Một ngày Hè 2006 oi ả tại Trung tâm đào tạo bóng đá trẻ Hải Dương. Trên sân tập, có một đứa nhóc đang đứng gãi đầu. Nó là đứa bé nhỏ nhất, gầy gò nhất trên sân. Nó đang suy nghĩ. Bên kia sân là đối thủ – một đứa bé to con. Trước khi ra sân tập, thằng bé kia đã nhắc đi nhắc lại: “Nếu còn dắt bóng qua người, tối về phòng sẽ cho ăn đòn.”
Đứa nhỏ gày gò biết, thằng bé kia không nói chơi vì chuyện này đã diễn ra nhiều lần. Dù vậy, nó vẫn làm. Ông trời đã cho thằng nhóc nhỏ bé một đôi chân nhanh như sóc. Nó chạy qua cả đội đối phương, chạy qua thằng bé béo. Đôi chân nó tự nhấc lên khỏi mặt đất, vượt qua mọi nỗi sợ hãi. Nó lại ghi bàn rồi. Nó quay lại và nhìn thấy thằng bé béo đứng cắn môi, hằn học giơ nắm đấm làm dấu. Tối hôm đó, nó lại ăn đòn. Đó là một mảnh ký ức đã lặp đi lặp lại suốt những năm tháng thơ ấu của cậu bé gày gò ở Hải Dương. Nói về đứa con trai yêu dấu, ông Nguyễn Văn Tạo hồi tưởng: “Ngày ấy, Toàn còn bé lắm và bị thằng kia bắt nạt suốt. Lúc đi tập, Toàn cứ cầm bóng đi qua là nó đánh. Buổi tối, các thầy rời khỏi là nó đánh, đánh vì thằng Toàn dám đi bóng qua nó.” “Nó còn lấy hết tiền của thằng Toàn mà thằng này về nhà không dám kể lại. Thằng kia lấy của Toàn nhiều tiền đến nỗi nó có đủ tiền gửi lại cho bố mẹ. Mãi sau này, chúng tôi thấy Toàn hết tiền thì hỏi dồn. Lúc đó, cu cậu mới chịu nói.”
Văn Toàn (giữa) đoạt cú đúp Cầu thủ xuất sắc nhất và Vua phá lưới Giải U11 quốc gia 2007. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Người cha không giấu được niềm hạnh phúc khi kể về cậu con trai của mình. Văn Toàn là niềm tự hào của ông. Cậu cũng là niềm tự hào của cả mảnh đất Thạch Khôi (Hải Dương) này. Chính Thạch Khôi đã chứng kiến những bước chập chững đầu tiên của chàng tiền đạo này. Bản thân ông Tạo vốn là một cầu thủ nghiệp dư, từng lăn lộn khắp các sân bóng địa phương. Văn Toàn thừa hưởng tình yêu trái bóng từ cha. Suốt những ngày thơ ấu, ông Tạo đã dắt Toàn theo trong mỗi trận đấu. Bố đá bóng, con ngồi xem. Sau trận, bố uống bia, con tu nước ngọt. Nhiều năm sau này, khi nhắc lại kỷ niệm cũ, Văn Toàn cười bảo: “Bố tôi ngày xưa chỉ đá nhì nhằng.” Năm 2005, lúc lên 9 tuổi, Văn Toàn cùng đội nhi đồng Thạch Khôi vô địch giải huyện Gia Lộc. Huấn luyện viên Trần Hữu Hùng của Trung tâm bóng đá Hải Dương về tận nhà xin cho Văn Toàn lên tỉnh tập. Cả gia đình chia làm hai phe. Bố Tạo ủng hộ còn ông bà phản đối. Những ngày ấy, mỗi khi đi học về, Toàn đều hỏi: “Hôm nay có ai tới đón con không?” Ông Tạo gắng thuyết phục: “Thôi con ạ, con còn bé quá, đi làm sao được.”
Ông Nguyễn Văn Tạo (áo vest) là người có ảnh hưởng lớn nhất tới việc lựa chọn sự nghiệp của Văn Toàn.(Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Cậu bé 9 tuổi không thể cãi lại lời cha, cậu ngồi thụp xuống khóc. Thế rồi cả gia đình cũng phải đồng ý. Văn Toàn chuyển lên thị xã. Khoảng cách từ nhà tới trung tâm chỉ vài cây số nhưng với Toàn, đó là hai thế giới. Những ngày đầu tiên, Toàn khóc rất nhiều. Ngày ấy, bóng đá trẻ Hải Dương chưa phải là một thế lực như bây giờ. Bóng đá trẻ Hải Dương mới được xây dựng lại dựa trên nhiệt huyết của Giám đốc Vũ Đình Thịnh. Cậu bé 9 tuổi Văn Toàn là hạt nhân của kế hoạch ấy. Năm 2007, U11 Hải Dương vô địch quốc gia lần đầu tiên.
Những chương tiếp theo của bóng đá Hải Dương đã trở thành lịch sử. Họ vào tới bảy trận chung kết U11 quốc gia, vô địch bốn lần trong chín năm kế tiếp. Lò đào tạo này cũng chính là nơi sản sinh những Văn Thanh, Trọng Đại, Hoàng Đức – các tuyển thủ quốc gia và tuyển thủ U20 Việt Nam tại World Cup 2017.
Sân Quân khu 7 một ngày giữa năm 2007, tại vòng bán kết Giải U11 quốc gia, những nhà tuyển trạch của Viettel đang dán mắt vào một cậu bé áo trắng, mang áo số 9. Giải đấu ấy, Văn Toàn giành giải Vua phá lưới và Cầu thủ hay nhất. Khi trận bán kết còn đang diễn ra, đại diện Viettel đã gọi cho ông Tạo lúc ấy đang ở Hà Nội. Nhưng họ đã chậm chân.
Văn Toàn (thứ tư từ phải sang) cùng dàn cầu thủ khóa I học viện Hoàng Anh Gia Lai JMG hồi năm 2007. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Cũng trên sân Quân khu 7 hôm ấy, ở một góc khác, Giám đốc điều hành Huỳnh Mau và ông Nguyễn Văn Vinh đang lặng lẽ quan sát. Họ tới từ Hoàng Anh Gia Lai và đang đi tìm những “hạt giống đỏ” cho lứa cầu thủ mà sau này, người Việt Nam nào cũng biết tới. Họ bị thôi miên bởi những cậu bé Hải Dương và đã tiếp cận mẹ Văn Toàn từ trước đấy. Rất nhiều lò đào tạo đã có mặt trong trận đấu đó. Ai cũng muốn sở hữu những “hòn ngọc thô” của Hải Dương. Năm 2007 cũng là khoảng thời gian nhạy cảm với sự nghiệp của Văn Toàn. Mọi bậc cha mẹ có con chơi bóng ở Hải Dương đều biết rằng lò đào tạo này không có lứa U11. Những đứa trẻ Hải Dương ở giải U11 quốc gia biết rằng chúng phải thể hiện thật tốt để thuyết phục một lò đào tạo khác nhận mình. Nếu không, chúng phải giải nghệ. Trước giải, ông Tạo từng tới lò Hà Nội ACB và Viettel nhưng không nơi nào đồng ý nhận Toàn. Nhưng sau 40 phút ở sân bóng Quân khu 7, tương lai của Văn Toàn đã được định đoạt.
Ở tuổi 21, Văn Toàn là ngôi sao của Hoàng Anh Gia Lai, đá chính ở tuyển quốc gia. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Trở về từ miền Nam, các cầu thủ nhí được tổ chức lễ mừng công trong nhà thi đấu tỉnh. Cùng lúc đó, ở bên ngoài, ông Nguyễn Văn Vinh đã chờ sẵn. “Kiến trúc sư trưởng” của lò Hoàng Anh Gia Lai Arsenal JMG nhận lệnh bầu Đức trực tiếp xuống Hải Dương. Ông Vinh trao 200 triệu cho phía Hải Dương để thu nhận ngay lập tức 4 cầu thủ trẻ. Văn Toàn là một trong số đó. Bốn cậu bé ấy là những cái tên hiếm hoi được tuyển thẳng vào lò đào tạo JMG. Những năm tháng “đội sổ” Suất đặc cách hóa ra không giúp gì nhiều cho Văn Toàn. Phải cạnh tranh với những Công Phượng, Tuấn Anh, Xuân Trường, Đông Triều… Văn Toàn đuối sức nhanh chóng. Những danh hiệu ở tuổi 11 càng tạo thêm áp lực cho Toàn. Hệ thống đào tạo của JMG ưu tiên kỹ thuật, sự khéo léo trong khi tốc độ và sự lắt léo của Toàn chỉ thực sự hữu dụng trong thực đấu. Trước Toàn, một cầu thủ Hải Dương khác là Văn Anh cũng bị loại khỏi lò JMG. Văn Toàn sau đó bị đẩy xuống tập với khóa hai. Cuộc sống ở phố núi với Toàn không hề dễ dàng.
Những màn trình diễn của Văn Toàn trong màu áo Hoàng Anh Gia Lai và tuyển quốc gia. (Nguồn: KajihuFootball)
Những năm tháng ấy, Toàn luôn nằm trong nhóm cầu thủ “đội sổ”. Chỉ cần một chút ngã lòng, Toàn sẽ bị loại và sớm kết thúc sự nghiệp bóng đá. Cậu bé Hải Dương luôn phải nỗ lực nhiều hơn mọi người. Những năm tháng ấy đã làm nên Văn Toàn của ngày hôm nay. Nhìn Toàn thi đấu, chúng ta thấy dấu ấn của sự quyết tâm vẫn còn in hằn. Có tất cả ở tuổi 21? 6 năm ở Gia Lai trôi qua nhanh như một giấc mơ. Tháng 9/2013, khóa I của lò Hoàng Anh Gia Lai Arsenal JMG chính thức “hạ sơn” trong màu áo U19 Việt Nam. Giải U19 Đông Nam Á năm ấy, U19 Việt Nam vào tới chung kết còn Văn Toàn giành danh hiệu Vua phá lưới. Từ đó tới nay, Toàn không còn ngoảnh lại. Năm 2014, anh dự Giải U19 châu Á. Năm 2015, anh cùng đồng đội lên V-League. Năm 2016, Văn Toàn được gọi vào đội tuyển và giờ là trụ cột không thể thay thế ở biên phải. Ở tuổi 21, Văn Toàn là cái tên trẻ nhất chắc suất đá chính tại tuyển Việt Nam. Toàn đã có tất cả những gì anh muốn? Không. Khi đã giành được suất đá chính, Toàn lại phải đối mặt với một cuộc chiến khác.
Thống kê những chuỗi trận không ghi bàn của Văn Toàn trong ba mùa giải V-League từ 2015 tới 2017. (Đồ họa: Hiếu Lương)
V-League 2016, Văn Toàn trải qua 1.500 phút “tịt ngòi”. 17 vòng đấu không ghi bàn với một chân sút là thống kê quá thất vọng. Đến mùa giải 2017, anh tiếp tục có thêm 1.000 phút không bàn thắng. Bàn thắng, đó luôn là nỗi ám ảnh với các chân sút. Với Văn Toàn, nỗi ám ảnh ấy còn mạnh mẽ gấp bội. Nghịch lý là Toàn vẫn chơi rất tốt, vẫn có các tình huống đi bóng, kiến tạo, vẫn khiến khán giả ồ lên thích thú, vẫn khiến các chuyên gia phải gật đầu thừa nhận. Chỉ có bàn thắng là “ngoảnh mặt” với anh. 57 trận trên mọi đấu trường cùng Hoàng Anh Gia Lai, Toàn chỉ có 10 bàn (0,17 bàn/trận). 12 trận V-League mùa này, Toàn chơi đủ 90 phút, không bị thay ra một lần. Vẫn không có bàn thắng. Đá chính tại AFF Cup 2016 cùng tuyển Việt Nam, tiếp tục không ghi bàn. Không huấn luyện viên nào có thể kiên nhẫn với Toàn thêm nữa. Khởi nghiệp trong vai trò tiền đạo cắm, Toàn dần đánh mất vị trí ở cả đội tuyển và câu lạc bộ. Khi những Công Phượng, Đức Chinh từng bước khẳng định mình ở trung tâm, Toàn bị đẩy dạt ra cánh. Vốn là một tay săn bàn, Toàn giờ phải hài lòng với vị trí người kiến tạo. Từ kép chính, Toàn tập làm kép phụ. Anh lùi khỏi trung tâm sân khấu, nhường chỗ cho người khác, cách xa ánh đèn chính và những lời ca tụng. 21 tuổi, Toàn vẫn còn cả một cuộc chiến ở phía trước./.
Văn Toàn và Công Phượng là đôi bạn thân, là đồng đội từ những ngày còn thơ ấu. (Đồ họa: Hiếu Lương)
Gã trung niên với nước da ngăm đen ngồi tựa lưng vào bức tường vàng tróc sơn, loang lổ, ố màu thời gian tại một quán càphê cũ kỹ trên con phố Triệu Việt Vương (Hà Nội). Thi thoảng, gã nhấp một ngụm càphê sánh đậm, rồi rít một hơi thuốc lá, từ từ nhả khói. Đôi mắt gã mơ màng, chậm rãi nhìn dòng xe cộ di chuyển trước mặt qua làn khói thuốc.
Đôi lúc, gã bỗng rướn người lên rồi bất ngờ thả lỏng, để đôi vai đập vào bức tường phía sau. Có vẻ như, gã đang cố nén tiếng thở dài…
Đi nhanh, sống chậm
Sau một thoáng ngạc nhiên vì bỗng dưng có người khách lạ bất ngờ bắt chuyện, gã trung niên (sống ở phố Lò Đúc, Hà Nội) ấy bảo: “Ồ, tôi có nghĩ gì đâu nhỉ? Không lẽ, nhìn mặt tôi căng thẳng đến thế ư?”
Nói rồi, Thành Trung – tên gã trung niên, cười phá lên. Trung bảo, mỗi ngày của gã đều bắt đầu bằng một cữ càphê, mà phải là càphê vỉa hè – không nến, không hoa, không ánh đèn nhấp nháy hay tiếng nhạc cầu kỳ…
Với gã, “đi càphê” không chỉ là để thưởng thức hương vị của loại thức uống đặc biệt này, mà còn để tận hưởng cảm giác thư thái, ngắm nhìn cuộc sống xung quanh. Nói khác đi, đó là cách để gã tạm tách mình khỏi những ràng buộc lỉnh kỉnh của các mối quan hệ, để đầu óc trống rỗng, cơ thể được thả lỏng, chuẩn bị cho những ngược xuôi bươn chải của cuộc sống thường nhật.
Nếu thích hít thở không khí thoáng đãng, gã sẽ đến càphê vỉa hè Nguyễn Du, Lý Thường Kiệt… Hôm nào thích đông vui, nhộn nhịp, Đông-Tây hội ngộ, gã sẽ đến “ngã tư quốc tế” Tạ Hiện. Khi muốn kiếm tìm lại hương vị càphê truyền thống, Trung sẽ ghé qua phố Hàng Hành, Hàng Gai… Cũng có lúc, muốn thả hồn, lặng ngắm sự đồng hiện của những yếu tố cũ-mới trong đời sống đô thị, ngẫm ngợi về sự chảy trôi của thời gian, Trung sẽ tìm đến những quán càphê vỉa hè trên phố Triệu Việt Vương…
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
“Tin tôi đi, với những kẻ thường xuyên lang thang càphê vỉa hè Hà Nội, bên cạnh việc ‘nghiện’ loại đồ uống này, hay đơn giản chỉ là để tỉnh táo hơn trước giờ làm thì còn một lý do rất quan trọng là: coi đây như một thú vui, một thói quen hàng ngày,” Trung quả quyết.
Lắng lại chừng vài phút, gã trung niên tự nhận mình là tín đồ của càphê vỉa hè ấy hào hứng bảo: “Này nhé, chỉ cần bỏ ra khoảng hai chục ngàn đồng (hoặc hơn một chút, tùy quán), bạn có thể ngồi từ sáng đến trưa, hay thậm chí bất cứ lúc nào trong ngày. Ngồi làm gì ư? Cuộc sống này thiếu gì chuyện cần ngồi vỉa hè mà giải quyết: nào thì bàn công việc với đối tác, tán chuyện với bạn bè hay đơn thuần là mua sự tự do cho bản thân – ngồi một mình ngẫm ngợi sự đời hoặc tự cho mình những giờ phút buông bỏ mọi trách nhiệm, muộn phiền, tự cho mình cái quyền được mặc kệ mọi thứ trôi qua trước mắt, gạt sang một bên mọi hỉ-nộ-ái-ố.”
Ngoài kia, người ta có thể đi rất nhanh; nhưng khi dừng chân ở những quán càphê là lúc con người sống chậm lại. Một anh chàng đi chiếc xe máy cà tàng có thể ái ngại nếu bước vào một quán càphê sang trọng nhưng sẽ chẳng có chút mảy may e dè khi tạt vào một quán càphê vỉa hè. Anh ta có thể “hiên ngang” sánh bước cùng một anh bước xuống từ chiếc xế hộp bạc tỷ khi cùng đi vào cái quán ấy.
Họa sỹ Lê Thiết Cương, gã thị dân chính hiệu, người luôn đau đáu với việc giữ hồn phố cổ bảo: “Hà thành thú vị là thế đấy! Càphê vỉa hè – ‘đặc sản’ của một đô thị đang trong quá trình sinh dưỡng với cả những lộn xộn của công cuộc giao thoa cũ-mới, Đông-Tây đã trở thành một ‘không gian văn hóa’.”
Càphê ở đây thường đậm vị, thơm nồng và ngấm sâu, nằm trọn trong những quán nhỏ khu biệt, thậm chí là chật chội… Thực khách cũng thường mang dáng vẻ ung dung, chậm rãi…
Càphê ở đây thường đậm vị, thơm nồng và ngấm sâu, nằm trọn trong những quán nhỏ khu biệt, thậm chí là chật chội… Thực khách cũng thường mang dáng vẻ ung dung, chậm rãi…
Đôi khi, chỉ cần ngửi mùi thơm nồng (phảng phất chút hơi khét) tỏa ra từ ly càphê đặc sánh đã đủ thấy đầu óc tỉnh táo, nhẹ bẫng và thư thái. Ly càphê đen đúng chất Hà Nội xưa sẽ sóng sánh đặc – một màu đen huyền bí với những giọt càphê bám nơi thành cốc, chậm chạp chảy xuống đáy cốc, tạo nên một cảnh tượng loang lổ… Thời gian như ngưng đọng. Khi uống, ban đầu sẽ là cảm giác đắng nơi đầu lưỡi. Vào đến cổ họng, những giọt đắng ấy ngấm sâu một cách từ từ, tạo thành vị ngọt đắng khó quên.
Nói đến càphê vỉa hè Hà Nội, người ta không thể quên được món càphê trứng độc đáo – loại thức uống không chỉ khiến dân Hà thành bị hút hồn mà còn làm du khách (đặc biệt là những “ông Tây, bà đầm”) mê mẩn.
Trứng được đánh bông. Càphê sau khi lọc qua phin được đổ thẳng vào cốc, khiến cho trứng nổi lên trên. Bọt kem trứng màu vàng hòa lẫn với càphê đen sánh tạo thành tạo thành thứ “hỗn hợp” màu vàng nâu sóng sánh. Mùi thơm, vị đắng của càphê quyện cùng sự béo ngậy, sền sệt của kem trứng tạo thành thứ hương vị nồng đượm.
“Với kiểu càphê ấy, sao người uống có thể vội vã? Tôi tin, chính điều này góp phần không nhỏ làm nên nét riêng cho càphê vỉa hè Hà Nội. Nó khác với kiểu pha loãng (như một dạng đồ ăn take-away) trong những không gian rộng, có phần dàn trải ở những quán càphê Sài Gòn,” gã họa sỹ vốn nổi tiếng cả về tài và độ “dị” ấy nói.
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
Khi càphê không chỉ là những giọt đắng
Dân nghiền càphê ở Hà Nội vẫn truyền tai nhau câu chuyện về sự du nhập của càphê vào đời sống thị dân nơi đây, để dần dần, việc uống càphê trở thành một thói quen và hiện diện như một nét văn hóa độc đáo trong nhịp sống đương đại. Người Hà Nội bắt đầu uống càphê từ thời Pháp thuộc.
Phía sau đó là cả một dòng chảy nối dài liên tục về những phận đời, kiếp người với cả nước mắt-nụ cười, hạnh phúc-khổ đau, sum họp-biệt ly, sự hình thành-lớn mạnh và mai một dần của một số thương hiệu càphê gia đình…
Chính những câu chuyện ấy đã làm nên trạng thái sống, sự sâu lắng cho càphê vỉa hè Hà Nội. Nếu không có những câu chuyện, con người ấy thì đó cũng chỉ đơn thuần là những quán xá với những vỉa hè, bàn ghế, cốc chén… vô hồn như bao quán xá khác.
Lịch sử càphê vỉa hè cũng là một phần sinh động của lịch sử phố phường nơi đây. Nửa đầu thế kỷ 20, khi người Pháp bắt đầu quy hoạch những khu kiến trúc Pháp đầu tiên, trong xã hội Việt đã hình thành một tầng lớp viên chức, thị dân bản xứ thì cũng là lúc bắt đầu xuất hiện những tiệm càphê đầu tiên.
Theo thời gian, loại đồ uống đầy xa lạ này dần trở thành một thứ không thể thiếu trong đời sống thị dân Hà Nội, mà như Nguyễn Việt Hà – một gương mặt nổi bật của văn chương đương đại đã viết: “Bọn trung niên thập thành của phố đã quen chống lạnh bằng cữ càphê sáng. Nói như gã thi sỹ gầy gò phố Hàng Bún, khách nghiện ‘nâu trứng’ ở càphê Giảng Hàng Gai, thiếu gái còn chịu được chứ không thiếu được càphê. Một thành phố rêu phong đáng trọng phải là một thành phố có vài hiệu sách cũ, nơi đám sinh viên trong trắng lê la ngồi đọc ‘cọp.’ Phải có những gánh hàng rong vỉa hè mẹ truyền con nối, chiều muộn đông nghịt chị em xúm xít ăn. Và đương nhiên phải có những quán càphê luôn thấp thoáng những bóng trung niên con đẻ của thị thành mặc vét, nhẩn nha nhả khói.”
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
Càphê – “mùi đời”
“Hồn” là vậy, còn “xác” thì sao? Ở Hà Nội, mỗi quán một kiểu thiết kế (hiện đại xen lẫn cổ điển, sang trọng nằm cạnh bình dân, “bụi bặm” sát bên hoa lệ…), mỗi quán một chất (từ hương vị đến chỗ ngồi).
Càphê vỉa hè đậm… “mùi đời!” Vỉa hè được tận dụng tối đa. Những hàng ghế ken đặc vào nhau, người ngồi san sát. Ở đó, người ta thoải mái nói cười mà chẳng mấy bận tâm đến âm lượng to nhỏ, thản nhiên nhả khói thuốc mà ít khi phải để ý xem, mình có đang làm phiền người xung quanh không. Khách của những quán càphê vỉa hè cũng thật đa dạng: từ thanh niên đến trung niên, người cao tuổi. Ở đó, có cả phụ nữ, đàn ông; học sinh, sinh viên, dân công sở lẫn kẻ thất nghiệp…
Có thể hình dung những quán càphê vỉa hè như những sàn diễn thời trang thu nhỏ với đủ mọi phong cách, kiểu dáng trang phục.
Có thể hình dung những quán càphê vỉa hè như những sàn diễn thời trang thu nhỏ với đủ mọi phong cách, kiểu dáng trang phục: góc này là một chị ăn mặc rất điệu đà, váy áo thướt tha, đôi mắt mơ màng nhìn đường phố; góc kia lại là một anh ăn mặc đầy bụi bặm – quần dằn di, áo in hình đại bàng, hợp “tông” với những hình xăm trổ to trên cánh tay và đôi mắt gườm gườm; hay ở một góc khác lại là một nhóm thanh niên ăn mặc trẻ trung với áo phông, quần bò mài…
Ồn ào, chật chội… Ấy vậy mà hầu như chẳng thấy ai kêu ca, than phiền về điều ấy. Họ vẫn mặc nhiên nói chuyện hay mải miết lướt điện thoại, máy tính bảng bên trên những chiếc ghế nhựa màu xanh, đỏ, những chiếc ghế mây đơn sơ hay cầu kỳ hơn là những chiếc ghế gỗ…
Thế kỷ trước, nhắc đến càphê Hà Nội, ta không thể bỏ qua những cái tên như: Nhân, Nhĩ, Dĩ, Giảng, Năng… Ngày nay, dẫu không hẳn là câu chuyện “vang bóng một thời” nhưng những quán ấy cũng rẽ đôi ba nhánh, cư ngụ ở những con phố tấp nập của Thủ đô.
Đồng thời, những nơi ấy cũng thường chỉ còn là sự lựa chọn của một nhóm nhỏ thực khách – thường là trung niên cần tìm sự tĩnh lặng, nhâm nhi ly càphê đậm-đắng-thơm và đôi khi là cả mùi khét rất đặc trưng với sự hoài niệm về quá khứ…
(Ảnh: Lê Minh Sơn/VietnamPlus)
Nhiều quán càphê theo phong cách hoài cổ mọc lên như nấm sau mưa; nhưng sao có thể thay được những Đinh, Lâm, Nhĩ, Giảng… Những góc quán ấy, là hiện thân của lịch sử càphê Hà Nội. Mùi ẩm mốc, vẻ cũ kỹ với những bức tường loang lổ, tróc sơn, thậm chí vẻ uể oải, già nua trong phong cách phục vụ… đã ăn sâu vào tâm thức những kẻ nghiện càphê phố cổ.
Giữa sự tấp nập, ồn ã của nhịp sống đương đại, chúng hiện hữu với vẻ trầm mặc, đầy suy tưởng, chiêm nghiệm như những bức tranh phố Phái. Ánh sáng từ những bóng đèn đỏ giản đơn, những bức ảnh đen trắng, những bức họa 36 phố phường được lồng trong những chiếc khung gỗ giản dị… khiến những nơi ấy như “lạc nhịp” giữa những âm điệu rộn rã của phố phường.
Mùi ẩm mốc, vẻ cũ kỹ với những bức tường loang lổ, tróc sơn, thậm chí vẻ uể oải, già nua trong phong cách phục vụ… đã ăn sâu vào tâm thức những kẻ nghiện càphê phố cổ.
“Những gã bạn tôi nguyện thủy chung với càphê Đinh ngoài việc mê hương vị càphê trứng thì còn có một lý do nữa: tiếc nuối, say mê cái cầu thang cũ kỹ, tối om dẫn lên ban công chật chội nhìn ra Bờ Hồ. Mới nghe thì thấy lãng nhách, nửa mùa lắm đúng không? Nhưng đó mới là cái phần sâu lắng của càphê Hà Nội, sự góc cạnh của những kẻ vẫn vênh vang hiểu biết về phố phường Hà Nội,” Thành Trung nói, rồi gã nháy mắt đầy tinh quái.
Ngày nay, càphê được pha chế theo nhiều vị cầu kỳ. Thế nhưng, với dân càphê vỉa hè thì yêu cầu cũng đơn giản hơn, thường chỉ gói gọn trong “nâu” hoặc “đen.” Thậm chí, các quán càphê vỉa hè còn kiêm luôn chức năng quán giải khát với việc phục vụ những thứ đồ uống khác như nước cam, nước chanh…
“Lý do cũng đơn giản thôi mà! Khách đến quán càphê không phải ai cũng thích uống càphê. Họ đến chỉ vì muốn hưởng cái không khí phố phường, quán xá hay muốn tìm một chỗ để ngồi, để ‘chém gió.’ Cũng có khi, họ đi cùng những người thích càphê nhưng lại không nỡ ép bản thân theo cái sở thích của người khác… Vậy là, họ gọi một cốc nước hoa quả, một đĩa hướng dương… Có cầu thì có cung thôi,” chị Thu Hòa, chủ một quán càphê vỉa hè trên phố Lý Thường Kiệt vui vẻ nói./.
Bài viết này nằm trong loạt bài đặc biệt của ESPN về tương lai của cá cược thể thao tập trung vào thị trường tiềm năng, người cá cược, những cạm bẫy nhất định và ảo tưởng về thế hệ tiếp theo. Bài này nêu lên những hình thức lừa đảo đang xuất hiện trong cá cược – những trận đấu “ma”, những người săn dữ liệu thiếu trung thực, những tờ giấy khai sinh giả và những “con rối” trên mạng – cùng với những nỗ lực trên toàn cầu nhằm chiến đấu chống hiện tượng này.
Với mái tóc vàng, đôi mắt xanh và dáng người cao lớn – chưa kể tới giọng Đức rất nặng – Marcel Franke là một bất ngờ trong hàng ngũ những cầu thủ được triệu tập vào đội tuyển bóng đá quốc gia Timor-Leste ở Đông Nam Á.
Dù nhìn nhận như thế nào, quốc gia bán đảo nói tiếng Bồ Đào Nha nằm trên quần đảo Indonesia này vẫn khác xa nước Đức, vốn là quê hương của Franke. Ngay cả với mạng lưới tuyển mộ đã được cải thiện, phát hiện được đủ loại “ngọc trong đá”, sự xuất hiện của Franke vẫn là một điều gì đó không phù hợp. Tuy vậy, theo một danh sách đội hình rò rỉ trên mạng trước thềm 2 trận đấu loại World Cup vào cuối năm 2015, Franke đã được chuẩn bị sẵn sàng để ra sân thi đấu cho tuyển Timor-Leste.
Vấn đề duy nhất là tất cả những điều này đều là giả.
Vào đầu năm nay, một cuộc điều tra của Liên đoàn Bóng đá châu Á đã phát hiện Hiệp hội Bóng đá Timor-Leste đã sử dụng giấy tờ khai sinh giả để tập hợp thành một đội bóng. Nhiều cầu thủ có liên quan đến từ Brazil, và một số người còn có hộ chiếu giả. Interpol đã bắt đầu vào cuộc.
Nhưng Franke, một hậu vệ trung tâm của đội SpVgg Greuther Fürth thuộc giải hạng hai của Đức, lại chẳng hay biết gì khi tên anh xuất hiện trong danh sách bị rò rỉ ấy. Lý do đã được làm rõ vài tuần sau đó: Danh sách rò rỉ là giả, và Franke chỉ đơn giản là xui xẻo khi có tên trong đó. Nhưng Franke hoàn toàn không phải là người duy nhất. Những tài khoản mạng xã hội giả mạo khác đã xuất hiện như một dạng trò chơi “đập chuột chũi”, khiến nhiều cầu thủ và đội tuyển trong khu vực mắc bẫy.
Marcel Franke, hậu vệ trung tâm của đội SpVgg Greuther Fürth thuộc giải hạng hai của Đức (Ảnh: Bild)
Đó chỉ là một trò đùa giả mạo danh tính tai hại, hay đó là một phần của điều gì đó đen tối hơn, chẳng hạn như một chiến dịch tin tức giả cho một vụ lừa đảo cá cược?
“Điều mà nó cho thấy là tầm quan trọng của dữ liệu và sự nổi lên của tội phạm mạng khi nói tới nạn tham nhũng hay lừa đảo trong thể thao,” Jake Marsh thuộc tập đoàn dữ liệu thể thao Perform cho biết. “Nó sẽ không còn chỉ là các trang Wikipedia bị thay đổi nữa.”
Tình trạng này cũng không chỉ xảy ra trên những hòn đảo nhiệt đới xa xôi. Theo những gì các nhà cái trên toàn cầu đã phát hiện, việc thao túng dữ liệu vì mục đích cá cược là một hiện tượng phổ biến. Lừa đảo trong cá cược thậm chí đã thu hút được sự chú ý của các giải thể thao và một nghị sĩ Quốc hội ở Mỹ.
Mối quan ngại chính thức
Lừa đảo cá cược đã trở thành một vấn đề được đề cập ở Đồi Capitol.
Tháng 5 vừa qua, Frank Pallone, một hạ nghị sĩ dân chủ của New Jersey đã đưa ra những quy định sẽ cho phép các bang hợp pháp hóa và quản lý hoạt động cá cược thể thao nếu đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhất định. Dưới đây là những gì một bang cần phải đặt ra theo một trong số những tiêu chuẩn được đề xuất trong đạo luật này:
“Việc đề phòng gian lận: Những biện pháp bảo vệ phù hợp để bảo đảm, ở mức độ chắc chắn hợp lý, rằng vụ cá cược là công bằng và trung thực, và để đề phòng việc gian lận (bao gồm việc cấu kết và việc sử dụng thiết bị gian lận), ở mức độ chắc chắn hợp lý.”
Phần này trong dự thảo luật của Pallone đề cập tới nạn lừa đảo trong cá cược, một mối quan ngại luôn rình rập trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về tương lai của việc mở rộng hoạt động cá cược thể thao ở Mỹ.
Những vấn đề về tính trung thực của cuộc chơi có liên quan tới cá cược – chẳng hạn như dàn xếp tỉ số – đã khiến những người trong giới thể thao phải đau đầu trong suốt ít nhất là một thế kỷ. Những bê bối trong giải bóng chày World Series năm 1919 là ví dụ điển hình nhất.
Trong nhiều vụ, lừa đảo cá cược không để lại dấu vết gì trên sân chơi của nó, và sự kiện thể thao có liên quan thường không bị ảnh hưởng.
Ngược lại, nạn lừa đảo cá cược lại tinh vi hơn và đôi khi không thể nhận thấy được. Những người khai thác hoạt động cá cược và những người cá cược bị lừa chính là các là nạn nhân. Trong nhiều vụ, lừa đảo cá cược không để lại dấu vết gì trên sân chơi của nó, và sự kiện thể thao có liên quan thường không bị ảnh hưởng. Cầu thủ, vận động viên, huấn luyện viên, các quan chức giải đấu, người hâm mộ, nhà phát sóng – tất cả có thể đều không hay biết gì. Những nhà cái và sàn cá cược không có liên quan tới các vụ cá cược ngầm kia cũng có thể không có thông tin gì.
Tuy nhiên, Pallone đã nhận thức được các vấn đề về lừa đảo cá cược. Và trong mối quan ngại này, ông không phải là người duy nhất.
Những nhà lãnh đạo trong ngành thể thao đang ngày càng nhận rõ vẫn đề mà nạn lừa đảo cá cược gây ra. Họ hiểu rằng người hâm mộ (những người xem các trận đấu mà họ cá cược) sẽ không tham gia nếu thị trường cá cược bị cho là không trong sạch. Quả thật, một luật sư cho một giải thể thao nổi tiếng ở Mỹ đã bày tỏ mối quan ngại về các thị trường cá cược bị thao túng tại một hội nghị về pháp luật liên quan đến thể thao vào tháng trước ở Denver, Colorado, Mỹ.
Dù có nhiều hình thức, song lừa đảo cá cược có một số loại hình bắt nguồn từ những trò lừa đảo trên thị trường chứng khoán. Một số loại khác lại có nguồn gốc hiện đại hơn hẳn: đó là mạng xã hội.
Những chiêu trò trên mạng xã hội
Những mánh khóe xuất hiện trong các vụ lừa đảo cá cược thực tế đã tồn tại từ lâu trên thị trường chứng khoán.
Trong chiêu “bơm-nhả”, người chơi cố ý đẩy cao giá trị của một mã chứng khoán bằng việc “bơm” ra thị trường nhiều thông tin giả tích cực về một công ty nào đó. Sau đó, khi giá được đẩy lên, họ bán cổ phần của mình. Ở chiều ngược lại, người ta sẽ thúc đẩy tình trạng bán tháo khi làm cho giá trị cổ phiếu sụt giảm bằng cách bịa đặt những thông tin tiêu cực.
Trước khi Twitter trở nên phổ biến, phóng viên điều tra kiêm học giả Declan Hill từng lưu ý thấy rằng những kẻ thao túng các trận bóng đá thường “sử dụng các chiến thuật giống như một người đẩy giá chứng khoán lừa đảo.”
Dưới đây là cách một thủ đoạn như vậy lan truyền ngày nay. Các bot do máy tính điều khiển trên khắp các trang mạng xã hội có thể lan truyền đội hình giả mà trong đó một hoặc hai tên tuổi thường trực có thể vắng mặt. Những thông tin giả về chấn thương của một cầu thủ then chốt có thể được phát tán. Thậm chí những bản tin dự báo thời tiết giả cũng có thể được công bố. Mặc dù có thể dễ dàng kiểm chứng một hoặc hai thông tin, song những thông tin sai lệch ồ ạt đổ tới có thể là đủ mạnh, kéo dài đủ lâu để nâng mức giá cá cược và cho phép những người biết rõ tình hình thương lượng và giao kèo.
Người chơi đã biểu lộ mối quan ngại của họ.
“Những xu hướng và động lực sai lệch có thể được tạo ra để nhử người cá cược,” một người viết trên một diễn đàn thảo luận của BetAngel. Một người khác cho rằng các nhóm người có thể đang “hợp tác cùng nhau để kiểm soát giá.”
Theo 2 chuyên gia, những mối quan ngại này là có thật.
David Walsh, một nhà toán học người Australia nghiên cứu về cá cược xác suất, cho biết ông tin rằng người ta có thể tiến hành thao túng qua mạng xã hội để thay đổi cục diện. Nhưng điều đó sẽ không đem lại lợi nhuận lâu dài.
“Tất cả các quầy cá cược sẽ bị tấn công bằng các giao dịch cá cược với tần suất cao và khoản tiền lớn,” ông nói về những người kinh doanh chứng khoán kỹ thuật số đã chuyển những thuật toán của họ từ giao dịch chứng khoán sang cá cược thể thao. Thay vì chọn ra một người thắng cuộc, những người chơi này tìm kiếm những sự thiếu sót được thao túng với mục đích lừa đảo trên thị trường – tức là những mức giá không hợp lý – sau đó nhanh chóng mua và bán theo cách có thể đảm bảo được mức độ lãi nhất định.
“Tính chất quan trọng nhất của các thị trường cá cược là chúng tự điều chỉnh. Khi những sự thiếu sót xảy ra, chúng bị lợi dụng một cách không thương tiếc.”
Thay vì chọn ra một người thắng cuộc, những người chơi này tìm kiếm những sự thiếu sót được thao túng với mục đích lừa đảo trên thị trường – tức là những mức giá không hợp lý – sau đó nhanh chóng mua và bán theo cách có thể đảm bảo được mức độ lãi nhất định.
Một chuyên gia khác, một kỹ sư phần mềm giấu tên, đã mô tả cách những người thành lập một nền tảng mới nổi đã sử dụng các sock puppet, hay các “con rối” – tức là những tài khoản giả chuyên lan truyền thông tin sai lệch – để phóng đại tính thanh khoản trên một cổng ngang hàng hướng theo giả định được lập ra. Những người dùng ảo đó là các “lốt” khác nhau của những người vận hành trang web, được tạo ra để làm giả lưu lượng truy cập lớn hơn, nguồn tin cho biết. Nếu những người dùng giả thắng trong các vụ cá cược với người dùng thông thường, số tiền thắng cuộc sẽ lại được đưa vào nguồn tiền thưởng, theo các tài liệu được cung cấp cho ESPN.
Những người khác lại không cho rằng những mánh khóe như vậy có thể gây ảnh hưởng đến thị trường.
“Trên lý thuyết, một nhóm người có thể cố gắng làm suy yếu thị trường bằng cách ồ ạt đưa thông tin sai lệch,” Marsh, người đứng đầu các hoạt động về độ tin cậy của thông tin ở Perform cho biết. Tuy nhiên, đó “sẽ không phải là một chiến lược sinh lợi lâu dài, và trận đấu sẽ phải được rất ít người biết đến” để phương pháp này có thể có cơ hội thành công.
“Ngay cả khi thành công, có khả năng sẽ có đủ thông tin để người ta thực sự nghi ngờ những khẳng định đang được đưa ra,” Marsh cho biết. “Nếu một công ty dữ liệu nhanh có mặt tại trận đấu, thì nhà khai thác cá cược sẽ nhận được thông tin trận đấu, trong đó có đội hình ra sân, từ đó giúp vô hiệu hóa mọi thông tin sai. Việc thao túng dữ liệu nhanh sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc ngành cá cược lười nhác hoặc bất cẩn.”
“Trận đấu ma” và những kẻ săn dữ liệu thuê
Đối với những kẻ dàn xếp tỉ số trong bóng đá, một số điểm yếu nhất định có thể được tìm thấy trên sân đấu. Mua chuộc một thủ môn, và bạn có thể đảm bảo một hoặc hai bàn thắng. Có một trọng tài trong tay, và bạn có thể dàn xếp tỉ số trận đấu.
Nhưng những kẻ lừa đảo cá cược khác đã phát hiện ra một đích ngắm dễ dàng hơn nhiều: Người săn dữ liệu. Họ là những người ghi nhận các thông tin của từng trận đấu ở nơi diễn ra thi đấu và trong thời gian thực. Họ xem toàn bộ trận đấu, tự mình cập nhật mọi diễn biến xảy ra. Họ là bộ lọc mà mọi chi tiết phải đi qua, và không có họ, ngành công nghiệp cá cược toàn cầu – đặc biệt là cá cược trực tiếp – sẽ không thể tiếp tục hoạt động.
Ở những môn thể thao ở tầng thấp hơn, những người săn thông tin có thể là liên kết duy nhất giữa trận đấu và thế giới bên ngoài, và điều này biến họ thành những người có giá trị hơn một vị trọng tài biến chất hay một thủ thành bán độ. Xét cho cùng, tại sao phải chấp nhận toàn bộ rắc rối của việc dàn xếp một trận đấu trong khi bạn có thể đơn giản là trả tiền cho người săn dữ liệu để họ hoãn việc cung cấp thông tin đủ lâu để bạn đặt cược một ván chiến lược? Điều này có thể được thực hiện chỉ trong 30 giây.
Đó là một hình thức cực đoan của việc mua bán tay trong, cho những kẻ lừa đảo đủ thời gian để đặt cược vào một kết quả đã xảy ra rồi. Mặc dù đó là một trò lừa dễ bị phát hiện – một khoản đặt cược lớn bất thường chỉ vài giây trước khi kết quả được ghi nhận – nhưng nó không phải là việc mà cùng một người săn dữ liệu có thể làm thường xuyên. Tuy vậy, những người săn dữ liệu là những con mồi dễ dàng đối với những kẻ lừa đảo: Có những người thậm chí chỉ kiếm được khoảng 50 USD cho một trận đấu, và chẳng thiếu gì những người làm nghề này.
Những người săn dữ liệu có thể nhập dữ liệu nhanh hơn các trọng tài, dẫn đến những cơ họi đặt cược. (Ảnh: Al Bello/Getty Images)
Vấn đề của việc trì hoãn cung cấp dữ liệu đặc biệt trắng trợn ở môn quần vợt. Trọng tài chính có thể chính là người săn dữ liệu, nhập các con số thông qua một chiếc máy tính bảng cảm ứng, và từ đó gửi dữ liệu tới thế giới cá cược. Gần đây, các trọng tài quần vợt đến từ 3 hạt khác nhau đã bị cấm hành nghề sau khi có dính líu tới một vụ lừa đảo như vậy.
“Điều này là hết sức đáng lo ngại nhưng không hề đáng ngạc nhiên – mối nguy hiểm đối với sự trung thực của môn quần vợt được thúc đẩy bởi cá cược đã mở rộng vượt ra ngoài các tay vợt và những người xung quanh họ, và giờ đây bao gồm cả các trọng tài và những quan chức giải đấu khác,” Richard Ings, một cựu trọng tài chính chia sẻ với tờ The Guardian vào năm ngoái.
Tuy nhiên, dữ liệu bị trì hoãn chỉ là điểm khởi đầu. Dữ liệu giả từ những sự kiện thể thao không hề tồn tại cũng đã xuất hiện.
Một khi những kẻ lừa đảo nhận ra rằng chúng có thể kiểm soát dòng thông tin giữa sân đấu và cơ sở dữ liệu, việc những trận đấu giả bắt đầu xuất hiện chỉ còn là vấn đề thời gian. Những trận đấu như vậy được gọi là “trận đấu ma.” Chúng hoạt động như thế nào?
Một người săn dữ liệu ở một góc xa xôi nào đó của thế giới nhập một trận đấu giả vào hệ thống, có thể là với sự giúp đỡ của một tay trong trong ngành, và sau đó cung cấp dữ liệu cho trận đấu giả đó, từng chi tiết một, theo bất kỳ hướng đi nào mà kẻ lừa đảo yêu cầu. Nếu không có hoạt động rà soát nào được thực hiện, các bên khai thác cá cược không kiểm tra lại tính xác thực của trận đấu có thể lựa chọn trận đấu ma này để đưa ra cho các khách hàng cá cược như thể nó là một thị trường cá cược thực sự.
Tuy nhiên, cần nói rõ rằng những trận đấu ma được tường thuật như thế là cực kỳ hiếm gặp. Chỉ có một vài trận đấu ma xuất hiện trong những năm gần đây. Bóng đá là ví dụ được nêu ra thường xuyên nhất.
Gần như không có khả năng xuất hiện một trận đấu giả giữa các đội thuộc các giải đấu hàng đầu hoặc trong giữa các trường đại học có tên tuổi trong giới thể thao ở cấp độ này. Những trận đấu ma không phải là một mối quan ngại đối với giải NBA hay thậm chí giải G League của nó. Nhưng ở những tầng thấp hơn trong giới thể thao – những giải đấu bán chuyên và những sự kiện diễn ra một lần duy nhất không trong mùa giải – khả năng xuất hiện những trận đấu ma sẽ gia tăng đáng kể.
Đổ lỗi cho người ghi tỉ số?
Theo những nghiên cứu gần đây, khả năng xảy ra lừa đảo cá cược có thể cũng đã xuất hiện trong thể thao ảo (fantasy).
Trong một công trình nghiên cứu học thuật được công bố vào đầu năm nay, Matthew van Bommel và Luke Bornn đã tìm thấy những bằng chứng về sự thiên vị của những người ghi tỉ số trong bóng rổ được thể hiện qua những số liệu thống kê được đánh giá chủ quan có liên quan tới DFS (các môn thể thao ảo hằng ngày), chẳng hạn như số lượt hỗ trợ hay lượt cản phá.
“Những sự không nhất quán này có thể có những hậu quả sâu rộng,” hai nhà nghiên cứu viết. “Vì các hệ thống tính điểm trận đấu NBA ảo chỉ dựa trên các số liệu thống kê trong các trận đấu thật (trong đó có số lượt hỗ trợ và cản phá), hành vi của người ghi tỉ số có ảnh hưởng đáng kể lên những điểm số này.”
Dan Barbarisi, tác giả cuốn sách “Dueling with Kings”, lo sợ rằng những hành vi sai trái có thể mở rộng ra bên ngoài môn bóng rổ.
“Một người ghi tỉ số chính thức,” Barbarisi viết trong cuốn sách mới của mình, “có thể bị buộc tội tác động không thỏa đáng lên các kết quả DFS trong các sự kiện dựa trên đánh giá chủ quan, chẳng hạn như số lượt ném rổ, hay số cú ghi bàn và số lỗi.”
Lỗi của người ghi tỉ số có thể khiến các thị trường cá cược truyền thống chao đảo. Vào tháng 3, tỉ số cuối cùng của một trận đấu giữa Maryland-Eastern Shorre và A&T Bắc Carolina đã được ghi nhận sai là 74-67 thay vì tỉ số đúng là 75-65. Maryland-Eastern Shore chấp khoảng 8 điểm ở hầu hết các nhà cái.
Tất cả những vấn đề này đã góp phần hình thành nên một ngành công nghiệp đang nổi lên với mục đích phát hiện – và ngăn chặn – các vụ lừa đảo cá cược.
Một phần mềm cá cược
Sự trỗi dậy của ngành giám sát mức độ trung thực trong cá cược
Năm 2002, 2 nhà kinh tế là Mark Duggan và Steven Levitt đã tính toán các số liệu liên quan tới môn thể thao-nghệ thuật cao quý: môn vật sumo của Nhật Bản. Họ đã phát hiện “những bằng chứng áp đảo về số liệu” cho thấy các đô vật đã trao đổi chiến thắng cho nhau để thúc đẩy thứ bậc.
Cái được gọi là phân tích thể thao giám định đã phát triển nhanh chóng trong những năm sau khi nghiên cứu đó được công bố. Bằng việc kết hợp bản ghi trực tiếp các tỷ lệ đặt cược và dữ liệu chi tiết với các thuật toán tinh tế, dữ liệu thể thao có thể được sử dụng để phát hiện một trận đấu đáng ngờ trong thời gian thực. Tất cả những gì bạn cần để tâm đến là sự thay đổi lớn giữa giá thực và giá dự kiến.
Ở châu Âu, dữ liệu cá cược “thiếu logic và rõ ràng đáng ngờ” đã được sử dụng để cấm CLB bóng đá FK Skenderbeu của Albania tham gia giải Champions League. “Những mô hình cá cược này về cơ bản mâu thuẫn với logic cá cược thông thường,” Tòa Trọng tài Thể thao đặt ở Thụy Sỹ đã viết trong phán quyết dành cho Skenderbeu.
Nhiều giải thể thao ở Mỹ, cũng như một số giải thể thao đại học đã tiếp nhận công nghệ này.
Nhưng bất chấp những thành công có thể nhận thấy của phân tích thể thao giám định, nó vẫn có những hạn chế. Mặc dù dữ liệu lớn cho phép các nhà phân tích tìm thấy những “dấu vân tay” số liệu đáng nghi, song để các giải đấu thể thao hoặc cơ quan thực thi pháp luật có hành động răn đe đôi khi có thể là một thách thức.
Tại sao? Dữ liệu ngầm được đối xử như những bí mật được bảo vệ chặt chẽ. Các mô hình phát hiện lừa đảo được coi là tài sản quý giá. Sự minh bạch chỉ có thực đối với những “tay trong”, những người có quyền tiếp cận chúng. Việc thực thi có chọn lọc có thể diễn ra.
“Đây là một lập luận mạnh mẽ ủng hộ các mô hình quyền dữ liệu không độc quyền,” Marsh nhận xét. “Càng có nhiều nhà cung cấp có mặt ở một trận đấu, càng có nhiều thông tin đáng tin cậy về nó, vì những thông tin ấy có thể được kiểm tra chéo và đánh giá kỹ lưỡng hơn.”
Lừa đảo cá cược trong tương lai gần
Việc giám sát tính trung thực với mã nguồn mở có thể là điều đáng khao khát, nhưng ngày nay nó vẫn chưa phải là thông lệ. Những dàn xếp về độc quyền dữ liệu và các thỏa thuận giám sát tính trung thực đi kèm là những lựa chọn thương mại thực tế hơn đối với các giải đấu cũng như các nhà cung cấp. Kết quả là sự kiểm soát gia tăng đối với cách thức sử dụng dữ liệu trên thị trường cá cược. Tuy nhiên, sự kiểm soát như vậy chỉ là tương đối.
Mặc dù các giải đấu thể thao dường như không thể ngăn chặn việc các nhà cái châu Á “nửa chợ đen” – nơi mà các chuyên gia cho rằng có một số lượng đáng kể các vụ lừa đảo cá cược diễn ra – đưa ra các tỷ lệ, họ có thể chặn dòng thông tin đổ vào những nhà cái này. Tuy vậy, đối với một số môn thể thao, giá trị của việc bán dữ liệu có thể hấp dẫn hơn nhiều so với việc chống lừa đảo cá cược.
Với thông tin về việc Tòa Tối cao Mỹ đã chấp thuận tiến hành điều trần đối với đề xuất về quản lý cá cược thể thao của bang New Jersey, tương lai của việc hợp pháp hóa hoạt động cá cược thể thao sẽ được đề cập công khai trong vòng 12 tháng tới.
Trong gần 5 năm tranh chấp, các vấn đề liên quan tới tính trung thực của các trận đấu đã được nhắc tới không ít lần trong vụ việc này. Nếu bang New Jersey thành công, các bang khác chắc chắn cũng sẽ theo bước New Jersey trong việc cung cấp hoạt động cá cược thể thao cho người dân. Các vấn đề về lừa đảo cá cược khi đó sẽ trở nên nổi bật hơn và các nhà lập pháp cũng như người cá cược sẽ đặt ra yêu cầu về một sự bảo vệ nhất định.
Khi đó, dự thảo của nghị sĩ Pallone có thể là một “bản vẽ” mẫu cho họ./.
Tháng 6/2017 đánh dấu 10 năm ngày Apple tung ra chiếc iPhone đầu tiên, một thiết bị đã biến đổi cơ bản cách chúng ta tương tác với công nghệ, với văn hóa và với nhau. Trước ngày kỷ niệm này, biên tập viên Brian Merchant của tạp chí Motherboard đã bắt tay vào một cuộc điều tra khám phá nguồn gốc chưa được biết đến của chiếc iPhone. Cuốn sách “The One Device: The secret history of the iPhone”, ra mắt vào ngày 20/6, đã theo dấu chuyến hành trình này từ những khu mỏ ở Kenya cho tới các nhà máy ở Trung Quốc và cuối cùng là số 1 đường Infinite Loop – địa chỉ trụ sở của Apple. Trích đoạn dưới đây đã được thu gọn và biên tập.
Nếu bạn từng làm việc ở Apple vào giữa những năm 2000, bạn có thể đã để ý thấy một hiện tượng kỳ lạ: nhân viên công ty dần biến mất.
Ban đầu, hiện tượng này xảy ra rất từ từ. Một ngày nọ, sẽ có một chiếc ghế trống, nơi một kỹ sư hạng “sao” từng ngồi. Một thành viên then chốt của nhóm đột ngột biến mất. Chẳng ai biết chính xác họ đã đi đâu.
“Tôi đã nghe được những lời xì xào về… một thứ gì đó, khi đó người ta cũng không rõ họ đang tạo ra thứ gì, nhưng rõ ràng rất nhiều người trong số những kỹ sư giỏi nhất từ những nhóm giỏi nhất đã bị rút sang nhóm bí ẩn này,” Evan Doll, khi đó là một kỹ sư phần mềm của Apple, kể lại.
Dưới đây là những gì đã xảy ra với những kỹ sư “ngôi sao” đó. Đầu tiên, một vài quản lý xuất hiện ở văn phòng họ mà không báo trước, rồi đóng cửa phòng sau lưng họ. Hai trong số những quản lý này là Henri Lamiraux, một giám đốc kỹ thuật phần mềm, và Richard Williamson, một giám đốc phần mềm.
Andre Boule là một trong số những kỹ sư “ngôi sao”. Khi đó anh mới chỉ làm việc cho Apple được vài tháng.
Một trong những mẫu thiết kế iPhone ban đầu
“Henri và tôi bước vào văn phòng của anh ấy,” Williamson nhớ lại, “và chúng tôi nói: ‘Andre, anh không thực sự biết chúng tôi, nhưng chúng tôi đã nghe nói rất nhiều về anh, chúng tôi biết anh là một kỹ sư tài năng, và chúng tôi muốn anh tới làm việc với chúng tôi trong một dự án mà chúng tôi không thể nói cho anh biết được. Và chúng tôi muốn anh làm ngay bây giờ. Ngay hôm nay.’”
Boule tỏ ra hoài nghi, sau đó là ngờ vực. “Anh ấy nói, ‘Tôi có thể dành chút thời gian nghĩ về điều đó không?’” Williamson kể tiếp. “Và chúng tôi nói, ‘Không.’” Họ không thể và sẽ không cho anh ấy biết thêm bất kỳ chi tiết nào khác. Tuy vậy, đến cuối ngày, Boule đã đồng ý tham gia. “Chúng tôi đã làm việc này rất nhiều lần khắp nơi trong công ty,” Williamson cho biết. Một số kỹ sư yêu công việc hiện tại của họ và đã từ chối – họ ở lại Cupertino. Những người đồng ý, giống như Boule, đã bắt tay vào xây dựng chiếc iPhone.
Và cuộc sống của họ đã thay đổi vĩnh viễn – hay ít nhất là trong hai năm rưỡi sau đó. Họ không chỉ làm thêm giờ để tạo ra sản phẩm công nghệ tiêu dùng có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thế hệ của họ, mà họ còn gần như không được làm gì khác. Đời sống cá nhân của họ biến mất, và họ không được phép nói về việc họ đang làm. Steve Jobs “không muốn bất kỳ ai làm rò rỉ thông tin nếu họ rời khỏi công ty,” Tony Fadell, một trong số những giám đốc cấp cao nhất của Apple đã giúp tạo nên chiếc iPhone, cho biết. “Ông ấy không muốn bất cứ ai nói bất cứ điều gì. Ông ấy chỉ không muốn như vậy – ông ấy vốn là người hoang tưởng.”
Jobs nói với Scott Forstall, người sau này sẽ trở thành nhân vật đứng đầu bộ phận phần mềm iPhone, rằng ngay cả ông cũng không được hé răng một lời về chiếc điện thoại cho bất cứ ai, trong cũng như ngoài Apple, nếu họ không thuộc đội ngũ đặc biệt. “Vì lý do đảm bảo bí mật, ông ấy không muốn tôi thuê bất cứ ai bên ngoài Apple để làm phần giao diện người dùng,” Forstall cho biết. “Nhưng ông ấy nói tôi có thể đưa bất cứ ai trong công ty vào đội ngũ này.” Do đó ông đã phái các quản lý như Henri và Richard đi tìm những ứng cử viên phù hợp nhất. Và ông cũng đảm bảo rằng những người có tiềm năng được tuyển chọn biết rõ những rủi ro trước khi tham gia. “Chúng tôi đang bắt đầu một dự án mới,” ông nói với họ. “Nó bí mật đến mức tôi thậm chí không thể nói với anh dự án đó là gì. Tôi không thể nói anh sẽ làm việc cho ai. Điều tôi có thể nói với anh là nếu anh đồng ý lựa chọn vai trò này, anh sẽ làm việc vất vả hơn bất cứ khi nào trong đời anh. Anh sẽ phải bỏ ra nhiều đêm, nhiều dịp cuối tuần trong vòng có lẽ là khoảng vài năm khi chúng ta làm ra sản phẩm này.”
Họ không chỉ làm thêm giờ để tạo ra sản phẩm công nghệ tiêu dùng có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thế hệ của họ, mà họ còn gần như không được làm gì khác. Đời sống cá nhân của họ biến mất, và họ không được phép nói về việc họ đang làm.
Và “thật tuyệt vời”, như Forstall đã nói, một số tài năng hàng đầu của công ty đã tham gia. “Thành thực mà nói, tất cả mọi người trong đội đều rất tuyệt vời,” Williamson nói. Đội ngũ đó – các nhà thiết kế kỳ cựu, những nhà lập trình đang thăng tiến, những người quản lý đã làm việc với Jobs suốt nhiều năm, những kỹ sư chưa từng gặp ông – sẽ trở thành một trong những lực lượng sáng tạo lớn nhất, bất ngờ nhất của thế kỷ 21.
Một trong những thế mạnh lớn nhất của Apple là họ khiến cho các sản phẩm công nghệ có ngoại hình và cảm giác dễ sử dụng. Làm ra chiếc iPhone không hề dễ dàng chút nào, tuy nhiên những người đầu tư vào nó cho biết quá trình làm ra nó thường mang lại cảm giác hứng khởi.
Những gì Forstall đã dự đoán về “đội iPhone” đã trở thành hiện thực.
“Chiếc iPhone là lý do tôi ly dị,” Andy Grignon, một kỹ sư cấp cao trong đội iPhone cho biết. Tôi đã nghe những câu tương tự không ít lần trong vài chục cuộc phỏng vấn với các kỹ sư chủ chốt của Apple. “Đúng thế, chiếc iPhone đã phá hoại không ít cuộc hôn nhân,” một người khác cho biết.
“Rất căng thẳng, có lẽ là một trong những khoảng thời gian tồi tệ nhất đời tôi, về mặt công việc,” Grignon chia sẻ. “Vì bạn tạo ra một kiểu ‘nồi áp suất’ gồm một nhóm người cực kỳ thông minh với một thời hạn bất khả thi, một nhiệm vụ bất khả thi, rồi bạn nghe nói tương lai của toàn bộ công ty đang dựa vào đó. Thế nên nó giống như một ‘bát súp khổ sở’ vậy,” Grignon nói. “Bạn thực sự không có thời gian để gác chân lên bàn và nói, ‘Một ngày nào đó thứ này sẽ rất tuyệt cú mèo đấy’. Nó là kiểu, “Mẹ kiếp, chúng ta tiêu rồi.’ Mỗi khi bạn quay đầu lại, lại có một vấn đề sống còn sắp xảy đến với chương trình đang chờ đợi bạn.”
Steve Jobs giới thiệu chiếc iPhone đầu tiên vào năm 2007
Chế tạo iPhone
Điểm khởi đầu của điện thoại iPhone là một dự án ở Apple được Steve Jobs thông qua vào khoảng cuối năm 2004. Nhưng ý tưởng gốc của nó đã bắt đầu được hình thành từ trước đó rất lâu.
“Tôi nghĩ nhiều người nhìn vào chỉ số hình dáng và họ nghĩ rằng nó đơn giản là không giống như các máy tính khác, nhưng thực ra nó cũng giống như bất kỳ máy tính nào khác,” Williamson nói. “Trên thực tế, nó phức tạp hơn, nếu nói về phần mềm, so với nhiều máy tính khác. Hệ điều hành của nó cũng tinh tế như hệ điều hành của bất kỳ chiếc máy tính hiện đại nào. Nhưng điều mà chúng tôi đã phát triển trong 30 năm qua chính là một sự tiến hóa của hệ điều hành.”
Giống như nhiều loại hình công nghệ được thích ứng cho phù hợp với công chúng, iPhone không chỉ có một câu chuyện về nguồn gốc. Đã có tới khoảng 5 dự án về điện thoại hoặc liên quan đến điện thoại khác nhau – từ những công việc nghiên cứu quy mô siêu nhỏ đến những mối quan hệ hợp tác kinh doanh thực sự – được nung nấu ở Apple vào giữa những năm 2000. Nhưng nếu có một điều tôi học được từ những nỗ lực của mình nhằm “mổ xẻ” chiếc iPhone, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thì đó là: Hiếm khi một sản phẩm hoặc công nghệ cụ thể có được sự khởi đầu rõ rệt – chúng tiến hóa từ vô số ý tưởng, hình dung và phát minh đa dạng trước đó, được kích động và lặp đi lặp lại để trở thành cái mới, bởi những bộ óc không ngừng nghỉ và những động cơ tạo ra lợi nhuận. Ngay cả khi các giám đốc công ty phải tuyên thệ trước tòa, họ cũng không thể gọi tên một điểm khởi đầu duy nhất.
“Đã có rất nhiều thứ dẫn tới sự phát triển của chiếc iPhone ở Apple,” Phil Schiller, phó giám đốc cấp cao về marketing toàn cầu đã nói vào năm 2012. “Đầu tiên, Apple đã được biết tới nhiều năm với tư cách người tạo nên chiếc máy tính Mac, và điều đó rất tuyệt, nhưng công ty có thị phần nhỏ,” ông nói. “Và sau đó chúng tôi có một sản phẩm lớn là chiếc iPod. Đó là phần cứng iPod và phần mềm iTunes. Và điều này đã thực sự thay đổi quan điểm của tất cả mọi người về Apple, cả trong và ngoài công ty. Và người ta bắt đầu đặt câu hỏi: Nếu anh có thể thành công với chiếc iPod, anh còn có thể làm điều gì khác nữa? Và người ta đề xuất đủ mọi ý tưởng, như máy ảnh, xe hơi và những thứ điên rồ khác.”
Và dĩ nhiên là làm một chiếc điện thoại nữa.
Từ iPod đến iPhone?
Khi Steve Jobs trở lại “cầm cờ” một Apple đang xuống dốc vào năm 1997, ông đã nhận được những lời tán dương và thu được chút ít lợi nhuận bằng việc cắt giảm các dòng sản phẩm và đưa công việc kinh doanh máy Mac trở lại guồng. Nhưng Apple vẫn chưa nổi lên một lần nữa với tư cách một lực lượng văn hóa và kinh tế lớn, cho tới khi họ ra mắt chiếc iPod, sản phẩm đánh dấu bước đi đầu tiên có lợi nhuận trong ngành điện tử tiêu dùng, và đồng thời trở thành một hình mẫu cũng như bước đệm cho chiếc iPhone.
“Sẽ chẳng có chiếc iPhone nếu không có chiếc iPod,” Tony Fadell, người đã giúp tạo ra cả 2 sản phẩm này. Đôi khi được giới truyền thông gọi là “the Podfather”, Fadell là một động lực thúc đẩy việc tạo ra thiết bị đột phá thực sự của Apple sau nhiều năm, và ông đã giám sát việc phát triển phần cứng cho chiếc iPhone. Do vậy, ít người có thể giải thích được chiếc cầu nối giữa hai sản phẩm đột phá này tốt hơn Fadell. Chúng tôi đã gặp nhau ở Brasserie Thoumieux, một quán ăn “sang chảnh” ở quận 7 hào nhoáng của Paris, nơi ông đang sống khi đó.
Hiếm khi một sản phẩm hoặc công nghệ cụ thể có được sự khởi đầu rõ rệt – chúng tiến hóa từ vô số ý tưởng, hình dung và phát minh đa dạng trước đó, được kích động và lặp đi lặp lại để trở thành cái mới, bởi những bộ óc không ngừng nghỉ và những động cơ tạo ra lợi nhuận.
Fadell là một nhân vật thường hiện diện trong những câu chuyện ở Thung lũng Silicon, và trong quá trình phát triển của Apple, ông là một nhân tố gây chia rẽ. Brian Huppi và Joshua Strickon, 2 thành viên then chốt của đội ngũ kỹ sư đầu vào của Apple, những người thiết kế nên những nguyên mẫu, những bản nháp đầu tiên của chiếc iPhone, đã ca ngợi phong cách quản lý táo bạo, “kết quả là trên hết” của ông, và vì ông là một trong số ít những người có ý chí đủ mạnh để chống lại Steve Jobs. Những người khác thì không hài lòng với cái cách ông giành công trạng trong việc đưa iPod và iPhone vào thị trường; ông từng bị gọi là “Tony Baloney”, và một cựu giám đốc của Apple đã khuyên tôi “đừng tin một chữ nào Tony Fadell nói.” Sau khi rời khỏi Apple vào năm 2008, ông đã đồng sáng lập nên Nest, một công ty làm ra các món đồ dùng thông minh cho gia đình, chẳng hạn như bộ điều chỉnh nhiệt độ thông minh, mà sau này được Google mua lại với giá 3,2 tỷ USD.
Rất đúng giờ, Fadell bước vào; đầu cạo trọc chỉ để lại chút râu, đôi mắt xanh lạnh băng, áo len bó. Ông đã từng nổi tiếng với phong cách cyberpunk, tính ưa nổi loạn và cái đầu nóng vốn thường được so sánh với Steve Jobs. Fadell vẫn tràn đầy nhiệt huyết, nhưng ở đây, khi nói những câu tiếng Pháp nhẹ nhàng với nhân viên nhà hàng, ông thuộc vào khoảng giao nhau trên biểu đồ Venn giữa Giới tinh hoa lịch sự ở Paris và Người khổng lồ công nghệ thô lỗ.
“Xuất phát điểm của chiếc iPhone là – chà, hãy bắt đầu bằng – sự thống trị của chiếc iPod,” Fadell nói. “Nó đã chiếm 50% doanh thu của Apple.” Nhưng khi những chiếc iPod lần đầu tiên được bán ra, gần như chẳng có ai để ý đến chúng. “Phải mất 2 năm,” Fadell nói. “Nó được làm ra chỉ để dành cho máy Mac. Nó chiếm ít hơn 1% thị phần ở Mỹ. Họ thường nói là ‘con số 1 chữ số ở mức thấp.’” Người tiêu dùng cần có phần mềm iTunes để tải và quản lý các bài hát và danh sách phát nhạc, và phần mềm đó chỉ chạy trên máy Mac.
“Muốn đưa iTunes sang máy PC thì hãy bước qua xác tôi,” Steve Jobs từng nói với Fadell như vậy, theo lời kể của ông, khi ông đề xuất ý tưởng cho phép iTunes chạy trên Windows. Tuy vậy, Fadell vẫn cho một nhóm bí mật xây dựng phần mềm để iTunes tương thích với Windows. “Phải mất 2 năm với những con số lao dốc, Steve cuối cùng mới tỉnh ngộ. Và rồi chúng tôi bắt đầu cất cánh, rồi cửa hàng âm nhạc đã có thể thành công.” Thành công đó đã đưa chiếc iPod tới tay hàng trăm triệu người – nhiều hơn số người từng sở hữu những chiếc Mac trước đó. Hơn nữa, chiếc iPod đã trở nên thời thượng theo kiểu phổ biến nhưng hợp thời trang, điều đã mang lại hình ảnh “sành điệu” cho cả công ty Apple. Fadell đã vươn lên vị trí cao trong hàng ngũ các giám đốc và được giao giám sát bộ phận sản phẩm mới.
Được tung ra năm 2001, trở nên thịnh hành năm 2003, nhưng đến năm 2004 chiếc iPod đã bị coi là thiếu sót. Điện thoại di động được coi là một mối đe dọa, vì chúng có thể phát được nhạc định dạng MP3. “Vậy nếu bạn chỉ có thể mang theo một thiết bị, bạn sẽ phải chọn thiết bị nào?” Fadell nói. “Và đó là lý do vì sao chiếc Motorola Rokr ra đời.”
Những chiếc máy nghe nhạc iPod lịch sử của Apple
Con dốc mang tên Rokr
Năm 2004, Motorola đang sản xuất một trong số những chiếc điện thoại phổ biến nhất trên thị trường, chiếc điện thoại gập siêu mỏng Razr. CEO mới của công ty này, Ed Zander, khá thân với Jobs. Jobs cũng thích thiết kế của chiếc Razr, và hai người đã bắt tay vào thăm dò xem Apple và Motorola có thể hợp tác với nhau như thế nào. (Năm 2003, các giám đốc của Apple đã xem xét việc mua lại Motorola, nhưng sau đó quyết định rằng làm như vậy quá tốn kém.) Do đó, chiếc “điện thoại iTunes” đã ra đời. Apple và Motorola đã hợp tác với nhà mạng không dây Cingular, và chiếc Rokr đã được công bố vào mùa hè năm đó.
Jobs đã công khai tỏ rõ thái độ phản đối việc Apple chế tạo một chiếc điện thoại. “Vấn đề với điện thoại,” Steve Jobs nói vào năm 2005, “là chúng tôi không giỏi lắm trong việc vượt qua những lỗ hổng để tới được người dùng cuối.” “Những lỗ hổng” mà ông nói tới ở đây là các nhà mạng như Verizon và AT&T, những người có tiếng nói quyết định trong việc những loại điện thoại nào có thể tiếp cận mạng lưới của họ. “Các nhà mạng giờ đây đã “trên cơ” về quyền lực trong mối quan hệ với các nhà sản xuất thiết bị cầm tay,” ông nói tiếp. “Và các nhà sản xuất thiết bị cầm tay đang thực sự nhận được những cuốn sách to, dày từ phía các nhà mạng, trong đó viết rõ chiếc điện thoại của họ sẽ phải như thế nào. Chúng tôi không giỏi việc đó.”
Trong suy nghĩ riêng, Jobs lại có những ngần ngại khác. Một cựu giám đốc của Apple, từng họp hàng ngày với Jobs đã cho tôi biết rằng vấn đề về nhà mạng không phải là lý do lớn nhất của ông. Jobs lo ngại về sự thiếu tập trung trong công ty, và ông “không tin rằng smartphone sẽ là sản phẩm dành cho bất kỳ ai ngoài những người trong giới ‘bút cắm túi ngực’ (ám chỉ giới kỹ sư, sinh viên công nghệ hoặc kỹ thuật).”
Phát biểu của Steve Jobs vào năm 2005
Hợp tác với Motorola là một cách dễ dàng để cố gắng vô hiệu hóa một mối đe dọa đối với chiếc iPod. Motorola sẽ chế tạo thiết bị cầm tay, Apple sẽ thiết kế phần mềm iTunes. “Tình hình khi đó là: Làm thế nào để nó chỉ là một trải nghiệm rất nhỏ, để họ vẫn phải mua chiếc iPod? Cho họ nếm thử iTunes, rồi về cơ bản biến nó thành một chiếc iPod Shuffle để họ muốn nâng cấp lên chiếc iPod. Đó là chiến lược ban đầu,” Fadell cho biết. “Đó là: Hãy đừng ‘làm thịt’ chiếc iPod vì nó vẫn đang bán chạy.”
Ngay khi việc hợp tác này được công bố, “nhà máy tin đồn” của Apple bắt đầu hoạt động. Với một chiếc điện thoại iTunes sắp ra đời, các trang blog bắt đầu hâm nóng kỳ vọng cho một thiết bị di động làm thay đổi thế giới, vốn đã nảy sinh và phát triển trước đó một thời gian.
Tuy nhiên, ở Apple, kỳ vọng dành cho chiếc Rokr lại thấp hơn bao giờ hết. “Chúng tôi đều biết nó tồi tệ đến mức nào,” Fadell nói. “Chúng chậm chạp, chúng không thể thay đổi nhiều thứ, chúng sẽ giới hạn các bài hát.” Fadell cười lớn khi nói về chiếc Rokr ngày nay. “Tất cả những điều đó hội tụ với nhau để đảm bảo rằng nó sẽ là một trải nghiệm thực sự tệ hại.”
Nhưng có thể còn một lý do khác khiến các giám đốc của Apple chịu đựng sự tệ hại sắp được hé lộ của chiếc Rokr. “Steve đã thu thập thông tin trong những cuộc họp” với Motorola và Cingular, Richard Williamson cho biết. Khi đó Jobs đang tìm cách làm thế nào để ông có thể theo đuổi một thỏa thuận sao cho Apple nắm quyền kiểm soát thiết kế chiếc điện thoại của mình. Ông đã xem xét việc để Apple mua băng thông cho riêng mình và trở thành nhà cung cấp mạng di động của chính mình. Apple đã tiếp cận Verizon, nhưng 2 công ty này đã không ký kết được thỏa thuận; các nhà mạng vẫn muốn quá nhiều quyền kiểm soát thiết kế của thiết bị cầm tay. Trong khi đó, một giám đốc ở Cingular đã bắt đầu nung nấu một thỏa thuận thay thế mà Jobs thực sự có thể tiếp nhận: Cho Cingular độc quyền, và chúng tôi sẽ cho ông quyền tự do tuyệt đối với thiết bị của ông.
Sửa chữa những thứ bị ghét bỏ
Từ Steve Jobs, Jony Ive, Tony Fadell tới các kỹ sư, nhà thiết kế, quản lý của Apple, tất cả thường nhất trí về một điều trong câu chuyện thần thoại về chiếc iPhone: Trước iPhone, mọi người ở Apple đều nghĩ rằng điện thoại di động là “vớ vẩn.” Chúng thật “kinh khủng.” Chỉ là “một đống rác.”
“Apple giỏi nhất trong việc sửa chữa những thứ bị người ta ghét bỏ,” Greg Christie, người đứng đầu nhóm Giao diện người dùng của Apple vào thời điểm đó, đã nói với tôi. Trước chiếc iPod, chẳng ai biết cách dùng một chiếc máy nghe nhạc kỹ thuật số; khi Napster bùng nổ, người ta tìm cách mang theo chiếc máy nghe đĩa CD và những album đã được chuyển sang đĩa CD. Trước chiếc Apple II, máy tính chủ yếu bị coi là quá phức tạp và khó dùng đối với người không thành thạo về công nghệ.
“Trong suốt ít nhất 1 năm trước khi bắt đầu thứ mà sau này sẽ trở thành dự án iPhone, thậm chí từ rất lâu rồi ở Apple, chúng tôi đã phàn nàn về việc tất cả các mẫu điện thoại trên thị trường đều tệ hại,” Nitin Ganatra, người đã quản lý đội ngũ về e-mail của Apple trước khi bắt tay vào chế tạo chiếc iPhone. Đó chỉ là những câu chuyện phiếm trong lúc giải lao. Nhưng điều đó phản ánh một cảm giác đang lớn dần lên trong nội bộ Apple rằng vì công ty đã sửa chữa thành công – biến đổi, sau đó thống trị – một loại hình sản phẩm, họ có thể làm điều tương tự với một loại hình khác.
“Vào thời điểm đó,” Ganatra nói, “người ta nói, ‘Chúa ơi, chúng ta cũng cần thâm nhập và dọn dẹp thị trường này nữa – tại sao Apple lại không làm một chiếc điện thoại?’”
Tổng động viên
Andy Grignon cảm thấy bồn chồn. Kỹ sư đa tài này đã làm việc cho Apple vài năm, ở nhiều bộ phận khác nhau trong nhiều dự án khác nhau. Ông là một người bệ vệ nhưng vui tính – đầu cạo trọc, luôn tươi cười, thân hình đồ sộ như một con gấu thân thiện. Ông nhúng tay vào mọi việc, từ xây dựng phần mềm cho iPod tới phần mềm cho chương trình hội thảo trực tuyến và iChat. Ông đã kết bạn với ngôi sao đang lên Tony Fadell khi họ cùng nhau thiết kế chiếc máy ảnh iSight.
Sau khi kết thúc một dự án lớn khác – lập trình tính năng Dashboard của chiếc Mac, tính năng mà Grignon đã âu yếm gọi là “đứa con” của ông (đó là màn hình gồm các công cụ như máy tính, lịch và nhiều công cụ khác) – ông đang tìm kiếm một việc gì đó mới mẻ. “Fadell đã tìm đến và nói, ‘Anh có muốn đến tham gia vào iPod không? Chúng tôi có mấy thứ hay lắm. Tôi có một dự án này rất muốn làm, nhưng chúng ta cần chút thời gian trước khi có thể thuyết phục Steve làm nó, và tôi nghĩ anh là người rất thích hợp với nó.’”
Grignon là người hăng hái và chăm chỉ. Ông cũng chửi thề nhiều như một thủy thủ thung lũng Silicon vậy. “Và tôi đã rời khỏi đó,” Grignon nói, “để tới làm thứ bí ẩn này. Ban đầu chúng tôi chỉ nghiên cứu mấy cái loa không dây và những cái khác tương tự thế, nhưng rồi dự án bắt đầu thành hình. Dĩ nhiên cái mà Fadell đã nói chính là chiếc điện thoại.” Fadell biết Jobs đang bắt đầu thay đổi ý kiến về ý tưởng điện thoại, và ông muốn sẵn sàng cho điều đó. “Chúng tôi có ý tưởng này: Chẳng phải sẽ rất tuyệt sao nếu đưa WiFi vào một chiếc iPod?” Grignon nói. Trong suốt năm 2004, Fadell, Grignon và những người còn lại trong đội đã nghiên cứu một số cách để kết hợp chiếc iPod với một thiết bị kết nối Internet.
“Đó là một trong những nguyên mẫu đầu tiên tôi cho Steve xem. Chúng tôi đã mổ một chiếc iPod ra, yêu cầu đội phần cứng cho thêm bộ WiFi, biến nó thành một cục rác lớn bằng nhựa, rồi biến đổi phần mềm.” Đã có những chiếc iPod dùng phím kiểu bánh xe và click được để lướt web một cách vụng về vào năm 2004. “Bạn sẽ bấm vào bánh xe, kéo thanh cuộn trang web, và nếu có đường link trên trang web, máy sẽ hiển thị nó bằng màu khác, và bạn có thể click vào đó và tới trang khác,” Grignon nói. “Đó là lần đầu tiên chúng tôi bắt đầu thử nghiệm với vô tuyến về hệ số hình dạng.”
Đó cũng là lần đầu tiên Steve Jobs nhìn thấy mạng Internet vận hành trên một chiếc iPod. “Và ông ấy tỏ thái độ theo kiểu, ‘Thứ này thật nhảm nhí.’ Ông ấy phản ứng ngay lập tức… ‘Tôi không muốn cái này. Tôi biết là nó hoạt động, tuyệt lắm, cảm ơn, nhưng đây là một trải nghiệm tồi tệ,’” Grignon nói.
Trong khi đó, Grignon nói, “Đội ngũ giám đốc đang cố gắng thuyết phục Steve rằng làm ra một chiếc điện thoại là một ý tưởng tuyệt vời cho Apple. Ông ấy không thực sự nhận thấy con đường thành công.”
Đó cũng là lần đầu tiên Steve Jobs nhìn thấy mạng Internet vận hành trên một chiếc iPod. Và ông tỏ thái độ theo kiểu, ‘Thứ này thật nhảm nhí.’
Một trong số những người cố gắng thuyết phục Jobs là Mike Bell. Một “ma cũ” ở Apple, nơi ông dành 15 năm làm việc, cũng như ở bộ phận không dây của Motorola, Bell tin chắc rằng máy tính, máy nghe nhạc và điện thoại đang hướng tới một điểm hội tụ không thể tránh khỏi. Trong nhiều tháng, ông đã vận động Jobs làm một chiếc điện thoại, cũng như Steve Sakoman, một phó chủ tịch từng tham gia dự án “chết yểu” Newton.
“Chúng tôi đã dành hết thời gian đưa các tính năng của iPod vào điện thoại Motorola,” Bell cho biết. “Điều đó có vẻ ngược đời đối với tôi. Nếu chúng tôi chỉ chọn ra trải nghiệm người dùng của chiếc iPod và một vài thứ khác chúng tôi đang nghiên cứu, chúng tôi có thể chiếm lĩnh thị trường.” Việc tranh cãi với logic đó càng trở nên khó khăn. Loạt điện thoại MP3 mới nhất khi đó ngày càng giống như các đối thủ cạnh tranh của chiếc iPod, và những lựa chọn thay thế mới trong việc đối phó với các nhà mạng cũng đang xuất hiện. Khi đó, Bell đã nhìn thấy thiết kế iPod mới nhất của Jony Ive.
Ngày 7/11/2004, Bell đã gửi cho Jobs một bức e-mail vào đêm muộn. “Steve, tôi biết anh không muốn làm một chiếc điện thoại,” ông viết, “nhưng đây là lý do vì sao chúng ta nên làm vậy: Jony Ive có một vài thiết kế rất tuyệt, chưa từng thấy cho những chiếc iPod tương lai. Chúng ta phải dùng một trong những số đó, cho phần mềm Apple vào, và tự biến nó thành một chiếc điện thoại của riêng mình thay vì đưa đồ của chúng ta vào điện thoại của người khác.”
Jobs gọi cho ông ngay. Họ tranh luận hàng giờ, kẻ đưa người đẩy. Bell nói chi tiết về giả thuyết hội tụ của ông – chắc chắn đã nhắc tới việc thị trường điện thoại đang bùng nổ trên toàn thế giới – và Jobs mổ xẻ từng luận điểm của ông. Cuối cùng, Jobs đã chấp nhận.
“Được rồi, tôi nghĩ chúng ta nên làm điều đó,” ông nói.
“Vậy là Steve, tôi và Jony và Sakoman đã ăn trưa với nhau sau đó 3 hay 4 ngày và khởi động dự án iPhone.”
Hồi sinh máy tính bảng Apple
Ở địa chỉ số 2 Infinite Loop, một dự án cũ về nghiên cứu máy tính bảng màn hình cảm ứng vẫn đang tiến từng bước một. Bas Ording, Imran Chaudhri và các đồng sự vẫn đang khám phá những ngóc ngách của một giao diện người dùng căn bản tập trung vào cảm ứng.
Một ngày nọ, Bas Ording nhận được một cuộc gọi từ Steve. Ông nói, “Chúng ta sẽ làm một chiếc điện thoại.”
Nhiều năm trước, một nhóm kỹ sư đầu vào và các nhà thiết kế chủ chốt đã tạo nên nguyên mẫu cho một số bản thử nghiệm tương tác tập trung vào cảm ứng đa điểm, sau đó là dự án tablet Q79 – một nỗ lực thử nghiệm ban đầu nhằm chế tạo một thiết bị giống như chiếc iPad ngày nay. Nhưng nhiều chướng ngại vật chồng chéo, trong đó một phần không nhỏ là giá thành sản xuất quá cao, đã khiến dự án bị tạm ngừng vô thời hạn. (“Anh phải cho tôi cái gì đó mà tôi có thể bán được,” ông nói với Imran.) Nhưng với màn hình nhỏ hơn và hệ thống được thu gọn lại, Q79 có thể hoạt động như một chiếc điện thoại.
“Nó sẽ có một màn hình nhỏ, đó sẽ là màn hình cảm ứng, sẽ không có nút nào cả, và tất cả phải hoạt động như vậy,” Jobs nói với Ording. Ông đã yêu cầu “tay phù thủy” về giao diện người dùng này thiết kế một bản thử nghiệm tương tác kéo rê trong danh bạ ảo bằng cảm ứng đa điểm. “Tôi đã hết sức hào hứng,” Ording nói. “Tôi đã nghĩ, ‘Đúng là nó có vẻ bất khả thi, nhưng cứ thử làm xem, sẽ rất vui.” Ông đã ngồi xuống, mày mò một khoảng có kích thước bằng chiếc điện thoại trên màn hình chiếc Mac của ông, và dùng nó làm mẫu cho bề mặt của chiếc iPhone. Ông và vài nhà thiết kế khác đã dành nhiều năm thử nghiệm với giao diện người dùng dựa trên cảm ứng – và những năm “mò mẫm” trong lĩnh vực cảm ứng đã đem lại kết quả.
“Chúng tôi đã có sẵn một vài bản thử nghiệm khác, một trang web chẳng hạn – đó chỉ là một bức ảnh mà bạn có thể kéo lên xuống với quán tính,” Ording nói. “Nó đã bắt đầu kiểu như vậy đấy.” Hiệu ứng nổi tiếng khi màn hình của bạn hơi nảy một chút khi chạm tới phần đầu hoặc cuối trang đã được hình thành vì Ording đã không nhận biết được khi ông lên đầu trang. “Tôi tưởng chương trình của mình không chạy vì tôi đã thử kéo nhưng chẳng có gì xảy ra,” ông nói, và khi đó ông đã nhận ra rằng mình đang kéo sai hướng. “Và đó là lúc tôi bắt đầu nghĩ: Tôi có thể làm nó như thế nào để người ta có thể nhìn thấy hoặc cảm thấy rằng mình đã kéo hết rồi? Đúng không? Thay vì thấy nó ‘chết,’ như thể nó không phản ứng vậy.”
Những chi tiết nhỏ mà chúng ta giờ đây coi là bình thường, là sản phẩm của một quá trình tinh chỉnh đến kiệt sức.
Những chi tiết nhỏ này, điều mà chúng ta giờ đây coi là bình thường, là sản phẩm của một quá trình tinh chỉnh đến kiệt sức, của sự thử nghiệm “bằng chứng khái niệm”. Giống như kéo có quán tính, hiệu ứng dường như nhỏ nhặt nhưng giờ đã trở nên phổ biến này khiến cho việc kéo danh sách tên trong danh bạ của bạn có cảm giác “thật” một cách đầy thỏa mãn; những cái tên lướt qua nhanh chóng sau khi bạn kéo xuống, rồi chậm dần còn từng tên một như thể chịu tác động của quy luật vật lý trong thế giới thực.
“Tôi đã phải thử đủ thứ và có tư duy toán học một chút,” Ording nói. “Không phải phần nào của nó cũng phức tạp, nhưng bạn phải có sự kết hợp chính xác, và đó là điều khó khăn nhất.” Cuối cùng, Ording đã khiến cho nó có cảm giác tự nhiên.
“Anh ấy đã gọi lại cho tôi vài tuần sau, và đã xử lý thành công phần kéo quán tính,” Jobs nói. “Và khi tôi nhìn thấy hiệu ứng dây chun, quán tính và vài thứ nữa, tôi đã nghĩ, ‘Chúa ơi, chúng ta có thể làm ra một chiếc điện thoại từ thứ này.’”
Scott Forstall bước vào văn phòng của Greg Christie vào khoảng gần cuối năm 2004 và báo tin cho ông: Jobs muốn làm một chiếc điện thoại. Ông đã đợi khoảng một thập kỷ để nghe được những lời đó.
Christie là người giàu nhiệt huyết và hơi thô lỗ; dáng người chắc nịch và đôi mắt sắc sảo của ông dường như chứa đầy năng lượng. Ông gia nhập Apple vào những năm 1990, khi công ty đang trượt dốc, chỉ để tham gia chế tạo chiếc Newton – lúc ấy là một trong những thiết bị di động đầy hứa hẹn nhất trên thị trường. Khi đó, ông thậm chí đã cố gắng thúc đẩy Apple làm một chiếc điện thoại Newton. “Tôi chắc chắn mình đã đề xuất việc đó hàng chục lần,” Christie nói. Mạng Internet khi đó cũng đang bùng nổ – đó sẽ là một sự vụ lớn: di động, Internet, điện thoại.”
Nhóm Giao diện Con người của ông khi đó đang chuẩn bị bắt tay vào giải quyết thách thức quyết liệt nhất họ từng gặp phải. Các thành viên của đội tập hợp trên tầng 2 của số 2 Infinite Loop, ngay trên phòng thí nghiệm thử nghiệm người dùng cũ, và bắt đầu nghiên cứu việc mở rộng các tính năng, chức năng và hình thức của dự án cũ về máy tính bảng ENRI. Nhóm vài nhà thiết kế và kỹ sư này đã mở phân xưởng trong một văn phòng xám xịt, thảm trải sàn ố bẩn, nội thất cũ kỹ, một nhà vệ sinh rỉ nước bên cạnh, trên tường gần như chẳng có gì ngoài một tấm bảng trắng và, vì một lý do nào đó, một tấm ápphích in hình một con gà.
Jobs thích căn phòng này vì nó an toàn, không có cửa sổ, tránh khỏi những con mắt tò mò. Ngài CEO đã phủ kín từ trên xuống dưới dự án iPhone mới hình thành bằng một tấm màn bí mật. “Bạn biết đấy, đội vệ sinh không được phép vào phòng này vì trên tường có những tấm bảng trắng trượt,” Christie nói. Đội sẽ phác thảo ý tưởng lên đó, và những ý tưởng tốt sẽ được để nguyên. “Chúng tôi không xóa chúng. Chúng trở thành một phần của câu chuyện thiết kế.”
Nội dung của câu chuyện đó là làm thế nào để pha trộn một giao diện người dùng dựa trên cảm ứng với các tính năng của điện thoại thông minh.
May thay, họ đã có một khởi đầu sớm. Trong đội đương nhiên có sự tham gia của đội thử nghiệm đa điểm của ENRI. Nhưng Imran Chaudhri cũng đã chỉ đạo mảng thiết kế của Dashboard, vốn chứa đầy các công cụ – thời tiết, chứng khoán, máy tính, ghi chú, lịch – lý tưởng đối với một chiếc điện thoại. “Ý tưởng ban đầu cho chiếc điện thoại tập trung vào việc sở hữu những công cụ đó ngay trong túi bạn,” Chaudhri nói. Và họ đã đưa chúng sang.
Thiết kế ban đầu của nhiều biểu tượng trong số này thực ra được tạo ra trong một đêm, trong thời gian phát triển Dashboard. “Đó là một trong những thời hạn công việc điên rồ của Steve,” Imran nói, “khi mà ông ấy muốn xem bản thử nghiệm của mọi thứ.” Vậy là ông và Freddy Anzures, một “ma mới” trong đội Giao diện con người (HI), đã dành một đêm dài để nghĩ ra các khái niệm thiết kế “thẳng” cho các công cụ – điều mà nhiều năm sau đã trở thành thiết kế cho các biểu tượng của iPhone. “Thật buồn cười, hình thức của biểu tượng trên smartphone trong suốt một thập kỷ sắp tới lại được vội vàng chuẩn bị chỉ trong vài giờ.”
Và họ phải thiết lập những điều cơ bản khác; chẳng hạn như trông nó sẽ ra sao khi bạn bật điện thoại lên? Một bảng ứng dụng là lựa chọn “khỏi phải nghĩ” để sắp xếp các tính năng của một chiếc smartphone ngày nay – khi giờ đây nó hiển nhiên như nước vậy, theo cách nói của Chaudhri – nhưng khi đó, quyết định không dễ dàng như vậy. “Chúng tôi đã thử một số thứ khác,” Ording nói. “Chẳng hạn, có thể là một danh sách các biểu tượng kèm theo tên ứng dụng.” Nhưng thứ mà sau này được gọi là Springboard đã được đưa ra ngay từ đầu như một tiêu chuẩn. “Về cơ bản chúng giống như những Chiclet nhỏ vậy,” Ording nói. “Đó cũng là sản phẩm của Imran, là một ý tưởng hay, và trông nó rất đẹp.”
Chaudhri yêu cầu đội Thiết kế công nghiệp làm một số bản mô hình iPhone bằng gỗ để họ có thể tìm ra kích thước tối ưu của các biểu tượng để ngón tay chạm vào.
Những bản thử nghiệm đa điểm đều rất hứa hẹn, và phong cách chiếc điện thoại cũng đang thành hình. Nhưng điều mà đội thiếu là sự cố kết – một ý tưởng thống nhất về một chiếc điện thoại dựa trên cảm ứng.
“Chúng thực ra chỉ là những phác thảo,” Christie nói. “Những mảnh ý tưởng nhỏ, giống như mấy món ăn vặt vậy. Một ít cái này, một ít cái kia. Có thể là một phần Danh bạ, một mẩu Safari.” Đồ ăn vặt đương nhiên không thể khiến Jobs thỏa mãn; ông muốn có một bữa ăn có đầy đủ từ khai vị đến tráng miệng. Vì vậy, Jobs ngày càng tỏ ra khó chịu với các bài thuyết trình.
“Tháng 1, vào ngày đầu năm mới, ông ấy đã nổi đóa lên và nói rằng chúng tôi đang không hiểu,” Christie nói. Các mảnh ghép có thể là ấn tượng, nhưng không có sự liền mạch nào kết nối các phần rời rạc với nhau. Đó chỉ là một mớ lộn xộn những ứng dụng và ý tưởng nửa chừng. Không có câu chuyện nào giữa chúng cả.
“Nó giống như khi bạn chuyển một bài báo đến cho biên tập, và đó chỉ là một vài câu trong đoạn mở, vài câu ở thân bài, và một cái gì đó ở giữa đoạn kết bài – nhưng không phải là câu kết bài.”
Như vậy đơn giản là chưa đủ. “Steve đã đưa ra cho chúng tôi một tối hậu thư,” Christie nhớ lại. “Ông ấy nói: Các anh có 2 tuần. Khi đó là tháng 2/2005, và chúng tôi đã bắt đầu chuyến hành quân chết chóc kéo dài 2 tuần này.”
“Steve đã đưa ra cho chúng tôi một tối hậu thư. Ông ấy nói: Các anh có 2 tuần. Khi đó là tháng 2/2005, và chúng tôi đã bắt đầu chuyến hành quân chết chóc kéo dài 2 tuần này.”
Và Christie đã tập hợp đội HI để thuyết phục rằng tất cả nên cùng tiến bước với ông.
“Một chiếc điện thoại là điều tôi luôn muốn làm,” ông nói. “Tôi nghĩ các bạn cũng muốn làm nó. Nhưng chúng ta chỉ có 2 tuần cho cơ hội cuối cùng để làm nó. Và tôi thực sự muốn làm nó.”
Ông không nói đùa. Suốt một thập kỷ, Christie đã tin rằng công nghệ máy tính di động có sứ mệnh hội tụ với điện thoại di động. Đây là cơ hội không chỉ để ông chứng minh rằng mình đúng, mà còn để đi tiên phong trong ý tưởng ấy.
Đội ngũ nhỏ bé này đã ủng hộ ông: Bas, Imran, Christie, 3 nhà thiết kế khác – Stephen LeMay, Marcel van Os và Freddy Anzures – và một quản lý dự án, Patrick Coffman. Họ đã làm việc không ngừng nghỉ để gắn kết những mảnh rời rạc đó với nhau, tạo thành một câu chuyện hoàn chỉnh.
“Về cơ bản chúng tôi đã chuẩn bị như đi đánh trận,” Christie nói. Mỗi nhà thiết kế được giao cho một mảnh nhỏ để hiện thực hóa – một ứng dụng để hoàn thiện – và đội đã dành 2 tuần không ngủ để hoàn thiện hình dáng và cảm nhận của một chiếc iPhone. Và đến cuối cuộc hành quân chết chóc đó, một thứ gần giống như một thiết bị đã thành hình trên sự kiệt sức của đội HI.
“Tôi chắc chắn rằng nếu tôi có thể lấy lại bản thử nghiệm đó và cho bạn xem vào lúc này, bạn sẽ chẳng gặp khó khăn gì để nhận ra nó là một chiếc iPhone,” Christie nói. Trên đó có một nút Home – ở thời điểm đó vẫn dựa trên phần mềm – có thể kéo thả cũng như các thao tác đa điểm khác.
“Chúng tôi đã cho Steve xem dàn ý của cả câu chuyện. Cho anh ấy xem màn hình chính, cho anh ấy xem nếu có cuộc gọi đến thì ra sao, cách truy cập Danh bạ, và ‘đây là hình thức của Safari.’ Nó không chỉ là một cách nói khôn khéo thông minh nào đó, nó đã kể một câu chuyện.”
Và Steve Jobs rất thích một câu chuyện hay.
“Đó là một thành công lớn,” Christie nói. “Ông ấy muốn nghe giới thiệu thêm một lần nữa. Ai xem phần giới thiệu ấy cũng cho rằng nó rất tuyệt. Nó thực sự rất tuyệt.”
Một trong những mẫu thiết kế iPhone ban đầu
Điều đó có nghĩa là dự án đã ngay lập tức được coi là tuyệt mật. Sau bản thử nghiệm vào tháng 2, máy đọc thẻ đã được lắp đặt ở hai đầu hành lang của nhóm Giao diện Con người, trên tầng 2 tòa nhà số 2 Infinite Loop. “Nó đã bị phong tỏa,” Christie nói. “Đó là từ người ta dùng để nói về tình trạng khi có bạo loạn trong nhà tù đúng không? Đúng đấy. Chúng tôi đã ở trong tình trạng phong tỏa.”
Điều đó cũng có nghĩa là họ còn phải làm rất nhiều việc nữa. Nếu những buổi họp nghiên cứu giao diện cảm ứng là màn giới thiệu, chế tạo nguyên mẫu máy tính bảng là màn mở đầu, thì đây là màn 2 của “vở diễn” iPhone, và vẫn còn nhiều điều nữa cần được viết. Nhưng giờ đây khi Jobs đã đầu tư vào câu chuyện, ông ấy muốn khoe nó, một cách thật phong cách, cho phần còn lại của công ty. “Chúng tôi có ‘bản thử nghiệm lớn’ này – chúng tôi gọi nó như vậy,” Ording nói. Steve muốn giới thiệu nguyên mẫu chiếc iPhone trong cuộc họp nội bộ Top 100 của Apple. “Cứ cách một thời gian họ lại tổ chức cuộc họp này, với sự tham gia của mọi nhân vật quan trọng, nói về hướng đi của công ty,” Ording cho biết. Jobs sẽ mời những người ông coi là thuộc nhóm 100 nhân viên hàng đầu tới một địa điểm bí mật, nơi họ sẽ trình bày và thảo luận về các sản phẩm và chiến lược trong tương lai gần. Đối với những nhân viên Apple đang lên, đây là một cơ hội nghề nghiệp “được ăn cả, ngã về không”. Đối với Jobs, những bài thuyết trình phải được điều chỉnh thật cẩn thận, không khác gì những buổi ra mắt sản phẩm trước công chúng.
“Từ đó cho tới tháng 5 lại là một cuộc chạy đua khủng khiếp nữa, để… nghĩ ra những đoạn văn kết nối,” Christie nói. “Được rồi, chúng ta sẽ có những ứng dụng gì? Một cuốn lịch trong tay bạn nên trông như thế nào đây? E-mail thì sao? Mỗi bước trên hành trình này đều khiến nó trở nên cụ thể hơn, thật hơn. Chơi nhạc trên iTunes của bạn. Trình phát đa phương tiện. Phần mềm iPhone khởi đầu là một dự án thiết kế ở hành lang của tôi, với đội ngũ của tôi.” Christie đã hack model mới nhất của chiếc iPod để các nhà thiết kế có thể cảm nhận được các ứng dụng trông sẽ ra sao trên một thiết bị. Bản thử nghiệm bắt đầu thành hình. “Bạn có thể nhấn vào ứng dụng e-mail và nhìn thấy cách nó hoạt động, và trình duyệt web,” Ording nói. “Nó không hoạt động đầy đủ, nhưng đủ để bạn có thể biết được ý tưởng là gì.”
Christie đã dùng một từ để miêu tả cách mà nhóm iPhone làm việc quên giờ giấc, nhiều hơn hẳn những từ khác, nếu bạn để ý. Đó là “công việc khủng khiếp, vất vả. Tôi cho người trong nhóm ở khách sạn vì tôi không muốn họ lái xe về nhà. Người ta đến và ngủ nhờ nhà tôi,” ông nói, nhưng “nó cũng mang lại cảm giác rất tươi mới.”
Steve Jobs đã thực sự bị thuyết phục bởi kết quả làm việc của đội. Và tất cả những người khác cũng sớm cảm thấy điều đó. Bài thuyết trình ở Top 100 là một thành công vang dội nữa.
Hồn smartphone, da iPod
Khi Fadell nghe nói một dự án điện thoại đang thành hình, ông ấy đã mang theo thiết kế nguyên mẫu từ các dự án sáng tạo của mình về chiếc điện thoại iPod trước khi tới dự họp ban giám đốc.
“Đã có một cuộc họp mà trong đó họ nói về việc hình thành một dự án điện thoại trong đội,” Grignon nói. “Tony có nó trong túi sau, một nhóm đã và đang làm về phần cứng và giản đồ, toàn bộ thiết kế cho nó. Và một khi có được sự cho phép của Steve, Tony đã nói, ‘Ồ đợi chút, thực ra’ – xoẹt! Như thể ông ấy phóng tác ra nó vậy, “đây là nguyên mẫu mà chúng tôi đã nghiên cứu,” và đó về cơ bản là một thiết kế hoàn chỉnh.”
Trên giấy, logic này dường như không thể tranh cãi: Chiếc iPod là sản phẩm thành công nhất của Apple, những chiếc điện thoại sắp sửa ăn lấn sang thị phần của iPod, vậy tại sao không phải là một chiếc điện thoại iPod? “Lấy chiếc iPod tốt nhất và cho một chiếc điện thoại vào đó,” Fadell nói. “Vậy là bạn có thể liên lạc di động mà vẫn có thư viện nhạc của bạn trong tay, và chúng tôi không mất đi toàn bộ sự nhận diện thương hiệu mà chúng tôi đã xây dựng trong chiếc iPod, nửa tỷ USD chúng tôi đã dành ra để người ta biết tới nó trên toàn thế giới.” Đơn giản vậy thôi.
Hãy nhớ rằng mặc dù trong nội bộ Apple người ta ngày càng thấy rõ rằng họ sẽ theo đuổi một chiếc điện thoại, nhưng không hề có gì chắc chắn về hình thức hay cảm giác của nó. Hay cách nó hoạt động ở gần như mọi cấp độ.
“Đầu năm 2005, trong khoảng thời gian đó, Tony bắt đầu nói rằng người ta bàn tán rằng họ sẽ làm một chiếc điện thoại,” David Tupman, người khi đó đang đứng đầu phần cứng iPod cho biết. “Và tôi nói, ‘Tôi rất muốn làm một chiếc điện thoại. Tôi muốn dẫn dắt dự án đó.’ Ông ấy nói, ‘Không.’” Tupman cười lớn. “‘Anh không thể làm vậy.’ Nhưng họ đã tổ chức một loạt phỏng vấn, và tôi đoán là họ chẳng tìm được ai, và tôi thì kiểu như, ‘Này, tôi vẫn ở đây nhé!’ Tony đã nói, ‘Được rồi, anh làm đi.’”
Nhóm iPod không hề biết gì về những điều đang diễn ra ở nhóm HI.
“Chúng tôi sẽ xây dựng cái mà tất cả đều cho rằng chúng tôi nên xây dựng vào thời điểm đó: Hãy cho một chiếc điện thoại vào trong chiếc iPod,” Andy Grignon nói. Và đó chính là điều họ đã bắt tay vào làm.
Mọi chuyện sẽ ra sao?
Richard Williamson xuất hiện trong phòng làm việc của Steve Jobs. Ông đến đây là để thảo luận chính cái việc mà không ai muốn nói với Steve Jobs – đó là rời khỏi Apple.
Trong nhiều năm, ông đã phụ trách một nhóm, nhóm này đã phát triển khuôn khổ cho Safari, được gọi là WebKit. Một lưu ý nhỏ về WebKit: Không giống như hầu hết các sản phẩm được Apple phát triển và triển khai, WebKit có mã nguồn mở. Một lưu ý khác: Trước năm 2013, chính trình duyệt Chrome của Google cũng dựa trên WebKit. Nói cách khác, đó là một phần mềm “hàng khủng.” Và Williamson từng là “nhân vật thường được gọi là ‘ngôi sao nhạc rock’ ở Thung lũng Silicon,” theo cách nói của Forbes. Nhưng ông cảm thấy kiệt sức trong việc cập nhật mãi cùng một nền tảng.
“Chúng tôi đã phát triển qua 3, 4 phiên bản của WebKit, và tôi đang nghĩ đến việc chuyển sang Google,” ông nói. “Đó là lúc Steve gọi cho tôi.”
Và Steve không hề vui.
Khi bạn mường tượng ra hình ảnh một “kỹ sư máy tính thành công,” hình ảnh hiện ra trong đầu bạn về cơ bản chính là ngoại hình của Williamson – đeo kính, kiểu “đầu to mắt cận” không lẫn vào đâu được, trên người mặc một chiếc áo sơmi. Chúng tôi đã gặp nhau để phỏng vấn tại một nhà hàng sushi ở Palo Alto; họ thay thế những người phục vụ bằng dịch vụ tự động thông qua những chiếc iPad được gắn trên bàn. Một địa điểm thật thích hợp.
Williamson ăn nói điềm đạm, với một chút giọng Anh. Ông có vẻ hòa nhã nhưng rụt rè – có một chút lo lắng gì đó trong giọng nói của ông – và rất thông minh sắc sảo. Ông có khuynh hướng nói lướt qua những ý tưởng được rút ra từ một sự hiểu biết sâu sắc về lập trình, sự nhạy bén trong ngành và triết lý công nghệ, đôi khi chỉ trong một câu nói.
Vào giữa những năm 1980, một người bạn đã thuyết phục Williamson mở một công ty viết phần mềm cho Commodore Amiga, một chiếc PC thời kỳ đầu. “Chúng tôi đã viết một chương trình có tên là Marauder, đó là một chương trình làm ra các bản backup lưu trữ cho các ổ đĩa được bảo vệ sao chép.” Ông cười lớn. “Đó là cách mô tả kiểu ngoại giao cho chương trình đó.” Về cơ bản, họ đã tạo ra một công cụ cho phép người dùng sao chép bất hợp pháp phần mềm. “Do đó chúng tôi có thể coi là có một dòng doanh thu ổn định,” ông nói một cách tinh quái.
Một trong những mẫu thiết kế iPhone ban đầu
Năm 1985, công ty “hậu Apple” của Steve Jobs, NeXT, khi đó vẫn còn hoạt động với quy mô nhỏ và đang “khát” những kỹ sư giỏi. Ở đó, Williamson đã gặp Steve Jobs và 2 người khác. Ông đã cho họ xem những gì ông đã làm cho chiếc Amiga, và họ đã thuê ông ngay tại đó. Lập trình viên trẻ Williamson đã dành 25 năm sau đó trong “quỹ đạo” của Jobs và của đội ngũ ở NeXT, làm nên những phần mềm mà sau này sẽ tạo thành cốt lõi của chiếc iPhone.
“Đừng đi,” Jobs nói, theo lời kể của Williamson. “Chúng tôi có một dự án mới này mà tôi nghĩ anh sẽ thấy hứng thú.”
Và Williamson đã yêu cầu được xem nó. “Vào thời điểm đó, vẫn chưa có ai trong dự án theo góc nhìn phần mềm, tất cả gần như chỉ là một ý tưởng trong đầu Steve.” Nó dường như không phải là một lý do thuyết phục để Williamson bỏ qua một đề nghị mới rất hấp dẫn khác. “Google đã sẵn sàng cho tôi một số công việc rất thú vị khác, nên đó là một thời khắc mang tính quyết định,” ông nói.
“Vậy là tôi nói, ‘Thực ra thì vẫn chưa có màn hình, công nghệ hiển thị cũng không hẳn đã có.’ Nhưng Steve đã thuyết phục tôi rằng tất cả đã sẵn sàng. Rằng sẽ có đường đi.” Williamson ngừng lại một giây. “Tất cả đều đúng, về Steve ấy,” Williamson nói, một nụ cười thoáng qua trên môi. “Tôi đã làm việc với ông ấy từ hồi NeXT, và tôi đã bị tia nhìn của ông ấy thuyết phục nhiều lần.”
Vậy mọi chuyện sẽ ra sao? Đương nhiên là Williamson ở lại. “Vậy là tôi đã trở thành một người ủng hộ, ở thời điểm đó, việc xây dựng một thiết bị để lướt web.”
Điện thoại nào?
“Steve muốn làm một chiếc điện thoại, và ông ấy muốn làm nó nhanh nhất có thể,” Williamson nói. Nhưng điện thoại nào?
Có 2 lựa chọn: (a) Lấy chiếc iPod được nhiều người biết đến và yêu mến, hack nó để nó có thể dùng làm điện thoại (về mặt kỹ thuật, đó là lựa chọn dễ dàng hơn, và Jobs không hình dung chiếc iPhone là một thiết bị máy tính di động mà là một thiết bị nâng cấp thêm tính năng điện thoại), hoặc (b) biến một chiếc Mac thành một thiết bị dạng bảng cảm ứng nhỏ xíu có thể gọi điện được (một ý tưởng rất thú vị nhưng tràn đầy sự mơ hồ viễn tưởng).
“Sau bản thử nghiệm lớn,” Ording nói, “các kỹ sư bắt đầu suy nghĩ xem sẽ cần tới những gì để thực sự biến nó thành hiện thực? Về phần cứng, và cả phần mềm nữa,” Ording nói. Nói rằng những kỹ sư đầu tiên nghiên cứu nó đã tỏ ra hoài nghi về khả năng nó được hiện thực hóa, thì sẽ là nói giảm nhẹ. “Họ đã nói, ‘Ôi Chúa ơi, thứ này – chúng tôi không biết, nó sẽ cần tới rất nhiều công sức. Chúng tôi thậm chí không biết cần tới bao nhiêu công sức.”
Có quá nhiều việc cần làm để chuyển một khối Mac đa điểm vào một sản phẩm, và lại là một sản phẩm với nhiều công nghệ mới, chưa được kiểm chứng như vậy, đến mức khó có thể đưa ra một lộ trình, hay thậm chí hình dung tất cả các mảnh của nó sẽ được ghép lại với nhau như thế nào.
Chiếc điện thoại Rokr tệ hại
Việc phát triển điện thoại Rokr đã được tiếp tục xuyên suốt năm 2005. “Chúng tôi đều nghĩ chiếc Rokr là một trò đùa,” Williamson nói. Vị CEO nổi tiếng sát sao của Apple thậm chí tới đầu tháng 9/2005 mới nhìn thấy chiếc Rokr hoàn chỉnh, đó là ngay trước khi ông phải giới thiệu nó trước toàn thế giới. Và ông đã tỏ ra kinh hãi. “Ông ấy nói, ‘Chúng ta có thể làm gì nữa, chúng ta có thể chữa nó như thế nào?’ Ông ấy biết nó không đủ tiêu chuẩn nhưng không biết nó tồi tệ đến mức nào. Khi nó cuối cùng cũng được đưa tới, ông ấy thậm chí không muốn giới thiệu nó trên sân khấu vì ông ấy quá xấu hổ vì nó,” Fadell nói.
Trong buổi giới thiệu, Jobs cầm chiếc điện thoại như một chiếc tất chưa giặt. Đã có lúc chiếc Rokr không chuyển được từ gọi điện thoại sang phát nhạc, khiến ông khó chịu ra mặt. Vậy là, khi Jobs giới thiệu về “chiếc điện thoại di động có iTunes đầu tiên trên thế giới” cho giới truyền thông, đó cũng là lúc ông quyết tâm làm cho nó trở nên lỗi thời. Ông góp phần làm điều này bằng việc dành tặng cho chiếc iPod Nano mới vô số lời khen, đẩy nó lên làm ngôi sao của chương trình một cách rõ ràng và được cho là đã khiến các giám đốc điều hành của Motorola đùng đùng nổi giận.
Steve Jobs giới thiệu iPod Nano và Motorola Rokr
“Khi xuống khỏi sân khấu, ông ấy tỏ rõ thái độ khó chịu,” Fadell nói. Chiếc Rokr thê thảm đến mức đã được lên trang bìa tạp chí Wired với dòng tít “Bạn gọi đây là chiếc điện thoại của tương lai ư?” và chẳng bao lâu sau đã bị gửi trả với tỷ lệ cao hơn 6 lần so với tỷ lệ trung bình của ngành. Sự tệ hại của nó đã khiến Jobs phải ngạc nhiên – và cơn giận của ông đã giúp ông có động lực “kéo cò” mạnh hơn nữa cho một chiếc điện thoại do Apple làm ra. “Không phải lúc nó thất bại, mà chính là lúc sau khi nó được tung ra,” Fadell nói. “Thứ này không thể bán được. Tôi đã chán ghét và mệt mỏi với việc đối phó với mấy gã thiết bị cầm tay nhàng nhàng đó rồi,” Jobs nói với Fadell sau buổi thuyết trình.
“Đó chính là giọt nước tràn ly,” Fadell nói. “Đó là, ‘Cái thứ này thật là khốn kiếp, chúng ta sẽ làm chiếc điện thoại của riêng mình.’”
“Steve triệu tập một cuộc họp lớn,” Ording nói. “Tất cả đều ở đó, Phil Schiller, Jony Ive và tất cả mọi người.” Ông nói, “Nghe này. Chúng ta sẽ thay đổi kế hoạch… Chúng ta sẽ làm một thứ dựa trên iPod, biến nó thành một chiếc điện thoại vì nó là một dự án khả thi hơn nhiều. Dễ đoán hơn.” Đó là dự án của Fadell. Nỗ lực dành cho màn hình cảm ứng không bị bỏ rơi, nhưng trong khi các kỹ sư nghiên cứu cách hoàn thiện nó, Jobs đã chỉ đạo cho Ording, Chaudhri và các thành viên của nhóm Giao diện Người dùng thiết kế một giao diện cho một chiếc điện thoại iPod, một cách để quay số điện thoại, chọn liên lạc trong danh bạ và lướt web bằng chiếc bánh xe click-wheel quen thuộc.
Giờ đây có 2 dự án cạnh tranh với nhau để trở thành chiếc iPhone. Hai dự án điện thoại được chia thành 2 con đường với mật mã lần lượt là P1 và P2. Cả hai đều tuyệt mật. P1 là chiếc điện thoại iPod. P2 là đứa con lai vẫn đang được thử nghiệm của công nghệ đa điểm và phần mềm Mac.
Nếu có sự kiện nào khơi mào cho cuộc đối đầu chính trị sau này sẽ xảy đến và nuốt trọn dự án, thì nhiều khả năng chính là đây, trong quyết định phân chia 2 đội – bộ phận iPod của Fadell, vốn đang quản lý việc nâng cấp dòng sản phẩm này đồng thời chế tạo nguyên mẫu điện thoại iPod, và những nhân vật kỳ cựu về phần mềm Mac OS của Scott Forstall – và thúc đẩy họ cạnh tranh với nhau. (Trong khi đó, các nhà thiết kế của đội Giao diện Con người làm việc với cả P1 lẫn P2.)
Cuối cùng, các giám đốc giám sát những yếu tố quan trọng nhất của chiếc iPhone – phần mềm, phần cứng và thiết kế kiểu dáng công nghiệp – đã phải cố gắng lắm mới chịu được việc ngồi trong cùng một phòng. Người này bỏ việc, người kia bị sa thải, và người khác nữa lại nổi lên một cách chắc chắn – và có lẽ là duy nhất – với tư cách gương mặt mới của sự thông thái của Apple trong thời đại “hậu Jobs.” Trong khi đó, các nhà thiết kế, kỹ sư và lập trình viên vẫn làm việc không biết mệt mỏi, bên dưới sự ganh đua chính trị đó, để biến những chữ P thành những thiết bị hoạt động được bằng mọi cách có thể.
“Nhà lãnh đạo” tím
Mỗi dự án tuyệt mật có giá trị và khơi gợi trí tò mò đều có một mật hiệu. Mật hiệu của chiếc iPhone là Purple (màu tím).
“Một trong số những tòa nhà của chúng tôi ở Cupertino, chúng tôi đã phong tỏa nó,” Scott Forstall, người từng quản lý phần mềm Mac OS X và sau đó điều hành toàn bộ chương trình phần mềm của iPhone cho biết. “Chúng tôi bắt đầu với một tầng” – nơi đội Giao diện Con người của Greg Christie làm việc – “Chúng tôi phong tỏa toàn bộ tầng đó. Chúng tôi lắp đặt cửa có máy đọc thẻ, tôi nghĩ là có cả camera nữa, để đến một số phòng thí nghiệm của chúng tôi, bạn phải quẹt thẻ 4 lần mới tới.” Ông ấy gọi đó là Ký túc xá tím, vì “giống như ký túc xá, lúc nào cũng có người ở đó.”
Họ đã “treo một tấm biển viết chữ ‘Fight Club’ vì luật đầu tiên của Fight Club trong bộ phim cùng tên là không được nói về Fight Club, và luật đầu tiên của Dự án Tím là không được nói về nó bên ngoài những cánh cửa ấy,” Forstall nói.
Tại sao lại là Tím? Chẳng mấy ai còn nhớ. Có một giả thuyết là nó được đặt tên theo món đồ chơi hình một con kangaroo màu tím mà Scott Herz – một trong những kỹ sư đầu tiên tới làm việc cho dự án iPhone – đã dùng làm linh vật cho Radar, hệ thống mà các kỹ sư Apple sử dụng để theo dõi các lỗi phần mềm ở khắp công ty. “Mọi lỗi bug đều được theo dõi trong Radar ở Apple, và rất nhiều người có quyền truy cập Radar,” Richard Williamson cho biết. “Vậy nên nếu bạn là một kỹ sư tò mò, bạn có thể đi lục lọi hệ thống theo dõi lỗi bug và xem xem mọi người đang làm về cái gì. Và nếu bạn đang thực hiện một dự án bí mật, bạn sẽ phải nghĩ xem làm thế nào để xóa dấu vết trên đó.”
Scott Forstall, sinh năm 1969, đã đưa Apple vào từng ngóc ngách trong tâm trí ông. Thời trung học, kỹ năng toán học và khoa học phát triển sớm của ông đã giúp ông được học khóa nâng cao và do đó được tiếp xúc với một chiếc máy tính Apple IIe. Ông đã học lập trình, và lập trình giỏi. Tuy nhiên, hình ảnh của Forstall không khớp với khuôn mẫu về một người say mê máy tính điển hình. Ông là một thành viên cừ khôi của đội hùng biện và là một diễn viên trong các vở nhạc kịch; ông đóng vai chính trong vở Sweeney Todd, vai người thợ cắt tóc ma quỷ. Forstall tốt nghiệm Stanford vào năm 1992 với bằng thạc sỹ khoa học máy tính và có được một công việc ở NeXT.
Sau khi cho ra mắt một chiếc máy tính đắt tiền nhắm vào thị trường giáo dục bậc cao, NeXT đã phải vật lộn với tư cách một công ty phần cứng, nhưng đã sống sót nhờ đăng ký bản quyền cho hệ điều hành NeXTSTEP rất mạnh của mình. Năm 1996, Apple đã mua lại NeXT và đưa Jobs trở lại, và quyết định được đưa ra là dùng NeXTSTEP để lật đổ hệ điều hành già cỗi của Mac. Nó đã trở thành nền tảng cho những chiếc Mac – và iPhone – vẫn vận hành ngày nay. Ở một Apple do Jobs dẫn dắt, Forstall vươn lên nhanh chóng. Ông bắt chước phong cách quản lý và thị hiếu đặc trưng của thần tượng. BusinessWeek đã gọi ông là “Kẻ tập sự của Phù thủy.”
Một trong những mẫu thiết kế iPhone ban đầu
Một trong những đồng nghiệp cũ của ông ca ngợi ông như một nhà lãnh đạo thông minh và hiểu biết, nhưng cho rằng ông đã đi quá xa trong việc thần thánh hóa Jobs: “Nhìn chung anh ấy rất tuyệt, nhưng đôi khi tôi cũng muốn nói rằng anh ấy hãy cứ là mình thôi.” Forstall nổi lên với tư cách một người dẫn dắt nỗ lực điều chỉnh phần mềm Mac sao cho phù hợp với một chiếc điện thoại cảm ứng. Mặc dù một số người cảm thấy không hài lòng với cái tôi và tham vọng mãnh liệt của ông – ông “rất cần nịnh hót,” theo một người đồng lứa với ông, và bị gọi là kẻ “bám dính lấy sao” bởi một người khác – ít người có thể tranh cãi về phẩm chất tư duy và đạo đức nghề nghiệp của ông. “Tôi không biết những người khác đã nói gì về Scott,” Henri Lamiraux nói, “nhưng làm việc với anh ấy rất thích.”
Forstall đã dẫn nhiều kỹ sư hàng đầu mà ông từng làm việc cùng từ những ngày còn ở NeXT – Henri Lamiraux và Richard Williamson là 2 trong số đó – tới gia nhập dự án P2. Williamson đã gọi đùa nhóm này là “mafia NeXT.” Đúng như tên gọi, đôi khi họ hành xử giống như trong một tổ chức khăng khít, bí mật (và cực kỳ hiệu quả).
P1: Hết thứ này đến thứ khác
Tony Fadell là đối thủ cạnh tranh chính của Forstall.
“Từ góc nhìn chính trị, Tony muốn sở hữu toàn bộ trải nghiệm đó,” Grignon nói. “Phần mềm, rồi phần cứng… một khi người ta bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng của dự án này đối với Apple, ai cũng muốn nhúng tay vào nó. Và đó là lúc trận chiến lớn giữa Fadell và Forstall bắt đầu.”
Từng làm việc với Forstall về Dashboard, Grignon có một vị trí độc đáo để tương tác với cả hai nhóm. “Từ góc nhìn của chúng tôi, Forstall và đội của ông ấy, chúng tôi luôn coi họ là những kẻ yếm thế. Như thể họ đang cố gắng len chân vào,” Grignon nói. “Chúng tôi hoàn toàn tự tin rằng dự án của chúng tôi sẽ được thực hiện vì đây là dự án của Tony, và Tony là người tạo ra nhiều, nhiều triệu doanh thu cho máy iPod.”
Vậy là đội iPod đã nghiên cứu để tạo ra một chiếc điện thoại iPod mới từ khuôn mẫu của chiếc máy nghe nhạc cực kỳ phổ biến của Apple. Ý tưởng của họ là làm ra một chiếc iPod có 2 chế độ riêng biệt: Máy nghe nhạc và điện thoại. “Chúng tôi đã thiết kế nguyên mẫu theo cách mới,” Grignon nói về thiết bị ban đầu. “Nó được làm từ một loại vật liệu thú vị… nó vẫn có bánh xe click-wheel cảm ứng, và các nút Play/Pause/Next/Previous có đèn nền màu xanh. Và khi bạn đặt chế độ điện thoại cho nó thông qua giao diện người dùng, tất cả ánh sáng đó sẽ tắt dần đi rồi bật dần lên màu da cam. Số 0 đến số 9 trên click-wheel giống như điện thoại quay số kiểu cũ, ABCDEF xung quanh viền.” Khi trong chế độ nghe nhạc, đèn nền màu xanh sẽ thể hiện các nút điều khiển của iPod trên bánh xe cảm ứng. Màn hình vẫn sẽ có chữ và danh sách theo kiểu iPod, và nếu bạn chuyển nó sang chế độ điện thoại, nó sẽ sáng màu da cam và hiển thị số giống như bàn quay số của một chiếc điện thoại cổ.
Hình ảnh từ một đơn xin cấp bằng sáng chế của Apple vào năm 2006 cho kiểu quay số điện thoại tròn bên trong một chiếc iPod.
“Chúng tôi đưa một chiếc radio vào đó, trên thực tế là một chiếc iPod Mini với loa và tai nghe, vẫn sử dụng giao diện bánh xe cảm ứng,” Tupman nói.
“Và khi bạn nhắn tin, nó quay số – và nó đã hoạt động!” Grignon nói. “Vậy là chúng tôi làm ra khoảng vài trăm chiếc như thế.”
Vấn đề là khi ở chế độ điện thoại, chúng rất khó sử dụng. “Sau khi chúng tôi lặp lại quy trình lần 1 cho phần mềm, chúng tôi nhận thấy rõ rằng nó sẽ chẳng đi đến đâu,” Fadell nói. “Vì giao diện bánh xe của nó. Nó sẽ chẳng bao giờ thành công vì chẳng ai muốn phải nhập số bằng cách quay số trên điện thoại cả.”
Nhóm thiết kế đã nỗ lực hết sức để tìm ra giải pháp.
“Tôi đã có ý tưởng về một bàn phím có khả năng đoán trước từ,” Bas Ording nói. Sẽ có một bảng chữ cái ở phía dưới màn hình, và người dùng sẽ dùng bánh xe để chọn các chữ cái. “Và sau đó bạn có thể nhấn, click-click-click-click – ‘Hello, how are you.’ Vậy là tôi đã chế tạo một thứ thực sự có thể học ngay khi bạn gõ – nó sẽ xây dựng một cơ sở dữ liệu những từ thường theo sau nhau.” Nhưng quy trình đó vẫn quá cồng kềnh.
“Rõ ràng chúng tôi đã giao cho bánh xe click-wheel quá nhiều nhiệm vụ,” Grignon nói. “Rồi nhắn tin, rồi số điện thoại – một đống bừa bộn.”
“Chúng tôi đã thử đủ mọi cách,” Fadell nói. “Và chẳng có gì cải thiện được nó. Steve vẫn cố, và chúng tôi đã can ngăn, ‘Steve này,’ Ông ấy đang cố đẩy hòn đá to lên đỉnh dốc. Hãy nói thế này: Tôi nghĩ ông ấy biết, tôi nhìn vào mắt ông ấy và biết là ông ấy biết; ông ấy chỉ muốn nó hoạt động được thôi,” ông nói. “Ông ấy cứ ‘cố đấm ăn xôi’.”
“Thôi nào, chắc hẳn phải có cách gì đó chứ,” Jobs khi đó đã nói với Fadell. “Ông ấy chỉ không muốn bỏ cuộc. Vậy là ông ấy đẩy, cho tới khi chẳng còn gì ở đó nữa,” Fadell nói.
Họ thậm chí đã nộp hồ sơ xin cấp bản quyền cho thiết bị xấu số ấy, và ở một góc nào đó ở Cupertino, có những văn phòng và phòng thí nghiệm mà trong đó rải rác hàng chục chiếc điện thoại iPod hoạt động được. “Chúng tôi đã thực sự thực hiện được những cuộc gọi,” Grignon cho biết.
Hóa ra những cuộc gọi đầu tiên từ một chiếc điện thoại Apple không hề được thực hiện trên giao diện cảm ứng hiện đại của tương lai, mà trên một máy quay số kiểu steampunk. “Chúng tôi đã tới rất gần,” Ording nói. “Tình hình là chúng tôi có thể hoàn thiện nó và biến nó thành một sản phẩm… Nhưng tôi nghĩ Steve hẳn đã thức dậy vào một ngày nọ và nghĩ: ‘Thứ này không gây hứng thú như mấy thứ cảm ứng kia.’”
“Đối với chúng tôi ở đội phần cứng, đó là một trải nghiệm tuyệt vời,” David Tupman nói. “Chúng tôi đã được chế tạo bảng radio RF, nó đã ép chúng tôi phải lựa chọn nhà cung cấp, thúc đẩy chúng tôi đặt mọi thứ vào chỗ của nó.” Trên thực tế, các yếu tố của chiếc điện thoại iPod cuối cùng đã “di cư” sang chiếc iPhone thành phẩm; nó giống như phiên bản 0.1 vậy, Tupman nói. Chẳng hạn: “Hệ thống radio trong chiếc điện thoại iPod là thứ đã được chuyển vào chiếc iPhone thực sự.”
Không tham gia
Lần đầu tiên Fadell nhìn thấy cỗ máy tính bảng-cảm ứng của P2, ông đã rất ấn tượng – và cũng rất bối rối. “Steve đã kéo tôi vào một phòng, khi mọi thứ về chiếc điện thoại iPod đều đang thất bại, và nói ‘Hãy tới xem cái này.’” Jobs đã cho ông xem bản nguyên mẫu đa điểm của đội ENRI. “Trong thời gian đó, họ đã nghiên cứu chiếc Mac cảm ứng. Nhưng đó không phải là một chiếc Mac cảm ứng; theo nghĩa đen, nó là một căn phòng với một chiếc bàn chơi bóng bàn, một máy chiếu, và một đồ vật là cái màn hình cảm ứng lớn,” Fadell nói.
“Đây là thứ tôi muốn đưa vào chiếc điện thoại,” Jobs nói.
“Steve, hẳn rồi,” Fadell trả lời. “Nó thậm chí còn lâu mới chế tạo được thành sản phẩm. Nó là một nguyên mẫu, và không phải nguyên mẫu đúng kích thước – nó là một cái bàn nguyên mẫu. Nó là một dự án nghiên cứu. Mới chỉ có khoảng 8% của sản phẩm ở trong đó thôi,” Fadell nói.
David Tupman lạc quan hơn. “Tôi nói, ‘Ồ, đúng đấy, chúng ta phải tìm ra cách để làm được việc này.’” Ông ấy tin rằng các thách thức về kỹ thuật có thể được giải quyết. “Tôi nói, ‘Hãy ngồi xuống và xem qua các số liệu và giải quyết vấn đề này.’”
Chiếc điện thoại iPod đang mất dần sự ủng hộ. Các giám đốc tranh luận với nhau về việc nên theo đuổi dự án nào, ngoại trừ Phil Schiller, người đứng đầu mảng marketing của Apple – ông đã có câu trả lời: Chẳng theo dự án nào cả. Ông muốn một bàn phím cứng. Chiếc BlackBerry có thể được coi là chiếc smartphone đình đám đầu tiên. Nó có tính năng e-mail và một bàn phím cứng nhỏ xíu. Sau khi tất cả những người khác, trong đó có Fadell, bắt đầu nhất trí rằng cảm ứng đa điểm mới là hướng đi đúng, Schiller đã trở thành người cố thủ cuối cùng.
Một trong những mẫu thiết kế iPhone ban đầu
Ông ấy “cứ ngồi đó trong tư thế ‘lăm lăm tay kiếm’ và nói, ‘Không, chúng ta phải có bàn phím cứng. Không. Bàn phím cứng.’ Và ông ấy sẽ chẳng chịu nghe giải thích, dù tất cả chúng tôi đều, ‘Không, giờ dùng thứ này là ổn rồi, Phil.’ Và ông ấy sẽ nói, ‘Phải có bàn phím cứng mới được!’” Fadell nói.
Schiller không có được sự nhạy bén về công nghệ như nhiều giám đốc khác. “Phil không phải là con người của công nghệ,” Brett Bilbrey, người từng đứng đầu Nhóm công nghệ tiên tiến của Apple cho biết. “Đã có những lúc người ta phải giải thích các thứ cho anh ấy như thể một đứa trẻ học tiểu học vậy.” Bilbrey cho rằng Jobs thích ông ấy vì ông “nhìn nhận công nghệ giống như một người Mỹ trung bình, giống như ông bà chúng ta vậy.”
Khi những người còn lại trong đội đều đã quyết định chuyển sang cảm ứng đa điểm và một bàn phím ảo, Schiller đã nổi xung. “Chúng tôi có một cuộc họp lớn, mà ở đó chúng tôi cuối cùng đã nhất trí đi theo một hướng,” Fadell nói, “và anh ấy đã nổi giận.”
“Chúng ta đang đưa ra một quyết định sai lầm!” Schiller thét lên.
“Steve nhìn anh ấy và nói, ‘Tôi chán ngấy và mệt mỏi với thứ này rồi. Chúng ta có thể không nói về nó nữa được không?’ Và Steve đuổi anh ấy khỏi cuộc họp,” Fadell nhớ lại. Sau đó, ông nói: “Steve và anh ấy đã nói chuyện thẳng thắn với nhau ngoài hành lang. Steve nói với anh ấy, hoặc nhất trí với mọi người, hoặc ra khỏi dự án. Và cuối cùng anh ấy đã nhượng bộ.”
Việc này đã làm rõ một điều: Chiếc điện thoại sẽ được dựa trên một màn hình cảm ứng. “Chúng ta đều biết rằng đây là điều chúng ta muốn làm,” Jobs nói trong một cuộc họp, chỉ tay vào màn hình cảm ứng. “Vậy nên hãy khiến nó hoạt động được.”
Vòng 2
Một cựu giám đốc Apple từng nói với tôi rằng “đã có hẳn một cuộc chiến tranh tôn giáo về chiếc điện thoại” giữa đội iPod và đội Mac OS. Khi chiếc bánh xe iPod bị loại bỏ và màn hình cảm ứng được chọn, vấn đề đặt ra lại là xây dựng hệ điều hành của chiếc điện thoại như thế nào. Đây là một bước ngoặt then chốt – nó sẽ xác định chiếc iPhone sẽ được coi như một phụ kiện hay một máy tính di động.
“Tony và đội ngũ của ông ấy lập luận rằng chúng tôi cần nâng cấp hệ điều hành và đưa nó theo hướng đi của chiếc iPod, tức là rất thô sơ,” Richard Williamson nói. “Còn bản thân tôi, Henri và Scott Forstall, chúng tôi lập luận rằng cần sử dụng OS X” – hệ điều hành chính của Apple, vốn chạy trên các loại máy tính để bàn và laptop của Apple – “và thu nhỏ nó lại.”
“Đã có những trận chiến hoành tráng, mang tính triết lý trong việc cố gắng quyết định xem nên làm điều gì,” Williamson nói.
Nhóm “mafia NeXT” đã nhận thấy cơ hội để tạo ra một thiết bị máy tính di động thực sự và muốn dồn hệ điều hành của máy Mac vào chiếc điện thoại, và hoàn thiện bằng những phiên bản của ứng dụng trong Mac. Họ biết rõ hệ điều hành này như lòng bàn tay – nó dựa trên những dòng code mà họ đã nghiên cứu suốt hơn một thập kỷ. “Chúng tôi biết chắc chắn rằng thiết bị sẽ đủ sức chạy một hệ điều hành hiện đại,” Williamson nói, và họ tin rằng có thể sử dụng một bộ vi xử lý ARM thu gọn – cấu trúc chip tốn ít năng lượng của Sophie Wilson – để tạo ra một chiếc máy tính được gọt giũa để nằm gọn trong một chiếc điện thoại.
Nhóm iPod cho rằng điều đó quá tham vọng và chiếc điện thoại nên chạy một phiên bản của Linux, hệ điều hành mã nguồn mở rất phổ biến trong giới nhà phát triển và những người ủng hộ mã nguồn mở, vốn đã chạy trên các chip ARM tốn ít năng lượng. “Giờ đây chúng tôi sẽ chế tạo một chiếc điện thoại,” Andy Grignon nói, “nhưng chúng tôi tranh cãi với nhau rất kịch liệt về việc hệ điều hành nên được xây dựng trên cái gì. Vì ban đầu chúng tôi chế tạo nó dựa trên iPod, phải không? Và chẳng ai quan tâm tới việc hệ điều hành của một chiếc iPod là gì. Đó là một dạng công cụ, một món phụ kiện. Chúng tôi nhìn nhận chiếc điện thoại cũng theo hướng này.”
Nên nhớ rằng thậm chí sau khi ra mắt chiếc iPhone, Steve Jobs vẫn mô tả nó “giống một chiếc iPod” hơn là một chiếc máy tính. Nhưng những người từng “sống trong chiến hào,” thử nghiệm với giao diện cảm ứng đều hào hứng trước những khả năng mà nó mang lại cho ngành máy tính cá nhân và cho sự phát triển giao diện giữa con người và máy móc. “Chắc chắn đã có sự thảo luận: Đây chỉ là một chiếc iPod ở dạng điện thoại. Và chúng tôi nói, không, nó là OS X dành cho điện thoại,” Henri Lamiraux nói. “Điều này đã gây ra rất nhiều xung đột với nhóm iPod, vì họ cho rằng họ là đội biết tuốt về phần mềm trên các thiết bị nhỏ. Và chúng tôi nói, không, không phải vậy, nó chỉ là một chiếc máy tính mà thôi.”
“Ở thời điểm này chúng tôi hoàn toàn không quan tâm tới chiếc điện thoại,” Williamson nói. “Chiếc điện thoại không còn quan trọng nữa. Nó về cơ bản là một chiếc modem. Vấn đề là: Hệ điều hành của nó sẽ như thế nào? Mô hình tương tác của nó sẽ ra sao?” Bạn có thể nhìn ra gốc rễ của cuộc xung đột về triết lý: Các kỹ sư phần mềm không chỉ nhìn nhận P2 như một cơ hội để chế tạo một chiếc điện thoại, mà còn như một cơ hội để sử dụng một thiết bị có hình điện thoại như một sự “trá hình” cho một dạng máy tính di động phức tạp hơn rất nhiều.
Hệ điều hành thu nhỏ siêu phàm
Thời gian đầu trong cuộc đối đầu giữa hai hệ điều hành, cách tiếp cận máy tính di động không thành công lắm.
“Ờ thì, chỉ thời gian tải thôi cũng đáng cười rồi,” Andy Grignon nói. Lựa chọn Linux của Grignon nhanh và đơn giản hơn. “Nó kêu prrrrrrt, và rồi nó khởi động.” Khi nhóm Mac xử lý hệ thống lần đầu tiên, “nó hiện ra 6 dòng hashtag, ding-ding-ding-ding-ding-ding, và rồi nó ngồi đó, đần ra một lúc, và cuối cùng nó sẽ lại hiện ra và bạn sẽ nghĩ: “Đùa nhau à? Đây sẽ là thiết bị được khởi động trong nháy mắt ư? Thật ư?”
“Ở thời điểm đó, chúng tôi có nhiệm vụ chứng minh” rằng một phiên bản của OS X có thể hoạt động trên thiết bị này, Williamson nói. Nhóm “mafia” bắt tay vào việc, và cuộc cạnh tranh càng trở nên gay gắt. “Chúng tôi muốn hình dung của chúng tôi về chiếc điện thoại mà Apple sẽ cho ra mắt trở thành hiện thực,” Nitin Ganatra nói. “Chúng tôi không muốn để cho nhóm iPod cho ra mắt trước một phiên bản điện thoại theo kiểu iPod.”
Một trong những nhiệm vụ đầu tiên là thể hiện rằng tính năng kéo thả từng khiến Jobs ấn tượng sẽ hoạt động với hệ điều hành thu gọn. Williamson đã liên kết với Ording để làm phần này. “Nó hoạt động, và trông rất thật. Khi bạn chạm vào màn hình, nó sẽ theo dõi ngón tay của bạn một cách hoàn hảo, bạn kéo xuống, nó sẽ kéo xuống theo.”
Williamson cho rằng điều đó đã đóng chiếc đinh cuối cùng lên chiếc quan tài “Linux-pod.” “Khi chúng tôi thu gọn được OS X và các tương tác kéo cơ bản được hoàn thiện, quyết định đã được đưa ra: Chúng tôi sẽ không đi theo lối iPod, chúng tôi sẽ sử dụng OS X.”
Phần mềm cho chiếc iPhone sẽ được xây dựng bởi đội “mafia NeXT” của Scott Forstall; phần cứng sẽ được giao cho nhóm của Fadell. Chiếc iPhone sẽ có màn hình cảm ứng và có sức mạnh của một chiếc máy tính di động./.
Cuối năm 2012, tôi được mời làm diễn giả tại một cuộc hội thảo về nội dung số do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội tổ chức. Bắt đầu bài thuyết trình của mình, tôi nói đùa rằng câu chuyện tôi sắp đề cập có thể sẽ bị “ném đá” vì độc giả không thích điều đó và kể cả các đồng nghiệp cũng chưa chắc đã quan tâm, thậm chí có thể có phản ứng tiêu cực.
Bài thuyết trình của tôi nói về xu hướng bắt đầu nhen nhóm trên thế giới, khi nhiều tờ báo quay sang mô hình thu phí thay vì phụ thuộc vào nguồn thu quảng cáo. Tôi cũng dẫn ra kết quả của một số nghiên cứu, cho thấy nguồn thu quảng cáo digital khó có thể tăng lên nhanh chóng trong khi dù mất khả lớn lượng truy cập do dựng tường thu phí, doanh thu từ độc giả hoàn toàn có thể vượt nguồn thu quảng cáo nếu nội dung có chất lượng. Trong bài thuyết trình cũng nhắc đến vài ví dụ trên thế giới, cho thấy trong một thời gian dài các báo cứ nhìn nhau, lo sợ mất bạn đọc vào tay đối thủ nếu bắt người dùng trả tiền. Vậy là cứ dùng dằng không biết nên theo cách nào.
Sau hội thảo, có một số báo đăng lại quan điểm của tôi. Và tất nhiên là tôi bị “ném đá” tơi bời qua những bình luận (comment) dưới bài viết. Đa phần nói rằng ý tưởng thu phí là bất khả thi vì rất nhiều lý do, kể cả quan điểm rằng nội dung như báo chí Việt Nam thì không ai chịu móc hầu bao. Có người còn dùng những ngôn từ nặng nề hơn.
Thực ra, báo điện tử VietnamPlus đã thử nghiệm thu phí từ tháng 8/2012, phối hợp cùng với một đối tác công nghệ trong nước. Kết quả cũng rất đáng khích lệ dù rằng mô hình khi đó thiên về thanh toán trên từng bài viết cụ thể chứ không mấy người chịu trả phí theo tháng hoặc theo năm. Độc giả Việt Nam cũng rất lạ, họ do dự chi 30 ngàn đồng mỗi tháng để được đọc thoải mái hàng ngàn tin bài nhưng lại khá dễ dàng chi 5000 đồng để đọc một bài. Kết quả là có những bài viết đạt mức doanh thu lên đến 8 con số – điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ tới.
Trong bài phát biểu, tôi có nói rằng các cơ quan báo chí Việt Nam không nên lặp lại sai lầm của báo chí thế giới khi cứ dè chừng nhau để rồi chậm trễ áp dụng mô hình này, mà thay vào đó cần liên kết để cùng dựng tường thu phí. Đương nhiên là có nhiều cách khác nhau: thu phí toàn bộ các bài trên website hoặc ứng dụng mobile (hard paywall); thu phí một phần và phần còn lại miễn phí (thuật ngữ gọi là “freemium”); hoặc cho phép người dùng đọc một số lượng bài nhất định, quá mức này thì phải trả tiền (gọi là “metered paywall”). Nên lưu ý rằng dựng tường thu phí không có nghĩa là gây trở ngại cho việc tiếp cận thông tin của độc giả: tin tức thời sự có thể miễn phí nhưng để đọc những bài viết chuyên sâu, phân tích của chuyên gia hay các phóng sự kỳ công thì phải trả tiền. Mà trả tiền để đọc nội dung chất lượng cao đâu phải chuyện gì mới lạ. Độc giả vẫn phải trả tiền mua báo in đó thôi.
Chỉ có rất ít tòa soạn với nội dung báo chí chất lượng cao có thể sống được chỉ bằng nguồn thu quảng cáo. Hãy dũng cảm thừa nhận rằng tờ báo của bạn không nằm trong số đó, vì vậy không có cách nào khác là phải phát triển một nguồn doanh thu trực tiếp từ độc giả và biến nó thành mô hình kinh doanh lâu dài.
Hệ sinh thái của Wall Street Journal
Những mô hình thành công
Không ít tờ báo ở Mỹ, Châu Âu, Châu Á đã thành công với mô hình thu phí trên nền tảng digital nhờ sớm áp dụng cách thức này, trước khi mức tăng trưởng doanh thu quảng cáo online chậm lại và thậm chí đi ngang trong những năm gần đây. Thêm vào đó, do một thực tế phũ phàng nổi lên vài năm gần đây là đến 75-80% doanh thu quảng cáo digital chảy vào túi hai ông lớn Google và Facebook, các báo thấy rằng không thể lệ thuộc doanh thu quảng cáo được nữa, vì thế thu phí độc giả thực sự trở thành một xu hướng của báo chí thế giới kể từ năm 2015-2016.
Xét về mô hình, đa số các tờ báo ở Mỹ áp dụng “metered paywall,” có lẽ ảnh hưởng từ kết quả ngoạn mục của New York Times. Một số rất ít dựng “hard paywall.” Có thể nói mô hình “metered” ngày càng chi phối thị trường Mỹ. Ở Châu Âu thì phổ biến là mô hình “freemium,” nhưng ngày càng nhiều tờ báo áp dụng “metered paywall.”
Dưới đây là một số trường hợp thành công tiêu biểu, bên cạnh những tờ báo áp dụng mô hình thu phí từ lâu là Wall Street Journal hay Financial Times.
Aftonbladet
Aftonbladet New Media là cơ quan báo chí của Thụy Điển và vào năm 2003, Tổng biên tập khi đó là Kalle Jungkvist đã cho ra mắt Aftonbladet PLUS, một mô hình thu phí theo dạng freemium. Ông đặt mức phí rất thấp – chỉ 2 euro mỗi tháng. Tại sao vậy?
“Chúng tôi là những người đầu tiên áp dụng cách thức này, và chúng tôi có phần lo ngại về điều có thể xảy ra,” ông kể lại. “Liệu chúng tôi có bị nguy cơ mất vị trí dẫn đầu trên thị trường không? Chúng tôi cũng muốn có số lượng lớn, càng nhiều người sẵn sàng trả tiền thì càng tốt, kể cả với mức phí thấp. Chúng tôi cho rằng mình hoàn toàn đúng khi đặt ra mức giá thấp như thế. Chúng tôi không hề bị mất lượng truy cập, cho dù chúng tôi là tờ báo duy nhất ở Thụy Điển dựng tường thu phí suốt 10 năm. Chúng tôi không chỉ là tờ báo dẫn đầu thị trường mà còn làm cho thị trường hiểu về những cách làm mới mẻ.”
Hiện tại, phí truy cập Aftonbladet PLUS đã tăng lên 6 euro/tháng hoặc 10 euro cho phiên bản “premium” toàn những nội dung chất lượng cao. Tổng cộng, Aftonbladet có khoảng 260.000 độc giả trả tiền cho bản digital, tạo ra nguồn doanh thu đáng kể.
Svenska Dagbladet
Trường hợp thứ hai cũng là một tờ báo của Thụy Điển, Svenska Dagbladet. Họ áp dụng cái gọi là “chiến lược bắc cầu.” Đó là chiến lược vạch ra con đường đi cho độc giả từ báo in tới digital và các bước để biến độc giả thành người trả phí. Có một số báo áp dụng mô hình này, theo đó có những mức phí khác nhau cho các nhóm đối tượng khác nhau.
Tại hầu hết các tờ báo, độc giả đặt mua báo in thường là người lớn tuổi. Mục tiêu đầu tiên là cho phép họ truy cập phiên bản điện tử và biến họ thành những người dùng tích cực của phiên bản digital. Đối với nhóm này, cần có phiên bản e-paper của tờ báo in vì nó mang lại trải nghiệm gần giống với đọc báo in, khác chăng là trên nền tảng Internet.
Đồng thời, tờ báo cũng có một số lượng lớn độc giả trẻ thường xuyên theo dõi bản digital và đa số chưa bao giờ đặt mua báo in. Với đối tượng này, e-paper lại không quan trọng.
Vì hai nhóm này có hành vi và sở thích rất khác nhau, sau một số thử nghiệm, Svenska Dagbladet đã đưa ra 2 mức giá: gói 19 euro cho độc giả đặt mua báo in truyền thống, sẽ được xem cả e-paper, giải câu đố chữ và bài tư liệu; và mức 10 euro cho người đăng ký digital và không có thêm các lợi ích kể trên.
Folha de São Paulo
Nhiều tờ báo thuộc các quốc gia ngoài Mỹ và Châu Âu cũng bắt đầu thăm dò cách kiếm tiền từ nội dung. Nhật bảo Folha de São Paulo của Brazil là một trong số những cơ quan báo chí đã có một chiến lược thành công ở Nam Mỹ.
Họ áp dụng “metered paywall” vào năm 2012. Độc giả được đọc 20 bài miễn phí mỗi tháng. Sau 3 tháng, số lượng đăng ký trả phí để xem bản digital vượt kỳ vọng, và họ chẳng mất chút lượt truy cập nào.
Hai năm sau, con số trả phí cho phiên bản digital lên tới 150.000 với mức 12,8 USD/tháng. Báo này còn có 350.000 chi 38 USD mỗi tháng để mua bản in lẫn bản digital. Kể từ đó, mức tăng trưởng vẫn mạnh mẽ, cho dù nền kinh tế Brazil đang khó khăn.
Trả tiền mua nội dung là hướng đi tương lai
Trong khi nhiều tờ báo đạt kết quả tích cực, thậm chí “ăn nên làm ra” với nguồn thu từ độc giả, rất nhiều cơ quan báo chí khác vẫn tiếp tục do dự, và tình trạng này xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Có những tờ báo hoàn toàn không quan tâm đến xu hướng này, vẫn coi báo in mới là “nguồn sống” và quảng cáo là doanh thu chủ chốt. Chúng ta vẫn thường nghe những ý kiến kiểu như “sự sa sút của báo in và quảng cáo sẽ sớm ngừng lại thôi,” “chẳng ai chịu trả tiền trên Internet đâu, nội dung chất lượng cao cũng không ăn thua,” “quảng cáo digital sẽ tiếp tục tăng mạnh và chúng ta sẽ thu bộn tiền”…
Tất cả những nhận định trên đều sai!
Media Insight Project, một dự án hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Báo chí Mỹ cùng Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề công cộng NORC và hãng tin Associated Press đã tiến hành một nghiên cứu rất quy mô để tìm hiểu xem ai là người đăng ký mua tin và làm thế nào các cơ quan báo chí có thể can dự sâu hơn với người dùng để thu hút thêm các đối tượng đăng ký.
Bản báo cáo đầu tiên dựa trên các cuộc phỏng vấn sâu với người tiêu dùng tin tức ở 3 thành phố cũng như kết quả một cuộc khảo sát trên toàn quốc với 2.200 người Mỹ trưởng thành, trong thời gian từ ngày 16/2 đến 20/3/2017.
Nghiên cứu cho thấy hơn một nửa người Mỹ trưởng thành đăng ký mua tin theo một hình thức nào đó – và khoảng 50% số này đăng ký mua báo in. Và trái với ý kiến rằng người trẻ sẽ không trả tiền mua tin vì đã có đầy thông tin miễn phí trên Internet, cứ 10 người dưới 35 tuổi thì có 4 người đang trả tiền mua tin.
Người dùng mua tin thường vì 3 lý do: 1/ tờ báo đã đưa tin rất xuất sắc về một chủ đề nào đó; 2/ vì bạn bè và gia đình đăng ký ấn phẩm đó; và 3/ vì đang có chương trình chiết khấu và có thể đăng ký với mức phí rẻ hơn. Cũng có nhiều dấu hiệu rõ ràng cho thấy sẽ có nhiều người dùng trả tiền mua tin trong tương lai nếu các nhà xuất bản tin tức thấu hiểu họ và phục vụ tận tình. Một nửa số người không mua tin thì thực tế vẫn tích cực tìm kiếm thông tin mỗi ngày và có cách thức giống với những người trả phí theo các cách khác nhau. Và có 20% những người hiện tại không trả phí tỏ ý rằng họ sẽ bắt đầu chi tiền cho việc này trong tương lai.
Chúng ta đang sống vào một thời kỳ mà ngày càng có nhiều luồng thông tin khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau, và tin giả chỉ là một trong những vấn nạn đang bùng nổ.
Đọc đến đây, có thể một số người cho rằng người dân ở các nước ở những nước phát triển giàu có mới dễ dàng trả tiền mua nội dung trên Internet. Theo một bài báo gần đây trên Bloomberg, tại Trung Quốc, các công ty và cá nhân đều có thể kiếm tiền từ các ứng dụng điện thoại thông minh cung cấp tin tức, thông tin giải trí và mạng xã hội – bằng cách đề nghị mọi người thanh toán trực tiếp thay vì phụ thuộc vào các nhà quảng cáo. Ứng dụng De Dao mới được một năm tuổi đã có 7 triệu người dùng. Ai cũng có thể dễ dàng đăng ký vào các kênh có nội dung theo các chủ đề như mẹo đầu tư hay “cách nghe nhạc cổ điển” – thậm chí là cả sách báo và tạp chí. Mỗi kênh này tính mức phí khoảng 30 USD/năm.
Chúng ta đang sống vào một thời kỳ mà ngày càng có nhiều luồng thông tin khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau, và tin giả chỉ là một trong những vấn nạn đang bùng nổ. Cùng với sự gia tăng của những nội dung gây thù hận và phỉ báng, người dùng đang bị “ngập lụt” trong hàng tỷ thông tin không rõ đúng sai. Và chính lúc này, nhiều người đang quay trở lại với những cơ quan báo chí truyền thống và có thương hiệu để tìm kiếm tin tức.
Xu hướng kể trên cho thấy sản phẩm cốt lõi của báo chí – những nội dung chất lượng cao, đáng tin cậy, sử dụng lối kể chuyện hấp dẫn, những bài phân tích chuyên ngành, bình luận của các chuyên gia, những ý kiến nhận định sâu sắc, các cuộc phỏng vấn độc quyền, những phóng sự điều tra kỳ công – là những sản phẩm vô giá và có thể biến người đọc bình thường thành những độc giả đăng ký có trả phí.
Kalle Jungkvist, cựu Tổng biên tập Aftonbladet New Media của Thụy Điển và hiện là tư vấn cấp cao của Hiệp hội các Nhật báo và Nhà xuất bản Tin tức Thế giới (WAN-IFRA) mới đây đã có lời khuyến nghị rằng “Chúng ta nên tin tưởng vào những gì chúng ta sản xuất ra, và đừng ngại gắn cho nó một cái mác giá.”
Độc giả ít nhiều đã sẵn sàng trả tiền rồi. Vấn đề là các cơ quan báo chí đã có nội dung chất lượng để thu phí hay chưa mà thôi./.
Hướng dẫn đăng ký trả phí của The Economist
Những gợi ý với các nhà xuất bản tin tức từ nghiên cứu của Media Insight Project
Chuyên môn hóa và chuyên gia. Ngay cả khi các tòa soạn phải thu hẹp hoạt động thì họ vẫn nên tập trung xác định và đầu tư vào những lĩnh vực nội dung mà họ xuất sắc nhất, nếu không thì chẳng có lý do gì để độc giả trả tiền. Trả tiền mua nội dung báo chí là những người muốn làm các công dân thạo tin (đặc biệt là trong nhóm có thu nhập cao hơn) và muốn vấn đề họ quan tâm được phân tích ở cấp độ chuyên gia (đặc biệt trong nhóm có trình độ giáo dục cao hơn).
Tập trung vào “những người tìm kiếm tin tức.” Các nhà xuất bản tin tức phải tìm ra các cách thức xác định và lôi kéo những người tìm kiếm tin tức có hành vi giống như những người đăng ký dài hạn nhưng hiện chưa trả tiền. 72% số này đọc tin từ mạng xã hội và cứ 3 người thì 1 người cho biết có khả năng sẽ trả tiền cho nguồn tin mà họ đang sử dụng miễn phí. Nói chung, những người tìm kiếm tin tức nhưng chưa trả tiền này theo dõi nội dung giống y như những người đăng ký dài hạn. Phải xác định được đối tượng này, thấu hiểu họ và rồi chọn thời điểm phù hợp để mời chào họ.
Tận dụng sức mạnh của coupon khuyến mại. Các nhà xuất bản nên mạnh dạn áp dụng chiến lược coupon giảm giá trên nền tảng digital, nhất là mobile, như một phần của chiến lược lôi kéo người đăng ký trả tiền. Người đăng ký mua báo in dài hạn thường cho biết coupon giảm giá là một trong những lợi ích mà họ đánh giá cao, nhưng độc giả trên nền tảng digital chưa được phục vụ tốt.
Tiếp cận độc giả trẻ tuổi. Thế hệ trẻ sẵn sàng trả tiền mua nội dung – nhưng các nhà xuất bản tin tức phải hiểu rằng mối quan hệ này thường bắt đầu thông qua sự giới thiệu của bạn bè cũng như truyền thông xã hội, và được củng cố thông qua việc thường xuyên can dự và tương tác. Để các độc giả trẻ trở thành khách hàng trả phí thì phải gắn kết họ với một sứ mạng hoặc mục đích cụ thể.
Quảng cáo kêu gọi đăng ký trả tiền của New York Times
Khi lối sống của một độc giả thay đổi, hãy nắm lấy cơ hội. Các nhà xuất bản tin tức có thể nhắm vào người dùng ở các giai đoạn nhất định trong cuộc sống – những giây phút chín muồi để họ trở thành khách hàng đăng ký trả tiền. Trong nhóm tuổi 18-34, nhiều người cho biết họ bắt đầu trả tiền cho một nguồn tin vì gần đây họ có khả năng tài chính để trang trải, có thể là do có một công việc mới hoặc được thăng chức. Trong nhóm tuổi từ 65 trở lên, nhiều người nói họ bắt đầu trả phí vì bỗng nhiên có nhiều thời gian hơn cho tin tức – có thể là do nghỉ hưu. Những cơ quan báo chí thông minh có thể đặt chiến lược marketing nhắm vào những đối tượng đang bước vào các giai đoạn này của cuộc đời.
Hầu hết nội dung được tính giá quá thấp. Những người hiện đang trả phí cho rằng các mức phí tương đối rẻ. Hầu hết nói mức phí mà họ trả là hợp lý và “đáng đồng tiền bát gạo.” Chỉ có 1/10 số được hỏi ý kiến cho rằng chi phí đó quá cao. Những người trả phí để đọc tin trên nền tảng digital cảm thấy hài lòng với những gì họ nhận được hơn so với người đăng ký báo in (48% so với 32%), có nghĩa là có thể họ sẽ đồng ý trả mức cao hơn hiện tại.
Người trả tiền mua nội dung cần chất lượng cao chứ không cần giá rẻ. Những độc giả trả tiền mua nội dung vì nguồn tin đó giúp họ nắm bắt thông tin và đăng tải về những vấn đề mà họ quan tâm. Các nguồn tin của họ cung cấp tin tức và thông tin theo cách thức tiếp cận dễ dàng và đáng tin cậy. Và độc giả đánh giá cao nội dung độc quyền mà họ được tiếp cận hơn là những lợi ích phụ trợ như các món quà tặng khuyến mại khi đăng ký. Các độc giả trả phí phát đi tín hiệu rõ ràng rằng các cơ quan báo chí muốn tăng trưởng thì không thể cắt giảm chi phí. Việc thu hút độc giả trả phí đòi hỏi phải đầu tư vào nội dung chất lượng cao và tập trung đáp ứng nhu cầu của độc giả.
Bài viết này được đăng tải lần đầu trên báo Đại Đoàn Kết và đã được bổ sung.
1. Sau hai năm dày công thực hiện, tháng Năm vừa rồi, giọng hát bán cổ điển Phạm Thu Hà đã cho ra mắt đĩa than có tên gọi “Đường em đi” – gồm 8 tình khúc Phạm Duy.
Hiện diện trong làng nhạc từ năm 2012, Phạm Thu Hà gây chú ý và dần thiết lập được chỗ đứng riêng trong bản đồ nhạc Việt nhờ theo đuổi phong cách classical crossover (cổ điển giao thoa) khi lần lượt ra mắt bốn sản phẩm thu âm, tính đến thời điểm này. Mặc dù không phải là người tiên phong và duy nhất ở Việt Nam, nhưng bản thân sự kết hợp này trước nay ít người dám làm, và làm bài bản, xuyên suốt như Phạm Thu Hà.
Trong nghệ thuật, cũng như âm nhạc, số lượng không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là sự đặc sắc và khai phá trong từng sản phẩm. Có những ca sỹ ra hàng chục album, mà khán giả vẫn không thực biết họ là ai thì cũng lại có những giọng ca nhờ mải miết, bền bỉ theo con đường đã chọn và đến lúc nào đó đủ để có chỗ đứng trong làng nhạc.
Có thể thấy rõ, ở vệt ba sản phẩm thu âm trước: từ “Classic meets chillout” (phong cách hát cổ điển trên nền nhạc điện tử) do nhạc sỹ Võ Thiện Thanh sản xuất đạt luôn giải âm nhạc Cống hiến 2012 cho hạng mục “Album của năm”; sang sản phẩm “bắt tay” với nhạc sỹ Đức Trí – “Tựa như gió phiêu du” (pop hóa cổ điển) giữa mùa Hè 2014 và album “Hà Nội…Yêu!” (phong cách hát cổ điển trên nền nhạc jazz) vào năm 2015 – thì đến đĩa than “Đường em đi” (hát bán cổ điển nhạc phẩm Phạm Duy) trên nền hòa âm đậm đầy thính phòng của nhạc sỹ Duy Cường cho thấy nấc phát triển đáng kinh ngạc cùng khả năng khai phá ngày một dạn dày của Phạm Thu Hà.
Mặc dù không phải là người tiên phong và duy nhất ở Việt Nam, nhưng bản thân sự kết hợp này trước nay ít người dám làm, và làm bài bản, xuyên suốt như Phạm Thu Hà.
Việc sử dụng ít nhiều các phong cách biểu diễn cổ điển, từ cách hát, tới hòa âm, cho các bài hát Việt Nam có thể mang trong đó chút sắc thái nhạc cổ điển trên nền nhạc đương đại như chillout, pop, jazz, đến không gian đậm đầy thính phòng trong đĩa than “Đường em đi” – công chúng như được nghe một thứ âm nhạc cổ điển mới – vừa là sự pha trộn vừa như cầu kỳ hơn là giao thoa.
Đến đây, người viết bài trộm nghĩ, việc dùng tiêu đề một bài hát trong đĩa nhưng không phải ca khúc ấn tượng nhất là “Đường em đi” để đặt tên cho sản phẩm thu âm thứ tư lần này hẳn không phải là vô tình, trái lại hàm chứa nhiều dụng ý của Phạm Thu Hà như một xác tính về đường hướng âm nhạc mà cô đang theo đuổi.
Bìa đĩa than “Đường em đi” của Phạm Thu Hà. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
2. Nghe hết bốn sản phẩm mà sáu năm qua Phạm Thu Hà cùng các cộng sự dày công đào sâu, tìm tòi để khai phá hướng đi classical crossover, đặc biệt đến đĩa than “Đường em đi” không thể phủ nhận giọng hát thính phòng này đã làm được một việc đáng kinh ngạc là diễn tiến từ tư duy “chơi khác” lên “chơi sang” trong phong cách hát bán cổ điển ở Việt Nam.
Thế giới âm nhạc của Phạm Duy hết sức rộng lớn, từ chủ đề âm nhạc cho đến ngôn ngữ âm nhạc nên nhạc Phạm Duy hay vào hàng đầu bảng nhưng muốn hát hay nhạc của ông thì không dễ. Chưa kể, tham vọng hát vượt qua những cái bóng đã thành tượng đài trong cõi nhạc Phạm Duy thì quả là không tưởng.
Phải vì thế chăng mà bằng giọng hát, lối hát thính phòng 8 tuyệt phẩm Phạm Duy trong “Đường em đi” khiến Phạm Thu Hà lay động và chinh phục người nghe bằng một cảm thức hát-khác với những Thái Thanh, Lệ Thu hay Nguyên Thảo mãi sau này… Thế mới thấy, trong âm nhạc, hát-khác cũng đã là một thành công.
Đặc biệt qua hai bản thu “Chiều về trên sông” và “Đường chiều lá rụng” cho thấy Phạm Thu Hà tiến một nấc về kỹ thuật, nghệ thuật và cảm xúc trong tiếng hát. Trong đó ở “Chiều về trên sông,” Phạm Thu Hà – theo quan điểm của người viết – đã hát xuất thần như “cá về với nước.”
Trong các tài liệu, Phạm Duy cho biết ông ngẫu hứng soạn ra “Chiều về trên sông” do cảm khái bài thơ tả tình tả cảnh sông nước của Huy Cận. “Tràng giang” là bài thơ về sông Hồng, là tâm trạng kẻ tha hương, lưu lạc ngay trên đất nước mình. “Chiều về trên sông” là bài nhạc về sông Cửu Long, là nỗi “ám ảnh” triền miên, là nỗi buồn song nước dằng dặc, một mối sầu cô quạnh, một thân phận nhỏ nhoi của kiếp người những muốn “quá giang” theo đò ngang trôi đi trong chiều.
Ở “Chiều về trên sông,” Phạm Thu Hà – theo quan điểm của người viết – đã hát xuất thần như “cá về với nước.”
Nỗi niềm hoài hương mang nhiều âm hưởng ngũ cung dân gian, và tràn đầy tình quê hương trong dáng nhạc của Phạm Duy được cất lời ca không kém phần mỹ miều, như được mài giũa để trở nên đài các của Phạm Thu Hà dẫu gây cảm giác buồn, nhưng là nỗi buồn sang trọng và thanh thản đã khiến người nghe lay động.
Nốt nhạc cuối rướn lên, cùng tiếng hát như lời giải bày thiết tha của Phạm Thu Hà:
“Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn!
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo!…”
Nghe những câu hát như thế cần chút tĩnh lặng, cần nhắm mắt lại, để nghe chiều đi thật khẽ, lặng lẽ, để nghe nỗi buồn trôi đi chầm chậm trong ẩn ức thương nhớ làng quê, xứ sở.
Nỗi buồn trôi đi chầm chậm ấy cũng lặp lại lần nữa trong bài “Đường chiều lá rụng.” Đây là một trong những bản nhạc thách thức về nhạc thuật, kén cả người hát và người nghe. Đến mức, chính tác giả phải thừa nhận “bài ‘Đường chiều lá rụng’ rất khó hát so với các ca khúc khác của tôi, nét nhạc và chuyển điệu của nó khá mới lạ, cho tới nay, chỉ có Thái Thanh, Kim Tước và Quỳnh Giao hát nó mà thôi…” (Phạm Duy – Một Đời Nhìn Lại)
Hình ảnh chiều tàn và lá rụng cứ như cơn mộng du “Hoàng hôn mở lối… Rừng khô thở khói…. Trời như biển chói…” Tất cả hình ảnh ấy được Phạm Duy sử dụng như ảo và như thật… Với tiếng hát biến hóa, không vội vàng nhưng không níu kéo, lúc nhẹ lúc vút cao, lúc kéo ra xa, lúc đẩy lại gần, kịch tính nhưng cũng êm ả đến tận cùng theo sự uốn lượn của giọng hát kỹ thuật, uyển chuyển, quý phái của Phạm Thu Hà.
Giai điệu phức tạp, khó hát khó thâu đòi hỏi người hát phải có một khả năng xử lý về kỹ thuật cao, thậm chí là phải đạt đến một cấp độ siêu thực. Nhưng, phần thưởng của người nghệ sỹ khắc phục được những khó khăn kỹ thuật của “Đường chiều lá rụng” đã mang đến cho Phạm Thu Hà cơ hội khai phá giọng hát vẫn được cho là chưa chạm tới chuẩn mực academic này.
(Ảnh: Nhân vật cung cấp)
3. Ngoài tiếng hát xuất thần của Phạm Thu Hà, “Đường em đi” còn là “công trình” xuất sắc về phần hòa âm của nhạc sỹ Duy Cường (con trai của nhạc sỹ Phạm Duy). Thậm chí, sẽ không quá lời khi nhận định rằng chính nhờ cuộc hạnh ngộ nghệ thuật và bàn tay hòa âm “phù thủy” của Duy Cường đã nâng nhấc cho tiếng hát Phạm Thu Hà lay chạm từng chiều xúc cảm, lột tả hết sự đa điệu đa sắc biến ảo trong âm nhạc Phạm Duy.
Trong đó, “Chiều về trên sông” và “Đường chiều lá rụng” chính là hai trong những bản hòa âm cho thấy “phù thủy hòa âm” vốn lâu nay ngọa hổ tàng long trong gia đình nghệ thuật họ Phạm chính là người có công làm “đầy” hơn cho những bản nhạc của Phạm Duy.
Tại buổi họp báo giới thiệu đĩa nhạc, Phạm Thu Hà bộc bạch; “Lối làm việc của anh Duy Cường không phải là lúc nào cũng ngồi vào đàn. Khi Hà thu, anh luôn kề cạnh chỉ dẫn từng li từng chút bản nhạc, giúp Hà nghiền ngẫm chúng, đọc những suy nghĩ do người nhạc sỹ viết ra. Anh nắn nót cho Hà từng câu hát, nói cho Hà bài hát nào thì cha anh viết trong hoàn cảnh nào, gửi gắm điều gì, câu này phải hát ra sao, chữ đó phải xử lý thế nào thì đúng tinh thần tác phẩm và lột tả hết tinh túy. Hà rất cảm ơn anh đã cùng thai nghén những đứa con tinh thần của cha anh cùng Hà, giúp Hà tìm một ngôn ngữ âm nhạc của riêng mình khi hát Phạm Duy.”
Ngoài hòa âm, thì phần biên tập của sản phẩm này cũng mang đậm dấu ấn “hậu sinh” Phạm Gia khi tinh tuyển 8 ca khúc vào hàng tuyệt phẩm về sự tầm cỡ trong di sản âm nhạc của Phạm Duy.
Thế nên nếu còn điều tiếc nuối khi nghe sản phẩm thu âm thứ tư của Phạm Thu Hà thì đó chính là ước muốn giá mà cố nhạc sỹ Phạm Duy vẫn còn sống để được nhìn thấy âm nhạc của mình được chắp cánh và khai phá đáng ngưỡng mộ như vậy. Ngoài ra, dù là một trong những sản phẩm thu âm xuất sắc (xét cả hình lẫn tiếng) hát Phạm Duy và thời gian gần đây của nhạc Việt khi cộng hưởng ba yếu tố xuất thần từ nhạc khúc, hòa âm và giọng hát thì đây vẫn là sản phẩm âm nhạc “kén” khán giả vì khá “nặng đô” khi nhạc Phạm Duy được thể hiện bằng ngôn ngữ đậm đầy thính phòng từ giọng hát, cách hát và hòa âm.
Trong mọi bộ môn nghệ thuật, có âm nhạc, thị hiếu của công chúng không bao giờ là thước đo của giá trị nghệ thuật. Sự cảm nhận âm nhạc, nói cho cùng, dựa vào sự quen tai. Những tác phẩm thực sự độc đáo về khai phá và tầm cỡ thường khó làm quen, và cần thời gian thẩm thấu để khơi óc tò mò của công chúng và dần dẫn dắt họ đi vào tác phẩm.
Mặc dù, hành trình tiệm cận đại chúng của Phạm Thu Hà vẫn còn dài, nhưng tin tưởng rằng, từ đây “Đường em đi” sẽ tiếp tục xác lập mạnh mẽ và chắc chắn lối đi riêng chính là nơi-mình-có-thế-mạnh-nhất mang lại dung tưởng Phạm Thu Hà ở thì hiện tại như “cá về với nước” trong thử nghiệm classical crossover. Thậm chí, Hà đang dần bỏ xa danh xưng “họa mi nhạc cổ điển” mà trước đây được xem là một chiếu cố với cô./.
Cuộc tổng tuyển cử ở Anh đã kết thúc mà không có đảng nào giành được đa số áp đảo, khiến Xứ sở Sương mù rơi vào tình trạng “Quốc hội treo” lần thứ hai trong 3 cuộc tổng tuyển cử gần đây.
Có thể nói, Thủ tướng Anh Theresa May và đảng Bảo thủ đã đi một nước cờ sai trong cuộc bầu cử trước thời hạn mà ban đầu tưởng chừng nắm chắc phần thắng, khi chỉ giành được 318 ghế, không đủ đa số cần thiết (326/650) để đứng ra thành lập chính phủ.
Không chỉ giáng “một đòn đau” vào uy tín của Thủ tướng May và đảng Bảo thủ cầm quyền, kết quả này còn báo hiệu nước Anh sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn trước khi khởi động tiến trình đàm phán rời Liên minh châu Âu (EU), còn gọi là Brexit – dự kiến diễn ra vào ngày 19/6.
Một kịch bản ngoài dự kiến có thể đẩy nền chính trị nước Anh rơi vào rối loạn, thậm chí cuộc đàm phán Brexit có thể bị trì hoãn vô thời hạn.
Bấp bênh tương lai của Thủ tướng Theresa May
Kêu gọi bầu cử sớm từng được cho là bước đi chiến thuật của Thủ tướng Anh Theresa May nhằm gia tăng quyền lực cho chính phủ Bảo thủ trước khi bước vào cuộc đàm phán Brexit, bởi bà cho rằng việc đảng Bảo thủ chỉ nắm thế đa số khá mong manh tại Hạ viện như trước đây có thể khiến tiến trình đàm phán Brexit bị đe dọa. Song, kết quả bầu cử lần này là bước “thụt lùi” đối với đảng Bảo thủ khi họ để mất tới 12 ghế so với kỳ bầu cử trước. Trong khi đó, về thứ hai, nhưng Công đảng lại được coi là thắng lợi khi gia tăng được 30 ghế tại cơ quan lập pháp lên 262 ghế.
Với kết quả này, rõ ràng sự tín nhiệm của cử tri đối với hai chính đảng lớn nhất tại Anh đã thay đổi nhiều so với gần 2 tháng trước, thời điểm bà May bất ngờ kêu gọi tiến hành cuộc bầu cử sớm hơn lịch trình tới gần 3 năm. Vào thời điểm đó, đảng Bảo thủ được tin tưởng sẽ dễ dàng thắng áp đảo để có thể đứng ra thành lập chính phủ mới. Tới tận cuộc bầu cử địa phương đầu 5 vừa qua, đảng Bảo thủ vẫn chiến thắng vang dội, khiến bà May càng tự tin vào quyết định của mình.
Tuy nhiên, 3 vụ tấn công khủng bố liên tiếp trong vòng 2 tháng, trong đó có 2 vụ ngay tại London, thậm chí vụ mới nhất xảy ra chỉ 5 ngày trước cuộc tổng tuyển cử, được xem là một trong những nguyên nhân làm thay đổi cục diện cuộc bầu cử tại Anh.
Dù từng phụ trách vấn đề an ninh và giữ chức Bộ trưởng Nội vụ trước khi trở thành Thủ tướng, song bà May vẫn bị chỉ trích là đã không đưa ra được những biện pháp cụ thể để ngăn chặn các vụ tấn công khủng bố. Điều này khiến cử tri Anh dần mất lòng tin vào Thủ tướng May và đảng Bảo thủ cầm quyền. Từ mức chênh lệch cao kỷ lục 21% hồi cuối tháng 4, khoảng cách giữa đảng Bảo thủ và Công đảng đã dần thu hẹp, và tới sát thời điểm bầu cử, kết quả thăm dò cho thấy đảng Bảo thủ chỉ dẫn trước Công đảng khoảng 3%.
Ba vụ tấn công khủng bố liên tiếp trong vòng 2 tháng, trong đó có 2 vụ ngay tại London, được xem là một trong những nguyên nhân làm thay đổi cục diện cuộc bầu cử tại Anh.
Đúng là “chơi dao dễ có ngày đứt tay”. Kịch bản ngoài dự đoán của cuộc bầu cử Hạ viện đã giáng “một đòn đau” vào uy tín của Thủ tướng May và đảng Bảo thủ cầm quyền. Sau khi kết quả chính thức được công bố, nhiều nghị sỹ Công đảng và những người ủng hộ đã nhanh chóng kêu gọi bà May từ chức. Thủ lĩnh Công đảng đối lập, ông Jeremy Corbyn còn không ngại ngần khi tuyên bố sẵn sàng xem xét khả năng thành lập chính phủ thiểu số, thậm chí thẳng thừng kêu gọi Thủ tướng May từ chức khi mà uy tín của đảng Bảo thủ giảm sút rõ rệt.
Trong khi đó, bà Nia Griffith, người được cho là nhiều khả năng sẽ giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng trong Chính phủ Công đảng, cũng khẳng định bà May không còn có đủ tư cách để tiếp tục lãnh đạo đất nước sau quyết định sai lầm của mình. Áp lực tiếp tục đè nặng lên Thủ tướng Anh sau khi hai cố vấn cấp cao của bà là Nick Timothy và Fiona Hill, đồng Chánh văn phòng nội các của Thủ tướng May, từ chức do phải chịu hàng loạt chỉ trích từ trong chính nội bộ đảng Bảo thủ, cho rằng chiến dịch tranh cử kém hiệu quả khiến đảng này mất thế đa số tại Quốc hội.
Mặc dù đảng Hợp nhất Dân chủ (DUP – đảng chính trị lớn nhất Bắc Ireland) đã nhất trí ủng hộ chính phủ thiểu số của Thủ tướng Theresa May một cách không chính thức để có thể thành lập chính phủ liên minh, song điều này đồng nghĩa với việc bà May sẽ phải tiến hành một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm trong nội bộ đảng để tiếp tục nắm giữ cương vị lãnh đạo, và nếu có đủ số thành viên đảng Bảo thủ bỏ phiếu chống, việc bà May ra đi sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian. Tại số 10 Phố Downing, bầu không khí bất lợi cho bà May ở văn phòng Thủ tướng cũng được mô tả là đang “rối loạn” và “u ám”.
Nhiều tờ báo vốn ủng hộ Thủ tướng Anh nay cũng đồng loạt đăng tải những bài viết chỉ trích sai lầm của bà theo kiểu: “Phe Bảo thủ chĩa mũi dùi vào Theresa”; “Bà May đã đẩy đất nước vào tình trạng khẩn cấp khi đánh giá sai tâm lý của cử tri và giờ bà sẽ phải ra đi với thương tích đầy mình”… Một số bài viết còn nhận định nếu bà May không nhận thức được rằng đó là một nước cờ “thảm họa”, mà vẫn tiếp tục cố chấp với vị trí này thì điều bà ấy nhận được là chính đảng của bà ấy sẽ tìm cách tổ chức một cuộc bầu cử để thay thế bà.
Nếu bà May buộc phải ra đi, đây sẽ là lần thứ hai trong vòng một năm nước Anh phải chứng kiến sự thay đổi lãnh đạo sau khi một thủ tướng của đảng Bảo thủ đánh cược sự nghiệp chính trị của mình để chịu lấy “cay đắng” khi kêu gọi một cuộc bỏ phiếu quy mô toàn quốc.
Brexit “lạc trôi”
Với tiến trình Brexit, cuộc bầu cử ngày 8/6 đã từng được kỳ vọng là sẽ vạch rõ lộ trình cho các cuộc đàm phán dự kiến được khởi động vào ngày 19/6 tới. “Thất bại” của bà May đang đẩy tiến trình này đứng trước nhiều rủi ro. Chính sách đàm phán mà bà May đang theo đuổi khó có thể được duy trì do không thống nhất quan điểm chung giữa các đảng phái. Chính phủ mới sẽ chịu áp lực về thời gian để công bố sớm nhất nội dung đàm phán, một vấn đề gây tranh cãi gay gắt kể từ khi Anh chính thức kích hoạt điều 50 Hiệp ước Lisbon.
Dù được đánh giá là một nhà lãnh đạo thể hiện được sự mạnh mẽ trong thời điểm đối mặt với rất nhiều thách thức, nhất là lập trường và quan điểm khá nhất quán và rõ ràng, nhưng sự “thất thế” của đảng Bảo thủ trong cuộc bầu cử vừa qua đã đẩy bà May vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Bởi lẽ liên minh với bất kỳ đảng nào để thành lập chính phủ cũng đồng nghĩa với việc mọi chính sách của bà May cũng như nội dung đàm phán về Brexit đã được đảng Bảo thủ chuẩn bị sẽ phải xác định lại từ đầu và điều này chắc chắn sẽ kéo theo bao nhiêu vấn đề phức tạp.
Một khi tiến trình thành lập chính phủ mới phải kéo dài thì cuộc đàm phán Brexit sẽ bị trì hoãn, kéo theo những hệ lụy đối với nước Anh khi tình trạng “không rõ ràng” hiện nay trong quan hệ với EU đang ảnh hưởng nhất định tới vị thế của London. Kết quả bầu cử quốc hội ở Anh cũng gây tâm lý lo ngại cho giới chức EU. Những quan chức hàng đầu EU lo ngại tiến trình đàm phán Brexit sẽ bị trì hoãn, đồng thời sẽ không đạt hiệu quả khi đối tác đàm phán là một “đại diện yếu và không có khả năng hành động”.
Một tâm lý lo ngại “Brexit lạc trôi” nữa là thất bại của Thủ tướng Anh trong việc gia tăng thế đa số cho đảng Bảo thủ tại Quốc hội đồng nghĩa với việc bà, hoặc thậm chí là người kế nhiệm, sẽ không chỉ phải vượt qua những thách thức rất lớn khi muốn Hạ viện thông qua các điều khoản về Brexit, mà còn phải đối diện với nguy cơ bị Thượng viện phản đối kịch liệt.
Không đảng nào giành thể đa số tại Hạ viện đồng nghĩa với việc cơ quan lập pháp này tiếp tục bị chia rẽ, và London chưa thể “toàn tâm toàn ý” tập trung cho các cuộc đàm phán trong 2 năm tới với EU.
Trước đây, khi tuyên bố sẽ đệ trình Quốc hội xem xét các điều khoản về Brexit sau khi giai đoạn đàm phán kết thúc, Thủ tướng May không hề nói về việc mọi chuyện sẽ ra sao nếu Quốc hội Anh bỏ phiếu chống. Nếu kịch bản này xảy ra, việc triển khai Điều 50 của Hiệp ước Lisbon có thể sẽ phải hoãn lại và mọi chuyện phụ thuộc vào quyết định của 27 nước thành viên còn lại của EU.
Nếu tất cả các bên cùng đồng thuận, quá trình đàm phán sẽ được kéo dài thêm. Trong trường hợp, EU muốn “tống cổ” Anh càng nhanh càng tốt thì mọi chuyện sẽ rõ ràng, nhưng nếu EU không muốn Anh ra đi và họ đủ kỳ vọng vào khả năng thay đổi quyết định của các cử tri Anh để tiến hành một cuộc trưng cầu ý dân thứ hai, hai bên sẽ lại phải tiếp tục dành nhiều năm để đàm phán.
Rõ ràng Thủ tướng Anh đã thất bại trong “canh bạc” của chính mình. Những “nước cờ” tưởng chừng được tính toán kỹ và được cho là “khôn ngoan” của bà May đã bị những yếu tố khách quan không lường trước làm cho trệch hướng. Không đảng nào giành thể đa số tại Hạ viện đồng nghĩa với việc cơ quan lập pháp này tiếp tục bị chia rẽ, và London chưa thể “toàn tâm toàn ý” tập trung cho các cuộc đàm phán trong 2 năm tới với EU.
Chính trường Anh lại một lần nữa trải qua những bất ổn và xáo trộn như 1 năm trước, khi cử tri nước này chọn con đường rời EU./.
Chủ tịch Công đảng Jeremy Corbyn phát biếu sau khi giành chiến thắng tại đơn vị bầu cử ở Islington, London ngày 9/6. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Ngày 5/6, Qatar – một nước nhỏ ở Trung Đông với diện tích chưa đầy 12.000 km2, dân số hơn 2 triệu người – đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế khi bị 7 quốc gia tuyên bố chấm dứt quan hệ.
Câu hỏi được đặt ra là tại sao khu vực Trung Đông lại bùng phát làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar và cuộc khủng hoảng lần này sẽ đi về đâu?
Trang mạng ThePaper.cn đã có một bài viết đáng chú ý giúp trả lời những băn khoăn nêu trên.
Làn sóng cắt quan hệ ngoại giao bùng phát nhanh chóng
Ngày 5/6, Bahrain đột ngột tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Sau đó sự việc này tiếp tục lan nhanh, các nước ở khu vực Trung Đông như Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), Ai Cập, Libya, Yemen cũng lần lượt tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Maldives cũng nhanh chóng gia nhập “đội quân” cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, khiến nước này tạm thời bị cô lập.
Ngày 5/6, Bahrain đột ngột tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Sau đó, các nước Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), Ai Cập, Libya, Yemen, Maldives cũng lần lượt tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Qatar
Cuộc khủng hoảng ngoại giao kể trên đã lập tức nhận được sự quan tâm cao độ của cộng đồng quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson đang có chuyến thăm Australia đã bày tỏ mong muốn các quốc gia vùng Vịnh duy trì quan hệ đoàn kết, khuyến khích các bên ngồi lại cùng giải quyết bất đồng. Bộ Ngoại giao Iran kêu gọi Saudi Arabia và Qatar giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại.
Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu cũng kêu gọi giải quyết vấn đề thông qua đối thoại và cảm thấy đau lòng trước tình hình hiện nay, Thổ Nhĩ Kỳ coi sự ổn định ở vùng Vịnh là sự ổn định của chính nước mình. Người phát ngôn của Chính phủ Nga thì nhấn mạnh hòa bình và ổn định ở vùng Vịnh phù hợp với lợi ích của Nga, khủng hoảng ngoại giao sẽ không ảnh hưởng đến liên minh chống khủng bố quốc tế. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại bày tỏ mong muốn các nước liên quan giải quyết bất đồng thông qua đối thoại, thương lượng và thỏa hiệp, duy trì đoàn kết, cùng thúc đẩy hòa bình và ổn định ở khu vực.
Đối mặt với cục diện bị động, Qatar cũng tự biện hộ cho mình. Bộ Ngoại giao nước này nhấn mạnh Qatar là nước thành viên tích cực của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC), hoàn toàn tuân thủ điều lệ của GCC, Qatar tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, thực hiện trách nhiệm chống chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan quốc tế. Cách làm của các nước như Saudi Arabia là thiếu tính hợp lý, không hề có căn cứ, sẽ không ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân Qatar.
Theo giới phân tích, cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này có đặc điểm sau: Một là tốc độ lan tỏa nhanh chóng, trong 1 ngày có đến 7 nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, cho thấy vai trò dẫn đầu của Saudi Arabia trong các nước vùng Vịnh.
Hai là làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao lần này có tính tổ chức, mang tính chất móc nối nhất định, do vậy xuất hiện tình trạng nhiều nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar trong cùng một ngày.
Ba là các nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar rất đa dạng, có nước là thành viên của GCC, có nước lớn ở Bắc Phi, còn có cả nước ở ngoài khu vực Trung Đông.
Sự thay đổi đột ngột trong quan hệ giữa các nước Trung Đông khiến cộng đồng quốc tế rất bất ngờ. Bởi thông thường trong các nước Trung Đông, Israel hay Iran là đối tượng thường xuyên bị “bao vây công kích”, nhưng lần này đối tượng bị “bao vây công kích” lại là Qatar – quốc gia Arập, quốc gia Hồi giáo theo dòng Sunni, quốc gia vùng Vịnh, đồng thời cũng là quốc gia theo chế độ quân chủ. Điều này đã tăng thêm nhiều tính bất ổn cho tình hình Trung Đông vốn phức tạp và khó giải quyết.
Tổng thống Mỹ Donald Trump (phải) bắt tay với lãnh đạo Qatar Sheikh Tamim Bin Hamad Al-Thani, trong một cuộc gặp song phương hồi tháng 5 ở thủ đô Riyadh của Saudi Arabia. (Nguồn: AFP)
Qatar bị “bao vây công kích” vì đâu?
Sự việc của Qatar có vẻ như đường đột, thực tế là đều có lý do của nó, trong cái ngẫu nhiên ẩn chứa cái tất nhiên. Đằng sau làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao lần này còn có nguyên nhân sâu xa hơn, lý do cơ bản là Qatar đã chạm vào điểm giới hạn cuối cùng của các nước như Saudi Arabia, họ nhận định Qatar đã “ủng hộ tổ chức khủng bố”, có quan hệ mập mờ với Iran, nên muốn thông qua đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao để cảnh cáo, ràng buộc các hành vi ngoại giao của Qatar.
Qatar đã chạm vào điểm giới hạn cuối cùng của các nước như Saudi Arabia, họ nhận định Qatar đã “ủng hộ tổ chức khủng bố”, có quan hệ mập mờ với Iran, nên muốn thông qua đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao để cảnh cáo, ràng buộc các hành vi ngoại giao của Qatar.
Làn sóng đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao lần này nhìn bề ngoài có vẻ như nhiều nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, trên thực tế là mâu thuẫn giữa Saudi Arabia với Qatar đã được công khai, là hình ảnh thu nhỏ của mâu thuẫn giữa Saudi Arabia với Qatar.
Khủng hoảng ngoại giao xảy ra giữa các nước vùng Vịnh không phải là lần đầu tiên. Tháng 3/2014, Saudi Arabia, UAE và Bahrain đã ra tuyên bố chung, tuyên bố ngay lập tức triệu hồi các đại sứ ở Qatar để phản đối việc nước này can thiệp vào công việc nội bộ của GCC.
Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao ngày 5/6, cùng một chủ thể cùng một nguyên nhân, chẳng qua là phạm vi của khủng hoảng ngoại giao mở rộng hơn, mức độ khủng hoảng cũng lớn hơn. Vì vậy, cắt đứt ngoại giao không phải bỗng dưng xảy ra, mà có nguồn gốc lịch sử. Và sự kiện tin tặc tấn công hồi cuối tháng 5 đã mở ra chiếc hộp pandora giữa Saudi Arabia với Qatar.
Sự kiện tin tặc tấn công là ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này. Cái gọi là sự kiện hacker chính là sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đến thăm các nước Trung Đông, Hãng thông tấn quốc gia Qatar (QNA) đã dẫn lời phát biểu của Quốc vương nước này tại một buổi lễ của quân đội, cho biết Iran là “nước lớn Hồi giáo không thể xem nhẹ”, và “giữ thái độ thù địch với Iran là thiếu khôn ngoan”. Từ ngày 24/5, một số nước như UAE, Saudi Arabia bắt đầu chặn các kênh truyền thông chính thức của Chính phủ Qatar. Sau đó, Doha ngay lập tức bác bỏ tin đồn, cho biết trang web chính thức của QNA bị hacker tấn công. Cho dù Qatar đã làm sáng tỏ mọi việc, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tiếp tục lây lan.
Hình ảnh quảng cáo giải bóng đá Champion Leagues ở Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đã bị che đi dòng chữ Qatar Airways sau khi UAE cắt quan hệ với Qatar. (Nguồn: Twitter)
Cho đến nay, những bình luận lan truyền trên mạng đối với việc ủng hộ Iran, rốt cuộc là do tin tặc tấn công hay chính là sự khắc họa chân thực về lập trường của Qatar đối với Iran, vẫn là vụ việc không có manh mối, vẫn chưa thể kết luận. Nhưng trong mắt của Saudi Arabia, việc Qatar ngang nhiên làm ngược lại chủ trương của Saudi Arabia đã chạm vào giới hạn cuối cùng.
Ngày 27/5, Quốc vương Qatar Tamim bin Hamad al-Thani đã điện đàm chúc mừng Tổng thống tái cử Iran Rouhani. Theo quan điểm của Saudi Arabia, việc làm này đã công khai “lạc điệu” với lập trường đối với Iran của Saudi Arabia bởi vì thời gian xảy ra sự kiện tin tặc tấn công tương đối đặc biệt – ngay sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đến thăm Saudi Arabia.
Thái độ thân Iran của Qatar đã phá vỡ cục diện chống Iran đang từng bước hình thành, ảnh hưởng đến việc tranh giành quyền chủ đạo khu vực giữa Saudi Arabia với Iran.
Trước sự khích lệ của Mỹ trong việc đối phó với Iran, đường lớn đã được mở rộng trước mắt Saudi Arabia. Thái độ thân Iran của Qatar đã phá vỡ cục diện chống Iran đang từng bước hình thành, ảnh hưởng đến việc tranh giành quyền chủ đạo khu vực giữa Saudi Arabia với Iran. Saudi Arabia coi Iran là đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong khu vực, đương nhiên không thể chấp nhận sự mập mờ của Qatar trong vấn đề Iran.
Một lý do khác của sự kiện lần này là Qatar bị các nước như Saudi Arabia nhận định là quốc gia “ủng hộ tổ chức khủng bố”, đây cũng là lý do chung khiến các nước như Saudi Arabia tuyệt giao với Qatar. Tiêu diệt các tổ chức khủng bố là nhận thức chung lớn nhất của khu vực Trung Đông, cũng là “con át chủ bài” hữu hiệu nhất để tập hợp các lực lượng. Cần biết rằng Saudi Arabia, UAE phải đối mặt với mối đe dọa từ tổ chức cực đoan như Nhà nước Hồi giáo (IS) và Al-Qeada, còn Ai Cập đối mặt với mối đe dọa an ninh từ tổ chức Anh em Hồi giáo.
Một người đứng chụp ảnh bảng thông báo trước văn phòng hãng Qatar Airways ở Riyadh, Saudi Arabia. Thông báo nói rằng văn phòng này bị đóng cửa theo yêu cầu của Cơ quan hàng không dân dụng Saudi. (Nguồn: AFP)
Cuộc khủng hoảng gây ra nhiều tác động
Cuộc khủng hoảng ngoại giao với quy mô lớn như vậy chăc chắn sẽ gây ra tác động ở nhiều phương diện:
Một là ảnh hưởng đến mức độ gắn kết của GCC. Dưới trào lưu thời đại toàn cầu hóa và nhất thể hóa khu vực, Trung Đông vẫn ở trong trạng thái chia rẽ. GCC là một trong những thành quả hiếm có của nhất thể hóa khu vực Trung Đông, việc các nước thành viên GCC như Saudi Arabia, UAE và Bahrain cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar sẽ dẫn đến nội bộ GCC chia rẽ, chia thành hai phe: một phe do Saudi Arabia trong đó có UAE và Bahrain, phe kia chỉ có Qatar, trong khi đó Kuwait và Oman trở thành những nước đứng ngoài. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao này sẽ khiến những mâu thuẫn trong nội bộ GCC trở nên công khai, và điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sức hội tụ trong nội bộ GCC.
Hai là ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với Trung Đông. Đối với Mỹ, các nước Trung Đông đột ngột cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar là việc không ngờ tới. Tổng thống Donald Trump vừa rời khỏi khu vực Trung Đông, các đồng minh của Mỹ ở khu vực này đã cắn xé lẫn nhau, đây rõ ràng là điều Chính quyền Trump không muốn nhìn thấy.
Ảnh chụp một công trình trong khuôn khổ dự án “Thành phố Hamas” do Qatar tài trợ xây ở phía Nam Dải Gaza. Saudi đã lên tiếng yêu cầu Qatar cắt tài trợ cho Hamas. (Nguồn: AFP)
Cho dù một bên trong cuộc khủng hoảng là Saudi Arabia, UAE và Ai Cập hay là bên kia chỉ có Qatar, đều là đồng minh của Mỹ ở Trung Đông. Bộ Tư lệnh của Mỹ ở Trung Đông được đặt ở Qatar, căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở khu vực Trung Đông cũng được đặt tại Qatar. Chính sách Trung Đông của Mỹ sau khi Trump lên cầm quyền là khôi phục và củng cố mối quan hệ với các đồng minh Trung Đông. Các cuộc đấu đá trong nội bộ liên minh chắc chắn sẽ làm giảm những nỗ lực của Chính quyền Trump trong việc tập hợp các đồng minh. Tính ổn định trong nội bộ các nước đồng minh giảm sút cũng sẽ làm suy yếu hệ thống đồng minh của Mỹ ở khu vực này.
Ba là ảnh hưởng đến các cuộc đấu đá giáo phái ở khu vực Trung Đông. Từ xu thế hiện nay cho thấy Iran chính là nước được lợi nhất trong cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này vì các nước bị cuốn vào cuộc khủng hoảng ngoại giao này đều có thể được tính là quốc gia thù địch với Iran, các nước chống đối Iran bị hao tổn sinh lực thì chắc chắn sẽ làm phân tán hoặc suy yếu sức lực trong việc đối phó với Tehran. Có thể nhận thấy nhóm các nước phản đối Iran ở khu vực Trung Đông không phải là một khối vững chắc. Các nước theo dòng Sunni luôn xảy ra đấu đá trong nội bộ, các nước theo dòng Shiite do Iran đứng đầu lại tỏ ra vui mừng khi nhìn thấy cảnh tượng này.
Bốn là ảnh hưởng đến giá dầu quốc tế. Trong thời gian diễn ra khủng hoảng, do nỗi lo ngại trước việc cung ứng dầu thô gián đoạn gia tăng, giá dầu thế giới đã tăng 1,24%, lên 50,57 USD/thùng.
Ngoài ra, tác giả bài viết cho rằng cuộc khủng hoảng lần này sẽ không có những tác động quá lớn tới tiến trình chống khủng bố của khu vực Trung Đông. Mỹ là nước giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình chống khủng bố ở khu vực này, cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này chắc chắn sẽ không làm dao động mục tiêu đã định của Mỹ, các quốc gia như Saudi Arabia cũng sẽ tiếp tục đi theo Mỹ trong vấn đề chống khủng bố.
Những điều có thể bạn chưa biết về đất nước vùng Vịnh Qatar
Vẫn còn cơ hội kiểm soát tình hình
Tác giả bài viết cho rằng cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này có khí thế mạnh mẽ, nhưng không kéo dài. Mức độ khủng hoảng sẽ không tăng lên, nhưng do đây là sự cắt đứt ngoại giao toàn diện nên việc khôi phục hoàn toàn quan hệ ngoại giao sẽ cần một thời gian. Có những lý do sau:
Một là Qatar khó có thể đơn độc đối phó với cuộc khủng hoảng ngoại giao. Một người không thể địch lại đông người, sau cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này, Qatar có thể sẽ không và cũng không đủ khả năng tiếp tục đối đầu với các nước như Saudi Arabia.
Hai là Mỹ can thiệp hòa giải. Có thể nói Tổng thống Trump có bước mở màn không tồi ở khu vực Trung Đông, nhưng sự bất hòa trong nội bộ các nước đồng minh ở khu vực này sẽ ảnh hưởng tới chính sách của Mỹ đối với Trung Đông.
Vì vậy, Mỹ chắc chắn phải can thiệp hòa giải, tránh để sự việc leo thang mở rộng. Một mặt tiếp tục thực hiện chính sách vốn có với các đồng minh, mặt khác tránh làm ảnh hưởng tới sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực. Trong thời gian ở thăm Trung Đông, Tổng thống Trump đã hội kiến với Quốc vương Qatar, cho biết Mỹ và Qatar là những người bạn hợp tác lâu dài. Những phát ngôn này chứng tỏ Mỹ sẽ không bỏ rơi Qatar.
Lần này Saudi Arabia ra tay với “người của mình” với mục đích dạy dỗ “người em nhỏ”, chứ không phải thật sự đẩy Qatar ra ngoài, điều này không có lợi cho sự phát triển của GCC.
Ba là Saudi Arabia sẽ lựa chọn có chừng mực. Lần này Saudi Arabia ra tay với “người của mình” với mục đích dạy dỗ “người em nhỏ”, chứ không phải thật sự đẩy Qatar ra ngoài, điều này không có lợi cho sự phát triển của GCC. Vì vậy, tiếp theo có thể Saudi Arabia sẽ nới lỏng tay, sẽ không làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn.
Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này cho thấy sự phức tạp nhiều thay đổi của khu vực Trung Đông đã được thể hiện một cách tinh tế, phái Sunni và Shiite là đầu mối chính trong sự ganh đua và hợp tác của mối quan hệ giữa các nước Trung Đông, nhưng điều này không đại diện cho sự hòa thuận trong phái Sunni.
Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này còn đại diện cho sự không đoàn kết trong nội bộ các nước Arập, ý thức cộng đồng của các nước Arập vẫn chưa hình thành, đây cũng là yếu tố quan trọng kiềm chế các nước Arập nâng cao hơn nữa vị thế của mình ở khu vực Trung Đông./.
Nhiều người Qatar đã đổ đi mua hàng dự trữ sau khi nước này bị một loạt quốc gia cắt quan hệ. (Nguồn: AFP)
Công ty công nghệ Cisco ước tính rằng tới năm 2019, video sẽ chiếm 80% tổng lưu lượng trên Internet. Với nhu cầu nhiều như vậy, các nhà xuất bản tin tức không có lựa chọn nào ngoài ưu tiên các chiến lược video của mình – và phải làm thật nhanh.
Đương nhiên, việc tiêu dùng và nhu cầu cầu của người dùng đóng vai trò nổi bật trong cơn sốt video này, nhưng bản chất luôn thay đổi của công nghệ và các nền tảng mạng xã hội đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các chiến lược của các nhà xuất bản.
Vậy những gì đang có hiệu quả? Cái gì đang là xu hướng? Theo báo cáo “Tương lai của Video tin tức trực tuyến” do hãng Reuters thực hiện, mặc dù người dùng vẫn chủ yếu thích đọc văn bản hơn video tin tức, nhưng những tin tức nóng hổi, cũng như video bên ngoài, nhất là những video tập trung vào những tin tức nhẹ nhàng hơn hay nội dung phong cách sống đang thúc đẩy sự tăng trưởng.
25 triệu lượt xem video streaming mỗi tháng
Được thành lập năm 2014, VGTV là bộ phận video độc lập của VG (Verdens Gang), tờ báo điện tử có nhiều người đọc nhất ở Na Uy. Cốt lõi tập trung trong chiến lược của VGTV là video tin tức, mặc dù 70 nhân viên của bộ phận này cũng sản xuất các chương trình giải trí và phim tài liệu.
“Với một thương hiệu như VG, chắc chắn mọi thứ sẽ là về tin tức, tin sốt dẻo. Đó là phần quan trọng nhất của VGTV. Người dân ở Na Uy rất quan tâm đến tin tức mới,” giám đốc điều hành kiêm tổng biên tập của VGTV, Helje Solberg cho biết.
VGTV ghi nhận khoảng 25 triệu lượt xem video streaming hằng tháng, sau phần quảng cáo chạy trước, và các video trực tiếp thường có hiệu quả tốt hơn các tin bài – điều này xảy ra trong ngày bầu cử tổng thống Mỹ khi có nhiều người xem phần đưa tin của VGTV hơn là đọc các bài viết được đọc nhiều nhất trên trang web của VG.
Trong quý 1 năm 2017, lượng độc giả của VGTV đã tăng 29% so với năm trước, tức là 420.000 người dùng hàng ngày, theo Ken Doctor. VGTV cũng qua mặt sản phẩm báo in 7 ngày trong tuần của chính VG về doanh thu mỗi tháng, và kiếm được khoảng 10 triệu USD tổng doanh thu trong năm 2016.
Mặc dù tin tức mới nhất là một phần quan trọng trong chiến lược của VGTV, họ cũng nhận thấy rằng những nội dung video ngắn kiểu “ăn nhẹ” là cực kỳ được ưa chuộng. Hai năm trước, loại nội dung này có thời lượng khoảng 3 phút, nhưng cùng với những thói quen tiêu dùng luôn thay đổi, VGTV hiện đang kể những câu chuyện chỉ trong chưa đầy 1 phút.
“Hướng đi có hiệu quả là phải bắt đầu với một thứ gì đó cuốn hút. Mọi người có khoảng thời gian tập trung rất ngắn, vì thế bạn chỉ có vài giây để thu hút sự chú ý của họ,” Solberg chia sẻ.
“Thường thì ngữ cảnh rất quan trọng, nhưng đó có thể không phải là yếu tố cuốn hút nhất trong một câu chuyện, vì thế đừng bắt đầu với ngữ cảnh. Đừng trêu đùa. Chẳng ai chia sẻ một video nếu họ cảm thấy mình bị lừa. Nó cần phải tạo sự liên quan nhưng vẫn thu hút, ngay cả khi người dùng không bật âm thanh lên.”
Video dành riêng cho nền tảng xã hội
Khi tầm quan trọng của mạng xã hội với tư cách một nguồn tin tức tiếp tục gia tăng, ngày càng nhiều công ty truyền thông, từ các đài truyền hình tới các báo in quay sang ý tưởng tạo những video dạng ngắn dành riêng cho từng nền tảng tương ứng.
KIT, một công ty kỹ thuật số Thụy Điển có sự hậu thuẫn của Tập đoàn Bonnier, được thành lập năm 2015 với chính quan điểm này – rằng việc tiêu thụ các nội dung đang ngày càng chuyển dịch sang các nền tảng mạng xã hội.
“Do chúng tôi chưa từng làm video trước đây, chúng tôi có thể hoàn toàn thích nghi với những khía cạnh cốt lõi giúp video được phát hành trên mạng xã hội khác với những hình thức video khác,” giám đốc điều hành kiêm đồng sáng lập Peder Bonnier cho biết.
“Các đoạn video của chúng tôi phải được bắt đầu chạy tự động – và việc truyền tải thông điệp trong giây đầu tiên là vô cùng quan trọng. Bạn phải kể những câu chuyện của mình bằng văn bản, minh họa và hình ảnh.”
Theo Bonnier, 95% số lượt xem video của KIT diễn ra khi video không bật tiếng, khiến việc sử dụng những hình ảnh và dòng chữ thu hút sự chú ý càng quan trọng hơn.
95% số lượt xem video của KIT diễn ra khi video không bật tiếng, khiến việc sử dụng những hình ảnh và dòng chữ thu hút sự chú ý càng quan trọng hơn.
Cuối cùng, do việc xem video diễn ra rất nhiều trên điện thoại di động, KIT chọn tỷ lệ khung hình là 1:1 hoặc 9:16 theo chiều dọc.
“Từ trước đến giờ, hầu hết các video được quay ở tỷ lệ 16:9. Nhưng không ai xoay điện thoại của họ để xem video trên mạng xã hội cả,” Bonnier cho biết.
Tới nay, KIT đang nghiên cứu 17 định dạng video khác nhau, từ tin tức mới nhất tới video giải thích và hướng dẫn. Hiểu được vì sao một số định dạng kể chuyện có hiệu quả tốt, và sử dụng những hiểu biết đó để cải thiện các câu chuyện khác là cốt lõi trong chiến lược của các nhà xuất bản tin tức trực tuyến.
“Chúng tôi đã phân tích từng video được đăng tải từ góc nhìn kịch nghệ để tìm ra cách thức tốt nhất nhằm tối đa hóa khả năng lưu giữ trong mỗi định dạng,” ông cho biết.
(Ảnh: InsideOut Today)
Ưu tiên video trực tiếp (live)
Theo các tác giả báo cáo về video của Reuters, trong bối cảnh các hãng tin kỹ thuật số hoặc báo in không rành về video và phải xây dựng các kỹ năng từ con số 0, các kênh truyền hình ở vị thế tốt nhất để làm chủ những thử thách đi cùng với sự chuyển dịch sang video trực tuyến. Tuy nhiên, nhiều công ty lại đang vất vả để thích nghi với loại ngữ pháp mới của video kỹ thuật số trực tuyến.
Trong trường hợp của Univision Noticias, một bộ phận của hãng truyền hình Univision phục vụ cộng đồng Mỹ Latinh ở Mỹ, một quá trình chuyển đổi kỹ thuật số đã giúp định hình và cải thiện cách tiếp cận của họ với video trực tuyến.
Một trong những nỗ lực của Univision Noticias là xác định các cách tiếp cận khác nhau với video trực tuyến, xoay quanh các tin tức mới nhất, video xã hội và nội dung truyền hình, phát triển các định dạng mới, như video tương tác hay hoạt hình, và thực hiện một chiến lược phát hành trên mạng xã hội vẫn đang thành công trong việc đưa người dùng quay lại với nền tảng riêng của Univision Noticias.
Năm nay, một trong những ưu tiên hàng đầu của bộ phận kỹ thuật số là phát triển một chiến lược phát live video gắn với cách tiếp cận của Univision là “trao quyền và cung cấp thông tin” cho cộng đồng, Selymar Col, biên tập viên quản lý kiêm giám đốc cấp cao của bộ phận cho biết.
Như một phần của các nỗ lực thực hiện video trực tiếp, Univision Noticias đã giới thiệu một chương trình tin tức trực tiếp dài 30 phút có tên Edición Digital, được phát sóng đồng thời trên tivi, Facebook, Youtube, Periscope và trang web của đài.
“Điều quan trọng là chương trình này đa nền tảng, tức là chúng tôi thực tế đang sản xuất một chương trình 30 phút vì trong kỹ thuật số không có quảng cáo giữa giờ nghỉ,” Colón cho biết.
“Tính năng động cũng khác biệt vì những người dẫn chương trình tin tức không đứng trong một trường quay lớn, họ đứng ngay giữa phòng tin tức. Điều đó cho bạn cảm giác bạn đang đứng ngay giữa những gì đang xảy ra. Họ thường xuyên tương tác với khán giả đang phản hồi tới chương trình trên mạng xã hội.”
So với các chương trình tin tức khác, Edición Digital có nhiều yếu tố hình ảnh hơn, và để thu hút người xem suốt 30 phút, một biên tập viên cộng đồng sẽ tương tác với khán giả, ví dụ như bằng cách chia sẻ nội dung bổ sung về những câu chuyện được đưa tin.
Theo Colón, tạo ra video trực tiếp quanh một người dẫn chương trình tương tác với khán giả là một trong những xu hướng chính trong video trực tiếp. Một cách tiếp cận khác cũng có hiệu quả với Univision Noticias là truyền video trực tiếp một hoạt động tới khán giả mà không có sự tham gia của con người.
“Chúng tôi đã thành công trong việc truyền hình trực tiếp tượng Nữ thần Tự do bằng webcam. Trong vòng 3 tiếng đồng hồ, chúng tôi đã có hơn 1000 lượt chia sẻ, và 1 triệu lượt xem. Nhưng chúng tôi tương tác với khán giả, và thật thú vị khi đọc các bình luận vì nhiều người trong số họ nói rằng, “ôi, tôi nhớ hồi đến thăm New York” hay “đúng là một nơi thật đẹp,” và nó trở thành một điều gì đó như sự giải tỏa cho họ,” bà nói.
“Rất thú vị khi xem xem một video truyền trực tiếp có sức mạnh thế nào khi bạn đưa ra một hành động hay một góc nhìn cho khán giả. Trong các cuộc biểu tình hay tuần hành, khán giả thường không muốn thấy một người đứng đó nói, họ muốn thấy chuyện gì đang diễn ra.”
Với một số video trực tiếp trên Facebook, ví dụ như video truyền trực tiếp lễ nhậm chức của Donald Trump, Univision Noticias cũng cũng cố thêm xu hướng mọi người xem video trực tiếp trên mạng xã hội mà không bật tiếng lên.
Năm video Facebook Live mỗi ngày
24sata, công ty truyền thông hàng đầu của Croatia không còn xa lạ với việc thử nghiệm các video. Sau một vài thất bại khi xây dựng một kênh truyền hình, công ty đã quyết định tập trung vào video trực tuyến, khởi động một kênh đưa tin tức và những câu chuyện thú vị về con người cũng như một kênh Youtube về những Youtuber (người dùng Youtube) nổi tiếng.
Hướng về phía trước, 24sata hiện ưu tiên cho video trực tiếp trên Facebook.
“Chúng tôi thấy rằng lượng truy cập vào trang Facebook của chúng tôi đã tăng 30% chỉ nhờ vào việc sản xuất video và phát trực tiếp,” trưởng bộ phận video Matej Lončarić cho biết.
“Điều chúng tôi muốn lúc này là giúp người dùng – nhiều người trong số họ chủ yếu dùng Facebook để xem tin tức – hiểu rằng chúng tôi là điểm dừng đầu tiên của những tin tức mới nhất, rằng chúng tôi sẽ truyền trực tiếp khi có sự kiện gì xảy ra và họ sẽ tìm thấy mọi thông tin họ cần trên kênh của chúng tôi.”
Hiện nay 24sata, với hơn 1,2 triệu lượt thích trên Facebook, đặt mục tiêu sản xuất ít nhất 5 video trực tiếp mỗi ngày cho nền tảng này.
Để đạt được mục tiêu đó với những nguồn lực hiện có, các nhà báo của 24sata được trải qua 5 khóa tập huấn để học cách sản xuất video trực tiếp, ghi âm, trình bày và kể một câu chuyện trước ống kính máy quay.
“Khi bạn làm tin tức cho báo in, đầu tiên bạn sẽ thu thập mọi thông tin, sau đó bạn viết nên câu chuyện của mình,” Matej Lončarić cho biết.
“Facebook Live khác biệt vì bạn cần mô tả cho người xem bạn đang thấy gì, và đưa nó vào một góc nhìn. Vì thế chúng tôi phải dạy cho các nhà báo của mình cách làm điều đó.”
Các nhà báo sử dụng iPhone và micro để thu các đoạn video trực tiếp, cũng như các công cụ cân bằng của Osmo để ổn định camera khi quay.
Các buổi đào tạo được diễn ra liên tục, với 10 nhà báo được chọn mỗi tháng để phân tích và thảo luận về những video truyền trực tiếp đã thực hiện.
Các buổi đào tạo được diễn ra liên tục, với 10 nhà báo được chọn mỗi tháng để phân tích và thảo luận về những video truyền trực tiếp đã thực hiện.
Mặc dù không dễ thuyết phục các nhà báo về các nỗ lực của Facebook Live, Lončarić nói rằng họ đang dần thu được thành quả.
“Ban đầu, họ không hứng thú lắm vì đó lại là một nhiệm vụ nữa. Nhưng nó cho phép họ tạo nên thương hiệu cá nhân của riêng mình, mọi người tin lời họ nói hơn, và những câu chuyện tin tức của họ chạm được tới nhiều người hơn nhờ Facebook Live. Đó cũng là một sự hỗ trợ thực sự với báo in và web vì nhiều người dùng đã gửi đến những lời khuyên hoặc mẹo hay cho các câu chuyện tin tức qua Facebook Messenger,” ông nói.
“Chúng tôi nói với các nhà báo rằng Facebook Live đóng vai trò quan trọng, nhưng hóa ra họ tận dụng được nó tốt hơn nhiều so với những gì chúng tôi kỳ vọng lúc đầu.”
Các phóng viên sử dụng Facebook Live cho nhiều câu chuyện tin tức, như thảo luận về tin tức hàng ngày, được ghi hình trong trường quay và tập trung vào các chủ đề khác nhau như lối sống, thể thao, người nổi tiếng hay chính trị; tin tức mới nhất, và những sự kiện quan trọng,. Họ cũng tăng cường đưa tin bằng video 360 độ trực tiếp.
Với những sự kiện tin tức lớn, 24sata chọn cách tiếp cận mà họ gọi là “đưa tin quy mô lớn,” kết hợp giữa báo in, báo điện tử và Facebook Live.
“Điều đó cho phép chúng tôi đưa tin từ mọi khía cạnh, và giúp chỉ ra những góc độ khác nhau,” Lončarić cho hay.
Kiếm tiền từ video trực tuyến
Theo báo cáo của Reuters, bất chấp những khoản đầu tư liên tục vào video, một thách thức lớn vẫn còn là cách kiếm tiền. Cách thức tạo ra nguồn thu cho đến giờ vẫn tập trung vào quảng cáo chạy trước khi phát video bất chấp một thực tế mà nhiều người đã thừa nhận rằng chúng dẫn đến trải nghiệm không tốt đối với người dùng.
Với Solberg của VGTV, quảng cáo trên video cũng là một phần của trải nghiệm thú vị cho người dùng giống như chính bản thân video kể chuyện vậy.
“Quảng cáo tồi trên video sẽ dẫn đến kết quả tồi ở mặt biên tập video,” bà nói.
Để giải quyết vấn đề này, VGTV sử dụng chuyên môn nội bộ, và chuyển hai nhà báo video sang nhóm quảng cáo để giúp tạo ra những quảng cáo thân thiện với người dùng hơn, phần nào có nghĩa là làm ra những quảng cáo chạy trước ngắn hơn.
Với khán giả, VGTV đã thử nghiệm 2 phiên bản quảng cáo chạy trước, một đoạn dài 15 giây và một đoạn dài 8 giây. Solberg nói rằng người dùng thích phiên bản ngắn hơn, và khả năng hiểu thông điệp của họ gần như gấp đôi so với đoạn quảng cáo dài hơn.
“Các sản phẩm quảng cáo cần tập trung nhiều hơn nữa vào cách kể chuyện trên các nền tảng kỹ thuật số, nhất là trên di động.”
Nước đang dần tiến sát đến nhà của Rita Falgout, vỗ bập bềnh ở rìa sân trước nhà bà. Nhà của bà Falgout là một trong số 29 ngôi nhà trên đảo Isle de Jean Charles, một hòn đảo nhỏ ở vùng vịnh đông năm Louisiana đang dần chìm xuống vịnh Mexico. Chỉ có thể tiếp cận hòn đảo này, nhà của những thành viên các bộ tộc Biloxi-Chitimacha-Choctaw và Houma, bằng một con đường độc đạo đi qua vùng đầm lầy với hai bên là nước. Từ năm 1955, hòn đảo này đã mất 98% diện tích đất.
“Bây giờ chỉ còn lại một dải đất nhỏ,” bà Falgout, năm nay đã 81 tuổi, chia sẻ với tờ Quartz. “Đó là tất cả những gì chúng tôi có. Nước ở khắp quanh nhà chúng tôi.” Bà là một trong số 100 người còn đang sống trên đảo Isle de Jean Charles. Có rất ít người ở ngoài kia biết hay quan tâm đến những gì đang xảy ra ở đây. “Tôi rất muốn được rời đi,” bà nói.
Ở đầu kia của nước Mỹ, một ngôi làng nhỏ với dân số khoảng 350 người bên bờ sông Ninglick ở rìa tây Alaska cũng đang phải đối mặt với những rắc rối tương tự. Tại Newtok, mực nước biển dâng và băng vĩnh cửu đang tan do biến đối khí hậu, cũng có nghĩa là sông Ninglick đang dần làm xói mòn đất.
“Họ nhìn dòng sông chồm về phía mình. Tất cả đều chấp nhận, họ đều biết mình phải rời đi,” Joel Neimeyer, đồng chủ tịch Ủy ban Denali, một cơ quan liên bang có nhiệm vụ điều phối hỗ trợ của chính phủ cho hoạt động khôi phục bờ biển ở Alaska chia sẻ. “Dòng sông lấn vào 70 feet (khoảng 21 mét) mỗi năm. Bạn chỉ cần lấy một cái thước dây ra là đo được.”
Cả hai thị trấn chỉ còn lại một lựa chọn khủng khiếp sẽ đến với rất nhiều người sống ở các vùng ven biển trên khắp nước Mỹ đang có nguy cơ bị ngập nước khi mực nước biển tiếp tục dâng: Di dời, hoặc tàn lụi. Nhưng rồi họ nghe về một cuộc thi lạ thường, chưa từng có ở đâu do chính quyền tổng thống Obama tổ chức, mang lại cơ hội tái định cư. Cuộc thi thích ứng với thiên tai quốc gia (NDRC) được chính phủ liên bang tổ chức với mục tiêu giúp các cộng đồng và các bang hồi phục từ các thiên tai trước đó và giảm bớt các nguy cơ trong tương lai.
“Những gì đang xảy ra ở Alaska không chỉ là lời báo trước về những gì sẽ xảy ra với chúng ta nếu không hành động, mà còn là tiếng gọi thức tỉnh chúng ta. Tiếng chuông cảnh báo đã điểm rồi.”(Barack Obama)
Đối với cả Isle de Jean Charles và Newtok, cuộc thi đã mang lại hy vọng. Nó cũng cho thấy rằng những người có quyền lực dù ở xa nhưng vẫn quan tâm đến họ. Tổng thống Barack Obama đã tới thăm Alaska hồi tháng 9/2015, vài tháng trước hội nghị thượng đỉnh về khí hậu tại Paris đề ra một thỏa thuận khí hậu toàn cầu toàn diện mang tính bước ngoặt, và nói, “Những gì đang xảy ra ở Alaska không chỉ là lời báo trước về những gì sẽ xảy ra với chúng ta nếu không hành động, mà còn là tiếng gọi thức tỉnh chúng ta. Tiếng chuông cảnh báo đã điểm rồi.”
Khi biến đổi khí hậu tác động lên những diện tích lớn hơn tại các thị trấn ven biển ở Mỹ, ý tưởng di cư do biến đổi khí hậu không còn là một khái niệm trừu tượng chỉ tác động đến những hòn đảo xa xôi ở Thái Bình Dương nữa. Một nghiên cứu hồi tháng 3/2016 cho thấy khi mực nước biển dâng 1,8 mét vào năm 2100, cùng với việc các chỏm băng ở địa cực sụp đổ, 13,1 triệu người Mỹ sống dọc các bờ biển sẽ mất nhà cửa do sóng thần. Ngay cả khi mực nước biển chỉ dâng khiêm tốn 1 mét, 4 triệu người cũng sẽ trở thành vô gia cư.
Với việc dân số Mỹ chủ yếu tập trung ở các khu vực ven biển đông dân, nguy cơ này đặt ra những câu hỏi cấp thiết cho chính phủ. Họ sẽ chuyển mọi người đi đâu? Làm thế nào để di dời cả một thành phố hay thị trấn? Ai sẽ trả tiền để làm việc đó? Và, có lẽ là vấn đề gây tranh cãi nhất: họ sẽ giúp ai đầu tiên?
Con đường độc đạo dẫn đến đảo Isle de Jean Charles. (Văn phòng Phát triển Cộng đồng Louisiana)
Cộng đồng hoàn hảo
Cuộc thi của ông Obama được tổ chức trong một tình huống đặc biệt. Sau khi cơn bão Sandy đổ bộ vào bờ đông nước Mỹ năm 2013, Quốc hội đã thông qua một dự luật trao 16 tỷ USD trợ cấp khắc phục dài hạn cho Cục Phát triển Nhà ở và Đô thị (HUD). Số tiền trao cho HUD được dùng để chi cho hoạt động khắc phục hậu quả của cơn bão Sandy và các thiên tai khác xảy ra từ năm 2011 đến năm 2013.
Marion McFadden, phó thư ký trợ lý cho các chương trình trợ cấp tại HUD tại thời điểm đó, cũng là người giám sát cuộc thi cho biết việc đặt mục tiêu khắc phục hậu quả thiên tai như một cuộc cạnh tranh giúp bảo đảm cơ quan này sẽ tài trợ cho những giải pháp sáng tạo, tiên tiến nhằm xây dựng lại cơ sở vật chất. HUD đã có kinh nghiệm tốt với chương trình Rebuild By Design (Xây dựng lại theo thiết kế) năm 2013, một cuộc thi thu hút các nhóm nhà thiết kế, kiến trúc sư, kỹ sư, nhà sinh thái học và thủy văn học đưa ra các giải pháp cải thiện sự hồi phục tại những khu vực bị bão Sandy tàn phá.
Vậy là sau khi dành một số tiền lớn để tái thiết sau bão Sandy, HUD đã để ra 1 tỷ USD và công bố cuộc thi vào tháng 10/2014. “Chúng tôi muốn đảm bảo rằng các vấn đề khó khăn không quay trở lại với số tiền chúng tôi cấp và chúng tôi thực sự đang tìm kiếm sự đổi mới,” McFadden cho biết.
Cuộc thi diễn ra với 2 vòng. Chính quyền tất cả các địa phương và các bang từng trải qua thiên tai lớn theo tuyên bố của tổng thống từ năm 2011 đến năm 2013 hoặc từng nhận tiền tài trợ khắc phục hậu quả thiên tai từ HUD đều được mời dự thi. Các đơn vị này bao gồm 48 bang, cộng thêm Puerto Rico, Washington D.C. và một số chính quyền địa phương.
Ngôi làng có khoảng 350 thành viên bộ lạc Yupik, phụ thuộc chủ yếu vào kế sinh nhai là đánh bắt cá, săn tuần lộc, bò xạ hương và chim chóc, nhặt trứng chim và hái lượm quả mọng và rau.
Di dời cả một thị trấn hay làng mạc không phải là mục tiêu của cuộc thi – bạn có thể đưa ra bất kỳ giải pháp nào – nhưng Newtok đã nhìn ra cơ hội của mình. Ở Alaska, một nhóm 5 người thuộc 4 cơ quan chính quyền khác nhau đã tạo nên đội hình cốt lõi dự thi. Di dời không phải là một ý tưởng mới. Từ hồi năm 1984, khi chính quyền địa phương nhận thấy thành phố đang dần mất đất và đề nghị đánh giá về vấn đề xói mòn, các cố vấn về địa chất nhận thấy rằng nỗ lực ngăn chặn sự xói mòn sẽ vô cùng tốn kém. “Di dời Newtok sẽ ít tốn kém hơn cố chặn dòng sông Ninglick,” họ nói trong một bức thư gửi thị trưởng Newtok lúc bấy giờ là ông John Charles. Tuy nhiên, cả thị trấn phải mất tới gần 10 năm để quyết định phải làm gì. Năm 1996, cuối cùng họ cũng biểu quyết di dời.
Khi chọn một nơi để chuyển đến, cộng đồng phải bảo đảm rằng họ vẫn giữ được sinh kế của mình. Ngôi làng có khoảng 350 thành viên bộ lạc Yupik, phụ thuộc chủ yếu vào kế sinh nhai là đánh bắt cá, săn tuần lộc, bò xạ hương và chim chóc, nhặt trứng chim và hái lượm quả mọng và rau. Cộng đồng xác định Mertarvik, một mảnh đất nằm trong khu vực sinh kế của họ, có thể là lựa chọn tốt.
Nhưng vùng đất này là khu trú ẩn cho các động vật hoang dã được bảo vệ, và cộng đồng đã khởi động quá trình đàm phán kéo dài 7 năm với cơ quan Dịch vụ ngư nghiệp và Động vật hoang dã Mỹ. Tới năm 2003, cuối cùng họ cũng nhận được quyền sở hữu Mertarvik, khu vực nằm cách Newtok 10 dặm về phía nam. Trong những năm sau đó, cộng đồng địa phương và cả bang đã phải vật lộn để tìm các nguồn tài trợ nhằm phát triển vùng đất mới. “Không cơ quan tài trợ nào sẵn lòng đầu tư vào vùng đất mới có dân số bằng 0 này,” Sally Russell Cox, một nhà lập kế hoạch của Cơ quan Thương mại, Cộng đồng và Kinh tế bang Alaska cho biết.
Vì thế, khi các quan chức bang Alaska nghe về Cuộc thi khắc phục thiên tai Quốc gia năm 2014, họ cảm thấy Newtok sẽ giành được nguồn tài trợ mà họ xứng đáng. “Dường như cộng đồng đang trải qua quá trình tái định cư năng động này sẽ là cộng đồng hoàn hảo để đăng ký nhận vốn tài trợ,” Cox, một thành viên nhóm lập hồ sơ đăng ký dự thi của bang cho biết.
Trong khi đó, ở Louisiana, dải đất đảo Isle de Jean Charles đang nhanh chóng bị biển xâm lấn, và những trận lũ lụt cùng bão đã giúp cộng đồng ở đây thấy rằng tái định cư là lựa chọn duy nhất hiện có của họ. Họ dường như là một ứng viên sáng giá cho khoản trợ cấp, vì không như những khu vực khác, những cư dân trong làng không cần phải được thuyết phục về nhu cầu tái định cư.
Dải đất đảo Isle de Jean Charles đang nhanh chóng bị biển xâm lấn, và những trận lũ lụt cùng bão đã giúp cộng đồng ở đây thấy rằng tái định cư là lựa chọn duy nhất hiện có của họ.
“Một trong những việc khó nhất là để mọi người quyết định phải rời bỏ nơi mà họ đã lớn lên,” Pat Forbes, giám đốc điều hành Văn phòng phát triển cộng đồng, cơ quan phụ trách quản lý trợ cấp khí hậu liên bang nhận định. “Có một cộng đồng đã cân nhắc và chấp nhận điều đó từ lâu là một lợi thế.”
Mathew Sanders, khi đó là một nhà tư vấn chính sách của bang Alaska, đã trải qua rất nhiều đêm mất ngủ để chuẩn bị hồ sơ dự thi. Có khoảng 15 người thuộc nhiều bộ phận của chính quyền bang tham gia lập hồ sơ dự thi, và 15 người khác tới từ khu vực tư nhân để cho ý kiến chuyên môn. “Chúng tôi nghiên cứu khu vực địa lý rộng lớn trong một thời gian khá ngắn và cố gắng đưa ra một loạt những ý tưởng lớn cũng như đào sâu vào những nét riêng biệt,” Sanders cho biết. “Đó là một việc cực kỳ khó.”
Sau vòng đánh giá các hồ sơ dự thi, 40 chính quyền bang và địa phương có điểm cao nhất được chọn đi tiếp vào vòng 2 tổ chức tháng 6/2015, nơi các đơn vị dự thi có 4 tháng để trau chuốt kế hoạch của họ nhằm đưa vào thực hiện. Cả Isle De Jean Charles và Newtok đều được vào vòng 2.
Newtok nhìn từ trên cao. (Google Maps)
“Hậu cảnh trên con đường đến Paris”
Alaska và Louisiana có cách tiếp cận rất khác nhau khi lập luận cho trường hợp của họ. Bang Alaska lập luận rằng những dự án họ đang đề xuất là dành cho những địa điểm có nhu cầu lớn nhất và cấp thiết nhất. “Băng ở biển Bắc Cực, thứ trước đây là vật che chắn cho các cộng đồng ven biển khỏi những cơn bão, đang giảm đi,” Cox cho biết. “Khoa học đã tiết lộ tất cả. Đó là những thực tế mà chúng tôi đưa ra để xây dựng một trường hợp mà chúng tôi cảm thấy những tác động của tình trạng ấm lên ở đây xảy ra sớm hơn nhiều so với những nơi khác. Nó đang gây ảnh hưởng cho những cộng đồng rất dễ bị tổn thương.”
Alaska quyết định xin cấp vốn cho những dự án ở 4 cộng đồng khác nhau, một trong số đó là di dời Newtok. Bốn dự án này có tổng kinh phí được yêu cầu là 286 triệu USD, trong đó 69 triệu USD được dành cho Newtok. Đề xuất cuối cùng bao gồm các chi phí để xây nhà ở tại Mertarvik, phát triển một hệ thống đường bộ và bãi rác cho cộng đồng, cũng như phá dỡ những ngôi nhà bị bỏ hoang ở Newtok.
“Chúng tôi hiểu thực tế việc mất đất và các điều kiện nước biển dâng mà chúng tôi đang đối mặt ở Louisiana, chúng tôi kỳ vọng được thấy kế hoạch được nhân rộng ở những nơi khác dọc bờ Vịnh và lên đến bờ biển phía đông.”
Ở Louisiana, nhóm dự thi cảm thấy chính phủ liên bang không chỉ đơn thuần tìm kiếm cách giải quyết các vấn đề hiện tại mà còn muốn xây dựng một mô hình cho các dự án trong tương lai. “Những gì họ đang tìm kiếm là những dự án có thể được nhân rộng không chỉ ở Louisiana mà là trên cả nước nhằm đối phó với những mối đe dọa tới các cộng đồng,” Forbes cho biết.
Vậy là họ trình bày kế hoạch di dời Isle de Jean Charles như một thử nghiệm, một giải pháp mới lạ ở một nơi từng trải qua vấn đề mất đất ven biển và mực nước biển dâng sẽ tác động lên các khu vực ven biển khác ở Mỹ trong tương lai.
“Nếu chúng tôi cố gắng và tìm ra cách giải quyết vấn đề này ở bất cứ đâu, chúng tôi sẽ trình bày về bản thân như một trường hợp thử nghiệm và như một phòng thí nghiệm, “Sanders cho biết. “Chúng tôi hiểu thực tế việc mất đất và các điều kiện nước biển dâng mà chúng tôi đang đối mặt ở Louisiana, chúng tôi kỳ vọng được thấy kế hoạch được nhân rộng ở những nơi khác dọc bờ Vịnh và lên đến bờ biển phía đông. Nếu ai cũng biết chúng tôi giống như con chim hoàng yến kẹt trong mỏ than, thì cũng là hợp lý khi HUD thực hiện những khoản đầu tư như vậy ở đây nhằm bắt đầu xây dựng những mô hình và thử nghiệm các ý tưởng có thể được mở rộng quy mô và nhân rộng ở những nơi khác.”
Vào tháng 1/2016, HUD đã tuyên bố người chiến thắng cuộc thi. Louisiana đã nhận được 92,6 triệu USD, trong đó 48 triệu USD được dùng để đưa người dân đảo Isle de Jean Charles lên vùng đất cao hơn. “Điều khiến cho kế hoạch di dời của Louisiana khác biệt là những nguồn lực dành riêng cho việc nghiên cứu và đánh giá quá trình di dời,” McFadden chia sẻ. “Chúng tôi thực sự không có cơ sở dữ liệu tốt để rút ra kinh nghiệm và bài học từ việc di dời cộng đồng dân cư.”
Không phải ai cũng may mắn như vậy.
Trong một bức thư gửi bang Alaska thông báo từ chối đơn xin cấp vốn, HUD có nói rằng các đơn vị dự thi đề nghị tới hơn 7 tỷ USD tiền tài trợ trong khi họ chỉ có 1 tỷ USD. Thượng nghị sĩ Lisa Murkowski đã viết trong một bức thư gửi ông Obama rằng, bất chấp những tuyên bố công khai thừa nhận tác động của biến đổi khí hậu lên các làng mạc ven biển ở Alaska, thực tế Alaska không nhận được tài trợ “đã khiến những người Alaska ở vùng nông thôn đơn thuần giống như hậu cảnh trên con đường đến Paris của ngài.”
Bang Alaska đã đề nghị một cuộc họp với HUD để thảo luận các kết quả của giải pháp. Tại cuộc họp, các đại diện của HUD đã nói về những tiêu chí của giải pháp và những điểm mà Alaska bỏ sót. Mark Romick, phó giám đốc điều hành Tổng công ty Tài chính nhà ở Alaska, một thành viên của nhóm đưa ra giải pháp và cũng có mặt trong phòng họp mô tả cuộc đối thoại hôm đó là “không hoàn toàn thỏa đáng.” “Nhu cầu không phải là một yếu tố lớn,” Romnick nói. “Vấn đề là cách bạn đáp lại mục tiêu phục hồi.”
Tới năm 2100, ở Florida, cứ 8 căn nhà thì có một căn – tương ứng với khoảng 934.000 bất động sản có trị giá hơn 400 tỷ USD theo giá trị hiện hành – sẽ bị nhấn chìm xuống biển.
Alaska cũng bị thiệt thòi vì các tiêu chí của cuộc thi khá tập trung vào mặt dân số; những cộng đồng bị ảnh hưởng nhất của bang lại có dân cư rất thưa thớt và sống xa nhau. Trong khi đó, Isle De Jean Charles lại là một khu định cư rất nhỏ, và phần chấm điểm có cân nhắc tới việc bang Louisiana nhìn chung là có mật độ dân số dày đặc hơn.
Kế hoạch của Alaska bị loại vì khoản đầu tư gần 20 triệu USD suốt nhiều năm qua của bang cho các nỗ lực di dời Newtok và phát triển khu định cư mới không đáp ứng được định nghĩa của HUD về “tác dụng đòn bẩy.” Cox rất ngạc nhiên về kết quả. “Chưa từng có một cơ hội tài trợ như thế này nên, điều đó thật đáng thất vọng,” cô nói.
Ngay cả McFadden, người điều hành cuộc thi cũng nói rằng quá trình đánh giá có thể “gây bực bội” và nhấn mạnh bản chất kỹ thuật của việc đấu thầu xin tài trợ từ chính phủ. “Bạn có thể có một ý tưởng tuyệt vời nhưng không được thể hiện tốt lắm và không ghi điểm cao như khả năng thực tế, và một kế hoạch thuần thục hơn về mặt kỹ thuật nhưng lại không tham vọng bằng,” bà nói. “Vấn đề không nằm ở chất lượng của ý tưởng – mà là cách nó được trình bày trên giấy tờ.”
Vùng nước xung quanh đảo Isle de Jean Charles đang dần xâm chiếm khu dân cư. (Văn phòng Phát triển Cộng đồng Louisiana)
Isle de Jean Charles là thị trấn duy nhất nhận được tiền tài trợ để di dời; số tiền còn lại được dùng để xây dựng các khu thích ứng ven biển ở các bang và thị trấn khác. Ví dụ, HUD đã trao cho bang California 70,4 triệu USD để phát triển khả năng thích ứng với cháy rừng, cho New Orleans 141 triệu USD để thành lập Khu vực thích ứng ở khu Gentilly, và cho thành phố New York 176 triệu USD để xây dựng hệ thống chống lũ lụt ven biển. Florida, bang có 2.170 km bờ biển, có 5 thị trấn gửi đơn tham dự NDRC, nhưng không lọt được vào vòng 2.
Theo dự đoán của Zillow, tới năm 2100, ở Florida, cứ 8 căn nhà thì có một căn – tương ứng với khoảng 934.000 bất động sản có trị giá hơn 400 tỷ USD theo giá trị hiện hành – sẽ bị nhấn chìm xuống biển. Philip Stoddard, thị trưởng thành phố South Miami cho rằng các cư dân không nên đợi chính phủ liên bang đến giải cứu họ. “Suy nghĩ chính phủ sẽ đến cứu mọi người không còn thực tế nữa. Điều đó sẽ không xảy ra với tốc độ mà nó cần được thực hiện,” Stoddard chia sẻ với Quartz. “Chẳng có đủ tiền. Có thể một vài người may mắn sẽ nhận được sự trợ giúp, nhưng đó sẽ chỉ là một cộng đồng thiểu số ngày càng thu hẹp.”
Bằng việc chọn tài trợ cho khu tái định cư Isle De Jean Charles, chính phủ liên bang đã thể hiện rõ rằng trong một số trường hợp, họ sẽ hỗ trợ việc di dời. Câu hỏi khi nào chính phủ sẵn sàng can thiệp – và có thường xuyên hay không- vẫn còn bỏ ngỏ.
Dai dẳng ký ức về nơi ở cũ
Với tiền tài trợ trong tay, Isle de Jean Charles hiện đang đối mặt với thách thức di dời cả một thị trấn. Họ đã rút gọn danh sách các điểm tái định cư khả thi xuống còn 3 địa điểm dựa trên đánh giá nguy cơ lũ lụt trong tương lai. Họ hy vọng sẽ đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng để chọn ra một trong ba địa điểm này trong 2 tháng tới, và sau đó bắt đầu quá trình mua đất dài hơi.
“Không có bản đồ kế hoạch hay sách hướng dẫn nào cho chúng tôi cả,” Sanders cho biết. Mỗi tuần, có khoảng 20 người gọi tới một hội nghị qua điện thoại nơi các quan chức của bang trao đổi với các thành viên trong cộng đồng. Một phần công việc của Sanders đôi khi chỉ đơn thuần là trấn an cộng đồng địa phương rằng kế hoạch này sẽ có hiệu quả. Người dân Isle de Jean Charles đã chờ một thời gian dài và đã chứng kiến một vài khởi đầu bị hủy bỏ, khiến họ trở nên cảnh giác với viện trợ từ liên bang.
“Lần nào tôi cũng phải nói với mọi người là có những ý tưởng không nhận được tài trợ vì có lý do,” Sanders nói. “Tôi cố trấn an và giúp họ hiểu rằng chúng tôi sẽ không lấy tiền này đem đi làm việc khác.”
Họ đang tuyển một nhóm lập kế hoạch để xác định diện mạo của cộng đồng mới và một “chiến lược rút quân” từ địa điểm hiện tại của thị trấn khi hòn đảo dần biến mất. Họ hy vọng có thể bắt đầu xây dựng vào năm 2018. Khi một mùa mưa bão nữa sắp đến, họ đang lập ra một chương trình nhà ở chuyển tiếp để người dân chuyển tới những căn nhà thuê nếu thị trấn bị thiên tai ập tới. Thời hạn để chi tiêu khoản tài trợ từ liên bang của họ là tháng 9/2022; bang Louisiana hy vọng đó cũng là lúc có thể tái định cư cộng đồng.
Nhưng xác định các rủi ro khí hậu và phối hợp kho vận chỉ là một khía cạnh của tái định cư có kế hoạch. Trong việc lựa chọn địa điểm tái định cư, các chuyên gia lập luận rằng, các nhà lập kế hoạch cần cân nhắc xem công đồng có các bộ kỹ năng phù hợp để tìm công việc trong môi trường mới hay không. “Điều tồi tệ nhất là di dời dân cư đến một nơi đang phải vật lộn về kinh tế và có các ngành nghề hoàn toàn khác với nơi ở cũ,” Kate Gordon, giám đốc sáng lập Dự án Kinh doanh mạo hiểm nghiên cứu các rủi ro kinh tế do biến đổi khí hậu chia sẻ với Quartz. “Nếu bạn di dời một cộng đồng dân cư không có các kỹ năng và văn hóa phù hợp – tôi nghĩ đó sẽ là một thảm họa.”
Trong trường hợp của Isle de Jean Charles, nơi chủ yếu có các cộng đồng bộ tộc sinh sống, các quan chức của bang phải đối mặt với câu hỏi chuyển dịch một nền văn hóa độc đáo và nguyên vẹn sang một nơi khác. Các quan chức bang Louisiana đang cố gắng để hiểu được văn hóa của cộng đồng và bảo đảm rằng nó sẽ được “gắn liền” với kế hoạch chi tiết cho các khu định cư mới.
Những tác động tâm lý của việc phải di dời, ngay cả khi cộng đồng biết rằng điều đó là vì lợi ích tốt nhất của họ, cũng có thể trở nên khá nặng nề.
“Mặc dù điểm đến có thể chỉ cách đó 5 dặm, mọi người vẫn cần thời gian để hiểu rằng cuộc sống của họ và tất cả những kỷ niệm họ có với nơi ở cũ sẽ chỉ còn là ký ức, vì họ sẽ phải định cư ở một nơi khác,” Cosmin Corendea, viên chức học thuật tại Viện Môi trường và An ninh nhân loại của Liên Hợp Quốc, người chuyên xây dựng các khung pháp lý để bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi của những người phải di dân do biến đổi khí hậu cho hay. Ông tin rằng một trong những lý do khiến khu tái định cư Isle De Jean Charles sẽ thành công là mọi người đã có nhiều năm làm quen với việc phải di dời.
Mertavik, nơi các cư dân của Newtok đang cố gắng bắt đầu lại kể từ thập niên 1990. (Nhóm Kế hoạch Newtok)
Các quan chức trên khắp cả nước đang theo dõi chặt chẽ các nỗ lực hiện tại để xem kết quả. “Những kết quả của các nỗ lực di dân tại Isle de Jean Charles có thể mang đến những thông tin quý báu cho chính phủ liên bang về những gì họ có thể làm,” Mark Davis, giám đốc viện Luật và Chính sách các nguồn tài nguyên nước Tulane cho biết. “Ý tôi là, trời ạ, nếu bạn không thể di dời được 50 người, thì bạn di dời 100.000 người bằng cách nào? Và dù di dời thành công 50 người đó, điều gì bảo đảm là bạn cũng sẽ có thể làm điều đó ở nơi khác?”
Ở Newtok, sau khi cú sốc thua cuộc dần phai đi, các quan chức bang Alaska đang hy vọng có thể tiếp tục các nỗ lực di dời ngôi làng. Hiện đang có các kế hoạch xây dựng đường xá trong mùa hè và xây thêm nhà cửa ở khu vực mới, nhưng kinh phí vẫn là một thách thức. Theo Cox, xây một ngôi nhà hiệu quả năng lượng ở vùng nông thôn Alaska tốn khoảng 300.000 USD. Rồi còn vấn đề về nước, vệ sinh, thoát nước, trường học, cửa hàng, sân bay… đặt ra cho các cơ quan chính phủ khác nhau.
Nếu bạn không thể di dời được 50 người, thì bạn di dời 100.000 người bằng cách nào? Và dù di dời thành công 50 người đó, điều gì bảo đảm là bạn cũng sẽ có thể làm điều đó ở nơi khác?
Nhưng với việc chính quyền Trump rút khỏi hiệp định khí hậu Paris mà ông Obama từng dùng Alaska để chiến thắng, kinh phí từ liên bang cho Newtok dường như sẽ không đến sớm. Không có nhiều khả năng rằng HUD dưới thời tổng thống Trump sẽ sớm phê duyệt một cuộc thi như vậy – ngay cả khi những thị trấn như Newtok, và các đảo quốc như Tuvalu đang phải vật lộn đối phó với tình trạng nước biển dâng.
Với thế giới, những gì mà người dân ở đây đang phải đối mặt mới chỉ là sự khởi đầu. “Không có quốc gia nào, lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, sẽ không chịu tác động của biến đổi khí hậu,” chính ông Obama đã cảnh báo như vậy gần đây.
Trường học duy nhất ở Newtok là một khu nhà tả tơi với lớp sơn màu trắng và xanh dương bong tróc trên những tấm gỗ sàn lồi lên. Ngôi trường nằm ở khu vực cao nhất trong làng, nơi có nguồn nước chảy duy nhất, và được dùng làm nhà cộng đồng – và nó cũng chỉ cách sông Ninglick vài trăm mét. Với tốc độ xói mòn hiện nay, dòng sông có thể chạm tới ngôi trường trong năm nay.
“Những gì tôi nhận thấy ở quốc gia này là chưa thực sự có hiểu biết toàn diện về việc biến đổi khí hậu sẽ tác động lên môi trường trong những năm tới như thế nào,” Neimeyer cho biết. “Cuối cùng, tôi nghĩ là cả nước sẽ biết điều đó thôi”./.