Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) nằm trong dòng chảy thông tin thế giới, bắt kịp sự phát triển của truyền thông thế giới về sản xuất các loại hình thông tin hiện đại đồng thời không ngừng mở rộng kênh phát hành, được Chính phủ ghi nhận là cơ quan thông tin đối ngoại chủ lực quốc gia.
Nhân kỷ niệm 95 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2020), phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với nhà báo Vũ Việt Trang, Phó Tổng Giám đốc TTXVN, Chủ tịch Liên Chi hội Nhà báo TTXVN, về những hướng đi tiếp theo để TTXVN giữ vững vai trò xung kích trên mặt trận thông tin-tư tưởng, bảo đảm thông tin thông tấn là dòng thông tin chủ lưu, liên tục và chuẩn xác.
Bên cạnh những câu chuyện nghề, nữ nhà báo đầu tiên được giao chức trách Phó Tổng Giám đốc TTXVN trong lịch sử 75 năm xây dựng và phát triển của ngành cũng có nhiều chia sẻ về chuyện đời, “bí quyết” cân bằng giữa cuộc sống và công việc.
CẢI TIẾN QUY TRÌNHxử lý thông tin
– Trong bối cảnh mạng xã hội và đặc biệt là vấn nạn “tin giả” (fake news) bùng phát, TTXVN có những biện pháp gì để giữ vững, phát huy vai trò định hướng thông tin nhằm phục vụ đắc lực hơn nữa công cuộc Đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, vừa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của độc giả, thưa bà?
Tôi cho rằng các cơ quan báo chí, trong đó có TTXVN, phải kiên định với những nguyên tắc làm báo, thẩm định nguồn tin trước khi đăng tải để đảm bảo thông tin đến với bạn đọc một cách chính xác, toàn diện.
Bên cạnh đó, TTXVN đã, đang và sẽ tiếp tục cải tiến quy trình xử lý thông tin, phương thức làm việc để thông tin đến với công chúng kịp thời, nhanh chóng. Thông tin tiếp nhận đầu tiên sẽ tác động mạnh, để lại ấn tượng sâu sắc nhất với công chúng.
Một biện pháp quan trọng để đẩy lùi vấn nạn tin giả là phải tạo ra những bộ công cụ, phương thức nhận diện tin giả, cung cấp đến độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ. Năm 2019, TTXVN đã triển khai dự án “Nói không với Fake News” trong trường học, tuyên truyền kiến thức, kỹ năng nhận diện thông tin thật, tin giả trong môi trường số hiện nay; chia sẻ các tình huống và cách thức xử lý trong trường học và ngoài xã hội khi tiếp nhận thông tin giả cho học sinh…
Ngoài ra, tôi cho rằng các cơ quan chức năng cần hoàn thiện những chế tài, quy định pháp luật để xử lý nghiêm minh, đủ sức răn đe những trường hợp tung tin giả.
– Chính phủ cũng như công chúng đều nhìn nhận rằng trong “cuộc chiến” chống đại dịch COVID-19, TTXVN đã khẳng định vai trò tiên phong trên mặt trận thông tin. Vậy bà có thể chia sẻ với độc giả về công tác tham gia tổ chức và chỉ đạo thông tin đã được triển khai cụ thể như thế nào để mang lại kết quả trên?
Với chức năng của một cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện, thành viên của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, quán triệt tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước “chống dịch như chống giặc,” TTXVN đã tổ chức triển khai tuyến thông tin về phòng, chống dịch COVID-19 một cách bài bản và chuyên nghiệp với sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị thông tin trong toàn ngành mà đặc biệt là hệ thống 93 cơ quan thường trú trong và ngoài nước.
Ngay từ cuối tháng 1/2020, TTXVN đã xây dựng kế hoạch tổng thể về tuyến tin này. Trong quá trình triển khai, lãnh đạo ngành đã có sự chuyển dịch trọng tâm phù hợp với diễn biến dịch và uyển chuyển trong việc điều chỉnh liều lượng và mức độ thông tin để công chúng nhận thức được sự nguy hiểm của dịch bệnh nhưng lại không hoảng hốt, hoang mang.
Có thể nói rằng trong giai đoạn đầu, thông tin TTXVN chú trọng vào việc cung cấp thông tin về mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh, dấu hiệu nhận biết, biện pháp phòng, chống dịch.
Ở giai đoạn thứ hai, TTXVN tập trung thông tin nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện giãn cách xã hội và hiệu quả của các biện pháp giãn cách xã hội đối với việc ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong cộng đồng.
Đến nay, khi Đảng và Chính phủ xác định cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới, vừa tiếp tục phòng, chống dịch vừa khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh, TTXVN tập trung phản ánh thực tế các ngành, địa phương và nhân dân vừa nỗ lực phát triển kinh tế, xã hội vừa đảm bảo thực hiện các quy định về phòng chống dịch xâm nhập từ bên ngoài.
Thông tin của TTXVN cũng kịp thời phản ánh và phê phán những hành động không phù hợp, thậm chí vi phạm pháp luật trong công tác chống dịch và triển khai gói hỗ trợ của Chính phủ.
Nhìn lại, qua hơn 100 ngày chống dịch, TTXVN đã cung cấp tới hệ thống các cơ quan báo chí cũng như công chúng trong và ngoài nước khoảng 100.000 thông tin các loại hình văn bản bằng tiếng Việt, tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số, ảnh, video, đồ họa.
Thông tin của TTXVN được đăng phát trên nhiều nền tảng như báo in, báo điện tử, phát sóng truyền hình, các nền tảng mạng xã hội. Đặc biệt, các sản phẩm đồ họa của TTXVN còn được Bộ Y tế sử dụng rộng rãi trên nhiều tờ rơi phát tới người dân.
Tôi cho rằng công tác truyền thông của các cơ quan báo chí chủ lực, trong đó có TTXVN, đã đóng góp thiết thực vào thành công kiểm soát dịch bệnh của Việt Nam thời gian qua.
– Một thế mạnh của TTXVN mà không cơ quan báo chí trong nước nào có được là lực lượng phóng viên thường trú tại 63 tỉnh, thành trong cả nước và 28 quốc gia trên thế giới cùng gần 20 đơn vị thông tin trong toàn ngành. Xin bà cho biết thời gian tới, ngành sẽ có những giải pháp như thế nào để phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp này?
Thông tin của TTXVN cũng kịp thời phản ánh và phê phán những hành động không phù hợp, thậm chí vi phạm pháp luật trong công tác chống dịch và triển khai gói hỗ trợ của Chính phủ.
Trong thời gian qua, việc phối hợp giữa các đơn vị thông tin trong ngành đã diễn ra khá nhuần nhuyễn; từ đó, tạo ra những sản phẩm báo chí có chất lượng cao, tạo ấn tượng cả về giá trị nội dung, hình thức thể hiện, mang lại hiệu quả thông tin rõ rệt và tích cực, cho thấy sự sáng tạo cũng như đổi mới của các phóng viên, biên tập viên.
Đơn cử, tuyến thông tin về vụ việc 39 người Việt Nam tử vong ở Anh là ví dụ tiêu biểu về sự phối hợp giữa các đơn vị thông tin trong ngành. Ngay khi sự việc xảy ra, các cơ quan thường trú của TTXVN tại London (Anh), Paris (Pháp), Brussels (Bỉ) đã cùng vào cuộc, cập nhật thông tin vụ việc.
Bên cạnh diễn biến vụ việc, các cơ quan thường trú nói trên đã cùng thực hiện nhiều bài viết, phóng sự để kể câu chuyện về cuộc sống bấp bênh, những nguy hiểm rình rập mà người di cư bất hợp pháp vào châu Âu phải đối mặt, kể cả khi đã đặt chân được đến vùng đất này.
Trong khi đó, ở Việt Nam, phóng viên cơ quan thường trú ở Nghệ An, Hà Tĩnh đã trực tiếp đến gia đình các nạn nhân để tìm hiểu về cuộc sống, những hệ lụy phía sau mà họ phải gánh chịu. Ngoài ra, Ban Biên tập Tin Trong nước tích cực triển khai những tin, bài về các chính sách liên quan đến vấn đề xuất khẩu lao động, bảo hộ công dân…
Từ đó, TTXVN đã có loạt bài vừa mang tính phản ánh, vừa mang tính cảnh báo nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề xuất khẩu lao động, nhập cư.
Một khía cạnh quan trọng khác mà tôi muốn nói đến là sự phối hợp giữa các cơ quan thường trú và các tòa soạn (như Báo Điện tử VietnamPlus) không chỉ thúc đẩy chất lượng thông tin mà còn góp phần quan trọng khích lệ tinh thần phóng viên, biên tập viên. Cụ thể, sự phối hợp này đã tạo ra những sản phẩm vừa đảm bảo chất lượng nội dung vừa được thể hiện, trình bày một cách trang trọng, đẹp đẽ bằng những hình thức mới mẻ, sáng tạo như Mega Story… Khi thấy sản phẩm của mình được thể hiện trang trọng, ấn tượng, có lượng truy cập lớn, phóng viên cũng có thêm động lực, năng lượng làm việc.
TTXVN có mạng lưới phóng viên thường trú tại nhiều địa bàn, có các ban biên tập tin với lượng thông tin lớn, chuẩn xác, có khối tòa soạn cung cấp trực tiếp thông tin tới bạn đọc. Vì vậy, trong thời gian tới, TTXVN sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc phối hợp giữa các đơn vị.
Vai trò của các nữ nhà báo LÀ RẤT NỔI BẬT…
– Trong lịch sử 75 năm xây dựng và phát triển của ngành, bà là nữ nhà báo đầu tiên được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám TTXVN. Bà có thể “bật mí” quá trình làm báo trước đó đã mang đến những kinh nghiệm thực tế gì cho bà trên cương vị công tác hiện nay?
Việc lần đầu tiên có một nữ nhà báo được bổ nhiệm vị trí lãnh đạo ngành không đơn thuần là kết quả quá trình công tác, phấn đấu của cá nhân mà là sự ghi nhận những đóng góp của nhiều thế hệ nữ phóng viên, biên tập viên của TTXVN trong hơn bảy thập kỷ xây dựng và phát triển.
Vai trò của các nữ nhà báo TTXVN rất nổi bật. Họ luôn song hành cùng các nam đồng nghiệp, có mặt ở chiến trường, trên mặt trận ngoại giao, nơi đầu sóng ngọn gió hay hiện trường các sự việc thời sự (cháy nổ, thiên tai…). Bên cạnh đó, nhiều nhà báo, đặc biệt là những người làm thông tin đối ngoại hay quốc tế đối nội, âm thầm cống hiến để thông tin về Việt Nam lan tỏa trên toàn cầu hay những thông tin về Việt Nam do các hãng thông tấn, báo chí nước ngoài sản xuất được biên dịch, biên tập kịp thời và chuẩn xác.
Tôi cũng rất tự hào khi khẳng định TTXVN cũng là một hình mẫu về trao quyền cho phụ nữ. Hiện nay, ở các ban biên tập, tòa soạn thuộc TTXVN, số lượng nữ nhà báo giữ vai trò quản lý có tỷ lệ tương đồng với nam đồng nghiệp.
Việc trở thành một thành viên của ban lãnh đạo cơ quan là sự ghi nhận của ngành đối với các thế hệ nữ nhà báo TTXVN. Tôi may mắn là người ở thời điểm đó được lựa chọn. Đó là vinh dự cho bản thân. Do vậy, tôi càng ý thức hơn việc phải nỗ lực, phấn đấu để hoàn thành tốt công việc được giao, đóng góp vào sự phát triển của ngành.
Quá trình gần 30 năm làm việc tại TTXVN đã giúp tôi hiểu rõ được giá trị cốt lõi và truyền thống vẻ vang của ngành, cơ cấu tổ chức và cả những câu chuyện “bếp núc” như cách thức phối hợp giữa phóng viên và biên tập viên, giữa các đơn vị thông tin và đơn vị xuất bản, mối quan hệ giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại, lựa chọn ưu tiên trong những trường hợp cụ thể (khi nào phát tin văn bản, khi nào phát tin ảnh, khi nào phát video…), niềm vui khi thông tin có lượng truy cập lớn và cả nỗi lòng khi thông tin không được xuất bản.
Những trải nghiệm đó giúp tôi hiểu được những góc cạnh của vấn đề, đưa ra các quyết định phù hợp và kịp thời trong công tác chỉ đạo thông tin. Khi ở vị trí lãnh đạo, tôi phải có cái nhìn toàn diện hơn, giải quyết hài hòa các mối quan hệ để thúc đẩy sự phát triển, để thông tin đến với bạn đọc một cách nhanh nhất.
Quá trình hơn 10 năm công tác tại Ban Thư ký Biên tập và Quan hệ Đối ngoại giúp tôi học hỏi được từ các thế hệ lãnh đạo đi trước và các anh trong Ban lãnh đạo hiện nay về phương pháp làm việc, tổ chức thông tin, kỹ năng đưa ra quyết định và từ các đồng nghiệp đi trước phương pháp tư duy tổng hợp. Tôi vẫn nói với các bạn đồng nghiệp trẻ đại ý rằng người làm công việc tổng hợp không trực tiếp đi ra thực tế nhưng lại phải biết cách làm nổi bật được kết quả của đồng nghiệp ở thực địa.
– Trên cương vị Phó Tổng Giám TTXVN, bà đã tham gia chỉ đạo tổ chức và triển khai thành công nhiều tuyến thông tin lớn của ngành, góp phần quan trọng duy trì vị thế và lan tỏa thương hiệu TTXVN. Xin bà chia sẻ những kinh nghiệm và những kỷ niệm đáng nhớ trong quá trình này?
Mỗi chiến dịch thông tin mang đến cho tôi những trải nghiệm khác nhau. Khi công việc kết thúc với kết quả tốt, tôi và các đồng nghiệp sẽ rất nhẹ nhõm và cảm thấy có thêm nhiều năng lượng, động lực bắt tay vào nhiệm vụ mới. Bên cạnh đó, có những chiến dịch mang đến cho mình nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu.
Trước Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần thứ hai diễn ra tại Hà Nội (năm 2019), TTXVN đã xây dựng kế hoạch chi tiết, tính nhiều phương án. Tuy nhiên, chúng tôi đã không lường được trước là cuộc gặp đó không có kết quả khả quan như mong đợi ban đầu.
Trước diễn biến bất ngờ đó, bản thân tôi khá sốc. Tuy nhiên, tôi chỉ cho phép trạng thái đó kéo dài trong vài phút. Sau đó, tôi phải trấn tĩnh lại để xử lý công việc, điều phối phóng viên, thực hiện theo các diễn biến mới của sự kiện.
Với người chỉ đạo thông tin, khả năng phản xạ nhanh và kết nối các đơn vị thông tin là yêu cầu vô cùng cần thiết.
– Nghề báo vốn dĩ đã phải đối mặt với nhiều áp lực, đặc biệt ở cương vị tham gia lãnh đạo quản lý của cơ quan báo chí lớn như bà, thì áp lực đó càng lớn hơn, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt như hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh vai trò ở cơ quan, bà cũng là người vợ, người mẹ trong gia đình. Vậy bà làm cách nào để cân bằng giữa cuộc sống và công việc?
Mỗi ngành nghề đều có đặc thù, vất vả riêng. Ai đã chọn lựa và theo đuổi nghề báo thì đều cần có đam mê, nhiệt huyết.
Tốc độ xử lý thông tin hiện nay đòi hỏi những người làm báo luôn luôn ở tư thế sẵn sàng: phóng viên sẵn sàng lên đường tác nghiệp, biên tập viên sẵn sàng hỗ trợ xử lý thông tin từ hiện trường. Khi mọi người nghỉ ngơi bên gia đình, bạn bè lại là lúc người làm báo vẫn phải duy trì hoạt động tác nghiệp bởi dòng chảy của thông tin, đặc biệt là thông tin thông tấn, không bao giờ được phép ngừng. Bên cạnh sự chủ động của các đơn vị, người chỉ đạo cấp ngành cần hình dung dòng chảy của sự kiện một cách tổng thể để giao nhiệm vụ, gợi mở vấn đề cho các đơn vị thông tin, đặc biệt là chỉ ra những hướng tiếp cận trong các tình huống mới và khó.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian trưng bày của TTXVN tại Hội báo toàn quốc 2019. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Từ khi vào nghề, tôi đã quen với guồng quay công việc, trực theo ca kíp và chỉ về nhà khi hoàn thành nhiệm vụ. Khi bắt đầu có gia đình riêng, mọi chuyện cũng không dễ dàng. Để cân bằng cuộc sống, công việc, tôi phải liên tục học hỏi: học từ những người đi trước về cách thức làm việc, kinh nghiệm sắp xếp thời gian biểu, học từ các bạn trẻ cách tập luyện thể dục, thể thao và thư giãn.
Tuy vậy, yếu tố quan trọng là có sự thấu hiểu, chia sẻ trong gia đình. Muốn người thân hiểu mình thì mình cũng cần hiểu suy nghĩ của họ để từ đó tìm ra tiếng nói chung nhằm tháo gỡ khó khăn trong cuộc sống. Nếu không có được sự chia sẻ, cuộc sống sẽ rất áp lực. Trong gia đình tôi, chồng và các con tôi đã quen và rất chia sẻ với nghề nghiệp của mẹ, từ chuyện ít khi có các kỳ nghỉ dài đến việc thường xuyên xử lý công việc tới khuya… Ngược lại, nghề làm báo giúp tôi luôn có ý thức tiếp thu thông tin, hạ nhiệt “xung đột” bằng các giải pháp hòa đàm. Trong gia đình, chúng tôi cũng luôn lắng nghe ý kiến, kể cả ý kiến “phê bình” của các con. Quá trình nuôi dạy con cái cũng giúp vợ chồng tôi chia sẻ với nhau nhiều hơn, và thực sự tôi cũng trưởng thành hơn khi cùng các con lớn lên.
Mặt khác, khi áp lực thông tin, công việc giảm bớt thì tôi lại “trở về” đúng nghĩa của một người phụ nữ toàn tâm toàn ý cho gia đình. Tôi cũng là mẫu phụ nữ thích bếp núc, nấu ăn…
– Lực lượng phóng viên, biên tập viên thuộc TTXVN đang ngày càng được trẻ hóa với nhiều thế mạnh về sức trẻ, sự sáng tạo, trình độ công nghệ hiện đại… nhưng cũng thiếu hụt nhiều kinh nghiệm làm nghề. Với tư cách là người đứng đầu tổ chức nghề nghiệp lớn nhất của ngành là Chủ tịch Liên chi hội Nhà báo TTXVN, bà có thể chia sẻ những dự định, kế hoạch trong công tác đào tạo để phát huy thế mạnh về lực lượng nhà báo trẻ của TTXVN, cũng như đưa ra những lời khuyên gì đối với những người làm báo trẻ để họ giữ vững nhiệt huyết, bản lĩnh trước những áp lực, khó khăn hiện nay?
Người trẻ có cách tiếp cận riêng, người có kinh nghiệm có cách tiếp cận khác. Trong quá trình làm việc, hai thế hệ cần có sự trao đổi với nhau để cùng hoàn thiện.
Tôi cho rằng trong công việc, có những thứ thuộc về giá trị cốt lõi, chúng ta không được phá vỡ. Tuy nhiên, trong nghề báo, việc làm mới các giá trị này là điều cần thiết. Lâu nay, lãnh đạo ngành luôn khuyến khích điều này, tạo điều kiện để các bạn trẻ thể hiện năng lực, góc nhìn riêng, mới mẻ. Đảng ủy TTXVN có nghị quyết về thanh niên, trong đó nhấn mạnh việc các tổ chức Đảng cần tạo điều kiện cho phóng viên, biên tập viên trẻ rèn luyện thực tế để trưởng thành. Điều này còn thể hiện qua việc trao các giải báo chí TTXVN hàng năm. Các tác phẩm có góc nhìn mới của người trẻ luôn được ghi nhận và có cả một hạng mục cho phóng viên trẻ triển vọng.
Thành công thường không đến một cách dễ dàng. Hào quang của sự thành công luôn tỏa sáng và có sức cuốn hút. Để có được những thành công đó, người làm báo đã dành nhiều công sức, tâm huyết để tạo ra những tác phẩm báo chí có dấu ấn trong lòng công chúng. Ví dụ như khi chụp gương mặt của người lính cứu hỏa, phóng viên cũng phải tác nghiệp rất gần nơi người lính đó làm việc. Nói một cách khác, phóng viên cũng phải đối mặt với nguy hiểm của hỏa hoạn. Khi viết về bão lũ, để có được những dòng tin lay động lòng người, các phóng viên cũng phải vượt qua địa hình lầy lội, tiếp cận với các nhân vật đang phải vật lộn với thiên tai.
Với nghề báo, cọ xát thực tế là cách trưởng thành nhanh nhất. Cùng với lý thuyết được đào tạo, thực tiễn sẽ giúp người làm báo có phản xạ nghề nghiệp và thích ứng kịp thời trong xử lý công việc.
Nói đến tuổi trẻ là nói đến nguồn năng lượng dồi dào và nhiệt huyết. Khi còn trẻ, chúng ta hãy thử sức mình, chọn những lĩnh vực mới và khó. Thử thách sẽ mang lại cơ hội để chúng ta trưởng thành.
Các bạn trẻ đã có bước đầu thành công hãy để “vòng nguyệt quế” làm điểm tựa để bước tiếp lên phía trước. Với các bạn chưa có được sự ghi nhận rộng rãi, hãy tự ghi nhận chính mình và nỗ lực hơn nữa để đạt được các mục tiêu đề ra trong thời gian tới.
Cá nhân tôi cũng như tập thể ban lãnh đạo TTXVN luôn đặt niềm tin vào đội ngũ phóng viên, biên tập viên trẻ.
Chiều 16/6/2020, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống COVID-19. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho Thông tấn xã Việt Nam. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
– Như chúng ta đã đề cập ban đầu, mạng xã hội đang phát triển mạnh mẽ, song song và tác động rất lớn tới báo chí, tới người làm báo. Theo bà, làm cách nào để việc áp dụng “Bộ Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo” do Hội Nhà báo Việt Nam ban hành đi vào thực tiễn, phát huy hiệu quả?
Trước tiên, chúng ta phải xác định mỗi nhà báo là một công dân. Khoảng một thập kỷ trước, vấn đề trách nhiệm xã hội của một nhà báo thường xuyên được nhấn mạnh.
Người làm báo khác những người làm nghề nghiệp khác vì thông tin đưa ra có tác động rất lớn đến xã hội. Với các nhà báo, tôi cho rằng cần có sự thống nhất trong thông tin, thông điệp giữa các sản phẩm báo chí của họ đã đăng, phát trên các kênh chính thống với các phát ngôn, cách ứng xử trên mạng xã hội.
Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội thời gian qua, việc xây dựng bộ quy tắc nói trên là cần thiết để mỗi người làm báo tự nhìn nhận bản thân. Ban đầu, chúng ta nghĩ mạng xã hội là một thế giới ảo nhưng thực chất, nó rất thật. Những phát ngôn, hình ảnh đăng tải, cách ứng xử trên mạng xã hội… thể hiện nhiều khía cạnh về con người.
Khi tham gia mạng xã hội là tham gia vào việc lan tỏa thông tin, ý thức tự thân là quan trọng nhất. Trong quá trình trao đổi, sinh hoạt nghiệp vụ, mỗi tổ chức, cơ quan báo chí cần cập nhật thông tin, lắng nghe ý kiến chia sẻ, phản hồi của phóng viên, biên tập viên.
– Trân trọng cảm ơn nhà báo về những chia sẻ rất có ý nghĩa!
“Người làm báo khác những người làm nghề nghiệp khác vì thông tin đưa ra có tác động rất lớn đến xã hội.”
Ngập lụt đang là nỗi ám ảnh thường trực mỗi khi có mưa lớn, triều cường tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Để giải quyết vấn đề này, thời gian qua, thành phố đã có nhiều quy hoạch, nhiều chính sách, nhiều dự án với số tiền lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng, xử lý được nhiều điểm ngập nhưng tình trạng ngập vẫn đang diễn ra dai dẳng, ảnh hưởng đến cuộc sống người dân.
Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, riêng trong giai đoạn 2016-2020,thành phố đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 44 dự án chống ngập với tổng mức đầu tư 5.453 tỷ đồng.
TTXVN có loạt bài nhìn lại công tác chống ngập tại Thành phố Hồ Chí Minh với các kết quả đã đạt được cũng như nêu lên những tồn tại, thách thức lớn cần giải quyết trong vấn đề này thời gian tới./.
Nhìn lại chặng đường chống ngập
Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện đồng thời 2 quy hoạch chống ngập theo quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều dự án công trình đã và đang được triển khai, góp phần quan trọng trong việc cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước, giảm ngập ở nhiều khu vực từng ngập nặng.
Chuyển biến đáng kể
Ngày 19/6/2001, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 752/QĐ-TTg ngày 19/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 (gọi tắt là Quy hoạch 752) đề ra nhiệm vụ xây dựng hệ thống thoát nước chung, trạm bơm cục bộ, hệ thống thu gom nước thải, nhà máy xử lý nước thải.
Giai đoạn 2016-2020, Thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 44 dự án chống ngập với tổng mức đầu tư 5.453 tỷ đồng. Qua đó, góp phần hạn chế tình trạng ngập nước gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân.
Đến ngày 28/10/2008, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1547/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch thuỷ lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Quy hoạch 1547).
Định hướng là thực hiện các giải pháp kiểm soát thủy triều, chủ động hạ thấp mức nước trên các kênh trục bao quanh vùng bờ hữu sông Sài Gòn-Nhà Bè, chấm dứt tình trạng úng ngập do lũ và triều, cải thiện môi trường kênh rạch, cải tạo các vùng đất phèn.
Nội dung chính là xây dựng hệ thống đê bao, cống khép kín để khống chế mực nước và kiểm soát môi trường nước khu vực phía trong đê bao. Xây dựng các hồ điều tiết để dự trữ nước mưa tiêu ra từ trung tâm thành phố trong thời gian triều cường.
Ông Vũ Văn Điệp, Giám đốc Trung tâm Quản lý Hạ tầng Kỹ thuật (Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trả lời câu hỏi của phóng viên về tình hình chống ngập tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực thực hiện 2 quy hoạch nói trên trong các nhiệm vụ, chương trình phát triển kinh tế xã hội từng năm của thành phố. Đặc biệt giảm ngập nước là 1 trong 7 chương trình đột phá được đưa ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X (nhiệm kỳ 2016-2020).
Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2016-2020, thành phố đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 44 dự án chống ngập với tổng mức đầu tư 5.453 tỷ đồng. Qua đó, góp phần hạn chế tình trạng ngập nước gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân.
Tính đến nay các tuyến đường trước đây được xem là “”rốn” ngập của thành phố như khu vực vòng xoay Cây Gõ, đường 3/2, Lê Hồng Phong, Kỳ Đồng, Trần Quang Khải, Trần Khắc Chân, Hai Bà Trưng, Phan Đình Phùng, Phan Xích Long, Bình Thới, khu vực bến xe Chợ Lớn, đường Nơ Trang Long, Kinh Dương Vương, Lê Lai, Nguyễn Biểu… đã không còn xuất hiện tình trạng ngập.
Đến hết năm 2019, thành phố đã giải quyết được 22/37 tuyến đường ngập, đạt 59,46% so với chỉ tiêu đề ra giai đoạn 2016-2020.
Theo ông Lê Hoà Bình, Giám đốc Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình giảm ngập nước giai đoạn 2016-2020 đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của cả hệ thống chính trị và nhân dân thành phố, nhận được nhiều ý kiến, đóng góp của các chuyên gia trong và ngoài nước.
Vì thế chương trình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tình trạng ngập trên địa bàn thành phố đã được cải thiện đáng kể. Ý thức của người dân tham gia công tác phòng chống ngập nước ngày càng được nâng lên, thành phố cũng đã xây dựng cơ chế thu hút đầu tư lĩnh vực thoát nước theo hình hình thức đối tác công tư (PPP).
Về kết quả cụ thể, trong giai đoạn 2016-2020 thành phố đã giải quyết được 25/36 tuyến đường chính ngập do mưa (đạt 69,44% so với chỉ tiêu đề ra); hoàn thành 179/179 tuyến đường hẻm do quận huyện quản lý, hoàn thành thêm 1.164 tuyến hẻm kết hơp chỉnh trang đô thị đồng bộ với hệ thống thoát nước của các tuyến đường chính. Đối với tuyến đường ngập do triều, dự kiến đến cuối năm 2020 thành phố giải quyết được 9/9 tuyến.
Ông Vũ Văn Điệp – Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, công tác giảm ngập của thành phố đã đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận.
Đơn cử, những năm trước, với cường độ mưa là 112,3 mm, thành phố sẽ ngập nhiều tuyến đường, thời gian nước rút chậm (kéo dài 4-6 tiếng). Hiện nay, sau khi thành phố đã đầu tư hoàn thành nhiều dự án chống ngập, tình trạng ngập đã được kéo giảm về số tuyến đường, chiều sâu và thời gian ngập, đặc biệt ở khu vực trung tâm thành phố.
Trong số 22 tuyến đường bị ngập hiện nay chỉ từ 15-40 phút sau mưa là trở lại bình thường, nước cơ bản rút hết.
Tiếp tục triển khai nhiều dự án lớn
Trong thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang triển khai giải pháp công trình với nhiều dự án chống ngập quy mô lớn. Đơn cử, thành phố đã xây dựng hoàn thành nhà máy xử lý nước thải Tham Lương-Bến Cát, khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc-Thị Nghè, đang thi công giai đoạn 2 nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng, nhà máy Tây Sài Gòn, Bình Hưng Hoà.
Cơ bản hoàn thành cống ngăn triều Mương Chuối thuộc dự án chống ngập quy mô 10.000 tỷ đồng. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)
Theo Ban Quản lý Dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, tính từ năm 2016 đến nay thành phố đã hoàn thành nhiều dự án lớn sử dụng vốn đầu tư công như dự án cống kiểm soát triều Nhiêu Lộc-Thị Nghè, hệ thống thoát nước Quốc lộ 1A đoạn từ cầu vượt An Sương đến Nguyễn Văn Quá, xây dựng 4 đoạn đê bao xung yếu khu vực quận Thủ Đức thuộc bờ tả sông Sài Gòn, hệ thống thoát nước đường An Dương Vương (từ cầu Mỹ Thuận đến Bến Phú Định).
Hoàn thành công trình hệ thống Thoát nước Quốc lộ 1A đoạn từ đường Lê Thị Riêng đến Ngã tư Ga, cải tạo hệ thống thoát nước đường Kinh Dương Vương đoạn từ cầu Ông Buông đến Mũi tàu Phú Lâm, công trình thuỷ lợi bờ hữu ven sông Sài Gòn quận 12, Gò Vấp, huyện Hóc Môn…
Đối với dự án theo hình thức đối tác công tư, hiện dự án Giải quyết ngập do triều khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu giai đoạn 1 đã đạt 77% khối lượng xây dựng chính.
Trong khi đó các dự án đã đấu thầu khởi công từ năm 2019 trở về trước, dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2021-2025 gồm dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi, cải tạo hệ thống thoát nước đường Kinh Dương Vương (đoạn từ mũi tàu Phú Lâm đến vòng xoay An Lạc, dự án xây dựng hệ thống thoát nước đường Nguyễn Văn Tăng (đoạn từ đường Lê Văn Việt đến Nguyễn Xiển).
Đáng chú ý, dự án Vệ sinh môi trường thành phố giai đoạn 2 hiện đang thi công một số gói thầu và tái khởi động gói thầu quan trọng nhất là gói thầu XL-02 (xây dựng nhà máy xử lý nước thả Nhiêu Lộc-Thị Nghè ở quận 2) sau nhiều vướng mắc về thủ tục đấu thầu, đầu tư.
Dự án nạo vét, cải tạo môi trường, xây dựng hạ tầng ven rạch Xuyên Tâm từ kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè đến sông Vàm Thuật (quận Bình Thạnh, Gò Vấp) có tổng mức đầu tư 8.825 tỷ đồng, dự kiến dự án sẽ trình Hội đồng Nhân dân thành phố tại kỳ họp đầu tháng 7/2020.
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định theo Quy hoạch 1547 và 752 của Thủ tướng Chính phủ nhưng theo các chuyên gia, việc thực hiện 2 quy hoạch này đang diễn ra chậm do nguồn vốn bố trí làm dự án lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng.
Hệ thống sông, kênh, rạch chưa được nạo vét vẫn còn nhiều, hệ thống cấp thoát nước hiện hữu không đáp ứng đủ nhu cầu, chưa kể tình trạng xả rác lấp bít miệng thu.
Trong khi đó, Quy hoạch 752 sắp hết thời hạn quy hoạch (năm 2020) nên vừa qua Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch tổng thể thoát nước thành phố nhằm giải quyết nhiều vấn đề phát sinh do đô thị hoá vùng ven, yếu tố biến đổi khí hậu cũng như việc huy động nguồn vốn thực hiện./.
Sau 3 giờ đồng hồ mưa to kéo dài chiều 16/6, khu vực Đường Đồng Tiến (Quận 10) nước vẫn chưa rút hết. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
“Điệp khúc” mưa là ngập
Dù mùa mưa chỉ mới bắt đầu nhưng một số cơn mưa vào cuối tháng 5 và những ngày tháng 6 vừa qua đã gây ngập tại nhiều tuyến đường Thành phố Hồ Chí Minh. Đáng chú ý, ngập xảy ra ngay cả những tuyến đường mà dự án cải tạo hệ thống thoát nước mới được đưa vào sử dụng.
Đầu mùa mưa, ngập triền miên
Cơn mưa kéo dài 30 phút cuối tháng 5 đã khiến đường Nguyễn Văn Quá, quận 12 đoạn từ đường Song Hành đến Quang Trung ngập hơn 0,5m. Nước tràn cả vào nhà người dân khiến sinh hoạt và hoạt động buôn bán bị gián đoạn. Đây là tuyến đường đã được ngân sách bỏ ra hơn 160 tỷ đồng để nâng cấp thệ thống thoát nước.
Dù mùa mưa chỉ mới bắt đầu nhưng một số cơn mưa vào cuối tháng 5 và những ngày tháng 6 vừa qua đã gây ngập tại nhiều tuyến đường Thành phố Hồ Chí Minh. Đáng chú ý, ngập xảy ra ngay cả những tuyến đường mà dự án cải tạo hệ thống thoát nước mới được đưa vào sử dụng.
Ông Nguyễn Văn Bé, người dân bán quán mặt đường Nguyễn Văn Quá cho hay, trước đây thấy đơn vị thi công lắp đặt cống thoát nước, người dân nghĩ rằng sẽ hết ngập nhưng không ngờ chỉ mới đầu mua mưa mà đã ngập nặng.
Cách đó không xa, cơn mưa lớn diễn ra cuối tháng 5 cũng đã gây ngập cục bộ tuyến đường Phan Huy Ích, quận Gò Vấp. Đúng vào lúc tan tầm nên tuyến đường này kẹt xe cục bộ, người và phương tiện bì bõm trong mặt nước ngập sâu 0,3-0,5m. Rác thải tuần từ các cống tràn lên đường gây mùi hôi thối.
Người dân đi lại rất khó khăn qua những đoạn ngập sâu. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
Chị Nguyễn Minh Trang, nhà gần góc đường Phan Huy Ích với Trường Chinh cho biết, trước đây khu vực này chỉ ngập khi mưa lớn và nước thoát tương đối nhanh. Tuy nhiên năm nay mùa mưa chỉ mới bắt đầu mà nước đã ngập lênh láng.
Còn tại quận Bình Thạnh, “tâm điểm” ngập tập trung ở tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh. Đây là tuyến đường mà điệp khúc “mưa-ngập” diễn ra thường xuyên. Người dân vất vả lưu thông trên con đường này mỗi khi mưa lớn, kéo dài.
Để chống ngập cho tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố đã chi 14,2 tỷ đồng mỗi năm thuê máy bơm của Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung.
Trong khi đó, cơn mưa trên diện rộng kéo dài khoảng 2 tiếng vào chiều 13/6 vừa qua đã khiến nhiều tuyến đường ngập sâu như đường Phan Anh (quận Tân Phú), Nguyễn Duy Trinh (quận 2), Tô Ngọc Vân (quận Thủ Đức)…
Đáng chú, một số khu vực trong bến xe miền Tây (quận Bình Tân) như khu bán vé, nhà chờ, bãi đỗ xe lênh láng nước, khiến nhiều chuyến xe lùi thời gian khai thác. Để kịp giờ xuất bến, nhân viên của hãng xe Phương Trang phải đặt dãy ghế nối với cửa xe để cho khách lên.
Tương tự, đường Hoàng Văn Thụ, đoạn trước công viên Hoàng Văn Thụ quận Tân Bình ngập nửa bánh xe trong cơn mưa chiều hôm qua 16/6. Nước tràn từ đường Trường Sơn, Phan Thúc Duyện xuống khu vực công viên nhưng do nước không thoát kịp vào cống thoát nước nên ngập lênh láng. Đúng vào giờ cao điểm, các phương tiện từ sân bay Tân Sơn Nhất đổ về hướng Lăng Cha Cả đã gây ùn tắc cục bộ khu vực.
Theo ông Vũ Văn Điệp, Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh, từ đầu năm 2020 đến nay, thành phố có mưa trên diện rộng, trong đó có 3 trận mưa lớn với vũ lượng từ 70mm đến 112,3mm gây ngập 22 tuyến đường. Chiều sâu ngập đo được tại vị trí 1/4 chiều rộng mặt đường từ 0,1-0,3m.
Các tuyến đường bị ngập như Nguyễn Văn Khối, Quốc lộ 50, Đào Sư Tích, Lê Văn Lương, Hồ Học Lãm, Song hành Quốc lộ 22, Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Hữu Cảnh, Điện Biên Phủ, Phan Huy Ích, Ung Văn Khiêm, Quốc Hương, Phạm Văn Chiêu, Bình Lợi, Tô Ngọc Vân, Kha Vạn Cân…
Vẫn chưa hết ngập
Theo ông Vũ Văn Điệp, Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh, trong 5 năm triển khai chương trình giảm ngập nước giai đoạn 2016-2020, số kinh phí ngân sách thành phố đầu tư cho hoạt động chống ngập thấp nhất là 796 tỷ đồng năm 2016, cao nhất là khoảng 2.222 tỷ đồng vào 2020.
Đến nay, tổng cộng toàn bộ kinh phí đã đầu tư cho công tác chống ngập là 25.998 tỷ đồng (hơn 1 tỷ USD).
Rõ ràng ngân sách thành phố đã bỏ ra không ít và mặc dù lãnh đạo thành phố qua các thời kỳ đặc biệt quan tâm và dành nhiều ưu tiên chính sách cho việc chống ngập, thậm chí chống ngập được đưa vào 7 chương trình đột phá nhiệm kỳ 2016-2020 nhưng đến nay hiệu quả các dự án vẫn đang còn là một câu hỏi lớn.
Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong (giữa) kiểm tra tiến độ dự án chống ngập. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)
“Chúng tôi sống trong hẻm, cứ mỗi lần mưa xuống là hết sức khốn khổ vì nước từ ngoài đường tràn vào lênh láng, trôi nổi đồ đoàn, nước bẩn tanh hôi. Còn ra đường chở con cái đi học là nước ngập cả bánh xe, nếu đi vào hố ga trên đường thì rất nguy hiểm. Người dân trông chờ các dự án chống ngập và tin tưởng nhiều dự án lớn với số tiền hàng chục nghìn tỷ đồng sẽ giúp thành phố chống ngập, cải thiện tình hình tuy nhiên thực tế chưa đáp ứng được kỳ vọng,” anh Lê Huỳnh Đăng Khoa, người dân sống khu vực đường Huỳnh Tấn Phát, quận 7 cho hay.
Đến nay, tổng cộng toàn bộ kinh phí đã đầu tư cho công tác chống ngập ở Thành phố Hồ Chí Minh là 25.998 tỷ đồng (hơn 1 tỷ USD).
Theo các chuyên gia, thách thức lớn trong công tác chống ngập hiện nay mà Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung là đang phải đối mặt với kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng, khiến nhiều khu vực sẽ ngập nặng hơn trong tương lai gần.
Các cơn mưa lớn, kéo dài kết hợp triều cường sẽ khiến cho việc tiêu thoát nước từ khu vực trung tâm ra bên ngoài diễn ra khó khăn, thậm chí nước từ bên ngoài có thể tràn chảy vào phía trong, gây ngập cục bộ.
Trong khi đó, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, hệ thống thoát nước hiện hữu đang quá tải. Theo ông Vũ Văn Điệp, kết cấu hạ tầng thoát nước hiện hữu của thành không theo kịp tốc độ đô thị hoá, bêtông hoá quá nhanh nên vào thời điểm gặp điều kiện thời tiết cực đoan như những trận mưa lớn vũ lượng cao đã gây ngập một số tuyến đường, một số điểm trong khu đô thị.
Cùng với đó là ý thức của người dân vứt rác bừa bãi, gây tắc hố ga thoát nước, làm nghẽn dòng kênh, rạch. Nhiều hộ kinh doanh còn bịt chắn toàn bộ hố ga thoát nước khiến hệ thống thoát nước không thu được nước mưa.
Về “điểm nóng” Nguyễn Hữu Cảnh, ông Vũ Văn Điệp cho rằng, thời gian qua mưa lớn, hệ thống thoát nước khu vực đường Nguyễn Hữu Cảnh bị lún sụt, quá tải nên việc tiêu thoát bằng máy bơm chống ngập phải phụ thuộc nhiều vào khả năng đưa nước từ đường về máy bơm. Trong khi hệ thống cống dẫn nước về trạm bơm chưa đủ tiết diện nên không đảm bảo, dù công suất máy bơm đáp ứng.
Ông Vũ Văn Điệp thông tin thêm, hiện nay, Sở Giao thông vận tải đang triển khai dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng lại hệ thống thoát nước đường Nguyễn Hữu Cảnh với mục tiêu giải quyết hết ngập tuyến đường này.
Tuy nhiên, cũng cần đánh giá tình hình ngập khu vực này để quyết định có duy trì hay không hệ thống bơm chống ngập. Hiện Ủy ban Nhân dân thành phố đã giao Sở Xây dựng, Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật tiếp tục theo dõi đánh giá hiệu quả chống ngập đối với tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh và báo cáo cho Ủy ban Nhân dân thành phố. Nếu dự án đầu tư xong, đường Nguyễn Hữu Cảnh không còn ngập nữa thì không duy trì máy bơm chống ngập./.
Các phương tiện gặp khó khăn trong dòng nước ngập lút bánh xe trên đường Tô Ngọc Vân (quận Thủ Đức). (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
“Loay hoay” chống ngập
Để chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh, hàng loạt dự án với chi phí hàng chục nghìn tỷ đồng đã được triển khai nhưng mức độ hiệu quả dường như vẫn đang là câu hỏi lớn. Chống ngập tại thành phố đang trong cảnh “loay hoay,” chắp vá. Quá trình triển khai chống ngập tại một số khu vực và một số dự án lớn cho thấy rõ hơn điều này.
“Rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh
Đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh, được xem là “rốn” ngập của thành phố. Để giải quyết ngập cho tuyến đường này, thành phố đã thuê máy bơm của Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung với giá 14,2 tỷ đồng/năm.
Để chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh, hàng loạt dự án với chi phí hàng chục nghìn tỷ đồng đã được triển khai nhưng mức độ hiệu quả dường như vẫn đang là câu hỏi lớn. Chống ngập tại thành phố đang trong cảnh “loay hoay,” chắp vá.
Tuy nhiên theo các chuyên gia, đây chỉ là giải pháp tình thế và trên thực tế, mỗi lần mưa lớn, một số đoạn trên tuyến đường lại ngập nặng, dù sông Sài Gòn – nơi tiêu nước lý tưởng bậc nhất nằm sát cạnh.
Sông Sài Gòn chạy song song với đường Nguyễn Hữu Cảnh. Dọc sông là hàng nghìn căn hộ cao tầng, chưa kể nhiều dự án nhà ở hiện hữu cũng tồn tại ngay mặt tiền đường Nguyễn Hữu Cảnh.
Việc xây dựng quá nhiều dự án nhà ở cao tầng đã tăng tốc độ bêtông hoá mặt đất, giảm không gian cho nước (tiêu, thoát và thẩm thấu) dẫn tới việc ngập cục bộ khu vực.
Đường Nguyễn Hữu Cảnh (Quận 10) chìm trong biển nước mênh mông. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
Theo Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, khoảng 20 năm trước, đường Nguyễn Hữu Cảnh không ngập. Tuy nhiên, do phát triển nóng các dự án nhà ở cao tầng dọc tuyến đường này nên 2km đường Nguyễn Hữu Cảnh đoạn từ cầu Sài Gòn đến cầu Văn Thánh 2 trở thành “rốn ngập” của thành phố.
Các dự án nhà ở cao tầng đều bêtông hoá, nâng nền khu vực xây dựng, dẫn tới nước mưa đổ dồn ra đường Nguyễn Hữu Cảnh rất nhanh, trong thời gian ngắn mà không thoát ra sông Sài Gòn. Vì thế, dùng máy bơm chống ngập cũng chỉ là giải pháp tình thế, không bền vững.
Thời gian qua, thành phố đã bỏ ra rất nhiều tiền để chống ngập tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh, thậm chí đang tính toán dự án nâng cốt nền tuyến đường này với kinh phí hơn 500 tỷ đồng. Tuy nhiên các giải pháp này không bền vững.
Cách làm đúng đối với tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh là khi phát triển dự án nhà ở cao tầng, cứ 100-200m dọc tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh phải có đường ống thoát nước ra sông. Muộn còn hơn không, thành phố cũng nên thương lượng với các chủ đầu tư dự án nhà ở làm các hồ điều tiết trong khu vực dự án để gom nước sau đó thoát nước ra sông Sài Gòn qua hệ thống thoát nước.
“Tương tự tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh là đoạn 2km đường Nguyễn Tất Thành, quận 4 cũng chạy sát sông Sài Gòn. Cảng Sài Gòn đã di dời và dự kiến sẽ xây dựng các dự án nhà ở cao tầng. Nếu không làm tốt quy hoạch ngay từ khi cấp phép các dự án dọc đường Nguyễn Tất Thành thì kịch bản sẽ lặp lại như đã từng diễn ra ở tuyến đường Nguyễn Hữu Cảnh. Lúc đó, thành phố sẽ phải chi hàng trăm thậm chí hàng nghìn tỷ đồng chống ngập cho tuyến đường mà vẫn không hiệu quả,” kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn nêu ý kiến.
Ngổn ngang các dự án lớn
Để chống ngập do triều cường, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp thuận triển khai dự án ngăn triều quy mô gần 10.000 tỷ đồng do Trung Nam Group làm chủ đầu tư. Đây là dự án đầu tư lớn, không chỉ về tiền của mà còn đặt nặng niềm tin, sự kỳ vọng, hy vọng của lãnh đạo Trung ương, chính quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu của dự án là kiểm soát ngập do triều cường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng diện tích 570km2 với khoảng 6,5 triệu dân thuộc khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và Trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tính từ lúc khởi công (giữa năm 2016) đến ngày 20/5/2020, tổng giá trị thực hiện dự án chống ngập tại TP.HCM đạt 67% tổng mức đầu tư, giá trị giải ngân bồi thường giải phóng mặt bằng đạt hơn 203 tỷ đồng. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)
Dự án sẽ xây dựng 6 cống kiểm soát triều lớn, bề rộng cống từ 40-160 m, cao trình đáy cống từ -3,6m đến -10m. Dự án cũng xây dựng đoạn đê bao ven sông Sài Gòn từ Vàm Thuật đến sông Kinh giai đoạn 1 (dài 7,8km), 25 cống nhỏ có khẩu độ từ 1-10m từ Vàm Thuật đến Mương Chuối…
Tuy nhiên, khởi công từ giữa năm 2016 nhưng đến nay, dự án vẫn chưa thể hoàn thành dù đã quá thời gian ấn định trong hợp đồng là vào tháng 4/2018. Tiếp đó, chủ đầu tư “khất hẹn” thời gian hoàn thành lần lượt trong tháng 6/2019, cuối năm 2019 và gần đây nhất là vào tháng 10/2020.
Nguyên nhân khiến dự án chậm tiến độ là vướng giải phóng mặt bằng, các khiếu nại của liên danh Tư vấn giám sát hợp đồng về thiết kế cơ sở, thay đổi thép vật liệu cửa van cũng như quy trình triển khai dự án theo hợp đồng BT, việc giải ngân vốn, thanh kiểm tra của cơ quan chuyên ngành. Hiện nay, dự án đã thi công phần xây dựng đạt khoảng 77%, tổng giá trị thực hiện dự án đạt 67%.
Tương tự dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng là dự án Vệ sinh môi trường Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2 có tổng vốn đầu tư 524 triệu USD.
Dự án này cũng chậm tiến độ do nhiều vấn đề phát sinh, đặc biệt là những khiếu nại về lựa chọn nhà thầu tại gói thầu XL-02 (xây dựng nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc-Thị Nghè ở quận 2) là gói thầu quan trọng nhất.
Hàng loạt dự án khác cũng ngổn ngang không kém. Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, công trình cải tạo hệ thống thoát nước khu vực Quốc lộ 13-Đinh Bộ Lĩnh-Nguyễn Xí-Ung Văn Khiêm (phường 25, 26, quận Bình Thạnh) vẫn còn vướng mặt bằng.
Dự án cải tạo kênh Ba Bò vẫn chưa thể hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải, dự án tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm môi trường kênh Tham Lương-Bến Cát-rạch Nước Lên (giai đoạn 1) đang tìm kiếm nguồn vốn đầu tư sau khi Ngân hàng Thế giới rút vốn tài trợ do vướng công tác bàn giao mặt bằng.
Trong khi đó, mặc dù đã đấu thầu khởi công từ năm 2019 trở về trước nhưng dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi vẫn đang trong giai đoạn thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất. Hay như dự án cải tạo hệ thống thoát nước đường Kinh Dương Vương đoạn từ mũi tàu Phú Lâm đến Vòng xoay An Lạc, vẫn còn 2 gói thầu chưa thực hiện xong dù một số gói thầu đã thi công hoàn thành từ cuối năm 2016./.
Nhiều tuyến đường ở Quận 2 ngập sâu khiến nhiều người dân khó di chuyển. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
“Khắc khoải” những kênh thoát nước
Với 2.953 tuyến sông, kênh, rạch, Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế phát triển kinh tế xã hội, văn hoá mang đậm sông nước Nam Bộ. Đồng thời, đây cũng là điều kiện lý tưởng để tiêu, thoát nước cho thành phố.
Tuy nhiên, trong quá trình đô thị hoá, nhiều tuyến sông, kênh đã “biến dạng” do việc xâm lấn hành lang bảo vệ, lấp rạch làm dự án và nạn xả rác tràn lan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng chảy, gây ô nhiễm môi trường.
Lấn sông, lấp rạch
Theo Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, vào thời điểm đầu năm 2019, trên địa bàn thành phố còn tồn tại 39 vị trí kênh, rạch bị lấn chiếm, phát sinh thêm 2 vị trí. Đến nay, thành phố đã xử lý 6 vị trí, còn lại 35 vị trí kênh rạch bị lấn chiếm.
Trong quá trình đô thị hoá, nhiều tuyến sông, kênh đã “biến dạng” do việc xâm lấn hành lang bảo vệ, lấp rạch làm dự án và nạn xả rác tràn lan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng chảy, gây ô nhiễm môi trường.
Riêng tại Quận 7, có tới 10 trường hợp lấn chiếm tại rạch Bà Bướm, rạch Sông Tân, rạch Tam Đệ, rạch Cây Me, Rạch Bần Đồn, rạch Ông Đội làm thu hẹp lòng rạch, hạn chế khả năng thoát nước. Còn tại Quận 12, việc đầu tư xây dựng Khu Dân cư An Sương đã lấp rạch để đặt cống D600.
Theo Sở Quy hoạch và Kiến trúc thành phố, trên toàn tuyến sông Sài Gòn có khoảng 83 dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu phức hợp nhà ở kết hợp với thương mại, dịch vụ, khu công viên kết hợp khu vui chơi giải trí với diện tích thống kê chưa đầy đủ hơn 454ha.
Đường Kha Vạn Cân (Quận Thủ Đức) ngập sâu khiến người dân phải di chuyển rất khó khăn. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
Các dự án đầu tư không được giao đất thuộc phạm vi hành lang an toàn bờ sông nên không ai quản lý, đầu tư trong khi pháp lý chưa có, thiếu nguồn lực, dẫn tới thực hiện manh mún, bị lấn chiếm trái phép.
Tình trạng lấn chiếm hành lang bờ sông để sử dụng vào các mục đích cá nhân (công trình phụ trong các công trình nhà ở tư nhân), xây dựng bến neo đậu canô, kinh doanh nhà hàng, quán cafe… còn phổ biến, nhất là tại các khu vực có mật độ đô thị hóa cao nhưng chưa có biện pháp xử lý dứt điểm.
Trong khi đó, theo Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố, do sự phát triển của thành phố nóng và chưa đồng bộ, cộng với việc xem nhẹ, buông lỏng quản lý, các tuyến sông, kênh rạch trên địa bàn thành phố đã bị lấn chiếm, hình thành các khu nhà trên các sông, kênh, rạch và các khu dân cư xây dựng mới được cấp phép ở sát bờ sông, rạch thoát nước.
Cùng với việc lấn sông là tình trạng xả rác tràn lan nhiều kênh thoát nước bị vô hiệu chức năng. Đơn cử, sân bay Tân Sơn Nhất có 3 hướng thoát nước gồm kênh A41, kênh Hy Vọng, mương Nhật Bản.
Tuy nhiên, phần vì tiến độ dự án cải tạo kênh diễn ra chậm chạp, phần vì kênh ngập rác, các miệng cống bị bịt, dòng chảy trở nên chật hẹp đã dẫn tới ngập cục bộ khu vực vực sân bay.
Thực tế cho thấy, kênh A41 đoạn từ đường Phan Thúc Duyện đến đường Cộng Hòa (phường 4, quận Tân Bình) rác thải chất đầy, nhiều đoạn mặt kênh bị bồi lấp nặng nề, một số ống thoát nước bị tắc nghẽn. Kết cấu bờ mương và lòng mương trước đây là 8m và 6m, sâu 3,5m nhưng hiện nay có những chỗ chỉ còn chưa đến 0,5m.
Tương tự, chỉ trong một ngày ra quân dọn dẹp trên tuyến kênh Tham Lương – Bến Cát, đoạn qua địa bàn quận Gò Vấp, lực lượng chức năng đã xử lý sơ bộ hơn 1.000 tấn rác.
Trước thách thức tưởng dễ mà khó xử lý này, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã phải ban hành Chỉ thị 19/CT-TU thực hiện cuộc vận động “Người dân không xả rác ra đường và kênh rạch, vì thành phố sạch và giảm ngập nước.”
Tuy đã đạt được kết quả ban đầu đáng ghi nhận nhưng rõ ràng việc thay đổi thói quen, nâng cao ý thức gìn giữ vệ sinh, bảo vệ môi trường, không xả rác ra đường, kênh rạch không phải cứ nói là làm được trong “một sớm một chiều.”
Ông Vũ Văn Điệp, Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật nhìn nhận, việc lấn chiếm kênh, rạch tồn tại từ rất lâu. Hệ thống kênh, rạch có vị trí xung yếu thoát nước cho cả khu vực nhưng bị lấn chiếm nhiều, dòng chảy thu hẹp nghiêm trọng.
Nhiều vị trí đã được hợp pháp hóa giấy tờ, trách nhiệm giải tỏa thuộc Ủy ban Nhân dân các quận, huyện nhưng tiến độ rất chậm.
Địa phương chịu trách nhiệm quản lý đất đai, kênh, rạch và có trách nhiệm cưỡng chế để hoàn trả lại mặt bằng đã lấn chiếm. Những trường hợp do lịch sử để lại, có những vị trí được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì địa phương phải tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng để khôi phục lại hiện trạng.
Còn các dự án khu dân cư, khu đô thị đã có quy định việc san lấp kênh, rạch phải thay thế bằng cống hộp có tiết diện bằng hoặc lớn hơn kênh, rạch bị san lấp.
Để xứ lý vấn để rả rác ra kênh rạch, ông Vũ Văn Điệp, Giám đốc Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật thành cho biết, Sở Xây dựng đang phối hợp với Ủy ban Nhân dân các quận, huyện đẩy mạnh công tác xử lý lấn chiếm hệ thống thoát nước trên địa bàn thành phố, đôn đốc yêu cầu các chủ đầu tư đẩy nhanh việc thực hiện dự án đang thi công ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước, thanh thải các chướng ngại vật chặn dòng ảnh hưởng gây ngập tại các tuyến đường.
Đối với việc giải quyết ngập cho khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, ông Vũ Văn Điệp cho hay, Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật đô thị đang có dự án cải tạo hệ thống thoát nước khu vực đường Phan Huy Ích, cũng như kênh Hy Vọng. Nếu trả lại nguyên trạng kênh này như ban đầu thiết kế sẽ không còn ngập nặng như những trận mưa vừa qua.
Bao giờ có hồ điều tiết?
Trong quy hoạch thoát nước mưa (Quy hoạch 752) của Thủ tướng Chính phủ xác định nội dung quan trọng là xây dựng 104 hồ điều tiết. Các hồ được xây dựng dưới 3 dạng là hồ hở kết hợp cảnh quan, hồ ngầm theo công nghệ mới và dạng bể chứa nước mưa.
Tuy nhiên đến nay, ngoài hồ điều tiết ngầm thí điểm trên đường Võ Văn Ngân (quận Thủ Đức), các hồ điều tiết tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang nằm… trên giấy.
Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong (giữa) kiểm tra tiến độ dự án chống ngập. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)
Nguyên nhân là diện tích làm hồ điều tiết lớn, chưa xác định được vị trí cụ thể phù hợp, tìm kiếm nguồn vốn đầu tư và đền bù, giải phóng mặt bằng. Vì thế, nhiều tuyến đường xung quanh khu vực quy hoạch hồ điều tiết vẫn chưa thể hết ngập mỗi khi mưa lớn, kéo dài.
Vừa qua, Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước thành phố đề xuất hơn 475 tỷ đồng làm 7 hồ điều tiết tại Công viên Hoàng Văn Thụ, vòng xoay Lê Văn Sỹ-Nguyễn Trọng Tuyển quận Tân Bình, Công viên Làng Hoa quận Gò Vấp, Công viên khu dân cư Trần Thiện Chánh quận 10, sân bóng đá Trường Đại học Bách khoa, tại dải cây xanh phân cách đường Phan Xích Long quận Phú Nhuận và khuôn viên Cây xanh đối diện Công An phường 25, quận Bình Thạnh.
Trong khi đó, hồ điều tiết lớn như Khánh Hội (quận 4, quy mô 4,8ha), Bàu Cát (quận Tân Bình 0,4ha), Gò Dưa (quận Thủ Đức 14,3ha) với quy mô đầu tư hàng nghìn tỷ đồng vẫn chưa thể tiến hành do vướng thủ tục đầu tư, huy động nguồn vốn và tìm quỹ đất.
Theo tiến sỹ Hồ Long Phi, Giám đốc Trung tâm quản lý nước và biến đổi khí hậu (thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), để chống ngập cho thành phố, ngoài các giải pháp cứng (xây dựng hệ thống cống thoát nước) thì phải kết hợp giải pháp mềm; trong đó, có việc xây dựng các hồ điều tiết với nhiệm vụ giữ lại một lượng nước khi mưa quá lớn.
Đồng quan điểm, tiến sỹ, chuyên gia quy hoạch Nguyễn Minh Hòa cho rằng, để giải quyết ngập lụt thành phố có thể tiến hành đồng thời hai giải pháp là khơi thông lại hệ thống kênh rạch như kênh Tham Lương-Bến Cát, rạch Văn Thánh, Bùi Hữu Nghĩa, Miếu Nổi, Bùng Binh… và xây dựng hồ điều tiết lớn ở nơi trũng nhất của thành phố, sau đó chuyển ra sông bằng hệ thống kênh ngầm.
Theo ông Vũ Văn Điệp, Giám đốc Trung tâm quản lý hạ tầng kỹ thuật, các dự án xây hồ điều tiết trước đây chỉ là dự kiến và sẽ được đưa vào quy hoạch điều chỉnh về thoát nước và thủy lợi mà thành phố đang triển khai. Sau khi có quy hoạch điều chỉnh sẽ tiến hành đầu tư xây dựng các hồ điều tiết bằng các hình thức từ ngân sách hoặc đối tác công tư (PPP)./.
Đường Tân Hoà Đông (quận Bình Tân) bị ngập sâu. (Ảnh: Hồng Giang/TTXVN)
Giải bài toán quy hoạch
Theo các chuyên gia, thách thức lớn trong chống ngập hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh là sự thiếu đồng bộ, thậm chí lạc hậu về quy hoạch đô thị. Các quy hoạch chuyên ngành, như: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nhà ở, quy hoạch giao thông, quy hoạch hệ thống cấp thoát nước, quy hoạch thuỷ lợi… vẫn còn “va nhau.”
Trong khi đó, tốc độ đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng, phần nhiều mang tính tự phát, chắp vá, quy hoạch “đi sau” thực tế phát triển. Vì thế, quy hoạch đang là vấn đề then chốt đối với chống ngập, nhất là trước kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Quy hoạch phải “đi trước”
Sau 5 năm dân số Thành phố Hồ Chí Minh lại tăng 1 triệu người, kéo theo nhu cầu rất lớn về nhà ở. Vì vậy, các dự án nhà ở, khu dân cư, khu đô thị cũng sẽ nhanh chóng được phê duyệt, xây dựng.
Tốc độ đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng, phần nhiều mang tính tự phát, chắp vá, quy hoạch “đi sau” thực tế phát triển. Vì thế, quy hoạch đang là vấn đề then chốt đối với chống ngập ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là trước kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Quá trình đó đòi hỏi việc quy hoạch phải có tầm xa, đi trước, không chờ đến khi thực tiễn phát sinh lại cắt khúc, điều chỉnh liên tục quy hoạch theo kiểu chắp vá.
Cùng với đó, nếu quy hoạch được lập nhưng lại không thực hiện một cách kiên quyết trong đó có việc thực thi các quy định và thoả thuận về xây dựng hệ thống cấp thoát nước tại nội khu hoặc xung quanh dự án thì các không gian cho nước như công viên, đất cây xanh sẽ ít đi, tốc độ bêtông hoá ngày càng bao phủ sẽ càng khiến việc chống ngập đô thị khó khăn hơn.
Ngập nặng ngay giờ tan tầm khiến giao thông nhiều khu vực rối loạn. (Nguồn: TTXVN)
Theo Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 6/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2025, hiện thành phố đang trình cấp thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050; rà soát, cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu, tình hình sụt lún đồng thời điều chỉnh quy hoạch thuỷ lợi chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh; trong đó, xác định giải pháp chống ngập cho từng vùng, xác định lộ trình thực hiện.
Nói về quy hoạch đô thị, theo Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, ngập trong đô thị Việt Nam có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do phát triển thiếu bền vững. Yếu tố triều cường, biến đổi khí hậu có tác động nhưng ảnh hưởng chưa lớn.
Có những dự án nhà ở quy mô hàng nghìn căn hộ, tốc độ bê tông hoá diễn ra nhanh, giảm không gian cho nước dẫn tới nước đổ đồn nhanh, không thoát kịp vào hệ thống thoát nước vốn đang quá tải.
Những dự án chống ngập phải gắn liền với quy hoạch, quản lý đô thị, quản lý hạ tầng. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đang tồn tại quản lý đơn ngành, thiếu sự phối hợp tốt giữa Sở Giao thông vận tải trong việc làm đường, Sở Xây dựng trong việc cấp phép xây dựng nhà ở, Sở Quy hoạch và Kiến trúc cấp phép quy hoạch.
“Công tác quy hoạch giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển hạ tầng; trong đó có chống ngập. Hơn lúc nào hết, ngay từ đầu cấp phép xây dựng dự án phải có đánh giá tác động môi trường, không đợi đến khi ngập lụt mới làm dự án, như vậy là quá chậm. Việc cải tạo kênh rạch là cơ hội tốt để cải tạo hệ thống thoát nước giảm ngập lụt cho thành phố. Kênh rạch cần được khơi thông kết nối với nhau, kết nối với sông hồ, để nước mưa thoát ra,” kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn nêu ý kiến.
Đồng quan điểm, ông Hồ Long Phi, Giám đốc Trung tâm Quản lý nước và Biến đổi khí hậu, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, mục đích chiến lược kiểm soát ngập tích hợp không phải chỉ dừng lại ở việc hạn chế tình trạng ngập mà là giúp giảm thiểu thiệt hại do ngập xuống đến mức thấp nhất. Chống ngập là cần thiết nhưng chỉ nên xem là một trong những phương cách để giảm thiệt hại chứ không phải là mục tiêu tối hậu.
Theo đó, vai trò của quy hoạch lại không gian phát triển đô thị là then chốt và cấp bách nhất. Quy hoạch không gian đô thị để thích nghi tốt hơn với nước nên được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu và cấp bách nhất để hướng đến một chiến lược kiểm soát ngập bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu. Không gian dành cho nước trong đô thị (trữ, thoát và thấm nước) nên được nhanh chóng bảo vệ và tái khôi phục.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, hiện thành phố đang điều chỉnh quy hoạch chung, vì thế, nên rà soát kỹ quy hoạch hành lang bảo vệ sông rạch, trước hết là sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và các kênh rạch nội thành; không để tiếp tục tình trạng phát triển các toà nhà cao tầng quá dày đặc lấn át sông Sài Gòn hoặc biến một phần không gian sông Sài Gòn thành không gian riêng của dự án nhà ở nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất ven sông sông rạch vì lợi ích công cộng, đảm bảo cảnh quan và phát triển bền vững.
Kết hợp giải pháp công trình
Để giải quyết ngập cho thành phố, theo ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố sẽ rà soát lại toàn bộ quy hoạch 1/2.000 để điều chỉnh cốt nền phù hợp thực tế; quản lý việc san lấp kênh rạch; xử lý việc chiếm các cửa xả, rác thải, bịt miệng cống thoát nước.
Mục tiêu của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025 là kiên quyết không để phát sinh điểm ngập mới, tập trung giải quyết ngập bền vững cho lưu vực trung tâm thành phố rộng 106,41km2, cơ bản thoát nước cho các vùng còn lại của thành phố.
Bên cạnh đó thành phố cũng sẽ tiến hành duy tu, nạo vét cống thoát nước, quản lý mốc bờ cao hành lang bảo vệ kênh rạch đồng thời tăng cường không gian trữ nước, hồ điều tiết. Giải quyết vướng mắc dự án chống ngập do triều cũng như đưa vào sử dụng các công trình chống ngập.
Theo dự báo của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2021-2025 thành phố là một trong 10 thành phố có nguy cơ ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, tình trạng sạt lở và lún nền tiếp tục diễn ra nghiêm trọng, việc giải quyết dứt điểm các trường hợp lấn chiếm kênh rạch sẽ còn nhiều khó khăn, vấn đề xả rác xuống kênh, rạch, cống thoát nước vẫn còn phổ biến, tiêu chí đánh giá ngập chưa tạo được sự đồng thuận trong xã hội.
Thi công các phân đoạn của dự án sửa chữa đường Nguyễn Hữu Cảnh sẽ giúp giảm thiểu tình trạng ngập nước trong mùa mưa. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)
Vì vậy, mục tiêu đề ra của thành phố là kiên quyết không để phát sinh điểm ngập mới, tập trung giải quyết ngập bền vững cho lưu vực trung tâm thành phố rộng 106,41km2, cơ bản thoát nước cho các vùng còn lại của thành phố.
Đối với Quy hoạch 752 thành phố sẽ đầu tư 7 hồ điều tiết với kinh phí hơn 470 tỷ đồng, thực hiện 67 dự án cải tạo hệ thống thoát nước; trong đó, có dự án lớn như nạo vét rạch Xuyên Tâm, Bến Nghé-Tàu Hũ-Đôi-Tẻ giai đoạn 3. Xây dựng và hoàn thiện nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc-Thị Nghè, mời gọi đầu tư 6 nhà máy xử lý nước thải khác.
Triển khai dự án cải tạo hệ thống thoát nước, nước thải và thích ứng với biến đổi khí hậu tại lưu vực Tây Sài Gòn (dự kiến khởi công năm 2023, hoàn thành năm 2028); dự án cải tạo hệ thống thoát nước mưa và nước thải lưu vực Tham Lương-Bến Cát-Nước lên (dự kiến khởi công năm 2021, hoàn thành năm 2025).
Trong khi đó, đối với Quy hoạch 1547, thành phố sẽ xây dựng đoạn đê bao xung yếu thuộc bờ tả quận Thủ Đức, cống kiểm soát triều sông Kinh, Rạch Tra, Vàm Thuật, Nước Lên (dự kiến khởi công năm 2021), cải tạo 7 trục tiêu thoát nước rạch xóm Củi, Bà Lớn, Thủ Đào, Ông Bé, Thầy Tiêu, xây dựng tuyến kè 2 bên bờ kênh Tham Lương-Bến Cát-rạch Nước Lên… (thực hiện trong giai đoạn 2021-2025).
Bên cạnh đó, trong chức năng, nhiệm vụ được giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị sẽ tăng cường kiểm tra, giám sát việc san lấp trong các dự án phát triển đô thị, kiên quyết bắt buộc các nhà đầu tư phải thực hiện cải tạo rạch, xây dựng hệ thống thoát nước, hồ điều tiết đảm bảo chức năng thoát nước, điều tiết của hồ trước khi thực hiện san lấp; xử lý triệt để tình trạng lấn chiếm cửa xả, hầm ga, thoát nước và thực hiện duy tu, nạo vét cống thoát nước.
Những giải pháp công trình và phi công trình; trong đó, giải pháp quy hoạch đang kỳ vọng sẽ giúp Thành phố Hồ Chí Minh đạt được hiệu quả như kỳ vọng trong công tác chống ngập, giảm nhẹ thiệt hại do ngập gây ra. Đó cũng là mong muốn của lãnh đạo và nhân dân thành phố vì một đô thị phát triển bền vững, chất lượng cuộc sống không ngừng được cải thiện, nâng cao./.
Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong kiểm tra tiến độ dự án chống ngập. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)
Trước sức ép của rác thải nhựa đối với môi trường sống, sức khỏe con người, ngày 9/6/2019, tại lễ phát động ra quân toàn quốc phong trào chống rác thải nhựa, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi: “Ngay từ bây giờ chúng ta cần có những hành động thiết thực, cụ thể, không tuyên truyền suông, không vận động chay; chủ động kiểm soát, ngăn chặn phát sinh rác thải nhựa để người dân Việt Nam hiện tại và các thế hệ tương lai, con cháu chúng ta được sống trong môi trường trong lành, an toàn và bền vững.”
Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà về những kết quả nổi bật sau 1 năm phát động phong trào chống rác thải nhựa cũng như trăn trở của ông trước lời giải cho những tồn tại cần giải quyết trong thời gian tới.
Chống rác thải nhựa không còn là khẩu hiệu
– Trước tiên, xin Bộ trưởng cho biết những điểm sáng nổi bật sau 1 năm phát động phong trào chống rác thải nhựa. Đâu là điểm sáng mà ông tâm đắc nhất?
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Sau 1 năm phát động, một trong những điểm nổi bật là đây không còn là phong trào, hô hào khẩu hiệu. Phòng chống rác thải nhựa giờ đã lan tỏa, trở thành hành động thống nhất trong các cấp, các ngành đến người dân.
Từ nghị trường Quốc hội mà tiêu biểu là hình ảnh Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân với bình đựng nước thủy tinh, thay thế sản phẩm nhựa một lần đến Chính phủ, các cơ quan Trung ương, các địa phương đều đã tích cực hưởng ứng và thực hiện. Đó là những hành động thực tế như lễ khai giảng không bóng bay từ đề xuất trong thư gửi thầy hiệu trưởng của một bé học sinh lớp 6.
“Khi đi siêu thị, tôi thấy rất nhiều gia đình, các cụ già đến các cháu thiếu nhi đã tự mang theo túi đựng đồ để giảm thiểu sử dụng túi nilon sử dụng một lần” – Bộ trưởng Trần Hồng Hà.
Vui mừng hơn nữa, khi đi siêu thị, tôi thấy rất nhiều gia đình, các cụ già đến các cháu thiếu nhi đã tự mang theo làn nhựa, túi đựng đồ để giảm thiểu sử dụng túi nilon sử dụng một lần. Nhiều siêu thị, các khu du lịch đã từng bước chuyển sang sử dụng các loại bao bì, túi đựng thân thiện với môi trường hơn như túi giấy, túi nilon có khả năng phân hủy sinh học hoặc kết hợp sử dụng lá chuối, lá sen, các loại ống hút và cốc thay thế cho các loại cốc nhựa và ống hút dùng một lần.
Qua đó, có thể thấy được sự chuyển biến lớn trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về rác thải nhựa và các tác hại do rác thải nhựa gây ra.
Về phần mình, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động chống rác thải nhựa đại dương; Chỉ thị về tăng cường giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái chế và xử lý chất thải nhựa. Bộ cũng đã trình Chính phủ, Quốc hội dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) với nhiều quy định mới liên quan đến quản lý chất thải nhựa như phát triển công nghiệp môi trường, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường, thay thế sản phẩm nhựa một lần, tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải…
Ngoài ra, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội trong chống rác thải nhựa, Bộ đã ký kết Bản ghi nhớ với Liên minh Tái chế bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) và Bản ghi nhớ hợp tác công tư với một số đối tác tư nhân về xây dựng nền kinh tế tuần hoàn cho rác thải nhựa theo mô hình hợp tác công tư; hiện Bộ đã thành lập Tổ công tác để triển khai thực hiện các Bản ghi nhớ này.
Tuyên truyền bảo vệ môi trường. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Cần quy định trách nhiệm của nhà sản xuất
– Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác bảo vệ môi trường, chống rác thải nhựa ở Việt Nam còn gặp những khó khăn, thách thức gì, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Bên cạnh những kết quả ban đầu quan trọng, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng công tác chống rác thải nhựa ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, thách thức.
Trước hết, thói quen tiêu dùng các sản phẩm nhựa, túi nilon tiện lợi có giá thành rẻ đã “ăn sâu, bén rễ” trong xã hội chúng ta, khó có thể thay đổi trong thời gian ngắn.
Trong khi đó, các sản phẩm thay thế, có khả năng phân hủy sinh học thường có giá cao hơn nhiều và chưa phải là sự lựa chọn ưu tiên của số đông người tiêu dùng hiện có thu nhập vẫn còn ở mức trung bình hoặc thấp.
Phần đông người dân chưa hình thành thói quen phân loại rác thải, các loại rác thải hữu cơ, rác thải nhựa, nilon; vẫn còn để lẫn lộn các loại rác thải dẫn đến khó xử lý, làm mất đi khả năng tái chế, tái sử dụng đối với các sản phẩm túi nilon và sản phẩm nhựa. Bên cạnh đó, cũng cần phải nói thêm rằng ý thức của nhiều người tiêu dùng chưa cao nên có hiện tượng xả rác thải, bao gồm chai nhựa dùng một lần, túi nilon tại những sự kiện lễ hội, văn hóa, tại các khu du lịch.
Ở Việt Nam cũng chưa hình thành được nền công nghiệp môi trường đủ mạnh để thực hiện tái chế các loại rác thải nhựa và túi nilon theo mô hình kinh tế tuần hoàn như các nước có trình độ phát triển cao hơn… Hiện, chúng ta chưa có quy định về trách nhiệm của các nhà sản xuất, bán lẻ để họ tham gia vào quá trình thu hồi, tái chế các sản phẩm do họ sản xuất, cung cấp.
Ngoài ra, phong trào chống rác thải nhựa tuy đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ, nhưng về lâu dài, giảm thiểu tiêu dùng, sử dụng túi nilon và sản phẩm nhựa dùng một lần cần phải trở thành thói quen hàng ngày, thường xuyên của người tiêu dùng, các tổ chức, cơ quan.
– Vậy theo ông, đâu là nguyên nhân chính dẫn tới những bất cập, tồn tại này? Và, trong năm tới vấn đề rác thải nhựa sẽ tiếp tục được giải quyết thế nào?
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Những thách thức kể trên bắt nguồn từ việc pháp luật về bảo vệ môi trường hiện hành của chúng ta chưa quy định rõ ràng trách nhiệm về tái chế, tái sử dụng, đặc biệt là đối với các sản phẩm nhựa dùng một lần, túi nilon của các bên liên quan, bao gồm: nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng, trách nhiệm của cơ quan quản lý cũng như vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội.
Chúng ta cũng chưa có các cơ chế khuyến khích đủ mạnh để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp môi trường, đặc biệt là các ngành công nghiệp tái chế, các ngành dịch vụ sửa chữa, nâng cấp vòng đời sản phẩm để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng theo mô hình tuần hoàn; chưa có các giải pháp truyền thông, nâng cao nhận thức thực sự hiệu quả để việc giảm thiểu rác thải nhựa, túi nilon.
Trong những năm tới, để vượt qua những thách thức nêu trên trong quản lý, xử lý vấn đề rác thải nhựa, chúng ta cần có những giải pháp hiệu quả. Trong đó, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi hiện đang được Quốc hội thảo luận cho ý kiến hiện nay đóng vai trò rất quan trọng.
Nhựa không phải kẻ thù
– Hiện nay, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi đã bổ sung nhiều nội dung mới về quản lý chất lượng môi trường, trong đó có chất nguy hại khó phân hủy. Xin hỏi Bộ trưởng, vấn đề quản lý rác thải nhựa sẽ được thế chế vào Luật thế nào?
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Như đã đề cập ở trên, chúng ta đã nhận diện rõ những thách thức và những nguyên nhân chính. Vì vậy, trong dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi lần này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất nhiều điểm thay đổi mang tính toàn diện, trong đó cả những nội dung quy định sẽ góp phần giải quyết vấn đề chất thải nói chung và rác thải nhựa nói riêng.
“Dự thảo Luật làm rõ trách nhiệm và lợi ích mà người dân, doanh nghiệp được hưởng từ việc phân loại, giảm thiểu, tái sử dụng các loại chất thải” – Bộ trưởng Trần Hồng Hà.
Cụ thể, dự thảo Luật quy định rõ ràng trách nhiệm của các bên liên quan đến phân loại, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại, bao gồm chất thải nhựa. Trong đó, dự thảo Luật làm rõ trách nhiệm và lợi ích mà người dân, doanh nghiệp được hưởng từ việc phân loại, giảm thiểu, tái sử dụng các loại chất thải.
Dự thảo Luật cũng quy định rõ trách nhiệm tái chế, thu gom và xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu; quy định các công cụ kinh tế như: Đặt cọc và hoàn trả bao bì sản phẩm; quy định về nguyên tắc thuế bảo vệ môi trường, phí bảo vệ môi trường phải bảo đảm được mục tiêu điều chỉnh hành vi theo hướng thân thiện với môi trường; quy định những chính sách ưu đãi, hỗ trợ bảo vệ môi trường, nguồn lực từ tín dụng xanh, trái phiếu xanh.
Thay thế túi nilon sử dụng một lần bằng lá chuối bọc rau xanh. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng quy định về phát triển các mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững; phát triển kinh tế tuần hoàn, phát triển ngành công nghiệp môi trường. Đây là những tiền đề để thúc đẩy việc kéo dài vòng đời của các sản phẩm nhựa thông qua tái sử dụng, tái chế; làm rõ quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường.
Tôi hy vọng rằng với những quy định này, các tổ chức và cộng đồng dân cư sẽ tích cực hưởng ứng các hoạt động bảo vệ môi trường, giải quyết vấn đề rác thải nhựa thông qua các hành động thiết thực để đây sẽ trở thành hoạt động thường xuyên, là thói quen hàng ngày của từng người dân và hoạt động thường nhật của các doanh nghiệp, các tổ chức, cơ quan.
– Nhiều ý kiến cho rằng “nhựa không có lỗi,” mà lỗi là do cách ứng xử của con người. Bộ trưởng nghĩ sao về điều này?
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến nêu trên. Nhựa được coi là một trong những phát minh quan trọng bậc nhất trong thế kỷ 20 (theo thăm dò năm 2014 của Viện Kỹ sư hóa chất-IChemE), nhựa được xếp thứ 6 trong 10 phát minh quan trọng nhất trên toàn cầu, bên cạnh nước uống, xăng, phát điện, vắc-xin, phân bón… Với đặc tính bền chắc, dễ tạo hình, đa công dụng, nhựa trở thành một sản phẩm phổ biến trong đời sống con người hiện đại: từ những sản phẩm tiêu dùng thông thường đến các sản phẩm gia dụng, sản phẩm công nghiệp quan trọng.
Tôi còn nhớ, Thủ tướng Nhật Bản, ông Abe Shinzo từng nói tại một diễn dàn: “Chúng ta không nên đối xử với nhựa như là kẻ thù.” Điều đó cho thấy những vấn nạn về rác thải nhựa đối với môi trường không phải lỗi của các sản phẩm nhựa. Lỗi thuộc về cách thức chúng ta sử dụng, thải bỏ các sản phẩm nhựa không đúng cách.
Vì vậy, chúng ta cần thay đổi cách ứng xử với nhựa thông qua việc quản lý một cách khoa học, tăng cường tái chế, tái sử dụng các sản phẩm nhựa để kéo dài vòng đời của nhựa, để góp phần giảm thiểu việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Chỉ như vậy, chúng ta mới phát huy được hết các tính năng của sản phẩm nhựa để bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu./.
Nếu bạn tới thăm Tây Ban Nha và gọi một ly rượu vang hoặc bia trong quán bar, rất có thể phục vụ sẽ mang cho bạn thêm một phần nhỏ thức ăn dạng cứng, mặc dù trước đó bạn không hề yêu cầu.
Đó không phải là “snack” (đồ ăn vặt) như đậu phộng hay khoai tây chiên, mà là điều gì đó hơn thế với một câu chuyện phía sau đó. Phần lịch sử này dù vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng, nhưng cũng đã trở thành truyền thống và tạo nên một phương thức riêng biệt trong thói quen ăn uống thường ngày ở xứ sở của các chú bò tót này.
Đặc biệt, đến với vùng đất của Đôn Kihôtê, bạn sẽ được khám phá cả một thiên đường văn hóa, ẩm thực vô cùng độc đáo và giàu truyền thống.
Từ giai thoại về “Tapa”…
Ở Tây Ban Nha, “Tapa” được hiểu là “phần phía trên dùng để đậy một vật nào đó” hoặc cũng có thể định nghĩa là “miếng thức ăn nhỏ thường được đặt trên một lát bánh mỳ, và theo truyền thống sẽ được phục vụ kèm với đồ uống tại các quán bar và quán rượu.”
Hai định nghĩa mở, khác biệt và không có mối liên hệ rõ ràng với nhau nhưng lại đề cập đến cùng một nội dung trong phạm trù ẩm thực: las tapas. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tại sao lại như vậy.
“Tapa” có nguồn gốc ban đầu là một lát xúc xích hoặc phômai đặt trên một miếng bánh mỳ, được các quán rượu và quán bar phục vụ thực khách khi họ gọi đồ uống, nhằm giảm nhẹ các tác dụng không mong muốn của lượng cồn lớn mà thực khách tiêu thụ.
Trong rất nhiều phiên bản về nguồn gốc của “Tapa,” câu chuyện phổ biến nhất kể rằng vào đầu thế kỉ 20, trong một chuyến du hành tới miền Nam nắng nóng của Tây Ban Nha, Vua Alfonso XIII đã dừng lại để thưởng thức bữa ăn nhẹ tại một quán rượu có tiếng.
Tapa sẽ được phục vụ kèm khi bạn gọi rượu vang hay bia ở Tây Ban Nha. (Nguồn ảnh: Đại sứ quán Tây Ban Nha)
Quán rượu này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và nằm ngay gần thành phố nhỏ xinh đẹp Cadiz. Chủ nhà trọ đã ngay lập tức phục vụ rượu vang kèm một lát bánh mỳ với thịt heo muối (jamón) ở trên.
Nhà Vua, ngay khi nhìn thấy những con ruồi bướng bỉnh bay xung quanh, đã đặt lát bánh mỳ đó lên trên miệng ly để tránh ruồi rơi vào bên trong và làm hỏng đồ uống. Sau khi thưởng thức xong ly rượu tuyệt hảo, Vua đã yêu cầu thêm ly thứ hai, nhưng nhấn mạnh: “thêm một ly rượu kèm tapa.”
Chúng ta không biết rõ liệu câu chuyện trên có thật hay không, nhưng cũng có phiên bản khác cho rằng người ta dùng “tapa” che ly rượu để ngăn cát vào, vì nhà hàng tọa lạc trên một bãi cát dài bên bờ biển ngay cửa ngõ vào thành phố Cadiz, nơi gió thường thổi rất mạnh.
“Las tapas,” và “đi ăn tapas” là một phong tục được truyền bá rộng rãi trên khắp đất nước Tây Ban Nha, và thậm chí đã vượt qua biên giới quốc gia này để trở nên nổi tiếng thế giới.
Có những người lại đưa ra giả thiết về một vị vua khác cùng tên, nhưng ở thời kỳ xa xưa hơn nữa: Vua Alfonso X, người được mệnh danh là “Nhà thông thái” ở thế kỷ XIII, nhằm tránh những cơn chóng mặt trong quá trình sử dụng rượu để chữa một căn bệnh. Tuy nhiên, phiên bản về những con ruồi là câu chuyện hấp dẫn, mang tính chất giai thoại và vì lẽ đó đã được truyền lại cho tới ngày nay.
Mặc dù vậy, các câu chuyện về nguồn gốc của “tapa” đối với người Tây Ban Nha không thực sự quá quan trọng. Vấn đề là bằng cách này hay cách khác, “las tapas,” và “đi ăn tapas” (ám chỉ nhiều loại tapa) là một phong tục được truyền bá rộng rãi trên khắp đất nước Tây Ban Nha, và thậm chí đã vượt qua biên giới quốc gia này để trở nên nổi tiếng khắp thế giới.
(Nguồn ảnh: Đại sứ quán Tây Ban Nha)
… đến mảnh đất của những “kẻ đi chinh phục”
Sự đa dạng của các món “tapa” là vô cùng lớn, vì lý do Tây Ban Nha chủ yếu được biển Địa Trung Hải, Đại Tây Dương và biển Cantabria bao quanh. Ba vùng biển với những đặc điểm riêng sản sinh ra những loại cá và động vật có vỏ khác nhau. Và giữa những dòng nước này là một miền đất với địa hình núi và khí hậu đa dạng, biến nơi đây thành quốc gia với không gian tự nhiên và đa dạng sinh học nằm trong danh sách bảo tồn của châu Âu.
Sự đa dạng này được thể hiện qua danh sách dài các sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi, hay các loại sản phẩm được sử dụng trong chế biến món ăn hay qua những truyền thống ẩm thực khác nhau theo đặc điểm địa lý và văn hóa riêng của mỗi vùng.
Từ những rừng sồi thường xanh, sồi bần và đồng cỏ nơi chăn thả tự do những chú heo Iberico cho ta món đùi heo muối “jamón” tuyệt hảo nhất thế giới, tới những vườn cam quýt và rau xanh tại các vùng ven biển Địa Trung Hải, hay vùng đầm phá ven biển Valencia – nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất châu Âu và là quê hương của một trong những món ăn phổ biến nhất Tây Ban Nha: paella.
Từ những mẻ cá thu và hải sản thân vỏ nhỏ ở những bờ biển phía Nam, tới cá và hải sản vùng biển nước lạnh và cửa sông Galicia, những món hầm của miền Bắc, những thú săn nhỏ trên mảnh đất của Đôn Kihôtê (Don Quijote), những vườn nho khổng lồ, những vườn ôliu lớn nhất lục địa, hay các món nướng vùng Castilla không gì sánh được bởi độ mềm mượt nhưng lại mang một hương vị mạnh mẽ.
Lâu đài ở thành phố Granada, phía Nam của Tây Ban Nha.(Nguồn ảnh: Đại sứ quán Tây Ban Nha)
Sa mạc, bãi biển, những thung lũng xanh với các đồng cỏ chăn thả, những miền đồng bằng rộng lớn và lạnh lẽo, những dãy núi cao phủ tuyết vào mùa Đông… Tất cả sự đa dạng này đều có thể hiện hữu ở Tây Ban Nha.
Sự đa dạng về văn hoá ẩm thực này được bắt nguồn chính từ lịch sử của Tây Ban Nha.
Nếu cố gắng tóm tắt một cách ngắn gọn lịch sử, chúng ta có thể nói rằng người Tây Ban Nha ngày nay chủ yếu mang truyền thống La Mã. Nhưng khẳng định này sẽ không hoàn toàn công bằng hay chính xác, vì có rất nhiều tộc người đã để lại di sản của họ trên bán đảo này và tạo nên một Tây Ban Nha như ngày nay. Mảnh đất của những kẻ đi chinh phục, đúng vậy, nhưng cũng là nơi trước đó đã nhiều lần bị chinh phục. Đó vừa là lịch sử và cũng là sức hút mạnh mẽ của quốc gia rộng lớn nhất ở Nam Âu này.
Thiên đường ẩm thực, văn hóa
Vùng đất này vốn là nơi cư ngụ của những người Iberes trước khi người La Mã đi qua, sau đó là những tộc người và nền văn hóa Địa Trung Hải khác đã đến rồi để lại di sản của họ, hay những người Celt tới từ Bắc Âu.
Nhiều thế kỷ sau, những người Ảrập và Do Thái tới từ phía Nam đã định cư tại đây một thời gian dài. Họ để lại những đóng góp cho truyền thống ẩm thực của phần lớn các khu vực trên bán đảo, đặc biệt với các loại trái cây khô dùng trong chế biến bánh ngọt.
Cho đến khi các nhóm người bị trục xuất vào năm 1492, thời điểm mà đất nước Tây Ban Nha bắt đầu hình thành hình thức chính trị-xã hội mà chúng ta biết ngày nay, và cũng là khi Cristóbal Colón khám phá cho vương quốc Castilla, cho phương Tây về sự tồn tại của lục địa Mỹ, qua đó đóng góp một danh sách dài các sản phẩm mới cho nền lương thực và ẩm thực thế giới.
Bữa tối lãng mạn của những cặp tình nhân với rượu vang và Tapa. (Nguồn ảnh: Đại sứ quán Tây Ban Nha)
Chính khoai tây và cà chua có nguồn gốc từ châu Mỹ đã làm nên hai trong số ba món ăn phổ biến nhất của đất nước này là “tortilla de patatas” và “gazpacho.” Những thăng trầm lịch sử, cùng vị trí địa lý đặc quyền và hệ sinh thái đa dạng đã tô điểm và hình thành nên bán đảo Iberia là những yếu tố ban tặng cho mảnh đất này đa dạng văn hóa, nông nghiệp và ẩm thực.
Đó là lý do tại sao Tây Ban Nha có một nền ẩm thực tuyệt vời với nhiều loại thực phẩm vô cùng đa dạng: rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, trái cây và các loại hạt; các loại thịt gia súc như bò, cừu, lợn, các loại thú săn lớn và nhỏ; các loại cá gần bờ và xa bờ, hải sản thân vỏ, hay vô vàn các loại nấm vào mùa thu.
“Đi ăn tapas” từ quán bar này sang quán bar khác đã trở thành một phong tục ăn sâu vào gốc rễ tại đất nước này.
Các sản phẩm như dầu ôliu, phomát và rượu vang đều có chất lượng cao và đa dạng về chủng loại, sẽ cần nhiều không gian hơn trong giới hạn bài viết này để có thể giới thiệu thấu đáo.
Là quốc gia sở hữu nguồn nguyên liệu thô giàu có cùng truyền thống đa dạng đã tạo nên một điểm đến du lịch hàng đầu về ẩm thực và văn hóa, nơi mà các món ăn và thực phẩm đóng vai trò quan trọng và luôn hiện hữu trong cuộc sống của người dân.
Sự hòa nhập xã hội tại Tây Ban Nha sẽ khó có thể thực hiện được nếu thiếu những xiên thức ăn và các món “tapa.” Và “đi ăn tapas” từ quán bar này sang quán bar khác đã trở thành một phong tục ăn sâu vào gốc rễ tại đất nước này.
Các loại Tapas được phục vụ trong quầy bar. (Nguồn ảnh: Đại sứ quán Tây Ban Nha)
Đất nước của những thiên tài
Nói về con người, Tây Ban Nha là cái nôi của các nghệ sỹ mang tầm thế giới như Velazquez, Goya, Picasso, Dalí hay Gaudí. Đây cũng là quê hương của những nghệ sỹ lớn trong phạm trù vị giác, những ảo thuật gia của bếp núc đã tạo nên biết bao sản phẩm mang tầm quốc tế.
Đây cũng là quốc gia có nhiều tài năng nghệ thuật, một đất nước giàu trí tưởng tượng và sáng tạo. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi từ năm này sang năm khác, những cái tên Tây Ban Nha luôn xuất hiện trong danh sách các đầu bếp xuất sắc nhất thế giới.
Tây Ban Nha cũng là một trong những quốc gia có nhiều nhà hàng đạt danh hiệu sao Michelin danh giá, và trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất thế giới để thưởng thức các món ăn ngon.
Ferrán Adriá, người Catalăng, là một trong những đầu bếp xuất sắc trong số những người xuất sắc nhất. Ông không chỉ là thiên tài trong nghệ thuật làm thỏa mãn các giác quan của thực khách, mà còn tạo ra cuộc cách mạng cho căn bếp với các kỹ thuật ẩm thực sáng tạo của riêng mình.
Đảo Canary. (Nguồn: euroweeklynews)
Nhiều đầu bếp nổi tiếng thế giới đã thành danh cùng Ferrán Adriá và không có người nào khao khát trở thành bếp trưởng mà không cố gắng học hỏi cùng ông. Nhưng Ferrán Adriá không phải là đầu bếp vĩ đại duy nhất, đầu tiên hay cuối cùng của Tây Ban Nha.
Danh sách những đầu bếp trứ danh vẫn còn rất dài, tới từ khắp các vùng miền của đất nước Đôn Kihôtê, và phần nhiều trong số họ đều tập trung tại các thành phố thuộc vùng Catalăng, Basque và Madrid.
“Các đầu bếp tại Tây Ban Nha dường như có phép thuật trong tay để biến những nguyên liệu của vùng đất Iberia trở thành thứ nghệ thuật ẩm thực độc đáo vô cùng quyến rũ.”
Dàn ngôi sao lớn khác mà ta có thể kể đến là anh em nhà Roca, Carmen Ruscadella, hay Fina Puigdevall tới từ Catalăng; Arzak, Subijana và Berasategui của xứ Basque, Dani García, Quique Dacosta người Valencia, Eneko Atza…
Ta cũng không thể không nhắc đến đầu bếp Angel León người Cadiz, một ngôi sao đặc biệt và xứng đáng với danh hiệu “đầu bếp của biển cả,” người đã phù phép cho những món ăn với cá và hải sản. Hay một cái tên khác là David Muñoz đến từ Madrid, vị đầu bếp mang trong mình sự mâu thuẫn, phá cách và đậm chất “rock and roll.”
Các đầu bếp tại Tây Ban Nha dường như có phép thuật trong tay để biến những nguyên liệu của vùng đất Iberia trở thành thứ nghệ thuật ẩm thực độc đáo vô cùng quyến rũ.
Danh sách các đầu bếp người Tây Ban Nha xuất sắc nhất thế giới cũng như sự sáng tạo của họ khi sử dụng các sản phẩm hảo hạng dường như không bao giờ cạn kiệt…
Còn các món “tapas,” một phong tục bắt đầu như món ăn thanh đạm kèm rượu vang và bia trong các quán bar, ngày nay đã trở thành chuẩn mực trong ẩm thực thế giới về chất lượng, tính linh hoạt và sự đa dạng của loại hình này.
Nếu có thể, hãy đến Tây Ban Nha một lần để thưởng thức “tapa” chuẩn phong cách của những Đôn Ki Sốt do các nghệ sỹ ẩm thực đích thân phục vụ. Đến đây để cảm nhận rõ nét hơn cảnh quan tuyệt đẹp ở đất nước của những vũ điệu flamenco vô cùng sôi động…/.
Sau cuộc bỏ phiếu quan trọng tại Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 74 ngày 17/6, Hội đồng Bảo an sẽ chào đón 5 ủy viên không thường trực mới đại diện cho các châu lục tham gia gánh vác sứ mệnh bảo vệ nền hòa bình, an ninh cho thế giới cùng với các nước ủy viên khác của Hội đồng Bảo an.
Cộng đồng quốc tế hoàn toàn có quyền kỳ vọng 5 ủy viên mới sẽ mang tới luồng năng lượng mới cùng các nước ủy viên tại nhiệm nắm bắt cơ hội và đóng góp tích cực cho một thế giới hòa bình, và ổn định lâu dài
Trúng cử và nắm giữ vị trí ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là niềm vinh dự, tự hào cho bất kỳ nước nào được bầu bởi điều đó thể hiện rõ vai trò của nước đó trên bình diện thế giới, đồng thời thể hiện sự tin tưởng, tín nhiệm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với các nước này, nhất là trong các lĩnh vực như gìn giữ và xây dựng hòa bình, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển.
Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc. (Nguồn: TTXVN)
Để trúng cử, nước ứng cử phải có được ít nhất 2/3 số phiếu ủng hộ của các nước thành viên Liên hợp quốc tham gia bỏ phiếu, tức là phải có được ít nhất 129 phiếu ủng hộ trên tổng số 193 nước thành viên Liên hợp quốc hiện nay.
Tuy nhiên, do Venezuela và Cộng hòa Trung Phi hiện đang bị tước quyền bỏ phiếu vì chưa hoàn thành nghĩa vụ đóng góp ngân sách Liên hợp quốc, nên sẽ chỉ có nhiều nhất là 191 nước tham gia bỏ phiếu.
Năm ngoái, Việt Nam đã trúng cử trở thành ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an với số phiếu cao kỷ lục trong lịch sử bầu vị trí này tại Liên hợp quốc: 192/193 phiếu.
Tuy nhiên, trúng cử mới chỉ là vượt qua thách thức đầu tiên. Đảm nhiệm thành công nhiệm kỳ của một nước ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an mới thực sự là thách thức to lớn hơn nhiều, không chỉ bởi những khó khăn, phức tạp đã bắt rễ sâu trong tổ chức này do sự khác biệt về quan điểm chính trị của 5 nước ủy viên thường trực (Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc), mà còn bởi các vấn đề mới nổi ngày càng gia tăng, chưa kể những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đang diễn ra hiện nay.
Vắcxin ngừa COVID-19 được nghiên cứu tại phòng thí nghiệm ở Rockville, Maryland, Mỹ ngày 20/3/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Những căng thẳng, chia rẽ giữa các ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an (gọi là nhóm P5) chưa bao giờ chấm dứt, bất chấp những nỗ lực hòa giải và hợp tác không mệt mỏi của các nước ủy viên không thường trực được bầu, trong đó có Việt Nam.
Những bất đồng của P5 ngày càng bộc lộ rõ rệt trong thời gian qua, mà một minh chứng điển hình là Hội đồng Bảo a n đã không thể đoàn kết và có phản ứng kịp thời ứng phó với cuộc khủng hoảng COVID-19 vào lúc cộng đồng quốc tế cần nhất tiếng nói của cơ quan quyền lực này.
Từ nhiều năm nay, hai ủy viên thường trực là Mỹ và Nga luôn ở hai đầu chiến tuyến, bất kỳ khi nào Hội đồng Bảo an bàn tới các vấn đề Trung Đông và châu Âu.
Mỹ mấy năm gần đây cũng không còn mặn mà với những hoạt động đa phương mà thực chất đã quay sang theo đuổi các lợi ích đơn phương. Ngay cả mối quan hệ đồng minh thân thiết giữa 3 nước ủy viên thường trực Mỹ, Anh và Pháp giờ cũng bộc lộ những bất đồng trong các vấn đề như đảm bảo an ninh cho khu vực Sahel châu Phi, vấn đề hạt nhân Iran hay vấn đề chống biến đổi khí hậu.
Chính vì tình trạng này mà từ lâu Hội đồng Bảo an rất khó đạt được sự đồng thuận để có thể ra được các nghị quyết chung. Năm 2019, Hội đồng Bảo an chỉ đồng thuận và thông qua được tất cả 67 quyết định, bao gồm các nghị quyết Hội đồng Bảo an và các thông cáo chung của nước chủ tịch luân phiên, và đây là con số thấp nhất kể từ năm 1991.
Người dân Syria sơ tán khỏi khu vực chiến sự ở tỉnh Idlib, tới một trại tị nạn ở thị trấn Afrin, giáp giới Thổ Nhĩ Kỳ ngày 19/2/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Thông cáo chung của nước chủ tịch luân phiên là văn bản chỉ cần các nước ủy viên Hội đồng Bảo an nhất trí và không cần bỏ phiếu thông qua là được công bố, vậy mà năm ngoái, Hội đồng Bảo an chỉ nhất trí được 15 thông cáo, ít hơn hẳn so với 21 thông cáo chung cơ quan này đưa ra vào năm 2018.
Trong khi đó, đại dịch COVID-19 đang nổi lên là một trong những vấn đề có thể dẫn tới hàng loạt hậu quả trên diện rộng đối với tình hình hòa bình và an ninh quốc tế, cũng như ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động theo chương trình nghị sự của Hội đồng Bảo an.
Ảnh hưởng đầu tiên chính là Hội đồng Bảo an đã không thể tiến hành các phiên họp trực tiếp như thường lệ kể từ giữa tháng Ba đến nay. Đại dịch cũng khiến mối bất hòa giữa các ủy viên P5 bộc lộ rõ thêm khi Hội đồng Bảo an không thể nhất trí ra một nghị quyết về ứng phó với COVID-19, được coi là cuộc khủng hoảng lớn nhất của thế kỷ 21.
Để góp phần thu hẹp khoảng cách bất đồng, trong thời gian qua, các nước ủy viên không thường trực (gọi là E10) đã họp thường xuyên với nhau và với sự góp mặt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhằm tìm kiếm giải pháp để tổ chức này có thể hoạt động hiệu quả hơn.
Và khi Hội đồng Bảo an không thể đạt được tiếng nói chung về những vấn đề quan trọng thì các nước E10 đã cùng nhau đưa ra thông cáo chung bày tỏ quan điểm.
Ví dụ, E10 ra thông cáo chung hồi tháng 11/2019 về các hoạt động của Israel chiếm đóng khu tái định cư ở Bờ Tây hay ra thông cáo chung về cải tiến phương thức làm việc của Hội đồng Bảo an trong 5/2020 vừa qua.
Tuy nhiên, những tháng sắp tới, sau khi 5 ủy viên không thường trực mới được bầu xong, có lẽ thách thức mới nhất mà các ủy viên mới phải chung tay cùngHội đồng Bảo an giải quyết là hậu quả do ảnh hưởng của dịch COVID-19 đối với hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc cũng như các hoạt động cứu trợ nhân đạo của Liên hợp quốc tại những điểm nóng trên thế giới.
Nắm bắt được xu hướng này, hiện 7 nước tranh cử (Canada, Djibouti, Ấn Độ, Ireland, Kenya, Mexico và Na Uy) đều đã đưa ra chương trình nghị sự hướng tới tập trung giải quyết những thách thức mới nổi của Hội đồng Bảo an nếu trúng cử vào ngày 17/6.
Hai ứng cử viên cạnh tranh giành ghế đại diện cho châu Phi là Kenya và Djibouti đã tuyên bố sẽ tập trung thúc đẩy hòa bình và an ninh cho khu vực này, nhất là đối với tình hình Somalia.
Hiện trường đổ nát sau một vụ không kích xuống nhà máy sản xuất bánh quy ở Tripoli, Libya ngày 18/11/2019. (Nguồn: THX/TTXVN)
Cả Kenya và Djibouti đều rất cương quyết trong việc chống khủng bố và bạo lực cực đoan ở châu Phi, nhất là khu vực Sừng châu Phi.
Trong số 7 ứng cử viên, 4 nước Djibouti, Kenya, Ấn Độ và Ireland đã đóng góp đáng kể quân số cho lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở nhiều nơi trên thế giới và chắc chắn sự góp mặt của những nước này, nếu trúng cử vào Hội đồng Bảo an, sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng của một trong những mảng công tác quan trọng nhất của Liên hợp quốc.
Với ứng cử viên Canada, một trong 10 nước tài trợ lớn nhất cho các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thì hoạt động này luôn là mối quan tâm hàng đầu.
Nhìn chung, tất cả các ứng cử viên hiện nay đều quan tâm tới việc nâng cao vai trò của Hội đồng Bảo an trong tổ chức và giám sát các hoạt động gìn giữ hòa bình để đạt được hiệu quả cao nhất, đồng thời chú trọng vấn đề xây dựng hòa bình hậu xung đột, một vấn đề cốt lõi trong chương trình nghị sự của Hội đồng Bảo an.
Ngoài ra, các nước đều đã công khai cam kết nếu trúng cử sẽ nỗ lực thúc đẩy để các hoạt động của Hội đồng Bảo an ngày càng minh bạch và bao trùm hơn, nhất là sau khi chứng kiến tình trạng bất đồng, mập mờ không rõ quan điểm của Hội đồng Bảo an trong việc ứng phó với dịch COVID-19.
Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterre phát biểu tại cuộc họp báo ở New York, Mỹ ngày 4/2/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Một vấn đề quan trọng mà hầu như tất cả các nước tranh cử lần này đều hướng tới là giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu. Bốn ứng cử viên Canada, Kenya, Mexico và Na Uy đặt vấn đề chống biến đổi khí hậu lên ưu tiên hàng đầu.
Hiện 3 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an là Mỹ, Trung Quốc và Nga vẫn còn băn khoăn về việc liệu Hội đồng Bảo an có nên đưa vấn đề chống biến đổi khí hậu vào chương trình nghị sự hay không, song 2 nước ủy viên thường trực còn lại là Anh và Pháp, cùng với 10 nước ủy viên không thường trực, đều đã công khai bày tỏ quan điểm cần phải giải quyết vấn đề này tại Hội đồng Bảo an.
Hồi tháng 1/2019, dưới sự chủ trì của nước chủ tịch luân phiên Dominicana, Hội đồng Bảo an đã tổ chức một phiên họp mở về chủ đề này với sự tham gia và đóng góp ý kiến của hơn 70 nước, một con số cho thấy rõ biến đổi khí hậu thực sự là vấn đề quan tâm hàng đầu của rất nhiều nước thành viên Liên hợp quốc.
Nhiều thách thức to lớn đang chờ đợi, nhưng cả 7 nước ứng cử vào Hội đồng Bảo an năm nay đều đã chuẩn bị sẵn sàng về mọi phương diện để đón nhận và vượt qua những thử thách đó.
Tất cả 7 nước đều từng nắm giữ vị trí ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, nên đều có thế mạnh và những kinh nghiệm quý báu về hoạt động của Hội đồng Bảo an. Ấn Độ thậm chí đã là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an tới 7 nhiệm kỳ và Canada cũng đã nắm giữ vị trí này trong 6 nhiệm kỳ.
Hội đồng Bảo an là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có quyền quyết định đánh giá thực tại các mối đe dọa đối với hòa bình hoặc phá hoại hòa bình, đồng thời đưa ra khuyến nghị hoặc quyết định các biện pháp cần được tiến hành để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh.
Bởi vậy, cộng đồng quốc tế hoàn toàn có quyền kỳ vọng 5 ủy viên mới sẽ mang tới luồng năng lượng mới cùng các nước ủy viên tại nhiệm nắm bắt cơ hội và đóng góp tích cực cho một thế giới hòa bình, và ổn định lâu dài./.
Toàn cảnh một phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York, Mỹ ngày 30/9/2019. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Sau gần hai tháng không có ca lây nhiễm nào trong cộng đồng, thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc vài ngày qua bỗng trở thành “điểm nóng” COVID-19 với sự xuất hiện của ổ dịch mới tại một khu chợ bán buôn trong thành phố.
Đến sáng 16/6, số ca nhiễm virus SARS-CoV-2 liên quan ổ dịch này đã lên đến gần 100 người, khiến giới chức thành phố Bắc Kinh phải lên tiếng cảnh báo tình hình “cực kỳ nghiêm trọng.”
Diễn biến bất ngờ trên đã một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ bùng phát làn sóng dịch COVID-19 thứ hai, với những hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều.
Ca bệnh đầu tiên của đợt tái bùng phát dịch ở thủ đô Bắc Kinh được xác nhận chiều 11/6, chỉ 2 ngày sau khi giới chức thành phố này tuyên bố Bắc Kinh không còn COVID-19 lây nhiễm trong nước, với bệnh nhân cuối cùng bình phục và xuất viện ngày 8/6.
Giới chức Trung Quốc đánh giá ổ dịch Tân Phát Địa có “nguy cơ lây lan rất cao” do lượng người ra vào chợ đông, tần suất lớn
Riêng trong ngày 14/6, Trung Quốc ghi nhận thêm 49 ca mắc COVID-19 mới, trong đó số ca nhập cảnh là 10 người, số ca trong nước là 39 trường hợp, thì có tới 36 ca ở Bắc Kinh, đều liên quan đến ổ dịch tại khu chợ bán buôn Tân Phát Địa. Ba ca còn lại ở tỉnh Hà Bắc, giáp ranh với Bắc Kinh và cũng liên quan tới các ca bệnh ở thủ đô.
Từ ca bệnh mới đầu tiên, đợt dịch COVID-19 trong cộng đồng lần này tại Bắc Kinh đã lan ra 8/16 quận, với 106 ca nhiễm virus SARS-CoV-2 ở 3 tỉnh thành là Bắc Kinh, Liêu Ninh và Hà Bắc cùng hàng nghìn trường hợp đang phải cách ly do tiếp xúc gần với những người đã mắc bệnh.
Hơn 10.000 người liên quan khu chợ này đã được xét nghiệm axit nucleic để tìm virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19.
Chợ Tân Phát Địa nằm ở quận Phong Đài, phía Tây Nam Bắc Kinh, là nơi cung cấp hầu hết các loại trái cây và rau tươi cho khu vực thủ đô. Khu chợ này cũng bán thịt và nhiều loại hải sản khác.
Giới chức Trung Quốc đánh giá ổ dịch Tân Phát Địa có “nguy cơ lây lan rất cao” do lượng người ra vào chợ đông, tần suất lớn. Chợ Tân Phát Địa đã phải đóng cửa ngày 13/6 vừa qua. Ngay trong ngày, quận Phong Đài đã tuyên bố áp dụng “cơ chế thời chiến” và thành lập một trung tâm chỉ huy để ngăn chặn sự lây lan của virus SARS-CoV-2.
Xét nghiệm nhằm phát hiện người nhiễm COVID-19 cho người dân sống gần khu chợ đầu mối thực phẩm Tân Phát Địa ở Bắc Kinh, ngày 14/6/2020. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Lực lượng chức năng đeo khẩu trang liên tục tuần tra chợ Tân Phát Địa sau khi khu chợ này đóng cửa. Chính quyền quận Phong Đài cũng nhanh chóng phong tỏa 11 khu dân cư gần chợ Tân Phát Địa nhằm ngăn chặn dịch bệnh lan rộng.
Tiếp theo quận Phong Đài, quận Hải Điện cũng vừa yêu cầu 10 khu dân cư quanh chợ Ngọc Tuyền Đông phải phong tỏa từ 0h ngày 15/6 sau khi phát hiện một số ca lây nhiễm tại khu chợ này. Như vậy, kể từ khi xuất hiện ổ dịch Tân Phát Địa đến nay, hơn 20 khu dân cư ở Bắc Kinh đã bị phong tỏa để ngăn chặn dịch bệnh.
Sau khi quận Phong Đài tuyên bố kích hoạt “cơ chế thời chiến,” haiquận khác tại đây là Môn Đầu Câu và Đại Hưng cùng thành phố Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, giáp với Bắc Kinh cũng chính thức bước vào “trạng thái thời chiến” để ứng phó với dịch bệnh.
Với việc áp đặt “cơ chế thời chiến”, nhà chức trách sẽ tiến hành các cuộc rà soát đồng loạt, kiểm tra từng hộ dân bằng nhiều hình thức, như đến nhà, gọi điện thoại, dán thông báo, nhắn tin… nhằm tìm cho ra những người đã từng đến hoặc tiếp xúc với người ở chợ Tân Phát Địa trong vòng 14 ngày, để kịp thời cách ly những người nghi ngờ nhiễm bệnh và tiến hành xét nghiệm.
Ngoài ra, chính quyền quận Phong Đài và nhiều quận khác cũng đã nâng một mức cấp độ cảnh báo dịch bệnh, đồng thời yêu cầu người dân khi tới những nơi đông người như siêu thị hay nhà hàng cần thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về giãn cách xã hội.
Nhiều địa phương ở Trung Quốc đã kêu gọi người dân không đến Bắc Kinh vào thời điểm này nếu không cần thiết và yêu cầu những người đến từ khu vực có nguy cơ ở Bắc Kinh phải cách ly 14 ngày
Hiện nay, nhiều địa phương ở Trung Quốc đã kêu gọi người dân không đến Bắc Kinh vào thời điểm này nếu không cần thiết và yêu cầu những người đến từ khu vực có nguy cơ ở Bắc Kinh phải cách ly 14 ngày.
Một điều rất dễ nhận thấy ở Bắc Kinh những ngày này là sự lo lắng đã quay trở lại trên gương mặt nhiều người, người dân ra đường cũng thường xuyên đeo khẩu trang, các khu dân cư, địa điểm công cộng đều siết chặt công tác kiểm dịch trở lại, bao gồm đo nhiệt độ, khai báo sức khỏe, hành trình đi lại và yêu cầu đeo khẩu trang bắt buộc.
Tất cả trái ngược hoàn toàn với bầu không khí phòng dịch có phần trùng xuống trước khi ổ dịch Tân Phát Địa bùng phát. Thực tế thì sau gần 60 ngày Bắc Kinh không có ca lây nhiễm nào trong cộng đồng, chính quyền thành phố cũng đã hạ mức ứng phó khẩn cấp với COVID-19 từ cấp độ 2 xuống cấp độ 3 kể từ ngày 6/6, người dân có phần chủ quan, nhiều người đã tháo bỏ khẩu trang khi ra ngoài, nhiều nơi cũng kiểm dịch một cách hình thức và lỏng lẻo.
Nhân viên y tế lấy mẫu dịch xét nghiệm COVID-19 cho người dân tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 15/6/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Đến nay, nhà chức trách Bắc Kinh vẫn chưa xác định được nguồn lây nhiễm chính xác tại ổ dịch Tân Phát Địa, mà chỉ biết rằng virus SARS-CoV-2 đã được tìm thấy trên thớt dùng để xẻ thịt cá hồi tại khu chợ này.
Qua trình tự bộ gene, các chuyên gia y tế phát hiện chủng virus SARS-CoV-2 này tới từ châu Âu. Một số chuyên gia cho rằng vụ việc này có thể liên quan tới các ca nhiễm từ nước ngoài trở về.
Cũng có ý kiến nhận định nguồn lây nhiễm có thể là do hải sản và thịt nhập từ nhiều nước hoặc từ nơi khác đã mang virus SARS-CoV-2 vào chợ, từ đó lây cho người bán và khách hàng.
Ngoài ra, có thể một người nhiễm bệnh đã đến chợ và phát tán virus ra xung quanh trước khi bị phát hiện.
Đợt bùng phát dịch bệnh mới tại Bắc Kinh đang làm gia tăng quan ngại thủ đô Trung Quốc sẽ trở thành một Vũ Hán thứ hai. Mặc dù một số chuyên gia y tế Trung Quốc cho rằng Bắc Kinh sẽ không bùng phát dịch trên quy mô lớn như Vũ Hán, bởi Trung Quốc hiện đã có rất nhiều kinh nghiệm trong phòng chống dịch, song điều quan trọng lúc này là phải khẩn cấp áp dụng các biện pháp quyết liệt và nghiêm ngặt nhất để kiểm soát được ổ dịch mới và ngăn chặn virus lây lan.
Nếu như ổ dịch Tân Phát Địa có thể kiểm soát ở mức dưới 200 ca bệnh, dịch bệnh sẽ không lan rộng
Nếu như ổ dịch Tân Phát Địa có thể kiểm soát ở mức dưới 200 ca bệnh, dịch bệnh sẽ không lan rộng, và hai tuần tới đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình ngăn chặn dịch tại đây.
Dù đợt bùng phát mới tại Bắc Kinh chưa đến mức nghiêm trọng như tại Vũ Hán, nhưng rõ ràng, qua vụ việc này, rất dễ nhận thấy rằng virus SARS-CoV-2 vẫn tiềm ẩn nguy cơ lây lan rất cao nếu không thực hiện những biện pháp kiểm dịch và phòng dịch nghiêm ngặt.
Chỉ một chút lơ là phòng dịch, cả xã hội sẽ phải trả cái giá rất đắt cả về vật chất và sinh mạng nếu dịch bệnh lan rộng. Chính vì vậy, chính quyền, người dân không được phép chủ quan trong công tác phòng chống dịch bệnh và phải luôn đề cao ý thức cảnh giác đối với chủng virus nguy hiểm này.
Ổ dịch Tân Phát Địa tại Bắc Kinh chính là bài học quý đối với Trung Quốc nói riêng và toàn thế giới nói chung trong công tác phòng chống đại dịch COVID-19./.
Căn phòng bệnh dành cho các bệnh nhân mắc chủng mới do virus SARS-CoV-2 (COVID-19) trong ngôi nhà cấp 4 đơn sơ. Gần nửa tháng nay, 5 bệnh nhân ở đây được cách ly đặc biệt, họ chỉ được tiếp xúc với y bác sỹ và chiếc điện thoại để liên lạc, lắng nghe sự…
Mỗi khi nhìn thấy mẹ – điều dưỡng Nguyễn Thị Thủy trên điện thoại, bé Sâu lại khóc, nằng nặc đòi mẹ về đón. Nhìn hàng nước mắt lăn dài trên má cô con gái mới 26 tháng tuổi, chị Thủy không khỏi day dứt. Nhiều đêm, mẹ chồng cô phải thức trắng để dỗ…
Chuyến bay “xông đất” từ Thâm Quyến (Trung Quốc) hạ cánh xuống Sân bay Quốc tế Vân Đồn lúc 1 giờ 45 phút ngày mồng 1 Tết. Giữa đêm khuya, những hành khách hò reo, hô vang: “Việt Nam quê hương tôi,” “mãi yêu Việt Nam,” “Mãi mãi một tình yêu”… Rồi nhiều người đồng…
Hành lang, sảnh khách sạn vắng lặng, thi thoảng chỉ có vài người với bộ đồ màu xanh kín mít lượn qua lượn lại các phòng. “Những ngày đầu, người cách ly cũng như chúng tôi có một cảm giác rất căng thẳng. Mỗi đối tượng đều cảm thấy chưa ưng ý, bực dọc, thậm…
Xã Hải Sơn (Quảng Ninh) là vùng đất trũng, một tháng có đến 20 ngày mưa. Mùa này, con sông Ka Long có 3km trơ trọi toàn đá hộc. Nước sông có chỗ chỉ quá cổ chân, bất kỳ ai cũng có thể băng qua để sang nước bạn. Những ngày chống dịch COVID-19, các…
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV vừa thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVIPA). Hai văn kiện này được coi như ‘tuyến đường cao tốc’ quy mô lớn hiện đại nối gần hơn nữa Liên minh châu Âu và Việt Nam, mở ra triển vọng thu hút đầu tư của cộng đồng kinh tế hàng đầu trên thế giới.
Những năm qua, Việt Nam được thế giới ghi nhận là quốc gia có mức tăng trưởng GDP cao nhờ huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; trong đó có những thành công trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, do tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19, giới đầu tư quốc tế đang đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, phân bố lại mạng lưới cơ sở sản xuất trên phạm vi toàn cầu; trong đó, Việt Nam được xác định là ứng viên sáng giá khi nằm ở khu vực phát triển năng động nhất thế giới.
Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình, triển vọng và các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài ứng phó với các thách thức toàn cầu do COVID-19 gây ra mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhận định: “Nếu Việt Nam không đầu tư phát triển, kể cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, thì không bao giờ thành công. Chúng ta chống dịch COVID-19 bước đầu thành công nhưng phải lo phát triển đất nước thì mới đạt thắng lợi kép.”
Tuy nhiên, người đứng đầu Chính phủ cũng khẳng định: “Cứ bình bình, theo cách làm cũ, trì trệ và không đổi mới thì khó thành công. Vì vậy, cần có tư duy mới để đón đầu và đón bắt được dòng đầu tư mới này.”
Tăng niềm tin của các nhà đầu tư
Sau hơn 30 năm mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã gặt hái những thành quả đáng khích lệ. Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, tạo việc làm, thu ngân sách cũng như thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu và nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam…
Đến nay, tổng vốn đầu tư nước ngoài đã đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 370 tỷ USD; trong đó lượng vốn đã giải ngân đạt khoảng 58%. Riêng năm 2019 vừa qua, Việt Nam thu hút hơn 38 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm liên tiếp, tăng 7,2% so với năm 2018. Vốn FDI giải ngân cũng đạt 20,38 tỷ USD, tăng 6,7% và lập kỷ lục mới.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, 5 tháng đầu năm 2020, tổng vốn FDI vào Việt Nam bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 13,9 tỷ USD, giảm 17% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng đầu năm ước tính đạt 6,7 tỷ USD, giảm 8,2% so với cùng kỳ năm trước.
5 tháng đầu năm 2020, tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt 13,9 tỷ USD, giảm 17% so với cùng kỳ năm trước
Bình luận kết quả trên, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng cho biết kết quả trên là hoàn toàn chấp nhận được trong bối cảnh hoạt động đầu tư toàn cầu suy giảm rất mạnh; một số nền kinh tế rơi vào tăng trưởng âm. Điều đó còn cho thấy niềm tin, mục tiêu hiện diện, làm ăn lâu dài tại Việt Nam là rất mạnh mẽ và đó chỉ là sự sụt giảm tạm thời trong “bão” COVID-19.
Đáng lưu ý, ngày càng xuất hiện những dự án có công nghệ hiện đại, tập trung vào hoạt động nghiên cứu và chế tạo để tạo ra sản phẩm chất lượng, có tác dụng lan tỏa, tham gia đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.
Đơn cử, Nhà máy sản xuất linh kiện hàng không vũ trụ Sunshine của Tập đoàn UAC (Hoa Kỳ) trị giá 170 triệu USD tại Đà Nẵng vừa khánh thành, đi vào hoạt động hay dự án xây dựng Trung tâm Nghiên cứu-Phát triển của Tập đoàn Samsung tại Hà Nội với số vốn 200 triệu USD là minh chứng cho sự quyết tâm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng theo chiều sâu của giới đầu tư nước ngoài. Đây cũng là kết quả tích cực, hiện thực hóa quan điểm thu hút dòng vốn quốc tế theo hướng gia tăng chất lượng, lựa chọn dự án thân thiện với môi trường, nhất là có công nghệ cao của Chính phủ.
Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, khu vực đầu tư nước ngoài là tác nhân chủ yếu trong việc gia tăng xuất khẩu, đưa nền kinh tế Việt Nam đứng trong nhóm 30 quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới.
Công nhân sản xuất sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam (Khu Công nghiệp Phố nối B, Yên Mỹ, Hưng Yên). (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Nhận xét về tầm quan trọng của khu vực đầu tư nước ngoài, giáo sư-tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho rằng có thể lấy Tập đoàn Samsung làm ví dụ cho sự đóng góp của khu vực này. Đến nay, tập đoàn này đã đầu tư 17 tỷ USD vào Việt Nam và thường xuyên chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước thông qua mặt hàng chính điện thoại cao cấp và linh kiện điện tử. Hiện Samsung thu hút hơn 170.000 lao động làm việc trong các nhà máy sản xuất tại Bắc Ninh, Thái Nguyên…
Ông Choi Joo Ho, Tổng giám đốc Samsung Việt Nam, cho biết Samsung luôn đồng hành với các doanh nghiệp Việt Nam, sẵn sàng hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng, từ đó giúp công nghiệp phụ trợ Việt Nam ngày càng phát triển.
Đặc biệt, từ góc nhìn quốc tế, hiện nay, uy tín và vị thế của Việt Nam đang được đánh giá rất cao qua những thành công đạt được trong phòng, chống đại dịch COVID-19. “Đây là cơ hội để thế giới biết tới Việt Nam với lợi thế đặc biệt về “sự tin cậy chiến lược,” là điểm đến đầu tư an toàn và sẵn sàng đón nhận các dòng vốn chuyển dịch tới Việt Nam,” Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh.
Xuất hiện sóng dịch chuyển đầu tư
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng cho rằng thời cơ thu hút đầu tư nước ngoài là rất lớn và đang xuất hiện rõ ràng. Đây là xu hướng mới của các nhà đầu tư sau bài học phụ thuộc quá nhiều vào một nguồn cung và khi có bất lợi xảy ra thì không có cách nào thay thế. Đa dạng hóa thị trường và nguồn cung đầu vào là lựa chọn phổ biến và sẽ diễn ra trên phạm vi rộng. Sự an toàn cho dòng vốn đầu tư là ưu tiên hàng đầu của nhà đầu tư nước ngoài thời gian tới.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, ông Hong Sun, khẳng định với thành công trong phòng chống dịch COVID-19 và sự ổn định về môi trường đầu tư-kinh doanh đã nâng tầm Việt Nam lên một bước quan trọng, đầy ấn tượng. Không những thế, tiềm năng của Việt Nam còn rất lớn cũng như còn nhiều dư địa cho nhà đầu tư hợp tác, khai thác nhằm mục đích cùng có lợi.
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cũng khẳng định tác động từ dịch COVID-19 đã tạo ra nhận thức mới, xu hướng tiêu dùng mới; xuất hiện các mô hình kinh doanh mới, đem lại cơ hội thị trường để hình thành các chuỗi giá trị, liên kết mới và phát triển bứt phá. Đây thực sự là cơ hội giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhìn nhận, sát hạch lại năng lực thực sự, sức chống chịu, khả năng thích nghi trước biến cố thị trường, tái cơ cấu sản xuất, chuyển đổi chiến lược.
Dây chuyền hàn khung xe ôtô tại Công ty ôtô Toyota Việt Nam, vốn đầu tư của Nhật Bản tại Vĩnh Phúc. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Hơn nữa, các Hiệp định Thương mại tự do mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA)… chính thức có hiệu lực sẽ tạo lợi thế lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đổi mới trang thiết bị, công nghệ với chi phí hiệu quả hơn nhằm nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Nhiều chuyên gia kinh tế có uy tín trong và ngoài nước đã nhận định, đây là thời cơ quý báu, không dễ gì có được khi Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các yếu tố và điều kiện để tạo nên cú hích lớn cho sự phát triển thần kỳ. Chính vì vậy, ngay lúc này Việt Nam cần phải có những hành động nhanh và mạnh hơn để hỗ trợ doanh nghiệp chớp lấy thời cơ “vàng,” nhằm phục hồi và phát triển bứt phá, kích thích tăng trưởng.
Chớp lấy thời cơ “vàng”
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng cho biết làn sóng đầu tư mới đã xuất hiện và Việt Nam đứng trước cơ hội mới, hứa hẹn sự gia tăng mạnh về kết quả thu hút dòng vốn này. Vấn đề là sự chuẩn bị kỹ càng, có giải pháp đồng bộ, phù hợp để biến cơ hội thành hiện thực, phục vụ mục tiêu lấy lại tốc độ tăng trưởng cao càng sớm càng tốt…
Trước những “cơ hội vàng” để thu hút đầu tư nước ngoài, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm để đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư. Theo đó, Giáo sư-tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại cho rằng Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua những tác động của dịch bệnh COVID-19. Tiếp theo, cần chủ động quảng bá, mời gọi các tập đoàn đa quốc gia, các công ty và thương hiệu tên tuổi đầu tư vào Việt Nam; đặc biệt là từ các khu vực có thế mạnh về công nghệ, vốn, kỹ năng quản lý như Mỹ, EU, Nhật Bản.
Cùng với đó, Việt Nam cần tập trung chuẩn bị mặt bằng, nhất là tại các khu công nghiệp để sẵn sàng đón dự án đầu tư nước ngoài bên cạnh sự đồng bộ về hạ tầng giao thông, khả năng cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc…
Theo ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Đầu tư nước ngoài, để đón dòng vốn nước ngoài nhanh chóng, Việt Nam cần tăng cường xúc tiến đầu tư thông qua các cơ quan ngoại giao. Cùng với đó, tập trung giải quyết nhanh các thủ tục hành chính đối với các dự án có quy mô lớn đang đàm phán, xin cấp phép đầu tư, cũng như hỗ trợ tích cực giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình giải ngân của dự án đã cấp phép.
Tiến sỹ Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhìn nhận Việt Nam cần đón được cơ hội từ sự dịch chuyển dòng vốn thì việc phục hồi kinh tế, xử lý hiệu quả những đại dự án yếu kém thua lỗ, khắc phục trần nợ công, tái cấu trúc nền kinh tế… cũng phải có giải pháp nhanh và cơ chế đặc biệt.
Nếu nhanh chúng ta mới “đón được đại bàng tới làm tổ,” còn đi chậm có thể chỉ “đón được chim sẻ” (Tiến sỹ Võ Trí Thành)
“Không phải ngẫu nhiên, Thủ tướng thành lập Tổ công tác đặc biệt về thu hút FDI và giao các cơ quan chức năng xây dựng ngay đề án này nhằm đón làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam sau đại dịch. Và nếu nhanh chúng ta mới “đón được đại bàng tới làm tổ,” còn đi chậm có thể chỉ “đón được chim sẻ”…,” ông Thành nhấn mạnh.
Để tăng cường thu hút FDI, tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình, triển vọng và các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài ứng phó với các thách thức toàn cầu do COVID-19 vừa diễn ra cuối tháng 5, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ trong thu hút phát triển ở đất nước còn nghèo, “nhân vô thập toàn,” không thể có một hạ tầng hoàn thiện, một cơ chế hoàn thiện, thì “chúng ta biết tạo nên một sức mạnh từ lợi thế của Việt Nam” và phải làm nhanh hơn, tốt hơn.
Thủ tướng nhấn mạnh các ngành, các địa phương phải đón bắt, đón đầu dòng vốn đầu tư mới này. Chúng ta phải nghĩ xem nhà đầu tư cần gì để bàn bạc, hợp tác, đáp ứng đúng điều họ cần để phát triển thành công, mang lại lợi ích cho cả 2 phía. Các nước đang cạnh tranh quyết liệt, chúng ta phải có các ưu đãi mang tính cạnh tranh. Đồng thời thu hút đầu tư có chọn lọc, hướng vào các tập đoàn đa quốc gia lớn, công nghệ cao, hiện đại, thân thiện môi trường.
“Với những yêu cầu này, phải xây dựng ngay đề án để Thủ tướng có sự chỉ đạo chung trên tinh thần là nhanh và mạnh hơn, đặc biệt, đề án phải giải quyết các điểm nghẽn của nhà đầu tư như vấn đề mặt bằng, nguồn nhân lực…,” Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ./.
(Nguồn: TTXVN)
Việt Nam
điểm đến hấp dẫn mới của các nhà đầu tư
Thúy Hiền
Đại dịch COVID-19 đã tác động toàn bộ đến nền kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực của chính các doanh nghiệp cũng như sự hỗ trợ của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp FDI đã vượt qua khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh theo đúng tinh thần của Chính phủ là chống dịch nhưng vẫn duy trì sản xuất kinh doanh.
Để hiểu rõ hơn, về sự chuyển dịch dòng vốn đầu tư cũng như những cơ hội từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVIPA) mang lại… Phóng viên đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đỗ Nhất Hoàng xung quanh những nội dung này.
– Thưa ông, trong những tháng đầu năm, không chỉ kinh tế Việt Nam mà kinh tế toàn cầu đã chịu tác động không nhỏ bởi đại dịch COVID-19. Vậy ông đánh giá như thế nào về tác động của dịch đến thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian qua?
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng: Đại dịch COVID-19 đã tác động toàn bộ đến nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất bị đình trệ, chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, đã làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực của chính các doanh nghiệp cũng như sự hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp FDI đã từng bước vượt qua khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh theo đúng tinh thần của Chính phủ là chống dịch nhưng vẫn duy trì sản xuất kinh doanh.
Trong 5 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 13,9 tỷ USD, giảm 17% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng đầu năm ước tính đạt 6,7 tỷ USD, giảm 8,2% so với cùng kỳ năm trước.
So với thế giới thì mức giảm này chưa nhiều. Đặc biệt, kết quả thu hút FDI trong 5 tháng đầu năm có những tín hiệu tích cực như: số tổng số vốn đăng ký cấp mới của các dự án tăng 15%, vốn của các dự án đăng ký tăng thêm tăng 32%, và số lượt góp vốn cổ phần của doanh nghiệp tăng 12%, chứng tỏ các doanh nghiệp đầu tư vẫn đang cố gắng trong tình trạng bình thường.
Dây chuyền sản xuất hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty TNHH May Accasette Garment, vốn đầu tư của Đài Loan (Trung Quốc), tại khu công nghiệp Sóng Thần 3. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Đây là sự nỗ lực của các doanh nghiệp, cùng với sự quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư mạnh mẽ, cũng như có những hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cho các doanh nghiệp trong thời gian vừa qua. Bên cạnh đó, việc xử lý dịch COVID-19 rất tích cực, hiệu quả của Việt Nam đã củng cố thêm nhận định: Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn và an toàn.
Tôi tin rằng sau khi Việt Nam mở lại đường bay quốc tế, các nhà đầu tư sẽ vào Việt Nam và dòng đầu tư nước ngoài sẽ tăng trưởng trở lại vào cuối năm nay và tiếp tục tạo đà cho những năm tiếp theo.
– Hiện, đang có xu hướng dịch chuyển luồng vốn đầu tư sang Ấn Độ và các nước ASEAN giai đoạn “hậu COVID-19.” Theo ông, cơ hội của Việt Nam trong việc đón làn sóng đầu tư này ra sao?
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng: Thực ra, chúng ta cần nói đến tái cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp. Các tập đoàn trên thế giới đã tái cơ cấu đầu tư từ nhiều năm nay để tối ưu hóa hiệu quả đầu tư kinh doanh.
Khoảng 7-8 năm trước, các doanh nghiệp, tập đoàn này đã thực hiện chính sách tái cơ cấu đầu tư, khi đó chúng ta đã nghe nhiều về chiến lược China +1 và Thái Lan +1. Sau đó, khi Việt Nam đàm phán hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) một số các nhà đầu tư đã đưa dòng vốn này sang Việt Nam để tận dụng cơ hội từ Hiệp định này. Tiếp đế, do xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới, các tập đoàn lại tiếp tục đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu để tránh việc bị áp thuế cao từ Hoa Kỳ.
“Tôi tin rằng sau khi Việt Nam mở lại đường bay quốc tế, các nhà đầu tư sẽ vào Việt Nam và dòng đầu tư nước ngoài sẽ tăng trưởng trở lại vào cuối năm nay” (Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng)
Và lần này, do dịch COVID-19 tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu, các doanh nghiệp nhận thấy cần tránh sự phụ thuộc vào một quốc gia, một địa bàn, một đối tác nên các doanh nghiệp đã đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu để mở ra một địa bàn khác nhằm tránh sự rủi ro trong ngắn hạn và dài hạn.
Tôi cho rằng sự chuyển dịch này là sự tái cơ cấu một cách tự nhiên trong đầu tư kinh doanh của bất cứ một tập đoàn, doanh nghiệp nào. Điều này mở ra cơ hội cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, dòng chuyển dịch hoặc tái cơ cấu này không đương nhiên đến với chúng ta mà còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của mỗi quốc gia, mỗi địa phương.
– Đang có dòng vốn dịch chuyển như vậy, theo ông, lợi thế của Việt Nam so với một số nước trong khu vực ASEAN được đánh giá như thế nào?
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng: Trong khu vực ASEAN, Việt Nam là một điểm sáng, đã được các nhà đầu tư đánh giá cao do có một số lợi thế như: là nước có nền chính trị ổn định; tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong nhiều năm; nguồn nhân lực dồi dào; thị trường rộng lớn, mức thu nhập bình quân đầu người ngày càng cao; hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới; có nhiều ưu đãi và chi phí mang tính cạnh tranh. Và Việt Nam có vị trí chiến lược, nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á.
Công nhân sản xuất sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam (Khu Công nghiệp Phố nối B, Yên Mỹ, Hưng Yên). (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Cùng với quá trình đổi mới, Việt Nam luôn cải cách, cải thiện môi trường đầu tư. Và đến nay, Việt Nam đang càng có những cải cách về chính sách hơn nữa. Ví dụ như: Quốc hội đang xem xét và thông qua tại kỳ họp lần này các Luật Đầu tư sửa đổi, Luật Doanh nghiệp sửa đổi, Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công-tư (PPP)… những bộ luật này sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế. Đặc biệt, trong dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) với nhiều điểm mới, tăng cường phân cấp, đa dạng hơn hình thức đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; đồng thời, có những quy định theo hướng nhằm thu hút đầu tư FDI có chọn lọc, có chất lượng theo tinh thần Nghị quyết 50-NQ-TW năm 2019 về định hướng hoàn thiện thế chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 do Ban chấp hành Trung ương ban hành… Điều đó chứng minh cho thấy Việt Nam là điểm đến hấp dẫn và an toàn để đầu tư, kinh doanh.
– Để đón làn sóng này, theo ông, Việt Nam cần có những giải pháp gì?
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng: Do dịch COVID-19, nên các doanh nghiệp muốn đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu để lấp ngay vào sự đứt gẫy của chuỗi cung ứng. Theo đó, các doanh nghiệp rất quan tâm đến đất công nghiệp để xây dựng nhà máy; nguồn nhân lực có chất lượng cao; cần có những ưu đãi, hỗ trợ mang tính cạnh tranh vàcần thực thi các thủ tục nhanh chóng để sớm triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh. Nắm bắt được nhu cầu đó, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đều đang rất khẩn trương để điều chỉnh chính sách, cũng như những điều kiện cần thiết để đón dòng chuyển dịch này.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã đề xuất 4 nhóm giải pháp. Một là nhóm giải pháp liên quan đến xúc tiến đầu tư. Hai là nhóm thu hút đầu tư có chọn lọc. Theo đó, Bộ sẽ thu hút những dự án có giá trị gia tăng cao, có tính lan tỏa, kết nối doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Ba là nhóm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và chuẩn bị điều kiện để đón các nhà đầu tư và cuối cùng là liên quan đến ưu đãi hỗ trợ đầu tư. Hiện Luật Đầu tư sửa đổi và các Luật khác có liên quan đã bổ sung những ưu đãi mang tính cạnh tranh tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư.
– Thưa ông, Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết phê chuẩn hai Hiệp định EVFTA và EVIPA. Theo ông, việc phê chuẩn 2 hiệp định này có mở ra một cơ hội để Việt Nam tăng cường thu hút đầu tư?
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng: Như chúng ta đã biết dịch COVID-19 vừa qua đã làm đứt gẫy nguồn cung cầu trên thế giới. Hiệp định EVFTA và EVIPA vừa thông qua sẽ mở ra một giai đoạn mới là khi các doanh nghiệp châu Âu đầu tư vào Việt Nam sẽ được hưởng cơ chế bảo hộ theo Hiệp định và khi xuất khẩu hàng hóa sang các nước EU thì sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt.
Tôi cho rằng đây là thời điểm rất phù hợp để các doanh nghiệp tăng cường hợp tác đầu tư thương mại giữa Việt Nam và EU.
– Xin ông cho biết những triển vọng thu hút đầu tư của khu vực EU vào Việt Nam sau khi hai Hiệp định EVFTA và EVIPA có hiệu lực?
Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng: Trong số các nước đầu tư vào Việt Nam, hiện nay, khu vực EU đầu tư vào Việt Nam khoảng hơn 25 tỷ USD, tuy chưa phải là nhiều nhưng tiềm năng quan hệ kinh tế giữa hai bên là rất lớn. Các doanh nghiệp Châu Âu có tiềm lực tài chính với công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại và sẵn có thị trường rộng lớn. Những điều này có tính bổ trợ với thế mạnh và nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Với những cơ chế bảo hộ và ưu đãi đặc biệt từ Hiệp định EVFTA và EVIPA, cùng với những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam, tôi tin tưởng rằng sau khi Hiệp định này có hiệu lực sẽ mở ra một giai đoạn mới để cho các nhà đầu tư của EU sẽ quan tâm hơn nữa và hiện thực hóa những lợi ích do Hiệp định mang lại.
Phóng viên: Xin cám ơn ông!
Dây chuyền sản xuất hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty TNHH May Accasette Garment, vốn đầu tư của Đài Loan (Trung Quốc), tại khu công nghiệp Sóng Thần 3 (Bình Dương). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Tạo lực hút đầu tư từ yếu tố không truyền thống
Hoàng Tuấn
Với những thành công bước đầu trong việc ngăn chặn dịch COVID-19, cùng với những yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa,” nhất là trong bối cảnh Quốc hội vừa phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVIPA), Thành phố Hồ Chí Minh được các chuyên gia kinh tế đánh giá là điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.
Tận dụng vị trí “địa lợi”
Thực hiện nhiệm vụ kép vừa phòng chống dịch hiệu quả vừa tập trung khôi phục, thúc đẩy phát triển kinh tế, ngay trong và sau dịch COVID-19, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thành phố vượt qua khó khăn, đồng thời đẩy mạnh các hoạt đông xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường mới và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, “lót ổ” sẵn sàng đón các dòng đầu tư mới.
Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trong 5 tháng đầu năm nay, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Thành phố Hồ Chí Minh đạt 1,6 tỷ USD, bằng 57,7% tổng vốn so với cùng kỳ năm trước; trong đó, có 450 dự án cấp mới với vốn đăng ký đạt 248,6 triệu USD; điều chỉnh vốn đầu tư có 80 lượt dự án với số vốn tăng thêm 122 triệu USD; góp vốn, mua cổ phần có 1.923 trường hợp với tổng vốn gần 1.232 triệu USD.
Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu có nhà đầu tư vào thành phố với 44 dự án, thu hút vốn đầu tư 80,5 triệu USD, tiếp đến là Singapore có 70 dự án với vốn đầu tư 50,8 triệu USD; Hong Kong (Trung Quốc) có 37 dự án với vốn đầu tư 31,5 triệu USD; Hàn Quốc có 74 dự án với vốn đầu tư 16,4 triệu USD…
Thực tế trên cho thấy trong thời điểm khó khăn, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn thu hút được rất nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo Ban quản lý các Khu chế xuất-khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (Hepza), các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao của thành phố đã có sự chuẩn bị để đón nhận làn sóng mới này. Nhà xưởng ở các khu công nghiệp Tân Phú Trung, Đông Nam, Lê Minh Xuân 3… đang tích cực xây dựng, hoàn thiện để đón nhà đầu tư mới; trong đó, có nhiều khu nhà cao tầng phục vụ doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực công nghệ cao.
Dây chuyền sản xuất yên xe đạp xuất khẩu tại một doanh nghiệp có vốn đầu tư của Đài Loan (Trung Quốc). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
“Từ đầu năm đến nay một số nhà đầu tư nước ngoài đã đến tìm hiểu thông tin về việc thuê các khu đất có diện tích lớn trong các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố để chuẩn bị mặt bằng cho dự án đầu tư trong thời gian tới. Ngoài ra, một số doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ trong khu công nghệ cao cũng có xu hướng đầu tư các nhà xưởng cao tầng tại các khu chế xuất, khu công nghiệp để phục vụ hoạt động sản xuất,” ông Trần Việt Hà, Trưởng phòng Quản lý Đầu tư của Hepza cho biết.
Để chuẩn bị sẵn quỹ đất nhằm thu hút đầu tư, ông Dương Anh Đức, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa giao Sở Quy hoạch-Kiến trúc thành phố rà soát các khu công nghiệp, khu chế xuất để tìm ra giải pháp tạo quỹ đất thu hút đầu tư, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan hỗ trợ thành phố xây dựng khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh với quy mô hơn 380ha.
“Đây là khu công nghiệp có chất lượng và tính cạnh tranh cao phù hợp với các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo,” ông Đức nhấn mạnh.
Về lâu dài, thành phố đẩy nhanh việc rà soát, chuyển đổi 26.000ha đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, dịch vụ; trong đó, chú trọng đẩy nhanh đầu tư các dự án khu công nghiệp đã được Thủ tướng chấp thuận trong quy hoạch và tiếp tục đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào quy hoạch một số khu công nghiệp mới. Mặt khác, tăng cường vai trò trung tâm của thành phố trong vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; trong đó, đẩy mạnh việc hợp tác với các địa phương trong kết nối thông suốt hệ thống hạ tầng giao thông.
Phát huy yếu tố “thiên thời”
Cùng với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch COVID-19 có hiệu quả, sớm đưa các hoạt động trở lại trạng thái bình thường mới. Đây là yếu tố quan trọng, giúp Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư.
Việc Quốc hội vừa phê chuẩn hai Hiệp định EVFTA và EVIPA đã mở ra nhiều cơ hội đón dòng đầu tư mới từ châu Âu đến Viêt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Theo ông Chu tiến Dũng, Chủ tịch Hội doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố sẽ là trung tâm kết nối giao thương, phát triển và cung cấp các dịch vụ về tài chính, công nghệ và nhân lực chất lượng cao cho các hoạt động hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và EU trong thời gian tới.
Ông John Campbell, Trưởng bộ phận Bất động sản công nghiệp, Savills Việt Nam đánh giá: “Cụ thể hơn, EVFTA tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ việc xuất khẩu các sản phẩm giá trị thấp sang hàng hóa có giá trị cao hơn như các thiết bị công nghệ cao, điện tử, xe cộ và y tế.”
Dây chuyền sản xuất linh kiện điện tử. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)
“Cách mạng thương mại toàn cầu sẽ giúp Việt Nam tiếp cận với nhiều đối tác khác nhau, cho phép nhập khẩu đầu vào hoặc hàng hóa trung gian rẻ hơn, từ đó sẽ thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Ngoài ra, thông qua việc gia tăng mối quan hệ đối tác với các công ty nước ngoài, Việt Nam có thể gặt hái những lợi ích của việc chuyển giao kiến thức và công nghệ đi kèm với các khoản đầu tư như vậy,” Trưởng bộ phận Bất động sản công nghiệp, Savills Việt Nam chia sẻ.
Trong bối cảnh đó, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định ưu tiên thu hút đầu tư các dự án có năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực quản trị tiên tiến; khuyến khích đầu tư phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh tạo động lực trực tiếp cho tăng trưởng, năng lực cạnh tranh kinh tế như công nghệ cao, lĩnh vực thâm dụng khoa học công nghệ. Theo đó, thành phố thu hút có chọn lọc các tập đoàn, công ty có quy mô lớn, có trình độ khoa học công nghệ cao vào đầu tư. Qua đó, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tham gia cung ứng cho các doanh nghiệp này.
Bên cạnh tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập tổ công tác liên ngành về đầu tư. Đây là tổ công tác đặc biệt do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố làm tổ trưởng có nhiệm vụ hỗ trợ, xử lý toàn bộ thủ tục đầu tư cho doanh nghiệp đến khi dự án được cấp phép hoạt động. Doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Tổ công tác. Tổ công tác đặt ra mục tiêu giảm ít nhất 50% thời gian xử lý so với quy định.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu TP.HCM xác định hướng đi chính là công nghiệp công nghệ cao; đón bắt, tận dụng tốt cơ hội chuyển dịch sản xuất của các tập đoàn, chuỗi giá trị toàn cầu đến khu vực Đông Nam Á
Về chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, thành phố nghiên cứu, đề xuất Trung ương cho phép thành phố một số đặc thù để thu hút đầu tư, các cơ chế mới không dựa vào yếu tố truyền thông để thu hút đầu tư (như ưu đãi về tiền sử dụng đất, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp) mà tạo ra sự thuận lợi hơn về luân chuyển các nguồn lực và dỡ bỏ hạn chế về thị trường.
Chẳng hạn như các cơ chế về thu hút nguồn lực lao động chất lượng cao từ nước ngoài đến thành phố làm việc; cơ chế cho phép thành phố thẩm quyền xét duyệt, chấp thuận các dự án đầu tư nước ngoài mà Việt Nam chưa cam kết mở cửa thị trường hoặc các điều kiện mở cửa còn chặt; các cơ chế thông thoáng hơn về ngoại hối để thu hút các tập đoàn tài chính, các quỹ đầu tư và các ngân hàng nước ngoài về hoạt động…
Kết luận buổi làm việc với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh vào đầu tháng 5/2020 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh xác định hướng đi chính là công nghiệp công nghệ cao; đón bắt, tận dụng tốt cơ hội chuyển dịch sản xuất của các tập đoàn, chuỗi giá trị toàn cầu đến khu vực Đông Nam Á; tạo mọi thuận lợi để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị thành phố tập trung chiến lược thu hút FDI có chọn lọc phù hợp với định hướng phát triển; không thu hút bằng mọi giá, tận dụng hiệu quả những xu thế dịch chuyển dòng vốn đầu tư mới sau dịch COVID-19. Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh đẩy nhanh quá trình xây dựng chính quyền điện tử và chuyển đổi số, kinh tế số để xứng tầm thành phố thông minh, đi đầu về ứng dụng công nghệ 4.0./.
Công nhân sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH 4P. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Tận dụng thời cơ,
đón ‘sóng’
Văn Cảnh-Nguyễn Thắng
Nhiều năm qua, Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung được xem là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ bởi môi trường chính trị an toàn, ổn định, mà còn có chính sách thu hút đầu tư thông thoáng. Đặc biệt, sau thành công trong việc kiểm soát đại dịch COVID-19, các nhà đầu tư nước ngoài đang có ấn tượng rất tốt đối với Hà Nội, nhất là trong bối cảnh có xu hướng dịch chuyển đầu tư trong khu vực và toàn cầu. Do đó, Hà Nội đã chuẩn bị mọi điều kiện thuận lợi nhất để đón “sóng” đầu tư nước ngoài sau đại dịch COVID-19.
Nắm bắt cơ hội
Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, trong những tháng đầu năm 2020, Hà Nội tiếp tục đầy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhất là thủ tục hành chính. Nhờ đó, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội tiếp tục có những tín hiệu khả quan.
Tính chung từ đầu năm đến ngày 19/5, Hà Nội đã thu hút 1.045 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; trong đó có 255 dự án được cấp mới với số vốn đăng ký 327 triệu USD.
Các chuyên gia kinh tế cùng chung nhận định trong 5 tháng đầu năm nay, mặc dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 nhưng Hà Nội đã tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài với kết quả đang ghi nhận.
Tính chung từ đầu năm đến ngày 19/5, Hà Nội đã thu hút 1.045 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho rằng trong bối cảnh dịch COVID-19 còn tác động đến sản xuất, kinh doanh thì kết quả trên đáng ghi nhận, khẳng định nỗ lực cải cách hành chính, cải thiện chất lượng môi trường đầu tư và quyết tâm đồng hành với doanh nghiệp của chính quyền thành phố Hà Nội.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cũng cho biết ngay từ tháng 2/2020, nhận định Việt Nam sẽ có ưu thế hơn các quốc gia khác trên thế giới về kiểm soát dịch nên Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội; trong đó có giải pháp chuẩn bị đón nguồn vốn đầu tư, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn đầu sau đại dịch COVID-19.
Hà Nội cũng đã dự báo những ngành kinh tế có thể phát triển sau đại dịch COVID-19 như công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin… nên đã có sự quan tâm, tạo ra nhiều cơ hội đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp, để giữ “chân” và tiếp tục mở rộng đầu tư.
Đáng chú ý, mặc dù gặt hái những kết quả đáng ghi nhận trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng thành phố đã quyết liệt cải thiện môi trường kinh doanh, với các nhóm công việc chính là cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp và chia sẻ cơ hội đầu tư. Đặc biệt, để đón “sóng” đầu tư, dự kiến ngày 27/6, Hà Nội sẽ tổ chức hội nghị “Hà Nội 2020-Hợp tác đầu tư và phát triển” tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia.
Qua hội nghị, thành phố tiếp tục thể hiện quyết tâm là địa phương tiên phong đi đầu trong phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch bệnh trong năm 2020.
Sản xuất đồ gỗ xuất khẩu tại huyện Đông Anh (Hà Nội). (Ảnh: Đỗ Phương Anh/TTXVN)
Đồng quan điểm với người đứng đầu chính quyền thành phố Hà Nội về việc đón “sóng” đầu tư, ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng Hà Nội cũng như Việt Nam đã kiểm soát rất tốt đại dịch COVID-19, do đó Hà Nội nên nắm bắt thời cơ, có những chính sách tận dụng cơ hội này thu hút đầu tư toàn cầu để phát triển.
Nhấn mạnh nhiều quốc gia trên thế giới đang nỗ lực phục hồi nền kinh tế và Việt Nam cũng đang hành động rất nhanh, ông Ousmane Dione cũng cho biết thời điểm cơ hội chuyển dịch, thu hút đầu tư rất ngắn nên Hà Nội cần có sự chỉ đạo, hành động sớm, kịp thời nắm bắt thời cơ.
Có thể nhận định Hà Nội đã và đang xác định rõ chủ trương cộng đồng doanh nghiệp nói chung, cộng đồng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng là động lực quan trọng cho sự phát triển của Thủ đô. Thành phố định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều sâu gắn với mục tiêu phát triển bền vững; trong đó ưu tiên những dự án chất lượng, sản phẩm có giá trị gia tăng và có tính cạnh tranh cao, nhất là trong bối cảnh có sự dịch chuyển dòng đầu tư từ các chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch COVID-19.
Tạo môi trường đầu tư thông thoáng và an toàn
Kết luận số 77-KL/TW ban hành ngày 5/6/2020 của Bộ Chính trị về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch COVID-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước nêu rõ: “Chủ động, có cơ chế, chính sách, hoàn thiện hạ tầng cơ sở, cung ứng các dịch vụ hỗ trợ nhằm thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và bảo vệ môi trường, sinh thái, nhất là từ các tập đoàn lớn, các công ty đa quốc gia có công nghệ cao, tiềm lực mạnh, đứng đầu hoặc chi phối các mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.”
Tiếp thu chỉ đạo của Bộ Chính trị, Hà Nội đã tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tối đa. Các đơn vị có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp đều chú trọng cắt giảm thời gian, chi phí thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp. Tinh thần này được cụ thể hóa ở mỗi cấp, ngành với trách nhiệm cao nhất, để chuẩn bị mọi điều kiện thuận lợi nhất đón “sóng” đầu tư nước ngoài sau đại dịch COVID-19.
Cụ thể, để duy trì Chỉ số năng lực cạnh cấp tỉnh (PCI) năm 2020 trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã triển khai hiệu quả Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 22/4/2020 về thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Vương Đình Huệ bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp của Thủ đô. (Nguồn: TTXVN)
Đối với Chỉ số “Chi phí gia nhập thị trường,” Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai các giải pháp để cải thiện và nâng cao, như giữ vững tỷ lệ 100% tổng số hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tiếp nhận thực hiện qua mạng; bảo đảm thời gian giải quyết đúng hạn và sớm trước quy định đối với cả thủ tục đăng ký mới và thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp. Thành phố phấn đấu 100% thủ tục hành chính thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; có 30% hồ sơ trực tuyến được giải quyết đạt mức độ 4; có 50% số thủ tục hành chính có quy định tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích…
Về một số chỉ số khác, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện các giải pháp nâng cao kết quả Chỉ số “Tiếp cận đất đai.”
Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì, đầu mối theo dõi và triển khai các giải pháp cải thiện Chỉ số “Tính minh bạch,” tham mưu Ủy ban Nhân dân thành phố đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phát triển Chính quyền điện tử. Sở Nội vụ chủ trì triển khai các giải pháp để cải thiện Chỉ số “Tính năng động của chính quyền tỉnh” và các chỉ tiêu đánh giá về cán bộ công chức…
Đặc biệt, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã cũng phải khẩn trương, nghiêm túc thực hiện công khai, minh bạch thông tin trên trang thông tin điện tử của các đơn vị; cập nhật và hướng dẫn rõ ràng các thông tin về xây dựng, sử dụng đất, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, các quyết định, chính sách, thủ tục hành chính… Thời hạn hoàn thành việc công khai, cập nhật thông tin là trước ngày 30/6/2020./.
Toàn cảnh Khu công nghiệp Thăng Long Hà Nội. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Đại biểu Quốc hội
‘hiến kế’
Uyên Hương-Thành Trung
Việc kiểm soát tốt dịch COVID-19 cùng những lợi thế về phục hồi kinh tế vĩ mô sau dịch đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến an toàn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài (FDI).
Bên lề Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn các đại biểu xung quanh những đánh giá về hiện tượng làn sóng chuyển dịch đầu tư hậu COVID-19 và các giải pháp thích hợp để thu hút dòng vốn hiệu quả.
Đại biểu Bùi Sỹ Lợi: Xu hướng chuyển dịch có thể tăng mạnh
Trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài hiện nay, Việt Nam đang là điểm sáng khi kiềm chế, ngăn chặn và kiểm soát được dịch COVID-19. Chính vì lẽ đó, xu hướng chuyển dịch đầu tư từ các nước vào Việt Nam là xu hướng tất yếu và khả năng tăng trưởng trong thời gian tới có thể tăng lên rất nhiều. Vì vậy, Việt Nam cần kêu gọi đầu tư và đây chính là cơ hội để phát triển kinh tế hậu COVID-19. Điều này hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài hậu COVID-19, Việt Nam phải tiếp tục cải cách thể chế, sửa đổi pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, tạo ra cơ chế thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, cần giải quyết vấn đề về thoả thuận, hợp đồng kêu gọi của Việt Nam để nhà đầu tư cảm thấy được hỗ trợ, không bị ách tắc ở các khâu hành chính.
Đại biểu Đỗ Văn Sinh (Đoàn Quảng Trị): Phối hợp để phát huy hiệu quả
Hiện nay, Việt Nam có nhiều lợi thế về chính trị, kinh tế-xã hội phát triển ổn định. Mặc dù tăng trưởng kinh tế trong quý I chỉ đạt 3,8%, nhưng vẫn cao hơn so với các nước trong khu vực và thế giới. Trong khi đó, hiện có làn sóng chuyển dịch địa bàn đầu tư và đây là cơ hội tốt cho Việt Nam tiếp cận nguồn vốn đầu tư này. Tuy nhiên, Việt Nam cần phải chuẩn bị các điều kiện một cách cụ thể, rõ ràng để có thể đón nhận nguồn vốn.
Trong nhiều năm qua, Quốc hội và Chính phủ rất quyết liệt trong xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế. Hiện tại, Việt Nam đã ký nhiều Hiệp định thương mại tự do và ngay trong Kỳ họp này Quốc hội cũng bàn thảo đến các dự thảo luật quan trọng như: Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Xây dựng (sửa đổi). Đây là các luật rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kể cả vốn đầu tư trong nước.
May hàng xuất khẩu tại một doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài ở Bình Phước. (Ảnh: Dương Chí Tưởng/TTXVN)
Bên cạnh đó, Chính phủ đang thành lập các Ban chỉ đạo để kết nối tất cả hoạt động của các vùng, địa phương, tránh tình trạng chồng lấn trong quá trình thu hút vốn đầu tư.
Cuối cùng, vấn đề quan trọng nhất vẫn là trách nhiệm của người đứng đầu. Nếu các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ sẽ phát huy hiệu quả trong thu hút vốn đầu tư.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh): Chọn lọc thu hút đầu tư
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVIPA) được Quốc hội phê chuẩn tại kỳ họp này đã tạo ra sự cân bằng cho các nhà đầu tư và những chính sách ưu đãi hết sức thận trọng, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Nhưng cũng cần phải đưa ra các thể chế để vừa khuyến khích đầu tư trong nước nhưng cũng phải thu hút được đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng phải xây dựng các quy định như thân thiện với môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng… đây là các tiêu chí rất cao cần phải đưa ra.
Bởi trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam là một điểm sáng trong việc kiểm soát tốt dịch bệnh COVID-19; thương hiệu quốc gia Việt Nam cũng được đánh giá cao…
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang là một điểm đến cho quá trình tái cơ cấu các chuỗi giá trị toàn cầu, chuỗi cung ứng toàn cầu.
Công nhân sản xuất lắp ráp các chủng loại xe đầu kéo, xe ben tải nặng từ 8 tấn đến 90 tấn tại Công ty TNHH Liên doanh Maz Asia có vốn đầu tư của Cộng hòa Belarus. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Việc này thế giới đang tính toán và một trong những tính toán đó là giảm bớt sự phụ thuộc vào một thị trường. Như vậy, Việt Nam cũng không nên vội vàng mở cửa để thu hút các nhà đầu tư ồ ạt, mà cần phải có sự chọn lọc.
Chính vì vậy, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; Chính phủ cũng có Nghị quyết số 58/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW để chọn lọc các nhà đầu tư.
Tôi cho rằng Việt Nam cần xây dựng các tiêu chí để chọn lọc các nhà đầu tư nước ngoài. Các tiêu chí đó phải thể hiện được các khía cạnh như: đảm bảo chất lượng, công nghệ; thân thiện môi trường, an ninh quốc phòng, kết nối được các doanh nghiệp nước. Do đó, việc tận dụng thời cơ này để thu hút các nhà đầu tư nước nước ngoài là rất tốt nhưng phải đảm bảo đem lại lợi ích quốc gia.
Đại biểu Dương Minh Tuấn (Đoàn Bà Rịa-Vũng Tàu): Cơ hội tiếp nhận làn sóng đầu tư
Sau dịch COVID-19, Việt Nam cũng như một số nước có thể sẽ tiếp nhận rất nhiều làn sóng đầu tư FDI từ một số nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự nỗ lực của từng địa phương, Chính phủ cũng rất cố gắng để tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài qua cải cách thủ tục hành chính nhanh nhất, gọn nhất có thể.
Theo tôi, giải pháp quan trọng nhất để thu hút đầu tư vẫn là cải cách thủ tục hành chính. Ngoài ra, Quốc hội luôn luôn rà soát điều chỉnh kịp thời các văn bản luật để ngày càng hoàn thiện hơn. Từ đó, Chính phủ và các bộ ngành, địa phương có cơ sở triển khai thực hiện. Qua đây, tạo hành lang thông thoáng cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ngày càng chủ động hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (Đoàn Quảng Bình): Hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều vướng mắc
Theo tôi, thu hút đầu tư nước ngoài là việc làm hết sức quan trọng và là yếu tố cốt yếu để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh. Đây cũng là cơ hội thu hút vốn, nguồn lực đầu tư và khoa học kỹ thuật từ các nước.Tuy nhiên, trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều yếu tố cần xem xét như sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Cùng với đó, quá trình thực hiện luôn có những cản trở như việc các doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng cạnh tranh bằng các nước trên thế giới.
Bởi lẽ, các nước trên thế giới chủ yếu là các doanh nghiệp mạnh, tiềm năng lớn nhưng tại Việt Nam chỉ khoảng 5% là doanh nghiệp lớn còn lại là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thế nhưng, những doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam cũng kém hơn rất nhiều so với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới dẫn đến khó khăn trong thu hút đầu tư.
Dù vậy, không thể không có những quy định pháp luật vì những quy định sẽ mở đường cho các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao trách nhiệm, đồng thời phải suy nghĩ, cải cách, định hướng để doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh với các nước trên thế giới.
Theo tôi, khi đã có Nghị định, văn bản cụ thể thì các cơ quan truyền thông, cơ quan chức năng phải tích cực tuyên truyền, định hướng và hướng dẫn cho doanh nghiệp ứng dụng, hiểu biết trong việc liên kết với các nước trên thế giới.
Ngoài ra, Chính phủ cũng như các cơ quan quản lý trên cả nước phải có giải pháp quản lý điều hành trong quá trình thực hiện để các doanh nghiệp có cơ hội, định hướng đồng thời được quản lý chặt chẽ trong quá trình thực hiện.
Bộ Chính trị đã có Nghị quyết về thu hút đầu tư đưa ra định hướng hết sức quan trọng. Song hành với đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Để thực hiện tốt điều này, yếu tố đầu tiên là triển khai Nghị quyết của Đảng; cải cách hệ thống pháp luật vì hệ thống pháp luật đang có những điểm còn vướng mắc trong quá trình thực hiện cần sửa đổi. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam bao giờ cũng vì lợi ích.
Vì vậy, họ thường tìm những vị trí thuận lợi về kinh tế, cơ sở vật chất, đồng thời có những giải pháp vận động nên trong quá trình thực hiện vẫn có những tiêu cực xảy ra./.
Công nhân sản xuất các sản phẩm tại Công ty TNHH may Texhong. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)
Những bức tượng được dựng lên để làm gì? Nhiều vụ phá hủy các tượng đài ở Anh và Mỹ xảy ra trong thời gian gần đây – bao gồm vụ bức tượng đồng của Edward Colston, một thương nhân người Anh chuyên buôn nô lệ vào thế kỷ 18 bị kéo đổ ở Bristol (Anh); vụ phá hủy phần đầu tượng Christopher Columbus và các lãnh đạo Liên minh ở Boston, Miami và Virginia hồi tuần trước – đã làm dấy lên những câu hỏi về mục đích của những bức tượng ở nơi công cộng.
Tại sao chúng ta buộc phải tạo ra những bức tượng như vậy?
Phong trào phá hoại tượng đài đã nổ ra sau sự việc George Floyd – một người Mỹ gốc Phi – bị một sỹ quan cảnh sát da trắng sát hại ở Minneapolis, Minnesota hồi tháng trước bằng cách dùng đầu gối ghì chặt vào cổ. Vụ việc đã làm dấy lên phong trào Black Lives Matter (tạm dịch: Mạng sống của người da đen cũng đáng giá) lan từ Mỹ sang Australia và châu Âu. Những người biểu tình đã kéo đổ tượng của Colston, sau đó kéo lê bức tượng khắp thành phố trước khi ném nó xuống một bến cảng.
Cái chết của Floyd đã thổi bùng những cuộc biểu tình trên khắp thế giới, kéo theo những chiến dịch dỡ bỏ các bức tượng tôn vinh những nhân vật danh tiếng
Colston, cũng như các nhân vật được dựng tượng khác đều là những người đã gầy dựng danh tiếng (và tiền tài) bằng cách giẫm đạp lên người da màu và bóp nghẹt các nền văn hóa bản địa.
Trong những năm gần đây, một số tượng đài ở Mỹ được dựng để tưởng niệm các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ (lực lượng chiến đấu nhằm bảo tồn chế độ nô lệ và bị đánh bại trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ những năm 1860) đã bị tháo dỡ hoặc di dời xa khỏi tầm mắt của công chúng.
Sự việc kéo đổ bức tượng Colston ở Anh là một phần trong một làn sóng mới mẻ đang quét qua khắp phương Tây.
Người biểu tình kéo đổ bức tượng của Edward Colston và ném nó xuống cảng Bristol nhằm ủng hộ phong trào Black Lives Matter (Ảnh: PA Wire).
Hồi đầu tuần trước, tượng Columbus – nhà thám hiểm nổi tiếng thế kỷ 15 – không những đã bị chặt đầu ở Boston, mà còn bị kéo đổ bằng dây thừng ở Minneapolis, Minnesota và ở Richmond, Virginia, sau đó bị kéo tới một cái ao gần đó và dìm xuống, giống như những gì đã xảy ra với tượng Colston. Một tấm bia mộ tạm bợ với dòng chữ “Sự phân biệt chủng tộc sẽ không được ai nhớ đến” được đặt ngay bên mép nước.
Lo sợ các cuộc thanh trừng tương tự sẽ gia tăng ở Anh, các nhà lãnh đạo chính trị đã đua nhau lên án việc phá hủy bức tượng Colston và cảnh cáo người dân không được thực hiện hành động tương tự.
Bức tượng của Rhodes, được bọc xung quanh bằng một tấm lưới bảo vệ khiến nó trông như một con thú bị sập bẫy… gợi cho cả thế giới suy nghĩ về số phận phù hợp cho những di tích về sự cướp bóc của chủ nghĩa đế quốc.
Trong một dịp hiếm hoi, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Priti Patel và lãnh đạo đảng Lao động đối lập, Sir Keir Starmer, đều đồng ý rằng các cuộc tấn công nên bị lên án, sau sự kiện hàng ngàn người đổ về Oxford yêu cầu dỡ bỏ bức tượng đá của Cecil Rhodes – một người Anh ủng hộ chủ nghĩa thượng đẳng và làm giàu bằng cách khai thác tài nguyên và con người ở châu Phi – khỏi khuôn viên Cao đẳng Oriel.
Bức tượng của Rhodes, được bọc xung quanh bằng một tấm lưới bảo vệ khiến nó trông như một con thú bị sập bẫy, vẫn đang ở trong tư thế bấp bênh – một hình ảnh gợi cho cả thế giới suy nghĩ về số phận phù hợp cho những di tích về sự cướp bóc của chủ nghĩa đế quốc.
Để trả lời câu hỏi đó, có lẽ nên xem xét lý do vì sao các bức tượng được tạo ra, và chúng ta kết nối với chúng như thế nào.
Sự mô phỏng hữu hình một con người được biết đến sớm nhất – một bức tượng nhỏ tạc hình cơ thể phụ nữ được phát hiện trong một hang động ở rừng Swabian, Đức năm 2008, có thể sẽ cung cấp manh mối về bản chất của sự thôi thúc khiến chúng ta tạo ra những vật như vậy.
Tượng Venus ở Hohle Fels được làm từ ngà voi ma mút và là ví dụ sớm nhất được biết đến về cách mô tả con người trong nghệ thuật tiền sử (Ảnh: Alamy).
Chỉ cao 6cm và được tạc từ ngà voi ma mút lông dài cách đây 40.000 năm, bức tượng được gọi là Venus của Hohle Fels này mô tả những đặc điểm của cơ thể phụ nữ một cách thô ráp, và có thể đã được dùng như một vật biểu trưng cho khả năng sinh sản.
Nhưng điểm đáng chú ý của bức tượng nhỏ đòi hỏi hàng trăm giờ kiên nhẫn để tạc nên này không phải là những chi tiết lộ liễu mà nó mô tả, mà là thứ nó đã bỏ qua.
Người thợ thủ công tiền sử chậm rãi điêu khắc chiếc ngà voi thành hình đã đưa ra một quyết định thẩm mỹ phi thường: không tạc phần đầu của bức tượng. Ở chỗ đáng ra là chiếc cổ là một vòng móc nhỏ, có thể luồn được một sợi dây da qua, và được điêu khắc một cách tỉ mỉ.
Khi đeo bức tượng này trên cổ, phần đầu của bức tượng chính là đầu của người đeo nó, tức là bức tượng được hoàn thành bằng cách hợp nhất với người đeo. Nói cách khác, theo quan điểm của người xưa, những bức tượng mang tính khái niệm nhiều không kém tính vật chất của chúng – và chúng mô tả cách chúng ta nhìn nhận bản thân thay vì những cá nhân được lấy làm hình mẫu cho chúng.
Bản năng nhận thức một khía cạnh của bản thân thông qua hình ảnh của một người khác đã ăn sâu bám rễ đến mức không thể đo đếm được. Một sự thôi thúc như vậy có thể sẽ giải thích được vì sao thật khó để chịu đựng sự tồn tại dai dẳng của những tượng đài tưởng niệm những kẻ đã gây ra đau khổ trong quá khứ.
Tượng đài Tổng thống phe miền Nam thời nội chiến Mỹ Jefferson Davis bị kéo đổ ở Richmond.
Những bức tượng ấy nặng nề đến nghẹt thở. Sự phẫn nộ mà nhiều người cảm thấy khi phải chia sẻ đường phố với những bóng ma áp bức khổng lồ ấy là vô cùng sâu sắc và chân thật.
Những bức tượng mang tính khái niệm nhiều không kém tính vật chất của chúng – và chúng mô tả cách chúng ta nhìn nhận bản thân thay vì những cá nhân được lấy làm hình mẫu cho chúng.
Để giải quyết vấn đề gai góc về cách tốt nhất để xử lý những di tích tỏa ra không khí mà phần đông công chúng cho là độc hại, các quốc gia đã bắt đầu áp dụng nhiều chiến lược khác nhau.
Ở London, thị trưởng thành phố, ông Sadiq Khan, đã tuyên bố thành lập một ủy ban đặc biệt để tranh luận về việc tháo dỡ (và lắp dựng) các bức tượng trong thành phố.
Thứ Tư tuần trước tại Mỹ, Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosi đã kêu gọi nhanh chóng loại bỏ 11 bức tượng tôn vinh các nhà lãnh đạo Liên minh nhằm ngăn chặn một vụ cướp bóc dữ dội xảy ra ở đồi Capitol.
“Những bức tượng ở Capitol nên thể hiện những lý tưởng cao đẹp nhất của người Mỹ, thể hiện chúng ta là ai và con người mà chúng ta khao khát trở thành với tư cách một dân tộc,” bà nói trong bài phát biểu giải thích lý do đưa ra quyết định này.
“Tượng đài của những người ủng hộ sự tàn ác và man rợ để đạt được mục đích mang tính phân biệt chủng tộc là một sự sỉ nhục với những lý tưởng này. Những bức tượng của họ bày tỏ lòng tôn kính với sự thù ghét thay vì những di sản. Chúng phải bị loại bỏ.”
Bức tượng thương nhân sở hữu nô lệ Robert Milligan bị các nhà hoạt động của phong trào Black Lives Matter phủ vải che; bức tượng sau đó đã được tổ chức Canal and River Trust di dời (Ảnh: Getty Images).
“Đoạn chi” có phải là cách chữa trị tốt nhất cho căn bệnh này? Tất nhiên, vấn đề của việc nhấn chìm những vật gợi nhắc một quá khứ đau đớn xuống vùng nước gần nhất nằm ở chỗ, nhiều điều, đặc biệt là những điều gây đau đớn, có xu hướng trỗi dậy lại từ nơi sâu thẳm.
Nghệ sỹ đường phố người Anh Banksy, với những tác phẩm thường xuyên xoáy sâu vào sự nông cạn của xã hội và buộc chúng ta phải đối mặt với những hình thù khó chịu của sự đạo đức giả và bất bình đẳng, đã đề xuất một giải pháp khéo léo cho tình trạng khó khăn mà xã hội đang gặp phải.
“Chúng ta nên làm gì với một bệ đỡ trống không ở giữa Bristol?” Banksy đặt câu hỏi trên một bài đăng Instagram. “Đây là ý tưởng dành cho cả những người nhớ bức tượng Colston và những người không nhớ nó. Chúng ta kéo ông ta ra khỏi nước, đặt ông ta lại lên bệ, buộc dây cáp quanh cổ ông ta và đặt thêm vài bức tượng đồng hình người biểu tình có kích thước như người thật đang làm động tác kéo ông ta xuống. Thế là ai cũng hài lòng. Một ngày nổi tiếng đã được tưởng nhớ.”
Ở Đức, khi phải đưa ra quyết định về việc khắc sâu những ký ức về thời kỳ phátxít, người ta đã nhận ra rằng xóa bỏ quá khứ không phải là một lựa chọn.
Như bức vẽ đi kèm của Banksy (tưởng tượng một cách thông minh và hài hước về cảnh bức tượng Colston được đặt lại lên bệ nhưng luôn trong trạng thái bấp bênh chỉ chờ bị kéo đổ), cái khó là tìm ra sự cân bằng phù hợp khi cân nhắc những quan điểm khác biệt của mọi người trong xã hội, những người phải gánh sức nặng của một bức tượng.
Ở Đức, khi phải đưa ra quyết định về việc khắc sâu những ký ức về thời kỳ phátxít trên các đường phố và quảng trường trong nước, người ta đã nhận ra rằng xóa bỏ quá khứ không phải là một lựa chọn.
Thay vì làm “ô nhiễm không khí thành phố” bằng tượng đài của những kẻ gây ra đau đớn, các nỗ lực đã được thực hiện để bảo tồn những đài tưởng niệm tôn vinh sự kiên cường của các nạn nhân của Hitler.
Có lẽ chúng ta nên coi những bức tượng như những cái cây. Khi một cái cây bị biến dạng vì bệnh tật, chúng ta nên quyết tâm trồng một bụi cây mới có thể làm sạch bầu không khí và không khiến chúng ta nghẹt thở.
Tranh vẽ của Banksy về sự kiện kéo đổ tượng tại Anh.
Gồm 27 hòn đảo lớn nhỏ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nằm ở trung tâm Đông Nam Á, trên vành đai kinh tế biển Việt Nam-Campuchia-Thái Lan, là trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp quốc gia, quốc tế.
Đứng trước ngưỡng cửa trở thành thành phố trực thuộc tỉnh, đồng thời là thành phố biển đảo đầu tiên trong cả nước, Phú Quốc đã có sự phát triển ngoạn mục về kinh tế-xã hội.
Bên cạnh đó, huyện đảo cũng đang đối mặt với những bất cập, điểm nghẽn cần được tháo gỡ để có những bước phát triển xứng tầm thành phố biển đảo, trung tâm du lịch-thương mại-công nghệ cao trong tương lai không xa.
Phóng viên TTXVN phản ánh nội dung này qua hai bài viết với chủ đề: “Phú Quốc hướng tới là thành phố biển đảo đầu tiên của cả nước”./.
Phú Quốc phát triển bứt phá
Tỉnh Kiên Giang và huyện đảo Phú Quốc đang tiến hành các bước theo lộ trình để Đảo ngọc sớm trở thành thành phố, góp thúc đẩy sự phát triển kinh tế vùng biên giới Tây Nam của Tổ quốc và tạo sự cân đối về phát triển đô thị giữa các khu vực, đồng thời tạo sức hấp dẫn hơn nữa trong thu hút đầu tư, khai thác tiềm năng du lịch của Phú Quốc.
Phú Quốc đang trên đà phát triển mạnh mẽ, xây dựng theo mô hình thành phố biển đảo để trở thành động lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Kiên Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Thu hút đầu tư, tập trung hoàn thiện hạ tầng
Những năm 2000 trở về trước, huyện đảo Phú Quốc còn khá hoang sơ, vắng vẻ thì giờ đây, huyện đảo đã có sự chuyển mình ngoạn mục, là điểm đến thu hút nhiều nhà đầu tư tầm cỡ, cơ sở hạ tầng được phát triển đồng bộ.
Phú Quốc đang trên đà phát triển mạnh mẽ, xây dựng theo mô hình thành phố biển đảo đầu tiên của cả nước,trở thành động lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Kiên Giang và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong những năm qua, một trong những điểm nhấn nổi bật trong chiến lược phát triển của Phú Quốc được thực hiện hiệu quả chính là thu hút đầu tư mạnh mẽ, phát triển kết cấu hạ tầng.
Một góc khu đô thị mới đang được xây dựng thị trấn An Thới. (Ảnh: Ngọc Hà/ TTXVN)
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc Huỳnh Quang Hưng cho biết, tính đến tháng 6/2020, Phú Quốc thu hút 321 dự án của các nhà đầu tư, với tổng vốn đăng ký là 340.000 tỷ đồng.
Huyện là địa bàn được đầu tư khá mạnh và cũng là một trong những điểm đầu tư được hưởng rất nhiều cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư của Trung ương và tỉnh Kiên Giang, đặc biệt là chính sách liên quan đến tiền thuê đất, thời gian thu tiền sử dụng đất, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và những chính sách khác.
Cùng với sự đầu tư của các thành phần kinh tế, các tập đoàn kinh tế lớn thì các nguồn lực từ ngân sách nhà nước đầu tư vào Phú Quốc cũng khá dồi dào.
Đặc biệt là từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn Trung ương, vốn của tỉnh, vốn tiền sử dụng đất của địa phương cũng tập trung đầu tư vào kết cấu hạ tầng, tập trung cho giao thông nội đảo, sân bay, cảng biển quốc tế, các công trình cấp điện, nước để đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ của Phú Quốc.
Theo thông tin từ Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc, tập trung nguồn lực đầu tư mạnh hạ tầng giao thông, tạo kết nối liên thông với các trung tâm đô thị lớn trong nước và một số quốc gia trên thế giới, Phú Quốc đã đưa vào khai thác cảng An Thới và Dương Đông theo dự án đã được phê duyệt thành các cảng tổng hợp phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống người dân trên đảo, các cảng này còn phục vụ tàu khách quốc tế.
Các biệt thự nghỉ dưỡng được xây trên các đảo nhỏ thuộc huyện đảo Phú Quốc. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
Cảng Mũi Đầm cũng được xây mới, là cảng tổng hợp sử dụng quanh năm và nơi tránh trú cho các tàu thuyền trên bờ phía Đông của đảo.
Đối với hệ thống giao thông đường bộ, mạng lưới đường bộ trên đảo có tổng chiều dài trên 220km. Các phương tiện di chuyển qua lại được thuận tiện, dễ dàng.
Đường liên xã, đường nông thôn được đầu tư, nâng cấp và làm mới phần lớn đã được nhựa hóa, bêtông hóa đảm bảo việc đi lại của người dân địa phương. Toàn bộ cầu qua các sông, rạch được kiên cố hóa bằng kết cấu bêtông cốt thép tạo điều kiện thuận lợi sinh hoạt và sản xuất của người dân trên địa bàn huyện.
Bến xe khách các thị trấn được đặt theo vị trí của quy hoạch và được trang bị đầy đủ các tiện nghi cho hành khách. Bến xe hàng hóa được bố trí tại các bến cảng và Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc.
Đối với Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc, theo quy hoạch đến 2030, cảng hàng không này có khả năng tiếp nhận 20 máy bay trong giờ cao điểm. Lượng hàng hóa qua cảng là 27.600 tấn/năm, công suất 7 triệu hành khách/năm, riêng giờ cao điểm có thể đón 3.500 người.
Về hệ thống điện cung cấp cho đảo, dự án cáp ngầm 110 kV xuyên biển Hà Tiên-Phú Quốc hoạt động đang đảm bảo cung cấp điện ổn định cho huyện đảo Phú Quốc từ hệ thống điện quốc gia.
Trên địa bàn huyện hệ thống đường dây cao, trung, hạ thế đảm bảo cung cấp điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Hiện nay, số hộ dùng điện lưới quốc gia trong toàn huyện đạt 100%.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc Huỳnh Quang Hưng cũng cho biết, hiện nay, Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc đang được tập trung mở rộng giai đoạn 2, giai đoạn 3, mở rộng thêm đường cất, hạ cánh.
Hệ thống giao thông nội đảo sẽ được đầu tư đồng bộ, đấu nối các khu du lịch, các khu dân cư để đảm bảo cho du lịch phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, các ngành điện lực, cấp nước đang được đầu tư song song, đồng bộ, nâng cấp hồ cấp nước Dương Đông từ công suất 20.000 m3 ngày đêm lên 30.000 m3/ngày đêm.
Huyện cũng đang nghiên cứu hồ nước Cửa Cạn để đầu tư trong thời gian tới công suất vào khoảng 50.000 m3/ngày đêm, đảm bảo cấp nước ổn định cho Phú Quốc.
Xây dựng móng, trụ đưa lưới điện quốc gia ra huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN) (ảnh 5 ngày 16/6)
Đối với hệ thống điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang đầu tư thêm dự án xây dựng đường dây 220 kV Kiên Bình-Phú Quốc.
Dự kiến, dự án sẽ đóng điện trước Têt Nguyên đán 2021 để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội huyện đảo. Một số công trình y tế, giáo dục, các khu dân cư, tái định cư đang được đầu tư đồng bộ.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc khẳng định, đến thời điểm này Phú Quốc đã có đầy đủ cơ sở hạ tầng, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và điều kiện của một thành phố trực thuộc tỉnh. Nếu được cấp có thẩm quyền phê chuẩn, Phú Quốc sẽ là thành phố biển đảo đầu tiên của cả nước.
Phát triển mạnh thương mại-dịch vụ, du lịch
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đến năm 2030, Phú Quốc sẽ là trung tâm du lịch quốc gia, trung tâm nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Thực hiện định hướng này, thời gian qua, ngành thương mại-dịch vụ, du lịch của Phú Quốc có bước phát triển rất nhanh chóng.
Khu Vinpearl Phú Quốc, xã Gành Dầu, huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Trên địa bàn các xã, thị trấn không những đầy đủ công trình thương mại cơ bản như chợ, siêu thị. Ngoài ra, còn có các cửa hàng tạp hóa, cửa hàng tiện lợi phân bố đều trong các ấp, khu phố, có nơi trao đổi mua bán hàng hoá hai chiều, góp phần tiêu thụ sản phẩm hàng hóa thông suốt.
Chủng loại hàng hóa đa dạng và phong phú, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân và khách du lịch.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đến năm 2030, Phú Quốc sẽ là trung tâm du lịch quốc gia, trung tâm nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Tính riêng trong năm 2019, tổng giá trị sản xuất toàn huyện Phú Quốc đạt 56.547 tỷ đồng; trong đó, ngành thương mại-dịch vụ-du lịch đã đạt 29.350 tỷ đồng, chiếm gần 52%.
Ông Trần Văn Thọ, Trưởng Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Phú Quốc chia sẻ, tại huyện đảo, hạ tầng du lịch đã được đầu tư mạnh mẽ, các khu, điểm du lịch được hình thành và phát triển như Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc, Cảng hành khách Quốc tế Dương Đông, vườn thú Safari, Vinpearl Land…
Các di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng cảnh như Dinh Cậu, di tích nhà tù Phú Quốc, chùa Hộ Quốc được trùng tu, tôn tạo. Sản phẩm du lịch từng bước đa dạng hóa với các loại hình du lịch văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng và khai thác khá hiệu quả các tuyến du lịch, qua đó đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm.
Đặc biệt, các dự án đã hoàn thành và đưa vào khai thác như tuyến cáp treo Hòn Thơm nối từ thị trấn An Thới qua các đảo Hòn Rỏi, Hòn Dừa tới Hòn Thơm được Tổ chức Guinness trao tặng Chứng nhận cáp treo dài nhất thế giới.
Tuyến cáp treo từ thị trấn An Thới qua Hòn Thơm, huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Nguồn: TTXVN)
Các dự án của Tập đoàn VinGroup, đáng chú ý là những dự án mới ở khu vực phía Nam của đảo đã và đang tạo tiếng vang lớn trên bản đồ du lịch trong và ngoài nước như khu nghỉ dưỡng mới đẳng cấp nhất thế giới JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay, khu nghỉ dưỡng hai mặt biển hiếm có Premier Village Phu Quoc Resort, khu vui chơi giải trí Sun World Hon Thom Nature Park, đã thúc đẩy ngành du lịch huyện đảo ngày càng phát triển.
Hiện nay trên đảo có gần 700 cơ sở lưu trú với hơn 20.000 phòng; trong đó có 6 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 12 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của du khách trong nước và quốc tế.
Nếu như năm 2015 Phú Quốc chỉ đón 913.000 lượt du khách thì đến năm 2019, huyện đảo đã đón 2,85 triệu lượt khách. Những tháng đầu năm hoạt động du lịch của huyện đảo gần như tê liệt do ảnh hưởng dịch COVID-19 song với sự phục hồi nhanh chóng, dự báo trong năm nay Đảo Ngọc sẽ đón được khoảng hơn 3 triệu du khách./.
Toàn cảnh thị trấn Dương Đông (huyện Phú Quốc). (Ảnh: Bùi Trường Giang/TTXVN)
Hài hòa trong phát triển kinh tế
Tự tin trước ngưỡng cửa trở thành thành phố biển đảo đầu tiên trong cả nước, song trên bước đường phát triển, huyện đảo Phú Quốc hiện tại, thành phố Phú Quốc trong tương lai gần cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, bất cập.
Phú Quốc chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý chặt chẽ tài nguyên, đất đai, quy hoạch, xây dựng gắn với xử lý nghiêm những hành vi vi phạm trên các lĩnh vực này để nhà đầu tư, khách du lịch an tâm đến với Phú Quốc.
Các cấp chính quyền, cơ quan chức năng của tỉnh Kiên Giang và huyện Phú Quốc đã thẳng thắn nhìn nhận và có biện pháp tháo gỡ, giải quyết triệt để.
Tăng cường quản lý đất đai, trật tự xây dựng
Một trong những vấn đề nổi cộm ở Phú Quốc được dư luận hết sức quan tâm hiện nay chính là việc quản lý, xử lý những sai phạm liên quan đến lĩnh vực đất đai.
Đề cập đến những tồn tại trong quản lý đất đai, quy hoạch, xây dựng ở huyện đảo Phú Quốc thời gian qua, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc Huỳnh Quang Hưng cho biết, cùng một thời điểm, Phú Quốc thu hút rất nhiều dự án của các nhà đầu tư; trong đó có nhiều tập đoàn lớn cho thấy, các cơ chế, chính sách ưu đãi nổi trội đã phát huy tác dụng. Các dự án đó bước đầu đã có những hiệu quả nhất định.
Xử lý các trường hợp vi phạm đất đai, xây cất trái phép trên địa bàn xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh, phát triển mạnh đã làm phát sinh những hệ lụy liên quan đến lĩnh vực quản lý đất đai. Việc quản lý quy hoạch, xây dựng cũng có những lúc, những nơi chưa thật tốt.
Vừa qua, Thanh tra Chính phủ đã có kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-2017.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang đã có kế hoạch, huyện nghiêm túc thực hiện những Kết luận của Thanh tra Chính phủ để khắc phục hạn chế yếu kém trong quá trình quản lý, đặc biệt là liên quan đến quản lý đất đai.
Liên quan đến tình trạng bao lấn chiếm đất trái phép, ông Hưng cho biết thêm, thời gian qua tại Phú Quốc tình hình phân lô, tách thửa trên đất nông nghiệp diễn biến phức tạp.
Khách sạn cao cấp tại khu Vinpearl Phú Quốc, xã Gành Dầu, huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Thời điểm 2016-2017, giá đất tại Phú Quốc cũng tăng cao đột biến, dẫn đến tình trạng bao lấn chiếm xây dựng trên đất nhà nước quản lý, kể cả đất rừng diễn biến phức tạp.
Huyện đã chỉ đạo các cấp, ngành, xã thị trấn và Ban quản lý Vườn quốc gia Phú Quốc xác minh, kiểm tra, xử lý, tuy nhiên có những lúc, những nơi chưa kịp thời. Thời gian tới huyện tăng cường, quyết liệt kiểm tra, xử lý, cưỡng chế trường hợp xây dựng trái phép đặc biệt là xây dựng trái phép trên đất rừng.
Các ngành, đoàn thể tăng cường tuyên truyền sâu rộng đến người dân về các quy định của Nhà nước lĩnh vực đất đai; xây dựng, ứng dụng mạng xã hội tiếp nhận phản ánh, thông tin của người dân về các hành vi vi phạm để kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm.
Theo thông tin mới nhất từ Huyện ủy Phú Quốc, thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm tra, xử lý vi phạm, quản lý đất đai, thực hiện thông báo số 120/TB-VPCP ngày 23/3/2020 của Văn phòng Chính phủ, Kết luận số 602/KL-TTCP ngày 27/4/2020 của Thanh tra chính phủ và kế hoạch của Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang, tính đến ngày 1/6/2020 huyện Phú Quốc đã kiểm tra, phát hiện hơn 300 trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực đất đai với tổng diện tích 174.397m2; quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với trên 90 trường hợp; thông báo yêu cầu tháo dỡ, khôi phục lại hiện trạng đối với 140 trường hợp, đã tổ chức thông báo, thu hồi thực địa đối với 98 trường hợp, các trường hợp còn lại đang tiếp tục được kiểm tra, xử lý.
Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc Mai Văn Huỳnh khẳng định, nếu không quyết liệt, chủ động chấn chỉnh, xử lý vi phạm, ngăn chặn, lập lại trật tự trong quản lý tài nguyên, đất đai, quy hoạch, xây dựng thì đây sẽ là rào cản, trở ngại lớn, ảnh hưởng bất lợi trong xây dựng phát triển huyện đảo Phú Quốc.
Tình trạng này không giải quyết dứt điểm, đất đai, xây dựng không ổn định thì nhà đầu tư ngần ngại đầu tư vào đảo Phú Quốc, nhất là trong xu thế Phú Quốc đang hướng tới thành phố biển đảo, du khách trong và ngoài nước đến đảo ngọc ngày càng tăng cao.
Xử lý các trường hợp vi phạm đất đai, xây cất trái phép trên địa bàn xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Vì vậy, Phú Quốc chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý chặt chẽ tài nguyên, đất đai, quy hoạch, xây dựng gắn với xử lý nghiêm những hành vi vi phạm trên các lĩnh vực này để nhà đầu tư, khách du lịch an tâm đến với Phú Quốc.
Bảo vệ môi trường
Nhiều chuyên gia, nhà khoa học từng nhận định, sự tăng trưởng quá nhanh đã phần nào mang tới những hệ lụy liên quan đến môi trường, ảnh hưởng sự phát triển bền vững của Đảo ngọc.
Ở bất kỳ địa phương có tốc độ phát triển nhanh nào cũng thường có những điểm hạn chế nhất định và Phú Quốc cũng không ngoại lệ.
Thu gom rác ở bãi biển thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc. (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Thậm chí, có du khách tới Phú Quốc từng “nặng lời” cho rằng nhiều nơi ở huyện đảo bị “tấn công” bởi rác thải, các con sông cũng bị ô nhiễm do rác và nước thải.
Theo thông tin từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Quốc, hiện nay việc thu gom và xử lý chất thải rắn do Ban Quản lý công trình công cộng huyện Phú Quốc quản lý.
Năm 2019, trên địa bàn huyện tỷ lệ chất thải rắn được xử lý 100% với hình thức xử lý của huyện sẽ chôn lấp tại bãi rác tạm và giao một phần cho nhà máy xử lý.
Nhà máy xử lý rác thải đã được xây dựng hoàn thiện, đang trong quá trình vận hành thử nghiệm với công suất 200 tấn/ngày đêm, đảm bảo việc thu gom và xử lý rác trên địa bàn huyện hàng ngày.
Việc quản lý, thu gom và xử lý chất thải ở nhiều khu phố, bệnh viện, xóm ngõ cũng được cải thiện. Việc thu gom chất thải thông thường, phế liệu, chất thải công nghiệp không nguy hại do Công ty cổ phần Công nghệ Môi trường Trái Đất Xanh thực hiện.
Toàn bộ rác thải được thu gom vận chuyển và xử lý tập trung tại khu xử lý chất thải rắn của các công ty. Khối lượng rác thải sinh hoạt còn lại do các tổ vệ sinh tại các xã, thị trấn được thu gom và xử lý cục bộ.
Thu gom rác ở bãi biển thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc. (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Ông Nguyễn Duy Điền, Phó trưởng Ban Dự án đầu tư xây dựng huyện Phú Quốc cho biết, liên quan đến xử lý rác, thời điểm này tỉnh Kiên Giang và huyện Phú Quốc đã kêu gọi dự án đầu tư vào dự án xử lý rác ở Bãi Bổn, xã Hàm Ninh tuy nhiên công nghệ của nhà đầu tư ban đầu đưa ra chưa đáp ứng yêu cầu.
Tỉnh Kiên Giang đang có điều chỉnh, thay đổi nhà đầu tư theo hướng nâng cao công nghệ để đáp ứng yêu cầu. Ban Quản lý khu kinh tế huyện Phú Quốc (đơn vị được phân cấp ủy quyền của Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang về lĩnh vực đầu tư) cũng đang kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực xử lý rác với công nghệ cao ở Phú Quốc theo định hướng đến năm 2030 sẽ không còn các bãi chôn lấp rác thải mà rác thải sẽ được xử lý theo công nghệ cao.
Trong thời gian tới, với định hướng phát triển bền vững đảo Phú Quốc hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, Phú Quốc sẽ huy động các nguồn lực, đẩy mạnh nghiên cứu giải pháp thoát nước tổng thể thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Huyện ưu tiên cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước chung, xây dựng hệ thống cống bao và các trạm xử lý nước thải cho các khu vực xảy ra ngập úng.
Phú Quốc cũng tiếp tục triển khai các dự án đầu tư theo Quy hoạch quản lý chất thải rắn đến năm 2025 đã được phê duyệt; nâng cao hiệu quả công tác thu gom, phân loại chất thải rắn tại các đô thị; ưu tiên đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải rắn cấp vùng ở trên địa bàn huyện và các lò đốt chất thải rắn cho các xã đảo.
Tuy nhiên, theo Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc Mai Văn Huỳnh, một giải pháp rất quan trọng góp phần đảm bảo môi trường cho Đảo ngọc là các ngành, đơn vị, xã, thị trấn đẩy mạnh tuyên truyền, vận động từng hộ dân hiểu rõ trách nhiệm tham gia vệ sinh môi trường; tập trung lực lượng tổ chức làm vệ sinh ở các điểm nóng về rác thải, đảm bảo giải quyết hiệu quả, dứt điểm.
Bên cạnh đó, cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi xả rác, thải chất thải ra môi trường; bố trí camera tại các điểm nóng về môi trường, lắp đặt các màn hình lớn tuyên truyền bảo vệ môi trường tại khu vực công cộng./.
Khách du lịch vui chơi, tắm biển tại bãi biển Dinh Cậu, thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)