Sự phát triển của video trên báo điện tử chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi khoa học công nghệ với xu hướng hội tụ giữa công nghệ thông tin, viễn thông, mạng internet và công nghệ truyền hình. Việc sản xuất video trên báo điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn gần đây có những bước phát triển mạnh mẽ, bao gồm cả ở phương thức sản xuất và khâu phân phối nội dung theo hướng đa phương tiện, đa nền tảng. Bài viết này bước đầu khái quát bức tranh video trên báo điện tử ở Việt Nam và xới xáo một số giải pháp nâng cao chất lượng tác phẩm video, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày một cao của công chúng.

Video – cơ hội của báo điện tử trong môi trường truyền thông số

Bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư nói chung, công nghệ số nói riêng đã có những đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của truyền thông, làm thay đổi hoàn toàn quy trình, cách thức sản xuất và cách tiêu thụ các sản phẩm truyền thông. Việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, phân phối đã làm cho các sản phẩm truyền thông trở nên hấp dẫn hơn, tiếp cận gần và nhanh hơn với mọi đối tượng công chúng. Một số công ty đột phá đi đầu trong lĩnh vực này như Facebook, Google, Netflix… với những sản phẩm đa phương tiện đã thúc đẩy nền công nghiệp truyền thông theo cách hoàn toàn mới, tạo ra rất nhiều thách thức đối với báo chí nói riêng và truyền thông nói chung trong việc thu hút công chúng.

Chính những thách thức này bắt buộc các đơn vị truyền thông truyền thống phải tư duy lại cách làm để có những bước chuyển phù hợp. Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, các báo điện tử cũng phải chuyển mình mạnh mẽ, tận dụng sự phát triển của công nghệ, sản xuất và phân phối nhiều sản phẩm mới hấp dẫn, cuốn hút công chúng trên xu hướng đa phương tiện, đa nền tảng. Video trên các trang báo điện tử trở thành những sản phẩm cuốn hút, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng. Đây là sản phẩm mà giữa người cung cấp và người tiêu thụ có sự gắn kết chặt chẽ. Điện thoại thông minh và máy tính bảng có màn hình độ nét cao đã cho phép người tiêu dùng xem video ở mọi lúc, mọi nơi, trong khi đó, với thiết bị camera tích hợp, các ứng dụng và phần mềm chỉnh sửa đơn giản trong các thiết bị di động thông minh đã giảm bớt rào cản đối với người sáng tạo nội dung. Đồng thời, phí băng thông, đường truyền, chi phí các gói dữ liệu di động ngày càng trở nên rẻ hơn ở nhiều quốc gia, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng đối với việc sản xuất và tiêu dùng video.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sự phát triển của video trực tuyến dường như chủ yếu được thúc đẩy bởi công nghệ, nền tảng mạng internet và nhà phân phối hơn là bởi nhu cầu mạnh mẽ của người tiêu dùng. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, với những video có sức hấp dẫn thì vẫn thu hút số lượng công chúng xem khổng lồ.

Từ lâu, một số tổ chức tin tức đã tạo dựng được danh tiếng từ việc sản xuất và cung cấp các video trực tuyến. Năm 2006, Giải thưởng Emmy dành cho Tin tức & Tài liệu đầu tiên thuộc về một tổ chức tin tức phi truyền hình – Washington Post – vì đưa tin video về cơn bão Katrina. Vào năm 2007, CNN và YouTube đã hợp tác để tài trợ cho các cuộc tranh luận sơ bộ của tổng thống và cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, trở thành cuộc bầu cử đầu tiên mà công chúng có thể xem trực tiếp các cuộc tranh luận về ứng cử viên và kết quả bỏ phiếu trên các trang web như MSNBC.com, Foxnews.com và CNN.com. [7].  

Trong các cuộc tấn công ở Paris, hoạt động thu thập tin tức của BBC phục vụ tin tức trực tuyến được đánh giá cao. Về lượng khán giả của BBC, ngày xảy ra các vụ tấn công cũng là ngày có lượng truy cập trực tuyến cao nhất. BBC đã xuất bản 175 đoạn video về các cuộc tấn công ở Paris trên trang web của mình, bắt đầu từ ngày 13 tháng 11 năm 2015. Từ đó, tỷ lệ người dùng truy cập video của BBC trên mỗi lượt truy cập tăng gấp đôi so với khoảng 10% so với mức bình thường, có ngày lên 22% ngay khi cuộc tấn công vừa xảy ra [12]. 

Theo số liệu mới nhất, trung bình mỗi ngày người Việt dành 2h47 phút để xem nội dung video

Ở Việt Nam hiện nay, việc truy cập mạng Internet trở thành thói quen không thể thiếu của đông đảo công chúng. Tính tới cuối tháng 7 năm 2021, số lượng người dùng Internet ở Việt Nam lên tới gần 70 triệu người, chiếm 70.3% dân số. Theo dự báo đến năm 2025, số người sử dụng Internet ở Việt Nam là khoảng trên 80 triệu người[6]. Đây là một cơ hội lớn để các báo điện tử Việt Nam mở rộng các sản phẩm đa phương tiện, thu hút thị trường mới khi công chúng ngày càng dành ít thời gian để ngồi trước ti vi hay đọc báo giấy. Tận dụng sự phát triển của công nghệ, các báo điện tử đã cho ra đời những sản phẩm video với những chi phí sản xuất khá khiêm tốn nhưng có thể tạo được hiệu ứng xã hội rất tốt, tạo được hệ sinh thái thông tin vô cùng phong phú.

Thực trạng Video trên báo điện tử

Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi đã lựa chọn 3 tờ báo điện tử ở Việt Nam để khảo sát, gồm VnExpress, Tuổi trẻ online và Zingnews.vn. Đồng thời, tiến hành khảo sát 1.000 công chúng về hành vi tiêu thụ sản phẩm video cũng như đánh giá của họ về 3 tờ báo trên và những mong muốn của họ đối với báo điện tử ở Việt Nam.

Tuổi trẻ online là một trong những tờ báo điện tử sớm có định hướng đầu tư phát triển tác phẩm truyền hình. Tuổi trẻ Video Online (TVO) là chương trình truyền hình Tuổi trẻ chính thức ra đời từ ngày 3/8/2008, sản xuất những chương trình phát sóng trên TVO. Tính đến cuối năm 2008, TVO đã thử nghiệm sản xuất trên 120 chương trình truyền hình/ năm. Những năm sau đó, các sản phẩm của TVO không ngừng tăng lên về số lượng, nhiều sản phẩm bước đầu được các đơn vị truyền thông khác mua lại (VTV, HTV, VCTV, O2TV, Today TV…). Năm 2011 là thời điểm đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Truyền hình Tuổi trẻ, không chỉ phát các chương trình dưới định dạng các clip mà còn ra mắt trang truyền hình điện tử (TV online) tại địa chỉ tv.tuoitre.vn [5]. Trang TVO điện tử có bình quân gần 1 triệu lượt truy cập/ngày, số người truy cập trải rộng trên hơn 122 quốc gia. Trong 1 năm, TVO sản xuất được khoảng  gần 1.000 video, ngoài mảng tin tức, thời sự, TVO khai thác thêm các mảng nội dung khác, có những chuyên mục có sức thu hút cao, tạo được ấn tượng tốt với người xem.

Phó Giám đốc Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số Đài truyền hình Việt Nam Phạm Anh Chiến tham luận “VTV digital trên đa nền tảng” tại Hội thảo Phát triển nội dung video trên nền tảng số tổ chức ở Hà Nội tháng 6/2022 (Ảnh: Hoàng Hiếu – TTXVN)

VnExpress giữ vị trí số 1 trong 50 tờ báo điện tử nhiều người xem nhất Việt Nam (theo đánh giá của Alexa, tháng 10 năm 2021). Năm 2021, báo thu hút hơn 40 triệu độc giả thường xuyên, hơn 10 tỷ lượt xem và 5 triệu ý kiến bình luận của bạn đọc. Mỗi độc giả dành trung bình 5 phút 44 giây cho một lần truy cập. Độ tuổi người đọc trải rộng từ 18 đến trên 60. Tỷ lệ truy cập bằng thiết bị di động tăng trưởng ở hầu hết các lứa tuổi [14].

Zingnews.vn có cơ quan chủ quản là Hội Xuất bản Việt Nam, cung cấp tin tức cho độc giả với nhiều chuyên mục phong phú về Đời sống, Xã hội, Kinh tế, Thế giới, Thể thao, Giải trí, Công nghệ và nhiều lĩnh vực khác. Trong thời gian qua, Zingnews.vn đã tiến hành sản xuất nhiều hạng mục như Video, Phóng sự ảnh, Long Form, Infographic hay Tra cứu tương tác và nhận được các phản ứng tích cực từ người sử dụng. Thống kê từ Comsocre cho thấy, Zingnews.vn luôn đứng trong top 3 báo điện tử tại Việt Nam được truy cập nhiều hơn cả. Độc giả của Zingnews.vn đa dạng nhiều lứa tuổi nhưng phần lớn là ở độ tuổi 18-24 tuổi. Tỉ lệ truy cập của trang báo đạt tới 106 triệu impressions và 44 ngàn lượt clicks hàng tháng [20].

Hiện nay, video trên 3 báo trên được tồn tại dưới hai dạng thức, là tác phẩm độc lập trong các chuyên mục video hoặc là một bộ phận trong tác phẩm đa phương tiện, có vai trò bổ trợ, góp phần làm cho tác phẩm đa dạng, hấp dẫn, thông tin đầy đủ, chân thực hơn. Theo kết quả khảo sát, đầu năm 2022, trung bình mỗi ngày VnExpress đăng tải (gồm cả sản xuất và khai thác) khoảng gần 100 video, Tuổi trẻ online đăng tải khoảng 40 video, Zingnews.vn đăng tải khoảng 70 video. Hầu hết video này được sản xuất trực tiếp, hoặc khai thác từ các cộng tác viên, hoặc từ truyền hình.

Video trên báo điện tử dường như đã phần nào phát huy được thế mạnh của cả loại hình báo chí truyền hình (hình ảnh sinh động, chân thực giúp người xem như được tận mắt chứng kiến sự việc) và của báo mạng (thông tin chuyển tải nhanh, ngắn gọn, đa dạng các ngôn ngữ thể hiện). Cơ bản các video được sản xuất theo hướng đa phương tiện ngôn ngữ thể hiện, vừa có hình ảnh chân thực, vừa có text (phụ đề), lại có âm thanh (tiếng động hiện trường, tiếng nhân vật trả lời và lời bình).

Một phóng sự phát trên kênh YouTube của báo Thanh Niên thu hút tới hơn 8 triệu lượt xem

Đối với công chúng, theo kết quả khảo sát của chúng tôi, khi được hỏi về tần suất xem video trên báo điện tử, trong 1.000 phiếu trả lời thì có 45,1% công chúng thường xuyên xem, 37,7% thỉnh thoảng xem, 16,2% hiếm khi xem. Đặc biệt, công chúng tìm kiếm xem video nhiều hơn khi có những sự kiện nổi trội, thu hút sự chú ý của dư luận. Một trong những nội dung nổi bật mà công chúng quan tâm đối với video trên báo mạng điện tử, đó chính là chủ đề về xã hội (74.8%), về giải trí (68.9%), về văn hoá (66,1%), chính trị (65%), thể thao (64,5%), kinh tế (64%).

Về thời gian trong 1 ngày dành để xem các video, có 20% công chúng đã xem từ 6-10 phút, 28,3% xem từ 11-20 phút, 28,5% xem từ 21 đến 30 phút, 23,2% xem từ 31 phút trở lên. Số liệu trên cho thấy công chúng đã dần quen với việc tiếp nhận thông tin từ các sản phẩm video trên báo mạng điện tử. Đáng chú ý là có tới 68,4% công chúng chọn phương án xem video bằng điện thoại di động, 22% công chúng xem từ máy tính xách tay và 9,6% công chúng xem từ máy tính cố định. Rõ ràng là sự tiếp nhận video của công chúng đã trở nên rất gần gũi, quen thuộc và tiện lợi. Khi được hỏi, anh/chị thường thích xem video có độ dài như thế nào thì 49,1% lựa chọn video có độ dài dưới 1 phút, 38% lựa chọn thích xem video có độ dài 1 phút, chỉ có 8,45% thích xem video có thời lượng 5 phút và 4,5% thích xem video có thời lượng trên 5 phút. Điều này khá phù hợp với nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng trong cuộc sống hiện đại, khi con người bận rộn với công việc mưu sinh thì họ luôn mong muốn trong khoảng thời gian ít nhất, nhưng được tiếp nhận nhiều thông tin nhất.

Theo đánh giá cụ thể của công chúng về mức độ hài lòng đối với video trên từng tờ báo điện tử trong diện khảo sát thì video trên VnExpress được đánh giá là mang lại cho người xem sự hài lòng nhất (58%), Zingnews.vn (57,5%), Tuổi trẻ online (50,1%). Tuy nhiên, theo phản hồi của công chúng, khả năng thu hút, lôi cuốn người xem của các video trên báo mạng điện tử hiện nay vẫn chưa cao. Có đến 72% số người được hỏi cho rằng, khả năng này vẫn ở mức bình thường; 15.6% số người cho biết các sản phẩm video ít thu hút và lôi cuốn. Lý do khiến công chúng chưa hài lòng video trên các báo điện tử là, do video quá dài 80%, quảng cáo xen ngang 89%, nội dung thông tin mờ nhạt, không có gì đặc sắc 56%, hình ảnh không logic, không rõ nét 58%, âm thanh không rõ 49%, phụ đề không cuốn hút 61%, tốc độ tải video chậm 31%, khả năng tương tác kém 36%.

Những yếu tố khiến khán giả chưa hài lòng với các video trên báo mạng điện tử.

Về thời lượng của các video, qua khảo sát cho thấy, đa phần video được sản xuất cho báo điện tử có thời lượng từ 2 đến 5 phút. Video với thời lượng ngắn dưới 2 phút ít xuất hiện và chiếm số lượng không nhiều (khoảng 15%). Trong khi đó, theo phản hồi của công chúng, một trong những yếu tố khiến họ cảm thấy không hài lòng về thời lượng của tác phẩm video trên báo mạng điện tử đó là video quá dài (chiếm tới 80%) và họ rất thích được xem những video có thời lượng dưới 1 phút.

Một trong những thế mạnh của video trên báo điện tử là khả năng lan toả nhanh những hình ảnh sinh động, chân thực về sự việc, tác động sâu sắc đến cảm xúc của người xem. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy, có đến 45% công chúng cho rằng hình ảnh trong video chưa đủ sự hấp dẫn đối với họ với lý do đưa ra là hình ảnh không độc đáo, không tạo được ấn tượng (36%), hình ảnh không thể hiện rõ nội dung (34%), hình ảnh không phù hợp với lời bình hoặc phụ đề (35,1%), tiết tấu hình ảnh quá nhanh (18%). Đáng chú ý, 79,8% công chúng mong muốn hình ảnh trong video cần phong phú, đa dạng, thể hiện rõ nội dung trọng tâm của tác phẩm, 76,2% mong muốn được xem những hình ảnh khách quan, chân thực, 68,9% muốn có nhiều chi tiết hình ảnh độc đáo, 66,6% mong muốn được xem hình ảnh logic, dễ hiểu, rõ ràng, 65% mong muốn xem hình ảnh có tiết tấu phù hợp, không quá nhanh, quá chậm.

Bên cạnh hình ảnh thì âm thanh trong video được coi là một trong những yếu tố quan trọng, có vai trò bổ trợ để chuyển tải nội dung thông tin. Cảm nhận về âm thanh trong video, có 45% công chúng cho rằng, âm thanh chưa phù hợp với chủ đề của video, 46,3% cho rằng âm thanh chưa cung cấp được nhiều thông tin cho tác phẩm; lời bình không sắc sảo (30%) và câu trả lời phỏng vấn của nhân vật còn bị trùng lặp với lời bình (15%). Mong muốn của họ đối với âm thanh trong video trên báo điện tử là, âm thanh cần rõ ràng, cung cấp được nhiều thông tin (78,5%), âm thanh phù hợp với nội dung hình ảnh (60,1%), lời bình ngắn gọn, sắc sảo (66,3%), tiếng động hiện trường chân thực, lôi cuốn (58%), câu trả lời phỏng vấn ấn tượng (61,9%), âm nhạc phù hợp nội dung phản ánh (45,4%).

Kết quả này thêm một cơ sở đánh giá về nhu cầu của công chúng không chỉ đòi hỏi nội dung video sinh động, hấp dẫn, mà hình thức thể hiện, hình ảnh, âm thanh cũng phải cuốn hút, độc đáo, đa dạng. Lý do sâu xa còn nhiều công chúng chưa thích xem hoặc chưa dành nhiều thời gian xem video trên báo điện tử không phải là những rào cản về công nghệ (tốc độ đường truyền, kích thước màn hình, chi phí tốn kém mua thiết bị di động hay trả phí mạng internet), mà nguyên nhân gốc rễ nằm ở chính chất lượng nội dung các video. Thực tế chứng minh, những video nào chứa đựng những thông tin nóng, cần thiết, độc đáo, được thể hiện hấp dẫn thì vẫn có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với công chúng. Điển hình như video “Chui vào túi ni lông để qua suối” được đăng trên báo tuổi trẻ online ngày 17/03/2014, đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo công chúng trong nước và ngoài nước.

Ý tưởng của tác phẩm này được xuất phát từ những hình ảnh do cô giáo Tòng Thị Minh cung cấp. Câu chuyện trong video nói về việc vào mùa lũ, các thầy cô giáo, học sinh ở bản Sam Lang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên phải chui vào túi nilông và nhờ người biết bơi kéo qua suối, bất chấp con suối mùa lũ đang băng băng chảy xiết. Những hình ảnh trong video này đã tác động rất mạnh đến cảm xúc của đông đảo công chúng và thu hút lượt view, lượt share khổng lồ của các độc giả trong và ngoài nước. Video này có tác động mạnh mẽ, đã dấy lên phong trào quyên góp ủng hộ việc xây cầu cho các địa phương có đời sống khó khăn. Cây cầu treo Sam Lang cũng được thực hiện ngay sau đó. Tác phẩm này của báo tuổi trẻ được nhận giải A, giải báo chí quốc gia năm 2015.

Tuổi trẻ online vào tháng 6/2019 có một loạt video điều tra về nhập hàng Trung Quốc về ghi xuất xứ Việt Nam để lừa người tiêu dùng, làm rõ được chiêu trò lừa đảo này bằng những hình ảnh xác thực, phong phú, sinh động, những đoạn phỏng vấn chất lượng, thể hiện thông tin nhiều chiều. Video này ngay lập tức thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng, gây ra tiếng vang lớn trong xã hội, khiến dư luận vô cùng phẫn nộ và buộc các cơ quan chức năng phải vào cuộc điều tra. Riêng video điều tra tập 4: “Asanzo có dấu hiệu gian dối, đánh lừa người tiêu dùng”  khi phát trên youtube đã nhận được 285.753 lượt xem, 2.4 nghìn lượt like, 374 comment. Với những thông tin đa dạng, nhiều chiều, hình ảnh chât thực, sinh động, video dạng này đã thực sự là sản phẩm hấp dẫn, đáp ứng sự mong chờ của đông đảo công chúng.

Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các báo điện tử ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều video chất lượng để thu hút được sự trung thành của công chúng với báo. Đa phần các báo chưa xây dựng được các chuyên mục video có thương hiệu, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong thực đơn tiếp nhận thông tin hằng ngày, hằng giờ của đông đảo công chúng. Hạn chế của đa phần các video trên báo điện tử cơ bản thể hiện ở những điểm chính sau:

Thứ nhất, đề tài, chủ đề của các video chưa phong phú, sinh động. Việc lựa chọn đề tài chưa được chọn lọc, thiếu những phát hiện mới, góc nhìn mới về các sự việc hiện tượng trong cuộc sống. Thiếu những đề tài phát huy được thế mạnh của hình ảnh, âm thanh trong việc thể hiện nội d

Thứ hai, cách thể hiện của các video chưa hấp dẫn. Phần lớn các video được thể hiện theo tư duy của người làm truyền hình truyền thống, chưa lựa chọn được cách thức thể hiện phù hợp với đầu ra của sản phẩm. Cách sử dụng ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh, text (văn bản), đồ hoạ chưa chu

Thứ ba, thời lượng các video quá dài, rất ít báo điện tử sản xuất các video theo mong muốn của công chúng (từ 2 phút trở xuống), dẫn đến cảm giác nhàm chán. Cách kể chuyển của các video còn dài dòng, tiết tấu hình ảnh hoặc quá nhanh, hoặc quá chậm, gây cảm giác ức chế cho người x

Thứ tư, thiếu các chuyên mục video, mảng nội dung được tổ chức sản xuất bền vững, tần suất đăng tải phụ thuộc vào nguồn video sản xuất hay khai thác được, nên chưa tạo được thói quen, sự trung thành của công chúng.

Tiêu chí sản xuất video trên báo điện tử ở Việt Nam

Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, việc sản xuất các video cho báo điện tử ở Việt Nam cần đáp ứng các tiêu chí sau:

– Đáp ứng tốt nhu cầu của công chúng, thu hút lượt view, share cao

Cốt lõi của vấn đề chính là việc phải thay đổi cách thức sản xuất các nội dung video hướng tới công chúng, từ việc nghiên cứu khảo sát kỹ lưỡng nhu cầu, sở thích, hành vi và thói quen mới của công chúng trên các nền tảng. Một video muốn đáp ứng được nhu cầu của người xem thì các báo cần có chiến lược nghiên cứu công chúng, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu đối thủ một cách nghiêm túc, hiệu quả. Mỗi báo mạng điện tử có những nhóm công chúng mục tiêu khác nhau với những nhu cầu, mong muốn, đặc điểm tâm lí khác nhau. Chính vì vậy, phải hiểu rõ nhu cầu, mong muốn, tâm lí, thị hiếu, văn hóa, cá tính của đối tượng công chúng mục tiêu, các báo mới có được những chiến lược phù hợp về nội dung và hình thức thể hiện sản phẩm video. Việc tạo ra được những giá trị khác biệt cho các video sẽ là điểm cốt yếu để các báo tạo ra sức cạnh tranh thu hút công chúng. Lượt view, share là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng và hiệu quả của tác phẩm video. Trách nhiệm phóng viên trong việc tạo video trực tuyến không chỉ là thu hút công chúng xem, mà phải làm cho họ truy cập và chia sẻ để lan tỏa video trên nhiều nền tảng mạng Internet.

– Thực hiện đúng tôn chỉ mục đích của báo

Một thách thức rất lớn cho các báo điện tử ở Việt Nam là phải có được những sản phẩm cạnh tranh để vừa thu hút công chúng, vừa đảm bảo đúng tôn chỉ mục đích của toà soạn, thực hiện nhiệm vụ chính trị, định hướng tư tưởng, giáo dục. Lý thuyết “ Sử dụng và hài lòng” của Elihu Katz cho thấy rằng, công chúng chỉ lựa chọn những kênh truyền thông thích ứng, thỏa mãn nhu cầu của họ[8]. Rõ ràng, việc làm hài lòng công chúng là yêu cầu bắt buộc đối với các kênh truyền thông trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, đáp ứng nhu cầu của công chúng không có nghĩa là chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Với vai trò là cơ quan báo chí, mọi chiến lược sản xuất phải phù hợp với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, bám sát tôn chỉ mục đích hoạt động của kênh, đặc biệt, phải giữ vững giá trị cốt lõi của báo mình.

– Tiết kiệm chi phí sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Chi phí để sản xuất 1 video thường lớn hơn nhiều so với chi phí để cho ra đời một tác phẩm báo chí bằng văn bản, điều này cũng tạo áp lực cho các toà soạn. Để có thể có được lượng video dồi dào phục vụ phát định kì trên báo phục vụ công chúng, thì một trong những tiêu chí mà các toà soạn đưa ra để đánh giá hiệu quả sản xuất video là tác phẩm đó được sản xuất bởi nguồn chi phí tiết kiệm nhất, nhưng mang lại hiệu quả nguồn thu cao nhất. Nếu như ekip sản xuất tác phẩm truyền hình thường có từ 3-4 người (biên tập, quay phim, kĩ thuật, lái xe) thì ekip sản xuất video trên báo điện tử nên gọn nhẹ, chỉ cần 2, thậm chí 1 người (biên tập kiêm quay và dựng).

Phó trưởng khoa Phát thanh – Truyền hình (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Đinh Ngọc Sơn tham luận “Phát triển video trên nền tảng số từ góc nhìn đào tạo” tại hội thảo “Phát triển nội dung trên nền tảng số” do TTXVN tổ chức (Ảnh: Hoàng Hiếu – TTXVN)

Ghi hình và dựng hình cũng có thể sử dụng các thiết bị đơn giản, tiện lợi. Có khi chỉ với chiếc điện thoại di động thông minh đã có thể sản xuất hoàn thiện được tác phẩm video rất hấp dẫn, đầy sáng tạo. Mô hình quản lý sản xuất cũng cần tinh gọn, linh hoạt, vừa đảm bảo số lượng và chất lượng các video sản xuất trong ngày, vừa tiết kiệm tối đa mọi chi phí  quản lý, sản xuất, đồng thời có thể làm gia tăng giá trị cho mỗi sản phẩm video.

Giải pháp nâng cao chất lượng video trên báo điện tử

(1) Đẩy mạnh chuyển đổi số về công nghệ sản xuất và phân phối nội dung

Để có thể tăng sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng các video, giữ vững và mở rộng tập công chúng trên các nền tảng internet thì các báo điện tử cần thiết phải đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số. Đây là cuộc chuyển đổi toàn diện bao gồm chuyển đổi số về công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng chương trình, rút ngắn thời gian, nhân lực và chi phí sản xuất; chuyển đổi số trong phân phối nội dung đa nền tảng internet; chuyển đổi số trong quản lý điều hành tác nghiệp; chuyển đổi số trong sáng tọ nội dung để nâng cao hiệu quả truyền thông, nâng cao trải nghiệm của công chúng;…

Cần tối ưu hoá quy trình sản xuất phân phối trên nền tảng số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hoá nhiều khâu trong quy trình. Sử dụng hệ thống khuyến nghị (Recommender System) sử dụng công nghệ Al để thực hiện phân tích và hiểu khối dữ liệu người dùng, từ đó đưa ra những dự đoán, gợi ý đề xuất phù hợp với sở thích của công chúng tại thời điểm bất kỳ. Việc thấu hiểu công chúng qua hệ thống khuyến nghị này sẽ giúp các báo nắm bắt chính xác đặc điểm, nhu cầu của công chúng một cách tức thì, từ đó điều chỉnh nội dung sản xuất kịp thời.

Ứng dụng công nghệ Al có thể giúp các báo, phóng viên giải quyết hiệu quả việc lựa chọn đề tài, cách thức thể hiện video sát với nhu cầu, sở thích thực sự của công chúng. Khi các phóng viên xác định được sở thích, xu hướng của công chúng và gửi thông tin vào phần mềm tích hợp Al hoặc đến một hệ khuyến nghị, các phép toán sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng, ngay lập tức đưa ra phương án mà các phóng viên cần, phù hợp với nhu cầu của công chúng cũng như mục tiêu của cơ quan báo.

Thống kê về những nội dung video mà người Việt xem trên internet (Nguồn: We are social)

(2) Chuyển đổi số trong tư duy, hành động

Theo quan điểm của các chuyên gia, đứng từ khía cạnh những nhà sản xuất nội dung, chuyển đổi số không đơn thuần là cuộc chuyển đổi lớn về công nghệ, mà đó còn là những chuyển đổi về hành vi con người. Đây là bước chuyển lớn trong xã hội khi sự phát triển của công nghệ đã đáp ứng được các nhu cầu của con người theo cách thức mới. Việc chuyển đổi tư duy từ người lãnh đạo đến các phóng viên, kỹ thuật viên và các nhân sự khác trong cơ quan báo có ý nghĩa đặc biệt đối với việc nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí nói chung, video nói riêng. Nếu đưa công nghệ mới vào sản xuất nhưng từ khâu lãnh đạo, điều hành đến đội ngũ phóng viên, kỹ thuật vẫn theo tư duy cũ, cách làm cũ thì chưa thể phát huy hết sức mạnh của công nghệ. Cần phát triển mô hình nhà báo tích hợp đa kỹ năng, đồng thời làm chủ được nhiều việc từ phân tích nhu cầu của công chúng,  lên kế hoạch sản xuất, xây dựng kịch bản, quay, dựng, truyền tin về máy chủ toà soạn, đóng gói sản phẩm.

(3) Một số giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng tác phẩm video

Muốn có một video hấp dẫn, cần quan tâm đến các yếu tố cụ thể như sau:

Về đề tài, trên cơ sở những dữ liệu phân tích công chúng và chức năng nhiệm vụ của cơ quan báo chí, phóng viên lựa chọn đề tài mang tính thời sự, những sự kiện, vấn đề mới nhất diễn ra trong cuộc sống mà công chúng cần, muốn quan tâm. Nếu không biết chọn những góc độ mới, cách thức tiếp cận thông tin sao cho hấp dẫn nhất thì rất khó lôi cuốn công chúng chạm biểu tượng play trên màn hình điện thoại. Hiện thực đời sống là chất liệu quan trọng nhất để người làm video phát hiện những đề tài hay. Trên chất liệu vô cùng phong phú ấy, mỗi người làm báo sẽ lựa chọn những góc độ phản ánh riêng, tạo ra sự khác biệt trong bức tranh thông tin đa sắc màu. Tất nhiên, không phải đề tài nào cũng lựa chọn để làm video. Nếu không lựa chọn được những đề tài phù hợp thì rất khó có được những video hấp dẫn, cuốn hút được người xem.

Về kịch bản, một video có chất lượng bao giờ cũng được làm từ kịch bản kĩ lưỡng. Nội dung của kịch bản là kết quả của quá trình thực tế, khai thác thông tin, tìm hiểu kỹ đề tài. Tuy nhiên, kịch bản cũng chỉ là những dự kiến về các việc mà phóng viên sẽ phải làm. Trên cơ sở kịch bản, sự sáng tạo linh hoạt của phóng viên khi tiếp cận hiện trường là vô cùng cần thiết. Thậm chí, với người làm nghề có kinh nghiệm, những biến động của hiện trường thực tế sẽ gợi mở cho họ những ý tưởng mới, ngã rẽ mới hoàn toàn khác và hiệu quả hơn.

Về ghi hình, trước tiên, cần đảm bảo ghi được những hình ảnh theo yêu cầu của kịch bản. Ngoài ra, căn cứ vào thực tiễn, phóng viên sẽ chủ động sáng tạo, chớp lấy những hình ảnh giá trị, cần thiết cho nội dung tác phẩm. Do thời lượng video rất ngắn nên cần có những chi tiết hình ảnh đắt, có giá trị biểu tượng và giá trị thông tin cao. Đó có thể là những hình ảnh ghi lại những diễn biến bất ngờ của sự kiện, sự việc, hoặc thể hiện tâm trạng, cảm xúc chân thực của nhân vật.

Phóng viên cũng cần chú ý các góc máy sao cho sinh động, phù hợp, khai thác được cả những cỡ cảnh trung, cận, đặc tả, tạo cái nhìn đa dạng, nhiều chiều về sự việc. Nên hạn chế tối đa việc sử dụng động tác máy và cảnh toàn. Hình ảnh còn phải đảm bảo yếu tố kỹ thuật, rõ nét, không bị rung, bị nhòe, ngược sáng. Yếu tố nghệ thuật, thẩm mỹ cần được tính kỹ đối với một số video giải trí, video nghệ thuật để thể hiện ý đồ của tác giả. Cần chú ý đến việc khai thác âm thanh (lời nói, tiếng động hiện trường). Lời nói cần đảm bảo nghe rõ ràng, đạt tiêu chuẩn về tần số, tránh tạp âm.

Về dựng hình, tác phẩm hấp dẫn hay không còn phụ thuộc nhiều vào khâu xử lý hậu kỳ. Trước khi dựng hình cần xem file, ghi lại chi tiết nội dung từng hình ảnh có thể sử dụng được. Sau đó, làm kịch bản dựng, trên cơ sở những hình ảnh có được, tác giả tiến hành sắp xếp các nội dung trên giấy theo một đường dây lôgic nhất định để làm rõ chủ đề. Cần tuân thủ ngữ pháp câu hình, các hình ảnh được sắp xếp đảm bảo tính lô gic, vừa phù hợp với thực tế cuộc sống, vừa đúng với ý tưởng, mục đích của tác giả. Công chúng thường thích xem các video có thời lượng dưới 1 phút hoặc từ 1-2 phút nên cần hướng tới những dạng video này.

Cách kể chuyện của video nên là cách dẫn trực tiếp vào câu chuyện và đưa ra những chi tiết hình ảnh đắt nhất để chạm vào cảm xúc của công chúng. Việc cân đối giữa hình và tiếng trong khi dựng rất cần được chú ý. Nếu hình ảnh và âm thanh (lời bình, tiếng động, âm nhạc) kênh nhau, không phù hợp về tiết tấu, nội dung, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của tác phẩm. Đồ hoạ hay text trong video cũng cần thiết kế độc đáo, ngắn gọn, bắt mắt. 

Về lời bình và phụ đề, lời bình không nên nhắc lại những gì công chúng thấy được trên màn hình mà cung cấp, bổ sung thêm những thông tin ngoài hình. Ngôn ngữ cần ngắn gọn, súc tích, gợi sự liên tưởng, nói được những chi tiết mà hình ảnh không thể diễn đạt được. Tuy nhiên, nên tránh việc nhồi nhét lời bình, tước đi của công chúng cơ hội cảm nhận thông tin qua các kênh ngôn ngữ khác như hình ảnh, tiếng động hiện trường, âm nhạc, text, …. Hãy để người xem có khoảng thời gian tự cảm nhận về sự kiện, sự việc bằng những âm thanh có thực tại hiện trường hoặc có kèm chữ phụ đề. Với các video có phụ đề, công chúng có thể xem ở  bất cứ nơi đâu, ngay cả ở nơi ồn nhất vẫn có thể tiếp nhận trọn vẹn nôi dung tác phẩm.

Kết luận

Sản xuất và đăng tải video chính là biện pháp cứu cánh, tận dụng thế mạnh của các loại hình truyền thông để gia tăng giá trị cho báo điện tử trong bối cảnh truyền thông mới. Để video trên báo điện tử trở thành món ăn tinh thần thường xuyên của công chúng thì các báo cần đẩy mạnh việc chuyển đổi số một cách toàn diện, tận dụng tối đa sức mạnh của công nghệ đổi mới cách thức sản xuất theo hướng bám sát nhu cầu, tâm lý, văn hoá, đặc điểm tiếp nhận của công chúng. Chỉ những video có nội dung sâu sắc, thiết thực, hình thức thể hiện độc đáo, hấp dẫn mới là những sản phẩm được công chúng mong chờ, tiếp nhận.

TS Nguyễn Minh Hải
TS Nguyễn Minh Hải

Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình Việt Nam

Бенче полон решимости успешно реализовать движение «Новое всеобщее восстание»

Вид на город Бенче сегодня

Движение Донгхой (всеобщее восстание) Бенче в 1960 г. в провинции Бенче явилось вехой в истории национально-освободительной борьбы в годы войны сопротивления против США для спасения страны на юге под руководством Партии и Президента Хо Ши Мина.

После победы движения Донгхой в Бенче – огонь Донгхоя быстро распространился по всему югу. Победа Донгхоя вывела южную революцию с позиции сохранения сил на атакующую позицию для постоянной атаки врага и победы.

Памятник “Донгкхой”

Вместе с движением Донгхой, Бенче и весь юг вступили в решающую битву – общее наступление и всеобщее восстание весной 1975 года, их кульминацией стала историческая кампания Хо Ши Мина, полностью освободившая юг и объединившая страну, а затем вся страна перешла к построению социализма.

Гордясь малой Родиной Донгхой, со дня воссоединения страны партийная организация и народ провинции Бенче проактивно продвигали дух Донгхоя в прошлом, чтобы сделать свою малую Родину все более богатой и красивой.

В течение 62 года дух и ценности движения Донгхой активно сохранялись и решительно продвигались в деле строительства малой Родины партийной организацией и народом Бенче. Донгхой – это культурное творение, кующее внутреннюю силу, создающее большую духовную движущую силу для партийной организации и людей Бенче для преодоления трудностей, вызовов, самопомощи для самосовершенствования, уверенности в себе, динамичного, творческого стремления к строительству малой Родины и выхода Бенче из бедности, отсталости в на направлении достаточности. Материальная и духовная жизнь населения местности постоянно улучшается и совершенствуется во всех отношениях; экономические и социальные условия постоянно развиваются.

В 2021 году, первом году реализации Резолюции партийной конференции всех уровней на срок полномочий 2020-2025 гг., Резолюции XIII всевьетнамского съезда КПВ в сложных условиях в связи с последствиями эпидемии COVID-19 Бенче строго реализовал девиз 11-й провинциальной партийной конференции и на тему 2021 года «Консенсус – Творчество» и запустил движение соревнования «Новое всеобщее восстание» периода 2020–2025 гг., с видением до 2030 года.

Прошло 62 года, дух и ценности движения “Донгкхой” все развивают парторганизация и жители Бенче в деле строительства родной земли.

Г-н Чан Нгок Там, председатель Народного комитета провинции Бенче, сказал, что в ближайшие годы производство и переработка кокосов, переработка рыбной продукции, вспомогательные отрасли и возобновляемые источники энергии будут определены как ключевые промышленные отрасли провинции.

На 2022 год Народный комитет провинции Бенче постановил основные цели: ожидается рост валового регионального внутреннего продукта (ВРВП) на 8-8,5% и более; общий экспортный оборот составит 1,5 млрд. долл. США; ВРВП на душу населения – более 2.000 долл. США; уровень урбанизации составит около 23%; доля домохозяйств, использующих чистую воду, достигнет 66%.

В 2022 году, Народный комитет провинции Бенче поставил цель об экономическом росте на уровне 8 – 8,5%.

Провинция Бенче стремится вырабатывать 2.000 МВт из возобновляемых источников; реализовать проект электростанции на сжиженном газе в уездах Тханьфу и Бачи; инфраструктура передающей сети будет обеспечивать своевременный выпуск проектов возобновляемой энергетики в этом районе.

По словам г-на Чан Нгок Тама, главной прорывной задачей на ближайшее время является повышение инвестиционной привлекательности, развитие инфраструктуры, основное внимание уделяется созданию инфраструктуры планируемых индустриальных парков и промышленных кластеров.

Бенче продолжит активно и проактивно интегрироваться в мир во всех сферах, создавая основу для социально-экономического развития; ответственно выполняя обязательства перед зарубежными партнерами во всех сферах; активно ищет, исследует и максимизирует возможности и ресурсы для развития./.

Ben Tre determined to implement “New Dong Khoi” movement 

A corner of Ben Tre urban centre. (Photo:VNA)

The Dong Khoi (General Uprising) movement in Ben Tre in 1960 was a milestone in the South’s resistance war against the United States. The movement led directly to national reunification under the leadership of the Party and President Ho Chi Minh.

From Ben Tre, the movement spread across the south. It changed the tone of the revolution from reserving forces to relentlessly attacking the enemy thus gaining many victories.

Dong Khoi Monument (Photo: VNA)

With the lessons learnt from and the momentum of the General Uprising, Ben Tre and the southern region entered the decisive battle of the General Offensive and Uprising in the Spring of 1975 with its peak being the historic Ho Chi Minh Campaign, which led to the liberation of the south and national reunification.

Since then, the Party organisation and people of Ben Tre have maintained the spirit of the General Uprising to build a prosperous and beautiful homeland.

Over the past 62 years, the spirit and values of the General Uprising have been preserved and elevated by the provincial Party Committee and people in the locality. The movement has perpetuated an internal strength, a spiritual motivation to overcome difficulty to turn Ben Tre into a modern and prosperous region in the Mekong Delta. The material and spiritual life of local residents has improved, while the province’s economy and society have risen in parallel.

The year 2021 was the first the province carried out the resolution of the province’s Party congress for the 2020-2025 term and the resolution of the 13th National Party Congress. Despite facing many difficulties due to the COVID-19 pandemic, Ben Tre moved forward with the 11th provincial Party Congress under the moniker “Consensus – Creation” and launched the “New Dong Khoi” emulation movement for 2020-2025 period with a vision to 2030.

Over the past 62 years, the spirit and values of the General Uprising have been preserved and elevated by the provincial Party Committee and people in the locality. (Photo: VNA)

Tran Ngoc Tam, Chairman of the People’s Committee of Ben Tre province, said that in the coming years, coconut production and processing, seafood processing, supportive industries and renewable energy have been identified as key industries, based on the local advantages.

The provincial authority sets some key targets for this year including expanding its Gross Regional Domestic Products (GRDP) growth rate by 8-8.5 percent; earning total export turnover of 1.5 billion USD and raising GRDP per capita to more than 2,000 USD. The ratio of urbanisation will be raised to about 23 percent while the percentage of households using clean water should reach about 66 percent.

The provincial authority has set a target of expanding its Gross Regional Domestic Products growth rate by 8-8.5 percent. (Photo:VNA)

The region is investing capital toward liquefied gas power projects in Thanh Phu and Ba Tri districts and is developing transmission grid infrastructure for renewable energy projects in the area.

Attracting more investment and developing infrastructure for industrial parks and economic industry clusters are key tasks in the future, according to Tam.

Ben Tre will continue with global integration to create a foundation for socio-economic development; responsible implementation of commitments with foreign partners; and making full use of opportunities and resources for development, he said.

A 65-kilometre coastline means the province has advantages for developing a sea-based economy.

Ben Tre is developing concentrated farming of key aquatic species in coastal districts in Ba Tri, Binh Dai and Thanh Phu. These districts now have 46,000ha of aquaculture farms, including 11,500ha devoted to intensive and semi-intensive shrimp farming.

Doan Van Danh, director of the provincial Department of Agriculture and Rural Development said aquaculture is to be developed into an effective and sustainable sector in tune with Ben Tre’s unique environment. He said that the province will proactively switch from traditional to hi-tech breeding methods, adopt good agricultural practices and origin traceability, and ensure bio-safety and environmental protection.

This year, the province aims to develop at least 500ha of hi-tech farms breeding brackish-water shrimp, taking the total to 2,500ha, he said.

The provincial People’s Committee has unveiled a plan to host 4,000ha of hi-tech shrimp farms by 2025, 2,500ha in Binh Dại, 1,500ha in Thanh Phu and 500ha in Ba Tri.

Leading companies have already entered the hi-tech shrimp farming game in the three coastal districts. The province is investing in infrastructure for hi-tech farming at those sites.

The province is soliciting investment in processing, especially of marine shrimp. It has 11 plants that process seafood for export, mostly tra fish and clam, with a total capacity of 72,000 tonnes a year.

Ben Tre has 47,550ha under aquaculture with an expected output this year of 320,000 tonnes, according to the department./.

Ben Tre est déterminée à mettre en œuvre avec succès son mouvement d’émulation “Dong Khoi moi”

La ville de Ben Tre vue d’en haut

Dong Khoi (Soulèvement général) fut un mouvement des membres du Viêt Minh dans le Sud Vietnam pour appeler le peuple à se lever contre les forces de l’armée américaine et de la République du Vietnam. Le mouvement à Ben Tre en 1960 fut un jalon dans l’histoire de la lutte pour la libération nationale sous la direction du Parti communiste du Vietnam et du Président de Hô Chi Minh.

La victoire du mouvement Dong Khoi à Ben Tre encouragea la lutte dans de nombreuses autres localités. Le mouvement se propagea ensuite fortement dans tout le Sud.

Monument de Dong Khoi

Avec le mouvement Dong Khoi, la province de Ben Tre et toute la région Sud entrèrent dans l’Offensive générale et le Soulèvement du Printemps de 1975, dont la Campagne Ho Chi Minh fut le point culminant. La victoire finale ouvrit une nouvelle ère pour mettre le Vietnam sur la voie du socialisme.

Avec fierté de l’histoire glorieuse de leur localité, l’organisation du Parti et le peuple de Ben Tre promeuvent toujours la détermination et l’enthousiasme pour rendre leur province de plus en plus prospère.

Au cours des 62 dernières années, l’organisation du Parti et le peuple de Ben Tre ont surmonté de nombreuses difficultés, atteint des objectifs socio-économiques majeurs, et amélioré la vie matérielle et culturelle dans la localité.

En 2021, première année de mise en œuvre de la Résolution du 13e Congrès national du Parti, malgré le COVID-19, Ben Tre a  réussi à lancer le mouvement d’émulation ” Dong Khoi moi” (Nouveau Dong Khoi) pour la période 2020-2025, avec une vision pour 2030.

Au cours des 62 dernières années, l’organisation du Parti et le peuple de Ben Tre ont surmonté de nombreuses difficultés, atteint des objectifs socio-économiques majeurs.

Selon Tran Ngoc Tam, président du Comité populaire provincial, la production et la transformation de noix de coco, la transformation de produits aquatiques, les industries auxiliaires et les énergies renouvelables sont identifiées désormais comme des secteurs clés.

En 2022, le Comité populaire de la province de Ben Tre vise une croissance économique d’au moins 8-8,5%, outre un chiffre d’affaires à l’exportation de 1,5 milliard de dollars, un PIB par habitant d’au moins 2.000 dollars en moyenne, un taux d’urbanisation de 23%, et un pourcentage de ménages ayant accès à l’eau potable de 66%.

En 2022, le Comité populaire de la province de Ben Tre vise une croissance économique d’au moins 8-8,5%.

La province s’efforce de produire 2.000 MW d’électricité à partir d’énergies renouvelables. En outre, elle cherche à améliorer les infrastructures au service du transport d’énergie électrique.

Les principales tâches de la province dans les temps à venir consistent à accroître l’attraction des investissements, à développer les infrastructures, notamment celles des parcs et grappes industriels, a déclaré Tran Ngoc Tam.

Ben Tre continuera à promouvoir l’intégration internationale sur tous les aspects, créant une base pour son développement socio-économique, à mettre en œuvre de manière responsable les engagements avec les partenaires étrangers, à chercher à tirer le meilleur parti des opportunités et ressources de développement./.

Provincia de Ben Tre determinada a realizar con éxito el movimiento “nuevo Dong Khoi”

Vista panorámica de la ciudad de Ben Tre

El movimiento Dong Khoi (revuelta general) en la provincia sureña de Ben Tre en 1960 se grabó como un hito en la historia de la lucha contra Estados Unidos por la liberación del Sur bajo la dirección del Partido y el Presidente Ho Chi Minh.

Después de la victoria en Ben Tre, el movimiento se extendió con fuerza por todo el Sur. Ese triunfo cambió la revolución en la región, de la táctica de preservación de fuerzas a la de ofensiva y ataque continuo al enemigo para ganar.

Monumento de Đong Khoi

Impulsados por ese movimiento, la provincia de Ben Tre y todo el Sur entraron en la batalla decisiva de la Ofensiva y el Levantamiento general en la primavera de 1975, que culminó en la histórica campaña de Ho Chi Minh liberando completamente el Sur y reunificando el país para llevar a Vietnam hacia la construcción del socialismo.

Orgullosos de esa tradición patriótica, desde la reunificación nacional, el Partido y el pueblo de Ben Tre han promovido fuertemente el espíritu de Dong Khoi para construir una localidad más rica y hermosa.

Durante los últimos 62 años, el espíritu y los valores del movimiento Dong Khoi siempre han sido preservados y promovidos por el Comité partidista y el pueblo de Ben Tre en la causa de la construcción de la patria. Dong Khoi ha forjado la fuerza endógena, creando una gran motivación espiritual para que las autoridades y residentes locales superen dificultades y desafíos, y sean dinámicos y creativos para convertir a Ben Tre de una provincia pobre y atrasada a una mejor. La vida material y espiritual de las personas está mejorando constantemente en todos los aspectos.

En 2021, primer año de implementación de la Resolución del XIII Congreso Nacional del Partido Comunista, a pesar de las dificultades causadas por el impacto de la COVID-19, Ben Tre aplicó seriamente el lema de su XI Asamblea partidista de 2021: “Consenso – Creación” y lanzó el movimiento de emulación “Nuevo Dong Khoi” en el período 2020 – 2025, con visión a 2030.

El espíritu y valores de Dong Khoi han sido preservados y desarrollados en la construcción de la patria en la actualidad

El presidente del Comité Popular de la provincia de Ben Tre, Tran Ngoc Tam, dijo que, en los próximos años, la producción y el procesamiento de coco y mariscos, las industrias de apoyo y las energías renovables se identifican como industrias claves de la provincia.

En 2022, el Comité Popular local estableció los siguientes objetivos claves: la tasa de crecimiento económico aumentará del 8 al 8,5 por ciento o más; la facturación total de exportación alcanzará 1.500 millones de dólares; el ingreso per cápita se situará en dos mil dólares; la tasa de urbanización será de alrededor del 23 por ciento; y el porcentaje de hogares que utilizan agua limpia ascenderá al 66 por ciento.

Ben Tre proyecta un crecimiento económico de 8 a 8,5% en 2022

La provincia se esfuerza por desarrollar dos mil megavatios de electricidad a partir de fuentes renovables, e implementar proyectos de energía de gas licuado en los distritos de Thanh Phu y Ba Tri y de la infraestructura de la red de transmisión para maximizar la capacidad de proyectos de energías renovables.

Según Ngoc Tam, la tarea clave del avance en el futuro es aumentar la atracción de inversiones, desarrollar infraestructura, y enfocarse en la construcción de infraestructura de parques industriales y grupos industriales.

Ben Tre continuará su integración internacional en todos los campos, creando una base para el desarrollo socioeconómico; implementará responsablemente compromisos con socios extranjeros en todos los campos; explorará y aprovechará las oportunidades y recursos para el desarrollo./.

槟椥省力争成功开展“新同起”竞赛运动

槟椥市中心的一角。

槟椥省1960年同起运动成为越南南部在党和胡志明主席领导下开展抗美救国事业中民族解放斗争史上的里程碑。

槟椥省同起运动取得胜利后,“同起火焰”在整个南部强烈地蔓延。同起运动取得的胜利将南部革命从守军的阵地转变为进攻的阵地,不断地进攻敌人并取得胜利。

同起塑像

随着同起运动的进行,槟椥省和整个南部进入1975春季崛起总进攻的决战,其中,最重要的是历史性的胡志明战役全面解放南方,实现统一国家,全国一道走向社会主义建设道路。

自国家统一之日起,槟椥省党部和人民大力弘扬同起运动的精神,建设更加富裕、更加美丽的家园。

62年来,槟椥省党部和人民在该省建设事业中一直保持与弘扬同起精神和价值。同起是一种文化创新,锻造力量,为槟椥省党部和人民战胜困难和挑战,自信、自强、自力、活跃、创新、奋发向上建设槟椥省,推动槟椥省从贫困落后的省份发展成为民众精神和物质生活不断得到改善,经济社会等方面不断呈现起色的省份。

2021年是落实2020-2025年任期各级党部大会决议和越南共产党第十三次全国党代表大会决议的第一年,在新冠肺炎疫情造成种种困难的背景下,槟椥省已认真落实越共槟椥省第十一次代表大会的方针和“共识-创新”主题,启动2020-2025年和远期展望至2030年的“新同起”竞赛运动。

槟椥省人民委员会主席陈玉三表示,未来几年,椰子加工、水产品加工、扶助产业和可再生能源被确定为该省重点产业。

2022年,槟椥省人民委员会提出地区生产总值(GRDP)预计增长8-8.5%,出口总额达到15亿美元,人均地区生产总值超2000美元,城市化率达23%,清洁水供应覆盖率达66%等主要目标。

62年来,槟椥省党部和人民在该省建设事业中一直保持与弘扬同起精神和价值。
2022年,槟椥省人民委员会提出地区生产总值(GRDP)预计增长8-8.5%

槟椥省力争开发可再生电力 2000 兆瓦,在盛富县和巴知县对液化天然气发电项目进行投资,输电网络基础设施确保及时释放该地区可再生能源项目的潜力。

陈玉三表示,今后,具有突破性的重点任务是加强招商引资,发展基础设施,按规划重点建设工业园区和工业集群的基础设施。

槟椥省将主动与积极融入国际社会,为经济和社会的发展奠定基础,认真兑现与对外伙伴在所有领域所做出的承诺,主动了解与充分利用一切机遇和资源。(完)

阮秋恒
阮秋恒
黎翠荷
黎翠荷

Hiện nay, phương thức truyền tải thông điệp đến công chúng thông qua các kênh truyền thông số đã trở thành phổ biến. Các cơ quan, bộ, ngành sử dụng các nền tảng mạng xã hội để cập nhật, phổ biến các văn bản, cung cấp thông tin trực tiếp đến công chúng đồng thời quảng bá về hoạt động minh bạch, hiệu quả trong ban hành và thực thi chính sách… Điều này cho thấy mạng xã hội đã và đang thực thi vai trò là kênh truyền tải thông tin hữu hiệu. Lan tỏa thông tin chính thống trên các kênh truyền thông số là xu hướng của các cơ quan báo chí trong thời đại công nghệ số hiện nay.

Trong bối cảnh đó, nhà báo Vũ Việt Trang, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), chia sẻ những nhận định về xu hướng truyền thông thời đại số và hướng đi của TTXVN để giữ vững vị thế là dòng thông tin chủ lưu trên không gian mạng.

Dòng tin chính thống trên không gian mạng

– Hiện nay, nhiều cơ quan báo chí tích cực cập nhật tin tức thời sự “nóng hổi” trên mạng xã hội, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin nhanh chóng của người dân trong thời đại số. Xin bà cho biết những nhận định về mặt tích cực của truyền thông trên mạng xã hội?

Nhà báo Vũ Việt Trang: Đến nay, số lượng người dùng mạng xã hội ở Việt Nam lên tới khoảng 73,6 triệu người, trong đó 95% người sử dụng Facebook. Số lượng người dùng thường xuyên hằng tháng của Zalo đạt 74,7 triệu vào tháng 2/2022, cao hơn Messenger (67,8 triệu). Với khả năng tiếp cận người dùng đông đảo, trực tiếp và nhanh chóng như vậy, mạng xã hội hoàn toàn có ưu thế trong tuyên truyền chính trị, định hướng kịp thời những vấn đề quan trọng, nhạy cảm.

Thời gian qua, thông qua mạng xã hội, các cơ quan báo chí đã nhanh nhạy nắm bắt thông tin không chuẩn xác hoặc thông tin được đăng phát với dụng ý xấu để nhanh chóng cung cấp thông tin chỉnh hướng. Sự vào cuộc đồng loạt của các cơ quan báo chí trên không gian số đã tạo nên sức mạnh, huy động được đông đảo cộng đồng mạng tham gia lan tỏa, chia sẻ thông tin, đưa nguồn thông tin chính thống của báo chí thành dòng chủ lưu trên không gian mạng.

Biểu đồ cho thấy nhiệm vụ hàng đầu của các toà soạn trên thế giới là đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số. Nguồn: WAN-IFRA

Như trong đợt thông tin cao điểm về dịch bệnh COVID-19 vừa qua, nhiều tin đồn sai sự thật lan truyền trên mạng đã ảnh hưởng đến nỗ lực chống dịch của cả nước. Các cơ quan báo chí đã tích cực đăng tải thông tin phản hồi, phản bác trên các tài khoản mạng xã hội chính thức để kịp thời trấn an dư luận, tin tưởng, đồng lòng thực hiện các chỉ đạo, điều hành trong công tác phòng, chống dịch bệnh…

Sự vào cuộc đồng loạt của các cơ quan báo chí trên không gian số đã tạo nên sức mạnh, huy động được đông đảo cộng đồng mạng tham gia lan tỏa, chia sẻ thông tin, đưa nguồn thông tin chính thống của báo chí thành dòng chủ lưu trên không gian mạng.

Nhà báo Vũ Việt Trang, Tổng giám đốc TTXVN

Trước xu thế chuyển đổi số mạnh mẽ, hầu hết các cơ quan báo chí đã và đang chuyển dần sang mô hình truyền thông đa phương tiện, thực hiện nhiều loại hình báo chí, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng, phong phú của công chúng. Tận dụng ưu thế của mạng xã hội, nhiều cơ quan báo chí đã lập các fanpage trên mạng xã hội để vừa chuyển tải thông tin theo cách tiếp cận mới, phù hợp với nhu cầu của bạn đọc, vừa tăng sự tương tác, tiếp nhận nhanh các phản hồi phục vụ hoạt động nghiệp vụ. Mạng xã hội cũng là kênh để quảng bá cho “thương hiệu” và các sản phẩm thông tin của các cơ quan báo chí, từ đó kéo công chúng đến với các sản phẩm thông tin truyền thống, đặc thù của mình.

– Không chỉ các cơ quan báo chí mà Chính phủ và các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương cũng đã thiết lập sự hiện diện trên mạng xã hội để tương tác với người dân. Bà có đánh giá như thế nào về hiệu quả của mô hình này?

Nhà báo Vũ Việt Trang: Công cụ “social listening” (nghiên cứu dư luận xã hội) được các cơ quan, bộ, ngành sử dụng hiệu quả để thu thập và phân tích phản hồi của người dùng. Việc tiếp nhận góp ý và phản hồi kịp thời đã được dư luận đánh giá cao, giúp thu hẹp khoảng cách với người dân. Tài khoản Facebook chính thức của Chính phủ là “Thông tin Chính phủ” đã cập nhật kịp thời hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các văn bản chỉ đạo; thông tin thời sự chính trị, kinh tế-xã hội…

Không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, các trang mạng xã hội đã trở thành kênh kết nối, khuyến khích người dân đồng hành cùng Chính phủ. Mạng xã hội cũng là kênh giám sát dư luận xã hội, từ đó các cơ quan ban hành chính sách lắng nghe và có những điều chỉnh phù hợp với thực tế đời sống, nguyện vọng của nhân dân.

Nhiều bộ, ngành, địa phương cũng đã tận dụng những ưu thế của mạng xã hội để giải quyết công việc và kết nối thông tin đến người dân. Những tin nhắn qua mạng xã hội của Bộ Y tế, của chính quyền các địa phương vào thời điểm dịch bệnh diễn biến phức tạp đã cung cấp những thông tin chính thức để người dân hiểu rõ tình hình đồng thời nâng cao nhận thức trong phòng, chống dịch bệnh. Ủy ban nhân dân nhiều tỉnh, thành trên cả nước cũng khai thác những tiện ích của mạng xã hội để đăng tải các thông báo, các công việc của địa phương cũng như triển khai thêm kênh giải quyết thủ tục hành chính cho người dân…

Nhìn ra các nước trong khu vực, Chính phủ nhiều quốc gia cũng tích cực sử dụng mạng xã hội để kiểm soát tin giả và phổ biến chính sách đến gần với người dân.

Trang Facebook có tick xanh của Thủ tướng Lý Hiển Long. (Ảnh chụp màn hình)

Chẳng hạn, trong thời gian chống dịch COVID-19, các nhà chức trách Singapore sử dụng Facebook như một phương tiện hữu hiệu để truyền tải các chính sách của nội các, chuẩn bị tinh thần cho người dân Singapore trong cuộc chiến chưa từng có tiền lệ này.

Khi chính quyền Singapore tuyên bố nâng cấp độ dịch từ vàng lên da cam, người dân lo lắng, đổ xô đến các siêu thị tích trữ đồ ăn, nhu yếu phẩm. Lúc này các lãnh đạo hành động khá nhanh chóng để làm yên lòng người dân. Bộ trưởng Nội vụ Singapore đã tới siêu thị lớn tại vùng ngoại ô, đăng cả ảnh lẫn video các kệ đầy ắp hàng hóa lên tài khoản Facebook và Instagram của mình. Những bài đăng của Bộ trưởng lập tức được chia sẻ hơn 200.000 lần trong ngày. Thủ tướng Lý Hiển Long cũng tạo một video ngắn trên Facebook, khẳng định kho dự trữ chiến lược quốc gia vẫn đầy đủ. Hay Bộ trưởng Công thương Singapore đăng trên Facebook cá nhân ảnh đón chuyến hàng rau xanh đầu tiên từ New Zealand ngay tại cảng. Chỉ hai ngày sau, Singapore không còn chứng kiến cảnh người dân xếp hàng mua tích trữ lương thực, thực phẩm. Điều này cho thấy mạng xã hội đã phát huy tác dụng tích cực theo cách của các nhà lãnh đạo Singapore.

Tại Thái Lan, năm 2019, Chính phủ thành lập Trung tâm Chống tin giả, sử dụng trí tuệ nhân tạo và các nhân viên giám sát đã được huấn luyện nhằm nhận diện và xác minh các thông tin giả mạo. Song song với đó, Chính phủ Thái Lan cũng đẩy mạnh việc sử dụng các nền tảng phổ biến như Facebook, Twitter và LINE để tuyên truyền thông tin tới người dân thay vì chỉ đăng tải trên các phương tiện truyền thống như phát thanh, truyền hình trước đây.

Hành trình báo chí thu thập dữ liệu để phục vụ mục đích kinh doanh. Nguồn: WAN-IFRA

Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha đã lập một trang Facebook riêng để thường xuyên công bố các chủ trương, quyết định của Chính phủ. Trang Facebook này được thường xuyên cập nhật thông tin và hiện có hơn 1,3 triệu người theo dõi. Ngoài ra, các cơ quan chính phủ và nhiều nhân vật quan trọng trong nội các cũng thường xuyên đăng tải thông tin lên các mạng xã hội phổ biến như Facebook, Twitter, Instagram và LINE…

Cũng giống như các nước khác trên thế giới, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), đặc biệt là các phương tiện truyền thông mới, đã làm thay đổi cách thức tương tác và giao tiếp giữa các cơ quan nhà nước với công chúng. Quá trình ứng dụng ICT trong các cơ quan nhà nước được khởi xướng tại Indonesia với Chỉ thị Tổng thống số 3/2003 về việc triển khai Chính phủ điện tử nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình đồng thời thúc đẩy chuyển đổi hướng tới kỷ nguyên xã hội thông tin.

Hầu hết chính khách Indonesia đều hoạt động rất tích cực trên môi trường mạng xã hội để truyền tải thông điệp, thông tin về các hoạt động thường nhật và thu hút cử tri/người ủng hộ. Với tư cách là phương tiện thông tin đại chúng phổ biến, truyền thông xã hội đã và đang đóng vai trò chiến lược trong cạnh tranh chính trị tại Indonesia, nhất là trước thềm các cuộc tổng tuyển cử, bầu cử tổng thống.

TTXVN và chiến lược xây dựng các nền tảng số

– Trong bối cảnh công nghệ số đang tác động mạnh tới mọi khía cạnh, báo chí cũng không thể đứng ngoài cuộc. Là một trong những cơ quan báo chí lớn của Việt Nam,  TTXVN đã có chiến lược ứng dụng truyền thông số để thực hiện nhiệm vụ chính trị như thế nào, thưa bà?

Nhà báo Vũ Việt Trang: Triển khai nhiệm vụ của cơ quan thông tấn quốc gia, cùng với xu hướng báo chí trong và ngoài nước, TTXVN đang phát triển theo mô hình truyền thông chủ lực đa phương tiện. Bên cạnh duy trì hình thức đăng tải và phát hành báo chí truyền thống, TTXVN đã chủ động, tích cực phổ biến thông tin lên mạng xã hội nhằm lan tỏa rộng rãi nguồn thông tin chính thống, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cung cấp nguồn thông tin chính thống đến đông đảo công chúng. 

Các đơn vị thông tin nguồn, các đơn vị báo chí xuất bản của TTXVN đã đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức thông tin, áp dụng nhiều loại hình thông tin mới như infographic, longform (tích hợp tin văn bản, ảnh, video, biểu đồ… trong cùng một sản phẩm), megastory (tác phẩm báo chí bao gồm âm thanh, video, ảnh, dữ liệu thể hiện bằng công nghệ kỹ thuật số), timeline (thông tin tư liệu tổng hợp theo dòng thời gian) đồng thời tích cực phổ biến thông tin về Việt Nam lên các ứng dụng mạng xã hội bằng nhiều ngữ: Việt, Trung, Nga, Anh, Pháp, Tây Ban Nha…, đa dạng hóa phương thức thể hiện thông tin đối ngoại, hoàn thành tốt vai trò cơ quan báo chí đối ngoại chủ lực quốc gia.

Hiện TTXVN có 14 fanpage được Facebook xác thực với định hướng phổ biến thông tin chính thống, tuyên truyền những thành tựu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Các trang facebook bằng các ngữ đã phát huy hiệu quả trong thực hiện, nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền.

TTXVN sử dụng nền tảng số như một kênh phân phối nội dung hữu hiệu, đặc biệt là nội dung đa phương tiện bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau để lan tỏa thông tin rộng rãi tới người dùng trên toàn cầu.

Trong các đợt thông tin trọng điểm về các sự kiện lớn của đất nước như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 hay trong đợt thông tin về Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) vừa qua, thông tin trên các nền tảng truyền thông số của TTXVN như các trang web chuyên biệt, các trang Facebook đa ngôn ngữ đã khẳng định ưu thế của TTXVN về thông tin dữ liệu và thông tin đa phương tiện. Độ lan tỏa thông tin rộng rãi trên các nền tảng số đã góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhanh chóng vào cuộc sống, phản ánh sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ trong công tác quản lý và điều hành đất nước.

Nhà báo Vũ Việt Trang (Ảnh: Lê Minh Sơn/Vietnam+)

– Bà có thể chia sẻ cụ thể hơn về hoạt động của các đơn vị thông tin TTXVN trên không gian mạng?

Nhà báo Vũ Việt Trang: Có thể khẳng định các đơn vị thông tin của TTXVN đều tích cực chuyển đổi số để “nhanh” hơn trên cuộc đua công nghệ trong nền báo chí hiện đại. Trong số đó, với vai trò là Báo điện tử đối ngoại quốc gia, VietnamPlus đã đẩy mạnh phát triển lượng tiếp cận trên các nền tảng số.

Cụ thể, bên cạnh fanpage tiếng Việt, VietnamPlus lập tài khoản trên các nền tảng được nhiều người sử dụng khác như Zalo, TikTok, MyClip, Twitter,… Kênh YouTube của VietnamPlus đã đạt Nút Bạc (hơn 100.000 lượt theo dõi), kênh Tiktok đạt “tick xanh” (được xác nhận chính thức) đạt gần 1 triệu lượt theo dõi, nhiều video đạt con số hàng triệu lượt truy cập và được nhiều cơ quan báo chí khác sử dụng lại; các chương trình Podcast của tòa soạn được cập nhật đều đặn trên các nền tảng như Spotify, Apple Podcast, Facebook…

Các sản phẩm tin, bài của VietnamPlus cũng được thể hiện theo phong cách hiện đại, như video 1:1 dạng mutex (lời bình được thể hiện qua phụ đề trên nền nhạc có bản quyền), đáp ứng được thị hiếu cũng như thói quen xem video trên điện thoại, máy tính bảng.

Hiện nay, một số sản phẩm báo chí hiện đại, sử dụng trí tuệ nhân tạo cũng đã và đang được triển khai. Theo đó, VietnamPlus ứng dụng công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm giúp tăng lượng người dùng, truyền tải thông điệp được cá nhân hóa đến từng bạn đọc với nhu cầu khác nhau, gợi ý các nội dung yêu thích của người đọc theo dạng Thư tòa soạn (Newsletter) hay Tin tuyển chọn từ Ban biên tập (Editors Picks)…

Ngày 6/1/2021, VietnamPlus và Insider đã ký kết thỏa thuận hợp tác, hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí, mở rộng tiềm năng của thị trường truyền thông trong lĩnh vực thu thập-phân tích dữ liệu. Việc hiểu rõ người dùng sẽ giúp VietnamPlus đưa ra những giải pháp nội dung phù hợp với đối tượng độc giả được hướng tới.

Các thông tin chính thống của TTXVN được VietnamPlus đưa lên mạng xã hội đã góp phần quan trọng vào việc đẩy lùi các tin xấu độc, tin giả không có kiểm chứng, giúp định hướng thông tin, định hướng dư luận xã hội.

Kênh Truyền hình Thông tấn VNews cho phép người xem chia sẻ video trên nhiều kênh mạng xã hội.

Bên cạnh VietnamPlus, các cơ quan thông tin đối ngoại khác của TTXVN như Báo ảnh Việt Nam, Báo Việt Nam News, Truyền hình Thông tấn (VNews) cũng đẩy mạnh khai thác lợi thế của Internet trong việc truyền tải thông tin tới độc giả, đặc biệt là người Việt Nam và người nước ngoài trên khắp thế giới.

Từ năm 1998, wesbsite điện tử Báo ảnh Việt Nam đi vào hoạt động với thể loại ảnh báo chí đã cung cấp những chuyên đề ảnh truyền tải hiệu quả hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp, nhân văn, hội nhập đến bạn đọc năm châu trên nền tảng Internet. Trước nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của công chúng, năm 2014, Báo ảnh Việt Nam đã tích hợp thêm chuyên mục Truyền hình Báo ảnh Việt Nam. Trang web Báo ảnh Việt Nam hiện được nâng cấp tích hợp các chức năng like, share với Facebook. Qua đó, sản phẩm thông tin của Báo ảnh Việt Nam được tiếp cận đến độc giả nhiều hơn. Chính yếu tố này đã giúp trang web Bảo ảnh Việt Nam có hơn 3,6 triệu lượt truy cập mỗi năm. Hiện Báo ảnh Việt Nam đang xây dựng kế hoạch khai thác ưu thế của các tính năng tích hợp FPT Play, Zalo, Skype hay Viber…

Báo Việt Nam News (VNS) đẩy mạnh khai thác lợi thế của mạng Internet một cách hữu ích và hiệu quả trong việc truyền tải thông tin tới độc giả, đặc biệt là người Việt Nam và người nước ngoài trên khắp thế giới. Mạng xã hội giúp thông tin đối ngoại của VNS lan tỏa nhanh chóng hơn, tới đông đảo độc giả hơn. Ngoài ra, bản PDF và bản điện tử của VNS đã được đưa lên một số mạng bán báo quốc tế để tăng cường phạm vi phát hành ở nước ngoài. Thông tin của VNS cũng được phát hành thông qua nhiều nhà cung cấp dữ liệu quốc tế và các đối tác báo chí nước ngoài. Thời gian gần đây, VNS đã hướng tới đa dạng hóa loại hình thông tin, có các sản phẩm đa phương tiện để thu hút nhiều công chúng hơn. 

Truyền hình Thông tấn (VNews) cũng đã có thay đổi chiến lược về tiếp cận nội dung, xây dựng phương án truyền tải nội dung số. Là kênh chương trình truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu quốc gia, Truyền hình Thông tấn đã tận dụng các giải pháp công nghệ để lan tỏa, phổ biến thông tin phục vụ sự lãnh đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nhu cầu về thông tin của công chúng ở mọi miền Tổ quốc và kiều bào ta ở nước ngoài. Thông tin được đăng tải đầy đủ trên các hạ tầng: Cab, DVB-S, DVB-T, OTT…

Nhà báo Vũ Việt Trang phát biểu tại hội thảo “Phát triển nội dung trên nền tảng số” do Liên chi hội báo chí Thông tấn xã Việt Nam tổ chức ngày 16/6/

– Từ kinh nghiệm quản lý, điều hành TTXVN, xin bà chia sẻ quan điểm sử dụng nền tảng số như thế nào để báo chí giữ vững vị thế chính thống của mình?

Nhà báo Vũ Việt Trang: Báo chí, truyền thông chính thống vẫn luôn là nơi để độc giả kiểm chứng, xác minh độ chính xác của thông tin. Do vậy, báo chí cần giữ vững thế mạnh và tôn chỉ hoạt động của mình để trở thành dòng thông tin chủ lưu trên không gian mạng. Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam do Hội Nhà báo Việt Nam ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 và Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội  do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 17/6/2021 sẽ góp thêm sức mạnh cùng các cơ quan báo chí trong thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền chính trị thời kỳ mới.

Để thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan báo chí bên cạnh việc thông tin chính xác các sự kiện/vấn đề còn thực hiện vai trò phản ánh việc thực thi, đưa ra các ý kiến khách quan, đánh giá của những người có thẩm quyền, giới chuyên gia, các đối tượng chịu tác động để công chúng có cái nhìn tổng quan, toàn diện…

Mạng xã hội không phải là bản sao của các cơ quan báo chí. Một tác phẩm báo chí có thể là một câu chuyện toàn diện nhưng khi chuyển tải lên mạng xã hội thường được rút gọn lại, đôi khi chỉ còn là một thông điệp ngắn gọn. Vì vậy, việc đăng tải thông tin lên mạng xã hội cần có sự cẩn trọng, cân nhắc về cách thể hiện để các thông điệp đưa ra phải chuẩn xác và đúng bản chất vấn đề. Có như vậy, những ưu thế của mạng xã hội như sự tương tác, bình luận và chia sẻ với tốc độ cao mới có thể phát huy, phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền chính trị một cách hiệu quả.

– Xin trân trọng cảm ơn bà!

Minh Thu
Minh Thu

(Vietnam+)

Chuyển đổi số trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực báo chí nói riêng là vấn đề nóng hổi được thảo luận tại nhiều diễn đàn trong vài năm trở lại đây. Đặc biệt, hai năm “chiến đấu” với dịch bệnh COVID-19 khiến các ngành, nghề đều phải chuyển mình để thích nghi và tồn tại.

Tuy nhiên, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở thời điểm dịch bệnh hay một giai đoạn nào mà phải là một quy trình tiếp diễn liên tục. Môi trường tiếp nhận thông tin đã thay đổi, độc giả đã thay đổi thói quen. Do vậy, nếu báo chí chỉ duy trì nền tảng cũ, cách làm cũ thì sẽ mất người đọc, mất vị thế và không thể phát huy vai trò tuyên truyền của mình. 

Nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, ông Nguyễn Đức Lợi, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam chia sẻ với độc giả báo VietnamPlus những vấn đề của báo chí hiện nay trong công cuộc chuyển đổi số.

“Chúng tôi không thể làm thay cơ quan báo chí”

– Thưa nhà báo, Đại hội lần thứ XI của Hội nhà báo đã xác định nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ này là chuyển đổi số. Vấn đề này cũng đã được thảo luận trong Hội báo toàn quốc vừa qua. Vậy xin ông cho biết vấn đề này đã được cụ thể hóa như thế nào?

Nhà báo Nguyễn Đức Lợi: Chuyển đổi số là một trong những định hướng lớn của Hội Nhà báo Việt Nam trong nhiệm kỳ này. Nói đúng ra là Hội Nhà báo xác định mục tiêu hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí thực hiện chuyển đổi số. Chúng tôi không thể làm thay các cơ quan báo chí trong nhiệm vụ này.

Chuyển đổi số là nhu cầu cấp bách hiện nay đối với báo chí, với những người làm báo. Trên thực tế, không phải chỉ trong lĩnh vực báo chí mà chuyển đổi số đã trở thành một xu hướng ngày càng mạnh mẽ và không thể đảo ngược trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Báo chí tất nhiên nằm trong xu hướng đó.

Mặc dù chúng ta đã đề cập nhiều đến thuật ngữ này, nhưng để hiểu rõ chuyển đổi số là gì, bản chất của nó, thực hiện nó như thế nào và nhất là chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí là làm những gì thì chúng ta cần phải nghiên cứu thêm.

Tôi cho rằng hiện nay một số các cơ quan báo chí ở Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi số một phần. Người làm báo đã áp dụng một số phương thức tác nghiệp mới, sử dụng công nghệ hiện đại, tổ chức các tòa soạn theo hướng đa phương tiện, tòa soạn hội tụ. Công chúng cũng đang được tiếp cận với các sản phẩm thông tin đa dạng, hiện đại.

Tuy nhiên, để thực hiện đầy đủ, toàn diện chuyển đổi số thì trước hết, chúng ta cần phải thay đổi tư duy. Điều đó nghĩa là thay đổi ngay từ cách quản lý, quản trị một tờ báo cũng như xây dựng đội ngũ những con người am hiểu công nghệ, có phương thức tác nghiệp hiện đại. Thứ hai là việc tổ chức sản xuất thông tin cũng phải diễn ra theo hướng số hóa tất cả các công đoạn. Thứ ba, các tòa soạn cần xây dựng kho dữ liệu lớn, hoặc tham gia kho dữ liệu dùng chung (big data). Điều cuối cùng là đầu tư cho những trang thiết bị làm báo hiện đại.

Tóm lại, muốn chuyển đổi số thì các cơ quan báo chí phải có nguồn lực bao gồm nhân lực và tài lực, tức là tài chính để đầu tư. Ngoài ra, báo chí không thể thiếu sự hỗ trợ của cơ quan chủ quản, của Nhà nước. 

Con đường chuyển đổi số còn rất dài và chúng ta cần phải làm nhanh bởi con người thời đại hiện nay đã thay đổi, báo chí cũng phải thay đổi nhanh để đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thông tin của độc giả.

– Để thực hiện được nhiệm vụ chuyển đổi số thì vai trò của người đứng đầu là rất quan trọng. Những năm vừa qua, chúng ta đã nói rất nhiều đến chuyển đổi số. Ông có đánh giá thế nào về sự chuyển biến trong tư tưởng, cách làm của những người đứng đầu các cơ quan báo chí hiện nay?

Nhà báo Nguyễn Đức Lợi: Đúng vậy, để chuyển đổi số thành công thì quyết tâm của người đứng đầu là một trong các yếu tố quan trọng. Khi người lãnh đạo quyết tâm và có khả năng, hiểu biết về chuyển đổi số thì mọi việc sẽ rất thuận lợi. Tuy nhiên, tôi cho rằng người đứng đầu có thể không am hiểu về chuyển đổi số nhưng có quyết tâm thì vẫn có thể thực hiện được.

Thời gian qua, chúng ta đã thấy nhiều lãnh đạo của các cơ quan truyền hình, phát thanh, báo điện tử bộc lộ rõ quyết tâm này. Một số tờ báo đã đổi mới rất quyết liệt cách thức truyền tải thông tin đến độc giả.

Tôi có một ví dụ rất rõ ràng là nhà báo Lê Quốc Minh, trước đây là Tổng biên tập của Báo điện tử VietnamPlus, Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam và hiện nay là Tổng biên tập Báo Nhân dân. Có thể nói VietnamPlus là tờ báo đi đầu trong việc hiện đại hóa hoạt động của mình trên các nền tảng số, tạo ra các sản phẩm mới mẻ, hấp dẫn như megastory, long-form, podcast…

Bên cạnh đó, tôi cũng nhận thấy nhiều nhà lãnh đạo còn có tâm lý ngại thay đổi, chưa dám tiếp nhận những điều mới mẻ, chưa thể hiện được quyết tâm chuyển đổi số.

Đứng trước một vấn đề mới đi kèm với nhiều thách thức, yêu cầu thì họ cảm thấy e dè, né tránh. Đó là điều dễ hiểu nhưng đứng trước xu thế tất yếu của thời đại, người nào không thay đổi thì sẽ bị thay thế, tòa soạn nào không thay đổi thì sẽ mất độc giả. Nói cách khác là bị gạt sang bên lề dòng chảy của sự phát triển.

Giao diện thu phí của báo điện tử VietnamPlus.

– Thưa ông, có ý kiến cho rằng là chuyển đổi số thực chất là các cơ quan báo chí đang thay đổi cách tăng doanh thu, thông qua việc thu hút độc giả để từ đó bán quảng cáo cũng như thực hiện thu phí người dùng. Ông nghĩ sao về điều này?

Nhà báo Nguyễn Đức Lợi: Có một thực trạng là các cơ quan báo chí, nhất là báo in, đang bị sụt giảm về doanh thu quảng cáo. Nguồn thu này đã bị san sẻ cho các kênh truyền thông mạng xã hội.

Việc thu phí độc giả đã xuất hiện trên thế giới từ lâu còn ở Việt Nam thì mới xuất hiện vài năm gần đây và cũng mới có vài tờ báo thực hiện nội dung thu phí, nhưng hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân là thói quen đọc báo miễn phí của người Việt rất khó thay đổi và các cơ quan báo chí chưa có sản phẩm đủ hấp dẫn.

Muốn thu phí thì chúng ta phải có những tác phẩm thực sự giá trị, những bài phân tích sâu và có những dữ liệu quý giá, tiếp cận được đúng đối tượng độc giả có nhu cầu.

Để giải quyết vấn đề này thì các cơ quan báo chí cần những cây bút có năng lực, những chuyên gia công nghệ để tạo ra những sản phẩm có nội dung chất lượng, có sức hút. Bên cạnh những dòng chữ truyền thống, cần tô điểm thêm cho sản phẩm báo chí bằng hình ảnh, đồ họa, video…

Đau đầu bài toán nhân lực

– Xin ông chia sẻ những khó khăn trong việc chuyển đổi số của các cơ quan báo chí địa phương cũng như sự hỗ trợ của Hội Nhà báo để giúp các cơ quan báo chí đẩy nhanh tiến trình này?

Nhà báo Nguyễn Đức Lợi: Như tôi đã nói, việc chuyển đổi số hiện nay diễn ra chưa đồng đều. Theo quan sát của Hội, các cơ quan báo chí thực hiện chuyển đổi số chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Các cơ quan báo chí ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nghệ An, Thái Nguyên… đã có những bước tiến tương đối xa về thực hiện chuyển đổi số.

Muốn thực hiện chuyển đổi số thì cần có nguồn lực mà đây lại là điều các cơ quan báo chí ở các địa phương đang rất thiếu, đặc biệt là các tỉnh nghèo, vùng sâu, vùng xa.

Nói về vai trò của Hội Nhà báo địa phương, chúng tôi có thể hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, cập nhật những kiến thức, kỹ năng, xu hướng báo chí hiện đại.

Chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp giữa Hội Nhà báo các cấp với cơ quan báo chí các địa phương trong trao đổi thông tin, kỹ năng làm báo hiện đại; sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm giúp các cơ quan báo chí địa phương trong ứng dụng công nghệ làm báo, nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí, vượt qua sự cạnh tranh của mạng xã hội và nhiều kênh thông tin như hiện nay…

Thêm vào đó, Hội đã đang và tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các cuộc hội thảo, lớp tập huấn, xây dựng các chính sách đề nghị Chính phủ hỗ trợ báo chí thực hiện tốt chuyển đổi số. Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục tham gia lên tiếng, đóng góp ý kiến, tham mưu xung quanh các vấn đề của Luật Báo chí, tạo hành lang pháp lý một cách thuận lợi cho báo chí phát triển.

Về tổng thể, bước vào giai đoạn bình thường mới, chúng tôi xác định phải nỗ lực gấp đôi, gấp ba để việc triển khai Nghị quyết Đại hội XI Hội Nhà báo Việt Nam vào hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao nhất. Tinh thần “Báo chí Việt Nam đoàn kết, chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn” sẽ là chủ trương nhất quán của nhiệm kỳ này.

– Thưa ông, quá trình chuyển đổi số sẽ thay đổi cách vận hành một cơ quan báo chí, trong đó một số quy trình được hiện đại hóa, số hóa, không cần đến nhân lực thủ công nữa. Vậy Hội Nhà báo Việt Nam có nghĩ đến điều này không và giải pháp cho vấn đề con người là như thế nào?

Nhà báo Nguyễn Đức Lợi: Quả thực đó là vấn đề khó khăn và đau đầu đối với những người làm công tác quản lý. Họ sẽ phải đứng trước bài toán tinh giản nhân sự. 

Rõ ràng, đã thực hiện chuyển đổi số thì chúng ta cũng phải chuyển đổi mô hình sản xuất, tổ chức thông tin, sẽ có những người bị gạt sang bên lề nếu tư duy, năng lực của họ không đáp ứng được nhiệm vụ.

Tất nhiên, chúng ta không cực đoan đến mức “đẩy” họ ra khỏi tổ chức mà lãnh đạo cơ quan phải tìm ra phương thức tái cơ cấu nhân sự, tiến hành đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp cho họ những kiến thức mới về các loại hình báo chí mới. Nếu họ vẫn không đáp ứng được thì phải tìm cho họ một công việc khác.

Có những quyết định rất khó khăn đối với người đứng đầu nhưng chúng ta phải đặt lợi ích của tập thể, của cơ quan lên trên hết. Hơn nữa, như tôi đã nói, ai không cải thiện mình, không theo kịp sự phát triển thì phải chấp nhận bị đào thải, không có chuyện cả tổ chức đứng chờ một người.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Video giới thiệu trợ lý ảo do Thông tấn xã Việt Nam phát triển:

Minh Thu-Minh Anh
Minh Thu-Minh Anh

(Vietnam+)

Первая ферма во Вьетнаме, внедрившая экстракорпоральное оплодотворение молочных коров

Технология ЭКО (экстракорпоральное оплодотворение) в области разведения молочных коров во Вьетнаме ранее было только в зародыше в… лабораториях. Понимая особую значимость этой технологии для разведения молочных коров в стране, внося значительный вклад в развитие, а также повышение качества и количества молочных коров во всем Вьетнаме, корпорация TH Group решила внедрять эту технологию и ферма молочных коров TH в уезде Нгиадан (провинция Нге-ан) постепенно осваивает эту технологию.

TH Group 24 раза импортировала молочных коров из Новой Зеландии и США во Вьетнам. Если проект ЭКО будет успешным, TH освоит технологию разведения чистокровных молочных коров во Вьетнаме, имеющих такое же хорошее качество и дающих столько же молока, как и ведущие породы в США, предоставляя породы фермам молочных коров TH и другим фермам в стране.

TH находится в авангарде применения эмбриональных технологий

С 2009 года и по настоящее время г-жа Тхай Хыонг и ее команда сотрудников в TH Group, особенно международные эксперты, которые приехали во Вьетнам и долгое время работают в TH, совершили очень важные подвиги для TH Group, а также животноводства и сельского хозяйства Вьетнама в целом.

Группа корреспондентов электронной газеты VietnamPlus прибыла в Нгеан по случаю того, что вице-президент Во Тхи Ан Суан и руководители центральных министерств и ведомств посетили «Концентрированный кластер ферм молочных коров, внедряющий высокие технологии с крупнейшим в мире закрытым производственным процессом» в уезде Нгиадан (Нгеан). Это возможность для нас стать свидетелями первого производства эмбрионов для ЭКО молочных коров во Вьетнаме.

Вице-президент Во Тхи Ань Суан подтвердила, что на нее произвели большое впечатление изменения в экономике и обществе уезда Нгиадан –  когда-то очень сложном уезде провинции Нгеан.

На солнечной и ветреной земле запада Нгеана, вице-президент Во Тхи Ань Суан подтвердила, что она была очень впечатлена изменениями в социально-экономической ситуации уезда Нгиадан – уезда в провинции Нгеан, который раньше был в очень трудных условиях. По словам вице-президента, в эти местные изменения внес большой вклад бизнес, особенно TH Group под руководством Героя Труда Тхай Хыонг, очень сильной женщины, которая создала замечательные проекты и компанию.

Доцент, д-р Хоанг Ким Жао, председатель Вьетнамской ассоциации крупного рогатого скота, бывший директор Департамента животноводства (Министерство сельского хозяйства и развития сельских районов) сказал, что недостаток молочных пород коров раньше был препятствием для отрасли разведения коров молочных пород Вьетнама. До того, как TH Group начала инвестировать в молочное животноводство, Вьетнам импортировал молочных коров в основном с Кубы, Новой Зеландии и Австралии, однако многие гибридные молочные коровы F1 и F2 не были чистокровными, поэтому качество и производство молока были низкими, а фермеры несли убытки…

С целью улучшения качества молочных коров и увеличения надоев, в 2001 году Вьетнам импортировал 199 чистокровных молочных коров породы Holstein Friesian (HF) и 184 молочных коровы породы Jersey из США. Это был первый случай, когда Вьетнам импортировал молочных коров из США.

В ходе наблюдения за потомками этого стада установлено, что удои всегда на 30% и более выше, чем у других коров. Однако средний надой составляет всего 5.000-6.000 литров на одну корову за цикл (305 дней).

В 2009 году, при завершении строительства первой фермы, TH стала пионером в импорте чистопородных высокопродуктивных молочных коров HF из Новой Зеландии, а позже и из США – стран с развитым молочным животноводством.

Благодаря решениям для повышения продуктивности и качества молочных коров, а также процессам разведения и управления стадом, отвечающим международным стандартам, стадо чистокровных коров HF компании TH достигло надоев молока до 9.000 литров на корову за цикл, и эта продуктивность продолжает улучшаться, повышаясь за счет улучшения качества племенных коров.

Представитель TH Group отметил, что с конца 2015 и в начале 2016 года корпорация подписала контракт с компанией Sexing Technologies из США для импорта замороженных эмбрионов и передачи технологии производства эмбрионов IN VIVO. Благодаря этому сотрудничеству на ферме родилось много поколений дойных коров с выдающимися удоями. Исходя из первоначальных успехов, чтобы быстрее повысить продуктивность коров при сохранении драгоценных генетических ресурсов и обеспечении превосходного свежего молока, корпорация TH решила выбрать компанию ABS в качестве подразделения для развертывания и передачи технологии ЭКО (экстракорпорального оплодотворения) фермам молочных коров с 2019 г.

По словам вице-президента, в это местное изменение бизнес внес большой вклад, особенно TH Group под руководством Героя Труда Тхай Хыонг, очень сильной женщины, которая создала замечательные проекты и компанию.

Однако из-за вспышки эпидемии COVID-19 на протяжении 2 лет подряд процесс трансфера технологий ЭКО столкнулся со многими трудностями: учебные курсы приходились проводить онлайн; строительство материальных объектов (лаборатория, оборудование, …) для проекта ЭКО должно было осуществляться путем дистанционной консультации специалистов; было потеряно много времени и сил на процесс отбора и транспортировки дойных коров к месту производства эмбрионов. Самым большим препятствием, о котором следует упомянуть, является приезд группы экспертов во Вьетнам, потому что приходится откладывать рейсы.

Приложив все усилия, к марту 2022 года TH Group привезла экспертов ABS во Вьетнам для развертывания передачи этой специальной технологии.

На своем пути развития TH гордится тем, что является первой фермой во Вьетнаме, которая импортировала замороженные эмбрионы и применила передовые семенные технологии в больших количествах с конца 2015 – начала 2016 годов. Сегодня TH Group также является пионером, который совершил прорыв в лидерстве по всей стране в доступе и применении технологии ЭКО с большими инвестициями и командой опытных экспертов со всего мира.

Создание динамики для отрасли разведения коров молочных пород

Коровы, дающие эмбрионы тщательно отбираются с помощью программного обеспечения для селекции компании ABS, обеспечивая уверенность в том, что отобранные коровы обладают лучшими характеристиками, выдающимися с точки зрения удоя, качества и количества молока, а также высоким уровнем содержания белка.

Доктор Хоанг Ким Жао заявил, что технология эмбрионов ЭКО, считающаяся «мировым разумом» в этой области, применявшаяся в развитых странах много лет назад, поможет TH и отрасли разведения коров молочных пород реализовать мечту о полной автономии породы молочных коров во Вьетнаме.

Во Вьетнаме реализация ЭКО крупного рогатого скота также осуществляется некоторыми подразделениями, такими как Институт сельскохозяйственных наук Вьетнама, Сельскохозяйственная академия и Университет Хошимина. Однако все эти учреждения только проводят исследования с различными видами крупного рогатого скота. Что касается работы исключительно с дойными коровами и применения технологий ЭКО на практике, то этим занимается пока только TH Group – предприятие, полностью имеющее такие благоприятные факторы, как кластер современных и высокотехнологичных племенных ферм, в котором насчитывается около 70.000 дойных коров, в том числе коров с хорошим генетическим потенциалом; синхронное и современное высокотехнологичное оборудование; обширные источники сырья…

В частности, Герой Труда Тхай Хыонг – основательница корпорации, женщина, всегда выступающая за применение высоких технологий и технологии 4.0 на всех этапах цепочки производства молока, обладает решимостью построить «взлетную полосу» для «взлета» молочного сектора Вьетнама.

Коровы, дающие эмбрионы тщательно отбираются с помощью программного обеспечения для селекции компании ABS, обеспечивая уверенность в том, что отобранные коровы обладают лучшими характеристиками, выдающимися с точки зрения удоя, качества и количества молока, а также высоким уровнем содержания белка.

«Поэтому, услышав меня о возможности поделиться знаниями и опытом о создании эмбрионов молочных коров в пробирке, г-жа Тхай Хыонг была очень взволнована и подтвердила, что TH будет полон решимости сделать это. Я верю, что TH добьется успеха», — сказал г-н Жао.

По словам г-на Жао, технология ЭКО ускорит генетический прогресс, производя поколение молочных коров с выдающимися удоями и качеством свежего молока. Коровы, дающие эмбрионы тщательно отбираются с помощью программного обеспечения для селекции компании ABS, обеспечивая уверенность в том, что отобранные коровы обладают лучшими характеристиками, выдающимися с точки зрения удоя, качества и количества молока, а также высоким уровнем содержания белка.

«Применение технологии ЭКО имеет большое значение не только для TH Group, но и для отрасли разведения молочных коров. Причина в том, что эта технология быстро и активно поможет в производстве дойных коров при себестоимости всего 1/2-2/3 от стоимости импортных дойных коров; снизить стоимость импорта; уменьшить заболеваемость крупного рогатого скота, ввозимого из-за границы; даст больше информации о качестве пород молочных коров», — подчеркнул г-н Жао.

Помимо продуктивности, молочные коровы, рожденные от эмбрионов ЭКО, также способны хорошо адаптироваться к условиям жаркой и влажной среды во Вьетнаме. Если TH будет эффективно выращивать дойных коров, то и отрасль разведения молочных коров Вьетнама также станет лучше благодаря более высоким удоям молока, его лучшему качеству, предоставлению качественных молочных пород для ферм по разведению молочных коров по всей стране…

«Исходя из своего существующего молочного стада, TH выбирает только 3,5-10% лучших молочных коров для проведения ЭКО. Из года в год продуктивность и качество пород будут повышаться. Благодаря этому TH не только поставляет замороженные эмбрионы и породы для своих ферм, но также молочным фермам по всей стране и даже экспортирует их в другие страны», — сказал г-н Жао.

Люди, владеющие технологией

По словам г-на Гилада Эфрата, технология ЭКО заключается в создании эмбрионов в пробирке, поэтому она не похожа на другие методы, такие как искусственное осеменение коров. Техника ЭКО требует большой тщательности, и если у работника нет опыта, то никакие навыки никогда не принесут успеха.

Говоря подробнее о проекте ЭКО TH, г-н Виджай Кумар Пандей, председатель совета директоров компании по производству молока и молочных продуктов TH (THMF), сказал, что цель этого проекта – принести технологии ЭКО во Вьетнам, внедрить их во Вьетнаме, а также провести полное обучение персонала TH соответствующим навыкам.

Председатель совета директоров THMF подтвердил, что при текущем прогрессе реализации ожидается, что TH Group сможет производить 5.000-6.000 эмбрионов в год на первом этапе. На более позднем этапе, когда TH освоит технологию и станет экспертом в этой области, этот бизнес будет производить эмбрионы для других молочных проектов.

Г-н Гилад Эфрат, технический директор THMF, приглашая журналистов осмотреть полностью оборудованные технические помещения фермы 1 и 2, имеющие все современные машины и эндоскопический кабинет, сказал: «Техника ЭКО заключается в отборе коров, обладающих высоким генетическим потенциалом в стаде и лучше всего предрасположены для получения эмбрионов и рождения телят женского пола. Таким образом, поколение молочных телят будет состоять из особей высшего качества в выбранном стаде, из которых будет продолжено разведение молочных коров».

По словам г-на Гилада Эфрата, техника ЭКО заключается в создании эмбрионов в пробирке, поэтому она не похожа на другие методы, такие как искусственное осеменение коров. Техника ЭКО требует большой тщательности, и если у работника нет опыта, то никакие навыки никогда не принесут успеха.

«Поэтому мы отобрали лучших сотрудников. С помощью учебных занятий и инструкций экспертов ABS по технике ЭКО мы определили на каких вопросах следует сосредоточиться для достижения успеха. В TH все должно быть идеально. За прошедшее время у нас сформировалась команда технических специалистов с опытом переноса эмбрионов, и теперь они передают техники ЭКО другим специалистам TH. Я верю, что наша команда будет хорошо работать и освоит эту технику», — поделился г-н Гилад Эфрат.

Технический директор THMF также подчеркнул, что в рамках проекта ЭКО TH Group ожидает улучшения качества молочных коров за счет отбора эмбрионов от лучших коров в стаде. Генетически это огромный шаг к успеху. Для отрасли разведения молочных коров Вьетнама успех проекта принесет много пользы. Улучшение генетики благодаря проекту ЭКО в TH также означает и улучшение стада коров во Вьетнаме в целом.

По словам г-на Гилада Эфрата, техника ЭКО заключается в создании эмбрионов в пробирке, поэтому она не похожа на другие методы, такие как искусственное осеменение коров. Техника ЭКО требует большой тщательности, и если у работника нет опыта, то никакие навыки никогда не принесут успеха.

“Все процессы по созданию эмбрионов ЭКО проходят очень гладко”

TH Group имеет молочных коров с высоким генетическим потенциалом. В компании также имеется много высокотехнологичного оборудования, что очень удобно для реализации техники ЭКО, например, современная лаборатория, которая есть не везде в мире. Сейчас все идет очень гладко».

Чтобы лучше понять процесс передачи технологий по производству эмбрионов ЭКО для молочных коров, а также осуществимость и эффективность проекта, который считается «исторической работой» не только для TH Group, но и для всей отрасли разведения молочных коров Вьетнама, репортер электронной газеты VietnamPlus взял интервью у г-на Родриго Мендеса Унтуры, руководителя экспертной группы ЭКО компании ABS (партнер TH Group).

– Не могли бы вы немного рассказать о компании ABS, которая передает TH Group современные технологии ЭКО?

Г-н Родриго Мендес Унтура: Наша компания специализируется на эмбриональных технологиях, работает уже 22 года и продолжает расширять и развивать этот рынок. В настоящее время мы присутствуем в 23 странах мира. Некоторые из наших лабораторий находятся в США, Бразилии и странах Латинской Америки, Южной Америки и т.д. Мы добились больших успехов и сейчас делимся этими успехами с TH Group.

– То есть это первое сотрудничество по передаче технологий ЭКО компании ABS с вьетнамским предприятием-партнером?

Г-н Родриго Мендес Унтура: Верно! Это наша первая совместная работа над проектом во Вьетнаме, и мы очень взволнованы. Для обслуживания этого проекта в начале 2020 года, за два месяца до вспышки COVID-19, я отправился во Вьетнам, чтобы обсудить с TH Group некоторые вопросы по передаче технологий, но из-за вспышки эпидемии проект был задержан на некоторое время. Однако теперь мы приступили к работе над конкретными задачами.

– Как вы относитесь к TH Group в процессе совместной работы?

Г-н Родриго Мендес Унтура: У TH Group есть молочные коровы с высоким генетическим потенциалом. В компании также имеется много высокотехнологичного оборудования, что очень удобно для реализации техники ЭКО, например, современная лаборатория, которая есть не везде в мире. Сейчас все идет очень гладко.

«Человеческие ресурсы являются фундаментальным фактором в развитии проекта. В настоящее время в TH Group работает команда хороших и опытных экспертов, поэтому они хорошо сработались с нами, чтобы способствовать развитию проекта и его продвижению к успеху». Г-н Родриго Мендес Унтура, руководитель группы ЭКО компании ABS (партнер TH Group).

– Что касается человеческих ресурсов, как вы оцениваете сотрудников TH, которые участвуют в реализации этого проекта ЭКО?

Человеческие ресурсы являются фундаментальным фактором в развитии проекта. В настоящее время в TH Group работает команда хороших и опытных экспертов, поэтому они хорошо сработались с нами, чтобы способствовать развитию проекта и его продвижению к успеху.

– Как, на ваш взгляд, эта техника ЭКО поможет TH Group в частности и молочной отрасли Вьетнама в целом в повышении качества чистых свежих молочных продуктов?

Г-н Родриго Мендес Унтура: Техника ЭКО имеет важное значение в животноводстве, особенно с точки зрения генетического улучшения по сравнению с традиционными методами оплодотворения. Мы можем выбрать яйцеклетки у лучших самок и лучшие мужские сперматозоиды, что помогает нам многократно преумножать генетический потенциал.

При эксплуатации молочной фермы, как правило, надо импортировать высокопродуктивных коров из других стран. Поэтому при применении этой техники ЭКО TH Group сможет быть автономной, обладая лабораторией по производству эмбрионов, а также в разведении молочных коров для улучшения генетического потенциала. В результате себестоимость производства будет ниже, поскольку технологии совершенствуются, преимуществ становится больше, техническая команда становится все более и более профессиональной, постоянно обучаясь и совершенствуя технологии. Это действительно хорошее преимущество для TH в частности и Вьетнама в целом.

– Сколько времени потребуется TH Group, чтобы полностью освоить эту технику ЭКО?

Г-н Родриго Мендес Унтура: Для полного овладения этой техникой потребуется какое-то время обучения, например, в лаборатории оно составит не менее 1 года; для OPU (сбор яйцеклеток) – от 1,5 до 2 лет; а для переноса эмбрионов – не менее 1 года. Я высоко ценю техников TH Group, они очень быстро учатся с первых дней работы.

– Как руководитель экспертной группы проекта, что вы ожидаете от этого проекта?

Г-н Родриго Мендес Унтура: Мы возлагаем большие надежды на этот проект, потому что TH Group всегда продвигает и поддерживает нас для скорейшего достижения успеха. Мы также очень рады сопровождать первое вьетнамское предприятие по реализации этого проекта./.

Большое Вам спасибо за интервью!

TH Group began utilising frozen artificial insemination in 2015, setting the trend as the first farm to exploit in vitro fertilisation (IVF) on a commercial scale in Viet Nam.

Previously, IVF for breeding of this nature was only seen in the lab. Recognising the advantages of the technology in terms of the development and improvement of the quality and quantity of dairy cows, TH Group made use of IVF in its dairy farm in Nghia Dan (Nghe An province). Over time, the animal husbandry team plans to master the technology.

TH recently imported 24 herds of Holstein Friesian (HF) dairy cows from New Zealand and the US. The goal is to produce offspring with the same quality and yield of milk as the leading breeds in the US, providing quality dairy cattle for TH farms and other dairy farms in the country.

TH pioneers in embryo technology application

Since 2009, TH founder Thai Huong and her associates who are international experts and have been in Vietnam for a long time, have developed the very important first steps for TH Group, as well as the livestock industry and agriculture in Vietnam. The pathway and the vicissitudes have provided for some milestones along the way.

VietnamPlus reporters came to Nghe An on the occasion of the visit by Vice President Vo Thi Anh Xuan and leaders of ministries and central agencies to the world’ largest concentrated cluster of dairy farms using the technology in Nghia Dan district of Nghe An.

Vice President Xuan recognises the significant changes in the socio-economic situation of Nghe Dan – one of the poorest districts of Nghe An.

Vice President Xuan recognised the significant changes in the socio-economic situation of Nghe Dan – one of the poorest districts of Nghe An.

She spoke highly of the progress and contributions from local dairy enterprises, including TH Founder Thai Huong, a national Labour Heroine. Dairy farms in Vietnam have become some of the best in the global dairy industry.

Associate Professor – Hoang Kim Giao, Chairman of the Vietnam Cattle Breeding Association, and former Director of the Department of Livestock Production under the Ministry of Agriculture and Rural Development, said that dairy breeding used to be a huge obstacle for the industry. Before TH Group got into dairy farming, Vietnam imported dairy cows mainly from Cuba, New Zealand, and Australia. Many F1 and F2 hybrid dairy cows were not purebred, therefore the milk quality and production were low, leading to lower revenues.

That all changed in 2001, as Vietnam imported 199 HF purebred dairy cows and 184 Jersey dairy cows from the US. This was the first time that Vietnam had imported dairy cows from the US. Descendants of this herd produce 30 percent more milk than previous cattle. However, the average milk production is only 5,000-6,000 litres per head per cycle (305 days).

By applying solutions to improve productivity and quality, TH’s purebred HF herd has achieved milk yield of up to 9,000 litres per cow in each cycle. Selective breeding has continued to improve these numbers.

A TH representative said that in 2015, processes changed dramatically after the group signed a contract with the US’s Sexing Technologies to import frozen embryos and transfer in vivo embryo production technology.

From the partnership, many generations of dairy cows have been developed on the farm, yielding outstanding milk production. The genetic resources have remained with the company as empirical successes of advanced breeding technology. Then, in 2019, TH partnered with ABS company to deploy and transfer IVF technology.

Vice President Nguyen Thi Anh Xuan lauds the contributions from local dairy enterprises, including TH Founder Thai Huong, a national Labour Heroine

COVID-19 stopped growth for two consecutive years, making the transfer of IVF technology difficult as experts could not fly into Vietnam. But things started up again in March of 2022, with the TH Group welcoming its first ABS experts to Vietnam for the transfer of this special technology. TH is a pioneer in the dairy industry, leading the way through technological investment and a vision toward the future of the dairy industry in Vietnam.

Creating momentum for national dairy industry

The cows that provide embryos are meticulously selected with the help of a selection software provided by the ABS, ensuring that the chosen cows carry the best characteristics and have outstanding milk production and quality with high protein content.

Dr. Giao said that IVF technology, considered “the wisdom of the world”, will help TH and the dairy industry of Vietnam realise the dream of becoming absolutely autonomous in cattle breeding.

In Vietnam, in vitro fertilisation has also been carried out by a number of research facilities, but only in small scale with many different kinds of livestock. TH group has the land to produce hay and the cattle breeds to take advantage of IVF technology.

Particularly, TH founder Thai Huong has continually sought out the latest technologies in all stages of the milk production chain. As she says, she is determined to blaze the “runway” so the Vietnamese milk industry can “take off”.

“For that reason, as soon as I told her about the advantages of IVF in cattle breeding, Madame Thai Huong was very excited and confirmed that TH is determined to do it. And, I believe TH will be successful in the long run,” said Giao.

He asserted IVF technology will help promote cattle genetics in Vietnam, producing a generation of dairy cows with outstanding production and high quality milk, adding that the technology has a significant meaning not only to TH Group but also the whole Vietnamese diary industry, as it will help the industry produce dairy cows that cost as little as one-third of that for imported dairy cows, while minimising diseases imported from foreign cattle.

Cattle reared with IVF technology have a higher capacity of adapting to the climate in Vietnam.

TH has selected about 3.5-10 percent of its current herd, which are the best cattle for IVF application. In the future, TH will not only provide frozen embryos and breeders for its farms, but also to dairy farms across the country and even export them.

Technology owners

According to Efrat, IVF technique is embryo creation in vitro, so it is not like other techniques such as AI – performing insemination on all cows. IVF technology requires a very high level of meticulousness. Technicians must be trained in the proper techniques to ensure success.

Vijay Kumar Pandey, Chairman of the TH Food Milk JSC (THMF), said that the objective of the project is to bring IVF technology to Vietnam and transfer it to TH staff.

He said that with the current progress of the project, TH Group’s expected production is 5,000-6,000 embryos per year in the first phase. At a later stage, as TH becomes experts in the field, it will produce embryos for other dairy projects.

Guiding us to the technical areas at Farms No. 1 and 2, Gilad Efrat, Technical Director of THMF, said that IVF technique is to select the best cows that have the highest genetic potential to get embryos and give birth to female calves. The next generation of dairy calves will be of top quality in a select herd, from which more breeding cows will be developed.

Stressing the high level of technical difficulty with the breeding process, Efrat said that with experience from international experts, the firm will master this technology soon.

Improving the genetic quality also means improving the herd in Vietnam in general, he held.

“IVF embryos making on right track”

TH Group owns dairy cows with high genetic potential. In particular, TH has a lot of high-tech equipment, good conditions for the firm to implement IVF techniques like a modern laboratory, quite rare in the world. Right now, everything is going very smoothly.

In order to better understand the process of transferring IVF technology on dairy cattle as well as the effectiveness of the project, considered “historic work” not only for TH Group but also for the whole industry, VietnamPlus reporters interviewed Rodrigo Mendes Untura, IVF expert team leader of ABS (partner of TH Group).

– Đầu tiên, xin ông giới thiệu đôi nét về Công ty ABS, nơi sẽ chuyển giao công nghệ IVF hiện đại cho Tập đoàn TH?

Ông Rodrigo Mendes Untura: Công ty chúng tôi chuyên về công nghệ phôi, đã hoạt động được 22 năm và đang tiếp tục mở rộng, phát triển thị trường. Hiện tại, chúng tôi đã có mặt ở 23 nước trên thế giới. Một số phòng thí nghiệm ở Mỹ, Brazil và các nước Mỹ Latinh, Nam Mỹ,… của chúng tôi đã đạt được nhiều thành công. Lần này, chúng tôi mang những thành công đó đến chia sẻ với Tập đoàn TH.

Reporter: Could you please brief us on ABS Company, which will transfer the modern IVF technology to TH Group?

Rodrigo Mendes Untura: Our company specialises in embryo technology. We have been operating for 22 years and we are continuing to expand and develop our market. Currently, we are present in 23 countries around the world. Some of our laboratories in the US, Brazil and Latin American and South American countries have achieved many successes. This time, we bring those successes to share with TH Group.

Reporter: So, is this the first cooperation on IVF technology transfer that ABS has conducted with a Vietnamese partner?

Rodrigo Mendes Untura: Right! This is the first time we have collaborated on a project in Vietnam and we are very excited. To serve this project, in early 2020, two months before the outbreak of COVID-19, I went to Vietnam to discuss with TH Group some issues on how to transfer technology, but due to the outbreak of the pandemic, the project was delayed for a while. This time, we have returned to conduct specific tasks.

Reporter: How do you feel about TH Group through the process of working together?

Rodrigo Mendes Untura: TH Group has dairy cows with great genetic potential. In particular, TH has a lot of high-tech equipment, making it easier for the implementation of IVF technology. They have a modern laboratory that is hard to find anywhere in the world. Right now, everything is moving forward quite smoothly.

Reporter: In terms of personnel, how do you rate TH’s staff who are involved in the implementation of this IVF project?

Rodrigo Mendes Untura:  Human resources are a fundamental factor in project development. Currently, TH Group has a team of highly-qualified and experienced experts, so the firm has cooperated well with us to facilitate the progress of the project and succeed.

Reporter: In your opinion, how will this IVF technology help TH in particular and the dairy industry in general in increasing the quality of clean fresh dairy products?

Rodrigo Mendes Untura:  IVF technology has important meaning in the livestock industry, especially in terms of genetic improvement compared to normal insemination methods. We can select eggs from the best females, select the best male sperm, thus multiplying the genetic potential.

When operating a dairy farm, it is common to import high-yielding cows from other countries. Therefore, when applying this IVF technology, TH Group can self-supply in laboratories, embryo production, and dairy cow breeding to improve genetic potential. As a result, the firm will enjoy lower production costs, higher technology, greater advantages and gain a higher quality technical team. This is really an advantage for TH in particular and Vietnam in general.

Reporter: So how long may it take for TH Group to fully master this IVF technology?

Rodrigo Mendes Untura: In order to fully master this technology, it requires a minimum of 1 year for training, about 1.5 to 2 years for ovum pick-up (OPU), and at least 1 year for embryo implantation. I highly appreciate the technicians of TH Group. They have learned very quickly from the first days of work.

Reporter: As the project’s expert team leader, what are your expectations for this project?

Rodrigo Mendes Untura: We have high expectations for this project, because TH Group has always supported us during its implementation. We are also really happy to accompany the first Vietnamese enterprise to implement such project.

Thank you very much!

The TH dairy farm in Nghia Dan has been recognised as the world’s largest centralised dairy farm with CNC application by the World Hepatitis Alliance. Here, TH has pioneered the application of a series of advanced techniques in dairy farming such as genetic selection to have dairy cows providing A2 milk and converting cows and pastures to international standards for organic farming. The firm is currently taking the lead in IVF embryo production in dairy cows in Vietnam, with the desire to create precious genetic resources and provide excellent fresh milk with high protein content, all for public health./.

The TH dairy farm in Nghia Dan has been recognised as the world’s largest centralised dairy farm with CNC application by the World Hepatitis Alliance. Here, TH has pioneered the application of a series of advanced techniques in dairy farming such as genetic selection to have dairy cows providing A2 milk and converting cows and pastures to international standards for organic farming. The firm is currently taking the lead in IVF embryo production in dairy cows in Vietnam, with the desire to create precious genetic resources and provide excellent fresh milk with high protein content, all for public health.