Đoàn chuyên gia TTXVN và những năm tháng khó quên

Những năm tháng không thể nào quên trên đất nước Campuchia

Trần Long

“Ở Thành phố Hồ Chí Minh những ngày đó, trong không khí chiến tranh và hòa bình đan xen nhau, ngoài phố không khí vẫn ồn ào, hối hả bởi tiếng động cơ của xe cộ, mọi hoạt động vẫn diễn ra bình thường. Trong mỗi bản tin từ biên giới gửi về, tôi vẫn cảm nhận như có tiếng súng nổ vang lên từng hồi, mùi thuốc súng khét lẹt và hình ảnh người chiến sỹ xung phong ở phía trước… Đến lúc này, khi lửa đã cháy và máu đã đổ, thôi thúc mọi người, đâu có thể ngồi yên…”

Đó là những dòng hồi ký của cựu chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam Đỗ Sỹ Mến, ở thời điểm cuối năm 1978 khi khắp vùng Tây Nam đất nước đang rực cháy, quân Khmer Đỏ tấn công biên giới, sát hại dã man người dân Việt, đốt phá làng mạc. Cả đất nước căm thù những hành động tàn bạo của quân giết người.

Đã hơn 38 năm trôi qua, kể từ ngày đầu tiên (1979), Đoàn chuyên gia của Thông tấn xã Việt Nam lên đường làm nhiệm vụ quốc tế giúp Thông tấn xã Campuchia – SPK (nay là AKP), cho tới khi hoàn thành nhiệm vụ, trở về Tổ quốc năm 1989.

Chuyên gia kỹ thuật TTXVN Đỗ Sỹ Mến (phải) trên đất nước Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Chuyên gia kỹ thuật TTXVN Đỗ Sỹ Mến (phải) trên đất nước Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Ở thời điểm cả đất nước, cả dân tộc vừa bước ra khỏi cuộc chiến khói lửa sau năm 1975, cuộc sống xã hội còn đầy khó khăn, vất vả bề bộn, những nhà báo, phóng viên, chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam lại xốc balô lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, với đầy đủ hành trang của những người lính thực sự, với ngòi bút, tinh thần sắt đá và một trái tim quả cảm giúp hồi sinh một đất nước Campchia kiệt quệ vì chế độ diệt chủng Pol Pot.

Ngày đó đã qua, giờ những mái đầu đã điểm bạc, người còn người mất, nhưng nhưng một trang lịch sử oai hùng không bao giờ phai nhòa trong ký ức các thế hệ các phóng viên, nhà báo, chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam, cơ quan báo chí duy nhất ở Việt Nam được phong tặng hai danh hiệu Anh hùng: Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới và Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến cứu quốc.

Trong năm tháng gian khó trên đất bạn, Đoàn S78 – tên gọi Đoàn chuyên gia Thông tấn xã Việt Nam tại Campuchia, đã giúp xây dựng cả một hãng thông tấn SPK. Có những chuyến đi công tác không thể nào quên với những người bạn Campuchia, trên những chiếc xe UAZ, ngoài máy điện báo, máy phát điện, tư trang và đồ nghề phóng viên, mỗi người còn phải mang theo súng AK với vài băng đạn.

Cũng ở nơi cùng khó, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp không bao giờ lịm tắt”

Những rủi ro trúng mìn, bị tàn quân Pol Pot phục kích trên đường là chuyện thường xuyên với nhiều chuyên gia-quân tình nguyện Việt Nam thời điểm đó. Nhưng tất cả đã vượt lên, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trong tâm trí mọi cán bộ Thông tấn xã Việt Nam ngày đó, Campuchia là những làng mạc bỏ hoang, Thủ đô Phnom Penh cổ kính và xinh đẹp hoàn toàn là một thành phố chết theo đúng nghĩa đen. Những đại lộ hun hút, vắng tanh. Những căn nhà đóng cửa im lìm, cỏ mọc đầy các vườn hoa. Không một bóng người, thậm chí cả súc vật cũng không có. Ngân hàng Quốc gia bị tàn phá, Chợ Mới bị bỏ hoang, mốc meo ẩm thấp. Ngôi trường duy nhất còn được sử dụng nhưng là dùng cho nhà tù Toul Sleng.

“Cũng ở nơi cùng khó, niềm tin vào một tương lai tốt đẹp không bao giờ lịm tắt. Có sống ở Campuchia trong những ngày đó mới thấy quý biết bao mỗi tín hiệu hồi sinh của một đất nước vừa trải qua thảm họa.”

Những dòng hồi ký của nhà báo Thông tấn xã Việt Nam Phạm Tiến Dũng sẽ khiến bất kỳ ai cũng tin vào những điều diệu kỳ trong cuộc sống. Ông đã thực sự ngỡ ngàng trong một ngày tháng Giêng năm 1979, khi đang đi trên đường phố Phnom Penh không một bóng người, u vắng, bỗng vẳng nghe trong không gian tiếng đàn piano thánh thót.

Có sống ở Campuchia trong những ngày đó mới thấy quý biết bao mỗi tín hiệu hồi sinh của một đất nước vừa trải qua thảm họa.

“Ngực đeo máy ảnh, tay cầm súng tôi tò mò lần đi tìm đến nơi có tiếng đàn. Ồ, một khung cảnh thật thú vị. Trong khu vườn bỏ hoang có chiếc piano nhà ai để đó. Một người lính Campuchia đang say sưa chơi đàn, súng gác bên cạnh. Quanh anh mấy người dân, chắc từ đâu đó trở về, vẫn mang trên người bộ quần áo đen ‘công xã’ đang chăm chú nghe…”

“… Phút nghỉ ngơi giữa cuộc chiến. Sự đối lập giữa sự sống và cái chết, giữa sự tàn bạo của chiến tranh và sức sống của nghệ thuật, sự can đảm của những người lính trước giờ ra trận. Niềm tin vào ngày mai, vào tương lai…”

Pháo binh của ta bảo vệ biên giới Tây Nam tháng 9/1977. (Ảnh: Nhà báo Vũ Xuân Bân)
Pháo binh của ta bảo vệ biên giới Tây Nam tháng 9/1977. (Ảnh: Nhà báo Vũ Xuân Bân)

Trong tâm khảm của mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, lái xe, nhân viên…. chuyên gia Thông thông tấn xã Việt Nam mãi ghi sâu những hình ảnh về một giai đoạn đặc biệt của lịch sử làm nghĩa vụ quốc tế trong sáng, vô tư với khẩu hiệu “Giúp bạn là giúp mình.”

Như lời mở đầu trong cuốn “Những năm tháng ở Campuchia” (Nhà xuất bản Thông tấn – 2009), giai đoạn không thể nào quên ấy ấy đã tô thêm những trang sử vẻ vang, hào hùng vào truyền thống hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành của Thông tấn xã Việt Nam:

“…Em bé Khmer ơiBầu trời đã tan mâyVừng dương đang tỏa sángAnh sẽ đưa em điCho đến bến đến bờĐể em ca hát tuổi thơTương lai đẹp đang chờ đợi em…”

(Trích thơ tác giả Nguyễn Đình Cao – Phnom Penh, 1981)./.

Đường vào Phnom Penh: ‘Bên kia sông súng vẫn nổ… chậm lại là chết!’

Trần Mai Hưởng

Dòng suy tưởng đưa nhà báo Trần Mai Hưởng trở lại những tháng ngày sống và chiến đấu trên đất bạn Campuchia cùng quân tình nguyện Việt Nam mùa Xuân 1979. Khi ấy, ông là phóng viên Thông tấn xã Việt Nam trong chiến dịch giải phóng Campuchia.

Trong câu chuyện với chúng tôi, ông không giấu được sự xúc động, đặc biệt là khi nhắc lại cuộc hành quân cùng Quân đoàn 4 Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào Thủ đô Phnom Penh (7/1/1979).

“Niềm vui của một phóng viên chiến trường khi hoàn thành nhiệm vụ, có những tin/bài kịp thời phản ánh, tường thuật sự kiện trọng đại – thủ đô Phnom Penh hoàn toàn giải phóng dường như cũng không thể át đi nỗi ám ảnh kéo dài nhiều năm sau đó về một thành phố không có sự sống với những nhà tù, xác người và hố chôn tập thể,” nhà báo Trần Mai Hưởng bộc bạch.

VietnamPlus trân trọng giới thiệu bài viết hồi tưởng lại hành trình tiến vào giải phóng Thủ đô Phnom Penh của nhà báo Trần Mai Hưởng – nguyên Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam trong chiến dịch giải phóng Campuchia 1979.

Nhà báo Trần Mai Hưởng tại Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Nhà báo Trần Mai Hưởng tại Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Ngày 7/1/1979, Phnom Penh hoàn toàn giải phóng. Nhóm phóng viên đi theo Quân đoàn 4 (gồm phóng viên Trần Mai Hưởng – tổ trưởng, Lê Cương và lái xe Phạm Văn Thu) là nhóm phóng viên đầu tiên có mặt tại thủ đo Phnom Penh đúng ngày Phnom Penh được giải phóng. Nhóm đã kip thời có tin bài, hình ảnh về sự kiện lịch sử này.” …Chúng tôi như ngồi trên chảo lửa. Bên kia sông súng vẫn nổ nhưng có phần thưa thớt. Tôi tìm người phụ trách phà để xin đi trước sang sông do nhiệm vụ đặc biệt. Trong khi đó, Cương và Thu đã đi xin được của bộ đội một xoong cơm và một xoong canh.

Được lệnh qua phà, nhóm lính cho nhà báo cả xoong, nồi rồi đi luôn. Chúng tôi nuốt vội vàng mây miếng cơm rồi cũng đưa được chiếc Jeep xuống phà. Khi phà đang qua sông, chúng tôi cố gắng ăn cho no. Không còn đường nào khác! Cả đơn vị đã chuyển lên phía trước. Chúng tôi không thể đi tìm Cục chính trị theo đội hình mà sẽ phải tự đi vào Phnom Penh. Sẽ có những rủi ro, nhưng đấy là cách duy nhất để có mặt ở thành phố sớm nhất. Cương và Thu nhất trí ngay.

Tôi lo đến thót tim khi chiếc Jeep nhỏ bé mãi mới lên được phà, gầm xe quá thấp, mà phà dã chiến lại không có đường lên-xuống tử tế. Nhưng rồi, mọi việc cũng ổn.

“Chần chừ lúc này đồng nghĩa với cái chết”

Thu gật đầu và cố gắng bám theo những chiếc xe lớn. Anh em bộ đội thấy nhà báo trên xe theo sát đội hình cũng giơ mũ lên vẫy và cổ vũ.

Đường vào thành phố hoàn toàn mới. Lính Pol Pot còn ở xung quanh. Chẳng ai chờ nhau mãi được. Những chiếc xe lớn thả hết ga để đi cho nhanh khiến chúng tôi rất vất vả.

Khoảng cách với những xe trước cứ xa dần. Tôi ngồi trước, nên chỉ còn cách động viên Thu cứ vững tay lái. Chẳng có vết xe để lăn theo mà tránh mìn và cũng chẳng có thời gian cho điều ấy. Vấn đề là phải đi thật nhanh vì trời đã ngả chiều. Phải vào kịp thành phố trước khi trời tối.

Nhà báo Trần Mai Hưởng nhớ lại thời kỳ TTXVN thực hiện nghĩa vụ quốc tế với Campuchia.

Mặt đường đầy những ổ pháo mới bắn, những đoạn đường bị băm mỗi khi xe qua lại nảy tung lên. Xác lính Pol Pot hoặc thường dân còn trên đường chết từ mấy ngày trước. Có những cái xác đã trương phềnh. Không gian sặc mùi gây gây, tanh nồng, rất nhiều lần tôi đã muốn nôn oẹ khi nhìn thấy những quang cảnh ấy.

Lúc đầu, Thu còn cố tránh những xác chết. Sau cũng có lúc không tránh được vì chẳng có lối nào để lăn bánh nên cứ phải tràn qua. Lúc lăn qua một xác chết đã trương, tôi có cảm giác còn nghe thấy tiếng “bụp! bụp!” của hơi bị xì ra và cảm thấy rùng mình. Thế nhưng, chần chừ lúc này đồng nghĩa với cái chết.

“Có lúc, tôi chợt cảm thấy như có họng súng đang chĩa vào mình sắp nhả đạn. Tôi nghĩ đến hình ảnh của đứa con trai hai tuổi”

Chúng tôi phải chạy nhanh, càng nhanh càng an toàn. Có lúc, tôi chợt cảm thấy như có họng súng đang chĩa vào mình sắp nhả đạn. Tôi nghĩ đến hình ảnh của đứa con trai hai tuổi, gương mặt ngây thơ mỗi chiều chờ bố đón ở nhà trẻ. Con tôi sẽ ra sao nếu một viên đạn đang bay tới và lần này tôi không trở về…

Bất giác, tôi đưa tay lên che ngực như một phản xạ tự nhiên, dù biết rằng điều ấy chẳng có ý nghĩa gì vào lúc này!

Mãi đến cuối chiều chúng tôi mới vào đến thành phố. Tôi không tin vào mắt mình khi thấy một Phnom Penh hoang tàn và trống vắng, không có sự sống. Đúng là một thành phố chết. Các ngôi nhà đều kín cửa và hoang tàn vì không có người ở. Những nẻo đường vắng tanh… Các đơn vị đã chốt giữ những địa bàn quan trọng. Chính quyền Pol Pot đã rút chạy về phía Tây trước khi quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia tiến vào.

Xe chở phóng viên TTXVN vượt qua ngầm sâu tại khu vực Xa Mat (Tây Ninh) giáp biên giới Campuchia tháng 10/1977 để đưa tin bảo vệ biên giới Tây Nam. (Ảnh: Nhà báo Vũ Xuân Bân/TTXVN cung cấp)
Xe chở phóng viên TTXVN vượt qua ngầm sâu tại khu vực Xa Mat (Tây Ninh) giáp biên giới Campuchia tháng 10/1977 để đưa tin bảo vệ biên giới Tây Nam. (Ảnh: Nhà báo Vũ Xuân Bân/TTXVN cung cấp)

Không kịp liên lạc với Cục Chính trị quân đoàn, chúng tôi hỏi đường tìm đến Bộ tư lệnh sư đoàn 341 để nghỉ lại. Đây cũng là một trong những đơn vị xung kích tiến vào thành phố sớm nhất.

Các anh trong Bộ tư lệnh, đặc biệt là Sư trưởng Vũ Cao, rất nhiệt tình giúp đỡ tổ phóng viên. Khi ấy, chúng tôi được mang danh xưng chung là phóng viên SPK (Saporamean Kampuchia) với đặc trưng là chiếc mũ lưỡi trai vải mềm mà không hiểu từ lúc nào, nhân dân và cán bộ, chiến sĩ đều gọi là mũ SPK!

Nhiều người bồng bế con nhỏ, dắt tay các cụ già… ra đi dưới họng súng của những kẻ áo đen nhân danh “giải phóng”

Nhờ có sư trưởng Vũ Cao mà chúng tôi ngay trong tối hôm đó nắm được toàn bộ những diễn biến chính liên quan đến chiến dịch giải phóng Phnom Pênh, những tư liệu rất cần mà không dễ có được vào lúc đó. Sư trưởng Vũ Cao là người Bắc, có gia đình ở Hà Nội. Ông hiểu và quý mến anh em Thông tấn xã. Con rể của ông là nhà báo Đình An, khi đó là phóng viên Báo Ảnh Việt Nam thuộc Thông tấn xã Việt Nam.

Cuộc gặp với ông khiến tôi nhớ lại cuộc gặp với Chính uỷ sư đoàn 304 Trần Bình trong chiến dịch mùa xuân 1975. Cũng là một sư may mắn, có phần tình cờ mà chúng tôi có được trong những thời điểm quan trọng nhất của nghề nghiệp. Với sự quan tâm đặc biệt, sư trưởng Vũ Cao thể hiện sự quan tâm của ông.

Ông nói với chúng tôi: “Các anh cứ ở lại đây qua đêm. Đi ra ngoài bây giờ rất nguy hiểm vì tàn quân Pol Pot vẫn còn. Tối nay, tôi sẽ cho các anh những thông tin cơ bản về tình hình, sáng mai sẽ có lực lượng đưa các anh đến những địa bàn quan trọng nhất của Phnom Penh… Tôi biết công việc của các anh lúc này rất quan trọng và cần phải thật nhanh!

Ông rất am hiểu công việc của anh em làm báo nên chúng tôi chẳng có gì đòi hỏi hơn. Tôi chỉ nhờ ông báo lên Cục chính trị quân đoàn cho anh Ba Cúc biết là chúng tôi đã vào Phnom Penh, đang ở với sư 341 và sẽ chủ động tác nghiệp sao cho có hiệu quả nhất.

Từ trái sang: Lái xe Phạm Văn Thu, một cán bộ Quân đoàn 4, nhà văn Nguyễn Chí Trung, nhà báo Trần Mai Hưởng. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hưởng cung cấp)
Từ trái sang: Lái xe Phạm Văn Thu, một cán bộ Quân đoàn 4, nhà văn Nguyễn Chí Trung, nhà báo Trần Mai Hưởng. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hưởng cung cấp)

Đêm ấy tôi nằm không sao ngủ được dù người mệt rã rời sao bao ngày vắt sức và lăn lộn cùng Lê Cương và Thu với bao gian khó, hiểm nguy. Nỗi lo lắng cho công việc ngày mai đè nặng. Phải làm sao có được tài liệu và quay về Sài Gòn nhanh nhất…

Một cảm giác đặc biệt đến với tôi. Thế là tôi cùng Lê Cương và Thu vào Phnom Penh giải phóng, một sự kiện trong đời làm báo không dễ gì có được. Tôi nghĩ đến vợ con, gia đình và như chính ủy Trần Bình năm nào, mong sao cho vợ tôi biết tôi vẫn an toàn và đang có mặt ở đây… Nhưng mong ước ấy vào lúc đó là không thể!

Sau này, vợ tôi kể lại, vào buổi tối hôm ấy, khi nghe đài, biết tin Phnom Penh giải phóng, vợ tôi đang ôm con trai bỗng nhiên oà khóc làm con cũng khóc theo… Khi ấy vợ tôi vừa mừng, vừa lo lắng, không biết số phận của tôi ra sao!

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm. Sư trưởng Vũ Cao cho một nhóm trinh sát đi cùng, đưa chúng tôi đến các nơi trong thành phố. Ấn tượng ban đầu về Phnom Penh rất đặc biệt. Những nét cong quyến rũ của Hoàng Cung, Đài Độc Lập, đồi Bà Penh, những ngôi chùa cổ… làm thành phố có vẻ đẹp riêng.

Nhưng điều ấy chẳng còn là gì so với cảnh tượng hoang vắng đến rợn người và thật không thể hiểu nổi sự kỳ quái của chế độ Pol Pot trên mảnh đất này. Nhà tù Tung Sleng còn nguyên khu chứa sọ người và dụng cụ tra tấn. Có khu nhà hoang còn nguyên cả những mâm cơm của hơn 3 năm trước, ngày người dân bị lính Khmer Đỏ buộc phải rời khỏi thành phố.

Những “rừng” sọ người trên đất nước Campuchia
Những “rừng” sọ người trên đất nước Campuchia

Các chiến sỹ đưa cho tôi xem một tập ảnh tới hàng trăm chiếc chụp cảnh người dân rời Phnom Penh vào cáì ngày hãi hùng đó. Nhiều người bồng bế con nhỏ, dắt tay các cụ già…ra đi dưới họng súng của những kẻ áo đen nhân danh “giải phóng.”

Những gương mặt khổ đau tột độ vì hoang mang, vì sơ hãi vì không hiểu điều gì đã xảy ra! Tôi đoán rằng, đây là ảnh của một phóng viên nước ngoài chụp và không kịp mang đi hoặc bị tịch thu vứt lại! Cũng có thể đó là một người Campuchia nào đó chụp và làm ra ảnh nhưng đành bỏ lại.

Cất tập ảnh đó vào balô, tôi biết mình đang có trong tay một tư liệu quý và tư hỏi, không biết số phận của tác giả bây giờ ra sao? Rất có thể anh hoặc chị ta đã ngã xuống trên những “cánh đồng chết” ở khắp đất nước này!

Một xã hội hoàn toàn thù địch với nên văn minh nhân loại. Người ta có thể thấy điều đó khi những máy thu hình, đồ dùng đắt tiền và cả rượu ngon chất đống trong các nhà kho. Lính Khmer Đỏ dồn những thứ đó thành từng đống. Tất cả đã bị đập phá hoặc mục nát. Mấy anh lính chỉ cho chúng tôi xem một khu nhà chất đầy giàu dép nhưng tất cả đều chỉ của một phía, hoặc chân trái, hoặc chân phải. Không thể kiếm được một đôi hoàn chỉnh!

Một xã hội hoàn toàn thù địch với nên văn minh nhân loại. Người ta có thể thấy điều đó khi những máy thu hình, đồ dùng đắt tiền và cả rượu ngon chất đống trong các nhà kho

Nhóm trinh sát đã giúp chúng tôi tìm được một đơn vị thuộc lực lượng Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia với trang phục nghiêm chỉnh, đặc biệt là những chiếc mũ vải mềm rất đặc trưng để chụp ảnh. Vào thời điểm đó, đây là vấn đề rất nhạy cảm.

Người chỉ huy đơn vị rất nhiệt tình cho cả xe đi theo chúng tôi đến các địa điểm cần thiết để chụp ảnh vì thời gian không có nhiều. Chúng tôi đi ra sân bay Pochentong.

Chỉ còn vài chiếc máy bay từ thời trước hư hỏng nằm ở góc đường băng. Ở đây chúng tôi gặp nhà văn Nguyễn Chí Trung. Anh nói cho đi cùng vì cũng muốn có mặt ở các nơi trong thành phố rồi cùng về Sài Gòn!

Nhà văn Nguyễn Chí Trung đã quen thuộc với lứa tuổi chúng tôi từ thời cắp sách đi học, khi “Búc thư làng Mực” của ông được in trong sách giáo khoa. Ngoài đời, ông to béo, thấp lùn nhưng nhanh nhẹn, tính tình thoải mái, dân dã.

Có lúc, tôi bực mình vì anh em dẫn đường đi quá chậm vì còn phải lo việc này việc khác, thì anh đã có cách giải quyết rất nhanh và thu xếp mọi việc một cách khéo léo. Chúng tôi về Hoàng Cung, những người lính Campuchia vừa tiếp quản dẫn chúng tôi nhanh qua các khu chính rồi vui vẻ giúp Lê Cương tạo hình những cảnh cần thiết.

Tôi nhớ khi nhìn vào trong sân Hoàng Cung, một chiếc cốc bạc nằm lăn lóc. Tôi đã chỉ cho người lính Campuchia đi cùng. Anh nâng niu chiếc cốc đó rồi nói, sẽ đưa lại cho chỉ huy đơn vị. Khi rút chạy, những đồ đạc quý đã bị bọn Pôn Pốt vét sạch. Chiếc cốc đó chắc là bị rơi trong lúc vội vã. Có một chi tiết tôi nhớ mãi về nhà văn Nguyễn Chí Trung.

Khi chúng tôi đi thăm các nơi trong Hoàng Cung, ra cả phía ngoài đường để chụp ảnh thì anh ung dung ngồỉ ở một chiếc ghế đá trong vườn ngủ một giấc ngon lành! Nhà văn là một người vô tư, do quá mệt và thiếp đi. Trong khi đó, các chiến sĩ đi cùng luôn nhắc chúng tôi phải bám theo họ vì không loại trừ tàn quân Pol Pot còn ẩn nấp đâu đó!

Chúng tôi nhanh chóng đến các địa điểm chính trong thành phố, ra Đài Độc Lập, lên cầu Shihanouk, ga xe lửa, chợ trung tâm… Khi chạy dọc theo đại lộ Monivong, tôi bất ngờ khi gặp một toán các chiến sĩ của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước đang xúm quanh một chiếc đàn dương cầm cũ nát. Chiếc đàn đó chắc là bỏ đã lâu, nhưng vẫn còn chơi được. Chúng tôi xuống và hỏi chuyện mọi người.

Bộ đội ta truy kích lính Pôn Pốt bảo vệ biên giới Tây Nam, cuối năm 1978. (Ảnh: Vũ Xuân Bân)
Bộ đội ta truy kích lính Pôn Pốt bảo vệ biên giới Tây Nam, cuối năm 1978. (Ảnh: Vũ Xuân Bân)

Người đại đội trưởng tên là Cay On, vốn là người Phnom Penh. Anh cùng gia đình bị đưa đi khỏi thành phố vào ngày 17/4/1975, rồi anh bị lạc gia đinh, sống ở một trang trại miền Đông. Ở đó, anh tham gia lực lượng nổi dậy. Cay On là một trong những người vui nhất khi trở lại Phnôm Pênh ngày giải phóng. Nhưng anh vẫn còn nhiều băn khoăn khắc khoải vì chưa biết cha mẹ mình và các em sống chết ra sao.

Cay On giới thiệu cho chúng tôi về những người bạn của mình. Họ là những thanh niên nam nữ không chịu đựng được chế độ Pol Pot, bỏ chạy vào rừng hoặc tìm đường sang Việt Nam lánh nạn. Họ gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng và cùng các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam trở về giải phóng quê hương. Gương mặt trẻ trung, tràn đầy sức sống của những chiến sĩ trẻ ấy gây ấn tượng mạnh về một lớp người mới sẽ làm chủ đất nước này sau khi chế độ Pol Pot bị lật đổ.

Trong lúc trò chuyện, rất bất ngờ, một chiến sĩ ngồi xuống bên đàn, chơi bản dân ca Campuchia có tên gọi Xari Cakeo và mọi người cùng vỗ tay hát theo. Đấy là một hình ảnh rất đặc biệt in đậm trong trí nhớ của tôi trong ngày Phnom Penh giải phóng. Đây là một chi tiết đắt trong bài về Phnom Penh trong ngày đầu giải phóng.

Có được các tư liệu chính, chúng tôi cùng nhà văn Nguyễn Chí Trung chia tay các chiến sỹ đi cùng, chạy dọc theo đại lộ Monivong và qua cầu, trở lại Việt Nam. Lúc ấy cũng đã trưa rồi. Tôi vẫn nhớ anh Trung với chiếc ống nhòm dài ngoẵng trên tay, trông gíống như một chỉ huy hơn là một nhà văn.

“Tôi vẫn nhớ anh Trung với chiếc ống nhòm dài ngoẵng trên tay, trông gíống như một chỉ huy hơn là một nhà văn”

Bốn anh em cứ thẳng đường về hướng Kandal, đến bến phà Neak Leung. Bằng mọi giá phải có mặt ở Sài Gòn càng sớm càng tốt. Đây sẽ là những tư liệu đầu tiên về giải phóng Phnom Penh mà ở nhà đang trông đợi!

Chúng tôi không thể đi nhanh được. Đường quá xấu, lại chờ đợi ở Neak Leung khá lâu .Nhưng lý do chính là xe bị hỏng. Ắcquy hết sạch điện do trong quá trình chạy trên đường sóc quá, dây nạp điện bị đứt tung ra mà không biết. Không thể “đề” cho nổ mỗi lần chết máy, mấy anh em chỉ còn cách nghiến răng, dốc hết sức để đẩy xe.

Có lúc nhờ được bộ đội, có lúc không, mà sức của chúng tôi đã kiệt rồi. Mấy gói mì tôm hoà với nước lõng bõng để húp không thấm vào đâu. Cũng chẳng có thời gian để rẽ vào các đơn vị hoặc nhà dân kiếm cơm nữa. Dù vậy, trên đường,chỗ nào có thể chụp ảnh đựơc, chúng toi đều cố dừng lại. Đây là những tư liệu quý. Tôi nhớ Lê Cương say sưa đặc tả một nhóm các nữ chiến sỹ Khmer chúng tôi gặp ở Svay Rieng.

“Nụ cười Bayon” (Ảnh: Nhà báo Lê Cương. Nguồn: TTXVN)
“Nụ cười Bayon” (Ảnh: Nhà báo Lê Cương. Nguồn: TTXVN)

Cũng tại đây, Lê Cương còn có một bức ảnh đặc tả một cô gái Campuchia trên đường về quê cũ. Cô gái chừng 16-17 tuổi, gương mặt đẹp một cách kín đáo dưới vành khăn, đôi mắt u hoài và một nụ cười bí ẩn. Đấy chính là tác phẩm “Nụ cười Bayon” rất nổi tiếng sau này của anh. Những hình ảnh đó rất sống động và có sức thuyết phục.

Đường bị xẻ dọc ngang, một lúc xe lại chết máy. Mỗi lần nhìn thấy đoạn hào xẻ trước mặt là ớn tận xương sống. Khi chúng tôi qua Mộc Bài, vào đất Tây Ninh thì trời đã xâm xẩm. Không có ắcquy thì cũng chẳng thể có đèn, xe đành chạy không trong bóng tối.

Có nhiều phương tiện khác đang lưu hành trên đường, rồi cả người nữa, thành ra rất nguy hiểm. Chẳng có cách nào hơn, chúng tôi đành phải dùng đèn pin. Lê Cương và tôi ngồi hai bên thành xe, cứ hướng đền ra phía trước mà khua báo hiệu cho các xe khác và người đi trên đường. Cũng phải dùng rất tiết kiệm vì sợ hết pin, cứ chỗ nào đông người thi mới bật đèn. Có lúc chúng tôi còn la lớn “Xe đây! Xe đây!’ làm hiệu. Đoạn nào vắng thì chạy mò, cứ hướng Sài Gòn mà lao tới.

Khá muộn, chúng tôi mới về tới cơ quan. Anh Trần Hữu Năng đón. Ngay lập tức, phim được mang đi tráng và làm ảnh ngay. Tôi tranh thủ ghi lại những điều đã chúng kiến ở Phnôm Pênh những ngày đầu giải phóng. Anh Năng xem xong, biên tập nhanh lại rồi tất cả tư liệu ấy được chuyển lên Bộ chỉ huy mặt trận.

Có lẽ đây là một đặc thù của hoạt động nghiệp vụ trong thời gian này. Chúng tôi không thể tự phát ngay tin, ảnh. Bộ phận giúp việc cho Bộ chỉ huy mặt trận sẽ xem xét và chọn lọc, cân nhắc lại mọi điều. Khuya hôm đó, những tấm ảnh đầu tiên của tổ mới được phát ra Hà Nội.

  • anh1-1502960642-86.jpg
  • anh2-1502960648-94.jpg
  • anh3-1502960655-51.jpg
  • anh5-1502960664-60.jpg
  • anh6dac-1502960671-79.jpg
  • anh7dac-1502960678-27.jpg
  • anh8dac-1502960685-2.jpg
  • anh9dac-1502960692-94.jpg
  • anh10da-1502960700-7.jpg

Sáng ngày 9/1, tất cả các báo ở trong nước và nhiều hãng thông tấn báo chí nước ngòai đều đồng lọat đăng các ảnh giải phóng Phnom Penh, Svay Rieng, Prey Veng và nhiều hình ảnh khác về Campuchia dưới danh nghĩa SPK (thực ra, chủ yếu là các ảnh của Lê Cương). Chúng tôi rất vui vì điều này. Ngày hôm sau chúng tôi mới nhận lại được bài viết để chuyển ra Tổng xã, phản ánh không khí thủ đô và đât nước Campuchia giải phóng!

Lê Cương, Thu và tôi rất vui. Chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần vào những thông tin, hình ảnh đầu tiên về một chiến dịch lịch sử. Các báo ở Việt Nam và nhiều cơ quan Thông tấn bên ngoài đã sử dụng những tư liệu, hình ảnh đó.

Mấy ngày sau, từ các mũi khác, tin và ảnh của các anh em cũng được chuyển về, phản ánh khá bao quát tình hình trên các hướng chính của chiến trường. Thông tấn xã Việt Nam một lần nữa làm được nhiệm vụ của hãng Thông tấn quốc gia trong những thời điểm quan trọng! Sau này Lê Cương có nói với tôi, Phó Tổng biên tập Đỗ Phượng, khi xem lại những tư liệu, hình ảnh của nhóm chúng tôi, đặc biệt là những ảnh các chiến sỹ Campuchia có mũ vải mềm chứ không phải là mũ cối, đã nói theo cách riêng của ông: “Các cậu đã cứu cho Thông tấn xã bàn thua trông thấy!”./.

Bước ra từ lửa đạn chiến tranh, lại lên đường ‘giúp bạn là giúp mình’

Phương Mai – Doãn Đức

Gần bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày đoàn chuyên gia của Thông tấn xã Việt Nam lên đường làm nhiệm vụ quốc tế giúp xây dựng, phát triển hãng Thông tấn Campuchia – Saporamean Kampuchea (SPK) nhưng những ký ức về một thời hào hùng và oanh liệt vẫn vẹn nguyên trong tâm trí nhà báo Nguyễn Quốc Uy – nguyên Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.

“Đó là những năm tháng không thể bị lãng quên,” nhà báo Nguyễn Quốc Uy nhấn mạnh. Khi ấy, cả dân tộc Việt Nam mới bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ với những khó khăn, thiếu thốn chồng chất… Không ít phóng viên, cán bộ Thông tấn xã Việt Nam vừa bước ra từ lửa đạn chiến tranh lại tiếp tục vác balô lên đường với tinh thần “Giúp bạn là giúp mình!”

Nhà báo Nguyễn Quốc Uy là thành viên đoàn chuyên gia của Thông tấn xã Việt Nam tại Campuchia trong thời gian từ năm 1980-1985, Trưởng Cơ quan đại diện Thông tấn xã Việt Nam tại Campuchia trong thời gian 1991-1995.

– Xin ông cho biết tóm tắt quá trình Thông tấn xã Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với Campuchia? Ý nghĩa của việc này đối với quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Campuchia?

Nhà báo Nguyễn Quốc Uy: Khi xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam (1977-1978), chế độ Khmer Đỏ đưa quân xâm lược Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam một mặt nhanh chóng triển khai phóng viên tin, ảnh tác nghiệp tại các mặt trận, mặt khác khẩn trương chuẩn bị lực lượng và phương tiện giúp các lực lượng cách mạng Campuchia nổi dậy lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, thành lập một hãng thông tấn phục vụ nhiệm vụ thông tin tuyên truyền.

Nhà báo Nguyễn Quốc Uy chia sẻ những kỷ niệm trong thời gian cùng đoàn chuyên gia TTXVN thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia.

Ngay trong nửa cuối năm 1978, ban lãnh đạo Thông tấn xã Việt Nam khi đó đã lập xong phương án điều động phóng viên tin, phóng viên ảnh, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý cùng các phương tiện kỹ thuật cần thiết của ngành trên toàn quốc, đồng thời cho triển khai kế hoạch xây dựng các đài thu phát tin, ảnh ở biên giới Tây Nam.

Cuối tháng 12/1978, năm tổ phóng viên được thành lập tại bộ phận thường trú Thông tấn xã Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh,sẵn sàng theo năm cánh quân ra trận trong chiến dịch giải phóng Campuchia.

Một hãng thông tấn muốn hoạt động được thì tối thiểu phải có hai yếu tố: nhân lực và thiết bị kỹ thuật

Cùng thời gian này, Thông tấn xã Việt Nam chuẩn bị sẵn một sơ sở thu phát tin đặt tại Cần Thơ với lực lượng kỹ sư, nhân viên kỹ thuật đủ mạnh cho một hãng thông tấn quốc gia. Một bộ phận quan trọng của Thông tấn xã Việt Nam, đặc biệt là ở phía Nam, chuyển sang chế độ công tác thời chiến.

Ngày 2/12/1978, Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia tổ chức lễ ra mắt tại Snuol (tỉnh Kratie). Ngay ngày hôm sau, nhiều nơi trên thế giới nhận được tin, ảnh về sự kiện này (do Thông tấn xã SPKlần đầu tiên xuất hiện trên làn sóng điện phát đi).

Đó là những tin tức chính thức đầu tiên về những bước ngoặt của cách mạng Campuchia. Ngày 3/12/1978 được lấy làm ngày thành lập SPK, hãng thông tấn gắn liền với sự ra đời của tổ chức cách mạng mang tên Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia. Từ đó, tin tức về những thắng lợi của cách mạng Campuchia được truyền đi kịp thời.

Một hãng thông tấn muốn hoạt động được (dẫu là sơ khai) thì tối thiểu phải có hai yêu tố: nhân lực (phóng viên, biên tập viên, nhân viên kỹ thuật) và thiết bị kỹ thuật (phục vụ việc thu phát tin, ảnh).

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Campuchia thiếu cả hai yếu tố trên. Bởi vậy, toàn bộ hoạt động giai đoạn đầu của SPK đều do Thông tấn xã Việt Nam thực hiện. Cán bộ, phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam mặc quân phục của lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, tác nghiệp với danh nghĩa phóng viên SPK. Tin, ảnh của SPK tuy có xuất xứ từ “vùng giải phóng Campuchia” nhưng đều được bí mật phát đi từ đài phát tin Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) của Thông tấn xã Việt Nam.

Ngày 25/12/1978, năm tổ phóng viên Thông tấn xã Việt Nam (với danh nghĩa phóng viên SPK) được cử đi theo quân tình nguyện Việt Nam và các lực lượng vũ trang cách mạng của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia trong chiến dịch giải phóng Campuchia.

Ngày 7/1/1979, Thủ đô Phnom Penh hoàn toàn giải phóng. Ngay sau đó, Thông tấn xã Việt Nam đã đưa cán bộ và phương tiện kỹ thuật sang Campuchia, giúp xây dựng SPK về mọi mặt.

Anh Dương Phúc Hoan kỹ thuật viên Teletype (Campuchia) và nhà báo Vũ Huy Quang trên đường Monivong
Anh Dương Phúc Hoan kỹ thuật viên Teletype (Campuchia) và nhà báo Vũ Huy Quang trên đường Monivong

Trong 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế (1979-1989), Thông tấn xã Việt Nam đã cử gần 200 phóng viên, biên tập viên, nhân viên kỹ thuật cùng hàng trăm tấn thiết bị vật tư, máy móc… sang Campuchia.

Thông tấn xã Việt Nam đã nỗ lực hết mình để giúp xây dựng SPK thành một hãng thông tấn quốc gia đủ mạnh.

Trong thời gian này, tập thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên Thông tấn xã Việt Nam luôn tận tụy hết mình, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, để lại những tình cảm và ấn tượng tốt đẹp trong lòng cán bộ và nhân dân nước bạn.

Thực tiễn này đã góp phần cụ thể vào việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa hai hãng thông tấn nói riêng và giữa hai nước Việt Nam-Campuchia nói chung.

– Với tư cách là một nhà báo từng có gần 10 năm hoạt động tại Campuchia, ông đánh giá thế nào về sự hợp tác giữa hai hãng thông tấn của hai nước?

Nhà báo Nguyễn Quốc Uy: Có thể nói, mô hình hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam với hãng thông tấn của Lào và Campuchia là hiếm có trong quan hệ hợp tác thông tấn quốc tế. Theo tôi, sự khác biệt lớn nhất nằm ở việc hai bên hoàn toàn tin cậy nhau, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau, cùng vì một mục tiêu chung – góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Từ sau khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ bị lật đổ cho đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam-Campuchia không ngừng được củng cố và ngày càng được tăng cường. Đó vừa là nền tảng vừa là yêu cầu đặt ra để hai hãng thông tấn của hai nước tiếp tục hợp tác, cùng phát triển.

Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, hai thông tấn xã cần tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn nữa, đặc biệt là trong việc phối hợp thông tin.

Đoàn kỹ thuật viên Thông tấn xã Việt Nam sang giúp Campuchia năm 1979. (Ảnh tư liệu do chuyên gia Đỗ Sỹ Mến cung cấp)
Đoàn kỹ thuật viên Thông tấn xã Việt Nam sang giúp Campuchia năm 1979. (Ảnh tư liệu do chuyên gia Đỗ Sỹ Mến cung cấp)

– Câu chuyện nào khiến ông nhớ nhất trong suốt quãng thời gian gần 10 năm sống và làm việc tại Campuchia, thưa nhà báo?

Nhà báo Nguyễn Quốc Uy: Trong gần 10 năm làm báo ở Campuchia, tôi có dịp được đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, thuộc nhiều giới, nhiều thành phần xã hội khác nhau. Tôi đã tận mắt nhìn thấy những hố chôn tập thể với những đống xương người chất cao hàng mét.

Điều tôi cảm nhận rõ nhất chính là nỗi sợ hãi tột cùng của người dân “xứ sở chùa tháp” khi nhắc đến chế độ diệt chủng Pol Pot. Tôi tin rằng, sau gần 40 năm, những người từng chứng kiến sự tàn bạo của chế độ Khmer Đỏ vẫn sẽ rùng mình khi nhớ lại hình ảnh những cánh đồng chết.

– Theo ông, thế hệ trẻ hôm nay của hai hãng thông tấn cần làm gì để phát huy hiệu quả hơn nữa truyền thống tốt đẹp trong mối quan hệ giữa hai hãng thông tấn?

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đón Quốc trưởng Campuchia Samdech Norodom Sihanouk sang thăm chính thức Việt Nam (26/5/1970). Ảnh: Tư liệu TTXVN
Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đón Quốc trưởng Campuchia Samdech Norodom Sihanouk sang thăm chính thức Việt Nam (26/5/1970). Ảnh: Tư liệu TTXVN

Nhà báo Nguyễn Quốc Uy: Số phận đã gắn kết Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng kề sát bên nhau, có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán.

Quan hệ hai nước đã từng trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử. Theo tôi, để những thảm kịch lịch sử không lặp lại, thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm “nắm chặt tay nhau” cùng vun đắp cho mối quan hệ láng giềng hữu nghị giữa hai nước.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Giải phóng Phnom Penh và câu chuyện về giáo sư trong nhà tù Khmer Đỏ

Hùng Võ – Doãn Đức

Từng có mặt trong chuyến công tác đặc biệt, theo một trong 5 cánh quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ năm 1979 lịch sử, nhà báo Vũ Xuân Bân không khỏi bồi hồi nhớ về những ngày tháng gian khổ. Ký ức về thời hoa lửa chưa một ngày phai mờ trong tâm trí ông, đặc biệt trong năm kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt Nam-Campuchia (24/6/1967-24/6/2017).

Tất cả lại rạo rực sống dậy tràn đầy, vẹn nguyên.

Chính ông là phóng viên đầu tiên phát hiện ra Nhà tù Toul Sleng “địa ngục trần gian” ở thủ đô Phnom Penh (Campuchia), bằng chứng vạch trần sự tàn bạo, dã man không thể chối cãi dưới chế độ diệt chủng Khmer Đỏ do Pol Pot cầm đầu.

Nguyên là biên tập Tin trong nước TTXVN đã nghỉ hưu cách đây gần 7 năm, ông Bân là thuộc lớp phóng viên GP10, từng là phóng viên chiến trường, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).

Sau đó, ông được cử làm đặc phái viên TTXVN tại biên giới Tây Nam từ tháng 9/1977, chuyên gia TTXVN giúp Thông tấn xã Campuchia SPK (nay là AKP) trong những năm 1978-1979.

Các nạn nhân của Khmer Đỏ.
Các nạn nhân của Khmer Đỏ.

Lại “vào sinh ra tử”

Ngay sau ngày giải phóng miền Nam, trong khi nhiều đồng nghiệp hân hoan với niềm vui đoàn tụ với gia đình, Vũ Xuân Bân lại phải tiếp tục từ biệt người vợ trẻ, từ biệt cha mẹ già, rong ruổi làm phóng viên mặt trận, bảo vệ biên giới Tây Nam, góp phần giúp nước bạn Campuchia vùng dậy, lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.

Ở tuổi 28, thêm một lần nữa đối diện với chiến tranh, trước hòn tên, mũi đạn, sống chết không biết thế nào, nhưng Vũ Xuân Bân không nản chí.

“Hôm tiễn 5 tổ phóng viên đi theo 5 mũi tấn công của quân tình nguyện Việt Nam để đưa tin, chụp ảnh giúp quân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng, cán bộ nhân viên Cơ quan đại diện TTXVN tại Thành phố Hồ Chí Minh tiễn đưa chúng tôi lên đường đã òa khóc. Thú thực, lúc đó tôi cũng lo, xúc động nhưng nghĩ nhiệm vụ được giao, nên vội gạt bỏ cảm xúc để lên đường,” ông Bân nhớ lại.

Sau nhiều ngày theo cánh quân tình nguyện Quân khu 7 để đưa tin giúp bạn giải phóng các tỉnh Đông Bắc Campuchia vừa tiến vào thị xã Kratie, vừa hoàn thành bài viết “Những giờ phút đầu tiên giải phóng thị xã Kratie” kịp gửi về Tổng xã SPK và TTXVN, chưa kịp nghỉ ngơi, gần cuối buổi chiều ngày 7/1/1979, ông Bân lại được lệnh trở về Thành phố Hồ Chí Minh ngay trong đêm để nhận nhiệm vụ mới.

Nhà báo Vũ Xuân Bân nhớ lại giây phút phát hiện Nhà tù Toul Sleng ở thủ đô Phnom Penh

Không quản ngại hiểm nguy, chiếc xe Jeep cao gầm mang biển kiểm soát 50B-7289 tức tốc băng rừng đưa nhóm phóng viên đi theo cánh quân Quân khu 7 trở về Thành phố Hồ Chí Minh nhận nhiệm vụ.

Sau nhiều tiếng đồng hồ trắng đêm băng rừng, với tâm thế sẵn sàng chiến đấu, từ thị xã Kratie, ông Bân đã về đến Thành phố Hồ Chí Minh lúc nửa đêm. Sau khi báo cáo với lãnh đạo và nhận nhiệm mới, sáng sớm 8/1/1979, chiếc xe Jeep do đồng chí Bùi Lương Duyên lái lại tức tốc lên đường, tiếp tục đưa ông Bân cùng phóng viên ảnh Văn Sắc ngược Quốc lộ 22 lên Tây Ninh rồi qua cửa khẩu Mộc Bài hướng tới bến phà Neak Loeung để về Phnom Penh.

“Thỉnh thoảng chúng tôi lại bắt gặp những chiếc sọ người như bình vôi vương vãi khắp nơi”

“Từng chứng kiến ngay từ những ngày đầu, lực lượng vũ trang và nhân dân ta ở vùng biên giới Tây Ninh đã vô cùng gian khổ, vất vả, thường trực chiến đấu ngăn chặn sự gây hấn và xâm lấn của lính Pol Pot, khi vượt qua cửa khẩu Mộc Bài đặt chân sang đất bạn, trong lòng mỗi chúng tôi đều bồi hồi khó tả,” ông Bân chia sẻ.

Theo lời kể của ông Bân, Campuchia dưới thời diệt chủng Khmer Đỏ do Pol Pot cầm đầu là một xã hội trại lính đóng kín, xa lánh với thế giới bên ngoài, không chợ, không có trường học, không tiêu tiền… Bắt đầu từ Bavet, cách cửa khẩu Mộc Bài gần 20km thuộc tỉnh Svai Rieng, “Cánh đồng chết” hiện ra trước mắt. “Thỉnh thoảng chúng tôi lại bắt gặp những chiếc sọ người như bình vôi vương vãi khắp nơi, đó là những nạn nhân bị bọn đao phủ Pôn Pốt hành quyết không được chôn cất. Cái tên “Cánh đồng chết” là bằng chứng về tội ác man rợ của chế độ diệt chủng Pol Pot.

Phóng viên Vũ Xuân Bân tranh thủ viết bài “Trên đường về Thủ đô Phnom Penh ngày 8/1/1979.” (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên Vũ Xuân Bân tranh thủ viết bài “Trên đường về Thủ đô Phnom Penh ngày 8/1/1979.” (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Từ tuyến phòng thủ đầu tiên của Pol Pot, trước sức tấn công như vũ bão, đối phương không kịp trở tay nên đã tháo chạy trước khi quân tình nguyện Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh. Bè lũ Pol Pot, kể cả đoàn ngoại giao gồm đại sứ một số nước “chí cốt” với chúng cũng đã rút khỏi Phnom Penh bằng đường sắt và đường bộ theo hướng biên giới Thái Lan.

Phnom Penh những ngày đầu giải phóng không có dân, hạ tầng cơ sở bị phá hủy hoặc bị bỏ hoang phế không khác gì “thành phố chết.” Những ngày sau đó, biết Phnom Penh giải phóng, người dân bị bè lũ Pol Pot xua đuổi ra khỏi thành phố lũ lượt kéo về, thu dọn chiến trường, dựng lại nhà cửa từ những đống đổ nát. “Ngay sau khi rời trụ sở Ủy ban Quân quản, tôi bắt tay vào viết ngay tin đầu tiên,” ông Bân nhớ lại nói. Dưới ánh đèn điện máy nổ Honda 2KW, những gì vừa quan sát được và những ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban Quân quản Khang Sarin về khẩn trương khôi phục Thủ đô Phnom Penh, đã được phóng viên Vũ Xuân Bân thể hiện lại trên hai trang giấy khổ A4. Bài viết sau đó nhanh chóng được điện báo viên dùng máy liên lạc vô tuyến 15W chuyển mã bằng tín hiệu “tích tè” về cho SPK và Tổng xã TTXVN để cung cấp cho các phương tiện thông tin đại chúng sử dụng, chuyển tải đến công chúng. Ngay sau khi gửi xong bài viết, ông Bân mới thở phào nhẹ nhõm, kết thúc ngày đầu tiên (8/1/1979) vào Phnom Penh đã có bài viết kịp thời, xứng đáng với niềm tin của cơ quan gửi gắm vào những phóng viên mũi nhọn mỗi khi có sự kiện đột xuất khẩn trương, nhất là trong những lúc thử thách “vào sinh ra tử.” Những ngày sau đó, phóng viên Vũ Xuân Bân đều có tin, bài đều đặn về khôi phục sân bay quốc tế Pochentong, các nhà máy điện, nước, bệnh viện, đài phát thanh… trong đó đáng nhớ nhất là tin “Điện lại bừng sáng tại Thủ đô Phnom Penh”… được bạn đọc và dư luận xã hội rất quan tâm đến sự hồi sinh của Campuchia.

Phát hiện “địa ngục trần gian S21”

Hầu hết các nạn nhân bị hành quyết bằng cuốc chim để tiết kiệm đạn, và bị chôn trong những ngôi mộ tập thể.
Hầu hết các nạn nhân bị hành quyết bằng cuốc chim để tiết kiệm đạn, và bị chôn trong những ngôi mộ tập thể.

Trong khi chờ đợi đón đại quân SPK về Thủ đô Phnom Penh và đoàn chuyên gia TTXVN sang giúp SPK, phóng viên Vũ Xuân Bân được các chiến sĩ Quân quản Thủ đô Phnom Penh đưa đến một trường học bị bỏ hoang, xung quanh tường bao bọc dây thép gai, bốn góc xung quanh khu vực này đều dựng vọng gác khác thường.

“Thật là hãi hùng vì mùi tanh tưởi bốc lên nồng nặc. Gian phòng đầu tiên tôi bước vào còn chỏng trơ một chiếc giường sắt xộc xệch dính bê bết máu, trên tường còn lưu 4 ảnh chân dung 9x12cm có đánh số tù, trong đó có cả trẻ em. Không khí chết chóc bao trùm khu vực này làm tôi cảm thấy rờn rợn,” ông Bân kể. Trong khi đó, một số phòng bên cạnh còn cả xác chết từ lâu đã khô, đen thui. Hai chiến sĩ quân quản dẫn đường, súng AK47 lăm lăm trong tay luôn theo sát bảo vệ phóng viên Vũ Xuân Bân. Bỗng nhiên các anh đứng sững lại: “Hình như có người đến.” Trong giây lát, một ông già người Campuchia gầy yếu, còm nhom như suy dinh dưỡng xuất hiện. Ông nói được tiếng Pháp. Ông Bân kể tiếp, biết đoàn là bộ đội Việt Nam, ông già rất mừng bày tỏ: “Các ông đã cứu chúng tôi khỏi họa diệt chủng!. Bọn đao phủ Pol Pot đã rút khỏi nơi đây cả tuần nay, bỏ mặc cha con chúng tôi ở lại khu địa ngục trần gian này. Sau đó, ông mời đoàn đến ngôi nhà bên cạnh giới thiệu rằng mình từng tốt nghiệp Tú tài toàn phần tại trường College Chasseloup Laubat tại Sài Gòn thời Đông Dương thuộc Pháp (nay là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn-Thành phố Hồ Chí Minh, tức tốt nghiệp lớp 12). Tôi thuộc lòng Truyện Kiều của Việt Nam.” “Tôi là Yit Kim Seng – giáo sư, bác sĩ, trông coi sức khỏe bọn cai ngục trại giam này. Đây nguyên là trường Trung học Chao Ponhea Yat. Bè lũ Pol Pot đã biến nơi đây thành Nhà tù Toul Sleng (còn gọi là S21) và là Trung tâm thẩm vấn, tra khảo những ‘kẻ thù của cách mạng’ sau khi chiếm được Phnom Penh.”

Giáo sư-bác sỹ Yit Kim Seng và con trai ông trước ngôi nhà cũ ở thủ đô Phnom Penh sau ngày giải phóng tháng 1/1979. (Ảnh: Nhà báo Vũ Xuân Bân/TTXVN cung cấp) 
Giáo sư-bác sỹ Yit Kim Seng và con trai ông trước ngôi nhà cũ ở thủ đô Phnom Penh sau ngày giải phóng tháng 1/1979. (Ảnh: Nhà báo Vũ Xuân Bân/TTXVN cung cấp) 

Vẫn theo lời ông Yit Kim Seng, từ tháng 4/1975 đến tháng 1/1979, có khoảng 17.000 người (một số tài liệu nói có đến 20.000 người) bị giam cầm và tra tấn đến chết tại Tung Sleng. Phần lớn tù nhân là cán bộ và binh lính Khơme đỏ bị quy là mắc tội làm gián điệp cho địch hoặc bị quy tội có âm mưu lật đổ Pol Pot.

Trong số tù nhân bị giam cầm tại Nhà tù Toul Sleng còn có nhiều nhân vật cao cấp của Khmer Đỏ… là những người bất đồng với chế độ cai trị hà khắc của bè lũ Pol Pot. Ngoài ra, còn có một số người Việt, Lào, Ấn Độ, Pakistan, Anh, Mỹ, New Zealand và Australia. Chỉ có một số ít thoát chết…

Từ thông tin ghi nhận được tại hiện trường và qua lời kể của ông Yit Kim Seng, sau khi rời nhà tù Toul Sleng về nơi đóng quân, phóng viên Vũ Xuân Bân đã viết ngay tin “Phát hiện Nhà tù Toul Sleng – Địa ngục trần gian ngay giữa Thủ đô Phnom Penh.”

“ Đây là thông tin phát hiện đầu tiên về bằng chứng tội ác tày trời của bè lũ diệt chủng Pol Pot ở Trung tâm thẩm vấn, tra tấn Toul Sleng qua lời kể của bác sĩ Yit Kim Seng. Sự thật chứng minh tội ác tày trời mà bè lũ Pol Pot không thể chối cãi,” ông Bân khẳng định.

Thông tin do phóng viên Vũ Xuân Bân phản ánh ngay sau đó được phát trên bản tin thời sự của SPK và TTXVN, gây xúc động, phẫn nộ của lương tri, sự chú ý của dư luận ở Campchia và quốc tế. Từ thông tin này, nhiều đoàn khách quốc tế, nhất là báo giới các nước có dịp đến Phnom Penh trong những năm đầu thoát khỏi họa diệt chủng cũng như bây giờ đều đến thăm “Nhà tù Toul Sleng” – Chứng tích tội ác của Khmer Đỏ.

“Còn về phần tôi, thông tin phát hiện về tội ác diệt chủng ghê rợn tại Nhà tù Toul Sleng ở Phnom Penh cứ lắng đọng trong trí nhớ từ đó cho đến nay và có lẽ không bao giờ quên. Có người hỏi, cảm giác của tôi lúc bước vào đó thế nào? Thú thực là lúc đầu tôi cũng lo sợ, nhưng đã là phóng chiến trường thì việc được đi vào điểm nóng đó là sự kỳ vọng, trọng trách lớn,” ông Bân xúc động nói.

Một lãnh đạo Khmer Đỏ nói phải “thanh lọc quần chúng” và các vụ giết người bắt đầu.
Một lãnh đạo Khmer Đỏ nói phải “thanh lọc quần chúng” và các vụ giết người bắt đầu.

Thời gian cứ thế lẳng lặng trôi qua với biết bao gian khổ, hiểm nguy, sau hơn 2 năm “vào sinh ra tử,” làm phóng viên đưa tin về bảo vệ biên giới Tây Nam, rồi làm phóng viên thường trú, chuyên gia cho Thông tấn xã SPK, đến tháng 9/1979, phóng viên Vũ Xuân Bân rời Campuchia về nhận công tác tại Ban Biên tập Tin trong nước TTXVN cho đến khi nghỉ hưu.

“… đã là phóng chiến trường thì việc được đi vào điểm nóng là sự kỳ vọng, trọng trách lớn”

Giờ đây, sau gần 40 năm gắn bó với TTXVN, ông Bân đã nghỉ hưu, nhưng trong tâm trí ông vẫn vấn vương những kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời làm phóng viên, chứng kiến chiến thắng vang dội 30/4/1975, hành quân ra trận bảo vệ biên giới Tây Nam và làm chuyên gia giúp nước bạn Campuchia.

“Hy vọng một ngày nào đó, tôi lại có dịp trở lại đất nước Campuchia để chứng kiến sự hồi sinh mạnh mẽ sau khi lật đổ chế độ Khmer Đỏ, thoát khỏi họa diệt chủng. Đất nước Chùa Tháp đang ngày một phát triển với sự quyến rũ của các di tích lừng danh như Angkor Wat, Angkor Thom,” ông Bân chia sẻ./.

Những bản tin tự do đầu tiên phát đi dưới tiếng vọng rền đại pháo

Hồng Kiều – Doãn Đức

Chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot ngày 7/1/1979 đã hồi sinh đất nước Chùa Tháp, nhân dân Campuchia khép lại trang đen tối nhất trong lịch sử và mở ra một kỷ nguyên mới độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Những dòng tin, hình ảnh chiến thắng giải phóng dân tộc của Campuchia được nhanh chóng truyền đi khắp thế giới. Thế nhưng ít ai biết được rằng, những bản tin tuyên bố tự do đầu tiên được phát từ trên đất Campuchia ra thế giới lại chính do các cán bộ kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam thực hiện.

Những “cán bộ SPK” đầu tiên

Đã gần 40 năm kể từ những ngày giáp Tết Nguyên đán năm 1979, đoàn chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam khẩn trương lên đường xây dựng Thông tấn xã Campuchia (SPK). Những ngày tháng ấy dường như vẫn còn in đậm trong tâm trí mỗi chuyên gia kỹ thuật của Thông tấn xã Việt Nam.

Ngay sau ngày Campuchia được giải phóng 7/1/1979, ông Trương Việt Cường, nguyên Trưởng phòng Kỹ thuật, Cục Kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam là cán bộ kỹ thuật đầu tiên của Thông tấn xã Việt Nam gấp rút lên máy bay trực thăng sang Campuchia để bắt đầu hỗ trợ xây dựng SPK.

Lần giở những trang nhật ký công tác từ cuối năm 1978 đến năm 1991, những kỷ niệm sâu sắc về những ngày tháng làm việc tại Campuchia lại tái hiện rõ ràng trong tâm trí ông Trương Việt Cường: “Ngày đầu tôi đến Phnom Penh, những dãy phố im lìm xơ xác, vẫn còn ngổn ngang trên đường những đám cháy, hậu quả của một thành phố chết chóc vừa trải qua cuộc chiến tranh. Thỉnh thoảng, đâu đó vẫn còn tiếng vọng rền của đại pháo.”

Ông Vũ Quang Huy nhớ lại những ngày tháng tham gia xây dựng Hãng thông tấn SPK 

“Việc đầu tiên của chúng tôi là xác định trụ sở cho hãng thông tấn. Trục đường Monivong rộng thênh thang, nhà cao, biệt thự nhiều nhưng đó chỉ là những cư xá, khách sạn, khu buôn bán. Chúng tôi tạm chọn địa điểm trụ sở là khu nhà 3 tầng của Hãng Hàng không Khmer,” ông Trương Việt Cường kể lại.

Trong khi ông Cường và các cán bộ chủ chốt đang xây dựng trụ sở SPK tại Campuchia thì ở Việt Nam đội ngũ cán bộ kỹ sư cốt cán cùng hàng chục tấn máy móc, thiết thị cũng ngay lập tức vượt hàng trăm cây số đường bộ tới Phnom Penh. Những cán bộ được cử sang ngày ấy đều là những cán bộ kỹ thuật, phóng viên, biên tập viên “đầu đàn,” ưu tú nhất của Thông tấn xã Việt Nam sang giúp xây dựng SPK.

Sau giải phóng, Phnom Penh vắng lặng không một bóng người dân, nhiều tòa nhà, thiết bị kỹ thuật đã bị quân Pol Pot gài mìn phá hỏng trước khi chạy trốn hòng ngăn cản việc tái thiết xây dựng Campuchia. Khó khăn lớn nhất là nhà máy điện Phnom Penh chưa hoạt động, không có điện, mọi thiết bị kỹ thuật dường như đều bị vô hiệu hóa. Các cán bộ kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam nhận thức được những khó khăn phải đối diện nên ngay khi đặt chân đến Phnom Penh đã bằng mọi cách, sáng tạo sửa chữa nguồn điện để sẵn sàng cho việc phát đi thông tin chiến thắng từ chính trên mảnh đất Campuchia.

Ông Vũ Huy Quang vẫn còn giữ lại quyển sổ ghi lại những ngày cuối cùng của đài thu phát chế độ Pol Pot để làm kỷ niệm. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Ông Vũ Huy Quang vẫn còn giữ lại quyển sổ ghi lại những ngày cuối cùng của đài thu phát chế độ Pol Pot để làm kỷ niệm. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Lên đường vào thành phố Hồ Chí Minh để chuẩn bị máy móc sẵn sàng sang Campuchia từ tháng 12/1978 mà chưa kịp nhìn mặt con trai mới sinh, ông Vũ Quang, Nguyên Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật của Thông tấn xã Việt Nam, một thành viên trong đoàn chuyên gia Thông tấn xã Việt Nam nhớ lại: “Ngay khi đặt chân đến Phnom Penh sau một chặng đường dài mệt mỏi, chúng tôi ngay lập tức bắt tay vào làm việc liên tục suốt 48 giờ để lắp ghép máy móc, hoàn thành đường truyền thông tin về Hà Nội.”

Ông Vũ Huy Quang vừa chỉ tay vào cuốn sổ ghi chép ca trực cuối cùng của đài Pol Pot, kỷ vật khi tiếp nhận nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống kỹ thuật cho SPK vừa nói: “Chúng tôi có nhiệm vụ xây dựng cơ quan trên cơ sở một trạm phát sóng của quân Pol Pot. Thế nhưng, máy thu phát lại chỉ để liên lạc trong khoảng ngắn tới Bangkok nên máy móc quân Pol Pot để lại không sử dụng được. Chúng tôi phải dựng lại toàn bộ hệ thống ăngten, máy truyền phát…”

Ngay từ những bản tin đầu tiên của SPK, tin, ảnh về chiến sự trên các mặt trận, đặc biệt là tin các địa phương ở Campuchia lần lượt được giải phóng phát đi đều ghi nguồn từ các “phóng viên SPK” nhưng thực tế chính là các phóng viên Thông tấn xã Việt Nam thực hiện. Chính việc thông tin rộng rãi này đã góp phần cổ vũ quân dân Campuchia và bộ đội tình nguyện Việt Nam đang trên đà tấn công như vũ bão, với đích cuối cùng là giải phóng hoàn toàn Campuchia.Mỗi thông tin, hình ảnh được gửi về đều được đánh đổi bằng sự mạo hiểm dấn thân vào hiểm nguy và thậm chí cả bằng xương máu của những người đồng nghiệp. Chính vì lẽ đó, các chuyên gia kỹ thuật của Thông tấn xã Việt Nam ra sức hết mình hoàn thành “cầu nối” thông tin, để mỗi thông tin, hình ảnh của những người đồng nghiệp gửi về được phát đi kịp thời, nhanh chóng, không bị gián đoạn. Họ đã không phụ công những đồng nghiệp dũng cảm vượt qua lửa đạn, tác nghiệp trên khắp mọi mặt trận.

“Những bản tin tuyên bố tự do đầu tiên được phát từ trên đất Campuchia… lại chính do các cán bộ kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam thực hiện”

Chỉ vài ngày sau giải phóng, hệ thống thu phát dưới những trí óc sáng tạo, bàn tay khéo léo của các chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam đã hoạt động ngay lập tức và không hề bị gián đoạn. Thông tin các hãng thông tấn lớn trên thế giới đều đã đến được Phnom Penh qua máy thu SPK, những hình ảnh, tin của phóng viên về tình hình tại Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nam Campuchia cũng được phát ra thế giới. Các kỹ sư Thông tấn xã Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng “cầu nối” thông tin giữa Campuchia và thế giới.

“Chúng ta có gì thì bạn có cái đó”

Những thông tin, hình ảnh phóng viên ghi lại ở Campuchia được phát ra thế giới là minh chứng hùng hồn cho chiến thắng của người dân Campuchia. Những tín hiệu được SPK phát đi từ Phnom Penh là do những chuyên gia Thông tấn xã Việt Nam thực hiện. Họ cũng chính là cán bộ đầu tiên của SPK.

Kỹ sư Điện Nguyễn Quang San và ông Vũ Huy Quang ở cửa ga xe lửa Phnom Penh. (Ảnh: Vũ Huy Quang/TTXVN cung cấp)
Kỹ sư Điện Nguyễn Quang San và ông Vũ Huy Quang ở cửa ga xe lửa Phnom Penh. (Ảnh: Vũ Huy Quang/TTXVN cung cấp)

Không chỉ đưa những nhân lực cốt cán sang, Thông tấn xã Việt Nam còn quyết “nhường cơm sẻ áo” để hỗ trợ những máy móc giá trị cho Campuchia. Những máy thu phát sóng, thiết bị kỹ thuật đắt tiền nhất mà Việt Nam có vào thời ấy cũng đều được gửi sang để xây dựng SPK. Ông Vũ Huy Quang bồi hồi nhớ lại: “Thời điểm đó, cả Việt Nam chỉ có khoảng 10 chiếc máy phát sóng ngắn 5Kw, Thông tấn xã Việt Nam cũng chỉ có 5 chiếc nhưng ta vẫn quyết định mang sang cho bạn 1 chiếc. Với phương châm, Thông tấn xã Việt Nam có cái gì thì SPK có cái đó, chúng ta mang đầy đủ máy móc, nhân lực của một ‘Thông tấn xã Việt Nam thu nhỏ’ sang Camphuchia để xây dựng SPK. Chỉ trong vòng gần 1 tháng, đến cuối tháng 1/1979, đã có gần 100 cán bộ, chuyên viên, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên và nhân viên thuộc tất cả các bộ phận của Thông tấn xã Việt Nam được đưa sang Campuchia.”

“Trong điều kiện đất nước đang bị bao vây, cấm vận, áp lực từ khắp các phía mà ta vẫn đốc hết sức người, sức của để giúp bạn thì tôi nghĩ đó là sự giúp đỡ vô giá, không chỉ là về xương máu,” ông Vũ Huy Quang khẳng định.

“Thời điểm đó, cả Việt Nam chỉ có khoảng 10 chiếc máy phát sóng ngắn 5Kw, Thông tấn xã Việt Nam cũng chỉ có 5 chiếc nhưng ta vẫn quyết định mang sang cho bạn 1 chiếc”

Không chỉ giúp đỡ về máy móc và nhân lực, để có thể dần dần bàn giao việc vận hành các thiết bị kỹ thuật cho người Campuchia, Thông tấn xã Việt Nam còn nhanh chóng tiến hành đào tạo 3 kỹ tư trong 2 năm để họ trở về Camphuchia làm việc tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật trong suốt những năm sau giải phóng. Sau này, họ đều trở thành những cán bộ chủ chốt điều hành SPK.

Đoàn chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam sang Camphuchia ngày ấy phần lớn đều ở tuổi trên dưới 30. Lên đường với sự hăng hái, nhiệt tình và tuổi trẻ, họ đã để lại nhưng giọt mồ hôi và cả xương máu cho sự trưởng thành lớn mạnh của cơ quan thông tấn nước bạn.

Những năm tháng gian lao nhưng đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ đó còn rõ như in trong tâm trí ông Trương Việt Cường: “Phụ cấp ngày ấy của chuyên gia chỉ 5 riel/tháng, chỉ đủ mua bao thuốc lá, chế độ ăn ở được cung cấp từ Thành phố Hồ Chí Minh sang. Có những đợt nước sông to, đường hỏng, sự cố xe… xe tiếp tế không sang được, cả tuần anh chị em chuyên gia ăn cá khô mặn với canh nõn chuối nhưng vẫn hăng say làm việc suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng không có ngày nghỉ Chủ nhật, nghỉ lễ Tết. Ngày làm việc, đêm lại phân công nhau trực máy và vác súng tuần tra canh gác bảo vệ cơ sở.”

Suốt gần 3 năm cùng đồng đội giúp hỗ trợ kỹ thuật cho SPK, ông Trương Việt Cường đã phát hàng nghìn tin, bài, hàng vạn giờ thu tin, hàng nghìn tấm ảnh. Hơn ai hết, ông Trương Việt Cường là người hiểu rõ và chứng kiến hành trình từ “tay không” SPK (nay là AKP) đã trở thành một hãng thông tấn có uy tín trong khu vực.

“Thành quả đó có được đều là nhờ sự giúp đỡ hết mình của lãnh đạo Thông tấn xã Việt Nam và các cán bộ đã không tiếc mồ hôi, xương máu làm việc với tinh thần ‘giúp bạn là giúp mình’,” ông Trương Việt Cường bồi hồi nói.

Nhà báo Vũ Quang Huy tại Chùa Wat Phnom đầu năm 1979
Nhà báo Vũ Quang Huy tại Chùa Wat Phnom đầu năm 1979

Mường tượng lại những ngày tháng tuổi trẻ đã ở lại trên mảnh đất Campuchia, ông Vũ Huy Quang kể: “Chúng ta đã mang rất nhiều thứ sang, thậm chí cả sinh mạng để đem lại tự do cho nhân dân Campuchia. Thế hệ chúng tôi, những người đã đổ xương máu tại đây không thể quên được những ngày tháng ấy. Suốt trong những ngày gian khó, nguy hiểm rình rập, chúng tôi hăng say làm việc hết mình với niềm tin sẽ giúp đẩy cuộc chiến tranh ra xa khỏi đất nước mình. Đây cũng là bài học vô giá cho các thế hệ về việc gìn giữ hòa bình.”

Gần 40 năm sau ngày lên đường sang Campuchia hỗ trợ bạn xây dựng SPK, nhiều chuyên gia đã “đi xa” mà không kịp nhận tấm duy hiệu cao quý “Vì nghĩa vụ quốc tế” của Thủ tướng trao tặng cho các cựu chuyên gia.

Tuổi trẻ dũng cảm, sôi nổi, hăng say làm việc, các chuyên gia kỹ thuật Thông tấn xã Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp bạn xây dựng SPK vì nghĩa vụ quốc tế cao cả./.

Nhà báo Huy Thịnh: ‘Những năm tháng can trường giúp bạn Campuchia’

Phạm Mai – Doãn Đức

Năm 1980, 24 cán bộ-phóng viên Thông tấn xã Việt Nam và một số cơ quan khác được điều động vào Thành phố Hồ Chí Minh theo học một lớp tiếng Khmer cấp tốc, chuẩn bị cho một sứ mệnh lịch sử.

Lớp học do Thông tấn xã Việt Nam tổ chức, giáo viên là một cán bộ của Thông tấn xã Campuchia (SPK). Lớp học kín cả sáng, cả chiều, liên tục trong 5 tháng. Học viên cùng “đánh vật” theo đúng nghĩa đen của từ này bởi hình thức văn tự rất khó của người Campuchia: phụ âm ở giữa, nguyên âm được bố trí ở bốn mặt, lại còn có chân phụ âm có giá trị như phụ âm.

“Sau 5 tháng, 24 người học nhưng chỉ có 4 người có thể sử dụng được. Chúng tôi được sang Phnom Penh đi thực tế. Và với tôi, từ đó, những con đường thiên lý ở xứ sở một thời diệt chủng này bắt đầu, ” nhà báo Phùng Huy Thịnh bồi hồi nhớ lại.

Phóng viên Huy Thịnh đã có 9 năm gắn bó với nước bạn ở thời điểm khó khăn nhất, từng là chuyên gia Thông tấn xã Việt Nam giúp Thông tấn xã Campuchia SPK và phóng viên Thông tấn xã Việt Nam thường trú tại Campuchia từ năm 1980 đến 1989.

Kề cận tử thần

Đất nước Campuchia dưới sự tàn phá của chế độ diệt chủng Pol Pot hoang tàn và đổ nát mãi là hình ảnh không thể quên với nhà báo Phùng Huy Thịnh khi lần đầu tiên đặt chân đến đất nước này. Mọi thứ đều thiếu thốn, môi trường ô nhiễm. Ăn đói là chuyện thường, thậm chí phải ăn xoài trừ bữa. Nước múc dưới sông đục ngầu, lọc qua cát sỏi để uống. Thậm chí, nếu vào mùa khô, kiếm được một ngụm cũng không dễ dàng.

Điều kiện tác nghiệp cũng hết sức khó khăn khi không có điện. Để gửi được bài về tổng xã, phóng viên, kỹ thuật viên quay mỏi tay lại nằm ngửa đạp ragônô phát điện.

Nhà báo Huy Thịnh bồi hồi nhớ về những năm tháng công tác trên đất bạn Campuchia. 

Nhưng những khó khăn về vật chất không phải vấn đề lớn với những phóng viên Thông tấn xã Việt Nam vì khi đó, trong nước cũng rất nghèo. Thách thức lớn nhất là những hiểm nguy luôn rình rập trên từng cung đường tác nghiệp, khi tàn quân Pol Pot vẫn còn và là những tay du kích bắn tỉa.

Nhà báo Huy Thịnh chia sẻ, quốc lộ của bạn khi đó bị băm nát trong chiến tranh, xấu đến mức xe ôtô không khi nào đi được quá 20km/giờ. Và khi đi quá chậm thì bất cứ lúc nào cũng có thể “ăn” một phát đạn B40, B41 của đám tàn quân Pol Pot vốn rất thiện chiến. Phóng viên vì thế không chỉ có sổ, bút, mà lúc nào cũng lẽo nghẽo bên mình hai khẩu súng, AK và K54, cùng ba băng đạn.

Phùng Huy Thịnh vẫn nhớ lần đi làm tin bầu cử hội đồng nhân dân ở Kampong Cham. Đường xấu, chiếc xe Volga chỉ đi được 15km/giờ nhưng sợ Pol Pot tấn công nên phải đi với tốc độ 60km/h, ngồi trong mà đầu bật lên trần xe biêu thành cục. Tại điểm bầu cử ở Kampong Chhnang năm 1982, đoàn cán bộ Thông tấn xã sau khi làm tin xong rút ra bìa rừng thì tàn quân Pol Pot lợi dụng trời tối nã súng cối vào doanh trại.

Nhưng những khó khăn về vật chất không phải vấn đề lớn với những phóng viên Thông tấn xã Việt Nam vì khi đó, trong nước cũng rất nghèo

Từng là bộ đội chiến đấu trực tiếp với kẻ địch trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1972-1974, nhưng nhà báo Phùng Huy Thịnh kể, ngay cả lúc đạn pháo bay rát bên tai, ông vẫn không có cảm giác gai người như khi ở Campuchia. Bởi, trong chiến tranh, kẻ thù ở phía trước mặt, sau lưng là đồng đội. Khi trận chiến tạm dừng, mình yên tâm vì bên cạnh là anh em đồng chí. Nhưng ở Campuchia, trên những đoạn đường tác nghiệp, thật khó đoán chắc ai không phải là tàn quân Pol Pot.

Dù lúc nào cũng trong tình thế rất nguy hiểm nhưng những phóng viên Thông tấn xã Việt Nam vẫn can trường để giúp bạn. Nhà báo Phùng Huy Thịnh cùng với đồng nghiệp và phía bạn khi thì Sao Koul – Trưởng ban Tin trong nước, khi thì Phó Tổng Giám đốc Su Mean, một phóng viên SPK và một lái xe, luôn đồng hành trên chiếc xe UAZ chứa hai phuy xăng, mỗi phuy 200 lít, rong ruổi muôn dặm đường xa chùa tháp, bất chấp việc kề cận tử thần.

“Tình anh em rất đỗi tự nhiên”

Khó khăn và nguy hiểm, nhưng nhà báo Huy Thịnh bảo chính những hoàn cảnh ấy đã càng gắn kết những người bạn Việt Nam-Campuchia thân thiết như anh em.

Nhà báo Phùng Huy Thịnh (phải) và các đồng nghiệp nước ngoài ở Campuchia (Ảnh: Nhân vật cung cấp)  
Nhà báo Phùng Huy Thịnh (phải) và các đồng nghiệp nước ngoài ở Campuchia (Ảnh: Nhân vật cung cấp)  

“Đối mặt với hy sinh từng giờ từng phút, nhưng chúng tôi vẫn giúp bạn rất nhiệt tình. Mình và bạn chia sẻ, có ăn cùng ăn, chén nước chia đôi, một tình cảm anh em rất đỗi tự nhiên,” nhà báo kỳ cựu chia sẻ.

Ông cho biết: “Tôi đặc biệt yêu quý Sao Koul, Trưởng ban Tin trong nước của bạn, có gương mặt rỗ hoa nhưng rất đằm tính. Anh bổ túc tiếng Khmer cho tôi, còn tôi dạy anh tiếng Việt và phương thức phóng viên Thông tấn xã.”

“Sao Koul chăm sóc chúng tôi như bạn hữu chí thiết, lại như người anh bao bọc các em. Còn tôi cũng giúp anh rất nhiều về chuyên môn nghiệp vụ mà nhờ đó anh trưởng thành,” nhà báo kỳ cựu nhớ lại.

Những năm tháng gắn bó với đất nước Campuchia, được tiếp xúc với nền văn hóa đặc biệt này, nhà báo Phùng Huy Thịnh không chỉ chia sẻ với bạn về nghiệp vụ báo chí mà cả tình yêu văn học.

Ông đã dịch rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của Campuchia như truyện cổ tích, truyện thiếu nhi, truyện ngắn, thơ… Và tiêu biểu nhất phải kể đến trường ca Tung Tiêu dài 4.024 câu thơ. Những tác phẩm văn học ấy lại làm nhịp cầu kết nối những trái tim yêu văn học Việt Nam-Campuchia.

Xa nước bạn đã gần 30 năm, nhưng nhắc lại những năm tháng dài dặc xa Tổ quốc, xa gia đình để một dạ thủy chung cùng bạn, nhà báo Phùng Huy Thịnh vẫn rất xúc động.

“Người Việt Nam đã giúp người Campuchia hết mình để họ thoát khỏi nạn diệt chủng và khôi phục lại đất nước. Và chúng tôi đều tự hào về những năm tháng giúp bạn vô tư, đầy trách nhiệm, hết lòng, hết sức. Đó là những năm tháng không thể quên được,” nhà báo Phùng Huy Thịnh bùi ngùi nói./.

  • anh1-1502784728-4.jpg
  • img5983-1504013466-57.jpg
  • anh3-1502784707-15.jpg
  • anh5-1502784876-75.jpg
  • anh4-1502784742-59.jpg
  • anh8-1502784973-55.jpg
  • sequence01-1502784910-69.jpg

Hồi ức về đám cưới kỳ lạ trên cánh đồng chết ở Campuchia

Xuân Dũng – Doãn Đức

Một nữ tình nguyện viên người Việt Nam bị đóng cọc ghim sâu cả cơ thể xuống đường nhựa. Những hố chôn người tập thể với hàng trăm xác người đang quá trình phân hủy, bốc lên thứ mùi hôi thối kinh khủng. Một đứa bé trần truồng giữa cánh đồng cát, gầy trơ xương, lết đi xin ăn, thấy bộ đội tình nguyện Việt Nam chỉ biết rơi nước mắt.

Những hình ảnh về mảnh đất đầy bụi cát Campuchia gần 40 năm trước, Vũ Duy Thông, nguyên phóng viên của Thông tấn xã Việt Nam đã chứng kiến tận mắt và chính ông không nghĩ nó lại lưu lại trong tâm trí của mình rõ nét tới như vậy tới tận bây giờ.

Kể cho chúng tôi câu chuyện của một thời lửa đạn, đã nhiều lúc, người phóng viên chiến trường thuở nào phải ngừng lại giữa chừng, không phải vì ông không còn minh mẫn, ngược lại, mọi thứ như cuốn phim quay chậm, kéo ông về những năm tháng xưa.

Cuốn phim ấy nhắc ông nhớ về nỗi ám ảnh lớn nhất với bản thân mình khi ấy, không hẳn là những hình ảnh rợn người về cái chết, trên tất cả, đó là tình cảm, lòng mong mỏi giữa người với người, giữa bộ đội, người dân Việt Nam và những người Campuchia đang sống trong những ngày tháng đen tối nhất lịch sử.

“Lúc đó, chỉ nghĩ tới một điều là làm sao giải phóng Campuchia,” người phóng viên nay đã ngoài 70 tuổi nhớ lại.

Nhà báo Vũ Duy Thông kể lại những câu chuyện đáng nhớ trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. 

Con đường… vừa đi vừa đẩy

Năm 1978, thông tin trong nước nóng ran về việc lính Pol Pot đốt phá nhà cửa, giết hại dân lành, điển hình là vụ Ba Chúc đau thương ở tỉnh An Giang.

Cũng thời điểm ấy, Vũ Duy Thông, khi đó là một phóng viên ngoài 30 tuổi của Thông tấn xã Việt Nam loáng thoáng nghe được tin, cơ quan đang lên danh sách cử phóng viên đi hỗ trợ nước bạn thành lập Thông tấn xã Campuchia SPK.

Không chỉ một mình ông, nghe được tin này, ai cũng hăng hái xung phong muốn đi. Thế nhưng, không phải ai cũng có hoàn cảnh khó khăn như ông Vũ Duy Thông thời điểm ấy.

“Hoàn cảnh tôi khi ấy khó lắm, bố thì bị tai biến nằm liệt giường, mẹ đau yếu, vợ tôi hồi ấy lại đang học trường Nguyễn Ái Quốc, vừa học vừa chăm hai con nhỏ,” ông nhớ lại.

Chính vì hoàn cảnh ấy, người phóng viên già bảo, ông vốn không trong danh sách được đi. Thế nhưng, bằng tất cả tấm lòng của mình, ông mạnh dạn lên xin lãnh đạo và làm đơn tình nguyện xin đi.

Ông cũng nhớ, thời điểm trước khi lên đường, nhóm phóng viên trong đó có ông được phát cho tăng, túi bạt, ít tem phiếu để ra lĩnh vừng, cơm nắm và đặc biệt là cả túi nilon để… nếu hy sinh thì cho xác vào đó.

Phóng viên Vũ Duy Thông trong thời gian ở Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên Vũ Duy Thông trong thời gian ở Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Người phóng viên kỳ cựu vẫn nhớ chuyến đi đầu tiên của mình từ Thành phố Hồ Chí Minh sang đất Campuchia. Đất nước Chùa Tháp khi ấy vào mùa khô, những cánh đồng chốc chốc lại cuốn những đám bụi đắng nghét phả vào mặt người qua đường.

Cánh phóng viên Thông tấn xã Việt Nam vẫn nhớ, giữa lúc cả đoàn vừa đi vừa lo lún cát thì trớ trêu làm sao, chiếc xe Jeep chở anh em nhà báo giữa đường giở chứng chết máy. Vứt lại giữa đường thì không được, chiến sỹ Quân đoàn 2 lúc ấy đã phải để xe của cánh phóng viên chèn vào giữa đội hình, dành riêng một chiếc xe khác vừa đi vừa đẩy.

“Ngồi trên xe, nhìn sang hai bên, trong bóng tối lờ mờ, nhìn thấy những rừng dừa, rừng thốt nốt chìm trong màn sương đêm. Ở đó có thể là người dân bao nhiêu năm bị kìm kẹp đang chờ giải phóng. Ở đấy cũng có thể là địch, những tên lính Khmer Đỏ thiện chiến, quần áo đen, chân đất, trang bị AK hoặc súng phóng lựu,” người phóng viên sinh năm 1944 hồi tưởng.

Vừa thoát khỏi con đường cát, ông Thông kể, đoàn ông bị rơi vào trận địa cối của địch. Chiếc xe đi đầu đoàn bị bắn tung, chỉ sau đó ít giây, một loạt cối khác giã vào những người đi sau. Những quả đạn chỉ đào lên chiếc hố to bằng chiếc mũ cối nhưng điều đáng sợ là khi phát nổ, hàng trăm mảnh gang sẽ văng lên theo hình chiếc nón ngược. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam may mắn trong cuộc tập kích chớp nhoáng ấy, lành lặn đi tiếp nhưng có những người lính không may mắn được như thế.

Cô bé mồ côi và miệng giếng nuốt xác

Ngồi lại với chúng tôi khi cuộc chiến ở nước bạn đã lùi xa, vị phóng viên ngày nào vẫn cười bảo, đã có những lúc đạn cối nổ ngay sát người, may có chiếc hầm cá nhân nông choèn cứu mạng ông. Thế nhưng, kể cả những lúc ấy, ông Thông vẫn bảo, cảm giác ấy không ám ảnh ông nhiều. Ông đã chứng kiến những hình ảnh khó quên hơn thế.

Đó là khi quân đoàn đi qua khu vực chiến sự với lính Pol Pot. Cả đoàn người đã lặng đi khi phải chứng kiến một nữ tình nguyện viên bị địch giết rồi đóng cọc gỗ xuyên qua người, cắm xuống nền đường nhựa.

Một trong những hố chôn người được khai quật ở Campuchia. (Ảnh: TTXVN)
Một trong những hố chôn người được khai quật ở Campuchia. (Ảnh: TTXVN)

Ông cũng nhớ lần đi viết bài về hố chôn người tập thể ở Kampong Cham. Lần ấy, để tận mắt có những hình ảnh xác thực nhất, ông cùng nhiếp ảnh gia Bùi Tiến Lợi đã nhờ bằng được một người thợ cắt tóc dẫn vào rừng cao su tìm hố chôn người.

Ông Thông nhớ rõ, cả nhóm dùng tay trần bới từng đám lá cao su dày lẫn đất. Một thoáng, hình ảnh mà ông vẫn thấy rùng mình tới tận bây giờ nhanh chóng hiện ra trong tầm mắt. Một chiếc hố chỉ rộng cỡ miệng giếng nhưng có cả trăm xác người chồng chất lên nhau. Những xác người còn thấy rõ cả tóc, quần áo, chưa phân hủy hết, bốc lên thứ mùi thối đến choáng váng đầu óc.

Ông không thể nào quên hình ảnh người đàn ông cắt tóc nọ, quấn khăn rằn che kín miệng, mũi, phía dưới ông là la liệt những chiếc đầu lâu thủng lỗ chỗ. Hình ảnh này sau đó được truyền đi đã làm rúng động không biết bao nhiêu người xem và đã có mặt ở hầu hết những cuốn sách ảnh về Campuchia.

Thế nhưng, cũng có những hình ảnh, dù không nổi tiếng nhưng vẫn mãi lưu giữ trong tâm trí Vũ Duy Thông. Đó là khi ông bắt gặp một bé gái Campuchia gầy guộc, mắt nhèm gỉ bên vệ đường. Cô bé bảo bố mẹ mất cả trong cuộc chiến, một mình em lang thang qua nhiều làng xóm, hố chôn người, gặp người thì xin ăn sống qua ngày.

“Bé gái thấy bộ đội Việt Nam thì sợ và khóc. Mình phải hỏi bằng tiếng Campuchia bé mới kể chuyện,” ông Thông bồi hồi.

Mong ước hồi sinh từ đám cưới thùng phuy

Phóng viên Vũ Duy Thông (bên trái) cùng phóng viên ảnh Văn Hiền tại cầu thị xã Kampot, Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên Vũ Duy Thông (bên trái) cùng phóng viên ảnh Văn Hiền tại cầu thị xã Kampot, Campuchia. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Vũ Duy Thông tới chiến trường Campuchia khi tuổi đã ngoài 30, không phải cậu thanh niên khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp chân ướt chân ráo mới ra trường thuở nào. Chính ông cũng đã có những năm tháng lăn lội đưa tin tại chiến trường từ Quảng Ninh, Thái Nguyên tới Hà Tĩnh. Thế nhưng, trên đất nước Campuchia, người thanh niên rắn rỏi năm nào bảo, ông vẫn không thể cầm lòng khi thấy những phận người như cô bé mồ côi gầy gò bên vệ đường Campuchia.

Và cũng chắc bởi thế, có những câu chuyện đã theo trang viết của ông gửi về nước nhưng có những hình ảnh ông không nỡ cầm bút.

Ông Thông vẫn nhớ những đêm trắng lang thang ở Phnom Penh. Cả thành phố, ngoài bộ đội Việt Nam thì hầu như không một bóng người dân Campuchia. Trong một căn nhà nhỏ, ông tìm thấy một tờ lịch đã phủ kín bụi. Ngày tháng trên lịch từ cách đó khoảng 3 năm, đó có lẽ là ngày chủ nhà vội vã trốn đi hoặc phải ra đi trong tư thế bị gí súng vào đầu.

Hình ảnh rất đỗi bình thường trong mắt nhiều người nhưng với người đã chứng kiến quá nhiều nỗi đau như ông Thông, tờ lịch chưa xé ấy cũng xót xa chẳng kém những cái chết.

Số phận của người chủ nhà nọ không biết có may mắn thoát chết không, chính ông Thông tới tận bây giờ cũng không biết. Thế nhưng, ông bảo, đã có hàng triệu người mãi mãi không thể trở về căn nhà nhỏ của mình.

Ngồi lặng lại trước mặt chúng tôi, người phóng viên chiến trường năm nào bảo, ông không nhớ bản thân ông đã viết bao nhiêu tin, bài gửi trong những năm tháng ở Campuchia.

Đám cưới của đôi nam nữ người Campuchia không có hoa, có váy và cũng chả có bữa cỗ nào.

Thế nhưng, ông nhớ nhất về một bài báo ông viết trên đất nước bạn. Đó không phải về sự ác liệt của chiến tranh, hay về một câu chuyện thương tâm mà ông đã chứng kiến tận mắt, mà đơn giản là về một đám cưới vùng quê nghèo.

Đám cưới của đôi nam nữ người Campuchia không có hoa, có váy và cũng chả có bữa cỗ nào. Nói đúng hơn, đám cưới ấy chẳng có gì ngoài những chiếc thùng phuy mà mọi người dùng để gõ thay trống và điệu múa truyền thống chúc mừng đôi vợ chồng trẻ.

Giữa những cánh đồng chết đầy xác người, đám cưới giản dị ấy ông Thông bảo, đó mãi là những hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí ông. Đó là biểu tượng chân thực nhất cho sự hồi sinh của người dân Campuchia sau những tháng ngày cai trị đẫm máu của chế độ diệt chủng Pol Pot./.

Hồi ức về những số phận bi thảm trên bãi mìn gần đền Preah Vihear

Thanh Tâm – Doãn Đức

“Đã gần 40 năm trôi qua kể từ chuyến đi công tác Campuchia năm 1979, nhưng giờ đây mỗi khi nhớ lại những ngày tháng sống và làm việc trên đất bạn, trong tôi vẫn đầy ắp những cảm xúc, những hình ảnh về những nơi đã qua những con người đã gặp.

Đây cũng là chuyến công tác đầu tiên của tôi ở Báo ảnh Việt Nam sau khi vừa rời ghế trường Đại học ở Liên Xô về. Vì vậy, nghịch cảnh giữa một đất nước văn minh mà tôi vừa rời khỏi và quang cảnh diệt chủng tàn bạo mà tôi được chứng kiến càng thêm đậm nét.”

Đó là những dấu ấn không thể nào quên về những năm tháng “nếm mật nằm gai” nơi đất bạn của nhà báo Phạm Tiến Dũng, nguyên Phó tổng biên tập Phụ trách Báo ảnh Việt Nam, Trưởng ban Biên tập Ảnh Thông tấn xã Việt Nam. Sau khi nghỉ hưu, ông về làm việc ở Hội nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, giữ chức vụ Tổng Biên tập Tạp chí Nhiếp ảnh.

“Thành phố ma”

Với niềm say mê, nhiệt huyết với công việc và không ngại khó khăn gian khổ, cựu phóng viên Phạm Tiến Dũng cho hay, thời điểm ông tốt nghiệp Đại học xong là năm 1977, sau đó ông ở lại làm việc cho Báo ảnh Liên Xô một năm. Đến tháng 12/1978, ông trở về nước và được nhận vào làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam.

Cựu phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng kể về những dấu ấn không quên trong chuyến công tác đặc biệt ở Campuchia. 

Không lâu sau đó, ông Dũng cho biết, vào tháng 1/1979, đồng chí Đỗ Phượng, Phó Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam gặp ông và thông báo: “Cậu chuẩn bị đi công tác, cậu có đi được lâu không? Lúc đấy, dù chưa biết là đi đâu, làm những gì nhưng tôi vẫn dõng dạc trả lời: ‘Vâng, cháu đi được ạ!’”

“Sau đó, đồng chí Đỗ Phượng nói rằng, chuyến đi này có thể đi rất lâu, địa bàn cũng rất phức tạp, cậu làm được không? Tôi trả lời: ‘Cháu không vấn đề gì.’ Lúc đó tôi chỉ nghĩ, việc cơ quan cử đi là đi và không hề băn khoăn gì cả,” cựu phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng kể lại.

“Đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên trong đời không cần hộ chiếu mà cũng chẳng cần tiền”

Nhận nhiệm vụ xong ông mới hỏi và được biết ông cùng một số phóng viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Việt Nam được cử sang Campuchia để công tác và ông cũng chỉ có đúng một buổi tối để chuẩn bị lên đường tham gia chuyến công tác đặc biệt này.

“Đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên trong đời không cần hộ chiếu mà cũng chẳng cần tiền. Hành trang chỉ có vài ba bộ quần áo lính, túi máy ảnh và khẩu súng AK,” ông Dũng cho hay.

Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng trước nhà Ga Phnom Penh năm 1979. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng trước nhà Ga Phnom Penh năm 1979. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Ấn tượng đầu tiên, đập vào ánh mắt của chàng phóng viên trẻ thuở ấy là quang cảnh thành phố Phnom Penh nhìn từ trên máy bay xuống thật xinh đẹp và hiền hòa với những ngôi biệt thự nhỏ nhắn, mái ngói đỏ tươi nằm ép dưới tán những rặng dừa, thốt nốt xanh mướt. Nhưng khi đi vào thành phố có cảm giác đây là “thành phố ma,” không có cửa hàng, cửa hiệu, không người, không sự sống.

Ông kể, khi đi vào thành phố không một bóng người, đâu đó là những ngôi nhà đổ nát, mọi thứ hoang tàn. Ngay trước cửa trường Đại học Y, ai đó nghịch ngợm đem bộ xương người dùng để dạy học đặt ngay trước cửa, khiến thành phố càng thêm vẻ ma quái. Thỉnh thoảng đâu đó vẫn vang lên tiếng súng. Ban đêm càng im lặng đến rợn người.

“Hàng đêm khi vác súng đi tuần tra quanh trụ sở cơ quan chỉ thấy những con chuột cống to như những con mèo lao vút qua. Ở đây, bước vào mỗi căn nhà, có cảm giác cuộc sống như chỉ mới ngưng lại do phép ma thuật nào đó, bữa cơm đang ăn dở, đồ chơi lăn lóc trên sàn, vài ba cuốn tiểu thuyết rơi vãi đó đây. Tờ lịch trên tường cho ta thấy cuộc sống ở đây đã ngưng lại ngày 17/4/1975. Những chủ nhân của những căn nhà này, thành phố này giờ ở đâu? Còn sống hay đã chết? Vì đâu nên nỗi?,” cựu phóng viên ảnh trầm ngâm.

“Dấu ấn rùng mình về ngôi đền cổ”

Trò chuyện cùng chúng tôi về những tháng ngày lửa đạn khốc liệt cách đây ngót 40 năm, cựu phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam vẫn bồi hồi xúc động. Những hình ảnh in hằn trong tâm trí ông không phải là một thành phố cổ kính với những nét kiến trúc độc đáo mà ông thực sự ám ảnh bởi một “thành phố ma,” nơi còn lưu giữ đầy rẫy những bằng chứng tố cáo tội ác của chế độ Khmer Đỏ.

Ông cũng cho biết, ông thật sự kinh hoàng khi xem thùng ảnh tư liệu lấy được ở Nhà tù Tuol Sleng mà ai yếu bóng vía hẳn không đủ can đảm để xem những bức ảnh đó. Đó là ảnh những người bị bọn Pol Pot giết bằng các cách rất dã man: cắt cổ, chặt đầu, mổ bụng, treo cổ.

“Chẳng hiểu bọn đao phủ chụp những bức ảnh này để làm gì. Để trình cấp trên thành tích của chúng? Để làm chứng nạn nhân đã bị giết thật hay để giải trí? Có trời mới biết lũ quái nhân này nghĩ gì?” ông Dũng rùng mình nói.

Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng đã làm việc tại Campuchia 1 năm và ông có dịp đi khắp các vùng miền của đất nước này. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng đã làm việc tại Campuchia 1 năm và ông có dịp đi khắp các vùng miền của đất nước này. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Ông Dũng cũng cho biết, khu đền Angkor, một kỳ quan của Campuchia, đỉnh cao của nền văn hóa Khmer. Ai đến đây cũng phải kính nể bàn tay tài hoa của người Campuchia đã xây nên tòa lâu đài bằng đá kỳ vĩ này. Thế nhưng ngay cạnh di tích văn hóa nổi tiếng này lại là bãi xương người trắng xóa, những chiếc đầu lăn lóc, đa số bị đập vỡ, xương chân, xương tay rải rác khắp nơi.

“Ở Siem Reap có bể nuôi cá sấu. Đứng nhìn những con cá sấu sần sùi gớm ghiếc bò lúc nhúc ở dưới, tôi rùng mình khi nghĩ tới những đứa trẻ đã từng bị ném xuống đây làm thức ăn cho chúng,” nhắm nghiền mắt ông Dũng thở dài nhớ lại.

“Hồ 2000”

Trong một năm công tác ở đất nước bạn, ông cho biết, ông đã có dịp đi hầu hết các tỉnh của Campuchia, nhưng chuyến đi gây ấn tượng mạnh mẽ nhất có lẽ là chuyến đi vùng biên giới Preah Vihear.

“Hôm đó, nhận được tin hàng trăm người dân Campuchia bị lính Thái Lan dồn từ bên kia biên giới sang rơi vào bãi mìn dày đặc ở biên giới Preah Vihear, sau đó còn xả súng bắn vào họ. Rất nhiều người chết và bị thương. Vậy là tôi cùng các đồng nghiệp lên đường,” ông Dũng nói.

Ông kể, trước khi lên Preah Vihear đoàn ông dừng lại ở một đơn vị quân đội để lấy xăng bay tiếp. Chiều hôm đó, lúc rỗi rãi mấy anh nhà báo “máu” phiêu lưu đã làm một chuyến dại dột là đi vào rừng để tìm một cái hồ, được gọi là “hồ 2000” vì đã có khoảng 2000 người bị chết và ném xác xuống cái hồ đó.

Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng tại đền Preah Vihear năm 1979. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng tại đền Preah Vihear năm 1979. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

“Tay không vũ khí chúng tôi đi sâu vào trong rừng. Dọc đường thấy một số xà lim rất hẹp, người bị giam chỉ có thể đứng hay ngồi chứ không thể nằm được. Rất nhiều xương người rải rác, hình như toàn xương trẻ con, khá nhiều quần áo, giày dép trẻ em vương vãi trong các đám cỏ. Nghe nói có một toán trẻ bị lừa là đưa đi học, rồi bị giết ở đây,” ông Dũng cho hay.

Chưa kịp định thần trước những hình ảnh bắt gặp, cựu phóng viên ảnh nói, lúc đang đi chợt nghe tiếng người lao xao rồi chợt im phắc, có tiếng lên đạn rôm rốp. ông thầm nghĩ: “Thôi rồi, vũ khí thì không có rơi vào tay Khmer Đỏ thì hết đời.”

Vừa cười ông vừa kể, sau đó, có tiếng quát: “Ai, đứng lại?” Thở phào: “Chúng tôi là nhà báo đây!” lúc đó mới thấy mấy anh lính Việt Nam ló ra. Hú vía, trò chuyện một lúc chúng tôi quay trở về không dám đi tiếp nữa sợ đến được cái hồ thì hồ sẽ bị đổi thành tên là “hồ 2003.”

Kề cận với tử thần

Lắng nghe những câu chuyện của cựu phóng viên ảnh, mọi cảnh tượng về một chế độ diệt chủng tàn khốc như được tái hiện đậm nét trong chúng tôi. Cảnh chết chóc, cảnh hoang tàn và cả những phút giây kề cận với tử thần. Những dòng ký ức cứ dồn dập ùa về.

Trên đường đến vùng biên giới Preah Vihear, ông Dũng nhớ lại, trước khi bước chân vào khu rừng bi thảm này, chưa bao giờ ông nhìn thấy nhiều người chết như thế và cũng chưa bao giờ ông cảm thấy kề cận với cái chết như thế.

Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng luôn cười tươi và lạc quan trong mọi hoàn cảnh. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng luôn cười tươi và lạc quan trong mọi hoàn cảnh. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

“Gần như trên mỗi mét vuông của khu rừng này đều có mìn. Chỉ đi lệch một bước là tan xác. Các chiến sỹ bảo vệ luôn nhắc nhở chúng tôi phải đi theo dấu chân họ, thế nhưng với anh chụp ảnh lúc mải tác nghiệp đâu có để ý mìn dưới chân. Một lần nếu không có người nhanh tay kéo lại thì tôi đã về với tổ tiên rồi. Lúc tôi nhìn chỗ tôi suýt dẫm lên thì ra đó là một quả mìn được đánh dấu bằng một cái que buộc một mảnh vải trắng nhỏ,” ông Dũng hồi tưởng.

Không dấu nổi cảm xúc, ông vừa kể vừa thốt lên, nơi đây đúng là địa ngục trần gian, nồng nặc mùi tử khí. Chỗ này một người cha đang ngồi khóc bên xác con, nơi kia vài đứa trẻ mất cha mẹ đang kêu khóc. Một bãi xác người ngổn ngang đang trương phình dưới cái nắng nhiệt đới. Thật khủng khiếp.

Ông bùi ngùi nghĩ lại, may mắn cho những người dân Campuchia là bộ đội Việt Nam đã lần lượt đưa họ ra khỏi nơi tử địa này, cấp phát thuốc men, thực phẩm cho họ. Nhiều chiến sĩ Việt Nam cũng đã hy sinh khi làm nhiệm vụ quốc tế cao cả đó. Nếu không có quân đội Việt Nam vào giải phóng cho họ thì chắc chẳng có ai trở về và chẳng có đất nước Campuchia đang hồi sinh như bây giờ.

Một đất nước hồi sinh

Nhà báo Phạm Tiến Dũng cho chúng tôi xem bức ảnh rất đẹp của một vũ nữ hoàng cung Camppuchia và kể lại một kỷ niệm đẹp về bức ảnh này. Người vũ nữ này là một trong những nạn nhân còn sống sót sau nạn diệt chủng tàn khốc.

Chiến tranh, nạn diệt chủng, những năm tháng làm việc cực nhọc tại các công xã đã khiến một vũ nữ hoàng cung xinh đẹp trở nên đen đúa, khắc khổ khác hẳn với hình ảnh một vũ nữ tuyệt đẹp trong điệu múa Khmer truyền thống như trong bức ảnh mà chị mới đào lên khi chôn giấu trong 4 năm chế độ Pol Pot Khmer Đỏ.

Ông Dũng cho biết, ông gặp chị ở nhà tù Tuol Sleng, nghe chị kể lại câu chuyện, ông đã chụp lại cho người vũ nữ hoàng cung bức ảnh đó rồi phóng to, sau đó nhờ bác Trần Phúc, một chuyên gia tu sửa ảnh của Báo ảnh Việt Nam tô màu, cho vào khung và tặng lại chị. Chị rất cảm động.

“Tặng lại bức ảnh, tôi chỉ mong chị hiểu tấm lòng của những người bạn Việt Nam muốn chị lại được sống những ngày huy hoàng như ngày xưa, để chúng tôi có dịp thưởng thức những điệu múa truyền thống của dân tộc chị,” ông Dũng nhắc lại.

Khép lại những dòng hồi tưởng, cựu phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng cho biết, ông vừa có dịp quay lại Campuchia sau gần 40 năm, ông vẫn nhớ như in những nơi mình từng đến, từng chứng kiến, từng “nếm mật nằm gai.” Những dấu ấn ban đầu về “thành phố ma,” “hồ 2000”…vẫn còn đó, thế nhưng trước mắt ông là một đất nước Campuchia đang thay da đổi thịt và tràn trề sức sống.

  • tiendungvoi-1502962245-65.jpg
  • tiendungvoi-1502962249-59.jpg
  • 4tiendungph-1502962353-92.jpg
  • tiendungle-1502962361-62.jpg
  • tiendungphi-1502962367-98.jpg
  • vnpanhchu-1502962375-71.jpg

“Có sống ở Campuchia những ngày đạn lửa đó mới thấy quý biết bao mỗi tín hiệu hồi sinh của một đất nước đã từng trải qua thảm họa diệt chủng khủng khiếp. Sau gần 40 năm quay lại, tôi thấy Campuchia đã thay đổi, Thủ đô Phom Penh hiện nay rất phát triển về du lịch và khá hiện đại. Ngay trung tâm Thủ đô Phnom Pênh có một Tượng đài hữu nghị Việt Nam-Campuchia rất bề thế,” ông Dũng xúc động nói.

Ông cũng cho biết, mới đây nhân kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt Nam-Campuchia, Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Hun Sen vẫn luôn nhắc lại, tri ân Việt Nam đã cứu đất nước Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Bởi không có sự giúp đỡ của Việt Nam thì không có đất nước Campuchia hồi sinh mạnh mẽ như ngày nay.

“Với mỗi người làm báo, được đến những nơi có sự kiện là một hạnh phúc, được đưa tin, được ghi lại những hình ảnh về sự kiện đó là một niềm tự hào vô cùng to lớn. Và tôi cảm thấy mình thật may mắn vì đã được đến, được chứng kiến và ghi lại những hình ảnh, truyền tải thông tin để thế giới thấy được tội ác diệt chủng của bè lũ Pol Pot và may mắn được quay trở lại để chứng kiến một đất nước Campuchia mới đang hồi sinh, phát triển,” cựu phóng viên ảnh Phạm Tiến Dũng tự hào nói./.

Chuyện về nhóm nhà báo ‘mất tích’ trên chiến trường Campuchia

Xuân Quảng – Doãn Đức

Gần 40 năm trước, thế giới chứng kiến thảm họa diệt chủng hết sức tàn bạo tại Campuchia dưới chế độ Khmer Đỏ. Lịch sử cũng ghi nhận hành động cao cả, nhân đạo, đầy nghĩa hiệp của quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, từng bước hồi sinh, xây dựng cuộc sống mới.

“Mất tích” bí ẩn

Hàng thập kỷ đã qua, nhà báo Nguyễn Đăng Chiến vẫn không thể quên những năm tháng làm việc trên đất nước Campuchia, đó là khoảng thời gian phải đối mặt với hiểm nguy, thậm chí có thể hy sinh tính mạng nhưng cũng đầy hào hùng của nhiều nhà báo Thông tấn xã Việt Nam.

Tháng 11/1978, nhận lệnh điều động từ Tổng xã, nhà báo Nguyễn Đăng Chiến gấp rút chuẩn bị hành lý rời Thành phố Hồ Chí Minh để sang Campuchia. Trong chuyến công tác này, ngoài ông còn có một số nhà báo nữa là Vũ Xuân Bân và Phạm Nhật Nam cũng được biên chế vào nhóm giúp bạn.

Nhà báo Nguyễn Đăng Chiến nhớ lại những năm tháng làm việc tại Campuchia

Ông kể, những ngày đầu trong công việc mới, chúng tôi rất bận, chủ yếu là đi làm tin, chụp ảnh về hoạt động của lãnh đạo bạn tại “vùng giải phóng Campuchia”.

Ngày 25/12/1978, từ cơ quan Thông tấn xã Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 5 nhóm công tác của Thông tấn xã xuất phát tham gia giúp bạn giải phóng Campuchia. Lúc này, một số phóng viên tin, ảnh từ Hà Nội cũng được cử vào tăng cường cho Thông tấn xã Campuchia (SPK).

Trong lần ấy, nhà báo Nguyễn Đăng Chiến cùng phóng viên ảnh Hoàng Ba và lái xe Hoàng Văn Sửu được cử đi theo mũi tiến công của Quân khu 5, nghĩa là phải ngược Quốc lộ 1 ra miền Trung. Tuy nhiên, trên đường di chuyển, nhóm công tác lại nhận được tin Bộ Chỉ huy tiền phong Quân khu 5 đã di chuyển đến căn cứ Lệ Thanh, gần biên giới Campuchia, do vậy cả nhóm quyết định không ra Đà Nẵng nữa mà lên thẳng Pleiku để tiếp cận lực lượng tiến công của Quân khu 5.

Diễn biến trên chiến trường rất nhanh, chỉ một tuần, quân ta đã đã hoàn thành chiếm giữ các vị trí chủ chốt trên toàn mặt trận. Lực lượng Quân khu 5 chiếm được thị xã Stung Treng ngày 4/1/1979, về cơ bản là hoàn thành chiến dịch.

Nhóm các chuyên gia kỹ thuật TTXVN và hai chiến sĩ trinh sát đóng bên ga xe lửa Phnom Penh. (Ảnh: Chuyên gia TTXVN Trương Việt Cường cung cấp)
Nhóm các chuyên gia kỹ thuật TTXVN và hai chiến sĩ trinh sát đóng bên ga xe lửa Phnom Penh. (Ảnh: Chuyên gia TTXVN Trương Việt Cường cung cấp)

Trong suốt thời gian ấy, nhóm công tác của Thông tấn xã Việt Nam đã đến nhiều đơn vị, nhiều địa điểm để lấy tin, chụp ảnh phục vụ cho công tác thông tin, nhưng do không có bộ phận điện báo đi theo, thậm chí sự liên hệ giữa Bộ Chỉ huy tiền phương toàn quân Quân khu 5 với Bộ Chỉ huy tiền phương toàn quân là quan hệ gián tiếp, phải thông qua Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội, nên việc chuyển thông tin báo chí qua hệ thống này là không thể thực hiện được.

Nhớ lại chuyến công tác đó, ông Chiến nói, nếu theo đúng những gì được giao trước lúc lên đường tập kết tại thủ đô Phnom Penh vào ngày chiến thắng, cả nhóm phải trở về Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau ngày 7/1/1979, nhưng vì đường sá xa xôi, nhóm của Nguyễn Đăng Chiến đã quyết định tiếp tục ở lại mặt trận Đông Bắc thêm một thời gian nữa để thu thập thêm thông tin, theo gợi ý của đồng chí Lê Ba.

“Trong khi chúng tôi nỗ lực với công tác tại mặt trận thì Ban lãnh đạo cơ quan rất lo, vì đã quá thời hạn quy định mà chưa được thông tin gì về nhóm chúng tôi. Đã có những dự cảm về một tình huống xấu nhất xảy ra, bởi thế, sau này khi trở lại với đoàn chuyên gia Thông tấn xã Việt Nam giúp SPK, nhiều người gọi chúng tôi là “nhóm mất tích”, nhà báo Nguyễn Đăng Chiến nhớ lại.

Vượt lên mọi gian khó

Khác với những gì sôi động, ồn ào của thành phố Hồ Chí Minh, Phnom Penh những ngày đầu giải phóng không có dân, hạ tầng cơ sở bị phá hủy hoặc bị bỏ hoang phế không khác gì “thành phố chết”.

Thời đó, chỉ có xe quân đội được phép đi qua biên giới, trong khi xe thương nhân thì không có, thực phẩm lại cực kỳ thiếu thốn, chưa kể hạ tầng cơ sở gần như bằng không, nhưng tất cả không làm giảm sút nhiệt huyết của các cán bộ, chuyên gia của Thông tấn xã Việt Nam.

Theo ông Chiến, thời điểm đó, Thông tấn xã SPK vẫn chưa có người nào, kể cả phụ trách lẫn phóng viên, do vậy toàn bộ thông tin về hoạt động của các nhà lãnh đạo Campuchia đều do phóng viên Thông tấn xã Việt Nam cử sang giúp bạn, rồi sau đó những bản tin ấy cũng do đội ngũ kỹ thuật của Thông tấn xã Việt Nam phát lên mạng.

“Giữa bạn với chúng tôi như anh em một nhà, chúng tôi ăn chung một bếp, ở chung một nhà không giữa bạn và ta cả. Tôi nhận thức công việc của chúng tôi khi ấy hoàn toàn vô tư, trong sáng,” ông Chiến xúc động khi nhớ lại những ngày gian khó.

Các chiến sĩ tiến vào Nông Pênh với trái tim sôi sục căm thù.
Các chiến sĩ tiến vào Nông Pênh với trái tim sôi sục căm thù.

Lúc bấy giờ lực lượng Pol Pot chưa bị đánh tan hẳn, còn lại tàn quân và thỉnh thoảng vẫn còn những hoạt động chống phá nhà nước cách mạng, do vậy rủi ro luôn rình rập các nhà báo Thông tấn xã Việt Nam trong những chuyến công tác.

Ông nói, mỗi chuyến đi phải mang theo máy điện tín và gửi tin bài về tổng xã bằng máy phát moóc dùng nguồn điện từ máy điện quay tay, khi quay thì nhẹ, nhưng khi phát chiếc máy trở nên nặng nề, cả nhóm sợ nhất là chiếc máy dừng hoạt động và phải làm từ đầu, do vậy tất cả phải nghĩ ra một cách làm để đạt hiệu quả nhất.

Chỉ tay vào cuốn hồi ký chiến trường, ông Chiến nói, khâu làm phóng viên thì vất vả ở ngoài trận địa còn khâu biên tập thì cũng không kém vì phải dựa trên tài liệu hết sức cô đọng mới hình thành ra được một tin, bài hoàn chỉnh.

“Biên tập ngày xưa ở nhà gần như phải dựa trên chất liệu mà phóng viên tác nghiệp, bởi chỉ truyền bằng hệ thống moóc, máy chúng ta cũ rất hay hỏng hóc và phải đẩy ra xa để truyền tin về, tránh bị địch phát hiện.”

Bài phỏng vấn đặc biệt

Trong đợt đầu tiên đoàn cán bộ Thông tấn xã Việt Nam được cử sang Campuchia giúp bạn, Ban phụ trách do đồng chí Trần Hữu Năng, lúc đó đang là Trưởng Ban tin trong nước (Thông tấn xã Việt Nam) làm trưởng đoàn, trong khi phụ trách mảng tin là đồng chí Nguyễn Bá Ngạc, lúc đó là Phó trưởng ban CK và phụ trách ảnh là đồng chí Hoàng Văn Sắc, lúc đó là Trưởng phòng ảnh (Ban ảnh, Thông tấn xã Việt Nam).

Lật lại những trang sử vẻ vang một thời bên nước bạn, đôi mắt nhà báo Nguyễn Đăng Chiến bừng sáng lên khi nhớ lại một kỷ niệm sâu sắc trong lần phóng vấn một chính khách của Campuchia thời bấy giờ, đó là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trong Chính phủ cách mạng Campuchia.

Để chuẩn bị cho cuộc hẹn, ông đã phải dành nhiều ngày, cất công vào thư viện quốc gia Campuchia để đọc và tìm lại tất cả những vấn đề liên quan đến ngành nông nghiệp của nước bạn.

Đất nước Campuchia tươi đẹp những ngày đầu giải phóng
Đất nước Campuchia tươi đẹp những ngày đầu giải phóng

Ông nói, “Tôi đã nghiên cứu khá kỹ về tình hình phát triển nông nghiệp Campuchia trước ngày giải phóng và tôi đã định hình được hướng phát triển của Campuchia trong lĩnh vực này để rồi đưa ra một số chương trình trong buổi phỏng vấn đó.”

Nhưng hình như đó cũng là một mối nhân duyên, chính ông cũng không ngờ bài phỏng vấn của mình phát trên Thông tấn xã Campuchia (SPK) lại trở thành đề cương phát triển nông nghiệp của Campuchia trong thời kỳ đầu sau ngày giải phóng.

“Tự tôi nêu ra mục tiêu là phát trồng cấy lúa trên 1 triệu ha chứ lúc bấy giờ phía bạn chưa có chỉ tiêu nào cả và tôi chỉ gắn với lời của ông Bộ trưởng mục tiêu trong năm 1980 là phát triển 1 triệu ha lúa và sau này lại trở thành chỉ tiêu mà Chính phủ Campuchia đặt ra để thực hiện trong giai đoạn đó. Bài phỏng vấn được phát vào ngày 1/4/1979,” ông Chiến tự hào kể lại.

Sau 3 năm công tác trên đất bạn, ông cũng không nhớ nổi có bao nhiêu bản tin được mình và các đồng nghiệp vượt gian khó để thực hiện. Nhưng trong dù gian khó vất vả đến đâu, các nhà báo của Thông tấn xã Việt Nam vẫn luôn thể hiện quyết tâm vì sự nghiệp chung cao cả giữa hai nước Việt Nam-Campuchia và đến bây giờ, dù quá khứ đã lùi xa, nhưng sự hy sinh và chiến công của họ sẽ còn mãi trong lịch sử báo chí cách mạng như một dấu son không phai mờ./.

Cộng đồng kinh tế ASEAN

Vào dịp thành lập cách đây 50 năm, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có tham vọng kinh tế khiêm tốn. Tuy nhiên, tới năm 1992, tổ chức này cho phép hội nhập tuần tự các nền kinh tế của các quốc gia thành viên. Sự hội nhập này được thể chế hóa trong thời kỳ tiếp theo. Cộng đồng kinh tế ASEAN theo đuổi những nguyên tắc rất khác so với những nguyên tắc trong xây dựng châu Âu. Dù vậy, nó được cho là giữ vai trò đầu tàu trong cấu trúc khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Ở thời điểm thành lập năm 1967, mối bận tâm chính của 5 quốc gia sáng lập ASEAN là trật tự về chính trị: Vì vậy, tham vọng của họ trở nên khiêm tốn trong lĩnh vực kinh tế. Theo tuyên bố Bangkok, dự án độc đáo của ASEAN có mục tiêu “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực, khuyến khích hòa bình và ổn định”. Theo thời gian, các dự án đã được xác định, dẫn tới thiết lập một Cộng đồng kinh tế, nay là một trong 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN.

Hành trình đặc biệt của ASEAN về hội nhập kinh tế là kết hợp các tác nhân nhà nước với các tác nhân phi nhà nước, cũng như tính năng động của thị trường và tính logic của thể chế (thậm chí là chủ nghĩa tư bản nhà nước), khác biệt với những kinh nghiệm tại các khu vực khác, và đặc biệt là tại châu Âu.

Ngoài ra, nó phản ánh một sự dao động ổn định giữa việc theo đuổi các mục tiêu kinh tế thuần túy của quốc gia (trước tiên là phát triển) và một sự hợp tác khu vực diễn ra qua những thỏa thuận cần thiết. Tính 2 mặt của vấn đề này cũng giải thích sự chênh lệch giữa những tham vọng và sự thực hiện được theo dõi trên thực địa, dù rằng, đã có những tiến bộ thực sự được thực hiện trong suốt 50 năm qua.

Vấn đề được đặt ra hiện nay là làm thế nào để các quốc gia ASEAN duy trì được chiến lược của mình trong bối cảnh khu vực luôn thay đổi, nơi mà hiệp hội này, với tư cách là nhóm nước, có thể đóng vai trò đảm bảo sự ổn định.

Giai đoạn 1967-1992: Hội nhập kinh tế “từ mức thấp”

Sau khi thành lập ASEAN, phải chờ 10 năm và Hội nghị thượng đỉnh Bali (1976), để những toan tính cụ thể đầu tiên về hợp tác kinh tế được đưa ra. Năm 1977, những toan tính này hình thành, một mặt, là một thỏa thuận hoán đổi giữa các quốc gia thành viên ASEAN, và mặt khác là một hiệp định ưu đãi thuế quan. Mặc dù đây là nỗ lực đáng kể đầu tiên của hợp tác kinh tế ở cấp khu vực, hiệp định thuế quan này chỉ nhắm tới một số lượng hàng hóa hạn chế, cho thấy nó vẫn chưa đủ để thúc đẩy thương mại nội vùng, vốn không vượt quá 20% vào đầu những năm 1990.

Phản ánh rõ thái độ ngập ngừng của các chính phủ liên quan đối với việc từ bỏ chủ nghĩa bảo hộ truyền thống của mình, việc ưng thuận giảm thuế phần lớn là đối với các sản phẩm ít hoặc không nhập khẩu: sản phẩm bằng gỗ đối với Thái Lan, lò phản ứng hạt nhân đối với Indonesia, xe dọn tuyết đối với Philippines, hoặc là các sản phẩm bằng cao su đối với Malaysia. Cuối cùng, tự do hóa thuế quan chỉ ảnh hưởng tới tỷ lệ phần trăm rất nhỏ của giao thương thực tế: dưới 1% theo một số nguồn, do vậy, tác động của nó bị hạn chế.

Tuy nhiên, những sáng kiến khác được đưa ra sau đó, đặc biệt hình thành các dự án hợp tác công nghiệp đưa ra trong giai đoạn 1977 tới 1983 (AIP, AIC, AIJV4). Do nhà nước dẫn dắt, các dự án này tìm cách tận dụng các nền kinh tế có quy mô hoặc bổ trợ cho nhau, khuyến khích hợp tác về công nghiệp, tuy nhiên, phần nhiều vẫn không có hiệu lực. Năm 1988, một giải pháp mới được đưa ra, đó là liên kết sản xuất chung nhãn hiệu (BBC), khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân khai thác sự bổ trợ giữa các quốc gia trong khu vực bằng việc cho phép giảm 50% thuế đối với sản phẩm thiết bị, với điều kiện 50% thành phần của những thiết bị này được sản xuất nội địa và ít nhất có 2 quốc gia liên quan đến hoạt động sản xuất, đạt được thành công nhất định và đóng góp vào việc hình thành các mạng lưới sản xuất khu vực.

Mặc dù đây là một sự hợp tác kinh tế hình thức và hạn chế, nhưng thời kỳ đầu này đáng chú ý về nhiều mặt. Trong 25 năm đầu tiên này, các quốc gia ASEAN-5 có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng của các nước đang phát triển còn lại trên thế giới, và hiển nhiên là cao hơn tỷ lệ tăng trưởng của các nước công nghiệp. Tăng trưởng GDP theo đầu người của Đông Nam Á lên tới 4,3% trong giai đoạn 1961-1992 (so với 1,3% tại Nam Á và châu Phi hạ Sahara, tuy nhiên tại Đông Á lại có mức tăng trưởng 7%), với sự gia tăng vào giai đoạn cuối. Sự hòa dịu trong quan hệ giữa các nước đã hiển nhiên tạo thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ của chính phủ, tức chính phủ đã có thể huy động nguồn lực chính của mình cho việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế.

Mặt khác, sự tăng trưởng mạnh này đã kéo theo sự phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc trong khu vực, đặc biệt dưới sự thúc đẩy của đối tác Nhật Bản. Bị ảnh hưởng mạnh do sự tăng giá đột ngột của đồng yen đối với các đồng tiền lớn khác (USD, D-Mark…) diễn ra ngay sau Hiệp định Plaza năm 1985, để giữ khả năng cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải chuyển một phần hoạt động sản xuất của họ tới những nước có giá nhân công thấp, các nước ASEAN là những ứng cử viên lý tưởng. Bằng việc chuyển tới khu vực này, các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản sẽ đóng góp, nếu như không phải là tăng trưởng thì ít nhất là củng cố quan hệ kinh tế giữa các nước ASEAN.

Những nước này thể hiện ngày càng gắn bó trong mạng lưới sản xuất khu vực kết nối xung quanh các doanh nghiệp Nhật Bản, đặc biệt trong lĩnh vực ôtô và điện tử. Giao thương nội khối ASEAN chắc hẳn chưa bùng nổ (năm 1991, nó đạt mức cao nhất là 17% của tổng mức giao thương của các quốc gia trong khu vực), tuy nhiên, một sự biến đổi sâu sắc đã diễn ra với sự dịch chuyển hoạt động giao thương của các sản phẩm chế biến, và không phải là sản phẩm thô (nông nghiệp hay mỏ). Do vậy, trong giao thương nội khối ASEAN, các sản phẩm này giảm từ 68% trong năm 1980 xuống còn 33% trong năm 1991, trong khi cùng thời điểm đó, các sản phẩm công nghiệp cơ khí lại tăng từ 16% lên 43% Ngoài ra, chính những giao thương nội ngành duy trì sự năng động của hội nhập.

Đối với công nghiệp điện tử, ASEAN là một khu vực sản xuất hấp dẫn, vì giá nhân công thấp, nhưng đặc biệt là sự bổ trợ tồn tại giữa các nền kinh tế. Những đặc tính thuần túy của ngành này, đặc biệt là khả năng kết nối của tiến trình sản xuất, cho thấy nó hỗ trợ đặc biệt cho sự phát triển của các mạng lưới sản xuất khu vực. Đúng như giải thích của Jean-Raphaël Chaponnière, trong những năm 1980 và 1990, các quốc gia ASEAN cùng tạo nên một “chu trình hội nhập” thực sự: theo đó, các vi mạch silicon được sản xuất tại Singapore, kiểm tra kỹ thuật tại Malaysia, sau đó được lắp ráp vào các ổ đĩa cứng sản xuất tại Thái Lan. Vốn chiếm khoảng 1/3 trao đổi thương mại nội khối ASEAN năm 1991, giao thương sản phẩm điện tử đang bị thống trị bởi hoạt động thương mại liên quan đến các sản phẩm trung gian, bán thành phẩm, hay là các hoạt động trao đổi nội ngành và nội doanh nghiệp, một hình thức gắn bó chặt chẽ với sự mở rộng đầu tư trực tiếp trong khu vực.

Trong lĩnh vực ôtô, giải pháp BBC được mô tả ở trên, cho phép một doanh nghiệp nhập khẩu miễn thuế đối với các chi tiết của xe ôtô từ các quốc gia khác nhau trong khu vực, điều này góp phần làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong ASEAN, các hãng sản xuất ôtô Nhật Bản (cũng như Đức) nhờ vào việc này mà tối ưu hóa tổ chức tiến trình sản xuất của mình. Như Toyota, hãng này đã phân bổ sản xuất các chi tiết của ôtô và ôtô nguyên chiếc của họ tại 4 nước ASEAN (Thái Lan, Philippines, Malaysia và Indonesia), kết quả là giảm giá thành và tăng khả năng cạnh tranh đối với các đối thủ của họ, cũng như tăng cường giao thương trong ASEAN.

Nhìn chung, các chi tiết và bộ phận của sản phẩm trong giao thương của ASEAN đã tăng từ 1,7% lên 17% trong giai đoạn 1967-1992. Cách tổ chức sản xuất này là hiện tượng mà người ta không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới ở cấp khu vực.

Trong 25 năm đầu của ASEAN, các quốc gia thành viên đã không tìm cách tổ chức về mặt kinh tế như Cộng đồng châu Âu; họ đã đơn giản bảo vệ khả năng cạnh tranh và tìm cách thiết lập chiến lược phát triển của mình. Nếu như các mối liên hệ ngày càng gắn bó giữa các nước thành viên, thì phần nào họ không chú ý tới sáng kiến của các tác nhân ngoại trong lĩnh vực tư nhân.

Sáng 8/8, Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Philippines ở thủ đô Manila với chủ đề “Dưới một ánh sáng, chúng ta là một ASEAN”. Tham dự buổi lễ có Tổng thống nước chủ nhà Rodrigo Duterte, Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh, các Bộ trưởng và đại diện Ngoại giao cấp cao đến từ 10 nước ASEAN và các nước đối tác-đối thoại. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Sáng 8/8, Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Philippines ở thủ đô Manila với chủ đề “Dưới một ánh sáng, chúng ta là một ASEAN”. Tham dự buổi lễ có Tổng thống nước chủ nhà Rodrigo Duterte, Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh, các Bộ trưởng và đại diện Ngoại giao cấp cao đến từ 10 nước ASEAN và các nước đối tác-đối thoại. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Giai đoạn 1992-2017: Từ AFTA tới AEC, hội nhập kinh tế được thể chế hóa

Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) được thành lập năm 1992, chắc chắn đánh dấu một sự thay đổi logic, các quốc gia thành viên tìm cách dựa vào sự hội nhập kinh tế khu vực thực sự, lúc ấy tuân thủ theo các sáng kiến của chính phủ. Đối với phần lớn các nước liên quan, sự thay đổi này phản ánh bước chuyển của một chiến lược công nghiệp hóa thay thế cho nhập khẩu thành chiến lược xúc tiến xuất khẩu. Tuy nhiên, nó cũng tính tới biến chuyển của bối cảnh quốc tế: Những khó khăn của đàm phán đa phương trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruguay, và sự gia tăng các hiệp định thương mại trong các khu vực khác của thế giới (Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ).

Các nước ASEAN có lẽ cũng e ngại chứng kiến hiệp hội của mình có đôi chút ảnh hưởng về tính gắn kết trong tập hợp rộng lớn hơn do Australia thúc đẩy: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) được khởi xướng năm 1989. Còn hơn cả một dự án thay thế cho APEC, AFTA là cách thức để tồn tại trong APEC của các nước Đông Nam Á. Nhìn rộng hơn, nó cũng mang lại cho hiệp hội này một làn gió mới.

Về định nghĩa, dự án AFTA bị hạn chế về mặt địa lý và khiêm tốn về mục tiêu, do tính không đồng nhất trong nhóm cũng như khác biệt về thể chế, điều này đòi hỏi một sự vận hành thống nhất (phương thức ASEAN nổi tiếng). Mục tiêu là thiết lập một Khu vực thương mại tự do ASEAN trong vòng 15 năm, tuy nhiên, dự kiến tiến hành theo từng chặng; các thời hạn để giảm hàng rào thuế quan trong khu vực ban đầu được xác định ở mức tối đa 5% trong năm 2008 đối với 6 quốc gia tiên tiến nhất.

Với AFTA, đây không phải chỉ xúc tiến thương mại trong khu vực mà là cải thiện khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế ASEAN. Rõ ràng, ASEAN không thể thay thế cho các thị trường OECD, mà các nước trong khu vực đã thực hiện hơn 80% lượng trao đổi hàng hóa của mình với thị trường này. Chính vì thế xúc tiến thương mại trong khu vực không phải là ưu tiên. Như Helen Nesadurai giải thích, chủ nghĩa khu vực mà ASEAN quan niệm cho thấy tính logic của phát triển; ưu đãi ban đầu dành cho xúc tiến đầu tư trực tiếp trong khu vực trên cả đầu tư trực tiếp ngoài khu vực, khẳng định mục tiêu này. Trước hết, đây là tăng cường khả năng đầu tư của các quốc gia liên quan để tăng thêm sức bền của họ trong cạnh tranh với bên ngoài, và sau đó, cho phép họ thu hút tốt nhất lượng đầu tư nước ngoài.

Trong khi AFTA đã có thể có số phận như các hiệp định ưu đãi thương mại trong những năm 1970 – là ở chỗ mỗi quốc gia thành viên giữ toàn quyền hành động để loại bỏ cơ chế mà các sản phẩm được cho là nhạy cảm thì cần được bảo vệ – trường hợp này sẽ không phải như vậy, các rào cản thương mại sẽ bị bãi bỏ trong khu vực theo thời hạn và thậm chí còn trước so với lịch trình ban đầu. Cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998 chắc chắn không xa lạ gì với thực trạng này.

Các nước thành viên ASEAN quyết định sẽ đi xa hơn và hướng tới tầm nhìn năm 2020, thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) dựa trên “một thị trường duy nhất và một nền tảng sản xuất hội nhập”.

Tiếp theo cuộc khủng hoảng, nhận thức về việc gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong khu vực và các nguy cơ lan tỏa đi kèm, khiến các nước trong khu vực xem xét các cơ chế hợp tác nhằm tự bảo vệ mình và tăng cường đoàn kết khu vực. Vì tính chất của cuộc khủng hoảng, nên về mặt logic, lĩnh vực tài chính được ưu tiên, tuy nhiên, nảy sinh nhu cầu siết chặt trật tự trong lĩnh vực thương mại, nên lĩnh vực này cũng được ưu tiên, và vì vậy, lịch trình của AFTA đã được đẩy nhanh hơn. Năm 1999, Hội đồng AFTA thông báo loại bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với ASEAN vào năm 2015; 2 tháng sau, Hội nghị thượng đỉnh những người đứng đầu các quốc gia ASEAN đã điều chỉnh thời hạn này sớm hơn là vào năm 2010.

Trong bối cảnh sau khủng hoảng, sự cạnh tranh của Trung Quốc (được nhận thấy hay có thực) chắc chắn thuyết phục được các nước ASEAN về sự cần thiết hành động chung để cải thiện khả năng cạnh tranh và sức hút đầu tư nước ngoài, và do vậy đẩy nhanh hơn lịch trình của AFTA. Thực tế, vào đầu những năm 2000, quỹ đạo khác nhau của các luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc (tăng mạnh) và vào ASEAN (giảm), gây lo ngại về một hiệu ứng lấn át và thúc đẩy chính phủ các nước ASEAN hoàn thành nhanh nhất việc thiết lập AFTA, vốn được xem như cho phép khai thác quy mô các nền kinh tế và đào sâu việc phân chia trong khu vực về việc làm dựa trên những lợi thế so sánh của mỗi quốc gia thành viên.

Trái với mọi mong đợi, việc dỡ bỏ thuế quan diễn ra nhanh hơn dự kiến. Ngày 1/1/2005, thuế nhập khẩu đối với gần 99% các sản phẩm của 6 quốc gia đứng đầu ASEAN đã ở mức dưới 5%, và hơn 60% những sản phẩm này được đề xuất miễn thuế, cho phép ở mức trung bình thuế nhập khẩu trong ASEAN-6 giảm từ 12% xuống còn 2%.

Tuy nhiên, tác động của tự do hóa trong khuôn khổ AFTA bị hạn chế. Trước tiên, phần giao thương trong ASEAN tăng từ 17% lên 21% trong giai đoạn 1992-2001, để sau đó đạt kịch trần ở mức này. Đặc biệt, tỷ lệ sử dụng “biểu thuế ASEAN” rất thấp bởi theo một số nghiên cứu, nó ở mức dưới 10%. Nên nhớ rằng phần lớn giao thương trong khu vực được hưởng chế độ ưu đãi khác, điều này hạn chế lợi ích quyết định của AFTA.

Những yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới giao thương trong khu vực: như Hiệp định hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) được thiết lập năm 1996, cho phép áp dụng thuế nhập khẩu tối đa 5% đối với các sản phẩm trao đổi giữa các doanh nghiệp liên doanh đa quốc gia, đã được các doanh nghiệp sản xuất ô tô sử dụng rộng rãi. Trong lĩnh vực điện tử, giao thương trong khu vực diễn ra mạnh mẽ, hiệp định thương mại đối với các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông (ký kết năm 1996) đảm bảo sự thông thương. Mặt khác, khoảng cách nhỏ giữa biểu thuế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và biểu thuế của AFTA đối với số lượng lớn hàng hóa, cũng giải thích cho việc biểu thuế này ít được sử dụng.

Tuy nhiên, AFTA được xem là một thành công và tại Hội nghị thượng đỉnh Vientiane tháng 10/2003, các nước thành viên ASEAN quyết định sẽ đi xa hơn và hướng tới tầm nhìn năm 2020, thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) dựa trên “một thị trường duy nhất và một nền tảng sản xuất hội nhập”.

Từ ngày 3/7/2017, quả vải thiều Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) đã được bày bán tại hệ thống đại siêu thị Tops, Central Food Hall (chuỗi kinh doanh bán lẻ thực phẩm của Central Group) để giới thiệu đến người dân thủ đô Bangkok (Thái Lan). Đây là lô vải thiều đầu tiên được Central Group thu mua, xuất khẩu sang thị trường Thái Lan từ ngày 30/6/2017. Vải thiều Lục Ngạn hiện có giá gần 200.000 VND/kg tại Thái Lan. (Ảnh: Sơn Nam/Phóng viên TTXVN tại Thái Lan)
Từ ngày 3/7/2017, quả vải thiều Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) đã được bày bán tại hệ thống đại siêu thị Tops, Central Food Hall (chuỗi kinh doanh bán lẻ thực phẩm của Central Group) để giới thiệu đến người dân thủ đô Bangkok (Thái Lan). Đây là lô vải thiều đầu tiên được Central Group thu mua, xuất khẩu sang thị trường Thái Lan từ ngày 30/6/2017. Vải thiều Lục Ngạn hiện có giá gần 200.000 VND/kg tại Thái Lan. (Ảnh: Sơn Nam/Phóng viên TTXVN tại Thái Lan)

Cộng đồng kinh tế ASEAN và hơn nữa

Để xây dựng ASEAN thành một khu vực thịnh vượng, ổn định và có khả năng cạnh tranh cao, AEC được xem là tạo ra một thị trường duy nhất để sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động lành nghề trong hiệp hội, đánh dấu mốc quan trọng của một tiến trình hội nhập kinh tế dựa trên giảm dần các rào cản thương mại trong khu vực.

Theo cùng logic phát triển, trong đó mục tiêu là ưu tiên tăng cường kinh tế quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh luôn gay gắt hơn. Tuy nhiên, điều này cũng chuyển từ logic ít nhiều mang tính nhà nước (hoặc bị áp đặt từ trên xuống) sang một sự năng động hội nhập các lợi ích và nguyện vọng của khu vực tư nhân và các doanh nghiệp. Hội nhập là một phương tiện tăng cường năng lực của mỗi chủ thể đối phó với những thách thức của toàn cầu hóa và thu hút hơn nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài. AEC là sự tổng hòa giữa hội nhập thực sự trong giai đoạn đầu và các công cụ hội nhập thể chế được phát triển trong giai đoạn 2.

Vào tháng 1/2007, thời điểm thành lập AEC đã được đẩy sớm vào năm 2015, và vào tháng 11/2007, dự án được hình thành xoay quanh 4 mục tiêu: 1) Một thị trường và một nền tảng sản xuất duy nhất, 2) Một khu vực kinh tế có khả năng cạnh tranh, 3) Một sự phát triển công bằng và 4) Một khu vực hội nhập với kinh tế thế giới. Những tiến bộ trong các lĩnh vực khác nhau là đối tượng giám sát sát sao thông qua một loạt các chỉ số [Đánh giá quản trị công ty của ASEAN – ND].

Năm 2010, các lãnh đạo ASEAN hoàn thành dự án, một mặt bằng việc đưa ra sáng kiến hội nhập mà mục tiêu của nó là mang lại một sự hỗ trợ cho các nước kém tiên tiến nhất và giảm khoảng cách phát triển trong khu vực; mặt khác, bằng việc thông qua Kế hoạch về kết nối [Kế hoạch tổng thể về kết nối toàn bộ khu vực ASEAN – ND], mà mục tiêu của nó là đồng thời thắt chặt mối liên hệ giữa các quốc gia thành viên thông qua phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện tính kết nối giữa các thể chế và giữa các công dân.

Để triển khai AEC, các công cụ được thiết lập trong khuôn khổ trước đó được bổ sung và tăng cường cả về buôn bán hàng hóa lẫn đầu tư. Từ nay, tự do hóa còn liên quan tới những hàng rào phi thuế quan trong giao thương, và các biện pháp hỗ trợ (đặc biệt là đơn giản hóa một số thủ tục tại các đường biên giới) đang được xem xét. Mặt khác, triển khai một thị trường chung cần kéo theo một cấp độ hài hòa nào đó về chính sách kinh tế (đặt biệt là chính sách cạnh tranh và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ).

Mục tiêu đầu tiên của AEC đơn giản là mang lại động lực mới cho ASEAN: Ngoài tự do hóa về tiếp cận thị trường hàng hóa, đây là việc tăng cường sức hấp dẫn của khu vực đối với đầu tư nước ngoài và khả năng cạnh tranh của khu vực để có thể đối phó với sự cạnh tranh của Trung Quốc và Ấn Độ.  

Trái với những điều mà tên của dự án có thể khiến người ta nghĩ tới, dự án này không hề liên quan gì tới việc thiết lập một không gian hội nhập kinh tế như Liên minh châu Âu. Đặc biệt, không có chuyện các quốc gia thành viên cho phép tới mức từ bỏ chủ quyền của mình. Ngoài ra, ghi nhận sự khác biệt lớn về tình hình giữa các quốc gia thành viên khác nhau, logic vẫn là sự khác biệt của một khu vực thương mại tự do (và không phải của một liên minh hải quan); cuối cùng là sự hài hòa về các chính sách kinh tế còn hạn chế và việc thành lập một liên minh tiền tệ là điều không thể.

Mục tiêu đầu tiên của AEC đơn giản là mang lại động lực mới cho ASEAN: Ngoài tự do hóa về tiếp cận thị trường hàng hóa (đã đạt được từ 2006 hoặc 2010 tùy theo từng nước), đây là việc tăng cường sức hấp dẫn của khu vực đối với đầu tư nước ngoài và khả năng cạnh tranh của khu vực để có thể đối phó với sự cạnh tranh của Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, dự án tính tới những khác biệt về phát triển kinh tế và điều chỉnh các nghĩa vụ tương ứng. Vì vậy, ví dụ về tự do đi lại, nó bị hạn ở số lượng rất hạn hẹp về dạng nghề nghiệp đòi hỏi tay nghề cao.

AEC chính thức được thiết lập vào cuối năm 2015 là một tiến bộ quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN, tuy nhiên, còn tồn tại một số điểm bất lợi, đặc biệt là dưới hình thức hàng rào phi thuế quan trong thương mại hoặc những cản trở về tự do lưu thông về dịch vụ và lao động lành nghề. Mặt khác, khoảng cách giữa tham vọng và thực tế về sự hài hòa phản ánh những khó khăn liên quan tới những khoảng cách về phát triển bên trong hiệp hội.

Về chính sách cạnh tranh, những tiến bộ vẫn dưới mức mong đợi, bởi vì chỉ những nền kinh tế tiên tiến nhất mới có những quy chế như vậy. Cũng vậy, tự do hóa về dịch vụ tài chính là một công trình dang dở do tính không đồng nhất về mức độ phát triển của thị trường tài chính trong khu vực. Mặc dù vẫn chưa hoàn hảo, từ nay, một khu vực thương mại tự do tồn tại giữa 10 quốc gia ở mức độ phát triển kinh tế rất đa dạng, đây là một thành tựu khó tưởng tượng, được thực hiện cách đây nửa thế kỷ.

Hơn cả AEC, ASEAN có thể thấy vai trò của mình thay đổi sâu sắc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong những năm tới. Một đặc tính quan trọng của AEC thực tế là nằm ở mục tiêu thứ 4 được nêu ở trên, đó là hội nhập kinh tế của ASEAN vào nền kinh tế thế giới. Theo logic của chủ nghĩa khu vực mở, một số năm trở lại đây, các quốc gia ASEAN đã tự tham gia đàm phán các hiệp định thương mại ưu đãi. Đến năm 2016, Singapore đã ký kết hơn 30 hiệp định thương mại tự do, Malaysia và Thái Lan ký được khoảng 20 hiệp định, Việt Nam hơn 10 hiệp định.

Đồng thời, ASEAN đã theo đuổi cùng một lộ trình, đặc biệt đàm phán các hiệp định thương mại tự do (ASEAN+1) với những đối tác lớn trong châu Á-Thái Bình Dương (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand). Tháng 11/2012, theo sáng kiến của Indonesia, ASEAN đã đưa ra một dự án quan hệ đối tác kinh tế khu vực quy mô lớn (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực-RCEP), mà mục tiêu của nó là cho phép củng cố 5 hiệp định ASEAN+1.

Ngày 6/9/2016, tại Thủ đô Vientiane (Lào), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các trưởng đoàn nhấn nút khởi động Chiến dịch “Du lịch ASEAN@50” tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28-29. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Ngày 6/9/2016, tại Thủ đô Vientiane (Lào), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các trưởng đoàn nhấn nút khởi động Chiến dịch “Du lịch ASEAN@50” tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28-29. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trái với điều thường xuyên được đề cập, RCEP không phải là một dự án của Trung Quốc để đáp trả sáng kiến của Mỹ, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hoặc là để cạnh tranh với nó. Vả lại, thành phần tham gia của nhóm không phản ánh quyết tâm của Trung Quốc, mà hơn cả là lập trường của Nhật Bản. Trong khi Trung Quốc ủng hộ một nhóm hẹp hơn (nhóm ASEAN+3, gạt Ấn Độ, Ausralia và New Zealand sang một bên), thì Nhật Bản lại nghiêng theo hướng rộng hơn (đó là khuyến nghị Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện Đông Á-CEPEA, dự án do Tokyo nêu ra từ năm 2006). Chính dưới sức ép của người Nhật mà Ấn Độ cuối cùng đã tham gia. Trong những điều kiện này, lo ngại của một số nước về việc chứng kiến Trung Quốc xác lập luật chơi thương mại trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, là không có căn cứ. Để việc này diễn ra, thì ASEAN và các đối tác khác của mình phải sẵn sàng chấp nhận và theo đuổi những đòi hỏi của Bắc Kinh.

Dù gì đi nữa, RCEP có thể cho phép ASEAN tránh bị gạt ra ngoài lề và trái lại giữ được vị trí trung tâm trong tổ chức của khu vực. Về điểm này, sự trở mặt của Mỹ đối với TPP sau sự đắc cử tổng thống của Donald Trump, có cơ may mang lại sức sống mạnh mẽ và sự quan tâm cho dự án RCEP, vậy mà, khả năng chứng kiến, như việc Nhật Bản khởi động lại TPP mà không có Mỹ, là rất thấp, cũng như không chắc 3 cường quốc kinh tế của Đông Bắc Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) có nhanh chóng thống nhất về một dự án hợp tác ba bên tham vọng hơn.

Trong khi với TPP, ASEAN chỉ ở ngoài lề như chủ thể thể chế và bị chia rẽ thành các nhóm nước vì chỉ có 4 nước thành viên là bên tham gia đàm phán (Brunei, Singapore, Malaysia, Việt Nam), với RCEP thì trái lại, ASEAN tìm lại vai trò trung tâm của mình và về mặt nào đó, lấy lại quyền kiểm soát trong tổ chức khu vực. Đúng là vai trò trung tâm và đầu tàu của ASEAN trong dự án RCEP sẽ được hậu thuẫn lớn nếu như AEC thực sự được hoàn thành, tuy nhiên, điều này chưa hoàn toàn xảy ra. Thế nhưng, sự rút lui của Mỹ khỏi TPP mang lại cho ASEAN một cơ may bất ngờ là đưa RCEP thành yếu tố mấu chốt trong tổ chức trao đổi thương mại tại Đông Á.

Hành trình mà các quốc gia ASEAN trải qua trong 50 năm qua quả là ngoạn mục. Khu vực này có các nền kinh tế vô cùng năng động, gắn bó chặt chẽ vào mạng lưới sản xuất của thế giới.

Hành trình mà các quốc gia ASEAN trải qua trong 50 năm qua quả là ngoạn mục. Khu vực này có các nền kinh tế vô cùng năng động, gắn bó chặt chẽ vào mạng lưới sản xuất của thế giới. Với GDP khoảng 2600 tỷ USD, ASEAN là nhóm quốc gia, có nền kinh tế lớn thứ 3 tại châu Á (sau Trung Quốc và Nhật Bản, nhưng đứng trước Ấn Độ), và là nền kinh tế lớn thứ 5 trên thế giới. Và ASEAN là thiết chế không xa lạ gì với những thành tích như: Xây dựng quan hệ hòa bình giữa các quốc gia thành viên và làm gia tăng tính hấp dẫn của khu vực, nên rõ ràng tổ chức này đã đóng góp vào thành công của mỗi quốc gia thành viên, và tạo thuận lợi cho sự hội nhập của họ vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Cho dù Hiệp hội đã từng bước chuyển đổi để thích ứng với những thách thức của môi trường xung quanh mình, thì việc thiết lập kết cấu kinh tế khu vực được đánh dấu bằng 2 hằng số lớn. Chủ nghĩa khu vực mở và phát triển, giúp các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế với những khu vực khác, nó cũng cắt nghĩa những căng thẳng tái diễn giữa các chương trình nghị sự quốc gia và mục tiêu hội nhập.

Với sự mềm dẻo như vậy, ASEAN vẫn có thể giữ vai trò đầu tàu trong cấu trúc kinh tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Những xáo trộn gần đây là cơ hội để ASEAN trở nên chủ động hơn, nắm bắt được số phận của mình và hơn cả là số phận của cả khu vực châu Á. Liệu ASEAN có biết nắm lấy cơ hội hay không? Đó là thách thức đối với ASEAN trong những năm tới./.

Thủy điện nhỏ

Các tỉnh nghèo

cuốn theo ‘cơn lốc’ phát triển thủy điện nhỏ

Hùng Võ

Với lợi thế về địa hình, số lượng sông suối nhiều, độ dốc cao… từ năm 2005 đến nay, nhiều tỉnh miền núi đã coi phát triển thủy điện nhỏ là “con gà đẻ trứng vàng,” từ đó khởi nguồn cho phong trào phát triển ồ ạt nhằm khai thác tối đa nguồn “vàng trắng” giàu tiềm năng.

Vậy nhưng, sau gần chục năm trải thảm đỏ thu hút đầu tư, giờ đây, một số tỉnh đi đầu trong “phong trào phát triển năng lượng” ở miền Bắc như Hà Giang, Cao Bằng đã phải hứng chịu hàng loạt hệ lụy: mất rừng, dự án xây dựng dở dang, sông suối cạn trơ đáy, suy giảm lượng phù sa, ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh lam thắng cảnh…

Và đằng sau đó là cả những câu chuyện “bi hài” đang gây nhiều tranh cãi do công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án chưa sát với thực tế, chưa khoa học dẫn đến việc phải thường xuyên điều chỉnh và loại bỏ nhiều dự án ra khỏi quy hoạch.

Trong vòng 10 năm qua, tỉnh Hà Giang và Cao Bằng đã được quy hoạch trên 100 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khi quy hoạch lên đến hơn 1.000MW. Đến nay, mặc dù hai tỉnh này đã loạt bỏ 37 dự án yếu kém, nhưng trung bình mỗi dòng sông vẫn phải “cõng” từ 3-6 nhà máy thủy điện.

Thực trạng phát triển một cách ồ ạt các công trình thủy điện và thiếu kiểm soát, gây tranh chấp kéo dài trong suốt nhiều năm… đã khiến hai tỉnh có tiềm năng về phát triển năng lượng sạch ở miền Bắc phải chịu những hệ lụy khi chủ đầu tư quay lưng để lại.

Toàn cảnh ‘Thế giới thủy điện nhỏ’ tại  Việt Nam.

Thủy điện nhỏ “mọc” tràn lan

Chỉ tính riêng tại tỉnh Cao Bằng, mặc dù, địa phương này đã loại bỏ 11 dự án khỏi quy hoạch vào năm 2011 nhưng hiện vẫn còn 40 dự án thủy điện nằm trong quy hoạch với tổng công suất lắp máy hơn 350 MW. Trong số đó, 24 dự án được tỉnh phê duyệt năm 2007; Bộ Công Thương phê duyệt, bổ sung điều chỉnh 10 dự án; và 6 dự án được tỉnh phê duyệt bổ sung.

Theo thông tin từ Sở Công Thương tỉnh Cao Bằng, hiện trên địa bàn tỉnh có 12 nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động với tổng công suất lắp máy hơn 70,6 MW; thủy điện công suất lớn nhất là 30 MW, còn lại chủ yếu là thủy điện nhỏ được xây dựng trên hệ thống các con sông chính như sông Gâm, sông Bằng Giang, sông Quây Sơn…

Riêng hệ thống sông Gâm (dài khoảng 60km, chảy qua hai huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc) theo quy hoạch sẽ phải “cõng” 6 dự án thủy điện. Hiện tại, thủy điện Bảo Lâm 1 với công suất 30 MW đã đi vào vận hành, thủy điện Bảo Lâm 3 và 3A đang được thi công, thủy điện Bảo Lâm 4 chuẩn bị thi công. Cả 4 thủy điện này được Công ty cổ phần xây lắp điện 1 đầu tư.

Riêng hệ thống sông Gâm dài khoảng 60km, chảy qua hai huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Cao Bằng theo quy hoạch sẽ phải “cõng” 6 dự án thủy điện

Còn tại tỉnh Hà Giang, từ năm 2005 đến nay, địa phương này đã được quy hoạch 72 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khi quy hoạch là 768,8MW.

Trong giai đoạn đầu, từ năm 2005-2010 và xét đến năm 2015 tại Quyết định 216/QĐ-UBND ngày 19/5/2005 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang, trên địa bàn tỉnh này được quy hoạch 26 dự án, với tổng công suất lắp máy 474,9MW.

Cũng trong giai đoạn này, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đã phê duyệt một dự án thủy điện trên sông Gâm, với công suất 45MW.

Trong khi đó, tại Quyết định số 2737/QĐ-UBND ngày 22/8/2008 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt quy hoạch phát triển thủy điện vừa và nhỏ, thì số lượng dự án thủy điện nhỏ trong giai đoạn hai được điều chỉnh thêm… 34 dự án. Vì đây chủ yếu là thủy điện nhỏ nên tổng công suất lắp máy của 34 dự án chỉ có 80MW.

Thủy điện Sông Lô 2 tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Sông Lô 2 tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Những tưởng hệ thống thủy điện dày đặc được quy hoạch trên hầu hết các con sông ở Hà Giang sẽ dừng lại ở đó. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 2 năm (từ cuối 2009-2011), Hà Giang tiếp tục quy hoạch thêm 11 thủy điện trên hệ thống sông Lô, sông Chảy, sông Gâm với tổng công suất lắp máy hơn 160MW.

Mãi đến tháng 4/2013, sau khi cùng Bộ Công Thương rà soát các dự án thủy điện, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang mới loại bỏ 27 trong tổng số 72 dự án ra khỏi quy hoạch vì năng lực yếu, không khả thi như: Thủy điện Sông Miện 2, Thanh Thủy 1A, Lũng Phìn, Cốc Rế, Sông Con 1, Ngòi Thàn, Ngòi Hít, Nậm Mu 1A, Nậm Khiêu…

Vậy nguyên nhân từ đâu mà tỉnh Hà Giang phải mạnh tay loại bỏ hàng chục dự án thủy điện đã được tỉnh đưa vào quy hoạch như vậy?

Lý giải cho thực trạng trên, ông Hoàng Văn Nhu – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang cho rằng trước đây, công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch dự án thủy điện chưa sát với thực tế, thiếu sàng lọc ngay từ khi kêu gọi. Vì thế, không ít chủ đầu tư thiếu năng lực và kinh nghiệm đã nhảy vào đầu tư, dẫn đến việc phải thường xuyên điều chỉnh, loại bỏ nhiều dự án khỏi quy hoạch.

Công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch dự án thủy điện chưa sát với thực tế, thiếu sàng lọc ngay từ khi kêu gọi. Vì thế, không ít chủ đầu tư thiếu năng lực và kinh nghiệm đã ‘nhảy’ vào đầu tư

Bên cạnh đó, việc đầu tư phát triển thủy điện ở Hà Giang cũng xuất hiện những bất cập như chiếm dụng đất đai (đất nông nghiệp, đất rừng), đồng ruộng để làm hồ chứa.

Thủy điện hình thành các bậc thang từ thượng nguồn làm thay đổi dòng chảy, chế độ thủy văn, ảnh hưởng môi trường sinh thái, tiềm ẩn nguy cơ gây thảm họa cho con người.

Cho đến nay, mặc dù đã bị loại bớt dự án (chỉ còn lại hơn 40 dự án với tổng công suất lắp máy gần 800 MW) nhưng mỗi con sông ở Hà Giang vẫn phải “cõng” từ 3-6 thủy điện. Đơn cử, dù chỉ là một phụ lưu của sông Lô, nhưng sông Miện hiện đang phải “cõng” 6 thủy điện là: Sông Miện 5, Sông Miện 5A, Thái An, Sông Miện (Bát Đại Sơn), Sông Miện 6, và Thuận Hòa.

Trên sông Nho Quế (dòng sông giải khát cho người dân vùng cao) chảy qua địa phận huyện Mèo Vạc, hiện cũng đã được quy hoạch ít nhất 3 nhà máy thủy điện bậc thang. Trong đó, thủy điện Nho Quế 3 đã vận hành từ năm 2012, thủy điện Nho Quế 2 đã phát điện hồi tháng 8/2016. Còn thủy điện Nho Quế 1 đang trong quá trình thi công.

Thủy điện Sông Bạc tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Sông Bạc tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Phớt lờ quy định dòng chảy tối thiểu

Hà Giang vốn được biết đến là vùng cao nguyên hùng vĩ, với những dòng sông uốn lượn chẳng khác gì những “con rồng xanh” luồn qua vực thẳm. Sông cứ thế chảy miết đến tận cùng, nhưng bây giờ nhiều con sông đã bị “thắt cổ,” và bị ngăn thành những hồ đập, nằm im lìm bất động.

Một ví dụ điển hình như tại huyện Vị Xuyên, theo quy hoạch có 17 dự án thủy điện, hiện 7 dự án đã phát điện, 3 dự án đang thi công. Trong đó, riêng dòng sông Miện có tới 6 thủy điện (4 thủy điện đã vận hành, 2 dự án đang thi công).

Thực trạng này đã làm biến dạng dòng chảy, dòng sông bị ngăn thành những hồ đập khổng lồ, trong khi phía dưới lúc nào cũng ở trong tình trạng “đói” nước.

Nếu di chuyển từ thành phố Hà Giang, chúng ta sẽ đến thủy điện Sông Miện 5A đầu tiên, đây là thủy điện nhỏ với công suất lắp máy 5MW. Thủy điện này đã phát điện từ năm 2015, nhưng đến nay vẫn chưa có giấy phép khai thác sử dụng nước mặt.

Ngoài ra, thủy điện này cũng chưa bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu theo quy định, song vẫn không bị cơ quan chức năng xem xét xử lý.

Thủy điện Sông Miện 5A chưa bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu theo quy định, song vẫn không bị cơ quan chức năng xem xét xử lý

Ghi nhận của phóng viên cho thấy, đập dâng của thủy điện Sông Miện 5A cách thân đập của thủy điện Sông Miện 5 (hai thủy điện cùng chủ đầu tư) chỉ một cánh đồng. Tại khu vực này, sông bị ngăn lại thành hồ đập khổng lồ, đầy ắp nước. Trong khi đó, phía thượng nguồn dòng sông Miện 5A cũng bị ngăn đập làm thủy điện khiến dòng sông này gần như không chảy.

Theo quy định của Nghị định 112/2008/NĐ-CP thì các công trình khai thác sử dụng nước như hồ chứa, đập dâng thủy lợi thủy điện khi tích và điều tiết nước đều phải xả trả lại sông lượng dòng chảy tối thiểu để bảo đảm nước cho hệ sinh thái, duy trì môi trường sống và bảo đảm nhu cầu nước cho sử dụng ở đoạn sông hạ lưu.

Vậy nhưng, sáng ngày 26/4/2017 có mặt tại nhà máy thủy điện Sông Miện 5A, chúng tôi phát hiện nhà máy này không xả nước duy trì dòng chảy tối thiểu. Các cửa xả của nhà máy đóng kín đã khiến hạ lưu sông Miện bị cạn trơ đáy. Nhiều người dân thấy sông cạn đã xuống mò ốc, bắt cá ngay trước cửa xả của thủy điện này.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus vào ngày 27/4/2017, ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang thừa nhận có việc một số thủy điện, như thủy điện sông Miện 5A tích nước không bảo đảm dòng chảy để tăng lợi ích khi sản xuất điện. Và, lỗi này là do phía doanh nghiệp.

“Trong việc này, địa phương quản lý quy trình vận hành của các Nhà máy cũng rất khó vì không phải lúc nào các cơ quan chức năng cũng có thể tổ chức kiểm tra được. Mặt khác, các thủy điện thường ở các khu vực xa, hẻo lánh cũng khó cho công tác kiểm tra xử lý,” ông Sơn chia sẻ.

Thủy điện Hòa Thuận tại tỉnh Cao Bằng, xây dựng gần 10 năm, nay vẫn chưa hoàn  thành. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Hòa Thuận tại tỉnh Cao Bằng, xây dựng gần 10 năm, nay vẫn chưa hoàn thành. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cùng chung cảnh quá tải thủy điện, tại sông Gâm, tỉnh Cao Bằng theo kế hoạch cũng phải “cõng” 6 thủy điện. Hiện một số thủy điện đã đi vào vận hành như thủy điện Bảo Lâm 1 với công suất lắp máy 30MW. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, thủy điện này cũng không duy trì dòng chảy tối thiểu như quy định.

Theo ghi nhận của phóng viên, vào khoảng 13 giờ 30 phút trưa 23/4/2017, sông Gâm đoạn qua xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm đã bị cạn trơ đáy. Hàng trăm người dân lao xuống đánh bắt cá ngay phía dưới nhà máy, họ bắt cá giữa dòng sông Gâm mà như bắt cá trong ao nhà mình, người quăng chài, kẻ thả lưới…

Một số người dân địa phương cho biết hàng ngày, vào khoảng 10 giờ sáng hoặc 12 giờ trưa là thủy điện tích nước cho đến khoảng 14 giờ hoặc 16 giờ chiều là thủy điện xả nước. Do đã nắm được thời gian đóng xả của thủy điện nhiều người ăn nằm luôn dưới gầm cầu Lý Bôn để đánh bắt cá.

Nghe xong câu chuyện, chúng tôi vào gần khu vực nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1, do là thời gian thủy điện tích nước nên dòng chảy phía hạ du đã bị cạn kiệt, tất cả các cửa xả của nhà máy đóng kín, một số người dân liều lĩnh vào rất gần cửa xả để bắt cá.

Ngay sau khi tiếp cận và quay phim sự việc, khoảng 14 giờ 30 ngày 23/4 chúng tôi đã liên hệ với Ban lãnh đạo thủy điện Bảo Lâm 1 qua điện thoại nhưng không ai nghe máy. Phải đến khi chúng tôi báo cáo câu chuyện với lãnh đạo Sở Công Thương thì Ban quản lý thủy điện Bảo Lâm 1 mới liên lạc lại và hẹn làm việc lúc 13 giờ chiều ngày 24/4.

Thủy điện Bảo Lâm 1 tại tỉnh Cao Bằng. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Bảo Lâm 1 tại tỉnh Cao Bằng. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trước thời điểm vào làm việc khoảng 15 phút, chúng tôi có mặt tại khu vực nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1, nhưng điều bất thường là thủy điện này lại xả nước với lưu lượng khá lớn, bất chấp việc phía hạ du người dân vẫn đang đánh bắt cá, lượng nước chảy về gây nguy hiểm đến tính mạng của nhiều người.

Tại buổi làm việc với ông Vũ Văn Long, Quản đốc nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1, ông Long cho biết: “Về nguyên tắc, nhà máy tuân thủ theo điều kiện phối hợp vận hành, điều tiết ngày đêm, nếu có nước thì đề nghị xin phát, nhưng mình phải xả dần để tránh sạt lở. Theo quy định nếu không phát điện mình phai xả đúng lưu lượng.”

Giải thích về dòng sông “chết” bất thường ngày 23 và 24/4, ông Long cho hay, Nhà máy phát điện 9 giờ, tầm 11 đến 12 giờ trưa, do bên chuyên gia Trung Quốc nói cửa van không điều khiển từ xa được nên đóng lại để sửa. Hoặc hôm nào đó mới phát điện xong, lưu lượng nước phía hạ du lớn nên nhà máy không thể xả thêm được…

Trong khi đó, nhìn nhận từ góc độ địa phương, ông Vũ Ngọc Lưu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Bảo Lâm cho biết: “Việc tích, xả nước của thủy điện rất phức tạp. Trước đây từng có lúc nhà máy tích nước đóng kín, nước không chảy về phía hạ du, bà con phản ánh sông cạn nước đã hơn 45 phút, tôi buộc phải gọi điện cho lãnh đạo nhà máy xả nước.”

Ông Lưu cho biết thêm thủy điện Bảo Lâm 1 khi đóng xả nước còn gây sạt lở bờ sông, một số hộ dân vẫn chưa được đền bù. Ngoài ra, việc tích nước đã làm nứt hai đầu cầu treo đường đi xã Đức Hạnh và cầu Km22 và nguy cơ sạt lở 200m đường giao thông nông thôn và dọc quốc lộ 4C. Tuy nhiên, việc này doanh nghiệp vẫn chưa triển khai./.

Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy  điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng  chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chồng lấn mốc giới

Thủy điện gây tranh chấp gần 10 năm

Hùng Võ

Không chỉ quy hoạch phát triển tràn lan thủy điện nhỏ, việc lập, thẩm định, phê duyệt và triển khai một số dự án thủy điện tại nhiều tỉnh phía Bắc cũng còn thiếu khả thi, gây phát sinh nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến môi trường, an ninh nguồn nước và tính mạng của người dân.

Hệ lụy từ việc quy hoạch ồ ạt trên là tình trạng tranh chấp mức nước và hành lang bảo vệ giữa các nhà máy thủy điện kéo dài suốt gần chục năm trời, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa, khiến nhiều đoạn sông dường như bị “chết” do thủy điện “uống” cạn nước.

Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy  điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng  chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Tự ý dâng nước, gây chết người

Xưa nay, việc các nhà máy thủy điện xây dựng trên cùng một dòng sông, “uống” chung dòng nước là lẽ thường tình. Vậy nhưng, gần đây, một chuyện không hay đã xảy ra, cuốn hai doanh nghiệp lớn về thủy điện ở Hà Giang vào “tâm bão,” gây nhiều tranh cãi trong suốt nhiều năm qua.

Đó là việc tranh chấp mực nước, sử dụng hành lang bảo vệ giữa Công ty Cổ phần Thủy điện Thuận Hòa (chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Thuận Hòa) và Công ty Cổ phần Thủy điện Sông Miện 5 (chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Sông Miện 5). Đây là hai thủy điện cùng “mọc” trên sông Miện (phụ lưu của sông Lô).

Trong một văn bản gửi lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang, Công ty Cổ phần Thủy điện Thuận Hòa đã “tố” thủy điện Sông Miện 5 không tuân thủ mực nước dâng bình thường theo quy hoạch. Đại diện Công ty Cổ phần Thủy điện Thuận Hòa cho biết dự án này được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang phê duyệt quy hoạch bổ sung ngày 31/1/2013 với công suất thiết kế 38MW.

Theo quyết định phê duyệt này, mực nước hạ lưu Nhà máy thủy điện Thuận Hòa là 154,5m/157,5m. Còn mực nước dâng bình thường của Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 là 155m. Với các thông số mực nước dâng bình thường của hai dự án, nếu các bên tuân thủ đúng sẽ khai thác hài hòa, tối ưu thủy năng trên dòng sông, không ảnh hưởng đến nhau.

Tuy nhiên, Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 đã tự ý dâng nước tại lòng hồ thủy điện lên 157-158m khiến mực nước dâng bình thường tại hạ lưu Nhà máy thủy điện Thuận Hòa lên mức 162-163m.

Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 đã tự ý dâng nước tại lòng hồ thủy điện lên 157-158m khiến mực nước dâng bình thường tại hạ lưu Nhà máy thủy điện Thuận Hòa lên mức 162-163m

Trong khi đó, đại diện Công ty Cổ phần Thủy điện Sông Miện 5 cho rằng Công ty Cổ phần Thủy điện Thuận Hòa và Sở Công Thương tỉnh Hà Giang đã lập, thẩm định, chấp thuận, phê duyệt, đầu tư tăng quy mô, công suất nhà máy lên gấp 3 lần khi chưa được Bộ Công Thương chấp thuận, gây chồng lấn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các dự án xung quanh.

Cũng theo lập luận của Công ty Cổ phần Thủy điện Sông Miện 5, thì dự án thủy điện Thuận Hòa có công suất 13,5MW theo văn bản thẩm định 255/CV-NLDK ngày 14/1/2005 của Bộ Công Thương, Quyết định phê duyệt số 216/QĐ-UB ngày 19/1/2005 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang.

Đến năm 2011, Công ty Cổ phần Thủy điện Thuận Hòa và Sở Công Thương tỉnh Hà Giang trình hồ sơ đề nghị điều chỉnh tăng công suất. Sau đó, Bộ Công Thương yêu cầu phải kiểm tra sự phù hợp của dự án với quy hoạch các dự án thủy điện khác và mỏ sắt Tùng Bá đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; cần cập nhật các mực nước thiết kế hồ chứa thủy điện Sông Miện 5 phía dưới hạ lưu đang vận hành…

Tuy nhiên, Sở Công Thương đã thẩm định, chấp thuận toàn bộ hồ sơ thiết kế của chủ đầu tư, điều chỉnh tăng công suất lên 38MW.

Theo nội dung Quyết định số 976/QĐ-UBND ngày 2/6/2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang, Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 có cao trình mực nước dâng bình thường là 155m, cao trình mực nước dềnh 159,8m. Ranh giới hành lang bảo vệ lòng hồ được duyệt theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2010 là 163m.

 Thủy điện Sông Miện 5 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
 Thủy điện Sông Miện 5 tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Tuy nhiên, trong quá trình tranh chấp, Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 chưa tiến hành cắm mốc, căng dây mốc ranh giới hành lang bảo vệ lòng hồ. Thực tế này dẫn đến việc Nhà máy thủy điện Thuận Hòa khi khảo sát, điều chỉnh thiết kế lên 38MW đã chồng lên vùng lòng hồ thủy điện Sông Miện 5, gây ô nhiễm môi trường và gây tai nạn nghiêm trọng làm ba người chết.

Để giải quyết việc tranh chấp mực nước và hành lang bảo vệ hồ giữa Công ty Cổ phần Thủy điện Thuận Hòa và Công ty Cổ phần Thủy điện Sông Miện 5, từ năm 2014 đến nay, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã nhiều lần đứng ra làm “trọng tài” hòa giải, nhưng việc tranh chấp vẫn chưa được xử lý triệt để.

Trao đổi với phóng viên về việc giải quyết tranh chấp trên, ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang cho biết: Xảy việc khiếu kiện giữa hai công ty trên là do quá trình đầu tư xây dựng đã có tác động đến môi trường, dự án chưa tuân thủ nghiêm túc quy trình vận hành hồ chứa đã được Bộ Công Thương phê duyệt.

Trước thực trạng này, ngày 3/8/2015, tại Tỉnh ủy Hà Giang, đồng chí Triệu Tài Vinh, Bí thư Tỉnh ủy cùng Thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo của hai công ty. Qua đó, hai bên thỏa thuận duy trì mực nước dâng bình thường (mực nước vận hành) của Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 (bậc dưới) ở mức 158m, mực nước dềnh là 161m.

Vậy nhưng, tại buổi làm việc với phóng viên VietnamPlus vào ngày 26/4/2017, ông Nguyễn Thanh Hải, đại diện Công ty Cổ phần thủy điện Thuận Hòa khẳng định, các nội dung liên quan đến việc tranh chấp vẫn chưa đi tới “hồi kết.”

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang khẳng định trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện giữa các chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Thuận Hòa và Sông Miện 5, tỉnh cũng… rất đau đầu

Lý do là mực nước dâng tại khu vực lòng hồ thủy điện Sông Miện 5 vẫn cao hơn so với thiết kế cơ sở được phê duyệt hơn 6m; gây khó khăn cho việc thi công Nhà máy thủy điện Thuận Hòa.

“Theo kế hoạch, đến đầu tháng 4/2017 sẽ hoàn thành việc thi công nhà máy, nhưng do tranh chấp nên cơ quan chức năng đã gia hạn thêm sáu tháng. Hiện tại, bậc dưới (khu vực lòng hồ thủy điện Sông Miện 5) đang tích nước cao hơn so phê duyệt. Việc tự ý tích nước, xây cao trình đập lên cao không đúng thiết kế, sai trắng trợn nhưng đến nay vẫn tồn tại,” ông Hải nói.

Trước băn khoăn của phóng viên về kết quả giải quyết tranh chấp, ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang khẳng định trong việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện giữa các chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Thuận Hòa và Sông Miện 5, tỉnh cũng… rất đau đầu.

“Để giải quyết việc này, mới đây, tôi đã trực tiếp giao đồng chí Hạnh (Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang) đi vào kiểm tra, nhưng khi kiểm tra Nhà máy thủy điện Sông Miện 5 lại tích nước đảm bảo mực nước dâng. Thế nhưng, khi đoàn kiểm tra rút lui, mực nước lại được tích cao hơn. Đây cũng là vì lợi ích của doanh nghiệp,” ông Sơn nói.

Sông Miện tại tỉnh Hà Giang bị các nhà máy thủy điện thắt lại, ngăn thành những hồ đập lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Sông Miện tại tỉnh Hà Giang bị các nhà máy thủy điện thắt lại, ngăn thành những hồ đập lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Đổi” 10 năm tranh chấp lấy… 3,7 tỷ đồng

Cùng tham vọng làm giàu từ thủy điện, ngay từ năm 2006, tỉnh Cao Bằng đã có chủ trương xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Thuận (huyện Nguyên Bình) thiết kế với công suất 20 MW và Thủy điện Tiên Thành (huyện Quảng Uyên) với công suất 15 MW, nhằm phát huy tiềm năng tự nhiên và thế mạnh của tỉnh trên sông Bằng Giang.

Tuy nhiên, do tranh chấp nguồn nước trong quá trình thi công, nên hai thuỷ điện này đã phải “dậm chân tại chỗ,” để giải quyết vướng mắc. Nguyên nhân của việc này là, khi xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Thuận và đưa vào vận hành, mực nước dâng của hồ thủy điện này sẽ ngập lên thân đập cũng như Nhà máy thủy điện Tiên Thành.

Để giải quyết sự việc trên, ngày 4/12/2012, Bộ Công Thương có Văn bản số 11687/BCT-TCNL gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng với nội dung điều chỉnh quy hoạch dự án thủy điện Hòa Thuận và yêu cầu nghiêm túc thực hiện triệt để ý kiến chỉ đạo cũng như kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư dự án thực hiện đúng nội dung đã cam kết và sớm điều chỉnh quy hoạch các dự án.

Trên cơ sở đó, hai bên đã đi đến thống nhất là Nhà máy thủy điện Hòa Thuận chấp thuận hạ mực nước dâng xuống 3m so thiết kế ban đầu và giảm công suất phát điện từ 20 MW xuống 17,4 MW (đã được Bộ Công Thương phê duyệt) và chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Tiên Thành chi trả cho thủy điện Hòa Thuận… 3,7 tỷ đồng tiền bồi thường.

Dự án thủy điện Hòa Thuận vi phạm 14 sai phạm và dự án thủy điện Tiên Thành 19 sai phạm, trách nhiệm này trước hết thuộc về hai chủ đầu tư

Từ đó đến nay, sau rất nhiều cuộc họp, gặp gỡ giữa các doanh nghiệp do Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng tổ chức, hai thủy điện đã thi công trở lại. Ghi nhận của phóng viên vào những ngày cuối tháng 4/2017 cho thấy, cả hai công trình thủy điện Tiên Thành và Hòa Thuận đều đang gấp rút thi công và dự kiến phát điện vào năm 2018.

Tuy nhiên, khi được hỏi về quy trình xây dựng, đại diện Công ty cổ phần sông Đà 7.09 (chủ đầu tư thủy điện Tiên Thành) cho hay do mới mua công trình thủy điện này từ chủ đầu tư cũ nên vẫn thiếu một số giấy tờ theo quy định, đặc biệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường vẫn đang trong quá trình thực hiện.

Đáng chú ý là trước đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã thành lập đoàn thanh tra đối với hai dự án và kết luận thanh tra tại Văn bản số 337/KL-UBND ngày 12/2/2015 cho thấy: Dự án thủy điện Hòa Thuận vi phạm 14 sai phạm và dự án thủy điện Tiên Thánh 19 sai phạm, trách nhiệm này trước hết thuộc về hai chủ đầu tư.

Đặc biệt, kết luận thanh tra nhấn mạnh việc để xảy ra tình trạng xây dựng dự án nhưng chưa được cấp phép trên địa bàn huyện thì Ủy ban Nhân dân hai huyện có dự án (là Quảng Uyên và Phục Hòa) phải chịu trách nhiệm; việc dự án thủy điện Tiên Thành chưa làm các thủ tục thu hồi đất, giao đất xây dựng công trình nhưng đã triển khai xây dựng, chưa có Báo cáo đánh giá tác động môi trường, trách nhiệm thuộc về chủ đầu tư và Ủy ban Nhân dân cấp huyện.

Mặt khác, Kết luận thanh tra cũng nêu rõ các thông số của dự án chưa phù hợp với quy hoạch như công suất, mực nước dâng bình thường nhưng vẫn cấp giấy chứng nhận đầu tư, thẩm định thiết kế cơ sở, không thực hiện thẩm tra đầu tư đối với dự án thủy điện Tiên Thành, trách nhiệm thuộc về Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Công Thương./.

Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Công trình ngổn ngang

chậm tiến độ, bỏ hoang giữa rừng

Hùng Võ

Sau một thập kỷ trải thảm đỏ thu hút đầu tư phát triển thủy điện vừa và nhỏ, giờ đây, phần lớn dự án thủy điện tại hai tỉnh Hà Giang, Cao Bằng vẫn nằm trên giấy.

Hàng loạt dự án khác đã được thi công thì chậm tiến độ, phải tạm dừng xây dựng. Thậm chí, có những dự án được đầu tư hàng trăm tỷ đồng nhưng nhiều năm nay vẫn đang bỏ hoang vì chủ đầu tư có năng lực thuộc loại yếu kém.

  Dự án thủy điện Nho Quế 2, tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
  Dự án thủy điện Nho Quế 2, tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chậm vì năng lực yếu kém

Trong quá trình tìm hiểu về việc quy hoạch phát triển trên địa bàn tỉnh Hà Giang, phóng viên VietnamPlus được biết, ngoài 16 thủy điện đã đi vào vận hành, tại địa phương này hiện có 12 dự án đang và sắp thi công xây dựng với tổng công suất lắp máy là 300,7MW; trong đó 7 dự án dự kiến sẽ phát điện trong năm 2017.

Tuy nhiên, một số dự án hiện nay trên thực tế đang chậm tiến độ so giấy chứng nhận đầu tư gần 10 năm, do bị gặp vướng mắc trong giải phóng mặt bằng; việc cung cấp vật tư, vật liệu máy móc thiết bị chưa kịp thời do chủ đầu tư phải nhập từ nước ngoài (Trung Quốc); hay có dự án đang phải điều chỉnh quy hoạch.

Một ví dụ điển hình là thủy điện Bản Kiếng công suất 3,6MW (chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng nông lâm Tôn Thọ). Dự án này được khởi công từ năm 2006, tại địa phận xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên. Hiện dự án này đang phải tạm dừng thi công.

Thông tin về việc dự án thủy điện này, ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang cho biết, công trình Nhà máy thủy điện Bản Kiếng hiện đang xây dựng dở dang một số hạng mục như: nâng cấp mở mái đường lên hồ đập thủy điện dài khoảng 5km nay đã xuống cấp không sử dụng được; kênh dẫn nước thải nhà máy; công tác đền bù giải phóng mặt bằng…

Thủy điện Bản Kiếng công suất 3,6MW (chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng nông lâm Tôn Thọ), được khởi công từ năm 2006, tại địa phận xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đang phải tạm dừng thi công

Ngoài ra, các hạng mục công trình chính của dự án như đập bêtông trọng lực, đường ống áp lực và nhà máy cơ bản cũng chưa được thi công xây dựng. Toàn bộ các hoạt động thi công xây dựng của dự án thủy điện Bản Kiếng đã bị dừng thi công từ đầu năm 2008 đến nay.

Theo ông Sơn, nguyên nhân khiến dự án thủy điện Bản Kiếng phải dừng hoạt động là do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng nông lâm Tôn Thọ không có khả năng bố trí được vốn nên dự án dừng thực hiện đầu tư. Ngoài ra, nội bộ của Công ty này cũng không có sự đoàn kết nhất trí, dẫn đến hiện tượng khiếu kiện lẫn nhau giữa các cổ đông.

Đến tháng 7/2016, Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng nông lâm Tôn Thọ kiện toàn lại bộ máy để tiếp tục triển khai dự án.

Tuy nhiên, ngày 10/4/2017, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã yêu cầu Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng nông lâm Tôn Thọ tạm dừng mọi hoạt động tập kết vật tư, vật liệu xây dựng, dừng thi công công trình để giải quyết dứt điểm việc thanh toán cho các nhà thầu và hoàn thiện các thủ tục theo quy định của luật đầu tư, luật bảo vệ môi trường…

Thủy điện Nho Quế 3 tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Nho Quế 3 tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Dù không có tiềm năng về phát triển thủy điện so với tỉnh Hà Giang, nhưng thời gian qua, Cao Bằng cũng được biết đến như một điểm “nóng” về phát triển thủy điện. Tuy nhiên, bức tranh thủy điện nơi đây được vá víu bởi không ít mảng tối với những công trình chậm tiến độ do lỗi quy hoạch, cấp phép; thi công dang dở, ảnh hưởng không nhỏ đến hệ sinh thái và cuộc sống người dân.

Theo Quy hoạch thủy điện nhỏ của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã được phê duyệt tại Quyết định số 2320/QĐ-UBND ngày 16/11/2007, toàn tỉnh có 24 dự án với tổng công suất 120 MW; các dự án được Bộ Công Thương phê duyệt bổ sung điều chỉnh gồm 10 dự án với tổng công suất hơn 206 MW. Hiện nay Sở Công Thương đã đề nghị tỉnh loại 11 dự án ra khỏi quy hoạch.

Còn những thủy điện dù đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư và đi vào thi công xây dựng từ hơn 10 năm về trước thì nay vẫn đang chậm tiến độ, thậm chí bỏ hoang, gây thất thoát lớn đến nguồn thu của tỉnh Cao Bằng, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của bà con nơi thực hiện dự án.

Đơn cử như Nhà máy thủy điện Tiên Thành (15MW) do Công ty Cổ phần Năng lượng Cao Bằng làm chủ đầu tư, được triển khai từ năm 2008, nhưng đến tháng 5/2010 đã tạm dừng thi công. Đây là bậc thang giữa trong 3 bậc thang (3 thủy điện) được xây dựng trên sông Bằng Giang.

Điều đáng nói là, trong quá trình thi công, chủ đầu tư dự án thủy điện Tiên Thành đã xây dựng công trình khi chưa có quyết định thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chưa có phương án đền bù giải phóng mặt bằng; chưa lập và phê duyệt phương án cắm mốc giới xác định hành lang bảo vệ hồ chứa và vùng phụ cận…

Sau nhiều năm thi công kiểu“rùa bò,” gần đây, dự án thủy điện Tiên Thành được “bán” lại cho Công ty Cổ phần sông Đà 7.09 nhưng hiện giờ vẫn chưa có đầy đủ các giấy tờ liên quan

Sau nhiều năm thi công kiểu“rùa bò,”gần đây, dự án thủy điện Tiên Thành được “bán” lại cho Công ty Cổ phần sông Đà 7.09. Từ cuối năm 2016, dự án này tiếp tục được thi công trở lại, nhưng hiện giờ vẫn chưa có đầy đủ các giấy tờ liên quan như báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Lý giải về việc chậm tiến độ trên, đại diện chủ đầu tư dự án thủy điện Tiên Thành cho biết, do mới mua công trình thủy điện này từ chủ đầu tư khác nên hiện nay công trình dù đang xây dựng nhưng vẫn thiếu một số giấy tờ theo quy định, đặc biệt là báo cáo đánh giá tác động môi trường đang trong quá trình thực hiện.

Tương tự, Nhà máy thủy điện Hòa Thuận (20MW) cùng xây dựng trên sông Bằng Giang, do Công ty Cổ phần Thủy điện Hòa Thuận làm chủ đầu tư, được triển khai từ tháng 6/2006.

Theo tiến độ, dự án sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng từ tháng 10/2009, nhưng đến tháng 3/2009 đã phải dừng thi công do xảy ra tranh chấp mực nước với dự án Nhà máy thủy điện Tiên Thành. Đến nay, sau hơn 10 năm “ra đời,” dự án vẫn chưa xây dựng xong.

Tại buổi làm việc với phóng viên VietnamPlus vào ngày 22/4/2017, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, đại diện Công ty Cổ phần Thủy điện Hòa Thuận thừa nhận: “Hiện tiến độ xây dựng của nhà máy mới đạt 30%. Trong quá trình triển khai, công trình có làm ảnh hưởng đến hơn 120 hộ dân, trong đó 2 hộ dân phản di dời khỏi lòng hồ, diện tích đất nhường cho thủy điện là hơn 100ha (bao gồm đất rừng và lòng sông, suối).”

Dự án Thủy điện Hoa Thám được khởi công từ năm 2007 với tổng mức đầu từ trên 200 tỷ đồng, trong đó 70% sử dụng vốn vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển tỉnh Cao Bằng, hiện dự án này vẫn đang bỏ hoang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Dự án Thủy điện Hoa Thám được khởi công từ năm 2007 với tổng mức đầu từ trên 200 tỷ đồng, trong đó 70% sử dụng vốn vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển tỉnh Cao Bằng, hiện dự án này vẫn đang bỏ hoang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Công trình hàng trăm tỷ bỏ hoang

Oái oăm nhất là dự án thủy điện Hoa Thám (5,8MW) tại huyện Nguyên Bình. Dự án này do Công ty Đầu tư và phát triển Năng lượng Đông Bắc làm chủ đầu tư, triển khai từ năm 2007 và tạm dừng thi công từ tháng 11/2011, do chủ đầu tư thiếu vốn.

Từ năm 2004 đến nay, Công ty này đã thay đổi 8 lần giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và nhiều lần thay đổi lãnh đạo, giám đốc…

Trước sự trì trệ của dự án, đầu năm 2015, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã thành lập đoàn kiểm tra, qua đó phát hiện 26 sai phạm. Trong đó, có sai phạm thuộc diện cấm hoạt động xây dựng là chưa được cấp phép xây dựng, xây dựng chưa đúng quy hoạch theo quy định của Luật xây dựng.

Kết luận thanh tra số 2435/KT-UBND ngày 3/9/2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng nêu rõ: “Đây là lỗi do chủ quan nhà đầu tư, xuất phát từ năng lực yếu kém; còn có sự thiếu sót của công tác quản lý Nhà nước đối với dự án. Bên cạnh đó, việc lập khối lượng các hạng mục công trình thiếu bảng tiên lượng gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng.”

Từ năm 2004 đến nay, Công ty Đầu tư và phát triển Năng lượng Đông Bắc, chủ đầu tư Thủy điện Hoa Thám, đã thay đổi 8 lần giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và nhiều lần thay đổi lãnh đạo, giám đốc

“Đặc biệt, việc thanh toán giải ngân giữa chủ đầu tư với Ngân hàng phát triển Cao Bằng chưa thống nhất về khối lượng thanh toán; thanh toán còn nhiều sai sót, có khối lượng chưa thực hiện nhưng đã nghiệm thu thanh toán. Trách nhiệm này thuộc về chủ đầu tư và Ngân hàng phát triển Cao Bằng…,” kết luận chỉ ra.

Ghi nhận của chúng tôi vào cuối tháng 4/2017 cho thấy, nhiều hạng mục của Nhà máy thủy điện Hoa Thám vẫn còn đang dở dang như đập bờ trái, đập bờ phải, đập tràn, cửa lấy nước…

Việc công trình bị bỏ hoang nhiều năm cũng đã khiến các thanh thép đã bị han gỉ, một số chỗ đã xảy ra có hiện tượng sụt lún, đất đá tràn xuống sông.

Theo phản ánh của người dân thì từ khi triển khai dự án, nhân dân đã chấp hành việc kiểm định áp giá đền bù đồng thời không sản xuất.

Tuy nhiên, xã Hoa Thám là xã nghèo, đa số người dân là đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào trồng rừng và sản xuất hoa màu, chăn nuôi nên sau khi bị thu hồi đất để thực hiện dự án, nhân dân không còn đất sản xuất nữa khiến cuộc sống khó khăn hơn.

Công trình ánh sáng hàng trăm tỷ đồng bỏ hoang giữa rừng.

“Khu vực dự kiến ngăn đập để phát điện trước đây có rất nhiều người khai thác vàng trái phép, sau này mới thấy thủy điện xuất hiện, nhưng họ xây ào ào được một thời gian ngắn rồi bỏ hoang 3-4 năm nay. Giờ ở đây chỉ có 2 người bảo vệ thôi,” bà Chu Thị Nãi, người dân xã Hoa Thám thông tin thêm.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Nguyễn Đặng, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Cao Bằng cho biết, dự án thủy điện Hoa Thám dừng thi công từ năm 2011. Từ đó đến nay, công trình “dậm chân tại chỗ,“ không tiếp tục thi công nữa.

Dự án thủy điện Hoa Thám “dậm chân tại chỗ” là do nhà đầu tư cũ không có năng lực triển khai tiếp nên đã bán lại cho chủ mới, và chủ mới cam kết thực hiện nhưng giờ vẫn chưa thi công

Theo ông Đặng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng dự án chậm tiến độ là một phần cũng là do thiếu vốn.

“Vừa qua, Sở cũng cho rà soát lại xem chủ đầu tư mới có làm được không, nếu không làm được sẽ cho thu hồi dự án. Tuy nhiên, việc thu hồi lại hết sức khó khăn do số tiền nhà đầu tư bỏ ra rất nhiều, nếu thu hồi ai sẽ giải quyết số tiền đó, trong khi 70% số tiền đầu tư xây dựng thủy điện Hoa Thám là nhà đầu tư vay của quỹ Ngân hàng phát triển – VDB,” ông Đặng phân vân.

Còn theo ông Hoàng Xuân Ánh – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng, dự án thủy điện Hoa Thám “dậm chân tại chỗ” là do nhà đầu tư cũ không có năng lực triển khai tiếp nên đã bán lại cho chủ mới, và chủ mới cam kết thực hiện nhưng giờ vẫn chưa thi công.

“Lý do là, họ (chủ đầu tư) viện lý do chỗ xây dựng thủy điện giao thông đi lại khó khăn, giá thành cao, đề nghị được khai thác cát sỏi tại chỗ kết hợp nạo vét lòng hồ để phục vụ cho công trình. Tuy nhiên việc này cần phải xem xét, vì khu vực đó trước tập trung khai thác khoáng sản, cụ thể là khai thác vàng và tỉnh đã cấm.”

“Hơn nữa, đây lại là khu vực đầu nguồn sông Bằng, sông Hiến, nên khai thác sẽ ảnh hưởng đến môi trường và nguồn nước của người dân. Vì thế, nếu có cho phép đơn vị này khai thác thì tỉnh sẽ phải giám sát rất chặt. Tỉnh cũng sẽ có chuyên đề riêng làm việc với Hoa Thám, nếu chủ đầu tư không cam kết xây dựng, tỉnh sẽ thu hồi,” ông Ánh nói./.

(Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

‘Lạm phát’ thủy điện

Lợi ích nhỏ, thiệt hại lớn

Hùng Võ

“Lạm phát” từ các dự án thủy điện đã và đang dần “giết chết” những con sông vốn là nguồn sinh kế của người dân miền núi. Thậm chí, có thủy điện ở còn “hút kiệt” nguồn nước nội đồng, chậm đền bù thiệt hại, chây ì phí chi trả dịch vụ môi trường rừng, và gây ảnh hưởng đến du lịch…

Gây ảnh hưởng, nhưng chậm đền bù

Với bất kỳ ai thích khám phá, khi đến Cao Bằng đều tấm tắc khen Thác Bản Giốc rất đẹp, với những dòng nước chảy êm đềm tung bọt trắng xóa qua từng khe đá mọc đầy rêu xanh. Vậy nhưng, những năm gần đây, thác có lúc đã bị khô cạn, phơi mình giữa lòng “Mẹ thiên nhiên.”

Theo tìm hiểu của phóng viên VietnamPlus, từ đầu năm 2008, Công ty Cổ phần Thủy điện Đông Bắc bắt đầu thi công công trình Nhà máy thủy điện Bản Rạ, với công suất lắp máy là 18MW, tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Trước khi thi công, phía doanh nghiệp đã có giấy cam kết không làm ảnh hưởng đến tưới tiêu khu vực lân cận.

“Nếu bị ảnh hưởng, công ty có trách nhiệm đền bù sản lượng cho những hộ đó mỗi năm một vụ lúa với năng suất cao nhất trong vùng,” cam kết do ông Ngôn Trung Tuyến, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thủy điện Đông Bắc, ký ngày 23/1/2008 nêu rõ.

Vậy nhưng, theo phản ánh của nhân dân xã Đàm Thủy, thì từ khi doanh nghiệp đầu tư xây dựng và vận hành Nhà máy từ năm 2011, cuộc sống của bà con trên địa bàn xã đã bị ảnh hượng nặng nề do thủy điện đào kênh dẫn sâu “hút” hết nước. Trong khi đó, hạn hán xảy ra với thời gian kéo dài hơn, thường xuyên hơn.

Nhà máy thủy điện Bản Rạ (tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) gây ảnh hưởng đến nguồn nước, chậm đền bù thiệt hại cho người dân, chây ì nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
Nhà máy thủy điện Bản Rạ (tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) gây ảnh hưởng đến nguồn nước, chậm đền bù thiệt hại cho người dân, chây ì nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

Trong câu chuyện với phóng viên, ông Nông Đình Lai (81 tuổi) ở xóm Bản Giốc, xã Đàm Thủy cho biết: “Gia đình tôi là một trong những hộ bị ảnh hưởng không có nước sản xuất nông nghiệp và được xã xác nhận, có tên trong danh sách được đền bù thiệt hại 2012 – 2014 nhưng tới nay mới chỉ nhận được một phần tiền đền bù năm 2012.”

Cùng là “nạn nhân” của thủy điện, bà Mạc Thị Biếc, Bản Mom cho hay, từ ngày thủy điện đi vào vận hành, 80% diện tích đất nông nghiệp của gia đình bà đã không đủ nước sản xuất. Không chỉ riêng gia đình bà, xóm Bản Mom còn 11 hộ gia đình cũng chịu chung hoàn cảnh. Ngoài ra, nước sinh hoạt của người dân Bản Mon cũng không đủ do hoạt động của Thủy điện.

Ông Nông Đình Lai ở xóm Bản Giốc, xã Đàm Thủy bức xúc về việc chủ  đầu tư Nhà máy thủy điện Bản Rạ chậm đền bù thiệt hại cho dân. (Ảnh:  Hùng Võ/Vietnam+)
Ông Nông Đình Lai ở xóm Bản Giốc, xã Đàm Thủy bức xúc về việc chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Bản Rạ chậm đền bù thiệt hại cho dân. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Ngay sau khi nhận được phản ánh của người dân, chúng tôi đã báo cáo với lãnh đạo huyện, yêu cầu phía công ty đền bù cho dân và họ cũng đã có phương án dự toán đền bù cho dân giá trị thiệt hại hoa màu từ năm 2012-2014 là gần 1,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiện phía công ty mới chỉ trả 444 triệu đồng cho 198 hộ dân của 6 xóm,” ông Nông Đình Trực, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Đàm Thủy nói.

Trước bức xúc trên, ngày 5/4/2017, người dân các xóm Lũng Phiắc, Nà Đeng-Lũng Nội, Bản Mon (xã Đàm Thủy) đã có đơn thư khiếu nại. Qua đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã có Văn bản số 1077/UBND-CN gửi Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh và Công ty Cổ phần Thủy điện Đông Bắc yêu cầu xử lý đơn khiếu nạị; đồng thời khắc phục thiệt hại do Nhà máy thủy điện Bản Rạ gây ra.

Theo văn bản, bà Nguyễn Bích Ngọc – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã yêu cầu Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh và Công ty Cổ phần Đông Bắc thống nhất phương án giải quyết đền bù thiệt hại cho bà con và báo cáo Ủy ban Nhân dân tỉnh trước ngày 18/4/2017.

Vậy nhưng, đến thời điểm cuối tháng 4/2017, khi phóng viên VietnamPlus tìm hiểu về công trình thủy điện Bản Rạ, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân xã Đàm Thủy và người dân đều khẳng định phía công ty vẫn chưa chịu đền bù cho bà con.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Từ góc độ chính quyền cơ sở, ông Mông Văn Lục – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh khẳng định, Nhà máy thủy điện Bản Rạ trong những năm qua có đóng góp kinh tế cho tỉnh. Tuy nhiên, khi thi công và vận hành, thủy điện này đã gây ra nhiều bức xúc về môi trường, gây ảnh hưởng đến nguồn nước tưới tiêu hoa màu của người dân.

“Ngoài ra, việc thi công Nhà máy thủy điện Bản Rạ còn phá dỡ một cây cầu dài 12m đoạn qua Bản Mon thuộc tuyến đường liên xã Đình Phong-Chí Viễn-Đàm Thủy. Đặc biệt, trong quá trình vận hành, thủy điện này có làm ‘gián đoạn’ nguồn nước đến khu vực Thác Bản Giốc, gây ảnh hưởng đến du lịch,” ông Lục nói.

Trong khi đó, về phía doanh nghiệp, bà Trịnh Huyền Trang, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần thủy điện Đông Bắc cho rằng: “Thủy điện của chúng tôi không uống nước, không có hồ chứa. Ở đây, nước qua thủy điện rồi mới đến Thác Bản Giốc, vấn đề là nước đến sớm hay đến muộn thôi. Thế thì bây giờ chỉ có chúng tôi không phát điện nữa thì thác lúc nào cũng có nước thôi.”

Trong việc này, “nói thẳng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh trình độ quá kém, không hiểu gì về chuyên môn, nên phát biểu vớ vẩn. Bây giờ bảo thủy điện chúng tôi hút nước, chặn nước thì chặn ở đâu? Thủy điện của chúng tôi có vòi rồng nào để hút nước không?” bà Trang nói, và khẳng định tất cả là do biến đổi khí khậu gây ảnh hưởng đến nguồn nước.

Nói thẳng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh trình độ quá kém, không hiểu gì về chuyên môn, nên phát biểu vớ vẩn. Bây giờ bảo thủy điện chúng tôi hút nước, chặn nước thì chặn ở đâu?” – bà Trịnh Huyền Trang, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần thủy điện Đông Bắc

Về việc đền bù thiệt hại cho người dân, bà Trang thừa nhận, trước khi xây dựng thủy điện, lãnh đạo công ty có hứa sẽ xây dựng cho bà con 8 tuyến kênh dẫn nước, đến nay đã xây dựng được 6 tuyến, còn 2 tuyến do chưa có được sự thống nhất với bà con nên chưa xây, vật liệu đã tập kết ở nhà máy.

“Nếu được sự đồng thuận thì trong năm 2017 phía công ty sẽ đầu tư xây dựng nốt hai tuyến kênh đồng thời xây dựng lại cây cầu. Còn tiền đền bù cho bà con sẽ chi trả trong năm 2018. Lý do là, công ty đang gặp nhiều khó khăn về tài chính, các cổ đông không thống nhất, cũng như đang phải vay tiền ngân hàng nên chưa chi trả hết cho dân được,” bà Trang nói.

Thẳng thắn thừa nhận thực trạng nêu trên, ông Hoàng Xuân Ánh – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng cho rằng, thủy điện Bản Rạ đang có vấn đề, nếu tích hết nước thì sẽ ảnh hưởng đến du lịch. Đặc biệt chủ đầu tư chưa thực hiện cam kết đầu tư một số hạ tầng ở địa phương, chưa thực hiện chi trả đền bù, hỗ trợ cho người dân. Hiện tỉnh đã giao các ngành phối hợp giải quyết nhanh các việc đang tồn đọng.

“Ngoài Nhà máy thủy điện Bản Rạ, tỉnh còn có Nhà máy thủy điện Bản Hoàng công suất 0,75 MW, được xây dựng tại xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Vào mùa khô thủy điện tích nước dẫn đến bà con thiếu nước sinh hoạt, và thủy điện này cũng không thực hiện một số cam kết làm đường đã hứa với địa phương. Do đó, tỉnh cũng sẽ có ý kiến,” ông Ánh nói thêm.

Nhà máy thủy điện Bản Rạ (tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) gây ảnh hưởng đến nguồn nước, chậm đền bù thiệt hại cho người dân, chây ì nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Nhà máy thủy điện Bản Rạ (tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) gây ảnh hưởng đến nguồn nước, chậm đền bù thiệt hại cho người dân, chây ì nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chây ì, coi thường chính quyền sở tại?

Không chỉ gây ảnh hưởng đến nguồn nước canh tác nông nghiệp, chậm đền bù thiệt cho người dân, cũng như gây ảnh hưởng đến khu du lịch Thác Bản Giốc, hiện nay Công ty Cổ phần thủy điện Đông Bắc còn nợ tiền dịch vụ môi trường rừng, khiến người dân và cơ quan chức năng địa phương không khỏi bức xúc.

Theo Nghị định số 99/2010/NÐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, khi xây dựng và phát triển thủy điện, ngoài nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Bản Rạ phải đóng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng. Số tiền này sẽ được trả cho những người dân mất đất rừng, đất sản xuất… thuộc lưu vực nhà máy thủy điện. Tuy nhiên, hiện doanh nghiệp này vẫn chây ì không chịu nộp.

Trong buổi làm việc với phóng viên VietnamPlus vào ngày 21/4/2017, ông Bế Xuân Tiến, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết, tính đến hết năm 2015, số tiền mà Công ty Cổ phần thủy điện Đông Bắc còn nợ phí dịch vụ môi trường rừng lên đến hơn 2,7 tỷ đồng.

“Trong thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Bằng đã ba lần gửi công văn yêu cầu chủ đầu tư thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, nhưng đến nay Sở vẫn chưa nhận được báo cáo và văn bản liên quan nào,” ông Tiến thông tin.

Gần đây nhất, ngày 14/4/2017, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng gửi Công văn số 435/SNN-KHTC về việc đôn đốc báo cáo tình hình thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, yêu cầu Công ty Cổ phần thủy điện Đông Bắc nghiêm túc triển khai thực hiện, báo cáo về Sở trước ngày 25/4/2017.

“Tuy nhiên, đến nay, doanh nghiệp này vẫn chưa phản hồi thông tin. Việc này cần phải có giải pháp mạnh chứ không cứ kiểu ‘thả gà ra đuổi’ thế này sẽ rất khó khăn,” ông Tiến giọng buồn rầu nói.

“Lạm phát” thủy điện ảnh hưởng đến cuộc sống người dân, du lịch.

Là người trực tiếp ký công văn yêu cầu chủ đầu tư thực hiện chi trả tiền phí dịch vụ môi trường rừng, ông Đặng Hùng Chương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết: “Theo quy định, sau 3 lần thông báo, nếu doanh nghiệp không chấp hành, chúng tôi sẽ mời các bên liên quan trực tiếp làm việc với doanh nghiệp.”

“Sau buồi làm việc này, nếu doanh nghiệp vẫn không chấp hành, chúng tôi sẽ báo cáo lên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để Bộ có ý kiến với Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoặc đề nghị Sở Công Thương kiên quyết không cho doanh nghiệp này phát điện nữa,” ông Chương nhấn mạnh.

Về phía doanh nghiệp, bà Trịnh Huyền Trang, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần thủy điện Đông Bắc lại cho rằng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thể hiện thái độ rất “ích kỷ” mang tính “thù vặt,” không tạo điều kiện cho doanh nghiệp trực tiếp thuê đơn vị đo đạc, xác định diện tích bị ảnh hưởng để chi trả tiền phí dịch vụ môi trường rừng.

“Vì thế, chúng tôi cũng không làm việc với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, mà chỉ báo cáo trực tiếp với Ủy ban Nhân dân tỉnh (?). Còn việc cơ quan chức năng không hài lòng về công ty là bởi bọn chị đi làm kinh tế cũng quá mệt mỏi ròi. Nếu bây giờ cứ suốt ngày chạy đi ‘quan hệ’ bác này bác kia thì bọn chị cũng mệt lắm!,” bà Trang phân bua.

Còn tại tỉnh Hà Giang, theo lãnh đạo Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), số tiền hiện nay mà các doanh nghiệp thủy điện nợ phí dịch vụ môi trường rừng đã lên đến hàng chục tỷ đồng. Lý do các doanh nghiệp thủy điện chậm nộp tiền đưa ra là họ đang tập trung trả những nguồn vốn vay cho các ngân hàng.

Ðể đôn đốc các doanh nghiệp trả tiền đúng hạn, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang cũng đã có văn bản gửi các doanh nghiệp còn nợ tiền dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, nếu các doanh nghiệp không chịu trả, Ủy ban Nhân dân tỉnh sẽ có văn bản báo cáo Bộ Công Thương đề nghị thu hồi giấy phép hoạt động./.

Thủy điện Sông Chứng tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Sông Chứng tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Đánh đổi tài nguyên

chỉ vì lợi ích của một số người

Sau nhiều năm quy hoạch theo kiểu “xôi đỗ,” hiện tượng “lạm phát” thủy điện đã làm “nóng” nghị trường Quốc hội, Bộ Công Thương đã quyết định loại bỏ 684 dự án thủy điện ra khỏi quy hoạch. Trong đó có 463 dự án thủy điện nhỏ và 213 dự án không đưa vào diện xem xét quy hoạch.

Việc cắt giảm, loại bỏ hàng trăm dự án thủy điện trên cho thấy việc quy hoạch rất “có vấn đề,” nhất là trong bối cảnh quy hoạch đang có xu hướng chạy theo các dự án để hợp thức hóa, gây ra những hậu quả xấu, ảnh hưởng nặng nề đến môi trường, nguồn nước và sinh kế của người dân.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Quy hoạch theo “cảm hứng” lỗi do ai?

Theo tìm hiểu của phóng viên VietnamPlus, năm 2005, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) ký quyết định phê duyệt quy hoạch thủy điện nhỏ trên toàn quốc. Thời điểm ấy, cả nước chỉ có 239 dự án thủy điện nhỏ được đưa vào kế hoạch phát triển. Nhưng đến nay, tổng số thủy điện trong kế hoạch phát triển đã lên đến hàng ngàn.

Vấn đề đáng quan tâm là hầu hết những dự án mới nằm ngoài quy hoạch 2005 đều được Bộ Công Thương thỏa thuận cho các địa phương đưa vào kế hoạch triển khai thực hiện. Trong khi, chính các địa phương như Cao Bằng, Hà Giang lại xem thủy điện là cơ hội để phát triển kinh tế. Thậm chí, phát triển thủy điện còn được đưa vào nghị quyết của Hội đồng Nhân dân và chiến lược phát triển của địa phương.

Theo nhận định của giới chuyên gia, việc xây dựng thủy điện phát triển thành phong trào, trước hết là do lỗi của các địa phương. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý ngành ở Trung ương cũng góp phần không ít, khi dễ dàng chấp nhận đề xuất của địa phương cho bổ sung hàng loạt dự án vào kế hoạch phát triển.

Ngoài ra, chính sách của Nhà nước cũng ít nhiều tạo nên tình trạng phát triển theo phong trào khi đưa ra những chính sách khuyến khích về tài chính, đã tạo cơ hội cho không ít doanh nghiệp nhảy vào chủ đầu tư theo “cảm hứng” bất chập những hệ lụy về rừng và gánh nặng “đè lên vai” người dân nghèo.

Theo số liệu từ Bộ Công Thương, hiện cả nước có 330 công trình thủy điện được đưa vào khai thác, sử dụng với tổng công suất lắp đặt 17.615MW; trong đó tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và miền Trung-Tây Nguyên

Minh chứng rõ thấy nhất là diện tích rừng ngày càng thu hẹp, hệ sinh thái sông ngòi gần như biến mất dù là mùa khô hay mùa lũ, thậm chí tính mạng, tài sản của người dân hiện nay cũng đang bị đe dọa bởi thủy điện là thực trạng tại các lưu vực sông tại miền Bắc. Thế nhưng những đánh giá tác động trước khi đưa vào vận hành một nhà máy thủy điện còn bỏ sót quá nhiều, gây hệ lụy nặng nề.

Thẳng thắn chia sẻ về “lỗ hổng” trong quy hoạch phát triển thủy điện, ông Hoàng Xuân Ánh – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng cho hay: “Cách đây hai nhiệm kỳ, Cao Bằng có chương trình phát triển trọng tâm vào lĩnh vực thủy điện. Do vậy, thời điểm năm 2004 – 2005, dựa trên cơ sở những quy hoạch từ năm 1980, tỉnh đã cấp phép khá nhiều dự án, chỗ nào quy hoạch là có nhà đầu tư đến đăng ký.”

Ông Ánh cũng thừa nhận, trước đây tỉnh muốn thu hút đầu tư nên doanh nghiệp nào xin cũng đều được hết; tỉnh cũng không biết năng lực tài chính các chủ đầu tư như thế nào, chuyên ngành lĩnh vực ra sao. Tuy nhiên, từ năm 2005 đến 2010, số dự án hoàn thiện rất ít, chỉ khoảng 3-4 dự án ở Bản Hoàng, Thoong Cót, Bản Rạ. Đa phần những nhà đầu tư còn lại không xây dựng được vì thiếu vốn hoặc là có tranh chấp mực nước dâng do lỗi quy hoạch.

Ông Nguyễn Văn Sơn – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang thừa nhận, từ nhiều năm trước, tỉnh này đã xác định phát triển thủy điện là tiềm năng thế mạnh của tỉnh. Mặc dù, tỉnh đã loại 27 dự án ra khỏi quy hoạch, nhưng đến nay vẫn còn 46 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy gần 800 MW.

Cũng theo ông Sơn, mặc dù các dự án thủy điện đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các nhà đầu tư, thu hút lao động tại chỗ của địa phương, mang lại lợi ích kinh tế-xã hội, song việc đầu tư phát triển thủy điện cũng xuất hiện nhiều vấn đề tiêu cực như chiếm dụng một phần đất đai, tái định cư, an sinh xã hội và ảnh hưởng tới môi trường…

Cho đến nay, tỉnh Hà Giang đã loại bỏ 27 dự án ra khỏi quy hoạch, một số thủy điện chậm tiến độ so giấy chứng nhận đầu tư, có thủy điện thực hiện việc đóng xả nước không đúng quy trình. Chủ đầu tư xây cao trình đập cao hơn thiết kế, có thủy điện đã phát điện 3 năm, nhưng đến nay vẫn chưa có giấy phép khai thác sử dụng nước mặt.

Sông Miện trên địa bàn tỉnh Hà Giang đang phải cõng 6 Nhà máy thủy điện. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Sông Miện trên địa bàn tỉnh Hà Giang đang phải cõng 6 Nhà máy thủy điện. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Kiên quyết loạt bỏ dự án vi phạm

Dù đã loại bỏ hàng loạt dự án thủy điện gây hại, yếu kém, song hậu quả của một thời gian dài làm thủy điện vẫn chưa thể giải quyết. Vậy, các địa phương cần phải có giải pháp như thế nào để có thể “gỡ” được hậu quả từ việc đầu tư thủy điện tràn lan, tàn phá môi trường, đời sống người dân hiện nay?

Trả lời cho câu hỏi trên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang Nguyễn Văn Sơn cho hay, trong việc phát triển thủy điện, tỉnh luôn khuyến khích và tạo điều kiện tốt cho các nhà đầu tư đến đầu tư. Tuy nhiên, tỉnh này sẽ không cấp phép đầu tư đối với các dự án đầu tư có ảnh hưởng tiêu cực đến an sinh xã hội và cảnh quan môi trường.

Trong khi đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh khẳng định, sau một thời gian quy hoạc thủy điện ồ ạt, tỉnh này cũng đã rà soát lại và kiên quyết thu hồi những dự án thủy điện các nhà đầu tư chưa thực hiện đúng cam kết. Còn những thủy điện đã xây dựng nhưng chưa hoàn thành, như thủy điện Hoa Thám thì vẫn phải cho xây tiếp.

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng khẳng định tỉnh này đã rà soát lại và kiên quyết thu hồi những dự án thủy điện các nhà đầu tư chưa thực hiện đúng cam kết

“Quan điểm của tỉnh là sẽ không đánh đổi môi trường cho sự phát triển của tỉnh, cố gắng hạn chế thấp nhất ảnh hưởng tới môi trường và phương hướng phát triển trong giai đoạn mới là tập chung tìm các nhà đầu tư giải quyết được những tồn tại trước mắt của các nhà đầu tư cũ,” ông Ánh nhấn mạnh.

Trao đổi với báo chí, từ góc độ chuyên gia, ông Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu nhấn mạnh, Quốc hội và các bộ, ngành đã có nhiều đánh giá và dừng hàng trăm thủy điện nhỏ. Lý do là khi làm thủy điện, người ta không chú ý đến môi trường, phá rừng đầu nguồn, khai thác gỗ gây hại cho môi trường rất lớn.

Ông Tứ cũng khẳng định trong quá trình đi thực tế, các địa phương không những không dừng mà vẫn đang tìm kiếm, kêu gọi và doanh nghiệp tranh nhau đầu tư thủy điện bởi lợi nhuận từ đầu tư thủy điện không ít. Việc các tỉnh liên tục bổ sung các dự án thủy điện nhỏ vào quy hoạch là không nên, bởi vì mỗi lần bổ sung đều phải đánh giá lại tác động môi trường và tính toán rất nhiều vấn đề.

“Vì thế, thủy điện nhỏ này phải thân thiện với môi trường thì mới nên làm, còn cứ làm kiểu thủy điện như hiện nay thì có rất nhiều hệ lụy đến môi trường và dân cư. Thủy điện đang làm cho vấn đề môi trường ngày càng trở nên căng thẳng hơn,” ông Tứ nói.

Dự án Thủy điện Hoa Thám. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+) 
Dự án Thủy điện Hoa Thám. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+) 

Vị chuyên gia này cũng lưu ý rằng: “Ở rất nhiều thủy điện nhỏ, chúng tôi thấy họ bỏ qua rất nhiều hạng mục, máy móc cũ kĩ, xây dựng bừa bãi. Nên tránh việc lấy thiên nhiên sinh lời cho bản thân một số người”. Theo đó, ông Tứ đề nghị các tỉnh phải nghĩ đến lợi ích chung của môi trường, nghĩ đến rừng đầu nguồn, đến khô hạn, lũ lụt và các hệ lụy khác, trước khi nghĩ đến việc làm ra tiền.

“Các nhà đầu tư được hưởng lợi thủy điện, chứ không phải là người dân, không phải ngành điện cũng không phải môi trường. Vì thế cần đánh giá xem hiện nay việc phát triển của chúng ta cần bao nhiêu điện, có thiếu điện hay không mà phải làm những thủy điện quá nhỏ như thế,” ông Tứ nhấn mạnh.

Có chung quan điểm này, ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cũng cho rằng, thủy điện đi đến đâu đều phá rừng. Vấn đề là đã phá rừng rồi thì phải tìm cách trồng lại rừng.

‘Cần đánh giá xem hiện nay việc phát triển của chúng ta cần bao nhiêu điện, có thiếu điện hay không mà phải làm những thủy điện quá nhỏ như thế’

Nhưng hầu hết các dự án thủy điện mới đầu tư những năm gần đây do tư nhân làm đều không có tiền. Có dự án thì chây ỳ không chịu làm, làm cho môi trường, đời sống người dân sau dự án thủy điện càng khó khăn.

“Vì thế, chúng ta phải có giải pháp mạnh như đình chỉ, thậm chí đưa ra tòa án thì mới có thể buộc nhiều nhà máy thủy điện tàn phá môi trường thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết của họ khi đầu tư xây dựng thủy điện,” ông Ngãi khuyến cáo.

Phát biểu tại Hội nghị “Quản lý, vận hành an toàn, hiệu quả công trình thủy điện” diễn ra mới đây tại Đà Nẵng, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết, sẽ chủ động cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập nhóm công tác liên Bộ làm việc cụ thể với một địa phương có hồ thủy điện lớn, số lượng hồ thủy điện nhiều để thống nhất các giải pháp cụ thể.

Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng sẽ làm rõ vai trò các cơ quan quản lý đồng thời theo dõi, xây dựng kế hoạch theo dõi, kiểm tra công tác chấp hành pháp luật liên quan đến hồ, đập thủy điện; chủ động điều chỉnh một số cơ chế chính sách cụ thể để đảm bảo hiệu quả của các hồ thủy điện tham gia phòng chống lụt bão, cũng như đảm bảo hiệu quả hoạt động của thủy điện./.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Sai lầm lớn nhất

khi phát triển thủy điện nhỏ

Dưới “áp lực” của Quốc hội, từ năm 2013, Bộ Công Thương đã quyết định loại hơn 400 dự án thủy điện nhỏ ra khỏi quy hoạch. Thế nhưng, trên thực tế, nhiều dự án yếu kém tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Cao Bằng vẫn được triển khai, bất chấp việc thủy điện gây mất rừng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước phát triển nông nghiệp.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus về thực trạng nêu trên, Giáo sư Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho rằng trong chiến lược phát triển, sai lầm lớn nhất là phát triển thủy điện nhỏ. Vì thế, việc xử lý thời hạn chấm dứt hoạt động các thủy điện này cần được Nhà nước kiên quyết, không vì…“lợi ích nhóm.”

Sông Miện tại tỉnh Hà Giang bị các nhà máy thủy điện thắt lại, ngăn thành những hồ đập lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Sông Miện tại tỉnh Hà Giang bị các nhà máy thủy điện thắt lại, ngăn thành những hồ đập lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Sai lầm từ khâu quy hoạch?

– Thưa giáo sư, những năm gần đây, trên cả nước đang có nhiều tranh cãi về sự an toàn của các đập nước thủy điện, đặc biệt là các đập thủy điện nhỏ. Xin Giáo sư cho biết, lợi ích của việc tạo ra năng lượng từ sức nước có đủ biện minh cho việc ngăn sông xây các đập thủy điện có thể gây hại cho con người và môi trường?

Giáo sư Vũ Trọng Hồng: Trên thế giới những thủy điện nhỏ, công suất vài MW, chỉ phục vụ cho một số hộ gia đình ở nơi xa nguồn điện và ít gây ảnh hưởng tới nông nghiệp. Tuy nhiên đối với Việt Nam, những thủy điện nhỏ đó, đều được đưa vào chiến lược phát triển thủy điện, với tham vọng chỉ trong vòng hai thập kỷ sẽ giải quyết xong nguồn năng lượng này.

Ngay từ lúc triển khai, cao điểm nhất vào những năm đầu thế kỷ 21, hàng nghìn dự án thủy điện được xem xét, phê duyệt, thiết kế, thi công, trên hàng nghìn sông suối. Nhiều dự án chỉ mới nằm ở giai đoạn quy hoạch, song đã được chuẩn bị xây dựng, như chặt phá rừng để làm đường vào, thu hồi đất nông nghiệp, tổ chức di dân…

Nếu so sánh lượng điện năng của hàng nghìn thủy điện nhỏ đóng góp trong một năm cũng chỉ bằng một thủy điện loại vừa như Sê San 3 (sông Sê San) có công suất 259MW

Cuộc sống yên bình của người dân bị đảo lộn. Nhiều nhà khoa học cùng với chính quyền địa phương phải lên tiếng, đề nghị Quốc hội xem xét. Trên cơ sở đó, năm 2013, Chính phủ đã trình lên một danh sách để loại khỏi quy hoạch những thủy điện nhỏ (ảnh hưởng rừng đặc dụng và mỏ đất hiếm, chiếm nhiều đất nông nghiệp, không có nhà đầu tư), với số lượng khoảng trên 400 dự án, mà hầu hết có công suất dưới 5 MW.

Thực ra, nếu so sánh lượng điện năng của hàng nghìn thủy điện nhỏ đóng góp trong một năm cũng chỉ bằng một thủy điện loại vừa như Sê San 3 (sông Sê San) có công suất 259MW, bởi số giờ chạy máy trong một năm của các thủy điện nhỏ rất thấp.

Rõ ràng lượng điện năng của thủy điện nhỏ đóng góp vào mạng lưới quốc gia không đáng kể (khoảng 10%), trong khi phải mất đi hàng vạn hecta rừng, hàng triệu mảnh đất nông nghiệp. Và, đặc biệt là mất đi những dòng suối, nguồn sống của những người dân vùng xã xôi hẻo lánh, chỉ biết dựa vào nông nghiệp để sống.

Giáo sư Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. (Nguồn ảnh: VACNE)
Giáo sư Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. (Nguồn ảnh: VACNE)

Nguồn điện mà người dân được hứa hẹn, đâu có dễ dàng được hưởng, bởi làm gì có trạm biến áp, có các đường dây, được các chủ nhà máy đầu tư cho một số ít hộ dân. Người dân chỉ biết trông chờ vào chính sách của Nhà nước.

Trong thực tế, chúng ta đã có bài học về thủy điện nhỏ ngay từ những năm 70 của thế kỷ 20. Thủy điện Cấm Sơn (sông Hóa – Lạng Sơn) có công suất 4,8MW, được xây dựng từ năm 1966, cho đến năm 1980 đã bị tháo dỡ (nay được lắp lại bằng nguồn vốn cổ phần), vì không hiệu quả do nguồn nước của hồ chứa được ưu tiên cho việc tưới nông nghiệp.

– Như giáo sư chia sẻ, thì rõ ràng thủy điện gây ra rất nhiều hệ lụy, ảnh hưởng tới rừng, nguồn nước phục vụ nông nghiệp và sinh kế của người dân, vậy tại sao Nhà nước vẫn ưu tiên đưa thủy điện nhỏ vào quy hoạch phát triển năng lượng?

Giáo sư Vũ Trọng Hồng: Dưới khẩu hiệu “xã hội hóa đầu tư” thủy điện đã được đưa ra, với nhiều quy trình thủ tục đơn giản hỗ trợ, miễn làm sao có đăng ký đầu tư. Nước ta đang “đói điện, đói vốn,” nên việc làm này, dường như thổi một làn gió mới vào việc xây dựng thủy điện.

Thực ra, sự sai lầm lớn nhất ở đây từ phía quản lý nhà nước là, quan niệm xây dựng một nhà máy thủy điện loại nhỏ giống như xây dựng một nhà máy “làm bánh kẹo.” Các nhà quản lý có biết đâu, xây dựng thủy điện là một chuyên ngành kỹ thuật phức tạp hơn cả xây dựng thủy lợi.

Vì sao? Thứ nhất, về mặt công trình xây dựng, thì hồ chứa thủy điện phải có 2 tuyến. Tuyến thứ nhất được gọi là tuyến áp lực (giống như xây dựng hồ chứa thủy lợi), đó là các công trình đầu mối như đập dâng nước, công trình tràn, cống xả nước, bụng chứa nước; tuyến thứ hai được gọi là tuyến năng lượng, gồm gian đặt máy phát điện và phụ kiện và hầm chứa tuốc bin, cùng với hệ thống phân phối điện ngoài trời.

Thứ hai, về quản lý vận hành, rất khó điều hòa nguồn nước trong hồ chứa khi có nhu cầu khác nhau về phát điện và nước tưới. Đây là mấu chốt cho mục tiêu quy hoạch thủy điện. Nếu nước cho tưới cần nhiều, thì không còn nước để phát điện.

Bài học thủy điện Cấm Sơn nêu trên đã buộc nhà nước phải tháo bỏ thủy điện, vì không hiệu quả. Chính vì vậy, ngay từ khâu quy hoạch phải giải bài toán tối ưu cho việc xây dựng thủy điện. Đó cũng là lý do chúng ta đã phải loại bỏ bao nhiêu thủy điện nhỏ, với sự tổn thất tài sản của quốc gia rất lớn.

Dự án thủy điện Tiên Thành tại tỉnh Cao Bằng được triển khai xây dựng từ năm 2008, nhưng đến nay vẫn chưa xong. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
Dự án thủy điện Tiên Thành tại tỉnh Cao Bằng được triển khai xây dựng từ năm 2008, nhưng đến nay vẫn chưa xong. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

Sự tồn tại “có vấn đề”!

– Theo quy định của Nghị định 112/2008/NĐ-CP thì các đập dâng thủy điện khi tích và điều tiết nước đều phải xả trả lại sông lượng dòng chảy tối thiểu. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quy định nào về xử phạt thủy điện vi phạm việc tích-xả nước này. Liệu đây có phải là “lỗ hổng” dẫn đến việc một số thủy điện ngang nhiên tích-xả nước trái quy định?

Giáo sư Vũ Trọng Hồng: Hiện nay Nhà nước vẫn chưa ban hành được quy chuẩn kỹ thuật thủy điện. Lý do cũng từ đặc điểm sử dụng tổng hợp hồ chứa thủy điện chưa được giải quyết. Nếu bây giờ Nhà nước cho kiểm tra tất cả các công trình thủy điện, sẽ thấy các chủ đầu tư đã không đầu tư thiết kế các cống xả.

Điển hình là thủy điện sông Tranh 2 (Quảng Nam), không có cống xả nên không thể tháo cạn hồ để sửa chữa, phải thuê thợ lặn từ Trung Quốc sang thi công. Những mùa khô hạn ở miền Trung, khi cần lấy nước tưới, nước sinh hoạt cho hạ lưu thì nhà máy phải xả qua tổ máy, tức là phát điện.

Nếu bây giờ Nhà nước cho kiểm tra tất cả các công trình thủy điện, sẽ thấy các chủ đầu tư đã không đầu tư thiết kế các cống xả

Nếu thời điểm đó không thuộc giờ phát điện có hiệu quả, thì nhà máy sẽ không xả nước. Báo chí đã nêu nhiều trường hợp “vô lý” này. Gần đây Thủ tướng Chính phủ đã cho điều chỉnh quy trình vận hành của một số nhà máy thủy điện lớn theo yêu cầu xả nước ở hạ lưu.

Điều 53, hồ chứa và khai thác sử dụng nước hồ chứa trong Luật Tài nguyên nước, điểm 2, về dự án xây dựng hồ chứa, phần b có nêu: “…sử dụng nguồn nước tổng hợp, đa mục tiêu…”. Phần này của Luật đã bị vô hiệu hoá, bởi tất cả các hồ chứa thủy điện loại nhỏ đều không có cống xả riêng để cấp nước cho cộng đồng hạ lưu.

Chúng ta đã từng nghe lãnh đạo một tỉnh Miền Trung báo cáo với Thủ tướng về việc thay một dự án thủy điện bằng một dự án hồ chứa thủy lợi. Đó là chưa kể, nhiều nông dân kêu ca việc xả nước của thủy điện không giúp gì cho việc tưới.

Ban ngày họ ra ruộng thì không nhận được nước tưới từ hồ chứa, song vào lúc tối, tức là giờ “cao điểm” sử dụng điện thì lại có nước xả về. Đây chính là biểu hiện mâu thuẫn giữa sự phát triển thủy điện nhỏ với phát triển nông nghiệp.

Thủy điện Hoa Thám tại tỉnh Cao Bằng được triển khai từ năm 2007, qua 8  lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nay vẫn đang bỏ hoang.  (Ảnh: Hùng Võ /Vietnam+)
Thủy điện Hoa Thám tại tỉnh Cao Bằng được triển khai từ năm 2007, qua 8 lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nay vẫn đang bỏ hoang. (Ảnh: Hùng Võ /Vietnam+)

– Qua thực tế này, theo giáo sư thì Bộ ngành liên quan và các địa phương cần phải có giải pháp như thế nào để có thể “gỡ” được hậu quả từ việc đầu tư thủy điện tràn lan, tàn phá môi trường, đời sống người dân hiện nay?

Giáo sư Vũ Trọng Hồng: Hệ thống thủy điện nhỏ cơ bản đã xây dựng xong, chỉ còn ít dự án nữa. Chúng ta không thể nào xoá bỏ ngay được, như nước Mỹ, hiện đang dỡ bỏ những công trình thủy điện hạng vừa, để trả lại dòng chảy cho cộng đồng dân cư. Đối với Việt Nam, thời điểm đó còn… xa vời.

Vậy rõ ràng chúng ta phải xử lý tình thế theo hướng giảm phát triển một số mặt hàng nông nghiệp, như gạo, cà phê (mặt hàng tiêu tốn nhiều nước), như Bộ Nông nghiệp đã đề nghị. Lộ trình cần được vạch ra, trong đó quan trọng là thời hạn chấm dứt các thủy điện nhỏ là năm nào? Điều này nên tôn trọng các ý kiến của địa phương.

Ví dụ, như đối với các tỉnh có hoàn cảnh khó khăn nhiều như Cao Bằng, Hà Giang, nên được ưu tiên xem xét chấm dứt sớm, bởi nguồn nước rất ít, ruộng lại nằm rải rác trong các thung lũng, và thu nhập của người dân còn rất thấp. Họ lại nằm ở những biên giới của Tổ quốc. Sự thu hút về cuộc sống làm thuê ở bên kia biên giới là một thực trạng, mà chúng ta phải nhận thức được.

Mặt khác, chúng ta cần có cơ chế 50/50 để thoả thuận trong việc giải quyết những thiệt hại phía chủ đầu tư, bằng nhiều giải pháp như ưu tiên giá điện, kéo dài thời gian trả nợ.

Chủ trương phát triển thủy điện nhỏ với phương châm “xã hội hoá” đã gây ra hậu quả xấu cho xã hội, cho ngành nông nghiệp. Vì thế, việc xử lý thời hạn chấm dứt hoạt động các thủy điện đó cần được nhà nước kiên quyết, không vì “lợi ích nhóm.” Khoa học, công nghệ ngày nay cho phép ta sử dụng các loại năng lượng khác, đủ điều kiện để thay thế các thủy điện nhỏ.

Xin trân trọng cảm ơn giáo sư!

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Quản lý kém

dẫn đến rất nhiều ‘lỗ hổng’

Hùng Võ

Nhiều chuyên gia cho rằng việc phát triển tràn lan, thiếu thẩm định các dự án thủy điện nhỏ đã dẫn tới “lỗ hổng” trong khâu quản lý, nhiều dòng sông bị quá tải, ảnh hưởng đến nguồn nước và tính mạng của người dân hạ lưu.

“Đúng là việc quy hoạch thủy điện đang thực sự ‘có vấn đề.’ Ai có tiền hay vay được tiền là có thể làm thủy điện nhỏ. Ai cũng có thể thiết kế, thi công. Cấp quản lý được ‘bôi trơn’ là ký duyệt tất,” giáo sư tiến sĩ khoa học Phạm Hồng Giang – Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói.

Sông Miện trên địa bàn tỉnh Hà Giang đang phải cõng 6 Nhà máy thủy điện. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Sông Miện trên địa bàn tỉnh Hà Giang đang phải cõng 6 Nhà máy thủy điện. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Khâu quản lý có vấn đề?

Thẳng thắn “mổ xẻ” về góc khuất của những công trình này, ông Giang cho hay, ơ nước ta, số lượng trạm thủy điện nhỏ tuy nhiều nhưng gộp lại thì tổng công suất cũng không đáng là bao so với những thủy điện lớn. Vậy nhưng, do quản lý kém nên có rất nhiều lỗ hổng. Trong khi, các chủ đầu tư chỉ quan tâm đến khâu thu lợi, khảo sát, thiết kế qua loa, báo cáo tác động môi trường cốt chiếu lệ, không để ý gì đến đời sống của người dân địa phương…

Theo ông Giang, thủy điện dù lớn hay nhỏ, đều phải có yêu cầu đủ mức cần thiết đảm bảo an toàn. Ở các nước phát triển, do quản lý tốt nên thủy điện nhỏ không hề gây ra những phiền toái và thiệt hại làm cho người dân ở địa phương.

Còn ở Việt Nam, thủy điện nhỏ thường bị lên án bởi chủ đầu tư thường không biết về kỹ thuật xây dựng thủy lợi-thủy điện lại ham rẻ, đi thuê, sử dụng những người không đủ kiến thức chuyên môn, thiếu khả năng và trách nhiệm.

“Đó cũng là lý do mà năm nào cũng có không ít sự cố về xây dựng thủy điện từ những lỗi kỹ thuật rất sơ đẳng, nhiều khi rất ‘khôi hài.’ Thực ra, không có chủ đầu tư nào lại muốn công trình của mình không an toàn. Song vì thiếu kiến thức lại ham rẻ nên sự cố thường xuyên xảy ra.”

Năm nào cũng có không ít sự cố về xây dựng thủy điện từ những lỗi kỹ thuật rất sơ đẳng, nhiều khi rất ‘khôi hài.’

“Trong việc này, quản lý nhà nước về thủy điện là Sở Công Thương nhưng thử hỏi ở Sở này có bao nhiêu kỹ sư đủ trình độ về xây dựng và quản lý thủy điện, trong khi phải thẩm định, kiểm tra, giám sát cả mấy chục, thậm chí cả trăm, nhà máy thủy điện nhỏ và vừa?,” ông Giang chia sẻ.

Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam cho rằng, lợi ích của thủy điện thì không thể phủ nhận. Trước đây, các nhà đầu tư chỉ chú ý tới làm thủy điện lớn còn hiện nay làm cả lớn, cả vừa và nhỏ, “hết nạc thì vạc đến xương.” Tuy nhiên, thủy điện cũng gây ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng xấu đến môi sinh, cuộc sống của người dân địa phương.

Đơn cử như việc các nhà máy thủy điện vận hành tích-xả nước theo cảm hứng, không xả nước duy trì dòng chảy tối thiểu khiến nhiều dòng sông bị “chết.” Thông thường, quy trình vận hành tích, xả nước là việc của chủ đầu tư, chủ đập. Tuy nhiên, chủ đầu tư thường chỉ chú tâm đến lợi ích phát điện, bỏ mặc những yêu cầu khác của đời sống và sản xuất tại địa phương.

”Vì vậy, các cấp chính quyền, cơ quan quản lý của địa phương phải có trách nhiệm giám sát chủ đầu tư. Tuy nhiên, vừa qua một số thủy điện trên cả nước đã vận hành việc tích, xả nước không đúng quy trình, người dân bị thiệt hại thì mới tranh cãi xem lỗi tại ai. Rõ ràng, việc giám sát, quản lý ở đây đang có vấn đề,” ông Giang nói.

Thủy điện phớt lờ dòng chảy tối thiểu, đe dọa tính mạng người dân.

Thủy điện vi phạm, địa phương có trách nhiệm?

Cùng quan điểm, trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (Mạng lưới sông ngòi Việt Nam) cho hay, thủy điện Việt Nam trong một thập kỷ qua đã phát triển “nóng” và thiếu kiểm soát tới mức “ngành ngành làm thủy điện, người người làm thủy điện.” Từ đó gây ra nhiều hệ lụy về môi trường và xã hội.

Trước sức ép dư luận, cũng như kiến nghị của các nhà khoa học, đến năm 2013, Quốc hội đã yêu cầu Bộ Công Thương rà soát, loại bỏ và dừng hơn 400 dự án thủy điện nhỏ, dưới 30 MW. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều dự án thủy điện nhỏ thuộc loại yếu kém vẫn… tồn tại.

Rõ ràng, câu chuyện đầu tư, lợi ích nó chi phối một cách kinh khủng, vì thế nhiều nơi họ vẫn cứ nhắm mắt làm, dù thủy điện gây ra không ít hệ lụy như gây mất rừng, hay vỡ đập…

“Tôi đi nhiều tỉnh, không những họ (địa phương) không dừng mà vẫn đang tìm kiếm, kêu gọi và doanh nghiệp tranh nhau đầu tư thủy điện bởi lợi nhuận từ đầu tư thủy điện không ít. Rõ ràng, câu chuyện đầu tư, lợi ích nó chi phối một cách kinh khủng, vì thế nhiều nơi họ vẫn cứ nhắm mắt làm, dù thủy điện gây ra không ít hệ lụy như gây mất rừng, hay vỡ đập,” ông Tứ nói.

Chứng minh cho thực tế đáng lo ngại nêu trên, ông Tứ đưa ra dẫn chứng, chỉ trong thời gian 8 tháng từ 10/2012 – 6/2013 đã có 3 vụ vỡ đập thủy điện nhỏ ở 3 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, đó là thủy điện Đak Krong 3 (Quảng Trị), Đắk Mếk 3 (Kon Tum) và Ya Krel 2 (Gia Lai).

Dù các sự cố vỡ đập trên đều xảy ra khi các công trình đang trong giai đoạn thi công hoặc mới bắt đầu tích nước, nên khi đập vỡ đã không gây thiệt hại về người, nhưng thiệt hại về kinh tế không hề nhỏ.

“Trong đó đập Yakrel 2, tuy mới tích rất ít nước, khi vỡ đã cuốn đi hàng chục người nhưng may mắn đã được các lực lượng cứu hộ cứu thoát, gây ngập nhiều nhà cửa và hàng trăm ha đất canh tác, thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho chính nhà đầu tư và gây nên tâm lý bất an chung cho người dân sống hạ lưu các hồ thủy điện,” ông Tứ thông tin.

Thủy điện Hoa Thám. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
Thủy điện Hoa Thám. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

Những bài học từ các sự cố vỡ đập thủy điện đã rõ, nhưng gần đây, một số dự án thuộc loại yếu kém vẫn đang được triển khai.

Ví dụ như dự án thủy điện Hoa Thám tại tỉnh Cao Bằng, được triển khai từ năm 2007, qua 8 lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đến nay vẫn đang bỏ hoang, trong khi 70% số tiền đầu tư xây dựng thủy điện Hoa Thám là nhà đầu tư vay của quỹ Ngân hàng phát triển – VDB. Hiện tại, công trình trụ giá hàng trăm tỷ này đang nằm ngổn ngang giữa rừng, chắn ngang dòng sông Hiến.

Ngoài ra, nhiều dự án thủy điện nhỏ đã thi công từ 3-8 năm qua, nhưng đến nay vẫn còn thiếu báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Đơn cử như dự án thủy điện Tiên Thành tại tỉnh Cao Bằng, triển khai xây dựng từ năm 2008, đến nay vẫn còn thiếu Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Thủy điện Sông Lô 2 tại tỉnh Hà Giang, thi công từ năm 2015, nhưng đến nay cũng chưa có ĐTM bổ sung, chưa được Bộ Công Thương phê duyêt điều chỉnh quy hoạch.

Thậm chí như thủy điện Sông Miện 5A tại tỉnh Hà Giang, với công suất lắp máy 5MW. Thủy điện này đã phát điện từ năm 2015, nhưng đến nay vẫn chưa có giấy phép khai thác sử dụng nước mặt.

Thủy điện Sông Miện 5A tại tỉnh Hà Giang, với công suất lắp máy 5MW,  đã phát điện từ năm 2015 nhưng đến nay vẫn chưa có giấy phép khai thác sử dụng nước mặt

Ngoài ra, thủy điện này cũng chưa bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu theo quy định, song vẫn không bị cơ quan chức năng xem xét xử lý.

Vậy đối với những dự án thủy điện vi phạm nêu trên cần phải xử lý thế nào? Và, trách nhiệm để xảy ra những sai phạm nêu trên thuộc về ai?

Theo ông Tứ, việc các công trình thủy điện Tiên Thành (Cao Bằng), thủy điện Sông Lô 2 (Hà Gang) đã đi vào vận hành từ nhiều năm qua, nhưng đến nay vẫn chưa có ĐTM là việc làm trái pháp luật. Trường hợp thủy điện Sông Miện 5A cũng vậy.

“Đây là hành vi gian lận, cố tình vi phạm cần phải xử phạt nghiêm khắc. Tất nhiên, trong việc này cũng có phần trách nhiệm của cơ quan chức năng địa phương trong việc giám sát,” ông Tứ nói.

Qua thực tế nêu trên, ông Tứ kiến nghị Bộ Công Thương và Ủy ban Nhân dân các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang cần rà soát lại thủy điện nhỏ để xác định những vị trí có khả năng kinh tế kỹ thuật và thân thiện môi trường; đồng thời kiến quyết xử lý các thủy điện vi phạm, thậm chí yêu cầu dừng hoạt động, thu hồi giấy phép xây dựng, để đảm bảo chất lượng việc thi công công trình, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường./.

Dự án thủy điện Tiên Thành tại tỉnh Cao Bằng được triển khai xây dựng từ năm 2008, nhưng đến nay vẫn chưa xong. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Dự án thủy điện Tiên Thành tại tỉnh Cao Bằng được triển khai xây dựng từ năm 2008, nhưng đến nay vẫn chưa xong. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thủy điện Sông Lô 2

thi công bất chấp rủi ro môi trường?

Hùng Võ

Mặc dù chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) điều chỉnh bổ sung, nhưng dự án thủy điện Sông Lô 2, tại tỉnh Hà Giang vẫn được rốt ráo thi công, bất chấp việc công trình xây dựng không đúng quy trình, thiếu ĐTM… có thể sẽ gây ra sự cố môi trường, ảnh hưởng đến nguồn nước và tính mạng của người dân hạ lưu.

Vừa xây dựng vừa lo ĐTM?

Theo tìm hiểu của phóng viên, dự án thủy điện Sông Lô 2 (công suất thiết kế 28 MW), do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình làm chủ đầu tư, được xây dựng tại xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, cách trung tâm tỉnh Hà Giang khoảng 15 km. Dự án này khởi công từ năm 2015, với tổng vốn đầu tư hơn 800 tỷ đồng.

Dự án thủy điện Sông Lô 2 được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 3367/QĐ-UBND ngày 14/9/2009 và điều chỉnh quy hoạch tại Quyết định số 421/QĐ-UBND ngày 29/01/2010. Ngày 13/1/2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang chính thức phê duyệt báo cáo ĐTM dự án.

Tuy nhiên, do công trình có sự thay đổi, điều chỉnh quy mô – công suất thiết kế (từ 27 MW lên 28 MW) nên theo quy định, chủ đầu tư phải lập lại ĐTM, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét thẩm định, phê duyệt mới được triển khai thi công. Vậy nhưng, từ năm 2015 đến nay, dự án vẫn thi công theo ĐTM cũ do Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt.

Theo quy định tại khoản a và khoản b, Điều 13 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, chủ đầu tư cần thực hiện ĐTM bổ sung nếu có thay đổi về địa điểm, quy mô, công suất thiết kế, công nghệ; hoặc sau 2 năm kể từ ngày báo cáo ĐTM được phê duyệt, dự án mới triển khai thực hiện.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Tại Điểm d, khoản 1, Điều 28 Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Tài nguyên nước, cũng nêu rõ: Các dự án khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy 2 MW trở lên thuộc thẩm quyền cấp giấy phép Tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Căn cứ vào Phụ lục III, Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ, dự án khai thác nước thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì thẩm quyền tổ chức thẩm định, phê duyệt ĐTM thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Như vậy, cơ quan có thẩm định, phê duyệt ĐTM của thủy điện Sông Lô 2 là Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Quy định rõ ràng là vậy nhưng tại Văn bản số 671/UBND-CNGTXD ngày 6/3/2015, do Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Sơn ký ban hành, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang lại chấp thuận cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình (chủ đầu tư dự án Thủy điện Sông Lô 2) tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường đã đề ra trong ĐTM được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 138/QĐ-UBND ngày 13/1/ 2010, không phải lập lại ĐTM.

Theo quy định, Thủy điện Sông Lô 2 khi điều chỉnh sẽ phải trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ĐTM điều chỉnh bổ sung. Hiện nay, ĐTM của dự án vẫn đang chờ Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt

Điều đáng nói là quy định về việc chủ đầu tư phải lập ĐTM bổ sung tiếp tục được giữ nguyên tại Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 (Nghị định quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường), song Văn bản số 671/UBND-CNGTXD ngày 6/3/2015 (phê duyệt sau Nghị định) của Ủy ban Nhân dân tỉnh vẫn chấp thuận cho chủ đầu tư thực hiện theo ĐTM cũ dựa trên đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang.

Thừa nhận thực trạng nêu trên, ông Lê Vũ Thức, Giám đốc Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sông Lô 2 cho biết theo quy định, Thủy điện Sông Lô 2 khi điều chỉnh sẽ phải trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ĐTM điều chỉnh bổ sung. Hiện nay, ĐTM của dự án vẫn đang chờ Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt.

“Tuy nhiên, việc làm ĐTM rất khó khăn, giờ các dự án cả nước dồn về Bộ Tài nguyên và Môi trường làm hết… Hiện tại, dự án mình vẫn đang triển khai thi công bình thường theo ĐTM cũ, Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng đã có Văn bản cho phép không phải lập lại ĐTM,” ông Thức nói.

Thủy điện Sông Chứng tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Sông Chứng tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Kiến nghị dừng thi công

Thực tế trên đặt ra câu hỏi, tại sao Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang lại chấp thuận cho chủ đầu tư dự án thủy điện Sông Lô 2 triển khai thi công khi ĐTM điều chỉnh bổ sung vẫn chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt? Nếu chiểu theo Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015, thì việc triển khai thi công thủy điện này đúng hay sai?

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus về vấn đề trên, ông Hoàng Văn Nhu – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang cho hay: “Thủy điện Sông Lô 2 trước đây đã có ĐTM rồi, nhưng do đang thi công thì điều chỉnh dự án, mà điều chỉnh dự án thì phải làm lại ĐTM. Việc này thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt. Tuy nhiên, đơn vị chủ đầu tư làm quá muộn, trong khi thủy điện xây dựng sắp xong rồi.”

“Về việc này, tôi sẽ có ý kiến thống nhất với Sở Công Thương để Sở Công Thương chủ trì kiểm tra, kiến nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh xử lý. Trên quan điểm về quản lý nhà nước thì tôi đồng tình là phải dừng thi công,” ông Nhu nói thêm.

Theo ghi nhận của phóng viên, tính đến thời điểm cuối tháng 6/2017, các hạng mục của công trình Thủy điện Sông Lô 2 về cơ bản đã hoàn thiện, đê bao hai bên bờ sông đang được thi công. Dự kiến tháng 9/2017, nhà máy sẽ phát điện và hòa lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, hiện dự án vẫn đang gấp rút hoàn thiện ĐTM nhằm “hợp thức hóa” các thủ tục triển khai.

Trước đó, trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang khẳng định: “Hiện nay trong quá trình thực hiện có một số thủy điện đang hoàn thiện thủ tục. Quan điểm của tỉnh là tất cả thủy điện dưới 5 MW gạt ra khỏi quy hoạch, những thủy điện lớn đã xây dựng hết. Riêng với những nhà máy đã vận hành thì yêu cầu vận hành đúng, còn những nhà máy đang xây dựng phải làm đúng ĐTM.”

Quan điểm của tỉnh là tất cả thủy điện dưới 5 MW gạt ra khỏi quy hoạch, những thủy điện lớn đã xây dựng hết –  ông Nguyễn Văn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang

Nhìn nhận từ góc độ chuyên gia, ông Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (Mạng lưới sông ngòi Việt Nam), cho rằng việc các công trình thủy điện Sông Lô 2 xây dựng từ năm 2015, nhưng đến nay vẫn chưa có ĐTM phê duyệt bổ sung của Bộ Tài nguyên và Môi trường là việc làm trái pháp luật.

“Đây là hành vi gian lận, cố tình vi phạm cần phải xử phạt nghiêm khắc. Tất nhiên, trong việc này cũng có phần trách nhiệm của cơ quan chức năng địa phương,” ông Tứ nói.

Qua thực tế nêu trên, ông Tứ kiến nghị Bộ Công Thương và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang rà soát, kiên quyết xử lý công trình thủy điện vi phạm. Thậm chí yêu cầu dừng hoạt động, thu hồi giấy phép xây dựng, để đảm bảo chất lượng việc thi công công trình, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường./.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thủy điện Suối Mu

‘trốn’ báo cáo đánh giá môi trường

Hùng Võ

Bất chấp việc Dự án Thủy điện Suối Mu “trốn” thực hiện Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), “mọc” trong khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông, nhưng Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình vẫn chấp thuận cho triển khai thi công dựa trên Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường của doanh nghiệp.

Theo thiết kế kỹ thuật dự án, Thủy điện Suối Mu sẽ xây đập tích nước ngay trên đỉnh Thác Mu. Việc này khiến nhiều người lo ngại thủy điện sẽ làm thay đổi dòng chảy của thác, ảnh hưởng đến du lịch, cũng như nguồn nước phục vụ nông nghiệp của hàng trăm người dân xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Thác Mu tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử” do Thủy điện Suối Mu xây đập chắn ngay trên đỉnh Thác, ảnh hưởng đến nguồn nước, dòng chảy, du lịch… (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thác Mu tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử” do Thủy điện Suối Mu xây đập chắn ngay trên đỉnh Thác, ảnh hưởng đến nguồn nước, dòng chảy, du lịch… (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cam kết “lấp” lỗ hổng ĐTM?

Theo tìm hiều của phóng viên, Dự án Thủy điện Suối Mu (công suất lắp máy 9 MW) do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng làm chủ đầu tư, được triển khai xây dựng tại xã Tự Do, huyện Lạc Sơn. Dự án này được khởi công từ đầu năm 2016, với tổng vốn đầu tư 167 tỷ đồng.

Dự án Thủy điện Suối Mu được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 495/QĐ-UBND ngày 10/11/2015. Theo kế hoạch, đến tháng 3/2017, dự án sẽ hoàn thành đưa nhà máy vào vận hành hòa lưới điện. Tuy nhiên, đến đầu tháng 7/2017, dự án “trốn” ĐTM này mới chỉ thực hiện được khoảng gần 50% khối lượng công trình.

Theo quy định tại Điểm d, khoản 1, Điều 28 Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Tài nguyên nước: Các dự án khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy 2 MW trở lên thuộc thẩm quyền cấp giấy phép tài nguyên nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Tại phụ lục III, Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ cũng quy định, dự án khai thác nước thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì thẩm quyền tổ chức thẩm định, phê duyệt ĐTM thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Như vậy, cơ quan có thẩm định, phê duyệt ĐTM của Thủy điện Suối Mu là Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Quy định rõ ràng là vậy nhưng tại Văn bản số 284/XN-STNMT ngày 15/8/2016, ông Đinh Văn Hòa – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình lại ký chấp thuận Giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng, thay vì phải lập ĐTM theo quy định của Chính phủ.

Đến đầu tháng 7/2017, dự án “trốn” ĐTM này mới chỉ thực hiện được khoảng gần 50% khối lượng công trình

Câu hỏi đặt ra là, tại sao Dự án Thủy điện Suối Mu được triển khai thi công xây dựng từ đầu năm 2016, nhưng đến giữa tháng 8/2016 mới được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình chấp thuận Giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường, thay vì phải lập ĐTM? Liệu Dự án Thủy điện Suối Mu triển khai xây dựng có đúng quy trình, quy định của pháp luật?

Nhìn nhận thực trạng nêu trên, ông Nguyễn Khắc Long – Phó Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hòa Bình cho biết, về thẩm quyền phê duyệt dự án là do Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định trên cơ sở ý kiến tham vấn của các Sở, ngành gửi lên. Còn ở quy mô Dự án Thủy điện Suối Mu, tỉnh chỉ làm xác nhận đăng ký cam kết bảo vệ môi trường, do một số điểm tại Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ còn chưa thống nhất giữa thẩm quyền của tỉnh và Bộ.

“Việc này, chúng tôi sẽ hỏi lại Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu Bộ cho ý kiến sẽ điều chỉnh ngay,” ông Long nói thêm.

Trong khi đó, ông Phạm Duy Đức, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hòa Bình cho rằng, nếu việc triển khai Thủy điện Suối Mu chỉ dừng lại ở quy mô cam kết về bảo vệ môi trường thì sẽ rất khó đảm bảo việc triển khai. Không thể làm Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường để “lấp” lỗ hổng ĐTM được.

“Lý do là, nội dung trong bản cam kết rất chung chung như một cái hồ sơ đơn giản, cũng không thể hiện rõ quy định. Việc này tôi sẽ cho kiểm tra lại, nếu đúng thì sẽ khó cho chủ đầu tư, vì giữa chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước ký tá với nhau một cách chung chung, cho nên khó vặn vẹo nhau,” ông Đức nhấn mạnh.

Hai mẹ con chị Quách Thị Quảng (nguời dân xóm Khướng, xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình) bên công trình thủy điện Suối Mu. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Hai mẹ con chị Quách Thị Quảng (nguời dân xóm Khướng, xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình) bên công trình thủy điện Suối Mu. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Nếu được chọn, tôi sẽ chọn thác…”

Không chỉ “trốn” lập, Dự án Thủy điện Suối Mu còn gây ra nhiều nỗi lo, bởi theo thiết kế kỹ thuật, Dự án Thủy điện Suối Mu sẽ xây đập chắn tích nước ngay trên đỉnh Thác Mu. Việc này có thể sẽ làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến du lịch, và nguồn nước tưới tiêu phục vụ nông nghiệp của hàng trăm hộ dân sinh sống dưới chân thác.

Chia sẻ với phóng viên, ông Bùi Văn Thụ, Trưởng ban quản lý Thác Mu cho biết, Thác Mu không chỉ tạo cảnh quan, mang lại nguồn nước tưới tiêu phát triển nông nghiệp, mà còn mở ra du lịch giúp bà con cải thiện cuộc sống. Thế nhưng, du lịch mới bắt đầu, du khách mới biết đến thác thì thủy điện lại “mọc” lên, khiến dân vô cùng lo lắng.

“Nếu Dự án Thủy điện Suối Mu thi công đúng như thiết kế kỹ thuật của chủ đầu tư, thì khi đi vào vận hành, thủy điện này sẽ tác động tiêu cực đến dòng chảy của thác, ảnh hưởng tới nguồn nước phục vụ nông nghiệp, nguy cơ gây sạt lở rất cao. Thậm chí sẽ làm mất thác vĩnh viễn,” ông Thụ rầu rĩ nói.

Trưởng ban quản lý Thác Mu cũng nhấn mạnh, việc xây dựng Thủy điện Suối Mu là chủ trương của tỉnh, nên dân phải theo. Tuy nhiên, nếu được chọn, ông và người dân thôn bản sẽ chọn thác, bởi thác không có lợi cho riêng ai, mà có lợi cho tất cả dân bản vì khách du lịch đến đây là để ngắm thác và dân có cơ hội phục vụ, bán thực phẩm dân tộc của mình.

“Còn thủy điện, tại sao chúng tôi phản đối? Đơn giản là thủy điện xây dựng sẽ làm mất thác, khi vận hành chỉ làm lợi cho doanh nghiệp và một nhóm người,” ông Thụ nói thêm.

“Thủy điện xây dựng sẽ làm mất thác, khi vận hành chỉ làm lợi cho doanh nghiệp và một nhóm người,” Trưởng ban quản lý Thác Mu nói.

Ngoài việc lo mất thác, theo ông Thụ, việc xây dựng Dự án Thủy điện Suối Mu cũng đã khiến nhiều hộ dân mất đất canh tác. Mặc dù người dân có được nhận tiền đền bù, nhưng trên tinh thần “ép buộc” chứ không phải tự nguyện. Lý do là nếu dân không nhường đất cho thủy điện thì xã cũng sẽ thu hồi đất?.

“Trước khi người dân nhận tiền đền bù, các vị lãnh đạo xã đã lên đây thông báo với dân, nhưng dân không đồng tình. Sau đó, họ bảo, nếu dân không đồng ý bán đất, đây đất của xã, xã sẽ thu hồi lại thì dân không được gì. Vì thế, một số hộ dân đã phải nhận mấy chục triệu tiền đền bù, và chấp nhận mất đất sản xuất,” ông Thụ nói thêm.

Là người dân mất đất sản xuất, chị Quách Thị Quảng, nguời dân xóm Khướng, xã Tự Do cho biết, Công ty cổ phần thủy điện Vân Hồng bắt đầu xây dựng nhà máy từ năm 2016, trước khi làm công ty này có đền bù cho dân nhưng không thỏa đáng, nên phần lớn người dân đều phản đối, không muốn để doanh nghiệp làm thủy điện. “Như của nhà tôi có 100m2 đất, doanh nghiệp đền bù cho hơn 20 triệu đồng, chủ yếu là diện tích đất ở và một phần đất ruộng. Còn diện tích dân tự khai hoang nay bị ảnh hưởng thì không được đền bù, phần diện tích này coi như mất,” chị Quảng rầu rĩ nói.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Không kém phần lo lắng, ông Bùi Văn Dưng, người dân xóm Mu thở dài nói: “Tôi không đồng tình với phương án đền bù, nhường đất cho thủy điện, nhưng bị xã ‘ép’ nên vẫn phải bán 500m2 đất ruộng với giá hơn 30 triệu đồng. Hôm chính quyền xã gọi xuống, lãnh đạo xã có khuyên bán đất, sau này sẽ có lợi cho dân. Nhưng bây giờ nhận tiền rồi thì mất hết, tiền cũng chẳng còn, đất thì đã mất, nên cuộc sống rất khó khăn.” Trao đổi với phóng viên VietnamPlus về thực trạng nêu trên, ông Bùi Đình Thiên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tự Do thừa nhận: “Lo lắng thủy điện xây dựng ảnh hưởng đến Thác Mu của người dân lo chính đáng. Nếu được chọn, tôi cũng chọn thác, nhưng phân tích ra có chủ trương của tỉnh và huyện nên xã tạo điều kiện và đồng thuận.” Ông Thiên cũng cho biết, lúc đưa ra chủ trương, địa phương rất băn khoăn, vì có Thác Mu từ lâu, đi đến đâu nói đến mình ở xã Tự Do, họ nói có Thác Mu nên tự hào lắm, nhưng cấp trên phân tích rằng thủy điện mang lại nguồn thu cho tỉnh, cho dù khi làm thủy điện chắc chắn ảnh hưởng đến thác. Còn về việc đần bù đất đai, ông Thiên cho biết việc xây dựng Thủy điện Suối Mu làm mất vĩnh viễn khoảng 1,7ha đất; cũng như làm giảm đất canh tác của 79 hộ dân. Tuy nhiên, việc đền bù thiệt hại về hoa màu, tài sản trên đất cho người dân căn cứ theo giá của nhà nước. Thủy điện cũng hỗ trợ đền bù cho bà con theo diện tích thực địa và đo đạc trên bản đồ. “Trước năm 2006 chưa có bản đồ chính quy, một số diện tích của xã bà còn sử dụng, nhưng do canh tác lâu năm nên bà con cứ nghĩ là của mình nên đòi đền bù. Vì thế, xã đã tổ chức tuyên truyền cho bà con hiểu rằng phần đất bà con khai hoang trước đây là đất của xã và xã có quyền thu hồi, chứ không có chuyện ép dân,” ông Thiên phân trần. Ở cấp quản lý Nhà nước cao hơn, ông Bùi Văn Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Lạc Sơn cho rằng: “Chủ trương của tỉnh thì huyện ủng hộ, chúng tôi đã đề xuất đưa Thác Mu vào danh thắng du lịch cấp tỉnh, hiện tỉnh đang làm dự kiến trong tháng 7/2017 sẽ được công nhận, ở đây chỉ có một điểm nhấn là thác, nếu xây dựng thủy điện mà hỏng thác thì không nên. Quan điểm của huyện là phải làm song song, vẫn phát triển thủy điện nhưng không làm ảnh hưởng đến thác.”

“Làm thủy điện thì không được phá vỡ cảnh quan Thác Mu,” ông Lưu Huy Linh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình nói.

Có chung quan điểm, ông Lưu Huy Linh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình cho biết: “Ở góc độ ngành, chúng tôi vẫn muốn bảo vệ, giữa tài nguyên Thác Mu để cho phát triển du lịch. Vì thế, làm thủy điện thì không được phá vỡ cảnh quan Thác Mu. Tuy nhiên, việc này cũng cần phải nghiên cứu, bởi hiện nay người dân đang rất phản đối việc xây dựng Thủy điện Suối Mu.” “Bản thân tôi cũng ủng hộ người dân ở góc độ nên giữ thác để tạo cảm hứng cho du khách khi đến tham quan, để đảm bảo việc phát triển bền vững lâu dài. Chứ xây thủy điện chắc chắn sẽ làm mất nguồn nước, đến khi không còn đảm bảo nguồn nước thì thủy điện cũng sẽ phải bỏ, cảnh quan cũng không còn,” ông Linh nói thêm. Ông Linh cũng cho biết, theo đề xuất của địa phương (xã, huyện) và ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh, hiện Sở đang giao cho Ban Quản lý di tích đi khảo sát, lập hồ sơ để xếp hạnh danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, để quản lý và phát triển du lịch. Tuy nhiên, nếu vừa phát triển thủy điện, vừa phát triển du lịch dựa vào nguồn nước của Thác Mu thì sẽ rất khó quản lý. Để làm rõ thông tin từ phía người dân phản ánh, ngày 27/6/2017, phóng viên VietnamPlus đã liên hệ với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng, chủ đầu tư Dự án Thủy điện Suối Mu. Tuy nhiên, lãnh đạo công ty đã nêu các lý do để nhiều lần tránh các cuộc hẹn gặp./.

(Ảnh: HÙng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: HÙng Võ/Vietnam+)

Lộ diện kẽ hở

giúp doanh nghiệp thủy điện nhỏ “trốn” ĐTM

Hùng Võ

Không chỉ quy hoạch phát triển thủy điện nhỏ một cách ồ ạt, gây ra nhiều sự cố môi trường, trong quá trình triển khai loạt bài “Vỡ trận quy hoạch thủy điện nhỏ ở các tỉnh miền núi phía Bắc,” phóng viên VietnamPlus còn phát hiện một số “lỗ hổng” trong khâu kiểm tra, thẩm định các dự án mang tên “công trình ánh sáng.”

Tình trạng doanh nghiệp “trốn’’ lập ĐTM (Báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thủy điện nhỏ) – một quy định bắt buộc và là một trong những yếu tố quyết định dự án đó có được triển khai hay không đang khá phổ biến, mà nguyên do lại chính từ các văn bản chính sách.

Sự chồng chéo, bất nhất giữa các điều khoản hướng dẫn thủ tục lập ĐTM đối với các dự án thủy điện nhỏ đã tạo ra những “kẽ hở” cho chủ đầu tư lợi dụng “trốn” quy định thiết yếu này và khiến các địa phương lúng túng trong cả việc triển khai cấp phép lẫn xử lý vi phạm.

Nhà máy thủy điện Bản Rạ (tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) gây ảnh hưởng đến nguồn nước, chậm đền bù thiệt hại cho người dân, chây ì nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Nhà máy thủy điện Bản Rạ (tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) gây ảnh hưởng đến nguồn nước, chậm đền bù thiệt hại cho người dân, chây ì nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Bất nhất về thẩm quyền

Trong một phiên họp của Quốc hội vào cuối năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà khi đó đã nhấn mạnh, quy định thực hiện đánh giá tác động môi trường là cơ sở rất quan trọng để cơ quan có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư, là bước quan trọng của quá trình hình thành dự án.

Vậy nhưng, có một thực tế là lợi ích môi trường vẫn đang bị xem nhẹ trong quá trình phê duyệt các dự án, và vấn đề nằm ở cả khâu chính sách lẫn thực thi. Từ đó dẫn tới “lỗ hổng” trong việc phê duyệt ĐTM, đặc biệt là dự án thủy điện nhỏ có công suất dưới 10MW đang gây nhiều tranh cãi.

Xuất phát từ thực tế trên, vừa qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai (một trong những địa phương chú trọng phát triển thủy điện nhỏ ở miền Bắc) đã có văn bản số 4952/UBND-TNMT gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc xem xét thẩm quyền thẩm định và phê duyệt ĐTM các dự án thủy điện, để có hướng xử lý.

Căn nguyên là, Lào Cai cho rằng do một số điểm bất nhất quy định tại Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường; cũng như mâu thuẫn giữa Nghị định này với Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.

Cụ thể, theo quy định tại mục 27, Phụ lục II, Nghị định 18/2015/NĐ-CP, đối tượng phải lập ĐTM bao gồm các dự án thủy điện có dung tích hồ chứa từ 100.000 m3 nước trở lên hoặc công suất từ 10MW trở lên.

Các dự án thủy điện có dung tích hồ chứa từ 100.000.000 m³ nước trở lên thì trách nhiệm thẩm định, phê duyệt ĐTM thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường (theo quy định tại Mục 3, Phụ lục III, Nghị định 18/2015/NĐ-CP). Với các dự án có hồ chứa dung tích dưới 100.000m3 nước hoặc công suất dưới 10 MW, theo quy định tại mục 8, Phụ lục 5.1, Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT sẽ do Ủy ban Nhân dân tỉnh thẩm định, phê duyệt.

Các dự án có hồ chứa dung tích dưới 100.000m3 nước hoặc công suất dưới 10 MW, theo quy định tại mục 8, Phụ lục 5.1, Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT sẽ do Ủy ban Nhân dân tỉnh thẩm định, phê duyệt

Tuy nhiên, cũng tại Nghị định 18/2015, mục 6, Phụ lục III lại có quy định “các dự án khai thác nước thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ do Bộ quyết định thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM. Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại điểm d, Khoản 1, Điều 28 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 cũng lại có quy định quyền thẩm định, phê duyệt, báo cáo ĐTM với các dự án thủy điện tương đương có công suất từ 2 MW trở lên là thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Như vậy, các mục quy định tại nhiều điểm trong Nghị định số 201 đã có sự mâu thuẫn với phụ lục của Nghị định 18/2015/NĐ-CP dẫn đến chồng chéo trong các cấp phê duyệt và thẩm định ĐTM cho các dự án có công suất trên – dưới 10 MW, hoặc dung tích hồ chứa trên và dưới 100.000m3.

Sự bất nhất, quy định chồng chéo nêu trên không chỉ làm khó tỉnh Lào Cai trong việc triển khai, mà nhiều địa phương khác như Hòa Bình, Cao Bằng, Hà Giang…cũng lúng túng trong việc thẩm định phê duyệt ĐTM đối với các dự án thủy điện nhỏ.

Đơn cử như Dự án Thủy điện Sông Lô 2 (công suất lắp máy 28 MW), do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình làm chủ đầu tư, được triển khai xây dựng từ năm 2015, tại xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, với tổng vốn đầu tư hơn 800 tỷ đồng. Dự án này được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang phê duyệt ĐTM từ ngày 13/1/2010.

Tuy nhiên, do công trình điều chỉnh quy mô (từ 27 MW lên 28 MW) nên theo quy định, chủ đầu tư phải lập lại ĐTM, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét thẩm định, phê duyệt mới được triển khai thi công. Vậy nhưng, từ năm 2015 đến nay, dự án vẫn thi công theo ĐTM cũ được phê duyệt bởi Ủy ban Nhân dân tỉnh.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Môi trường sẽ ra sao sau những “chuyện đã xảy ra rồi?”

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Hoàng Văn Nhu, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang giai thích: “Thủy điện Sông Lô 2 trước đây đã có ĐTM, nhưng do đang thi công thì điều chỉnh dự án, nên phải làm lại ĐTM. Việc này thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt. Tuy nhiên, đơn vị chủ đầu tư làm quá muộn, trong khi thủy điện xây dựng sắp xong rồi…”

Từ quan điểm này nên Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang ngày 6/3/2015 đã ban hành Văn bản số 671/UBND-CNGTXD, chấp thuận cho chủ đầu tư Dự án Thủy điện Sông Lô 2 tiếp tục thực hiện, không phải lập lại ĐTM theo đúng quy định của Nhà nước.

Việc Hà Giang “cho qua chuyện đã rồi” của Thủy điện Sông Lô 2 đã đặt ra câu hỏi vậy Dự án này đã đảm bảo được những quy định về môi trường hay chưa? Sau khi đi vào vận hành, liệu dự án có gây ra tác động xấu ảnh hưởng đến môi trường hay không?

Chưa hết, việc “cho qua chuyện đã rồi” này, liệu sẽ là sự khởi đầu cho một hiệu ứng dây chuyền “xập xí xập ngầu” của các dự án tương tự tại Hà Giang cũng như nhiều địa phương khác? Sẽ phải giải quyết những trường hợp như vậy ra sao?.

Việc Hà Giang “cho qua chuyện đã rồi” của Thủy điện Sông Lô 2 đã đặt ra câu hỏi vậy Dự án này đã đảm bảo được những quy định về môi trường hay chưa?

Một ví dụ điển hình là trường hợp Dự án Thủy điện Suối Mu do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng làm chủ đầu tư trên địa bản tỉnh Hòa Bình đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh cho phép thi công từ đầu năm 2016, tại xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, với tổng vốn đầu tư 167 tỷ đồng, không cần lập ĐTM.

Sau đó hơn nửa năm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình mới xác nhận “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng đã đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Nhà máy thủy điện Suối Mu.” Theo lý giải của đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Sở này ký Giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng là bởi thủy điện Suối Mu có công suất 9 MW, nên chỉ cần làm “đăng ký kế hoạch!”

“Theo Luật cũ thì đơn vị chỉ cần làm cam kết bảo vệ môi trường, và Sở đã ký xác nhận giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho chủ đầu tư. Mặt khác, giữa Nghị định 201/2013, Nghị định 18/2015 của Chính phủ và Thông tư 27/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng có điểm chưa được thống nhất, dẫn đến bất cập,” ông Nguyễn Khắc Long, Phó chi cục trưởng Chi cục môi trường tỉnh Hòa Bình nói.

Trong khi đó, cấp trên của ông Long, ông Phạm Duy Đức, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hòa Bình lại khẳng định rằng, nếu việc triển khai Thủy điện Suối Mu chỉ dừng lại ở quy mô cam kết về bảo vệ môi trường thì sẽ rất khó đảm bảo việc triển khai. Một trong những lý do ông Đức đưa ra là, nội dung trong bản báo cáo rất chung chung, không thể hiện rõ các quy định, cam kết…

Thác Mu tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử” do Thủy điện Suối Mu xây đập chắn ngay trên đỉnh Thác, ảnh hưởng đến nguồn nước, dòng chảy, du lịch… (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
Thác Mu tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử” do Thủy điện Suối Mu xây đập chắn ngay trên đỉnh Thác, ảnh hưởng đến nguồn nước, dòng chảy, du lịch… (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

Trách nhiệm thuộc về ai?

Trước sự lúng túng của các địa phương, ngày 1/12/2016, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân đã ký văn bản hướng dẫn số 5657/BTNMT-TCMT gửi chung cho các tỉnh, nêu rõ thẩm quyền thẩm định và phê duyệt ĐTM của các dự án thủy điện nhỏ trên cả nước.

Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường viện dẫn các quy định được nêu tại Nghị định 18/2015/NĐ-CP và Nghị định số 201/2013/NĐ- CP rồi đưa ra kết luận: “Như vậy, các dự án thủy điện thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM và có công suất lắp máy từ 2 MW trở lên thuộc thẩm quyền tổ chức thẩm định, phê duyệt ĐTM của Bộ Tài nguyên và Môi trường.”

Với văn bản này, mặc định thẩm quyền phê duyệt ĐTM đối với các dự án thủy điện dưới 10MW được “quy về một mối” là Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nhưng, vậy còn các dự án đã thi công trước văn bản này thì sẽ giải quyết ra sao? Đơn cử như Dự án Thủy điện Suối Mu, liệu dự án này có cần phải bổ sung ĐTM?

Để rõ hơn cho không chỉ riêng trường hợp Thủy điện Suối Mu mà còn rất nhiều dự án khác của nhiều địa phương cũng trong tình trạng tương tự, ngày 5/7/2017, VietnamPlus đã có công văn gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị giải đáp một số thông tin liên quan.

Bên cạnh đó, VietnamPlus cũng đã nhiều lần liên hệ làm việc với Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường (Tổng cục Môi trường), nhưng cho đến nay chưa nhận được phản hồi.

Việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình ký xác nhận Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Dự án Thủy điện Suối Mu khi dự án này đã thi công là sai quy định

Ở góc độ chuyên gia, tiến sỹ Nguyễn Khắc Kinh, nguyên Vụ trưởng Vụ thẩm định đánh giá tác động môi trường-Tổng Cục môi trường, hiện là Chủ tịch Hội Đánh giá tác động môi trường Việt Nam cho rằng việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình ký xác nhận Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Dự án Thủy điện Suối Mu khi dự án này đã thi công là sai quy định.

“Trong việc này, có 3 khả năng, một là do chủ đầu tư không biết, sau đó bổ sung; hai là biết nhưng cố tình vi phạm; ba là lợi dụng sự chồng chéo bất cập của Nghị định để làm cái lợi nhất cho mình. Dù là khả năng nào thì cũng không thể hợp thức hóa bằng cách ký xác nhận Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho dự án thủy điện đã triển khai xây dựng như thế,” ông Kinh nêu quan điểm.

Để giúp công tác thẩm định xử lý môi trường thuận lợi, minh bạch đảm bảo môi sinh phát triển bền vững cũng là đảm bảo quyền lợi đầu tư và trách nhiệm của các doanh nghiệp, ông Kinh cho rằng, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần điều chỉnh các văn bản, thống nhất quy định giữa Nghị định và Thông tư hướng dẫn càng sớm càng tốt đồng thời có bổ sung, hướng dẫn biện pháp xử lý với các dự án đang thi công dở dang hoặc bắt đầu thi công (khi chưa có thông tư).

Trong diễn biến liên quan, nguồn tin từ Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường tiết lộ, sau khi tập hợp ý kiến của các địa phương, mới đây, lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo đính chính lại văn bản hướng dẫn số 5657/BTNMT-TCMT.

Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
Người dân đổ xô xuống bắt cá dưới sông Gâm-ngay trước cửa xả của Nhà máy thủy điện Bảo Lâm 1 (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng), do nhà máy thủy điện chặn dòng chảy khiến sông cạn trơ đáy. (Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

Thủy điện ‘vượt đèn đỏ’

‘Quyết định đang trên bàn Thứ trưởng’

Hùng Võ

Theo lãnh đạo Cục Thẩm định và Đánh giá tác động Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc một số dự án thủy điện nhỏ thi công “vượt đèn đỏ” khi chưa có Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) như thủy điện Sông Lô 2 tại tỉnh Hà Giang, hay thủy điện Suối Mu ở Hòa Bình là việc làm trái luật.

Vậy những dự án thủy điện thi công trái luật trên sẽ phải xử lý ra sao? Trong việc này, chủ đầu tư đã nóng vội triển khai, hay cố tình lách luật? Liệu đây có phải là cách doanh nghiệp “làm khó” cơ quan chức năng địa phương, để cho qua những “chuyện đã xảy ra rồi?”

Thủy điện Sông Lô 2 ở Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Sông Lô 2 ở Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thi công “vượt đèn đỏ”

Như VietnamPlus đã phản ánh, gần đây, tình trạng doanh nghiệp thủy điện nhỏ “trốn” lập ĐTM – một quy định bắt buộc và là một trong những yếu tố quyết định dự án đó có được triển khai hay không đang khá phổ biến, mà nguyên do lại chính từ các văn bản chính sách lẫn việc thực thi.

Đơn cử như Dự án Thủy điện Sông Lô 2, do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình làm chủ đầu tư, được triển khai xây dựng từ năm 2015, tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Thế nhưng, hiện tại Dự án điều chỉnh thuộc đối tượng phải lập lại ĐTM (do nâng công suất lắp máy từ 21MW lên 28MW và điều chỉnh một số hạng mục) này vẫn chưa được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ĐTM.

Nhìn nhận thực trạng nêu trên, ông Phạm Anh Dũng, Cục phó Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường cho biết: Sau khi nắm bắt được thông tin, ngay 23/6/2017, Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường đã lập Hội đồng đi kiểm tra, thẩm định và đã yêu cầu Dự án thủy điện Sông Lô 2 tạm dừng triển khai thi công theo quy định.

“Lý do dừng là, dự án thủy điện Sông Lô 2 đã triển khai một số hạng mục như đê bao bờ trái và đê bao bờ phải, phần này chưa có trong ĐTM là sai, hay nói đúng hơn là dự án đã thi công ‘vượt đèn đỏ,’ vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường 2014. Trong việc này, có thể chủ đầu tư vô tình vi phạm, cũng có thể là cố tình vi phạm. Vì thế, chúng tôi đã yêu cầu chủ đầu tư dừng ngay toàn bộ hoạt động thi công xây dựng dự án, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường,“ ông Dũng nói.

Về hướng xử phạt, ông Dũng cho biết: “Sau khi tiến hành kiểm tra vào cuối tháng Sáu vừa qua, chúng tôi đã trình lên Thứ trưởng xem xét. Hiện văn bản đang nằm trên bàn Thứ trưởng, không rút ra được. Trong việc này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm ra văn bản, nhưng thẩm quyền xử lý là do Ủy ban Nhân dân tỉnh.”

Việc dự án này triển khai thi công sau hơn nửa năm mới có Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường, liệu có gì “bất thường”?

Tương tự, đối với dự án thủy điện Suối Mu do Công ty Văn Hồng làm chủ đầu tư trên địa bản huyện Lạc Sơn đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình cho phép thi công từ đầu năm 2016, không cần lập ĐTM. Sau đó hơn nửa năm, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hòa Bình mới xác nhận “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng đã đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Nhà máy thủy điện Suối Mu.”

Theo lý giải của đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Sở này ký Giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng là bởi thủy điện Suối Mu có công suất 9 MW, nên chỉ cần làm “đăng ký kế hoạch.” Vậy, việc dự án này triển khai thi công sau hơn nửa năm mới có Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường, liệu có gì “bất thường”?.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus về sự việc trên, tiến sỹ Hoàng Hải – Trưởng phòng ĐTM, Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường cho hay: “Đúng ra, khi đi kiểm tra, nếu phát hiện dự án không thuộc đối tượng ĐTM nhưng không có Giấy đăng ký xác nhận thì phải yêu cầu dừng, khi nào bổ sung mới được phép xây dựng.”

Về thẩm quyền thẩm định phê duyệt ĐTM, theo ông Hải, có hai trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Một là phải là đối tượng ĐTM, hai là từ dự án có công suất 2MW trở lên (theo Nghị định 201/2013/NĐ-CP) và một số quy định nữa. “Trường hợp thủy điện Suối Mu, chúng tôi có nhận được văn bản mà Hòa Bình giải thích, nhưng không biết thực tế đúng không,” ông Hải nói.

Thác Mu tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử” do Thủy điện Suối Mu xây đập chắn ngay trên đỉnh Thác, ảnh hưởng đến nguồn nước, dòng chảy, du lịch… (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thác Mu tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đang đứng trước nguy cơ bị “khai tử” do Thủy điện Suối Mu xây đập chắn ngay trên đỉnh Thác, ảnh hưởng đến nguồn nước, dòng chảy, du lịch… (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Quyết định thế nào là ở Thứ trưởng”

Vậy, việc thủy điện Suối Mu thi công “vượt đèn đỏ” cần phải xứ lý ra sao? Ông Hải cho hay: “Câu hỏi này với tôi thì khó, tất cả các thứ chỉ dám tư vấn, quyết định thế nào là ở Thứ trưởng (vì Văn bản tỉnh Hòa Bình gửi lên Bộ đã trình lên Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân xem xét), tôi đề xuất không phù hợp lắm. Tuy nhiên theo tôi, dù sự việc đã xảy ra rồi, nên địa phương cũng nên nhắc nhở doanh nghiệp, hoặc xử phạt theo quy định 155 về xử phạt hành chính.”

Về thông tin các địa phương phản ánh sự chồng chéo, chưa rõ ràng giữa các điều khoản hướng dẫn thủ tục lập ĐTM đối với các dự án thủy điện nhỏ, Trưởng phòng ĐTM – Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường cho rằng: Một số địa phương không để ý thì có nhầm lẫn, có rất nhiều quy định nếu để “lọt” một cái đã có chuyện để nói.

“Trong việc này, có thể địa phương họ nhầm lẫn. Sự chồng chéo tôi có biết, vì nhiều người đọc lướt qua nên không hiểu rõ được. Theo chỉ đạo, tới đây sẽ sửa Nghị định, thực ra bây giờ sắp lên xin ý kiến trên web. Chúng tôi cũng đã họp nhiều lần xin ý kiến, nhưng phải sửa cùng với nhiều Nghị định khác nữa,” ông Hải nói.

Ông Hải cũng lưu ý, việc sửa Nghị định là do Chính phủ quyết định. Về phía Bộ Tài nguyên và Môi trường có đề đạt và tham mưu sẽ sửa lại các Nghị định về luật bảo vệ môi trường, trong đó có Nghị định 18, do trong quá trình thực hiện phát hiện một số điểm không được rõ ràng.

“Hiện Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân đang chỉ đạo, nhưng có được hoàn thiện hay không phải qua rất nhiều cấp” – tiến sỹ Hoàng Hải – Trưởng phòng ĐTM, Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường

“Hiện tại, Thứ trưởng (Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân) đang chỉ đạo, nhưng có được hoàn thiện hay không phải qua rất nhiều cấp,” ông Hải khẳng định Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường cũng đã trình nhiều phương án, nhưng bản chất là giải thích cho rõ.

“Riêng với văn bản hướng dẫn số 5657/BTNMT-TCMT (do Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân ký) gửi chung cho các tỉnh, nêu rõ thẩm quyền thẩm định và phê duyệt ĐTM của các dự án thủy điện, Thứ trưởng cũng đã có yêu cầu giải thích cho rõ ràng hơn. Ai hỏi ai nói thì giải trình, còn Bộ có giải trình hay không tôi không rõ,” ông Hải nói thêm.

Trước đó, chia sẻ với phóng viên VietnamPlus vào ngày 10/7, nguồn tin từ Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường tiết lộ, sau khi tập hợp ý kiến của các địa phương, lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo đính chính lại văn bản hướng dẫn số 5657/BTNMT-TCMT, căn nguyên là do nội dung văn bản chưa rõ ràng, dẫn đến sự hiểu lầm ở cấp địa phương.

Còn ở góc độ chuyên gia, tiến sỹ Nguyễn Khắc Kinh, nguyên Vụ trưởng Vụ thẩm định đánh giá tác động môi trường-Tổng Cục môi trường, hiện là Chủ tịch Hội Đánh giá tác động môi trường Việt Nam cho rằng để giúp công tác thẩm định xử lý môi trường thuận lợi, đảm bảo môi sinh phát triển bền vững, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần điều chỉnh các văn bản, thống nhất quy định giữa Nghị định và Thông tư hướng dẫn càng sớm càng tốt.

Đồng thời, cần bổ sung, hướng dẫn biện pháp xử lý với các dự án đang thi công dở dang hoặc bắt đầu thi công (khi chưa có thông tư). Không nên để “lỗ hổng” kéo dài, có thể dẫn tới hiệu ứng dây chuyền “xập xí xập ngầu” đối với các dự án tương tự, gây khó khăn cho công tác thẩm định, xử lý các dự án thủy điện “trốn” ĐTM.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

‘Quả bóng’ trách nhiệm

khi thủy điện ‘vượt đèn đỏ’

Hùng Võ

Như VietnamPlus đã phản ánh, dự án Thủy điện Suối Mu (công suất 9MW) do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng làm chủ đầu tư bắt đầu khởi công vào đầu năm 2016. Tiến độ theo phê duyệt quy hoạch là hoàn thành, hoà lưới điện vào tháng 3/2017.

Dây chuyền “tiền trảm hậu tấu”

Theo khảo sát của phóng viên, đến tháng 7/2017, dự án thủy điện được triển khai xây dựng ngay trong khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông tại xã Tự Do, huyện Lạc Sơn này đã thực hiện được khoảng 50% khối lượng công trình.

Điều đáng nói là dự án thủy điện mới chỉ có phê duyệt quy hoạch (bởi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hoà Bình ngày 10/11/2015), lại không yêu cầu lập ĐTM – một quy định bắt buộc và là một trong những yếu tố quyết định dự án đó có được triển khai hay không.

Cho đến tận ngày 18/7/2016, chủ đầu tư mới có Công văn số 05/VH-MT gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình đề nghị đơn vị này xem xét và cấp giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường.

Sau đó gần một tháng, ngày 15/8/2016, ông Đinh Văn Hòa – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình đã ký ban hành Văn bản số 284/XN-STNMT, xác nhận “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng đã đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường cho Nhà máy thủy điện Suối Mu.”

Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình cho rằng Thủy điện Suối Mu có công suất 9 MW, nên chỉ cần làm “đăng ký kế hoạch,” không phải lập ĐTM

Lý giải cho việc các cơ quan chức năng huyện, tỉnh “làm ngơ” cho chủ đầu tư “tiền trảm hậu tấu,” tự ý tiến hành khởi công xây dựng các hạng mục trong dự án thủy điện Suối Mu từ trước khi được chấp thuận Giấy xác nhận đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường tận gần nửa năm, đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình cho rằng: Thủy điện Suối Mu có công suất 9 MW, nên chỉ cần làm “đăng ký kế hoạch,” không phải lập ĐTM.

Trong khi đó, trao đổi với phóng viên VietnamPlus, đại diện Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định: Việc dự án thủy điện Suối Mu thi công khi chưa có ĐTM, cũng như Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường là hành vi “vượt đèn đỏ” trái luật.

“Đúng ra, khi đi kiểm tra, nếu phát hiện dự án không thuộc đối tượng ĐTM nhưng không có Giấy đăng ký xác nhận thì phải yêu cầu dừng, khi nào bổ sung mới được phép xây dựng,” vị đại diện Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường nói.

Nhưng không chỉ Giấy đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường xin sau làm trước, trong quá trình điều tra, chúng tôi lại phát hiện dự án thủy điện Suối Mu còn triển khai xây dựng công trình trước khi xin giấy phép đến hơn một năm.

Cụ thể, ngày 3/7/2017, tức sau hơn một năm thi công, dự án này mới được Sở Xây Dựng Hòa Bình cấp Giấy phép xây dựng (Giấy phép xây dựng số 59/GPXD-SXD ngày 3/7/2017, do ông Ngô Ngọc Đức, Giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Hòa Bình ký ban hành).

Thủy điện Suối Mu. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Suối Mu. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trên “không biết” vì dưới “không báo”

Trao đổi với phóng viên, Trưởng phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản – Sở Xây Dựng tỉnh Hòa Bình, ông Đoàn Tiến Lập khẳng định: ông mới nghe tên dự án thủy điện Suối Mu từ cuối tháng 6/2017, khi chủ đầu tư dự án gửi đơn và hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng. Trước đó, ông “không hề biết” dự án này.

Vậy tại sao một dự án thủy điện to lù lù thi công ồn ào trong hơn 360 ngày có thể “hồn nhiên mọc” trong khu bảo tồn thiên nhiên mà không “ai” biết?

Nghịch lý hơn, đây là một trong những hạng mục xây dựng quy định phải được cấp phép, kiểm tra, giám sát nguy cơ tác động đến môi trường.

Do đâu mà dự án liên tiếp “vượt đèn đỏ” này vẫn “trơ trơ cùng tuế nguyệt” bất chấp mọi bức xúc của nhân dân địa phương, thách thức các cơ quan ngôn luận?

Phòng chuyên môn của Sở chỉ có 3 người không thể kiểm soát hết được địa bàn với 11 huyện thị địa lý rải rác – ông Đoàn Tiến Lập,  Trưởng phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản – Sở Xây Dựng tỉnh Hòa Bình

Lý giải sự “không biết” này, ông Đoàn Tiến Lập chia sẻ theo phân cấp thì địa phương quản lý việc xây dựng. Phòng chuyên môn của Sở chỉ có 3 người không thể kiểm soát hết được địa bàn với 11 huyện thị địa lý rải rác.

“Nếu có sự vụ gì thì Sở Xây Dựng mới đi kiểm tra, việc thanh tra chủ yếu là xây dựng kế hoạch. Chưa kể, địa bàn vùng sâu vùng xa, ví dụ từ thành phố xuống điểm dự án, khoảng 80km, mà đi thì rất khó,” ông Lập thành thật.

Vị này cũng lưu ý: “Với bất kỳ công trình xây dựng dù lớn hay nhỏ nếu phát sinh trên địa bàn, không có phép thì huyện phải lập biên bản báo cáo lên Sở.”

Chỉ đích danh dự án thủy điện Suối Mu, ông Lập khẳng định, sau khi có thông báo thẩm định kỹ thuật dự án từ Sở Công Thương, cũng như hồ sơ xin cấp phép của chủ đầu tư, đến ngày 3/7/2017, Sở Xây dựng mới thực hiện thủ tục cấp phép xây dựng. Còn trước giờ chưa có báo cáo gì từ huyện.

“Thực ra, nếu công trình đã xây dựng rồi, mà có dấu hiệu của địa phương báo cáo, thì phải xử phạt xong mới cấp Giấy phép xây dựng. Trường hợp phát hiện sai phạm, chúng tôi vẫn có thể thu hồi, xử phạt xong mới cấp lại,” ông Lập nói thêm.

Đại diện Sở Xây dựng tỉnh Hòa Bình cũng thừa nhận, qua thông tin từ báo chí, phản ánh của người dân, Sở Xây dựng mới biết. Ông cũng khẳng định rằng, nếu dự án triển khai xây dựng sai thiết kế thì sẽ rất “to chuyện!”

(Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng  Võ/Vietnam+)

Quả bóng trách nhiệm trong chân ai?

Trả lời câu hỏi, trách nhiệm thuộc về ai khi để xảy ra sự việc những sai phạm nêu trên, cả Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tự Do và lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Lạc Sơn đều khẳng định, dự án được thực hiện theo chủ trương của Ủy ban Nhân dân tỉnh!

Trong khi đó, ông Lập cho rằng các công trình xây dựng như dự án thủy điện Suối Mu do nhiều ngành cùng quản lý, chứ không riêng gì Sở Xây dựng, đồng thời tái khẳng định là việc giám sát xây dựng, kiểm tra báo cáo sai phạm là trách nhiệm của địa phương.

Đáng lưu ý hơn, dự án thủy điện Suối Mu từ khi bắt đầu giải phóng mặt bằng, triển khai thi công đã gặp phải sự phản đối của người dân. Lý do là thủy điện “mọc” lên sẽ làm thay đổi dòng chảy của thác, ảnh hưởng đến du lịch, cũng như nguồn nước phục vụ nông nghiệp, giảm đất canh tác của hàng trăm người dân xã Tự Do.

Dự án thủy điện  Suối Mu, có tổng mức đầu tư hơn 167 tỷ đồng, trong đó vốn vay ngân hàng chiếm 70%,vẫn được triển khai và ngang nhiên tồn tại

Thế nhưng, dự án có tổng mức đầu tư hơn 167 tỷ đồng, trong đó vốn vay ngân hàng chiếm 70% này vẫn được triển khai và ngang nhiên tồn tại.

Chẳng những thế, ngày 28/3/2017, ông Nguyễn Văn Quang – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình lại ký Quyết định số 29/QĐ-UBND ngày 28/3/2017, về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư thủy điện Suối Mu, cho phép dự án tiếp tục được thi công.

Trong Quyết định này nêu rõ: Điều chỉnh tên nhà đầu tư Công ty cổ phần thủy điện Văn Hồng do ông Đặng Văn Hồng làm giám đốc, thành Công ty cổ phần thủy điện Suối Mu do ông Nguyễn Đức Tân làm giám đốc.

Các nội dung khác giữ nguyên theo Quyết định đầu tư số 495/QD-UBND ngày 1/11/2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Có vẻ như, việc “làm đẹp” hồ sơ từ lập ĐTM đến giấy phép xây dựng đã được tính toán theo đúng quy trình!./.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Động thái tích cực

sau loạt bài ‘Vỡ trận’ quy hoạch thủy điện nhỏ

Hùng Võ

Liên quan đến nội dung loạt bài “Vỡ trận quy hoạch” thủy điện nhỏ ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã được Báo điện tử VietnamPlus phản ánh, mới đây, cơ quan chức năng các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Hòa Bình đã vào cuộc kiểm tra, xử lý các dự án thủy điện vi phạm, đảm bảo quyền lợi cho người dân bị ảnh hưởng do thủy điện gây ra.

(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Hà Giang dừng toàn bộ hoạt động thi công thủy điện Sông Lô 2

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Hoàng Văn Nhu – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang cho biết, sau khi báo chí phản ánh việc dự án thủy điện Sông Lô 2 thi công “vượt đèn đỏ,” khi chưa có Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã vào cuộc kiểm tra, yêu cầu dừng toàn bộ hoạt động thi công của dự án.

Dự án thủy điện Sông Lô 2 do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình làm chủ đầu tư, được xây dựng tại xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, cách trung tâm tỉnh Hà Giang khoảng 15 km. Dự án này khởi công từ năm 2015, với tổng vốn đầu tư hơn 800 tỷ đồng. Dự án này được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang phê duyệt ĐMT từ ngày 13/1/2010.

Tuy nhiên, do công trình điều chỉnh quy mô (từ 27 MW lên 28 MW) nên theo quy định, chủ đầu tư phải lập lại ĐTM, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét thẩm định, phê duyệt mới được triển khai thi công. Vậy nhưng, từ năm 2015 đến nay, dự án này vẫn thi công theo ĐTM cũ được phê duyệt bởi Ủy ban Nhân dân tỉnh.

UBND tỉnh Hà Giang đã yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình dừng toàn bộ hoạt động thi công dự án thủy điện Sông Lô 2; đồng thời xem xét xử phạt vi phạm hành chính

Trên cơ sở đó, ngày 23/6/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức khảo sát địa điểm thực hiện dự án điều chỉnh thủy điện Sông Lô 2. Tại thời điểm khảo sát, chủ đầu tư đang thi công hạng mục đê bao bờ trái và đê bao bờ phải, đây là hai hạng mục thuộc phạm vi của dự án điều chỉnh, nhưng chưa được phê duyệt ĐTM. Hành vi này vi phạm quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Từ kết quả kiểm tra, mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có công văn số 3488/BTNMT-TCMT gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình, yêu cầu dừng ngay toàn bộ hoạt động thi công xây dựng dự án thủy điện Sông Lô 2; xử lý các vi phạm và yêu cầu chủ đầu tư dự án khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật hiện hành.

Theo đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Bình dừng toàn bộ hoạt động thi công dự án thủy điện Sông Lô 2; đồng thời xem xét xử phạt vi phạm hành chính.

Thủy điện Sông Lô 2 tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Thủy điện Sông Lô 2 tại tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cao Bằng: Thủy điện Bản Rạ đã đền bù thiệt hại cho người dân

Cũng liên quan đến nội dung trong loạt bài “Vỡ trận quy hoạch thủy điện nhỏ ở các tỉnh miền núi phía Bắc,” Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã yêu cầu Công ty Cổ phần Thủy điện Đông Bắc (chủ đầu tư Nhà máy thủy điện Bản Rạ) chi trả dứt điểm tiền đền bù thiệt hại hoa màu (do nhà máy gây ra) cho người dân xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh. Thời gian hoàn thành trước 30/6/2017.

Theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng, mới đây, Công ty Cổ phần Thủy điện Đông Bắc đã tiến hành chi trả đền bù sản lượng hoa màu bị thiệt hại hai năm 2013, 2014 cho các hộ nhân dân bị thiệt hại, số tiền gần 800 triệu đồng. Tổng cộng cả 3 năm số tiền doanh nghiệp này đã chi trả là hơn 1,2 tỷ đồng.

Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng cũng yêu cầu Công ty Cổ phần Thủy điện Đông Bắc tổ chức thi công xây dựng cầu Bản Mom, hoàn thành dứt điểm các tuyến mương còn lại theo đúng cam kết, đảm bảo đáp ứng đủ nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, thời gian hoàn thành trước ngày 30/10/2017.

Trước khi thi công, chủ đầu tư phải trình hồ sơ thiết kế cầu lên cấp có thẩm định, phê duyệt theo quy định; đồng thời chủ động phối hợp với Ủy ban Nhân dân huyện Trùng Khánh, Ủy ban Nhân dân xã Đàm Thủy và người dân để đầu tư xây dựng, đảm bảo đáp ứng đủ nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp.

“Nếu đến mốc thời gian nêu trên, phía Công ty cổ phần thủy điện Đông Bắc vẫn không chấp hành theo cam kết, tỉnh sẽ tiếp tục có chế tài xử lý,” ông Lê Hải Hòa – Phó Chánh Văn phòng, phụ trách Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng nói.

“Nếu Công ty cổ phần thủy điện Đông Bắc vẫn không chấp hành theo cam kết, tỉnh sẽ tiếp tục có chế tài xử lý,” ông Lê Hải Hòa – Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh Cao Bằng 

Riêng với dự án thủy điện Hoa Thám (5,8MW) do Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và phát triển Năng lượng Đông Bắc làm chủ đầu tư, triển khai thi công trên địa bàn huyện Nguyên Bình từ năm 2007 và tạm dừng thi công từ tháng 11/2011, do chủ đầu tư thiếu vốn.

Dự án Thủy điện Hoa Thám có tổng mức đầu tư dự kiến trên 200 tỷ đồng, trong đó 70% sử dụng vốn vay của Chi nhánh Ngân hàng Phát triển tỉnh Cao Bằng (chủ đầu tư đã vay tổng cộng gần 59 tỷ đồng).

Từ năm 2004 đến nay, Công ty này đã thay đổi 8 lần giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và nhiều lần thay đổi lãnh đạo, giám đốc…

Trả lởi về hướng xử lý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đối với dự án thủy điện Hoa Thám sẽ được triển khai thế nào, ông Nguyễn Đặng, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Cao Bằng cho biết tại cuộc họp ngày 28/7 vừa qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng đã đồng ý cho Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và phát triển Đông Bắc tiếp tục đầu tư thi công dự án nhưng đồng thời phải cam kết thực hiện đúng tiến độ, dự kiến hoàn thành trong quý ba năm 2018.

Sở Công Thương, Sở Kế hoạch Đầu tư có trách nhiệm giám sát tiến độ thực hiện của chủ đầu tư.

Dự án Thủy điện Hoa Thám. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Dự án Thủy điện Hoa Thám. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Hòa Bình rà soát, xử lý thủy điện Suối Mu thi công “vượt đèn đỏ”

Liên quan đến thông tin dự án thủy điện Suối Mu (công suất 9MW) do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn Hồng làm chủ đầu tư, đã triển khai thi công “vượt đèn đỏ” khi chưa có Giấy phép xây dựng hơn một năm trời, mới đây, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình cũng đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan vào cuộc kiểm tra xử lý.

Dự án Thủy điện Suối Mu khởi công xây dựng ngay trong khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông tại xã Tự Do, huyện Lạc Sơn từ đầu năm 2016. Theo khảo sát của phóng viên, đến tháng 7/2017, dự án này đã thực hiện được khoảng 50% khối lượng công trình.

Lý giải về việc dự án thủy điện Suối Mu thi công khi chưa có giấy phép xây dựng, ông Ngô Ngọc Đức, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Hòa Bình cho biết, chức năng của đơn vị chỉ là thẩm định hồ sơ để cấp giấy phép xây dựng.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan vào cuộc kiểm tra xử lý dự án thủy điện Suối Mu thi công “vượt đèn đỏ”

Theo trình tự, khi chủ đầu tư gửi toàn bộ hồ sơ đảm bảo các yêu cầu trong hồ sơ thì Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng. Còn việc xử lý thuộc về địa phương.

Trong khi đó, ông Bùi Văn Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Lạc Sơn lại cho rằng, chính quyền địa phương không có chức năng giám sát, kiểm tra hay xử phạt những vấn đề sai phạm của dự án thủy điện Suối Mu vì đây là dự án được triển khai theo chủ trương của tỉnh.

Tiếp tục liên hệ với ông Bùi Văn Khánh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình. Ông Khánh cho biết, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình đã đề nghị các đơn vị chức năng (như Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Xây Dựng, Sở Công Thương) rà soát, kiểm tra các sai phạm của thủy điện Suối Mu như thông tin báo chí phản ánh.

“Hiện tại, chúng tôi vẫn đang chờ thông tin báo cáo từ các đơn vị chuyên môn,” ông Khánh nói./.

Dự án thủy điện Suối Mu. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Dự án thủy điện Suối Mu. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Dịch sốt xuất huyết

Năm 2017 đang được xem là một năm “bùng nổ” của dịch sốt xuất huyết trong 10 năm gần đây khi số trường hợp mắc bệnh và nhập viện tăng cao trên toàn quốc. Tại Hà Nội, chưa bao giờ số trường hợp mắc bệnh tăng cao như tuần vừa qua, với 1.500 ca bệnh mắc mới/tuần.

Những cụm từ như “muỗi,” “bệnh sốt xuất huyết,” “sốt” đã trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người, nhiều gia đình, nhất là những hộ dân sống trong vùng tâm điểm của dịch bệnh sốt xuất huyết…

Lâu nay, mọi người vẫn thờ ơ với công tác vệ sinh phòng bệnh, không diệt trừ muỗi. Đây chính là mối hiểm họa gây nên bệnh sốt xuất huyết mạnh mẽ như hiện nay.

Lấy máu xét nghiệm đối với bệnh nhân sốt xuất huyết. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Lấy máu xét nghiệm đối với bệnh nhân sốt xuất huyết. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Các bệnh viện “quay cuồng”

Dịch sốt xuất huyết bùng phát tại miền Bắc chưa lâu nhưng số ca bệnh gia tăng “chóng mặt.” Trong một tháng gần đây, nhiều Khoa truyền nhiễm của các bệnh viện có bệnh nhân mắc sốt xuất huyết tới khám tăng vọt. Nhiều khoa rơi vào tình trạng quá tải bệnh nhân.

Tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương – cơ sở đầu ngành điều trị các bệnh truyền nhiễm, 2 tuần gần đây luôn trong tình trạng quá tải vì bệnh nhân sốt xuất huyết đến khám và điều trị.

Ông Nguyễn Văn Kính – Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết tại bệnh viện, mỗi ngày có hơn 200 ca mắc sốt xuất huyết đến khám, tỷ lệ nhập viện khoảng gần 20% và số bệnh nhân gia tăng nhanh trong 2 tuần nay. So với cùng kỳ của năm ngoái, số lượng bệnh nhân mắc sốt xuất huyết tăng 4-5 lần.

Nhiều ca mắc sốt xuất huyết nặng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như xuất huyết não, xuất huyết tiêu hóa, nội tạng… dẫn tới tử vong

Tại Bệnh viện E, trung bình mỗi ngày khoa Bệnh Nhiệt đới có khoảng 80 người dân mắc sốt xuất huyết, trong đó có từ 25-30 trường hợp phải nhập viện theo dõi, điều trị để giảm nguy cơ biến chứng, gây nguy hiểm cho tính mạng.

Bệnh nhân B.T.L (29 tuổi, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội) nhập viện tại Bệnh viện E ngày 22/7 trong tình trạng sốt cao, xuất huyết dưới da, đau cơ khớp. Các bác sỹ cho bệnh nhân tiến hành công thức máu, cho thấy, lượng tiểu cầu giảm chỉ còn 46G/L (trong khi chỉ số bình thường là từ 150-500G/L). Bệnh nhân có sốt xuất huyết bội nhiễm.

Nằm trên giường bệnh, bệnh nhân N.T.N (41 tuổi, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội) cho biết bệnh nhân nhập viện ngày 24/7 trong tình trạng sốt cao kéo dài 5 ngày, đầu đau nhức, khớp xương nhức mỏi, hốc mắt đau…

Các xét nghiệm của bệnh nhân dương tính với sốt xuất huyết Dengue.

Theo bệnh nhân N, ở nhà có một người em cũng bị mắc sốt xuất huyết. Trước đây, bệnh nhân cũng đã từng mắc bệnh nhưng không biết mắc sốt xuất huyết type nào. Mặc dù, ở nhà có người mắc bệnh nhưng mọi người trong gia đình chủ quan, ngủ không mắc màn, nên bị muỗi đốt và bị nhiễm bệnh cùng nhau.  

Tại Hà Nội, hiện nay, có nhiều ca bị sốt xuất huyết nặng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như xuất huyết não, xuất huyết tiêu hóa, nội tạng… dẫn tới tử vong.

Có sự chuyển đổi chủng huyết thanh mới

Phân tích về tình hình diễn biến của dịch sốt xuất huyết trong năm nay, trả lời VietnamPlus, phó giáo sư Phan Trọng Lân – Viện trưởng Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh cho hay năm nay ghi nhận có sự chuyển đổi chủng huyết thanh mới, số người chưa có miễn dịch với chủng huyết thanh này tăng lên nên số người mắc bệnh, cũng như nguy cơ dịch, sẽ gia tăng.

Phó giáo sư Lân chỉ rõ dịch sốt xuất huyết xảy ra là do tương tác giữa tác nhân gây bệnh (virus sốt xuất huyết), véctơ truyền bệnh (muỗi vằn), khối cảm thụ (con người) và các biện pháp phòng chống. Khi có sự thay đổi 1 trong 4 yếu tố trên theo hướng bất lợi, đều có thể dẫn đến sự gia tăng sốt xuất huyết.

Sự thay đổi có thể bao gồm sự xuất hiện hoặc gia tăng chủng huyết thanh mới của tác nhân gây bệnh ở địa phương; gia tăng nhiệt độ và điều kiện thích hợp cho quá trình phát triển từ trứng thành lăng quăng, muỗi nhanh hơn và tuổi thọ muỗi tăng hơn.

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do virus Dengue gây ra với 4 type gây bệnh được ký hiệu là D1, D2, D3, D4 

Số lượng lớn người ở vùng ít lưu hành sốt xuất huyết, chưa từng mắc sốt xuất huyết di chuyển đến nơi lưu hành sốt xuất huyết khiến cho địa bàn gia tăng đột ngột lượng người chưa miễn nhiễm với sốt xuất huyết, gia tăng nguy cơ mắc bệnh.

Theo Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế), sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do virus Dengue gây ra với 4 type gây bệnh được ký hiệu là D1, D2, D3, D4.

Do miễn dịch được tạo thành sau khi mắc bệnh chỉ có tính đặc hiệu đối với từng type cho nên người ta có thể mắc bệnh sốt xuất huyết lần thứ 2 hoặc thứ 3 bởi những type virus khác nhau.

Chiều 28/7, Báo cáo với Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam trong cuộc làm việc tại trụ sở Ủy ban Nhân dân quận Đống Đa sau khi đi thị sát 2 điểm nóng về dịch sốt xuất huyết, Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Nguyễn Khắc Hiền cho biết những năm trước, tại Hà Nội chỉ có virus Dengue gây ra bệnh sốt xuất huyết D1, D2 thì năm nay đã có thêm D4. Đây có thể là nguyên nhân chính khiến cho dịch sốt xuất huyết năm nay lan rộng tại Hà Nội và có những diễn biến mới.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam kiểm tra nước tại  một công trình xây dựng trên địa bàn phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: Danh  Lam /TTXVN)
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam kiểm tra nước tại một công trình xây dựng trên địa bàn phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: Danh Lam /TTXVN)

Mỗi con muỗi có thể đẻ 1.000 trứng

Phó giáo sư Phan Trọng Lân phân tích dịch sốt xuất huyết hiện nay không còn chịu tác động bởi yếu tố duy nhất là mặt sinh học, mà còn chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố bao gồm yếu tố thời tiết, yếu tố con người (lối sống, tập quán) và đặc biệt là hoạt động kiểm soát muỗi, lăng quăng.

Bởi để hạn chế dịch sốt xuất huyết hiệu quả nhất hiện nay chính là việc làm sao để kiểm soát véctơ truyền bệnh không để cho lăng quăng, muỗi có điều kiện gia tăng tự nhiên.

Năm nay ghi nhận có sự chuyển đổi chủng huyết thanh mới, bên cạnh đó, mùa mưa đến sớm hơn mọi năm, khi cộng đồng còn chủ quan chưa kịp dọn dẹp ổ chứa lăng quăng khiến tác nhân gây bệnh này có cơ hội sinh sống và phát triển mạnh.

Bộ Y tế khuyến cáo mạnh mẽ cộng đồng thực hiện những hành động đơn giản nhưng rất thiết thực là đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng

Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh sốt xuất huyết, để ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, lan rộng, kéo dài trong thời gian tới, giải pháp quan trọng nhất Bộ Y tế khuyến cáo mạnh mẽ cộng đồng thực hiện những hành động đơn giản nhưng rất thiết thực, là đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng.

Muỗi là loại côn trùng đẻ trứng xuống nước, trứng nở thành ấu trùng gọi là bọ gậy hay lăng quăng. Bọ gậy sống trong nước một thời gian, sau phát triển thành nhộng, rồi biến thái thành muỗi trưởng thành, bay lên khỏi mặt nước.

“Muỗi dù là một sinh vật rất nhỏ bé, nhưng trứng muỗi lại có sức chịu hạn cao, có thể tồn tại qua mùa khô. Khi mưa xuống, trứng nở ngay thành muỗi. Mỗi con muỗi cái có thể đẻ 4-5 lần; mỗi lần 100-200 trứng ở rất nhiều dụng cụ chứa nước trong cùng một lần. Do vậy, mật độ muỗi càng cao hơn bình thường ngay từ đầu năm. Kết hợp các yếu tố này, khiến cho số mắc sốt xuất huyết có cơ hội để gia tăng,” Viện trưởng Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định.

Muỗi – côn trùng trung gian truyền nhiều loại  bệnh. (Ảnh: AP/TTXVN)
Muỗi – côn trùng trung gian truyền nhiều loại bệnh. (Ảnh: AP/TTXVN)

Sau 10 năm lại có đỉnh dịch

Thống kê của Bộ Y tế cho thấy tính từ đầu năm 2017 đến nay, cả nước đã ghi nhận hơn 58.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết, trong đó có hơn 49.000 trường hợp nhập viện và 17 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2016 số nhập viện tăng 11,2%, số tử vong tăng 3 trường hợp.

Hiện có 61 tỉnh, thành phố ghi nhận có trường hợp mắc sốt xuất huyết. Có 26 tỉnh, thành phố có số mắc tích lũy tăng cao so với cùng kỳ 2016.

Nhiều tỉnh, thành phố có số mắc cao và dịch bệnh đang có nguy cơ lan rộng, nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, An Giang, Trà Vinh, Cà Mau, Tây Ninh, Sóc Trăng, Tiền Giang, Nam Định…

Bàn về vấn đề liệu năm nay có phải là năm bệnh sốt xuất huyết sẽ lên đến đỉnh điểm theo chu kỳ hay không, phó giáo sư Phan Trọng Lân phân tích trong quá khứ, khu vực đã có những lần bệnh sốt xuất huyết tăng mạnh vào những năm 1998 và năm 2008-2009. Do vậy, xét về mặt sinh học, cứ sau 10 năm, bệnh sốt xuất huyết có thể bùng phát thành đỉnh dịch.

Vì vậy, xét theo khuynh hướng này, rất có thể năm nay 2017 và năm sau 2018, sẽ có nguy cơ có dịch sốt xuất huyết. Tuy nhiên, tính chu kỳ này không ổn định.

Xét về mặt sinh học, cứ sau 10 năm, bệnh sốt xuất huyết có thể bùng phát thành đỉnh dịch

“Dưới tác động của các biện pháp phòng chống hiệu quả, dịch sốt xuất huyết đã bị kìm hãm chủ động ngay từ đầu năm nhờ vào dự báo tốt, và dịch sốt xuất huyết nếu có xảy ra cũng bị dập tắt sớm hơn diễn tiến tự nhiên. Điều này khiến cho tính chu kỳ của dịch sốt xuất huyết không còn rõ rệt như trước,” phó giáo sư Lân cho hay.

Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng Trần Đắc Phu đã có cảnh báo cần lưu ý có biện pháp phòng ngừa, điều trị kịp thời với mùa dịch sốt xuất huyết đến sớm hơn mọi năm sẽ khiến diễn biến khó đoán cho dù các chủng gây bệnh không có gì đột biến.

Theo ông Phu, bình thường tại Hà Nội, dịch sốt xuất huyết xuất hiện trong tháng 7, tháng 8 thì năm nay ngay tháng 5, tháng 6 đã xuất hiện nhiều.

“Chúng tôi cũng lưu ý rằng từ nay đến cuối năm nếu chúng ta không làm quyết liệt thì tình hình dịch bệnh sẽ diễn ra phức tạp. Hiện nay mới bước vào thời điểm dịch sốt xuất huyết đã bắt đầu và đang gia tăng,” ông Phu nhấn mạnh.

Bệnh nhân tại Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Bạch Mai. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN
Bệnh nhân tại Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Bạch Mai. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN

Đối tượng hai miền trái ngược

Phân tích về tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết giữa 2 miền Nam-Bắc cho thấy đối tượng mắc sốt xuất huyết có sự phân hóa rõ ràng giữa 2 miền: như miền Bắc thì lại chủ yếu là người lớn mắc bệnh trong khi miền Nam lại chủ yếu là đối tượng trẻ nhỏ.

Lý giải vì sao lại có tình trạng này, phó giáo sư Phan Trọng Lân – Viện trưởng Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh cho hay khu vực phía Nam với khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều quanh năm, thích hợp cho muỗi truyền bệnh sinh sôi phát triển khiến cho tốc độ lây truyền bệnh lớn hơn, mạnh hơn, mầm bệnh được phát tán quanh năm.

Trẻ em tại khu vực phía Nam từ khi sinh ra đã có cơ hội lớn nhiễm nhiều típ virus Dengue. Do đó, bệnh nhân tại đây chủ yếu là trẻ nhỏ.

Khi có điều kiện thay đổi các yếu tố tương tác gây dịch sốt xuất huyết, hàng loạt người lớn trưởng thành chưa hề nhiễm bệnh trong thời thơ ấu sẽ mắc bệnh, khiến cho đối tượng mắc bệnh tại miền Bắc chủ yếu là người lớn

Khi trưởng thành, người lớn tại đây đã có miễn dịch với virus Dengue và không mắc bệnh sốt xuất huyết khi trưởng thành.

Ngược lại, ở miền Bắc có mùa Đông. Khi ấy, khí hậu lạnh khiến muỗi ngưng hoạt động và chết. Phải đợi đến mùa Hè năm sau, muỗi mới bắt đầu phát triển lại.

”Sự gián đoạn mật độ muỗi trong môi trường ở miền Bắc giúp giảm thấp tốc độ lây truyền bệnh trong cộng đồng. Khi có điều kiện thay đổi các yếu tố tương tác gây dịch sốt xuất huyết, hàng loạt người lớn trưởng thành chưa hề nhiễm bệnh trong thời thơ ấu sẽ mắc bệnh, khiến cho đối tượng mắc bệnh chủ yếu tại miền Bắc là người lớn,” Viện trưởng Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh.

Bệnh nhân sốt xuất huyết được truyền nước tại  Khoa Cấp cứu nội, Bệnh viện Thanh Nhàn. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Bệnh nhân sốt xuất huyết được truyền nước tại Khoa Cấp cứu nội, Bệnh viện Thanh Nhàn. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Chống sốt xuất huyết: Cuộc chiến dai dẳng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), số mắc sốt xuất huyết trong 50 năm qua đã gia tăng gấp 30 lần và lan rộng ở 128 quốc gia trên thế giới với 3,9 tỷ người (hơn 40% dân số toàn cầu) có nguy cơ mắc bệnh. Hằng năm, có 390 triệu người nhiễm bệnh, 96 triệu trường hợp có triệu chứng.

WHO đánh giá, dịch sốt xuất huyết năm sau cao hơn năm trước. Cứ mỗi 10 năm, số mắc sốt xuất huyết lại gia tăng gấp đôi. Việt Nam nằm trong vùng có bệnh sốt xuất huyết lưu hành cao nên tình hình bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam không là ngoại lệ, không khác biệt so với những dự báo chung của thế giới.

Chính vì vậy, hoạt động phòng chống sốt xuất huyết được ví như cuộc chiến dai dẳng, cần phải bền bỉ.

Cộng đồng và chính quyền càng phải nỗ lực hơn năm trước và kiên trì, liên tục, thường xuyên trong việc diệt lăng quăng, mới có thể đạt hiệu quả trong việc khống chế dịch sốt xuất huyết.

Như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh phòng chống dịch bệnh nói chung và sốt xuất huyêt nói riêng từ trước đến nay là công việc thường xuyên, thực hiện khá tốt từ dự phòng đến điều trị. Những thay đổi thời tiết cũng làm dịch bệnh diễn biến phức tạp đòi hỏi phải có giải pháp bổ sung, quyết liệt hơn.

Người dân cần loại bỏ, lật úp các vật liệu phế thải, các hốc nước tự nhiên để tránh muỗi đẻ trứng như chai, lọ, mảng chai, vỏ dừa, hốc tre, bẹ lá; ngủ màn, mặc quần áo dài phòng muỗi đốt

Phó Thủ tướng chỉ rõ: “Giải pháp phòng chống dịch sốt xuất huyết không mới, cốt lõi là tuyên truyền vận động, kết hợp với xử lý kiên quyết. Riêng lực lượng y tế, chính quyền làm sẽ không xuể, nhất thiết phải vận động tất cả mọi người dân cùng vào cuộc, phòng chống dịch bền vững, liên tục thay vì theo đợt.”

Bộ Y tế khuyến cáo người dân phòng bệnh sốt xuất huyết cần thực hiện chiến dịch tự diệt muỗi, loăng quăng phòng chống bệnh do virus Zika và bệnh sốt xuất huyết; thả cá vào dụng cụ chứa nước lớn, thau rửa dụng cụ chứa nước vừa và nhỏ, lật úp các dụng cụ không chứa nước, thay rửa bình hoa…

Hằng tuần, người dân cần loại bỏ, lật úp các vật liệu phế thải, các hốc nước tự nhiên không cho muỗi đẻ trứng như chai, lọ, mảng chai, vỏ dừa, hốc tre, bẹ lá; ngủ màn, mặc quần áo dài phòng muỗi đốt ngay cả ban ngày; tích cực phối hợp với ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.

Người dân khi bị sốt đến ngay cơ sở y tế để được khám và tư vấn điều trị, không tự ý điều trị tại nhà./.Dưới đây là Bản đồ về dịch sốt xuất huyết của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC):


Phun hóa chất diệt muỗi, phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Hoài Đức, Hà Nội. (Ảnh: Tuyết Mai/TTXVN)
Phun hóa chất diệt muỗi, phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Hoài Đức, Hà Nội. (Ảnh: Tuyết Mai/TTXVN)

10 năm Da LAB

“Rap trà sữa” là cách mà giới rap Việt bỡn cợt “Da LAB” về thứ “rap nửa mùa,”  không phải là rap ở thời điểm nhóm mới thành lập năm 2007. Để rồi sau 10 năm hoạt động, tìm tòi một tiếng nói, một lối đi riêng, Da LAB từ một ban nhạc rap tự phát, vô danh, nay có chỗ đứng và tiếng tăm bởi thứ âm nhạc tích cực cùng tinh thần chơi nhạc tử tế.

Tới đây, nhóm sẽ “báo cáo thành tích và thâm niên hoạt động” bằng đêm nhạc “Da LAB – Sau 10 năm” vào 18 giờ ngày 29/7 tại Long Vỹ Palace, 3A Đào Duy Anh, Hà Nội; cùng sản phẩm phòng thu phiên bản giới hạn gồm những ca khúc làm nên dấu ấn của nhóm suốt 10 năm qua.

Toàn bộ 2.000 vé đã bán hết chỉ trong vòng hai ngày, cách thời điểm diễn ra show một tháng, phần nào đủ xác tín về sức nóng mang tên “Da LAB – Sau 10 năm.”

Clip hát live của Da LAB

“Rap trà sữa” đến “Phòng thí nghiệm”

Da LAB gồm các thành viên MPaKK (Trần Minh Phương, tên thân mật là Kào), Rabbit Run (Nguyễn Trọng Đức, thường được gọi là Thỏ) và JGKid (Võ Việt Phương, được biết đến nhiều hơn với cái tên Quách Văn Thơm).

Thứ âm nhạc của Da LAB mang đến từ những ngày đầu sở dĩ bị chính những người anh em trong cộng đồng rap Việt ghẻ lạnh cũng bởi đi ngược lại bộ-nhận-diện “rap là tục tĩu, là gang, là sex, là chơi thuốc.”

Không chủ động được nhạc đệm, điểm mạnh góp phần làm nên bản sắc của Da LAB chính là phần ca từ  

Ít người biết rằng, cái tên Da LAB (Phòng thí nghiệm) với ý nghĩa “hòa trộn các thể loại âm nhạc” được các thành viên trong nhóm đặt tình cờ, lấy cảm hứng từ một bộ phim hoạt hình. Cái tên ngầu ngầu, chơi chữ vui tai nhưng về sau lại đúng với phong cách và con đường đi của nhóm.

Gặp nhau ở quan điểm “Âm nhạc phải là sự chia sẻ và kết nối lẫn nhau; âm nhạc phải hợp tạng, khiến mình thích, và được là chính mình; âm nhạc không thể vụ lợi,” Da LAB thổi làn gió mới cho rap Việt vào những năm sau thập niên đầu tiên 2000 nhờ viết về những điều bình thường trong cuộc sống, và chiều sâu của nội tâm.

Thứ âm nhạc từng bị bỡn cợt là “rap trà sữa” ấy lại mang đến cảm giác vừa lạ lẫm vừa thân thuộc, phóng khoáng nhưng không kém phần sâu sắc.

Đam mê rap và không qua đào tạo bài bản về nhạc lý, công thức hoạt động của Da LAB cũng giống như hầu hết giới underground (ngầm) là sử dụng các bản nhạc đệm (beat) trên các trang mạng quốc tế sau đó phát triển thêm về giai điệu và cùng nhau đặt lời. Khác ở chỗ, Da LAB không dùng chùa mà mua tác quyền nhạc đệm ngay từ đầu.

Không chủ động được nhạc đệm, điểm mạnh góp phần làm nên bản sắc của Da LAB chính là phần ca từ.

Kào cho biết: “Chúng tôi không chủ đích hay định hướng âm nhạc của Da LAB phải như thế nào mà sở thích của cả ba người đều muốn nói lên những vấn đề của mình, của bạn bè cùng thế hệ, của xã hội mà mình đang sống một cách khiêm tốn, chân thành và cởi mở.”

“Nhóm muốn âm nhạc của mình trở thành tiếng nói chung, đi vào nội tâm, nếu may mắn chạm tới số đông sẽ kết nối được mọi người” 

“Bài đầu tiên tôi viết là về chuyện mình thi trượt đại học, thử hỏi có biết bao bạn bè cùng trang lứa có chung trải nghiệm và tâm tư giống tôi. Trên sân khấu, chúng tôi cũng giống như tất cả các bạn ở dưới, chúng tôi chỉ may mắn là được hát lên.”

“Vì vậy, nhóm muốn âm nhạc của mình trở thành tiếng nói chung, đi vào nội tâm, nếu may mắn chạm tới số đông sẽ kết nối được mọi người. Đó cũng là lý do nhóm rất cực đoan trong phần đặt lời để hát rõ lời nhất có thể. Ca từ phải trau chuốt làm sao gần gũi và dễ hiểu nhất, dễ chia sẻ nhất. Nguyên tắc của nhóm là chú trọng sử dụng Tiếng Việt và phải đầy đủ dấu, từ nào không thể diễn đặt bằng tiếng Việt mới bắt buộc phải sử dụng tiếng Anh.”

MV “Một nhà” của Da LAB

Qua rồi cái thời nhắc đến rap “là chửi bậy, là gang, là sex, là chơi thuốc.” Da LAB đã thành công khi thay đổi định kiến trong bộ phận lớn khán giả trẻ giúp họ nhìn thấy chính mình trong âm nhạc của nhóm.

Đó là đam mê tuổi trẻ và hát lên những điều đẹp đẽ, qua giai điệu bắt tai, ca từ bình dị, hóm hỉnh mang nhiều tính tự vấn với ý nghĩa tích cực. Đó là thứ âm nhạc có khả năng khiến người nghe cảm thấy tự do, vui vẻ lại như thư thái, chậm lại. Từ đó hướng họ đến những điều giản dị, khiêm tốn và nhiệt thành với cuộc sống của người trẻ hiện đại.

Nhất là thời điểm “Hà Nội giờ tan tầm” lên sân chơi Bài hát Việt 2013 cũng là lúc Da LAB bắt đầu gây chú ý mạnh mẽ và được chuyên môn đánh giá cao khi khắc họa về Hà Nội gai góc hơn, đời thường hơn.

Đỉnh điểm, năm 2014 nhóm tung “hit khủng” – “Một nhà” – bản rap có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất trở thành “ca khúc quốc dân” với 30 triệu lượt nghe trên youtube, vô số phiên bản cover, thậm chí vang lên khắp các hang cùng ngõ hẻm, mọi đám vui, đám cưới, đã bứt Da LAB ra khỏi giới hạn underground trở thành đại điện tiêu biểu của nhạc Việt đương đại.

10 năm từ “Tử tế show” đến Rap News

Trong bối cảnh biết bao ban nhạc, nhóm nhạc lớn nhỏ hoạt động cầm chừng, hợp tan, Da LAB định hình thương hiệu rap – band và dần chuyển mình ra khỏi giới hạn underground khi mở ra hướng tươi sáng hơn cho cộng đồng rap Việt nhờ cân bằng hai giới: vừa được đại chúng biết đến vừa được trong giới yêu mến, tự hào với vô số bản “hit” và đặc biệt là dấu ấn “Tử tế show” đến Rap News.

Đi qua 6 mùa tổ chức, “Tử tế show” đang trở thành “thương hiệu,” “điểm hẹn” về một festival khẳng định sức nóng của underground, là nơi nhạc rap thực sự bùng nổ và thành tiếng nói chung của người trẻ.

Lần tổ chức gần đây nhất – mùa thứ 6 – trùng thời điểm Hà Nội diễn ra lễ hội Âm nhạc Gió mùa nhưng “Tử tế show” vẫn thu hút 2.000 khán giả và tập hợp số lượng nghệ sỹ đông đảo.

Có đến “Tử tế show” mới chứng kiến “cơn khát” của hàng nghìn cánh tay đu đưa, cổ gào thét theo tiếng nhạc rap, cổ vũ cuồng nhiệt

Một số gương mặt khá quen thuộc với truyền thông đại chúng như Kimese, Link Lee, Da LAB hay Đen… Có đến “Tử tế show” mới chứng kiến “cơn khát” của hàng nghìn cánh tay đu đưa, cổ gào thét theo tiếng nhạc rap, cổ vũ cuồng nhiệt.

Thành công của “Tử tế show,” theo Da LAB, ngoài uy tín và thương hiệu cá nhân của một số thành viên, ban nhạc thì đó là một hành trình bền bỉ “mỗi năm lại liều một tí.”

Trở về năm 2011, thời điểm rap Việt đi xuống. Âm nhạc cũng đi xuống bởi những đề tài về yêu đương, tục tĩu, ủy mị. Thậm chí, cộng đồng rap Việt hai miền “cơm không lành, canh chẳng ngọt.” “Tử tế show” chính là sáng kiến của Da LAB và anh em trong nhóm rap ở Hà Nội, với ý nghĩ “phải làm cái gì đó sốc tinh thần chính mình lên.”

Cái tên “Tử tế show” ra đời đơn giản là đề cao anh em sống tử tế với nhau, sâu xa là hướng đến làm âm nhạc tử tế, nâng cao chất lượng âm nhạc lên và hướng đến sự tích cực.

“Tử tế show” thường được tổ chức ở những địa điểm “không tử tế theo định nghĩa của các vị phụ huynh.” Ban đầu cũng hứng chịu không ít sự miệt thị của chính cộng đồng rap.

Lúc đó, kinh phí tổ chức không có, chuyện xin nhà tài trợ thực sự là hão huyền, Da LAB và anh em cứ mày mò, tự huy động.

Quan trọng nhất, theo Kào, “là tập hợp được những người cùng chí hướng để mỗi năm lại hoành tráng hơn , nhạc hay hơn, chất hơn, đông hơn, khán giả mua vé xứng đáng hơn.”

“Tử tế show” năm đầu tiên được làm ở một quán karaoke trên đường Đê La Thành mà bây giờ trở thành hầm gửi xe. Mặc dù “vào của tự do và đồ uống tự lo” nhưng năm đó gộp cả người đến và người hát lại chỉ lèo tèo vài chục.

Năm thứ hai, bán vé vào cửa 30.000 đồng là quyết định vật vã vì sợ không ai đến xem. Cuối cùng cũng kín chỗ nhưng mới khoảng 300-400 người.

Từ năm thứ 5 “Tử tế show” huy động được một đơn vị tổ chức đồng hành sản xuất và bắt đầu được đón hơn 1.000 khán giả.

Tử tế ngày càng chuyên nghiệp, giá vé cũng nhích dần lên. Mùa thứ tư giá vé 80.000 đồng, mùa thứ năm là 120.000 đồng và mùa thứ sáu là 160.000 đồng với cơn sốt vé bán hết 2.000 trong vỏn vẹn 3 ngày.

Con đường dẫn đến những cơ duyên. Nếu “Tử tế show” sốc tinh thần cộng đồng rap, thay đổi định kiến và nâng nhấc underground lên vị thế mới trong một thập kỷ qua, thì RapNewsPlus lại có ý nghĩa “liều thuốc chữa lành vết thương” giúp ba thành viên Da LAB xích lại với nhau, có cảm hứng trở lại với âm nhạc và gặt hái nhiều bước ngoặt có tính quyết định hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp.

Kào nhớ lại mối duyên với RapNewsPlus, “Sau khi anh Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo VietnamPlus chia sẻ ý tưởng muốn bắt tay với Da LAB để sản xuất một bản tin bằng nhạc rap mục đích đưa tin tức chính thống đến với nhiều người hơn nhất giới trẻ, ngay lập tức tôi thấy hào hứng. Tôi đã thuyết phục hai thành viên còn lại của nhóm để tham gia dự án này. Giữa thời điểm nhiễu loạn thông tin, đó là ý tưởng vừa sáng tạo vừa táo bạo, rất ý nghĩa và tử tế.”

Ở thời điểm hiện tại, cả ba thành viên đều “đúc kết” thời điểm thực hiện RapNewsPlus có ý nghĩa mang tầm “tái hợp-tái sinh” Da LAB vì lúc đó nhóm gần như không hoạt động.

Nhờ thực hiện series RapNewsPlus, các thành viên trong nhóm gặp nhau nhiều hơn, chia sẻ với nhau nhiều hơn, những ý tưởng âm nhạc dần nảy nở, cảm hứng phòng thu và giai điệu cũng trở lại.

Một loạt các “hit khủng” của nhóm ra đời trong thời gian này như “Một nhà,” “Sáng hôm qua”…

Không chỉ “tái hợp” và nhập cuộc trở lại với âm nhạc, RapNewsPlus trở thành cầu nối chính thống giúp thứ âm nhạc mang tên Da LAB đến gần với công chúng.

Những khán giả theo dõi bản tin hấp dẫn và sống động RapNewsPlus được biết thêm giai điệu trẻ trung, cá tính của những “Một nhà,” “Hà Nội giờ tan tầm” và ngược lại.

Hiện tại RapNewsPlus đã xuất bản hơn 50 số. Năm 2014, bản tin RapNewsPlus với sự tham gia của Da LAB đã giành được giải thưởng quốc tế về báo chí sáng tạo do Hiệp hội Các nhật báo và nhà xuất bản tin tức thế giới trao tặng.

Thông qua nhạc rap, RapNewsPlus thu hút khán giả với cách truyền tải thông tin thời sự mới mẻ, lôi cuốn, hài hước như chính “cơn gió lạ” tiên phong mà Da LAB mang đến bằng âm nhạc suốt thập kỷ qua.

Rap News về Biển Đông

Và… Da LAB sau 10 năm?

Ba thành viên của Da LAB cho biết lộ trình sau 10 năm của nhóm là muốn làm âm nhạc một cách nghiêm túc. Tình cảm của nhóm cũng đến lúc chín muồi. Cátsê của Da LAB hiện nay rơi vào quãng 40 triệu đồng, con số đáng mơ ước với giới underground.

Bên cạnh đó, một nguồn thu không nhỏ hiện nay của Da LAB chính là phí tác quyền, quảng cáo từ vô số bản hit đình đám như “Một nhà”…

“Doanh thu từ âm nhạc đã tương đối và tầm ảnh hưởng của nhóm với khán giả khá ổn định. Nhóm muốn thử tập trung cho âm nhạc một lần nghiêm túc. Hiện tại cả ba thành viên đều tạm nghỉ việc để tập trung làm âm nhạc.”

Nhóm chẳng ngần ngại thẳng toẹt, “không chấp nhận được cách làm việc thiếu minh bạch và thiếu chuyên nghiệp của Trung tâm Thu tác quyền của nhạc sỹ Phó Đức Phương.”

“Đầu tư về nhạc lý để tự làm ra beat luôn là trăn trở lớn nhất của nhóm. Các thành viên sẽ tìm tòi và học hỏi để nâng cao chất lượng âm nhạc,” Da LAB bộc bạch.

Chuyên nghiệp đầu tiên phải làm hết sức nghiêm túc, tôn trọng đầy đủ về tác quyền. Da LAB cho biết sau 10 năm sẽ bắt đầu lộ trình hoạt động độc lập thông qua công ty sản xuất nhỏ trực tiếp vận hành các khâu từ quản lý biểu diễn, phát hành kiêm luôn tự thu… tác quyền. Nhóm chẳng ngần ngại thẳng toẹt, “không chấp nhận được cách làm việc thiếu minh bạch và thiếu chuyên nghiệp của Trung tâm Thu tác quyền của nhạc sỹ Phó Đức Phương.”

“Nhóm không dám nhận là từ đây Da LAB sẽ hoạt động chuyên nghiệp mà vẫn chân trong chân ngoài để đảm bảo nguồn thu song song với âm nhạc, để nuôi vợ con, mua nhà cửa, đi du lịch. Nếu quá đặt mục đích kiếm tiền từ âm nhạc thì ảnh hưởng tới cảm xúc sáng tạo.”

Không nhận là chuyên nghiệp, nhưng vẻ như sự bài bản và cực đoan nghệ sỹ sẵn có khiến ba thành viên của Da LAB đã xác định trước lộ trình “tiết kiệm vốn sẵn có” bằng cách hạn chế chạy show vì tiền, để nuôi cảm xúc và đam mê âm nhạc được bền lâu.

Trải qua 10 năm ‘thí nghiệm,’chấp nhận sự ghẻ lạnh ban đầu của thứ âm nhạc ‘mất chất’ để tìm ra ‘chất riêng’ của nhóm, âm nhạc Da Lab mới đến gần được với khán giả

Hai sản phẩm âm nhạc mới nhất nhóm vừa tung ra trước sự kiện “Da LAB – Sau 10 năm” là hai MV mang hơi hướng nhạc trẻ thay vì phong cách rap quen thuộc.

Với fan của Da LAB, âm nhạc của hai sản phẩm này không còn vui tai, cá tính, nội tâm như trước mà nghiêng sang chiều lớp công chúng mới, để mở rộng thị trường.

Nhóm thừa nhận “có cả hứng thú và có cả thất vọng. Sau 10 năm, nhóm muốn thử để đưa đến những màu sắc khác nhau. Thị trường không phải xấu.”

Thực tế, trải qua 10 năm “thí nghiệm,” chấp nhận sự ghẻ lạnh ban đầu về thứ âm nhạc mất-chất để tìm ra chất-riêng của nhóm, đến nay âm nhạc Da LAB mới đến gần được với khán giả.

Và, nếu không có gì thay đổi theo như lời mời, tới đây, Da LAB sẽ có cơ hội “gần thêm khán giả chút nữa” khi trở thành một trong những khách mời đại diện cho nghệ sỹ Việt Nam biểu diễn trên sân khấu Monsoon 2017.

Đó là sự thừa nhận, dù ở góc độ nào, vì “Da LAB – Sau 10 năm” hoàn toàn xứng đáng./.

Da LAB chia sẻ về sự kiện sau 10 năm hoạt động.

Ngọn lửa tri ân

Vào năm 1947, ngay những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và chọn ngày 27/7 hằng năm là ngày Thương binh toàn quốc, dịp để người dân tri ân với những con người đã anh dũng ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Trong suốt những năm tháng của cuộc đời, với tinh thần trân trọng, biết ơn những người con hy sinh vì Tổ quốc, Bác luôn dành cho thương binh những tình cảm như trong gia đình, Người đã nhận con của thương binh, liệt sỹ là con nuôi. Chính tấm lòng chân thành của Bác đã khiến bao gia đình cảm động. Trong thư gửi bác sỹ Phạm Đình Tụng khi được tin con trai ông hy sinh, Bác viết:

“Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước,” Bác Hồ viết.

“Tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.”

Chính tinh thần ấy đã động viên bao lớp người xung phong ra chiến trường chiến đấu vì Tổ quốc. Cứ lớp lớp người ngã xuống thì lại có hàng lớp lớp người đứng lên. Biết bao chiến sỹ đã cống hiến tuổi thanh xuân, máu xương của mình cho độc lập tự do, để Tổ quốc trường tồn. Trong số họ, nhiều người, sau chiến tranh, vẫn còn nằm lại nơi rừng sâu; nhiều người “trở về” nhưng trắng xóa những hàng bia, không tên, không tuổi, tên các anh đã hóa thành tên đất nước; nhiều người khác, may mắn hơn, được về với mẹ, nhưng đã để lại đâu đó trên mảnh đất quê hương một phần thân thể của mình.

Mỗi năm, cứ vào ngày 27/7, Bác lại viết thư, gửi quà, khi là chiếc áo, khi là những đồng lương bác dành dụm cho thương binh. Bác phát động phong trào “đón thương binh về làng,” “thương binh tàn nhưng không phế”…, và đã trở thành những điểm tựa cho thương binh vươn lên dù thân thể họ không còn nguyên vẹn.

Cho đến những ngày cuối đời, Bác Hồ vẫn nặng lòng với thương binh, liệt sỹ và những người người có công với Tổ quốc. Trước lúc ra đi, trong di chúc, Bác căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong …), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần ‘tự lực cánh sinh.’

Đối với các liệt sỹ thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng sự nghiệp tri ân các anh hùng, thương binh, liệt sỹ mà người khởi đầu vẫn được toàn dân thực hiện với lòng biết ơn và thành kính sâu sắc trong 70 năm qua.

Nghĩa trang Đường 9. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
Nghĩa trang Đường 9. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

Bạt ngàn nỗi đau: Mộ “chưa có tên”

Cứ tháng Bảy hằng năm, hàng vạn người thân, du khách và những đồng đội đến thăm viếng các anh chị đã anh dũng ngã xuống vì Tổ quốc tại các nghĩa trang, địa điểm lịch sử ở tỉnh Quảng Trị.

Nơi đây, năm xưa được coi là chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Nắng và cát khắc nghiệt của Quảng Trị cũng không làm khô đi được nước mắt của những người thân cứ tháng đến Bảy lại tìm về nghĩa trang liệt sỹ trên mảnh đất này.

Trong chiến tranh, 60.000 liệt sỹ đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ đến từ rất nhiều vùng miền của đất nước và giờ đây cùng nằm lại trong 72 nghĩa trang lớn nhỏ trên mảnh đất Quảng Trị thiêng liêng, trong đó có 2 nghĩa trang quốc gia là Nghĩa trang Trường Sơn và Nghĩa trang Đường 9.

Trong số những liệt sỹ đã nằm lại trên mảnh đến Quảng Trị có 105 liệt sỹ của tiểu đoàn 1, trung đoàn 48, sư đoàn 320 (hy sinh ngày 2/2/1968 trong trận đánh chiếm chi khu Cam Lộ, Quảng Trị).

Các anh hy sinh cùng một ngày nhưng mãi đến 37 năm sau ngày các anh mất, di hài các anh mới được tìm thấy và đưa về quy tập, an táng trong ngôi mộ tập thể tại nghĩa trang đường 9 của tỉnh Quảng Trị.

Trên tấm bia đá trước mộ các anh khắc nhiều cái tên, mỗi một cái tên được viết lên là một người đã nằm xuống. Mỗi cái tên nối dài thêm vinh quang cho đất nước, cũng nối dài thêm nỗi đau mất người thân của hàng vạn gia đình.

Cựu chiến binh bộ đội Trường Sơn viếng Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn.  (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)
Cựu chiến binh bộ đội Trường Sơn viếng Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Tháng Bảy năm nay cũng là tròn 45 năm kỷ niệm trận đánh bảo vệ thành cổ Quảng Trị, trận đánh 81 ngày đêm anh dũng đã đi vào lịch sử. Hàng vạn anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống ở lứa tuổi 20 để giữ từng tấc đất thiêng của thành cổ Quảng Trị. Đau đớn hơn cả, trong Nghĩa trang Trường Sơn và Nghĩa trang Đường 9 ở Quảng Trị có hàng nghìn ngôi mộ liệt sỹ “chưa biết tên.”

Không chỉ ở Quảng Trị mà trên khắp mảnh đất Việt Nam, trong hơn 3.000 nghĩa trang liệt sỹ vẫn còn hơn 300.000 người khi sinh ra có tên, có họ nhưng khi nằm xuống trên bia mộ chỉ khắc ba chữ “chưa biết tên.”

Những tấm bia không thể nói cho những thân nhân đang mòn mỏi tìm kiếm hài cốt liệt sỹ biết người nằm dưới mộ là ai, chỉ biết, máu của họ đã thấm đỏ mảnh đất này và nỗi đau của họ, của gia đình họ cũng là nỗi đau chung của mọi người dân Việt Nam.

Cứ đúng ngày 27/7, hơn 3.000 nghĩa trang liệt sỹ trên khắp cả nước đều được thắp sáng để tưởng nhớ vong hồn của các liệt sỹ đã được quy tụ tại đây cũng như tưởng niệm hàng trăm nghìn liệt sỹ vẫn còn nằm đâu đó trong lòng Đất Mẹ Việt Nam

Và cứ đúng ngày 27/7, hơn 3.000 nghĩa trang liệt sỹ trên khắp cả nước đều được thắp sáng để tưởng nhớ đến vong hồn của các liệt sỹ đã được quy tụ trong các nghĩa trang và cũng là để tưởng niệm hàng trăm nghìn liệt sỹ vẫn còn nằm đâu đó trong lòng Đất Mẹ Việt Nam.

Nghĩa trang liệt sỹ trong những ngày tháng Bảy luôn tấp nập những người đến viếng, thắp hương tưởng nhớ những liệt sỹ đã hy sinh.

Cả nước quy tập được gần 900.000 hài cốt liệt sỹ, an táng trong hơn 3.000 nghĩa trang liệt sỹ. Các nghĩa trang liệt sỹ đều được đầu tư quy hoạch, tôn tạo, trở thành những công trình văn hóa tâm linh thu hút sự quan tâm của toàn xã hội và vừa để tưởng nhớ đến các liệt sỹ, vừa giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Thắp hương tưởng nhớ các liệt sỹ. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Thắp hương tưởng nhớ các liệt sỹ. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Hơn 3.000 nghĩa trang liệt sỹ và các hàng nghìn đài tưởng niệm được xây dựng tại các mặt trận năm xưa đều được tu bổ thường xuyên và đã trở thành điểm đến quen thuộc của hàng triệu người dân Việt Nam trong tháng Bảy.

Nguồn hỗ trợ xây dựng nghĩa trang, tôn tạo nghĩa trang được rất nhiều cá nhân, doanh nghiệp ủng hộ. Nghĩa trang ngày càng được tôn tạo khang trang hơn và việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ chưa bao giờ ngừng nghỉ.

Mỗi năm, các nghĩa trang liệt sỹ vẫn đón các hài cốt liệt sỹ được tìm thấy từ những chiến trường cũ, từ Lào, Campuchia trở về.

Song song với việc quy tập hài cốt liệt sỹ, việc “trả lại tên” cho các anh cũng được thực hiện. Đến nay, qua phương pháp thực chứng và phương pháp giám định ADN, các đơn vị chức năng đã xác định được danh tính gần 1.300 hài cốt liệt sỹ, đã lấy mẫu, phân tích và lưu trữ được gần 11.000 mẫu hài cốt liệt sỹ và gần 4.000 mẫu sinh phẩm của thân nhân liệt sỹ.

Mục tiêu được đặt ra đến năm 2020 là xác định được danh tính 7.000 hài cốt liệt sỹ, giám định ADN 70.000 hài cốt liệt sỹ.

Chỉ riêng trong giai đoạn, từ năm 2011-2016, trên cả nước đã xác nhận và cấp mới Bằng “Tổ quốc ghi công” cho 2.730 liệt sỹ, cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công” cho 112.000 liệt sỹ.

Đó là những hành động thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn,” “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc ta, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn của những người đang sống đối với các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc.

Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Đường 9 tại Quảng Trị. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)
Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Đường 9 tại Quảng Trị. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Mẹ của tất cả

Sự hy sinh của những người đã ngã xuống vì đất nước vừa là niềm tự hào nhưng cũng là nỗi đau của những người còn sống. Lửa chiến tranh đã tắt hàng chục năm, đã chôn vùi rất nhiều thứ, nhưng trong mỗi gia đình liệt sỹ, mỗi thương binh đã để lại một phần thân thể nơi chiến trường thì vẫn còn nguyên đó những ngọn lửa lòng, người còn sống khóc thương người đã khuất. Dường như có những nỗi đau không bao giờ nguôi.

Có lẽ, không có nơi nào mà nỗi đau của chiến tranh để lại hiện hữu rõ ràng như trên mảnh Quảng Nam, nơi có tới 7.000 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Trên mảnh đất ấy, có một người mẹ mà cả nước đều gọi là mẹ: Mẹ Thứ.

Chiến tranh qua đi, trong ngày đoàn viên của dân tộc, những người con của mẹ Thứ không trở về. Ngôi nhà nhỏ bé của mẹ Thứ (thôn Thanh Quýt 2, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) có tới 12 liệt sỹ, trong đó 9 con trai, 2 cháu ngoại và một người con rể, tất cả mãi mãi không về với mẹ.

Mẹ là người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong cả hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc kéo dài gần 30 năm.

Đất nước ta có hơn 127.000 bà mẹ Việt Nam anh hùng và con số ấy vẫn chưa dừng lại. Có thêm những liệt sỹ được xác định danh tính là lại có thêm các Mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Ngôi nhà của mẹ Thứ dường như đã trở thành một đền thiêng tưởng niệm những người lính đã ngã xuống vì độc lập, tự do và sự hy sinh cao cả của các bà mẹ Việt Nam.

Đất nước ta có hơn 127.000 bà mẹ Việt Nam anh hùng và con số ấy vẫn chưa dừng lại. Có thêm những liệt sỹ được xác định danh tính là lại có thêm các Mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Con của các mẹ đã hy sinh vì Tổ quốc và để trả “món nợ” với các anh, ngày hôm nay ở bên Mẹ đã có thêm nhiều những “đứa con.”

Ở bất cứ địa phương nào, phong trào nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cũng được đông đảo người dân hưởng ứng. Tất cả các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trong cả nước đều đã được các cá nhân, đơn vị nhận phụng dưỡng thăm nuôi, chăm sóc khi các mẹ ốm đau.

Cứ mỗi dịp lễ, Tết, kỷ niệm ngày 27/7… ngoài quà của Chủ tịch nước, tất cả các địa phương đều tổ chức thăm hỏi, tặng quà để phần nào bù đắp sự mất mát của các Mẹ.

Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng được tạc bằng đá với hơn 3.000m3 đá sa thạch.  (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng được tạc bằng đá với hơn 3.000m3 đá sa thạch. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)

Tri ân nhiều hơn nữa

Hiện nay, có 4 Pháp lệnh (Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,” Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng…) và 4 Nghị định, 22 Thông tư và Thông tư liên tịch, 13 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đang còn hiệu lực thi hành nhằm giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công.

Hằng năm, ngân sách Nhà nước đã dành gần 30.000 tỷ đồng để thực hiện chế độ ưu đãi nhằm không ngừng chăm lo đến đời sống của người có công với cách mạng ngày càng tốt hơn. 97% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; 96,5% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công.

Đó là thành quả của việc thực hiện hệ thống văn bản pháp luật về ưu đãi người có công hiện hành. Các quy định của pháp luật không chỉ trợ giúp người có công, tạo điều kiện để người có công tiếp tục vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống mà còn tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia tích cực vào việc “đền ơn đáp nghĩa”…

Các chính sách ưu đãi dành cho người có công ngày càng đầy đủ và bao phủ hầu hết các mặt đời sống, hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng… để cuộc sống của những người có công được đảm bảo. Cùng với sự phát triển của đất nước, các chính sách ưu đãi người có công ngày càng được hoàn thiện và mức hỗ trợ ngày càng tăng lên.

Các thương binh nặng, người có công với cách mạng tập phục hồi chức năng. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Các thương binh nặng, người có công với cách mạng tập phục hồi chức năng. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)

Chiến tranh đã lùi xa hàng chục năm nhưng hậu quả nó để lại vẫn còn đó, không ít những người có công đã mất giấy tờ nên không thể hoàn thiện hồ sơ xác nhận người có công. Trong hàng triệu những người đã hy sinh, để lại một phần thân thể nơi chiến trường, có những người chưa được biết tên, chưa được công nhận là thương binh, liệt sỹ.

Cả nước có hơn 300.000 hài cốt liệt sỹ đang yên nghỉ tại các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính. Đặc biệt, vẫn còn gần 200.000 hài cốt liệt sỹ chưa tìm thấy.

Trong hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ tại Quảng Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vẫn đau đáu: “Chúng ta chưa thể yên lòng khi cuộc sống của một số gia đình người có công còn khó khăn, khi vẫn còn những người, những gia đình chưa được hưởng đầy đủ chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước, vẫn còn nhiều liệt sỹ chưa tìm được hài cốt, chưa xác định được danh tính. Những điều này để lại nỗi đau khắc khoải trong lòng những người thân và trong mỗi cán bộ chúng ta.”

“Chúng ta chưa thể yên lòng khi cuộc sống của một số gia đình người có công còn khó khăn, khi vẫn còn những người, những gia đình chưa được hưởng đầy đủ chính sách ưu đãi, vẫn còn nhiều liệt sỹ chưa tìm được hài cốt,” Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Đã 70 năm kể từ Ngày Thương binh-Liệt sỹ 27/7 lần đầu tiên được phát động, cả nước vẫn một lòng hướng về thương binh, liệt sỹ với lòng biết ơn sâu sắc. Sự đóng góp của cộng đồng đã trở thành nguồn lực không thể thiếu trong thực hiện các chính sách hỗ trợ, ưu đãi người có công.

Khắp mọi nơi, tri ân thương binh, liệt sỹ đã trở thành thành hoạt động và Nhà nước và người dân cùng chung tay thực hiện để có thể chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn cho đời sống người có công.

Vẫn còn những ngôi mộ “chưa biết tên,” vẫn còn những hồ sơ người có công chưa được giải quyết, vẫn còn những chiến sỹ trở về mang trong mình vết thương chiến tranh mưu sinh khó khăn… thì vẫn còn đó những “món nợ” với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Tri ân các liệt sỹ Thông tấn xã Việt Nam

Trong suốt những năm kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, không có một chiến trường nào, không một mũi tiến quân vào vắng mặt phóng viên, nhân viên, kỹ thuật của Thông tấn xã Việt Nam. Nhiều người mãi mãi không bao giờ trở lại, một số phóng viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Việt Nam đã để lại một phần cơ thể mình nơi chiến trường.

Thông tấn xã Việt Nam là cơ quan báo chí có nhiều liệt sỹ nhất. Hơn 260 liệt sỹ, nhà báo của Thông tấn xã Việt Nam hy sinh trong chiến tranh cứu nước và giữ nước, gần 30 cán bộ Thông tấn xã Việt Nam bị thương từ loại 1 đến loại 4, chưa kể nhiều người bị thương tật suốt đời, bị chất độc da cam.

Đó là tổn thất lớn lao nhưng cũng là niềm tự hào, truyền thống tươi thắm về lòng yêu nước, chí khí kiên cường, anh dũng của đội quân xung kích trên mặt trận báo chí và tư tưởng.

Các cán bộ, phóng viên, nhân viên kỹ thuật của Thông tấn xã Việt Nam đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chiếm hơn 25% tổng số cán bộ nhân viên Thông tấn xã Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh và chiếm tới 4/5 số nhà báo cả nước hy sinh.

Thắp hương tại nhà tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ tại trụ sở số 5 Lý Thường  Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)  
Thắp hương tại nhà tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ tại trụ sở số 5 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)  

Từ ngôi nhà số 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội, từng đoàn các bộ Thông tấn xã Việt Nam đi đến khắp nẻo đường chiến trường. Có những đồng chí mãi mãi không bao giờ trở về, một số đồng chí cũng để lại một phần cơ thể mình nơi chiến trường để hoàn thành nhiệm vụ thông tin.

Nhớ về những cán bộ Thông tấn xã Việt Nam đã hy sinh trong chiến tranh, ông Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam nhấn mạnh: “Mỗi nhà báo, liệt sỹ, thương binh của Thông tấn xã Việt Nam lại là một câu chuyện đẹp, cảm động về những năm tháng dũng cảm đối mặt với khó khăn, hiểm nguy nơi chiến trường.

Hơn 260 liệt sỹ, nhà báo của Thông tấn xã Việt Nam hy sinh trong chiến tranh cứu nước và giữ nước, gần 30 cán bộ Thông tấn xã Việt Nam bị thương từ loại 1 đến loại 4, chưa kể nhiều người bị thương tật suốt đời.

Những cán bộ Thông tấn xã Việt Nam ngã xuống ở tuổi đôi mươi, có người quên mình khi đang tác nghiệp, có người trúng bom ngay trên đường Trường Sơn, có cả người hy sinh, bị thương vì sốt rét ác tính hay khi đang vận chuyển máy móc, điện đài…”

Với cây bút, trang giấy, chiếc máy ảnh, máy kỹ thuật, các anh, các chị đã có mặt ở những nơi nóng bỏng nhất, ác liệt nhất của cuộc chiến để ghi lại những chiến thắng anh hùng của quân và dân ta khắp mọi miền đất nước, vạch trần tội ác và âm mưu của kẻ thù.

Các anh chị ngã xuống nhưng những dòng tin, hình ảnh của các anh chị vẫn “sống mãi.” Đó là những bằng chứng xác thực của lịch sử, là nguồn động viên lớn lao cho toàn quân, toàn dân ta tiến lên giành thắng lợi.

Đồng chí Trần Kim Xuyến,  Phó Giám đốc Nha Thông tin, phụ trách Việt Nam Thông tấn xã (thứ nhất  bên phải), xuống tàu Dumont d’Urville dự lễ đón, đưa tin và phỏng vấn  Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người vừa kết thúc chuyến thăm Pháp và ký Tạm  ước Việt-Pháp (14/9/1946) trở về. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đồng chí Trần Kim Xuyến, Phó Giám đốc Nha Thông tin, phụ trách Việt Nam Thông tấn xã (thứ nhất bên phải), xuống tàu Dumont d’Urville dự lễ đón, đưa tin và phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người vừa kết thúc chuyến thăm Pháp và ký Tạm ước Việt-Pháp (14/9/1946) trở về. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Người liệt sỹ đầu tiên được Tổ quốc ghi công của Thông tấn xã Việt Nam và cũng là nhà báo đầu tiên hy sinh là đồng chí Trần Kim Xuyến, nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ kiêm Phó Giám đốc Nha thông tin Việt Nam, tiền thân của VNTTX (Thông tấn xã Việt Nam ngày nay). Ông là một trong ba người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao tham gia thành lập Đài Phát thanh quốc gia.

Người lãnh đạo trẻ tuổi đã hy sinh ở tuổi 26 vào sáng 3/3/1947 vì trúng đạn liên thanh của địch, khi đang chỉ huy việc chuyên chở, cất giấu tài liệu, phá vòng vây địch, cùng cơ quan rút lên khu căn cứ, giữa lúc máy bay và xe tăng địch ào ạt tấn công. Để khắc ghi lại sự hy sinh anh dũng của ông, tên ông đã được đặt cho hai con đường tại phường Yên Hòa, Cầu Giấy, thủ đô Hà Nội và thị trấn Phố Châu, Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Ngoài liệt sỹ Trần Kim Xuyến, còn có hai con đường mang tên các nhà báo của Thông tấn xã Việt Nam là đường Bùi Đình Túy ở phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và đường Lâm Hồng Long tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 5/3/2014, Thông tấn xã Việt Nam tổ chức Lễ gắn biển tên phố Trần Kim Xuyến tại phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Ngày 5/3/2014, Thông tấn xã Việt Nam tổ chức Lễ gắn biển tên phố Trần Kim Xuyến tại phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Hơn 260 cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Việt Nam đã anh dũng ngã xuống trong chiến tranh. Trong số đó, có gia đình cả hai cha con hy sinh cho sự nghiệp Thông tấn như lão đồng chí Trần Bỉnh Khuôl (tức Hai Nhiếp) và người con là Trần Văn Dũng. Cả hai đều là phóng viên nhiếp ảnh Thông tấn và cùng ngã xuống trên chiến trường miền Tây Nam Bộ.

Có gia đình, hai anh em cùng hy sinh cho sự nghiệp Thông tấn như Bùi Văn Thưởng và em là Bùi Văn Tấn – phóng viên duy nhất có mặt trong trận Ấp Bắc. Mẹ của các anh, bà Tám Nghiệp (tức Đoàn Thị Nghiệp) cũng là liệt sỹ, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Mẹ Việt Nam Anh hùng.

Đằng sau mỗi tên tuổi liệt sỹ được lưu danh tại phòng truyền thống Thông tấn xã Việt Nam chính là những câu chuyện cảm động về sự dũng cảm chiến đấu không ngại hiểm nguy của những con người tài năng, đã hy sinh thân mình cho những dòng tin “chảy mãi.”

Các liệt sỹ của  Thông tấn xã Việt Nam đã hy sinh thân mình cho những dòng tin “chảy mãi”

Trong tháng Bảy, các cán bộ lãnh đạo Thông tấn xã Việt Nam cùng các đoàn thể đã tổ chức dâng hoa, thắp nhang tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang), trao 60 sổ tiết kiệm, tổng trị giá 180 triệu đồng tặng các gia đình liệt sỹ, thương binh của cơ quan có hoàn cảnh khó khăn nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ.

Đảng viên trong toàn Đảng bộ Thông tấn xã Việt Nam đã góp tặng hai căn nhà, hưởng ứng chủ trương của Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tặng 100 nhà tình nghĩa cho các gia đình người có công tại tỉnh Quảng Trị.

Tính từ năm 1995 đến nay, Thông tấn xã Việt Nam đã xây dựng được 10 nhà tình nghĩa, tặng gần 600 sổ tiết kiệm với tổng số tiền gần 1,5 tỷ đồng cho các gia đình thương binh, liệt sỹ của ngành.

Thông tấn xã Việt Nam đã góp hơn 1,8 tỷ đồng vào Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Trung ương. Riêng Quỹ “Vì nỗi đau da cam” của Thông tấn xã Việt Nam đã xây dựng hơn 50 nhà tình nghĩa, trao 110 xe lăn, hàng nghìn phần quà tặng các gia đình thương binh, liệt sỹ, nạn nhân chất độc da cam trong cả nước, với tổng số tiền hơn 5 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã  Việt Nam tặng sổ tiết kiệm cho gia đình Liệt sỹ Phạm Thị Đệ. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Ông Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam tặng sổ tiết kiệm cho gia đình Liệt sỹ Phạm Thị Đệ. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Thông tấn xã Việt Nam cũng thường xuyên cử các đoàn đến thăm hỏi, động viên, tặng quà cho các gia đình thương binh, liệt sỹ. Các đoàn thể cũng tổ chức hành hương về nguồn, thăm các khu di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng, các hoạt động nghĩa tình biên giới, hải đảo; chăm sóc gia đình người có công; dâng hoa tưởng niệm hương hồn các anh hùng liệt sỹ tại các nghĩa trang ba miền…

Không chỉ tổ chức các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa,” trong nhiều năm qua, Thông tấn xã Việt Nam thường xuyên tổ chức tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ. Nhiều đoàn cán bộ được cử đi tìm kiếm hài cốt liệt sỹ trên các địa bàn từ Bắc chí Nam.

Từ thập niên 1990 đến nay, Thông tấn xã Việt Nam đã quy tập được 39 hài cốt liệt sỹ và đưa về an táng tại các nghĩa trang.

Từ thập niên 1990 đến nay, Thông tấn xã Việt Nam đã quy tập được 39 hài cốt liệt sỹ và đưa về an táng tại các nghĩa trang.

Thông tấn xã Việt Nam đã ba lần cử cán bộ sang Campuchia, tìm kiếm hài cốt các nhà báo-liệt sỹ đã có mặt tác nghiệp thông tin bên cạnh các chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế, góp tính mệnh cho công cuộc giải phóng đất nước bạn.

Năm 2002, bốn hài cốt liệt sỹ của Thông tấn xã Việt Nam đã đưa được về các Nghĩa trang liệt sỹ Thành phố Hồ Chí Minh và Long An.

Gần đây nhất vào năm 2011, Cơ quan đại diện Thông tấn xã Việt Nam tại Đà Nẵng đã cùng gia đình tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ Hoàng Văn Đáo (quê Hải Dương, hy sinh tại Quảng Nam). Danh sách liệt sỹ của Thông tấn xã Việt Nam đến nay vẫn tiếp tục được bổ sung, cập nhật.

Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam Nguyễn Đức Lợi khẳng định: “Cơ quan sẽ tiếp tục tổ chức đi tìm hài cốt liêt sỹ. Hiện nay, cơ quan mở rộng hướng tìm kiếm bằng việc phối hợp với các đội quy tập mộ liệt sỹ của các tỉnh, cung cấp thông tin, sơ đồ về các phần mộ liệt sỹ và tham gia cùng đội quy tập đi tìm.”

Những tấm gương hy sinh anh dũng của các thương binh, liệt sỹ mãi mãi là niềm tự hào của Thông tấn xã Việt Nam. Vì vậy, lãnh đạo, các cán bộ Thông tấn xã Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa,” coi đó là trách nhiệm và tình cảm sâu nặng với các gia đình liệt sỹ, các đồng chí thương binh./.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Cuộc chiến kỳ lạ 

Cạnh tranh truyền thống về địa chính trị giữa Saudi Arabia và Iran tạo ra một vòng quay hiếu chiến dựa trên xung đột gián tiếp tại Syria và Yemen.

Được Mỹ chống lưng, vì họ có một nhóm gây ảnh hưởng tại nước này, nên Saudi Arabia muốn áp đặt đường lối của họ đối với các nước Arab láng giềng. Và hãy coi chừng họ, như Qatar, đang không trở lại đúng hàng ngũ vốn có.

Để nhắc lại ai là ông chủ trong khu vực và khẳng định ảnh hưởng bá chủ của mình đối với những nước quân chủ láng giềng là ý nghĩa của cuộc tấn công ngoại giao mang tính hiếu chiến của Saudi Arabia đối với Qatar.

Vào ngày 5/6, Liên minh tình huống với các nước Bahrain và Ai Cập, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, đã thông báo cắt đứt quan hệ ngoại giao của họ với Doha, chính thức cáo buộc nước này “ủng hộ chủ nghĩa khủng bố” và tham gia nhiều vào hoạt động kinh doanh gây bất ổn với phía Iran.

Nhắc lại ai là ông chủ trong khu vực và khẳng định ảnh hưởng bá chủ của mình đối với những nước quân chủ láng giềng là ý nghĩa của cuộc tấn công ngoại giao mang tính hiếu chiến của Saudi Arabia đối với Qatar

Hậu quả là Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất đã đóng cửa đường hàng không, đường biển của mình cũng như đường biên giới trên bộ duy nhất của bán đảo nhỏ bé Qatar, nơi mà vận chuyển 90% các sản phẩm thiết yếu của nước này, đặc biệt là thực phẩm.

Danh sách những đòi hỏi được gửi tới Doha không ngừng dài ra theo những tối hậu thư và coi thường chủ quyền của tiểu vương quốc này: Đóng cửa kênh truyền hình al-Jazeera, căn cứ quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ, cắt đứt mọi liên hệ với lực lượng Anh em hồi giáo, Hezbollah và các tổ chức thánh chiến…

Khủng hoảng bao trùm từ ngày 23/5. Ngày hôm đó, Hãng thông tấn Qatar phát một thông cáo liên quan đến thủ lĩnh Hồi giáo Tamim vì đã lên án hành động độc ác của Iran, Hamas, Hezbollah, ngay sau chuyến thăm chính thức của Donald Trump tại Riyad (20 và 21/5).

Ngay ngày 24/5, Doha cải chính thông tin này, khẳng định rằng hãng thông tấn nước này đã bị tin tặc tấn công và một “thông cáo giả” đã được phát đi. Tuy nhiên, điều này đã không đủ để ngăn cản leo thang căng thẳng.

(Nguồn: Dohanews)
(Nguồn: Dohanews)

Xung đột ngoại giao trước đó diễn ra giữa Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, Bahrain với Qatar bị đẩy lên cao trào vào năm 2014, khi Qatar triệu hồi đại sứ của nước này về nước trong vòng 8 tháng để bày tỏ phản đối của họ đối với sự trấn áp của chế độ Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah al-Sisi nhằm vào tổ chức Những người anh em Hồi giáo.

Thái tử Mohammed Ben Zayed al-Nahyane, nhân vật có ảnh hưởng lớn của Abu Dhabi, ghét cay ghét đắng tổ chức này và từ 3 năm nay, báo chí địa phương tiến hành một chiến dịch ác liệt chống lại sự ủng hộ của Qatar với lực lượng Anh em Hồi giáo.

Cuộc khủng hoảng này đã làm rung chuyển mạnh mẽ Hội đồng hợp tác các quốc gia Arab vùng Vịnh, thường được gọi là Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC), bao gồm 6 nước quân chủ thuộc bán đảo Arab: Saudi Arabia, Bahrain, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (một liên bang của 7 tiểu vương quốc trong đó có Abu Dhabi và Dubai), Kuwait, Oman và Qatar.

Cuộc khủng hoảng này đã làm rung chuyển mạnh mẽ Hội đồng hợp tác các quốc gia Arab vùng Vịnh, thường được gọi là Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC)

Sự hình thành của tổ chức này bắt nguồn từ Hội nghị thượng đỉnh Abu Dhabi diễn ra ngày 25/5/1981, 2 năm sau ngày thành lập Cộng hòa Hồi giáo Iran, thời điểm cao trào của cuộc tấn công Afghanistan do Hồng quân Liên Xô tiến hành vào tháng 12/1979 và cuộc chiến tranh Iraq-Iran nổ ra tháng 9/1980.

Trước hết, GCC là sự đáp lại mang tính phòng vệ trước những căng thẳng và xung đột tái diễn trong khu vực.

Nếu như những triều đại quân chủ này có được nguồn năng lượng và tài chính dồi dào (Tổng sản phẩm quốc nội-GDP chiếm hơn 70% GDP của thế giới Arab), thì yếu tố dân số ít và yếu kém về quân sự của họ so với những nước láng giềng (Iraq, Iran, Ai Cập, Israel) buộc họ phải thắt chặt quan hệ xung quanh một liên minh khu vực.

Ngoài hiệp ước liên chính phủ nhằm tạo ra một thị trường chung, mỗi quốc gia thành viên GCC, dưới nhiều hình thức khác nhau, ký kết với các quốc gia phương Tây để đảm bảo sự che chở về an ninh, trong đó quốc gia bảo trợ chính là Mỹ.

Lãnh đạo các nước thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh tại hội nghị ở Manama, Bahrain ngày 6/12/2016. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Lãnh đạo các nước thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh tại hội nghị ở Manama, Bahrain ngày 6/12/2016. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Vốn quen với sự tương trợ của Mỹ – tuy đã có bước thụt lùi từ 2 nhiệm kỳ của Barack Obama, các nước quân chủ vùng Vịnh đã thất bại trong việc tạo ra một lực lượng quân sự đa phương chung do sự ngờ vực ngự trị giữa các nhà lãnh đạo và ưu tiên của họ dành cho các hiệp định song phương với những nước công nghiệp xuất khẩu vũ khí lớn.

Do vậy, họ đã lựa chọn một thỏa thuận tăng cường an ninh được ký vào tháng 11/2012 tại Riyadh và được 5 trong số 6 nước phê chuẩn vào năm 2014, Nghị viện Kuwait đã phản đối thỏa thuận này. Thỏa thuận cho phép chia sẻ thông tin giữa các cơ quan tình báo quốc gia vùng Vịnh, cho phép thống nhất quyền tài phán và thiết lập các hệ thống giám sát để chặn các mạng xã hội, hình thức chính của “tự do ngôn luận” trong khu vực.

Mặc dù có những yếu kém về cấu trúc và sự cạnh tranh không ngừng giữa các thành viên, GCC xuất hiện là tổ chức liên chính phủ duy nhất vừa hữu hiệu lại vừa lâu bền trong thế giới Arab.

Mặc dù có những yếu kém về cấu trúc và sự cạnh tranh không ngừng giữa các thành viên, GCC xuất hiện là tổ chức liên chính phủ duy nhất vừa hữu hiệu lại vừa lâu bền trong thế giới Arab

Từ khi thành lập, GCC thường gặp khủng hoảng, đó là sự đối đầu thường xuyên giữa Saudi Arabia với các quốc gia thành viên khác.

Thực tế, sự nghiệp xây dựng nhà nước của vương quốc này được dựa trên sự xâm lăng về quân sự và quyết tâm truyền bá quốc giáo của nước này, lấy cảm hứng từ Hanbali [một trong bốn trường phái tư tưởng tôn giáo của Hồi giáo dòng Sunni tạo thành luật Hồi giáo] thông qua thuyết giáo của chủ nghĩa Wahhabi [học thuyết Hồi giáo bắt nguồn từ Saudi Arabia], gợi lên sự ngờ vực lớn, vậy mà Riyadh coi bán đảo Arab là không gian ảnh hưởng nghiễm nhiên của mình. Thất bại của dự án đồng tiền duy nhất của vùng Vịnh, dự kiến vào năm 2010, là một minh họa cho điều này.

Không muốn phụ thuộc về tài chính vào người hàng xóm Saudi Arabia, Vương quốc Hồi giáo Oman, vốn không giàu bằng các quốc gia thành viên khác của GCC, muốn có thêm thời gian để nền kinh tế nước này phát triển.

Tuy nhiên, chính sự rút lui của Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất đã rung hồi chuông báo tử cho liên minh tiền tệ này, Abu Dhabi nhất quyết từ chối trụ sở của ngân hàng trung ương tương lai chung đặt tại Riyadh.

(Nguồn: Getty Images)
(Nguồn: Getty Images)

Các sáng kiến của Saudi Arabia thường xuyên bị đánh giá là tham vọng bá chủ cả về chính trị lẫn tôn giáo. Điều này giải thích tại sao Vương quốc Hồi giáo Oman – một quốc gia-dân tộc có bản sắc hàng nghìn năm – lại luôn giữ khoảng cách với các dự án chính trị-quân sự của Saudi Arabia trong GCC.

Năm 2013, sau cuộc nổi dậy của dân chúng trong thế giới Arab, Quốc vương Saudi Arabia Abdallah đã đề xuất một cuộc cải cách GCC thành Liên minh vùng Vịnh, một dạng liên minh mà tổng thể các quốc gia thành viên theo đuổi cùng một đường lối chính trị, ngoại giao và an ninh.

Dự án này bị nhìn nhận như một mưu toan của Saudi Arabia nhằm đặt các nước quân chủ khác lệ thuộc vào mình như sự việc đã diễn ra với Bahrain từ sự can thiệp của quân đội Saudi Arabia vào tháng 3/2011. Chỉ có Oman là bày tỏ công khai sự phản đối được các nước láng giềng của nước này chia sẻ.

Ngày 8/12/2013, tại phiên họp thứ 9 của Đối thoại Manama về các vấn đề an ninh vùng Vịnh, Bộ trưởng Ngoại giao Oman, Yousuf Ben Alawi, đã phản ứng mạnh mẽ trước khả năng thay đổi đối với hiệp ước hợp tác vùng Vịnh.

Vụ việc khác thường này cản trở thông báo về một Liên minh tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 34 của những người đứng đầu quốc gia của GCC, diễn ra 3 ngày sau tại Kuwait. Sự bác bỏ của Oman được 4 nước thành viên khác hưởng ứng.

Các sáng kiến của Saudi Arabia thường xuyên bị đánh giá là tham vọng bá chủ cả về chính trị lẫn tôn giáo

Vào đầu những năm 1980, Muscat đã từng từ chối đề xuất của Saudi Arabia-Kuwait về thành lập một quân đội chung “Lá chắn của bán đảo” để hỗ trợ đội quân của Saddam Hussein, vốn vừa mới tuyên bố chiến tranh với Iran.

Theo Oman, một hành động như vậy có giá trị là một lời tuyên bố chiến tranh với Cộng hòa Hồi giáo. Từ đó, Oman đã luôn ưu tiên quan hệ láng giềng tốt đẹp với Iran và Yemen, điều có nguy cơ chọc giận các đối tác của nước này tại GCC.

Trong những năm 1980, Qatar và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất thường thống nhất quan điểm với Oman. Hơn nữa, hiện nay, chính Kuwait và Qatar xích lại gần với các quan điểm không can thiệp do Muscat bảo vệ.

Đặc biệt, Vương quốc Hồi giáo đã ở thế trung lập trong xung đột tại Yemen, trong khi Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất can thiệp sâu vào vụ việc này từ ngày 26/3/2015 để chống lại nhóm phiến quân Houthi vốn liên minh với cựu Tổng thống Yemen Ali Abdallah Saleh và khôi phục lại chính quyền của Tổng thống Abd Rabbo Mansour Hadi.

Một ngôi trường bị phá hủy sau một cuộc không kích ở tỉnh Taez, Yemen ngày 16/3/2017. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Một ngôi trường bị phá hủy sau một cuộc không kích ở tỉnh Taez, Yemen ngày 16/3/2017. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Tuy nhiên, một tình thế mới đã xuất hiện trong những năm gần đây: Người Saudi Arabia không còn là đối tượng duy nhất bị hoài nghi có tư tưởng bá quyền. Từ khi các cuộc nổi dậy bùng phát tại Libya và hơn nữa là tại Yemen, chủ nghĩa can thiệp đã công khai và quan điểm hiếu chiến của Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, khiến Oman và các nước quân chủ khác của vùng Vịnh lo lắng.

Các khoản đầu tư tài chính và hậu cần của tiểu vương quốc Abu Dhabi ở phía Nam nước này, thêm vào đó, tiểu vương quốc này còn triển khai tích cực hoạt động quân sự tại đường biên giới, khiến cho giới chức Vương quốc Hồi giáo Oman không bình tâm được.

Tình hình tại Yemen cho thấy rõ tính phức tạp chi phối quan hệ giữa các nước quân chủ vùng Vịnh. Tuy nhiên, trước đó có sáng kiến can thiệp hòa giải để tìm một giải pháp thương lượng cho cuộc nổi dậy năm 2011, nhưng xung đột vũ trang bị sa lầy.

Đặc biệt, dường như từ nay có sự tranh chấp gấp bội giữa Riyadh và Abu Dhabi về quốc gia phía Nam này, đặc biệt là tại tỉnh Hadramaout, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất bị nghi ngờ thực hiện chia cắt khu vực này vì lợi ích kinh tế và tài chính của mình. Căng thẳng này giữa 2 đồng minh – mặt khác cùng hành động để “trừng phạt” Qatar – sau này, có thể trở thành một hồ sơ nhạy cảm khác trong GCC.

Nhận thức sự cạnh tranh khu vực của Iran và các thể thức hành động mà Riyadh muốn áp đặt để kiềm chế Iran đã chia các thành viên GCC thành 2 khối

Tính tích cực đối với hoạt động quân sự của Abu Dhabi gây lo ngại cho Oman và Kuwait, trong khi triều đại al-Khalifa của Bahrain, chào đón can thiệp quân sự của Saudi Arabia vào tháng 3/2011 chống lại phe đối lập đòi dân chủ, từ nay thống nhất quan điểm ngoại giao của Riyadh.

Mặc dù bị tố cáo và vào đầu tháng 6 vừa qua bị loại khỏi liên minh quân sự Arab-Sunni, vốn can thiệp vào Yemen, thì Qatar vẫn phải đứng về phía Saudi Arabia trong vấn đề Nam Yemen – Doha không muốn chứng kiến Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất tăng cường ảnh hưởng tại tiểu vùng này.

Nhìn chung, nếu như các nước thành viên GCC coi Iran là một cường quốc bá quyền, thì việc xem xét mối đe dọa của nước này lại thay đổi tùy theo cách nhìn nhận các nước quân chủ nơi đây. Nhận thức sự cạnh tranh khu vực của Iran và các thể thức hành động mà Riyadh muốn áp đặt để kiềm chế Iran đã chia các thành viên GCC thành 2 khối.

Một bên là Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (với Abu Dhabi ở tuyến đầu) và Bahrain chủ trương một đường lối cứng rắn đối với sự can thiệp của Iran dưới nhiều hình thức trong khu vực: Cử các lữ đoàn quân tới Syria và Iraq, xây dựng nguồn lực chỉ huy cho đội quân người Hồi giáo dòng Shiite, hỗ trợ hậu cần cho Hezbollah hoặc có quan điểm ủng hộ người thiểu số Shiite tại Saudi Arabia và ủng hộ phe đối lập Shiite tại Bahrain. Bên còn lại là Oman và Kuwait, cởi mở hơn đối với việc làm trung gian hòa giải về ngoại giao.

Như vậy, chính Oman chứ không phải các nước quân chủ khác của vùng Vịnh được thông báo về việc diễn ra các cuộc đàm phán bí mật Mỹ-Iran trước khi ký kết Hiệp định về hạt nhân Iran vào tháng 7/2015.

Toàn cảnh vòng đàm phán hạt nhân giữa Iran và P5+1 tại Vienna, Áo ngày 6/7/2015. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Toàn cảnh vòng đàm phán hạt nhân giữa Iran và P5+1 tại Vienna, Áo ngày 6/7/2015. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Tại Qatar, thủ lĩnh Hồi giáo Tamim, nối ngôi cha mình, thủ lĩnh Hồi giáo Hamad vào ngày 25/6/2013, đã lựa chọn một nền ngoại giao khu vực ít chia rẽ và phù hợp hơn các nước láng giềng bằng việc xích lại gần hơn với Riyadh – ít nhất là cho tới cuộc khủng hoảng mới đây.

Tuy nhiên, cho dù Qatar e ngại ưu thế vượt trội của nước láng giềng lớn của mình, thì nước quân chủ này vẫn đứng trong hàng ngũ của phe ưu tiên hòa dịu giữa 2 phe của vùng Vịnh.

Nếu như trong quá khứ, những căng thẳng không phải là hiếm khi xảy ra giữa 6 nước quân chủ vùng Vịnh, thì sự ác liệt trong phản ứng mới đây của Saudi Arabia-Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất đối với một quốc gia thành viên của GCC đã để lại những dấu ấn.

Các cuộc tấn công dữ dội về truyền thông và các biện pháp trả đũa về ngoại giao, chính trị và kinh tế được thông qua để chống lại Qatar là chưa từng có.

Trong khi các quốc vương vùng Vịnh đã luôn chú ý giải quyết các bất đồng “trong gia đình” và tránh những nhìn ngó từ bên ngoài, thì cuộc khủng hoảng này lại do chính các nhà lãnh đạo trong khu vực tạo ra với việc sử dụng phương pháp khiêu khích, dứt khoát và có tính quyết định.

Trong khi các quốc vương vùng Vịnh đã luôn chú ý giải quyết các bất đồng “trong gia đình” và tránh những nhìn ngó từ bên ngoài, thì cuộc khủng hoảng với Qatar lại do chính các nhà lãnh đạo trong khu vực tạo ra

Điều này phản ánh sự thay đổi thế hệ và văn hóa chính trị của những chức sắc đương quyền, trong số đó có Thái tử Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, Mohammad bin Zayed al-Nahyane và thái tử của Saudi Arabia, Mohammad bin Salman – người vốn coi trọng mô hình chiến lược phát triển kinh tế của Dubai và ủng hộ quan điểm chống Iran và chống Anh em Hồi giáo của người đứng đầu nước này. Ông thấy ở đó mô hình quyền lực mà ông dự kiến thể hiện là bộ óc của vương quốc.

Người dân vùng Vịnh có xuất thân từ cùng những bộ lạc và có quan hệ hôn phối bên trong đường biên giới của họ, đã rất bất bình trước sự phá vỡ tình đoàn kết này giữa các triều đại của GCC, ảnh hưởng tới hàng nghìn gia đình.

Các nhà lãnh đạo của Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất, thậm chí đã đe dọa thực hiện các hình phạt nặng nhất (tới 15 năm tù tại Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất và 10 năm tại Saudi Arabia) đối với tất cả những người thể hiện cảm tình với Doha.

Các cường quốc, đặc biệt là Mỹ, cũng như đại đa số các nước hồi giáo, nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Pakistan hay thậm chí Maroc (tuy nhiên, đây là đồng minh lớn quen thuộc của Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất), đều phó thác cho lý lẽ.

Tại Washington, những thông tin trên Twitter của Tổng thống Trump đã cho thấy sự tin tưởng của ông vào vụ tố cáo này, tuy nhiên, ngay lúc đó, đã có những quan điểm trái với suy nghĩ của ông từ hai nhân vật có ảnh hưởng trong Chính quyền Mỹ, là tướng James Mattis (Bộ trưởng Quốc phòng) và Rex Tillerson (Bộ trưởng Ngoại giao).

(Nguồn: Reuters)
(Nguồn: Reuters)

Đối với sáng kiến của Kuwait và Oman nhằm chơi con bài hòa giải, những sáng kiến này nhận được sự ủng hộ lớn của quốc tế.

Tình hình này tiềm ẩn những hậu quả không thể lường trước được, cho thấy những nước quân chủ thuộc GCC không xứng với tư cách của họ, mà đứng đầu là Saudi Arabia, vốn đã thất bại trong việc thể hiện như một cường quốc trong khu vực Arab.

Abu Dhabi sau này cũng có thể phải chịu những hậu quả từ việc hăng hái quá mức của những nước gây bất ổn, dẫn tới làm mất lòng không chỉ láng giềng của mình mà cả chủ thể bảo trợ Mỹ.

Trái với mục đích theo đuổi của các nước gây bất ổn nêu trên, cuộc khủng hoảng này đã tăng cường đáng kể vai trò của Iran, xuất hiện như một cường quốc khu vực vững vàng và gắn kết, có khả năng điều chỉnh một phần những căng thẳng bên trong của họ qua trò chơi bầu cử xa lạ với phía bên kia của vùng Vịnh./.

 
 

Chester Bennington

“Đây không phải rock”, “Thật ngớ ngẩn”, “Thứ âm nhạc nửa mùa”, đó là những gì mà giới rock đầu thập niên 2000 nói về Linkin Park, ban nhạc của những chàng trai Mỹ sinh giữa thập niên 70, kỷ nguyên của Queen, Led Zeppelin, Black Sabbath, Aerosmith hay Iron Maiden.

“Đây không phải rock”, “Thật ngớ ngẩn”, “Thứ âm nhạc nửa mùa”, giới rock đầu thập niên 2000 đã từng nói như thế về Linkin Park

Từ đó tới nay đã gần hai thập kỷ, nhưng vẫn có những quan điểm trái chiều về Linkin Park như thế vang lên ngay cả trong thời điểm Chester Bennington vừa treo cổ tự vẫn. Nhưng khác với quá khứ, Linkin Park giờ chẳng bận tâm tới những nhận xét ấy.

5 chàng trai tại Los Angeles có quyền ngẩng cao đầu là người đi tiên phong của alternative rock vào thời điểm đầu thập niên 2000, thay vì chỉ là thứ con ghẻ của một thế hệ rock vĩ đại suốt bốn thập niên trước đó.

Linkin Park là gì?

“Họ bùng cháy, giận dữ. Nhưng luôn tích cực. Không say xỉn trong các tour lưu diễn, không văng tục trong các album”, Rob Sheffield của tờ Rolling Stone đã mở đầu bài viết về Linkin Park vào thời điểm tháng 3/2001 theo cách ấy.

Khác biệt, trẻ trung, đầy nhiệt huyết, không đi vào vết xe đổ của những bậc đàn anh, đó là Linkin Park. Đấy là thời điểm album đầu tay Hybrid Theory vừa được ra mắt. Hybrid Theory thành công rực rỡ với tổng cộng 30 triệu bản bán ra trên toàn thế giới, trung bình mỗi tuần có 100 nghìn bản đến với những khán giả. Phần lớn là trẻ tuổi.

MV Papercut trong album Hybrid Theory của Linkin Park. (Nguồn: Linkin Park Official YouTube Channel)

“Khi Mike bắt đầu viết lời”, Chester nói, “Chúng tôi muốn thành thật và cởi mở hết sức có thể. Đó sẽ phải là thứ âm nhạc kết nối tất cả, chứ không chỉ là những thứ thô tục và bạo lực. Chúng tôi không muốn là tâm điểm của sự nổi loạn, nhưng Linkin Park không muốn đứng sau điều gì đó để cho thấy rằng mình mạnh mẽ đến như thế nào”.

Linkin Park đã làm được. Hybrid Theory và Meteora thành “thánh ca” của những thanh thiếu niên muốn đột phá vào đầu thập niên 2000. Tất cả thấy được chính mình trong âm nhạc của nhóm. Đó là đau đớn mang tên Faint, những day dứt của Crawling, cảm giác muốn chạy trốn của Runaway, bội phản Lying from you, lạc lõng của Numb…

Sau hàng thập niên nghe thứ âm nhạc phản chiến, về tình yêu đôi lứa, về cái chết trong tuyệt vọng từ những cú solo dài cả dặm của các tay lead guitar, và cả những giọng cao vút của những vocal béo ục ịch theo thời gian. Những người trẻ muốn thay đổi, và Linkin Park cho họ điều ấy.

Thứ âm nhạc ầm ĩ bắt tai với rap, với đầy đĩa, cùng những cú quạt guitar rè biến mọi ảo mộng của những con người trẻ trở thành hiện thực. Linkin Park không phải những người xuất sắc nhất ở chính thứ âm nhạc của họ, nhưng LP lại tạo ra ảnh hưởng lớn nhất, sâu đậm nhất. Tới bây giờ, âm nhạc của hai album đầu ấy vẫn vang lên khắp các hang cùng ngõ hẻm của thế giới, cả thật lẫn ảo.

Bùng nổ, dữ dội nhưng đầy hiện đại, Linkin Park là những người phát ngôn của âm nhạc đầu thập niên 2000.

Phóng viên Rolling Stones từng nhận xét rằng âm nhạc của Linkin Park bùng cháy, giận dữ, nhưng luôn tích cực. (Nguồn: Twitter)
Phóng viên Rolling Stones từng nhận xét rằng âm nhạc của Linkin Park bùng cháy, giận dữ, nhưng luôn tích cực. (Nguồn: Twitter)

“Đỡ họ dậy”

Những ngày đầu tiên ấy, bốn chàng trai nhảy tưng tưng trên sân khấu (trừ Joe Hahn, tất nhiên rồi) trong những concert chỉ vài trăm người, Chester cạo trọc, Mike nhuộm đỏ. Họ rất ầm ĩ. Nhưng trong sự ầm ĩ ấy là những trái tim ấm nóng.

16/09/2001, Docklands Arena, London, Linkin Park đã phải đợi tới lần thứ hai mới có thể hoàn thành Papercut. Có ai đó đã ngã. Và cả ban nhạc dừng lại. “Đỡ cậu ấy dậy, ngay lập tức!”, Chester mắt sáng rực chỉ vào nơi nào đó trong đám đông hỗn loạn kia. “Chúng tôi đặt sự an toàn của các bạn lên hàng đầu”, Mike nói. “Tôi quan tâm tới tất cả mọi người tới show, chúng ta sẽ rock cả đêm phải không? Vì thế, xin hãy quan tâm lẫn nhau”, Chester chốt hạ trước khi nhạc trở lại.

Linkin Park đã tạm dừng biểu diễn trong buổi live concert tại sân vận động Docklands Arena, London, hồi năm 2011, để nhắc fan về sự an toàn. (Nguồn: YouTube)

“When someone falls, what did you do? Pick them up” (Khi ai đó ngã, các bạn sẽ làm gì? Đỡ họ dậy!). Đoạn thoại này từ đó trở thành truyền thống trong mọi tour diễn của Linkin Park. Chester cùng bốn người đồng đội quan tâm tuyệt đối tới khán giả. Thay vì đứng trên sân khấu như những vị thần gào thét, lấy vòi cứu hỏa bắn xuống đám đông, Linkin Park muốn nhảy xuống, ôm những người ủng hộ họ. Thay vì mặc kệ những khán giả chơi thuốc và bị dẫm đạp tới chết, Linkin Park sẵn sàng dừng nhạc, đảm bảo an toàn rồi mới tiếp tục.

Chúng ta vẫn biết Chester từng có quá khứ nghiện ngập và mắc những vấn đề về rượu, nhưng đó chưa bao giờ là lý do ngăn cản những tour diễn hay việc ra mắt album. Thậm chí ngược lại, “Breaking the habit” là một tuyệt phẩm của Chester về những ngày tháng lầm lỡ ấy.

Hãy nhìn vào rock của những tượng đài như Aerosmith để thấy sự khác biệt, Steven Tyler từng bị khán giả ném lựu đạn lên sân khấu vì ra diễn trong tư thế say xỉn. Dave Mustaine bị đuổi khỏi Metallica vì nghiện cocaine. Axl Rose từng lao thẳng xuống đấm khán giả với hàng chục gram cocaine trong người.

Linkin Park và Chester là thần tượng của những thanh thiếu niên nổi loạn kia. Thần tượng thực sự ở cả nhân cách sống, chứ không đơn thuần là hình mẫu của sự nổi tiếng, danh vọng hay tiền bạc.

Linkin Park & Chester là thần tượng thực sự của nhiều thanh thiếu niên nổi loạn kia, ở cả nhân cách sống, chứ không đơn thuần là hình mẫu của sự nổi tiếng, danh vọng hay tiền bạc. (Nguồn: E Online)
Linkin Park & Chester là thần tượng thực sự của nhiều thanh thiếu niên nổi loạn kia, ở cả nhân cách sống, chứ không đơn thuần là hình mẫu của sự nổi tiếng, danh vọng hay tiền bạc. (Nguồn: E Online)

Cuộc đấu với quá khứ

“Bánh bao ngày xưa bao giờ cũng to hơn bánh bao bây giờ”, Lỗ Tấn có lý. Tâm lý hoài cổ xuất hiện ở bất kỳ ai. Bánh bao ngày xưa đúng là to hơn bánh bao bây giờ thật. Nhưng bánh bao của ngày xưa ấy cũng có những vấn đề của riêng nó.

Linkin Park bị so sánh quá nhiều với những tượng đài rock trong quá khứ vì thứ âm nhạc nu-metal mới lạ mà họ chơi. Nhưng chính những tượng đài kia cũng gặp phải vô số vấn đề khi thời hoàng kim đi qua và phải loay hoay trong bài toán bản sắc.

Linkin Park bị so sánh quá nhiều với những tượng đài rock trong quá khứ vì thứ âm nhạc nu-metal mới lạ mà họ chơi. Nhưng chính những tượng đài kia cũng gặp phải vô số vấn đề khi thời hoàng kim đi qua.

Metallica sau thành công vang dội của Kill’ Em All, Ride the Lightning, Master of Puppets, And Justice for All đã gặp vô số chật vật với Load, Reload (những album không-hề-có-một-câu-solo nào). St Anger là một thảm họa. Năm 2003, James Hetfield và đồng bọn thua trực tiếp Linkin Park với Meteora tại lễ trao giải MTV Award. Năm đó James 41 tuổi.

Tới giờ khi Metallica chấp nhận quay trở lại thứ âm nhạc định hình nên sự vĩ đại của họ, thì chẳng khó để nhận thấy Kirk Hammet không còn solo trơn tru trọn vẹn Master of puppets hay Lars Ulrich luôn lỡ nhịp trống trong những khoảnh khắc quyết định.

Guns N Roses sau thời gian hoàng kim với bộ khung Duff McKagan, Slash, Axl Rose, Steven Adler với Appetite of Destruction, cùng hai album Use your Illusion cũng lao vào tâm bão sau khi Slash rời nhóm vì mâu thuẫn với Axl vào năm 1996. Chinese Democracy năm 2008 là một thành công? Không ai dám nói vậy. 2016, Guns N Rose tái hợp, nhưng Axl chỉ còn là cái bóng của chính mình sau quãng thời gian ăn chơi hoang tàn không điểm dừng.

Không ít fan đã rời bỏ Linkin Park sau album Minutes To Midnight ra mắt hồi năm 2007. (Nguồn YouTube)

Ai cũng có thời hoàng kim của họ. Linkin Park cũng vậy. Nhưng thứ quá khứ mà LP phải đối mặt còn là chính họ. Có chẳng ít rock fan đã từ bỏ Linkin Park sau khi họ ra album thứ ba Minute to Midnight vào năm 2007 vì những âm điệu quá pop trong Shadow of the day, The little things give you away, Hands held high hay Valentine’s day. Âm nhạc của Linkin Park không còn ầm ĩ. Những người hâm mộ ghét điều ấy. Nhưng Chester và các đồng đội không dừng lại. “A thousand sun”, “Living Things”, “The Hunting Party” tiếp tục được ra đời bất chấp lượng lớn người hâm mộ tiếp tục rời đi.

Những album không còn được tạo ra để thỏa mãn cái tôi nổi loạn của những thanh thiếu niên nữa. Thay vào đó, các album thỏa mãn chính các thành viên Linkin Park. “Chúng tôi đã sáng tác hai album dành riêng cho các bạn”, Chester trả lời phỏng vấn cách đây không lâu. Khi được hỏi tại sao không thể gào thét lại những cảm xúc cho lứa tuổi teen được nữa, Chester tweet ngắn gọn “Vì tôi đã 41 tuổi”.

Những người hâm mộ không thể kỳ vọng điều gì đó nhiều hơn thế từ Linkin Park. Chester, Mike đã làm mới chính mình hệt như cách họ đã làm với âm nhạc đầu thập niên 2000 với Hybrid Theory. Thứ âm nhạc mới mẻ, dù có bị nhận hàng tấn gạch đá, vẫn sẽ phải được tạo ra. Chester, Mike cùng các đồng sự không phản bội chính mình khi luôn hướng tới cái mới.

Chester là nhân vật cự phách ngay cả khi tháo mác vocal chính của Linkin Park. (Nguồn: TheRockRevival)
Chester là nhân vật cự phách ngay cả khi tháo mác vocal chính của Linkin Park. (Nguồn: TheRockRevival)

Chester Bennington

Chiếc áo không tạo nên thầy tu. Nếu bỏ Linkin Park, Chester còn gì? Một người đàn ông hai đời vợ, sáu đứa con, từng trải qua một tuổi thơ khủng khiếp khi bị cưỡng hiếp, bố mẹ li dị năm 11 tuổi, chơi thuốc trong 7 năm trước khi bị đuổi ra khỏi nhà, nghiện rượu, vật lộn với cuộc sống trước khi nhận được cuộc gọi định mệnh từ Jeff Blue mời gia nhập Xero sau này đổi tên thành Linkin Park.

Người đàn ông ấy còn sở hữu giọng hát không thua kém bất kỳ nhân vật tiếng tăm nào trong lịch sử. Giống “Iron Man” được Robert Downey Jr thủ vai , Chester là nhân vật cự phách ngay cả khi tháo mác vocal chính của Linkin Park, dù sở hữu một quá khứ đủ đầy những bi kịch.

Tạp chí Rolling Stone uy tín nhất làng âm nhạc rock không xếp Chester lọt vào danh sách 100 giọng ca hay nhất, song vocal của Linkin Park vẫn xứng đáng có một vị trí đặc biệt trong trái tim những người hâm mộ lẫn cả những cuộc bình chọn sau này. Cú scream 15 giây không nghỉ của Chester trong Given Up (Minute to Midnight, 2007) tới nay vẫn là một minh chứng cho quãng giọng luôn bị đánh giá thấp của Chester trong các cuộc bình chọn (chỉ vì anh và Linkin Park chơi nu-metal?). Còn nếu muốn sâu lắng, Shadow of the day, My December hay bản cover “Rolling in the deep” vào năm 2011 là những ví dụ chân thực hơn cả.

Cú scream dài 15 giây nổi tiếng của Chester trong màn trình diễn live hồi năm 2011. (Nguồn: YouTube)

Từ giã cuộc sống ở tuổi 41, Chester để lại cú sốc cho tất cả người hâm mộ Linkin Park trên toàn thế giới. Tất cả tiếc thương cho anh, cho Linkin Park, cho tuổi trẻ không bao giờ quay lại được nữa. Nhưng cái chết của Chester không tạo ra sự bi lụy.

Khác với Kurt Cobain, người tự sát vào năm 27 tuổi đã kéo theo một cuộc khủng hoảng ở những thế hệ thanh thiếu niên coi anh là thủ lĩnh, Chester để lại cho những người hâm mộ anh một di sản đồ sộ về âm nhạc, những bài học về sự vươn lên từ khó khăn, và sự chuyên nghiệp tuyệt đối của một ngôi sao nhạc rock (điều cực hiếm ở những tay chơi thể loại âm nhạc ồn ã này).

Nguyên nhân sau quyết định tự vẫn của Chester hẵng vẫn còn là một bí ẩn, nhưng thời gian trôi qua, thế giới rồi sẽ nhớ Chester vocal chính của Linkin Park hơn hay Chester-tự-sát hơn? Câu hỏi đấy những độc giả có thể tự trả lời. Âm nhạc của Chester cùng Linkin Park vẫn sẽ vang khắp hang cùng ngõ hẻm trên thế giới này, như từ trước tới nay vẫn vậy.

Yên nghỉ nhé, Chester.

Cái chết của Chester chắc chắn sẽ khiến không ít fan tiếc thương. (Nguồn: TheRockRevival)
Cái chết của Chester chắc chắn sẽ khiến không ít fan tiếc thương. (Nguồn: TheRockRevival)

Chuyển nhượng bóng đá

Thị trường chuyển nhượng cầu thủ luôn được xem là một chủ đề nóng song nó vô hình trung lại thúc đẩy nạn tin tức giả phát triển. Một nhà báo đã tạo ra một tài năng trẻ giả để xem câu chuyện giả tạo của mình có thể thu hút được bao nhiêu sự chú ý. Câu trả lời là không hề ít.

Dọc con đường từ văn phòng của Declan Varley ở Galway, Ireland, có một bức tượng Pádraic Ó Conaire, một cây bút năng nổ của Ireland. Ông được coi là tác giả hư cấu vĩ đại đầu tiên trong ngôn ngữ Ireland. Một trong số những tác phẩm đáng chú ý nhất của ông là truyện ngắn “M’asal Beag Dubh”, hay “Con lừa nhỏ màu đen của tôi.” Chính câu truyện đó đã khơi gợi ý tưởng cho Varley.

Dù sống ở bờ biển phía Tây lộng gió với phong cảnh đẹp như tranh, Varley mô tả bản thân là một người hâm mộ “cuồng nhiệt” của câu lạc bộ bóng đá Arsenal ở London. Varley, từ lâu đã quen với việc “vơ vét từng mẩu nhỏ” những suy đoán về hoạt động chuyển nhượng của đội bóng anh yêu thích vào mỗi mùa hè, khi đó đang sục sạo trên mạng Internet để tìm những tin đồn về việc huấn luyện viên Arsene Wenger sẽ đưa ai về Arsenal.

Một nhà báo đã tạo ra một tài năng trẻ giả để xem câu chuyện giả tạo của mình có thể thu hút được bao nhiêu sự chú ý. Câu trả lời là không hề ít.

Với tư cách một nhà báo (Varley hiện là trưởng nhóm biên tập thuộc Galway Advertiser), anh nhận thấy toàn bộ trải nghiệm này thật đáng thất vọng.

Trong khoảng thời gian 2 tháng của mùa chuyển nhượng, anh thường dành hàng giờ nghiền ngẫm những bài viết chứa đầy những nguồn tin bí mật và thiếu sự kiểm chứng, tất cả đều nhằm mục đích hé lộ cái tên trên bản hợp đồng tiếp theo của Arsenal. “Tất cả đều là Messi đến Arsenal, kiểu tin tức như vậy,” anh cho biết. “Chẳng có chút căn cứ nào.” Chỉ một vài vụ chuyển nhượng được đưa tin thực sự diễn ra trên thực tế.

Thứ chướng khí bao quanh những thông tin sai lệch đã thúc đẩy Varley tiến hành việc mà anh gọi là “một thử nghiệm xã hội,” mà những người khác có thể định nghĩa nó một cách chính xác hơn: một trò lừa bịp. Anh đã quyết định anh muốn “xem một bóng ma có thể đi bao xa.”

Do đó, vào mùa Hè năm 2008, anh đã sáng tạo ra một cầu thủ. Đó sẽ là một thanh niên 16 tuổi đầy hứa hẹn đến từ Moldova, một quốc gia đủ xa để nguồn gốc tưởng tượng của cầu thủ này sẽ không dễ bị phát hiện. Và cái tên của ngôi sao mới sẽ được lấy trực tiếp từ bức tượng Ó Conaire. Xét cho cùng, nội dung câu chuyện của tác giả này xoay quanh một nhân vật “biết rằng con lừa của anh ta là vô dụng, nhưng lại cố gắng bán nó cho người trả giá cao nhất,” Varley cho biết. “Câu chuyện đó tương quan với thị trường chuyển nhượng.”

Cầu thủ của anh sẽ có cái tên với âm đọc lấy từ tựa đề câu chuyện của Ó Conaire: Masal Bugduv.

Alvaro Morata được đồn đến Manchester United nhưng lại đạt thỏa thuận với  Chelsea. (Nguồn: Getty Images)
Alvaro Morata được đồn đến Manchester United nhưng lại đạt thỏa thuận với Chelsea. (Nguồn: Getty Images)

Những sự thật khó nắm bắt

Đã từ lâu, trước khi sự xuất hiện của Tổng thống Trump khiến cho thuật ngữ này trở nên phổ biến, bóng đá đã là mảnh đất màu mỡ nhất có thể tưởng tượng đối với điều mà giờ đây chúng ta gọi là “tin tức giả.”

Giờ đây, ông Trump không ngừng đăng tweet và nói về “tin tức giả”, thường là mỗi khi ông nhìn thấy điều gì đó khiến ông không hài lòng. Các chính trị gia trên toàn thế giới sử dụng nó như một lời bác bỏ súc tích trước bất kỳ lời buộc tội nào khiến họ không thoải mái. Các ngôi sao thể thao và những người nổi tiếng ngày càng tìm đến nó như một cơ chế bảo vệ. (Khi tài khoản Instagram Mesut Özil của Arsenal bị hack cách đây không lâu, anh đã đề nghị người dùng mạng dừng việc phát tán “tin tức giả.”)

Cụm từ này đã được sử dụng thường xuyên đến mức có thể lập luận rằng vì nó đồng nghĩa với hầu hết mọi thứ, nên nó không còn có ý nghĩa gì nữa. Tuy vậy, đối với đại đa số, nó biểu thị một câu chuyện mà trong đó các thông tin bị tranh cãi hoặc bóp méo nhiều đến mức bản thân câu chuyện trở nên mềm dẻo. Nó là một câu chuyện được thiết kế để bắt rễ trong một môi trường mang tính phe cánh rõ rệt: Việc nó có thật hay không không quan trọng bằng việc khán giả đích của nó có muốn nó là thật hay không. Đó là một hiện tượng đã bị lợi dụng trong lĩnh vực bóng đá từ lâu.

Bóng đá đã từng là mảnh đất màu mỡ nhất có thể tưởng tượng đối với điều mà giờ đây chúng ta gọi là “tin tức giả”

Trong môi trường thể theo, người ta có thể nhìn thấy những viên gạch cơ bản nhất xây dựng nên một môi trường “hậu sự thật” gần như mỗi tuần: Một quyết định của trọng tài khiến một đội bóng nọ mất đi chiến thắng được ủng hộ bởi người quản lý ở phe có lợi, và bị lên án bởi phe chịu thiệt. Các cầu thủ và người hâm mộ bám chặt vào cách diễn giải phù hợp với họ, và giới truyền thông và tin tức, theo nghĩa vụ, đưa tin về tranh cãi đang nổ ra.

Nhưng chính trong những ngày dài và hỗn loạn của kỳ chuyển nhượng mùa hè, khi bóng đá trở thành “trò phụ” cho ngành kinh doanh chuyển nhượng cầu thủ, mới là lúc xu hướng này được thể hiện đúng bản chất nhất. Đó là lúc ranh giới giữa thực tế và hư cấu bị xóa nhòa, khi các câu lạc bộ, các nhà quản lý, các nhà môi giới đều đưa ra những biên bản bí mật ghi lại phiên bản của riêng họ về các sự kiện, khi mà bản thân sự thật cũng trở nên khó nắm bắt.

Trong tháng 7 này, chỉ trong vòng 24 tiếng, các nguồn tin không được xác định được cho là có quan hệ gần gũi với đội bóng Manchester United đã xác nhận với các phóng viên rằng CLB này đã đồng ý trả cho Everton 75 triệu bảng (gần 97 triệu USD) để có được tiền đạo ngôi sao Romelu Lukaku. Các nguồn tin ở Everton phủ nhận điều này. Các nguồn tin ở Chelsea, đội bóng cũng đang theo đuổi tiền đạo này, khăng khăng rằng câu lạc bộ vẫn còn hy vọng đạt được một thỏa thuận với Lukaku.

Tất cả những điều ấy không thể cùng là sự thật. Cũng có thể chẳng có điều nào là thật. Sự thật mà bạn chấp nhận phụ thuộc phần lớn vào việc bạn thấy điều nào là phù hợp nhất đối với bạn.

Lukaku (áo đỏ) bất ngờ cập bến Old Trafford dù trước đó đội bóng chủ quản  Everton bác bỏ bán anh cho Manchester United. 
Lukaku (áo đỏ) bất ngờ cập bến Old Trafford dù trước đó đội bóng chủ quản Everton bác bỏ bán anh cho Manchester United. 

Bóng ma có thật

Chính vì lý do này mà vào năm 2008, Varley đã xây dựng trò lừa của mình một cách chậm rãi, cẩn thận, sử dụng hết năng lực chuyên môn của mình.

Anh lựa chọn các đặc tính của Bugduv dựa trên Wayne Rooney – “mạnh mẽ, do vậy có thể hòa nhập ngay vào một đội bóng” – nhưng anh không “biến cậu ta thành siêu nhân.” Anh nhận thức được rằng tính chân thực chính là điều then chốt. Ở đội bóng Moldova mà anh sáng tạo ra, Bugduv ban đầu sẽ đóng vai trò hỗ trợ, thay vì hàng tá bàn thắng mỗi trận.

Trước tiên, Varley lan truyền tin tức về Bugduv trên nhiều diễn đàn khác nhau. Mỗi bài viết đều được viết theo phong cách của hãng AP: không có những từ ngữ hoa mỹ mang tính tuyên truyền, thẳng thắn, chỉ gồm những thực tế đơn giản. Anh đã tạo ra một tờ báo Moldova tưởng tượng, với cái tên là một cách chơi chữ thô tục của Ireland, và chỉ định cho Bugduv một người đại diện giả.

Varley đã chứng minh được rằng bóng đá là môi trường hoàn hảo để tin tức giả phát triển

Khi anh sẵn sàng để Bugduv được triệu tập lên đội tuyển quốc gia Moldova – và giúp đội đánh bại Luxembourg – Varley đã viết một bài liên hệ cầu thủ tưởng tượng này với Arsenal và đăng lên mạng. Trò lừa bắt đầu lan rộng.

Phần lớn các bài viết ban đầu về Bugduv đến từ các tài khoản của Varley. Nhưng chẳng bao lâu, cái tên của Bugduv đã được nhắc tới ở những nơi khác, không liên quan gì tới Varley.

“Người ta sẽ tin những gì họ muốn tin,” Varley nói. “Và có tồn tại mong muốn được nhìn nhận như thể bạn biết nhiều và không muốn thừa nhận rằng bạn không nắm rõ điều gì đó.”

Đương nhiên, cuối cùng trò lừa đã bị phát hiện. Nhưng đến khi đó, Varley cảm thấy luận điểm của anh đã được chứng minh. Bóng ma mà anh tạo ra đã đi tới cả những ấn phẩm chủ lưu có tiếng tăm, thậm chí còn được vào một bảng xếp hạng 50 cầu thủ trẻ hàng đầu châu Âu (đứng thứ 30).

“Trò lừa ấy được tạo ra không phải vì mục đích xấu,” Varley nói. Tuy nhiên, anh đã chứng minh được rằng bóng đá là môi trường hoàn hảo để tin tức giả phát triển. Nhìn lại vụ việc này, anh gọi Bugduv là “cầu thủ bóng đá hậu sự thật đầu tiên.”

Alvarp Morata được đồn đến Manchester United nhưng lại đạt thỏa thuận với  Chelsea. (Nguồn: Getty Images)
Alvarp Morata được đồn đến Manchester United nhưng lại đạt thỏa thuận với Chelsea. (Nguồn: Getty Images)

Những điều kiện hoàn hảo

Trong tháng Bảy này, đã có một ngày mà trang web bóng đá độc lập Football365, vốn bắt đầu hoạt động từ năm 1997, nhận được nhiều lượt truy cập đơn lẻ nhiều hơn bất kỳ ngày nào khác trong lịch sử. Đó là vào đầu tháng. Cúp Liên đoàn đã kết thúc, và giải vô địch U21 châu Âu cũng vậy. Mùa giải Ngoại hạng vẫn còn nhiều tuần nữa mới bắt đầu. Những lượt truy cập này nhiều khả năng là của những người đang tìm kiếm tin tức cập nhật về những tin đồn chuyển nhượng.

Nhu cầu đó được đáp ứng bởi một nguồn cung không biết mệt mỏi. Wenger thường xuyên phàn nàn rằng người ta liên hệ Arsenal với hàng trăm cầu thủ mỗi mùa Hè.

Theo một ước tính, Manchester United đã liên hệ với hơn 50 cầu thủ từ trước khi mùa chuyển nhượng bắt đầu, nhưng chỉ ký duy nhất một hợp đồng chuyển nhượng, đó là với hậu vệ trẻ người Thụy Điển Victor Lindelof, trước khi bổ sung thêm Lukaku. (Có vẻ ít nhất một trong số những bài viết vào đầu tháng 7 ấy là chính xác).

Manchester United đã liên hệ với hơn 50 cầu thủ nhưng chỉ ký duy nhất một hợp đồng với hậu vệ trẻ người Thụy Điển Victor Lindelof, trước khi bổ sung thêm Lukaku

Việc phần lớn tin đồn không bao giờ trở thành hiện thực dường như không khiến người ta chán nản, mà ngược lại. Như Varley đã nhận thấy sau vụ Bugduv, điều quan trọng không phải là sự thật chính xác, mà là phiên bản hấp dẫn nhất của sự thật. Trong khoảng thời gian giữa các mùa giải, việc nghe ngóng được rằng câu lạc bộ bạn yêu thích có thể ký hợp đồng với một cầu thủ nào đó là sự thay thế tốt nhất cho các trận đấu.

Trong thế giới “khát” tin đồn của truyền thông xã hội và các diễn đàn bóng đá, bất kỳ ai thỏa mãn được cơn khát đó cũng có thể thu hút được sự chú ý. Mỗi năm, một vài tài khoản mạng xã hội của những người được cho là người đại diện hoặc “tay trong” lại xuất hiện, tìm cách kiếm lợi bằng việc đề nghị tiết lộ những thông tin mà các nhà báo có tên tuổi không thể hoặc sẽ không đưa tin.

Một số trường hợp, giống như câu chuyện đáng nhớ về Duncan Jenkins – được người tạo ra anh, một nhà sáng tác nội dung tên là Sean Cummins – cho rằng có thể là “nhà báo hậu sự thật đầu tiên”, chỉ là những trò đùa vượt quá giới hạn. Những trường hợp khác thì nảy sinh với mục đích tiêu cực hơn một chút.

Cũng có những người đã tìm ra cách sống sót và phát triển, học cách hành động trong một môi trường mà thực tế giống như một thứ chất lỏng vô hình dạng, còn giới truyền thông chủ lưu thì không được người ta tin là đưa tin đầy đủ, kể cả khi người ta có tin họ đi chăng nữa.

Indy Kaila – nhà sáng lập IndyKaila, một nhãn hiệu mạng xã hội dành riêng cho chuyển nhượng – bắt đầu đăng những tin đồn lên Twitter vào năm 2012.

“Tôi có vài người bạn làm việc trong ngành truyền thông,” anh cho biết. “Họ thường nói với tôi nhiều điều, và tôi sẽ đặt cược chút tiền vào đó. Tôi nhận thấy rằng khi tôi tweet chúng – ‘tôi nghe ngóng được điều này, hãy đặt chút tiền vào nó’ – tôi bắt đầu có thêm người đăng ký theo dõi.”

Năm năm sau, Indy Kaila đã có hơn 250.000 người theo dõi trên tài khoản Twitter, và con số còn cao hơn thế trên Facebook.

Anh khẳng định – mặc dù không thể kiểm chứng điều này – rằng giờ đây anh thuê người giúp anh điều hành các tài khoản mạng xã hội. Tuy nhiên, Indy Kaila thực sự là ai thì vẫn còn là bí ẩn: anh không trả lời khi được hỏi anh đến từ đâu, làm nghề gì hay tên thật là gì.

Tuy vậy, Indy Kaila giờ đây vẫn có những thỏa thuận với một số nhà tài trợ, mặc dù anh không xác nhận việc đăng tải tin đồn chuyển nhượng có đem lại nguồn thu nhập chính cho anh hay không. Trong một thời gian ngắn, anh thậm chí còn có chỗ ở một đài phát thanh địa phương ở Leicester.

Indy Kaila đã trở thành một dạng trang tin tức theo kiểu riêng. “Tôi luôn để chữ ‘breaking’ lên đầu nếu đó là những thông tin đang được đăng ở nơi khác,” anh cho biết. “Nếu tôi viết chữ ‘exclusive’ (độc quyền), thì có nghĩa đó là thông tin của riêng tôi. Tôi đã làm rõ điều này với những người theo dõi tài khoản của mình.”

Trong bóng đá, điều quan trọng là việc người ta có muốn câu chuyện ấy thành hiện thực hay không. Người ta tin cái mà họ muốn tin, người mà họ muốn tin

Ngay từ đầu, mỗi khi anh đăng một tin đồn, một ai đó sẽ trả lời rằng anh chẳng là ai, một kẻ cơ hội, một kẻ giả tạo. Điều này vẫn xảy ra, nhưng nó không khiến người ta ngừng đăng ký theo dõi anh, và cũng không khiến anh ngừng đăng tin. Đó là vì độ tin cậy của thông tin mà anh đưa ra ngay từ đầu về cơ bản đã không quan trọng: anh cho biết giờ đây anh nhận được những thông tin từ các nguồn tin cậy – “những người làm việc ở cấp thấp trong các câu lạc bộ” – và khẳng định rằng đã có vài lần chính các cầu thủ đã liên hệ với anh để hỏi về nguồn tin của anh. Giả có thể là thật, và thật có thể là giả.

Giống như những đơn vị tin tức có tên tuổi, anh biết rằng dù thông tin đến từ nguồn nào, phần lớn những câu chuyện anh đăng sẽ chẳng thể xảy ra. Và cũng giống như họ, anh biết rằng điều đó không quan trọng. Trong bóng đá, điều quan trọng giờ đây là việc liệu người ta có muốn câu chuyện ấy thành hiện thực hay không. Người ta tin cái mà họ muốn tin, người mà họ muốn tin.

Vậy là ngay trước khi định gác máy sau khi đã kể lại những trải nghiệm của mình, Indy Kaila ngừng lại, rồi hỏi một câu hỏi. “Giờ thì,” anh nói, “anh có tin tức gì cho tôi không?”

Ronaldo luôn là tâm điểm của truyền thông mỗi khi diễn ra kỳ chuyển nhượng  cầu thủ.
Ronaldo luôn là tâm điểm của truyền thông mỗi khi diễn ra kỳ chuyển nhượng cầu thủ.

Sống sót qua sự sụp đổ (P1)

Đây là bài đầu tiên trong hai bài viết của tác giả Colin Morrison, chuyên gia tư vấn cho các công ty truyền thông, thông tin và digital, chủ yếu tại Anh, Châu Âu và Châu Á-Thái Bình Dương. Bài viết đề cập đến những bài học từ các kế hoạch kinh doanh của một số tập đoàn báo chí khổng lồ và họ đã ít nhiều thành công trong việc đối phó với những lực lượng trên thị trường đang đánh vào khoản lợi nhuận từ báo in.

Các tờ nhật báo từng được coi là “ngành công nghiệp truyền thông” chính thống. Đó là lý do vì sao việc tin tức bị xé vụn ra như ngày nay lại dày vò các lãnh đạo các cơ quan báo chí đến vậy. Họ đã chờ đợi một thế giới với thái độ biết ơn và trao cho họ một tương lai kỹ thuật số. Chủ sở hữu các tờ báo – cũng như nhiều người khác – không thể hình dung ra một thế giới không có những thương hiệu tin tức huyền thoại.

Chiến dịch bầu cử tại Anh là lời nhắc nhở gần nhất rằng một thế hệ các chính trị gia thuộc thời tiền kỹ thuật số vẫn dành cho báo in một tầm quan trọng không thể san sẻ với loại hình nào khác. Nỗi ám ảnh đó được nuôi dưỡng bởi các kênh truyền hình và phát thanh tin tức dành ra nhiều thời lượng mỗi ngày ở quốc gia này để đăng lại các nội dung trên báo và phát lại hình ảnh các trang nhất của các tờ nhật báo.

Vậy là, những cử tri ở Anh đi bỏ phiếu với hiểu biết rõ ràng rằng tờ The Sun lá cải đang hối thúc các độc giả của nó đi bỏ phiếu – ngay cả khi số lượng ấn bản của tờ báo này đã giảm 70% so với 25 năm trước, khi nó nghênh ngang nhận công lao cho một chiến thắng bầu cử: “The Sun đã mang đến chiến thắng”.

Nhưng tình trạng “nhiều người xem, ít người mua” của báo chí Anh (chưa kể thực tế là những độc giả thế hệ trẻ trên dưới 20 tuổi chẳng bao giờ mua báo giấy) đã giúp che khuất đi thực tế về sự suy giảm của họ. Có lẽ, họ mới chỉ đang ở giai đoạn đầu tiên của một sự đột phá ngày càng đau đớn hơn:

Đột phá 1.0: Sự phân mảnh

Đột phá giai đoạn thứ nhất là sự phân mảnh mạnh mẽ một thị trường truyền thông từng chịu sự thống trị của báo in. Thứ công nghệ đã mang đến cho người tiêu dùng nhiều thông tin hơn mức họ có thể tiêu thụ cũng mang đến cho các doanh nghiệp không gian gần như không giới hạn cho quảng cáo. Nhận thức rằng truyền thông lấy báo in làm trung tâm phải điều chỉnh lối tư duy về dòng doanh thu “duy nhất” (giống như hầu hết mọi người) là hồi chuông cảnh tỉnh.

Tuy nhiên, bất chấp đánh giá mới nhất của Mary Meeker rằng báo in vẫn nhận được mức quảng cáo nhiều hơn so với thời gian ngày càng ít mà độc giả đang dành cho nó, các nhà xuất bản tin tức lại phủ nhận điều này.

Chẳng hạn, nhiều tờ nhật báo quốc gia tại Anh “thổi” con số phát hành của mình thêm tới 20% bằng những bản in miễn phí, trong nỗ lực vô vọng nhằm tranh giành các khoản lợi nhuận quảng cáo đang dần biến mất. Họ không thể dùng đầu óc hay những tính toán của mình cho thực tế là các độc giả có quá nhiều lựa chọn sẽ dần chỉ trả tiền cho những nội dung khác biệt, thay vì những tin tức chung chung có sẵn khắp nơi mà chẳng cần mất tiền. Nhưng những tin tức có giá trị thấp vẫn cứng đầu tiếp tục thống trị mảng nội dung – cũng như chi phí – của hầu hết các tờ báo hàng ngày.

Những người chiến thắng trong tương lai sẽ là những ai có thể khai thác được sự khác biệt ngày càng rõ ràng giữa hai loại hình truyền thông cạnh tranh lớn:

  • Những nội dung miễn phí, đại trà được chi trả bởi quảng cáo hoặc tài trợ.
  • Những nội dung thu phí từ độc giả và không có (bất cứ hay nhiều) quảng cáo.

Tất cả các loại hình truyền thông (báo in, kỹ thuật số hay truyền hình) đều có thể phát triển mạnh bằng cách theo một trong hai loại hình nêu trên. Chỉ một số ít các thương hiệu xuất sắc có thể áp dụng cả hai loại này.

Ngày tàn của các “trung tâm thương mại tin tức”

Với hầu hết mọi người, nhật báo sẽ đến ngày tàn với tư cách các “trung tâm thương mại” bán tin tức, thông tin và sự giải trí – cũng như chấm dứt số lượng nhân viên khổng lồ được trả lương bằng doanh thu quảng cáo một thời bùng nổ. Nếu họ không thu hẹp trọng tâm lại và khai thác các nội dung đặc trưng như phân tích chính trị, các thương hiệu tin tức truyền thống sẽ có nguy cơ bại trận trước những chuyên gia kỹ thuật số như thương hiệu Politico đang phát triển mạnh ở Mỹ và châu Âu.

Thể thao là một lĩnh vực nội dung báo chí truyền thống khác có nguy cơ thua cuộc trước các nhà cung cấp chuyên biệt nếu các thương hiệu báo chí không cho độc giả cơ hội mua thông tin tách biệt từ “một bó tin tức”. Tất cả là một phần nhu cầu để các “nhà sản xuất sản phẩm” dựa trên báo in trở thành các “nhà cung cấp dịch vụ” đa kênh.

Nhưng họ cần một mô hình kinh doanh mới và một cách tiếp cận chi phí phải khác biệt về cơ bản. Truyền thống “chơi sang” của các tờ báo ngày trong việc chi trả chi phí cho nhiều nguồn lực – nhân viên, cộng tác viên và các hãng thông tấn – nhằm cung cấp tin tức chung chung mà thực ra có sẵn miễn phí sẽ phải chấm dứt, cũng như cách tiếp cận lỗi thời là chỉ lựa chọn nội dung cho ấn phẩm sau khi nội dung đó đã được sản xuất ra.

Không có gì sai khi đưa ra những tin tức tổng hợp có giá trị thấp và không độc quyền để tôn lên những nội dung độc quyền có giá trị cao – miễn là bạn không kỳ vọng độc giả trả nhiều tiền cho chúng.

Hệ thống bán báo trên phố đang ngày càng thiếu hiệu quả cũng sẽ biến mất cùng với nhiều nhà bán lẻ từng một thời phụ thuộc vào họ: chỉ có đăng ký trả tiền theo dõi và quyền thành viên là phù hợp với những tin tức phải bỏ tiền ra để đọc, dù là ở dạng in hay dạng kỹ thuật số. Một mối quan hệ trực tiếp với độc giả (và dữ liệu về họ) là rất có giá trị ngay cả khi bạn bán hay không bán quảng cáo. Nhưng việc thắt chặt chi phí sẽ tăng mạnh khi các tờ báo truyền thống tìm cách bấu víu vào các độc giả mà – trong suốt một thời gian dài qua – đã bị phân chia một cách không thoải mái và tốn kém giữa báo in và báo điện tử.

Đột phá 2.0: Newscasting

Tiếp theo là cuộc cạnh tranh video đang tăng tốc giữa các hãng tin truyền thống vốn đang phải vật lộn để theo kịp những tin tức phát trên điện thoại thông minh của các công ty chỉ tập trung vào nền tảng digital và tốn ít chi phí. Các kênh tin tức truyền hình toàn cầu sẽ vượt mặt hầu hết các tờ báo vốn đã bị bỏ lại phía sau do nhu cầu của người tiêu dùng cho video và thực tế ảo (sắp tới). Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của truyền hình theo yêu cầu sẽ giúp các kênh chỉ phát tin tức thu hút lượng lớn khán giả từng bị “khóa chân” bởi các bản tin của các kênh truyền hình nhắm vào số đông. Vì vậy, khán giả đại chúng muốn xem tin tức dạng video hay theo yêu cầu sẽ không quay lại với những nội dung kiểu báo ngày, dù là báo in hay báo điện tử. Nhưng tình hình sẽ còn tồi tệ hơn.

Đột phá về tin tức này có thể tăng tốc nhờ tốc độ tăng trưởng của các công nghệ kích hoạt bằng giọng nói như Echo của Amazon, Google Home và HomePod của Apple.

“Những chiếc loa thông minh” này đã bị chỉ trích nặng nề bởi ông chủ của WPP là Martin Sorrell, người coi chúng như mối đe dọa mới cho ngành quảng cáo.

Trên thực tế, chúng sẽ thách thức mọi kênh truyền thông. Echo và các đồng sự của nó sẽ sớm cung cấp mọi loại hình nội dung thay cho các thương hiệu truyền thông đã và đang bị thổi bay bởi truyền thông xã hội. Người tiêu dùng sẽ có thể lựa chọn các “dịch vụ đẩy tin” được lên lịch sẵn như tin tức khi thức dậy, podcast, tin thể thao và tin thời tiết qua các ứng dụng này. Âm nhạc cũng có thể được lồng ghép vào đây để tạo các kênh truyền thanh cá nhân hóa nhằm cạnh tranh với các nhà cung cấp truyền hình và phát thanh.

Những kiến thức mà Jeff Bezos học hỏi được từ Washington Post sẽ không bị lãng phí trong sự ra đời của truyền hình tin tức. Các nội dung âm thanh và hình ảnh theo yêu cầu có thể bóp chết tất cả, trừ những thương hiệu tin tức tốt nhất. Nhưng đột phá này sẽ không dừng lại ở đây.

Đột phá 3.0: Doanh nhân nhà báo

Giám đốc điều hành các tòa báo thường coi đây là nguy cơ đối với sự tồn vong của báo chí giá trị cao trước tình trạng sụt giảm của báo in. Nhưng tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các dịch vụ kỹ thuật số phi lợi nhuận – và thành công về việc tạo doanh thu từ độc giả của các tạp chí chính trị và báo chí “giải thích” kỹ thuật số – đang giúp chứng minh điều ngược lại.

Những công nghệ chi phí thấp và dễ sử dụng cùng khả năng tung hô ồn ào của truyền thông xã hội đang tạo ra một sự bùng nổ báo chí quy mô nhỏ, mang tính công dân và sản xuất tại gia. Tuy nhiên, sự bùng nổ sắp tới về blog chất lượng cao và báo chí miễn phí hoặc chi phí thấp sẽ tấn công các tòa báo lấy báo in làm trọng tâm từ chính những nguồn quen thuộc nhất: các nhà báo của họ.

Các công ty tin tức lâm vào tình cảnh bị vượt mặt bởi những đối thủ kỹ thuật số với đội ngũ kỹ thuật trẻ hơn và tinh gọn hơn. Dù đã cắt giảm chi phí trong những năm gần đây (với lượng tinh giản biên chế trung bình là 50%), hầu hết các tờ báo hàng ngày vẫn bị quá tải nhân viên. Doanh thu liên tục bị bóp nghẹt rốt cục sẽ buộc các tờ báo cắt giảm thêm nhiều nhà báo giàu kinh nghiệm và, kết quả là, đẩy họ đến với cuộc bùng nổ của các doanh nhân nhà báo. Blog, dịch vụ tin tức và email “đẩy thông tin” ở khắp mọi nơi thực tế sẽ được cấp vốn bởi chính các khoản chi phí nghỉ việc của các tờ báo. Các hãng tin lâu đời sẽ vô tình tài trợ cho chính những đối thủ tiếp theo của họ.

Kết quả là, tin tức sẽ trở thành một ngành kinh doanh ngày càng bị thu hẹp hơn so với hiện tại. Nhưng vẫn sẽ còn rất nhiều chỗ trong ngành này. Việc cung cấp tin tức độc lập – dù là ở tầm địa phương, quốc gia hay toàn cầu – sẽ không biến mất, ngay cả khi một số nhà cung cấp tin tức có tên tuổi nhất biến mất.

Không chỉ là cắt giảm chi phí

Đã tròn một thập kỷ từ khi cựu giáo sư đại học Harvard, Clark Gilbert, lần đầu hối thúc các công ty tách các hoạt động digital mới khỏi các hoạt động kinh doanh truyền thống của họ, trước khi đưa các lý thuyết “biến đổi kép” vào thực tế thành công tại Deseret Media. Gilbert đã chứng minh luận điểm rằng những dòng truyền thông mới và cũ tương đối khác biệt sẽ đòi hỏi những con người, kỹ năng, cấp độ đầu tư và – trong từng trường hợp – sự quản lý theo đuổi một mục đích duy nhất.

Điểm quan trọng cần rút ra là đòi hỏi về một kế hoạch mới, thay vì chỉ đơn thuần cải biên cái cũ. Cuộc tìm kiếm một mô hình kinh doanh mới đòi hỏi nhiều hơn là cắt giảm chi phí đơn thuần. Đương nhiên là như vậy.

Rõ ràng, những người có khả năng chiến thắng trong số các nhà xuất bản báo chí lớn sẽ là những người có được sự ủng hộ kiên định của các cổ đông dài hạn – và/hoặc các hoạt động kinh doanh khác để lấp đầy khoảng trống do lỗ doanh thu tin tức. Nổi bật trong số này sẽ là một nhóm những công ty gia đình hiện đang bận rộn số hóa để thoát khỏi các ngành kinh doanh báo in từng một thời giúp họ trở nên giàu có và quyền lực.

Hearst: Đột phá nào?

Công ty truyền thông đầu tiên trên thế giới này được thành lập cách đây 130 năm vào năm 1887 khi Randolph Hearst biến tòa báo San Francisco thành một công ty truyền thông với việc mua lại các tờ báo, tạp chí và đi tiên phong trong việc sản xuất phim và phim thời sự. 66 năm sau khi Randolph Hearst qua đời, công ty đã trở thành một hình mẫu hậu kỹ thuật số với hơn 360 hoạt động kinh doanh và 20.000 nhân viên ở 130 quốc gia. Từ một công ty từng chỉ được biết đến chủ yếu nhờ các tờ báo và tạp chí toàn cầu như Cosmopolitan, Hearst hiện đang kiếm được nhiều lợi nhuận hơn từ các công ty thông tin B2B (doanh nghiệp tới doanh nghiệp) đang phát triển nhanh chóng của mình.

Randolph Hearst
Randolph Hearst

Công ty tạo ra những dữ liệu, phân tích và phần mềm giá trị cao về các ngành chăm sóc sức khỏe, tài chính và ôtô trên toàn thế giới. Công ty lớn nhất thuộc Hearst là tập đoàn xếp hạng tín dụng Fitch với 80% sở hữu.

Tuy nhiên, Hearst vẫn kiếm được nhiều lợi nhuận từ truyền hình hơn bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, bao gồm doanh thu đáng kể từ cổ phần trong các doanh nghiệp được điều hành bởi các đối tác do chính công ty chọn lựa. Hearst có hơn 30 đài truyền hình như WCVB ở Boston và KCRA ở Sacramento, phủ sóng tới gần 20% các hộ gia đình ở Mỹ. Mạng lưới A+E Networks JV mà công ty thành lập từ lâu cùng Disney có các kênh truyền hình cáp như A+E, History, Lifetime, Crime & Investigation, Biography và Viceland của Vice Media.

Tuy nhiên, những khoản lãi cao từ truyền hình thường xuyên bị che khuất bởi 20% cổ phần của Hearst tại ESPN do Disney chủ quản đã từ lâu được xem là kênh thể thao trên truyền hình cáp thành công nhất thế giới. Trong vòng 25 năm qua, ESPN đã mang về rất nhiều tiền cho những chủ sở hữu của nó. Có những năm, kênh truyền hình này đã đóng góp 50% tổng lợi nhuận cho Hearst (vai trò này hiện do Fitch đảm trách khi bản thân ESPN cũng phải đối mặt với sự suy giảm).

Trong khi Hearst một lần nữa tăng cường nỗ lực tìm kiếm các ngành kinh doanh mới giúp thu lợi nhuận như tạp chí và truyền hình cáp từng làm được, chính sách đầu tư của công ty có thể chuyển dịch theo hướng mua lại Complex Media (với 50 triệu lượt khán giả và 300 triệu lượt xem video hàng tháng) qua một liên doanh giữa Hearst và nhà mạng băng thông rộng Verizon. Kể từ khoản đầu tư cách đây 21 năm vào Netscape từng một thời thống trị, Hearst đã trở thành một trong những tập đoàn đầu tư công nghệ truyền thông thành công nhất với hơn 1 tỷ USD đầu tư vào các công ty như BuzzFeed, Vice, HootSuite, Caavo, LiveSafe, Roku, Science Inc, LiveSafe, Stylus, Swirl, và MobiTV. Công ty có khả năng phát hiện ra những tài năng lớn theo nhiều cách khác nhau.

Ẩn giữa minh chứng sáng giá về truyền thông tăng trưởng cao là ngành kinh doanh báo in nguyên bản của Hearst, hiện có lợi nhuận thấp nhất so với các bộ phận truyền thông khác của công ty. Tuy nhiên, ngành kinh doanh được âm thầm tái đổi mới này vẫn đang làm tốt hơn hầu hết những công ty khác. Với hơn 4.000 nhân viên, Hearst xuất bản 17 tờ báo ngày và 57 tờ báo tuần ở các bang Texas, California và New York. Các dịch vụ kỹ thuật số tại địa phương cũng tăng trưởng trung bình 14% trong 4 năm qua và có hơn 30 triệu độc giả hằng tháng.

Tuy nhiên, thành tựu thực sự của hoạt động kinh doanh truyền thống này là việc Houston Chronicle đã trở thành một trong những tờ nhật báo sinh lợi nhất thế giới.

Những con số không được tiết lộ nhưng tờ nhật báo 115 năm tuổi có thể thu được khoản lợi nhuận hơn 60 triệu USD – tức là hơn 50% tổng lợi nhuận của trên 70 tờ báo thuộc Hearst.

Tờ báo lớn nhất Texas và lớn thứ sáu nước Mỹ đã phát triển thành công thành một công ty truyền thông với một danh mục các sản phẩm báo in và trực tuyến phục vụ cơ sở độc giả đa dạng ở Houston bằng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Houston Chronicle đã xây dựng thành công và duy trì vị thế dẫn đầu thị trường bằng cách xây dựng các ngành kinh doanh phân phối có thu phí cũng như miễn phí như sau:

  • Tờ nhật báo mũi nhọn có thu phí được hỗ trợ bởi các tuần báo địa phương và các phiên bản được các thương hiệu tài trợ.
  • Trang web miễn phí dẫn đầu thị trường (Chron) khác biệt với các trang thu phí dành cho người đăng ký đọc báo.

Hơn bất cứ điều gì khác, chiến dịch hai mặt trận là một cách gọn gàng (và rõ ràng nếu nghĩ kỹ) để vượt mặt các đối thủ chỉ tập trung số hóa trong khi xây dựng một sự hiện diện kỹ thuật số vững mạnh cho những độc giả đăng ký theo dõi với trang web thu phí (cùng 1 triệu người xem có trả tiền) làm cầu nối từ báo in đến báo điện tử.

Thành công của Houston Chronicle cực kỳ quan trọng với mảng báo chí của Hearst, mảng kinh doanh bất chấp vai trò suy giảm với công ty mẹ vẫn mang về lợi nhuận trong năm 2016 – năm thứ 5 liên tiếp làm ăn có lãi. Tổng doanh thu của Hearst Corp năm ngoái là khoảng 10.8 tỷ USD. Mặc dù doanh thu đó chỉ tăng 1% so với năm 2015, nhưng nó đã tăng 140% trong 10 năm qua. Ngay cả nhận thức rằng những con số này được nâng lên nhờ doanh thu từ 2 tỷ USD chi cho các thương vụ mua lại trong năm cũng giúp nhấn mạnh sức mạnh tái đổi mới của một tập đoàn truyền thông với lợi nhuận trước thuế hiện đạt hơn 1 tỷ USD. Trước tất cả những đột phá của các ngành kinh doanh báo in từng thống trị, sự linh hoạt của Hearst gần như không bỏ lỡ một nhịp nào.

News Corp: “ngành kinh doanh khác”

Rupert Murdoch là người thừa kế của Randolph Hearst với tư cách một chiến lược gia truyền thông toàn cầu đáng sợ. Nhưng còn hơn thế. Ông đã sử dụng những tờ báo từng bùng nổ ở Australia, Anh và Mỹ để xây dựng một tập đoàn khổng lồ trong lĩnh vực phim ảnh, sách, dịch vụ kỹ thuật số và truyền hình.

Hai công ty công của Murdoch, News Corp và 21st Century Fox, có tổng giá trị thị trường là 58 tỷ USD. Nhưng giá trị của News Corp chưa bằng một phần mười tổng giá trị của hai công ty, được gọi chung là News Corporation, tới khi tách ra năm 2013. Công ty hiện làm chủ nhà xuất bản sách Harper Collins, kênh truyền hình Foxtel Pay TV ở Australia, hoạt động phân phối phiếu giảm giá ở Mỹ, dịch vụ tin tức Dow Jones Newswires, báo Wall Street Journal, cùng các tờ nhật báo đô thị và quốc gia chủ yếu thua lỗ tại ba quốc gia cốt lõi.

News Corp có doanh thu khoảng 8 tỷ USD, bằng gần 25% doanh thu từ các tờ báo ở Australia, Anh và Mỹ. Nhưng lợi nhuận lại kể một câu chuyện khác. Những khoản lỗ của các tờ báo đã bị lu mờ trong các tài khoản kế toán của công ty nhờ lợi nhuận từ kinh doanh phiếu giảm giá ở Mỹ. Công ty này, cùng hoạt động kinh doanh truyền thông bất động sản kỹ thuật số (chủ yếu là REA ở Australia và Move Inc ở Mỹ) và xuất bản sách, đã mang lại toàn bộ lợi nhuận cho News Corp – cũng như toàn bộ tăng trưởng của công ty.

Những doanh nghiệp quyền lực này, nhất là doanh nghiệp truyền thông bất động sản (với doanh thu tăng 13% trong năm qua) đã chống đỡ cho những tờ báo nòng cốt, hiện đang bắt đầu thực hiện yêu cầu chuyển dịch sang đăng ký theo dõi kỹ thuật số:

  • Độc giả đăng ký đọc tờ Wall Street Journal hiện có 53% theo dõi phiên bản điện tử và đã tăng 44% trong năm qua lên trung bình 1,2 triệu người.
  • Số lượng độc giả đăng ký theo dõi phiên bản điện tử của các tờ báo ở Australia đã tăng 27%, đạt 333.400.
  • Sự chuyển đổi của tờ London Times sang 3 phiên bản hàng ngày đã đền đáp lại với lượng người xem trên ứng dụng điện thoại thông minh lên đến gần 40%. Tờ Times và Sunday Times hiện có 185.000 người đăng ký trả tiền cho phiên bản kỹ thuật số. Tờ Times hiện đang tung ra The Brief, một trang web cao cấp và các sự kiện dành cho các độc giả hợp pháp. Đây là tín hiệu cho việc mở rộng ra một lĩnh vực thu phí mà, trong tương lai, có thể thu hút các công ty truyền thông B2B nhắm tới các chuyên gia chính trị, văn hóa, bất động sản và bán lẻ.
  • Dịch vụ kỹ thuật số (hiện miễn phí) của The Sun đã đạt tới hơn 80 triệu người dùng toàn cầu trong tháng 3/2017 – tăng từ con số 36 triệu người. Tốc độ tăng trưởng này, cùng với vụ mua lại kênh phát thanh TalkSport ở Anh cho thấy The Sun có thể sớm đối đầu với BuzzFeed và Daily Mail Online.

News Corp chia sẻ hoạt động quản lý cấp cao của gia đình Murdoch với 21st Century Fox, nhưng News Corp là “ngành kinh doanh khác” của họ, và, bất chấp những tình cảm cá nhân của Rupert Murdoch, các tờ báo hiện đang giữ một vị trí chẳng mấy quan trọng với các con trai và những người thừa kế của ông.

New York Times: “Dịch vụ nào cũng phù hợp để thử nghiệm”

New York Times là cả một doanh nghiệp, thay vì một sự ưu tiên đang suy giảm trong một tập đoàn truyền thông. Do đó, nó phản ánh những gì có thể đạt được khi có một chủ sở hữu kiên nhẫn và tập trung.

Một tờ báo từng hoàn toàn được xuất bản dưới dạng báo in và thu hút hầu hết các độc giả mua báo ven đường ở Mỹ hiện nay có lượng độc giả đăng ký trả tiền theo dõi ngày càng vững mạnh ở mảng kỹ thuật số và trên toàn cầu. Công ty hiện có 3,2 triệu độc giả đăng ký (trong đó có 2,2 triệu người đăng ký phiên bản báo điện tử) đã thu về doanh thu 399 triệu USD trong quý I năm 2017, với con số ấn tượng là 400.000 người theo dõi câu đố giải ô chữ hàng ngày.

Arthur Ochs Sulzberger, cổ đông lớn thuộc thế hệ thứ ba trong gia đình sở hữu tờ báo đã chia sẻ với tạp chí Wired về kế hoạch biến hoạt động đăng ký theo dõi phiên bản kỹ thuật số thành động lực chính của một doanh nghiệp tỷ đô, được truyền cảm hứng từ Netflix và Spotify.

Công ty đầu tư vào hoạt động báo chí cốt lõi, đồng thời bổ sung thêm các dịch vụ và tính năng trực tuyến mới (từ những lời khuyên rèn luyện thân thể được cá nhân hóa và robot tin tức tương tác tới những bộ phim thực tế ảo) để việc đăng ký theo dõi trở thành một phần không thể thiếu với các độc giả trả tiền ở Mỹ và trên toàn thế giới.

Những cột mốc của công ty rất ấn tượng:

  • Trong quý I năm nay, đã có thêm 308.000 lượt đăng ký theo dõi tin tức chỉ trên phiên bản kỹ thuật số. Doanh thu phát hành từ các đăng ký theo dõi chỉ trên phiên bản kỹ thuật số đã tăng 40% lên 75,8 triệu USD. Trang tin tức trực tuyến của công ty thu hút khoảng 90 triệu lượt độc giả hàng tháng.
  • “The Daily”, kênh podcast hàng ngày sáng giá của tờ báo, ra mắt hồi tháng Hai hiện đã có hơn 27 triệu lượt tải về và streaming, và đang trên đà vượt mức 100 triệu trong năm nay. Nhiều người kỳ vọng vào sự ra đời của một phiên bản về kinh doanh của kênh podcast này trong năm 2017.
  • Tờ New York Times hiện có 13 triệu người đăng ký nhận tin qua email – tăng gấp đôi trong vòng 3 năm, nhờ sự hậu thuẫn của không dưới 50 thư tin tức (newsletter) thuộc nhiều chủ đề được “đẩy” tới những người đăng ký. Những người đăng ký thư tin tức cũng có gấp đôi khả năng trở thành độc giả đăng ký trả tiền so với các độc giả thường xuyên, và số câu chuyện tin tức họ đọc hàng tháng cũng nhiều gấp đôi so với các độc giả trung bình.
  • Tờ báo này sắp tung ra sản phẩm thu phí lớn tiếp theo của mình: Cooking, một ứng dụng và trang web miễn phí tính đến nay đã tròn ba tuổi và hiện có 10 triệu lượt độc giả hàng tháng. Độc giả có thể nhận được 10 câu chuyện miễn phí hàng tháng trước khi phải móc hầu bao. Chỉ một phần nhỏ trong ngân hàng 17.000 công thức và tin bài của Cooking sẽ được cung cấp miễn phí, và độc giả cũng sẽ phải trả phí cho tính năng tiết kiệm thời gian là “Your Recipe Box” (Hộp công thức của bạn).

Nhiều tờ báo (không chỉ ở Mỹ) đã hưởng lợi từ sự gia tăng số lượng độc giả nhờ những bình luận gần như là hàng ngày của tổng thống Trump, mỉa mai thay lại chính là người chỉ trích họ nặng nề nhất. Những dòng tweet và phát ngôn của ông Trump đã tạo ra lưu lượng truy cập tin tức vô cùng lớn. Chúng giúp tờ New York Times xây dựng một lực lượng độc giả trực tuyến toàn cầu, cùng với phiên bản báo in (trước đây được biết đến với tên gọi International Herald Tribune).

Nhưng những cải tiến này cho thấy tờ báo khổ lớn yêu thích của New York đang nhanh chóng chứng tỏ rằng họ không chỉ đơn thuần là một nhà cung cấp tin tức. Khẩu hiệu lịch sử của tờ báo, “Mọi tin tức phù hợp với báo in” có thể sẽ trở thành “Dịch vụ nào cũng phù hợp để thử nghiệm.”