Leroy Sane, thương vụ chuyển nhượng đình đám và kéo dài nhất nhì trong lịch sử Bayern Munich (14 tháng), cuối cùng cũng đã cập bến Allianz Arena hồi đầu tháng 7 vừa qua.
Cầu thủ người Đức sẽ thi đấu cho Hùm xám xứ Bavaria theo bản hợp đồng có thời 5 năm năm (đến tháng 6/2025).
Sau gần một tháng hòa nhập tại đội bóng mới, Sane đã có buổi trả lời phỏng vấn với Sportbild.
Nhân tố mới trên chặng đường thành công của Bayern?
– Leroy Sane, anh đã im lặng quá lâu. Anh không công khai bất cứ một chuyện gì cho đến khi video chính thức giới thiệu về anh được Bayern công bố. Anh sợ dư luận?
Leroy Sane: Vụ chuyển nhượng để gia nhập Bayern đã kéo dài quá lâu và nó làm tôi cảm thấy rất khó để có thể tuyên bố bất cứ một điều gì. Nhưng sợ dư luận thì tôi hoàn toàn không.
– Anh biết rằng khi đến Munich mình sẽ được công chúng quan tâm nhiều hơn trước đây vì bây giờ anh là biểu tượng mới của câu lạc bộ này?
Leroy Sane: Tôi biết điều đó và tôi đã có chuẩn bị tư tưởng. Tôi là một tuyển thủ quốc gia và bây giờ là một phần của câu lạc bộ lớn nhất nước Đức. Tôi biết, ống kính sẽ còn tập trung vào tôi nhiều hơn nữa nhưng nó không làm tôi cảm thấy trở ngại. Tôi sẽ cố gắng thực hiện những gì có thể và không được phép làm bất cứ điều gì ảnh hưởng tới phong độ của tôi trên sân.
Tôi muốn mình là một nhân tố trên chặng đường thành công của Bayern.
– Hiếm có một chuyển nhượng nào lâu tới như vậy, tổng cộng hai bên đã “đưa đẩy” tới 14 tháng. Trong thấy gian đó, anh cảm thấy thế nào?
Leroy Sane: Đúng là lâu thật. Chính vì thế mà tôi cũng có thể hiểu, khi người hâm mộ đến một lúc nào đó cảm thấy bực mình. Và cũng chính vì vậy giờ đây tôi còn cảm thấy hạnh phúc hơn nữa khi mọi chuyện đã xong.
Thương vụ chuyển nhượng Sane từ Man City đến Bayern kéo dài 14 tháng. (Nguồn: FcBayern)
– Anh có thể tiết lộ với chúng tôi về việc chuyển nhượng của anh gia nhập Bayern đã gần đến đâu trước khi anh bị chấn thương trong trận gặp Liverpool hồi tháng 8/2019?
Leroy Sane: Câu chuyện không phải là như vậy, rằng tôi không được phép thi đấu vì nếu có chấn thương thì chuyển nhượng sẽ không thành! Mọi chuyện lúc đó chưa đi đến đâu cả.
– Trong khoảng khắc bị chấn thương, anh cảm thấy thế nào?
Leroy Sane: Thực sự, tôi lo cho cái đầu gối của mình hơn là chuyển nhượng. Tôi chưa có vấn đề với đầu gối bao giờ và cũng vì thế nó là một cú sốc. Đáng tiếc là chấn thương lại lâu đến như vậy.
– Anh không có nhiều cơ hội ra sân thời gian gần đây và cũng vì thế mà nhiều tin đồn đã đề cập đến mối quan hệ giữa anh và Pep Guardiola. Cá nhân nhân anh có thể mô tả về mối quan hệ này như thế nào?
Leroy Sane: Quan hệ của chúng tôi là rất tốt. Chưa bao giờ có một điều gì làm người này không còn hứng thú với người kia. Tôi biết ơn ông ấy về tất cả những gì ông ấy đã truyền thụ cho tôi. Pep Guardiola đã giúp tôi nâng mình lên một đẳng cấp cao hơn rất nhiều. Ông ấy cần mẫn ngày này qua ngày khác làm cho cầu thủ đi những bước tiến bộ hơn.
Nếu nói về chiến thuật, không ai có bản bĩnh cứng rắn như ông ấy nhưng đó là điều tích cực và nó cũng giúp tôi rất nhiều. Chúng tôi thậm chí còn sống chung trong một tòa nhà, thường xuyên vẫn gặp nhau.
– Anh có cảm thấy khó khăn khi phải đứng vững trước áp lực từ Pep và Man City về yêu cầu gia hạn hợp đồng?
Leroy Sane: Không dễ dàng chút nào. Pep Guardiola và đội bóng là lý do vì sao trước đây tôi chuyển đã về đó. Nhưng, tôi muốn làm một cái gì đó mới lạ. Những ý tưởng và kế hoạch của Bayern phù hợp với dự định của tôi và tôi đã đưa ra quyết định.
Sane sẽ mang đến thành công cho Bayern?
– Những ý tưởng này đã được Giám đốc thể thao Hasan Salihamidzic chuẩn bị từ rất lâu. Nó có tầm ảnh hưởng quan trọng như thế nào tới quyết định của anh?
Leroy Sane: Hasan Salihamidzic và những ý tưởng của ông ấy đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ông ấy ngay từ đầu ủng hộ vụ chuyển nhượng này và không hề bị lung lạc. Tôi rất cảm ơn về điều này. Ông ấy đã chỉ cho tôi thấy câu lạc bộ làm việc như thế nào, đội hình nào họ đang dự định và hướng đi ra sao. Tôi ngay lập tức nhận ra, tôi quen rất nhiều người trong đó và tôi sẽ hòa hợp với họ.
Tôi muốn mình là một nhân tố trên chặng đường thành công của Bayern. Sau này tôi còn biết, ban lãnh đạo Bayern gồm Karl-Heinz Rummenigge, Herbert Heiner, Oliver Kahl và Uli Höneß cũng ủng hộ vụ chuyển nhượng này.
Hệ thống chiến thuật Bayern phù hợp ‘hoàn hảo’ với tôi
– Có thông tin về thương vụ mang tên Timo Werner. Tuy nhiên, Salihamidzic vẫn theo sát anh và tiếp tục đàm phán. Thậm chí, ông ấy còn công khai gạt bỏ Werner. Anh đã dõi theo sự việc này như thế nào?
Leroy Sane: Đó là một tín hiệu tích cực cho thấy câu lạc bộ đã muốn có tôi như thế nào. Tôi biết rất nhiều cầu thủ ở đây từ ngày còn ở đội trẻ quốc gia. Chúng tôi có những tố chất cơ bản giống nhau và đó là một điều rất thuận lợi để có thể giúp đỡ lẫn nhau.
– Anh nhìn nhận như thế nào về những bàn tán liên quan đến tính cách của anh rộ lên ở Đức khi anh về Bayern?
Leroy Sane: Tôi rất ngạc nhiên về chuyện này. Từ mọi phía và nhiều người khác nhau mà tôi không hề biết họ là ai, họ cũng chẳng biết rõ tính cách của tôi nhưng lại xuất hiện những phát ngôn và tuyên bố mang đầy định kiến. Tôi tự hỏi, nếu tôi không quen biết ai đó, tôi có làm được việc này hay không? Nếu tôi không quen biết ai đó, tôi không bao giờ đưa ra nhận xét. Tôi ở quá xa, chuyện người ta đồn đoán này nọ là có thể. Nhưng tới mức độ như vậy thì quả thật hiếm thấy – ngạc nhiên.
– Anh có đồng ý với nhận xét rằng kể từ khi có HLV Louis van Gaal, lối đá hai cánh của Bayern đã tìm được người kế thừa và tiếp tục duy trì điều đó khi có thêm anh?
Leroy Sane: Hệ thống chiến thuật của Bayern phù hợp đến hoàn hảo đối với tôi. Những cầu thủ chạy cánh đóng một vai trò lớn trong lối chơi của Bayern và tất nhiên là phù hợp với tôi. Đó cũng là một yếu tố mang tính quyết định.
– Năm 2016, anh đã nằm trong vòng ngắm của Bayern. Khi được hỏi vì sao cuối cùng lại không mang anh về, Uli Höneß có nói chuyện liên quan đến đôi cánh “Robbery” như thế này: Người ta không biết dùng Sane ra sao cho đến khi bộ đôi này kết thúc sự nghiệp ở Bayern. Nhưng thực ra Bayern lúc đó có cơ hội để mang anh về không?
Leroy Sane: Cũng khó đấy, vì lúc đó tôi không nhìn thấy cơ hội cho mình ở Munich. Robben và Ribery ngày xưa thi đấu ở một đẳng cấp rất cao và tôi tự xác định mình rằng tôi tất nhiên chưa đạt tới cảnh giới đó.
Bayern luôn rất hấp dẫn đối với tôi. Họ là một trong những câu lạc bộ lớn nhất thế giới, nhưng tôi thực tế và cũng nhận ra rằng, mình khó có cơ hội ra sân thi đấu. Cùng thời điểm đó, tôi nhận được lời mời từ Man City.
Những cầu thủ chạy cánh đóng một vai trò lớn trong lối chơi của Bayern và tất nhiên là phù hợp với tôi.
– Anh thấy “gia sản” mà hai người tiền nhiệm Robben và Ribery để lại như thế nào?
Leroy Sane: Cả hai đã có những cống hiến rất lớn cho câu lạc bộ và điều đó làm tôi vô cùng ấn tượng. Họ để lại một khoảng trống rất lớn cần phải lấp đầy. Nhưng tôi thực hiện công việc này một cách rất hứng thú, thay vì tự tạo áp lực cho mình. Tôi muốn biết mình có thể đi đến đâu và làm sẽ làm được gì? Tôi biết, tôi có thể làm gì, tôi cũng có cái đích của tôi. Nhưng hiện tại, tôi không thể mạnh dạn nói rằng tôi sẽ trở thành người khổng lồ như Robben hay Ribery.
Khoảng trống mà Ribery và Robben để lại không hề nhỏ.
– Ribery đã ngỏ ý qua Sportbild. Nếu anh cần một lời khuyên, có thể gọi điện cho cậu ấy bất cứ lúc nào. Anh sẽ tận dụng cơ hội chứ?
Leroy Sane: Chúng tôi đã gặp nhau và nói chuyện một lần ở Miami. Anh ấy là một người tuyệt vời. Tôi sẽ vô cùng vui mừng nếu như được gặp lại anh ấy ở Munich.
Chiếc áo số 10 là một trách nhiệm lớn
– Anh đã chọn cho mình chiếc áo số 10. Đây là một lời tuyên bố.
Leroy Sane: Tôi biết, Robben đã mặc chiếc áo đó, và ngày xưa là của Uli Höneß. Số 10 có một lịch sử đặc biệt ở Munich và tôi biết người mặc chiếc này phải mang trên lưng một trách nhiệm như thế nào.
– Lại nói về Uli Höneß. Anh đã làm quen với chủ tịch danh dự thế nào. Theo thông lệ, ông ấy hay mời cầu thủ mới về đến nhà chơi ở Tegersee.
Leroy Sane: Trên thực tế thì đúng là khi tôi ký hợp đồng có đến nhà và nói chuyện với ông ấy ở Tegersee. Ông ấy sống ở một mảnh đất tuyệt đẹp ở Bayern và nó quá xa lạ đối với phố Säbener (cười). Tôi biết, ông ấy ủng hộ tôi về Munich. Tôi cũng cảm thấy dễ chịu như khi nói chuyện với chủ tịch hiện nay Herbert Heiner. Lần cuối cùng tôi tình cờ gặp ông ấy khi đi ăn tối ở Munich và chúng tôi ngay lập tức đã có một buổi nói chuyện với nhau, tôi nhận ra ông ấy sống vì thể thao và vì Bayern Munich.
– Lần đầu tiên anh gặp Karl-Heinz Rummenigge là trong lễ ký kết. Ông ấy đã nói với anh những gì?
Leroy Sane: Nói về những điều quan trọng trong cuộc sống. Sống sao cho hạnh phúc và đừng để những người khác làm mình khó chịu. Nếu không như vậy sẽ không thể tập trung vào bóng đá. Tôi thấy, ông Rummenigge nói hoàn toàn có lý.
Nếu như đầu óc tôi không thực sự thoải mái, tôi không thể có phong độ tốt nhất. Những cầu thủ bóng đá như chúng tôi đang được sống một cuộc sống như trong mơ. Nếu trong đầu chúng tôi có cảm giác này mà không phải là sức ép chúng tôi sẽ tới được những cái đích rất lớn. Ông Rummenigge một lần nữa khẳng định với tôi như vậy.
– Anh từng có một lần có cuộc nói chuyện qua điện thoại rất lâu với Hansi Flick. Sắp tới hai người sẽ cùng làm việc như thế nào?
Leroy Sane: Tôi biết Hansi Flick từ hồi còn ở đội U21 quốc gia. Tôi biết ông ấy làm việc như thế nào, cũng biết về con người của ông ấy và hoàn toàn phù hợp với tôi. Chúng tôi đã nó về việc ông ấy chờ đợi điều gì ở đội bóng và ở tôi, cái đích của chúng tôi là gì, công việc đại khái sẽ là như thế nào. Tôi vui mừng rằng Hansi Flick lại làm huấn luyện viên của tôi. Đó là một cú điện thoại rất hay.
– Anh có quan hệ với những cầu thủ Bayern nào, những ai đã biết gì đó rồi?
Leroy Sane: Thực ra cũng không phải là ngày nào cũng có người hỏi “cậu có đến không?” hay “mọi chuyện xong chưa?” Nhưng Leon Goretzka, Serge Gnabry và Joshua Kimmich biết hết. Nhất là Joshua Kimmich, có cảm giác cậu ấy ngày nào cũng muốn gọi cho tôi để hỏi xem mọi chuyện đến đâu rồi. Khi tôi về đây họ đã liên lạc ngay với tôi…
– Thời buổi này thật đáng ngạc nhiên, khi cầu thủ trực tiếp tham gia vào chuyển nhượng của mình nhiều như thế nào hay đưa ra những đòi hỏi cụ thể qua người môi giới.
Leroy Sane: Thì chính tôi là người trả tiền cho họ để họ gây chút sức ép mà….(cười)
– Bayern lên kế hoạch cho hai cánh bao gồm 3 trụ cột là Gnabry, Coman và anh. Anh có đòi hỏi cho mình một suất chính ra sân không, hay đối với anh khi phải thi đấu dầy đặc như vậy thì xoay tua là hợp lý?
Leroy Sane: Tất nhiên, tôi muốn thi đấu nhưng không có nghĩa phải đòi hỏi trận nào cũng được ra sân. Không có một cầu thủ nào trên thế giới trận nào cũng ra sân và có phong độ cao nhất. Tôi có kế hoạch của tôi và tôi hoàn toàn không phản đối việc xoay tua. Sẽ có lợi cho đội bóng nếu như có thêm luồng sinh khí mới, nhịp đập mới. Serge, King và tôi… tai tôi đã nghe thấy những âm thanh xao động.
– Anh có cảm thấy mừng vì không phải mang cái bảng với giá tiền 145 triệu euro chuyển nhượng ở trên cổ?
Leroy Sane: Đó là những con số mà trong mắt tôi không một cầu thủ nào trên thế giới này đáng giá tới như vậy. Tôi cũng không mấy bận tâm tới chuyện đó, nhưng đây cũng là một lợi thế khi đến cuối cùng không ai phải trả số tiền lớn như vậy.
– Với Bayern, anh không chỉ quan trọng trên sân mà còn bên ngoài sân cỏ. Anh sẽ trở thành gương mặt thương hiệu, biểu tượng lối sống như một “Beckham Đức”?
Leroy Sane: Vị trí tôi đặt lên hàng đầu là thể thao. Nếu không như vậy thì tôi đang tự ngáng đường của mình. Nếu tôi chú ý đến những thứ khác nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến bóng đá.
Đội bóng chỉ đến được cái đích của mình khi mỗi các nhân tự hoàn thiện thêm và người ta chỉ chiến thắng cùng với tập thể, một cá nhân không thay đổi được gì.
– Anh sẽ tiếp tục diện những trang phục đặc biệt như áo da lông cừu ở Munich như khi đã từng mặc lúc đến hội quân ở đội tuyển?
Leroy Sane: Tất nhiên, tôi quan tâm đến trang phục và quần áo trong đời sống của mình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa tôi muốn gây chú ý cho một kiểu trang phục nào đó. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi hôm đó tôi đến hội quân với đội tuyển, tôi đi từ xe vào khách sạn chỉ có mấy phút mà trên tất cả các trang báo ngày hôm sau không có gì khác ngoài cái áo khoác của tôi. Bóng đá mới là mối quan tâm hàng đầu.
– Anh đã được trao danh hiệu cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Premier League vào năm 2018. Bước phát triển tiếp theo của anh là gì?
Leroy Sane: Ở mùa bóng 2017-18 Premier League, mọi việc diễn ra thật thuận lợi. Tôi muốn đi tiếp con đường đó, sẽ có những trận đấu hay và tiếp tục mang đến thành công cho đội bóng. Đội bóng chỉ đến được cái đích của mình khi mỗi các nhân tự hoàn thiện thêm và người ta chỉ chiến thắng cùng với tập thể, một cá nhân không thay đổi được gì.
Áo da lông cừu Balenciaga – Model ‘Graffiti Sherling Jacket’ giá 4.500 euro. Ba lô Louis-Vuitton Model ‘Christopher Backpack GM’ giá 18.000 euro – cho thấy độ sành điệu của Sane.
– Đã có một cầu thủ Man City nào hỏi anh rằng: Tại sao lại chuyển từ giải đấu hấp dẫn nhất hành tinh về Bundesliga?
Leroy Sane: Thực ra thì không nhưng thỉnh thoảng cũng nghe thấy ai đó trêu đùa hay vài câu bâng quơ. Tuy nhiên, họ nói vậy vì chỉ muốn nghe được từ tôi: mọi việc với Bayern đến đâu rồi. Nhưng không ai trêu chọc, mỉa mai khi tôi trở về Đức thi đấu. Hơn nữa, FC Bayern là đội bóng nhận được sự tôn trọng đặc biệt ở Anh.
– Bundesliga trở lại thi đấu sớm nhất sau đại dịch đã nhận được thêm nhiều ngưỡng mộ ở Anh?
Leroy Sane: Bundesliga là giải đấu hàng đầu tiên phong trở lại thi đấu. Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ và cả thế giới hướng về nước Đức. Ở Anh, người ta cũng nhận ra rằng Bundesliga vẫn có thể thi đấu tốt trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy.
– Những tài năng như Sancho, Bellingham hay Haaland đều thi đấu ở Đức. Bundesliga ngày một hấp dẫn hơn với những tài năng?
Leroy Sane: Ai cũng biết những tài năng trẻ ở Bundesliga có cơ hội được ra sân nhiều hơn và chuyện này được nhắc đến ở nhiều nơi. Sancho là một ví dụ. Cậu ấy đã làm rất tốt và rất nhiều cầu thủ trẻ khác muốn học theo cậu ấy, những chuyện như vậy có một tín hiệu lan tỏa rất nhanh.
– Sau khi tòa án thể thao thế giới (CAS) đã hủy lệnh cấm Manchester City thi đấu ở Champions League mùa tới, nhiều tin đồn cho rằng Man City đang liên hệ với David Alaba và anh có thể khuyên Alaba điều gì không?
Leroy Sane: Tôi rất hy vọng rằng David sẽ ở lại! Tôi rất muốn thi đấu cùng với cậu ấy. Cậu ấy là một chàng trai hấp dẫn, một cầu thủ tuyệt vời và cá nhân chúng tôi có quan hệ rất tốt. David đã chứng minh cậu ấy không những là một hậu vệ trái đẳng cấp nhất thế giới mà còn là một trung vệ rất đặc biệt.
– Trên thực tế, ở Bayern đang có một thứ được gọi là “NewGen.” Tập thể này sẽ thổi một làn gió mới và gây ảnh hưởng rất lớn cho cả một thế hệ?
Leroy Sane: Đúng vậy, tôi cũng cảm nhận được điều đó. Những chàng trai này đang rất hăng hái và toàn tâm tập trung vào những cái đích cùng câu lạc bộ. Tôi nhìn ra đây là cơ hội rất thực tế để cùng với Bayern chiến thắng Champions League.
Đặt niềm tin lớn vào Bayern Munich
– Mùa bóng này anh đã tự nguyện từ bỏ cơ hội dành danh hiệu với Man City để về Bayern trước khi Champions League thi đấu trở lại…
Leroy Sane: Đúng là vậy và câu lạc bộ cũng muốn tôi có thể chuẩn bị cho nhiệm vụ mới của mình ở Munich. Nếu như tiếp tục thi đấu, tôi sẽ có ít thời gian để chuẩn bị. Tôi muốn có thời gian để tìm cho mình một căn hộ, chuẩn bị một chương mới cho sự nghiệp của mình.
– Anh không được ra sân thi đấu cho Bayern ở giai đoạn còn lại của Champions League mùa này. Anh tin là đồng đội của mình đủ sức chiến thắng trên đấu trường đỉnh cao này chứ?
Leroy Sane: Đội bóng rất mạnh và bền vững, sau đại dịch COVID-19 họ đã trở lại tuyệt vời. Họ có cơ hội rất lớn mùa này giành danh hiệu.
Sane trong buổi tập đầu tiên tại Bayern Munich. (Nguồn: FcBayern)
– Giải thưởng Quả bóng Vàng đã phải hủy bỏ vì COVID-19. Anh có nghĩ Robert Lewandowski có cơ hội trở thành cầu thủ xuất sắc nhất thế giới 2020 nếu giải thưởng không bị hủy?
Leroy Sane: Robert có một mùa bóng thành công, những con số thống kê tuyệt vời. Nếu như Bayern chiến thắng Champions League thì khả năng này là thực tế.
– Anh có xin lời khuyên của Joachim Löw trước khi chuyển về Bayern không?
Leroy Sane: Tôi không nói với ông ấy về chuyện này. Những chuyện quan trọng như vậy tôi phải tự đưa ra quyết định cho mình.
Đội bóng rất mạnh và bền vững, sau đại dịch COVID-19 họ đã trở lại tuyệt vời. Họ có cơ hội rất lớn mùa này giành danh hiệu.
– Ở World Cup 2018, Joachim Löw không mang anh theo đến Nga, nhưng giờ đây anh lại trở thành trụ cột của đội tuyển. Mối quan hệ giữa anh với ông Löw như thế nào?
Leroy Sane: Tôi đã loại bỏ World Cup 2018 ra khỏi đầu và tôi không còn nghĩ đến nó nữa. Mối quan hệ giữa tôi và Jogi Löw ngay từ đầu đã rất tốt và bây giờ cũng không thay đổi. Ông ấy dự kiến đội hình trong tương lai có tôi, điều đó đối với tôi là rất quý. Tôi rất muốn làm việc với ông ấy.
– Khi Euro 2021 khởi tranh, anh sẽ là một phần của bộ khung Bayern gồm cả Neuer, Süle, Kimmich, Goretzka, và Gnabry ở tuyển Đức. Đây là một trong những nguyên nhân anh đã chọn về Bayern?
Leroy Sane: Lúc tôi quyết định về Bayern tôi không nghĩ đến đội tuyển quốc gia. Nhưng tôi biết, một bộ khung Bayern mạnh sẽ giúp rất nhiều cho đội tuyển.
– Với bộ khung là Bayern, đội tuyển Đức sẽ là ứng cử viên cho chức vô địch?
Leroy Sane: Ngoài những cầu thủ trẻ thi đấu ấn tượng, trong đội bóng còn có cả những cầu thủ rất kinh nghiệm, đã từng vô địch thế giới và Champions League. Đó là một sự kết hợp rất hoàn hảo. Chúng tôi có thêm thời gian 1 năm nữa để làm quen với nhau và tôi nghĩ chúng tôi có cơ hội, thậm chí là giành danh hiệu.
Sane liệu có thể trở thành biểu tượng mới của Bayern?
Là một nước nông nghiệp nhiệt đới với đa dạng các loại nông sản, xuất khẩu nông sản nói chung, hoa quả nói riêng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, hiện nông sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, có được chỗ đứng tại một số thị trường “khó tính” như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu…, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước.
Nói đến các thị trường tiêu thụ, Nhật Bản đang trở thành điểm đến đầy hứa hẹn của hoa quả Việt Nam. Sau thanh long, xoài và chuối, vải thiều là loại hoa quả tươi thứ tư của Việt Nam đã thâm nhập thành công vào thị trường Nhật Bản. Ngày 22/6 vừa qua, lô vải thiều tươi đầu tiên nhập khẩu từ Việt Nam đã chính thức lên kệ tại các siêu thị trên khắp Nhật Bản.
Mặc dù có giá bán khá cao, gần 120.000 đồng cho một hộp 9 quả, nhưng đặc sản Việt Nam vẫn được thị trường Nhật Bản đón nhận tích cực. Tham tán Thương mại Việt Nam tại Nhật Bản Tạ Đức Minh bày tỏ lạc quan việc thâm nhập thành công vào một thị trường có tiêu chuẩn cao như Nhật Bản sẽ giúp mở ra “những cánh cửa xuất khẩu” mới cho vải thiều của Việt Nam.
Nhiều người cũng hy vọng sau vải thiều, nhiều hoa quả nhiệt đới khác của Việt Nam sẽ tiếp tục “Đông tiến” thành công vào thị trường khó tính này.
Đóng hộp bảo quản quả vải thiều tươi đưa vào hệ thống diệt khuẩn để bảo quản xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Tại Singapore, thị trường ở Đông Nam Á, với sự hỗ trợ tích cực của Cơ quan Thương vụ Việt Nam, nhiều nông sản Việt Nam đã có chỗ đứng vững chắc. Về sản phẩm cây cảnh và hoa tươi, Việt Nam là một trong 5 đối tác hàng đầu cung cấp cho thị trường Singapore. Về hoa quả, bên cạnh một số mặt hàng truyền thống đã vào thị trường từ nhiều năm như thanh long trắng, dừa xiêm, ba năm trở lại đây, nhiều sản phẩm mới của Việt Nam như hồng xiêm, bưởi Năm roi, chanh leo, thanh long đỏ và gần đây là vải thiều cũng đã chinh phục thị trường này. Dự kiến cuối năm nay, một số mặt hàng khác như trái bơ, đu đủ, nhãn, vú sữa… sẽ sớm vào thị trường Singapore.
Về rau củ, ngoài ớt chuông, ớt chỉ thiên, sau nhiều lần tới thực địa tại Việt Nam, tận mắt thăm các trang trại và dự Hội chợ Hortex, các nhà nhập khẩu Singapore đã dần yên tâm về chất lượng và khả năng cung ứng của Việt Nam và bày tỏ sự quan tâm đối với một số mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như cà chua, rau cải, măng tây, củ năng, ngô ngọt…
Về thực phẩm chế biến, người dân Singapore ngày càng quen thuộc với các sản phẩm bánh tráng, bánh phồng tôm, càphê, các loại hạt điều, nước mắm, trứng muối…
Vải thiều Lục Ngạn được đóng hộp sang trọng xuất đi Nhật Bản.
Bên cạnh đó, tín hiệu đáng mừng là thị trường Singapore bắt đầu chấp nhận các mặt hàng nông sản chế biến có giá trị cao của Việt Nam như sữa hữu cơ, thức uống dinh dưỡng và trà thực phẩm chức năng, bánh kẹo, dầu dừa hữu cơ…
Trong thời gian dịch bệnh COVID-19, một số sản phẩm chế biến khác của Việt Nam mà Singapore chưa từng nhập khẩu như rau quả đóng hộp, thực phẩm đóng hộp, bột mỳ và các sản phẩm bột xay xát, đã xuất hiện… Các sản phẩm xuất thô của Việt Nam như gạo, thủy sản đông lạnh tiếp tục giữ thị phần ổn định tại thị trường.
Tham tán Thương mại Việt Nam tại Singapore Trần Thu Quỳnh nhấn mạnh điều đáng mừng là các sản phẩm Việt Nam tại Singapore không những gia tăng về số lượng, kim ngạch mà cơ cấu mặt hàng cũng có nhiều thay đổi, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, chú trọng vào nhóm các sản phẩm hữu cơ và chế biến sâu.
Hoa quả Việt Nam cũng đã xuất hiện tại châu Đại dương với điểm đến Australia. Theo số liệu từ Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Australia, trong tháng Năm vừa qua, kim ngạch nhập khẩu nói chung của Australia giảm 11% so với tháng trước đó. Tuy nhiên, nhập khẩu rau quả từ Việt Nam đạt hơn 22,6 triệu USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm năm ngoái, bất chấp những khó khăn do đại dịch COVID-19 gây ra cho các doanh nghiệp và hoạt động vận chuyển giữa hai nước.
Australia là quốc gia hàng đầu thế giới về nông nghiệp, với hơn 123.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi gia súc, quản lý và khai thác gần 384,6 triệu hécta đất. Đây cũng là một thị trường có tiêu chuẩn sống cao, nông sản phong phú “cái gì cũng có,” từ táo, nho, đến xoài, sầu riêng, thanh long, nhãn, vải, đu đủ, chuối, dứa…
Trong những năm gần đây, xuất khẩu nông nghiệp của Australia luôn đạt trên 40 tỷ USD và sản phẩm nông nghiệp của nước này ngày càng được ưa chuộng, do không chỉ ngon mà quan trọng là chính sách kiểm soát chất lượng và môi trường tốt của chính phủ làm cho nông sản của Australia có giá trị cao trong mắt người tiêu dùng.
Chính vì thế, theo ông Nguyễn Phú Hòa, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Australia, sự hiện diện của các mặt hàng nông sản Việt Nam tại Australia, trong đó có 4 loại quả tươi gồm vải (từ tháng 5/2015), xoài (từ tháng 9/2016), thanh long (từ tháng 7/2017) và nhãn (từ tháng 9/2019) là một điều rất đáng tự hào và là một thành công lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc chỉ đạo kiểm soát chất lượng và phát triển thị trường.
Quảng bá vải U hồng Việt Nam tại Australia. (Ảnh: Diệu Linh/TTXVN)
Ông Nguyễn Phú Hòa nhận định mặc dù kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam vào Australia chưa thể so sánh với Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc… và mới chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng quy mô thị trường Australia, song danh tiếng và thương hiệu của nông sản Việt Nam đã được khẳng định nhờ những nỗ lực không ngừng của chính phủ, doanh nghiệp và nông dân Việt Nam để có thể “sống chung được với người khổng lồ” này.
Trong khi đó, các nước Liên minh châu Âu (EU) cũng là đối tác đầy tiềm năng. Đây là thị trường rộng lớn, với quy mô dân số trên 500 triệu người. Tham tán Nông nghiệp tại EU và Bỉ, ông Trần Văn Công cho biết về tổng thể, hàng nông-lâm-thủy sản xuất khẩu của Việt Nam hiện chiếm tỷ trọng nhỏ so với nhu cầu nhập khẩu của EU, nên dư địa cho xuất khẩu sang EU còn rất lớn.
Bên cạnh đó, hàng nông-lâm-thủy sản của Việt Nam và EU có tính bổ trợ cho nhau và không cạnh tranh trực tiếp. Nông sản Việt Nam là bộ phận quan trọng trong chuỗi cung ứng giúp cho ngành chế biến thực phẩm EU phát triển phục vụ cho nội khối và xuất khẩu. Việc EU cam kết dành cho Việt Nam trong lĩnh vực nông-lâm-thủy sản sẽ mở rộng cánh cửa để nông sản Việt Nam bứt phá xuất khẩu vào thị trường này.
Dù cách Việt Nam nửa vòng Trái Đất, Mỹ hiện là một trong những đối tác nhập khẩu nhiều loại nông sản Việt, trong đó phải kể tới càphê, hạt điều, hạt tiêu, chè, gạo, nông sản chế biến và quả tươi. Đến nay, phía Mỹ đã chính thức cấp phép nhập khẩu 6 loại hoa quả tươi của Việt Nam gồm vú sữa, xoài, vải, nhãn, thanh long và chôm chôm.
Nông sản Việt, trong đó có hoa quả, đang từng bước chinh phục thị trường thế giới, mở ra cơ hội to lớn cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam trên toàn cầu.
Ngày 22/6/2020, 30 tấn xoài đầu tiên của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
Tận dụng tối đa cơ hội
Nông sản Việt Nam đã được nhận diện tại nhiều nước và khu vực trên thế giới. Vấn đề đặt ra là đảm bảo được chỗ đứng và khẳng định vị thế giữa muôn vàn sự lựa chọn tại các thị trường khó tính. Một trong những chìa khóa là “biết người biết ta,” đặc biệt là nắm được những thế mạnh, những ưu điểm để phát huy triệt để.
Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Singapore Trần Thu Quỳnh, hiện giá trị kim ngạch các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có thế mạnh (như gạo, thủy sản, rau củ quả…) chỉ chiếm chưa đến 5% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore, song doanh nghiệp Việt Nam vẫn có cơ hội rất lớn để thâm nhập thị trường có đòi hỏi cao này và thông qua đó để đi ra thế giới.
Việc Singapore thận trọng trong chính sách thương mại, tránh phụ thuộc vào một thị trường cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu chính đang là thời cơ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, Singapore đang khống chế tỷ lệ xuất khẩu vào một thị trường đơn lẻ không quá 15% tổng giá trị xuất khẩu của nước này. Dự kiến, tỷ lệ này sẽ được xem xét giảm đối với cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu, để tránh các đứt gãy cung cầu trong tương lai ở các thị trường truyền thống của Singapore như Malaysia, Trung Quốc, Mỹ…
Mặc dù Singapore có thể là một thị trường nhỏ, nhưng đây là địa bàn trung chuyển với mạng lưới doanh nhân người Hoa năng động, nếu doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thành công vào địa bàn sẽ có cơ hội để mở rộng thị trường ra thế giới; đặc biệt là cơ hội thâm nhập vào các thị trường ngách cực kỳ tiềm năng như: thị trường cung cấp thức ăn hàng không, thị trường cung cấp thức ăn cho các chuỗi nghỉ dưỡng, khách sạn và tàu biển và đặc biệt là thị trường Halal.
Công đoạn sơ chế thanh long trước khi đóng hàng. (Ảnh: Nam Thái/TTXVN)
Trong khi đó, tại thị trường Australia, nông sản Việt Nam có khá nhiều điểm tương đồng với nông sản bản địa, và đây cũng chính là những lợi thế.
Theo ông Nguyễn Phú Hòa, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Australia, xuất khẩu nông sản Việt Nam sang Australia có những điều kiện thuận lợi nhất định. Thứ nhất, về khí hậu, Việt Nam và Australia nằm ở hai nửa bán cầu khác nhau nên vụ mùa thu hoạch thường trái ngược, góp phần tạo ra sự tương hỗ, bổ sung trong việc tiêu thụ nông sản của hai nước.
Thứ hai, có hơn 300.000 kiều bào Việt Nam sinh sống trên khắp Australia, chưa kể vài chục nghìn du học sinh và cán bộ đang học tập và công tác ở đây, nhiều người đem theo cả gia đình, tạo ra một thị trường đáng kể. Số lượng doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng rau, củ, quả do người Việt Nam làm chủ tại Australia rất đông. Các thương gia Việt kiều tại các thành phố lớn như Sydney và Melbourne luôn sẵn sàng ưu tiên lựa chọn nguồn hàng của Việt Nam.
Thứ ba, tháng 3/2018, Việt Nam và Australia đã nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược, qua đó tạo ra nhiều cơ hội đầu tư-thương mại mới giữa hai nước. Hai quốc gia còn là đối tác thương mại thông qua hai hiệp định thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand (AANZFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), và sắp tới là Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Nhờ các hiệp định này, phần lớn hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Australia được hưởng mức thuế suất ưu đãi 0% và nhiều điều kiện thuận lợi khác.
Quả nhãn là loại trái cây thứ 4 của Việt Nam được Australia cấp phép nhập khẩu, sau quả vải, xoài và thanh long. (Ảnh: TTXVN)
Với Liên minh châu Âu (EU), việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) đã mở ra nhiều cơ hội cho nông sản Việt tại thị trường tiềm năng này. Tham tán Nông nghiệp tại EU và Bỉ Trần Văn Công đánh giá khi hiệp định này có hiệu lực từ 1/8 tới, nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang EU sẽ được hưởng lợi về thuế. Đáng chú ý là nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam được hưởng thuế suất về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực như cà phê, mật ong tự nhiên, sản phẩm rau củ quả tươi và chế biến, nước hoa quả, hoa tươi…
EU cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu hầu hết các mặt hàng, gần 100% kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thủy-sản của Việt Nam. Gần như toàn bộ các sản phẩm thủy sản, rau quả tươi, rau củ quả chế biến, càphê, hạt tiêu, hạt điều, mật ong, gạo tấm, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng song mây cói thảm… về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định có hiệu lực. Đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay.
Thêm vào đó, EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm, tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng định thương hiệu của mình tại thị trường EU.
Với thị trường Mỹ, Tham tán Thương mại Việt Nam Bùi Huy Sơn đánh giá hai nước có nhiều triển vọng hợp tác trong thương mại nông sản trên cơ sở khai thác lợi thế cạnh tranh mang tính bổ trợ lẫn nhau của mỗi bên. Các nông sản như bông, đỗ tương của Mỹ hỗ trợ tích cực cho ngành dệt, may và chăn nuôi của Việt Nam. Các loại quả ôn đới đặc trưng như chery, nho, táo Mỹ sẽ mang đến cho người tiêu dùng Việt Nam nhiều lựa chọn phong phú. Ngược lại, Việt Nam có thể cung cấp các sản vật như càphê, hạt tiêu, chè, gạo, hạt điều, hoa quả tươi nhiệt đới cho thị trường Mỹ.
Có thể thấy nông sản Việt, đặc biệt là hoa quả vẫn còn nhiều tiềm năng và dư địa tại thị trường các nước. Vấn đề là các doanh nghiệp cần biết tận dụng lợi thế để biến thành cơ hội phát triển.
Người dân huyện Mai Sơn, Sơn La phân loại, lựa chọn xoài đóng gói phục vụ xuất khẩu. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
Nhận diện thách thức
Bên cạnh lợi thế, những khó khăn, thách thức mà doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam phải đối mặt khi “vươn ra biển lớn” cũng không hề nhỏ.
Thứ nhất, các thị trường nhập khẩu nông sản của Việt Nam đều có yêu cầu cao, khó tính về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm các quy tắc về quy trình sản xuất cũng như xuất xứ.
Theo Tham tán Nông nghiệp tại EU và Bỉ Trần Văn Công, EU là một thị trường có yêu cầu về chất lượng sản phẩm cao nhất thế giới. Các yêu cầu về kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), dán nhãn, môi trường…của EU rất khắt khe và các nhà sản xuất, doanh nghiệp Việt Nam không dễ đáp ứng. Đối với nhóm sản phẩm rau củ quả, sản phẩm xuất khẩu sang EU phải đáp ứng các tiêu chuẩn về an thực phẩm cao, đạt các tiêu chuẩn chứng nhận đang áp dụng rộng rãi tại EU như Global Gap … EU có xu hướng yêu cầu đạt nhiều loại tiêu chuẩn như hữu cơ, fair-trade, 4C, Rainforest Allinace, BRC…
Ngoài ra, EU liên tục mở rộng danh mục cấm sử dụng nhiều loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thậm chí có những loại thuốc bảo vệ thực vật chỉ sử dụng cho cây trồng nhiệt đới và không sử dụng đối với cây trồng ôn đới tại EU, nhưng vẫn bị cấm sử dụng. Các quy định này tạo ra nhiều rào cản kỹ thuật mới, cản trở tiếp cận thị trường do thay đổi các loại thuốc bảo vệ thực vật, làm tăng chi phí sản xuất, xuất khẩu…
Ví dụ như gần đây, Ủy ban châu Âu (EC) đã ban hành quyết định tăng cường kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với hàng thực phẩm nhập vào EU từ nước thứ ba, trong đó EU yêu cầu Việt Nam kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với 100% thanh long xuất khẩu sang EU (thay vì chỉ 10% như trước đây) và quy định mỗi lô thanh long xuất khẩu phải có giấy chứng nhận an toàn thực phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
Vì vậy, để đáp ứng các quy tắc xuất xứ của Hiệp định Tự do thương mại Việt Nam-EU (EVFTA), các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải thay đổi cách làm việc, không thể tiếp tục thu mua nguyên liệu nông sản mà không quan tâm đến khả năng truy được nguồn gốc.
Các doanh nghiệp phải hiểu và áp dụng linh hoạt, trung thực quy tắc xuất xứ, kiểm soát ngay tại đồng ruộng, tăng cường liên kết chuỗi, kiểm soát tốt an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt là chú trọng quy định, tiêu chuẩn về lao động và môi trường…
Xoài da xanh của Hợp tác xã nông nghiệp an toàn Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. (Ảnh: Nguyễn Cường/TTXVN)
Tương tự, các yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm của Mỹ rất nghiêm ngặt, trong khi thủ tục đăng ký doanh nghiệp xuất khẩu không hề đơn giản, nếu không muốn nói là rất phức tạp. Australia cũng là một trong những thị trường “khó tính” nhất thế giới đối với hàng hóa nông sản nhập khẩu với nhiều quy định về bảo đảm an toàn sinh học, kiểm dịch ngặt nghèo và các tiêu chuẩn khắt khe.
Khó khăn thứ hai là phải cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ xuất khẩu khác có cùng cơ cấu hàng hóa trên cả yếu tố giá cả và thương hiệu. Singapore là một ví dụ điển hình. Dù là một đảo quốc nhỏ với dân số chưa đến 6 triệu người, Singapore lại là nước có đối tác nhập khẩu đa dạng bậc nhất thế giới với 220 đối tác, riêng trong lĩnh vực thực phẩm, rau củ quả, Singapore có quan hệ nhập khẩu với 170 nước. Sự đa dạng đối tác này là để đảm bảo an ninh lương thực và đảm bảo nguồn cung trước mọi nguy cơ đứt gãy.
Các đối tác xuất khẩu hoa quả, nông sản chính của Singapore hiện nay là Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ và Australia. Có thể nói, năng lực cạnh tranh để đối phó với mạng lưới đối tác cung cấp đa dạng như vậy chính là khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam.
Tại Mỹ, thị trường có nhu cầu nhập khẩu lớn, nông sản Việt Nam cũng phải cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ từ Đông Nam Á, Nam Á hay Nam Mỹ vốn đã thâm nhập thị trường này từ nhiều năm trước. Sức ép cạnh tranh buộc sản phẩm phải có chất lượng tốt hơn, cảm quan đẹp hơn, hương vị đặc trưng, bao gói phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng nhanh, tiện lợi.
Thách thức thứ ba là sự thiếu linh hoạt của chính các doanh nghiệp Việt Nam. Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Singapore Trần Thu Quỳnh, tháng 3 vừa qua, khi tâm lý tiêu dùng của Singapore bị khủng hoảng, người dân nước này mua sắm vơ vét làm cạn kiệt hàng tại các siêu thị, Chính phủ Singapore đã phải áp đặt hạn mức mua hàng và phải tham gia vào việc đấu thầu mua sắm để đảm bảo cung cấp các sản phẩm thực phẩm thiết yếu cho người dân như gạo, mì gói, rau, củ, trái cây, càphê… Mặc dù Thương vụ rất nỗ lực kết nối, giới thiệu các đơn hàng, tuy nhiên, số lượng đơn hàng trúng thầu chưa được cao vì phía Singapore phản ánh hoặc là mức giá các doanh nghiệp Việt Nam chào quá cao, hoặc là khả năng cung cấp không đủ.
Quả nhãn là loại trái cây thứ 4 của Việt Nam được Australia cấp phép nhập khẩu, sau quả vải, xoài và thanh long. (Ảnh: TTXVN)
Bên cạnh đó, sự thiếu linh hoạt của doanh nghiệp Việt Nam cũng thể hiện ở việc thiếu tầm nhìn chiến lược. Khi thế giới đứt gãy nguồn cung, các nhà sản xuất và xuất khẩu của Thái Lan, Trung Quốc đã chuẩn bị ngay chiến lược phát triển thị trường bằng việc giảm giá mạnh mẽ các sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn và đẩy mạnh các hình thức marketing (tặng sản phẩm khi mua gạo Thái, đăng nguyên trang báo Straits Times để quảng cáo gạo Thái…). Trong khi đó, sự thiếu linh hoạt, khó khăn trong việc đảm bảo nguồn cung, đảm bảo chất lượng và khả năng cạnh tranh về giá thấp đang là nguy cơ khiến các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể thâm nhập thị trường Singapore một cách bền vững.
Ngoài ra, còn một số yếu tố khách quan khác tác động hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Ví dụ, việc xuất khẩu hàng hóa vào Australia nói chung, nông sản nói riêng thời gian gần đây gặp nhiều thách thức do tỷ giá đồng nội tệ duy trì ở mức thấp làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt hơn. Nền kinh tế tăng trưởng chậm cũng ảnh hưởng đến nhập khẩu và tiêu dùng của người dân.
Cũng phải kể đến khoảng cách địa lý quá xa đòi hỏi đầu tư nhiều cho khâu bảo quản, trong khi chi phí vận chuyển tăng, đặc biệt với nhóm hàng có thời vụ ngắn và cần tiêu thụ tươi như các loại quả.
Theo Tham tán công sứ, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Mỹ Bùi Huy Sơn, đây là nguyên nhân khiến cho đến nay mới chỉ có 6 loại quả tươi được phép chính thức nhập khẩu vào Mỹ, trong khi Việt Nam có nhiều loại quả có thể đáp ứng nhu cầu thị trường này như bưởi, chanh leo hay quả bơ. Ngoài ra, nhu cầu tiêu dùng của thị trường suy giảm do dịch bệnh COVID-19 sẽ tác động nặng nề tới các nước mới xâm nhập thị trường, chưa củng cố được thương hiệu cũng như xây dựng được mạng lưới phân phối.
Vấn đề mẫu mã sản phẩm cũng là một yếu tố cần tính tới. Theo ông Trần Bá Phúc, Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Australia, người có rất nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động nhập khẩu, quảng bá, phân phối và tiêu thụ các loại hoa quả tươi từ Việt Nam ở thành phố Melbourne, người tiêu dùng bản địa có rất nhiều lựa chọn, họ không chỉ quan tâm đến chất lượng bên trong mà còn coi trọng cả hình thức bên ngoài của sản phẩm.
Để hoa quả Việt Nam đến được với nhiều người tiêu dùng Australia hơn, các doanh nghiệp xuất khẩu cần quan tâm hơn nữa đến việc cải tiến mẫu mã, bao bì sản phẩm và áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo quản tiên tiến để làm sao giữ cho hoa qua vẫn có vẻ ngoài đẹp, tươi ngon trong thời gian bày bán tại siêu thị.
Những thách thức đặt ra cho thấy nếu muốn thâm nhập một cách bền vững vào các thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam cần nhận diện rõ những yêu cầu đặc trưng của từng địa bàn, từ đó có chính sách phù hợp để chinh phục các thị trường tiềm năng.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường và các đại biểu thăm vùng vải xuất khẩu tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. (Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN)
Cầu nối hiệu quả cho doanh nghiệp
Ý thức được những khó khăn của doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trong nước khi thâm nhập thị trường nước ngoài, các cơ quan thương vụ Việt Nam đã nỗ lực không ngừng, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thị trường và khẳng định chỗ đứng nơi “đất khách.” Các hình thức hỗ trợ cũng hết sức đa dạng, phong phú, qua đó thể hiện vai trò cầu nối của thương vụ Việt Nam tại các nước với doanh nghiệp trong nước.
Một trong những hoạt động luôn được các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài chú trọng là đẩy mạnh phối hợp với cơ quan chức năng trong nước tuyên truyền, phổ biến cho doanh nghiệp hiểu rõ các quy định liên quan của mỗi nước.
Theo Tham tán Nông nghiệp tại EU và Bỉ Trần Văn Công, cơ quan thương vụ coi nhiệm vụ quan trọng cần ưu tiên là cập nhật các quy định mới, những tiêu chuẩn mới về hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp và các quy định liên quan khác của EU có ảnh hưởng đến sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam để khuyến cáo doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong nước, qua đó giúp họ chủ động về sản xuất, xuất khẩu và tránh các rủi ro khi xuất khẩu sang EU.
Thương vụ cũng tăng cường tìm kiếm các đối tác nhập khẩu tại EU, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp các thông tin về thị trường và nhà nhập khẩu. Cùng với đó, thương vụ phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và phổ biến tới doanh nghiệp những nghiên cứu thị trường chuyên đề về các sản phẩm thế mạnh xuất khẩu sang EU, cập nhật thông tin và những thay đổi diễn biến thương mại, giúp doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tín hiệu của thị trường.
Các đại biểu cắt băng xuất khẩu lô vải đầu tiên đi Australia, Singapore, Mỹ năm 2020. (Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN)
Thứ hai là tăng cường hỗ trợ tổ chức các sự kiện, giúp các hiệp hội, ngành hàng, doanh nghiệp truyền thông, quảng bá hình ảnh thương hiệu sản phẩm, chỉ dẫn địa lý Việt Nam, gắn kết, triển khai các sự kiện văn hóa ẩm thực, quảng bá nông sản, sự kiện ngày/tuần lễ nông sản Việt, tham gia các hội chợ, triển lãm, sự kiện xúc tiến thương mại chuyên ngành lớn về nông sản thực phẩm, tạo kênh trao đổi thông tin thường xuyên, thân thiết và quan hệ vận động với các hiệp hội.
Thương vụ Việt Nam tại các nước châu Âu như Bỉ hay Pháp luôn chú trọng tới những hội chợ uy tín tại thị trường châu Âu để giúp các doanh nghiệp kết nối giao thương, đạt kết quả ngay tại sự kiện, như các hội chợ triển lãm quốc tế chuyên ngành nông thủy sản, rau quả, thực phẩm chế biến…
Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Pháp đã tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, hiệp hội, địa phương trong công tác thông tin và xúc tiến thương mại-đầu tư, cũng như góp phần giải quyết tranh chấp thương mại tại địa bàn. Bên cạnh đó, Thương vụ còn chủ động kết nối với các cơ quan trong nước để tổ chức các hoạt động quảng bá hàng Việt Nam theo kênh chợ đầu mối, tổ chức đưa hàng vào hệ thống phân phối của nước sở tại, kết nối các nhà nhập khẩu, bán buôn Pháp với các doanh nghiệp, nhà sản xuất Việt Nam.
Thương vụ Việt Nam tại Singapore đã xây dựng kế hoạch phối hợp tổ chức một số hình thức xúc tiến thương mại tại địa bàn như: Tuần lễ hàng Việt Nam tại chuỗi siêu thị Fairprice; Tuần lễ Ẩm thực Việt Nam tại Khách sạn Mandarin, Tuần lễ Cà phê Việt Nam với Hiệp hội Cà phê Singapore… Kế hoạch này dự kiến thực hiện trong nửa cuối năm nay nếu tình hình COVID-19 tại Singapore được kiểm soát.
Trong bối cảnh nền kinh tế Singapore và thế giới nói chung suy thoái do COVID-19, Thương vụ Việt Nam tại Singapore cũng triển khai hình thức hội chợ online song ngữ Anh-Việt, giúp quảng bá các mặt hàng của doanh nghiệp Việt Nam với đầy đủ hình ảnh sản phẩm, trang trại, cơ sở chế biến để các doanh nghiệp Singapore chủ động tìm được nhà cung cấp theo nhóm ngành hàng trong mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam và ngược lại.
Song song với công tác quảng bá, Thương vụ cũng triển khai kênh hỗ trợ các doanh nghiệp gửi hàng mẫu sang Singapore để trưng bày; hỗ trợ vận chuyển hàng mẫu của Việt Nam tới các doanh nghiệp Singapore để dùng thử, đánh giá sản phẩm.
Sơ chế thanh long để xuất khẩu. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Bên cạnh đó, Thương vụ tại Singapore cũng đẩy mạnh hình thức B2B trực tuyến qua ứng dụng Zoom và hội nghị kết nối doanh nghiệp của các địa phương qua Webinar (Microsoft Team). Qua thí điểm triển khai giao thương trực tuyến, cuối tháng 5 vừa qua, những lô hàng vải thiều đầu tiên của tỉnh Bắc Giang đã được xuất sang Singapore, đánh dấu sự mở cửa cho một mặt hàng trái cây mới của Việt Nam thâm nhập thị trường này. Trong tháng 7, Thương vụ sẽ tiếp tục hỗ trợ 3 tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận và Bình Thuận tổ chức các hoạt động kết nối trực tuyến tương tự.
Triển khai đồng bộ hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá về nông sản Việt Nam nói chung và từng nhóm sản phẩm bằng nhiều hình thức đa dạng cũng được Thương vụ Việt Nam tại Mỹ triển khai mạnh mẽ nhiều năm nay.
Theo Tham tán công sứ, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Mỹ Bùi Huy Sơn, cơ quan đã phối hợp, hỗ trợ các bộ, ngành liên quan của Việt Nam trong trao đổi, làm việc với các cơ quan chức năng của Chính phủ Mỹ về các chính sách tạo thuận lợi cho nông sản xuất khẩu của Việt Nam; phối hợp, hỗ trợ các đơn vị, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm, các hoạt động xúc tiến thương mại trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm nhằm tìm kiếm đối tác, kết nối giao thương. Thương vụ cũng hỗ trợ cung cấp thông tin, giúp doanh nghiệp trong nước xác minh đối tác, tìm kiếm thị trường.
Thương vụ Việt Nam tại Australia vừa cho ra mắt ứng dụng Viet-Aus Trade, thể hiện bằng hai ngôn ngữ Anh-Việt, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, kết nối địa phương, giới thiệu tiềm năng, sản phẩm, doanh nghiệp, dự án đầu tư, góp phần kết nối chuỗi cung ứng Việt Nam-Australia. Các loại nông, lâm, thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Australia được quảng bá miễn phí trên ứng dụng này.
Quảng bá vải U hồng Việt Nam tại Australia. (Ảnh: Diệu Linh/TTXVN)
Về chiến lược lâu dài, để đảm bảo xuất khẩu bền vững nông thủy sản sang Australia, từ năm 2019, Thương vụ Việt Nam tại Australia xác định hai trụ cột trong quảng bá sản phẩm.
Thứ nhất là sử dụng thống nhất slogan “Viet Nam, nourished by nature!” (Việt Nam, quốc gia được thiên nhiên nuôi dưỡng!) để truyền tải thông điệp về một vùng đất phì nhiêu cho ra những sản vật tươi tốt.
Thứ hai là, với sự hiện diện tại các quốc gia hàng đầu trên thế giới, như Australia, Mỹ, Nhật Bản…, nông sản Việt Nam đã được bảo chứng về chất lượng.
Dự kiến trong tháng 8/2020, Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh sẽ chính thức khai trương tại thành phố Melbourne, bang Victoria. Trung tâm là sáng kiến hợp tác giữa Hội Doanh nhân Việt Nam tại Australia và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động phi lợi nhuận với mục đích làm cầu nối giữa các nhà nhập khẩu và phân phối ở Australia với các nhà sản xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi vào hoạt động, trung tâm sẽ là một địa chỉ tin cậy để phổ biến các quy định, quảng bá sản phẩm, kết nối doanh nghiệp, giúp thúc đẩy xuất khẩu bền vững nhiều loại hàng hóa có thế mạnh của các địa phương Việt Nam sang Australia, như nông lâm sản, thủ công mỹ nghệ, đồ nội thất…
Trong hành trình “vươn ra biển lớn” của nông sản Việt Nam, cơ quan thương vụ tại các nước đã trở thành “bạn đồng hành” của các doanh nghiệp, qua đó góp phần đáng kể khẳng định vị thế của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thế giới./.
Dây chuyền chế biến, sơ chế hoa quả xuất khẩu của Công ty Cổ phần Nafoods miền Nam. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Athletes put every effort into improving their stamina and physical skills on a daily basis, in the hope of bringing glory to the country and themselves.Sport is not simply about keeping fit. It is a profession for many that requires them to constantly exceed their limits and explore new physical and mental boundaries.Five Vietnamese athletes have already secured berths at the Tokyo Olympics, where the best athletes in the world are to come together to compete.They are swimmer Nguyen Huy Hoang, gymnast Le Thanh Tung, archers Do Thi Anh Nguyet and Nguyen Hoang Phi Vu, and boxer Nguyen Van Duong.
The globe’s largest sporting event has now been postponed to 2021, putting the athletes in competitive limbo for a year, but their training continues.
They are often spoken of as the hope of the nation. They train every day while believing that the pandemic will eventually be repelled and that the Olympics will proceed on their new schedule.All are working to turn the short-term disappointment into determination, opportunity, and energy.Their pride and passion have never ceased, even during these competition-free times. Training and strategy sessions are already part and parcel of their daily lives.We wish to encourage their indomitable spirit, perseverance, and hard work despite the obstacles and challenges, hoping they reach their goals.Through the stories from these Olympic challengers, we also hope to motivate those who are struggling or coping with failure but refuse to give up their ambition./.
Young talent swimming towards Olympic dreams
The first Vietnamese athlete to clinch a spot in the country’s 2020 Tokyo Olympics team, swimmer Nguyen Huy Hoang then suffered the disappointment of seeing the world’s largest sporting event delayed by a year due to the coronavirus outbreak.
The first Vietnamese athlete to clinch a spot in the country’s 2020 Tokyo Olympics team, swimmer Nguyen Huy Hoang then suffered the disappointment of seeing the world’s largest sporting event delayed by a year due to the coronavirus outbreak.“This is the first Olympics of my career!” the athlete, born in 2000, said in a rare talk to the press. “After smashing the 2019 SEA Games record in the Philippines, I increased my training to 20km a day with the ultimate goal of earning a ticket to the 2020 Tokyo Olympics. So you can imagine how much I was disappointed at the announcement that the Games were postponed until 2021.”However, the ambitious athlete showed understanding to the decision, calling it “right” and “for the people’s health”.
“The Olympics are a great event, but they are only delayed – not cancelled. I’m still young, so opportunities are still ahead. It might even be good for me, as I will have another year to train and improve.”
Keep dreaming, keep training“I first wanted to compete at the Games when my older teammate Nguyen Thi Anh Vien swam at the 2016 Rio Olympics,” Hoang went on. “So I was very happy to hear that I had reached the A standard for the 2020 Tokyo Olympics. This is what athletes around the world hope for.”To make a splash at the Olympics and the 31st SEA Games, he has been following a strict daily training schedule from 7am to 10am and 1pm to 4.30pm.Though the two events are scheduled to take place in the same year, Hoang said he wasn’t overly concerned because the more he tries, the stronger he will become.“For me, the busy schedule is not an obstacle. Quite the opposite – it will actually help me train better and go the extra mile.”He doesn’t believe in fate, and never believes he was born to shine like his name – Huy Hoang (Glory).“I think success comes from perseverance and hard work,” he said.
“I personally have no secret other than training every single day.
Hoang says he has no secret other than training every single day (Photo: Vietnam News Agency)
“I know I don’t have any physical advantage, so I always tell myself to redouble my efforts and overcome any weaknesses.”
Hoang said he believes that if he had done his best but the outcome was not what’s expected then he should not lose heart.Failure is not the opposite of success. It’s just part of success, he supposed.“Keep training, and the hard work will pay off.”Loneliness vs Glory
“Swimming is very lonely,” Hoang explained. “Unlike sports on land, there is only you in the water, swimming up and down the lane.”Even on land, he is able to visit home only once a year, as a large portion of his time is spent on training.
“I’ve chosen this path, however, so I spare no efforts in reaching further and higher.”
However, the athlete said swimming was actually not his childhood dream. “I never really thought I would become a swimmer. Everything that has happened so far is beyond my expectations.”
He has been living far from home since he was in Grade 6, training as an elite athlete.
“At that time, I just thought swimming was good for my health. I was too young to envisage any future career.”
Along his journey to becoming a professional swimmer, Hoang has encountered tremendous difficulties.
“Learning to swim at this level is difficult, but improving is even more challenging,” he said, adding that a swimming career requires a lot of patience and persistence, and any glory today is a result of constant effort yesterday.
“In my mind, I always think that I have to work harder and harder to achieve more.”
Huy Hoang (M) won the gold medal at the 1,500m event at SEA Games 30. (Photo: Vietnam News Agency)
Facing fear
Recalling his most unforgettable memory, when he first swam in a regional tournament at the age of 12, Hoang said he was quite shocked and a little dazed because most of his rivals were much bigger than he was.“At that time, though, I was too young to dwell on it,” he recalled. “I just thought about how they could swim so incredibly fast. And when the time came, I just dived into the pool and swam.”Hoang conceded that as he grew older, he felt some fear at the Southeast Asia Age Group Swimming Championships in 2015 and the Southeast Asian Games in 2017.
“I really was nervous at major events like these, because I had to swim against strong opponents. But when I began competing, I somehow managed to turn my fear into a strength.”
He revealed that he could learn so much from the other swimmers, especially to fight no matter the circumstances are.“I’ve become fearless,” Hoang said. “Whether I succeed or fail, I learn a lot from my rivals. They are the most influential people in my career.”From humble to incredible
“I know I don’t have any physical advantage, so I always tell myself to redouble my efforts and overcome any weaknesses.”
Born into a fishing family near the Gianh River in the central province of Quang Binh, Hoang started learning to swim when he was only 3 years old.His father remembered he would play all day in the water “like a duck” and swimming from one side of the river to the other became part of his daily life. Meanwhile, villagers often called him “otter”, because he was so good at swimming and very dark skinned.Hoang has conquered a lot of challenges at regional and international events for someone so young.At last year’s FINA World Championship in Gwangju in the Republic of Korea, he finished the men’s 800 metre freestyle with a time of 7.52.74.The time met the Olympic Standard A of 7.54.31, but was still short of his personal best of 7.50.20 at the 2018 Summer Youth Olympics in Argentina when he won gold.Hoang also bagged gold in the men’s 1,500 metres freestyle at the 2017 SEA Games in Kuala Lumpur.He later made history in Vietnamese swimming at the 2018 Asian Games, winning one silver and one bronze.The silver was considered “as valuable as gold” as his older Chinese rival was one of the top swimmers in the world – a three-time Olympic winner and nine-time world champion.
Hoang (M) brings home gold at the 2018 Summer Youth Olympics. (Photo: Vietnam News Agency)
The sky’s the limit
Despite his incredible achievements at such a young age, the swimmer never stops trying to reach further and higher.He doesn’t put a limit on anything, and the more he works the more he gains.
“To go further, I think we should never be too hard on ourselves. Take it easy and focus on the effort.”
All he can do is work hard every day to hone his skills and psychological power – the two decisive factors in winning not only at the Olympic Games.“Before my races I always encourage myself to stay calm, optimistic, and do my best,” Hoang said. “But I don’t think I have to win all the time. Winning or losing doesn’t matter as much as giving your best.”“In sport, sometimes you win and sometimes you lose. But the game goes on,” the athlete concluded with a broad smile on his face./.
Twists and turns in the life of a would-be Olympic gymnast: “Practice makes perfect”
The second Vietnamese athlete to earn a berth at the 2020 Tokyo Olympic Games, 25-year-old Le Thanh Tung considers the postponement of the world’s largest sporting event an opportunity rather than a let-down. “Even if tournaments are not taking place, I still practice every day,” he said in a hard-won telephone interview after his daily training routine in Hanoi.
Postponing the Games due to the ravages of the COVID-19 pandemic is quite a dramatic twist for elite gymnasts like him, whose careers are believed to be much more rigorous and briefer compared to athletes in other sports.
“I need to further fine-tune my moves and also get proper rest,” he said. “This helps me improve my performance and avoid major injuries so that I’m always ready for upcoming competitions.”
Eyes on the prize
As Vietnam’s top male gymnasts, Tung and his teammates frequently take part in international competitions.
“I need to further fine-tune my moves and also get proper rest,” he said. “This helps me improve my performance and avoid major injuries so that I’m always ready for upcoming competitions.”
Tung revealed he now has one more coach, who is from the Republic of Korea, and added that training sessions have become more important for him.
Tung wins bronze at the 2019 Asian Gymnastics Championships (Photo: Le Thanh Tung’s Facebook)
He secured a berth at the 49th International Gymnastics Federation (FIG)’s Artistic Gymnastics World Championship in Germany last October. According to FIG’s regulations, athletes need to be in the top three in each category in order to qualify for the Olympic Games.
Tung ranked fifth in the men’s vault final but booked his place because some of his betters in the final had already secured passage to the Tokyo Olympics in team events.“I missed my chance in 2016 but am now able to realise my dream of an Olympics berth four years later,” the Ho Chi Minh City-born gymnast said. “This is one of the best moments of my career.”
Bitter leads to sweet
Many professional athletes spend a lot of time away from their families from early on in their childhood, and Tung is no exception.
Beginning his gymnastics career at the age of five, he went to train in China three years later and spent eight years in Vietnam’s northern neighbour.
“I’ve shed sweat and tears during training,” he remembers. “I was so young but had to do everything away from my family.”
“Those years were quite distressing. It takes a long time for gymnasts to achieve their goals, even though they start at a very young age.”
Calling it a day has crossed his mind, but such thoughts are always short-lived. He simply turns to his confidants for mental support and continues training.
People may endure a lengthy period of hardship for only a brief moment of fulfilment and delight but this feeling can be so rewarding and powerful that it transcends heartache.
Tung (centre) bags a gold medal at the 2017 Asian Artistic Gymnastics Championships in Thailand – the first Vietnamese gymnast to bag a gold medal at the event (Photo: VNA)
2017 was an unforgettable year for Tung, as he won gold at the 10th FIG Artistic Gymnastics World Cup in Doha, Qatar at the beginning of the year.
In May, he triumphed at the Asian Artistic Gymnastics Championships in Thailand – the first Vietnamese gymnast to bag a gold medal at the event.
At the 29th Southeast Asian Games (SEA Games) in Malaysia three months later, he secured three gold medals in the men’s vault, horizontal bar, and team event.
The title of outstanding male athlete in Vietnam during 2017 was the icing on the cake, he said.
“Practice makes perfect”
This proverb has been Tung’s motto for more than 10 years.
“Even if you have talent but if you don’t train, you will easily be overtaken by those who work hard,” he explained.
He has struggled in various competitions but this merely strengthened his mental fortitude and helped him learn how to deal with pressure.
“A gymnast’s performance lasts only a short period of time, with everything decided in just a few seconds of twisting and turning in the air.“My most formidable opponent is myself. I have to maintain concentration to perform well.”
Working everyday to raise the difficulty level of his skills, Tung targets qualifying for the men’s vault final in Tokyo.
Tung runs down a runway to perform his vault (Photo: news.zing.vn)
The 31st SEA Games may also be held in Hanoi next year – just three months after the Tokyo games.
“I will focus on what comes first,” he said when asked about the two dates being so close together. “Doing things step-by-step is more my style.” “My coaches and I will figure out the right approach when the time comes.”
“In gymnastics, we can never hope to be injury-free,” Tung said. “The best we can hope for is that the injuries we inevitably pick up are only minor.”
A sport that can change a life
Living with injury is part and parcel of life as a gymnast, and many compete while injured.
“In gymnastics, we can never hope to be injury-free,” Tung said. “The best we can hope for is that the injuries we inevitably pick up are only minor.”
He believes in doing your best and keeping in mind that if you lose at one tournament then there’s always a next time. But as many in the sport know well, a serious injury can end a career in an instant.
“Gymnastics is a dangerous sport, so gymnasts must closely follow the rules and guidelines,” he said.
“I was mischievous as a child and had a hard time getting along with others. Gymnastics, with its firm discipline, helped me become the best version of myself.”
“I believe that a gymnast must have courage, confidence, and composure.”
Tung (L) and his coach Truong Minh Sang pose for a photo when he wins gold at the 10th FIG Artistic Gymnastics World Cup in Doha, Qatar at the beginning of 2017 (Photo: vietnamnet.vn)
Gymnastics has also allowed Tung to meet many wonderful people, in particular the “teacher of his life”, referring to his coach Truong Minh Sang, who not only guides him in sport but also teaches him good manners and millions of other little things.
Tung also has a great deal of respect for two renowned Vietnamese gymnasts – Pham Phuoc Hung and Phan Thi Ha Thanh. Both triumphed in international arenas after a long time struggling with injuries, becoming symbols of purpose and perseverance during times of great hardship.“I have learned to be independent and mature thanks to my time in gymnastics,” he said. “It has changed my whole life.”./.
Young “Robinhoods” shooting for the stars at Tokyo Olympics
Hanoi (VNA) – Securing a berth at the Tokyo 2020 Olympic Games has been a turning point in the sporting careers of Do Thi Anh Nguyet and Nguyen Hoang Phi Vu – the first Vietnamese archers to qualify for the world’s largest sporting event.Both found success at the Asian Archery Championships in Thailand last November and booked their spot at the Games, which has unfortunately been postponed until summer 2021 due to the coronavirus outbreak.
From an unexpected turn …
Photo courtesy of Do Thi Anh Nguyet
Becoming an archer was not the first choice of either Nguyet or Vu, as they started their sporting careers as a basketball player (Nguyet) and a pistol shooter (Vu).Their coaches, however, came to recognise that they will not have a promising future in their initial choices but may somehow be more suited to archery, and then advised them to switch their sporting endeavour.Nguyet, born in 2001, at first declined but eventually agreed to try archery after encouragement from her new coaches.“It was really difficult at first because archery is, needless to say, totally different from basketball,” she said. “I had to adjust from a ‘busy’ sport to a ‘quiet’ one.”She gradually discovered the angles involved in archery and became more interested in the sport of bow and arrows.
Meanwhile, the 1999-born Vu has some advantage as his grandfather was a target shooting coach in Hanoi’s neighbouring province of Hai Duong province.
Recognising Vu’s ability, his parents agreed to let him join the provincial shooting centre at the age of 13.
After several months of training, however, Vu’s coaches realised it would be difficult for him to thrive in the sport because of his short-sightedness in one eye and astigmatism in the other.
He was then introduced to the local archery team in 2012 and won a place in the national junior team in 2015.
… to initial sweet success
Photo courtesy of Nguyen Hoang Phi Vu
Both Nguyet and Vu progressed well in their new sport and were sent to the Republic of Korea – the dominant force in Olympic archery – to undergo intensive training.
The training well and truly paid off as the pair finished among the top three in their respective men’s and women’s recurve events at the 2019 Asian Archery Championships, securing their tickets to the 2020 Tokyo Olympics.
“It was a surprise for me to win a berth at the Olympics at my first international competition,” Nguyet said. This achievement, she went on, has pushed her to reach further and higher in the sport.
Similarly, Vu said this was a turning point in his career.
“The result was partly thanks to my efforts and partly from luck,” he explained, recounting that he had to compete in windy conditions and twice trailed his opponents. “But, fortunately, I clawed my way back and won, which made me so happy.”
Robinhood-hood aheadBoth Nguyet and Vu believe these achievements are just the start of a long career in archery, where they’ll have to face more obstacles and harder targets.Both recognise they are young and lack experience, especially when it comes to international tournaments.The Asian Archery Championships were their most unforgettable overseas tournament where they were expected to merely learn from the region’s best archers.What the pair did, however, was better than anyone could have imagined, even themselves.Nguyet said she never thought she would have such an early success after just two years of training.“This is major encouragement for me as I am more confident about international competitions, including the Tokyo Olympic Games.”For Vu, archery has now become a passion and his eye problems are no cause for concern.“I know it’s a disadvantage for me, especially when I have to compete in windy or rainy conditions,” he said. “But I will try to stay calm and patient, which are decisive in archery.”Both know they still have a long road ahead but what they have achieved so far will motivate them to work harder and aim higher.Prior to each competition, both said, they work hard to not put pressure on themselves and have found that calmness and concentration are key to success in this “quiet” sport.“Train a lot and stay calm and focused, and you can go as far as you want,” they both believe./.
From small teen to “natural born killer”: A Vietnamese boxer’s journey to Tokyo Olympics
Boxer Nguyen Van Duong is proud to be heading to Tokyo next year after defeating the renowned Chatchai-decha Butdee from Thailand in the Olympics qualifiers in Jordan in March, quenching Vietnam’s 32-year thirst for its next boxer to attend the world’s largest sporting event.The country has longed for something like this to happen since boxers Dang Hieu Hien and Do Tien Tuan both competed at the Seoul Games in 1988 as wild cards.
Sweet revenge
Unseeded Duong started his fight against third-seeded Butdee like a hurricane, showering his opponent with a slew of fast and powerful jabs that left his Thai rival gasping for air. In the first 47 seconds of the opening round he floored the Thai famous boxer twice, giving him an automatic victory under the new rules of the tournament.
Unseeded Duong started his fight against third-seeded Butdee like a hurricane, showering his opponent with a slew of fast and powerful jabs that left his Thai rival gasping for air.
This earned him a bronze in the men’s featherweight category (52-57kg) and an all-important Olympic berth. It was such sweet revenge, as he was beaten by Butdee himself in the SEA Games finals last year.
“He was not at his peak, as his previous match was quite tiring,” Duong humbly told the Vietnam News Agency. “I lack his experience, so I told myself I had to knock him out to not lose.“The victory means a great deal to me. It’s like a big staircase leading me to new heights and taking me to a much larger arena.”But the Olympic berth did not come as easily as it may seem, as the road to success has been quite a long odyssey for the tough fighter.
Small but lethal
“They initially said no because of my stature…”
Boxer Duong at the age of 14 when he just began to box. (Photo courtesy of Nguyen Van Duong)
Duong is smaller than most boxers. From northern Bac Giang province, he looked nothing like an Olympian-in-waiting when he discovered the sport of boxing in 2009 at the age of 13, weighing just 32 kg and standing shorter than average.“I went with my cousin to a boxing class the Public Security team in Hanoi held,” Duong said. “They initially said no because of my stature, but Coach Nguyen Anh Dung saw my effort and qualities so gave me a chance.”His parents were concerned about him when he first began to box. “But they never made it too hard for me,” he said. “They didn’t push me to do what they wanted, and were always supportive of my decision to box.”Duong said there was a time, in 2012, when he wanted to give up boxing, after suffering successive losses. Believing he and boxing were “not meant to be”, he did indeed quit.
Legendary Australian trainer Dave Hedgcock called Duong a “natural born killer.” “He’s something special,” Hedgcock said.
“But after just a week I couldn’t stand it anymore, and finally called my mum to say I was going back to Hanoi for training.”“It’s your decision,” she replied. “You have to do the best you can.”“And I eventually made it!”Duong claimed three titles at junior national championships and two others at open tournaments in the featherweight category before joining the national team in 2015.
He won a silver at the SEA Games in the Philippines last December, and has grabbed three wins by points in three semi-professional bouts and won by knockout in his only professional bout. Duong also fought in a number of international events, including Victory 8.Legendary Australian trainer Dave Hedgcock called Duong a “natural born killer.” “He’s something special,” Hedgcock said.
“Though I’ve been doing this for many years now, I don’t get into fights easily. It’s just not cool to hit others or be hit.”
Boxer Nguyen Van Duong of Vietnam (right) punches Jenel Lausa of the Philippines at the Victory 8 event last October in Hanoi. (Photo courtesy of Nguyen Van Duong)
The Vietnamese fighter idolises Canelo Alvarez, a Mexican boxer best known for his superior offensive skills and described as an “unstoppable tank”.
There is a common misperception that weighs heavily upon Duong – that boxers are as dangerous and aggressive outside the ring as they are in it.“That stereotype is completely wrong,” Duong said. “People don’t know me as a person. They only know I’m a skilled fighter and think that I love showing off my skills.”“Though I’ve been doing this for many years now, I don’t get into fights easily. It’s just not cool to hit others or be hit.”“Inside the ring, I can be a combative warrior. I have had many coaches and they all told me I look like I’m about to kill someone when I step into the ring. But in real life, I’m just a normal person – cheerful, friendly, and actually quite gentle.”“My mum sometimes teases me that I would make a good hen-pecked husband,” he said with a laugh.
Boxer Nguyen Van Duong of Vietnam at the Victory 8 event last October in Hanoi. (Photo courtesy of Nguyen Van Duong)
Sticking to the goal
The on-going COVID-19 outbreak has forced most sporting events into a hold, but Duong has managed to stick to a tight training schedule of six days a week.A normal day starts at 6am, training with coaches. As boxing is one of the most physically-demanding sports, there are long sessions of running and weight-lifting in the morning, to help him increase his endurance and strength.
“I will give my best shot. Every match will be a final for me.”
In the afternoon, he focuses on shadow boxing and heavy bag work, and studies the technical side of things.For Duong, the 2020 Tokyo Olympics being moved to next year is good news. “I think it is good for me because I will have more time to sharpen my skills, like speed, strength, and tactics,” he said.“There is one more year to go, so I’m working extra hard on technique and tactics right now.”
“I will give my best shot. Every match will be a final for me.”
“My greatest strength is that I am more determined than others.”/.
No Tokyo, but flame still burns brightly in athletes’ dreams
Hanoi (VNA) – The Olympic Games, one of the most-anticipated sporting events on the planet, was originally scheduled to start later this month in Tokyo but was postponed to July 2021 because of the coronavirus pandemic.For Vietnam’s elite athletes who have targeted these Games for many years, the delay is a major blow but their Olympic dreams have by no means come to an end.
Stay hungry, stay focused
Despite his incredible achievements for one so young, 2000-born swimmer Nguyen Huy Hoang, the first to earn a berth in the Vietnamese team to the games, told the Vietnam News Agency that he never ceases trying to reach further and higher.
This would have been the first Olympics of Hoang’s career and would have followed on the heels of him smashing the 2019 SEA Games record in the Philippines. He couldn’t hide his disappointment when talking to media after the announcement was made that the Games had been postponed.
The ambitious athlete, known as “otter” in his hometown, understood why the decision was made, however, calling it “the right thing to do” and “better for everyone’s health”.
“The Olympics are a major event for me and all elite athletes, but they were only delayed – not cancelled,” Hoang said optimistically, believing that the postponement may even be good for him as he will have another year to train and improve.For 25-year-old gymnast Le Thanh Tung, the second to earn a berth in the team, the postponement could be mentally tough given how rigorous his sport is and how brief someone’s time in the spotlight can be.However, like Hoang, he considers the postponement an “opportunity” rather than a “let-down”.Even if the tournaments weren’t taking place, he said he would still train hard every day.For Do Thi Anh Nguyet and Nguyen Hoang Phi Vu, the first Vietnamese archers to secure a berth at the Tokyo Olympics 2020, qualification was a “turning point” in their sporting careers and a “great source of encouragement” for the long and challenging path ahead.Both pinned their hopes on the world’s largest sporting event helping them become more confident when competing at other international tournaments.Meanwhile, Nguyen Van Duong, the first boxer to qualify for Vietnam in 32 years, said the postponement allows him to sharpen his skills, like speed, strength, and tactics.“There is another year to go, so I’m working extra hard on technique and tactics right now,” he said. Come the time, he will give it his best shot.
Killing two birds with one stone
According to Deputy Director of the General Department of Sports and Physical Training Tran Duc Phan, the postponement of the Olympic Games until next year is not terrible news for the Vietnamese Olympics team, as it aims to earn 20 spots.
Only five athletes have qualified to date, however, in swimming, gymnastics, archery, and boxing.
Sports such as women’s wrestling, fencing, track and field, swimming, badminton, and judo only offer a few opportunities to secure berths at the Games, but now the door is open wide as there is one more year for athletes to train and qualify.
One additional challenge, though, is that the Tokyo Olympics and the Southeast Asian Games (SEA Games) are now both scheduled to take place next year, with Vietnam hosting the latter.
“Fortunately, the Olympics are taking place in the summer and the SEA Games at year’s end,” Phan said. “The four or five months between the two is just enough time for athletes to recover and reach their optimal performance level again.”
He told the media that Vietnam will focus on earning more spots at the Olympics but would also target SEA Games 31. In other words, it hopes to “kill two birds with one stone”.
For athletes who have already secured berths to Tokyo, participation in more than one international event in a year doesn’t present a problem.
“Rather, it will help me sharpen my skills and mental approach,” said swimmer Hoang.
For gymnast Tung, the frequent engagement in international tourneys is necessary to further fine-tune his moves and also get proper rest. “This helps me improve my performance and avoid major injuries so that I’m always ready for upcoming competitions.”
Young “Robinhoods” Nguyet and Vu also see opportunities in partaking in multiple international games. “We are still young, so the more we compete, the stronger we become.”
The natural-born boxer Duong shared the same views, saying his greatest strength is “determination” and he can be a “combative warrior” inside the ring.
At the 2016 Olympics in Rio, the Vietnam Olympic Committee fielded a squad of 23 athletes competing in 10 sports. Shooter Hoang Xuan Vinh claimed the country’s first-ever gold medal, in the men’s 10-metre air pistol on the opening day, and then followed it up with a silver in the 50-metre pistol four days later, emerging as the most decorated Vietnamese athlete in the country’s sporting history./.
Chiều 28/7/1995, lá quốc kỳ Việt Nam tung bay trên bầu trời thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei Darussalam, chính thức đánh dấu cột mốc Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của Hiệp hội các quốc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Sau 25 năm, chúng ta đã tiến những bước dài trong quá trình hội nhập, vị thế không ngừng được nâng cao, trở thành thành viên tin cậy, tích cực của các tổ chức và định chế quan trọng trên thế giới, góp phần không nhỏ vào hòa bình và ổn định trong khu vực cũng như trên toàn cầu.
Năm 2020 cũng là năm Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, với chương trình nghị sự gồm nhiều vấn đề nóng hổi, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 làm chao đảo toàn thế giới.
Và một lần nữa, chúng ta đã chứng tỏ được vị thế và bản lĩnh của mình trước những đòi hỏi mang tính thách thức của thời đại.
Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN (1995-2020)
Tham gia ASEAN
LỢI ÍCH VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆT NAM
Đại sứ, Tiến sĩ Luận Thuỳ Dương (Học viện Ngoại giao)
Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM-28) tổ chức ở Brunei Darussalam, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ bảy của tổ chức này. Việc gia nhập ASEAN đã đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, cả về chiến lược lẫn kinh tế.
Trước hết, gia nhập ASEAN không chỉ giúp Việt Nam có một môi trường chiến lược thuận lợi để thúc đẩy quan hệ láng giềng với các nước trong khu vực, giải quyết những vấn đề trong quan hệ song phương do lịch sử để lại hoặc mới phát sinh, mà còn giúp Việt Nam có tiếng nói trên trường quốc tế, hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy quan hệ với các đối tác.
Đặc biệt, tham gia ASEAN giúp Việt Nam sử dụng được các cơ chế của ASEAN để vừa lôi kéo sự can dự, vừa tạo sự cân bằng mềm trong quan hệ với các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga… nhằm giải quyết các vấn đề chính trị-an ninh nhạy cảm ở khu vực ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, trong đó có cả tranh chấp ở Biển Đông, từng bước định hình các quy tắc ứng xử trên Biển Đông.
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (thứ hai, từ phải sang), Tổng Thư ký ASEAN và các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại cuộc họp kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ bảy của ASEAN, ngày 28/7/1995, tại Thủ đô Bandar Seri Begawan (Brunei). (Ảnh: Trần Sơn/TTXVN)
Thứ hai, khi gia nhập ASEAN, mối quan tâm chính của Việt Nam vào thời điểm bấy giờ là thoát khỏi các khó khăn kinh tế-xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế thì ASEAN chính là thị trường xuất nhập khẩu và là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên của Việt Nam. ASEAN còn giúp Việt Nam tranh thủ cơ hội hợp tác với các nước đối tác bên ngoài Hiệp hội, giúp Việt Nam mở các cánh cửa đến với các thị trường mới. Việt Nam đã tham gia vào các Khu vực thương mại tự do của ASEAN (AFTA) và của ASEAN với các đối tác, Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)… Đây là các hợp tác liên khu vực, liên châu lục, giúp Việt Nam có quan hệ hợp tác, cả trên bình diện song phương lẫn đa phương, với các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản, và các nước châu Âu, tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật cao, cùng kinh nghiệm quản lý tốt, góp phần đẩy nhanh hơn nữa đổi mới và phát triển của Việt Nam.
Thứ tư, hội nhập vào ASEAN là động lực thúc đẩy Việt Nam phát triển nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ trong công tác đối ngoại, nhất là cán bộ đa phương. Nhờ đó Việt Nam tạo dựng được nền tảng vững chắc cho các bước hội nhập ngày càng sâu và rộng với thế giới.
Kể từ khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển và lớn mạnh của ASEAN.
Nghi thức thượng cờ tại Lễ kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức thứ bảy của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), chiều 28/7/1995, tại Thủ đô Bandar Seri Begawan (Brunei). (Ảnh: Trần Sơn/TTXVN)
Khi mới tham gia vào ASEAN, trong một hai năm đầu, không tránh khỏi việc các nước ASEAN cũ lo ngại rằng Việt Nam với hệ thống chính trị khác biệt có thể làm thay đổi phương cách ASEAN, suy giảm đoàn kết trong ASEAN. Tuy nhiên Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập và chứng minh được vai trò tích cực của mình trong việc duy trì phương cách ASEAN và thúc đẩy đoàn kết trong ASEAN. Việt Nam cũng đã tích cực thúc đẩy ASEAN kết nạp các nước Campuchia, Lào và Myanmar, trở thành cây cầu nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, và biến giấc mơ về một đại gia đình ASEAN gồm 10 quốc gia trở thành hiện thực.Chỉ 3 năm sau, Việt Nam đã đủ sức nắm giữ vai trò Chủ tịch luân phiên của ASEAN, có nhiều sáng kiến thúc đẩy liên kết nội khối và tăng cường quan hệ đối ngoại với các đối tác bên ngoài như Cấp cao ASEAN +3, Diễn đàn Đông Á…
Trong quá trình hình thành ý tưởng và mô hình Cộng đồng ASEAN, Việt Nam cùng với các nước có tư tưởng tương đồng, đã có sáng kiến quan trọng thúc đẩy trụ cột thứ 3 là hợp tác Văn hóa-Xã hội, như một chân kiềng có tác dụng bổ trợ và gắn kết hữu cơ với 2 trụ cột khác của Cộng đồng ASEAN là Chính trị – An ninh và Kinh tế, qua đó, đảm bảo sự phát triển cân bằng và hài hòa của ASEAN.
Để xây dựng thành công Cộng đồng, Việt Nam luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên. Việt Nam là một trong những nước đi đầu thúc đẩy triển khai Sáng kiến Liên kết ASEAN. Việt Nam cũng đã chủ động đề xuất và được các nước nhất trí thông qua Tuyên bố Hà Nội về Thu hẹp khoảng cách phát triển, như một bộ phận quan trọng trong Lộ trình chung xây dựng Cộng đồng.
Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và Đại diện thương mại Hoa Kỳ, bà Charlene Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, ngày 13/7/2000, tại Thủ đô Washington D.C, kết thúc 4 năm đàm phán liên tục. (Ảnh: Lê Chi/TTXVN)
Một khía cạnh quan trọng khác trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN mà Việt Nam đã tham gia rất tích cực và để lại dấu ấn đậm nét là việc xây dựng, ký kết, phê chuẩn và triển khai Hiến chương ASEAN. Quá trình soạn thảo nội dung Hiến chương, Việt Nam tham gia rất tích cực và chủ động, đề ra các định hướng phát triển của Hiệp hội; củng cố và hệ thống hóa các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của ASEAN; góp phần dung hòa các quan điểm khác biệt, bảo đảm nội dung Hiến chương vừa phù hợp với thực tiễn hoạt động, vừa đáp ứng được nhu cầu phát triển của ASEAN.
Với nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của ASEAN trong suốt 25 năm qua, Việt Nam ko chỉ thể hiện là một thành viên có trách nhiệm mà còn chứng tỏ là một thành viên có vai trò ngày càng quan trọng trong ASEAN.
Tháng 12/1998, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị ASEAN lần thứ VI. Đây là lần đầu tiên Việt Nam đăng cai một hội nghị của Hiệp hội kể từ khi gia nhập. ASEAN khi đó đã có 9 thành viên (thêm Lào và Myanmar). Các nhà lãnh đạo nhất trí thông qua Chương trình Hành động Hà Nội, góp phần tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh hợp tác, khôi phục hình ảnh ASEAN và định hướng phát triển. Trong ảnh: Thủ tướng Phan Văn Khải (giữa) và các nhà lãnh đạo ASEAN chụp ảnh chung tại Phiên bế mạc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6, diễn ra tại Hà Nội từ 15-16/12/1998. (Ảnh: Thế Thuần/TTXVN)
Việt Nam chính thức đảm nhận vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN từ ngày 1-1-2020, đồng thời đảm nhiệm Ủy viên không thường trực HĐBA/LHQ. Với hai vai trò, Việt Nam có cơ hội thuận lợi để thể hiện vị thế lãnh đạo của mình trên phạm vi toàn cầu, đồng thời giúp mở rộng và khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN trên trường quốc tế. Việt Nam đóng góp không chỉ tiếng nói của mình, mà còn cho cả Cộng đồng ASEAN ở một diễn đàn quan trọng tầm cỡ toàn cầu.
Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò ngoại giao tích cực: duy trì khu vực hoà bình và ổn định; bảo vệ lợi ích của Hiệp hội; xây dựng kế hoạch mang lại động lực giúp ASEAN đối phó với các khó khăn và những thách thức mới nảy sinh.
Với việc gia nhập ASEAN, lòng tin giữa Việt Nam với các nước láng giềng được nâng lên rõ rệt. Hội nhập của Việt Nam hiệu quả hơn, không chỉ là hội nhập khu vực mà là hội nhập thế giới, trong đó có bước ngoạt Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trong ảnh: Trước sự chứng kiến của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy trao các văn kiện về việc kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO cho Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Trương Đình Tuyển, tại buổi lễ kết nạp Việt Nam vào WTO, ngày 7/11/2006, tại trụ sở WTO ở Geneva (Thụy Sĩ). (Ảnh: AFP/TTXVN)
Bước sang năm 2020, ASEAN đã đi được nửa chặng đường triển khai Kế hoạch xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015-2025, ASEAN đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới; một lực lượng nòng cốt trong kiến tạo cấu trúc khu vực ở châu Á – Thái Bình Dương; và là một đối tác hợp tác quan trọng cho nhiều hợp tác liên khu vực. Tuy vậy, bối cảnh mới đang đặt ASEAN trước nhiều khó khăn, thách thức mới.
Khó khăn lớn nhất của ASEAN là tình trạng phát triển bị chậm lại, trì trệ, khó khăn, thậm chí rơi vào khủng hoảng ở từng quốc gia thành viên và mất cân đối trong phát triển giữa các nước thành viên, do dịch bệnh Covid-19 và các vấn đề an ninh phi truyền thống tạo ra. Các tác động tiêu cực này đang kìm hãm các hợp tác nội khối và ngăn cản các hợp tác đối ngoại đa phương của ASEAN.
Thách thức lớn nhất của ASEAN là làm sao duy trì được sự đoàn kết, tiếp tục có được tiếng nói chung trong nhiều vấn đề ở khu vực, vượt qua được sức ép phân hóa của các nước lớn, trong cục diện mới với sự cạnh tranh chiến lược ngày càng căng thẳng, khó lường giữa các nước lớn.
Trong bối cảnh như vậy, vấn đề then chốt của ASEAN hiện nay và thời gian tới là: (i) tăng cường đoàn kết, thống nhất nội khối; (ii) duy trì hoà bình, ổn định để phát triển; (iii) thúc đẩy liên kết, kết nối trong khu vực; và (iv) đẩy mạnh việc xây dựng Cộng đồng.
Xuất phát từ các thách thức đặt ra cho ASEAN cũng như căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ về xây dựng Cộng đồng ASEAN, Việt Nam đã lựa chọn Chủ đề cho năm Chủ tịch ASEAN 2020 là “Gắn kết và Chủ động thích ứng”. “Gắn kết” và “thích ứng” là hai thành tố có tính giao thoa, bổ trợ chặt chẽ cho nhau. Một Cộng đồng ASEAN gắn kết và phát triển mới có thể chủ động thích ứng các yếu tố tác động từ bên ngoài và ngược lại, chủ động thích ứng hiệu quả sẽ giúp ASEAN trở thành một khối gắn kết chặt chẽ.
Để củng cố vị thế và nâng tầm vai trò của mình, Việt Nam có trách nhiệm cùng các nước ASEAN khác, thứ nhất, phải duy trì phương cách ASEAN với các nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, đặc biệt tăng cường các hoạt động tham vấn trên cơ sở đồng thuận, nhằm đảm bảo ASEAN tiếp tục là một Cộng đồng đoàn kết.
Một Cộng đồng ASEAN gắn kết và phát triển mới có thể chủ động thích ứng các yếu tố tác động từ bên ngoài và ngược lại, chủ động thích ứng hiệu quả sẽ giúp ASEAN trở thành một khối gắn kết chặt chẽ.
Thứ hai, cần rà soát các cơ chế hợp tác, các dự án hợp tác, giải quyết những tồn tại, bất cập, chú trọng hơn hiệu quả hoạt động của các cơ chế, các dự án hợp tác thì mới tạo được niềm tin và động lực gắn kết ASEAN hơn.
Thứ ba, thúc đẩy hơn nữa các quan hệ đối ngoại của ASEAN, với các đối tác bên ngoài, để tranh thủ sự ủng hộ, nhưng quan trọng hơn là phải tạo ra sự giao thoa lợi ích thì mới tăng được sự can dự tích cực của các quốc gia, nhất là các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga… thúc đẩy các lợi ích của đất nước và của ASEAN.
Thứ tư, thúc đẩy các hợp tác đa phương của ASEAN trong các lĩnh vực mới về kinh tế số, khoa học kỹ thuật và công nghệ số, nhằm duy trì ASEAN là một khu vực kinh tế năng động trên thế giới, đồng thời tạo ra sức sống mới cho Cộng đồng ASEAN.
Thứ năm, Việt Nam phải cùng các nước ASEAN, các nước có tranh chấp và các nước có lợi ích ở Biển Đông, thúc đẩy hoàn thiện Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), làm nền tảng để ASEAN tiếp tục đối thoại cân bằng với các nước lớn, duy trì được vai trò trung tâm trong các cấu trúc khu vực cũng như duy trì được hoà bình và ổn định lâu dài ở khu vực.
Đại sứ, Tiến sĩ Luận Thuỳ Dương (Học viện Ngoại giao). Ảnh: Nhân vật cung cấp.
Thứ sáu, Việt Nam phải cùng các nước ASEAN thúc đẩy vai trò của chủ nghĩa đa phương, Hiến chương Liên Hợp Quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế vì một thế giới hòa bình, công bằng và tốt đẹp hơn. Đặc biệt, phải tăng cường hiệu quả hợp tác và quan hệ Đối tác toàn diện giữa ASEAN và Liên Hợp Quốc, vì lợi ích chung của các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế.
Như vậy, quyết định tham gia ASEAN thể hiện khả năng nắm bắt được sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa gắn với khu vực hóa của Việt Nam. Tham gia ASEAN mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam và lợi ích gắn liền với trách nhiệm. Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong ASEAN. Vai trò kép trong ASEAN và trong Liên Hợp Quốc đang tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội nâng cao vị thế, uy tín, cũng như thể hiện năng lực là thành viên có trách nhiệm trên trường quốc tế. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam có được nhiều lợi ích trong việc tăng cường quan hệ song phương với nước lớn và huy động được nhiều nguồn lực phát triển đất nước.
Tiến sĩ Luận Thuỳ Dương là chuyên gia nghiên cứu Đông Nam Á và ASEAN, từng giữ cương vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Myanmar.Bà là tác giả cuốn sách “Kênh đối thoại không chính thức về an ninh và chính trị: Kênh 2 của ASEAN”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm xuất bản 2010, và sách “Cộng đồng Văn hóa xã hội ASEAN: Tầm nhìn tới 2025”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản 2017, đồng tác giả cuốn sách “150 câu hỏi và đáp về ASEAN: Hiến chương ASEAN và Cộng đồng ASEAN”, Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2010.
Vai trò của Việt Nam
tại ASEAN trong mắt các chuyên gia quốc tế
Hoàng Long-Vi Diệu
Năm kỷ niệm 25 năm Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á cũng là năm mà Hà Nội giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, với chương trình nghị sự gồm nhiều vấn đề và thách thức, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 làm chao đảo toàn thế giới. Vậy Việt Nam đã đảm nhiệm vai trò này như thế nào, đóng góp của Việt Nam trong 25 năm qua cho ASEAN ra sao đã được các phóng viên thường trú của Thông tấn xã Việt Nam tổng hợp một cách khách quan, từ các chuyên gia hàng đầu của khu vực và thế giới.
Trong 25 năm qua, Việt Nam đã đảm bảo nền chính trị ổn định và một nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, từ đó có nền tảng vững chắc để tạo ra những đóng góp ý nghĩa cho ASEAN và sự phát triển của Hiệp hội.
Theo Giáo sư Thayer, Đại học New South Wales, Việt Nam đã có ít nhất bốn đóng góp lớn cho ASEAN.
Thứ nhất, vào năm 1998, khi làm Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã soạn thảo Kế hoạch hành động Hà Nội để thúc đẩy sự phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.
Cùng với những nỗ lực khác, Kế hoạch này nhằm khắc phục khoảng cách phát triển giữa các quốc gia thành viên ASEAN.
Thứ hai, vào năm 2010, khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã thúc đẩy những gì các nhà quan sát ngoại giao gọi là “văn hóa thực hiện.”
Nói cách khác, Việt Nam đã thúc đẩy việc hoàn thành các hoạt động thiết thực sau khi ASEAN thông qua các tuyên bố và kế hoạch hành động.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 chủ trì Hội nghị trực tuyến Cấp cao đặc biệt ASEAN về ứng phó dịch bệnh COVID-19, sáng 14/4/2020, tại Hà Nội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Thứ ba, Việt Nam đã sử dụng kinh nghiệm ngoại giao của mình để thúc đẩy quan hệ ASEAN với các cường quốc.
Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng đầu tiên. Việt Nam cũng thúc đẩy thành công việc mở rộng thành viên Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, bao gồm thêm cả Liên bang Nga và Mỹ.
Thứ tư, Việt Nam đã thể hiện trò quan trong việc ASEAN xử lý các tranh chấp ở Biển Đông giữa các thành viên và Trung Quốc. Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002.
Mới đây nhất, trong năm 2020, với tư cách là Chủ tịch ASEAN lần thứ ba, sự lãnh đạo của Việt Nam đã mang lại sự thừa nhận mạnh mẽ đối với Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982) tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36.
Theo Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36, UNCLOS 1982 đặt ra khuôn khổ pháp lý cho tất cả các hoạt động trên biển và đại dương.
Theo ông Ahmad Ibrahim Almutaqqi, Giám đốc Chương trình nghiên cứu ASEAN thuộc Trung tâm Habibie, kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam ngày càng hòa nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Đến nay, Việt Nam đã mở rộng cánh cửa với thương mại tự do và hiện là một phần quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Ibrahim khẳng định xu thế này rất giống với những gì mà dự án hội nhập khu vực ASEAN đang cố hướng tới và Việt Nam rõ ràng đang được hưởng lợi từ hội nhập.
Theo ông “chúng ta đang chứng kiến một Việt Nam tự tin hơn trên vũ đài thế giới và có những đóng góp quan trọng cho khu vực mỗi khi giữ chức Chủ tịch của ASEAN.”
Nhà nghiên cứu Indonesia cũng cho rằng điều đáng khích lệ là Việt Nam ngày càng được xem là một trong những nhà lãnh đạo của ASEAN. Trong một thời gian dài, Indonesia từng luôn được coi là nhà lãnh đạo tự nhiên của ASEAN song thật tốt khi Việt Nam cũng đang đóng góp và Jakarta có thể tin tưởng Hà Nội để bảo vệ ASEAN.
Đánh giá về vai trò và vị trí của ASEAN sau 53 năm xây dựng và phát triển, học giả kỳ cựu này cho rằng thành tựu lớn nhất của ASEAN là giữ được hòa bình và ổn định trong khu vực.
Hội nghị trực tuyến Cấp cao đặc biệt ASEAN về ứng phó dịch bệnh COVID-19, sáng 14/4/2020, tại Hà Nội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Theo ông Ibrahim, đây không phải là “kỳ tích tầm thường” do tính đa dạng của khu vực Đông Nam Á, với nhiều tranh chấp biên giới chưa được giải quyết, cũng như việc các cường quốc thường sử dụng khu vực này như một “đấu trường” cạnh tranh địa chiến lược.
Tiến sỹ Hoo Chiew-Ping – tiến sỹ Ngeow Chow Bing (Malaysia): Việt Nam góp phần vào phép màu ASEAN
Tiến sỹ Hoo Chiew-Ping, giảng viên cao cấp về nghiên cứu chiến lược và quan hệ quốc tế, Đại học Quốc gia Malaysia và tiến sỹ Ngeow Chow Bing, Giám đốc Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Đại học Malaya đã có chung nhận định như vậy khi đánh giá về ai trò của Việt Nam trong ASEAN.
Đến nay, Việt Nam đã mở rộng cánh cửa với thương mại tự do và hiện là một phần quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tiến sỹ Hoo Chiew-Ping cho rằng từ khi gia nhập ASEAN đến nay, Việt Nam đã có thể tối đa hóa lợi ích của các nền tảng ASEAN, trong đó có hội nhập khu vực, sự gắn kết chặt chẽ trong khu vực và hòa giải chính trị không chỉ ở cấp độ đối thoại nội bộ ASEAN mà còn đối thoại với các đối tác ASEAN.
Trong những thập kỷ qua, Việt Nam là quốc gia luôn ủng hộ một cách nhất quán các thể chế ASEAN và góp phần tăng cường quan hệ đối tác chiến lược với các đối tác đối thoại của ASEAN như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU). Việc gia nhập ASEAN đã giúp Việt Nam hội nhập quốc tế, trong khi Việt Nam cũng góp phần vào những thành công của ASEAN.
Về phần mình, tiến sỹ Ngeow Chow Bing cũng nhận định Việt Nam gia nhập ASEAN cho thấy một sự thay đổi rất đáng kể.
Theo tiến sỹ Ngeow Chow Bing, động thái này rất quan trọng vì nó bắt đầu quá trình ASEAN đưa các nước Đông Nam Á hoạt động theo một trật tự.
Đối với việc Việt Nam đảm nhận cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động mạnh mẽ tới khu vực và thế giới, tiến sỹ Ngeow Chow Bing cho rằng Việt Nam đã làm rất tốt trong việc kiểm soát đại dịch và xứng đáng được ca ngợi và chúc mừng như vậy.
Với vai trò là Chủ tịch ASEAN năm nay, Việt Nam được kỳ vọng sẽ khuyến khích các quốc gia thành viên khác đầu tư nhiều hơn vào hợp tác nội khối ASEAN, vì khu vực này sẽ là mô hình đi đầu trong ứng phó với đại dịch, nhờ sự phục hồi nhanh chóng so với các khu vực khác.
Đại sứ-Trưởng phái đoàn thường trực Philippines tại ASEAN, ông Noel Servigon, đánh giá Việt Nam đã tích cực đưa ra nhiều sáng kiến quan trọng, đồng thời dẫn dắt các nỗ lực tiếp tục làm phong phú thêm cho chương trình nghị sự và kinh nghiệm của ASEAN.
Theo Đại sứ Noel, các tác động tích cực từ nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2010 của Việt Nam với chủ đề “Hướng tới Cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn đến hành động” vẫn tiếp tục lan tỏa cho đến nay, trong đó có việc thúc đẩy Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân tại các diễn đàn đa phương, tăng cường Hội nghị cấp cao Đông Á với việc kết nạp thêm các quốc gia không phải là thành viên ASEAN, dẫn dắt các cuộc thảo luận về nỗ lực khôi phục và duy trì tài chính y tế của khu vực vốn đang phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính, thúc đẩy phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng và kết nối ASEAN…
Về vai trò và sự đóng góp của Việt Nam sau 25 năm gia nhập ASEAN, Đại sứ Noel cho biết lần đầu tiên ông đến Việt Nam là vào tháng 12/1998, khi Việt Nam lần đầu tiên tổ chức Hội nghị cấp cao ASEAN, chỉ 3 năm sau khi gia nhập ASEAN.
Sau đó 18 năm, ông Servigon trở thành Đại sứ Philippines tại Việt Nam và đã trực tiếp chứng kiến những thành quả to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong khoảng thời gian đó.
Và khi ASEAN tổ chức “Năm Vàng 2017” nhân kỷ niệm 50 năm thành lập, ông đã cảm thấy “ấm lòng” khi được chứng kiến tâm trạng hồ hởi rộng khắp ở tất cả các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Từ những gì quan sát được, ông cho rằng người dân Việt Nam thực sự gắn bó với ASEAN và tham gia vào cộng đồng ASEAN “ở mức độ cao nhất.”
Đánh giá về cương vị Chủ tịch ASEAN 2020, cũng như những công việc mà Việt Nam cần làm để tiếp tục xây dựng Cộng đồng ASEAN, Đại sứ Noel cho rằng năm nay ASEAN có nhiệm vụ đàm phán nhiều Kế hoạch hành động cho giai đoạn tiếp theo với các nước đối tác đối thoại, cũng như với Liên hợp quốc.
Ông nhấn mạnh Philippines đánh giá cao sự lãnh đạo của Việt Nam nhằm đảm bảo các Kế hoạch hành động này được hoàn tất và góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ đối ngoại của ASEAN, cũng như duy trì vai trò trung tâm của ASEAN.
Đại sứ Noel cũng nhấn mạnh rằng thành công đáng chú ý của Việt Nam trong việc ngăn chặn đại dịch đã trở thành hình mẫu không chỉ trong ASEAN mà cả trên toàn thế giới, đồng thời cho rằng các nỗ lực phối hợp trong năm nay sẽ giúp đảm bảo tất cả các quốc gia thành viên ASEAN vươn lên mạnh mẽ hơn và được trang bị tốt hơn để ứng phó và phục hồi sau các đại dịch tương lai.
Tiến sỹ Balaz Szanto, giảng viên Bộ môn Quan hệ Quốc tế, Đại học Webster của Thái Lan, đánh giá từ khi trở thành thành viên ASEAN, Việt Nam đã thể hiện vai trò rất tích cực trong việc xây dựng cộng đồng chung, với nhiều sáng kiến mang tính xây dựng và có tính khả thi cao.
Theo tiến sỹ Szanto, trong những năm gần đây, với vị thế ngày càng được nâng cao, Việt Nam đã không ngừng thể hiện vai trò dẫn dắt trong diễn đàn khu vực quan trọng này.
“Tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ tập hợp được một tiếng nói thống nhất trong ASEAN, tạo thành nền tảng để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông một cách hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế”
Chuyên gia tin tưởng Việt Nam, với tư cách là nước Chủ tịch ASEAN trong năm 2020, sẽ huy động được năng lực hành động tập thể của khối, tạo ra cơ chế thúc đẩy sự hùng cường chung của các nước thành viên để không ai bị bỏ lại phía sau.
Liên quan tới an ninh hàng hải ở khu vực, tiến sỹ Szanto đánh giá Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực này. Ông kỳ vọng Việt Nam sẽ tập hợp được một tiếng nói thống nhất trong ASEAN, tạo thành nền tảng để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông một cách hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế. Sự đoàn kết, tạo thành một thể thống nhất sẽ là đòn bẩy quan trọng để đạt được mục tiêu trên.
Tiến sỹ Hoe Ee Khor, nhà kinh tế trưởng Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3, đánh giá, kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã bắt đầu tiến hành một số cải cách kinh tế và làm sâu sắc các mối quan hệ kinh tế của mình với phần còn lại của thế giới.
Một trong những sự kiện có ý nghĩa then chốt là Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Sự kiện này đem lại kết quả là làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng từ khoảng 3 tỷ USD năm 1995 lên 20 tỷ USD vào năm 2019.
Việt Nam đã sử dụng thành công lực đòn bẩy của dòng đầu tư này vào các động cơ xuất khẩu, đặc biệt là ngành công nghiệp điện tử, giúp Việt Nam trở thành một trong những nước có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong khu vực, trung bình khoảng 6,3% trong 10 năm qua.
Kết quả là thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng gấp gần 10 lần từ khoảng 277 USD năm 1995 lên 2.715 USD vào năm 2019, và giờ đây là một trong những nền kinh tế lớn nhất của ASEAN.
Người đứng đầu các phái đoàn ASEAN SOM chụp ảnh tại cuộc họp.
Những thành tựu kinh tế ấn tượng của Việt Nam có được từ những nỗ lực của các nhà chức trách nhằm bãi bỏ các quy định và giảm bớt phí kinh doanh trong vài thập kỷ qua. Đồng thời, sự tái bố trí tài sản các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước đã đem lại hiệu quả lớn hơn và tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân trong nước vào nền kinh tế, điển hình là các công ty lớn của Việt Nam như Vingroup và Vietjet Air.
Lĩnh vực chế tạo sản xuất của Việt Nam đã trở thành một phần then chốt trong chuỗi giá trị khu vực, đặc biệt là lĩnh vực điện tử
Ngoài phát triển kinh tế, Việt Nam đã tăng cường mạng lưới an sinh xã hội thông qua những sự cải thiện về hệ thống lương hưu và y tế.
Khảo sát gần đây của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) về lương hưu của 47 quốc gia cho thấy trong khi diện bao phủ của hệ thống lương của Việt Nam vẫn còn hạn chế, nhưng lợi ích lương hưu tương đối cao, 75% mức lương trong thời gian đi làm.
Từ năm 2002 đến 2018, hơn 45 triệu người đã thoát nghèo, với tỷ lệ nghèo đói giảm từ hơn 70% xuống dưới 6% và sự tăng nhanh của tầng lớp trung lưu.
Cũng theo Tiến sỹ Hoe Ee Khor, trong 25 năm qua, Việt Nam đã ngày càng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Lĩnh vực chế tạo sản xuất của Việt Nam đã trở thành một phần then chốt trong chuỗi giá trị khu vực, đặc biệt là lĩnh vực điện tử. Sự tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực đã tăng từ 26,4% năm 2005 lên 33,9% năm 2015.
Hơn nữa, đối với các công ty từ các nền kinh tế khác trong khu vực, tầng lớp trung lưu đang phát triển mạnh và mức thu nhập tăng đã làm cho Việt Nam trở thành điểm đến có ý nghĩa cho nhu cầu cuối cùng đối với hàng hóa và dịch vụ.
Cuối cùng, tư cách thành viên của Việt Nam trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) được đề xuất làm nổi bật vai trò của Việt Nam trong cộng đồng khu vực trong việc hỗ trợ sự thịnh vượng chung thông qua dòng hàng hóa và dịch vụ.
Nền kinh tế Việt Nam bổ sung cho các nền kinh tế khác. Việt Nam có thể thu hút các ngành cần nhiều lao động từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN 5 (Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore và Thái Lan) và sử dụng lực đòn bẩy đó để tham gia mạng lưới sản xuất khu vực.
Từ đó, Việt Nam đã và đang tiến lên chuỗi giá trị và gia tăng sức mạnh công nghiệp với xuất khẩu tương đương khoảng 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Việt Nam cũng rất thành công trong phát triển lĩnh vực nông nghiệp và du lịch.
Quang cảnh cuộc họp
Những người thực hiện: Nguyễn Minh, Hữu Chiến, Nguyễn Thúy, Ngọc Quang, Hữu Kiên (Thông tấn xã Việt Nam).
Đại sứ Indonesia Ibnu Hadi
VIỆT NAM ĐÃ ĐÓNG GÓP RẤT NHIỀU CHO ASEAN
Hoàng Long-Vi Diệu
Indonesia là nước bạn bè truyền thống của Việt Nam, có sự tương đồng về quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, có vai trò quan trọng tại Đông Nam Á.
Ngày 27/2/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thăm hữu nghị chính thức Indonesia. Đây là chuyến thăm chính thức quốc gia Đông Nam Á đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó 3 tháng, Tổng thống Sukarno của Indonesia cũng đã có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam.
Hai chuyến thăm lịch sử đã đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ hữu nghị thân thiết Việt Nam – Indonesia phát triển lâu bền. Các thế hệ đi sau tiếp tục xây dựng, vun đắp, với kết quả là việc đôi bên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2013.
Nhân dịp 25 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trò chuyện với Ngài Ibnu Hadi, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Indonesia tại Việt Nam, để thấy được bạn bè nhìn nhận về chúng ta ra sao sau quá trình hội nhập khu vực.
Đại sứ Indonesia tại Việt Nam Ibnu Hadi.
Theo quan điểm của ông, những đóng góp quan trọng nhất của Việt Nam cho cộng đồng ASEAN là gì?
Đại sứ Ibnu Hadi: Trước tiên, chúc mừng Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 25 năm các bạn gia nhập ASEAN. Trong 25 năm qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều hoạt động và đóng góp mà Việt Nam đã thực hiện.
Tôi cho rằng chúng ta có thể tổng kết các đóng góp ấy trong những lần Việt Nam ngồi ghế Chủ tịch ASEAN, với lần đầu vào năm 1998, lần thứ hai vào năm 2010 và mới nhất làtrong năm nay.
Năm 1998, Việt Nam đã đóng góp rất nhiều để có thể tạo ra sự đồng thuận trong việc hiện thực hóa Tầm nhìn ASEAN 2020. Về Tầm nhìn ASEAN 2020, chúng tôi đặt mục tiêu ASEAN với tư cách một tổ chức sẽ có quan điểm hướng ngoại, cùng nhau chung sống hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Tôi đánh giá đó là một nền tảng vững chắc mà Việt Nam đã đóng góp xây dựng trong vai trò Chủ tịch.
Năm 2010, chúng ta thiết lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADM+). Trước đó chúng ta chỉ có hội nghị bộ trưởng quốc phòng của các nước ASEAN. Nhưng từ năm 2010 chúng ta đã đồng ý mở rộng quy mô hội nghị thành ADM+, bao gồm các bạn bè chiến lược, đối tác chiến lược như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Australia, Ấn Độ và một số đối tác khác.
Năm nay, 2020, là thời điểm rất đáng chú ý, một năm nhiều thách thức vì COVID-19, nhưng một lần nữa Việt Nam cho thế giới và cho chúng tôi thấy rằng các bạn đã xử lý dịch thành công. Nhờ thế mà chúng ta có thể thực hiện một cuộc trò chuyện như thế này mà không cần đeo khẩu trang, không cần giữ khoảng cách an toàn. Tất cả là nhờ chính quyền Việt Nam.
Năm nay ASEAN vẫn đạt được tiến triển, dù rằng phần lớn các cuộc họp phải tiến hành trên không gian mạng. Cuộc họp gần đây diễn ra vào cuối tháng 6 cũng diễn ra trực tuyến và đã đạt được tiến triển theo hướng xây dựng một cộng đồng gắn kết và chủ động thích ứng, cũng phù hợp với chủ đề của các bạn.
Vì thế, tôi tin Việt Nam đã đóng góp rất nhiều cho ASEAN. Chúng tôi rất mong chờ hội nghị tiếp theo, sẽ diễn ra vào tháng 11, và rất hy vọng sẽ có những thành tựu mới, không chỉ trong lĩnh vực chính trị và an ninhmà còn trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội, văn hóa và mối quan hệ giữa con người với con người.
Sau khi kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Indonesia, nhà Ngoại giao Hoàng Anh Tuấn đã đảm nhiệm vai trò Phó Tổng thư ký Thường trực ASEAN. Trong ảnh: Đại sứ Hoàng Anh Tuấn trao quà tặng cho Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, bà Retno Marsudi thời điểm tháng 1/2018. (Ảnh: Trần Chiến/Vietnam+)
Ông có thể tổng kết về mối quan hệ giữa Việt Nam và Indonesia trong cộng đồng ASEAN suốt 25 năm qua? Chúng ta đã làm những gì cũng nhau để mang tới lợi ích cho cộng đồng ASEAN và sự hợp tác song phương trong tương lai sẽ như thế nào?
Trong mối quan hệ song phương, Indonesia và Việt Nam là các hàng xóm tốt. Chúng ta đã thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2013, bao gồm hợp tác chính trị và an ninh, kinh tế và kinh doanh, xã hội và văn hóa.
Ở cả ba cột trụ hợp tác này, chúng ta đã đạt được nhiều tiến triển, ví dụ như thương mại song phương, chúng ta đã đạt được mức hơn 9 tỷ USD. Khi tôi mới tới đây vào năm 2016, thương mại song phương chỉ là 5,6 tỷ USD, vì thế đã có sự tăng trưởng mạnh trong 4 năm qua nhờ mối quan hệ đối tác chiến lược.
Và không chỉ trong quan hệ kinh tế, trên mặt quan hệ chính trị và an ninh, chúng ta cũng có cơ chế để thường xuyên đối thoại về vấn đề quốc phòng. Chúng ta có sự tham vấn song phương diễn ra thường xuyên giữa ngoại trưởng hai nước, sau mỗi 2 năm.
Trong mối quan hệ hợp tác văn hóa xã hội song phương, chúng tôi muốn nâng cao quan hệ giữa con người với con người, sự kết nối trực tiếp, đặc biệt là các chuyến bay thẳng song phương. Trong 2-3 năm gần đây hai bên đã thành công trong việc thiết lập thêm nhiều chuyến bay thẳng. Trước kia chúng ta chỉ có 1 chuyến bay thẳng, nay đã có 3 chuyến bay thẳng nối Indonesia và Việt Nam. Hai bên đã có kế hoạch tổ chức thêm nhiều chuyến bay thẳng, nhưng không may điều này đã bị ảnh hưởng vì dịch COVID-19.
Tất cả những sự phát triển tích cực trong quan hệ song phương đã có đóng góp trực tiếp và gián tiếp tới sự thịnh vượng và giúp tăng vị thế của Indonesia trong cộng đồng ASEAN.
So sánh quy mô hai nền kinh tế của Việt Nam và Indonesia từ 2012 tới 2019. (Số liệu: Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO), Tổng cục thống kê Indonesia (BPS))
Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ giữa Việt Nam và Indonesia. Chúng ta nên làm gì để tăng cường quan hệ song phương, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế?
Trước tiên chúng tôi thực sự rất ấn tượng và rất vui khi chứng kiến Việt Nam phát triển kinh tế rất nhanh.
Trong những năm qua các bạn thường xuyên đạt mức tăng trưởng từ 6-7%. Năm ngoái mức tăng trưởng là 7%, nhưng năm nay do dịch COVID-19 hy vọng các bạn có thể đạt được mức 5%. Đó sẽ vẫn là một mức tăng trưởng rất lớn, rất nhiều cơ hội sẽ được tạo ra nhờ sự tăng trưởng này.
Tôi có thể thấy trước rằng quan hệ song phương giữa Indonesia và Việt Nam sẽ phát triển, thậm chí còn lớn và mạnh hơn trước đây, bất chấp dịch COVID-19.
Tôi tin rằng kinh tế số – tất cả các hoạt động làm ăn dựa trên nền tảng kỹ thuật số, trực tuyến – sẽ tăng trưởng mạnh, đặc biệt là trong thời dịch COVID-19. Indonesia hiện đã có vài doanh nghiệp số hoạt động tại Việt Nam như Traveloka hay GoViet, công ty địa phương của Gojek. Chúng tôi cũng có vài công ty trong ngành Công nghệ thông tin ở đây.
Vì thế tôi tin khi chúng ta tiến lên cùng nhau, kinh tế số sẽ đóng vai trò lớn hơn nhiều và Đại sứ quán Indonesia có trách nhiệm xúc tiến và khuyến khích thêm nhiều hoạt động kinh tế giữa hai quốc gia.
Cuộc họp lần thứ 23 nhằm chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 và các cuộc họp cấp bộ trưởng.
Hiện nay Trung Quốc và Mỹ đang xảy ra thương chiến. Có những ý kiến cho rằng dòng vốn đầu tư sẽ chảy khỏi Trung Quốc vào Việt Nam và Indonesia, biến hai nước thành đối thủ cạnh tranh. Ông nghĩ sao về điều này?
Có thể trên một số khía chúng ta sẽ cạnh tranh, nhưng trên các khía cạnh khác, chúng ta sẽ bổ trợ cho nhau. Ví dụ Indonesia đang có các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam và các bạn đã thiết lập được nhiều thỏa thuận thương mại tự do (FTA), gần đây nhất là hiệp định EVFTA với Liên minh châu Âu. Chúng tôi có thể hưởng lợi từ các thỏa thuận như thế, nên các bên sẽ cùng có lợi.
Về chuyện chuyển dòng vốn, tôi nghĩ rằng đây chỉ là vấn đề logic trong tính toán kinh doanh. Ở Trung Quốc, cuộc thương chiến và tình hình hiện nay (dịch bệnh-PV) khiến chi phí sản xuất tăng lên, lương của người lao động cũng tăng lên, vì thế các công ty sẽ phải suy nghĩ tính toán xem họ muốn mở rộng hoạt động ở Trung Quốc hay quốc gia khác.
“Thương mại song phương đã đạt được mức hơn 9 tỷ USD. Khi tôi mới tới đây vào năm 2016, thương mại song phương mới chỉ là 5,6 tỷ USD” – Đại sứ Ibnu Hadi
Một số sẽ chọn việc di chuyển và lựa chọn thay thế mang tính logic dĩ nhiên là các khu vực nằm cách không quá xa Trung Quốc. Ở đây là các nước ASEAN.
Việt Nam có lợi thế chiến lược vì các bạn nằm gần hơn Trung Quốc, đặc biệt là khu vực miền Nam Trung Quốc. Vì thế nếu một số doanh nghiệp ở phía Nam Trung Quốc muốn di chuyển xuống Việt Nam thì cũng hợp lý, bởi khoảng cách địa lý.
Nhưng có thể trong một số tình huống, do tính chất của hoạt động kinh doanh, vị trí không phải yếu tố mang tính quyết định, ví dụ doanh nghiệp thấy thị trường nội địa quan trọng hơn, có thể họ sẽ chuyển tới Indonesia, bởi chúng tôi có 267 triệu dân.
Vì thế, còn tùy tình hình và phụ thuộc vào việc doanh nghiệp kinh doanh gì. Nhưng cơ bản tôi nghĩ chúng ta sẽ bổ trợ cho nhau và điều này cũng đồng nhất với mục tiêu của ASEAN, rằng khối sẽ trở thành một trung tâm sản xuất phục vụ cho các hoạt động đầu tư FDI.
Ông có gợi ý, đề xuất gì về sự hợp tác trong ASEAN để xây dựng một cộng đồng gắn kết và chủ động thích ứng?
Tôi nghĩ chủ đề cộng đồng gắn kết và chủ động thích ứng rất có liên quan trong giai đoạn hiện nay.
Việc xây dựng ASEAN như một cộng đồng thành công, một cộng đồng gắn kết và chủ động thích ứng không chỉ nằm trong mối quan hệ giữa các chính phủ mà quan trọng hơn là trong mối quan hệ cá nhân với cá nhân, sự liên hệ giữa con người với con người.
Cán cân thương mại song phương Việt Nam-Indonesia trong 3 năm gần đây (Số liệu: Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO), Tổng cục thống kê Indonesia (BPS))
Chúng ta cần phải khuyến khích, thúc đẩy hơn nữa các bên liên quan trong ASEAN phải có thêm nhiều quan hệ trực tiếp, sự kết nối trực tiếp như vậy.
Cá nhân tôi, với tư cách Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Indonesia ở Việt Nam, thực sự muốn thúc đẩy, khuyến khích hơn nữa người Indonesia tới Việt Nam, không chỉ để làm ăn, không chỉ để du lịch mà còn có thể hợp tác trong lĩnh vực giáo dục. Ở chiều ngược lại, người Việt sẽ tới Indonesia nhiều hơn để làm ăn, du lịch và tham gia các hoạt động hợp tác khác.
Chúng tôi rất vui vì có mặt ở đây và hiện đang xúc tiến dạy ngôn ngữ Indonesia trên quy mô nhỏ. Chúng tôi đã triển khai từ tháng 10/2018 và chương trình đã chạy được hơn 1 năm. Chúng tôi hợp tác với một số đại học ở Hà Nội và TP HCM. Bản thân đại sứ quán cũng tổ chức một số khóa học. Tôi cho đây chỉ là một phần nhỏ của nỗ lực khuyến khích thêm nhiều hoạt động giao tiếp giữa người với người. Chúng tôi thực sự rất vui vì phản ứng nhận được cơ bản là tích cực.
Hơn một nửa lượng điện năng của Thụy Điển đến từ các nguồn tái tạo. Đất nước Thụy Điển đang trên đà loại bỏ nhiên liệu hóa thạch và hướng đến sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo vào năm 2040. Hạn chế khí thải carbon một phần chính sách của Thụy Điển nhằm vừa giảm phát thải, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ở Việt Nam, việc chuyển đổi và phát triển năng lượng tái tạo đã có những bước tiến lớn, đáng khích lệ. Trong khi năng lượng tái tạo đang nhanh chóng trở thành giải pháp thay thế hiệu quả nhất về chi phí thì việc phát triển lưới điện thông minh, tiết kiệm năng lượng và hệ thống lưu trữ năng lượng càng trở nên quan trọng. Đây là thách thức ở cả Việt Nam và Thụy Điển.
Ngay trước thềm Diễn đàn Cấp cao về năng lượng Việt Nam năm 2020, lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 22/7 tại Hà Nội, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Ann Måwe đã có bài viết dành riêng cho VietnamPlus về hành trình sử dụng năng lượng tái tạo của Thụy Điển và các lĩnh vực tiềm năng hai nước có thể hợp tác.
Sau đây là nội dung chính của bài viết “Điện năng cho một tương lai xanh và bền vững.”
Tôi sinh ra ở phía Bắc của Thụy Điển và lớn lên ở thành phố ven biển Luleå, cách Vòng Bắc Cực 192km. Thành phố có 77.000 cư dân. Khi quá trình công nghiệp hóa bắt đầu, đã có các nhà máy thép, quặng sắt, bột giấy và giấy được xây dựng quanh khu vực này.
Trong thế kỷ 20, nền công nghiệp Thụy Điển đã phát triển từ các ngành truyền thống có giá trị gia tăng thấp, như chế biến gỗ và quặng sắt, đến các ngành công nghiệp hiện đại với trình độ kỹ thuật cao như công nghệ, ôtô và kỹ thuật chính xác. (Ảnh: Guillaume de Basly/Imagebank.sweden.se)
Cho đến nay, những hoạt động công nghiệp đang giảm dần – mặc dù còn một nhà máy thép Luleå vẫn hoạt động. Nhà máy thép có tham vọng trở thành nơi đầu tiên trên thế giới sử dụng khí hydro làm từ điện tái tạo thay vì phụ thuộc vào carbon. Nếu thành công, điều đó sẽ tạo ra một cuộc cách mạng vì ngành thép vốn là nguồn phát thải carbon tệ nhất trong tất cả các ngành.
Một ví dụ khác về những gì đang xảy ra ở Luleå là sự xuất hiện trung tâm dữ liệu của Facebook. Khi gã khổng lồ công nghệ toàn cầu cần tìm nơi lắp đặt hệ thống máy chủ tại châu Âu, Luleå đã được xác định là địa điểm hoàn hảo.
Năm 2013, trung tâm dữ liệu Facebook với tổng diện tích 27.000m2 chính thức ra mắt ở Luleå, trở thành cơ sở dữ liệu đầu tiên của Facebook bên ngoài Hoa Kỳ. Trung tâm này có chiều rộng 300 mét, dài 100 mét, và để dễ hình dung, nó có kích thước tương đương bốn sân bóng đá.
Thành phố Luleå ở phía bắc Thụy Điển được lựa chọn để đặt trung tâm dữ liệu của Facebook tại châu Âu. Ngoài cơ sở hạ tầng điện ổn định, khu vực này cung cấp giá điện từ thủy điện với chi phí thấp.(Nguồn: Sharingsweden.se)
Theo Facebook, Luleå là cơ sở tiết kiệm năng lượng nhất, mang tính bền vững nhất từng được xây dựng. Sự hiện diện của trung tâm dữ liệu xanh Facebook đã góp phần tạo ra việc làm mới, thu hút nhiều doanh nghiệp nước ngoài và nâng cao hình ảnh của của Luleå như một thành phố xanh hấp dẫn các nhà đầu tư.
Tiêu thụ năng lượng cao không có nghĩa là phát thải carbon cao
Câu chuyện Luleå chỉ là một ví dụ về những gì đã xảy ra ở Thụy Điển trong nhiều năm. Đất nước Thụy Điển có mục tiêu trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới đoạn tuyệt với năng lượng hóa thạch. Với công nghệ tiên tiến, sự đa dạng của các nguồn tự nhiên và tỷ lệ năng lượng tái tạo cao, Thụy Điển đã thể hiện quyết tâm bằng các hành động cụ thể khi chuyển dịch sang hệ thống năng lượng bền vững hơn.
Còn nhớ, cho đến đầu những năm 1970, Thụy Điển vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ để tạo ra năng lượng. Khi đó, khoảng 75% năng lượng đến từ dầu. Sau cuộc khủng hoảng dẫn đến cú sốc giá dầu năm 1973, Thụy Điển đã bắt tay đầu tư, tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế.
Thủy điện từ lâu đã trở thành nguồn năng lượng quan trọng ở Thụy Điển. Trong quá trình tìm kiếm nhiên liệu không hóa thạch, gần một nửa lượng điện năng của Thụy Điển là từ thủy điện. (Ảnh: Niclas Albinsson/Folio/Imagebank.sweden.se)
Đến năm 2020, tỷ lệ tái chế rác thải của Thụy Điển lên tới 99% và lượng khí thải carbon tính trên đầu người là thấp nhất trong số các nước phát triển. Thụy Điển xếp hạng số 1 trên toàn cầu về Chỉ số Chuyển đổi năng lượng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) trong ba năm liên tục (2018-2020). Điều này có nghĩa là Thụy Điển là quốc gia tiên phong chuyển đổi sang một hệ thống năng lượng an toàn, bền vững, với giá cả phải chăng cho tương lai.
Năng lượng tái tạo chiếm tỷ lệ lớn
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), người Thụy Điển trung bình thải ra 4,25 tấn carbon dioxide (CO2) mỗi năm vào khí quyển, so với mức trung bình 6,91 tấn của EU và mức trung bình 16,15 tấn của Hoa Kỳ. Sự khác biệt chính là do phần lớn điện năng của Thụy Điển đến từ thủy điện, điện hạt nhân và điện gió. Điện gió đang phát triển nhanh chóng.
Công bằng mà nói phát thải của Thụy Điển từ các sản phẩm nhập khẩu đang tăng lên. Nguyên nhân là do nhiều công ty Thụy Điển sản xuất hàng hóa ở nước ngoài, sau đó được tiêu thụ ở Thụy Điển. Và vì thế, vấn đề cắt giảm lượng khí thải carbon và đầu tư vào năng lượng tái tạo thực sự là một vấn đề quốc tế.
Chất thải sinh học – như chất thải thực phẩm – có thể được sử dụng để sản xuất khí sinh học, làm nhiên liệu và để sưởi ấm hoặc sản xuất điện. Thụy Điển là quốc gia hàng đầu về biến chất thải được thu gom trở thành năng lượng. (Ảnh: Ulf Grünbaum/Imagebank.sweden.se)
Thụy Điển đã triển khai chứng chỉ xanh vào năm 2003 để thúc đẩy năng lượng tái tạo. Để đủ điều kiện tham gia, điện phải đến từ các nguồn như gió, Mặt Trời, địa nhiệt, sóng, nhiên liệu sinh học hoặc đến từ nhà máy thủy điện quy mô nhỏ. Cùng với đó, chính phủ yêu cầu các nhà bán lẻ điện phải mua một tỷ lệ điện xanh như một phần của nguồn cung thông thường, bên cạnh việc các nhà sản xuất điện nhận được chứng chỉ đầu tư xanh cho danh mục họ tham gia.
Về mặt xu hướng, năng lượng gió là nguồn tái tạo phát triển nhanh nhất trên toàn thế giới trong những năm gần đây và với Thụy Điển, công suất điện gió cũng đang mở rộng. Kể từ năm 2000, sản xuất của Thụy Điển đã tăng từ 0,5 đến 17,5 TWh điện mỗi năm. Ngày nay, có khoảng 3.600 tuabin gió đang hoạt động trên khắp đất nước. Các tuabin lớn hơn, công suất cao hơn đang được tiếp tục cải tiến và lắp đặt.
Bảo tồn năng lượng trong công nghiệp
Năm 2005, Thụy Điển đã đưa ra một chương trình 5 năm được thiết kế để tăng hiệu quả năng lượng trong công nghiệp. Với chương trình này, 180 ngành và lĩnh vực công nghiệp sử dụng nhiều điện năng khi tham gia được giảm thuế khi họ lập kế hoạch và thực hiện các bước cụ thể để giảm thiểu sử dụng năng lượng trong doanh nghiệp.
Chương trình, khi kết thúc vào năm 2009, đã mang lại khoản tiết kiệm năng lượng lên đến 1,45 TWh mỗi năm, tương đương 59,4 triệu USD. Hiện nay, chương trình được tái khởi động, với sự tham gia của khoảng 90 ngành và lĩnh vực công nghiệp, chiếm 1/5 tổng mức tiêu thụ điện của cả nước.
Năng lượng tái tạo phục vụ hệ thống giao thông xanh, sạch
Hệ thống giao thông công cộng tốt là một điều kiện kiên quyết cho bất kỳ thành phố thông minh nào. Ở Thụy Điển, mục tiêu biến giao thông công cộng trở thành sự lựa chọn hàng đầu đã nằm trong chương trình nghị sự trong nhiều thập kỷ.
Tại Gothenburg – thành phố lớn thứ hai của Thụy Điển, dự án ElectriCity đang được tiến hành là kết quả hợp tác giữa nhà nước, nhà khoa học và các doanh nghiệp. Thông qua dự án này, xe buýt điện Volvo được cung cấp cho hệ thống giao thông thành phố và chạy hoàn toàn bằng năng lượng gió và điện năng từ thủy điện. Nếu so sánh, những chiếc xe buýt điện vận hành có hiệu suất năng lượng hiệu quả hơn 80% so với xe buýt diesel. Sáng kiến ElectriCity đã được trao tặng Giải thưởng Năng lượng Mặt Trời châu Âu 2015.
Chiếc xe buýt này chạy bằng khí mêtan, bên cạnh những chiếc xe chạy bằng điện đang được đưa ra thị trường. (Ảnh/: Ulf Grünbaum/Imagebank.sweden.se)
Để có những phương tiện sạch hơn, Liên minh châu Âu đã ra đặt mục tiêu 10% nhiên liệu trong giao thông phải đến từ các nguồn tái tạo vào năm 2020. Mục tiêu của Thụy Điển là hoàn toàn không sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong giao thông vào năm 2030. Cho đến nay, những kết quả có được một phần nhờ việc chuyển đổi sử dụng khí ethanol.
Gần đây, đã có một số sáng kiến của chính phủ để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi, bao gồm điều luật yêu cầu các trạm xăng lớn cung cấp ít nhất một loại nhiên liệu thay thế và miễn thuế cho các phương tiện thải ra mức CO2 thấp. Mới nhất là việc đưa xe điện vào thị trường. Song song với đó, các khoản đầu tư quan trọng đang được thực hiện cho hệ thống đường sắt quốc gia.
Tiềm năng lớn về hợp tác năng lượng giữa Thụy Điển và Việt Nam
Thụy Điển và Việt Nam có lịch sử hợp tác lâu dài trong lĩnh vực năng lượng, trước đây tập trung vào thủy điện. Ngày nay, sự hợp tác đã mở rộng sang các giải pháp năng lượng thông minh như hệ thống truyền tải không phát thải, ứng dụng triển khai 4G/5G trong lưới điện, các chương trình xử lý biến chất thải thành năng lượng, cũng như hệ thống dự trữ năng lượng để hỗ trợ các nỗ lực tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo của Việt Nam, đặc biệt là năng lượng gió và Mặt Trời.
Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng chú ý trong việc phát triển năng lượng sạch và tái tạo
Việt Nam đã thành công trong việc hạn chế sự lây lan của dịch COVID-19 trong cộng đồng. Vì vậy, Việt Nam có tiềm năng giảm thiểu các tác động kinh tế của COVID-19 thông qua việc xây dựng thành công hơn, bền vững hơn.
Tôi tin rằng Việt Nam có thể là quốc gia tiên phong trong khu vực để minh chứng sự phục hồi xanh, toàn diện, có khả năng chống chịu, dựa trên các nguyên tắc của Thỏa thuận Paris và các mục tiêu phát triển bền vững. Điều đó không chỉ có lợi cho con người và khí hậu mà còn mang lại các cơ hội kinh doanh tốt.
Đại sứ Thụy Điển phát biểu khai mạc tại hội thảo về triển vọng hợp tác Việt Nam-Thụy Điển trong lĩnh vực năng lượng 6/2020. (Nguồn: Đại sứ quán Thụy Điện tại Việt Nam)
Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường. Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao đòi hỏi các quyết định quan trọng trong lộ trình phát triển đất nước. Năng lượng tái tạo đang ngày càng cạnh tranh về chi phí, do đó, có tiềm năng lớn để đáp ứng nhu cầu năng lượng gia tăng của đất nước.
Tôi hiểu rằng phát triển năng lượng xanh đã trở thành một định hướng chính sách lớn ở Việt Nam. Trong một khoảng thời gian ngắn và mặc dù là lĩnh vực khá mới mẻ, Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng chú ý trong việc phát triển năng lượng sạch và tái tạo.
Năm 2019 và những tháng đầu năm 2020, chúng ta đã chứng kiến những khoản đầu tư lớn vào năng lượng Mặt Trời và gió với hơn 4,5 Gigawatt năng lượng Mặt Trời được kết nối với lưới điện quốc gia. Trong thời gian tới, sẽ có thêm nhiều dự án năng lượng tái tạo được triển khai, đặc biệt là các dự án gió gần bờ và ngoài khơi. Sự thay đổi này cũng sẽ cho phép Việt Nam đưa ra mức đóng góp do quốc gia tự quyết (NDC) tham vọng hơn trước thềm hội nghị thượng đỉnh COP26 năm 2021.
Mặc dù vẫn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn trong tổng sản lượng điện nhưng năng lượng Mặt Trời sẽ góp phần vào giúp Thụy Điển đạt được mục tiêu không phát thải khí nhà kính vào 2050. (Ảnh: Sofia Sabel/imagebank.sweden.se)
Hiện tại, chỉ có ba nhà máy xử lý biến chất thải thành năng lượng ở Việt Nam ký PPA (Thỏa thuận mua bán điện) với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tạo ra lượng năng lượng khá hạn chế từ chất thải. Điều này trái ngược với tiềm năng rất lớn biến chất thải thành năng lượng ở Việt Nam. Đánh giá sơ bộ cho thấy năng lượng tiềm năng trong năm 2020 cao gấp 25 lần so với công suất hiện tại.
Chúng tôi nhận thấy sự tương đồng và khả năng hỗ trợ lẫn nhau giữa Việt Nam và Thụy Điển trong nhiều lĩnh vực và mong muốn tìm kiếm thêm các cơ hội hợp tác. Có rất nhiều công ty Thụy Điển hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, không chỉ ở Việt Nam, mà còn trên bình diện toàn cầu như ABB, Ericsson, Hexicon và Linxon. Đây là những đơn vị cung cấp các giải pháp đổi mới sáng tạo về công nghệ.
Ngoài ra, Thụy Điển có thể cung cấp các gói tài chính ưu đãi thông qua Cơ quan tín dụng xuất khẩu Thụy Điển (SEK), Ủy ban bảo lãnh tín dụng xuất khẩu quốc gia (EKN) và Tổ chức tài chính phát triển Thụy Điển (Swedfund). Các cơ quan này đã và đang tiếp tục trao đổi, thảo luận với các đối tác Việt Nam về các định hướng hợp tác như nâng cấp mạng truyền tải, triển khai 4G/5G cũng như tăng khả năng lưu trữ năng lượng nhằm gia tăng cấu phần năng lượng tái tạo trong bức tranh chung về năng lượng.
Phục hồi sau COVID-19 và hướng đến quá trình chuyển đổi năng lượng bền vững là chìa khóa để thúc đẩy tính cạnh tranh và sức hấp dẫn của Việt Nam – điểm đến đầu tư chất lượng cho các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời góp phần vào nỗ lực chung toàn cầu nhằm chống biến đổi khí hậu./.
Chạy bằng năng lượng sạch, hệ thống đường sắt quốc nội của Thụy Điển là một trong những hệ thống thân thiện với môi trường nhất trên thế giới. (Ảnh: Fredrik Schlyter/Imagebank.sweden.se)
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập vào ngày 28/11/1996, theo Nghị định số 75/1996/NÐ-CP của Chính phủ và Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định thành lập vào ngày 11/7/1998.
Tuy nhiên phải hai năm sau đó, Trung tâm Giao dịch chứng khoán đầu tiên của Việt Nam mới chính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, ngày 28/7/2000, với hai mã cổ phiếu đồng thời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Để rồi Trung tâm GDCK Hà Nội (HASTC) mà bây giờ là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) được ra mắt vào tháng 3/2005 đã góp phần từng bước hình thành và xây dựng một thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam.
Trải qua một chặng đường lịch sử 20 năm thăng trầm với những thành công và có cả thất bại, nhưng có thể khẳng định rằng thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng ổn định, đi vào chiều sâu và phát huy tối đa vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia.
Kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế
Hạnh Nguyễn
Nhận định về 20 năm hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, Bộ trưởng Bộ tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định đây là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, góp phần hoàn thiện cấu trúc thị trường tài chính và nền kinh tế thị trường.
“Hoạt động của thị trường chứng khoán đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và phát triển kinh tế của đất nước theo cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa thị trường vốn và thị trường tín dụng ngân hàng,” ông Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.
Bộ trưởng Bộ tài chính Đinh Tiến Dũng (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Điểm tựa để cân bằng hệ thống tài chính
Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Trần Văn Dũng cho biết vào năm 2000, hầu hết vốn các doanh nghiệp phải vay vốn từ hệ thống ngân hàng, điều này dẫn tới dư nợ tín dụng lên đến 40% GDP. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán xuất hiện, từ số vốn huy động chiếm tỷ trọng nhỏ, chiếm khoảng 40.000 tỷ đồng cho nền kinh tế (năm 2006), đã nhanh chóng tăng lên 320.000 tỷ đồng (năm 2019).
Người đứng đầu ngành chứng khoán nhìn nhận điểm rõ nét trong 20 năm qua, với mức tăng trưởng bình quân hơn 50%/năm, vốn hóa thị trường chứng khoán đã đạt mức 5,5 triệu tỷ đồng và tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP tăng từ mức 0,3% (năm 2000) lên 104% GDP, tại thời điểm tháng 6/2020.
Theo Tiến sỹ Cấn Văn Lực-chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính-Tiền tệ Quốc gia, ngay trong bối cảnh khó khăn do đại dịch COVID-19, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế qua thị trường chứng khoán vẫn ghi nhận mức 107.000 tỷ đồng trong 6 tháng và ước tính tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm được thực hiện qua kênh này bình quân 16,5%/năm (giai đoạn 2016-2019).
Thị trường chứng khoán là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, góp phần hoàn thiện cấu trúc thị trường tài chính và nền kinh tế thị trường.
Đến nay, đã có hơn 1.600 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch cùng nhiều doanh nghiệp huy động được nguồn vốn lớn trên thị trường chứng khoán cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tạo dựng hình ảnh, uy tín trên thương trường. Chính phủ cũng huy động được nguồn vốn lớn thông qua việc phát hành các loại trái phiếu cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội.
Nhờ sự lớn mạnh của thị trường chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng huy động được lượng vốn lớn thông qua phát hành cổ phiếu, đáp ứng yêu cầu bức thiết trong việc tăng vốn điều lệ. Cụ thể, từ 2005 đến nay, thông qua kênh dẫn vốn này, các ngân hàng đại chúng đã huy động được hơn 252.000 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu, giúp hệ thống ngân hàng thương mại tăng tổng vốn điều lệ từ 20.600 tỷ đồng lên khoảng 272.000 tỷ đồng. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán còn gián tiếp hỗ trợ cung vốn cho nền kinh tế trong giai đoạn nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại bị hạn chế do quá trình tái cấu trúc các tổ chức.
“Thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ đã giúp cơ cấu lại hệ thống tài chính Việt Nam theo hướng cân đối và bền vững hơn. Ước tính, tỷ trọng vốn hóa khu vực chứng khoán trong tổng tài sản hệ thống tài chính hiện nay ở mức khoảng 30,6%, không cách quá xa so với mức 68,7% của khu vực các tổ chức tín dụng và cao hơn nhiều so với tỷ trọng 21% vào năm 2010,” ông Trần Văn Dũng khẳng định.
Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Trần Văn Dũng (Ảnh: Vietnam+)
Tạo động lực cho khu vực kinh tế tư nhân
Trên thị trường tiền tệ, những năm gần đây tăng trưởng tín dụng tại khối ngân hàng thương mại bắt đầu giảm và dần tập trung vào cấp vốn ngắn hạn. Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán đã nổi bật lên với vai trò cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.
“Điều quan trọng là thị trường chứng khoán đã phát huy hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa đã phát triển rất tốt,” ông Trần Văn Dũng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, nhìn nhận.
Dẫn chứng, ông Dũng cho hay Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), trước cổ phần hóa giá trị tài sản của Nhà nước khoảng 100 triệu USD nhưng sau khi cổ phần hóa, giá trị vốn hóa của Nhà nước mặc dù chỉ còn lại một phần song vẫn đạt hàng tỷ USD, lớn hơn rất nhiều con số trước đây. Tuy nhiên, điều đáng nói là sự đóng góp của một doanh nghiệp như Vinamilk cho xã hội đã vượt lên trên các con số đơn thuần… Hay những doanh nghiệp tư nhân khác, như tập đoàn Vingroup, thời kỳ đầu những người lãnh đạo của tập đoàn đưa vốn về nước không phải là lớn, song đến nay, thông qua thị trường chứng khoán, Vingroup đã huy động hàng tỷ USD mỗi năm.
Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp vào tăng trưởng GDP của đất nước là lớn nhất, chiếm khoảng 43% và dự kiến sẽ trở thành động lực chính trong thời gian tới.
Theo người đứng đầu ngành chứng khoán, vai trò của doanh nghiệp tư nhân đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước đang lớn lên rất nhiều. Điểm lại cách đây khoảng chục năm, Việt Nam chỉ có một doanh nghiệp 1 tỷ USD thì bây giờ đã có đến 27 doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp đều phát huy tốt trong nền kinh tế. Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp vào tăng trưởng GDP của đất nước là lớn nhất, chiếm khoảng 43% và dự kiến sẽ trở thành động lực chính trong thời gian tới.
Đặc biệt, trong khu vực kinh tế tư nhân, khối doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán giữ vai trò đầu tàu.
Về định hướng phát triển thị trường trong thời gian tới, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ trở thành một thị trường chứng khoán hiện đại, với đa dạng các loại sản phẩm dịch vụ ngang tầm với khu vực và thế giới. Mục tiêu của ngành là phấn đấu đưa thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một trong những trung tâm tài chính của khu vực Đông Nam Á và châu Á.
“Thời gian tới, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo chiều sâu, bền vững và phát huy tối đa vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Luật Chứng khoán mới sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2021 cùng với việc thành lập Sở giao dịch Chứng khoán Việt Nam và hệ thống công nghệ thông tin mới hiện đại là những điều kiện nền tảng đã được chuẩn bị tốt cho một giai đoạn mới phát triển về chất, đa dạng về sản phẩm và đưa nước ta trở thành một trong những trung tâm tài chính của khu vực,” vị tự lệnh ngành phát biểu./.
Tọa đàm “Tầm quan trọng của đào tạo kiến thức tài chính cho nhà đầu tư,” tại HoSE.. Ảnh: Hứa Chung/ TTXVN
Tạo ra ‘sự sống’
với các khái niệm về thị trường chứng khoán
Hạnh Nguyễn
“Việc cho ra đời thị trường chứng khoán đã tạo ra một khái niệm, một phạm trù mà trước đây Việt Nam chưa từng có. Tạo ra những cái mà mình chưa có kinh nghiệm là rất khó, dĩ nhiên ngoài việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đã có thị trường chứng khoán thì vẫn phải triển khai sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. ‘Việc đi từ số 0 đến có’-có thể được gọi là việc tạo ra ‘sự sống’ với các khái niệm về thị trường chứng khoán.”
Ông Dominic Scriven, Chủ tịch Công ty Quản lý Quỹ Dragon Capital chia sẻ với báo chí về chặng đường 20 ngành quỹ đi cùng thị trường chứng khoán Việt Nam.
– Là thành viên nước ngoài đầu tiên đến với thị trường chứng khoán Việt Nam, ông có cảm nhận như thế nào sau hai thập kỷ đồng hành cùng thị trường?
Ông Dominic Scriven, Chủ tịch Công ty Quản lý Quỹ Dragon Capital
Ông Dominic Scriven: Công ty Quản lý quỹ Dragon Capital (DC) được thành lập từ năm 1994, trước khi thị trường chứng khoán Việt Nam khai trương 6 năm và có thể nói DC đã gắn bó cùng thị trường từ những ngày đầu mở cửa.
Lúc đó, thị trường rất nhỏ chỉ có 2 công ty niêm yết nhưng bây giờ phát triển với hơn 1.600 công ty, cùng một loạt các thị trường phái sinh trái phiếu, cổ phiếu, OTC (thị trường phi tập trung).
Tôi cho rằng Việt Nam đã làm khá thành công và vai trò của thị trường vốn được xác định là then chốt cho nền kinh tế cũng như ngành tài chính. Xuất phát điểm từ “số 0” tròn trĩnh, thị trường chứng khoán Việt Nam đã vượt qua bao thăng trầm để có được quy mô như hiện nay, đó là thành tựu vô cùng to lớn. Khi “sự sống” của thị trường chứng khoán được tạo ra thì các thành viên thị trường phải có trách nhiệm nuôi dưỡng và phát triển “sự sống” này. Phải có những khái niệm về xây dựng và phát triển thị trường cụ thể tăng chiều rộng, chiều sâu, phát triển về quy mô hoạt động và đặc biệt là vai trò của thị trường chứng khoán. Qua chặng đường hình thành và phát triển đầy ấn tượng, những người đặt nền móng, những người “lái tàu” cho thị trường hoàn toàn có thể tự hào về điều này.
Xuất phát điểm từ “số 0” tròn trĩnh, thị trường chứng khoán Việt Nam đã vượt qua bao thăng trầm để có được quy mô như hiện nay, đó là thành tựu vô cùng to lớn.
Nhìn về nền tài chính của Việt Nam, hệ thống ngân hàng mặc dù là lâu đời nhất, “chuyên dùng” và được biết đến nhiều nhất song bên cạnh đó vẫn có thị trường vốn. So sánh quy mô thị trường vốn (trong đó có thị trường cổ phiếu, trái phiếu…) hiện không thấp hơn nhiều so với thị trường ngân hàng.
Trong 20 năm qua, thị trường vốn đã phát triển ngang bằng với quy mô của thị trường ngân hàng, cho nên vào thời điểm hiện nay không thể nói thị trường vốn là mới, là nhỏ. Thủ tướng Chính phủ đã có chủ trương về nhu cầu nguồn vốn phát triển trung, dài hạn của Nhà nước, của ngân sách, của các doanh nghiệp là phải tiếp cận tới thị trường vốn chứ không phải là một thị trường nào khác.
Vì vậy, vai trò, tiềm năng và tương lai phát triển của thị trường vốn là rất khả quan và có nhiệm vụ lớn. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội và cũng là vinh dự của thị trường vốn Việt Nam.
Quỹ Vietnam Enterprise Investments Limited là một trong những quỹ đầu tư lớn nhất Việt Nam, thuộc Dragon Capital tiến hành niêm yết trên sàn giao dịch chính của Sở giao Dịch Chứng khoán London. (Ảnh: Vietnam+)
– Ông đánh giá như thế nào về các công ty quản lý quỹ trên thị trường sau 20 năm qua?
Ông Dominic Scriven: Đối với sự phát triển của ngành thì quỹ đầu tư là một trong những chủ thế hoạt động trên thị trường chứng khoán từ thời kỳ đầu, là một trong những thành viên của thị trường gồm có doanh nghiệp niêm yết, phát hành trái phiếu, cổ phiếu; công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, có các Sở giao dịch chứng khoán, ngân hàng giám sát lưu ký… tất cả đều đã có mặt ngay từ thời kỳ đầu và cùng phát triển cho đến ngày hôm nay.
Tuy nhiên, có thời điểm các chủ thể này phát triển hơi quá mức, chẳng hạn như số lượng công ty chứng khoán vượt quá 100 công ty, công ty quản lý quỹ vượt quá 50 công ty. Song, qua từng thời kỳ phát triển rồi tái cấu trúc, một số thành viên thị trường yếu kém đã bị loại hoặc tự đào thải, trong khi đó một số thành viên khác ngày càng tăng trưởng ngày càng mạnh hơn.
Hiện nay có khoảng 10 công ty chứng khoán lớn trên thị trường, một số công ty quản lý quỹ và vài ba ngân hàng lưu ký tương đối mạnh. Nhưng, vấn đề cần phải lưu ý, mô của các công ty quản lý quỹ nói chung chưa phù hợp với yêu cầu.
Hay nói cách khác, nhìn vào hoạt động giao dịch chứng khoán hàng ngày, trên thị trường trái phiếu thì ngân hàng thương mại vẫn là thành phần tham gia chính, chiếm phần lớn giao dịch và vai trò của các quỹ hầu như là không có. Hay hoạt động giao dịch cổ phiếu thì các thành phần tham gia đầu tư kinh doanh chính gồm có chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư Việt Nam mà chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân (có cả cá nhân lớn) và thành phần này dựa nhiều vào tín dụng cầm cố. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài chiếm một phần nhất định nhưng chưa đáng kể.
Nhìn vào hoạt động giao dịch chứng khoán hàng ngày, trên thị trường trái phiếu thì ngân hàng thương mại vẫn là thành phần tham gia chính, chiếm phần lớn giao dịch và vai trò của các quỹ hầu như là không có.
Trong thời gian tới, nếu muốn có một thị trường đầy đủ các đối tượng tham gia, đặc biệt là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có chuyên môn, có quy mô thì không thể không có các các công ty quản lý quỹ. Và cần phải nhấn mạnh là các công ty quản lý quỹ của Việt Nam ở trong nước chứ không phải ở nước ngoài.
Những điều trên cho thấy mặc dù ngành quản lý quỹ cũng đã có bước tiến đáng kể nhưng để phát triển nhanh hơn nữa còn là một chặng đường rất dài ở phía trước với nhiều việc phải làm để các quỹ có thể tạo được nguồn vốn tin cậy, các hành động với trách nhiệm của cổ đông cần chuyên nghiệp hơn để tăng tính quản trị.
Một nền kinh tế phải có một mức phát triển nhất định thì người dân mới có nhu cầu để đầu tư vào các công cụ tài chính. (Ảnh: Vietnam+)
Do đó, tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư đối với công ty quản lý quỹ là một vấn đề cần ưu tiên. Các công ty quản lý quỹ đã làm việc và trao đổi nghiên cứu rất nhiều với các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia và các cán bộ của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhằm phát triển ngành trở thành một phần trong kế hoạch của các nhà đầu tư.
– Với tư các là một nhà đầu tư kỳ cựu tại thị trường Việt Nam, theo ông thì thời gian tới, các công ty quản lý quỹ cần có những bước chuy mình như thế nào để trở thành một trụ cột của thị trường?
Ông Dominic Scriven: Từ kinh nghiệm phát triển thị trường chứng khoán, chúng ta quay lại khái niệm từ “số 0 đến có” với ngành quỹ vì khái niệm mới, với người dân (nhà đầu tư) lấy tiền của mình gửi đến một công ty để tham gia hoạt động đầu tư chứng khoán còn tâm lý lo lắng. Vì vậy, điểm mấu chốt là phải có tính thuyết phục và theo tôi có hai nguyên nhân chính về cả khách quan và chủ quan.
Về khách quan, một nền kinh tế phải có một mức phát triển nhất định thì người dân mới có nhu cầu để đầu tư vào các công cụ tài chính. Bởi nếu mức phát triển vẫn thấp thì người dân còn phải lo cho những nhu cầu cấp bách hơn như ăn uống, nhà cửa… Trên thực tế, mức thu nhập trung bình của một người Việt Nam ở các địa phương khác nhau, do đó nền kinh tế cần phải phát triển đến một mức nào đó để họ thấy là tiền gửi ngân hàng là đủ, nhà ở là đủ… sau đó, tiền dư thừa sẽ cân nhắc đầu tư vào các công cụ tài chính khác.
Về nguyên nhân chủ quan, là một trong những thành viên tham gia trực tiếp trên thị trường chứng khoán, các công ty quản lý quỹ có nhiệm vụ chào bán những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư với các loại phí hợp lý. Đặc biệt, các công ty quản lý quỹ cần phải tạo được một bề dày kinh nghiệm, sự chuyên nghiệp và uy tín trong giới đầu tư. Điều này là không dễ, bởi nhà đầu tư sẽ đặt ra câu hỏi cho các công ty quản lý quỹ là đầu tư vào chứng khoán có được bảo toàn vốn và sinh lãi như ngân hàng không? Nhưng như chúng ta đã biết, đầu tư vào chứng khoán không đảm bảo an toàn vốn và họ cần thấy rõ phải tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư.
Vậy làm sao để nhà đầu tư hiểu được điều đó? Đây là một vấn đề thách thức, làm sao để giúp nhà đầu tư hiểu và nâng cao nhận thức phải tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động đầu tư của họ.
Ngoài ra, nội tại các quỹ cũng phải mạnh dạn trao đổi, giải thích, giải trình, thuyết phục, thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư để họ thấy đầu tư là phải xứng đáng. Hiện nay, một số công ty quản lý quỹ đã rất nỗ lực để làm được điều này và mặc dù còn gặp khó khăn nhưng có sự cạnh tranh như vậy là để cùng nhau xây dựng nên một thị trường phát triển.
Bên cạnh sự nỗ lực của các công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư, với Luật Chứng khoán mới vừa được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2021, các thành viên của thị trường mong muốn cơ quan quản lý sớm ban hành những Nghị định, Thông tư hướng dẫn để Luật sớm đi vào hoạt động. Đây là điều quan
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng hội đàm với Ngài Philip Hammond, Bộ trưởng Bộ Ngân khố Vương Quốc Anh trong khuôn khổ Hội nghị Xúc tiến đầu tư tài chính tại Anh Quốc. (Ảnh: SSC)
Vietnam has to date successfully treated all 16 cases of the acute respiratory disease caused by the new strain of SARS-CoV-2 virus (COVID-19).
Although there is no specific drug that kills the virus, Vietnam has developed an effective treatment plan for coronavirus patients Associate Professor Luong Ngoc Khue, head of the Department of Medical Examination and Treatment under the Ministry of Health and deputy head of the Treatment Sub-Committee at the National Steering Committee for COVID-19 Prevention and Control talks about the issue. Early treatment guidelinesWith efforts of doctors, all 16 patients have been successfully treated. What are your assessments of the success?Associate Professor Luong Ngoc Khue: All 16 COVID-19 patients have been discharged from hospital and successfully treated. This is a milestone. We have followed the directions of the Prime Minister, Deputy Prime Ministers, ministries and sectors. Especially, our current treatment regime applied has proved to be working. Physicians’ efforts make patients feel comfortable and confident. The World Health Organisation highly appreciates Vietnam’s work. Do the discharged patients need to be further monitored?Associate Professor Luong Ngoc Khue: Vietnam currently records only 16 patients of COVID-19, and we have made many scenarios. In terms of psychology and body, patients who were discharged from hospital still need to be monitored, cared and encouraged by medical workers. Therefore, the health system from central and grassroots levels in Vietnam is now being closely coordinated. We steer medical facilities in Khanh Hoa, Thanh Hoa and Vinh Phuc provinces to pay attention to the discharged patients in order to avoid stigma. So, it is right for the management of medical monitoring in the current period when we control the epidemic in Vietnam. Could you share experience in successfully treating COVID-19 infection cases in Vietnam?Associate Professor Luong Ngoc Khue: Right after getting information of this outbreak in China, Deputy Prime Minister Vu Duc Dam has directed drastically the health sector and related ministries. Then, the medical examination and treatment system’s professional council was immediately convened. Fact showed that professional guidelines on epidemics in Vietnam are often developed very early. We held a meeting of professional council with leading professors to develop and update guidelines for early treatment.
Associate Professor Luong Ngoc Khue, head of the Department of Medical Examination and Treatment under the Ministry of Health and deputy head of the Treatment Sub-Committee at the National Steering Committee for COVID-19 Prevention and Control (Photo: VietnamPlus)
We got updated treatment guidelines right from the days before Tet. Then we organised training and carried out the guidelines in hospitals.
After the first three patients were discharged from Ho Chi Minh City’s Cho Ray Hospital, Khanh Hoa Tropical Hospital in the central province of Khanh Hoa and General Hospital in Thanh Hoa Province, we continued to update the treatment regimen one more time to provide specific treatment strategies, from instructions on initial reception, patient quarantine to use of drugs and fluids as well as necessary emergency equipment for critically-ill patients.
Ahead of WHO recommendations
So we have followed recommendations of the World Health Organisation?
Association Professor Luong Ngoc Khue:
It can be said that dealing with the COVID-19 epidemic, we got ahead of WHO recommendations. So far, there have been no new infection cases in Vietnam.
Currently, all 16 COVID-19 patients were discharged from hospitals and there has been no death. This is the outcome through the Government’s drastic direction, physicians’ efforts, patients’ cooperation and people’s consensus from the initial quarantine for treatment to the synchronous implementation of solutions in treatment.
It can be said that dealing with the COVID-19 epidemic, we got ahead of WHO recommendations. So far, there have been no new infection cases in Vietnam.
There are full examples of COVID-19 infections in Vietnam, such as male and female patients; elderly and child patients, and those with underlying diseases such as high blood pressure, heart disease, diabetes and lung cancer.
We are continuing to gather data on epidemiology, clinical treatment and treatment results to update the treatment regimen in the near future.In COVID-19 prevention and treatment, how does Vietnam prepare measures to cope with and treat at levels?Associate Professor Luong Ngoc Khue: The Ministry of Health has also prepared preventive measures to deal with the virus in hospitals at all levels.
Patients with symptoms not considered severe will be treated at provincial-level hospitals. In fact, patients were treated successfully in Thanh Hoa, Khanh Hoa. Therefore, we do not need to transfer COVID-19 patients to higher-level facilities.
With the four on-the-spot measures and the help of central-level doctors, provincial and district-level facilities are capable of treating patients.
With the four on-the-spot measures and the help of central-level doctors, provincial and district-level facilities are capable of treating patients. Sources of the disease isolatedFor the COVID-19 epidemic, many opinions said that if the quarantine of patients and people at risk of infection is well performed, the outbreak will be brought under control. Could you tell me more about the issue?Associate Professor Luong Ngoc Khue: For infectious diseases, quarantine is the first principle, and the measure is same for the epidemic. When accepting patients or suspected cases, hospitals must strictly comply with the principles of quarantine issued by the Ministry of Health.
Preparing to take X-rays for patients in a special quarantine area. (Photo: VietnamPlus)
To ensure professional quality and safety for patients, medical workers and the community, the Ministry of Health has issued documents to direct directors of the departments of health, hospitals and medical facilities to pay close attention to the quarantine and management of patients.
The source of COVID-19 is easy to be spread, especially through respiratory transmission. The recent lesson from China shows that many doctors were infected the disease. Therefore, the goal of the Ministry of Health is to strive to prevent the sources of the disease from spreading to medical workers and to the community from hospitals.
We had a drastic direction. In particular, the quarantine needs close coordination with state management agencies, police and local authorities.
Doctors change protective clothing to avoid COVID-19 infection. (Photo: VietnamPLus)
Quarantine work must be divided into three areas. The first is for suspected people, the second is for those infected but in good health, and the final is for the patients with severe symptoms. All these areas must strictly follow the ministry’s criteria on biosafety and infection control.
In the epidemic prevention and control work, as those who directly treat patients and have closest contact with the sources of the disease, medical workers are always at risk of infecting the disease from patients, can you share something about the sacrifice?
Associate Professor Luong Ngoc Khue: With the dangerous epidemic like COVID-19 which the World Health Organisation has had to declare a global emergency and China saw hundreds of deaths and thousands of new infections every day, it is obviously it is an emergency epidemic in accordance with the Law on prevention and control of infections diseases in Group A.According to information from China, thousands of medial workers have infected and many of them have died. There has been no medical worker infected with COVID-19 in Vietnam so far.
As a management agency, we appreciate all physicians who are involved in the prevention and control of the disease. They have sacrificed their personal benefits to serve patients, from medical staff at the central level to those in Binh Xuyen. The Ministry of Health has also provided the most necessary protective equipment for them to protect themselves against the disease.
Hàng loạt công nghệ mới đang được các nước sử dụng như những “vũ khí hữu hiệu”, cả trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, cả trong việc thích ứng với những thay đổi do đại dịch.
Những bước tiến đột phá của ứng dụng công nghệ trong thời kỳ đại dịch đặt ra câu hỏi, phải chăng COVID-19 đang đẩy thế giới tiến nhanh hơn vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với những công nghệ cốt lõi như Dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, công nghệ nano, vốn đang manh nha diễn ra tại nhiều nước phát triển.
Các chuyên gia nhận định COVID-19 đang định hình lại những nét căn bản của cuộc sống. Dịch bệnh kèm theo các biện pháp phong tỏa, ở nhà chống dịch trở thành chất xúc tác khiến Internet phát triển nhanh hơn.
Không thể phủ nhận công nghệ truy vết giúp giám sát sự lây lan của virus tốt hơn, và sớm ngăn chặn dịch bệnh. Nhưng mặt trái của điều đó là những lo ngại về quyền riêng tư bị xâm phạm khi khung luật pháp của hầu hết các quốc gia đều không kịp cập nhật để thích nghi với những bước tiến thần tốc của công nghệ.
Chùm bài viết “Công nghệ đồng hành chống dịch COVID-19” đã phân tích những hiệu quả tích cực của việc ứng dụng công nghệ trong phòng chống dịch cũng như những giải pháp của các nước trên thế giới để vừa đảm bảo kiểm soát dịch, vừa không xâm phạm quyền riêng tư./.
Công nghệ – Vũ khí đắc lực phòng chống dịch
Hàng loạt công nghệ mới đang được các nước sử dụng như những “vũ khí hữu hiệu”, cả trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, cả trong việc thích ứng với những thay đổi do đại dịch.
Theo các chuyên gia, trong cuộc chiến chống lại đại dịch chưa từng có này, 5 ứng dụng công nghệ gồm theo dõi dịch bệnh bằng kỹ thuật số, khám chữa bệnh từ xa, AI, công nghệ in 3D và và công nghệ thực tế ảo được đánh giá là rất hữu ích cho ngành y.
Những bước tiến đột phá của ứng dụng công nghệ trong thời kỳ đại dịch đặt ra câu hỏi, phải chăng COVID-19 đang đẩy thế giới tiến nhanh hơn vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với những công nghệ cốt lõi như Dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, công nghệ nano, vốn đang manh nha diễn ra tại nhiều nước phát triển.
Các chuyên gia nhận định COVID-19 đang định hình lại những nét căn bản của cuộc sống. Dịch bệnh kèm theo các biện pháp phong tỏa, ở nhà chống dịch trở thành chất xúc tác khiến Internet phát triển nhanh hơn.
Mạng xã hội giúp mọi người luôn kết nối với cộng đồng và cập nhật thông tin nhanh chóng. Các hoạt động “không tiếp xúc” dựa trên hạ tầng công nghệ sẵn có trở nên sôi động hơn bao giờ hết.
(Nguồn: Barrons.com)
Các nhà cung cấp dịch vụ truyền phát video hay nhà sản xuất podcast cũng “tăng tốc” bổ sung thêm băng thông vì lượng người dùng tăng đột biến.
Trong cuộc chiến chống COVID-19, việc ứng dụng công nghệ hiệu quả đã trở thành một trong những yếu tố giúp nhiều quốc gia có thể khống chế được dịch bệnh.
Công nghệ được ứng dụng nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus, chăm sóc các bệnh nhân và giảm áp lực cho hệ thống y tế. Công nghệ hỗ trợ giới chức y tế đưa ra quyết định. Trí tuệ nhân tạo, robot và máy bay không người lái được triển khai để giúp theo dõi nguồn bệnh và thực thi các nỗ lực hạn chế dịch bệnh.
Giới khoa học cũng ứng dụng công nghệ để nghiên cứu cơ chế lây nhiễm và phương pháp điều trị COVID-19, phát triển vắcxin phòng bệnh.
Theo các chuyên gia, trong cuộc chiến chống lại đại dịch chưa từng có này, 5 ứng dụng công nghệ gồm theo dõi dịch bệnh bằng kỹ thuật số, khám chữa bệnh từ xa, AI, công nghệ in 3D và và công nghệ thực tế ảo được đánh giá là rất hữu ích cho ngành y.
Công nghệ hiện đại giúp việc giám sát, theo dõi, cách ly và kiểm soát dịch trở nên dễ dàng hơn nhiều. Việc áp dụng công nghệ vào giám sát, truy vết đã giúp Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia xác định và đánh giá tình hình dịch bệnh chính xác nhất thế giới.
Hàn Quốc đã thông qua các giao dịch thanh toán, dữ liệu định vị trên điện thoại và các camera an ninh CCTV để thiết lập một hệ thống bản đồ truy vết những người mắc hoặc có liên quan tới các ca mắc, từ đó nhanh chóng tiến hành xét nghiệm và khoanh vùng dịch.
Trung Quốc đưa vào sử dụng robot khử trùng thế hệ đầu tiên tại công ty công nghệ Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc ngày 11/2/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Hiệu quả của việc áp dụng Big Data giúp theo dõi và dự đoán rủi ro lây nhiễm kết hợp với sàng lọc quy mô lớn tại sân bay cũng được chứng minh tại vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc). Trong khi đó, chính quyền Hong Kong (Trung Quốc) lại sử dụng vòng tay có kết nối với một ứng dụng trên điện thoại di động nhằm kiểm soát các trường hợp đang trong diện cách ly theo dõi.
Nếu những người này tự ý rời khỏi khu vực cách ly, thiết bị sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan chức năng, Singapore đã triển khai ứng dụng có tên TraceTogether. Bằng việc sử dụng tín hiệu Bluetooth trên điện thoại thông minh, TraceTogether sẽ phát hiện những người có tiếp xúc gần với người mang mầm bệnh.
Công nghệ khám chữa bệnh từ xa được ứng dụng không chỉ giảm nguy cơ lây nhiễm mà còn tiết kiệm thời gian, giúp các bác sĩ tập trung chăm sóc các trường hợp khẩn cấp. Tại Mỹ, nhiều hãng áp dụng kỹ thuật này thành công như Amwell, PlushCare hay HeyDoctor, Everlywell.
Tại Việt Nam, nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa, giúp triển khai đồng loạt hệ thống khám chữa bệnh từ xa tại hàng nghìn bệnh viện và cơ sở y tế mà không cần phải phát triển từ đầu, và ứng dụng Bluezone bảo vệ cộng đồng, phòng chống COVID-19 là hai ví dụ điển hình về sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ như một vũ khí hiệu quả trong cuộc chiến với virus SARS-CoV-2.
Viettel đưa AI vào trong lĩnh vực y tế. (Ảnh: Viettel)
Nền tảng hỗ trợ tư vấn khám chữa bệnh từ xa, do Viettel phát triển đáp ứng đầy đủ 6 lĩnh vực khám chữa bệnh từ xa gồm tư vấn y tế, hội chẩn tư vấn khám chữa bệnh; hội chẩn tư vấn chẩn đoán hình ảnh; hội chẩn tư vấn giải phẫu bện; hội chẩn tư vấn phẫu thuật; đào tạo chuyển giao kỹ thuật khám chữa bệnh.
Trong giai đoạn tiếp theo, khi phổ cập công nghệ 5G tại Việt Nam với khả năng kết nối vạn vật và xử lý thời gian thực, nền tảng sẽ còn phát triển khả năng phẫu thuật từ xa.
Với ứng dụng Bluezone, người dân có thể cài ứng dụng này trên điện thoại nhằm bảo vệ mình và cộng đồng, góp phần ngăn chặn sự lây lan của virus. Đây là những sản phẩm công nghệ hết sức có ý nghĩa trong việc thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
AI cũng được sử dụng phổ biến. Tại Pháp, nhiều bệnh viện sử dụng công nghệ này để rút ngắn thời gian xét nghiệm cho bệnh nhân và tính toán nguy cơ lây nhiễm trong bối cảnh thiếu nhân lực.
Trung Quốc, nơi dịch COVID-19 bùng phát đầu tiên, cũng nhanh chóng đưa AI vào thực tế, cụ thể là trong các biện pháp hạn chế đi lại, dự báo quá trình phát triển của dịch bệnh hay nghiên cứu phát triển vaccine điều trị. AI còn được áp dụng để đẩy nhanh quá trình giải mã gen, chẩn đoán, thực hiện quét phân tích dữ liệu, đôi khi là đưa vào trong các robot vận chuyển.
Tại Mỹ, Nhà Trắng đã đề nghị các công ty công nghệ và nhóm nghiên cứu sử dụng công cụ AI để phối hợp hỗ trợ công tác chống dịch, trong đó có việc sàng lọc, phân tích hơn 29.000 trang tài liệu về virus corona chủng mới nhằm tìm ra được cách khắc chế.
Bệnh viện đa khoa Tampa ở Florida, Mỹ, với sự hỗ trợ của AI, đã sử dụng một phần mềm có khả năng thực hiện quét khuôn mặt để xác định bệnh nhân bị sốt, nhờ đó có thể giảm 75% nguy cơ lây nhiễm trong bệnh viện.
Công nghệ AI đã được giới khoa học Australia ứng dụng để phát triển thành công một công cụ chẩn đoán hình ảnh, cho phép nhân viên y tế xác định chính xác người mắc COVID-19 thông qua phương pháp phân tích hình ảnh chụp cộng hưởng từ (CT) phổi của bệnh nhân.
Với kết quả nhận được sau khoảng một giờ, công nghệ này sẽ thay thế bác sĩ X-quang, cung cấp những phân tích cần thiết trong tình huống có quá nhiều bệnh nhân và không đủ nhân viên y tế, để xác định chính xác tổn thương phổi do virus SARS-CoV-2 gây ra.
Nhờ khả tăng tạo ra sản phẩm trong thời gian ngắn, công nghệ in 3D nhanh chóng được sử dụng để sản xuất vật tư y tế thiết yếu. Trong giai đoạn dịch COVID-19 bùng phát mạnh tại Italy, thiết bị van khuếch tán, một bộ phận quan trọng của máy trợ thở được sản xuất nhờ công nghệ in 3D đã giúp cứu sống nhiều bệnh nhân.
Ứng dụng Bluezone. Ảnh chụp màn hình
Tây Ban Nha cũng đã sản xuất thành công máy trợ thở đạt đủ tiêu chuẩn chất lượng với chi phí thấp bằng công nghệ in 3D. Các máy in 3D có thể sản xuất tới 300 máy trợ thở mỗi ngày.
Công nghệ thực tế ảo được xem là trợ thủ đắc lực cho nhân viên y tế tuyến đầu. Theo một nghiên cứu công bố trên tạp chí Harvard Business Review, các bác sĩ phẫu thuật được đào tạo với thực tế ảo có thể đạt hiệu quả công việc cao hơn so với người được đào tạo bằng các phương pháp truyền thống.
Nhờ công nghệ thực tế ảo, các bác sỹ có được lựa chọn tốt hơn và giảm bớt các triệu chứng rối loạn tâm lý sau sang chấn thường gặp đối với các các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, những người phải chăm sóc các bệnh nhân COVID-19 nặng và làm việc trong môi trường khắc nghiệt.
Công nghệ đặc biệt hỗ trợ các nhà khoa học trong cuộc đua tìm kiếm vaccine, từ việc xây dựng hệ thống nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, phân lập, giải mã bộ gen và tới tìm hiểu cặn kẽ cấu trúc phân tử của virus.
Trên thực tế, trước đại dịch, các công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã là một lĩnh vực nghiên cứu bùng nổ. Cụ thể, công nghệ học sâu (Deep learning) đã cho kết quả ấn tượng trong phân tích ảnh y khoa giúp xác định các bệnh như ung thư vú và ung thư phổi hoặc bệnh tăng nhãn áp, ít nhất là độ chính xác.
Các nghiên cứu cũng cho thấy tiềm năng của việc sử dụng thị giác máy tính để trông nom người già và bệnh nhân tại các cơ sở chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trở ngại trong việc đưa những nghiên cứu này vào thực tiễn.
Đơn cử như quan ngại về quyền riêng tư khiến việc thu thập đủ dữ liệu cho các thuật toán đào tạo trở nên khó khăn trong khi các cơ quan quản lý cũng thận trọng khi cấp phép phát triển các công nghệ này.
Sự xuất hiện của COVID-19 đã thay đổi điều đó. Nói cách khác, đại dịch đã buộc các cơ quan chức năng “mở cửa” cho việc áp dụng nhiều hơn công nghệ trong chăm sóc sức khỏe. Đơn cử như AI, ngoài tốc độ đánh giá nhanh và độ chính xác cao, một điều nữa có thể khuyến khích các bệnh viện áp dụng AI trong đại dịch: đó là chuẩn bị cho tình huống thiếu hụt nhân viên y tế.
Cơ hội cũng mở ra cho các tập đoàn công nghệ trong giai đoạn dịch bệnh. Hàng chục công ty phát triển công nghệ AI đã tích cực nghiên cứu phần mềm mới hoặc sửa chữa những thiết bị có sẵn, giới thiệu hàng loạt sản phẩm ứng dụng AI để phòng chống dịch.
Tháng 3/2020, các doanh nghiệp công nghệ Mỹ ở Thung lũng Silicon đã thành lập Nhóm công nghệ và nghiên cứu (Technology and Research Task Force) để phối hợp phát triển các ứng dụng phục vụ công tác phòng chống dịch. Công nghệ cũng mang lại “vận may” cho các nhà cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh từ xa.
Số lượng đăng ký dịch vụ khám bệnh của KRY International, một công ty Thụy Điển, tăng tới 200% trong thời kỳ dịch bệnh.
Chuyên gia Andrew Keen, tác giả nhiều cuốn sách về công nghệ số, nhận định thế giới số đang phát triển mạnh và chúng ta đang sống sót qua đại dịch này nhờ vào công nghệ.
Giải pháp trực tuyến đã cho thấy hiệu quả cao trong đại dịch, và công nghệ đang trở thành trợ thủ đắc lực của con người, kể cả trong phòng chống dịch lẫn trong thích ứng với thế giới mới hậu COVID-19.
Mọi người đang ngồi trong nhà và nhìn ra thế giới bằng chiếc smartphone, bởi vậy mà trong thế giới sau đại dịch, công nghệ sẽ được ứng dụng phổ biến hơn nữa nhằm hỗ trợ cuộc sống con người./.
Một hành khách trình mã y tế để được phép lên tàu tại nhà ga ở Vũ Hán, Trung Quốc, ngày 7/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Khắc phục những mặt chưa hoàn hảo
Cũng giống như nhiều lĩnh vực khác, việc ứng dụng công nghệ mang lại cả cơ hội và rủi ro. Lo ngại về bảo mật an ninh mạng, quyền riêng tư là một trong những vấn đề nổi cộm nhất, những bài toán hóc búa nhất liên quan tới công nghệ, vốn đã xuất hiện từ lâu và khi công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mùa dịch COVID-19, càng trở nên cấp thiết.
Các chuyên gia của McKinsey & Company, công ty tư vấn quản lý của Mỹ, cho rằng sau đại dịch, thế giới sẽ chứng kiến sự nổi lên của mô hình kinh tế “không tiếp xúc,” điển hình là sự phát triển của các lĩnh vực: thương mại điện tử, khám chữa bệnh từ xa và tự động hóa.
Lo ngại về bảo mật an ninh mạng, quyền riêng tư là một trong những vấn đề nổi cộm nhất, đặc biệt khi công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mùa dịch COVID-19.
Chúng ta có thể hình dung ra một thế giới mà sự tiếp xúc của con người từ khâu sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm được giảm thiểu tối đa, nhưng không bị loại bỏ hoàn toàn. Phương thức làm việc từ xa và trực tuyến qua kết nối Internet sẽ ngày càng phổ biến hơn. Tuy nhiên, đó cũng là cơ hội cho tội phạm mạng.
Các nhóm tin tặc có thể lợi dụng sự thay đổi trong phương thức làm việc để thực hiện nhiều vụ tấn công mạng. Kể từ khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết các vụ tấn công mạng gia tăng đột biến nhằm vào thư điện tử của các nhân viên.
Nhiều tổ chức hoạt động chống Covid-19 bị tội phạm mạng đánh cắp tài khoản email. (Nguồn: Technologik.fr)
Hồi tháng 4, khoảng 450 thư điện tử của các nhân viên WHO bị rò rỉ trên mạng, cùng với đó là hàng nghìn thư điện tử khác của giới chuyên gia nghiên cứu phòng dịch. WHO cho biết tổng số vụ tấn công mạng nhằm vào tổ chức này đã cao hơn 5 lần so với năm ngoái, và gần như ngày nào cũng xảy ra các vụ tấn công.
Để ngăn chặn sự lây lan của dịch, chính phủ nhiều nước đang áp dụng các biện pháp giám sát công nghệ, nhằm truy tìm những người có khả năng nhiễm virus.
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), nhiều công ty công nghệ và ít nhất 30 chính phủ đã bắt đầu áp dụng và triển khai các công cụ theo dõi. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ hầu hết các công cụ này đều thiếu khuôn khổ quản lý.
Không thể phủ nhận công nghệ truy vết giúp giám sát sự lây lan của virus tốt hơn, và sớm ngăn chặn dịch bệnh. Nhưng mặt trái của điều đó là những lo ngại về quyền riêng tư bị xâm phạm khi khung luật pháp của hầu hết các quốc gia đều không kịp cập nhật để thích nghi với những bước tiến thần tốc của công nghệ.
Báo cáo viên của Liên hợp quốc về quyền riêng tư Joseph Cannataci cho rằng công nghệ đang thay đổi quá nhanh, nhưng lại thiếu những quy định về bảo mật riêng tư cho người dùng.
Một hành khách trình mã y tế để được phép đi lại tại trạm thu phí đường cao tốc ở Vũ Hán, Trung Quốc, ngày 24/3/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
COVID-19 và những bước tiến thần tốc của công nghệ cũng một lần nữa nhắc nhở về những thách thức nhân loại sẽ phải đối mặt trong một tương lai Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Một trong số đó là vấn đề bất bình đẳng. Theo ước tính của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), có khoảng 3,6 tỷ người không tiếp cận được Internet. Thiếu Internet và điện thoại thông minh, người dân sẽ khó tiếp cận được với các thông tin và bị bỏ lại trong tiến trình số hóa.
Liên hợp quốc, WHO và nhiều tổ chức quốc tế khác từng bày tỏ quan ngại người nghèo là đối tượng bị tổn thương do dịch. Lo ngại đó hoàn toàn có cơ sở. Ngay cả với các nước phát triển như Mỹ, những người ở các vùng hẻo lánh, nông thôn cũng khó tiếp cận được với Internet, bởi chi phí lắp đặt đường truyền cao, và cũng không phải công ty nào cũng sẵn sàng cung cấp Internet tới các khu vực nông nghiệp của nước này.
Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp cũng đặt con người đối mặt với nhiều nguy cơ về tài chính, an ninh hay sức khỏe. Do giãn cách xã hội, ngày càng nhiều người dành thời gian ở nhà, khiến họ phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào công nghệ để duy trì các mối quan hệ ngoài đời thật.
Trong rất nhiều trường hợp, hiệu quả của các cuộc tiếp xúc từ xa không thể bằng các hình thức giao tiếp truyền thống. Nếu nhà quản lý không gặp nhân viên hằng ngày, sự tin tưởng lẫn nhau trong doanh nghiệp có thể sẽ đi xuống, dẫn tới hợp tác không hiệu quả. Đó là chưa kể mối rủi ro đối với những đối tượng dễ bị ảnh hưởng, như trẻ em.
Làn sóng phát triển quá nhanh của công nghệ cũng có thể kéo theo những bất ổn về kinh tế, đời sống và chính trị. Nếu chính phủ các nước không hiểu rõ và chuẩn bị đầy đủ cho làn sóng công nghiệp lần thứ tư, nguy cơ xảy ra bất ổn trên toàn cầu là hoàn toàn có thể.
Theo đánh giá của WEF, để hạn chế những mặt tiêu cực, các chính phủ cần xây dựng những cấu trúc giám sát công nghệ phù hợp. Một số giải pháp chính phủ các nước có thể thực hiện ngay trong giai đoạn chống dịch COVID-19, như việc sử dụng dữ liệu cá nhân người dùng cần được giới hạn cụ thể và trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn để theo dõi tiếp xúc xã hội hoặc thực hiện cách ly. Bên cạnh đó, cần áp dụng nguyên tắc minh bạch.
Thực tế nhiều nước trên thế giới đang có những bước đi quyết liệt để vừa đảm bảo kiểm soát dịch, vừa không xâm phạm quyền riêng tư.
Đầu tháng 5, Chính phủ Australia đã giới thiệu phần mềm truy vết COVID-19 mang tên Covidsafe, với độ bảo mật cao, theo đó dữ liệu mà ứng dụng thu thập sẽ được lưu trên điện thoại trong vòng 21 ngày và chỉ được chia sẻ cho nhân viên y tế nếu người sử dụng đồng ý.
Ngoài ra, dữ liệu của ứng dụng được lưu giữ trên máy chủ đặt tại Australia và không một ai có thể truy cập các thông tin này ngoài các nhân viên y tế của các bang. Dữ liệu này chỉ để phục vụ mục đích duy nhất là truy tìm những người mà bệnh nhân mắc COVID-19 đã có tiếp xúc gần.
Cách thức hoạt động của hệ thống ứng dụng Bluezone phòng chống dịch COVID-19 tại Việt Nam. (Ảnh chụp màn hình)
Tại Việt Nam, trước những lo ngại về ứng dụng Bluezone, cơ quan chức năng khẳng định Bluezone chỉ lưu dữ liệu trên máy của người dùng, không chuyển tiếp lên hệ thống. Chỉ khi người dùng trở thành F0, dữ liệu này mới được chia sẻ cho cơ quan chức năng, bởi lẽ mọi người tham gia cộng đồng Bluezone đều ẩn danh với những người khác.
Đặc biệt, Bluezone cũng không thu thập dữ liệu về vị trí người dùng và được mở mã nguồn để bảo đảm tính minh bạch. Toàn bộ dữ liệu liên quan do cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Bộ Y tế, Bộ Thông tin Truyền thông quản lý, khai thác theo quy định của pháp luật.
Chuyên gia tư vấn kỹ thuật số Jonathan Tanner thuộc Viện Phát triển hải ngoại (ODI) có trụ sở tại Anh nhận định: “Đôi khi tốc độ phát triển của các công nghệ mới bị kìm hãm bởi những hạn chế về cơ sở hạ tầng, tài chính và chính sách. Nhưng khi đối mặt với một thách thức như đại dịch COVID-19, sẽ có những động lực mạnh mẽ thôi thúc chúng ta nhanh chóng khắc phục những khó khăn này và đưa công nghệ mới vào thử nghiệm thực tế.”
Dịch bệnh khiến chính phủ các nước hướng tới công nghệ nhiều hơn, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi một cách tiếp cận phù hợp trên cơ sở cân nhắc cẩn thận khả năng ứng dụng công nghệ để chống lại dịch COVID-19 và giải quyết một loạt các vấn đề khác liên quan.
Với việc các nước áp đặt biện pháp phong tỏa và giãn cách xã hội, và ngày càng nhiều người phụ thuộc vào công nghệ, các nhà hoạch định chính sách có thể coi đây là cơ hội để thiết lập những công cụ số và hợp tác trong tương lai.
Dịch bệnh COVID-19 đã cho thấy một thực tế là công nghệ có thể trở thành trợ thủ đắc lực đồng hành cùng con người, nếu con người biết tận dụng hiệu quả và hợp lý./.
Trung Quốc đưa vào sử dụng robot khử trùng thế hệ đầu tiên tại công ty công nghệ Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc ngày 11/2/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
The northern province of Vinh Phuc is currently the locality with the highest infections of the acute respiratory disease caused by the novel coronavirus (2019-nCoV) in Vietnam, with seven out of the total 12 cases.
The appearance of infection cases in Vinh Phuc province and the fact that people were infected through close contact with patients caused social anxiety.
In an interview with VietnamPlus, Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long talked about the epidemic and emergency plans on disease prevention and combat which are carried out nationwide, especially in hotspots.
“We consider Vinh Phuc as an epidemic hotspot”
Reporter: Vinh Phuc is considered as the centre of the epidemic caused by the coronavirus as new transmissions were reported consecutively in the community. Is this an epidemic hotspot?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: As Vinh Phuc is likely to record more cases, the Ministry of Health has sent delegations to the province to work with the provincial Party Committee and People’s Committee. We consider it as a epidemic hotspot and has zoned off high-risk areas and made a list of people subjected to home quarantine, who had close contact with the patients.
We also asked the local authorities to conduct one more level of quarantine for people who had close contact with those directly met with the patients, even if the latter were asymptomatic. Extended quarantine is needed to ensure control over the disease.
As far as I know the Secretary of the provincial Party Committee is paying due attention to this issue. Local authorities had held regular meetings to issue timely guidelines. Vinh Phuc has launched all necessary measures in zoning off high-risk areas.
Reporter: Some people held that in China, the disease will reach its peak in the next 7-10 days. What is your opinion on this issue?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: We do not have enough data and information about the disease in China, so we cannot give a full assessment. That was the assessment of the Chinese side.
Some experts said that the spread of the disease in China is on the decline amid the increasing number of recoveries.
Vietnam will not wait until the peak either in the country or in China to take stringent measures.
Reporter: How about in Vietnam? Can we forecast the peak of the disease?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: Vietnam will not wait until the peak either in the country or in China to take stringent measures.
The Government, the health sector and relevant agencies have devised policies to ban people from nCoV-hit areas, especially China’s Wuhan city, to enter the country. In addition, citizens returning from regions with nCoV cases, including 31 Chinese localities, must be quarantined at border gates.
In addition, we also have implemented drastic measures to detect high-risk areas and quarantine people.
Vietnam now focuses on handling cases in the country to prevent, quarantine and thoroughly control the disease. It requires the engagement of administrations and Party Committees at all levels in a bid to gain full control of the process.
The Government and the health sector have adopted drastic measures. Centrally-run hospitals have been warned of the worst scenario of the wide spread of the disease.
Is the disease spreading rapidly in Vietnam?
Reporter: Recently, is there a sign of rising number of cases?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: Most of the confirmed cases, (eight cases), are imported ones.
We have promptly zoned off high-risk areas and put people into quarantine, among measures, to control the disease. Regarding the case in south central coastal province of Khanh Hoa, no community transmissions have been reported so far.
For infections in Vinh Phuc, control and quarantine measures have been in place, and we hope that the concerted efforts will help bring the disease under control.
Therefore, at the moment, the disease is not spreading fast in Vietnam as we only recorded a few human-to-human transmissions.
Doctors at Hanoi-based Bach Mai Hospital examine a patient tested positive with the novel coronavirus in Binh Xuyen, Vinh Phuc
Reporter: Are the cases in Vinh Phuc reported late as they already returned to Vietnam on January 17?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: It cannot say that they were discovered late as all were closely monitored and supervised. There are three cases under close watch but they showed no symptoms. All of them just returned from Wuhan city.
Vietnam now focuses on handling cases in the country to prevent, quarantine and fully control the disease. It requires the engagement of administrations and Party Committees at all levels in a bid to gain full control of the process.
Local health authorities have exerted efforts as the province has carried out drastic measures on disease prevention and control.
Reporter: Could you please clarify those measures?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: As I have said, tight control and quarantine are in place. The province has launched three-level quarantine and the fourth one is being considered.
The first one is to put all the infected and suspected cases into quarantine at health facilities.
The second is quarantine at home or residences, for Vietnamese and Chinese citizens returning from or transiting in China.
The third is quarantine for people having close contact with the infected (the figure is 158 at present), while people with close contact with them will also be traced, it is the final level.
2019-nCoV spreads faster than SARS
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long
Reporter: Many people are concerned that the quick spread of 2019-nCoV will result in high death toll like the severe acute respiratory syndrome (SARS). What is your opinion?
Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long: 2019-nCoV spreads faster than SARS and it could be transmitted even during the incubation period. Meanwhile, SARS is only communicable when the patients show symptoms.
However, the death rate of 2019-nCoV is much lower than that of SARS, at about 1.8 percent compared to 10.6 percent.
2019-nCoV spreads faster than SARS and it could be transmitted even during the incubation period.
To combat SARS in 2003, many doctors chose to stay at hospitals instead of going home to quarantine themselves from the community and their own families.
The sacrifice is highly appreciated and this time, we are sparing no efforts to bring the disease under control.
Câu chuyện thu phí báo điện tử bất ngờ được quan tâm trong thời gian gần đây, đặc biệt sau khi đại dịch Covid-19 khiến nhiều cơ quan báo chí ở Việt Nam gặp khó khăn về nguồn thu quảng cáo – mức sụt giảm trung bình lên tới 70% như phát biểu của một lãnh đạo cơ quan quản lý tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2020 của Bộ Thông tin-Truyền thông vào ngày 6/7 vừa qua.
Trong rất nhiều bài viết kể từ năm 2012 đến nay, tôi đã phân tích khá nhiều về xu hướng đặt trọng tâm vào nguồn thu từ độc giả, và cần khẳng định rằng thu phí báo điện tử chỉ là một phần trong nguồn thu từ độc giả mà thôi. Đây cũng không phải phao cứu sinh cho tất cả các tờ báo, bởi không có gì đảm bảo thành công 100% và một vài mô hình hiệu quả không có nghĩa là nó sẽ hiệu quả với những tờ báo khác.
Nhưng trong bối cảnh nguồn thu quảng cáo cho báo in giảm sút, còn quảng cáo trên báo điện tử không bù đắp được phần mất đi, ngay cả khi lượng truy cập tăng lên như trong thời gian xảy ra đại dịch hiện nay, thì việc đa dạng hóa nguồn thu, trong đó có chiến lược thu phí báo điện tử, là điều cần được các cơ quan báo chí tính đến.
Việc đa dạng hóa nguồn thu, trong đó có chiến lược thu phí báo điện tử, là điều cần được các cơ quan báo chí tính đến.
Nhiều năm qua, người dùng phản đối thu phí báo điện tử đã đành, nhiều lãnh đạo các cơ quan báo chí cũng như các phóng viên cũng hoài nghi với cách làm này. Thực ra, trên thế giới cũng vậy mà thôi: ban đầu, hầu như các cơ quan báo chí đều cho độc giả Internet đọc tin miễn phí để thu hút lượng truy cập và tập trung vào mô hình quảng cáo digital với kỳ vọng sẽ tăng được nguồn thu nhanh chóng. Cũng có mối lo ngại rằng việc thu phí sẽ khiến độc giả chạy sang website tin tức của các đối thủ, mất tiền quảng cáo là chắc chắn trong khi doanh thu từ phí thuê bao dài hạn thì chưa thấy đâu.
Cũng có những cơ quan báo chí dựng tường thu phí rồi lại hạ xuống, và có những trang web khẳng định chiến lược không thu phí nhưng rốt cục lại thay đổi 180 độ. Có những tờ báo thu hút được hàng triệu người trả phí, và có những ấn phẩm khác ì ạch không kiếm nổi vài ngàn thuê bao cho phiên bản digital.
Ảnh minh họa. (Nguồn: American Press Institute)
Nhưng thu phí báo điện tử chắc chắn là xu hướng trên thị trường báo chí thế giới. Trong báo cáo đầu tiên của Mạng lưới truyền thông toàn cầu (FIPP) về tình hình thu phí digital đăng tải vào tháng 6/2018, có gần 10 triệu người trả phí để đọc tin trên báo điện tử và trong số Top 10 có New York Times, Wall Street Journal, Washington Post (Mỹ), Bild (Đức), Financial Times, Economist và Times of London (Anh) và Aftonbladet (Thụy Điển). Đến tháng 11/2019, bản cập nhật của FIPP cho thấy con số này đã tăng gấp đôi lên hơn 20 triệu thuê bao. Báo cáo nêu bật thành công của trang De Correspondent (Hà Lan) khi đạt mức tăng 75% nhờ ra thêm phiên bản tiếng Anh, và còn ngoạn mục hơn là trang The Athletic với mức tăng 600%.
Trong khi đó, theo báo cáo thường niên “Các xu hướng và dự báo về Báo chí, Truyền thông và Công nghệ năm 2020” của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters (RISJ), hơn một nửa (52%) lãnh đạo các cơ quan báo chí tại 29 quốc gia khẳng định thu phí báo điện tử sẽ là trọng tâm tạo doanh thu của họ trong thời gian tới. Một nghiên cứu khác của Digiday cũng cho kết quả tương tự. Chỉ có 14% cho rằng nguồn thu quảng cáo sẽ hoặc nên là trọng tâm trong năm tiếp theo.
Tất nhiên, không phải muốn thu phí là có thể thu được. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ thực tế trên thế giới cũng như cần khảo sát tình hình tại Việt Nam. Các nghiên cứu về tình hình thu phí báo điện tử trên thế giới thì có khá nhiều, và mỗi nước lại có một bức tranh khác nhau bên cạnh những điểm tương đồng.
Bản báo cáo “Digital News Report 2020” của RISJ vừa công bố trong tháng 6 vừa qua, khảo sát tại 40 quốc gia, là một trong những nghiên cứu mới nhất và sâu nhất về vấn đề này. Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào những tổng kết trên thế giới trong báo cáo kể trên:
Phương thức phổ biến là trả tiền cho 1 nguồn nội dung
Có nhiều hình thức tiếp cận nội dung và trả phí cho báo điện tử nhưng phổ biến nhất là: 1/ đăng ký dài hạn để đọc tin từ một cơ quan báo chí duy nhất, 2/ đăng ký dài hạn cả phiên bản in và digital của một tờ báo, và 3/ đăng ký dài hạn để đọc nhiều báo được tập hợp về một chỗ (ví dụ các app tổng hợp tin).
Theo khảo sát ở nhiều quốc gia, phương thức đăng ký trả phí một nguồn duy nhất là hình thức phổ biến nhất. Kiểu đăng ký cả phiên bản in và digital cũng khá thành công ở Na Uy với tỷ lệ 20% người đọc báo điện tử đang trả phí online. Các công cụ tổng hợp tin có thu phí cũng khá phổ biến ở Mỹ, chủ yếu nhờ ứng dụng Apple News+, nhưng hiện tại không được ưa chuộng bằng kiểu trả phí cho một nguồn báo.
Kẻ thắng giành hầu hết chiến lợi phẩm
Theo khảo sát ở nhiều quốc gia, độc giả thường trả tiền cho một trong một nhóm nhỏ các thương hiệu báo chí nổi tiếng. Chẳng hạn ở Mỹ, hơn một nửa số người trả phí đọc báo điện tử là những người đăng ký dài hạn tờ New York Times hoặc Washington Post, còn ở Anh là tờ The Times hoặc Telegraph. Na Uy thì lại khác: nhiều người sẵn sàng trả tiền cho các tờ báo địa phương và khu vực, trong khi những tờ quốc gia như VG và Aftenposten cũng được ưa chuộng. Nói chung, đa phần người dùng trả tiền cho một nguồn tin, nên tạo ra một thị trường được gọi là “người chiến thắng giành hầu hết chiến lợi phẩm,” nhưng cũng có một nhóm nhỏ thuê bao hơn một nguồn – thường là một báo địa phương và một báo quốc gia.
Ở Mỹ, hơn một nửa số người trả phí đọc báo điện tử là những người đăng ký dài hạn tờ New York Times hoặc Washington Post. (Nguồn: Getty Images)
Động lực cho việc trả phí
Lý do để đăng ký trả phí đọc báo điện tử khá là đa dạng. Ở Mỹ và Na Uy, rất nhiều cơ quan báo chí dựng tường thu phí (paywall), và khi người đọc cứ bị yêu cầu trả tiền như thế thì có lẽ làm tăng cái cảm giác là thông tin thuộc loại hiếm và đáng được trả tiền. Ngược lại, ở Anh chỉ có một số ít tờ báo thu phí.
Ngoài những lý do kể trên, người dùng thường cân nhắc những lợi ích cá nhân, chẳng hạn như nội dung có độc đáo không, sự tiện lợi, và giá trị, và cả những lợi ích cho xã hội – ví như đó là tờ báo độc lập và có sức mạnh, có khả năng buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm.
Nói chung, yếu tố quan trọng nhất vẫn là sự khác biệt và chất lượng của nội dung. Người dùng hiện nay tin rằng khi trả tiền thì họ sẽ thu được thông tin tốt hơn so với các nguồn miễn phí. Hơn một phần ba số người được hỏi cho biết việc họ thích một nhà báo cụ thể chính là lý do để trả phí.
Tại Mỹ, có nhiều người sẵn sàng trả phí đọc báo để có thể vươn lên trong công việc (13% so với 3% ở Anh), vì thế nhiều người đăng ký dài hạn để đọc những tờ như Wall Street Journal. Bản chất cạnh tranh của thị trường Mỹ, cùng với việc nhiều tờ báo thu phí, cũng khiến nhiều người thu phí ý thức hơn về giá trị, theo đó 1/3 cho rằng “giá hời” là lý do để đăng ký đọc dài hạn và trả phí.
(Nguồn: iStock)
Một điểm thú vị khác là quan niệm về giá trị đến từ những thứ bổ sung, ví dụ các công thức nấu ăn hoặc trò chơi đố chữ, thường đi kèm với tin tức. Tờ Times of London cũng thường có các cuộc thi hoặc khuyến mại cho các sự kiện nghệ thuật. Những lợi ích bổ sung này rõ ràng rất hiệu quả trong việc giữ chân độc giả trả phí vì khiến họ tạo ra thói quen và không bị báo khác bắt chước.
Đối với người Na Uy thì yếu tố độc đáo của nội dung còn quan trọng hơn sự tiện dụng. Nhưng điều ngạc nhiên là “ủng hộ báo chí tử tế” không được nhiều người chọn là lý do trả phí (21%) – có thể là vì báo chí chính thống ở Na Uy không bị coi là phân cực.
Hầu hết người dùng sẽ tiếp tục trả phí
Khoảng 80–90% những người đang bỏ tiền túi mua tin cho rằng họ sẽ tiếp tục trả phí vào năm tiếp theo. Ngoài ra, khoảng một nửa trong số những người đang được truy cập thông tin miễn phí nói rằng có thể họ sẽ bắt đầu trả tiền nếu hết hạn đọc miễn phí. Đây là một con số đáng khích lệ, và thậm chí đáng mừng hơn nếu nó là tỷ lệ duy trì lâu dài so với những người đăng ký sử dụng các dịch vụ streaming video và audio như Netflix và Spotify.
Cần lưu ý rằng những dữ liệu này được thu thập trước khi xảy ra đại dịch khiến nhiều người gặp khó khăn về tài chính. Đương nhiên, nhiều người không trả phí mãi mãi và khái niệm “người đăng ký mới” chỉ mang tính tương đối. Cũng cần nhắc rằng tỷ lệ hủy đăng ký có thể cao, vì nhiều người ngừng thời gian thử miễn phí trước cả khi họ phải trả tiền, hoặc đơn giản là hủy đăng ký để chi tiền vào việc khác.
Các cơ quan báo chí thu hút người trả phí mới như thế nào?
Do nguồn thu quảng cáo digital khá bấp bênh nên nhiều cơ quan báo chí sẽ phải tìm cách tăng số lượng người trả phí mới. Tuy nhiên, ở 3 quốc gia mà Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters khảo sát, các cơ quan báo chí có những chiến lược khác nhau.
Trước hết, có thể thấy một tỷ lệ khá lớn (40% ở Mỹ và 50% ở Anh) nói rằng không gì có thể thuyết phục họ móc hầu bao. Nhiều người trong số này rất ít quan tâm tới tin tức, hoặc là hài lòng với các nguồn tin miễn phí đang có. Nhưng tại Na Uy, nơi mọi người rất quan tâm đến tin tức và không có nhiều nguồn miễn phí, chỉ có 19% nói rằng họ không bao giờ bỏ tiền mua thông tin.
Ảnh minh họa. (Nguồn: Flickr)
Giá cả và sự tiện dụng là những yếu tố khá quan trọng để tạo ra sự khác biệt. Tại Na Uy, một phần ba (30%) cho biết có thể họ sẽ trả phí nếu giá rẻ hơn và 17% nói họ sẽ làm vậy nếu có thể một lần thanh toán mà đọc được nhiều báo. Những người khác thì quan tâm đến các gói ưu đãi cho gia đình, tương tự như những gói của Netflix hay Spotify. Các cơ quan báo chí ngày càng đưa ra nhiều mức giá khác nhau để thu hút cả những người không thể chi trả gói đầy đủ (ví dụ như những độc giả ở nước ngoài hoặc sinh viên). Trả tiền để khỏi phải xem những quảng cáo gây khó chịu cũng là một cách thu hút của các cơ quan báo chí vì cứ 7 người thì có khoảng 1 người ở 3 quốc gia được khảo sát cho hay điều đó có thể lôi kéo họ trả phí.
Sau này, các cơ quan báo chí cần phải xem xét mọi yếu tố liên quan đến mức giá cũng như trải nghiệm của người dùng. Người dùng luôn có xu hướng so sánh gói đăng ký của báo này với báo khác, và cách bán tin hiện nay chưa thực sự đáp ứng yêu cầu truy cập dễ dàng, linh hoạt và thông suốt với nhiều nguồn tin như nhiều người mong muốn.
Nói chung, cách làm phổ biến của các cơ quan báo chí là tạo ra sự hạn chế và những rào cản, thôi thúc độc giả trả tiền để biết phía bên kia bức tường có điều gì hay ho. Nỗi sợ bị bỏ lỡ thông tin quan trọng là một rào cản rất hiệu quả.
Cần lưu ý rằng các trang/ứng dụng thông tin tổng hợp thu phí kiểu “one-stop-shop” (một địa điểm đọc được tin từ nhiều nguồn) không được ưa chuộng cho lắm – có thể là do chúng không giới thiệu được những nội dung hay nhất.
Người dùng ngại đăng ký trên các trang tin
Một số trang tin đề nghị người dùng đăng ký để được truy cập miễn phí một số lượng nhỏ bài viết. Các cơ quan báo chí coi đây là một sự trao đổi công bằng, nhưng công chúng thì nghĩ khác. Tại cả 3 quốc gia tiến hành khảo sát, chưa đến một nửa những người được hỏi ý kiến coi điều này là hợp lý, nhưng nói chung mọi người cũng không phản đối. Khoảng 20-25% tỏ ý không thích, có thể vì họ không rõ tại sao các cơ quan báo chí cứ bắt họ đăng ký thông tin và sẽ sử dụng những thông tin người dùng thu thập được ra sao.
Chỉ một số ít cố né tường thu phí
Khoảng 13% đến 22% người dùng ở 3 quốc gia cho biết họ đăng ký để truy cập nội dung tin tức trong năm ngoái. Một số người sử dụng các thủ thuật để né tường thu phí – ví dụ như thiết lập lại cookies, thay đổi cài đặt trên trình duyệt, hoặc thậm chí tải những phần mềm chuyên dụng. Nhưng chỉ có 30% người dùng nói họ làm điều này, vì muốn làm được thì đòi hỏi phải có sự hiểu biết nhất định về công nghệ thông tin, và nhiều người không biết là có thể làm được. Một số khác nói rằng họ hài lòng với số lượng bài đọc miễn phí rồi.
Người dùng có quan điểm khác nhau về việc né tường thu phí. Một số ít cho rằng điều này chẳng có gì sai, những người khác khá dè dặt với việc nội dung báo chí quan trọng vì lợi ích của công chúng mà lại chỉ dành cho những người có khả năng sẵn sàng trả tiền. Đương nhiên, có những người nhất trí với chuyện trả tiền để đọc nội dung chất lượng cao.
Những dữ liệu trong bản báo cáo của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters được thu thập trước khi xảy ra đại dịch Covid-19 trên toàn cầu. Dường như đại dịch càng làm tăng sức ép buộc nhiều cơ quan báo chí phải tìm cách kiếm tiền từ phiên bản digital.
Câu chuyện thu phí báo điện tử tại Việt Nam
Trở lại câu chuyện tại Việt Nam. Lập luận phổ biến nhất của những người phản đối thu phí báo điện tử là “nội dung miễn phí có đầy trên Internet” rồi “thông tin như trên báo điện tử hiện nay thì làm gì có ai mua” hoặc “đừng mang chuyện của Tây mà nói ở ta.”
Lập luận này không có gì sai nhưng nguyên nhân của việc hầu hết các cơ quan báo chí không quan tâm đến mô hình thu phí là vì ai cũng phản đối ngay khi nhắc tới từ “trả tiền” mà chưa nghiên cứu kỹ lưỡng. Người dùng đương nhiên chẳng bao giờ muốn mất tiền, dù ít, nhưng các cơ quan báo chí lâm vào tình trạng sụt giảm doanh thu quảng cáo thì không thể không nghiên cứu những mô hình tạo doanh thu khác, trong đó có mô hình thu phí báo điện tử. Và thay vì tuyên bố không thể thu phí được, hãy tìm hiểu những yếu tố căn bản của thị trường, hiểu được những khó khăn cũng như thuận lợi bất ngờ.
Trước hết phải chọn phương thức phù hợp với thị trường và văn hóa địa phương. Trên thế giới chỉ có vài cơ quan báo chí thành công với kiểu dựng tường thu phí “cứng” (hard paywall), nghĩa là phải trả phí mới đọc được nội dung, kiểu như Wall Street Journal hay Financial Times.
(Nguồn: WSJ)
Ngay cả kiểu “metered paywall” – cho đọc một số bài nhất định rồi mới đòi trả phí như New York Times thì trước mắt báo chí Việt Nam cũng khó mà học theo. Mô hình khả thi nhất chính là “freemium” – chỉ thu phí một phần nội dung chất lượng cao, kiểu như báo điện tử VietnamPlus của Thông tấn xã Việt Nam đang triển khai. Số lượng bài thu phí chỉ chỉ chiếm 5% tổng số tin bài mỗi ngày, chủ yếu là những nội dung phân tích chuyên sâu và không ảnh hưởng gì đến nhiệm vụ phổ cập thông tin và kiến thức thiết yếu cho công chúng.
Lưu ý rằng khi xảy ra những sự kiện đặc biệt quan trọng – ví dụ như đại dịch Covid-19 hoặc những vụ động đất, hỏa hoạn, khủng bố… – nhiều cơ quan báo chí thường không thu phí đối với loại nội dung này, vừa vì trách nhiệm với xã hội, vừa thu hút được thêm lượng truy cập, từ đó có thể lôi kéo người dùng đăng ký và cố gắng chuyển đổi họ thành những người dùng trả phí.
Thứ hai là yếu tố thuận mua vừa bán như một quy tắc hiển nhiên của kinh tế thị trường. Không ai có thể ép người dùng trả phí nếu họ không thấy những thông tin đó có giá trị đối với bản thân họ. Thậm chí nếu độc giả bỏ tiền mua nội dung mà không thấy thỏa đáng thì hậu quả còn trầm trọng hơn, giống như khi họ mua phải hàng kém chất lượng vậy. Họ không những xa lánh nguồn tin đó sau này mà còn tác động đến tâm lý của những người xung quanh. Cũng cần nhấn mạnh rằng độc giả không trả phí vẫn có thể tiếp cận nhiều thông tin trên một website tin tức.
Phân tích hành vi và thói quen của người dùng cũng sẽ rút ra nhiều điều thú vị. Chẳng hạn không nhiều người Việt Nam đồng ý trả phí trọn gói 1 tháng hoặc 3 tháng để đọc số lượng khoảng 150-200 bài mỗi tháng, nhưng sẵn sàng trả tiền đọc riêng lẻ từng bài báo mà chỉ 5-6 bài như vậy là bằng tiền đọc cả tháng.
Độc giả thuê bao dài hạn mới là độc giả trung thành, và thu hút độc giả mới đã khó, giữ chân họ còn khó hơn
Tuy nhiên, độc giả thuê bao dài hạn mới là độc giả trung thành, và thu hút độc giả mới đã khó, giữ chân họ còn khó hơn. Phải chấp nhận một tỷ lệ người trả phí sẽ tháo lui, kiểu như người dùng sau vài lần ghé cửa hàng mới mở với nhiều thứ hay ho thì không quay lại nữa, vì một lý do nào đó.
Vào giữa năm 2019, tờ Los Angeles Times thông báo có thêm 52.000 thuê bao digital mới trong nửa đầu năm, nhưng số người trả tiền dài hạn rốt cục chỉ là 13.000 mà thôi, số còn lại đã ngừng trả tiền sau một thời gian.
Vấn đề thứ ba là nội dung. Tin tức thì chắc chắn không bán được rồi, và kiểu tin “đồng phục” lấy theo thông cáo báo chí của đơn vị tổ chức hội nghị, hội thảo hoặc của doanh nghiệp thì lại càng không có người đọc chứ đừng nghĩ sẽ có người mua. Một số báo tuyên bố rằng họ sẽ bán nội dung chuyên sâu, nhưng khi bị hỏi lại rằng cụ thể nội dung đó trên báo của họ là gì thì không thể chỉ ra được.
Về lý thuyết, nội dung chính là một loại hàng hóa, và món hàng đó phải đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của một phân khúc người dùng nhất định. Tại sao thị trường xe hơi lâu nay bị chi phối bởi những tên tuổi lớn với rất nhiều mẫu mã mà vẫn có những công ty mới, sản phẩm mới ra đời và thậm chí còn lớn mạnh nhanh chóng như Tesla. Tại sao nhiều gia đình quen ăn một loại gạo mà vẫn mua một loại gạo mới? Tại sao trong khi nhiều tờ báo đóng cửa thì vẫn có những tờ báo mới ra đời? Cuốn “Đổi mới sáng tạo trong báo chí – Báo cáo toàn cầu 2020-2021” của FIPP do TTXVN mua bản quyền xuất bản tiếng Việt, “mách nước” rằng những sản phẩm chuyên biệt hoặc đi theo thị trường ngách có lợi thế nhất để cưỡi lên ngọn thủy triều của xu hướng thu phí báo điện tử. Rốt cục, mỗi tờ báo phải tự hỏi xem mình có nội dung gì khác biệt và có đủ hấp dẫn để độc giả trả tiền hay không. Cần phải có khảo sát nghiêm túc, và cả những thử nghiệm để thăm dò nhu cầu, chứ không thể đưa ra một quyết định cảm tính.
Tuy nhiên, kinh nghiệm từ quá trình thử nghiệm thu phí của VietnamPlus từ năm 2012 và chính thức trở thành báo điện tử đầu tiên ở Việt Nam thu phí kể từ tháng 6/2018 cho thấy độc giả người Việt không đòi hỏi quá cao về tính độc đáo hay độc quyền của nội dung. Logic chung là những kiểu bài phân tích, bình luận về kinh tế-tài chính mới thu hút người trả tiền, song thực tế là những nội dung giải trí, thể thao cũng có thể khiến người đọc nhấn nút thanh toán.
Ảnh minh họa. (Nguồn: Adobestock)
Thứ tư là chiến lược marketing. Thời buổi này làm gì có chuyện “hữu xạ tự nhiên hương.” Trong một rừng các kênh thông tin hay dở đủ loại, để một nội dung tin tức được chú ý đã không đơn giản, chưa nói tới việc người dùng còn bỏ tiền ra mua nội dung đó. The Economist đã chi hơn 65 triệu USD cho hoạt động marketing trong năm 2018 để đạt mức tăng trưởng thuê bao là 18% (tuy nhiên, sau khi trừ đi số người dùng ngừng dịch vụ trong năm thì con số thực tế chỉ là 36.000). Năm 2019, ngân sách marketing của The Economist được bổ sung gần 7 triệu USD nhưng con số thuê bao tăng thêm chỉ vỏn vẹn 13.000, thấp hơn kỳ vọng. Marketing không đảm bảo chắc chắn sẽ biến người dùng bình thường thành người dùng trả tiền, và thành công không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với chi phí bỏ ra, nhưng chắc chắn phải “quạt” mạnh thì hương thơm mới lan tỏa.
Tại Việt Nam, các nhà cung cấp nội dung (CP) trên mạng viễn thông đã quá thạo các chiêu thức marketing như vậy, và mỗi đồng doanh thu đều phải bao gồm một phần chi phí cho hoạt động tiếp thị, quảng bá nhắm trực tiếp vào người dùng. Báo chí muốn bán được sản phẩm của mình thì không thể không tính đến chiến lược marketing phù hợp, cả online và offline.
Một trong những lỗi thường gặp của paywall là không đủ số người dùng nhìn thấy nó. Các chiến lược paywall thành công nhất trong ngành báo chí đều nhắm tới tỷ lệ 5-10% bạn đọc mỗi tháng, vì đó là những độc giả tương tác nhiều nhất và nhiều khả năng trở thành người dùng trả phí nhất. Gần đây chúng ta thấy ngày càng nhiều cơ quan báo chí thêm một bước mới vào hành trình thu phí: trang đăng ký. Một lý do là để hiểu độc giả hơn và thu thập hồ sơ người dùng chi tiết hơn. Khi đã thấu hiểu hành vi của người đọc, các báo có thể chuyển đổi họ thành độc giả trả phí. Nghiên cứu của công ty kinh doanh kỹ thuật số Piano nhận thấy tỷ lệ chuyển đổi sang đăng ký dài hạn của người đọc đã đăng ký cao gấp 10 lần so với người đọc ngẫu nhiên, một phần nhờ những công cụ như vậy.
Nhiều tờ báo áp dụng trí tuệ nhân tạo để hiểu hành vi của từng độc giả và đưa ra những lời chào mời phù hợp
Không thể quên việc kết hợp công nghệ hiện đại trong việc tiếp cận người dùng tiềm năng. Nhiều tờ báo áp dụng trí tuệ nhân tạo để hiểu hành vi của từng độc giả và đưa ra những lời chào mời phù hợp: chẳng hạn những người không thực sự quan tâm sẽ liên tiếp nhận được những thông báo nội dung hấp dẫn, còn những người cho thấy dấu hiệu sẵn sàng mở ví thì ưu đãi sẽ rất hạn chế, càng thôi thúc họ có hành động thanh toán.
Thứ năm là đầu mối thu phí. Một số đồng nghiệp hỏi tôi rằng có nên để một đơn vị đứng ra thu hộ, chẳng hạn đổ toàn bộ thông tin về một ứng dụng mobile hoặc một trang web rồi đơn vị vận hành thu phí và chia lại cho các cơ quan báo chí thành viên, hoặc sử dụng một đầu số điện thoại duy nhất để tạo thuận lợi cho độc giả. Giải pháp một ứng dụng mobile thì thực tế đã chứng minh rồi: đến New York Times còn phải tháo chạy khỏi Apple News+ sau một thời gian hợp tác vì cho rằng dịch vụ của hãng công nghệ này đã không giúp tờ báo đạt được mục tiêu về lượng độc giả đăng ký sử dụng tin tức và hiệu quả kinh doanh.
Đối với độc giả, giải pháp này rất tiện lợi, giống như đi vào siêu thị và có đầy đủ mọi mặt hàng, nhưng các cơ quan báo chí thì không thể thúc đẩy nội dung mà họ mong muốn và giới thiệu ở những vị trí tốt nhất. Nếu dựng tường thu phí trên chính trang báo của mình, các cơ quan báo chí còn nắm được dữ liệu người dùng và phân tích hành vi của họ để có nhưng biện pháp marketing phù hợp, thậm chí mang tính cá nhân hóa cao khi sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Sử dụng một đầu số điện thoại (và kém theo là cú pháp riêng cho mỗi tờ báo) nghe có vẻ đơn giản nhưng khi số lượng cơ quan báo chí tham gia thu phí quá nhiều thì đối soát nguồn thu là cả một câu chuyện phức tạp.
Thứ sáu, phương thức thanh toán đối với người dùng Việt Nam mới chính là vấn đề nan giải nhất gây trở ngại cho việc thu phí báo điện tử chứ không phải là nội dung. Theo báo cáo Digital 2020 của We Are Social và Hootsuite, tỷ lệ người dân Việt Nam sở hữu thẻ tín dụng chỉ là 4,1%. Tuy tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng trong thanh toán thương mại điện tử ở Việt Nam đã chiếm 37%, cao hơn nhiều so với ví điện tử (11%), nhưng chưa thể thuyết phục người dùng trong nước sử dụng phương thức này cho các khoản thanh toán nhỏ (micropayment) để đọc báo điện tử, mà một phần lý do là quan ngại đối với việc bảo đảm an toàn dữ liệu khi đăng nhập vào hệ thống thanh toán của cơ quan báo chí.
Phương thức thanh toán tiện lợi nhất cho độc giả nhưng thiệt hại nhất đối với cơ quan báo chí hiện nay là trả qua hóa đơn điện thoại: khi vấp phải tường thu phí đối với một bài viết nhất định hoặc muốn thanh toán theo gói tháng, người dùng chỉ cần nhấn nút “Mua” trên màn hình là hệ thống tự động trừ tiền và cho phép truy cập nội dung.
Khi báo điện tử VietnamPlus triển khai thử nghiệm thu phí vào năm 2012, tỷ lệ ăn chia với các công ty viễn thông sau mỗi kỳ đối soát khá mất thời gian là 70/30. Với khoảng 30% ít ỏi nhận về, cơ quan báo chí còn phải chia sẻ với đối tác công nghệ và trừ chi phí marketing, rốt cục không còn bao nhiêu.
Khi VietnamPlus chính thức thu phí vào giữa năm 2018, các nhà mạng đưa ra một tỷ lệ “dễ thở” hơn nhưng chỉ một thời gian sau lại quay về giới hạn 70/30 của nhiều năm trước, áp dụng với tất cả các nhà cung cấp nội dung, và cơ quan báo chí không phải là ngoại lệ.
VietnamPlus chính thức thu phí vào giữa năm 2018.
Ví điện tử, như số liệu ở trên, chưa phải là phương thức thanh toán ưa thích của người Việt nên các cơ quan báo chí chưa thể trông mong gì, mặc dù tỷ lệ chia sẻ doanh thu cao hơn so với thanh toán qua hóa đơn điện thoại và trong thời gian có dịch Covid-19 đã có nhiều người sử dụng hơn. Lối thoát khá sáng sủa là mobile money – là loại tiền điện tử do tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán kinh doanh dịch vụ viễn thông phát hành. Theo Nghị quyết 84/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư vừa được ban hành ngày 29/5 vừa qua, mobile money sẽ được cấp phép thí điểm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán các dịch vụ giá trị nhỏ.
Các doanh nghiệp viễn thông như Viettel, MobiFone, VNPT cho biết đã sẵn sàng chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết và sẵn sàng cung ứng ngay dịch vụ mobile money nếu được cấp phép. Theo một số chuyên gia ngân hàng, mobile money có rất nhiều ưu điểm, đặc biệt là sự thuận tiện, chi phí thấp, khả năng phủ sóng tốt… Tuy nhiên, mobile money cũng tiềm ẩn một số rủi ro như: dữ liệu có thể thiếu chính xác (nhiều sim rác), bảo mật dữ liệu khách hàng của nhà mạng kém hơn ngân hàng, khó kiểm soát hoạt động của các đại lý, nguy cơ mất tiền của khách hàng cao hơn ngân hàng…
Nhưng trong khi chờ mobile money triển khai, chờ ví điện tử cất cánh và chờ thẻ tín dụng trở nên phổ biến hơn, thanh toán qua hóa đơn điện thoại vẫn là cách thức khả thi và dễ dàng nhất đối với người dùng Việt Nam. Thiết nghĩ các nhà mạng viễn thông đừng nên đánh đồng báo chí với các CP khác, dành một tỷ lệ chia ưu đãi để khuyến khích báo chí áp dụng mô hình kinh doanh này. Trong thời gian trước mắt, khoản thu này chắc chắn còn rất nhỏ và chưa đủ để cứu báo chí thoát khỏi những khó khăn hiện nay, nhưng ít ra nó tháo gỡ được vấn đề nan giải nhất. Và khi đó, thu phí được hay không hoàn toàn nằm trong năng lực của các cơ quan báo chí mà thôi.
Thu phí báo điện tử không phải là một giấc mơ xa vời. Nó là xu hướng đang và sẽ diễn ra, dù không phải là cuộc chơi dành cho tất cả mọi người. Nó là một lựa chọn cho các cơ quan báo chí trên con đường tìm kiếm các nguồn thu ngoài quảng cáo. Nếu một cơ quan báo chí không quyết định bước trên con đường này thì vẫn còn nhiều con đường khác, có điều đừng nói rằng “không thể làm được đâu” nếu chưa thử bắt tay vào làm./.