The acute respiratory disease caused by the novel coronavirus (2019-nCoV) was first detected in China’s Wuhan city in early December 2019. It has spread to many cities across China as well as 26 countries and territories outside mainland China.
Vietnam recorded the first nCoV cases on January 23. By February 1, six people tested positive for the virus and 153 suspected cases were quarantined and put under health monitoring in various cities and provinces.
The Ministry of Health recognised the risk of an outbreak when the disease was developing complicatedly in China and spreading to many countries and territories worldwide.
On February 1, 2020, Prime Minister Nguyen Xuan Phuc signed Decision No.173/QD-TTg announcing the acute respiratory epidemic caused the novel coronavirus (2019-nCoV)
About coronavirus
According to the Ministry of Health, coronavirus is a strain of virus that can cause respiratory and digestive diseases in humans and some animals. The disease normally occurs in winter and early spring.
In humans, coronavirus can cause mild illness from the common cold to more serious illnesses such as the Middle East Respiratory Syndrome (MERS-CoV) and Severe Acute Respiratory Syndrome (SARS-CoV). A new strain of the corona family (2019-nCoV) has not been previously identified in humans.
The World Health Organisation (WHO) announced that China’s Wuhan city reported the first cases of the respiratory disease caused by the novel coronavirus on December 12, 2019. As 16:00 on February 1, 2020, the number of global infections exceeded 12,000, including 259 deaths. Twenty-six countries and territories worldwide confirmed infection cases.
First patients in Vietnam
On January 23, 2020, Vietnam recorded the first two imported cases from China’s Wuhan. The first patient is a man born in 1954, travelling from Wuhan to Hanoi on January 13, then Nha Trang on January 17, Ho Chi Minh City on January 19, and Long An on January 20. He had a fever and visited Binh Chanh Hospital on January 22, then was transferred to Cho Ray Hospital.
The second patient is his son, born in 1992, who had stayed in the Mekong Delta province of Long An for four months and had close contact with his father in Nha Trang resort city in the south-central coastal province of Khanh Hoa from January 17. On January 20, he had a fever and was hospitalised at Cho Ray Hospital on the same day with his father. On January 23, the initial test result of the Ho Chi Minh City Pasteur Institute showed that both were positive for the virus.
Right on January 24 morning (the 30th day of the traditional Lunar New Year), the Ministry of Health convened a meeting with the national steering committee for coronavirus prevention and control led by Deputy Prime Minister Vu Duc Dam to evaluate the situation and agreed on measures to cope with the epidemic in Vietnam in the time to come.
Statistics showed that as of February 1, 2020, Vietnam confirmed six 2019-nCoV cases, including the two Chinese people (one recovered), three Vietnamese citizens returning from Wuhan, and one Vietnamese receptionist having close contact with the Chinese patients.
Stay calm to protect public heath
Vietnam has a high risk of disease outbreaks due to a long border line shared with China and a large number of Vietnamese travelling to and working in China and vice versa.
On January 31 morning (Vietnam’s time), the WHO declared the novel coronavirus (2019-nCoV) outbreak a public health emergency of international concern (PHEIC)
Amid the complicated developments of the disease at home and abroad, on January 27 (the third day of the traditional Lunar New Year), Prime Minister Nguyen Xuan Phuc presided over a meeting on the epidemic.
He emphasised that the protection of public heath is the most important, and asked relevant agencies to discuss specific measures to prevent the spread of the virus.
The PM urged the whole political system at the 63 cities and provinces nationwide to get involved in the fight against the virus “like fighting an enemy”.
“The Government accepts to protect the lives and health of people at the expense of economic gains,” he said, requesting strict supervision at international border gates by air, water and roads.
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc chaired a Government’s meeting on January 30 to implement tasks after the traditional Lunar New Year and to prevent the acute respiratory disease caused by the novel coronavirus (Photo: Thong Nhat/VNA)
The PM asked ministries and localities to not lower guard but take all possible measures to protect the health of the people, prevent the spread of the virus, and minimise fatality.
On January 28, the Government leader signed to issue Decree No.5/CT-TTg on preventing the epidemic.
On January 30, he chaired a meeting with permanent Government members to implement tasks after the traditional Lunar New Year and prevent the acute respiratory disease caused by the novel coronavirus.
The leader asked the National Steering Committee for COVID-19 Prevention and Control to take drastic measures to push back the disease.
He welcomed the establishment of 45 rapid response teams and connection among 21 hospitals to cope with the disease, and ordered the ban of the travelling by residents in border trails and the suspension of tourism activities between Vietnam and epidemic-hit areas, as well as the strict application of health monitor at border gates.
Public panic avoided
On January 2, the Ministry of Health announced the disease in the south-central coastal province of Khanh Hoa. Deputy Minister Nguyen Thanh Long advised the people to stay calm amidst the disease and called on the press agencies and the people to refute false information relating to the disease so as to not cause public panic.
Localities should focus on closely monitoring the people having close contact with the patients returning from China, he said.
On February 1, the Ministry of Health directed the local health departments to implement effectively “four on-site” motto: on-site leadership, on-site forces, on-site resources, and on-site logistics./.
Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (ngày 12/7/1995), đến nay, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã chuyển đổi thành công từ đối đầu sang bạn bè, và trở thành đối tác toàn diện từ chính trị-ngoại giao, kinh tế, giáo dục, khoa học-công nghệ, đến quốc phòng-an ninh.
Sau 25 năm bình thường hóa quan hệ (1995-2020), kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng gần 120 lần, từ 451 triệu USD năm 1995 lên tới 77,5 tỷ USD năm 2019.
Cùng với quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác kinh tế-thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ được coi là lĩnh vực hợp tác thành công nhất, đã và đang trở thành trọng tâm, nền tảng, động lực phát triển cho quan hệ chung giữa hai nước.
Những con số tăng trưởng vượt bậc
25 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, Hoa Kỳ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 trong số hơn 100 đối tác thương mại của Việt Nam trên toàn cầu.
Về phía ngược lại, Việt Nam đứng thứ 16 trong số các đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ và tăng trưởng thương mại giữa hai nước hàng năm đạt 20%. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Hoa Kỳ luôn duy trì mức thặng dư lớn.
Công ty TNHH Thủy sản Biển Đông (Khu công nghiệp Trà Nóc II, thành phố Cần Thơ) là một trong ba doanh nghiệp xuất khẩu cá tra của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và được hưởng mức thuế chống bán phá giá thấp tại thị trường này. (Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN)
Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng gần 120 lần, từ 451 triệu USD (năm 1995) lên 7,8 tỷ USD (năm 2005), 45,1 tỷ USD (năm 2015), 47,15 tỷ USD (năm 2016), 50,8 tỷ USD (năm 2017) và 60,3 tỷ USD (năm 2018).
Chỉ tính riêng năm 2017, giá trị hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm hơn 20% tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài. Việt Nam cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á với mức độ tăng trưởng nhanh.
Kim ngạch thương mại song phương năm 2019 đã lên tới 77,5 tỷ USD. Hiệp hội Doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) từng dự báo kim ngạch thương mại hai nước có thể đạt 80 tỷ USD vào năm 2020.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2020, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với Hoa Kỳ đạt 31,11 tỷ USD.
Trong số đó Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ lượng hàng hóa trị giá 25,11 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường Mỹ là dệt may; điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện; Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác; giày dép; đồ gỗ; với kim ngạch mỗi mặt hàng đạt từ 1 tỷ USD trở lên.
Ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ xuất khẩu sang Việt Nam lượng hàng hóa trị giá 6 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất, đạt kim ngạch “tỷ đô” từ thị trường Mỹ trong quý 1 là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim ngạch 1,92 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước
Nhiều mặt hàng Mỹ tiếp tục tăng trưởng xuất khẩu sang Việt Nam như gỗ và các sản phẩm từ gỗ, thức ăn cho gia súc và nguyên liệu, thủy sản, rau quả. Trong lĩnh vực nông sản, Mỹ đang xuất siêu sang Việt Nam các mặt hàng bắp, đậu nành, thịt, sữa các loại, trái cây, với trị giá khoảng 400 triệu USD/năm.
Sáng 27/2/2019, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Donald Trump chứng kiến lễ ký Hợp đồng mua bán 10 máy bay Boeing 787-9 Dreamliner giữa Bamboo Airways và Boeing, trị giá gần 3 tỷ USD. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
Một trong những lĩnh vực hợp tác thương mại sôi động khác của hai nước trong những năm qua là hàng không với hàng loạt hợp đồng mua máy bay Boeing của các hãng hàng không Vietnam Airlines, VietJet Air và Bamboo Airways.
Về đầu tư, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2019, Hoa Kỳ đứng thứ 11 trong số 130 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, với gần 1.000 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam và tổng vốn đăng ký gần 10 tỷ USD.
Hoa Kỳ chưa nằm trong top các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư nhiều nhất tại Việt Nam nhưng được đánh giá là một trong những nhà đầu tư có chất lượng. Với nhiều dự án có giá trị cao, các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ đã tích cực hợp tác, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phát triển và tham gia đóng góp nhiều hoạt động xã hội.
Hoa Kỳ cũng là điểm đến đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm 2020, Hoa Kỳ đứng thứ hai về số vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, với 21,72 triệu USD, chiếm gần 12%.
Về Viện trợ phát triển (ODA), Hoa Kỳ luôn giữ viện trợ phát triển dành cho Việt Nam ở mức ổn định trên 100 triệu USD/năm.
Về du lịch, trong nhiều năm qua, thị trường khách Mỹ liên tục đứng trong tốp 5 thị trường nguồn về số lượt khách đến Việt Nam, tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2014-2018 là 11,55%.
Năm 2018, lượng khách du lịch Hoa Kỳ đến Việt Nam đạt 687.200 lượt người, tăng 11,9% so với năm 2017, chiếm 4,4% trong tổng số khách đến Việt Nam. Số lượt khách Mỹ đến Việt Nam bằng khoảng 11% trong số lượt khách Mỹ đến châu Á.
Năm 2016, có 5 địa danh nổi tiếng của Việt Nam được chọn làm bối cảnh quay cho bộ phim bom tấn Kong Skull Island của Mỹ. Thông qua đó, những danh lam thắng cảnh của Việt Nam được quảng bá rộng rãi và được đánh giá rất cao trên phạm vi quốc tế.
Tháng 2/2019, cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều lần thứ hai được tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam. Sự kiện này khẳng định vị thế điểm đến Việt Nam trong cộng đồng quốc tế và vai trò trong gìn giữ hòa bình, sự kiện chính trị lớn tầm quốc tế.
Hiện nay, tại Việt Nam đã có sự hiện diện của khá nhiều tập đoàn quản lý khách sạn lớn của Mỹ như Hilton, Wyndham, JW Marriott, Best Western International, Starwood, Hyatt.
Nhiều trang web, tạp chí, kênh truyền hình nổi tiếng của Mỹ đã tôn vinh về điểm đến, dịch vụ du lịch của Việt Nam.
Tháng 1/2020, số khách quốc tế đến Việt Nam từ Hoa Kỳ đạt 96.500 lượt người, tăng 19,7%.
Thành công nhờ những hiệp định và chính sách quan trọng
Ngày 13/7/2000, Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Mỹ Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) tại văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ. Tổng thống Bill Clinton đã công bố Hiệp định này tại buổi lễ ở Vườn Hồng, Nhà Trắng.
Hiệp định Thương mại song phương chính thức có hiệu lực vào ngày 11/12/2001 khi Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Vũ Khoan và Đại diện thương mại Mỹ Zoellick trao đổi thư phê chuẩn hiệp định tại Washington.
Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và Đại diện thương mại Hoa Kỳ Charlene Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, ngày 13/7/2000, tại Thủ đô Washington D.C. (Ảnh: Lê Chi/TTXVN)
Theo đó, tất cả hàng hóa của Việt Nam vào Mỹ sẽ được hưởng mức thuế quan theo Quy chế quan hệ thương mại bình thường (NTR) vô điều kiện, thấp hơn nhiều so với mức thuế trước đó.
Chỉ sau hai năm BTA có hiệu lực, Mỹ đã trở thành thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam và vị trí này được duy trì cho tới tận ngày nay.
Những kinh nghiệm thu được trong đàm phán BTA đã rất có ích cho Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập WTO với Mỹ, một đối tác chính trong WTO.
Ngày 17/7/2003, Hiệp định Dệt may Việt Nam-Hoa Kỳ đã được Bộ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam Trương Đình Tuyển và Đại sứ Hoa Kỳ Raymond Burghardt ký kết ở Hà Nội. Cùng năm đó, ngày 4/12, Hoa Kỳ và Việt Nam ký kết Thỏa thuận Hàng không Song phương.
Ngày 8 và 9 tháng 12/2006, Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ thông qua quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam. Ngày 29/12/2006, Tổng thống Bush ký tuyên bố trao PNTR cho Việt Nam.
Bên cạnh việc tăng cường mối quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ, BTA cũng mở ra cơ hội tăng cường giao lưu giữa công dân hai nước, mở cánh cửa để Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 11/1/2007.
Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Ngày 15/3/2007, Hoa Kỳ và Việt Nam ký kết Hiệp định Hàng hải Song phương. Cùng năm đó, ngày 21 tháng 6, hai bên ký kết Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA).
Ngày 27-28/3/2017, hai nước đã tái khởi động cuộc họp kỹ thuật của Hội đồng Hiệp định khung về thương mại và đầu tư song phương (TIFA), đối thoại trên tinh thần cùng có lợi, tìm kiếm những lĩnh vực hợp tác mới.
Chiều 15/8/2003, tại Thủ đô Washington D.C, ông Nguyễn Xuân Hiển, Tổng giám đốc Vietnam Airlines và ông Phillip Merril, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ (EximBank) ký hợp đồng bảo lãnh tín dụng để Vietnam Airlines mua máy bay Boeing 777-200ER. Đây là chiếc Boeing 777-200ER thứ 2 trong số 4 chiếc mà Việt Nam mua của hãng Boeing và là chiếc đầu tiên được chuyển giao trực tiếp cho Vietnam Airlines. (Ảnh: Đức Dũng/TTXVN)
Hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai nước không ngừng tăng trưởng Việt Nam đã cùng Hoa Kỳ xây dựng một kế hoạch hành động với nhiều giải pháp cụ thể, hướng đến cán cân thương mại hài hòa và bền vững giữa hai nước; trong đó, việc đẩy mạnh hợp tác với chính quyền liên bang cũng như các bang của Hoa Kỳ.
Nhận định về tốc độ tăng trưởng “chóng mặt” của quan hệ thương mại Việt-Nam-Hoa Kỳ, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Stiwell từng đánh giá: “Đó là kết quả lao động chăm chỉ và tầm nhìn của nhiều người ở cả hai phía, những người tin tưởng vào triển vọng hòa bình.”
Tại lễ ra mắt biểu tượng kỷ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ vào cuối tháng 12/2019, ông Stiwell khẳng định các doanh nghiệp Mỹ đang đầu tư ngày càng nhiều vốn vào Việt Nam, trong khi các nhà sản xuất Việt Nam đang đem nhiều hàng hóa hơn cho những người tiêu dùng Mỹ.
Về phía Việt Nam, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã nhận định, nền kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ ngày càng gia tăng tính bổ trợ lẫn nhau. Trong khi Việt Nam có các mặt hàng thế mạnh xuất khẩu sang Hoa Kỳ như thủy sản, hạt điều, dệt may, da giày; Hoa Kỳ cung cấp cho Việt Nam những sản phẩm công nghệ cao, trong đó phải kể đến các dự án đầu tư năng lượng hay các hợp đồng mua máy bay.
Phát biểu khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh Hoa Kỳ-Việt Nam năm 2019 với chủ đề “Kỷ niệm 25 năm thương mại và đầu tư,” Phó Thủ tướng đã nhấn mạnh: “Các dự án đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam đã và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam, giúp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, qua đó góp phần nâng cao tay nghề, tăng thu nhập và mang lại thịnh vượng cho người dân Việt Nam.”
Hiện doanh nghiệp hai bên đang tiếp tục sử dụng hiệu quả cơ chế của Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA), trong đó tập trung vào triển khai và phát huy cơ chế cảnh báo sớm để mỗi bên có sự chuẩn bị kịp thời đối với tác động của các chính sách, quy định mới. /.
Công ty TNHH hệ thống dây Sumi-Hanel tại khu công nghiệp Sài Đồng B (Hà Nội) chuyên lắp ráp hệ thống dây dẫn điện cho các loại ôtô, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Du lịch Việt Nam đã bước vào tuổi 60, từng bước đến gần hơn với mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như mục tiêu xác đinh tại Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Trong suốt lịch sử 60 năm xây dựng và trưởng thành, du lịch Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu, 60 năm là một chặng đường dài ngành du lịch ra đời, xây dựng và trưởng thành. Khởi động là một công ty du lịch vào năm 1960 đến nay quy mô ngành du lịch đã tăng lên đáng kể.
Vào năm 1992, khách quốc tế đến Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 250.000 lượt, đến hết năm 2019 đã đạt mốc 18 triệu lượt; phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 726.000 tỷ đồng…
Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Truyền thống ngành Du lịch (9/7/1960-9/7/2020), phóng viên TTXVN thực hiện 3 bài viết nhằm điểm lại những dấu mốc quan trọng, sự nỗ lực và những kết quả đạt được của du lịch nước nhà trên chặng đường xây dựng, khẳng định thương hiệu điểm đến Việt Nam./.
Việt Nam – Điểm đến hòa bình, thân thiện, hấp dẫn
Ra đời trong thời kỳ đất nước còn chia cắt do chiến tranh, trải qua 60 năm phát triển (1960-2020), du lịch đã trở thành một điểm sáng, được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Vào năm 1992, khách quốc tế đến Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 250.000 lượt, đến hết năm 2019 đã đạt mốc 18 triệu lượt; phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 726.000 tỷ đồng.
Hình ảnh điểm đến Việt Nam ngày càng ghi nhiều dấu ấn sâu sắc với bạn bè quốc tế. Trong 60 năm, trải qua nhiều thử thách, bứt phá, du lịch nước nhà đã thực sự trưởng thành.
Từ mốc số 0
Theo Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngày 9/7/1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký ban hành Nghị định số 26/CP về việc thành lập Công ty Du lịch Việt Nam thuộc Bộ Ngoại thương. Đây là thời kỳ đất nước còn tạm thời bị chia cắt, chiến tranh khốc liệt.
Công ty có nhiệm vụ đặt quan hệ, ký kết hợp đồng với các tổ chức du lịch nước ngoài, phối hợp để chức đón khách quốc tế vào du lịch Việt Nam, đưa khách Việt Nam ra du lịch nước ngoài.
Đình Tam Chúc, khu du lịch nằm giữa lòng hồ Tam Chúc. (Ảnh: Đại Nghĩa/TTXVN)
Theo mức độ phát triển của ngành du lịch, Công ty có thể thành lập các đại diện ở nước ngoài, chi nhánh ở địa phương, khách sạn và các phương tiện vận chuyển đặc biệt… Điều này thể hiện tầm nhìn sâu rộng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ngay từ những ngày đầu thành lập ngành.
Hoạt động của du lịch Việt Nam được kỳ vọng phát triển nguồn thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho Nhà nước phục vụ sản xuất, dân sinh, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, tăng cường giao dịch với các tổ chức du lịch nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Ngành du lịch tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng với khách du lịch trong và ngoài nước về các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, thành tích cách mạng…; đề xuất quy hoạch kiến thiết, tu sửa, trang trí, bảo quản các danh lam thắng cảnh, các trung tâm du lịch nhằm phát triển kinh doanh về du lịch…
Những ngày đầu thành lập, trong điều kiện rất khó khăn khi đất nước còn chiến tranh, ngành du lịch đã nỗ lực phấn đấu, từng bước mở rộng các cơ sở du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An…; hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn, chất lượng một lượng lớn khách của Đảng và Nhà nước, các đoàn chuyên gia sang giúp Việt Nam xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; đón tiếp, phục vụ, đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan nghỉ mát của nhân dân.
Tháng 6/1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập, mở ra một trang mới cho ngành du lịch Việt Nam. Có thể nói rằng, du lịch Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu nhấn mạnh 60 năm là một chặng đường dài ngành du lịch ra đời, xây dựng và trưởng thành. Khởi động là một công ty du lịch vào năm 1960 đến nay quy mô ngành du lịch đã tăng lên đáng kể.
Vào năm 1992, khách quốc tế đến Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 250.000 lượt, đến hết năm 2019 đã đạt mốc 18 triệu lượt; phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 726.000 tỷ đồng.
Cơ sở vật chất của ngành du lịch phát triển nhanh chóng, các khách sạn, cơ sở lưu trú từ chỗ chỉ có chủ yếu ở Hà Nội thì nay xuất hiện khắp các vùng miền trên cả nước, nhất là ở các địa phương trọng điểm du lịch như Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc, Thành phố Hồ Chí Minh…
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hà Văn Siêu cũng cho rằng Du lịch Việt Nam có thể tự hào sau khi góp phần tổ chức thành công APEC năm 2018, đón 21 nguyên thủ quốc gia lớn nhất trên thế giới.
Du lịch Việt Nam có thể khẳng định vị thế, đủ năng lực làm những sự kiện tầm thế giới thông qua những đóng góp về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực, năng lực sẵn sàng đón tiếp, phục vụ du khách chu đáo…
Du lịch Việt ngày càng hấp dẫn du khách quốc tế
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Ngô Hoài Chung chia sẻ những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã phát triển vượt bậc, mức tăng trưởng trung bình đạt 22% trong giai đoạn 2016-2019.
Đặc biệt, năm 2019, du lịch Việt Nam đã vượt qua Indonesia trong khu vực ASEAN, đứng vị trí thứ 4 về lượng khách quốc tế đến. Kết quả đó là minh chứng cho sự nỗ lực và bứt phá mạnh mẽ của du lịch Việt Nam trong bối cảnh khách quốc tế đến châu Á-Thái Bình Dương chỉ tăng khoảng 6%; Đông Nam Á tăng khoảng 5% trong năm 2019.
Du khách tham quan du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Chất lượng dịch vụ du lịch Việt Nam cũng cải thiện đáng kể. Nhiều nhà đầu tư lớn trong nước và nước ngoài đã góp phần thay đổi chất lượng hạ tầng dịch vụ du lịch, hình thành nhiều khu du lịch khép kín, đẳng cấp quốc tế. Ðầu tư phát triển du lịch tăng cả về lượng và chất với nhiều dự án từ các tập đoàn kinh tế có tiềm lực tài chính. Một số doanh nghiệp du lịch bước đầu thành lập các hãng hàng không, tạo sự liên kết, phát triển mạnh mẽ giữa du lịch và hàng không.
Năm 2019, du lịch Việt Nam được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) xếp hạng 6/10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới; Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh từ 75/141 năm 2015 tăng lên vị trí 63/140 nền kinh tế.
Năm 2019 cũng là năm du lịch Việt Nam “thắng lớn,” ghi dấu ấn đậm nét trên bản đồ du lịch thế giới với nhiều giải thưởng lớn, đặc biệt là danh hiệu “Điểm đến di sản hàng đầu thế giới” và “Điểm đến Golf tốt nhất thế giới.”
Năm 2019, du lịch Việt Nam được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) xếp hạng 6/10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới; Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh từ 75/141 năm 2015 tăng lên vị trí 63/140 nền kinh tế.
Các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, điểm đến liên tiếp lọt vào danh sách điểm đến hấp dẫn nhất thế giới. Cuối năm 2019, du lịch Việt Nam được trao 4 giải thưởng: “Ðiểm đến hàng đầu châu Á,” “Ðiểm đến ẩm thực hàng đầu châu Á,” “Ðiểm đến văn hóa hàng đầu châu Á” và “Ðiểm đến thành phố văn hóa hàng đầu châu Á – Thành phố Hội An.” Ðây cũng là lần đầu tiên, ẩm thực Việt Nam được vinh danh
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Ngô Hoài Chung, hình ảnh du lịch Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn, thân thiện hơn với du khách.
Ngoài các điểm đến đã khẳng định thương hiệu như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng, các điểm đến mới đang dần khẳng định vị trí và vai trò mạnh mẽ trên bản đồ.
Thành phố bên sông Hàn nổi tiếng thế giới với ngôi vị “Điểm đến sự kiện và lễ hội hàng đầu châu Á” gắn với Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng. Hội An được trao tặng danh hiệu “Điểm đến thành phố văn hóa hàng đầu châu Á 2019.”
Đảo Ngọc – Phú Quốc, sở hữu nhiều bãi biển đẹp đã được xếp hạng những bãi biển quyến rũ nổi tiếng thế giới… Quảng Ninh đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước với sự xuất hiện của những dự án quy mô lớn để đưa nơi đây thành điểm đến hiện đại, đẳng cấp…
Năm 2020, du lịch Việt Nam đón tuổi 60 trong một bối cảnh đặc biệt – dịch COVID-19 gây ảnh hưởng nặng nề về mọi mặt của đời sống, xã hội trên toàn cầu, trong đó có du lịch.
Dù Việt Nam đã nhanh chóng khống chế được dịch bệnh nhưng tình hình trên thế giới còn diễn biến khó lường. Du lịch hiện mới chỉ khởi động thị trường nội địa và chuẩn bị các điều kiện, từng bước mở cửa đón khách quốc tế trở lại ngay sau khi tình hình dịch bệnh thế giới được kiểm soát./.
Tuyến cáp treo từ thị trấn An Thới qua Hòn Thơm, huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Nguồn: TTXVN)
Nỗ lực vượt khủng hoảng sau 2 dịch bệnh nghiêm trọng
Có thể nói, dịch COVID-19 đã tạo ra cuộc khủng hoảng toàn cầu, các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều chịu ảnh hưởng to lớn trên tất cả các mặt. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, dễ bị tác động khi xảy ra sự cố nhưng cũng có thể nhanh chóng phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau đó.
Theo các chuyên gia, du lịch Việt Nam hậu COVID-19 cần làm mới với chiến lược cụ thể, không chỉ là hạ giá, kích cầu, mà chính là dịp tốt để tái cấu trúc từ thị trường, xúc tiến quảng bá, mở rộng miễn visa để thu hút khách.
Du lịch Việt Nam đã nhanh chóng vượt qua khủng hoảng do dịch SARS năm 2003 và nay cũng đang nỗ lực phục hồi sau dịch COVID-19.
Từ SARS đến COVID-19
Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổng hợp, năm 2003, đại dịch SARS đã làm thế giới điêu đứng. Dịch được ghi nhận từ tháng 11/2002 đến tháng 7/2003, lưu hành ở 25 quốc gia, hơn 8.000 người mắc, số người chết là hơn 770 người…Theo các chuyên gia, dịch SARS gây thiệt hại khoảng 40 tỷ USD trên toàn thế giới.
Du lịch thế giới gặp khó khăn. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), lượng khách quốc tế giảm 1,5% từ 703 triệu lượt năm 2002 xuống còn 690 triệu lượt năm 2003. Đặc biệt, lượng khách quốc tế ở nhiều điểm đến đã giảm một nửa trong tháng 4-5/2003.
Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, tụ điểm sầm uất nối tiếng của Hà Nội vắng vẻ trong những ngày cách ly do dịch COVID-19. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)
Việt Nam cũng tổn thất do SARS với 65 người mắc, 5 người tử vong. Rất may mắn là Việt Nam đã nhanh chóng khống chế thành công dịch bệnh, sau 45 ngày đối mặt. Dù SARS diễn ra ở Việt Nam vào tháng 3-4 nhưng 2 tháng tiếp theo mới là thời điểm lượng khách quốc tế đến thấp nhất trong năm 2003.
Phải đến tận tháng 9/2003, du lịch mới đạt mức cùng kỳ 2002 và 3 tháng cuối năm 2003 đã lấy lại được tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ 2002. Nhưng tính chung cả năm 2003, khách quốc tế đến nước ta vẫn giảm tới 7,6%…
Năm 2020, tức là 17 năm kể từ khi diễn ra dịch SARS, thế giới và Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra. Lần này, cả thế giới chao đảo bởi tốc độ lây lan dịch rất nhanh chóng, số người tử vong ngày càng tăng.
Một lần nữa, du lịch toàn cầu rơi vào trạng thái gần như “đóng băng” bởi nhiều quốc gia tuyên bố đóng cửa biên giới để thực hiện giãn cách xã hội, tạm ngừng xuất nhập cảnh. Hầu hết các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, nhà hàng, khu vui chơi, giải trí… đều đóng cửa, vận tải khách hạn chế, chỉ phục vụ những trường hợp cấp thiết.
Việt Nam tiếp tục là một trong số ít quốc gia trên thế giới khống chế thành công dịch COVID-19 với lượng người mắc dưới 500, chưa có ca nào tử vong.
Hiện tại đã hơn 80 ngày Việt Nam không phát sinh ca lây nhiễm trong cộng đồng. Nhưng dịch trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp, các chuyến bay thương mại quốc tế chưa được nối lại, khách quốc tế đến Việt Namtrong 6 tháng đầu năm 2020 mới đạt hơn 3,74 triệu lượt, giảm 55,8% so với cùng kỳ năm trước.
Du lịch nội địa – “cứu cánh” cho du lịch Việt Nam sau dịch bệnh đến thời điểm này dù đã được kích cầu tích cực nhưng vẫn kém sôi động. Người dân đang “thắt lưng buộc bụng” do thu nhập giảm. Hơn nữa, vào thời điểm tháng 6 năm nay học sinh, sinh viên vẫn chưa kết thúc năm học, nên có thể nói là du lịch vẫn đang gặp khó khăn…
Trưởng ban Thư ký Hội đồng Tư vấn Du lịch (TAB) Hoàng Nhân Chính cho rằng, để phục hồi ngành du lịch, cần chú trọng cơ cấu lại các sản phẩm du lịch và doanh nghiệp du lịch.
Các địa phương cần xây dựng chương trình kích cầu theo lộ trình với mức độ ưu đãi giảm dần (1-2 tháng đầu miễn phí, sau đó giảm 50% tới hết năm). Ngoài ra, vấn đề vệ sinh môi trường và an toàn tại các điểm du lịch cũng cần đặt lên hàng đầu.
Trải qua khủng hoảng, ngành du lịch, đặc biệt là các doanh nghiệp cần nhạy bén hơn để nắm bắt xu hướng mới, có các giải pháp tăng trưởng bền vững…
Cơ hội làm mới của ngành du lịch
Mới đây, trong một cuộc hội thảo bàn về các giải pháp thúc đẩy du lịch nội địa, phục hồi du lịch quốc tế, ông Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, nên sau dịch COVID-19, cần làm mới với chiến lược cụ thể, không chỉ là hạ giá, kích cầu, mà chính là dịp tốt để tái cấu trúc từ thị trường, xúc tiến quảng bá, mở rộng miễn visa để thu hút khách.
Du thuyền đưa khách tham quan hồ Tam Chúc rộng hơn 600ha với nhiều cảnh đẹp tự nhiên. (Ảnh: Đại Nghĩa/TTXVN)
Đại diện nhiều doanh nghiệp cũng cho rằng, đây là cơ hội để tạo bộ mặt mới cho ngành du lịch và khởi động lại nền kinh tế dịch vụ.
Chủ tịch Hội đồng tư vấn Du lịch (TAB) Trần Trọng Kiên chia sẻ về 5 xu hướng du lịch của người Việt hậu COVID -19. Những xu hướng này không mới nhưng đã góp phần định hướng phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam sau dịch bệnh.
Xu hướng đầu tiên là nhu cầu của thị trường bắt đầu phục hồi trở lại vào giữa tháng 4/2020. Thứ hai là du khách ưu tiên về an toàn và có ưu đãi. Tiếp đó, hầu hết người đi du lịch hiện tại đều muốn đi du lịch biển và thiên nhiên. Thứ tư là khách chuộng đi tour ngắn ngày, gần nơi sinh sống và đi cùng nhóm nhỏ gia đình, bạn bè. Thứ năm là khách muốn đặt tour trực tiếp với nhà cung cấp hoặc thông qua giải pháp số…
Ông Trần Trọng Kiên cho rằng nắm bắt được những xu hướng này, du lịch Việt cần thay đổi để phù hợp hơn với khách hàng, mở ra cơ hội lớn cho du lịch nội địa và tạo việc làm cho hàng triệu người…
Chia sẻ về phát triển du lịch trong hoàn cảnh hiện nay, bà Trần Nguyện, Giám đốc kinh doanh của Tập đoàn SunGroup cho biết trong bối cảnh kinh tế suy giảm, người dân bị ảnh hưởng thu nhập nên cũng thắt chặt hầu bao hơn.
Ngành du lịch Việt Nam chỉ có thể phục hồi khi các doanh nghiệp cùng bắt tay tạo nên nhiều gói sản phẩm hấp dẫn về chất lượng dịch vụ và giá cả, hình thành chương trình kích cầu có mức giá hấp dẫn…
Ngoài tham gia kích cầu, SunGroup ưu tiên đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch mới mẻ, độc đáo, chất lượng cao nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách, đón đầu “làn sóng bùng nổ” du lịch nội địa và sau này là thị trường du lịch quốc tế khi hết dịch. Thời gian qua, tập đoàn đã đưa vào vận hành Khu nghỉ dưỡng suối khoáng cao cấp Onsen Quang Hanh, thung lũng hoa hồng lớn nhất Việt Nam tại Fansipan và tới đây là tuyến cáp treo Cát Hải-Phù Long tại Hải Phòng…
Với những doanh nghiệp lữ hành lớn, đây cũng là thời điểm thích hợp để tiến hành tái cơ cấu, đổi mới thương hiệu. HaNoiRedtours vốn là một đơn vị luôn đi đầu, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Vừa qua, HanoiRedtours đã chính thức đổi tên thành Flamingo Redtours.
Ông Nguyễn Công Hoan, Tổng Giám Đốc Flamingo Redtours chia sẻ năm 2020, Flamingo Redours chính thức bước vào tuổi 25 – độ tuổi vốn được coi là đẹp nhất khi có “trong tay” sức khỏe, sáng tạo của tuổi trẻ, có “độ chín” của trưởng thành.
Đây cũng là năm bản lề, mang đậm dấu ấn của sự đổi mới, tạo tiền đề, động lực để thương hiệu Flamingo Redtours bứt phá mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Cùng với việc đổi tên, Flamingo Redtours sẽ tiến hành tái cấu trúc cơ cấu nhân sự, bộ máy, đến thay đổi chiến lược, sản phẩm kinh doanh, ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý, vận hành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường du lịch.
Có thể nói rằng, dịch bệnh là khách quan không ai mong muốn, nhất là ngành du lịch vốn rất nhạy cảm. Nhưng khi có sự cố xảy ra, toàn ngành đã rất nhanh chóng, đoàn kết, nỗ lực tìm ra phương án tốt để thích nghi, phục hồi, đổi mới để phù hợp xu hướng phát triển mới, quan trọng là đáp ứng kịp thời các xu hướng của du khách./.
Ruộng bậc thang tại xã Chiềng Muôn, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. (Ảnh: Quang Quyết/TTXVN)
Du lịch Việt chinh phục khách Việt
Năm 2020, du lịch Việt Nam lần thứ hai phải đối mặt với khủng hoảng do dịch bệnh. Vốn được coi là ngành kinh tế mũi nhọn nên những người làm du lịch nước nhà đã nhanh chóng có kịch bản ứng phó nhằm kích cầu du lịch, thu hút khách nội địa.
Một lần nữa, du lịch nội địa đã khẳng định vai trò “cứu nguy” cho du lịch Việt trong khi chờ phục hồi thị trường quốc tế. Nhiều doanh nghiệp ý thức được rằng đã đến lúc du lịch Việt phải chinh phục du khách Việt, coi đây là thị trường trọng điểm chứ không phải chỉ những lúc cần “cấp cứu.”
Khách nội địa “phá băng” du lịch sau COVID-19
Theo nghiên cứu của các chuyên gia, ngày càng nhiều người Việt Nam đi du lịch, cả trong nước và quốc tế, thường là vào các dịp nghỉ lễ dài, nghỉ hè, nghỉ Tết. Hàng năm, các hãng lữ hành vẫn thường chào đón khách nội địa với các sản phẩm hấp dẫn, giá cả hợp lý.
Nhiều doanh nghiệp ý thức được rằng đã đến lúc du lịch Việt phải chinh phục du khách Việt, coi đây là thị trường trọng điểm chứ không phải chỉ những lúc cần “cấp cứu.”
Các kỳ hội chợ du lịch uy tín trong nước cũng luôn dành cho du khách các tour giảm giá sâu. Du lịch nội địa cũng được phát động, kích cầu tích cực sau khi Việt Nam kiểm soát tốt dịch bệnh nhằm thu hút khách nội địa, góp phần phục hồi du lịch đang “nằm im” vì ảnh hưởng dịch bệnh.
Du khách tham quan dưới đáy biển ngắm san hô tại vùng biển Phú Quốc. (Nguồn: TTXVN)
Ông Trần Trọng Kiên, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Du lịch (TAB) chia sẻ doanh thu từ ngành du lịch Việt năm 2019 có tới 45% là từ khách nội địa. Bối cảnh dịch bệnh toàn cầu tạo ra “cơ hội vàng” cho du lịch Việt bởi nhớm khách Việt trước đây hay du lịch quốc tế thì nay sẽ quay lại khám phá Việt Nam.
Nhóm khách này có khả năng chi trả cao nên nếu phục vụ tốt, có sản phẩm mới chất lượng thì họ sẽ gắn bó lâu dài hơn với du lịch Việt.
Vậy làm gì để thu hút khách nội địa ủng hộ du lịch trong bối cảnh dịch bệnh? Những người làm du lịch đã tiến hành thành lập và cho ra mắt một liên minh kích cầu với các sản phẩm giảm giá hấp dẫn, chất lượng cao hoặc tăng thêm dịch vụ trong tour.
Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình nhấn mạnh ngành du lịch sống được là dựa vào nguồn khách nên cách tốt nhất để thu hút khách trở lại sau mùa dịch bệnh là phải kích cầu nhanh chóng, quyết liệt để trong 2 tháng có thể khôi phục được hoạt động du lịch nội địa.
Có ý kiến cũng đề cập đến việc giảm giá sâu liệu có kéo theo giảm chất lượng? Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp nêu rõ quan điểm là giảm giá nhưng kiên quyết phải giữ vững chất lượng sản phẩm dịch vụ, không những thế còn phải gia tăng thêm giá trị, tiện ích cho khách hàng. Từ đó, khách hàng cảm nhận được đây là cơ hội tốt nhất để đi du lịch.
Toàn cảnh chùa Thiên Mụ. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)
Sản phẩm du lịch là yếu tố quan trọng nhất để thu hút du khách, nên để kích cầu thành công, mỗi doanh nghiệp lữ hành cần thực sự đầu tư vào sản phẩm. Bởi lẽ vào thời điểm này du lịch chỉ có thể dựa vào khách nội địa, sản phẩm ngoài mức giá tốt, chất lượng cao, hấp dẫn còn phải đảm bảo an toàn mới có thể tạo động lực cho khách hàng quay lại nhiều lần. Nhiều doanh nghiệp cũng cam kết kích cầu giảm giá nhưng không phá giá; xác định du khách nội địa vẫn là nguồn phục vụ chính đến tháng 6/2021…
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Lê Phúc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kịp thời phát động chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” nhằm đẩy mạnh truyền thông, quảng bá điểm đến, giới thiệu sản phẩm kích cầu du lịch.
Theo dự báo, nếu khống chế được dịch bệnh tốt như hiện nay thì lượng khách nội địa năm 2020 có thể đạt khoảng 60-65 triệu lượt. Bên cạnh đó, ngành du lịch cũng chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón khách quốc tế trở lại.
Trong trường hợp có thể bắt đầu đón khách được từ quý 3 thì lượng khách quốc tế đến nước ta năm 2020 có thể đạt từ 6-8 triệu lượt. Nếu đón từ quý 4 thì có thể đạt được 4,5-5 triệu lượt khách quốc tế.
Thu hút du khách Việt để phát triển bền vững
Trong nhiều năm qua, các kỳ hội chợ du lịch uy tín trong nước, quốc tế ở Việt Nam đều dành sự quan tâm đặc biệt cho du khách nội địa với việc tung ra các tour khuyến mãi, vé máy bay giá siêu rẻ.
Các sản phẩm du lịch kích cầu đều thu hút lượng lớn người dân đặt mua nhưng thực sự mới chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu đi du lịch của người dân, nhất là với người dân đi du lịch trong nước.
Theo dự báo, nếu khống chế được dịch bệnh tốt như hiện nay thì lượng khách nội địa năm 2020 có thể đạt khoảng 60-65 triệu lượt. Bên cạnh đó, ngành du lịch cũng chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón khách quốc tế trở lại.
Trưởng ban Truyền thông Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Tổng giám đốc Flamingo Redtours Nguyễn Công Hoan, thành viên Ban điều hành Liên minh kích cầu du lịch Việt Nam chia sẻ thời gian qua, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng do dịch COVID-19, ngành du lịch tiếp tục nhận được sự quan tâm sâu sắc của cả hệ thống chính trị.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã nhanh chóng phát động chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam,” Hiệp hội Du lịch Việt Nam phát động kích cầu du lịch nội địa ở các khu vực; các địa phương cũng tổ chức nhiều chiến dịch hưởng ứng, thu hút khách đi du lịch.
Du khách tham quan, nghỉ dưỡng tại Khu du lịch Oceanami, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Theo ông Nguyễn Công Hoan, việc khai thác khách nội địa ở Việt Nam không thể chỉ trông chờ vào tình yêu, sự cảm thông của khách mà các doanh nghiệp cần phải xác định là “lữ hành Việt chinh phục du khách Việt.”
Điều quan trọng là các doanh nghiệp lữ hành phải thu hút du khách bằng các sản phẩm hấp dẫn chứ không chỉ là kích cầu, kêu gọi chia sẻ khó khăn với ngành du lịch.
Ông Nguyễn Công Hoan chia sẻ nhiều năm qua, có thể nói là du khách Việt chưa thực sự mặn mà với các sản phẩm du lịch nội địa mà thường chọn xuất ngoại. Lý do vì đâu? Vì giá đi du lịch trong nước còn cao, dịch vụ kém, sản phẩm chưa thu hút, nếu không muốn nói là đơn điệu, nhàm chán.
Thêm vào đó, ý thức phục vụ du khách nội địa chưa được tốt, có phần phân biệt đối xử với khách quốc tế … Do đó, thời gian tới ngành lữ hành cần đổi mới, thay đổi nhiều hơn nữa để chinh phục được nhiều hơn du khách nội địa.
Điều quan trọng là sản phẩm phải được đa dạng hóa hơn, có nhiều sản phẩm du lịch để mọi người dân đều có thể tiếp cận, sản phẩm phải phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Với người có khả năng chi trả thấp thì có các gói tiết kiệm phù hợp; người có khả năng chi trả cao thì sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ hấp dẫn, đa dạng để khách không chỉ đi du lịch 1 lần mà còn quay lại.
Flamingo Redtours cũng như nhiều doanh nghiệp cho rằng hiện là thời điểm vàng để kích cầu du lịch nội địa, nhưng tới đây chính là thời điểm vàng để phát triển thị trường du lịch nội địa.
Mục tiêu là phát triển về số lượng khách, sản phẩm, đặc biệt là giá trị sản phẩm du lịch mà ngành cung cấp cho du khách, để thị trường cho du khách Việt phát triển bền vững chứ không chỉ giới hạn ở thời điểm bị ảnh hưởng bởi COVID-19.
Đã đến lúc toàn ngành du lịch, các địa phương phải hành động để tới đây, khi thị trường quốc tế đã phục hồi nhưng du lịch nội địa vẫn được quan tâm đầu tư. Sản phẩm dành cho du lịch nội địa vẫn là trọng điểm; cơ sở hạ tầng dành cho du lịch nội địa vẫn được quan tâm, đầu tư mức độ xứng đáng…
Đây chính là cơ hội để du lịch Việt xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch nội địa đang từ bị động sang vị thế chủ động để phát triển bền vững, dù khó khăn đến mấy cũng có kịch bản ứng phó kịp thời, tự tin với sức mạnh nội tại, sâu rễ, bền gốc thay vì chỉ chăm phần ngọn./.
Khách du lịch vui chơi, tắm biển tại bãi biển Dinh Cậu, thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Với đa số ý kiến ủng hộ những đề xuất sửa đổi Hiến pháp do Tổng thống Nga Vladimir Putin khởi xướng, có thể nói cử tri Nga đã lựa chọn con đường cải cách để phát triển ổn định cho đất nước trong tương lai.
Sự kiện đánh dấu nước Nga thực sự sẽ “sống và làm việc” theo Luật cơ bản mới, với việc thay đổi đáng kể cấu trúc quyền lực nhà nước hiện nay, tạo ra một nền tảng mới về chất cho quá trình phát triển của cả một giai đoạn dài sắp tới.
Với đa số ý kiến ủng hộ những đề xuất sửa đổi Hiến pháp do Tổng thống Putin khởi xướng, có thể nói cử tri Nga đã lựa chọn con đường cải cách để phát triển ổn định cho đất nước trong tương lai.
Kết quả sơ kiểm 100% số phiếu trong cuộc bỏ phiếu toàn quốc về gói sửa đổi Hiến pháp được Tổng thống Putin đưa ra trong Thông điệp liên bang 2020, do Ủy ban Bầu cử trung ương Nga công bố trưa 2/7, cho thấy khoảng 77,92% cử tri Nga ủng hộ các đề xuất cải cách vốn sẽ thay đổi diện mạo cả hệ thống chính trị đất nước.
Theo các chuyên gia, kể từ khi Hiến pháp nước Nga đương đại được thông qua năm 1993, trong vòng 27 năm, Luật cơ bản của Liên bang Nga được sửa đổi 3 lần, nhưng không lần nào quy mô điều chỉnh lại lớn như gói sửa đổi năm 2020 này.
Năm 2008, Liên bang Nga sửa đổi 4 điều khoản Hiến pháp để tăng các nhiệm kỳ của tổng thống và Đuma quốc gia (Hạ viện). Năm 2014, lần sửa đổi thứ hai liên quan đến 8 điều khoản và bỏ 1 điều khoản, dẫn đến việc bãi bỏ Tòa Trọng tài tối cao và làm rõ thủ tục bổ nhiệm các công tố viên.
Ngoài ra, trong lần sửa đổi này, tổng thống có quyền bổ nhiệm không quá 10% thành viên Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Nga.
Người dân bỏ phiếu sớm về đề xuất cải cách Hiến pháp tại điểm bỏ phiếu ở thành phố Vladivostok, Nga ngày 25/6/2020. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Với gói sửa đổi năm 2020 này, 41 điều khoản sẽ được sửa đổi và bổ sung thêm 5 điều mới. Nghĩa là ngoại trừ các chương 1, 2 và 9, chỉ có thể thay đổi bằng cách triệu tập Hội nghị Hiến pháp và soạn thảo Luật cơ bản mới, gói sửa đổi năm 2020 liên quan đến 60% các điều khoản trong Hiến pháp 1993 và nếu tính thêm các điều khoản mới là hơn 62%.
Điều đó nêu bật vai trò và tầm quan trọng của bản Hiến pháp mới đối với nước Nga đương đại bởi văn kiện này sẽ làm thay đổi đáng kể hệ thống chính trị đã tồn tại hơn một phần tư thế kỷ ở Liên bang Nga.
Về chính trị, gói sửa đổi Hiến pháp lần này liên quan đến việc phân phối lại quyền lực giữa các nhánh chính quyền. Ý tưởng xuyên suốt là chuyển từ chế độ cộng hòa “siêu tổng thống” năm 1993, sang tạo ra song song một hệ thống giám sát và đối trọng mới. Nói cách khác, là nâng cao vai trò và trách nhiệm của cơ quan lập pháp.
Theo Hiến pháp sửa đổi, Duma quốc gia sẽ có quyền phê chuẩn không chỉ thủ tướng, mà cả các phó thủ tướng và bộ trưởng “dân sự” (tổng thống sẽ bổ nhiệm các nhân vật này).
Theo Hiến pháp sửa đổi, Duma quốc gia sẽ có quyền phê chuẩn không chỉ thủ tướng, mà cả các phó thủ tướng và bộ trưởng “dân sự” (tổng thống sẽ bổ nhiệm các nhân vật này).
Hiến pháp sửa đổi đồng thời cũng quy định tổng thống trực tiếp bổ nhiệm bộ trưởng các bộ “sức mạnh” như Quốc phòng (trước đó chỉ quy định trong Luật Chính phủ).
Thủ tướng sẽ có thể trình đề cử các thành viên chính phủ lên Duma quốc gia (hiện thủ tướng phải trình lên tổng thống). Hội đồng Liên bang có thêm quyền được tổng thống tham khảo ý kiến khi bổ nhiệm các bộ trưởng “sức mạnh” – tuy nhiên các thượng nghị sĩ sẽ mất quyền bổ nhiệm tổng công tố theo đệ trình của tổng thống, tổng thống sẽ bổ nhiệm tổng công tố sau khi tham vấn Thượng viện.
Tòa án Hiến pháp cũng được bổ sung thêm các quyền hạn, có thể kiểm tra không chỉ các luật hiện có mà cả các luật liên bang và luật khu vực chưa có hiệu lực.
Tuy nhiên, các thẩm phán của Tòa án Hiến pháp và các tòa án khác có thể bị Hội đồng Liên bang bãi nhiệm theo đề nghị của tổng thống.
Tổng thống Nga Vladimir Putin trong bài phát biểu trên truyền hình tại khu vực Tver ngày 30/6/2020. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Theo gói sửa đổi Hiến pháp, các quan chức chính phủ không được có hai quốc tịch, phải thường xuyên sống ở Nga và không được nhận giấy cư trú ở quốc gia khác; không được mở tài khoản ở các ngân hàng nước ngoài, gửi tiền mặt và các tài sản có giá trị trong các ngân hàng nước ngoài. Ứng cử viên tổng thống phải sống thường xuyên ở Nga không dưới 25 năm.
Các sửa đổi cũng quy định cấm hoàn toàn công dân có tài khoản ở ngân hàng nước ngoài, hoặc đã từng có quốc tịch nước ngoài, hoặc giấy cư trú ở một quốc gia khác ứng cử tổng thống.
Những sửa đổi này, theo Tổng thống Putin, là nhằm “gắn chặt” cuộc đời và sự nghiệp của quan chức cao cấp với nước Nga, cũng có thể hiểu là “đặt lợi ích quốc gia của nước Nga lên trên hết.”
Theo nội dung bổ sung này, ngoài Tổng thống đương nhiệm Putin, cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, nếu ra tranh cử năm 2024, cũng được “xóa” nhiệm kỳ tổng thống trước đây.
Hiến pháp sửa đổi cũng khẳng định rõ quy định một người không được giữ quá 2 nhiệm kỳ tổng thống liên tiếp, song có một nội dung bổ sung, là sau khi bản Hiến pháp này có hiệu lực, sẽ không tính số nhiệm kỳ đối với những người đã và hiện đang là tổng thống Nga, đồng nghĩa với Tổng thống đương nhiệm Putin có thể ra tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2024.
Theo nội dung bổ sung này, ngoài Tổng thống đương nhiệm Putin, cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, nếu ra tranh cử năm 2024, cũng được “xóa” nhiệm kỳ tổng thống trước đây.
Về xã hội, gói sửa đổi Hiến pháp lần này rất chú trọng đến việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân. Cụ thể, quy định mức lương tối thiểu không được thấp hơn mức sinh hoạt phí tối thiểu và đảm bảo quyền hưởng hưu trí hằng năm.
Những thay đổi quan trọng nhất liên quan đến việc tăng cường các quy định về an sinh xã hội: cung cấp hỗ trợ xã hội có mục tiêu, lương hưu, bảo vệ các giá trị gia đình và bảo vệ lao động, người dân được quyền khám chữa bệnh, hỗ trợ của các tình nguyện viên và tổ chức phi chính phủ, bảo tồn di sản văn hóa, hỗ trợ cho khoa học Nga…
Các thành viên Ủy ban bầu cử địa phương kiểm phiếu trưng cầu dân ý về sửa đổi Hiến pháp ở một điểm bỏ phiếu tại Moskva ngày 1/7/2020. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Theo đánh giá của các chuyên gia, hầu hết những sửa đổi này về cơ bản không mới mà đã tồn tại trong luật liên bang hiện hành và nay chỉ chuyển sang cấp Hiến pháp. Những thay đổi về kinh tế-xã hội này dự báo sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người dân Nga.
Từ lâu, rất nhiều chuyên gia đã ủng hộ việc “phân bổ lại” các quyền lực của tổng thống theo hướng chuyển bớt các quyền này sang cho quốc hội và chính phủ, vì như vậy nước Nga sẽ có cơ quan lập pháp mạnh, đảm đương cả vai trò bổ nhiệm lãnh đạo cao nhất của nhánh hành pháp thay vì chỉ phê chuẩn theo đệ trình của tổng thống như hiện nay.
Giới chuyên gia cho rằng gói sửa đổi Hiến pháp này cho phép hình thành một hệ thống nghị viện dân chủ và cân bằng hơn so với chính quyền “siêu tổng thống” của Hiến pháp năm 1993.
Với việc ủng hộ gói sửa đổi Hiến pháp 2020, cử tri Nga đang kỳ vọng những cải cách này sẽ là nền tảng để nước Nga tiến bước tự tin hơn trên con đường hướng tới một tương lai thịnh vượng.
Theo Hiến pháp sửa đổi, nước Nga sẽ chuyển thành nước cộng hòa tổng thống-nghị viện, với cơ quan lập pháp mang tính đại diện và thực hiện đầy đủ vai trò đại diện, với hai nhánh chính quyền hành pháp và lập pháp có liên hệ chặt chẽ, với hệ thống chính trị cân bằng và vững chắc, đảm bảo cho chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Bởi vậy, gói sửa đổi Hiến pháp được Tổng thống Putin đề xuất lần này được đánh giá chính là bước đi “hiện thực hóa” mục tiêu đó.
Đồng thời, Hiến pháp sửa đổi còn khắc họa đậm nét hơn hình ảnh nước Nga mới với vị thế vững vàng hơn nhiều, cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự so với nước Nga đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Với việc ủng hộ gói sửa đổi Hiến pháp 2020, cử tri Nga đang kỳ vọng những cải cách này sẽ là nền tảng để nước Nga tiến bước tự tin hơn trên con đường hướng tới một tương lai thịnh vượng.
Những tấm Pano lớn được bố trí tại những nơi công cộng nhằm động viên cử tri Nga đi bỏ phiếu cho sửa đổi Hiến pháp. (Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN)
Vùng Đông Nam Bộ gồm Thành phố Hồ Chí Minh và 5 tỉnh: Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai, có vị trí chiến lược quan trọng đối với việc phát triển các ngành kinh tế của cả nước nói chung, ngành du lịch nói riêng.
Mỗi địa phương trong vùng đều được đánh giá là miền đất có bề dày lịch sử, văn hóa phát triển rất phong phú, đa dạng, có nhiều nét chung hòa quyện vào lịch sử-văn hóa phương Nam, nhưng vẫn giữ được những nét riêng độc đáo – là tài nguyên quý để phát triển du lịch.
Nhìn nhận lại thế mạnh, chọn lọc, định vị sản phẩm đặc sắc; đẩy mạnh liên kết trong và ngoài vùng để làm gia tăng giá trị điểm đến là những giải pháp các địa phương khu vực Đông Nam Bộ thống nhất thực hiện.
Nội dung này được phóng viên TTXVN phản ánh qua hai bài viết “Tăng sức hấp dẫn cho du lịch Đông Nam Bộ.”
Định vị sản phẩm, chọn điểm nhấn
Không chỉ có nhiều lợi thế trong phát triển công nghiệp, dịch vụ, vùng Đông Nam Bộ còn có rất nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển nhiều loại hình dịch vụ du lịch, phù hợp thị hiếu nhiều dòng khách khác nhau.
Theo Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Đông Nam Bộ được xác định là một trong 7 vùng phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với du lịch cả nước.
Mỗi địa phương một thế mạnh
Thành phố Hồ Chí Minh và từng địa phương thuộc khu vực Đông Nam Bộ đều có nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển du lịch rất đa dạng.
Theo Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng phê duyệt, Đông Nam Bộ được xác định là một trong 7 vùng phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với du lịch cả nước.
Riêng Thành phố Hồ Chí Minh là điểm đến sôi động, thị trường gửi khách và nhận khách năng động bậc nhất cả nước; mỗi năm đón khoảng 40 triệu lượt du khách trong và ngoài nước.
Thành phố có lợi thế là đầu mối giao thông của cả nước gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Từ thành phố đi các tỉnh miền Trung, miền Bắc qua Quốc lộ 1A, đường sắt Thống Nhất, sân bay Tân Sơn Nhất; vị trí thuận lợi trong việc giao lưu với các địa phương trong vùng, cả nước và quốc tế.
Hội trường Thống nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Theo Giám đốc Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh Bùi Tá Hoàng Vũ, bên cạnh nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên như Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh hiện sở hữu rất nhiều tài nguyên du lịch nhân văn như các di tích lịch sử-văn hóa gồm Địa đạo Củ Chi-Đền Bến Dược, Hội trường Thống Nhất, Bưu điện thành phố, Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh; các di tích khảo cổ: Lò gốm Hưng Lợi, di tích mộ Chum Giồng cá vồ, Giồng Phệt ở huyện Cần Giờ.
Trên địa bàn Thành phố còn có nhiều khu du lịch, vui chơi giải trí, các bảo tàng là điểm đến trong hành trình của du khách.
Với nhiều lợi thế, các sản phẩm du lịch chủ lực của Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là du lịch MICE (du lịch kết hợp hội thảo, hội nghị, triển lãm, sự kiện…), du lịch mua sắm, ẩm thực, thể thao, du lịch đường thủy, vui chơi giải trí và văn hóa cộng đồng đô thị.
Thành phố cũng coi trọng việc kết nối với các địa phương trong cả nước và quốc tế cùng hợp tác làm phong phú sản phẩm du lịch, để thành phố thực sự là nơi hội tụ, điểm hẹn của nhiều sự kiện văn hóa, du lịch nổi bật.
Cùng thuộc khu vực Đông Nam Bộ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu lại tập trung khai thác các sản phẩm du lịch từ biển đảo, gồm du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, du lịch tàu biển, du lịch thể thao, du lịch sức khỏe và du lịch.
Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Trịnh Hàng khẳng định đối với phát triển sản phẩm du lịch, việc định vị sản phẩm đặc sắc của từng vùng nhằm tạo sức hút đối với du khách là rất quan trọng.
Thực tiễn cho thấy ở nhiều vùng, sự liên kết du lịch khó hiệu quả vì các địa phương đều có các sản phẩm du lịch “na ná,” gần giống nhau. Vì vậy, chọn điểm nhấn là du lịch biển đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu đã có được thế mạnh riêng so với các địa phương trong vùng.
Du khách tham quan, nghỉ dưỡng tại Khu du lịch Oceanami, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Khác với Bà Rịa-Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương được biết đến với những làng nghề nổi tiếng đã định vị trên địa bàn hơn 300 năm, tiêu biểu như làng gốm sứ Lái Thiêu, làng mộc, chạm khắc gỗ ở Chánh Nghĩa, Phú Thọ, làng sơn mài Tương Bình Hiệp…
Bình Dương có lợi thế từ hệ thống các con sông chảy qua địa phận Bình Dương như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Thị Tính cùng các con kênh rạch; vườn cây trái Lái Thiêu, Khu du lịch Đại Nam, khu du lịch Núi Cậu-lòng hồ Dầu Tiếng, làng tre Phú An, Khu du lịch địa đạo Củ Chi mở rộng phía Bình Dương…
Là địa phương có núi Bà Đen cao 986m – được mệnh danh là “nóc nhà Đông Nam Bộ,” tỉnh Tây Ninh lại có tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng với cảnh quan thiên nhiên đẹp, hệ sinh thái đa dạng, vừa có sông, núi, hồ và rừng. Tây Ninh còn có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn dồi dào với nhiều di sản văn hóa phi vật thể nhân loại và di sản văn hóa vật thể cấp Quốc gia như Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, múa trống Chhay-dăm, nghề làm bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, Lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen.
Đặc biệt, tỉnh nằm trên tuyến đường Xuyên Á – là tuyến giao thông huyết mạch đóng vai trò kết nối vận chuyển hàng hóa từ Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Đông, Tây Nam Bộ sang Campuchia và các nước ASEAN; có đường Hồ Chí Minh đi qua nối địa phương với cả nước.
Theo ông Trần Văn Chiến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh, cùng ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Ninh có nhiều sản phẩm du lịch rất riêng như núi Bà Đen, Khu di tích quốc gia đặc biệt Trung ương Cục miền Nam, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, hồ Dầu Tiếng, Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát.
Không những thế, địa phương cũng có nhiều đặc sản ẩm thực có sức hấp dẫn với du khách như bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng phơi sương, mãng cầu núi Bà Đen, ổi, dưa lưới, bò tơ Tây Ninh…
Phát triển sản phẩm mới
Đánh giá về lợi thế cũng như những sản phẩm du lịch đã được hình thành, khai thác tại các địa phương khu vực Đông Nam bộ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng khẳng định vùng Đông Nam Bộ là khu vực động lực phát triển phía Nam với các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Biên Hòa( tỉnh Đồng Nai)…
Đặc biệt, Thành phố là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thương mại và du lịch lớn nhất cả nước; là trung tâm kết nối, thu hút và lan tỏa mọi hoạt động kinh tế-xã hội của vùng nói riêng và cả nước nói chung.
Theo nhiều chuyên gia du lịch, để tăng sức hấp dẫn cho du lịch Đông Nam Bộ, mỗi địa phương cũng như toàn vùng cần quan tâm phát triển các sản phẩm mới theo hướng gia tăng sự trải nghiệm, độc đáo, không trùng lặp.
Đây chính là lợi thế, khác biệt so với các vùng khác trong phát triển du lịch và phát triển sản phẩm du lịch.
Năm 2019, cả nước đón 18 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa; trong đó riêng vùng Đông Nam Bộ đã đón và phục vụ 9,5 triệu lượt khách quốc tế, gần 40 triệu lượt khách nội địa.
Theo nhiều chuyên gia du lịch và đại diện các hãng lữ hành, để các địa phương vùng Đông Nam Bộ tiếp tục được du khách lựa chọn là điểm đến, một trong những điểm mấu chốt là mỗi địa phương cũng như toàn vùng không chỉ dừng lại ở các sản phẩm đang được khai thác mà cần quan tâm phát triển các sản phẩm mới theo hướng gia tăng sự trải nghiệm, sự độc đáo, không trùng lặp.
Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng nhận định đối với việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của vùng, tránh trùng lặp, các tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ cần xác định các nhóm sản phẩm để tập trung đầu tư phát triển ở từng địa phương, ví dụ như nhóm sản phẩm du lịch dựa trên khai thác giá trị văn hóa lịch sử, cách mạng; nhóm sản phẩm dựa trên việc khai thác giá trị các đô thị lớn trong vùng phát triển du lịch đô thị, du lịch MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo); nhóm sản phẩm dựa trên khai thác các giá trị tài nguyên du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp; nhóm sản phẩm dựa trên khai thác các giá trị tài nguyên du lịch biển, đảo để phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển, đảo.
Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại hội nghị kết nối du lịch vùng Đông Nam Bộ. (Ảnh: Lê Đức Hoảnh/TTXVN)
Coi trọng phát triển sản phẩm du lịch, góp phần phát triển bền vững du lịch Đông Nam Bộ, ông Lê Thanh Liêm, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, toàn vùng cần tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm du lịch đã hình thành và phát triển thêm sản phẩm mới, tour tuyến mới theo nhiều chủ đề, đáp ứng đa dạng nhu cầu và thị hiếu của các phân khúc du khách; tiếp tục nghiên cứu đưa thêm sản phẩm du lịch y tế và du lịch xanh, du lịch tâm linh vào các chương trình kích cầu du lịch.
Theo thông tin từ Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm phát triển sản phẩm du lịch. Riêng ở sản phẩm du lịch đường thủy thời gian tới, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục liên kết với tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và các tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ, tạo nên nhiều sản phẩm hấp dẫn, điểm nhấn cũng như xây dựng hệ thống các nhà chờ, bến đậu; nâng cao chất lượng môi trường nước trên các tuyến đường thủy của thành phố, các tuyến nội đô kênh Nhiêu Lộc, kênh Tàu Hủ, rạch Bến Nghé, rạch Lò Gốm, tạo thuận lợi cho sự đi lại của các phương tiện du lịch thủy trên thượng lưu sông Sài Gòn.
Đồng tình với ý kiến trên, ông Nguyễn Thanh Phong, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương cho hay: Sắp tới, tỉnh tập trung khai thác tuyến du lịch đường sông nhằm đón đối tượng du khách đi theo tuyến đường sông Thành phố Hồ Chí Minh-Bình Dương-Củ Chi.
Bên cạnh đó, quần thể núi Cậu, lòng hồ Dầu Tiếng hay làng tre Phú An (được coi là Bảo tàng tre lớn nhất Việt Nam)… là những điều kiện thuận lợi để tỉnh tiếp tục phát triển, làm mới nhiều sản phẩm du lịch sinh thái hấp dẫn du khách khi đến Bình Dương.
Quan tâm đến việc tạo ra các sản phẩm du lịch mới, chất lượng, lấy dẫn chứng cụ thể tại Tây Ninh – một địa phương thuộc khu vực Đông Nam Bộ, đại diện Tập đoàn Sun Group chia sẻ khởi đầu là quần thể khu du lịch Núi Bà Đen với hệ thống cáp treo hiện đại, doanh nghiệp sẽ tiếp tục triển khai nhiều hạng mục khác để biến Núi Bà Đen thành điểm đến du lịch tâm linh, sinh thái hấp dẫn bậc nhất Nam Bộ.
Tương lai, Tây Ninh sẽ có thêm vườn Thượng uyển, công viên chủ đề, các khu nghỉ dưỡng, sân golf… góp phần phát triển du lịch ở Tây Ninh, đưa tỉnh trở thành một cực tăng trưởng mới của vùng kinh tế Đông Nam Bộ./.
Đông đảo khách du lịch đến tham quan, hành hương tại khu du lịch núi Bà Đen ở Tây Ninh. (Ảnh: Thanh Tân/TTXVN)
Liên kết để cùng phát triển
Từng địa phương đã xác định được thế mạnh riêng và bước đầu tạo được dấu ấn đối với du khách, song du lịch toàn vùng Đông Nam Bộ thời gian qua vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.
Theo các chuyên gia, Đông Nam Bộ cần hình thành thương hiệu du lịch vùng chung và tạo ra sự đa dạng trong hành trình của du khách đến khu vực; đặt mục tiêu tăng chi tiêu bình quân và kéo dài độ dài lưu trú của du khách
Do vậy, đẩy mạnh liên kết, hợp tác giữa các địa phương trong vùng và các vùng khác trong cả nước chính là giải pháp phù hợp để du lịch Đông Nam bộ có những bứt phá mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Hình thành thương hiệu du lịch vùng
Theo ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian qua tốc độ phát triển của du lịch vùng Đông Nam Bộ còn khiêm tốn so với vị trí chiến lược và tiềm năng của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa-lịch sử, đa dạng về tài nguyên du lịch và nguồn nhân lực dồi dào.
Theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, vùng Đông Nam bộ với định hướng khai thác sản phẩm đặc trưng như Du lịch MICE (hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm); du lịch văn hóa, lễ hội, giải trí; du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch giải trí cuối tuần, du lịch thể thao, du lịch mua sắm; du lịch biên giới gắn với cửa khẩu.
Do đó, cần hình thành nên một thương hiệu du lịch vùng chung và tạo ra sự đa dạng trong hành trình của du khách đến khu vực; đặt mục tiêu tăng chi tiêu bình quân và kéo dài độ dài lưu trú của du khách; đóng góp vào sự tăng trưởng bền vững của kinh tế và ổn định xã hội của toàn vùng.
Để giải bài toán liên kết vùng của các địa phương khu vực Đông Nam Bộ trong phát triển du lịch, hình thành thương hiệu du lịch vùng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng đề xuất, một trong những giải pháp hiệu quả là trong thời gian tới Bộ Văn hóa-Thể Thao và Du lịch sẽ chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các địa phương vùng Đông Nam Bộ triển khai Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và trong quá trình xây dựng Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Du khách quốc tế tham quan du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Theo đó, xác định và nêu rõ tầm quan trọng của liên kết vùng để phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương, tạo ra sản phẩm du lịch riêng có, chất lượng cao… từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và lợi thế phát triển du lịch toàn vùng.
Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng được bản đồ du lịch vùng, xác định rõ trung tâm du lịch của vùng. Việc xác định rõ địa phương nào là động lực tăng trưởng, địa phương nào giữ vai trò phụ trợ sẽ giúp định hình được bài toán đầu tư và phát triển về hạ tầng, sản phẩm du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, tránh hiện trạng đầu tư dàn trải, gây lãng phí nguồn lực.
Cũng theo Thứ trưởng Lê Quang Tùng, các địa phương và cơ quan chức năng cần nghiên cứu mô hình hợp tác công tư trong quảng bá, xúc tiến du lịch cho cả vùng, theo hướng khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư, vận hành từ định vị thương hiệu du lịch chung của vùng, định vị sản phẩm, chiến lược tiếp thị cho toàn vùng.
Quan tâm đến việc cần có những giải pháp chung, tổng thể để cùng xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch, từ thực tế ở địa phương, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương Nguyễn Thanh Trúc chia sẻ năm 2019, ngành Du lịch Bình Dương đón trên 5,1 triệu lượt khách, tổng doanh thu du lịch đạt 1.440 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân về lượt khách là 6% và doanh thu là 5%.
Dù vậy, thời gian qua Bình Dương vẫn chưa khai thác hết tiềm năng du lịch. Hiện tỉnh còn nghèo về sản phẩm, chưa thu hút nhiều du khách, nhất là khách quốc tế. Bên cạnh việc tự phát triển du lịch của từng địa phương, sự thiếu liên kết giữa các địa phương cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế phát triển du lịch vùng Đông Nam bộ thời gian vừa qua.
Do đó, để hình thành và phát triển chuỗi giá trị dịch vụ du lịch của toàn vùng, sau khi hoàn thiện sản phẩm du lịch, các tỉnh cần lựa chọn, giới thiệu sản phẩm tiêu biểu, chất lượng của từng địa phương để đưa vào hệ thống cung cấp sản phẩm du lịch.
Hơn nữa, nên thành lập Trung tâm điều hành và cung cấp thông tin, quảng bá về các sản phẩm du lịch của mỗi địa phương (huy động từ nguồn xã hội hóa) hoặc bổ trợ thêm chức năng cho Trung tâm Xúc tiến du lịch ở mỗi địa phương nhằm thu hút khách du lịch.
Liên kết để phục hồi và phát triển bền vững
Theo lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực Đông Nam Bộ, đối với phát triển du lịch việc liên kết có ý nghĩa trong cả giai đoạn này – thời điểm du lịch Việt Nam đang nỗ lực phục hồi, trước mắt kích cầu du lịch nội địa và cả về lâu dài.
Việc đẩy mạnh liên kết sẽ giúp các địa phương phát huy toàn diện các tiềm năng, lợi thế về giá trị tài nguyên du lịch, vị trí chiến lược, tạo lập không gian du lịch thống nhất để cùng phát triển, tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở đó, Thỏa thuận liên kết hợp tác phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ (Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh) giai đoạn 2020-2025 vừa được ký kết, thể hiện sự chung tay, đồng lòng tạo sự bứt phá cho du lịch Đông Nam Bộ thời gian tới của mỗi địa phương.
Thỏa thuận liên kết hợp tác phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2020-2025 được ký kết, thể hiện sự chung tay, đồng lòng tạo sự bứt phá cho du lịch thời gian tới của mỗi địa phương.
Thỏa thuận này đề ra các mục tiêu hợp tác, liên kết khá cụ thể, thiết thực, như phấn đấu tăng tỷ lệ khách du lịch từ Thành phố Hồ Chí Minh đến 5 tỉnh cùng khu vực Đông Nam bộ trong liên kết và khách du lịch từ 5 tỉnh Đông Nam bộ trong liên kết đến Thành phố Hồ Chí Minh qua từng năm; đặc biệt góp phần hồi phục nhanh ngành du lịch sau ảnh hưởng của dịch COVID-19.
Bên cạnh đó, các địa phương hợp tác, liên kết để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo sản phẩm du lịch, chương trình du lịch, tuyến du lịch liên vùng hoàn chỉnh và quảng bá chung trong và ngoài nước; xây dựng chuỗi du lịch thân thiện an toàn với sản phẩm du lịch đặc trưng của từng địa phương.
Lãnh đạo 6 tỉnh vùng Đông Nam Bộ ký kết liên kết phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ. (Ảnh: Lê Đức Hoảnh/TTXVN)
Một trong những nội dung được ưu tiên thực hiện ngay tại thời điểm này nhằm nhanh chóng phục hồi du lịch đã được Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực Đông Nam bộ xác định là các tỉnh Đông Nam bộ tạo điều kiện để các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành của Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương xây dựng, chào bán sản phẩm du lịch của các địa phương trong liên kết cho du khách.
Thành phố Hồ Chí Minh làm đầu mối mở rộng liên kết trong nước để doanh nghiệp các tỉnh, thành phố trong liên kết phối hợp xây dựng chào bán sản phẩm du lịch của vùng Đông Nam bộ. Hiệp hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh hợp tác cùng các doanh nghiệp lữ hành hàng đầu của thành phố xây dựng một số chương trình du lịch dành cho khách du lịch nội địa từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây Nam Bộ, miền Trung, Tây Nguyên, phía Bắc đến 5 tỉnh Đông Nam Bộ.
Các khách sạn, nhà hàng, cơ sở dịch vụ tham gia chương trình có cam kết giảm giá, kích cầu và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất; đề nghị các hãng hàng không giảm giá vé, ưu đãi giá vé và ưu tiên đặt chỗ; tạo thành sản phẩm du lịch chung; cùng quảng bá, tiếp thị và chào bán cho du khách.
Nhằm khai thác tiềm năng du lịch của các địa phương tạo nên chuỗi sản phẩm liên kết vùng, ông Võ Anh Tài, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty du lịch Sài Gòn (Saigontourist Group) chia sẻ, thời gian qua, đại diện Công ty dịch vụ Lữ hành Saigontourist thuộc Saigontourist Group cùng đoàn doanh nghiệp du lịch Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với một số nhà tư vấn đã tham gia khảo sát các điểm đến, các dịch vụ của các tỉnh Đông Nam Bộ.
Trên cơ sở khảo sát, các doanh nghiệp kịp thời xây dựng 3 tuyến du lịch mẫu liên kết với các địa phương cùng trong vùng Đông Nam Bộ. Cụ thể là tuyến Thành phố Hồ Chí Minh-Bình Dương-Tây Ninh với các điểm tham quan: Đồn điền cao su thời Pháp thuộc và chùa Thái Sơn-núi Cậu (Bình Dương), các điểm đến ở Tây Ninh như Cáp treo núi Bà Đen, thánh thất Cao Đài, doanh nghiệp trà Hoàn Ngọc.
Tuyến Thành phố Hồ Chí Minh-Bình Dương-Bình Phước với các điểm tham quan như: Căn cứ lịch sử cách mạng Tà Thiết, khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ ở tỉnh Bình Phước, chùa Thái Sơn-núi Cậu và lòng hồ Dầu Tiếng ở tỉnh Bình Dương.
Hoặc tuyến Thành phố Hồ Chí Minh-Đồng Nai-Bà Rịa Vũng Tàu với các điểm đến ở tỉnh Đồng Nai như đảo Ó-Đồng Trường, trấn biên Biên Hòa, làng bưởi Tân Triều và các điểm đến ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu như Khu du lịch cáp treo Hồ Mây, bến du thuyền Marine, đảo Gò Găng, nhà lớn Long Sơn./.
Du khách tham quan, nghỉ dưỡng tại Khu du lịch Oceanami, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Los trabajadores migrantes nacionales siempre están estrechamente relacionados con la economía de mercado y la integración de ese sector vietnamita.
Al valorar que dichas personas constituyen una parte imprescindible en el panorama del desarrollo socioeconómico del país, los expertos consideraron la necesidad de establecer las políticas de bienestar social para esos sujetos, tales como los seguros social y médico, en aras de garantizar el progreso sostenible.
Brecha de las políticas
Los trabajadores migrantes son personas que viajan, por razones de trabajo, de una región a otra dentro de la frontera de un país, o de una nación a otra.
En Vietnam, los empleadores que emigraron de las zonas rurales a las urbanas representan un porcentaje mucho mayor que el de los trabajadores migrantes a otros países.
Nguyen Trong Dam, ex viceministro de Trabajo, Inválidos de Guerra y Asuntos Sociales, admitió que, actualmente, los ciudadanos migrantes pertenecientes a la categoría pobre no se han beneficiado de las políticas del lugar de acogida, debido a la ausencia de esa regulación en la ley
Según Le Thanh Sang, director del Instituto de Ciencias Sociales del Sur de Vietnam, aunque el Estado emitió muchas políticas nuevas y perfeccionadas para garantizar el bienestar social de los trabajadores migrantes del país, existen todavía muchas barreras en la realidad.
Por su parte, Nguyen Trong Dam, ex viceministro de Trabajo, Inválidos de Guerra y Asuntos Sociales, admitió que, actualmente, los ciudadanos migrantes pertenecientes a la categoría pobre no se han beneficiado de las políticas del lugar de acogida, debido a la ausencia de esa regulación en la ley.
En consecuencia, algunas organizaciones no gubernamentales solicitaron el cambio de las políticas para permitir el acceso de los emigrantes a los programas de reducción de la pobreza.
Por otro lado, el ministro de Trabajo, Inválidos de Guerra y Asuntos Sociales, Dao Ngoc Dung, reveló que hasta finales de 2018, solo 270 mil personas participaron en el seguro social voluntario, lo que representa aproximadamente el 0,8 por ciento del total de unos 34 millones de trabajadores que no se han incorporado a ese servicio en el país.
Hasta finales de 2018, solo 270 mil personas participaron en el seguro social voluntario, lo que representa aproximadamente el 0,8 por ciento del total de unos 34 millones de trabajadores que no se han incorporado a ese servicio en el país
Mientras, se registra, hasta el momento, alrededor de 500 mil vietnamitas que trabajan en el extranjeros, cifra que se añade anualmente más de 100 mil personas adicionales. Del total, solo unos seis mil empleadores participaron voluntariamente en el seguro social.
Destacan importancia de plantear soluciones de sincronización
Para solucionar los asuntos vinculados con los servicios esenciales de bienestar social para los trabajadores migrantes, en los últimos años, las autoridades de Vietnam se esforzaron por incorporar a ese grupo de personas entre los sujetos modificados en la Ley de Seguridad Social, la de Empleo, y de Trabajo, entre otras.
Entretanto, la Ley de Seguro Médico de 2014 les otorgó los derechos de acceso a servicios de salud y atención médica a través de los documentos de residencia temporal. Mientras, la estrategia nacional de bienestar social para período 2012-2020 también consideró al grupo de los trabajadores migrantes como uno de los desfavorecidos que necesitan apoyos, similares al de la pobreza multidimensional.
Desde el 1 de diciembre de 2018, los extranjeros que trabajan en Vietnam también están sujetos a los servicios de seguro social obligatorio, tales como los relacionados con los asuntos de enfermedad, maternidad, accidente de trabajo y enfermedad profesional.
Se trata de la primera vez que la ley vietnamita cuenta con una regulación sobre la implementación del seguro social obligatorio para los empleadores foráneos residentes en el país.
Sin embargo, Tran Hai Nam, subdirector del Departamento de Seguro Social (Ministerio de Trabajo, Inválidos de Guerra y Asuntos Sociales), señaló que a pesar de la emisión los mencionados programas, el porcentaje de trabajadores migrantes que participan en los servicios de bienestar social sigue en bajo.
Según los expertos, la razón radica en la ineficiencia de la materialización de las políticas, además del bajo e inestable nivel de ingreso promedio, la limitación de las condiciones económicas, así como las barreras en los procedimientos de registro.
Según los expertos, la razón radica en la ineficiencia de la materialización de las políticas, además del bajo e inestable nivel de ingreso promedio, la limitación de las condiciones económicas, así como las barreras en los procedimientos de registro.
Mientras, las pólizas de seguro social voluntario solo se implementan para los casos de jubilación y fallecimiento.
Con el fin de aumentar la participación de los empleadores migrantes en los programas de bienestar social voluntarios, en particular, y en el seguro social, en general, los especialistas destacaron la importancia que las agencias de gestión ofrezcan soluciones de sincronización para abordar los problemas anteriores.
El Estado debe emitir las políticas destinadas a incrementar los fondos de asistencia para los participantes voluntarios del seguro social, y las actividades de comunicación necesitan diversificarse para aumentar las posibilidades de acceso a las informaciones de los trabajadores migrantes, especialmente los informales.
Actualmente, el Seguro Social de Vietnam se enfrasca en desplegar las labores de promoción mediante las organizaciones como la Unión Juvenil, y las asociaciones de Mujeres y Campesinos.
Las agencias de seguro social promueven constantemente la aplicación de tecnología de la información, modernización del sistema de gestión, reforma de los procedimientos administrativos, y simplificación del proceso operacional.
Además, se solicitó a las localidades a plantear las medidas para promover el desarrollo económico, crear empleos, estabilizar los salarios y ganancias de los obreros; así como impulsar la formalización de las manos de obras.
Las agencias de seguro social promueven constantemente la aplicación de tecnología de la información, modernización del sistema de gestión, reforma de los procedimientos administrativos, y simplificación del proceso operacional para garantizar la prestación de servicios de manera oportuna, según las disposiciones de la ley.
Para los vietnamitas que emigran al extranjero, las empresas concernientes también negociaron y firmaron acuerdos bilaterales y multilaterales sobre el tema, en aras de asistir a los trabajadores connacionales a acceder gradualmente a las políticas de bienestar social del país de acogida./.
Bayern Munich đã khép lại hành trình tại Bundesliga 2019-20 bằng chức vô địch thứ 8 liên tiếp – điều chưa bao giờ xảy ra ở giải đấu này.
Đây cũng là lần thứ 30 họ bước lên bục chiến thắng trong lịch sử đầy tự hào của câu lạc bộ tại giải đấu danh giá nhất nước Đức.
Trên hành trình bước lên đỉnh vinh quang, Hùm xám xứ Bavaria đã khiến phần còn lại của giải đấu này ngả mũ thán phục khi thiết lập mạch trận bất bại kể từ tháng 12, trong đó có 13 chiến thắng liên tiếp ở cuối mùa giải, đồng thời lập nên hàng loạt những kỷ lục đáng nhớ.
Bayern Munich đã khép lại hành trình tại Bundesliga 2019-20 bằng chức vô địch thứ 8 liên tiếp.
Thành tích 13 trận thắng liên tiếp của Bayern-Hansi Flick đang khiến nhiều người liên tưởng đến Bayern-Jupp Heynckes ở mùa giải 202-13 – mùa giải mà Bayern đã lần đầu tiên giành được “cú ăn ba” lịch sử với việc đăng quang cả ở Bundesliga, Cúp Quốc gia và Champions League.
Bayern-Hansi Flick hiện vẫn còn nguyên cơ hội để tái hiện điều tương tự ngay trong mùa giải đầu tiên được ngồi vào “ghế nóng” – khi mà Bayern vẫn còn chinh chiến ở hai mặt trận còn lại.
Trước mắt, Bayern sẽ đá trận chung kết Cúp Quốc gia với Leverkusen vào ngày 4/7 tới, và nếu giành chiến thắng thì đó sẽ là lần thứ 12 trong lịch sử họ giành cú đúp danh hiệu trong nước.
30 là số lần Bayern giành được đĩa bạc.
Vậy, bí quyết nào mang đến thành công của “Gã khổng lồ” xứ Bavaria – Bayern Munich?
Mô hình kinh doanh Uli Hoeness
Bằng chính sách chuyển nhượng chuẩn mực và rõ ràng để lựa chọn những cầu thủ giỏi nhất nước Đức, đồng thời nhập khẩu một số cầu thủ ngoại, Bayern gần như đã thống trị Bundesliga từ những năm 1970.
Lần thất bại gần đây nhất của họ là vào năm 2012, khi Jurgen Klopp dẫn dắt Dortmund đạt danh hiệu lần thứ hai.
Sức mạnh tài chính của họ đến từ cựu chủ tịch Uli Hoeness, người đã nắm quyền suốt 40 năm trước khi từ chức vào tháng 11 năm ngoái.
Doanh thu 660 triệu euro (741 triệu USD) của Bayern đã giúp câu lạc bộ đứng thứ tư trong bảng xếp hạng đội bóng theo doanh thu mới nhất của Deloitte Football Money League, chỉ sau Barcelona, Real Madrid và Manchester United.
Sức mạnh tài chính của họ đến từ cựu chủ tịch Uli Hoeness, người đã nắm quyền suốt 40 năm trước khi từ chức vào tháng 11 năm ngoái.
Hoeness, người từng điều hành một doanh nghiệp sản xuất xúc xích thành công, khăng khăng với việc không nợ nần và chỉ dùng doanh thu của câu lạc bộ để phát triển, và ông cũng quyết tâm không để quyền kiểm soát lọt vào tay đa số các nhà đầu tư.
“Chúng tôi không có những ông bầu, chỉ có các đối tác,” Hoeness đã tự hào tuyên bố như vậy với Audi, Adida và Allianz – mỗi công ty này nắm giữ 8,33% cổ phần – 75% còn lại nằm trong tay các cổ động viên của câu lạc bộ.
Những cầu thủ biểu tượng
Bayern Munich chiêu mộ những cái tên hàng đầu, nhưng tất cả phụ thuộc vào việc các cầu thủ này có tìm được vị trí của họ trong mô hình “gia đình” của câu lạc bộ hay không.
Thomas Mueller, cỗ máy ghi bàn Robert Lewandowski, Jerome Boateng và Manuel Neuer là những trụ cột của đội hình hiện tại, giống như Arjen Robben và Franck Ribery trước đó.
Những thành viên trẻ tuổi hơn, như Alphonso Davies, Joshua Kimmich và Kingsley Coman cũng đang nhanh chóng trở thành những chỗ dựa đáng tin cậy của câu lạc bộ trong tương lai.
Bayen thường ký hợp đồng với những cầu thủ đang ở đỉnh cao tuổi trẻ, nhưng lịch sử của câu lạc bộ cũng không thiếu những tài năng kỳ cựu, ví dụ như những nhà vô địch World Cup 2014 Lukas Podolski và Mario Goetze (2 cầu thủ này sau đó đã không giữ được vị trí của mình ở đội 1).
Mueller và Lewandowski.
Trong khi đó, Bayern Munich sẵn sàng bỏ qua cầu thủ chạy cánh Leroy Sane của Manchester City, dù có tin tức cho rằng câu lạc bộ đã đồng ý với các điều khoản chiêu mộ.
“Xét về tính cách, anh ấy không phù hợp với Bayern,” cựu trung vệ Willy Sagnol chia sẻ với kênh radio RMC của Pháp, và nói rằng anh cảm thấy Sane là một người “rất không nhất quán và dễ bỏ cuộc.”
Mia san Mia
Khẩu hiệu này của câu lạc bộ có nghĩa là “Chúng tôi là chúng tôi” trong tiếng Bavaria – và không cần thêm một lời giải thích nào. Nó tóm gọn sự tự tin đáng kinh ngạc khiến những người hâm mộ câu lạc bộ yêu mến và những cổ động viên đối thủ căm ghét.
’Mia san mia’ là một tài sản khi chúng tôi đàm phán với các cầu thủ đang bị những lời mời gọi khác cám dỗ.
“Câu lạc bộ này rất đặc biệt,” huấn luyện viên Hansi Flick nhận định, và “’Mia san mia’ là một tài sản khi chúng tôi đàm phán với các cầu thủ đang bị những lời mời gọi khác cám dỗ.”
Rất ít câu lạc bộ trên thế giới có cùng niềm đam mê tàn nhẫn với chiến thắng như vậy. Cũng giống như ở Real Madrid, chiến thắng là kết quả duy nhất được chấp nhận ở Bayern.
Người tiền nhiệm của Flick, Niko Kovac đã bị sa thải sau thất bại 1-5 tại Eintracht Frankfurt vào tháng 11 năm ngoái, trong khi Carlo Ancelotti thì bị sa thải năm 2017 sau một trận thua tương tự với tỷ số 0-3 trước Paris Saint-Germain.
Các quy tắc bất thành văn là, thỉnh thoảng bạn cũng được phép thua, nhưng không bao giờ được thua với cách biệt lớn như vậy. Hơn nữa, Bayern hiện đang kỳ vọng sẽ giành chiến thắng với phong cách này.
“Hồi tôi còn là cầu thủ của Bayern, chiến thắng là điều duy nhất có ý nghĩa, ngay cả khi tỷ số chỉ là 1-0,” Hansi Flick, người từng ra sân gần 100 lần với vị trí tiền vệ trong những năm 1980 chia sẻ. “Nhưng bây giờ, chỉ chiến thắng thôi là không đủ.”
Thế hệ nối tiếp thế hệ
Như ở hầu hết các câu lạc bộ khác, các huấn luyện viên trưởng thường không tại vị lâu. Flick là “thuyền trưởng” thứ tám của đội bóng trong vòng 10 năm qua, nhưng ở cấp lãnh đạo cao hơn, tình hình nhân sự lại ổn định hơn nhiều.
Sau khi phải sớm kết thúc sự nghiệp thi đấu vì chấn thương, Hoeness, cầu thủ từng ba lần vô địch Cúp châu Âu và vô địch World Cup 1974 cùng đội tuyển Tây Đức đã trở thành quản lý của câu lạc bộ, và cuối cùng là dành 40 năm nắm quyền tại đây.
Flick là “thuyền trưởng” thứ tám của đội bóng trong vòng 10 năm qua, nhưng ở cấp lãnh đạo cao hơn, tình hình nhân sự lại ổn định hơn nhiều.
Cùng với ông, cựu tiền đạo kiêm thần tượng của câu lạc bộ, Karl-Heinz Rummenigge, người từng hai lần ra sân trong các trận chung kết World Cup với Tây Đức, đã giữ chức Giám đốc Điều hành từ năm 2002.
Người kế vị được nhắm đến của Rummenigge là thủ môn huyền thoại của cả Bayern và đội tuyển quốc gia Oliver Kahn, trong khi giám đốc thể thao Hasan Salihamidzic là một cựu cầu thủ trụ cột khác của câu lạc bộ.
Những điểm nhấn đáng nhớ làm nên kỳ tích
* 8 lần vô địch liên tiếp
Sự thống trị của Bayern đã đạt đến một tầm cao mới với chiến thắng lần thứ tám liên tiếp tại Bundesliga.
Mùa thu năm ngoái, nhiều người đã hoài nghi khả năng giành danh hiệu lần thứ 30 của câu lạc bộ bởi sự lập bập của họ, nhưng Bayern đã chậm rãi trở lại đỉnh vinh quang với hai trận đấu.
Borussia Monchengladbach (1975-77) và chính Bayern (1972-74, 1985-87, 1999-2001) từng ba lần liên tiếp giành cúp, nhưng nước Đức chưa từng chứng kiến kỷ nguyên một câu lạc bộ thống trị lâu như hiện tại.
Mùa này, Bayern ghi được tổng cộng 100 bàn, chỉ kém kỷ lục do chính họ lập nên ở mùa 1971-71, đúng 1 bàn thắng.
* Công thần Thomas Mueller
Thomas Muller từng giành giải Chiếc giày vàng tại World Cup 2010, và thường xuyên là anh hùng ghi bàn thắng cho Bayern suốt hơn một thập kỷ. Nhưng ở anh còn có nhiều điều đáng nói hơn là một cú dứt điểm không thể ngăn chặn.
Cầu thủ 30 tuổi này đã trở thành vua của những pha kiến tạo tại Bundesliga mùa giải năm nay. Với 21 lần kiến tạo, Muller đã có tổng số pha kiến tạo nhiều nhất, theo dữ liệu thu thập được từ mùa giải 1992-93 đến nay.
Muller có số pha kiến tạo nhiều hơn Kevin De Bruyne trong thời gian thi đấu cho Wolfsburg tại mùa giải 2014-15.
* Sát thủ Lewandowski
Những bàn thắng của Lewandowski là nguồn năng lượng đằng sau sự dâng cao của Bayern trong nửa sau mùa giải.
Tiền đạo người Ba Lan đã ghi được 34 bàn thắng sau 31 trận tại Bundesliga – một thành tích cá nhân đáng tự hào trong sự nghiệp tại Bayern của anh. Anh cũng đã giành danh hiệu Vua phá lưới ở mùa này.
* Cú hích với Flick
Trong tất cả các trận đấu, Hasi Flick đã dẫn dắt câu lạc bộ 28 chiến thắng/31 trận – một khởi đầu tuyệt vời so với bất kỳ huấn luyện viên trưởng nào trước đó của Bayern, vượt qua cả Pep Guardiola với 22 chiến thắng/27 trận. Thành công của Flick tính đến thời điểm này đã vượt xa mọi mong đợi.
Khai thác hiệu quả thị trường hơn 100 triệu dân đòi hỏi những “đầu tàu” thúc đẩy du lịch nội địa, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang từng bước khẳng định vai trò liên kết, xúc tiến du lịch với nhiều tỉnh, thành trên cả nước.
Với những chương trình hành động này, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ góp phần khoác lên “chiếc áo mới” cho ngành du lịch tại khu vực phía Nam, mà còn tạo “làn gió mới” cho thị trường du lịch cả nước, mang đến cho người dân cơ hội khám phá vẻ đẹp của mọi miền đất nước bằng những tuyến tour, sản phẩm, dịch vụ chất lượng, tiện ích và ưu đãi hơn bao giờ hết.
Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố đang khẩn trương xúc tiến liên kết, hợp tác phát triển du lịch với vùng Đông Nam Bộ. Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng ký thỏa thuận liên kết hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2020-2025 và kế hoạch triển khai hoạt động hợp tác du lịch trong thời gian tới.
Vai trò đầu tàu
Thống kê cho thấy với số lượng doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành đứng đầu về cả số lượng lẫn chất lượng, các tỉnh, thành khu vực phía Nam có lợi thế phát triển những chương trình du lịch hướng đến việc xây dựng thương hiệu du lịch cho khu vực. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.300 doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch.
Để kích cầu thị trường du lịch nội địa, các chuyên gia cho rằng ngành du lịch cần những thành phố lớn, cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh, phát huy vai trò đầu tàu trong liên kết địa phương, tạo nên chuỗi cung cầu, nhất là ở khâu phát triển sản phẩm, dịch vụ. Du lịch được đánh giá là ngành kinh tế tổng hợp, tác động và kéo theo những ngành kinh tế khác phát triển. Trong khi đó, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất nước.
Ngành du lịch cần những thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh phát huy vai trò đầu tàu trong liên kết địa phương, tạo nên chuỗi cung cầu
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến cho biết Thành phố đã xúc tiến chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch với nhiều địa phương trong thời gian qua. Điển hình, kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020 cần tập trung quảng bá, xúc tiến du lịch đến các thị trường trọng điểm, thị trường tiềm năng, giữ ổn định thị trường truyền thống. Cùng với đó, các địa phương phối hợp tổ chức sự kiện chung để tăng cường liên kết, quảng bá xúc tiến sản phẩm mới, tuyến tour liên vùng.
Ông Trần Vĩnh Tuyến nhấn mạnh Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng nỗ lực khẳng định vai trò là điểm kết nối và đầu mối liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Cùng với 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long, thông qua những hoạt động liên kết hợp tác phát triển du lịch, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra sản phẩm du lịch mới giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh và giữa những địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long với nhau.
Ra mắt Hội đồng Liên kết hợp tác phát triển du lịch vùng Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)
Liên quan đến vấn đề liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ, ông Trần Vĩnh Tuyến cho biết thêm, việc ký kết liên kết không nằm ngoài mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh đến nhiều địa phương trong bối cảnh doanh nghiệp gặp khó vì thiếu sản phẩm mới, phải tự tìm tòi, xây dựng… Đặc biệt, đầu mối kết nối từ phía chính quyền sẽ tạo ra cầu nối và thuận lợi nhiều hơn cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm, dịch vụ.
Trong kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch, chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh… còn doanh nghiệp tập trung nguồn lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ du lịch đáp ứng xu hướng thị trường. Trên cơ sở đó, các địa phương thúc đẩy quá trình kết nối, khảo sát thị trường… giúp doanh nghiệp có thêm thông tin về những điểm đến mới và cùng nhau khai thác hiệu quả ngành du lịch tại địa phương.
Cũng như chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long, chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ sẽ hướng đến phối hợp hoàn thành mục tiêu xây dựng cho rõ thương hiệu du lịch vùng thông qua những chương trình hành động cụ thể. Mỗi tỉnh, thành muốn kêu gọi đầu tư đạt hiệu quả sẽ phải rà soát và lựa chọn một hoặc hai dự án tiêu biểu gắn với phát triển lợi thế cạnh tranh của địa phương.
Lợi thế địa phương
Hiện tại, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ, gồm Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu đã và đang xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch mới, nhằm thu hút du khách, kích cầu du lịch địa phương. Tất cả địa phương tham gia liên kết hợp tác phát triển du lịch đều thống nhất cần có chính sách cụ thể trong xây dựng sản phẩm liên tuyến, nhất là đổi mới sáng tạo để phát huy được lợi thế cửa ngõ và thế mạnh của từng địa phương.
Các địa phương sẽ phát triển sản phẩm du lịch, hỗ trợ doanh nghiệp lữ hành xây dựng chương trình kích cầu du lịch kết nối từ Thành phố Chí Minh đến 5 tỉnh, thành Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, mỗi tỉnh, thành sẽ xây dựng chương trình du lịch gắn với tham quan các khu di tích lịch sử; du lịch sinh thái cộng đồng; văn hóa trải nghiệm ẩm thực, làng nghề truyền thống; du lịch đường thủy kết hợp với những phương tiện khác để phục vụ du khách trong và ngoài nước.
Điển hình, vùng Đông Nam Bộ có ưu điểm về cơ sở hạ tầng du lịch, tài nguyên thiên nhiên phong phú. Một số địa phương trong vùng còn có những tuyến tour, sản phẩm, dịch vụ đặc trưng văn hóa di sản, núi rừng, biển đảo… Cụ thể, các tỉnh, thành có thể xây dựng những tuyến tour liên kết kích cầu du lịch như Thành phố Hồ Chí Minh-Đồng Nai-Bà Rịa-Vũng Tàu; Thành phố Hồ Chí Minh-Bình Dương-Tây Ninh…
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Đông Nam Bộ đã có những sản phẩm du lịch nhà vườn, sản phẩm du lịch đường sông, làng nghề… nên cần được đầu tư phát triển hơn. Nếu phát triển hiệu quả những mô hình này, các địa phương sẽ đảm bảo đáp ứng xu hướng thị trường có nhu cầu không chỉ dừng chân ở Thành phố Hồ Chí Minh mà đi về các tỉnh, thành khác.
Phố đi bộ Nguyễn Huệ. (Nguồn: TTXVN)
Bà Nguyễn Thị Ánh Hoa, Phó Giám đốc Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết không chỉ Thành phố Hồ Chí Minh mà nhiều địa phương khác trên cả nước đã và đang tập trung phát triển du lịch, xem đây là ngành kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, ngành du lịch vẫn thiếu và yếu ở khâu xây dựng những tuyến tour liên kết hay hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ mang lại tiện ích cho du khách và giữ chân du khách trong thời gian lâu hơn.
“Ghi thực tế, những sản phẩm, dịch vụ liên tuyến, liên vùng đã có và đang được phát triển, nhưng chưa chặt chẽ và phát huy được hiệu quả. Do đó, cần sự hợp tác của chính quyền địa phương, sở, ngành và sự đồng hành của doanh nghiệp trong thúc đẩy đầu tư vào du lịch, tăng cường hợp tác phát triển liên kết ngành,” bà Nguyễn Thị Ánh Hoa, chia sẻ thêm.
Cùng quan điểm, đại diện một số tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ cho rằng thúc đẩy kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa các địa phương, mà cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay, thị trường du lịch đang đòi hỏi hình thành sản phẩm liên tuyến, liên vùng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chào bán sản phẩm, dịch vụ mới trong khai thác và tiếp cận du khách nội địa.
Giải pháp phát triển ngành du lịch
Cùng với sự đồng hành của chính quyền địa phương, nhiều tỉnh, thành, cộng đồng doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành tại khu vực phía Nam đang tích cực hưởng ứng những chương trình kích cầu thị trường du lịch nội địa. Bên cạnh đó, không ít doanh nghiệp đầu ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần chia sẻ giải pháp phát triển ngành du lịch theo xu hướng thị trường và đảm bảo đáp ứng thị hiếu của khách du lịch.
Định hướng thị trường
Theo ông Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều hiệp hội, doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành của các tỉnh, thành đã và đang thể hiện thông điệp liên kết trong xây dựng sản phẩm du lịch mới, đáp ứng xu hướng của thị trường và định hướng phát triển du lịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Vấn đề đặt ra là làm sao khi du khách đến Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục di chuyển về các tỉnh, thành khác để kích cầu du lịch, hàng không về địa phương.
Ông Bùi Tá Hoàng Vũ cho biết Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng nỗ lực tìm kiếm những giải pháp giới thiệu, quảng bá, kích cầu du lịch trên địa bàn thành phố và từng bước mở rộng liên vùng.
TP.HCM không ngừng nỗ lực tìm kiếm những giải pháp giới thiệu, quảng bá, kích cầu du lịch trên địa bàn thành phố và từng bước mở rộng liên vùng
Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai nhiều hoạt động tổ chức kích cầu và tạo ra những sản phẩm kích thích du khách đến Thành phố Hồ Chí Minh. Và từ đây, du khách tiếp tục hành trình khám phá, trải nghiệm ở những tỉnh, thành lân cận. Ngành du lịch thành phố kỳ vọng thị trường du lịch sẽ sôi động trở lại, đóng góp thiết thực vào ngành du lịch của nhiều địa phương và cả nước trong thời gian tới.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Lê Ngọc Khánh cho rằng các địa phương cần chia sẻ thông tin, kinh nghiệm để cùng nhau hình thành những sản phẩm du lịch hấp dẫn, cũng như phối hợp hiệu quả trong công tác quản lý ngành, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lục…
Nghi thức cắt băng khai mạc ngày hội kích cầu du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)
Tuy không phải tỉnh nào cũng xác định du lịch là ngành mũi nhọn, nhưng muốn xây dựng thương hiệu, tạo nên sự độc đáo cho du lịch địa phương hay từng bước tiến đến hình thành thương hiệu khu vực, trong bài toán liên kết hợp tác, định hướng thị trường cần khai thác hiệu quả tiềm năng của mỗi tỉnh, thành.
Với bối cảnh nhiều thách thức để phục hồi và phát triển ngành du lịch như hiện nay, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất tập trung 4 nội dung, gồm: phát triển sản phẩm du lịch; quảng bá xúc tiến; đầu tư vào phát triển hạ tầng hoặc các tuyến điểm dịch vụ về du lịch; liên kết hợp tác đào tạo nguồn nhân lực. Đặc biệt, người dân trong nước đang có xu hướng ưu tiên tour ngắn ngày và những tuyến tour đến những tỉnh, thành lân cận Thành phố Hồ Chí Minh.
Dẫn chứng cụ thể, bà Tạ Thị Cẩm Tiên, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Bến Thành chỉ ra rằng muốn giữ chân du khách ở lại hay trở lại Thành phố Hồ Chí Minh, doanh nghiệp cần có tuyến tour sáng đi và chiều về đến những tỉnh, thành khác. Những tuyến tour này còn góp phần quảng bá, giới thiệu điểm đến đặc trưng của nhiều địa phương trong khu vực phía Nam hoặc những tỉnh, thành mà Thành phố Hồ Chí Minh có liên kết hợp tác phát triển du lịch.
Cùng quan điểm, một số doanh nghiệp khác đánh giá Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế về thị trường, dân số đông, thu nhập bình quân cao… nên là thị trường lớn đối với lĩnh vực du lịch nội địa và là mảnh đất màu mỡ cho doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành khai thác những điểm đến tiềm năng. Do đó, ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cần tiên phong phát triển những chương trình kích cầu du lịch nội địa, thu hút khách du lịch đến những điểm đến an toàn trên địa bàn thành phố.
Đa dạng ưu đãi
Mặc dù ngành du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh, nhưng doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành tại Thành phố Hồ Chí Minh không “ngủ đông,” mà tận dụng cơ hội tái cấu trúc doanh nghiệp, quản trị công ty… Ngoài ra, ngay khi đại dịch được kiểm soát, nhiều đơn vị đã tung ra những gói kích cầu du lịch, chương trình ưu đãi hấp dẫn…
Ghi nhận thực tế trong tháng 6/2020, Sở Du lịch và Hiệp hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đã phát động chương trình Kích cầu du lịch nội địa Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Đây là một trong những hoạt động nhằm quảng bá, giới thiệu về một Thành phố Hồ Chí Minh an toàn-sống động-thân thiện-nghĩa tình nhằm triển khai chủ đề năm 2020 của Thành phố Hồ Chí Minh: “Năm đẩy mạnh hoạt động văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh đô thị,” đồng thời hưởng ứng chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam.”
Tuy vừa mới khởi động, chương tình thu hút hàng trăm doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành, vận chuyển (hàng không, đường sắt, đường bộ), cơ sở lưu trú du lịch, cơ sở kinh doanh ăn uống, mua sắm và các điểm tham quan trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tham gia. Theo thống kê, chương trình đã có gần 260 chương trình tour và 280.000 vé ưu đãi giảm từ 10 đến 70%, áp dụng từ nay đến cuối năm 2020.
Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đưa website kích cầu du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (tại địa chỉ www.kichcaudulichtphcm.vn) vào vận hành, phục vụ du khách đến thành phố. Website này cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết và kịp thời cho du khách về chương trình khuyến mãi của doanh nghiệp tham gia chương trình Kích cầu du lịch nội địa Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020.
Website được kết nối trực tiếp với website của doanh nghiệp và trang mạng xã hội, nhằm tăng tính tương tác giữa du khách và nhà cung cấp dịch vụ. Theo đó, du khách có thể tìm kiếm những chương trình tour theo điểm đến hoặc theo giá với đầy đủ thông tin về đơn vị tổ chức, chương trình chi tiết và thời hạn áp dụng.
Sở Du lịch và Tạp chí Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cũng phát động Cuộc thi ảnh đẹp online với chủ đề “Thành phố Hồ Chí Minh xin chào.” Cuộc thi này khuyến khích tác giả, tác phẩm dự thi thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên, cảnh quan, kiến trúc của Thành phố Hồ Chí Minh; sự đa dạng văn hóa của thành phố trong ẩm lực, lễ hội, nếp sống…
Theo ông Võ Anh Tài, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn – Saigontourist, doanh nghiệp luôn cam kết đồng hành với nhiều chương trình kích cầu du lịch của bộ, ngành. Bên cạnh đó, những chương trình kích cầu du lịch mà Saigontourist tham gia sẽ luôn được đảm bảo chất lượng và tăng tiện ích dịch vụ.
Ông Võ Thành Tài cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh nên phát động những chương trình như người Việt Nam đi du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, người Thành phố Hồ Chí Minh đi du lịch Thành phố Hồ Chí Minh… Bộ, ngành nên xác định mục tiêu phải đạt từ nay đến cuối năm 2020 cho từng nhóm lĩnh vực du khách. Từ đó, Bộ, ngành cùng doanh nghiệp xây dựng cho ngành du lịch những chương trình hành động cho từng chỉ tiêu cụ thể và chính sách phù hợp với diễn biến thị trường, thị hiếu du khách.
Một số chuyên gia nhận định trong tình hình hiện nay, không thể nào không thực hiện tái cơ cấu ngành du lịch, cùng với đó là giải quyết tâm lý quan ngại đại dịch. Ngành du lịch sớm xây dựng chương trình nội dung cụ thể kích cầu du lịch đối với từng nhóm du lịch nội địa, khách quốc tế và giải pháp truyền thông.
Tại Việt Nam, thị trường du lịch đang chia rõ ba nhóm cao cấp, trung cấp và bình dân, trong đó khách cao cấp hưởng ứng du lịch kích cầu khá tốt, nhưng khách trung và bình dân lại khá ảm đạm. Vì vậy, kích cầu du lịch, sở, ngành và doanh nghiệp phải hướng đến được cả 3 đối tượng khách cao cấp, trung lưu, thu nhập thấp.
Chợ Bến Thành nổi tiếng của Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)
Tín hiệu khả quan cho ngành ‘công nghiệp không khói’
Nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh cho những tháng cuối năm 2020, nhiều doanh nghiệp đã lên kế hoạch tổ chức những chuyến tham quan, du lịch kết hợp khen thưởng, thi đua, hội nghị, hội thảo, họp mặt khách hàng… Đây là tín hiệu khả quan cho ngành “công nghiệp không khói” của Thành phố Hồ Chí Minh giữa bối cảnh kinh tế còn nhiều thách thức sau khi đại dịch được kiểm soát. Đặc biệt, dự báo được xu hướng này, các doanh nghiệp lữ hành, công ty du lịch đã và đang từng bước vào cuộc tái khởi động mạnh mẽ thị du lịch gắn với thương mại, dịch vụ.
Đáp ứng thị hiếu du khách
Kết quả khảo sát thị trường du lịch của một số doanh nghiệp, công ty lữ hành cho thấy, tổ chức du lịch thường niên đã trở thành hoạt động cần thiết của mỗi đơn vị sản xuất, kinh doanh. Du lịch được xem là một hoạt động thư giãn, chăm lo đời sống an sinh xã hội hiệu quả nhất đối với người lao động, không chỉ đáp ứng đơn thuần nhu cầu vui chơi giải trí mà còn mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp trong thực hiện trách nhiệm xã hội và an sinh xã hội.
Các doanh nghiệp cho rằng sau mỗi chuyến đi, hầu hết thành viên trong công ty sẽ hăng say và có tinh thần làm việc cao hơn. Đây là dịp để mọi người thấu hiểu, gắn bó với nhau hơn, hiệu quả công việc cũng được tăng lên. Do đó, du lịch được đánh giá là phương pháp hiệu quả nhất đem lại đời sống tinh thần cho người lao động và hiệu quả tích cực trong công việc, giúp người lao động tái tạo năng lượng.
Nhân viên Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh phát khẩu trang miễn phí cho khách du lịch nước ngoài. (Ảnh: Đinh Hằng/TTXVN)
Đại diện Công ty Du lịch Vietravel cho biết chỉ tính riêng trong tháng 5/2020, doanh nghiệp đã phục vụ 24 đoàn khách và tháng 6/2020 là 124 đoàn khách. Dự kiến trong tháng 7/2020 sẽ có 168 đoàn và số lượng khách sẽ tăng mạnh vào giai đoạn cuối năm. Vietravel còn phục vụ thành công nhiều đoàn khách M.I.C.E lớn khác… Hiện tại, lượng khách M.I.C.E chiếm đến 70% tổng lượng khách tham gia tour của Vietravel.
Tương tự, bên cạnh dấu hiệu khởi sắc từ thị trường khách lẻ, thị trường khách đoàn nội địa của Lữ hành Saigontourist cũng đã bắt đầu đón nhận những dấu hiệu tích cực trở lại khi các đoàn khách công ty, cơ quan, xí nghiệp đã liên hệ tư vấn và ký hợp đồng du lịch cho các tour dự kiến khởi hành trong tháng 6 và tháng 7/2020.
Đáp nhu cầu đi du lịch của du khách, cũng như đánh dấu việc chính thức khởi động lại hoạt động kinh doanh, Lữ hành Saigontourist triển khai đa dạng gói sản phẩm du lịch trong nước dành cho nhóm khách nhỏ, nhóm khách gia đình với mức giá ưu đãi so với giá bình thường. Song song với đó, Saigontourist cam kết đảm bảo sự an toàn cho du khách đi tour, với chất lượng dịch vụ không đổi, hành trình tham quan mới lạ và lịch khởi hành linh hoạt.
Cùng với các gói tour truyền thống, tour Free and Easy hay Combo nghỉ dưỡng cao cấp, Lữ hành Saigontourist còn triển khai dịch vụ cung cấp Travel Voucher. Với tính năng tiện dụng và linh hoạt phù hợp với thị hiếu tiêu dùng hiện đại, phiếu du lịch Saigontourist Travel Voucher là món quà ý nghĩa, hữu ích để doanh nghiệp dành tặng nhân viên hay khách hàng, đối tác như một hình thức tri ân, mừng ngày khai trương, khen thưởng…
Từ nay đến ngày 30/9, khách hàng tại ba khu vực thị trường miền Bắc, miền Trung và miền Nam sẽ nhận được ưu đãi lên đến 50% khi sử dụng dịch vụ lưu trú, lữ hành, ẩm thực, giải trí và đào tạo của hệ thống Saigontourist Group. Đây cũng là chương trình khuyến mãi quy mô lớn lần thứ 2 trong năm 2020 của Saigontourist, nhằm góp phần chung tay phục hồi thị trường nội địa trong nỗ lực hưởng ứng chiến dịch “Người Việt Nam ưu tiên đi du lịch Việt Nam,” cũng như những chương trình kích cầu du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh.
Gắn với thương mại, dịch vụ
Theo ông Nguyễn Minh Mẫn, Trưởng Phòng Truyền thông-Marketing Công ty TST tourist, hưởng ứng chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam”, TST tourist không những đã xây dựng hệ thống tuyến tour du lịch trong nước đa dạng, chất lượng, hướng đến những điểm đến an toàn, mà còn tập trung vào công tác tập huấn, đào tạo. Trong đó, văn hóa ẩm thực là một đề tài có sức hút đặc biệt. Vì món ăn ngon không chỉ thu hút thực khách mà còn chứa đựng những kiến thức bổ ích, gắn với văn hóa và lối sống của người dân từng vùng miền.
“Với mỗi món ăn gắn liền với những câu chuyện thú vị, tạo nên hương vị đặc trưng của vùng miền đó, du khách sẽ thêm yêu thích hành trình khám phá, trải nghiệm du lịch nội địa từ Bắc chí Nam. Trên cơ sở đó, hướng đến mục tiêu của chương trình kích cầu du lịch chính là khuyến khích khách du lịch chu du khắp Việt Nam từ việc khơi nguồn cảm xúc,” ông Nguyễn Minh Mẫn chia sẻ thêm.
Doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hàng giới thiệu ứng dụng du lịch thông minh. (Ảnh: Mỹ Phương/TTXVN)
Đồng hành cùng doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình phục hồi nhu cầu thị trường du lịch, thương mại, dịch vụ và tạo sức bật mới cho tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Công Thương thành phố đã và đang triển khai hàng loạt chương trình kích cầu tiêu dùng dành cho người dân, cũng như khách du lịch trên địa bàn thành phố. Có thể kể đến chương trình 60 ngày vàng khuyến mãi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, diễn ra từ nay đến hết ngày 30/7/2020 hay chương trình Kích cầu tiêu dùng năm 2020 sẽ diễn ra từ ngày 2-5/7/2020.
Đây là lần đầu tiên Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình 60 ngày vàng khuyến mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, hướng đến mục tiêu vừa mang đến những hoạt động khuyến mại đa dạng, vừa tạo điều kiện cho người tiêu dùng, du khách mua sắm với mức khuyến mại hàng hóa, dịch vụ… lên tới 100%. Đồng thời, chương trình này cũng là hoạt động khuyến mại tập trung kéo dài và mở đầu cho chương trình “Tháng khuyến mại năm 2020” của thành phố.
Bà Nguyễn Huỳnh Trang, Phó Giám đốc Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho hay tất cả chương trình kích cầu tiêu dùng luôn phân bổ thành hai khu vực chính, gồm: sản phẩm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành trên cả nước. Điều này đảm bảo mục tiêu của chương trình hướng đến tổ chức kết nối trực tiếp đơn vị sản xuất-cung ứng-phân phối-xuất khẩu thông qua hoạt động xúc tiến, triển lãm giới thiệu sản phẩm chủ lực, đặc sản.
Những chương trình kích cầu đã và đang diễn ra thu hút sự tham gia của gần 1.300 doanh nghiệp, với hơn 1.700 chương trình
Theo thống kê sơ bộ, đến thời điểm hiện tại, những chương trình kích cầu đã và đang diễn ra thu hút sự tham gia của gần 1.300 doanh nghiệp, với hơn 1.700 chương trình được thực hiện tại 235 chợ truyền thống, 217 siêu thị, 45 trung tâm thương mại, hàng ngàn cửa hàng và nhiều kênh thương mại điện tử đang hoạt động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Lê Quang Tùng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đánh giá những chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch với nhiều lĩnh vực như thương mại, dịch vụ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là một sáng kiến đạt mục tiêu kép, vừa mang lại cơ hội cho ngành du lịch phục hồi và phát triển, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành phố. Đáng chú ý hơn, những chương trình này tạo được sự kết nối, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia định hướng thị trường du lịch, tiêu dùng, mua sắm…
Tuy nhiên, Thứ trưởng Lê Quang Tùng cho rằng doanh nghiệp cần hiểu rõ kích cầu với mục tiêu quan trọng nhất là tạo ra sự hấp dẫn về giá, điểm đến, dịch vụ, tiện ích… nên đòi hỏi sự liên kết chuỗi cung ứng với sự tham gia của tất cả thành phần liên quan trong ngành. Doanh nghiệp có thể triển khai đa dạng kế hoạch giảm giá, khuyến mãi và thực hiện ưu đãi nhưng tránh tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, bất bình đẳng, nhất là cần khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng của doanh nghiệp lớn./.
Migrant labourers are closely associated with the market economy and the economic integration process. They are an indispensable part of the country’s socio-economic development. It is unimaginable that industrial parks or major cities such as Hanoi or Ho Chi Minh City have no migrant workers.
For this reason, experts have called for social security policies designed for those labourers, such as social and health insurance, to ensure their rights and interest and sustainable development.
A gap in policy
In Vietnam, the number of labourers who migrate from rural to urban areas is much greater than that of those who move overseas.
Migrant labourers move to seek jobs, making social security policies based on residence registration ineffective
According to Le Thanh Sang, Director of the Southern Institute for Social Sciences, the State has issued many progressive policies to ensure social security for migrant labourers, but those policies face many barriers in reality, one of which is the mechanism of management based on residence registration and subsidization.
Migrant labourers move frequently to seek jobs, making social security policies based on residence registration ineffective. Labourers not only lose access to support from localities where they have residence registration but also are denied of support from the host locality where they move to. This is a gap in policy.
Former Deputy Minister of Labour, Invalids and Social Affairs Nguyen Trong Dam admitted that at present, migrant labourers living under the poverty line are not eligible for social security support in their host localities, because existing laws have not covered this case. A number of NGOs have proposed policy changes to give migrant labourers access to poverty reduction policies, but this is not easy work.
Minister of Labour, Invalids and Social Affairs Dao Ngoc Dung quoted statistics that as of the end of 2018, only 270,000 out of around 34 million labourers in the country joined voluntary social insurance, or 0.8 percent.
As of the end of 2018, only 270,000 out of around 34 million labourers in the country joined voluntary social insurance
As for Vietnamese guest workers in other countries, Dinh Duy Hung, deputy head of the Department of Revenue under the Vietnam Social Security (VSS), reported that there were about half a million Vietnamese workers working abroad. The figure is increasing by 100,000 each year. They are subject of voluntary social insurance, but only 6,000 of them have joined.
Concerted solutions needed
To provide migrant labourers with essential social security services, several laws have been amended to cover them, such as the Law on Social Insurance, Law on Employment and Labour Law.
Migrant workers share their thought about joining voluntary social insurance
The 2014 Law on Health Insurance has stipulated the right to accessing medical and health care services based on temporary residence registration. On the other hand, the social security strategy for 2012-2020 has also defined that migrant labourers are among vulnerable groups eligible for support.
Migrant workers from other countries have also been included in groups subject to compulsory social insurance since December 1, 2018. This is the first time Vietnamese laws have stipulated on compulsory social insurance for foreigners working in Vietnam.
This raises a question that why the rate of migrant labourers joining voluntary social insurance remains low despite various policies targeting them. In reply to this question, Tran Hai Nam, deputy director of the Social Insurance Department under the Ministry of Labour, Invalids and Social Affairs, attributed it to the ineffective enforcement and popularisation of the policies.
Discussing why migrant workers are not keen to join social insurance, Minister of Labour, Invalids and Social Affairs Dao Ngoc Dung pointed out other reasons such as low and instable income
“For example, the popularisation of policies through the mass media such as TV, radio or newspapers will fail to reach migrant workers, as they go to work early in the morning and return late at night,” Nam said.
Discussing why migrant workers are not keen to join social insurance, Minister of Labour, Invalids and Social Affairs Dao Ngoc Dung pointed out other reasons such as low and instable income, obstacles in paper work, and the long time of contribution (20 years) required for retirement benefit.
To attract more migrant labourers to participate in social insurance in general and voluntary social insurance in particular, management agencies should take concerted solutions to the above-mentioned problems. The State has provided premium subsidies for participants of voluntary social insurance, but the level of subsidy should rise along with time. Communication activities on related policies should be diversified in forms to reach migrant workers, especially those in the informal sector.
The VSS is working in this direction, mobilizing social and mass organisations such as the Youth Union, the Women’s Union and the Farmers’ Union.
The social insurance agencies have also intensified the application of IT, modernization of their management systems, and reform of administration procedures and streamlining of professional process
In particular, the responsibility of all-level Party committees and administration for implementing Resolution 28-NQ/TW has been specified, with the target on expanding social insurance coverage included into criteria to assess the performance of localities. Localities are required to adopt measures to stimulate economic growth, create jobs, stabilize workers’ income, and promote the shift of labour from the informal to formal sector, in order to expand opportunities to access social insurance for labourers.
The social insurance agencies have also intensified the application of IT, modernization of their management systems, and reform of administration procedures and streamlining of professional process to ensure the full and quick provision of social insurance benefits.
For Vietnamese guest workers, State agencies and social insurance agencies need to negotiate and sign bilateral and multilateral agreements on social security in order to help the workers access social security policies of the host countries./.