Các sản phẩm báo chí chất lượng cao của VietnamPlus
Lời giới thiệu!
Voi – một trong những loài động vật hoang dã biểu tượng của đa dạng sinh học khu vực Tây Nguyên đang đứng trước bờ vực tuyệt chủng do nhiều nguyên nhân khác nhau; chủ yếu đến từ việc mất sinh cảnh và nhu cầu buôn bán, tiêu thụ ngà voi.
Là một quốc gia còn quần thể voi hoang dã phân bố; có một nền văn hóa gắn với thuần dưỡng voi nhà Tây Nguyên đồng thời là một quốc gia trung chuyển và tiêu thụ ngà voi có nguồn gốc từ châu Phi, việc thực hiện các giải pháp bảo tồn voi tại Việt Nam cũng như góp phần thực hiện trách nhiệm quốc tế trong bảo vệ các quần thể voi tại châu Phi khỏi nạn săn trộm – đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Chính vì thế, ngày 21/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 763/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013-2020” với mục đích bảo tồn, phát triển bền vững những quần thể voi hoang dã và voi nhà hiện có ở Việt Nam; đồng thời tăng cường hợp tác thực thi pháp luật, kiểm soát các hoạt động buôn bán, vận chuyển trái phép ngà và các bộ phận dẫn xuất của voi, góp phần bảo tồn các quần thể voi trong vùng và trên thế giới.
Mới đây, ngày 31/3/2022, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 413/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh thời gian thực hiện Đề án trên đến năm 2025 cũng như bổ sung một số địa phương vào địa bàn thực hiện đề án bảo tồn khẩn cấp, qua đó khẳng định sự cần thiết phải bảo tồn voi tại Việt Nam.
Thế nhưng, bất chấp các nỗ lực bảo vệ, thời gian qua, không ít cá thể voi vẫn tiếp tục bị “tra tấn” lấy ngà, lông, xương bán ra thị trường để kiếm lời bằng nhiều hình thức khác nhau, từ lén lút đến công khai… Thậm chí, nhiều chủ cửa hàng bán đồ lưu niệm lẫn tiệm vàng ở Đắk Lắk và các tỉnh lân cận như Gia Lai, Kon Tum và Quảng Nam còn nhập cả những cặp ngà từ Châu Phi, Lào và Camphuchia về để chế tác thành vô số sản phẩm như nhẫn, bút, vòng tay, lắc… phục vụ “thượng đế.”
Chỉ riêng trong năm 2021, cơ sở dữ liệu vi phạm về động vật hoang dã của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) đã ghi nhận được 575 vụ việc vi phạm liên quan đến ngà voi. Đây là một thực trạng rất buồn và đáng báo động, không chỉ gây ảnh hưởng đến công tác bảo tồn voi, giảm hiệu lực thực thi pháp luật, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè và du khách quốc tế.
Thực tế trên đặt ra câu hỏi lớn về trách nhiệm thực thi cũng như sự quản lý của các cơ quan chức năng địa phương trước thực trạng hiển hiện trước mặt nhưng lại như vô hình và mặc nhiên tồn tại trong suốt nhiều năm qua, mà không bị xử lý?.
Để rõ hơn về “thế giới ngầm” buôn bán ngà voi, cũng như những khoảng tối trong công tác quản lý, bảo tồn voi của các cơ quan quản lý địa phương, mời độc giả cùng phóng viên VietnamPlus đi sâu vào thực tế điều tra, từ đó rộng đường dư luận để hiểu vì sao loài voi ở Tây Nguyên ngày càng suy giảm; nhiều quy định đã được công bố, nhưng đến nay vẫn chưa thể dẹp bỏ tình trạng này.
Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng cảnh sát nhân dân và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh diễn ra ngày 17/7 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia.
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng cảnh sát nhân dân luôn gắn liền với lịch sử vẻ vang của Công an nhân dân, với những trang sử cách mạng hào hùng của dân tộc.
Trải qua chặng đường 60 năm xây dựng và chiến đấu, đến nay, lực lượng cảnh sát nhân dân đã trở thành một trong những lực lượng vũ trang cách mạng trọng yếu, làm nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.
Cách đây 60 năm, ngày 20/7/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 34/LCT công bố Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân và Pháp lệnh quy định cấp bậc sỹ quan, hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân.
Trải qua chặng đường 60 năm xây dựng và chiến đấu, từ một lực lượng nhỏ bé ban đầu, đến nay, lực lượng cảnh sát nhân dân đã trưởng thành về mọi mặt, từ tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ đến phẩm chất, năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ, chiến sỹ, trở thành một trong những lực lượng vũ trang cách mạng trọng yếu, làm nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.
Bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
Ngay sau khi được thành lập, lực lượng cảnh sát nhân dân tại các địa phương trong cả nước đã phối hợp với lực lượng Liêm phóng trấn áp bọn phản cách mạng, bọn lưu manh côn đồ, giữ gìn trật tự trị an ở các thành phố, thị xã, bảo vệ an toàn các lãnh đạo Đảng, Nhà nước từ căn cứ về Hà Nội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đơn vị Công an nhân dân vũ trang bảo vệ Thủ đô, ngày 14/2/1961. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đặc biệt, lực lượng cảnh sát đã phối hợp chặt chẽ cùng các lực lượng khác bảo vệ tuyệt đối an toàn Lễ Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945 tại Thủ đô Hà Nội. Mặc dù mới được thành lập, song lực lượng công an nhân dân nói chung, lực lượng cảnh sát nhân dân nói riêng đã nhanh chóng ổn định đi vào hoạt động với vai trò là lực lượng chuyên chính của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Nổi bật nhất là chiến công của Nha Công an Trung ương (gồm lực lượng Trinh sát và Cảnh sát) trong vụ án lịch sử số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội) ngày 12/7/1946 phá tan tổ chức phản động nguy hiểm cấu kết với thực dân Pháp đảo chính lật đổ chính quyền cách mạng; điều tra khám phá vụ thảm sát cả nhà chủ hiệu kim hoàn Vĩnh Tường ngày 3/8/1946 ở thành phố Hải Phòng do binh lính Pháp gây ra; cùng các lực lượng khác bảo vệ an toàn cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên trong cả nước tháng 1/1946…
Góp phần củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng vùng mới giải phóng
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cán bộ chiến sỹ Cảnh sát nhân dân đã bám sát nhiệm vụ chính trị Đảng và Nhà nước giao, vừa tích cực phòng ngừa, chủ động đấu tranh chống tội phạm, vừa bảo vệ tài sản Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ các cơ sở kinh tế, giao thông… đồng thời chi viện cho an ninh miền Nam gần 3.000 cán bộ, chiến sỹ.
Số cán bộ chiến sỹ được tăng cường đã cùng với lực lượng tại chỗ chiến đấu tiêu diệt địch, đồng thời tiếp quản, thực hiện công tác quản lý hành chính, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, góp phần củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng vùng mới giải phóng.
Bác Hồ đến thăm cán bộ lớp Trung cấp Công an ở chiến khu Việt Bắc, năm 1950. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)Lực lượng Liêm phóng và Cảnh sát tự vệ bảo vệ Bác Hồ và lãnh đạo Mặt trận Việt Minh tại lễ Tuyên ngôn Độc lập ở quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2/9/1945. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị tại Đại hội thi đua Vì an ninh Tổ quốc, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 12/10/1966, tại Hà Nội. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh: 6 điều Bác dạy mãi là ngọn đuốc dẫn đường cho lực lượng Công an nhân dân
Sau giải phóng miền Nam, tội phạm gia tăng hoạt động khiến tình hình an ninh trật tự diễn biến theo chiều hướng xấu. Số vụ phạm tội gia tăng trong khi lực lượng cảnh sát nhân dân lại thiếu, phương tiện phục vụ công tác vừa thiếu, vừa lạc hậu… Trong hoàn cảnh đó, giữ vững trật tự xã hội trở thành thách thức lớn đối với lực lượng cảnh sát nhân dân.
Với sự kiên định, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường, được sự lãnh đạo của Đảng, trong 5 năm 1980 đến 1985, lực lượng cảnh sát nhân dân đã mở 23 đợt tấn công, kết hợp với phát động quần chúng truy quét tội phạm hình sự trên toàn quốc; bắt 192.504 tên tội phạm, trong đó 30% là lưu manh chuyên nghiệp, triệt phá 13.001 băng, ổ, nhóm tội phạm, trong đó có 141 băng cướp của, giết người; bắt truy tố 17.078 tên, tập trung giáo dục cải tạo 37.605 tên.
Đi đôi với đấu tranh tội phạm hình sự, trên mặt trận chống Fulro Tây Nguyên, lực lượng cảnh sát phối hợp với các lực lượng lập được nhiều chiến công lớn, đánh 2.025 trận, diệt 2.435 tên, gọi trình diện 9.546 tên…
Khẳng định bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của lực lượng cảnh sát nhân dân
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhiệm vụ công tác công an càng nặng nề. Các thế lực thù địch chống phá quyết liệt hơn, hoạt động của tội phạm hình sự, tội phạm kinh tế, tội phạm về ma túy ngày càng tinh vi hơn.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gắn Huân chương Hồ Chí Minh lên lá cờ truyền thống của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Trong hoàn cảnh đó, giữ vững trật tự xã hội trở thành thách thức lớn đối với lực lượng Cảnh sát nhân dân. Lực lượng cảnh sát nhân dân luôn sát cánh cùng các lực lượng khác của Công an nhân dân, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương, gắn bó mật thiết với nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Lực lượng cảnh sát nhân dân luôn thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu cho Bộ Công an, Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng và ban hành pháp luật về phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, cán bộ, chiến sỹ cảnh sát nhân dân luôn nêu cao tinh thần “Chủ động, nêu gương, kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả,” chú trọng học tập, nâng cao trình độ, năng lực thực thi pháp luật, gương mẫu chấp hành, bảo vệ pháp luật, góp phần lan tỏa tinh thần thượng tôn pháp luật, trở thành nếp sống văn hóa, văn minh của mỗi người dân, góp phần từng bước xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Có thể nói, mỗi trang sử hào hùng của dân tộc, mỗi biến đổi trọng đại của đất nước trên chặng đường chiến đấu, bảo vệ cũng như xây dựng, phát triển luôn có sự đóng góp của lực lượng cảnh sát nhân dân. 60 năm, một chặng đường lịch sử, mà bao công sức, sự hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sỹ cảnh sát nhân dân đã đổ vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.
Lực lượng cảnh sát nhân dân tích cực, chủ động ứng dụng thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào các mặt công tác, chiến đấu, điển hình là: xây dựng hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp hơn 60 triệu căn cước công dân trong một thời gian ngắn; triển khai Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia, có ý nghĩa quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần tạo nền tảng phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số…
Có thể nói, mỗi trang sử hào hùng của dân tộc, mỗi biến đổi trọng đại của đất nước trên chặng đường chiến đấu, bảo vệ cũng như xây dựng, phát triển luôn có sự đóng góp của lực lượng cảnh sát nhân dân. 60 năm, một chặng đường lịch sử, mà bao công sức, sự hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sỹ cảnh sát nhân dân đã đổ vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân
Kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát nhân dân: Những chiến sĩ ngày đêm bảo vệ bình yên Thủ đô
Khai mạc Vòng chung kết Hội thi điều lệnh, bắn sung, võ thuật Công an nhân dân khu vực phía Nam, năm 2022
10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA VIỆT NAM NĂM 2021 DO TTXVN BÌNH CHỌN-Sự kiện 9: Lần đầu tiên đưa vào hoạt động hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Chỉ tính riêng trong thời kỳ đổi mới, đã có gần 200 cán bộ, chiến sỹ cảnh sát nhân dân anh dũng hy sinh được công nhận là liệt sỹ và hơn 1.000 người bị thương hoặc phơi nhiễm HIV trong khi làm nhiệm vụ…
Những chiến công của họ đã được Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: 1 Huân chương Sao vàng; 12 Huân chương Hồ Chí Minh; 127 tập thể và 82 cán bộ, chiến sỹ cảnh sát nhân dân được phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác./.
Cảnh sát đặc nhiệm bắt giữ đối tượng có lệnh truy nã trong chuyên án triệt phá sào huyệt trùm ma túy ở xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La (6/2018). (Ảnh: TTXVN phát)
Kỳ thi Tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2022 vừa kết thúc, được Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá là thành công, đạt mục tiêu đề ra. Đây cũng là kỳ thi cuối cùng của năm học 2021-2022, khép lại một năm học đặc biệt sóng gió.
Năm học bắt đầu bằng lễ khai giảng chưa từng có khi ngày 5/9/2021, hàng triệu học sinh của 25 tỉnh, thành trên cả nước phải thực hiện nghi lễ chào năm học mới qua màn hình máy tính hoặc trước chiếc tivi. Thậm chí, học sinh của 6 tỉnh, thành là Quảng Trị, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Cà Mau, Cần Thơ, Bạc Liêu còn không tổ chức lễ khai giảng.
Sau lễ khai trường lần đầu tiên trong lịch sử là chuỗi ngày dạy và học đặc biệt khi hầu hết các địa phương trên cả nước đều phải tổ chức dạy học online và liên tục đóng/mở cửa trường tùy theo COVID-19. Ở nhiều địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, học sinh thậm chí học hết học kỳ 1 sang học kỳ 2, nhưng vẫn chưa một lần đặt chân tới trường. Với nhiều gia đình, do lệnh giãn cách, phong tỏa, con cái phải ở xa bố mẹ, không thể kèm cặp việc học hành.
Dưới tác động nặng nề của dịch COVID-19, toàn ngành giáo dục, từ đội ngũ cán bộ, thầy cô giáo đến các em học sinh và cả các phụ huynh đã phải nỗ lực hết mình để đạt cho được mục tiêu “tạm dừng đến trường nhưng không ngừng học,” vừa phòng chống dịch, vừa đảm bảo chất lượng giáo dục.
Em Trần Minh Bảo Ngọc, học sinh lớp 5A2 Trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trang phục chỉnh tề, dự lễ khai giảng qua truyền hình. Một năm học đặc biệt bắt đầu (Ảnh: CTV/Vietnam+)
Năm học chưa từng có trong lịch sử giáo dục
Cầm trên tay tờ giấy khen của con trai, chị Nguyễn Thị Là (quận Hoàng Mai, Hà Nội) không khỏi bồi hồi xúc động khi nhớ lại hành trình lớp 1 vô cùng đặc biệt của con mình.
Hà Nội tạm dừng đến trường từ tháng 4/2021, nên tháng 9/2021, bé Trần Quang Anh vào lớp 1 mà chưa thuộc bảng chữ cái, vốn là yêu cầu tối thiểu của học sinh khi hết bậc mầm non. Chưa biết mặt chữ cái nhưng con đã phải học ráp vần, tập đọc, tập viết những nét đầu tiên chỉ qua màn hình máy tính.
Chưa biết mặt chữ cái nhưng con đã phải học ráp vần, tập đọc, tập viết những nét đầu tiên chỉ qua màn hình máy tính.
Việc học đọc đã khó khăn, học viết càng khó khăn hơn khi con không được cô giáo cầm tay uốn nắn. Chồng chị trở thành giáo viên tại gia đồng hành cùng con.
Mỗi buổi tối, anh lại mang vở ô ly ra tập viết. “Đầu tiên là phải chấm từng chấm để luyện viết đúng cao độ của từng loại chữ, đúng khoảng cách giữa các chữ. Lúc đầu tôi cũng rất lúng túng khi phải ngồi tỷ mẩn với từng nét móc, nét thẳng, nét xiên, nắn nót từng con chữ, nhưng vì con tôi phải cố gắng kiên nhẫn,” anh Nam, chồng chị Là chia sẻ.
Em Lê Nguyễn Uyển Vy, học sinh Trường Tiểu học Thành Công A (quận Ba Đình, Hà Nội) học viết tại nhà. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)
Có hai con đều là học sinh cuối cấp, con bé lớp 9, con lớn lớp 12, nỗi lo của chị Nguyễn Hồng Hạnh (quận Hai Bà Trưng) càng lớn hơn khi các con sẽ phải “vượt vũ môn” với các kỳ thi chuyển cấp và tuyển sinh đại học đầy áp lực, tính cạnh tranh cao.
“Học trực tuyến chất lượng không thể đảm bảo bằng học trực tiếp. Lớp quá đông, giáo viên không thể quán xuyến hết học sinh chỉ qua một màn hình máy tính nhỏ, sự tương tác giữa giáo viên và học sinh cũng rất hạn chế. Đặc biệt trong giai đoạn đầu năm học, chất lượng mạng Internet kém, phần mềm dạy học quá tải, đến mức có tiết học con tôi bị thoát ra đến 6 lần. Khi đó thực sự là quá căng thẳng và mệt mỏi!” chị Hạnh chia sẻ.
Tuy nhiên, con chị vẫn còn may mắn hơn 1,5 triệu học sinh khác trên cả nước không có máy tính, không điện thoại và không cả sóng Internet để học trực tuyến trong khi trường đã phải tạm đóng cửa vì dịch COVID-19.
Không chỉ chất lượng đào tạo bị ảnh hưởng, việc học trực tuyến kéo dài đã dẫn đến nhiều hệ lụy. Theo Phó giáo sư Phạm Mạnh Hà, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), học sinh đến trường không chỉ để học kiến thức mà còn được giao tiếp, kết nối với bạn bè, tham gia các hoạt động vui chơi ở sân trường. Vì thế, việc các em phải học trực tuyến, gò bó trong môi trường chật hẹp, hạn chế giao tiếp bạn bè và ít vận động khiến trẻ dễ rơi vào trạng thái cô độc, buồn chán, áp lực.
Ông Hà viện dẫn số liệu thống kê của Bệnh viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương cho thấy tỷ lệ học sinh, sinh viên đến thăm khám và điều trị trong giai đoạn học trực tuyến kéo dài đã tăng 30%; nghiên cứu năm 2021 của Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sức khỏe, tinh thần của sinh viên cho thấy: 56,8% sinh viên thiếu tập trung học tập và không hứng thú; 48% cảm thấy tự ti và mất phương hướng; 56,2% bị rối loạn giấc ngủ; 35,7% sinh viên tính tình thay đổi hay cáu gắt, lo lắng mà không có lý do.
lớp học vắng bóng học sinh. Cô Lê Thu Trang chỉ có một mình với chiếc máy tính và những dãy bàn ghế trống. (Ảnh: PM/Vietnam+)
Đầu năm 2022, với sự khuyến cáo của các chuyên gia giáo dục, của Tổ chức UNICEF, sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành giáo dục đã quyết tâm đưa học sinh trở lại trường, bắt đầu ở những vùng dịch bệnh đã dần được kiểm soát và với từng khối lớp, trong đó ưu tiên khối lớp cuối cấp và lớp 1.
Tuy nhiên, dưới tác động nặng nề của dịch bệnh, rất nhiều địa phương đã phải linh hoạt đóng-mở từng khu vực, từng trường, thậm chí từng lớp tùy theo từng thời điểm.
“Có những khi số giáo viên mắc COVID-19 quá nhiều và chúng tôi không còn đủ giáo viên để đứng lớp. Số học sinh đi học trực tiếp cũng vơi dần vì phụ huynh lo lắng,” thầy Nguyễn Quốc Bình, Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở-Trung học phổ thông Lương Thế Vinh (Hà Nội) chia sẻ.
Tại Trường Trung học phổ thông Trần Nhân Tông (Hà Nội), thậm chí cả trường chỉ duy nhất một học sinh đến lớp. Ở nhiều trường khác, lớp có học sinh nhưng không có giáo viên vì thầy cô bị nhiễm COVID-19. Ở rất nhiều nơi, thầy cô dù bị bệnh vẫn nỗ lực dạy học trực tuyến cho học sinh từ khu vực cách ly.
Thích ứng linh hoạt
Trước nguy cơ hàng triệu học sinh thất học vì thiếu trang thiết bị học trực tuyến, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã phát động chương trình “Sóng và máy tính cho em.” Chương trình kêu gọi sự chung tay của tất cả các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trang thiết bị công nghệ, phủ sóng Internet để học sinh nghèo, học sinh vùng khó khăn có thể học trực tuyến.
Chương trình đã tạo hiệu ứng lan rộng khắp cả nước. Ủy ban nhân dân, sở giáo dục và đào tạo các địa phương cũng phát động kêu gọi hỗ trợ học sinh với cách làm linh hoạt, từ ủng hộ tài chính đến quyên góp máy tính, điện thoại cũ, sửa máy tính hỏng. Tại Nghệ An, “thư viện” thiết bị hỗ trợ học trực tuyến được thành lập để linh hoạt luân phiên, xoay vòng giữa các vùng bị ảnh hưởng của dịch bệnh trong các thời điểm khác nhau.
“Cách làm này giúp tiết kiệm chi phí và giúp nhiều học sinh được hỗ trợ học trực tuyến hơn,” ông Thái Văn Thành, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An chia sẻ.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát động chương trình “Sóng và máy tính cho em”. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Bên cạnh nỗ lực trang bị cơ sở vật chất cho học sinh học trực tuyến, ngành giáo dục cũng tích cực xây dựng các chương trình dạy học qua truyền hình, xây dựng kho bài giảng điện tử để học sinh có thể tự học, xây dựng các chương trình tư vấn tâm lý để giúp các em giải tỏa căng thẳng.
Các thầy cô giáo cũng không ngừng tìm tòi, sáng tạo để bài giảng online của mình thêm sinh động nhằm thu hút học sinh. Cô giáo Nguyễn Minh Hoà, Trường Tiểu học Lý Thái Tổ (Hà Nội) cho hay việc học trực tuyến kéo dài đã bắt buộc mỗi giáo viên phải thích nghi, cố gắng học hỏi, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin.
“Đây thực sự là cuộc cách mạng với giáo viên. Thầy cô phải tìm hiểu các phần mềm, học hỏi cách khai thác các ứng dụng để thiết kế bài giảng đẹp hơn, chuyên nghiệp hơn, lồng ghép đa dạng phương thức chuyển tải kiến thức, từ hình ảnh tĩnh đến hình ảnh động, kể chuyện, chiếu video, đồ họa…,” cô Hòa chia sẻ.
Đồng hành với giáo viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như ngành giáo dục các địa phương đã tổ chức các buổi tập huấn dạy học trực tuyến, tập huấn các phần mềm dạy học cho các thầy cô.
Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tập huấn dạy trực tuyến cho giáo viên. (Ảnh: Bộ GD-ĐT)
Tại Hà Nội, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình là đơn vị tiên phong và thực hiện tốt việc linh hoạt ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để thích ứng với dịch COVID-19. Đầu năm học 2021-2022, trong khi nhiều trường trên địa bàn Thủ đô vẫn đang loay hoay tìm phần mềm và giờ học bị out liên tục với ứng dụng Zalo thì ở quận Ba Đình, các trường đã chuyển sang các phần mềm khác để giảm quá tải như Team meeting, Google Classroom…, thậm chí xây dựng mô hình trường học trực tuyến.
“Xác định việc học trực tuyến không chỉ là tạm thời một vài tuần nên chúng tôi đã xây dựng các chuyên đề về giảng dạy trực tuyến, mời chuyên gia đến để đào tạo cho đội ngũ giáo viên các nhà trường nhằm hỗ trợ tối đa cho các thầy cô trong việc chuyển từ dạy trực tiếp sang trực tuyến đảm bảo chất lượng,” ông Lê Đức Thuận, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình nói.
Trong khi đó, ở những vùng khó khăn, nơi sóng Internet còn chưa phủ tới, các thầy cô giáo sẵn sàng vượt hàng chục cây số đường đồi núi để đến nhà học sinh giảng bài, giao bài tập để giúp các em không bị quên kiến thức trong thời gian nghỉ dịch và theo kịp tiến độ chương trình.
Dù đã nỗ lực nhưng xác định chất lượng học trực tuyến không thể bằng trực tiếp nên ngay khi dịch bệnh được kiểm soát, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết tâm mở cửa trường học đồng thời hướng dẫn toàn ngành về việc tận dụng thời gian vàng dạy trực tiếp để vừa ôn luyện củng cố kiến thức cũ, vừa dạy kiến thức mới cho học sinh đồng thời vẫn phải phòng chống dịch.
“ngày được tin thành phố quyết định đi học trở lại, các thầy cô đã rất vui mừng khi có thể được gặp học sinh, được đứng trên bục giảng sau những ngày dài đằng đẵng.”
Cô Vũ Thị Bích Hường
Cô Vũ Thị Bích Hường, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Lê Lợi (Hà Đông, Hà Nội) cho hay ngày được tin thành phố quyết định đi học trở lại, các thầy cô đã rất vui mừng khi có thể được gặp học sinh, được đứng trên bục giảng sau những ngày dài đằng đẵng.
“Chúng tôi chắt lọc những nội dung cốt lõi, rà soát lại toàn bộ kiến thức, kịp thời phát hiện những phần bị hổng để lên kế hoạch bù đắp cho học sinh. Tuần cuối cùng, chúng tôi kéo dài thêm thời gian ôn tập so với năm học trước. Đặc biệt, đợt thi cuối kỳ, chúng tôi chia tách thời gian kiểm tra mỗi ngày một môn thay vì ghép môn để giảm áp lực cho học sinh,” cô Hường chia sẻ.
Thầy cô không ngừng nỗ lực tìm tòi, áp dụng công nghệ để tăng hiệu quả các giờ dạy trực tuyến. (Ảnh: TTXVN)
Cũng để giảm áp lực cho học sinh, linh hoạt trong cách thức tổ chức thi trong một năm học chịu tác động đặc biệt nặng nề của dịch COVID-19, hàng loạt địa phương đã điều chỉnh phương thức tuyển sinh vào lớp 10 theo hướng giảm môn thi. Hà Nội và Bắc Giang chỉ thi các môn Toán, Ngoại ngữ và Ngữ văn, bỏ môn thi thứ tư vốn là môn sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên và công bố vào tháng Ba hàng năm. Các tỉnh Nghệ An, Hải Phòng cũng thi ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ, bỏ môn thi tổ hợp. Bên cạnh giảm bớt môn thi, đề thi cũng được một số địa phương điều chỉnh theo hướng giảm độ khó để giúp thí sinh có kỳ thi nhẹ nhàng hơn sau một năm học đã quá nhiều căng thẳng.
Với sự nỗ lực của cả học sinh, phụ huynh, giáo viên, sự chung tay của toàn xã hội, ngành giáo dục đã vững bước đi qua năm học nhiều sóng gió. Kết quả thi vào lớp 10 của học sinh Thủ đô năm 2022 thậm chí tăng mạnh so với năm 2021 khi số học sinh đạt từ 9 đến 9,5 điểm môn Ngữ văn tăng gấp hơn 12 lần, số bài thi đạt điểm 10 môn Toán tăng gấp 4 lần…
Nhìn lại hành trình một năm qua, cô Nguyễn Minh Hoà, giáo viên Trường Tiểu học Lý Thái Tổ (Hà Nội) mỉm cười hạnh phúc: “Một năm học quá nhiều khó khăn. Lúc đầu chúng tôi cũng rất hoang mang, không biết học sinh lớp 1 sẽ học đọc, học viết như thế nào. Nhưng hôm nay, nhìn lại thành quả của suốt 9 tháng nỗ lực không ngừng, thấy học sinh đã đọc viết trôi chảy, lưu loát, tự tin, tôi thực sự hạnh phúc.”
“Một năm học quá nhiều khó khăn. Lúc đầu chúng tôi cũng rất hoang mang, không biết học sinh lớp 1 sẽ học đọc, học viết như thế nào. Nhưng hôm nay, nhìn lại thành quả của suốt 9 tháng nỗ lực không ngừng, thấy học sinh đã đọc viết trôi chảy, lưu loát, tự tin, tôi thực sự hạnh phúc.”
Cô Nguyễn Minh Hoà
Ở cương vị quản lý, với cô Nguyễn Thị Nhiếp, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Yên Hòa (Hà Nội), thành quả của một năm sóng gió không chỉ ở kết quả học tập của học sinh vẫn đạt các yêu cầu của chương trình giáo dục, đạt các mục tiêu nhà trường đặt ra mà còn ở sự thay đổi của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của nhà trường.
Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của các thầy cô đã được nâng lên một trình độ mới. Việc phải thích ứng liên tục với những thay đổi của các kế hoạch giảng dạy cũng đã giúp cho các giáo viên và nhà trường có được sự linh hoạt, chủ động, nhanh nhạy trong xây dựng và triển khai các kế hoạch phù hợp với các tình huống thực tế khác nhau.
Cũng theo cô Nhiếp, năm học sóng gió với việc phải học trực tuyến trong thời gian quá dài vừa qua cũng giúp cho mỗi người biết trân trọng hơn những hạnh phúc thường nhật giản đơn, như việc được thoải mái sải bước chân, tung tăng đến trường học mỗi ngày./.
Los derechos humanos son privilegios naturales, enraizados en la dignidad inherente de todas las personas, reconocidos, respetados, protegidos y garantizados por la comunidad internacional y el derecho nacional y mundial. En Vietnam, en la Declaración de Independencia que leyó el Presidente Ho Chi Minh hace más de 70 años, justo en las primeras líneas, citaba la Declaración de Independencia de Estados Unidos y la Declaración de los Derechos del Hombre y del Ciudadano de la Revolución francesa. El respeto y lucha por los derechos humanos es la aspiración de la nación y el objetivo del Partido Comunista de Vietnam. Tal vez, esta también es la aspiración común de la humanidad y el anhelo de todas las naciones progresistas del mundo.
La práctica muestra que, tras 30 años de Renovación, los derechos de los vietnamitas se han sido cada vez más garantizados. Esos derechos han sido institucionalizados en la Constitución y las leyes y especificados por políticas y soluciones desde el nivel central hasta el local. El Estado vietnamita siempre identifica a las personas como el objetivo y la fuerza motriz del desarrollo. Por lo tanto, todas las políticas y programas de desarrollo socioeconómico del Estado se han realizado con el deseo de construir un pueblo rico, un país próspero, justo, democrático y civilizado”. Esos esfuerzos han sido reconocidos por la comunidad internacional, lo que se reflejó mediante la elección de Vietnam como miembro del Consejo de Derechos Humanos de las Naciones Unidas para el mandato 2014-2016 con un alto número de votos a favor.
En el contexto marcado por los severos impactos de la pandemia del COVID-19 en todos los aspectos de la vida, el Gobierno de Vietnam ha reafirmado su consigna de acción de “no dejar a nadie atrás”. La implementación del “doble objetivo” de la prevención y lucha contra el COVID-19 y la recuperación y el desarrollo socioeconómicos, es una expresión más vívida de los esfuerzos de Vietnam para garantizar los derechos humanos en medio de la epidemia. Con la estrategia de adaptación segura y flexible, y control efectivo de la pandemia, la situación ha sido controlada a nivel nacional y la economía se recupera de forma gradual con muchos puntos brillantes, lo que ayuda a que la vida de las personas vuelva poco a poco a la normalidad.
El Gobierno de Vietnam decidió postularse para el Consejo de Derechos Humanos de las Naciones Unidas del mandato 2023-2025, en pos de contribuir aún más a los esfuerzos conjuntos del mundo para impulsar el cumplimiento de los mismos. En esta ocasión, Vietnam fue nominado por los países miembros de la Asociación de Naciones del Sudeste Asiático (ASEAN) como el único candidato de la agrupación en ese listado.
Los esfuerzos y logros de Vietnam en el campo y el empeño en contribuir a la promoción y protección de los derechos humanos de manera integral en el mundo se consideran bases para la candidatura del país para el Consejo de Derechos Humanos de las Naciones Unidas para el período 2023-2025.
La garantía de una vida próspera, feliz, democrática, pacífica y segura para cerca de 100 millones de pobladores constituye la tarea más importante de Vietnam en la protección de los derechos humanos, afirmó el primer ministro Pham Minh Chinh, al intervenir en la sesión plenaria del Foro de Alto Nivel sobre la Cuarta Revolución Industrial efectuada en Hanoi.
En el contexto marcado por los severos impactos de la pandemia del COVID-19 en todos los aspectos de la vida, incluido en el campo de los derechos humanos en todos los países del mundo, Vietnam ha afirmado su lema de acción de “no dejar a nadie atrás”.
La Declaración de Independencia de Vietnam no solo llevó al pueblo vietnamita a la era de la independencia y la libertad, sino que también fue la proclama sobre los derechos humanos del gobierno vietnamita. Para asegurar el bienestar de los grupos vulnerables y alcanzar los objetivos del desarrollo sostenible, Vietnam ha participado activamente en los tratados internacionales sobre los derechos humanos, promoviendo la lucha contra la desigualdad de género y la reducción de la pobreza para garantizar que nadie se quede atrás.
En Vietnam, la política consecuente del Partido y del Estado es garantizar y promover los derechos humanos, respetar y asegurar la libertad de religión y creencias de los pobladores. Estos derechos están claramente estipulados en la Constitución y las leyes de Vietnam, y se garantizan en la práctica.
Con un comienzo lento en comparación con muchos países, el sector deportivo de Vietnam se ha esforzado y cosechado resultados exitosos en palestras regionales e internacionales a lo largo de los años, con numerosos títulos ganados por atletas femeninas que compiten en deportes de combate rigurosos u otros que requieren una enorme cantidad de fuerza y aguante.
“Si bien somos un país en vías de desarrollo que comenzó la industrialización hace solo tres décadas, Vietnam aprovechará su ventaja en energía renovable y adoptará medidas más enérgicas en función de reducir las emisiones de gases de efecto invernadero. Para este fin, haremos uso de nuestros propios recursos internos, junto con la cooperación y el apoyo de la comunidad internacional, especialmente de los países desarrollados, en términos de financiamiento y tecnología, incluso a través de mecanismos bajo el Acuerdo de París, para lograr emisiones netas cero para 2050”.
Se trata de una parte del discurso del primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh, durante la Conferencia de las partes de la Convención Marco de las Naciones Unidas sobre el Cambio Climático (COP 26), que tuvo lugar del 31 de octubre al 12 de noviembre de 2021, en la ciudad de Glasgow, Escocia.
Los incansables esfuerzos de Vietnam, un país en vías de desarrollo con recursos limitados, para responder al cambio climático no solo se reflejan en las actividades desde la COP26 (como el establecimiento en diciembre de 2021 de la Dirección nacional encargada de la implementación de compromisos de Vietnam en la COP26, actualización de la Estrategia Nacional del Cambio Climático para el período al 2050, el Plan Nacional de adaptación al cambio climático en línea con las metas comprometidas en la COP26, elaboración de un informe nacional al respecto, además de la “diplomacia climática”, movilización de recursos y establecimiento de una hoja de ruta de crecimiento verde…), sino también en documentos y resoluciones del VIII Congreso Nacional del Partido Comunista (1996) hasta el XIII (en 2021), la Constitución de 2013, la Ley de Protección Ambiental y muchos documentos gubernamentales, entre otros; así como la participación en mecanismos internacionales como el Convenio de Viena para la protección de la capa de ozono, la Convención Marco de las Naciones Unidas sobre el Cambio Climático, el Protocolo de Kioto, el Acuerdo de París sobre el clima, resoluciones relacionadas de COP, la Unión Interparlamentaria (IPU), la Asociación de Naciones del Sudeste Asiático (ASEAN), entre otros mecanismos….
“Si bien somos un país en vías de desarrollo que comenzó la industrialización hace solo tres décadas, Vietnam aprovechará su ventaja en energía renovable y adoptará medidas más enérgicas en función de reducir las emisiones de gases de efecto invernadero. Para este fin, haremos uso de nuestros propios recursos internos, junto con la cooperación y el apoyo de la comunidad internacional, especialmente de los países desarrollados, en términos de financiamiento y tecnología, incluso a través de mecanismos bajo el Acuerdo de París, para lograr cero emisiones netas para 2050”.
El primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh, formuló esta declaración durante la Conferencia de las partes de la Convención Marco de las Naciones Unidas sobre el Cambio Climático (COP 26), celebrada del 31 de octubre al 12 de noviembre de 2021, en la ciudad de Glasgow, Escocia. La participación del dirigente vietnamita en la cita reflejó el mensaje de un Vietnam responsable y proactivo, decidido a incorporarse a los esfuerzos de la comunidad internacional para abordar el desafío global del cambio climático; así como la determinación y el empeño del país en las labores relativas en pos de superar las dificultades para responder al fenómeno.
El primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh, en la COP26 (Fuente:Vietnamplus)Foto de ilustración (Fuente: Internet)
Más que declaraciones en la COP 26, son compromisos de Vietnam con la Tierra
Para mostrar una visión clara sobre los compromisos de Vietnam en la COP26, resulta necesario, en primer lugar, repasar el contexto en el cual se desarrolló la cita.
Los líderes mundiales se han reunido 26 veces desde la década de 1990 para debatir y negociar sobre los asuntos relativos a la transformación del clima; y pese a los llamados a un mayor uso de energía limpia, aún no han llegado a ningún consenso directo sobre la suspensión del uso de combustibles fósiles.
Según los cálculos, las emisiones deben reducirse en aproximadamente un 45 por ciento para 2030; luego el mundo puede controlar la temperatura de la Tierra para que solo aumente a un máximo de 1,5 grados centígrados para 2100 en comparación con el período preindustrial. El objetivo persigue limitar el calentamiento mundial a muy por debajo de 2, preferiblemente a 1,5 grados centígrados, marca trazada en el Acuerdo de París sobre el cambio climático de 2015. Para lograr dicha meta, en los próximos ocho años, el mundo debe reducir las emisiones de gases de efecto invernadero casi a la mitad y alcanzar cero emisiones netas para 2050. Hasta la fecha, la Tierra ha aumentado alrededor de 1,1 grados centígrados en comparación con la época preindustrial.
En tanto, el informe climático publicado por la Organización Meteorológica Mundial (OMM) de las Naciones Unidas (ONU), el 25 de octubre de 2021, alerta que la concentración de gases de efecto invernadero en la atmósfera alcanzó un nuevo récord en 2020 y otro más al año siguiente. Entre 2015 y 2019, unos 166 millones de personas, principalmente en África y América Central, necesitaron ayuda humanitaria debido a la escasez urgente de alimentos relacionada con los impactos del cambio climático.
Mientras, en Asia, se prevé que el número de personas obligadas a abandonar sus hogares debido a los impactos de la transformación climática se multiplique por seis entre 2020 y 2050. Las inundaciones y tormentas producidas en 2020 afectaron a unos 50 millones de individuos en el continente, de ellos, cinco mil perdieron la vida.
Inundación en la India (Fuente: Internet)Inundación en TImor Oriental (Fuente: Vietnamplus)Inundación en Vietnam (Fuente: Vietnamplus)Foto de ilustración (Fuente: Internet)
Esas cifras son solo algunas de las numerosas que demuestran las grandes secuelas del cambio climático. A propósito, Petteri Taalas, secretario general de la Organización Meteorológica Mundial, llamó a convertir los compromisos en acciones, reduciendo así los gases de efecto invernadero. Ya los países no tienen tiempo que perder.
En ese contexto, los líderes mundiales se reunieron en la COP26, en la ciudad de Glasgow, para impulsar los esfuerzos conjuntos en el campo. En cuanto a los resultados de la COP26 y la implementación de los resultados, la Conferencia marcó un gran avance en el modelo de desarrollo en el mundo, desde un desarrollo basado en energías fósiles a uno tendiente a “cero” emisiones netas.
La Declaración alcanzada en la COP26 responde a los altos compromisos de las naciones participantes, entre ellas, Vietnam, que como país en vías de desarrollo y uno de los seis en el mundo más afectado por el cambio climático, también alzó su voz. En esa cita, la nación del Sudeste Asiático se comprometió, por primera vez, a implementar medidas enérgicas destinadas a reducir emisiones de gases de efecto invernadero con sus propios recursos, junto con el apoyo de la comunidad internacional, especialmente de los países desarrollados, en cuestiones de finanzas y transferencia de tecnología, incluida la implementación de mecanismos según el Acuerdo de París, a fin de lograr cero emisiones netas para 2050.
El primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh, en la COP26 (Fuente: Vietnamplus)
El primer ministro del Reino Unido, Boris Johnson, y el jefe del Gobierno vietnamita, Pham Minh Chinh, en la COP26 (Fuente: Vietnamplus)
El primer ministro Pham Minh Chinh y John Kerry, enviado para el clima de Estados Unidos (Fuente: Vietnamplus)
El primer ministro Pham Minh Chinh y su homólogo indio, Narendra Modi (Fuente: Vietnamplus)
El primer ministro Pham Minh Chinh y su homólogo japonés , Kishida Fumio (Fuente: Vietnamplus)
Al mismo tiempo, Vietnam reiteró su disposición de reducir las emisiones de metano en un 30 por ciento para 2030, junto con otros 100 países, y exhortó a todas las naciones desarrolladas a compartir, apoyar a los países en vías de desarrollo y/o pobres en la mejora institucional, formación de recursos humanos asociada a la innovación, financiación verde; transferencia de tecnología verde; y gobernanza nacional para implementar reducciones de metano.
Vietnam también se ha unido a la Declaración emitida en la COP26, centrándose en el papel y las interrelaciones entre los bosques, la biodiversidad y el uso sostenible de la tierra, para adaptarse al cambio climático.
“El cambio climático se ha convertido verdaderamente en el mayor desafío para la humanidad. Los fenómenos meteorológicos extremos y el aumento del nivel del mar están afectando gravemente la seguridad alimentaria y del agua, el desarrollo sostenible e, incluso, la supervivencia de muchos países y comunidades. Esta advertencia de la naturaleza nos obliga a proponer medidas enérgicas y actuar de manera responsable sin más demora a nivel planetario. Como se trata de un problema mundial, se requiere un enfoque mundial. Dado que este problema afecta a todas las personas, es necesario un enfoque inclusivo.
Por lo tanto, deseo proponer lo siguiente:
Primero, la respuesta al cambio climático y la restauración de la naturaleza deben convertirse en la máxima prioridad en todas las decisiones de desarrollo. Deben formar parte de los más altos estándares éticos para todos los niveles, sectores, empresas y ciudadanos.
La ciencia y la tecnología deben liderar la carga, y el financiamiento debe apalancar la transición del modelo de desarrollo hacia una economía verde, circular, sostenible, inclusiva y humanista. Todo lo que hagamos debe estar basado en la naturaleza y centrado en las personas, ya que ellas son los actores e impulsores del desarrollo sostenible, para no dejar a nadie atrás.
En segundo lugar, todos los países deben asumir compromisos firmes sobre la reducción de las emisiones de gases de efecto invernadero, basados en el principio de responsabilidades comunes pero diferenciadas, capacidades y circunstancias respectivas. Permítanme aprovechar esta oportunidad para pedir justicia y equidad en la lucha contra el cambio climático. Esto es imperativo para limitar el aumento de la temperatura global. Por su parte, aunque somos un país en vías de desarrollo que comenzó la industrialización hace solo tres décadas, Vietnam capitalizará su ventaja en energía renovable y tomará medidas más enérgicas para reducir las emisiones de gases de efecto invernadero. Para ello, haremos uso de nuestros propios recursos internos, junto con la cooperación y el apoyo de la comunidad internacional, especialmente de los países desarrollados, en términos de finanzas y tecnología, incluso a través de mecanismos bajo el Acuerdo de París, para lograr emisiones netas cero para 2050.
En tercer lugar, el financiamiento climático, la transferencia de tecnología y el desarrollo de capacidades desempeñan un papel fundamental para demostrar el éxito del Acuerdo de París. Los países desarrollados, que fueron grandes emisores en el pasado a cambio de la prosperidad económica actual, necesitan cumplir plenamente con sus compromisos financieros existentes. Al mismo tiempo, es urgente que lleguemos a objetivos financieros más ambiciosos para el período posterior a 2025.
Damas y caballeros:
Como uno de los países más afectados por el cambio climático, Vietnam está haciendo todo lo posible para responder al cambio climático y fomentar el desarrollo económico para crecer y garantizar una vida cada vez mejor para su gente, mientras contribuye junto con la comunidad internacional. Esperamos avanzar en la cooperación con socios internacionales a través de programas y proyectos de inversión y desarrollo sostenible.
El Presidente Ho Chi Minh, héroe de la liberación nacional y hombre de cultura del mundo, dijo una vez: “Unidad, unidad, gran unidad. Éxito, éxito, gran éxito”. Si queremos tener éxito en la lucha mundial contra el cambio climático, la solidaridad mundial es el único camino. Juntos discutiremos, trabajaremos y ganaremos. Nuestra unidad debe nacer de nuestra voluntad, conciencia y soluciones, y perdurar mientras hacemos y ejecutamos planes y aseguramos recursos. Nuestras metas y acciones históricas ayudarán a preservar un planeta verde, un hábitat sostenible y una felicidad duradera para las generaciones venideras.”
Discurso del primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh, en la COP26
Según el embajador de Hanoi acreditado en el Reino Unido, Nguyen Hoang Long, la asistencia del primer ministro Pham Minh Chinh a la COP26 evidenció la determinación y los esfuerzos del Gobierno de Vietnam por promover y ejecutar los compromisos internacionales y consolidar la posición del país como un miembro activo y un socio confiable y responsable.
Se trata también de una oportunidad para que Vietnam promueva la cooperación con socios y organizaciones internacionales en el campo de la respuesta al cambio climático.
Vietnam: país responsable con la naturaleza a los ojos de la comunidad internacional
Según el primer ministro Pham Minh Chinh, el compromiso de Vietnam de reducir las emisiones netas a cero para 2050 y las de metano de gases de efecto invernadero en un 30 por ciento para 2030 está en línea con los contenidos que concretan la Resolución del XIII Congreso Nacional del Partido Comunista y los planes de desarrollo socioeconómico en el período 2021-2030 y 2021-2025. La implementación de los compromisos de Vietnam en la COP26 resulta consistente, además, con el programa de reestructuración económica nacional y se alinea con la tendencia mundial de desarrollo de economía verde, circular y digital.
La participación de Vietnam y sus compromisos en la COP26 fueron reconocidos ampliamente por otros países, los expertos y la prensa internacional.
La agencia de noticias británica Reuters publicó el mismo día de la intervención del dirigente vietnamita en la COP26 una nota titulada: “Vietnam apunta a la neutralidad de emisiones de carbono para 2050”, subrayando que el país del Sudeste Asiático se une a decenas de naciones que se han comprometido a detener las emisiones a mediados de siglo para detener el calentamiento global.
Por otro lado, el texto reitera el llamado a la “equidad y justicia sobre el cambio climático” del primer ministro Pham Minh Chinh en su discurso en la COP26.
Dirigentes de los países participantes en la COP26 (Fuente: Vientamplus)
La presidenta de la Comisión Europea (CE), Ursula von der Leyen, y el primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh (Fuente: VNA)
El primer ministro de Vietnam, Pham Minh Chinh, y su homólogo australiano, Scott Morrison (Fuente: VNA)
Asimismo, cita al ministro de Industria y Comercio de Vietnam, Nguyen Hong Dien, quien dijo que el país indochino establecerá una hoja de ruta para reducir la generación de energía a partir del carbón y duplicar la capacidad instalada de generación de energía eólica y solar a 31-38 gigavatios para 2030, al intervenir en una mesa redonda al margen de la COP26 en Glasgow.
Los principales periódicos británicos, como Financial Times, The Guardian y The Independent, igual mencionaron ese compromiso de Vietnam para lograr el objetivo de neutralizar las emisiones para 2050 y eliminar gradualmente la energía del carbón en el período 2030-2040.
El artículo publicado en Times Kuwait sobre la participación de Vietnam en la COP 26 (Fuente: Internet)
Por su parte, el sitio web de noticias Times Kuwait publicó un artículo titulado: “Vietnam adopta medidas más fuertes para lograr cero emisiones netas para 2050”, citando al primer ministro Pham Minh Chinh quien dijo que responder al cambio climático y restaurar la naturaleza debe ser la máxima prioridad de todas las políticas de desarrollo y, al mismo tiempo, el estándar ético más alto de todos los niveles, industrias, empresas e individuos.
“El jefe del Gobierno vietnamita llamó a todos los países a establecer compromisos firmes para reducir las emisiones de gases de efecto invernadero sobre la base de una responsabilidad compartida pero diferenciada”, destacó el medio de prensa.
A su vez, la embajadora de España en Vietnam, Pilar Méndez Jiménez, subrayó en una entrevista concedida a la Agencia Vietnamita de Noticias: “Todos estamos muy impresionados con los compromisos asumidos por Vietnam en la COP 26”.
“España tiene empresas líderes mundiales en el ámbito de energías renovables y en la gestión del agua, y esperamos poder colaborar con Vietnam en esa transformación que quiere realizar”, remarcó la diplomática.
La embajadora de España en Vietnam, Pilar Méndez Jiménez, en la entrevista concedida a la VNA (Fuente: VNA)
No puede ser casual que la embajadora de un país desarrollado corrobore esa posición de su Gobierno. Con certeza, se basa, en primer lugar, en los esfuerzos de Vietnam y lo que ha demostrado al mundo sobre su capacidad, determinación, aspiración y voluntad de sumarse a los esfuerzos globales por proteger la Tierra.
En una publicación en Twitter, el presidente de la COP26 y ministro del Gobierno británico, Alok Sharma, expresó su impresión sobre el compromiso de Vietnam de lograr cero emisiones netas para 2050, al subrayar que la declaración de Hanoi mostró “el verdadero espíritu de liderazgo climático de Vietnam”.
Según el doctor Do Nam Thang, experto en medio ambiente y cambio climático de la Universidad Nacional de Australia, la declaración del jefe del Gobierno vietnamita constituye un punto de inflexión histórico en la política de respuesta al cambio climático del país indochino, que convierte a Vietnam en uno de los 140 países de todo el mundo dispuestos a implementar NetZero para 2050.
Restan aún numerosas labores por mencionar; pero se ilustra la alta determinación, voluntad y esfuerzos de Vietnam por cumplir con las palabras pronunciadas en la COP26 y los compromisos con la Tierra, pese a diversos desafíos por superar. Esa misma voluntad del país indochino recibe hoy una alta valoración de la comunidad internacional./.
Провинция Киенжанг уделяет особое внимание повышению качества и эффективности деятельности по поощрению инвестиций, ориентируясь на привлечение крупных корпораций и потенциальных инвесторов в области комплексного сельского хозяйства, прибыльной промышленности, услуг, морского хозяйства…
Этот район будет способствовать социально-экономическому развитию в сочетании с обновлением модели роста в сторону быстрого и устойчивого направления, защиты окружающей среды, решения социальных проблем, повышения качества и эффективности использования капитала.
Директор Центра продвижения инвестиций, торговли и туризма Киенжанга Нгуен Зюй Линь Тхао сказал: «Чтобы повысить качество и эффективность деятельности по продвижению инвестиций в этот трудный период, Центр рекомендовал Народному комитету провинции выпустить программу продвижения инвестиций для период 2021-2025 гг. с ориентацией на привлечение инвестиций в ряд областей, в которых Киенжанг имеет потенциал и сильные стороны; предложил некоторые решения по реализации. Общее финансирование реализации программы составляет более 13 млрд. донгов из многих источников».
* Четыре ключевых направления
Четыре основные области, на которых Киенжанг фокусируется на продвижении и привлечении инвестиций: сельское хозяйство, промышленность, услуги и морская экономика.
По словам г-жи Нгуен Зюй Линь Тхао, в области сельского хозяйства провинция Киенжанг сосредоточится на привлечении комплексных проектов развития сельского хозяйства в направлении развития крупномасштабного, высококачественного товарного производства, применения высоких, экологически чистых технологий, органично сочетая сельскохозяйственный и сельский туризм; применит науку и технику в аквакультуре; развивает ключевые и специальные продукты (OООП) в органичном направлении, связанном с устойчивым развитием туризма.
Промышленное производствоКанатная дорога ХонтхомСельское производство в Киенжанге
Внимание будет уделяться поощрению проектов по увязыванию цепочек создания стоимости (производство, переработка и потребление продукции), связанных с районами сосредоточения сырьевых ресурсов…; привлечению предприятий для инвестиций в сельское хозяйство и сельские районы, включая перерабатывающую промышленность, переработку, упаковку, услуги, ремесленные деревни, связанные с защитой окружающей среды…
Что касается промышленности, Киенжанг увеличит привлекательность проектов высоких технологий, новых технологий, чистых технологий, цифровых технологий, производства, сборки и вспомогательной промышленности, производства продукции для сельскохозяйственного производства в сочетании с промышленным производством, защитой окружающей среды; будет развивать отрасли, обслуживающие сельское хозяйство, перерабатывающую промышленность, сельское хозяйство и рыболовство, трудоемкие производства на экспорт, вспомогательные отрасли, высокотехнологичные и экологически чистые производства; инфраструктурные инвестиционные проекты в индустриальных парках и промышленных кластерах; энергетику; межрегиональные и межобластные дороги.
В сфере услуг эта провинция привлекает проекты по развитию современных торговых и сервисных центров; высококачественного парка развлечений; призывая к инвестициям в отрасли услуг, такие как туризм, телекоммуникации, информационные технологии, логистика…
Одновременно Киенжанг способствует привлечению инвестиций в приграничную торговую деятельность в приграничной зоне международных пограничных пунктов пропуска Хатиен, национального пограничных пункта пропуска Жангтхань, связанных с коммерческим развитием в городе Фукуок, центре Вьетнама, городских районах в районе Киенлыонг и город Ратьжа; инвестирует в профессиональные транспортные услуги, склады, пакетные услуги автомобильных, морских и авиаперевозок…
Что касается морской экономики, области, в которой этот район имеет большой потенциал и преимущества, Киенжанг сосредоточится на привлечении инвестиций в развитие аквакультуры, особенно морского фермерства, рыболовства и переработку морепродуктов; будет развивать туризм и морские услуги; ключевые морские порты в Ратьжа, Фукуок, Киенлыонг, Хатиен, Киенхай…
* Устранение трудностей для бизнеса
Г-жа Нгуен Зюй Линь Тхао сказала: «Основываясь на ориентации, точке зрения, целях и сильных сторонах, на которых Киенжанг фокусируется в привлечении инвестиций, Центр исследовал и запустил специальную программу поощрения инвестиций, одобренную Народным комитетом провинции».
«Мы периодически проводим конференции-диалоги с бизнес-сообществом и инвесторами области, не реже двух раз в год, для оперативного устранения трудностей и препятствий в производственной и предпринимательской деятельности, а также для создания сближения и дружелюбия между властью и бизнесом», – добавила г-жа Нгуен Зюй Линь Тхао.
Чтобы завершить программу поощрения инвестиций в этот период, провинция Киенжанг сосредоточится на ряде решений, таких как поддержка организаций, предприятий и инвесторов; внедрение инноваций и повышение эффективности поощрения инвестиций; сосредоточение внимания на пропаганде, продвижении и повышении квалификации должностных лиц, занимающихся продвижением инвестиций.
Соответственно, Киенжанг диверсифицирует и сделает многосторонними инвестиционных партнеров; будет активно отслеживать и получать доступ к информации о тенденциях перемещения потоков иностранных инвестиций во Вьетнам, чтобы привлекать инвесторов с сильным капиталом, технологиями, управленческим опытом и производством во всей цепочке создания стоимости./.
Kien Giang (VNA) – The Mekong Delta province of Kien Giang wants to improve investment promotion, focusing on attracting large investors in such sectors as agriculture, industry, services, communications, and marine economy.
According to Nguyen Duy Linh Thao, director of the provincial centre for investment promotion, trade and tourism, the centre has proposed a programme for 2021-2025 to lure capital in sectors of the province’s potential and advantages. The programme is expected to cost over 13 billion VND (556,508 USD).
Kien Giang is now working to step up socio-economic development in a rapid and sustainable manner.
Four key sectors
Four main areas that Kien Giang focuses on promoting investment for are agriculture, industry, services and marine economy.
According to Thao, the province will attract comprehensive farming development projects to form large-scale hi-tech and green commodity production in association with ecotourism development.
Industrial productionThe Hon Thom cable carAgricultural production
Priority is also given to encouraging projects linking value chains with concentrated raw material areas as well as promoting investment in processing, packaging, services, and environmentally friendly craft villages.
Regarding the industrial sector, Kien Giang is working to attract projects on advanced, clean and digital technologies and industrial infrastructure. It also pays heed to developing industries that serve agricultural production and exports, along with energy and inter-regional transport systems.
In the field of services, the province is calling for investment in projects to develop modern trade and service centres and high quality amusement complexes, tourism, telecommunications, information technology, and logistics.
In addition, Kien Giang is ramping up activities to boost capital flow into border commerce at the Ha Tien and Giang Thanh border gates in association with trade development in Phu Quoc city, Kien Luong district and Rach Gia city.
For the marine economy, a sector that the province boasts great potential and advantages, Kien Giang will call for investment in developing aquatic farming, fishing and seafood processing, sea-based tourism and services, as well as the key sea ports of Rach Gia, Phu Quoc, Kien Luong, Ha Tien, and Kien Hai.
Clearing hurdles for enterprises
Thao noted that the investment promotion programme proposed by her centre has been approved by the provincial People’s Committee.
“We hold periodical dialogues with businesses and investors, at least two times a year, to promptly tackle difficulties and bottlenecks in their operations and create a close and friendly relationship between the authorities and enterprises,” she said.
At a conference on promoting trade, investment, and tourism by air in Kien GiangHa Tien international border gate, Ha Tien city (Kien Giang).
To complete the programme, Kien Giang will concentrate its efforts on supporting firms and investors by overhauling investment mechanisms, increasing communications and improving capacity of related personnel.
Accordingly, the province will diversify its investment partners and look for international investors and foreign capital inflow./.
La province de Kien Giang (Sud) se concentre sur l’amélioration de la qualité et de l’efficacité de ses activités de promotion de l’investissement, dans le but d’attirer de grands groupes et des investisseurs puissants, notamment dans l’agriculture, l’industrie, les services, l’économie maritime…
La province cherche à accélérer son développement socio-économique tout en renouvelant son modèle de croissance pour un développement rapide et durable, en promouvant la protection de l’environnement, la résolution des problèmes sociaux et en améliorant l’utilisation des investissements.
Le Centre de promotion de l’investissement, du commerce et du tourisme de Kien Giang a recommandé au Comité populaire provincial de promulguer un programme de promotion de l’investissement pour la période 2021-2025 pour privilégier certains secteurs d’excellence. Le coût total du programme est estimé à plus de 13 milliards de dongs, qui proviendront de différentes sources.
Quatre domaines clés
Quatre domaines prioritaires pour la promotion de l’investissement sont l’agriculture, l’industrie, les services et l’économie maritime.
Selon la directrice du Centre de promotion de l’investissement, du commerce et du tourisme de Kien Giang, Nguyen Duy Linh Thao, pour l’agriculture, la province se concentre sur l’attraction de projets susceptibles de développer une production à grande échelle, de haute qualité, dotée de technologies de pointe, vertes…
Production industrielleTéléphérique de Hon ThomModèle de production agricole à Kien Giang
Kien Giang encourage également les projets permettant de développer des chaînes de valeur et de grandes zones de matières premières…
Pour l’industrie, Kien Giang invite les projets dans les hautes technologies, les technologies propres et le numérique, l’industrie auxiliaire, la construction des infrastructures de parcs industriels, le développement des énergies, les transports, etc.
Dans le secteur des services, la province vise des projets pour développer des centres modernes de commerce et de services, des parcs d’attractions de haute qualité. Elle appelle également à l’investissement dans le tourisme, les télécommunications, les technologies de l’information, la logistique…
Parallèlement, Kien Giang promeut l’attraction des investissements dans les activités commerciales frontalières, les services de transport…
Dans l’économie maritime, un domaine où elle a un grand potentiel et des avantages, Kien Giang se concentre sur l’appel à l’investissement dans l’aquaculture, la pêche et la transformation des fruits de mer, le tourisme et les services maritimes, ainsi que les ports maritimes…
Relever les difficultés pour les entreprises
Le Centre de promotion de l’investissement, du commerce et du tourisme de Kien Giang a soumis un programme de promotion de l’investissement détaillé, approuvé par le Comité populaire provincial.
Selon la directrice Nguyen Duy Linh Thao, des dialogues avec le milieu des affaires locaux sont organisés régulièrement, au moins deux fois par an, pour aider les entreprises à surmonter leurs difficultés.
Pour réaliser le programme de promotion de l’investissement, la province de Kien Giang se concentre sur un certain nombre de mesures, notamment le soutien aux entreprises et investisseurs.
Elle compte en outre suivre de près les informations sur les tendances des flux d’investissements étrangers vers le Vietnam pour attirer des investisseurs puissants en termes de capital, de technologies, d’expériences de gestion et de production./.