Chuyến thăm Nga, Thụy Sĩ của Chủ tịch nước: Thành tựu kép đối ngoại

Chuyến thăm Nga, Thụy Sĩ của Chủ tịch nước: Thành tựu kép đối ngoại

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Liên bang Thụy Sĩ và Liên bang Nga.

Là chuyến thăm chính thức châu Âu đầu tiên của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trên cương vị mới, chuyến thăm đã khẳng định đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng XIII đề ra là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ song phương đi vào chiều sâu, nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong các thể chế đa phương.

Với hàng loạt các hoạt động dày đặc từ ngoại giao Nhà nước, ngoại giao nhân dân và xúc tiến đầu tư, thông qua các cuộc hội đàm, hội kiến cấp cao, các cuộc gặp, tiếp xúc trong suốt hành trình hơn 1 tuần lễ, chuyến thăm đã để lại thành tựu kép, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong ngoại giao song phương và đa phương.

Là chuyến thăm chính thức châu Âu đầu tiên của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trên cương vị mới, chuyến thăm đã khẳng định đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng XIII đề ra là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ song phương đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy; nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong các thể chế đa phương.

Tình hữu nghị Việt Nam-Thụy Sĩ là tài sản vô giá

Chuyến thăm chính thức Thụy Sĩ của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên nhiều phương diện.

Đặc biệt, tình hữu nghị Việt Nam-Thụy Sĩ là tài sản vô giá được lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp và xây dựng trong suốt nửa thế kỷ qua. Diễn ra vào thời điểm đặc biệt với hai dấu mốc lịch sử trong năm 2021: Kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (10/1971-10/2021); 30 năm hợp tác phát triển Thụy Sĩ-Việt Nam và trong thời điểm khó khăn của đại dịch COVID-19, chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam là minh chứng sống động thể hiện nghĩa tình và sự coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó giữa hai đất nước Việt Nam-Thụy Sĩ trong nửa thế kỷ qua.

Tại thành phố Bern, Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ Guy Parmelin đã chủ trì Lễ đón chính thức Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn Cấp cao Việt Nam. Lễ đón được diễn ra trọng thị tại Phủ Tổng thống Lohn Manor với sự có mặt của Đội tiêu binh danh dự và những nghi thức truyền thống của đất nước Thụy Sĩ.

Cách đây đúng 50 năm, năm 1971, khi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đang ở giai đoạn cam go nhất, Thụy Sĩ là một trong những nước phương Tây đầu tiên chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt những viên gạch đầu tiên trong tiến trình vun đắp nhịp cầu hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của Thụy Sĩ dành cho Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và xây dựng đất nước ngày nay.

Trên phương diện kinh tế-thương mại, Thụy Sĩ là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu châu Âu đối với Việt Nam và hợp tác song phương còn nhiều dư địa phát triển. Trao đổi thương mại đạt kỷ lục 3,6 tỷ USD trong năm 2019. Khoảng 140 công ty Thụy Sĩ bao gồm các tên tuổi đẳng cấp thế giới như Nestle, ABB, Novartis, Roche, Holcim… đã và đang kinh doanh thành công tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư gần 2 tỷ USD, đưa Thụy Sĩ trở thành nhà đầu tư lớn thứ 6 ở châu Âu tại Việt Nam.

Trên nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác tốt đẹp Việt Nam-Thụy Sĩ trên tất cả các mặt từ chính trị-ngoại giao, thương mại đầu tư, hợp tác phát triển, văn hóa-giáo dục trong nửa thế kỷ qua, cuộc hội đàm giữa hai nguyên thủ tạo xung lực chính trị mới để hiện thực hóa tiềm năng to lớn giữa hai nước, mở ra những cơ hội hợp tác to lớn, tương xứng hơn với thế mạnh và tiềm năng của hai nước, xây dựng quan hệ đối tác hợp tác song phương lên một tầng nấc mới.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam-Thụy Sĩ. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm Thụy Sĩ lần này đúng vào thời điểm hai nước thể hiện ý chí chính trị và quan tâm thúc đẩy đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Khối EFTA (bao gồm 4 nước Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland, và Liechtenstein). Một FTA cho toàn khối kết hợp với các FTA mà Việt Nam ký kết riêng lẻ với các nước EFTA gần đây, rõ ràng sẽ nâng cao cơ hội tăng cường hợp tác kinh tế song phương, mang lại cơ hội xuất khẩu mới cho doanh nghiệp hai nước và tạo thuận lợi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Đặc biệt khi một khuôn khổ được thể chế hóa và các biện pháp bảo vệ pháp lý hiệu quả cho các nhà đầu tư là những yếu tố cân nhắc quyết định đối với bất kỳ nhà đầu tư nào quan tâm đến việc đầu tư nước ngoài.

Tại hội đàm, hai bên nhất trí nỗ lực sớm kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), mà Thụy Sĩ là nước dẫn đầu, góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại song phương phát triển mạnh mẽ. Hai nước coi đây là nhiệm vụ ưu tiên cần tập trung thúc đẩy theo hướng linh hoạt, cân bằng lợi ích, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp hai nước yên tâm hợp tác lâu dài, trong đó có bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong chuyển giao công nghệ cho Việt Nam.

Trên tinh thần xây dựng, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Guy Parmelin nhất trí tăng cường hợp tác hơn nữa trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục-đào tạo, hướng tới thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác về đổi mới sáng tạo.


Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ Guy Parmelin chủ trì buổi họp báo sau hội đàm. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trả lời câu hỏi của phóng viên TTXVN tại buổi họp báo đối với việc thúc đẩy hợp tác thương mại hai nước, Tổng thống Thụy Sĩ cho biết mong muốn ký kết một Hiệp định FTA tương tự như Việt Nam đã ký với Liên minh châu Âu, qua đó sẽ loại bỏ các rào cản lưu thông hàng hóa hai nước. Ưu tiên nữa là xây dựng được một khuôn khổ pháp luật thuận lợi, thực thi hiệu quả sở hữu trí tuệ. Đây là các yếu tố sẽ thu hút mạnh mẽ nhà đầu tư của Thụy Sĩ đầu tư vào Việt Nam.

Tại buổi hội kiến với Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng quốc gia Thụy Sĩ Andreas Aebi ủng hộ tăng cường hợp tác kinh tế, đặc biệt sớm hoàn tất Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EFTA trong đó có Thuỵ Sĩ và sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Tại thành phố Bern, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Thụy Sĩ Guy Parmelin đã đồng chủ trì Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Thụy Sĩ với sự tham dự của trên 100 doanh nghiệp hai nước. Tổng thống Thụy Sĩ Guy Parmelin cho biết, Việt Nam là một ưu tiên của Thụy Sĩ trong hợp tác phát triển kinh tế. Theo dự kiến, không dưới 70 triệu franc Thụy Sĩ sẽ được đầu tư trong các dự án phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2021-2024.

Trong cuộc tiếp Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thị trưởng thành phố Bern Alec Von Granffenried nhấn mạnh, dù Bern là một thành phố nhỏ trong một nước có diện tích nhỏ ở châu Âu, nhưng lại có “một trái tim lớn dành cho Việt Nam.” Chính vì thế, Bern sẽ tiếp tục cùng với Hà Nội tăng cường mối quan hệ hợp tác đã có từ nhiều năm nay.

Cũng tại Bern, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp ông Schneider Ammann, cựu Tổng thống, Bộ trưởng Kinh tế Thụy Sĩ và ông Philipp Roesler, Lãnh sự danh dự Việt Nam tại Thụy Sĩ, nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Kinh tế và Khoa học Công nghệ Đức (2009-2013), nguyên Chủ tịch đảng Dân chủ tự do Đức (FDP) và tiếp lãnh đạo nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Thụy Sĩ trong các lĩnh vực gồm hạ tầng, công nghiệp nặng, công nghệ cao, điện, dược phẩm…

Thành tựu quan trọng của ngoại giao đa phương trong chuyến thăm Thụy Sĩ lần này của Chủ tịch nước là chuỗi các hoạt động tại Geneva, nơi có nhiều tổ chức quốc tế đặt trụ sở và văn phòng đại diện, cũng là địa điểm lịch sử của Hiệp định Geveva lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1954.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp Tổng giám đốc Văn phòng Liên hợp quốc tại Geneve, bà Tatiana Valovaya. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tại địa danh đầy ý nghĩa này, Chủ tịch nước đã làm việc với Tổng giám đốc Văn phòng Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới; Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới. Chi tiết đáng chú ý là các cuộc gặp dù diễn ra trong ngày nghỉ cuối tuần, nhưng lãnh đạo các tổ chức quốc tế cho biết, với uy tín của Việt Nam, tình cảm dành cho Việt Nam, họ rất mong chờ cuộc gặp này.

Tại các cuộc làm việc, tiếp xúc, thay mặt Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch nước gửi lời cảm ơn chân thành và đề nghị các tổ chức Liên hợp quốc tiếp tục hỗ trợ Việt Nam tăng cường tiếp cận và triển khai chiến dịch tiêm vaccine ngừa COVID-19, nhất là vaccine cho trẻ em; giúp đỡ về vật tư, trang thiết bị y tế cũng như hỗ trợ tư vấn chính sách, kinh nghiệm giúp phục hồi kinh tế-xã hội dài hạn theo hướng xanh, bền vững, tự cường hơn. Chủ tịch nước cảm ơn Liên hợp quốc luôn hợp tác hỗ trợ Việt Nam hoàn thành tốt vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong gần 2 năm qua; khẳng định Việt Nam luôn duy trì chính sách nhất quán về đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, ủng hộ hệ thống thương mại đa biên.
Nhân dịp thăm và làm việc tại WIPO, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tham dự và chứng kiến lễ công bố trao danh hiệu “Đại sứ trẻ về Sở hữu trí tuệ của WIPO” cho 3 nhà sáng chế trẻ Việt Nam đã sáng chế và phát triển thành công sản phẩm mũ Vihelm. Danh hiệu Đại sứ trẻ về Sở hữu trí tuệ của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới năm 2021, là danh hiệu đại sứ đầu tiên về sáng chế công nghệ ở châu Á-Thái Bình Dương.

Lãnh đạo các tổ chức Liên hợp quốc đánh giá cao Việt Nam đã vươn lên tham gia sâu rộng và có nhiều đóng góp tích cực, trách nhiệm và toàn diện vào các hoạt động của Liên hợp quốc, trong đó có Hội đồng Bảo an, Hội đồng Nhân quyền, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc cùng các cơ quan của các tổ chức chuyên môn. Các tổ chức của Liên hợp quốc cũng đánh giá cao quyết tâm, nỗ lực của Việt Nam trong việc đưa ra cam kết mạnh mẽ về biến đổi khí hậu, bảo vệ quyền con người và thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững; đồng thời khẳng định Liên hợp quốc luôn coi trọng và sẵn sàng hợp tác với Việt Nam thúc đẩy các lĩnh vực mà hai bên quan tâm.

“Đây là lần đầu tiên Nguyên thủ ta thăm và làm việc với các tổ chức quốc tế quan trọng ở Geneva, đặc biệt là trong bối cảnh ta đảm nhiệm rất thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tích cực triển khai ở cấp cao hoạt động đối ngoại đa phương theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ 13 và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức chuyên môn Liên hợp quốc cũng như vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế cho công cuộc phát triển đất nước.”

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng

Triển khai các hoạt động đối ngoại nhân dân trong khuôn khổ chuyến thăm, tại thành phố Bern, gặp gỡ thân mật các hội đoàn, tổ chức hữu nghị và cộng đồng người Việt Nam tại Thụy Sĩ, Chủ tịch nước nhấn mạnh đến Kết luận số 12-KL/TW của Trung ương mới đây về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và cộng đồng người Việt Nam ở Thuỵ Sĩ. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Chủ tịch nước mong muốn bà con tiếp tục phát huy tinh thần “tương thân, tương ái”, hướng về quê hương, đóng góp cho nhân dân trong nước để cùng chung tay sớm vượt qua đại dịch.

Chủ tịch nước và Phu nhân cũng đã có cuộc gặp gỡ thăm hỏi cán bộ, nhân viên Phái đoàn Đại diện Thường trực Việt Nam tại Geneva và các chuyên gia Việt Nam đang làm việc tại các tổ chức quốc tế tại thành phố Geneva.

Trong chuyến thăm lần này, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có tiếp bà Sandra Scagliotti, Lãnh sự Danh dự Việt Nam tại Torino, Italy và nhận cuốn sách “Hồ Chí Minh với những bức thư mong muốn hòa bình cho Việt Nam” do chính bà dịch từ tiếng Việt sang tiếng Italy.

Thành công của chuyến thăm đã truyền tải mạnh mẽ thông điệp của Việt Nam mong muốn thúc đẩy quan hệ nhiều mặt, thiết thực với Thụy Sĩ qua các định hướng hợp tác mới, tiềm năng về kinh tế, thương mại, đầu tư….

Chuyến thăm cũng khẳng định chủ trương của Việt Nam coi trọng hợp tác với Liên hợp quốc cũng như các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc có trụ sở tại Thụy Sĩ; đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ cho nỗ lực phòng chống đại dịch COVID-19, phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội thời gian tới thông qua đổi mới, sáng tạo và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng chuyển lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và lời mời của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc mời Tổng thống Liên bang Thụy Sĩ Guy Parmelin thăm chính thức Việt Nam.

Thành tựu kép từ chuyến thăm chính thức Thụy Sĩ của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trên cả 2 lĩnh vực ngoại giao đa phương và song phương đem lại nhiều ý nghĩa đặc biệt. Chuyến thăm không chỉ là minh chứng sống động thể hiện nghĩa tình và sự coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó giữa hai đất nước Việt Nam-Thụy Sĩ trong nửa thế kỷ qua mà còn khẳng định vị thế, vai trò và uy tín của Việt Nam – thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các vấn đề khu vực và quốc tế.

Cuộc hội đàm lịch sử

Chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc là một trong những điểm nhấn quan trọng trong chương trình nghị sự song phương năm 2021, được kỳ vọng đem lại một xung lực mới thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Nga-Việt trên nhiều lĩnh vực, đảm bảo mối quan hệ này sẽ tiếp tục phát triển tốt đẹp trong tương lai.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc hội đàm với Tổng thống Nga Vladimir Putin. (Ảnh: TTXVN)

Với hàng loạt các hoạt động dày đặc của Chủ tịch nước và Đoàn, trong thời gian 4 ngày từ 29/11 đến 2/12, chuyến thăm đã đạt được những thành tựu đặc biệt, “rất thành công;” đồng thời cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng những người bạn Nga.

Kết quả cuộc hội đàm với Tổng thống Liên bang Nga V. Putin được coi là rất thành công; là điểm nhấn nổi bật trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc. Tổng thống Putin nhiệt liệt chào mừng và đánh giá cao chuyến thăm Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, tạo động lực mạnh mẽ tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga; đánh giá cao thành tựu Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao uy tín trên trường quốc tế; khẳng định Liên bang Nga luôn coi Việt Nam là đối tác chiến lược hàng đầu tại khu vực.

Theo Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi, thời gian hội đàm kéo dài gần 4 tiếng đồng hồ là hiếm có trong các sự kiện tương tự của Tổng thống Putin. Điều này thể hiện sự cởi mở, trân trọng và những tình cảm đặc biệt của Tống thống Putin dành cho Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cũng như tình hữu nghị riêng có giữa hai dân tộc Việt Nam-Liên bang Nga.

Tại hội đàm, Tổng thống Putin khẳng định Liên bang Nga luôn coi Việt Nam là đối tác chiến lược hàng đầu tại khu vực. Về phía Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh Tổng thống Putin, người bạn lớn và thân thiết của nhân dân Việt Nam; khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga.

Trong Tuyên bố chung sau đó, hai bên khẳng định cùng nhau quyết tâm tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Liên bang Nga đến năm 2030; coi việc củng cố tin cậy chiến lược là nền tảng cho việc mở rộng và tăng cường hơn nữa hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực.

“Việt Nam và Nga sẽ phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không và các hoạt động thương mại không bị cản trở, ủng hộ kiềm chế, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các tranh chấp giữa các bên liên quan bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực chung của luật pháp quốc tế, bao gồm những nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như theo các tiêu chuẩn và thực tiễn được khuyến nghị của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) và Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO).

Việt Nam và Nga ủng hộ việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông năm 2002 và hoan nghênh các nỗ lực sớm thông qua Bộ quy tắc về ứng xử của các bên ở Biển Đông.”

Tuyên bố chung Việt Nam-Nga

Trước khi thăm Nga, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có 5 cuộc làm việc với Ủy ban liên Chính phủ Việt-Nga và các bộ ngành về từng nội dung cụ thể của chuyến thăm. Các chuyên gia của Nga đánh giá, với những chính trị gia giàu kinh nghiệm và tâm huyết như Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Putin vì sự phát triển của mỗi nước nói riêng và hợp tác hai nước nói chung, đồng thời cá nhân Chủ tịch nước và Tổng thống Nga còn là hai người bạn nhiều năm, thì chất lượng hội đàm sẽ rất cao. Và thực tế, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc hội đàm mang tính lịch sử với Tổng thống Nga Putin.

Điểm đáng chú ý là một phần cuộc tiếp xúc cấp cao trong khuôn khổ hội đàm đã được đài truyền hình của Nga tường thuật trực tiếp, cho thấy sự coi trọng của phía Nga đối với chuyến thăm chính thức Nga lần này của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga Valentina Matvienko tham quan triển lãm ảnh “Hai thập niên quan hệ đối tác chiến lược giữa Nga và Việt Nam qua những bức ảnh của phóng viên TTXVN và TASS”. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trong các cuộc hội kiến với Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga V.Matvienko, Chủ tịch DUMA Quốc gia Nga Vyacheslav Volodin, Thủ tướng Liên bang Nga M.V.Mishustin, Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga, Chủ tịch Đảng nước Nga thống nhất D.Medvedev, các nhà lãnh đạo Nga đều cho rằng, chuyến thăm Nga lần này của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực mới thúc đẩy quan hai nước trong bối cảnh kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược (2001-2021) và chuẩn bị kỷ niệm 10 năm Đối tác chiến lược toàn diện (2012-2022); cho rằng, thành công của chuyến thăm lần này sẽ góp phần mở ra giai đoạn mới phát triển mạnh mẽ, toàn diện, hiệu quả, lâu dài của mối quan hệ hai nước.

Đối với lĩnh vực xúc tiến thương mại, đầu tư trong khuôn khổ chuyến thăm lần này, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dành thời gian trao đổi, chứng kiến lễ ký kết, trao đổi văn kiện hợp tác giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư hai nước Việt Nam-Liên bang Nga.

Phát biểu tại buổi tọa đàm của doanh nghiệp hai nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đặt vấn đề cần tăng gấp 15 đến 20 lần kim ngạch thương mại, đầu tư song phương tăng gấp 3 lần trong thời gian tới. Chủ tịch nước đề nghị các doanh nghiệp Nga với sự hỗ trợ quan tâm của Chính phủ tăng cường nghiên cứu thị trường Việt Nam và ngược lại doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu thị trường Nga để hợp tác trao đổi đạt kết quả tốt hơn.

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới Liên bang Nga, đã diễn ra hoạt động ký kết Nghị định thư giữa đại diện Chính phủ hai nước. Các bộ, ngành, địa phương và một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Việt Nam và Liên bang Nga đã ký kết, trao đổi nhiều biên bản thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực: Sản xuất phương tiện vận tải; an ninh mạng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; văn hóa; âm nhạc; năng lượng; sản xuất vaccine phòng COVID-19; phát triển thể thao trình độ cao…

Chủ tịch nước cũng đã dự Lễ công bố mở đường bay thẳng Việt Nam- Moskva của Hãng hàng không Vietjet. Sự kiện này chính thức khởi động mạng bay quốc tế đón đầu nhu cầu di chuyển bật tăng trở lại với 3 đường bay kết nối Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố du lịch biển Nha Trang với Thủ đô Moskva của Nga từ giữa năm 2022 của Vietjet.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tại Lễ công bố mở đường bay thẳng Hà Nội-Moskva của hãng hàng không Vietjet (VietjetAir). (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Chủ tịch nước cũng đã dành thời gian tới thăm Công ty Zarubezneft và gặp gỡ các thế hệ Lãnh đạo, chuyên gia Nga trong Liên doanh Vietsovpetro nhân kỷ niệm 40 năm thành lập. Trong suốt 40 năm qua, Liên doanh dầu khí Vietsovpetro vừa là cầu nối hữu nghị, đoàn kết và gắn bó giữa hai dân tộc, vừa là biểu tưởng hợp tác hết sức thành công giữa Việt Nam và Nga.

Bên cạnh đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp lãnh đạo các doanh nghiệp hàng đầu của Nga có hợp tác với Việt Nam, bao gồm Quỹ Đầu tư trực tiếp Nga, Tập đoàn Gazprom, Novatek, Systema, Miratorg.

Thúc đẩy các hoạt động ngoại giao kênh đảng, ngoại giao nhân dân, nhân dịp trở lại Thủ đô Moskva, Chủ tịch nước gặp Chủ tịch nước đã gặp gỡ, tiếp Chủ tịch Đảng Cộng sản Liên bang Nga; tiếp đại diện Hội cựu chiến binh, Hội Hữu nghị Nga-Việt.

Gặp mặt cán bộ Đại sứ quán, đại diện các cơ quan thường trú Việt Nam tại Nga; đại diện cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, lao động và học tập tại Nga, Chủ tịch nước nhấn mạnh đến Kết luận số 12-KL/TW của Trung ương mới đây về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới; khẳng định, cộng đồng người Việt ở nước ngoài là “bộ phận không thể tách rời” của cộng đồng dân tộc Việt Nam và là nguồn lực quan trọng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời gian ở Thủ đô Moskva, Chủ tịch nước và Phu nhân đã tới dâng hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Chiến sỹ Vô danh; đặt vòng hoa, viếng Lăng Lenin và thăm Khu tưởng niệm bên tường Điện Kremlin….

Liên tiếp các cuộc hội đàm, hội kiến cấp cao, các cuộc tiếp xúc, thăm hỏi, gặp gỡ phủ kín các lĩnh vực: Ngoại giao Nhà nước, ngoại giao nhân dân và xúc tiến đầu tư, chuyến thăm chính thức Liên bang Nga lần này của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã đem lại nhiều ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quan hệ hai nước.

Chuyến thăm góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt-Nga trên tất cả các lĩnh vực và nâng tầm lên trong tình hình mới, đồng thời khẳng định quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga là quan hệ thủy chung, gắn bó chặt chẽ đặc biệt./.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc hội kiến Thủ tướng Liên bang Nga Mikhail Vladimirovich Mishustin. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)




Bước nhảy vọt trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc sau 30 năm

Bước nhảy vọt trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc sau 30 năm

Sau 30 năm, quan hệ Trung Quốc-ASEAN đã phát triển từ đối thoại lên đối tác chiến lược toàn diện, quy mô thương mại song phương cũng tăng hơn 80 lần.

Với việc nâng cấp quan hệ song phương, hai bên càng có động lực mạnh mẽ hơn cho việc mở rộng hợp tác, nhất là về kinh tế và thương mại.

Bước đi tạo sự tin cậy lẫn nhau về chính trị

Trung Quốc-ASEAN khởi động quan hệ đối thoại vào tháng 7/1997 với sự kiện Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham tham dự Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 24 tại Kuala Lumpur, Malaysia. 5 năm sau, Trung Quốc trở thành đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN.

Vào tháng 12 cùng năm, cuộc họp không chính thức đầu tiên của các nhà lãnh đạo Trung Quốc-ASEAN được tổ chức tại Malaysia, thống nhất thiết lập quan hệ láng giềng hữu nghị và tin cậy lẫn nhau hướng tới thế kỷ XXI.

Thực tế cho thấy hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc đã đạt được những thành tựu tốt đẹp trong 30 năm qua. Cơ chế đối thoại và hợp tác ở các cấp đã được thiết lập, đặt nền tảng vững chắc cho sự tin tưởng về chiến lược giữa hai bên.

Vào tháng 10/2003, hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc-ASEAN lần thứ 7 đã xác nhận việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và thịnh vượng.

Cùng năm, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố gia nhập “Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á,” trở thành đối tác đối thoại đầu tiên của ASEAN tham gia “Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.”

Toàn cảnh Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Trung Quốc nhân kỷ niệm 30 năm quan hệ đối tác tại Trùng Khánh, Trung Quốc ngày 7/6/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trung Quốc cũng là nước đầu tiên lên tiếng ủng hộ Hiệp ước về Khu vực không vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á và là nước đầu tiên xác định thiết lập thương mại tự do với ASEAN.

Tại hội nghị trực tuyến cấp cao đặc biệt ASEAN-Trung Quốc diễn ra ngày 22/11 vừa qua, cột mốc mới trong lịch sử quan hệ hai bên đã được xác lập khi các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã chính thức công bố thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ASEAN-Trung Quốc. Hai bên cũng thống nhất về nội hàm, những định hướng thúc đẩy mối quan hệ này để tương xứng với tầm vóc chiến lược và toàn diện trong thời gian tới.

Theo Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-ASEAN sẽ tạo động lực mới cho hòa bình, ổn định, thịnh vượng và phát triển của khu vực chúng ta cũng như toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo ASEAN cũng chia sẻ nhận định rằng sau 30 năm, quan hệ hai bên đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện và đây là một trong những mối quan hệ đối tác năng động nhất của ASEAN.

Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị (phải) và Tổng Thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Lim Jock Hoi tại Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Trung Quốc nhân kỷ niệm 30 năm quan hệ đối tác, tại Trùng Khánh (Trung Quốc) ngày 7/6/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Thực tế cho thấy hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc đã đạt được những thành tựu tốt đẹp trong 30 năm qua. Cơ chế đối thoại và hợp tác ở các cấp đã được thiết lập, đặt nền tảng vững chắc cho sự tin tưởng về chiến lược giữa hai bên.

24 hội nghị cấp cao ASEAN-Trung Quốc và một số hội nghị cấp cao đặc biệt đã được tổ chức thành công, định hướng phát triển mối quan hệ giữa hai bên. Hai bên cam kết có thiện chí và quan hệ láng giềng tốt đẹp, nêu gương vì một sự hợp tác thành công ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Bước tiến lịch sử trong lĩnh vực kinh tế thương mại

Kinh tế thương mại có lẽ là lĩnh vực ghi nhận nhiều cột mốc nhất trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc. Năm 1991, khi Trung Quốc và ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại, kim ngạch thương mại song phương chỉ đạt 7,96 tỷ USD.

Tháng 1/2010, khi hai bên xây dựng xong Khu vực thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN, kim ngạch thương mại song phương đã tăng 37 lần với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 20% và đạt 292,78 tỷ USD.

Nhận lời mời của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngày 10/9/2021, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Lê Văn Thành dự và phát biểu tại Lễ khai mạc Hội chợ ASEAN-Trung Quốc và Hội nghị thượng đỉnh thương mại-đầu tư ASEAN- Trung Quốc (CAEXPO và CABIS) lần thứ 18 tại Nam Ninh, Trung Quốc theo hình thức ghi hình. (Ảnh: TTXVN phát)

Năm 2019, hai bên đã nâng cấp Khu vực Thương mại Tự do Trung Quốc-ASEAN. Số liệu thống kê của Trung Quốc cho thấy mức thuế bằng 0 đã bao trùm hơn 90% các mặt hàng chịu thuế của cả hai bên.

Năm 2020, kim ngạch thương mại song phương giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 684,6 tỷ USD, tức là đã tăng 85 lần trong vòng 30 năm qua. Từ tháng 1-10/2021, kim ngạch thương mại Trung Quốc-ASEAN đạt 703,3 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ, dự kiến sẽ lại đạt dấu mốc lịch sử mới.

Hiện nay, những sản phẩm mang tính nhận diện của các nước ASEAN như càphê trắng của Malaysia, xoài sấy của Thái Lan, thanh long của Việt Nam… đã không còn xa lạ với nhiều người tiêu dùng Trung Quốc và ngày càng dễ dàng đến với người tiêu dùng Trung Quốc thông qua các nền tảng mua sắm trực tuyến.

Năm 2020, kim ngạch thương mại song phương giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 684,6 tỷ USD, tức là đã tăng 85 lần trong vòng 30 năm qua. Từ tháng 1-10/2021, kim ngạch thương mại Trung Quốc-ASEAN đạt 703,3 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ, dự kiến sẽ lại đạt dấu mốc lịch sử mới.

Theo thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan Trung Quốc, có gần 1.500 nông sản và thực phẩm từ 10 nước ASEAN có thể được xuất khẩu sang Trung Quốc. Bất chấp ảnh hưởng của dịch bệnh, năm 2020, ASEAN lần đầu tiên trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc, còn Trung Quốc cũng tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN năm thứ 12 liên tiếp.

Dự kiến cùng với việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), ASEAN và Trung Quốc có thể tối ưu hóa hơn nữa lợi thế nguồn lực và thị trường, thông qua hội nhập sâu rộng với các nước thành viên RCEP khác. Khi RCEP chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2022, đây sẽ là một điểm khởi đầu rất tốt để Trung Quốc và ASEAN tăng tốc hợp tác kinh tế và thương mại trong tương lai.

Đánh giá về quan hệ Trung Quốc-ASEAN 30 năm qua, nghiên cứu viên Hứa Lợi Bình thuộc Viện nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương và chiến lược toàn cầu Trung Quốc cho biết kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược 18 năm đã trôi qua.

Ngày 5/3/2021, cuộc họp lần thứ 22 Ủy ban Hợp tác chung ASEAN-Trung Quốc (ACJCC) diễn ra theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của Phó Tổng thư ký phụ trách Chính trị-An ninh Michael Tene và Ủy ban các Đại diện thường trực tại ASEAN (CPR). (Ảnh: TTXVN phát)

Trong đó, 10 năm đầu (2003-2013) đã được cộng đồng quốc tế gọi là “thập kỷ vàng.” Hai bên đã thiết lập được “con đập vững chắc” cho mối quan hệ tin cậy lẫn nhau về chính trị, cùng có lợi về kinh tế và láng giềng hữu nghị tốt đẹp.

10 năm sau đó là “thập kỷ kim cương.” Lĩnh vực hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN không ngừng đi sâu, chất lượng hợp tác không ngừng nâng cao, phạm vi hợp tác không ngừng mở rộng. Việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện sẽ giúp Trung Quốc và ASEAN mở rộng hợp tác khu vực và thúc đẩy hợp tác toàn diện ở trong nhiều lĩnh vực khác nhau./.

Chiều 26/10, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự và phát biểu tại Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ 24 theo hình thức trực tuyến. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Ứng phó với COVID-19:

Mùa Đông thử thách thứ hai

Với tổng số ca tử vong do COVID-19 vượt ngưỡng 1,5 triệu người trong tuần qua, châu Âu thực sự đối mặt “mùa Đông thử thách” thứ hai sau gần 2 năm dịch bùng phát.

Nguy cơ phải đón thêm một mùa Giáng sinh và Năm mới nữa trong trạng thái hạn chế có vẻ càng trở nên hiện hữu với sự xuất hiện của biến thể mới Omicron, vốn được đánh giá là nguy hiểm hơn đáng kể so với biến thể Delta đang hoành hành.

Trong số 3,87 triệu ca mắc COVID-19 được ghi nhận trên thế giới trong tuần qua, riêng châu Âu chiếm tới 2,5 triệu ca (tăng 15%). Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh châu ÂU (ECDC), hiện tỷ lệ lây nhiễm trung bình tại hầu hết các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) là trên 500 ca/100.000 dân.

Đáng chú ý, số ca mắc COVID-19 theo ngày ở Đức, Áo, Hà Lan, Slovakia, Cộng hòa Séc, Hungary… liên tục chạm các mốc kỷ lục mới trong bối cảnh nhiều nước bước vào mùa Đông.

Giám đốc WHO khu vực châu Âu Hans Kluge cảnh báo với 49/53 quốc gia có nguy cơ rơi vào cảnh quá tải ở các khu điều trị tích cực, châu Âu có thể ghi nhận thêm 700.000 ca tử vong do COVID-19 vào mùa Xuân tới, đưa tổng số ca tử vong vì căn bệnh này lên 2,2 triệu ca.

Trong khi đó, Thủ tướng Đức Angela Merkel miêu tả tình hình dịch hiện nay tại nền kinh tế lớn nhất châu Âu là “trầm trọng nhất” kể từ khi đại dịch bùng phát đến nay và có thể tiếp tục xấu đi trong những ngày tới, gây sức ép khổng lồ cho hệ thống y tế và vắt kiệt sức của đội ngũ nhân viên y tế.

Người dân chờ tiêm vaccine phòng COVID-19 tại một trung tâm tiêm chủng ở Berlin, Đức ngày 25/11/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trước những diễn biến nghiêm trọng của dịch bệnh, Áo là quốc gia đầu tiên ở Tây Âu tái áp đặt phong tỏa toàn quốc, tiếp đó một loạt nước như Đức, Hà Lan, Italy, Slovakia cũng ban hành nhiều quy định phòng chống dịch.

Đáng chú ý, các biện pháp hạn chế được siết chặt đối với những người chưa tiêm chủng, trong bối cảnh chênh lệch về tỷ lệ tiêm vaccine giữa các vùng trong một nước, giữa các nước trong khu vực được xem là “lỗ hổng” khiến biến thể Delta có thể len lỏi và thổi bùng các đợt bùng phát mới.

Trong bối cảnh đó, việc biến thể mới Omicron siêu đột biến từ châu Phi đã xuất hiện tại Bỉ đang đặt châu Âu đứng trước thách thức mới. Liên minh châu Âu (EU) ngày 26/11 đã đề xuất dừng mọi hoạt động đi lại hàng không với khu vực miền Nam châu Phi. Italy, Cộng hòa Séc ban bố lệnh cấm nhập cảnh và cấm đi lại với các nước miền Nam châu Phi.

Anh cũng nhanh chóng ban hành lệnh cấm bay từ Nam Phi, Namibia, Bostwana, Zimbabwe, Lesotho và Eswatini, trong khi Ireland cân nhắc tái khởi động cơ chế cách ly bắt buộc tại khách sạn, sau khi nước này khuyến cáo tránh hoạt động đi lại không thiết yếu tới 7 quốc gia ở miền Nam châu Phi.

Trong bối cảnh dịch bệnh chưa được kiểm soát, Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen đã kêu gọi đẩy mạnh tiêm vaccine ở EU, nơi hiện có gần 25% dân số trưởng thành vẫn chưa tiêm phòng đầy đủ.

Bà Von der Leyen cho biết EU có đủ lượng vaccine để tiêm phòng và sẽ chuyển 1 tỷ liều cho các quốc gia thành viên vào cuối tuần này. Bà Von der Leyen cũng ủng hộ việc tiêm nhắc lại vaccine sau 6 tháng.

Ngoài ra, để mở rộng nhóm đối tượng được bảo vệ với vaccine, Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) ngày 25/11 đã khuyến nghị tiêm vaccine của hãng Pfizer/BioNTech cho trẻ em từ 5-11 tuổi.

Trước đó, việc sử dụng vaccine này cho trẻ ở độ tuổi tương tự đã được Mỹ và Canada chấp thuận. EMA cũng đang xem xét phê duyệt vaccine của Moderna dành cho trẻ em từ 6 tuổi.

Ở các khu vực khác, dịch bệnh có phần lắng dịu hơn nhưng thông tin về “siêu biến thể” Omicron thực sự đang phủ bóng đen lên nỗ lực chống dịch COVID-19 của nhiều nước, đặc biệt trước thềm mùa lễ hội cuối năm là dịp nhiều người đi du lịch, tụ tập mua sắm hoặc sum họp gia đình.

“Biến thể mới có vẻ lan truyền nhanh. Chúng ta cần phải hết sức đề phòng.” Cảnh báo này của Tổng thống Mỹ Joe Biden được đưa ra chỉ một ngày sau khi hàng triệu gia đình trên khắp nước này hân hoan sum họp đón lễ Tạ ơn và tận hưởng cảm giác cuộc sống dần trở lại bình thường. Mỹ, Canada đã áp dụng lệnh tạm thời cấm nhập cảnh với những người đến từ 8 quốc gia miền Nam châu Phi.

“Biến thể mới có vẻ lan truyền nhanh. Chúng ta cần phải hết sức đề phòng” (Tổng thống Mỹ Joe Biden)

Tại châu Á, Israel – một trong những quốc gia đầu tiên ghi nhận sự xuất hiện biến thể Omicron mặc dù có tỷ lệ tiêm chủng cao, thông báo đóng cửa biên giới đối với du khách đến từ một loạt quốc gia châu Phi, đồng thời yêu cầu cách ly bắt buộc đối với công dân Israel trở về từ các quốc gia này.

Trong khi đó, Singapore và Nhật Bản hạn chế người nhập cảnh từ một số quốc gia châu Phi. Ấn Độ cũng đang siết chặt việc kiểm tra và sàng lọc du khách quốc tế đến từ Nam Phi và các nước có nguy cơ cao.

Những diễn biến dịch ở châu Âu – khu vực đi đầu về tiêm chủng cùng với sự xuất hiện của biến thể siêu đột biến Omicron xảy ra khi người dân nhiều nơi bắt đầu cảm thấy mình đã được vaccine bảo vệ và có tâm lý “xả hơi” dịp cuối năm sau thời gian dài phải thực hiện các biện pháp hạn chế.

Theo nhà báo Elly Burhaini, phụ trách mảng y tế của tờ Jakarta Post (Indonesia), những gì diễn ra ở châu Âu cho thấy sự cần thiết phải đẩy nhanh việc tiêm mũi tăng cường, đồng thời hạn chế tối đa các hoạt động tập trung đông người trong dịp lễ Giáng sinh và Năm mới sắp tới.

Báo cáo của WHO cho biết các loại vaccine phòng COVID-19 giúp giảm khoảng 40% nguy cơ lây nhiễm biến thể Delta của virus SARS-CoV-2, nhưng không nên quá phụ thuộc vào việc tiêm phòng mà lơ là các biện pháp bảo vệ khác.

Cơ quan y tế của Liên hợp quốc bày tỏ lo ngại việc người dân lầm tưởng rằng đại dịch đã chấm dứt sau khi có vaccine và những người đã tiêm phòng nghĩ rằng không cần đề phòng nữa. Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus kêu gọi những người đã tiêm phòng tiếp tục tuân thủ các biện pháp phòng chống dịch COVID-19.

Cùng với tiêm phòng và đảm bảo giãn cách, ý thức người dân cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo “sống chung an toàn với COVID-19” mà bài học của Nhật Bản được xem là điển hình nhất.

Thời gian gần đây, Nhật Bản liên tục ghi nhận số ca nhiễm virus SARS-CoV-2 giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một năm và cũng đã ghi nhận ngày không ghi nhận ca tử vong nào do COVID-19.

 Người dân tập trung tại khu mua sắm Nakamise ở Tokyo, Nhật Bản, ngày 30/10/2021, sau khi các biện pháp hạn chế phòng dịch COVID-19 được nới lỏng. (Ảnh: Kyodo/TTXVN)

Theo ông Takeshi Urano – giáo sư chuyên ngành y tại Đại học Shimane, chính tâm lý duy trì cảnh giác của người dân là một trong những điều tạo nên sự khác biệt trong bức tranh chống dịch ở Nhật Bản. Giáo sư này khẳng định điều giúp Nhật Bản dường như tránh được làn sóng lây nhiễm mới giống như những gì đang diễn ra ở các nước có tỷ lệ bao phủ vaccine cao khác là người Nhật tin rằng làn sóng thứ sáu sắp đến và chưa buông lỏng cảnh giác, như đeo khẩu trang và giãn cách xã hội.

Tại Việt Nam, chiến dịch tiêm vaccine cho trẻ từ 12-17 tuổi chính thức triển khai từ đầu tháng 11/2021 trên toàn quốc, theo lộ trình từ lứa tuổi cao đến thấp, ưu tiên tiêm trước cho nhóm 16-17 tuổi và hạ dần độ tuổi theo tiến độ cung ứng vaccine và tình hình dịch tại địa phương.

Việc tiêm chủng cho trẻ em được tiến hành trước tại các địa phương đã trải qua đợt giãn cách xã hội, có tỷ lệ mắc COVID-19 cao; các địa phương có mật độ dân số đông, nguy cơ lây nhiễm cao. Song song với tổ chức tiêm chủng cho trẻ em 12-17 tuổi, Bộ Y tế yêu cầu các địa phương đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine phòng COVID-19 mũi 1; bao phủ vaccine cho nhóm người từ 50 tuổi trở lên để bảo vệ họ trước nguy cơ mắc bệnh nặng và giảm nguy cơ tử vong nếu không may mắc bệnh.

 Ý thức phòng chống dịch của mỗi người càng trở nên quan trọng khi mà virus vẫn không ngừng biến đổi, chưa có thuốc đặc trị hiệu quả và nguồn cung vaccine còn khan hiếm.

Việc đề cao ý thức, trách nhiệm của người dân cũng là một trong những biện pháp bên cạnh nguyên tắc 5K, vaccine, thuốc điều trị, biện pháp điều trị và công nghệ.

Thế giới đã bước vào mùa Đông thứ hai đối phó với đại dịch COVID-19. Lúc này, ý thức phòng chống dịch của mỗi người càng trở nên quan trọng khi mà virus vẫn không ngừng biến đổi, chưa có thuốc đặc trị hiệu quả và nguồn cung vaccine còn khan hiếm.

Chỉ khi tất cả những biện pháp này được triển khai đồng bộ thì mới tạo được một “lá chắn” đủ mạnh để kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới. Điều này càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết khi nhiều nước chuẩn bị bước vào dịp nghỉ lễ Giáng sinh và Năm mới./.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 tại Berlin, Đức. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Dự án biểu tượng Tình Hữu nghị Việt-Nga

“Chị là một doanh nhân tài ba, Chị đã đưa ra một bản kế hoạch để hành động hết sức hoàn hảo, mang tầm cỡ của một doanh nhân quốc tế. Những đề xuất của chị mang tính thực tế cao. Chị không những sản xuất sữa và các sản phẩm nông nghiệp tại Nga mà còn phải hướng tới cả thị trường Châu Á – Thái Bình Dương.”

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nói như vậy sau khi nghe bài thuyết trình dài 10 phút của bà Thái Hương tại “Diễn đàn Kinh tế Phương Đông” tổ chức ngày 6/9/2017 tại Vladivostock. Đây là diễn đàn kinh tế với sự tham dự của 5.000 đại biểu đến từ 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Bà Thái Hương chính là người phụ nữ duy nhất cùng 40 nhà đầu tư khác được mời tham dự buổi yến tiệc do Tổng thống nước chủ nhà, Vladimir Putin chủ trì. Bà cũng là một trong năm nhà đầu tư nước ngoài được mời phát biểu trong cuộc gặp. Những chi tiết đó cho thấy tầm quan trọng của Dự án Tổ hợp chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa công nghệ cao, có tổng vốn đầu tư 2,7 tỷ USD của tập đoàn TH tại tỉnh Kaluga, một trong những địa phương đứng đầu Liên bang Nga về phát triển kinh tế và thu hút đầu tư. Công nghiệp sản xuất sữa là một trong những công nghiệp hàng đầu được ưu tiên trong lĩnh vực nông nghiệp tại tỉnh Kaluga.

Theo đánh giá của lãnh đạo tỉnh Kaluga, Dự án của tập đoàn TH hiện đang là dự án đầu tư quan trọng nhất, tầm cỡ Liên bang Nga tại tỉnh này- bao gồm tổ hợp trang trại chăn nuôi bò sữa và nhà máy chế biến sữa. Trong đó riêng nhà máy với công suất chế biến 1.500 tấn/ngày sẽ trở thành nhà máy có công suất lớn nhất nước Nga, sử dụng hoàn toàn nguồn nguyên liệu sữa tươi từ trang trại bò sữa TH tại Moskva và Kaluga.

— ***—

Kính thưa Ngài Tổng thống Vladimir Vladimirovich Putin!

Tôi không biết Ngài sẽ đọc lá thư này như thế nào, nhưng tôi tin Ngài sẽ quan tâm đến thông điệp của một doanh nhân đến từ Việt Nam – một người luôn muốn thể hiện tình cảm và sự sẻ chia với nước Nga, bằng những hành động cụ thể.

Tôi nhớ, vào ngày 25.4.2013, đã có một thông điệp tốt đẹp đã được phát đi tại ngôi làng ở Viễn Đông lạnh giá của nước Nga. Hôm ấy, dù có tới hơn 3 triệu câu hỏi được gửi đến Ngài trong cuộc trả lời nhân dân trực tiếp trên truyền hình, thì Ngài vẫn không quên lời thỉnh cầu của một bé gái nghèo khó vùng Primorsky – Viễn Đông. Đó là ước muốn có một sân chơi cho trẻ em trong ngôi làng heo hút nơi cô bé ở.

Đúng 27.4.2013, tức là chỉ 2 ngày sau khi Ngài cam kết: “Tôi hứa là cô bé sẽ có một sân chơi, cô bé à”, bé gái ấy cùng bạn bè đã được vui đùa trên cái sân ước mơ ấy. Thông điệp tốt đẹp đã được đền đáp một cách tốt đẹp.

Lá thư này cũng được viết ngay sau ngày 8.11.2014, khi tôi được nghe thông điệp của Ngài về tình yêu: “Ý nghĩa trong cuộc đời và sự tồn tại của mỗi chúng ta chính là tình yêu. Đó là tình yêu gia đình, tình yêu dành cho con cái, tình yêu đất mẹ”.

***

Tôi là người rất yêu nước Nga. Tôi cũng là người ngưỡng mộ Ngài. Sự ngưỡng mộ ấy bắt đầu từ cái ngày 7.5.2000 khi cử tri Nga chính thức trao đất nước họ vào tay một thuyền trưởng tài giỏi, mạnh mẽ, quyết đoán, vì nhân dân và có một tình yêu lớn với tính cách Nga, lòng tự hào Nga, tổ quốc Nga. 

Có 3 người đàn ông ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời doanh nhân của tôi thì 2 người thuộc về Liên Xô và nước Nga vĩ đại. Người thứ nhất không có thực trong đời sống, đó là nhân vật Pavel Corsaghin – người hùng trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” và người thứ hai chính là Ngài. 

Nhưng tôi không viết cho Ngài lá thư này dưới tư cách một người hâm mộ, mà mong muốn nhận được ở Ngài một sự chia sẻ, khích lệ về những việc mà tôi và những nông dân nước Nga của Ngài đang thực hiện. 

Tôi biết, một vị lãnh đạo quan tâm đến cả những chuyện rất nhỏ như việc biến ước mơ của một em bé nghèo thành hiện thực; một người luôn đặt tình yêu đất mẹ Nga lên trên hết, sẽ khơi dậy được những tiềm năng lớn lao để đưa Nga trỗi dậy hùng cường sau nhiều đổ vỡ. 

Năm 2017, với hơn 5.000 người từ 60 quốc gia và nhiều nguyên thủ trên thế giới tham dự Diễn đàn Kinh tế Phương Đông, bà Thái Hương đã vinh dự cùng khoảng 40 ông chủ các tập đoàn nổi tiếng thế giới khác, trong đó có 15 nhà đầu tư nước ngoài, đến dự yến tiệc cùng Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin.

***

Thưa Ngài, nước Nga của Ngài trong những ngày thế giới đầy biến động này đang gặp một số khó khăn về thực phẩm, nông sản, hàng tiêu dùng như sữa tươi, rau xanh… Nhưng tôi hiểu, những thách thức ấy chẳng thể nào khuất phục được tính cách Nga, trái lại sẽ đun sôi bầu nhiệt huyết, ý chí và óc sáng tạo của họ.

Tôi cũng rất đồng tình với nhận định của đông đảo người Nga, nhận định mà chính trị gia Vitaliy Tretyakov đã thay họ nói: “Nước Nga đủ đất đai và nhân lực để tự đáp ứng tất cả nhu cầu trong nước và tình hình này sẽ giúp hồi phục kinh tế nông nghiệp của Nga” và Giáo sư Marina Trigubenko ở Viện Kinh tế, Viện Hàn lâm khoa học Nga: “Một cách đúng đắn và khôn ngoan thì Chính phủ có thể tận dụng tình hình này để thực hiện chính sách thay thế hàng nhập khẩu, đem lại lợi ích lâu dài cho đất nước”.

Đúng như vậy. Thời đại của công nghệ cao trong nông nghiệp đã biến rất nhiều điều không thể thành có thể. 

Dù Việt Nam đã chăn nuôi bò sữa nhỏ lẻ từ 40 năm trước, nhưng gần như không một ai tin rằng ở đất nước nhiệt đới này lại có thể có thể nuôi thành công trang trại lớn bò sữa – loài vật ưa xứ lạnh. Họ càng không nghĩ rằng ở một nơi gió nóng như lửa, mùa hè khắc nghiệt như tỉnh Nghệ An quê tôi lại trở thành thiên đường bò sữa tới 45.000 (sắp tới là 137.000 con); lại có thể mọc lên những đồng cỏ hàng ngàn héc ta thẳng cánh cò bay chẳng khác gì thảo nguyên tuyệt đẹp của đất nước Ngài.

“Nước Nga đủ đất đai và nhân lực để tự đáp ứng tất cả nhu cầu trong nước và tình hình này sẽ giúp hồi phục kinh tế nông nghiệp của Nga” 

– Chính trị gia Vitaliy Tretyakov –

Thế nhưng, chúng tôi đã làm được điều đó. Ý chí, khát khao phát triển bền vững, hướng tới lợi ích cộng đồng cộng với việc biết kết hợp nguồn lực Việt Nam (trí tuệ và tài nguyên thiên nhiên) và trí tuệ thế giới (công nghệ cao, khoa học quản trị) đã giúp chúng tôi có được trang trại bò sữa lớn nhất Đông Nam Á, tiên phong trong cuộc cách mạng sữa tươi sạch ở Việt Nam. Không chỉ có thế, Tập đoàn TH đang viết tiếp những chương mới trong cuộc cách mạng thực phẩm sạch, dược liệu sạch.

Sau hơn 3 năm khi chúng tôi áp dụng thành công mô hình này, hàng triệu người Việt đã không còn phải dùng sữa nhiễm bẩn, sữa nhiễm Melamin, sữa pha tạp; hàng triệu người đã được uống dòng sữa tươi sạch, tinh túy nhất từ thiên nhiên để cải thiện thể trạng, tầm vóc người Việt. 

Trong chuyến thăm Việt Nam, Ngài Shimon Peres, Tổng thống Israel đã nhận xét khi chứng kiến câu chuyện của chúng tôi: “Tôi đi 52 nước trên thế giới nhưng dự án sữa của TH True MILK là ấn tượng nhất. Đây thực sự là cuộc cách mạng trong sữa tươi sạch tại Việt Nam”. 

***

Thưa Ngài!

Tôi tin chắc ở Nga vĩ đại của Ngài có rất nhiều người cũng yêu Đất mẹ giống thuyền trưởng của họ và họ đang khát khao được trỗi dậy, được cống hiến trong nông nghiệp. Một nền nông nghiệp sạch, áp dụng công nghệ cao sẽ giúp nước Nga chủ động hơn, vững chãi hơn trong công cuộc tự cường, tự tôn và chấn hưng đất nước.

Tôi thiết tha mong mỏi, Ngài hãy tạo điều kiện thuận lợi nhất để những điền chủ, nông dân Nga cùng những doanh nhân yêu quý nước Nga tận đáy lòng như chúng tôi, có điều kiện và niềm tin để đầu tư, biến những vùng đất còn hoang lạnh, còn nghèo nàn trở thành những niềm tự hào mới của nước Nga trong nông nghiệp. 

Với những thế mạnh to lớn về bò sữa, rau quả sạch, dược liệu sạch và sắp tới là thực phẩm chức năng sạch, tôi tin chắc rằng Tập đoàn TH có thể đồng hành và góp phần cùng nông nghiệp, nông dân Nga vượt khó, bay cao. Tôi xin khẳng định: Đưa công nghệ cao vào nông nghiệp chính là chiếc chìa khóa mở cánh cửa thành công, là yếu tố quyết định trong việc giảm thiểu hệ lụy của điều kiện tự nhiên.

Nếu được Ngài cấp vài chục ngàn héc ta đất với những ưu đãi hợp lý, thì chỉ 1 năm sau, chúng tôi sẽ biến khát vọng của Tập đoàn TH và sự ưu việt của công nghệ cao trong nông nghiệp, thành một trang trại bò sữa tập trung nhiều ngàn con, thành hệ thống trang trại rau sạch.

Bà Thái Hương ký biên bản ghi nhớ đầu tư tại tỉnh Kaluga năm 2016 với Thống đốc tỉnh này- ông Anatoly Dmitriyevich Artamonov với sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Liên bang Nga Dmitry Medvedev.

Ở Việt Nam, slogan của Tập đoàn chúng tôi là “True Happiness” – mang lại hạnh phúc đích thực cho cộng đồng. Và bây giờ, chúng tôi muốn góp phần mang lại hạnh phúc đích thực cho hàng triệu dân Nga – người bạn lớn có nhiều duyên nợ, ân tình nhất với nhân dân Việt Nam.

Và như vậy những cô bé vùng Viễn Đông cùng bạn bè của mình, sẽ không chỉ được tung tăng trên những sân chơi mới mà còn có cơ hội được hưởng những nguồn thực phẩm đầy đủ nhất, trong lành nhất với giá cả hợp lý nhất. Tôi là một người mẹ của ba đứa con. Giống Ngài, tôi và tất cả ông bố bà mẹ trên thế giới này, đều mong con mình được lớn lên trong tình yêu, trong đủ đầy và mạnh khỏe.

Để làm được những điều đó và để chúng tôi mạnh dạn hơn trong việc dấn thân với đất nước Ngài, liệu chúng tôi có thể hy vọng: Những tâm tư, phản ánh, đề xuất của những nhà đầu tư mới, cũng sẽ được chính quyền năng động của Ngài thấu hiểu, hồi đáp, giải quyết nhanh chóng như cái sân chơi mơ ước của cô bé nghèo vùng Viễn Đông xa xôi?

Điều cuối cùng xuất phát từ tận đáy lòng, khi có Ngài đến Việt Nam, chúng tôi sẽ vô cùng vinh hạnh, nếu được Ngài ghé thăm Tập đoàn TH. Tại đây, chúng tôi sẽ giới thiệu đến Ngài những thành quả vượt trội của việc áp dụng công nghệ cao vào nông nghiệp, bởi chúng tôi luôn mong mỏi được viết tiếp câu chuyện “Hạnh phúc đích thực” tại nước Nga vĩ đại của Ngài.

Kính chúc Ngài sức khỏe và nhiều năng lượng để dẫn dắt một một nước Nga hùng cường trên mọi lĩnh vực. 

Thái Hương

Chủ tịch Tập đoàn TH

Tổng giám đốc Bac A Bank.

Những khó khăn, phong tỏa trong đại dịch COVID-19 đã khiến cho các dự án của tập đoàn TH True Milk tại LB Nga bị đình trệ suốt 2 năm. Nhưng nay doanh nghiệp này đang tích cực xúc tiến để có thể hoàn thành các hạng mục lớn vào cuối năm 2023.

Chúng tôi đến thăm trang trại TH True Milk Volokolamsk thuộc tỉnh Moskva của công ty TH-RUS Milk Food vào một ngày tháng 9. Trong khuôn viên văn phòng – trạm kỹ thuật của trang trại là rất nhiều các máy kéo, máy nông nghiệp lớn để canh tác trên diện tích 6.000 ha mà tỉnh Moskva đã bàn giao cho chi nhánh công ty TH True Milk tại LB Nga.

Những cỗ máy khổng lồ này được mua của Đức và là các thiết bị rất tốt, theo lời các nhân viên của trang trại, chi phí bỏ ra để mua các máy móc nông nghiệp này là không hề nhỏ. Qua trao đổi, PV được biết do tại LB Nga chỉ canh tác 1 vụ nên khoảng 1,5 ha cây trồng mới đủ cung cấp thức ăn nuôi 1 con bò cho sữa.

Tiếp đó, phóng viên được xem các cánh đồ ngô, cánh đồng lúa mạch để tận mắt thấy hoạt động canh tác của trang trại. Tại đây chúng tôi có thể thấy những cây ngô cao 3m, bắp đã chín vàng, sắp đến thời điểm thu hoạch.

Cả bắp ngô và cây sau đó sẽ được thu hoạch, ủ chua để nuôi bò. Dự án của TH True Milk nhằm xây dựng một chuỗi sản xuất sữa khép kín. Từ trồng hoa màu làm thức ăn cho bò, nuôi bò lấy sữa cho tới chế biến sữa để ra những sản phẩm chất lượng cao cuối cùng.

Tiếp chuyện chúng tôi, ông Rasul Aliev, Giám đốc điều hành Trang trại TH True Milk Volokolamsk thuộc tỉnh Moskva cho biết trang trại chăn nuỗi bò sữa ở Volokolamsk hiện có 2 dãy nhà nuôi với 2300 đầu con bò, trong đó 1050 con bò đang cho sữa, số còn lại là bò tơ. Những chú bò này được đưa từ Mỹ về Nga đầu năm 2018 và sản lượng sữa trung bình của mỗi con là khoảng 41 lít/ngày. Do chưa xây dựng nhà máy chế biến sữa nên mỗi ngày trang trại bán khoảng gần 40 tấn sữa cho các tập đoàn chế biến sữa khác như Danone, Campina, Molochnoye Tsarstvo, mỗi lít sữa có giá khoảng 32 ruble (0,43 USD).

Theo dự án, trang trại này sẽ nuôi tập trung khoảng 6.000 con bò cho sữa, nghĩa là khoảng 12.000 đầu bò. Tại Volokolamsk đang tiếp tục các hoạt động để hoàn thiện dự án, đưa số lượng bò chăn nuôi ở đây đạt mức 6000 con cho sữa.

Cũng theo ông Rasul, điểm đặc biệt của trang trại tại Volokolamsk đó là bò cho sữa với chất lượng tốt và sản lượng cao. Ông cho biết nếu bò của Nga cho sản lượng sữa trung bình là 4500 lít/con/năm; sản lượng sữa trung bình của mỗi con bò ở châu Âu là 10.500 lít/năm, thì sản lượng sữa trung bình từ bò trang trại đang nuôi là 14.000 lít/năm. Có được kết quả tốt này một phần là nhờ giống bò cho sữa cao sản và một phần nữa là nhờ chất lượng thức ăn do trang trại tự canh tác.

Chị Yekaterina Milikhina, Kỹ thuật viên trưởng Trang trại TH True Milk Volokolamsk cũng xác nhận “trang trại của chúng tôi nổi tiếng là cho sản lượng sữa bò rất cao”. Chị cho biết thêm một con bò của chúng tôi mỗi ngày cho tới 104 lít sữa. “Có thể nói đây là phép màu. Mặc dù vậy con bò này cũng chỉ được chăn nuôn theo các điều kiện giống hệt như những con bò khác mà không có thêm điều kiện đặc biệt gì”.

Cũng theo ông Rasul, trang trại hiện có 185 nhân viên đang làm việc và lương trung bình của các nhân viên này là vào khoảng 70.000 ruble mỗi tháng (960 USD), mức lương rất tốt và cao so với mặt bằng ở tỉnh Moskva.

Qua trao đổi với ông Rasul và ông Ngô Thanh Hoàn, quan chức điều hành của TH-RUS Milk Food chung tôi được biết ngoài trang trại tại Volokolamsk thì tại tỉnh Moskva, TH-RUS cũng đang sở hữu một trang trại khác ở Shatura với 7.000 ha đất canh tác, ngoài ra còn 2 trang trại đang xúc tiến xây dựng ở Kaluga. Với 4 trang trại này, khi đạt số lượng bò cho sữa là 6000 con mỗi trang trại theo dự án sẽ cho sản lượng sữa tổng cộng là 1.000 tấn/ ngày. Tuy nhiên con số này chưa đủ để cũng cấp cho nhà máy chế biến sữa công suất 1.500 tấn sữa/ngày được xây dựng tại khu khu kinh tế đặc biệt ở tỉnh Kaluga.

Theo ông Tal Cohen, Tổng giám đốc Công ty TH-RUS Milk Food thì nhà máy chế biến sữa này dự kiến sẽ đi vào sản xuất cuối năm 2023. Ông Rasul cũng bật mí chế biến sữa là khâu quan trọng nhất, đem lại nhiều giá trị gia tăng nhất trong chu trình sản xuất sữa. Chính vì vậy, nhà máy chế biến sữa ở Kaluga mới chính là “con bò vàng” của cả chu trình chăn nuôi bò lấy sữa khép kín mà TH True Milk đầu tư tại Nga. Chừng nào chưa có nhà máy chế biến sữa thì chừng đó mức lợi nhuận chưa thể đạt được những mức ấn tượng.

Ông Cohen mới sang Liên bang Nga được vài tháng. Ông cho biết ông đã làm việc cả chục năm tại Việt Nam, đảm trách điều hành các trang trại bò sữa và giờ đây chính do các dự án tại LB Nga mà ông được đưa sang đây.

Theo ông Cohen, các dự án bị chậm thực hiện trong 2 năm qua do dịch bệnh COVID-19. Dự kiến các trang trại nuôi bò ở Volokolamsk và Kaluga sẽ hoàn tất xây dựng vào cuối năm 2022 và sau đó công ty sẽ tiếp tục dự án ở các địa điểm khác. Ông Cohen bày tỏ vui mừng vì dù dự án bị chậm tiến độ song bò nuôi tại Volokolamsk cho sản lượng sữa rất cao và sức khỏe của bò đều tốt. Ông khẳng định: “Tôi cho rằng cam kết của chúng tôi tại Nga cũng mạnh mẽ như cam kết ở Việt Nam. Như bạn biết đấy, sau 10 năm chúng tôi đã làm thay đổi ngành công nghiệp sữa ở Việt Nam. Và chúng tôi cũng cam kết tương tự như vậy ở Nga”.

Trả lời câu hỏi về khả năng chiếm lĩnh thị trường sữa của Nga, ông Cohen bày tỏ doanh nghiệp không đặt nặng khía cạnh kinh tế. “Nếu bạn có sản phẩm chất lượng giống như ở Việt Nam, khi đó bạn sẽ chiếm được thị trường Nga. Chất lượng là điều then chốt. Nếu chúng tôi đã có được sản phẩm chất lượng tốt ở Việt Nam thì tôi tin rằng chúng tôi sẽ làm được điều đó ở Nga. Khách hàng Nga sẽ đánh giá cao điều đó, và họ sẽ mua hàng vì chất lượng”.

Hy vọng những kế hoạch của TH True Milk sẽ được thực hiện đúng như lộ trình ông Cohen đã cho biết và sau một vài năm nữa chúng ta sẽ được thấy những sản phẩm của TH-RUS hiện diện trong các cửa hàng thực phẩm của Nga.

Bà Thái Hương thị sát trang trại TH tại Moskva

Quảng Ninh từ ‘nâu’ sang ‘xanh’: Nhiều đổi thay trên vùng đất mỏ

Quảng Ninh từ ‘nâu’ sang ‘xanh’:

Nhiều đổi thay trên vùng đất mỏ

Sau những ngày “oằn mình” chống COVID-19, không khí tại Quảng Ninh giờ đã nhộn nhịp trở lại với hàng chục đoàn khách tới tham quan, nghỉ dưỡng.

Vào ngày cuối tuần nhưng lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh vẫn bận rộn với hội nghị trực tuyến triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 tới 13 huyện, thị xã, thành phố và 177 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh.

Sau khi hội nghị kết thúc, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nguyễn Tường Văn đã chia sẻ về sự phát triển kinh tế của tỉnh và cách phòng chống dịch hiệu quả của tỉnh nhà.

“Sẽ đạt mục tiêu thu ngân sách 53.000 tỷ đồng”

Nhiều năm qua, Quảng Ninh luôn thuộc tốp đầu về phát triển kinh tế-xã hội, nhờ khai thác hiệu quả những tiềm năng, lợi thế nổi trội bằng 3 đột phá chiến lược về hạ tầng giao thông, nguồn nhân lực và cải cách hành chính.

 Khu công nghiệp Texhong Hải Hà, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: TTXVN phát)

Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh luôn đạt trên 10%/năm. Chủ tịch Nguyễn Tường Văn cho biết ngay năm 2020 đầy khó khăn, GDP của tỉnh vẫn tăng 10,05% thuộc nhóm cao nhất cả nước, thu nhập bình quân đầu người đã vượt 6.700USD – gấp đôi mức trung bình cả nước.

Trong đó, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, đạt khoảng 220.000 tỷ đồng, tăng gấp 1,86 lần so với năm 2015. Tỉnh triển khai các giải pháp phục hồi, cơ cấu lại ngành du lịch, tập trung vào thị trường khách nội địa, đẩy mạnh phát triển liên kết vùng trong phát triển du lịch. Tổng số khách du lịch năm 2020 đạt hơn 8,8 triệu lượt, giữ được an toàn tại các điểm đến.

Các chiến lược, quy hoạch là chỉ dẫn quan trọng trong thu hút các nguồn lực đầu tư, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh,” làm thay đổi nhanh diện mạo, tạo ra một Quảng Ninh khác biệt phát triển vượt trội về đẳng cấp và bứt phá.

Bên cạnh đó, ngành than vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, chiếm tỷ trọng 17,7% trong GRDP, đóng góp 39% tổng thu ngân sách nội địa của tỉnh. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được quan tâm, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để đưa các dự án sản xuất vào hoạt động, tạo ra sản phẩm mới, tăng cao năng lực. Việc thực hiện cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả đầu tư công được đẩy mạnh.

Năm 2020, Quảng Ninh đã khởi công mới chín dự án, công trình động lực mới, tổng vốn đầu tư 32.338 tỷ đồng, theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, có ý nghĩa chiến lược phát triển trong dài hạn, đi trước một bước.

Chia sẻ về kết quả quý 1/2021, ông Văn đánh giá, quý này có 90 ngày nhưng để nói tập trung cho phát triển kinh tế không nhiều vì tình hình dịch bệnh căng thẳng và có kỳ nghỉ tết rất dài, rồi chuẩn bị cho hội đồng bầu cử các cấp… Tuy nhiên quý 1 tốc độ tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh vẫn đạt 9,02%.

Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn (Quảng Ninh). (Nguồn: TTXVN)

Ông Văn khẳng định: “Cả năm 2021 chúng tôi đặt ra chủ đề giữ vững địa bàn an toàn và duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong trại thái bình thường mới, phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ hiện đại gắn với việc đẩy mạnh liên kết các vùng. Chúng tôi đặt ra tăng trưởng ở 2 chữ số trên 10%. Thu ngân sách năm ngoái được 49.500 tỷ đồng thì năm nay đặt mục tiêu 53.000 tỷ đồng. Hiện có đầy đủ cơ sở để tin tưởng vào mục tiêu này.”

Để có được thành công trong quý 1, theo lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, ngay khi dịch bùng phát tại Chí Linh (Hải Dương), Chính phủ chỉ đạo Chí Linh bị phong tỏa. Nhưng riêng Quảng Ninh thì ít được nói tới, vì khi đó có thể chưa hình dung hai tỉnh rất gần nhau và có hơn 1.000 công nhân của Đông Triều sang làm việc ở khu công nghiệp Chí Linh.

Ngay khi biết tin, tỉnh Quảng Ninh hoàn toàn chủ động đưa ra những biện pháp khắc nghiệt đối với Đông Triều để có thể bảo vệ được cả tỉnh. Tuy nhiên, không may sau đó sân bay Vân Đồn lại bùng phát.

Ông Văn kể lại: “Lúc đó Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Xuân Ký tuyên bố sẽ giữ được địa bàn và kiểm soát được dịch vào ngày 28 Tết, tức là 10 ngày sau khi dịch bùng phát. Và điều đó đã trở thành hiện thực khi mà toàn tỉnh thực hiện đúng kịch bản “3 trước, 4 tại chỗ”, chủ động trong công tác phòng chống dịch. Chúng tôi đã đi vào thẳng tâm dịch Đông Triều để xem việc phòng chống dịch và cũng để cho bà con yên tâm. Cho nên đến ngày 28 Tết tỉnh tuyên bố bà con có thể đảm bảo ăn Tết trong trạng thái bình thường mới, trừ Đông Triều.”

Được biết, Quảng Ninh đã áp dụng các biện pháp “3 trước” bao gồm: Nhận diện, chủ động phòng, chống trước; phát hiện, hành động, xử lý trước; chuẩn bị phương án, vật tư trước; và “4 tại chỗ” gồm lực lượng tại chỗ; chỉ huy tại chỗ; phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ.

“Đây là kết quả rất rõ ràng cho việc chống dịch gắn với việc phát triển kinh tế. Đúng theo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước là luôn luôn thực hiện mục tiêu kép, vừa phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân vừa đảm bảo phát triển kinh tế,” ông Văn nhấn mạnh.

Có một Quảng Ninh khác…

Nhớ lại quãng thời gian trước, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Xuân Ký chia sẻ, Quảng Ninh bắt đầu bứt phá và tăng tốc từ giai đoạn 2011-2015 với cách làm sáng tạo, quyết liệt.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký. (Ảnh: Văn Đức/TTXVN)

Quảng Ninh hôm nay đã được kết nối nhanh và thông suốt với các địa phương trong cả nước và thế giới, bằng các tuyến đường cao tốc, cảng biển và sân bay quốc tế là một câu chuyện chắc chắn sẽ còn tiếp tục được nhắc tới về sau. Bởi, tất cả đều là những siêu dự án, nhưng Quảng Ninh chỉ phải bỏ ra số vốn nhỏ; phần còn lại đều là sự đóng góp, đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân.

Cùng với việc đột phá về hạ tầng giao thông động lực, từ năm 2011, Quảng Ninh đã mời các nhà làm quy hoạch hàng đầu thế giới về giúp tỉnh này xây dựng 7 quy hoạch chiến lược. Trong đó có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; quy hoạch vùng tỉnh; quy hoạch phát triển du lịch; quy hoạch phát triển nguồn nhân lực…

“Quảng Ninh luôn luôn có một khẩu hiệu là lắng nghe, thấu hiểu và sẵn sàng điều chỉnh bởi vì mục tiêu cuối cùng là vì người dân”

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký

Đây được coi là chỉ dẫn quan trọng trong thu hút các nguồn lực đầu tư, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh,” làm thay đổi nhanh diện mạo, tạo ra một Quảng Ninh khác biệt phát triển vượt trội về đẳng cấp và bứt phá.

Cũng theo lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, gần 10 năm trước Công ty tư vấn hàng đầu thế giới McKinsey (Mỹ) tư vấn cho tỉnh thành công và giai đoạn này Quảng Ninh vừa mời McKinsey trở lại, tư vấn cho tỉnh giai đoạn 2030, tầm nhìn năm 2050. Như vậy, Quảng Ninh có ít nhất 40 năm được tập đoàn hàng đầu làm quy hoạch, vì vậy đường, cầu làm đâu được đấy, rộng, đẹp, sạch khang trang.

Trước đây, than được coi đặc sản của Quảng Ninh vì cứ đến nơi này kiểu gì cũng được “hít” khí này. Giờ đây, ở Quảng Ninh không có chuyện vận chuyển than bằng ôtô hay tàu phà như trước. Ngoài ra, tỉnh đã đưa ra lộ trình giảm dần việc khai thác mỏ than lộ thiên, tăng khai thác hầm lò. Những nơi còn khai thác lộ thiên phải áp dụng công nghệ phun sương dập bụi, trồng cây che chắn để giảm bụi. Đặc biệt phải làm tốt công tác hoàn nguyên bãi thải mỏ cộng với việc phục hồi môi trường.

Tàu SYNERGY BUSAN, quốc tịch Marshall Islands có tải trọng trên 50.000 tấn chở theo trên 2.000 vỏ container hãng MAERSK LINE đã cập cảng container quốc tế Cái Lân. (Ảnh: Thanh Vân/TTXVN)

Một điểm được ông Ký tâm đắc chia sẻ là cải cách hành chính ở Quảng Ninh đã có thương hiệu, PCI (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) năm 2019 đứng thứ nhất, PAPI (chỉ số hệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh) đứng thức 3 sẽ phấn đấu cho tốp cao hơn, ICT (công nghệ thông tin-truyền thông) đứng thứ 3.

Cũng theo ông Ký, việc triển khai sáng kiến PCI một cách bản bản, khoa học đã giúp lãnh đạo các tỉnh xác định những điểm nghẽn trong điều hành kinh tế cũng như lựa chọn những giải pháp phù hợp để tiến hành cải cách điều hành kinh tế một cách hiệu quả. Quảng Ninh luôn xác định việc nâng cao chỉ số PCI là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục vì vậy PCI đã được lãnh đạo tỉnh đưa vào Nghị quyết Đại hội XV. Trên cơ sở đó, tỉnh đã không ngừng nỗ lực, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh, đầu tư trên địa bàn tỉnh, duy trì, cải thiện sức cạnh tranh.

“Nhưng câu chuyện không phải đứng thứ mấy mà là tạo nên nền tảng vững chắc để có thể chuyển đổi số nhanh hơn cả về kinh tế, xã hội cả về thành phố thông minh, đấy là mấu chốt của vấn đề. Đây là câu chuyện không hề dễ dàng, Quảng Ninh đang phải làm rất là quyết liệt. Tuy nhiên, Quảng Ninh luôn luôn có một khẩu hiệu là lắng nghe, thấu hiểu và sẵn sàng điều chỉnh bởi vì mục tiêu cuối cùng là vì người dân,” người đứng đầu tỉnh Quảng Ninh nhấn mạnh./.

Xe chở hàng hóa thông quan qua cầu Bắc Luân II, thành phố Móng Cái. (Ảnh: Bùi Đức Hiếu/TTXVN)

Việt Nam dành ưu tiên cao nhất cho “tương lai xanh”

Việt Nam ưu tiên cao nhất cho “tương lai xanh”

Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn so với dự báo, gây ra hàng loạt các hiện tượng thời tiết cực đoan và nước biển dâng cao đã trở thành thách thức lớn nhất đối với Trái Đất, thậm chí đe dọa đến sự tồn vong của nhiều cộng đồng dân cư trên thế giới. Lời cảnh báo của tự nhiên buộc các quốc gia phải hành động mạnh mẽ chứ không thể đứng nhìn…

Là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam đã và đang tích cực tham gian thực hiện các cam kết “xanh,” được cộng đồng quốc tế đánh giá như là hình mẫu về một nước đang phát triển còn nhiều khó khăn nhưng đã có những đóng góp đi đầu cho “ngôi nhà chung” an toàn của nhân loại.

Mới đây nhất, tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP26) diễn ra tại Glasgow (Vương quốc Anh), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính một lần nữa nhấn mạnh: Việt Nam xác định đoàn kết ứng phó biến đổi khí hậu, phục hồi tự nhiên là ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách. Đây cũng là “bước đi dài” để bảo đảm cuộc sống ngày càng tốt hơn cho mọi người dân và đóng góp trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế phát triển bền vững trong thời gian tới.

Chủ động, tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Vài năm gần đây, thời tiết tại Việt Nam ngày càng bất thường. Các hình thái thời tiết cực đoan trải dài rộng khắp trên mọi miền đất nước như khô hạn, bão lũ, mưa cực đoan, giông lốc, rét đậm rét hại diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp.

Ngoài ra, với đường bờ biển dài 3.260 km, nước biển dâng cũng đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đối với Việt Nam. Theo dự báo của giới chuyên gia, nếu nước biển dâng 1 mét, 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến 20-30 triệu người dân.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết mặc dù còn nhiều khó khăn về nguồn lực nhưng nhận thức được những thách thức và cả những cơ hội do biến đổi khí hậu mang lại, trong thời gian qua, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ưu tiên và tích cực trong thực hiện các cam kết quốc tế và đóng góp tích cực cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu; trong đó, phải kể đến Công ước Vienna về bảo vệ tầng Ozone, Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto, Thỏa thuận Paris về khí hậu…

Cùng với các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã chi hàng tỷ USD cho công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai; xây dựng các mô hình sinh kế, thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, phát triển năng lượng tái tạo; nâng cấp công tác cảnh báo, dự báo thiên tai; xây dựng các công trình, dự án đầu tư nâng cấp đê biển, đê sông, chống ngập và xâm nhập mặn; đóng góp tài chính cho biến đổi khí hậu và Quỹ Khí hậu xanh, tích cực tham gia các hoạt động quốc tế về biến đổi khí hậu…

“Việt Nam xác định đoàn kết ứng phó biến đổi khí hậu, phục hồi tự nhiên là ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách. Đây cũng là “bước đi dài” để bảo đảm cuộc sống ngày càng tốt hơn cho mọi người dân và đóng góp trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế phát triển bền vững trong thời gian tới.”

Thủ tướng Phạm Minh Chính

Đặc biệt, Việt Nam là một trong 20 quốc gia đầu tiên hoàn thành rà soát, cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Trong Báo cáo NDC cập nhật năm 2020 gửi Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Việt Nam cũng đã đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ giảm 9% tổng lượng khí thải nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường (khoảng 83,9 triệu tấn CO2 tương đương). Mức đóng góp có thể tăng lên tới 27% (khoảng 250,8 triệu tấn CO2 tương đương) khi nhận được hỗ trợ của quốc tế thông qua hợp tác song phương, đa phương…

Từ đầu năm 2021 đến nay, Việt Nam tiếp tục chủ động, tích cực tham gia các thỏa thuận quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu như: Ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về tăng trưởng cácbon thấp giữa Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 2021-2030; ký kết Thỏa thuận khung hợp tác về biến đổi khí hậu giữa Việt Nam với Hàn Quốc; tăng cường hợp tác phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu với Hà Lan…

Ngoài ra, với việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2022, lần đầu tiên nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu được nhắc đến một cách độc lập trong hành lang pháp lý. Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, đây sẽ là tiền đề để tăng cường công tác thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

“Tương lai xanh” là mục tiêu cao nhất

Để góp phần làm nên chiến thắng trước những thay đổi bất thường của biến đổi khí hậu trong thời gian tới, tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP26) tại Glasgow (Vương quốc Anh) vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp tục khẳng định Việt Nam sẽ dành ưu tiên cao nhất cho việc ứng phó với biến đối khí hậu.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ rằng mặc dù là nước đang phát triển mới chỉ bắt đầu tiến hành công nghiệp hóa trong hơn ba thập kỷ qua, nhưng Việt Nam sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính mạnh mẽ hơn nữa bằng nguồn lực của mình, cùng với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, cả về tài chính và chuyển giao công nghệ; trong đó có thực hiện các cơ chế theo Thỏa thuận Paris, để đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Một trong những phát biểu được đánh giá cao tại Hội nghị COP26, chính là cam kết của Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam cam kết mạnh mẽ đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đây là nội dung quan trọng thể hiện quyết tâm và cam kết chính trị của Đảng, Nhà nước trong việc đẩy mạnh chuyển đổi kinh tế nhằm góp phần giải quyết khủng hoảng khí hậu.

Thủ tướng đã đề nghị đưa ứng phó với biến đổi khí hậu, phục hồi tự nhiên phải trở thành ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách phát triển, là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của mọi cấp, mọi ngành, mọi doanh nghiệp và người dân. Điều đó thể hiện tầm nhìn và định hướng của người đứng đầu Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội đất nước trong giai đoạn tới, nhằm hiện thực hoá mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Con đường đến mục tiêu đó phải là con đường “xanh,” phù hợp xu thế phát triển chung toàn cầu.

Người đứng đầu Chính phủ Việt Nam cũng lưu ý biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, ảnh hưởng đến mọi người dân nên cần có cách tiếp cận toàn cầu và cả cộng đồng nên khoa học phải đi trước để dẫn dắt và nguồn lực tài chính phải là đòn bẩy, thúc đẩy chuyển đổi mô hình phát triển hướng tới kinh tế xanh, tuần hoàn…

Thủ tướng Phạm Minh Chính kêu gọi tất cả các quốc gia cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải khí nhà kính trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm chung, nhưng có khác biệt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, năng lực của từng quốc gia, phải có công bằng, công lý về biến đổi khí hậu.

Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam kêu gọi tất cả các quốc gia cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải khí nhà kính trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có khác biệt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và năng lực của từng quốc gia, phải có công bằng, công lý về biến đổi khí hậu.

Bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính đã được lãnh đạo các nước, đối tác quốc tế đánh giá cao đồng thời khẳng định sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong triển khai các biện pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và hỗ trợ các cộng đồng dân cư để tăng khả năng chống chịu và thích ứng trước các hiện tượng thời tiết bất thường và cực đoan do tác động biến đổi khí hậu.

Một người nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long trên thửa ruộng bị ngập mặn, do tác động của biến đổi khí hậu (Ảnh: Lê Minh Sơn/Vietnam+)

Cũng tại COP26, Việt Nam đã thể hiện sự ủng hộ và tham gia nhiều sáng kiến rất quan trọng như: Tuyên bố Glasgow của các nhà Lãnh đạo về rừng và sử dụng đất và Cam kết giảm phát thải methane toàn cầu, Tuyên bố chung toàn cầu về chuyển dịch từ than sang năng lượng sạch; tuyên bố chính trị về rừng và sử dụng đất…

Tận dụng thời cơ để phát triển bền vững

Sau sự kiện thành công của hội nghị COP26, mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã tổ chức cuộc họp với các đơn vị trong ngành để triển khai ngay các công việc “đón đầu” sự dịch chuyển các dòng đầu tư, tận dụng các cơ hội chuyển mô hình tăng trưởng đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.

Tại cuộc họp, ông Hà cho biết cam kết chính trị và quyết tâm hành động của Việt Nam tại hội nghị COP26 đã được các nhà lãnh đạo các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Canada, Uỷ ban châu Âu, Đức, Hàn Quốc, Thuỵ Điển… tin tưởng rằng quyết tâm hành động của Việt Nam sẽ mở ra những cơ hội hợp tác mới, to lớn hơn trong các lĩnh vực kinh tế xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu; nhất là trong bối cảnh các nước có sự quan tâm rất cao đối với biến đổi khí hậu, thay đổi mạnh mẽ về hướng phát triển, chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn…

Bên cạnh các ngân hàng phát triển đa phương, các ngân hàng quốc tế như Standard Chartered cũng có những cam kết mạnh mẽ với 8 tỷ USD dành cho phát triển bền vững trong khi các tập đoàn lớn sẵn sàng và mong muốn tham gia vào các dự án năng lượng gió, công nghệ xanh hiện đại tại Việt Nam.

Rừng trồng trên cát ở các xã ven biển huyện Triệu Phong. (Ảnh Hồ Cầu/TTXVN

Tuy vậy, ông Hà cũng lưu ý rằng trên cơ sở những cam kết của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại COP26 cũng như những ký kết hợp tác với nhiều tập đoàn trên thế giới về chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển kinh tế cácbon thấp, kinh tế tuần hoàn, Việt Nam cần phải chuẩn bị các nguồn lực để sẵn sàng cho mục tiêu tận dụng các cơ hội chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, Việt Nam cần đón đầu sự dịch chuyển các dòng đầu tư, tín dụng của các tổ chức tín dụng, tài chính trên thế giới; tận dụng các cơ hội hợp tác về chuyển giao công nghệ phát thải cácbon thấp, giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu hoá thạch, khơi thông tiềm năng về năng lượng tái tạo trong đó phát triển năng lượng gió ngoài khơi. Ngoài ra có thể bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, nâng sức chống chịu của hạ tầng cơ sở, thích ứng với biến đổi khí hậu…

Trước đó, tại Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC 2021 được tổ chức trong hai ngày 11-12/11 tại thành phố Aukland (New Zealand) theo hình thức kết hợp trực tuyến và trực tiếp, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cũng đã khẳng định Nhà nước, doanh nghiệp và toàn dân Việt Nam hiểu rõ nguy cơ và cơ hội đan xen đồng thời cam kết hành động quyết liệt để chuyển đổi mô hình kinh tế sang tăng trưởng xanh và ứng phó toàn diện với biến đổi khí hậu.

Với trách nhiệm đó, trong quá trình này Việt Nam luôn mong muốn tăng cường hợp tác hơn nữa với các thành viên APEC, các quốc gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Bên cạnh việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Việt Nam cũng xây dựng cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp nắm bắt cơ hội tham gia cung ứng sản phẩm và dịch vụ xanh; hoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển các doanh nghiệp xanh, đổi mới sáng tạo, các khu công nghiệp sinh thái…

Chủ tịch nước tin tưởng rằng những chính sách nêu trên cùng với thị trường 100 triệu dân của Việt Nam và mạng lưới rộng lớn của 14 Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia là cơ hội, điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư quốc tế đến với Việt Nam để cùng hợp tác, cùng chia sẻ lợi ích và phát triển bền vững.

Phục hồi Hệ sinh thái nhằm ngăn chặn và đảo ngược sự suy thoái của các hệ sinh thái trên mọi lục địa và đại dương (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tư tưởng “soi đường” về văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tư tưởng “soi đường” về văn hóa

“Văn hóa soi đường cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội” – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định điều này ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tại các Hội nghị Văn hóa toàn quốc những năm 1946, 1948.

Luận điểm này của Người thể hiện tầm nhìn vượt thời đại khi nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của văn hóa trong sự phát triển của mỗi quốc gia.

“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng, tính đi trước của văn hóa, coi đây là ngọn lửa soi đường, dẫn lối cho dân tộc đi đến thắng lợi: “Số phận dân ta là ở trong tay dân ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.”

Ngày 19/9/1954, tại Đền Giếng, một di tích trong quần thể di tích lịch sử văn hóa Đền Hùng, Bác Hồ đã có buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 (Đại đoàn quân Tiên phong) trên đường về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. (Ảnh: Đinh Đăng Định/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”

“Số phận dân ta là ở trong tay dân ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.”

Chủ tịch hồ chí minh

Như vậy, văn hóa là toàn bộ những sáng tạo, phát minh về vật chất và tinh thần của con người nhằm bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển của cá nhân, cộng đồng và rộng ra là cả quốc gia, dân tộc.

Và “Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Với xã hội, văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng cái hạnh phúc của mình nên được hưởng.”

Dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Và với Người, xây dựng nền văn hóa, không chỉ thuần túy quan tâm đến ngành hay lĩnh vực văn hóa riêng biệt mà phải chú trọng đến sự đồng bộ của nhiều yếu tố, từ chính trị, kinh tế, tâm lý, luân lý, xã hội.

Trong “Thư gửi các họa sỹ nhân dịp triển lãm hội họa 1951,” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.” Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.”

Với tư cách là hệ giá trị định hướng điều chỉnh nhận thức tư duy, hành vi của mỗi cá nhân cả cộng đồng và xã hội, văn hóa có sức mạnh to lớn: dưỡng tư tưởng đạo đức và nhân cách con người.

Hội Gióng được đánh giá là lễ hội độc đáo của Việt Nam và là lễ hội duy nhất trong tổng số gần 8.000 lễ hội truyền thống của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Ảnh: Nhật Anh/TTXVN)

Là bộ phận cấu thành đặc sắc của văn hóa, văn học nghệ thuật phải gắn bó mật thiết với đời sống, đấu tranh quyết liệt giữa cũ và mới, giữa cách mạng và phản cách mạng; giữa tích cực và tiêu cực. Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận văn hóa tư tưởng:

“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Quan điểm về người nghệ sỹ-chiến sỹ là đóng góp có ý nghĩa cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt lý luận và thực tiễn xây dựng nền văn hóa, văn nghệ mới ở nước ta.

Nhiều quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được kế thừa và phát triển

Những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa trở thành kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong thời kỳ đổi mới, tiến hành phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã từng bước nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa và việc phát huy nguồn lực văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã mở đầu công cuộc đổi mới. Đại hội VII tiếp tục chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhằm đưa đất nước đi vào thế ổn định và phát triển.

Sau một thời gian khủng hoảng kinh tế-xã hội và sau những biến động phức tạp của tình hình chính trị quốc tế, hai kỳ Đại hội này ưu tiên tập trung xác định đường lối phát triển kinh tế, ổn định xã hội; văn hóa mặc dù được quan tâm phát triển, nhưng chưa được xem là vấn đề trọng tâm.

Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7/1998) đã ban hành nghị quyết chuyên đề về “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,” cho thấy chuyển biến hết sức mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của văn hóa bên cạnh vấn đề phát triển kinh tế và xây dựng Đảng.

Điểm bưu điện văn hóa xã Tả Phời (Lào Cai) phục vụ đồng bào dân tộc nắm bắt thông tin, nâng cao dân trí, phát triển sản xuất. (Ảnh: Đình Huệ/TTXVN)

Nghị quyết khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội.”

Để cụ thể hóa việc phát huy nguồn lực văn hóa cho phát triển, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã nhấn mạnh đến giải pháp xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa. Trong đó, Nghị quyết đề cập đến chính sách kinh tế trong văn hóa và chính sách văn hóa trong kinh tế.

Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Nhã nhạc Huế – Âm nhạc cung đình Việt Nam được vinh danh là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2003. (Ảnh: Nhật Anh/TTXVN)

Bước phát triển trong quan điểm của Đảng về văn hóa thời kỳ này là nhấn mạnh mục tiêu hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa.

Vai trò nguồn lực văn hóa đối với phát triển đã được đúc kết trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

Cương lĩnh khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.”

Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2011) của Đảng đã tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII và ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.”

Trong Nghị quyết này, Đảng nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng con người toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đồng thời bổ sung các nhiệm vụ mới là xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế; phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa. Những nhiệm vụ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc phát huy nguồn lực văn hóa trong sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế-xã hội.

Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ngày càng được cải thiện (2004). (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)

Nhận thức mới có tính đột phá của Đảng về nguồn lực văn hóa đối với phát triển được thể hiện ở việc khẳng định vai trò của văn hóa trong chính trị và trong kinh tế. Chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực then chốt của xã hội phải được đặt trên nền tảng văn hóa và phải phát huy vai trò của nguồn lực văn hóa đối với việc phát triển hai lĩnh vực trên.

Đảng ta nhấn mạnh: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.” Đây chính là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Nguồn lực văn hóa được kết tinh tập trung nhất là ở con người. Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính.

Đây chính là cách tiếp cận tổng thể về văn hóa để nhìn rõ hơn sức mạnh và sự lan tỏa của văn hóa, của các giá trị chân-thiện-mỹ vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, tạo nên sự phát triển hài hòa, bền vững của đất nước trong thời kỳ đổi mới.

Nghi lễ kéo co ngồi được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)

“Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020” (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12/42012) cũng khẳng định quan điểm con người là trung tâm của phát triển bền vững; nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ phát huy tối đa nhân tố con người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển bền vững; cần đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân…

Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, Đảng ta khẳng định một trong những quan điểm phát triển là mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Đây là một trong ba khâu đột phá chiến lược để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, cụ thể hóa các đột phá chiến lược này cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học-công nghệ; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của nguồn lực văn hóa, nhất là nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt trong bối cảnh mới không ít thách thức, nguy cơ với nhiều biến động bất ngờ, khó lường, Đảng ta nhấn mạnh định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới cần “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” bởi “tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.”

Như vậy, có thể thấy, nhận thức về nguồn lực văn hóa trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước của Đảng ta ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc quan tâm chú trọng phát triển nguồn lực văn hóa, con người, phát huy tối đa tiềm năng “sức mạnh mềm” của đất nước là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, đồng thời nâng cao hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế./.

Đoàn cồng chiêng tại lễ bỏ mả “Pơ thi” của dân tộc Gia Rai. (Ảnh: Tuấn Đức/ TTXVN)

Hội nghị Văn hóa toàn quốc: Củng cố ‘sức mạnh mềm’ đưa đất nước tiến lên

Văn hóa

Cội nguồn và động lực phát triển

Mỗi một cá nhân con người và mỗi một dân tộc chỉ có ý nghĩa khi xác lập được bản sắc văn hóa của mình. Bản sắc văn hóa trong mỗi cá nhân con người và trong mỗi quốc gia là những yếu tố “sống còn” để xác lập sự tồn tại độc lập của cá nhân và quốc gia đó.

Chính vậy mà đối với mọi quốc gia, ở bất cứ hình thái xã hội nào, thể chế chính trị nào thì văn hóa phải là nền tảng hệ trọng nhất cho sự phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh “thế giới phẳng” ngày nay, khi mà nhiều khoảng cách và ranh giới bị xóa nhòa, việc xác lập bản chất và đường đi của một nền văn hóa mới là điều kiện tiên quyết, hay nói cách khác là làm sao để hòa nhập mà không hòa tan.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.”

Quan điểm này là sự tiếp nối và minh chứng cho những luận điểm quan trọng đã được nêu trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 và đặc biệt là chân lý đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu bật tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946): “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.

‘Sợi chỉ đỏ’ xuyên suốt lịch sử dân tộc

Năm 1943, Tổng Bí thư Trường Chinh đã soạn thảo Đề cương văn hóa Việt Nam. Đây là cương lĩnh về văn hóa đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện quan điểm của Đảng về vị trí của văn hóa đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trước cách mạng, nhiều trí thức, văn nghệ sỹ ít nhiều cảm thấy bế tắc trong sáng tạo, nhưng khi bắt gặp tư tưởng cứu quốc “Tổ quốc trên hết” trong Đề cương văn hóa họ đã hăng hái đi theo cách mạng và kháng chiến. Điều này thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như tập thơ “Từ ấy” của Tố Hữu với những câu thơ bất hủ: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt Trời chân lý chói qua tim.”

Những luận điểm của đề cương này đã được soi tỏ và được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát hóa thành chân lý có giá trị vô cùng sâu sắc: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi,” tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất diễn ra ngày 24/11/1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, với sự tham gia của hơn 200 đại biểu đại diện cho phong trào văn hóa toàn quốc thời bấy giờ.

Luận điểm này đã trở thành nguyên tắc chi phối, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, và là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong diễn văn khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa phải hướng dẫn quốc dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ. Đây chính là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động của ngành văn hóa và thông tin… Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi…”

Người nêu nhiệm vụ của văn hoá mới là phải lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh đồng thời phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hoá xưa và nay để xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam với ba tính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn hoá nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Người cũng kêu gọi các nhà văn hoá Việt Nam “hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng.”

Trong suốt thời kỳ kháng chiến, Đảng đã mở ra một số hội nghị quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện đường lối văn hóa kháng chiến, trong đó có Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, diễn ra từ ngày 16 đến 20/7/1948, tại Phú Thọ. Đây cũng là Hội nghị Thi đua ái quốc của trí thức, các văn nghệ sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hoá.

Tiếp đó, Hội nghị Văn nghệ toàn quốc được tổ chức từ ngày 23 đến 25/7/1948. Hơn 80 đại biểu của các ngành văn học, sân khấu, âm nhạc, kiến trúc, mỹ thuật từ các nẻo đường kháng chiến đã về dự, chính thức thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam. Sau hội nghị, các văn nghệ sỹ nô nức đi vào cuộc kháng chiến với khẩu hiệu “Cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt…”

Do điều kiện chiến tranh, hình thức hội nghị văn hóa toàn quốc không còn được tổ chức, nhưng quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa tiếp tục xây dựng, bổ sung, phát huy trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.” Lần đầu tiên Đảng khẳng định “Văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển.” Quan điểm này là định hướng cơ bản cho phát triển bền vững đất nước, nếu không sẽ có những lệch lạc về tư tưởng, khủng hoảng xã hội.

Chương trình nghệ thuật trong giai đoạn giãn cách xã hội do Cục Nghệ thuật Biểu diễn tổ chức. (Ảnh: Minh Khánh/Vietnam+)

Năm 2014, công nghiệp văn hóa được chính thức đề cập trong Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị. Đây là bước tiến mới trong nhận thức lý luận và thực tiễn. Với quan điểm mới này, giá trị, bản sắc văn hoá không chỉ là tài nguyên vô giá, tạo ra doanh thu, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, mà còn củng cố “sức mạnh mềm” giúp nâng cao thương hiệu vùng miền, quốc gia.

Gần đây nhất, các văn kiện của Đảng tại Đại hội XIII tiếp tục nhấn mạnh vai trò của “sức mạnh mềm.” Qua hàng ngàn năm lịch sử, lòng yêu nước, yêu hòa bình, đoàn kết, nhân ái, ý chí tự cường và khát vọng cống hiến đã dìu dắt cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa,” đưa đất nước vượt qua bao gian nan thử thách và tiếp tục tạo thành “căn cước văn hóa” của quốc gia trong thời kỳ hội nhập.

Khơi thông “dòng chảy” văn hóa

Sau đúng 75 năm kể từ ngày Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức, ngày 24/11 tới đây, Hội nghị Văn hóa toàn quốc sẽ diễn ra. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, những người làm việc trong lĩnh vực văn hóa, giới văn nghệ sỹ và nhân dân mong đợi sự kiện này sẽ là một “Hội nghị Diên Hồng” của ngành văn hóa.

Theo thông tin từ Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 sẽ đánh giá việc triển khai đường lối, chủ trương, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ thời gian qua; kết quả xây dựng văn hóa, con người Việt Nam sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước; từ đó thống nhất phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn 2021-2026, tầm nhìn đến năm 2045.

Hội nghị sẽ rút ra những bài học thành công, cũng như nhìn thẳng vào các khuyết điểm, yếu kém trong phát triển văn hóa, xây dựng con người đồng thời đưa ra những quan điểm, chủ trương mới về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng.

Phó giáo sư, tiến sỹ Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho hay hội nghị sẽ là kim chỉ nam để tiếp tục đưa văn hóa Việt Nam phát triển, tiếp tục tạo ra vị thế riêng và hòa vào dòng chảy của thời đại.

Phó giáo sư, tiến sỹ Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho hay hội nghị sẽ là cơ hội để tiếp tục đưa văn hóa Việt Nam phát triển, tiếp tục tạo ra vị thế riêng và hòa vào dòng chảy của thời đại.

“Từ thực tế sinh động và biến đổi phức tạp, muôn hình muôn vẻ của đời sống văn hóa hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục đổi mới và chú trọng những vấn đề then chốt. Trên cơ sở một nền kinh tế phát triển vững mạnh với mục tiêu hướng về phục vụ cho lợi ích của số đông, môi trường được bảo vệ, với một nền chính trị lành mạnh, dân chủ, công khai, minh bạch, văn hóa Việt Nam chắc chắn sẽ đóng góp xứng đáng với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, được xây dựng và phát triển vững chắc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước,” Thứ trưởng Tạ Quang Đông chia sẻ.

Trong khi đó, theo tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, những thông điệp quan trọng về văn hóa sẽ được đưa ra tại hội nghị lần này, mở ra một thời kỳ phát triển văn hóa mới của đất nước.

Phân tích bối cảnh diễn ra hội nghị, ông Bùi Hoài Sơn cho rằng từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm điều chỉnh và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa phù hợp với tình hình mới. Bức tranh tổng thể của văn hóa sau 35 năm đổi mới đã mang những sắc thái mới, đa dạng và năng động hơn.

Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội. (Ảnh: NVCC)

Song, ông Bùi Hoài Sơn cho rằng “bức tranh văn hóa” trong những năm vừa qua vẫn còn những mảng màu kém tươi sáng. Hệ giá trị của người Việt Nam trong xã hội đương đại đang có nhiều biến đổi, có cả chiều hướng tiêu cực. Hạn chế lớn nhất trong xây dựng con người những năm vừa qua là sự suy thoái về tư tưởng, xuống cấp về đạo đức, tha hóa về lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên và nhân dân, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bên cạnh đó, việc xây dựng thể chế văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ và chưa hiệu quả. Các văn bản pháp luật về văn hóa nhiều khi chưa theo kịp với tình hình thực tiễn, việc tổ chức thực hiện còn yếu, một số văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa chưa thực sự đi vào cuộc sống.

Mặt khác, cũng theo tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, nhiều sản phẩm văn hoá không phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc, thậm chí độc hại, ảnh hưởng tiêu cực đến thị hiếu, lối sống của một phần không nhỏ người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ không rõ nét, chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Thậm chí, thị trường đã xuất hiện những tác phẩm mang tư tưởng chống đối, phá hoại hệ giá trị tư tưởng thông qua các hình thức nghệ thuật mới.

ATM gạo hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn. (Ảnh: TTXVN)

“Dù trải qua 75 năm nhưng những bài học của việc tổ chức hội nghị văn hóa toàn quốc vẫn còn nguyên giá trị. Khi Đảng và Nhà nước chú ý lắng nghe ý kiến của văn nghệ sỹ, các tổ chức văn hóa nghệ thuật, khi văn nghệ sỹ và các tổ chức văn hóa nghệ thuật cảm nhận thấy sự quan tâm, gần gũi của lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với những tâm tư, nguyên vọng của mình, đó là lúc văn hóa nghệ thuật có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước,” ông nói.

Chia sẻ với phóng viên Báo điện tử VietnamPlus, nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, cho rằng Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021 không chỉ nhìn lại 75 năm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi,” 35 năm đất nước đổi mới, mà còn là sự khẳng định sức mạnh tinh thần của văn hóa trong giai đoạn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực chống dịch hiện nay.

Thực tế đã cho thấy rõ ràng, trong gian khó, những phẩm chất cao quý của người Việt như tình yêu nước, nghĩa đồng bào càng bừng sáng hơn bao giờ hết. Khi Tổ quốc gọi, từ các y, bác sỹ nghỉ hưu đến sinh viên y khoa đều sẵn sàng lên đường chống dịch, những người dân bình thường sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ những người khó khăn hơn… Máy thở, ATM gạo, ATM ôxy, siêu thị 0 đồng, những bữa cơm nghĩa tình đã cho thấy sức mạnh dân tộc được tạo nên từ những điều giản dị.

“Giữa cuộc chiến chống COVID-19, việc Đảng và Nhà nước có chủ trương tổ chức hội nghị là một hành động thiết thực, nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong đời sống chính trị-xã hội. Hội nghị sẽ hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cụ thể là những mục tiêu về văn hóa, xây dựng con người, phát triển hoàn thiện nhân cách con người,” ông nói.

Ông khẳng định xây dựng văn hóa và con người văn minh tức là đảm bảo nguồn lực, nền tảng cho những thắng lợi của đất nước.

“Là văn nghệ sỹ, chúng tôi vô cùng xúc động và tự hào với truyền thống văn hóa mà Bác Hồ đã xây dựng và chỉ ra từ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất. Tròn 75 năm, nhìn lại cả chặng đường phát triền, chúng ta thấy rằng giới văn nghệ sỹ luôn đồng hành cùng dân tộc, trải qua các giai đoạn của lịch sử cách mạng, để lại rất nhiều tác phẩm trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Tới đây, những người làm văn hóa sẽ có cơ hội ‘hiến kế’ để những chính sách, Nghị quyết thực sự đi vào đời sống văn hóa của dân tộc,” ông chia sẻ./.

Minh Thu
Minh Thu

Khơi dậy nguồn lực nội sinh, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa

Ngày 24/11 tới, Hội nghị Văn hóa toàn quốc sẽ được tổ chức nhằm đánh giá việc triển khai đường lối, chủ trương của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ thời gian qua; kết quả xây dựng văn hóa, con người Việt Nam sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt là kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ…; từ đó thống nhất phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn 2021-2026, tầm nhìn đến năm 2045.

Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần này được tổ chức vào thời điểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình mới của cả dân tộc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.”

Vì thế, Hội nghị sẽ trở thành một động lực khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại.

Khơi dậy nguồn sức mạnh nội sinh

Tại Đại hội XIII của Đảng, khát vọng và tầm nhìn của Đảng và nhân dân Việt Nam trong thời đại mới đã được xác định rõ với mục tiêu cụ thể: đến năm 2025, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để đạt được những mục tiêu quan trọng này, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; đồng thời chỉ rõ việc “Lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam làm nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”; “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.”

Đại hội XIII của Đảng cũng xác định rõ: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Cùng đó, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu yêu cầu trong Nghị quyết Đại hội XIII, đó là “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam.”

Chèo – nghệ thuật sân khấu truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)

Phát triển mạnh mẽ nền văn hóa và con người Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết là phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng; đấu tranh chống các khuynh hướng đồng hóa, nô dịch về văn hóa, đồng thời, coi trọng việc tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học, giáo dục của nhân loại để xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam tiến kịp, tiến cùng thời đại.

Quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, mà cốt lõi là làm cho chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, cũng chính là quá trình xây dựng con người, phát huy tối đa nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người – khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa, phát triển bền vững đất nước. Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, trở thành sức mạnh nội sinh, động lực đột phá cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển.” Để làm được điều này, cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, phúc lợi văn hóa, an ninh văn hóa, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Văn hóa được coi là một sức mạnh nền tảng để xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình dựng nước và giữ nước.

Cùng với đó, tǎng đầu tư của nhà nước và xã hội cho phát triển sự nghiệp vǎn hóa; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư; hoàn thiện và bổ sung các cơ chế chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa văn hóa đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.

Suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, trải qua hàng ngàn năm văn hiến, văn hóa được coi là một sức mạnh nền tảng để xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình dựng nước và giữ nước. Bản sắc văn hóa là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc và con người Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, việc phát huy các giá trị tinh hoa của văn hóa sẽ là nguồn lực nội sinh tiếp thêm sức mạnh cho khát vọng chuyển mình của dân tộc.

Theo Phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Duy Đức (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), trong mỗi bước ngoặt của cách mạng, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng phát huy vai trò của văn hóa để tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, nhằm biến khát vọng thực hiện các mục tiêu chính trị thành hiện thực.

Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược trước đây, Đảng ta đã tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và nhân dân để khơi dậy khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong kháng chiến chống Pháp là tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; trong kháng chiến chống Mỹ là “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… Tinh thần đó, khát vọng đó đã giúp dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức để giành được những chiến thắng mang tầm thời đại.

Trải qua 35 năm của công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành công, chúng ta thấy rằng trong lĩnh vực văn hóa còn nhiều khó khăn, hạn chế phải tháo gỡ. Một lần nữa, chúng ta cần phải chấn chỉnh lại đội ngũ, khắc phục những yếu kém để tiến lên phía trước.

Muốn vậy, cần tập trung huy động mọi sự sáng tạo, tinh thần đoàn kết dân tộc, mọi nguồn lực vật chất và tinh thần nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đây là điểm nhấn mà Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII cũng như Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021 sẽ hướng tới.

Phát huy sức mạnh mềm của văn hóa

Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày truyền thống hàng nghìn năm. Nền văn hóa đó có hệ giá trị và bản sắc riêng và không bị đồng hóa bởi bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Hệ giá trị và bản sắc đó đã tạo nên sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia (về chính trị, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, con người, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…) thì nguồn lực văn hóa đang được nhiều quốc gia coi là một “sức mạnh mềm” quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị trí, vai trò trên trường quốc tế.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã yêu cầu “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới.”

Phụ nữ Dao đỏ nổi bật trong trang phục truyền thống. (Nguồn: TTXVN)

Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng thuật ngữ “sức mạnh mềm,” “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam” lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam và sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớn của đất nước trong phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Cũng theo Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Duy Bắc, để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam hiện nay, trước hết, cần đặc biệt quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, bởi đây là cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa quốc gia.

Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa; hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể; nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại.”

Để đảm bảo những giá trị cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc, cần quan tâm phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa đương đại phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, tiến bộ để tiếp tục gia tăng thêm cơ tầng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam và lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Cùng với đó, cần tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta và nhân dân thế giới; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thâm nhập sâu rộng, bền chặt trong đời sống tinh thần của xã hội, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế; có thêm nhiều hình thức tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài; tổ chức tuyển chọn, biên dịch, xuất bản các tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài; tiếp tục đẩy mạnh giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp và trước tác của các danh nhân lịch sử, văn hóa, quân sự tiêu biểu của dân tộc ta… làm lan tỏa, củng cố giá trị văn hóa Việt Nam trong trong lòng nhân dân thế giới.

Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và ngoại giao văn hóa để phổ biến và lan tỏa hình ảnh đất nước, văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam; giúp nhân dân thế giới hiểu biết, yêu mến, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ Việt Nam phát triển; ủng hộ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tăng cường mở rộng đầu tư, kinh doanh, du lịch vào Việt Nam…

Bên cạnh đó, để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, phải gắn kết chặt chẽ văn hóa với phát triển kinh tế; “Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, phấn đấu đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, giữ gìn tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau.”

Du lịch, nhất là du lịch văn hóa chính là cách thức, là con đường có hiệu quả cao để phát huy sức mạnh mềm văn hóa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, thu hút du khách quốc tế thăm quan, du lịch, nghỉ dưỡng, đầu tư, kinh doanh, gia tăng nguồn thu nhập cho các địa phương và đất nước./.

Nỗi đau mang tên COVID-19: Nhiều hy sinh, mất mát và cô đơn

Nỗi đau mang tên COVID-19

Hy sinh, mất mát và sự cô đơn

Tiếng còi hú vang, nhiều người tạm biệt gia đình, lên xe cứu thương đi điều trị. Họ không thể ngờ rằng đó cũng là lần cuối cùng được gặp mặt người thân.

Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, đặc biệt ở đợt dịch lần thứ 4, đã có hàng chục nghìn người đã mãi mãi ra đi. Những hy sinh, mất mát ấy sẽ còn dai dẳng mãi trong tâm trí của người ở lại và là những nỗi ám ảnh khôn nguôi với nhân viên y tế…

Những cuộc gọi trong nấc nghẹn

Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam vừa đi qua thời kỳ mất mát chưa từng có trong lịch sử. Khởi đầu từ ca lây nhiễm trong cộng đồng vào giữa tháng 5/2021, địa phương này đã trở thành “tâm dịch” lớn nhất cả nước.

Tháng 8/2021, Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn đau thương nhất vì dịch COVID-19. Hàng trăm nghìn người phải ứng phó với dịch bệnh. Số ca mắc lần lượt từ 1 con số nhảy lên 2 con số, 3 con số và từ đầu tháng Bảy luôn ở 4 con số.

Chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại Trung tâm hồi sức tích cực ở Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Tại Bệnh viện Hồi sức COVID-19 với quy mô 1.000 giường do Bệnh viện Chợ Rẫy chịu trách nhiệm chính (Trung tâm hồi sức lớn nhất ở phía Nam). Dù nỗ lực không mệt mỏi, nhưng trước sức tấn công của chủng virus Delta, COVID-19 lây lan chóng mặt, nhiều bác sỹ đã phải choáng váng. Vào cuối tháng Tám, Thành phố Hồ Chí Minh có tới hơn 100.000 F0, rất nhiều trường hợp trong tình trạng nặng. Cao điểm, số trường hợp tử vong lên đến 2.105 ca/tuần.

Bác sỹ Nguyễn Tri Thức – Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy cho hay đội ngũ y tế đã phải chạy đua với dịch khi số ca nặng, nguy kịch ngày càng nhiều. Có nhiều tuần liền tại Thành phố Hồ Chí Minh, số trường hợp mắc COVID-19 tử vong 200-300 người mỗi ngày. Rất nhiều F0 dù được can thiệp kỹ thuật chuyên sâu nhất, hiện đại nhất, với các bác sĩ giỏi nhất – nhưng cũng đầu hàng trước COVID-19.

Có nhiều tuần liền tại Thành phố Hồ Chí Minh, số trường hợp mắc COVID-19 tử vong 200-300 người mỗi ngày. Rất nhiều F0 dù được can thiệp kỹ thuật chuyên sâu nhất, hiện đại nhất, với các bác sĩ giỏi nhất – nhưng cũng đầu hàng trước COVID-19.

Là một trong số những người được cử vào chi viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, bác sỹ Hoàng Thị Phú Bằng – Phó trưởng Phòng Công tác xã hội (bệnh viện Bạch Mai), cho hay kể từ ngày 11/8, khi Trung tâm COVID-19 của Bệnh viện Bạch Mai bắt đầu nhận bệnh nhân, tất cả đều không ngờ lượng bệnh nhân trong tình trạng nặng lại gia tăng nhanh đến vậy.
Tại Bệnh viện dã chiến số 16 do Bệnh viện Bạch Mai đảm nhiệm, trong tuần đầu tiên, bác sỹ Bằng và nhiều người đồng nghiệp phải liên tục gọi điện tư vấn, thông báo tới thân nhân người bệnh về tình trạng của bệnh nhân.

Nhân viên y tế đưa các bệnh nhân mắc COVID-19 vào cấp cứu. (Ảnh: PV/Vietnam+

“Tôi có một nỗi sợ sau mỗi một buổi giao ban phải thông báo tới thân nhân của người bệnh những trường hợp tử vong trong đêm. Đó là những cuộc gọi tôi không muốn phải thực hiện chút nào, nhưng sự khốc liệt của đại dịch COVID-19 khiến chúng tôi buộc phải có những cuộc gọi đau buồn ấy…,” bác sỹ Bằng nhớ lại.

Cũng đã rất nhiều lần những người làm ngành y phải rơi nước mắt khi nghe phía bên kia đầu dây tiếng người lớn khóc nghẹn gọi thân nhân, tiếng trẻ con khát sữa chờ mẹ… Những âm thanh ấy cứa vào tim họ và là sự ám ảnh khôn nguôi.

Hành trình đơn độc

Chia sẻ về hơn 2 tháng tham gia chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, tiến sỹ – bác sỹ Hoàng Đình Cảnh – Phó Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) bảo rằng ông không thể quên những lần đi xuống cơ sở, nhìn bệnh nhân mắc COVID-19 tạm biệt gia đình đi điều trị. Lúc đầu, ai nấy cũng nghĩ đó là điều bình thường nhưng khi số người tử vong do COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh gia tăng nhanh chóng, những cuộc chia tay ấy nặng nề không kể xiết. Với nhiều người, đó là lần gặp mặt người thân cuối cùng trong đời…

Điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại bệnh viện. (Ảnh; PV/Vietnam+)

Nghiệt ngã nhất trong hành trình khi đi điều trị bệnh, quãng đường còn lại của những bệnh nhân COVID-19 là một mình đơn độc chống lại bệnh tật. Khi tử vong, họ cũng một mình, không có người thân bên cạnh…

“Khi đó, chúng tôi phải xây dựng một quy trình chuẩn áp dụng nhanh chóng để không thất lạc hay thiếu sót thông tin về các bệnh nhân COVID-19. Để khi bất kể một bệnh nhân nào rơi vào tình huống xấu nhất thì điều cuối cùng mỗi nhân viên y tế vẫn cố gắng là làm sao để họ được trở về bên gia đình,” tiến sỹ Cảnh cho hay.

Kể từ ca tử vong đầu tiên liên quan tới COVID-19 từ ngày 31/7/2020, tới nay con số này là hơn 23.300 ca. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh có 17.265 trường hợp, chiếm 74% số ca tử vong cả nước…

Theo thống kê của Bộ Y tế, kể từ ca tử vong đầu tiên liên quan tới COVID-19 từ ngày 31/7/2020, tới nay con số này là hơn 23.300 ca, chiếm tỷ lệ 2,2% so với tổng số ca nhiễm. Nếu ở trong 3 đợt dịch trước chỉ có 35 người tử vong vì COVID-19 thì trong đợt dịch lần thứ 4, con số này tăng lên khủng khiếp.

Riêng Thành phố Hồ Chí Minh có 17.265 trường hợp, chiếm 74% số ca tử vong cả nước (trong đó có 38 trẻ em và 62 phụ nữ có thai không qua khỏi). Phân tích số liệu về giới, số tử vong ở nam thấp hơn nữ với 41,5% và chiếm 58,5%. Về độ tuổi, 86,5% người tử vong trên 50 tuổi, trong đó người trên 65 tuổi tử vong chiếm 52,3%.

So với thế giới, tổng số ca tử vong Việt Nam xếp thứ 34/223 quốc gia và vùng lãnh thổ; số ca tử vong trên 1 triệu dân xếp thứ 134/223 quốc gia và vùng lãnh thổ. So với châu Á, tổng số ca tử vong Việt Nam xếp thứ 10/49 quốc gia và vùng lãnh thổ; số ca tử vong trên 1 triệu dân xếp thứ 28/49 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Đoàn kết, mạnh mẽ để bước tiếp

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn cho hay trong 3 đợt dịch trước với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ, Việt Nam đã khống chế dịch nhanh chóng dịch bệnh. Ngay cả từ đầu đợt dịch lần thứ tư, khi dịch bùng phát ở Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, chúng ta cũng chỉ mất gần 2 tháng kiểm soát dịch.

“Nhưng vào tháng Năm, khi dịch bùng phát ở Thành phố Hồ Chí Minh, không phải chúng ta lơ là, chủ quan với thành tựu trước đây mà do đặc tính biến chủng Delta nên dịch lây lan nhanh, diễn biến phức tạp, khó lường,” ông Sơn cho hay.

Tổng kết, rút những kinh nghiệm từ đợt dịch lần thứ 4, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh sau 2 năm chống dịch, chúng ta đã rút ra được nhiều kinh nghiệm. Đã có những sự trả giá, có mặt còn hạn chế, song từ những kinh nghiệm đó, chúng ta dần thích ứng và hiểu rõ hơn về dịch bệnh này.

Sau 2 năm chống dịch, chúng ta đã rút ra được nhiều kinh nghiệm. Đã có những sự trả giá, có mặt còn hạn chế, song từ những kinh nghiệm đó, chúng ta dần thích ứng và hiểu rõ hơn về dịch bệnh này.

Thủ tướng Phạm Minh Chính

Theo Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã đưa ra được các trụ cột phòng chống dịch như: Cách ly nhanh chóng, xét nghiệm khoa học, hiệu quả, tiết kiệm, an toàn và tốc độ; cuối cùng là điều trị từ sớm, từ xa, từ cơ sở, giảm tỷ lệ tử vong. Và, Việt Nam đã hình thành ra được công thức phòng chống như: 5K + Vaccine, thuốc điều trị, các biện pháp điều trị, công nghệ, đặc biệt là đề cao ý thức của nhân dân.

Hiện nay, cả nước thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19, tuy nhiên, “cuộc chiến” chống lại “giặc COVID-19” vẫn tiếp diễn. Những ngày gần đây, số ca nhiễm vẫn cao. Từ kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh, cũng đã có những “bài học xương máu” được khắc phục.

Tiếp nhận, bàn giao tro cốt người tử vong do dịch COVID-19 về với gia đình tại tỉnh An Giang.

Trước những mất mát và đau thương ấy, buổi Lễ tưởng niệm đồng bào và cán bộ, chiến sĩ hy sinh, tử vong trong đại dịch COVID-19 do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được tổ chức vào 20 giờ ngày 19/11. Điểm cầu chính tại Hội trường Thống Nhất (TP Hồ Chí Minh) và điểm cầu phụ tại Công viên Thống Nhất (Hà Nội).

Buổi lễ nhằm tưởng niệm đồng bào tử vong và tri ân, biểu dương cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng đã hy sinh vì dịch COVID-19, thể hiện sự chia sẻ, động viên của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước những mất mát, đau thương của các gia đình, người thân.

Đây là hoạt động nhằm lan tỏa tình nhân ái cộng đồng, tiếp tục động viên tinh thần các lực lượng tuyến đầu và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân trong tham gia phòng, chống dịch. Thông qua đó, khích lệ tinh thần đại đoàn kết, ý chí quật cường của toàn dân tộc để vượt qua khó khăn, thách thức, thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, phục hồi sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

BÀI 1: TẤN CÔNG VÀO BA MẶT TRẬN LỚN ĐỂ DẸP ‘CƠN ÁC MỘNG’ COVID-19
BÀI 2: VACCINE – ‘VŨ KHÍ TỐI THƯỢNG’ ĐỂ ‘TẤN CÔNG ĐẠI DỊCH’
BÀI 3: ‘MẶT TRẬN’ COVID-19: CHIẾN LƯỢC MỚI, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ
BÀI 4: NHỮNG ‘ĐÒN ĐÁNH’ QUYẾT ĐỊNH GIÚP VIỆT NAM KIỂM SOÁT DỊCH
BÀI 5: NỖI ĐAU COVID-19: NHIỀU HY SINH, MẤT MÁT VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Thùy Giang
Thùy Giang