vang, làm rạng danh dân tộc Việt Nam anh hùng.

Những chiến thắng vĩ đại của cách mạng Việt Nam mà Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp góp phần làm nên đã tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử của dân tộc.

Và cũng chính những chiến tích ấy đã nâng ông lên tầm một vị tướng huyền thoại, một thiên tài quân sự của mọi thời đại, để lại dấu son rực rỡ trong lịch sử quân sự không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát trận địa Điện Biên Phủ lần cuối trước khi phát lệnh nổ súng tấn công. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Một chỉ huy đức tài trọn vẹn

Là một học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại xuất thân từ một nhà giáo dạy sử, ông là một vị tướng hiểu rõ và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “trọng dân”, “nước lấy dân làm gốc” của các bậc tiền nhân. Yếu tố nhân dân luôn bám rễ sâu trong tư duy quân sự của ông.

Ngay trong buổi đầu thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông đã trực tiếp soạn thảo “Mười lời thề” cho đội, trong đó nhiều nội dung đều đề cập đến quan hệ quân-dân.

Trên cương vị Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng đã có công lớn cùng tập thể Quân ủy Trung ương đưa quan hệ quân-dân trở thành một trong những nét đẹp truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như trong việc tạo dựng hình ảnh đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Triển lãm ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Với tư cách là Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng luôn ghi nhớ, noi gương và thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ là làm cách mạng là phải “dĩ công vi thượng,” tức là phải đặt lợi ích chung lên trên hết; đồng thời, ông luôn đề cao vai trò của tập thể, phục tùng tổ chức.

Điển hình, tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954, tuy là người chỉ huy cao nhất được Bác Hồ và Bộ Chính trị trao toàn quyền quyết định các vấn đề, nhưng trước khi quyết định những vấn đề hệ trọng, bao giờ ông cũng đưa ra thảo luận ở tập thể Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, tham khảo ý kiến của Đoàn cố vấn, nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao.

Và quyết định thay đổi phương châm tác chiến, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” của ông không chỉ thể hiện tư duy quân sự sắc sảo, bản lĩnh của người cầm quân, mà còn thể hiện việc quán triệt sâu sắc, chấp hành tuyệt đối ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “đánh chắc thắng.”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các lão dân quân Hoằng Hóa (Thanh Hóa) từng bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường trong chiến thắng Hàm Rồng, tại Lễ duyệt binh nhân ngày Quốc khánh 2/9/1973. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Ông cũng là một vị tướng thương yêu bộ đội hết mực. Với cán bộ, chiến sỹ dưới quyền, ông như người cha, người anh, người đồng chí thân thiết và gần gũi. Trước nhiều trận đánh, Đại tướng đều viết thư động viên, nhắc nhở và thăm hỏi tình hình sức khỏe của bộ đội, dân công, thanh niên xung phong… Trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn tại chiến trường, Đại tướng vẫn thường xuyên quan tâm, nhắc nhở cơ quan hậu cần, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị chăm lo sức khỏe, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội…

Chiến thắng là cái đích của người cầm quân, song với ông không phải lúc nào cũng giành chiến thắng bằng mọi giá, mà chiến thắng đó phải luôn đi kèm với việc giảm đến mức thấp nhất hy sinh xương máu của bộ đội. Trong tư tưởng của ông, bảo vệ lực lượng, bảo vệ sinh mạng người lính của mình là mối quan tâm thường trực nhất, vì rằng “một chiến thắng lớn nhất là chiến thắng có được với số người phải hy sinh nhỏ nhất.”

“Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị Tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”

(Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam)

Có mặt ở Điện Biên Phủ trong những tháng ngày gian khổ đó, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng nhận xét: “Một vị tổng tư lệnh, đồng thời là người chỉ huy chiến dịch mà khi viết thư gửi chiến sỹ với những lời rất thân mật như anh em, quả là một điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước!.”

Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, nói: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị Tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh.”

Xúc động trước tình cảm của người chỉ huy cao nhất của quân đội với các liệt sĩ hy sinh trên đỉnh đèo Phulêcnhích, Trung tướng Đổng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Binh đoàn 559 đã viết trong hồi ký: “Những giọt nước mắt dành cho những chiến sỹ vĩnh viễn nằm lại trên trọng điểm này của vị Tổng tư lệnh giữa chiều Trường Sơn thật sự thấm đậm tình người, lắng sâu trong tâm khảm, chúng tôi không thể nào quên được.”

Không chỉ yêu thương cán bộ, chiến sỹ quân ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là người rất coi trọng nhân nghĩa, khoan dung đối với kẻ địch đã đầu hàng. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sau trận mở màn chiến dịch, tiến công cụm cứ điểm Him Lam của Đại đoàn 312, thương vong của địch rất lớn.

Theo đề nghị của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho ông Mạc Ninh thảo ngay một bức thư chuyển cho Bộ chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ đề nghị cho người ra Him Lam nhận tử thương.

Ngay sau ngày chiến thắng, trên cánh đồng Mường Thanh và dọc theo bờ sông Nậm Rốm, Đại tướng cùng Bộ chỉ huy chiến dịch đã cho dựng hàng chục chiếc lều từ vải dù để cứu chữa cho tù binh, hàng binh bị thương…

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người từng đứng bên kia chiến tuyến đều dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp sự kính trọng và khâm phục đặc biệt

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người từng một thời đứng bên kia chiến tuyến, từ những tướng lĩnh của Pháp đến những người lính Âu-Phi… đều dành cho Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sự kính trọng và khâm phục đặc biệt.

Trong suốt sự nghiệp quân sự của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn là người nghiêm khắc nhưng khiêm tốn, bình dị, bao dung và độ lượng. Đại tướng thường nói về cái tốt, cái đúng của đồng chí, đồng đội, mà ít khi thấy ông thanh minh bất cứ một vấn đề nào thuộc về bản thân mình.

Khi đề cập đến chiến thắng của các chiến dịch, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, bao giờ và trước hết Đại tướng cũng nói đến vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy; nhắc đến công lao, cống hiến của đồng đội, đồng chí và đồng bào cả nước…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mc Namara, Trưởng đoàn Mỹ tham dự Hội thảo Việt-Mỹ “Những cơ hội bị bỏ lỡ”, chiều 23/6/1997, tại Hà Nội. (Ảnh: Trần Tuấn/TTXVN)

Với 103 tuổi đời, hơn 70 tuổi Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông là tấm gương sáng để đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước kính trọng, yêu quý, học tập và noi theo. Hình ảnh và những cống hiến của ông cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc luôn sống mãi với non sông, đất nước, sống mãi trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế./.

Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp: Người xây dựng nền hành chính vì dân

Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp

Người xây dựng nền hành chính vì dân

Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Đại tướng tài ba của Quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng, Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ, đã dành trọn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Ở Đại tướng luôn sáng ngời phẩm chất cao quý của người chiến sỹ cách mạng kiên trung, suốt đời tận tụy hy sinh, son sắt với Đảng, với nhân dân, đúng như lúc sinh thời ông đã từng nói “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó.”

Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911-25/8/2021), TTXVN trân trọng giới thiệu bài viết “Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp – Người tham gia xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam,” của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà.

Cách đây 110 năm, quê hương Quảng Bình với vị mặn mòi của biển cả, cái nắng chói chang của những cồn cát và truyền thống trung dũng, kiên cường của nhân dân nơi đây đã sinh ra Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng tài ba của Quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng, Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Bằng tài năng xuất chúng, bằng mưu lược tinh thông và trên hết là cái tâm sáng chỉ biết vì nước, vì dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nền pháp chế hành chính vì dân, chủ động tham mưu cho Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành một loạt các sắc lệnh, văn bản hành chính.

– Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà –

Cuộc đời và sự nghiệp, tấm gương mẫu mực, đức độ và nhân cách lớn, sáng ngời, cả một đời vì nước, vì dân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được giới sử gia, các học giả, nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước đề cập, phân tích, đánh giá rất nhiều, như bài xã luận đăng trên Báo EL Moudjahd của Algerie (số ra ngày 04/01/1976) nhấn mạnh: “Tướng Giáp còn hơn một anh hùng. Ông thuộc dòng các chiến sỹ mà người ta sẽ kể chiến công từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có lẽ ngay cả các nhà sử học cũng cần rất nhiều luận chứng để tránh miêu tả ông như một nhân vật truyền thuyết để kể lại đầy đủ những giá trị của ông.”

Ngược dòng lịch sử cách đây 76 năm, cuộc Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh trên khắp cả nước đã thu được thắng lợi hoàn toàn, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngày 28/8/1945, theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với cơ cấu gồm 13 Bộ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu kế hoạch tác chiến và mở chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Bí thư Đảng đoàn Chính phủ, đặc trách quân sự, trực tiếp lãnh đạo Bộ Nội vụ và công việc tổ chức chính quyền, an ninh, nội trị trong những ngày tháng đầu tiên khi nước ta mới giành được độc lập.

Ngay khi nhận trọng trách, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã bắt tay ngay vào thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu của quốc gia như tham gia xây dựng các thể chế cho nền hành chính dân chủ và pháp quyền, xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương với mục tiêu cao cả là vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của người dân.

Không phụ sự ủy thác, tin cậy và giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ tưởng chừng “bất khả thi” trong những ngày đầu tiên của chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ, lại ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc.”

Người góp phần đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam

Dù chỉ giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khoảng thời gian hơn 6 tháng (từ ngày 28/8/1945 đến ngày 02/3/1946) nhưng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã có công lao to lớn trong việc tham gia xây dựng thể chế hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, ông đã tham mưu cho Chính phủ ban hành trên 100 sắc lệnh, trong đó có khoảng 30 sắc lệnh do chính ông ký, có tính chất pháp quy hành chính trên nhiều ngành/lĩnh vực.

Với khối lượng công việc đồ sộ trong khoảng thời gian ngắn mà ông đã làm khi đó, chúng ta có thể tự hào khẳng định rằng, dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt, tín nhiệm và giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp chính là người đã tham gia đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của người dân Việt Nam!

Cử tri ngoại thành Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khoá I ngày 6/1/1946. (Ảnh: TTXVN)

Tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa I

Không đầy một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, Chính phủ lâm thời đã ra sắc lệnh tổ chức Tổng tuyển cử trên cả nước để bầu ra Quốc dân đại hội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, trong lịch sử của các dân tộc vừa đấu tranh giành độc lập, chưa bao giờ một sắc lệnh về Tổng tuyển cử được ban hành sớm như thế.

Trước hết, đây là lòng tin của Đảng vào tinh thần yêu nước, vào trình độ giác ngộ của nhân dân. Tổng tuyển cử sẽ là một cuộc vận động chính trị rộng lớn và sâu sắc để một Quốc hội do nhân dân chính thức cử ra, một Chính phủ chính thức thành lập theo đúng nguyên tắc dân chủ sẽ có đủ uy tín, danh nghĩa và sức mạnh động viên tinh thần, lực lượng của nhân dân để kháng chiến kiến quốc, để giao dịch với nước ngoài.

Ngoài ra, Bộ Nội vụ có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng, kiện toàn hệ thống chính quyền nhà nước các cấp từ Trung ương đến địa phương.

Sắc lệnh số 14 đặt nền móng cho việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946, bầu ra Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của Tổng tuyển cử, được sự tin cậy, giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh số 14, ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nội dung Sắc lệnh chỉ rõ: “1- Trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội; 2- Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường; 3- Số đại biểu của Quốc dân đại hội ấn định là 300 người; 4- Quốc dân đại hội sẽ có toàn quyền ấn định Hiến pháp cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; 5- Một Ủy ban để dự thảo thể lệ cuộc tổng tuyển cử sẽ thành lập; 6- Để dự thảo một bản hiến pháp đệ trình Quốc hội, một Ủy ban khởi thảo hiến pháp 7 người sẽ thành lập; 7- Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền phụ trách thi hành sắc lệnh này.”

Với lối diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, súc tích, Sắc lệnh số 14 đặt nền móng cho việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946, bầu ra Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên này là minh chứng sinh động, hùng hồn cho niềm hạnh phúc lớn lao, vô bờ bến của nhân dân Việt Nam – những người từ thân phận lầm than, mất nước – nay đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa,” thực sự trở thành chủ nhân của đất nước, không phân biệt là trai hay gái, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử vào Quốc dân đại hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

Tại Kỳ họp thứ nhất (ngày 02/6/1946) Quốc hội khóa I đã công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, công nhận Kháng chiến ủy viên hội do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, công nhận Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên.

Với việc công nhận Chính phủ chính thức và các thành viên của Chính phủ, Quốc hội khóa I đã mở đường cho việc xây dựng một nền hành chính dân chủ, vì dân – nền tảng để chăm lo cho cuộc sống ấm no về vật chất, đầy đủ về tinh thần, vì hạnh phúc của người dân Việt Nam. Trong tiến trình đó, một phần công lao to lớn thuộc về Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.

Cùng với tổ chức Tổng tuyển cử, một trong những khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ mà Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp phải làm bằng được là kêu gọi những người hiền tài ra giúp nước theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa I là thắng lợi của Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó có công lao của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp.

Vốn là thầy giáo dạy Lịch sử, ông thấm nhuần lời dạy của người xưa: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài, bồi đắp thêm nguyên khí.”

Với sự nỗ lực của ông, sau cuộc Tổng tuyển cử, Quốc hội đã bầu ra Chính phủ chính thức với đội ngũ cán bộ vừa có đức, vừa có tài, trong đó có nhiều nhân sỹ, trí thức tiêu biểu đã tham gia.

Việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội khóa I là thắng lợi của Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó có công lao của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp. Nhìn trên phương diện này, ông là người có công lớn trong việc tham gia xây dựng nền hành chính vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

Phụ trách việc thành lập Ban dự thảo Hiến pháp, đưa tới sự ra đời của bản Hiến pháp năm 1946

Năm 1919, khi gửi bản yêu sách tám điểm tới Hội nghị Versailles đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã nêu những điều liên quan đến hiến pháp, pháp quyền. Sau đó, năm 1922, trong “Việt Nam yêu cầu ca,” Người khẳng định vai trò của Hiến pháp, pháp luật bằng hai câu thơ: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền.”

Ngày 02/9/1945, mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng trích Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Tiếp tục tinh thần thượng tôn “thần linh pháp quyền” cũng như thực hiện Sắc lệnh số 14 ngày 8/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phụ trách việc thành lập Ban soạn thảo Hiến pháp.

Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự giúp đỡ của các chuyên gia giàu kinh nghiệm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp và Ban Soạn thảo đã hoàn thành Dự thảo và trình Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp năm 1946 – luật cơ bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều thứ 1 của Hiến pháp năm 1946 xác định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”

Hiến pháp là một thực thể gắn kết chặt chẽ với chế định dân chủ, bởi vì một xã hội không có Hiến pháp thì người dân không thể được hưởng quyền tự do, dân chủ hay mưu cầu hạnh phúc.

Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Hiến pháp năm 1946 là văn bản pháp luật đầu tiên góp phần quan trọng trong việc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền còn non trẻ, là cơ sở để xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền với nền hành chính vận hành thông suốt từ Trung ương đến địa phương.

Nền hành chính dựa trên nền tảng dân chủ đó là nền hành chính vì hạnh phúc của người dân. Với công lao to lớn trong việc làm ra bản Hiến pháp năm 1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp góp phần đặt những viên gạch đầu tiên cho nền hành chính vì hạnh phúc của người dân.

Ký ban hành Sắc lệnh số 07 ngày 05/9/1945

Thấu hiểu nỗi cơ cực, lầm than của nhân dân dưới thời thực dân, phong kiến, và rằng người dân chỉ biết đến tự do, hạnh phúc khi họ được cơm no, áo ấm, nên ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất những công việc mà Chính phủ phải thực hiện ngay: “1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở…”; bởi lẽ, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”

Một Chính phủ vì dân là một Chính phủ mà từ hoạch định, xây dựng chính sách cho đến thi hành chính sách đều phải xuất phát từ chăm lo cho dân. “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sông của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Hành động của nền hành chính vì dân đòi hỏi: “Việc gì có lợi cho dân, chúng ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân chúng ta phải hết sức tránh.”

Là người luôn thấu hiểu và rất linh hoạt trong việc hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã tập trung vào vấn đề cấp bách lúc bấy giờ là chống “giặc đói,” cũng có nghĩa là chăm lo cho đời sống vật chất của người dân – một khía cạnh phản ánh cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

Thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã ký ban hành Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 07 ngày 05/9/1945.

Sắc lệnh số 07 ngày 05/9/1945 đã góp phần tháo gỡ kịp thời những khó khăn trong việc vận chuyển, buôn bán thóc gạo, chống lại nạn đầu cơ, tích trữ lương thực trong bối cảnh nạn đói đang hoành hành dữ dội khi đó.

Nhờ sắc lệnh số 07 mà việc buôn bán, chuyên chở thóc gạo ở Bắc Bộ hoàn toàn được tự do, Chính phủ cần thóc gạo sẽ mua thẳng của tư gia.

Còn đối với những người có hành vi đầu cơ, tích trữ gạo mà làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật và bị tịch thu gia sản. Việc Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp kịp thời ký ban hành Sắc lệnh số 07 chính là việc làm thiết thực, kịp thời của Chính phủ, phản ánh sinh động một thực tế rằng, nền hành chính dân chủ non trẻ buổi đầu ấy đã luôn biết đặt lợi ích, nhu cầu của người dân Việt Nam lên trên hết, biết vì hạnh phúc của người dân bắt đầu từ những điều dung dị nhất là cơm ăn, áo mặc.

Ký ban hành Sắc lệnh số 17, số 19 và số 20 ngày 08/9/1945

Bên cạnh việc đối phó với “giặc đói,” Chính phủ còn phải quyết liệt đấu tranh với “giặc dốt.” Người dân “no cái bụng” rồi mà vẫn còn “đói cái chữ,” nghĩa là vẫn còn nghèo nàn về đời sống tinh thần thì chưa thể có được niềm hạnh phúc thực sự.

Ngay trong buổi họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra sáu việc cấp bách, trong đó, việc chống nạn mù chữ xếp thứ hai, chỉ sau nạn đói.

Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ”. Để chăm lo cho hạnh phúc lâu dài của nhân dân thì nhất thiết phải lo xóa nạn mù chữ. Thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945.

Một lớp Bình dân học vụ ở Hà Nội những ngày đầu độc lập. Bình dân học vụ là phong trào xóa nạn mù chữ trong toàn dân, được Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động ngày 8/9/1945, ngay sau khi Việt Nam giành được độc lập, nhằm giải quyết giặc dốt – một trong các vấn đề cấp bách nhất của đất nước thời gian đó. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Sắc lệnh số 17 thực sự là “cú hích” mạnh mẽ làm bùng lên phong trào “Bình dân học vụ” diễn ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn; những lớp học chữ mọc lên khắp mọi nơi, người biết chữ làm giáo viên không lương, người dân đi học để thoát cảnh không thể viết tên mình.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp cũng đã ký ban hành Sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 với nội dung gồm 03 khoản, trong đó, khoản II quy định: “Trong hạn sáu tháng, làng nào và đô thị nào cũng đã phải là một lớp học dạy được ít nhất là ba mươi người.”

Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp còn ký ban hành Sắc lệnh số 20 về việc thiết lập những lớp học bình dân buổi tối cho nông dân và thợ thuyền; trong đó quy định “bắt buộc học chữ quốc ngữ và không phải mất tiền cho tất cả mọi người.”

Sắc lệnh số 17, Sắc lệnh số 19 và Sắc lệnh số 20 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời ngày 08/9/1945 là những văn bản pháp lý hành chính rất quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy cuộc chiến chống “giặc dốt” thời bấy giờ. Đây cũng là một trong những tiêu chí rất quan trọng của nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, vì hạnh phúc của người dân.

Kết quả của phong trào Bình dân học vụ vượt trên cả sự mong đợi. Theo sách Việt Nam chống nạn thất học của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1980, chỉ trong một năm (8/1945-8/1946), phong trào Bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người, phát triển được gần 96.000 giáo viên, mở được gần 75.000 lớp học.

Sau 5 năm (đến 30/6/1950), gần 12,2 triệu người biết chữ; 10 tỉnh với 80 huyện, hơn 1.400 xã và 7.200 thôn được công nhận thanh toán nạn mù chữ.

Có thể khẳng định rằng, Sắc lệnh số 17, Sắc lệnh số 19 và Sắc lệnh số 20 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời ngày 08/9/1945 là những văn bản pháp lý hành chính rất quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy cuộc chiến chống “giặc dốt” thời bấy giờ, đồng thời, đặt nền móng cho việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Đây cũng là một trong những tiêu chí rất quan trọng của nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, vì hạnh phúc của người dân.

Lớp học Diệt giặc dốt cấp tốc trong giờ nghỉ trên thao trường của bộ đội và dân quân tự vệ. (Ảnh: TTXVN)

Bằng tài năng xuất chúng, bằng mưu lược tinh thông và trên hết là cái tâm sáng chỉ biết vì nước, vì dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nền pháp chế hành chính vì dân, chủ động tham mưu cho Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành một loạt các sắc lệnh, văn bản hành chính…, góp phần từng bước đưa công tác tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính đi vào ổn định, nền nếp, có căn cứ pháp lý và dựa trên quy trình hành chính chặt chẽ; dần khẳng định được hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính vì hạnh phúc của người dân.

Chúng ta có quyền tự hào khẳng định rằng, những cống hiến lớn lao của Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những ngày tháng đầu tiên không thể nào quên dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đã đặt nền móng vững chắc cho quá trình xây dựng nền hành chính dân chủ, pháp quyền vì hạnh phúc của người dân Việt Nam.

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, lịch sử dân tộc và đất nước Việt Nam anh hùng của chúng ta sẽ mãi mãi ghi nhận, tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị của nền hành chính vì hạnh phúc của người dân trên những chặng đường cách mạng tiếp theo.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà trình bày các tờ trình tại Phiên họp thứ 55 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Tự hào và biết ơn vị Bộ trưởng đầu tiên Võ Nguyên Giáp, Bộ Nội vụ không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang của ngành, góp phần xây dựng nền hành chính nhà nước vì hạnh phúc của người dân Việt Nam, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch… Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.”

Một trong những điểm mới lần đầu tiên được nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là vấn đề “quản trị quốc gia.” Đảng ta chủ trương: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả.”

Bên cạnh đó, cùng với quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại…; để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”; đồng thời “phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân.”

Từ vai trò của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp với tư cách là người tham gia đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng nền hành chính dân chủ, pháp quyền, vì hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với chủ trương, đường lối của Đảng ta về xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; từng bước hướng tới nền quản trị quốc gia vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, có thể khẳng định rằng, Đảng, Nhà nước rất tin tưởng, giao phó cho ngành Nội vụ nói chung, Bộ Nội vụ nói riêng trọng trách nặng nề – song cũng là sứ mạng thiêng liêng, cao cả là xây dựng, vận hành nhịp nhàng, thông suốt nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, hướng đến mục tiêu tối thượng vì hạnh phúc của nhân dân.

Trên hành trình đó, việc tiếp thu, kế thừa, tiếp tục phát huy những di sản về một nền hành chính dân chủ, pháp quyền, vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam mà Cố Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã có công xây dựng, bồi đắp chắc chắn sẽ mang lại những giá trị cao đẹp và nhân văn sâu sắc, những bài học hữu ích cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức toàn ngành Nội vụ hiện nay.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại lễ duyệt binh trên Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. (Ảnh: Thế Trung/TTXVN)

Kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911-25/8/2021) là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của Đại tướng với đất nước, với dân tộc, với Quân đội nhân dân Việt Nam và với cương vị là Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên – người tham gia đặt nền móng cho việc xây dựng một nền hành chính vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

Với tâm nguyện “ôn cố tri tân,” học hỏi các bậc tiền nhân ý chí, nghị lực, những bài học quý, kinh nghiệm hay để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn sự nghiệp cách mạng của đất nước trong hiện tại, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, những di sản tinh thần vô giá mà Cố Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp để lại cho các thế hệ cán bộ, công chức chúng ta hôm nay và muôn đời sau sẽ luôn lan tỏa mạnh mẽ, trở thành động lực thôi thúc mỗi chúng ta nỗ lực vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó!

Tương lai bất định của Afghanistan

Tương lai bất định

của Afghanistan

Những diễn biến dồn dập ở Afghanistan trong chưa đầy 24 giờ qua, lực lượng Taliban tiến vào thủ đô Kabul, Tổng thống Ashraf Ghani quyết định rời đất nước và chính quyền chuyển tiếp tạm thời nắm quyền…, vốn là “kịch bản” đã được dự đoán từ trước, chỉ có điều nó đến sớm hơn so với tính toán.

Sức kháng cự yếu ớt của lực lượng an ninh Afghanistan đã không thể mang lại sức nặng cho đề xuất chia sẻ quyền lực muộn màng mà chính quyền Kabul đưa ra.

Cuộc xung đột tại Afghanistan gần như đã đi đến hồi kết trong một tiến trình không thể đảo ngược, sẽ đưa Taliban trở lại quyền lực sau 20 năm.

Lực lượng Taliban đã tấn công và lần lượt giành quyền kiểm soát nhiều thành phố, thị trấn ở Afghanistan, bất chấp Mỹ và các nước cảnh báo sẽ không công nhận một chính quyền Taliban lên nắm quyền bằng vũ lực.

Cuộc xung đột tại Afghanistan gần như đã đi đến hồi kết trong một tiến trình không thể đảo ngược, sẽ đưa Taliban trở lại quyền lực sau 20 năm.

Cán cân sức mạnh trên chiến trường Afghanistan đã thay đổi nhanh chóng từ tháng 5 vừa qua khi các lực lượng quốc tế do Mỹ dẫn đầu rút quân.

Các tay súng Taliban tại thành phố Kandahar, Afghanistan, ngày 13/8/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Một số nhà phân tích cho rằng thỏa thuận giữa Mỹ và Taliban hồi tháng 2/2020 về việc Washington rút quân khỏi Afghanistan phần nào giúp “hợp pháp hóa” các tay súng Taliban và thúc đẩy vị thế của phong trào Hồi giáo này trong một xã hội có tính bộ lạc và phân tầng sâu sắc.

Chưa khi nào trong các cuộc đàm phán với Taliban, Mỹ có thể đạt được nhượng bộ từ nhóm này về một giải pháp chính trị ở Afghanistan. Trọng tâm đàm phán của Mỹ là rút các lực lượng một cách êm thấm và Taliban đã không nhắm mục tiêu vào người Mỹ ngay cả khi các tay súng này tiếp tục chiến dịch tấn công tại Afghanistan.

Mặt khác, việc Mỹ rút quân đã khiến Chính phủ Afghanistan, vốn bị chia rẽ nội bộ và thiếu sự ủng hộ ở các vùng nông thôn, mất đi lợi thế quan trọng nhất trong cuộc chiến, đó là sự hỗ trợ trên không.

Tướng Austin “Scott” Miller (trái) , Tư lệnh lực lượng liên quân Mỹ ở Afghanistanvà Tướng Kenneth McKenzie, người đứng đầu Tư lệnh Trung tâm Mỹ tại lễ chuyển giao quyền chỉ huy, ở Kabul ngày 12/7/2021. (Ảnh:AFP/TTXVN)

Trước sự tấn công dồn dập ở khắp các thành phố bị vây hãm trong nhiều tuần, hệ thống phòng thủ của Afghanistan sụp đổ như một “lâu đài cát” khi Taliban gia tăng sức ép.

Một yếu tố nữa là chính là sự bất ổn và mâu thuẫn nội bộ của Afghanistan, khi nước này đã không có một chính phủ tập quyền mạnh trong một thời gian dài. Trong nỗ lực củng cố quân đội quốc gia, chính phủ của Tổng thống Ashraf Ghani lâu nay đã tìm cách “phớt lờ” các thủ lĩnh sắc tộc.

Điều đó khiến sự nghi kỵ, chia rẽ sắc tộc và phe phái ở Afghanistan ngày càng sâu sắc. Đến khi lực lượng quốc gia không thể bảo vệ các thành phố, ông Ghani quay sang cầu viện thủ lĩnh các sắc tộc, nhưng điều đó là quá muộn bởi các tay súng Taliban đã áp sát Kabul.

Trong khi đó, các cuộc đàm phán hòa bình giữa Chính phủ Afghanistan và phong trào Taliban rơi vào bế tắc.

Tổng thống Afghanistan Ashraf Ghani phát biểu trên truyền hình tại Kabul, ngày 14/8/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Tổng thống Ghani đã rời khỏi đất nước, để lại đằng sau những hỗn loạn và lo âu, cùng tương lai bất định cho mảnh đất từng bị coi là “cái nôi của khủng bố.” Không khó để hình dung những hệ quả khôn lường mà cục diện của cuộc xung đột sẽ gây ra cho cả khu vực và xa hơn thế.

Cũng giống như những năm 90 của thế kỷ trước, Taliban hứa hẹn mang đến ổn định và an ninh. Trong tuyên bố phát đi rạng sáng 16/8 (giờ Việt Nam), người phát ngôn văn phòng chính trị của Taliban – ông Mohammad Naeem – khẳng định rằng phong trào này không mong muốn tồn tại trong tình trạng bị cô lập và hy vọng thiết lập các mối quan hệ với cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, trong thông điệp mới đây, thủ lĩnh tối cao Taliban, Hibatullah Akhundzada tuyên bố Taliban đang trên đà thiết lập một “hệ thống Hồi giáo thuần túy” ở Afghanistan, nơi phụ nữ và các nhóm thiểu số không được hưởng các quyền.

Phát ngôn viên chính trị của Taliban, ông Mohammad Naeem. (Ảnh: Teller Report/TTXVN)

Từ những phát ngôn của thủ lĩnh Akhundzada và các chiến dịch quân sự, có thể thấy Taliban rõ ràng muốn đặt toàn bộ Afghanistan dưới sự cai trị của phong trào Hồi giáo cực đoan này.

Điều đó làm dấy lên lo ngại dân số gần 40 triệu người của Afghanistan sẽ một lần nữa phải chịu một trong những hình thức khắc nghiệt nhất của chủ nghĩa toàn trị tôn giáo. Nhiều người lo ngại Taliban sẽ áp đặt chế độ Hồi giáo hà khắc, đảo ngược hai thập niên tiến bộ của phụ nữ và các nhóm thiểu số, trong khi hạn chế hoạt động của báo chí… ở Afghanistan.

Một hệ lụy nữa được nhắc tới là nguy cơ truyền bá các tư tưởng thánh chiến bạo lực cực đoan. Khi Kabul thất thủ, mục tiêu ban đầu của Taliban thiết lập một “Vương quốc Hồi giáo” ở Afghanistan sắp trở thành hiện thực.

Có thể thấy trước rằng tương lai chính trị của Afghanistan dường như không mấy tươi sáng. Nhiều khả năng nước này sẽ bị phân quyền, rời rạc và là một nhà nước yếu kém.

Giới chuyên gia nhận định trường hợp của tổ chức “Nhà nước Hồi giáo” (IS) tự xưng sau khi Mosul (Iraq) thất thủ có thể lặp lại. “Vương quốc Hồi giáo” này có thể trở thành trung tâm truyền bá tư tưởng thánh chiến bạo lực, dẫn đến gia tăng hoạt động tuyển mộ vào các nhóm cực đoan như Al-Qaeda và cuộc thánh chiến này có lẽ sẽ không chỉ giới hạn trong biên giới địa lý của Afghanistan.

Bình luận về tác động của các diễn biến tại Afghanistan đối với tình hình khu vực, Giáo sư Sreeram Sundar Chaulia, Hiệu trưởng Trường Quốc tế Jindal, Đại học Toàn cầu Jindal, bang Haryana, Ấn Độ, nhận định khu vực này luôn bị ảnh hưởng bất cứ khi nào có bất ổn hoặc có một nhà nước yếu kém và dễ sụp đổ ở Afghanistan. Vì vậy, nơi đây luôn có xu hướng lan truyền chủ nghĩa cực đoan thánh chiến.

Trên thực tế, khi Taliban cầm quyền giai đoạn 1996-2001, một số vụ tấn công thánh chiến đã được lên kế hoạch từ Afghanistan, trong đó có vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 ở Mỹ hay vụ không tặc chuyến bay IC814 của hãng hàng không Ấn Độ Indian Airlines ngày 24/12/1999.

Có rất nhiều nhóm khủng bố hoạt động trong khu vực, tại Uzbekistan, Tajikistan, Pakistan, Ấn Độ, Iran…. đã từng ẩn náu ở Afghanistan hoặc được một số nhóm bên trong Afghanistan hậu thuẫn. Mạng lưới khủng bố quốc tế Al-Qaeda, IS và các nhóm khủng bố lớn toàn cầu đều đang lợi dụng Afghanistan như một nơi trú ẩn an toàn.

Người dân Afghanistan sơ tán tránh xung đột trú tại khu lều tạm ở Kabul, ngày 14/8/2021. (Ảnh: EPA-EFE/TTXVN)

Do đó, tình hình hiện nay tại Afghanistan khi Taliban sắp lên nắm quyền đang khiến an ninh của tất cả các quốc gia láng giềng bị đe dọa. Đây chính là lý do tại sao việc đảm bảo một Afghanistan ổn định và không xảy ra bất trắc là một vấn đề an ninh quốc gia đối với các nước ở cả trong và bên ngoài khu vực.

Trong những phản ứng đầu tiên, Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Antonio Guterres đã yêu cầu Taliban “thực hiện kiềm chế tối đa” ở Afghanistan.

Thông cáo của Liên hợp quốc dẫn lời Tổng Thư ký Guterres bày tỏ “đặc biệt quan ngại về tương lai của phụ nữ và trẻ em gái,” đồng thời yêu cầu phải bảo vệ “các quyền lợi khó khăn lắm mới giành được” của những người này.

Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres phát biểu về tình hình Afghanistan tại trụ sở LHQ ở New York (Mỹ) ngày 12/8/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Liên minh châu Âu (EU) cũng nhấn mạnh sự cần thiết tránh các cuộc tàn sát tại Afghanistan. Phát ngôn viên của Đại diện cấp cao phụ trách chính sách an ninh và đối ngoại EU Josep Borrell nói: “Chúng tôi hiểu rằng các cuộc đàm phán đang được tiến hành về một hệ thống chuyển giao chính quyền và chúng tôi sẽ phản ứng theo kết quả của cuộc chuyển giao.”

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) khẳng định sẽ hỗ trợ người dân Afghanistan tìm giải pháp chính trị cho cuộc xung đột hiện nay, điều mà tổ chức này khẳng định là “cấp bách hơn bao giờ hết.”

Đại diện đặc biệt của Tổng thống Nga tại Afghanistan, Giám đốc Vụ châu Á II Bộ Ngoại giao Nga Zamir Kabulov cho biết ông sẽ có các cuộc tiếp xúc với đại diện lực lượng Taliban. Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif khẳng định Tehran sẵn sàng “tiếp tục thực hiện những nỗ lực kiến tạo hòa bình.”

Một cuộc đối thoại hòa giải dân tộc giữa các bên ở Afghanistan, trên cơ sở đặt lợi ích của người dân lên trên hết, là điều quan trọng nhất. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến vai trò của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các cường quốc trong khu vực.

Về phần Mỹ, khi Washington đã rút gần hết các lực lượng đồn trú tại Afghanistan, sẽ rất khó để chính quyền của Tổng thống Joe Biden duy trì ảnh hưởng đáng kể đối với các diễn biến trên thực địa ở Afghanistan cũng như quá trình thành lập chính phủ do Taliban đứng đầu.

Do đó, trong thời gian tới, nhiều khả năng các nước trong khu vực và các nước láng giềng của Afghanistan sẽ tăng cường những nỗ lực can dự và đóng một vai trò lớn hơn trong vấn đề Afghanistan, trong khi Mỹ sẽ vẫn cố gắng duy trì một vai trò chống khủng bố nào đó thông qua các cuộc tấn công trên không từ bên ngoài Afghanistan.

Hiện Washington đang tìm kiếm các căn cứ phù hợp ở các quốc gia láng giềng mà từ đó Mỹ vẫn có thể thực hiện những chiến dịch mà họ gọi là “từ bên ngoài lãnh thổ,” mặc dù điều đó cũng chưa chắc chắn.

Có thể thấy trước rằng tương lai chính trị của Afghanistan dường như không mấy tươi sáng. Nhiều khả năng nước này sẽ bị phân quyền, rời rạc và là một nhà nước yếu kém.

Vấn đề lớn hơn là chiến tranh đã tàn phá tất cả cơ sở hạ tầng của Afghanistan và nước này là một trong những quốc gia nghèo nhất, tình trạng tham nhũng tràn lan với năng lực quản trị yếu kém, trong khi an ninh bất ổn luôn là thách thức.

Để khắc phục tất cả những điều này, một cuộc đối thoại hòa giải dân tộc giữa các bên ở Afghanistan, trên cơ sở đặt lợi ích của người dân lên trên hết, là điều quan trọng nhất. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến vai trò của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các cường quốc trong khu vực.

Cảnh vắng lặng trên đường phố Kabul, Afghanistan sau khi Taliban tuyên bố giành quyền kiểm soát quốc gia Tây Nam Á, ngày 15/8/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Cuộc xung đột ở Afghanistan tiềm ẩn nhiều nguy cơ sâu rộng toàn cầu, nên việc giải quyết không phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia đơn lẻ nào, dù là Iran, Nga, Qatar hay Mỹ.

Tất cả đều phải nỗ lực để góp phần mang lại hòa bình và ổn định cho Afghanistan, đảm bảo một môi trường an ninh có lợi cho sự phát triển của khu vực và thế giới./.

Đêm cô đơn của những người lao công

2h sáng, những âm thanh của xe rác hay ánh sáng của những chiếc đèn rọi cũng lẻ loi trên từng con phố như chính công việc của những người công nhân vệ sinh môi trường.

Họ vẫn thường trêu nhau rằng: “Công việc sẽ bắt đầu từ lúc những chiếc xe rác con rỗng bụng, cho chúng ăn no rồi đưa về gặp xe rác mẹ là xong.”

Nghe thì có vẻ thú vị, nhưng thực chất công việc đó diễn ra trong khoảng 5 tiếng đồng hồ xuyên màn đêm liên tục không ngơi nghỉ.

Vào thời điểm giãn cách xã hội như thế này, công việc đó còn vất vả hơn. 

Ngày không mưa mùa hè thì nóng nực, mùa đông thì lạnh thấu xương, ngày mưa thì vừa ướt, vừa bẩn, mà trọng lượng của rác thì nặng lên gấp rưỡi, thậm chí là gấp đôi. 

Có mặt tại một điểm tập kết rác thải, nơi những âm thanh ầm ầm hối hả của xe cộ kết hợp với mùi nồng nặc khó chịu của rác làm cho nỗi vất vả của những công nhân môi trường có thể được cảm nhận bằng tất cả các giác quan. 

Với mức lương khoảng gần 6 triệu đồng một tháng, chắc chắn, đây không phải là lý do chính để giữ những người công nhân ở lại với công việc này.

Có lẽ, trong số họ, mỗi người sẽ có những lý do riêng.

Tuy nhiên, họ đã gặp nhau ở một điểm chung, đó là niềm tin vào những đóng góp thầm lặng của mình cho xã hội và niềm vui khi làm sạch, làm đẹp cho cuộc đời. 

Tâm sự của những shipper giữa mùa dịch

“Shipper” – những người làm nghề vận chuyển hàng, trong nhiều năm nay đã trở thành một ngành nghề quen thuộc với người Việt. 

Căn cứ vào tính chất công việc, người ta chia Shipper thành nhiều loại: Shipper truyền thống, Shipper công nghệ, Shipper hàng, Shipper giấy tờ, thậm chí là Shipper đồ ăn… 

Tuy nhiên, trong thời dịch bệnh bùng phát, nhiều địa phương phải thực hiện gắt gao các chỉ thị giãn cách xã hội, Shipper chỉ còn 2 loại, được người trong nghề gọi vui là: Những Shipper được ship và những Shipper không được ship.

Thời điểm này, nhiều địa phương phải thực hiện gắt gao các biện pháp giãn cách xã hội

Vì thế, những “người vận chuyển” này đã trở thành sợi dây gắn kết sự giao thương của hàng hoá, duy trì vận động của xã hội và cuộc sống của người dân.

Những người lao động tự do mắc kẹt tại Thủ đô

Căn phòng cho thuê tại khu dân cư La Dương, Dương Nội, Hà Đông chỉ rộng khoảng gần 50 mét vuông nhưng lại là chỗ ở của 22 người.

Kể từ sau khi Hà Nội áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, công trường buộc phải tạm dừng, giao thông qua các cửa ngõ được kiểm soát chặt chẽ, về quê thì không được, ở lại thì không có việc làm…

…cuộc sống của cả 22 con người trong suốt 24 giờ một ngày gắn chặt với căn phòng này.

Cách đó không xa, một số công nhân xây dựng khác kém may mắn hơn khi không có nhà kiên cố để ở

…phải sinh hoạt tại những căn chòi dựng tạm lụp xụp

Hiện tại, họ đang sống cầm cự bằng tài sản tích lũy ít ỏi của mình.

Dường như tất cả đều có chung 1 băn khoăn, đó là nếu dịch cứ diễn biến phức tạp, giãn cách xã hội tiếp tục kéo dài, cuộc sống của họ rồi sẽ ra sao?