Vietnam makes new achievements in organ transplant

Pham Van Vuong, 31, woke up at 9 am in the hospital’s quiet recovery room which was carefully quarantined on January 22 (the 28th day of the last lunar month). He had slept for nine hours after his surgical operation.

He looked at the ceiling then his arm. He could feel something is there, with a slight numbness and weight, which he had not felt for years. Now he could felt it, like a miracle that filled him with joy.

Vuong noticed that his arm was not like it was before, now he had a new hand and wrist.

“Looking at my new hand, I was frozen for tens of seconds, and I just want to scream with excitement. I want to call my wife, son and parents to inform them that I have a new hand, I am no longer a one-handed person,” he recalled.

He could feel something is there, with a slight numbness and weight, which he had not felt for years. He noticed that his arm was not like it was before, now he had a new hand and wrist.

However, he was not allowed to use the phone at that time. He showed a profound gratitude to the uncle who is 20 years older than him and agreed to donate his arm, thereby helping him return to a normal life.

The story now narrated

After the transplant, Vuong could move his fingers by himself. More than one month later, all structures had recovered and the new hand received enough blood similarly to the other. He could use the transplanted hand to hold some things such as ping pong balls.

The transplant of the arm from a living donor was successfully performed by doctors of the Military Central Hospital 108 on January 22 on Pham Van Vuong from Hanoi’s Thanh Tri district. It is the first transplant of limb from a living donor in Southeast Asia and the world as well.

Four years ago, Vuong was a worker of Van Dien Battery Factory based in Khoai Chau district, Hung Yen province.

One day, he had his left hand seriously injured by a punch press. The hand was crushed and deformed.


It was such a hard-to-describe delight. Vuong sometimes thought that he was dreaming. Even he himself has a hard time believing that he could move his left hand now.

“I was in a panic when the machine pressed on my hand. I regained my composure only some minutes to call for help as the machine was very loud and people stood far from each other. If I faint without anybody knowing, it would be even more dangerous,” he said.

He could take his arm out only after the machine was disassembled. His colleagues brought the sheet metal with his hand in it to the Military Central Hospital 108 in the afternoon.

He underwent a surgical operation right that evening. His hand was severely crushed and no longer had the ability to restore, so doctors decided to cut off one third of his left arm.

Vuong was discharged from the hospital two weeks later yet felt sad and disheartened.

Afterward, he faced various difficulties in his life and work. Sometimes he could not help but feeling hurt when his son asked why he does not have the left hand. He did not answer and just let it slide. The loss of his hand at a young age lowers his self-esteem.

In 2016, he was encouraged to register in the list of people waiting for hand transplant.

Doctors perform the surgery on Vuong (Photo: VietnamPlus)
Doctors perform the surgery on Vuong (Photo: VietnamPlus)

A decision of mettle

Holding a ping pong ball to practice, extending then bending his fingers, his hand had slight fits sometimes. He smiled and said that it is a normal reaction of the hand, according to doctors.

For him, this is the second surprise and it is wonderful.

“A couple of months ago, I received a call as a family of a brain-dead person agreeing to donate a hand. I came to the hospital for necessary procedures. However, they changed their mind and the transplant could not be carried out. I returned home hopelessly,” Vuong remembered.

On the evening of the 26th day of the last lunar month, Deputy Director of the Military Central Hospital 108 Prof. Nguyen The Hoang phoned Vuong, informing him there was a donor and the two were very compatible.

The donor was a 51-year-old man with a complicated injury on January 3. He suffered an accident which damaged the upper part of his left arm and it must be severed in order to save his life.

Doctors successfully perform the hand transplant for Vuong (Photo: VietnamPlus)
Doctors successfully perform the hand transplant for Vuong (Photo: VietnamPlus)

The doctors realised that the lower part of the severed hand remained intact and might be suitable for another person. The patient himself and his family gave their consent.

They had the same blood type and were very compatible, the hospital’s council on medical ethics also green-lit the transplant.

It was a decision of mettle as doctors had to bear a great responsibility. If chances of infection were high, the operation must be stopped and the hand would be cut off immediately to save the patient. The operation lasted eight hours with the participation of nearly 20 personnel.

It was a decision of mettle as doctors had to bear a great responsibility. If the risk of infection was high, the operation must be stopped and the hand would be cut off to save the patient.

The transplant was conducted smoothly and the patient did not have a fever after one month. There was a group working round the clock to keep an eye on his condition.

The part donated by a living person may get infected or necrosis more quickly than that of a brain-dead person, as there is a shorter time for preparation.

The joy of Prof. Hoang and Vuong after the success of the transplant (Photo: VietnamPlus)
The joy of Prof. Hoang and Vuong after the success of the transplant (Photo: VietnamPlus)

Opening new chances for patients

Hand transplant is more difficult than others as there are 43 muscles in forearm and hand, with complex structures of skin, pulses, muscles, joints, cartilages and nerve, Prof. Hoang said.

“To assess the result, I could only say that it is wonderful. Why? Because it is a truly difficult technique and Vietnam is the first country in the world to succeed,” Prof. Pham Gia Khanh, President of the Vietnam Society of Organ Transplantation.

Compared to normal transplants, the patient has to take various types of medicine.

Prof. Pham Gia Khanh, President of the Vietnam Society of Organ Transplantation (Photo: VietnamPlus)
Prof. Pham Gia Khanh, President of the Vietnam Society of Organ Transplantation (Photo: VietnamPlus)

This is the first ever hand transplant from a living donor, performed from experiences of just 89 previous cases throughout the world. It demonstrated Vietnam’s high scientific and technological levels, Khanh added.

Vuong practises to move his new hand with a ping pong ball (Photo: VietnamPlus)
Vuong practises to move his new hand with a ping pong ball (Photo: VietnamPlus)

Previously, the severed body parts would be buried or burnt, while they could be given to other people. The donor of Vuong’s hand is now in the waiting list for hand transplant himself.

Therefore, the success has opened opportunities for many patients who have their hand amputated because of accidents and wars.

One month after the transplant, Vuong could move his left hand conveniently. With both hands grabbing the microphone tightly at a press briefing, he said that it is such as miracle he never thought of.

“I would like to extend my gratitude to doctors of the Military Central Hospital 108, the donor and his family. They are the ones who help my left hand move and hold things again”, Vuong said./.

Vuong (second from right) at the press briefing (Photo: VietnamPlus)
Vuong (second from right) at the press briefing (Photo: VietnamPlus)

Việt Nam-Hoa Kỳ

Nhìn lại chặng đường 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ, có thể khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai nước đã hặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện trên mọi lĩnh vực từ chính trị, ngoại giao, thương mại, đầu tư, khoa học-công nghệ, an ninh-quốc phòng đến giáo dục-đào tạo, văn hóa, giao lưu nhân dân…

Trong số đó, hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư đã trở thành trọng tâm và là động lực quan trọng cho sự phát triển của quan hệ song phương, với kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều tăng 170 lần, từ 450 triệu USD năm 1995 lên 77,6 tỷ USD vào năm 2019.

Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đồng thời Việt Nam cũng là thị trường xuất khẩu có tốc độ tăng cao nhất của Hoa Kỳ trong các đối tác Đông Nam Á.

Trong đầu tư, với vị trí chiến lược, sự ổn định vĩ mô và chất lượng sống gia tăng cùng với nguồn lực lao động mạnh mẽ, Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của các tập đoàn và công ty lớn trên thế giới, đặc biệt là các công ty của Hoa Kỳ với sự hiện diện của các “tên tuổi” như IBM, Qualcomm, Coca-Cola…

Giờ đây, với các thỏa thuận thương mại thế hệ mới vừa hoàn thành như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), kinh tế Việt Nam được dự báo sẽ những bước tăng trưởng mạnh mẽ. Đây cũng được kỳ vọng sẽ tạo ra xung lực mạnh mẽ thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư song phương giữa hai nước trong thời gian tới, đặc biệt là trong các lĩnh vực về chuyển đổi số, công nghệ cao.

Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ:

Quá trình thay đổi về chất

Xuân Quảng

Tháng 7/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao, cánh cửa giao thương và hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia chính thức mở ra.

Ông Bùi Huy Sơn, Tham tán Công sứ Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ nhấn mạnh, “quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trong 25 năm qua  đã có những bước tiến vượt bậc và trở thành những đối tác đầu tư quan trọng của nhau, theo đó thương mại song phương giữa hai nước đã có những cú nhảy vọt cả ở chiều rộng lẫn chiều sâu.”

Đa dạng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

Ngay trong giai đoạn đầu tiên 1995-2000, sau 5 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, kim ngạch thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ đã tăng nhanh chóng hơn 2 lần, từ con số 450 triệu USD lên 1,09 tỷ USD.

Điểm nhấn quan trọng tiếp theo, ngày 13/7/2000 tại Washington, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ (BTA) đã được ký kết và có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Điều này ngay lập tức tạo ra những động lực mới cho việc hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia.

“Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nên những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều xuất hiện tại thị trường này với số lượng lớn và chủng loại phong phú,”

Ông Bùi Huy Sơn nhớ lại từ khi Hiệp định thương mại song phương được ký kết, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã thay đổi đáng kể. Ngoài những nhóm hàng xuất khẩu như dệt may, da giày đã khẳng định vị thế thì nhóm hàng nông-thủy-hải sản cũng dần ghi vào danh mục các nhóm hàng xuất khẩu quan trọng và mới đây nhất là những mặt hàng mới như linh kiện điện tử, đồ gỗ.

Con số thống kê cho thấy năm 2019 vừa qua, 5 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Hoa Kỳ, ngoài dệt may (24%), giày dép (11%) đã có thêm mặt hàng điện thoại và linh kiện (15%), máy tính và sản phẩm điện tử (10%), đồ gỗ (9%).

Thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những cú nhảy vọt cả ở chiều rộng lẫn chiều sâu. (Ảnh minh họa/TTXVN)
Thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những cú nhảy vọt cả ở chiều rộng lẫn chiều sâu. (Ảnh minh họa/TTXVN)

“Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nên những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều xuất hiện tại thị trường này với số lượng lớn và chủng loại phong phú,” ông Sơn nói.

Ông Sơn lạc quan nhìn nhận: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ đã thay đổi theo hướng tăng dần nhóm hàng chế biến, chế tạo đồng thời từng bước nâng cao giá trị gia tăng.

“Hiện Việt Nam có tới 10 nhóm hàng xuất khẩu có giá trị trên 1 tỷ USD vào Hoa Kỳ; trong đó có các nhóm hàng xuất khẩu giá trị lớn như dệt may (14,8 tỷ USD), điện thoại và linh kiện (8,8 tỷ USD), giày dép (6,6 tỷ USD), đồ gỗ (5,3 tỷ USD),” ông Sơn nói.

Dưới góc độ phát triển thị trường, ông Nguyễn Hồng Dương-Phó Vụ trưởng Vụ thị trường Âu-Mỹ (Bộ Công Thương), cho biết nếu 20 năm trước, Việt Nam chỉ xuất khẩu khoảng 60 nhóm hàng sang thị trường Mỹ thì đến năm 2019, con số này đã tăng lên 90 nhóm hàng .

Trong hai thập kỷ qua, thương mại song phương đã tăng trưởng đáng kinh ngạc ở mức 7.000%. (Ảnh minh họa/TTXVN)
Trong hai thập kỷ qua, thương mại song phương đã tăng trưởng đáng kinh ngạc ở mức 7.000%. (Ảnh minh họa/TTXVN)

Dệt may và da giày khẳng định tên tuổi “made in Vietnam”

Có thể khẳng định, trong quan hệ xuất nhập khẩu hai nước thì dệt may và da giày là hai mặt hàng chủ lực và đã có bước trưởng nhảy vọt cả về chất và lượng qua các năm.

Kể từ khi “đổi mới,” ngành dệt may và da giày trở thành một trong những động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp vai trò quan trọng trong định hướng xuất khẩu. Trong khi đó, Hoa Kỳ là thị trường hàng đầu thế giới tiêu thụ sản phẩm dệt may và da giày của Việt Nam.

Theo số liệu ước tính từ ngành công thương, năm 2019, xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt gần 15 tỷ USD, chiếm 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Nhu cầu tiêu dùng sụt giảm trong giai đoạn dịch COVID-19 song xuất khẩu giày dép 5 tháng đầu năm 2020 sang Mỹ vẫn đạt trên 2,43 tỷ USD, chiếm 36,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước.

Đặc biệt, trong những tháng vừa qua khi dịch COVID-19 “hoành hành” với diễn biến phức tạp diễn ra trên phạm vi toàn cầu thì hàng dệt may của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ vẫn đứng đầu về kim ngạch và đạt 4,84 tỷ USD.

Ông Cao Hữu Hiếu, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), cho biết để nâng tầm thương hiệu thời trang trong nước, một số doanh nghiệp của Việt Nam như May 10 đã bắt đầu mang thương hiệu sơ mi ra nước ngoài, bán trên các trang như Amazon hay phân phối trong các hệ thống siêu thị lớn của Mỹ…

“Trong thời gian tới, Vinatex khuyến khích các doanh nghiệp đưa thương hiệu của mình vào hệ thống các siêu thị phân phối lớn cũng như từng bước đưa thương hiệu của mình thâm nhập các thị trường này. Chẳng hạn như một số doanh nghiệp may mặc của Vinatex đang nghiên cứu đưa hàng vào hệ thống siêu thị Walmart…. để từng bước xây dựng thương hiệu, trực tiếp phân phối đến người tiêu dùng nước ngoài,” ông Cao Hữu Hiếu chia sẻ thêm.

Cùng với dệt may, giày dép là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường này. Năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 6,65 tỷ USD, tăng 14,2% so với năm 2018.

Đại diện Hiệp hội Da-Giày-Tú xách Việt Nam (LEFASO), cho hay dù nhu cầu tiêu dùng sụt giảm trong giai đoạn dịch COVID-19 song xuất khẩu giày dép 5 tháng đầu năm 2020 sang Mỹ vẫn đạt trên 2,43 tỷ USD, chiếm 36,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước. Điều này cho thấy các mặt hàng mang thương hiệu Việt vẫn được người tiêu dùng  Mỹ tin tưởng và đánh giá cao.

Rõ rệt nhất là từ ngày 28/ 5 đến 30/5,  60 nhà nhập khẩu giày dép Hoa Kỳ đã giao thương trực tuyến với doanh nghiệp Việt Nam nhằm cập nhật tình hình thị trường giày dép Hoa Kỳ trong bối cảnh dịch COVID-19 và đánh giá triển vọng thời gian tới cũng như cách thích ứng trong bối cảnh mới đồng thời tạo cơ hội giới thiệu, kết nối doanh nghiệp Việt Nam và Hoa Kỳ trong lĩnh vực giày dép.

Công ty Cổ phần May mặc Bình Dương, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương  chuyên may các sản phẩm áo sơ mi, quần jeans, quần âu xuất khẩu sang thị  trường Hoa Kỳ. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Công ty Cổ phần May mặc Bình Dương, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương chuyên may các sản phẩm áo sơ mi, quần jeans, quần âu xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

“Hiện nhiều doanh nghiệp trong nước đã tạo ra được những bộ sưu tập và những bộ thiết kế để chào tới các khách hàng, giảm dần sự phụ thuộc vào các mẫu thiết kế của khách hàng như trước đây. Việc này ngày càng khẳng định bước tiến của các doanh nghiệp và thương hiệu Việt trong việc xuất khẩu ra nước ngoài,” bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó Chỉ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội da giày Việt Nam chia sẻ.

Ở chiều ngược lại, theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, riêng trong 4 tháng đầu năm 2020, tổng kim ngạch hai chiều Việt Nam-Hoa Kỳ đạt 24,9 tỷ USD, trong đó nhập khẩu 4,76 tỷ USD và xuất khẩu 20,16 tỷ USD. Các mặt hàng nhập khẩu chính từ Hoa Kỳ là máy móc, thiết bị, nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất và gần đây là nhóm hàng nông sản, hoa quả, thịt, sản phẩm thịt cũng được nhập khẩu nhiều hơn.

Khẳng định tầm quan trọng trong mối quan hệ đối tác Việt Nam-Hoa Kỳ,  nhân dịp kỷ niệm 25 thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã truyền đi thông điệp:  Trong hai thập kỷ qua, thương mại song phương đã tăng trưởng đáng kinh ngạc ở mức 7.000%. Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á, giúp hàng triệu người thoát nghèo…

“Các công ty Mỹ đang tích cực hỗ trợ bằng cách đầu tư hàng tỷ đô la vào Việt Nam. Tôi đã chứng kiến tận mắt điều này khi đến thăm Việt Nam và nghe các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ và Việt Nam chia sẻ về các dự án hợp tác đang diễn ra… Trong những năm tới, Hoa Kỳ và Việt Nam phải tập trung vào tương lai và củng cố hợp tác trong các lĩnh vực từ an ninh mạng đến giáo dục, năng lượng và quốc phòng. Nhân dịp kỷ niệm 25 năm quan hệ đối tác của chúng ta vào năm 2020, chúng tôi tái khẳng định cam kết ủng hộ một Việt Nam vững mạnh và độc lập cũng như một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương hòa bình và thịnh vượng” ông Mike Pompeo phát biểu./.

Việt Nam:

Thị trường đầy tiềm năng của các nhà đầu tư Mỹ

Hạnh Nguyễn

Đến bây giờ, vị Tổng giám đốc IBM Việt Nam Tan Jee Toon Việt Nam: vẫn nhớ như in lần đầu tiên khi ông đặt chân đến Việt Nam trong nhiệm kỳ đầy thách thức cách đây 7 năm (2013-2015). Khi đó đang là giai đoạn cuối của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam có các mức điểm thấp nhất trên đồ thị.

Tuy nhiên, những ngày tháng khó khăn đó đã trở thành kỷ niệm không thể nào quên với vị giám đốc quốc gia của một trong những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Và tình yêu, sự gắn bó đã đưa ông Jee Toon trở lại Việt Nam với nhiệm kỳ mới, kể từ cuối năm 2018.

“Khi quay trở lại, tôi đã chứng kiến những sự chuyển biến to lớn của cả nền kinh tế Việt Nam chỉ trong một thời gian rất ngắn,” ông Tan Jee Toon xúc động nói.

Đây cũng là cảm nhận chung của nhiều lãnh đạo các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ khi đã có “thâm niên” làm việc tại Việt Nam.

Kích hoạt các sáng kiến công nghệ số

Đánh giá tiềm năng kinh doanh tại Việt Nam trong bối cảnh mới, vị Tổng giám đốc IBM Việt Nam nhấn mạnh: “Dễ nhận thấy nhất là sự bùng nổ của ngành bán lẻ và bất động sản. Tiêu chuẩn sống của người dân cũng được cải thiện đáng kể, các ngành công nghiệp bắt đầu đầu tư cho tự động hóa, số hóa và chuyển đổi kỹ thuật số. Các lĩnh vực mũi nhọn như ngân hàng, sản xuất bắt đầu kích hoạt các sáng kiến hỗ trợ chuyển đổi công nghệ thông tin.”

 Ông Tan Jee Toon, Tổng giám đốc IBM Việt Nam
Ông Tan Jee Toon, Tổng giám đốc IBM Việt Nam

Theo ông Tan Jee Toon, sự gia tăng của các dịch vụ tư vấn chuyển đổi số toàn diện cho thấy nhu cầu của doanh nghiệp nội địa trong kế hoạch phát triển dài hạn. Bên cạnh đó, làn sóng người Việt Nam sống ở nước ngoài trở về quê hương đã góp phần nâng cao nền tảng kỹ năng công nghệ cũng như đầu tư kinh doanh và đây là một phần của hệ sinh thái.

“Điều chúng ta đều có thể nhận thấy là các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang tích cực khai thác chuyên môn công nghệ cao từ bên ngoài đồng thời tăng tốc các kỹ năng của nguồn lực trong nước hơn bao giờ hết. Theo tôi, đó đều là những tín hiệu tích cực cho nền kinh tế,” ông Tan Jee Toon nói.

Là một trong những nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên trở lại Việt Nam từ năm 1994, trải qua hơn 25 năm chứng kiến nhiều biến động từ môi trường, kinh tế và xã hội, đến nay Coca-Cola ngoài việc trở thành một biểu tượng về văn hóa ẩm thực của nước Mỹ thì họ còn được biết tới với nhiều đóng góp tích cực, lan tỏa các giá trị tốt đẹp thông qua những hành động cụ thể, thiết thực trong cộng đồng và xã hội ở đất nước hình chữ S.

“Khi quay trở lại, tôi đã chứng kiến những sự chuyển biến to lớn của cả nền kinh tế Việt Nam chỉ trong một thời gian rất ngắn,”

Thời gian qua, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp trong đó có Coca-Cola đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, bà Lê Từ Cẩm Ly- Giám đốc Đối ngoại, Truyền thông và Phát triển Bền vững Coca-Cola Đông Dương vẫn đánh giá cao tiềm năng kinh doanh tại Việt Nam với môi trường vĩ mô ổn định, dân số trẻ, năng động và ham học hỏi.

“Việt Nam là thị trường tiềm năng với nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Trong những năm qua, Việt Nam đã thu hút vốn đầu tư quốc tế mạnh mẽ trong bối cảnh nền kinh tế trong nước duy trì đà tăng trưởng khả quan. Là một nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Coca-Cola đánh giá cao sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam kể từ ngày đầu hoạt động. Các chính sách thu hút đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh đã cho phép chúng tôi tiếp tục sứ mệnh hướng tới tăng trưởng bền vững và mang lại nhiều sản phẩm có chất lượng dành cho người tiêu dùng, cũng như thực hiện các hoạt động cộng đồng,” bà Ly nhấn mạnh.

Coca-Cola đóng góp tích cực các giá trị tốt đẹp thông qua các hành động cụ thể, thiết thực trong cộng đồng và xã hội ở đất nước hình chữ S. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Coca-Cola đóng góp tích cực các giá trị tốt đẹp thông qua các hành động cụ thể, thiết thực trong cộng đồng và xã hội ở đất nước hình chữ S. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Việt Nam sẽ trở thành trung tâm R&D

Với ông Thiều Phương Nam-Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam và Lào, Campuchia thì Việt Nam là điểm đến hấp dẫn cho đầu tư vì có môi trường rất thuận lợi.

Ông chỉ ra với vị trí chiến lược, sự ổn định vĩ mô và chất lượng sống cùng với nguồn lực mạnh mẽ, Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của các tập đoàn, công ty lớn trên thế giới, trong đó có các công ty của Hoa kỳ. Với các thỏa thuận thương mại thế hệ mới vừa hoàn thành như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), kinh tế Việt nam được dự báo là sẽ tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Việt Nam không chỉ là trung tâm sản xuất lớn của thế giới mà còn là trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D)

Riêng trong lĩnh vực công nghệ cao, ông Nam cho rằng Việt Nam không chỉ là trung tâm sản xuất lớn của thế giới mà còn là trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) với sự đầu tư mạnh mẽ của các công ty trong nước và quốc tế trong nhiều lĩnh vực công nghệ quan trọng như 5G, AI, IoT và Smart city… Hiện nay, các sản phẩm công nghệ cao được thiết kế và sản xuất tại Việt Nam đang được xuất khẩu và sử dụng trên toàn thế giới.

Ông Thiều Phương Nam-Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam và Lào, Campuchia.
Ông Thiều Phương Nam-Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam và Lào, Campuchia.

“Với sự hỗ trợ manh mẽ của Chính phủ thông quan các chương trình như “make in Vietnam” và Công nghiệp 4.0 cũng như quyến tâm triển khai 5G trong năm 2020, môi trường đầu tư nói chung và ngành công nghệ cao nói riêng được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ,” ông Nam nhận định.

Trong bối cảnh đó, ông Nam cho biết mới đây Qualcomm đã ra mắt trung tâm R&D tại Hà Nội và là trung tâm R&D đầu tiên của Qualcomm ở Đông Nam Á nhằm hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa chiến lược “make in Vietnam” cũng như các công ty công nghệ nội địa như VinSmart, BKAV, Viettel và VNPT tiếp cận các công nghệ mới, với quy trình kiểm định sản phẩm theo tiêu chuẩn cao nhất để cung cấp không những cho thị trường trong nước mà còn cho các thị trường quốc tế.

Dẫn đầu thúc đẩy chuỗi cung ứng và thương mại

Ở góc độ khái quát, ông Tan Jee Toon cho rằng với Quyết định số 7449/QĐ-TTg vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về Chương trình chuyển đổi kỹ thuật số quốc gia vào năm 2025 với định hướng đến năm 2030, Việt Nam sẽ chứng kiến một sự chuyển đổi số mạnh mẽ của các doanh nghiệp nội địa trong tương lai gần.

“Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng tăng cường hợp tác mạnh mẽ với khu vực tư nhân khi bắt đầu phát triển và thực hiện chính sách Công nghiệp 4.0 toàn diện. Thời gian qua, IBM đã phối hợp với các đối tác như Phòng thương mại Mỹ (Amcham) và Hội đồng doanh nghiệp Mỹ-ASEAN đóng góp các quan điểm và ý kiến cho chiến lược dài hạn này của Chính phủ. Theo đó, Chính phủ cam kết chính sách này được tập trung và có thể được thực hiện bởi các công ty thuộc mọi quy mô trong các ngành công nghiệp. Chiến lược này cũng phù hợp với kế hoạch thúc đẩy thương mại đầy triển vọng của nền kinh tế Việt Nam,” ông Tan Jee Toon nói.

Đánh giá khách quan, ông Tan Jee Toon cho rằng Việt Nam đang dẫn đầu trong việc thúc đẩy hội nhập chuỗi cung ứng và thương mại trên khắp châu Á-Thái Bình Dương. Hiện Việt Nam giữ vị trí thành viên hàng đầu của CPTPP và là tiếng nói mạnh mẽ trong khối ASEAN để thúc đẩy hội nhập thương mại hơn nữa.

“Điều này bao gồm các hoạt động thúc đẩy hội nhập thương mại kỹ thuật số giữa các thành viên ASEAN, bằng cách khuyến khích tăng cường chia sẻ các nguồn dữ liệu xuyên biên giới một cách an toàn và bảo mật, điều cần thiết cho nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21,” ông Tan Jee Toon mạnh./.

Qualcomm ra mắt trung tâm R&D tại Hà Nội. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Qualcomm ra mắt trung tâm R&D tại Hà Nội. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Người lao động:

cần thích ứng với các doanh nghiệp ‘thông minh’

Hạnh Nguyễn

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam đang trở thành điểm thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thế hệ mới, trong đó có các nhà đầu tư đến từ Hoa Kỳ. Nền kinh tế trở nên cạnh tranh sẽ tạo động lực thúc đẩy các thị trường, đặc biệt là thị trường lao động với những thay đổi nhanh chóng.

Kết hợp giữa công nghệ và lao động

Báo cáo về xu hướng lực lượng lao động tại 20 nền kinh tế trong Diễn đàn kinh tế thế giới 2019 chỉ ra hơn 42% tổng số công việc sẽ thay đổi đáng kể vào năm 2022, bao gồm những yêu cầu về các kỹ năng mới như phân tích hoặc tư duy thiết kế, và kỹ năng mềm như giải quyết vấn đề phức tạp.

Các doanh nghiệp sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đổi mới trong phương thức tổ chức và hoạt động, để trở thành các doanh nghiệp “thông minh”

Bà Lê Từ Cẩm Ly, Giám đốc Đối ngoại, Truyền thông và Phát triển Bền vững Coca-Cola Đông Dương, chia sẻ các doanh nghiệp sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đổi mới trong phương thức tổ chức và hoạt động, để trở thành các doanh nghiệp “thông minh”.

Theo bà Ly, để chuẩn bị cho những sự chuyển dịch mạnh mẽ này, người lao động cần trang bị cho mình khả năng thích ứng và học hỏi. Bên cạnh đó, các kỹ năng công nghệ, số hóa cũng là những lĩnh vực mà người lao động cần tập trung trau dồi.

“Coca-Cola đề cao văn hóa trao quyền và sự gắn kết, theo đó người lao được khuyến khích chủ động vạch ra con đường mà họ muốn phát triển. Chúng tôi chấp nhận để họ mắc sai lầm, học và trưởng thành từ những sai lầm đó. Công ty không giới hạn tài năng của nhân viên,” bà Ly nói.

Các bạn trẻ tham gia cuộc thi Hùng biện về môi trường do Greenhub và Coca-Cola tổ chức. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Các bạn trẻ tham gia cuộc thi Hùng biện về môi trường do Greenhub và Coca-Cola tổ chức. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Không nhất thiết phải có bằng cử nhân đại học

Tổng giám đốc IBM Việt Nam, ông Tan Jee Toon chia sẻ cần phải có sự kết hợp giữa công nghệ và nguồn lao động để đưa quá trình chuyển đổi số của quốc gia đến thành công. Một trong những rào cản chính làm chậm quá trình chuyển đổi kỹ thuật số ở Việt Nam là khả năng chuyên môn sâu và cần thiết của người lao động, những kỹ năng mới để nắm bắt những yêu cầu công nghệ, nơi máy móc và con người có thể làm việc cùng nhau.

Để giải quyết vấn đề trên, ông Tan Jee Toon cho rằng các đối tác khu vực công và tư nhân cần phải cùng nhau cung cấp cho sinh viên các cơ hội và kỹ năng học tập, rèn luyện kỹ thuật và chuyên môn, như tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, giao tiếp và hợp tác… để cạnh tranh trong nền kinh tế kỹ thuật số.

“Sự tham gia của khối doanh nghiệp tư nhân sẽ thúc đẩy cơ hội tham gia vào việc học đi đôi với hành theo cách lâu dài, có ý nghĩa, phát triển tài năng của lực lượng lao động mới. Bối cảnh mới, một loạt các yêu cầu công việc đang gia tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện toán đám mây, an ninh mạng và thiết kế kỹ thuật số. Điều này đòi hỏi nhiều hơn bằng tốt nghiệp trung học song không nhất thiết phải có bằng cử nhân đại học,” ông Tan Jee Toon nói.

Sự tham gia của khối doanh nghiệp tư nhân sẽ thúc đẩy cơ hội tham gia vào việc học đi đôi với hành theo cách lâu dài, có ý nghĩa, phát triển tài năng của lực lượng lao động mới.

Bên cạnh đó, ông Thiều Phương Nam-Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam và Lào, Campuchia khuyến cáo ngoài các kiến thức chuyên môn, các bạn trẻ cần chuẩn bị và hoàn thiện các kỹ năng mềm, như ngoại ngữ, kỹ năng làm việc trong môi trường đa quốc gia, đa văn hóa, khả năng làm việc nhóm và tự học.

“Các công ty cũng có các chương trình huấn luyện nội bộ nên các bạn trẻ cũng có thể tích lũy kinh nghiệm theo thời gian,” ông Nam chia sẻ.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Ly cho hay: “Tại Coca-Cola, điều quan trọng hơn cả chính là tinh thần và sự cam kết của các thành viên. Đây chính là chất kết dính và là nguồn năng lượng vô tận tiếp lửa cho bất cứ ai khi làm việc trong công ty.”

Cam kết trách nhiệm chuyển giao công nghệ

Khi được phỏng vấn về chiến lược kinh doanh trong thời gian tới, các nhà quản lý doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ cho biết họ cam kết đẩy mạnh công nghệ song song với việc có trách nhiệm với môi trường, cộng đồng và xã hội.

Ông Nam chia sẻ chiến lược của Qualcomm tại Việt Nam là tập trung vào hỗ trợ, chuyển giao công nghệ để giúp các công ty Việt Nam có thể thiết kế và sản xuất các sản phẩm, trong đó có các sản phẩm 5G với công nghệ và chất lượng cao nhất nhằm cung cấp không chỉ cho thị trường trong nước mà còn ra các thị trường khác trên thế giới.

Cần có sự kết hợp giữa công nghệ và nguồn lao động để đưa quá trình chuyển đổi số của quốc gia đến thành công. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Cần có sự kết hợp giữa công nghệ và nguồn lao động để đưa quá trình chuyển đổi số của quốc gia đến thành công. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của Qualcomm, các phòng radio tần số (Labs RF), camera, hỗ trợ tương thích (Interoperatility) và năng lượng, hiệu suất và nhiệt (Labs PPT-Power, Performane, Thermal) sẽ giúp các công ty trong nước nhận được sự hỗ trợ của Qualcomm ngay tại Việt Nam mà không khải gửi sản phẩm ra thế giới. Như vậy, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí, đặc biệt là cho các sản phẩm xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài.

Ông Nam cho biết thêm một trong các trọng tâm khác của Qualcomm là hỗ trợ Việt Nam triển khai thành công 5G từ chính sách băng tần, xây dựng chiến lược cho thiết kế hạ tầng mạng lưới đến việc thiết kế các sản phẩm đầu cuối.

Một trong các trọng tâm khác của Qualcomm là hỗ trợ Việt Nam triển khai thành công 5G. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Một trong các trọng tâm khác của Qualcomm là hỗ trợ Việt Nam triển khai thành công 5G. (Ảnh: PV/Vietnam+)

“Công nghệ 5G dự báo sẽ tạo ra giá trị 1.000 tỷ USD trong 2 năm tới và 13.200 tỷ USD đến năm 2035 trên toàn cầu và đây sẽ là một cơ hội lớn cho Việt Nam. Bên cạnh đó, 5G cũng sẽ là hạ tầng công nghệ quan trọng cho chiến lược Công nghiệp 4.0 của Chính phủ và là nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam,” ông  Nam nói.

Trong khi đó, ông Tan Jee Toon cho biết IBM cam kết là đối tác đồng hành cùng công cuộc chuyển đổi kỹ thuật số của Việt Nam bằng cách đưa các công nghệ tiên tiến nhất vào phân tích dữ liệu và cung cấp những giải pháp hữu ích cho các doanh nghiệp trong các ngành chăm sóc sức khỏe, sản xuất, bán lẻ, nông nghiệp, hàng không, tài chính, ngân hàng và kinh doanh.

“Tôi cho rằng những thử nghiệm về trí tuệ nhân tạo cũng như chuyển khối lượng công việc đơn giản lên đám mây có thể coi là Chương 1 của quá trình chuyển đổi số. Song, sự phát triển vũ bão của công nghệ cộng thêm những tác động từ đại dịch COVID-19 thực sự là một cú hích lớn, để mọi ngành công nghiệp đều phải nhận ra rằng chúng ta cần nhanh chóng chuyển sang Chương 2 của chuyển đổi số. Theo đó, các tổ chức và doanh nghiệp cần phải chuyển từ thử nghiệm sang chuyển đổi thực sự, đạt được tốc độ và quy mô để nắm lấy cơ hội kinh doanh và gia tăng khả năng cạnh tranh của mình,” ông Tan Jee Toon nói.

Mặc dù ảnh hưởng rất lớn từ đại dịch COVID-19, song bà Ly khẳng định Coca-cola cam kết tiếp tục theo đuổi chiến lược kinh doanh dài hạn trở thành công ty nước giải khát toàn diện. “Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục ưu tiên các mục tiêu phát triển bền vững xoay quanh bốn yếu tố chính, gồm nguồn nước sạch-bảo tồn thiên nhiên, nâng cao năng lực kinh tế cho phụ nữ, chương trình sức khỏe và phúc lợi cộng đồng, quản lý rác thải nhựa và nhựa tái chế,” bà Ly chia sẻ./.

IBM Việt Nam. (Ảnh: PV/Vietnam+)
IBM Việt Nam. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Việt Nam-Hoa Kỳ:

Xây dựng mối quan hệ gắn bó và bền chặt

Hạnh Nguyễn

“Năm nay, Việt Nam và Hoa Kỳ kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đánh dấu một sự thay đổi đầy ý nghĩa. Sự tin cậy lẫn nhau đã giúp cho hai nước chúng ta vượt qua những bi kịch trong quá khứ và cùng hướng tới xây dựng một mối quan hệ gắn bó và bền chặt,” ông Adam Sitkoff, Giám đốc điều hành Phòng thương mại Mỹ (AmCham) trả lời phỏng vấn VietnamPlus.

Hai mươi năm sinh sống và làm việc tại Hà Nội, ông Adam Sitkoff  có nhiều tình cảm sâu sắc với Việt Nam và tin tưởng những cơ hội hợp tác đầu tư tại Việt Nam trong tương lai.

Ông đánh giá như thế nào về bước tiến trong quan hệ ngoại giao hai nước?

Ông Adam Sitkoff: Đây là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đa phương diện. Về kinh tế, Hoa Kỳ là đối tác thương mại, nhà đầu tư quan trọng của Việt Nam. Về chính trị, Việt Nam và Hoa Kỳ có cùng quan điểm hướng tới hòa bình và ổn định ở Đông Á cũng như việc giảm thiểu tác động của đại dịch COVID-19-vốn đã làm đảo lộn cuộc sống, đe dọa việc làm của hàng triệu người, phá vỡ hệ thống thương mại toàn cầu, trong đó cả hai quốc gia cùng bị ảnh hưởng.

Hai mươi năm sinh sống và làm việc tại Hà Nội, ông Adam Sitkoff  có nhiều tình cảm sâu sắc với Việt Nam và tin tưởng những cơ hội hợp tác đầu tư tại Việt Nam trong tương lai.

Hiện hai nước có một mối quan hệ bền chặt, gắn bó và tôn trọng lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực, bao gồm: An ninh khu vực, giáo dục, y tế toàn cầu, an ninh lương thực và năng lượng, ứng phó thảm họa…

Bên cạnh đó, các liên kết văn hóa cũng có tầm quan trọng lớn, khi mà cộng đồng người Việt sống ở Hoa Kỳ hiện đông nhất so với các nước khác. Có thể nói rằng người Mỹ gốc Việt đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam. Đầu tư của họ, bằng cả tài năng và tinh thần kinh doanh, đã góp phần thúc đẩy kinh tế trong nước tăng trưởng ấn tượng.

ông Adam Sitkoff, Giám đốc điều hành Phòng thương mại Mỹ (AmCham) trả lời phỏng vấn VietnamPlus.
ông Adam Sitkoff, Giám đốc điều hành Phòng thương mại Mỹ (AmCham) trả lời phỏng vấn VietnamPlus.

Nhìn lại, nếu như năm 1995 chỉ có 60.000 người Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam thì năm 2019, con số này đã đạt xấp xỉ 700.000 lượt khách. Chúng tôi hy vọng tốc độ tăng trưởng này sẽ đẩy mạnh hơn nữa khi du lịch quốc tế bình thường trở lại sau đại dịch. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng đang đón nhận hơn 30.000 sinh viên Việt Nam đến học tập, tiếp thu những kỹ năng và kiến thức cần thiết cho tương lai.

Thương mại song phương hai nước ngày càng phát triển, song vẫn còn rất nhiều tiềm năng. Theo ông, các doanh nghiệp hai nước cần tiếp cận những tiềm năng đó như thế&nb nào và Amcham có kế hoạch gì để kết nối thương mại, đầu tư hai nước trong giai đoạn tới?

Ông Adam Sitkoff: Thương mại là nền tảng của mối quan hệ song phương hai nước. Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn trong sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Tôi còn nhớ, ngay sau khi hai nước vừa nối lại quan hệ kinh tế, một nhóm nhỏ người Mỹ tới Việt Nam đầu tư đã lập nên Phòng Thương mại Mỹ (AmCham). Cuộc họp đầu tiên diễn ra tại khách sạn Dragon gần Hồ Tây, Hà Nội vào tháng 4/1994, đây là khoảng thời gian Amazon được thành lập và Justin Bieber bắt đầu sự nghiệp ca hát.

Ngày đó, AmCham đã tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến, kết nối cho các thành viên của cộng đồng với các cơ quan chức năng của Chính phủ và địa phương. Theo thời gian, các thành viên AmCham đã ngày càng lớn mạnh và đóng góp đáng kể vào quá trình tái cơ cấu cũng như tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Điểm đáng ghi nhận là nhiều thành viên kỳ cựu của Amcham đã trở thành những cầu nối gắn kết bình thường hóa mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia chúng ta.

Có thể nói, AmCham-với vai trò là “tiếng nói của doanh nghiệp Hoa Kỳ” tại Việt Nam, đã hỗ trợ tích cực cho sự thành công của các thành viên thông qua việc thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh lành mạnh, tăng cường quan hệ thương mại song phương hay cung cấp thông tin và tổ chức các sự kiện chất lượng cao.

Các thành viên AmCham đang đại diện hàng tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này cũng tạo ra hàng chục ngàn việc làm trực tiếp, hàng trăm ngàn công việc gián tiếp. Hiện các doanh nghiệp Hoa Kỳ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng như nộp thuế vào ngân sách Nhà nước.

Các doanh nghiệp Hoa Kỳ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất  khẩu của Việt Nam cũng như nộp thuế vào ngân sách Nhà nước.(Ảnh minh họa/TTXVN)
Các doanh nghiệp Hoa Kỳ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng như nộp thuế vào ngân sách Nhà nước.(Ảnh minh họa/TTXVN)

Thưa ông, đâu là những yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư Hoa Kỳ đến với Việt Nam? Chính phủ và các chính quyền địa phương cần phải làm gì để thu hút được các nhà đầu tư lớn?

Ông Adam Sitkoff: Đại dịch COVID-19 đã khiến của hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư Hoa Kỳ bị chậm lại. Nhưng một thực tế là các công ty và nhà đầu tư của chúng tôi vẫn đang hoạt động trong hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam. Xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam đã tăng hơn bốn lần trong thập kỷ qua và Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, ngay cả trong thời kỳ đại dịch khủng khiếp này.

Nhiều nhà đầu tư Hoa Kỳ chia sẻ rất lạc quan về triển vọng kinh doanh tại Việt Nam.

Hướng tới tương lai, chúng tôi hy vọng cả hai chính phủ cùng nỗ lực thực thi Hiệp định thương mại tự do song phương. Điều này sẽ giúp cải thiện dòng vốn đầu tư và thương mại, hỗ trợ chuỗi cung ứng bền vững, cải thiện điều kiện kinh doanh, củng cố khu vực tư nhân, đảm bảo phát triển kinh tế và xã hội bền vững cũng như thúc đẩy sự thịnh vượng.

Nhiều nhà đầu tư Hoa Kỳ chia sẻ rất lạc quan về triển vọng kinh doanh tại Việt Nam. Chúng tôi ủng hộ những nỗ lực của Chính phủ nhằm tạo ra một nền kinh tế hiện đại, thu hút đầu tư trong tương lai và việc làm lương cao cho người dân Việt Nam. Để làm được điều này, các thủ tục hành chính phải được kiểm soát và khung pháp lý cần ổn định và có thể dự đoán được. Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư vẫn quan ngại về những thay đổi trong chính sách và quy định không phù hợp với thông lệ quốc tế.

Kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Hiệp hội thương mại Mỹ (Ảnh: PV/Vietnam+)
Kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Hiệp hội thương mại Mỹ (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bên cạnh đó, chúng tôi khuyến nghị Chính phủ cần tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, cải cách giáo dục, đảm bảo chính sách pháp luật và thuế cũng như tăng cường tính minh bạch tại Việt Nam.

Hiện nay, điều cần thiết nhất là ban hành các quy định về kiểm toán và thuế phải rõ ràng, công bằng và nhất quán. Nỗi lo thường trực của các nhà đầu tư Hoa kỳ chính là việc họ vẫn cảm nhận một hệ thống kiểm toán và thuế có phần tùy tiện và không thể đoán trước. Do đó, những tiến bộ trong các lĩnh vực này không chỉ giúp thu hút thêm đầu tư nước ngoài, mà còn hỗ trợ cho tham vọng của Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế có tính cạnh tranh.

Với sự mất cân bằng thương mại ngày càng gia tăng, điều quan trọng đối với các thành viên của Amcham là một sân chơi bình đẳng, đẳng cấp và có thể dự đoán nhằm tạo ra một nền tảng thị trường vững chắc. Điều này không chỉ thu hút đầu tư mới mà còn để duy trì và phát triển các dự án đầu tư đã có. Ngoài ra, chúng tôi cho rằng các chính sách “quota” đối với nhà đầu tư nước ngoài, khung pháp lý còn hạn chế và các thủ tục hành chính rườm rà cần được xem xét cẩn thận và nới lỏng có chọn lọc để khuyến khích tăng đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Chúng tôi luôn mong muốn Việt Nam có được nhiều thành công hơn nữa và các nhà đầu tư, dù ở bất kỳ quốc gia nào, cũng đều đánh giá cao các hành động làm tăng năng suất và giảm chi phí, rủi ro khi kinh doanh. Những điều này thực sự giúp ích cho môi trường kinh doanh và cho tất cả các nhà đầu tư. Trên thực tế, việc giảm chi phí và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh sẽ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nội địa nhiều nhất vì hầu hết trong số họ là doanh nghiệp nhỏ.

Là người đã có thời gian gắn bó lâu dài, ông có thể chia sẻ tình cảm và những kinh nghiệm cá nhân trong quá trình làm việc tại Việt Nam?

Ông Adam Sitkoff: Tôi đã sống và làm việc tại Hà Nội gần 20 năm. Tôi thấy có những cơ hội tuyệt vời và tương lai tươi sáng tại đây. Năm nay, đời sống kinh tế-xã hội có nhiều thách thức, khi mà ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế Việt Nam là nghiêm trọng và sẽ còn tiếp tục tác động tiêu cực trong một thời gian khá dài. Cụ thể, hàng triệu việc làm đã biến mất, nhiều người đã bị giảm mức lương và hoạt động kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực đã chậm lại. Bên cạnh đó, số người nhận trợ cấp thất nghiệp trong nửa đầu năm đã tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái đồng thời tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong quý hai đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi Chính phủ bắt đầu công bố dữ liệu kinh tế vào năm 1991. Và ngay cả khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi, áp lực tài chính đối với nhiều công ty vẫn là một sức ép không nhỏ.

Mặc dù tương lai là không thể định đoán, song người dân Việt Nam đã ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh một cách xuất sắc. Thành công này cho phép đất nước khởi đầu nhanh chóng trên con đường phục hồi kinh tế. Theo tôi, những phản ứng hiệu quả của Chính phủ đối với đại dịch sẽ tiếp tục thúc đẩy vị thế Việt Nam trở thành một thị trường hấp dẫn trong tương lai. Song hành cùng quá trình hồi phục kinh tế, AmCham sẽ tiếp tục nỗ lực hỗ trợ Chính phủ Việt Nam hạ thấp các rào cản thương mại, cải thiện các điều kiện kinh doanh và tạo ra một môi trường tiêu chuẩn, minh bạch, ổn định, đảm bảo tất cả các nhà đầu tư có quyền bình đẳng khi tiếp cận các cơ hội đầu tư và làm ăn tại đây./.

Sản xuất ôtô tại nhà máy của Công ty Ford Việt Nam (liên doanh giữa Tập  đoàn ôtô Ford của Hoa Kỳ và Công ty Diesel Sông Công). (Ảnh: Trần  Việt/TTXVN)
Sản xuất ôtô tại nhà máy của Công ty Ford Việt Nam (liên doanh giữa Tập đoàn ôtô Ford của Hoa Kỳ và Công ty Diesel Sông Công). (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Vietnam remains safe destination amid COVID-19

The acute respiratory disease caused by the novel coronavirus SARS-CoV-2 (COVID-19) has been well controlled in Vietnam. The country reported no new cases since the last one on February 13.

Disease prevention and control measures have been taken in a timely, concerted and thorough way. The early detection and zoning off high-risk areas to curb the spread of the disease have initially reaped fruitful results.

The engagement of the whole political system, especially the health sector, coupling with public awareness of protecting themselves and the community, is a solid foundation to believe that Vietnam can overcome COVID-19 while keeping losses at a minimum level.

“Being cautious yet not so frightened”

Analysing the response to COVID-19, Deputy Minister of Health Nguyen Thanh Long affirmed that since the beginning, the Government, the Prime Minister, the Deputy PMs as well as the Ministry of Health have not concealed any information.

“Since the first case was reported, the PM issued an official dispatch and two directives. Afterwards, the Party Central Committee’s Secretariat also sent documents, requesting leaders of Party Committees at all levels to directly oversee this matter. The mobilisation of the entire Party, people and army has become a political task of priority, emergency and great importance,” Long underlined.

COVID-19 prevention and control have become a task not only of the health sector, police and border guard forces but also of the political system and people. It is not just a matter of a single country, but a global issue.

In Official dispatch No 79, the Party Central Committee’s Secretariat asked localities to spare no efforts in battling the disease.

Deputy PM Vu Duc Dam stressed that COVID-19 prevention and control have become a task not only of the health sector, police and border guard forces but also of the political system and people. It is not just a matter of a single country, but a global issue.

The National Institute of Hygiene and Epidemiology (NIHE) has successfully cultivated and isolated the new coronavirus.
The National Institute of Hygiene and Epidemiology (NIHE) has successfully cultivated and isolated the new coronavirus.

He spoke highly of the country’s communication work to raise public awareness of the disease, so that people protect themselves while fighting against COVID-19 in a careful manner yet not to be too frightened.

The World Health Organisation (WHO) Representative in Vietnam, Kidong Park, said that the WHO high valued Vietnam’s success in cultivating and isolating the virus SARS-CoV-2 in the laboratory.

The success is a positive sign for researches on vaccine as well as the treatment for patients.

Efforts of the whole system

The National Steering Committee for COVID-19 Prevention and Control warned localities not to let the guard down while reminded them to strictly carry out guidelines of the Party Central Committee’s Secretariat and the PM on tackling the disease.

They were asked to strictly adhere to entry-exit regulations at border gates.

Especially, relevant agencies must conduct quarantine in line with regulations and prevent transmissions in facilities providing treatment for COVID-19 patients.

At a meeting of permanent government members, PM Nguyen Xuan Phuc stressed that Vietnam was doing well in disease prevention and combat and bringing citizens home, which has been praised by the international community.

Most of the infections have recovered and been discharged from hospitals and the country recorded no deaths.

The PM affirmed: “Vietnam is not only a safe destination thanks to its pandemic effective prevention and control efforts but Vietnam is also safe naturally.”

“Vietnam boasts a safe and attractive tourism, business climate and living environment with a lot of potentials for experiences and business activities. Some sectors and enterprises have not only overcome the challenges caused by the pandemic but also turned risks into chances,” PM Phuc said.

He hoped that people will put their trust in and support the Government in the fight against COVID-19.

Officials check passengers’ temperature at Moc Bai international border gate
Officials check passengers’ temperature at Moc Bai international border gate

WHO lauds Vietnam’s capacity in fighting COVID-19

In its latest update on COVID-19, the WHO Office in Vietnam highly evaluated the country’s capacity in handling the disease.

This is the country’s capacity in standing ready to respond to and control emergency health issues, the WHO noted, stressing that it has been tested through real events in Vietnam and now through COVID-19.

This is the country’s capacity in standing ready to respond to and control emergency health issues, the WHO noted, stressing that it has been tested through real events in Vietnam and now through COVID-19.

The Vietnamese Government kick-started a response system at the initial phase of the disease and tightened supervision and management of infections at health establishments, along with enhancing testing, communications and multi-sectoral cooperation.

US officials also praised Vietnam’s medical capacity and efforts in fighting COVID-19, pledging that the country is willing to join hands with Vietnam and ASEAN in disease prevention and control.

The US side also lauded the efficient cooperation with Vietnam as the country frequently shares information and experiences in fighting the disease.

A checkpoint in Son Loi commune, Binh Xuyen district, Vinh Phuc province
A checkpoint in Son Loi commune, Binh Xuyen district, Vinh Phuc province

The US Department of Health said that Vietnamese leaders have paid attention to and issued timely guidelines to cope with COVID-19, especially in raising public awareness.

A delegation from the US Centers for Disease Control and Prevention (CDC) is set to arrive in Vietnam in March to discuss the establishment of its regional office in Vietnam.

Vietnam once did miracles

In 2003, a new disease named severe acute respiratory syndrome (SARS) broke out in Vietnam. The country confirmed 65 infections, and five doctors died in the fight against the epidemic.

Afterward, 58 SARS patients in Vietnam recovered. The WHO congratulated Vietnam as the first country to successfully bring the disease under control.

After 62 days, efforts and sacrifice of doctors to keep SARS from spreading in the community turned into a success. Such achievements will continue as Vietnam has applied lessons learnt in the past in the current fight against COVID-19./.

Vietnam braces itself to cope with SARS-CoV-2 attack

Party members

More than 90 years ago, the Red Workers’ General Union in Northern Vietnam – the predecessor of the Vietnam General Confederation of Union – was established in connection with the coming into being of the Communist Party of Indochina in Hanoi. The founding of an organisation representing working people was an important result of the propagation of Marxism-Leninism and the policies of leader Nguyen Ai Quoc and the Communist Party of Indochina among the working class.

Immediately after the union’s birth, many of the first generation of workers in Vietnam, such as Ton Duc Thang – a mechanic, or Nguyen Duc Canh – a printing worker, laid the foundation for the development of the working class, gathered forces and thus becoming a reliable mainstay of the Party.

Even though the number of Party members in FDI enterprises is modest compared to the Party’s total membership of 5.2 million, each of them is a bright example of hard work and morality.

Following the glorious tradition, today’s Party members and heads of grassroots-level trade unions are performing a double task, striving to lead the way and set example in all aspects.

Even though the number of Party members in FDI enterprises is modest compared to the Party’s total membership of 5.2 million, each of them is a bright example of hard work and morality.

Every story of them is worth to study and multiply.

Building bilingual regulations in FDI enterprises

Building regulations on coordination between the Party cell in an enterprises and the management is an important task of the Party cell in order to ensure the leading role of the Party organisation and the trade union’s functions to represent workers in the enterprise and protect their legitimate rights and interests. This is particularly important in enterprises in which the State does not hold a dominating stake and foreign-invested enterprises.  

Nguyen Huu Tuan (standing), secretary of the Party cell and president of the trade union at Thanh Cong Textile Garment Investment Trading JSC
Nguyen Huu Tuan (standing), secretary of the Party cell and president of the trade union at Thanh Cong Textile Garment Investment Trading JSC

The building of such regulations at enterprises where the managers are foreigners faces even more difficulties. The situation at Thanh Cong Textile Garment Investment Trading Joint Stock Company (TCG) is a typical example.

In 2006, the TGC, then a State-owned enterprise under the Vietnam National Textile and Garment Group, was equitised, in which the State held a 40-percent stake. In 2009, the Eland group from the Republic of Korea became its strategic shareholder, holding a dominating stake and management rights. In 2012, all State capital in the company was divested. All members of the management are foreigners who had little knowledge about Vietnam’s policies and laws.

The change in operating environment from a State-owned enterprise to an FDI enterprise with foreign management was a difficult transition for the Party organisation in TGC.

Nguyen Huu Tuan, secretary of the Party cell and president of the trade union at TGC, recalled that despite sharing the goal of developing production and business and ensuring jobs and incomes for workers, the new management and the company’s Party organisation and workers had many differences in political ideas, culture and language, as well as working methods and styles. Those gaps greatly affected the operation of the Party organisation as well as other mass organisations in the company.

For the foreign management to understand the Party organisation and the trade union in Vietnam, the coordination regulations were written in two languages – English and Vietnamese – and were transferred to the management for consideration, then discussions were held to reach agreement before signing.

In that context, in order to reinstate its role, position and prestige, the Party cell took the initiative in building regulations for the coordination between the cell and the Board of Directors, the Director General; as well as between the Director General and the trade union’s leadership. The regulations were based on equality and cooperation for the legal and legitimate rights and interests of workers, Party members, and the company.

For the foreign management to understand the Party organisation and the trade union in Vietnam, the coordination regulations were written in two languages – English and Vietnamese – and were transferred to the management for consideration, then discussions were held to reach agreement before signing. Based on the regulations, the Party cell and the company management regularly discuss issues in management, and seek agreement in creating conditions for the Party cell, Party members, the trade union and workers to participate in building collective labour contracts, working contracts, benefits for workers.

Besides, during the Party cell’s regular activities, the company management are invited to attend and voice their opinions, and vice versa, the Party cell’s leadership are invited to attend major events of the company, thus creating consensus between the Party cell and the company management.

Holding regular activities under the Party flag in FDI enterprises

In 2013, Cao Van Tien Trang (born 1985, a worker at Nien Hsing Ltd Co in Ninh Binh province) was admitted to the Party organisation in his residential area. Following the instruction of the higher level Party organisation, Trang resolved to set up a Party cell at his working place. In 2014, a Party cell with 18 members was established at Nien Hsing company.

A question for Trang was how to ensure that the monthly Party cell’s meeting as required by Party regulations does not affect the company’s production process, as only then could the Party cell receive support from the company management while maintaining Party activities. The Party cell set the goal of using time efficiently.

Cao Van Tien Trang (first, right) in a trip to present gifts to workers
Cao Van Tien Trang (first, right) in a trip to present gifts to workers

“We agreed that two days before the Party cell’s meeting, the Party cell’s leadership would inform the company management, sections’ managers so that they can arrange working schedule to allow Party members to attend the meeting without affecting the production process,” Trang said.

Realising the positive effect of the Party cell’s activities, in 2018, the company management agreed to let the Party cell fix a regular schedule for meetings

Realising the positive effect of the Party cell’s activities, in 2018, the company management agreed to let the Party cell fix a regular schedule for meetings in the afternoon of the third day of every month.

In particular, the Party cell at Nein Hsing Ninh Binh has maintained a flag saluting ceremony accompanied by activities under the Party flag every Monday. The practice has been spread to other companies in the same industrial park.

Photo: Cao Van Tien Trang, president of the trade union at Nein Hsing Ninh Binh
Photo: Cao Van Tien Trang, president of the trade union at Nein Hsing Ninh Binh

Trang said, “ On the first Monday of a month, we hold a flag saluting ceremony for the entire workshop, followed by briefings on issues informed by the higher level Party organisation. On the remaining Mondays, we only hold a flag saluting ceremony. The national flag is hung in all sections.”

The Party cell’s activities, including the regular flag saluting ceremony, have prompted many workers to strive to become Party members.

The Party cell has made great efforts to start and maintain the practice. At present, every Monday morning, all staff members of the company, including foreigners, solemnly attend the flag saluting ceremony.

The Party cell’s activities, including the regular flag saluting ceremony, have prompted many workers to strive to be admitted to the Party. The Party cell at the company has been upgraded to a Party organisation with 60 members.

Holding Party activities in workers’ style

The Party cell at the Kad Industrial SA Vietnam (Vina Kad), a 100 percent foreign owned company of the Republic of Korea, was among the first Party organisations set up in FDI enterprises in Da Nang in 2012.

Ho Si Tan, Secretary of the Party cell and president of the trade union at Vina Kad, shared that the Party cell attaches great importance to education and popularisation work in order to keep workers informed about guidelines and policies of the Party, State and trade union organisation, helping improve their awareness about their rights and the law.

Photo: Ho Si Tan, president of the trade union at Vina Kad
Photo: Ho Si Tan, president of the trade union at Vina Kad

However, the company management thought that the more workers understand about laws, the more difficult for the company in managing production and business, so they also cited a lack of time as the reason to refuse allocating time for the popularisation work.

To cope with the situation, Tan and other members in the Party cell and the company’s trade union leadership designed plans to hold popularisation activities outside working hours, pledging to the company management that such activities would not affect production. At the beginning, only few workers attended the activities, but through persuasion and efforts to renew the forms of popularisation, more workers were attracted and now 100 percent of workers in the company are eager to go to such events.

From a hotspot of strikes that caused social disorder, our company has become one of the leaders in production and business as well as in caring for workers

According to Tan, his Party cell now holds from 20-30 popularisation events each year, attracting more than 5,000 participants. This has become a regular work of the company with 100 percent of workers attending. It is noteworthy that after maintaining the activity for some time, the situation in the company has gradually changed for the better. The rate of workers violating company rules or absent from work has remarkably reduced.

“From a hotspot of strikes that caused social disorder, our company has become one of the leaders in production and business as well as in caring for workers and has been honoured by authorities and mass organisations every year,” Tan said.

The company management highly valued the role of the Party cell and trade union organisation in bringing about positive changes in the company, contributing to enhancing productivities and business results./.

500.000 CƠ HỘI VIỆC LÀM

Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với tinh thần “Chống dịch như chống giặc,” với mục đích kết nối sức mạnh nội sinh truyền thống từ bao đời nay của người dân Việt Nam, dự án “Việc làm trao tay-Đánh bay COVID-19” là một hoạt động nằm trong tổng thể chuỗi hành động của Chương trình “Văn hóa doanh nghiệp chung tay phòng, chống dịch COVID-19” với chủ đề “Vì Việt Nam khỏe mạnh” do Ban Tổ chức 248 (thành lập theo QĐ số 248/QĐ-TTg ngày 28/2/2018 của Thủ tướng Chính phủ).

Chương trình có sự phối hợp với Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch, Hội Truyền thông số Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Hiệp hội Phát triển Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Hà Nội, Thường trực TW Đoàn TNCSHCM – Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã chính thức được phát động online kể từ ngày 7/4/2020.

500.000 cơ hội việc làm, 80.000 người lao động tìm được việc làm

Chia sẻ về dự án, Bà Dương Thị Tuyết Trinh – Giám đốc Khối khách hàng Ưu tiên của Siêu Việt Group – đơn vị khởi xướng và tổ chức cho biết: “Đây là giai đoạn mà người lao động rất hoang mang khi không biết là sẽ bắt đầu lại sự nghiệp của mình như thế nào. Tuy nhiên, tôi cho rằng người lao động hãy nghĩ một cách tích cực hơn, hãy coi như đây là thời điểm tốt để chúng ta sẵn sàng nắm bắt những cơ hội mới, ở một ngành nghề mới, vị trí mới. Chúng tôi mong muốn Dự án sẽ là cầu nối để người lao động và doanh nghiệp tìm được nhau và trao cho nhau những cơ hội việc làm phù hợp”. Mang tới 200.000 cơ hội việc làm cho người lao động với sự tham gia của 10.000 doanh nghiệp trên cả nước là mục tiêu ban đầu của Dự án “Việc làm trao tay – đánh bay COVID 19.”

Cùng với sự ủng hộ và đồng hành của các đơn vị báo chí truyền thông, các cộng đồng doanh nghiệp, sau 2 tháng triển khai, dự án đã đạt được kết quả vượt xa mục tiêu ban đầu mà ban tổ chức đề ra: mang đến cơ hội đăng tin tuyển dụng nhân sự miễn phí trên 04 website việc làm Timviecnhanh.com, Vieclam24h.vn, Viectotnhat.com, Mywork.com.vn cho 50.000 doanh nghiệp, từ đó tạo ra 500.000 cơ hội việc làm, giúp 80.000 người lao động tìm được việc làm mới.

Đây là những con số biết nói cho thấy được sự nỗ lực của những người thực hiện dự án cũng như sự đồng hành lan tỏa giá trị đến từ các tổ chức, cộng đồng và các cá nhân có ảnh hưởng trong xã hội trong việc đưa dự án đến gần hơn với người lao động và thực sự giúp đỡ họ vượt qua tình trạng mất việc, thiếu việc thời COVID-19.

Sức lan tỏa mạnh mẽ của tinh thần “Đánh bay thất nghiệp”

Trong 2 tháng diễn ra, Dự án đã nhận được sự đồng hành của 85 đơn vị là các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, cùng 42 chuyên gia về đào tạo nhân sự, người có tầm ảnh hưởng, chủ các doanh nghiệp…

Trong đó có 55 đơn vị báo chí truyền thông, 04 kênh truyền hình đã chung tay lan tỏa thông tin về Dự án đến các doanh nghiệp và người lao động trên cả nước, mang đến những hỗ trợ kịp thời góp phần đẩy lùi thất nghiệp.

Ban tổ chức cũng đẩy mạnh hoạt động truyền thông trên các mạng xã hội được ưa chuộng hiện nay nhằm đưa thông tin về chương trình đến với đông đảo người lao động, đặc biệt là các bạn trẻ.

Kênh TikTok “Đánh bay thất nghiệp” của dự án chính thức hoạt động từ ngày 10/05/2020 thu hút trên 18.900 người theo dõi, nhận được 34.100 lượt yêu thích, tổng số video được gắn hastag #danhbaythatnghiep là 44.321 video, tổng lượt xem video là hơn 200.000.000 lượt.

Tổng lượt tiếp cận thông qua hoạt động truyền thông trên các trang mạng xã hội lên đến hơn 290.000.000 lượt.

05 Talkshow “Đánh bay thất nghiệp” đồng hành cùng người lao động trong giai đoạn “bình thường mới”

Tháng 5/2020, khi dịch bệnh đã dần được kiểm soát và cả nước bước vào giai đoạn “bình thường mới,” nhu cầu tìm kiếm việc làm của người lao động tăng cao, rất nhiều người lao động vẫn đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, chán nản vì không tìm được việc làm phù hợp và phải tìm cách thích nghi với những yêu cầu mới đến từ nhà tuyển dụng.

Với vai trò là cầu nối giữa ứng viên và các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng, Siêu Việt Group tiếp tục khởi xướng và tổ chức chuỗi online Talkshow mang tên “ĐÁNH BAY THẤT NGHIỆP” nhằm mang đến những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp hữu ích và những thông điệp tích cực cho người lao động.

Đồng tổ chức chuỗi talkshow là nền tảng ứng dụng TikTok, LinkStar Event Centric Agency, Edumall, BOND Training & Development, Công ty CP đầu tư IGV – Group. Chuỗi hoạt động “Đánh bay thất nghiệp” bao gồm 05 talkshow trực tuyến được livestream đồng thời trên hai kênh Facebook và TikTok.

Chương trình có sự góp mặt của hơn 20 diễn giả khách mời là những chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự và CEO của nhiều tập đoàn, công ty lớn trong nhiều lĩnh vực, họ đã cùng nhau trải qua hơn 450 phút trò chuyện nhằm mang đến cái nhìn toàn cảnh về thị trường lao động hậu COVID-19 cùng với đó là những chia sẻ về nhu cầu của nhà tuyển dụng, đưa ra nhiều lời khuyên, dự báo cần thiết và giải đáp thắc mắc của người lao động. Trải qua 5 số Talkshow, chương trình đã thu hút trên 100.000 lượt theo dõi và hơn 20.000 lượt tương tác trực tiếp tại video livestream.

Chuỗi video chia sẻ kiến thức và 200 khóa học online miễn phí dành cho người lao động

Bên cạnh 05 Live-Talkshow, dự án “Việc làm trao tay-Đánh bay COVID-19” còn mang đến 200 khoá đào tạo online miễn phí đến từ nền tảng học tập trực tuyến Edumall thuộc nhiều chủ đề: Khóa học Công nghệ thông tin, Khóa học Phát triển bản thân, Khóa học Ngoại ngữ, Khóa học Kinh doanh khởi nghiệp…

Cùng với đó, thông qua mạng xã hội TikTok, người lao động có cơ hội tiếp cận với rất nhiều video chia sẻ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đến từ các doanh nghiệp – nhà tuyển dụng trên cả nước. Một số doanh nghiệp lớn đồng hành cùng dự án: FPT Telecom, Công ty Bất động sản Đất Xanh miền Bắc, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Bitis, Family Mart…

Các video đoạn trích ấn tượng từ chuỗi Talkshow “Đánh bay thất nghiệp” được ban tổ chức đăng tải trên 04 Fanpage: Việc làm 24h, Timviecnhanh.com, MyWork – Cổng Tuyển dụng, Tìm Việc làm Uy tín, Hiệu quả, Việc tốt nhất và kênh kênh TikTok Danhbaythatnghiep đã thu hút trên 1.5 triệu lượt theo dõi.

Lời kết

Sau hơn hai tháng triển khai, Dự án “Việc làm trao tay-Đánh bay COVID-19” đã chính thức kết thúc vào ngày 30/06/2020, tuy nhiên Siêu Việt Group cùng các đối tác đồng hành sẽ tiếp tục vai trò là cầu nối của nhà tuyển dụng và ứng viên.

Các video chia sẽ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp vẫn được cập nhật thường xuyên trên kênh TikTok Danhbaythatnghiep với hi vọng những tri thức và kinh nghiệm làm việc được đúc kết thông qua Dự án sẽ có giá trị lâu dài, thúc đẩy tinh thần chủ động và trạng thái năng động của người lao động.

Hơn hết, đội ngũ 700 nhân viên đến từ Siêu Việt Group cùng 4 cổng thông tin việc làm trực tuyến sẽ luôn tích cực hoạt động để mang đến nhiều cơ hội việc làm hơn nữa cho người lao động. Truy cập ngay 04 website Timviecnhanh.com, Vieclam24h.vn, Viectotnhat.com, Mywork.com.vn.

Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ

Đêm 11/7/1995 (ngày 12/7/1995 giờ Việt Nam), Tổng thống William J. Clinton công bố “bình thường hóa quan hệ” với Việt Nam. Sáng 12/7/1995, tại Hà Nội (11/7 theo giờ Mỹ), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Kể từ khi Việt Nam-Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, đến nay, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã chuyển đổi thành công từ đối đầu sang bạn bè, và trở thành đối tác toàn diện từ chính trị-ngoại giao, kinh tế, giáo dục, khoa học-công nghệ, đến quốc phòng-an ninh; với động lực hợp tác ngày càng củng cố, mạnh mẽ hơn, các lĩnh vực hợp tác ngày càng rộng, sâu, đa dạng, thực chất, hiệu quả và lợi ích hài hòa có tầm quan trọng chiến lược.

Quan hệ chính trị-ngoại giao với hàng loạt dấu ấn quan trọng

Sau khi tuyên bố bình thường hóa quan hệ và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, đến ngày 5/8/1995, tại Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã ký Nghị định thư, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ.

Ngay sau đó, hai nước đã khai trương Đại sứ quán tại Washington và Hà Nội (vào tháng 8/1995).

Việc thông qua Tuyên bố Tầm nhìn chung Việt Nam-Hoa Kỳ cho thấy sự thẳng thắn, cởi mở giữa lãnh đạo Việt Nam và Hoa Kỳ trong trao đổi các vấn đề trước đây được coi là nhạy cảm.

Tháng 11/2000 Tổng thống Hoa Kỳ William J. Clinton thăm Việt Nam. Ông Clinton là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thăm chính thức Việt Nam. Ông Clinton được xem là người đóng góp quan trọng vào quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam -Hoa Kỳ cả khi còn đương chức lẫn lúc đã rời nhiệm sở.

Tháng 6/2005, Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Hoa Kỳ

Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống George W.Bush. Đây là lần đầu tiên một Thủ tướng Việt Nam thăm Hoa Kỳ sau chiến tranh. Trong chuyến thăm này, hai nước đã ký Thỏa thuận Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật cũng như các thỏa thuận về sự phê chuẩn quốc tế, tình báo và hợp tác quân sự. Thủ tướng, cùng với hơn 100 đại diện của khu vực công và tư nhân đến thăm ba thành phố khác và ký kết nhiều hợp đồng kinh doanh lớn.

Đêm 11/7/1995 (giờ Mỹ), Tổng thống Hoa Kỳ William Jefferson Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. (Ảnh: The White House/TTXVN phát)
Đêm 11/7/1995 (giờ Mỹ), Tổng thống Hoa Kỳ William Jefferson Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. (Ảnh: The White House/TTXVN phát)

Tháng 11/2006 Tổng thống Hoa Kỳ George W.Bush có chuyến thăm 4 ngày đến Việt Nam trong khuôn khổ các cuộc họp của các nhà Lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC).

Tổng thống Mỹ George Bush và Ngoại trưởng Condoleezza Rice đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Thương mại Susan Schwab tham dự cuộc họp Bộ trưởng APEC, các cuộc họp song phương và cũng tham dự vào các sự kiện khác diễn ra ở Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18/11.

Tháng 6/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống George W.Bush. Chủ tịch nước đã hội kiến với Tổng thống George W. Bush để thảo luận về hợp tác kinh tế và thương mại. Việc đánh giá Rà soát Thỏa thuận Thương mại Song phương đã diễn ra tại Washington. Thứ trưởng Bộ Thương mại Nguyễn Cẩm Tú và Phó Đại diện Thương mại Karan Bhatia ký kết Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA) vào ngày 21/6.

Sáng 12/7/1995, tại Hà Nội (11/7 theo giờ Mỹ), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. (Ảnh: Minh Đạo/TTXVN)
Sáng 12/7/1995, tại Hà Nội (11/7 theo giờ Mỹ), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. (Ảnh: Minh Đạo/TTXVN)

Tháng 6/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoa Kỳ theo lời mời Tổng thống George W. Bush. Trong các cuộc hội đàm với các quan chức cao cấp của Mỹ, gồm có các lãnh đạo Thượng viện và Hạ viện Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ, Thủ tướng đều nhận được những tín hiệu tích cực trong việc thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ song phương trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế, thương mại, đầu tư và giáo dục, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Kết quả chuyến thăm của Thủ tướng đã đánh dấu một mốc son mới trong quan hệ giữa hai nước.

Tháng 7/2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Barack Obama. Kết quả lớn nhất của chuyến thăm là hai bên đã xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ, định hình khuôn khổ quan hệ song phương cho giai đoạn mới cũng như hướng phát triển của quan hệ trong những năm tới.

Lễ kéo cờ và gắn biển khai trương Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, ngày 6/8/1995 tại số nhà 7 Láng Hạ, Hà Nội trước sự chứng kiến của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher. (Ảnh: Xuân Tuân/TTXVN)
Lễ kéo cờ và gắn biển khai trương Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, ngày 6/8/1995 tại số nhà 7 Láng Hạ, Hà Nội trước sự chứng kiến của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher. (Ảnh: Xuân Tuân/TTXVN)

Tháng 7/2015, kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ. Sau cuộc gặp giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, hai bên đã thông qua Tuyên bố Tầm nhìn chung Việt Nam-Hoa Kỳ, cho thấy sự thẳng thắn, cởi mở giữa lãnh đạo Việt Nam và Hoa Kỳ trong trao đổi các vấn đề trước đây được coi là nhạy cảm. Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trong tương lai sẽ thực chất hơn, sâu sắc hơn khi hợp tác các mặt không bị cản trở bởi những khác biệt.

Trong Tuyên bố chung về Tầm nhìn quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ được công bố sau cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Mỹ Barack Obama có đoạn: “Việc thực hiện tốt, đầy đủ và không ngừng làm sâu sắc, phong phú thêm quan hệ đối tác toàn diện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau là cơ sở để xây dựng lòng tin, tiến tới đưa quan hệ phát triển lên một tầm cao mới.”

Tháng 5/2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama thăm chính thức Việt Nam. Hội đàm với Chủ tịch nước Trần Đại Quang tại Phủ Chủ tịch, Tổng thống Obama thống nhất công bố quyết định quan trọng của Mỹ về việc xóa bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam. Tuyên bố chung Việt Nam-Hoa Kỳ được ký kết sau cuộc hội đàm cấp nhà nước này sau đó thể hiện rất nhiều nội dung cam kết về tăng cường hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực. Nhiều văn kiện, dự án quan trọng, quy mô lớn được ký kết.

Chuyến thăm tạo ra một dấu mốc mới trong quan hệ hai nước, khi Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Như vậy, vật cản cuối cùng trong quan hệ song phương đã được xóa bỏ, đánh dấu sự bình thường hóa hoàn toàn quan hệ, đồng thời gửi đi một thông điệp nhiều ý nghĩa về việc tăng cường lòng tin chiến lược và sự thắt chặt quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trong tương lai. Chuyến thăm được đánh giá đã “thể hiện một bước tiến dài trong tư duy của các nhà lãnh đạo Mỹ với Việt Nam.”

Cái bắt tay lịch sử của Thủ tướng Phan Văn Khải và Tổng thống George W. Bush tại Nhà Trắng, ngày 21/6/2005, trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 19 - 25/6/2005, đánh dấu sự phát triển mới trong quan hệ song phương sau 10 năm bình thường hoá. Đây cũng là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ đầu tiên của người đứng đầu Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam sau 30 năm kết thúc chiến tranh. (Ảnh: AP/TTXVN phát)
Cái bắt tay lịch sử của Thủ tướng Phan Văn Khải và Tổng thống George W. Bush tại Nhà Trắng, ngày 21/6/2005, trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 19 – 25/6/2005, đánh dấu sự phát triển mới trong quan hệ song phương sau 10 năm bình thường hoá. Đây cũng là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ đầu tiên của người đứng đầu Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam sau 30 năm kết thúc chiến tranh. (Ảnh: AP/TTXVN phát)

Tháng 5/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Donald Trump. Chuyến thăm đã mở ra chương mới trong quan hệ Đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hai bên cam kết duy trì và phát triển đà quan hệ, đồng thời đạt được nhận thức chung về khuôn khổ mới hợp tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ trong thời gian tới, tạo nên những động lực mới góp trong quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước, góp phần vào hòa bình và thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.

Tháng 11/2017, Tổng thống Hoa Kỳ Donald J. Trump thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao APEC 2017 từ 11-12/11.

Trong Tuyên bố chung giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được đưa ra nhân chuyến thăm, hai bên nhất trí tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau.

Tháng 2/2019, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội với Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao của Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống Barack Obama, ngày 7/7/2015, tại Nhà Trắng ở Thủ đô Washington D.C trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 6-10/7/2015. Đây là chuyến thăm đầu tiên tới Hoa Kỳ của người lãnh đạo cao nhất Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ sau khi kết thúc chiến tranh, đánh một dấu mốc quan trọng mới, mở ra một trang mới trong quan hệ giữa hai nước. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống Barack Obama, ngày 7/7/2015, tại Nhà Trắng ở Thủ đô Washington D.C trong chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 6-10/7/2015. Đây là chuyến thăm đầu tiên tới Hoa Kỳ của người lãnh đạo cao nhất Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ sau khi kết thúc chiến tranh, đánh một dấu mốc quan trọng mới, mở ra một trang mới trong quan hệ giữa hai nước. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chứng kiến Lễ ký kết 4 văn kiện hợp tác giữa hai nước, liên quan đến lĩnh vực hàng không với tổng trị giá khoảng 21 tỷ USD.

Trong 25 năm qua, hai bên cũng trao đổi nhiều đoàn các cấp với các chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch; Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis và mới đây nhất là Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo thăm Việt Nam.

Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trên lĩnh vực chính trị-ngoại giao nhìn chung tiếp tục diễn tiến thuận lợi.  Các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo hai nước thời gian qua đã thực sự làm sâu sắc thêm quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ, thúc đẩy đà phát triển quan hệ trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị của nhau.

Về vấn đề dân chủ, nhân quyền, hai bên tiếp tục đối thoại thẳng thắn, xây dựng về các vấn đề còn khác biệt, không để tác động tiêu cực đến các lĩnh vực hợp tác khác trong quan hệ song phương.

Trên bình diện đa phương, Việt Nam và Hoa Kỳ tăng cường hợp tác, phối hợp tốt tại các diễn đàn quốc tế và khu vực; phối hợp về chương trình nghị sự toàn cầu, củng cố đoàn kết và đề cao vai trò của ASEAN, thúc đẩy quan hệ ASEAN-Hoa Kỳ.

Ngày 5/8/1995, tại Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm ký Nghị định thư, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ. (Ảnh: Xuân Tuân/TTXVN)
Ngày 5/8/1995, tại Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm ký Nghị định thư, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ. (Ảnh: Xuân Tuân/TTXVN)

Hợp tác kinh tế-thương mại tăng trưởng vượt bậc

Cùng với quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác kinh tế-thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ được coi là lĩnh vực hợp tác thành công nhất, đã và đang trở thành trọng tâm, nền tảng, động lực phát triển cho quan hệ chung giữa hai nước.

Hiện Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

25 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, Mỹ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 trong số hơn 100 đối tác thương mại của Việt Nam trên toàn cầu.

Đặc điểm quan trọng trong quan hệ kinh tế, thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ là tính bổ trợ cho nhau.  

Về phía ngược lại, Việt Nam đứng thứ 16 trong số các đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ và tăng trưởng thương mại giữa hai nước hàng năm đạt 20%. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Hoa Kỳ luôn duy trì mức thặng dư lớn.

Kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng gần 120 lần, từ 451 triệu USD (năm 1995) lên 7,8 tỷ USD (năm 2005), 45,1 tỷ USD (năm 2015), 47,15 tỷ USD (năm 2016), 50,8 tỷ USD (năm 2017) và 60,3 tỷ USD (năm 2018).

Kim ngạch thương mại song phương năm 2019 đã lên tới 77,5 tỷ USD. Hiệp hội Doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) từng dự báo kim ngạch thương mại hai nước có thể đạt 80 tỷ USD vào năm 2020.

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải, đặc điểm quan trọng trong quan hệ kinh tế, thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ là tính bổ trợ cho nhau.

Cụ thể, Hoa Kỳ có nhu cầu nhập khẩu lớn các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng hoặc sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh như dệt may, da giày, đồ gỗ, máy móc thiết bị điện tử…

Ở chiều ngược lại, Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị công nghệ cao, thiết bị hàng không, viễn thông và nông sản nguyên liệu là những mặt hàng mà Hoa Kỳ có nguồn cung dồi dào.

Về đầu tư, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2019, Hoa Kỳ đứng thứ 11 trong số 130 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, với gần 1.000 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam và tổng vốn đăng ký gần 10 tỷ USD.

Hoa Kỳ chưa nằm trong top các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư nhiều nhất tại Việt Nam nhưng được đánh giá là một trong những nhà đầu tư có chất lượng. Hoa Kỳ cũng là điểm đến đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam .Trong 5 tháng đầu năm 2020, Hoa Kỳ đứng thứ hai về số vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, với 21,72 triệu USD, chiếm gần 12%.

Ngày 13/07/2000, Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) được ký kết và có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Sau khi BTA có hiệu lực, Mỹ đã áp dụng Quy chế quan hệ thương mại bình thường và Quy chế tối huệ quốc (MFN), giảm mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam từ 40% xuống 4%, mở cửa thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Trong ảnh: Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, bà Charlene Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, ngày 13/7/2000, tại Thủ đô Washington D.C, kết thúc 4 năm đàm phán liên tục. (Ảnh: Lê Chi/TTXVN)
Ngày 13/07/2000, Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA) được ký kết và có hiệu lực từ ngày 10/12/2001. Sau khi BTA có hiệu lực, Mỹ đã áp dụng Quy chế quan hệ thương mại bình thường và Quy chế tối huệ quốc (MFN), giảm mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam từ 40% xuống 4%, mở cửa thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Trong ảnh: Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, bà Charlene Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, ngày 13/7/2000, tại Thủ đô Washington D.C, kết thúc 4 năm đàm phán liên tục. (Ảnh: Lê Chi/TTXVN)

Hợp tác quốc phòng-an ninh – Nhiều thay đổi ấn tượng

Hợp tác quốc phòng-an ninh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được xác lập ngay từ khi bình thường hóa năm 1995. Trong 24 năm qua, hợp tác quốc phòng-an ninh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có những thay đổi ấn tượng.

Nếu như lúc ban đầu, hai nước mới chỉ dừng ở các cuộc tiếp xúc song phương tập trung vào giải quyết vấn đề tìm kiếm tù binh chiến tranh và người Mỹ mất tích (POW/MIA) trong chiến tranh tại Việt Nam, thì sau đó bắt đầu diễn ra các chuyến viếng thăm lẫn nhau của Bộ trưởng Quốc phòng hai nước và đi cùng với đó là những tiến triển tích cực, thực chất trong việc xử lý hậu quả chiến tranh và những hợp tác trên các phương diện khác.

Lễ tiếp nhận 4 hài cốt quân nhân Hoa Kỳ tại sân bay Quốc tế Nội Bài (Hà Nội) ngày 5/8/1995 trước sự chứng kiến của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher. (Ảnh: Cao Phong/TTXVN)
Lễ tiếp nhận 4 hài cốt quân nhân Hoa Kỳ tại sân bay Quốc tế Nội Bài (Hà Nội) ngày 5/8/1995 trước sự chứng kiến của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher. (Ảnh: Cao Phong/TTXVN)

Tháng 6/2015, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ. Đặc biệt, ngày 23/5/2016, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, thực hiện một bước tiến có ý nghĩa, làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ, góp phần quan trọng vào việc củng cố lòng tin giữa hai bên để tăng cường hợp tác đối phó hữu hiệu với các nguy cơ về an ninh trong khu vực.

Các lĩnh vực hợp tác song phương đã được mở rộng sang tác đào tạo quân y, hợp tác cứu trợ nhân đạo, hỗ trợ thảm họa, gìn giữ hòa bình, chia sẻ thông tin, nâng cao năng lực phòng chống khủng bố, an ninh mạng, an ninh nguồn nước… Hoa Kỳ đã tích cực hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, nâng cao năng lực lực lượng cảnh sát biển, hải quân Việt Nam, hỗ trợ lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế của Việt Nam.

Cho đến nay, Việt Nam và Hoa Kỳ đã tổ chức khoảng hơn 4.000 lượt điều tra hỗn hợp với tổng số 1.000 hài cốt quân nhân mất tích được trao trả cho phía Hoa Kỳ. Hai bên đang tiếp tục phối hợp thực hiện tìm kiếm khoảng 200.000 liệt sỹ và bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Việt Nam đã hai lần đón tàu sân bay Hoa Kỳ thăm chính thức vào tháng 3/2018 và tháng 3/2020.

Hiện hai bên tiếp tục trao đổi đoàn các cấp, duy trì các cơ chế đối thoại song phương và tiếp xúc tại các diễn đàn khu vực.

Việt Nam-Hoa Kỳ cùng các nước tích cực hợp tác duy trì tự do hàng hải và thực thi Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc UNCLOS 1982 tại khu vực Biển Đông. Hai bên ủng hộ quan điểm về bảo đảm tự do, an ninh hàng hải, hàng không và tôn trọng luật pháp quốc tế, UNCLOS; giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực; không có những hành động làm leo thang căng thẳng trong khu vực.

Việt Nam cùng nhiều nước khác trong khu vực tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong thực hiện các nghị quyết của Liên hợp quốc liên quan đến vấn đề Triều Tiên.

Hai bên đã thông qua Kế hoạch hành động 3 năm về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018-2021.

Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, sáng 1/6/2015, tại Hà Nội, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh ký Tuyên bố Tầm nhìn chung giữa Bộ Quốc phòng hai nước về quan hệ quốc phòng. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, sáng 1/6/2015, tại Hà Nội, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh ký Tuyên bố Tầm nhìn chung giữa Bộ Quốc phòng hai nước về quan hệ quốc phòng. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)

Nhiều cơ hội hợp tác khoa học-công nghệ

Năm 2000, Việt Nam-Hoa Kỳ đã ký Hiệp định hợp tác về khoa học-công nghệ vào năm 2000 và thành lập Ủy ban hỗn hợp hợp tác khoa học-công nghệ. Hiệp định hợp tác sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân (Hiệp định 123) chính thức được ký kết ngày 6/5/2014 đã mở ra cơ hội lớn cho hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực hạt nhân dân sự đầy tiềm năng.

Hoa Kỳ và Việt Nam bước đầu hợp tác về khoảng không vũ trụ. Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã ký Tuyên bố ý định chung về trao đổi hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu không gian (tháng 12/2011); Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) ký Tuyên bố hợp tác về khoa học công nghệ (tháng 3/2015), Dàn xếp Hành chính trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân (tháng 5/2016). Tháng 3/2018, hai bên lần đầu tiên tổ chức Đối thoại về An ninh năng lượng tại Hà Nội và lần thứ hai đã được tổ chức tại Washington D.C. vào tháng 4/2019.

Hiệu quả trong hợp tác văn hóa, giáo dục, môi trường

Hợp tác về giáo dục-đào tạo là nhân tố quan trọng trong quan hệ giữa hai nước.

Hiện có trên 30.000 sinh viên, thực tập sinh Việt Nam đang theo học tại Hoa Kỳ, đứng đầu trong số các nước Đông Nam Á, đứng thứ 6 trong số các nước có nhiều du học sinh tại Hoa Kỳ, đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng và tạo việc làm của Hoa Kỳ.

Năm 2017, hai nước cũng phối hợp đưa Đại học Fulbright vào hoạt động, tạo điều kiện cho thanh niên Việt Nam tiếp cận với giáo dục tiêu chuẩn cao, tiếp thu kiến thức hiện đại, góp phần xây dựng đất nước. Hàng năm Hoa Kỳ cấp học bổng cho nghiên cứu sinh Việt Nam qua các chương trình học bổng như Fulbright và Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF).

Chủ tịch Tập đoàn Microsoft Bill Gates tới thăm và giao lưu với cán bộ, giảng viên, sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, ngày 22/4/2006. (Ảnh: Bích Ngọc/TTXVN)
Chủ tịch Tập đoàn Microsoft Bill Gates tới thăm và giao lưu với cán bộ, giảng viên, sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, ngày 22/4/2006. (Ảnh: Bích Ngọc/TTXVN)

Hai bên tích trao đổi về Hiệp định thực thi Chương trình Hòa Bình, cho phép các tình nguyện viên Hoa Kỳ vào dạy tiếng Anh tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoa Kỳ tiếp tục quan tâm tới các vấn đề về hợp tác y tế, môi trường, nhân đạo với Việt Nam. Hoa Kỳ tiếp tục duy trì và tăng ngân sách cho các hoạt động khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, trong đó có dự án tẩy độc các điểm nóng nhiễm chất dioxin, hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam/dioxin.

Năm 2017, Hoa Kỳ đã hoàn thành các hạng mục chính trong công tác tẩy độc sân bay Đà Nẵng; cam kết tiếp tục triển khai dự án tẩy độc sân bay Biên Hòa. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng tài trợ cho Việt Nam các dự án về khắc phục hậu quả bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh với tổng viện trợ 94 triệu USD thông qua các Tổ chức phi chính phủ (NGO) từ năm 1993 đến nay.

Năm 2018, lượng khách du lịch Hoa Kỳ đến Việt Nam đạt 687.200 lượt người, tăng 11,9% so với năm 2017, chiếm 4,4% trong tổng số khách đến Việt Nam

Số lượt khách Mỹ đến Việt Nam bằng khoảng 11% trong số lượt khách Mỹ đến châu Á. Nhiều trang web, tạp chí, kênh truyền hình nổi tiếng của Mỹ đã tôn vinh về điểm đến, dịch vụ du lịch của Việt Nam.

Có thể nói, từ khi bình thường hóa quan hệ, lợi ích chung giữa hai nước đã và đang ngày càng tăng lên, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Trong 25 năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực ở cả ba tầng nấc song phương, khu vực và toàn cầu. Sự phát triển đó phù hợp với xu thế thời đại, mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước và hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển của khu vực và thế giới.

Ngày 5/12/2019, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Quân chủng Phòng không Không quân Việt Nam-Bộ Quốc phòng và Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET) tổ chức lễ khởi công Dự án xử lý ô nhiễm dioxin tại Sân bay Biên Hòa và ký thỏa thuận triển khai dự án 65 triệu USD nhằm hỗ trợ người khuyết tật. (Ảnh: Sỹ Tuyên/TTXVN)
Ngày 5/12/2019, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Quân chủng Phòng không Không quân Việt Nam-Bộ Quốc phòng và Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET) tổ chức lễ khởi công Dự án xử lý ô nhiễm dioxin tại Sân bay Biên Hòa và ký thỏa thuận triển khai dự án 65 triệu USD nhằm hỗ trợ người khuyết tật. (Ảnh: Sỹ Tuyên/TTXVN)

                新闻媒体—胡志明主席      的革命锋利武器

越通社河内——胡志明主席—越南民族伟大革命领袖、越南革命新闻事业创始人。

1921年在法国,胡志明主席创办了殖民协会言论机构–《劳苦人报》(Le Paria),同时兼任编辑、主任、撰稿、校对、财务主管、出版和联系等任务。胡志明主席共编写了38篇文章。

1925年,胡志明主席创办了《青年报》,并指导出版88刊。

1941年胡志明主席创办了《越南独立报》(或称《越立报》),并直接指导出版36刊。这是国内首个革命报刊。

胡志明主席在50年内以53个不同的笔名共编写了大约2000篇文章。

胡志明主席创造性地将马克思列宁主义与越南实践相结合。他老人家深入地了解新闻事业的活动,将新闻媒体视为革命事业的锋利武器,同时灵活巧妙地将新闻媒体用作革命宣传工具,呼吁人民群众积极参加革命事业。

胡志明主席以数百个笔名编写的数千篇文章广泛涉及到革命事业、社会生活等问题,胡志明主席给后代留下了宝贵的新闻遗产。不仅如此,胡志明主席还教导新闻工作者如何编写新闻,让新闻作品起到最佳效用。

胡志明主席—越南民族伟大革命领袖、越南革命新闻事业创始人。胡志明主席以数百个笔名编写的数千篇文章广泛涉及到革命事业、社会生活等问题,胡志明主席给后代留下了宝贵的新闻遗产。
胡志明主席—越南民族伟大革命领袖、越南革命新闻事业创始人。胡志明主席以数百个笔名编写的数千篇文章广泛涉及到革命事业、社会生活等问题,胡志明主席给后代留下了宝贵的新闻遗产。

胡志明主席向首届新闻工作者致信中表示,新闻工作者要贴近群众、贴近事实,掌握至少一种外语以学习借鉴外国记者的经验,在完成新闻稿之后必须仔细修改,努力学习、实事求是。

胡志明主席已编写了多个文章,与同事分享报道经验。在1962年9月8日举行的越南新闻工作者协会第三次全国代表大会上,胡志明主席说:“我的经验是这样:每一次编写一篇文章,我都对自己提问:写给谁看?,文章的目的是什么?,怎么样才能让读者易懂?写好了我会请求同事帮我看和修改。”

新闻是一种特殊的语言交涉。胡志明主席新闻报道目的是宣传推介人民群众的好事,同时对干部、人民、部队存在的不足之处作出批评。胡志明主席的新闻报道对象包括越南各阶层人民、各党派、不分宗教男女老少。胡志明主席特别要求新闻内容要简练生动易懂。

胡志明主席嘱咐越南通讯社女记者慧莺如何报道有关越南第三届国会选举活动(1964年)的新闻。
胡志明主席嘱咐越南通讯社女记者慧莺如何报道有关越南第三届国会选举活动(1964年)的新闻。

在越南新闻工作者协会第三次全国代表大会与会上新闻工作者交谈时,胡志明主席指出,新闻报道太长,不符合于群众的时间。

新闻报道较为片面,过于注重宣传成绩,而忽视了困难和不足之处。新闻报道具有吸引力,但有时候缺乏慎重性。新闻报道工作遇到最大的问题是使用外语太多而且有时不到位。

在1959年4月16日召开的越南新闻工作者协会第二次全国代表大会上,胡志明主席嘱咐,所有新闻工作者要有坚定的政治立场。政治路线正确,才能准确的执行任务。

这是越南党几十年内指导新闻报道中的一贯思想。胡志明主席强调,新闻工作者也是革命战士,笔和纸是他们的利器。

胡志明主席强调,任何一种大众媒体在创建一个节目或一个专题,或者出版一个作品,均由政治定向所支配。

除了良好的政治定向,胡志明主席还要求新闻工作者要提高新闻质量,不断提高政治和业务水平,克服新闻媒体的商业化现象。

1946年1月8日,胡志明主席嘱咐,新闻工作者要尊重事实,讲事实才能说服别人,从而提高宣传效率。

胡志明主席与服务于越南共产党第三次全国代表大会(1960年9月)的记者和人员合影。
胡志明主席与服务于越南共产党第三次全国代表大会(1960年9月)的记者和人员合影。

真实性被视为革命新闻工作者的重要品格。因此,越南革命新闻是党的言论机构和人民的论坛。新闻媒体反映人民的建设性意见,人民群众通过新闻媒体表达其对国家建设事业的心思、愿望和建议。

此外,新闻媒体也有助于严厉打击腐败和走私的行为,与社会丑恶和犯罪行为作斗争,反对道德败坏、蜕化变质等的表现,增加人民群众对党的领导、人民的革命传统的信心。

胡志明主席认为,越南新闻媒体在世界舆论中已有了重要的地位。敌人和友人都非常关注我们新闻媒体。因此新闻形式、内容方面均要十分谨慎。

越共十三届五中全会决议已提到在符合于国家情况和世界大众媒体发展趋势的基础上建设并逐步实现国家传媒战略,加大对外信息宣传力度,充分利用互联网成就,向世界广泛推介越南的革新成就和文化特色,同时采取强有力措施最大限度减少网络带来的不足之处,进一步提高新闻媒体的质量,以让新闻工作者完成自己的崇高任务。新闻媒体的任务是服务人民、服务革命。

对胡志明主席来说,新闻媒体是革命事业的锋利武器。胡志明主席是各代新闻工作者的导师。他老人家的教导一直是各代新闻工作者的宝贵财富,永世长存。(完)

网络虚假新闻阻击战:            新闻 媒体要站在第一线

越通社河内——2020年,新冠肺炎疫情犹如海啸扫过世界许多国家和地区。但更严重的是网络虚假新闻这波浪正在汹涌地掀起。

在与网络虚假新闻作斗争中,新闻工作者被放在中心地位,与虚假新闻作战,引导舆论走在正轨。 近段时间,新冠肺炎疫情在社会中扩散蔓延的同时,虚假新闻这种病毒也在网络上以惊人的速度传播,造成恐慌和消极行为。特别,3月6日晚,职能机关正在想方设法应对新冠肺炎疫情,网民连续传播有关第17号确诊病例的虚假信息,导致社会混乱。 越南新闻工作者协会业务司司长陈伯容博士认为,虚假新闻带来真实后果。虚假新闻在网上刊登,并迅速传播对社会产生消极影响,虚假新闻频繁出现造成的危害有目共睹。 陈伯容博士表示,在当前新冠肺炎疫情爆发的背景下,有关确诊患者、疫情演变等的信息一直得到全社会和舆论的关注。这是主动预防新冠肺炎疫情扩散蔓延的重要措施。

DaLab 说唱音乐团表演的《对虚假新闻说不》歌曲在新冠肺炎疫情中已创造出良好的效应。图自Vietnam+
DaLab 说唱音乐团表演的《对虚假新闻说不》歌曲在新冠肺炎疫情中已创造出良好的效应。图自Vietnam+

陈伯容说,针对疫情复杂难料的情况,人们会感到害怕。这是容易理解的心理状态。然而,我们不能因此而急着散发尚未得到证实的信息,这将对社会的精神带来不良影响,使舆论恐慌。

特别是,利用疫情编造与突发疫情有关的恐怖信息,故意传播,严重扰乱社会秩序,服务于自己的目的,是应当得到严惩的行为。

在首都河内,截至3月18日,河内市公安局已立案处理传播有关新冠肺炎疫情的虚假信息的53个对象。

隔离区。图自Vietnam+
隔离区。图自Vietnam+

在与新冠肺炎疫情的虚假信息弥漫飞扬的背景下,陈伯容认为每一个人都要以镇静的态度获取信息,在信息尚未得到证实的情况下决不能在网上转载和散发。

此外,陈伯容博士还强调新闻媒体、官方信息渠道的作用。越南新闻工作者协会业务司司长陈伯容认为,近段时间,官方媒体机构以积极主动的态度,密切关注疫情演变,刊登有关疫情和越南疫情防控情况的文章。然而,新闻媒体机构应继续采取更强有力措施,做好舆论导向任务,反驳有关疫情的歪曲信息。

胡志明市青年报记者阮庆在越南中央热带病医院第二分院报道新闻。
胡志明市青年报记者阮庆在越南中央热带病医院第二分院报道新闻。

另一方面,3月31日,越南信息传媒部向全国各省、中央直辖市人民委员会下发有关加强纪律宣传、强化疫情防控的函件。 根据该函件,在整个政治体系的努力之下,越南已基本控制了疫情,同时最大限度减轻疫情所带来的损失。越南的防疫工作已取得初步成果,并获得世界卫生组织的积极评价。 目前,越南疫情防控工作已进入具有决定性意义的第三阶段,要求各级部委行业的共同努力。因此传媒工作也需得到关注并加强。 落实越共中央政治局、政府总理以及越南国家新冠肺炎疫情防控工作指导委员会的指示精神,越南信息传媒部要求各省、中央直辖市人民委员会继续加大疫情防控宣传力度,指导地方新闻媒体机构及时、准确地报道越南的防疫成果以及成功的防疫模式,全社会在防疫工作中所作出的共同努力,避免引起不必要的社会恐慌,同时强化人民群众自我保护的意识。(完)

Trại giam Thủ Đức

Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế về việc tôn trọng các quyền con người, đảm bảo tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong công tác giam giữ, cải tạo, Ban Giám thị trại giam Thủ Đức (Z30D) đã biến nơi đây trở thành địa điểm giáo dục, giúp đỡ những phạm nhân nước ngoài sửa chữa sai lầm, tu dưỡng bản thân chuẩn bị cho ngày tái hòa nhập cộng đồng, trở về nước.

Thực tế tại đây đã góp phần thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, sự tôn trọng những chuẩn mực quốc tế về quyền của con người mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.

Trại giam không chỉ là nơi giam giữ

Theo Thượng tá Phạm Thị Minh Hải, Phó Giám thị Trại giam Thủ Đức (Cục Cảnh sát quản lý trại giam, Cơ sở giáo dục bắt buộc, Trường Giáo dưỡng – Bộ Công an), hiện Trại đang quản lý, giam giữ gần 200 phạm nhân là người nước ngoài (gồm 21 quốc tịch), trong đó 8 phạm nhân không xác định quốc tịch.

Phòng giam sạch sẽ, tràn ngập ánh sáng bởi rất nhiều cửa sổ và đều có trang bị tivi.

Các chế độ, chính sách đối với phạm nhân là người nước ngoài được thực hiện đúng quy định pháp luật như chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế.

Quy định về xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, đặc xá… được thực hiện như đối với phạm nhân người Việt Nam.

Các chế độ cho phạm nhân gặp thân nhân, tiếp xúc Lãnh sự được đảm bảo đúng quy định.

Các phạm nhân người nước ngoài được bố trí tập trung ở 2 khu tại Phân trại số 1. Đó là những dãy nhà thoáng mát nằm giữa không gian rất nhiều cây xanh và các loại hoa.

Phòng giam sạch sẽ, tràn ngập ánh sáng bởi rất nhiều cửa sổ và đều có trang bị tivi. Nơi ngủ của các phạm nhân được đảm bảo về diện tích và vệ sinh với đầy đủ các đồ dùng cá nhân thiết yếu.

Các nữ phạm nhân người nước ngoài được khám bệnh định kỳ, chăm sóc sức khỏe khi đau ốm. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Các nữ phạm nhân người nước ngoài được khám bệnh định kỳ, chăm sóc sức khỏe khi đau ốm. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

John Nguyễn, một nam phạm nhân quốc tịch Hoa Kỳ cho biết đã ở trại được 19 năm. Nói chung cải tạo ở đây rất tốt, môi trường thân thiện. Cán bộ quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình.

Trong thời gian tại trại, người chấp hành án được ăn uống điều độ, theo đúng quy định; ngày lễ, Tết thì được ăn thêm đồ ăn. Ngoài ra, những người có tiền lưu ký thì được phép mua bán thêm.

Trong thời gian ảnh hưởng của dịch COVID -19, những người không có điều kiện, gia đình chưa kịp gửi tiền lên thì được trại hỗ trợ. Gia đình đến thăm thấy tình hình thế nên yên tâm, khuyên phạm nhân tập trung cải tạo cho tốt để trở về.

Gấp cuốn sách đang đọc dở, Nicholas Stars, nam phạm nhân 42 tuổi, người Nigeria, cho hay, bản thân đã thụ án tại đây được 5 năm. Thời gian ở đây, anh được ăn uống tốt, sinh hoạt thoải mái. Cán bộ trại tử tế, tôn trọng. Lãnh sự thì 4 tháng đến thăm 1 lần, còn gia đình 1-2 năm qua thăm một lần.

“Nói chung là rất ổn. Tôi còn 10 năm nữa, nhưng sẽ cố gắng xong sớm hơn,” Nicholas Stars vui vẻ chia sẻ bằng tiếng Việt.

Không chỉ được đảm bảo đầy đủ các quy định của pháp luật trong công tác quản lý giam giữ, đảm bảo các tiêu chuẩn về nơi ăn nghỉ, quần áo, đồ dùng thiết yếu, chế độ chăm sóc y tế, gặp gỡ thân nhân… các phạm nhân nước ngoài tại trại giam Thủ Đức được hướng nghiệp, dạy nghề, dạy văn hóa, tham gia sinh hoạt văn nghệ và thể thao… chuẩn bị cho tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Việc tham gia lao động sản xuất được tổ chức phù hợp với độ tuổi, thể chất, điều kiện của phạm nhân giúp họ hiểu hơn giá trị của lao động, trân trọng thành quả lao động của bản thân và của người khác. Lao động không chỉ giúp họ tu tâm, hướng thiện, mà còn xây dựng niềm tin vào cuộc sống sau khi mãn hạn.

Nữ phạm nhân Li Chun Ying, người Trung Quốc, tâm sự, ban đầu khi vào trại rất hoang mang, nhưng sau nhờ sự giải thích, khuyên bảo của cán bộ nên tâm lý dần ổn định, yên tâm cải tạo.

Các phạm nhân nữ được đối xử tốt, đồ ăn uống, sinh hoạt, đồ dùng phụ nữ, nhu yếu phẩm được cấp đầy đủ. Phạm nhân còn được đi học tiếng Việt, tham gia chơi thể thao, hát karaoke và khi ốm được cán bộ y tế chăm sóc.

Nữ phạm nhân Preayamooch (Thái Lan) đang được giam giữ, cải tạo tại Trại giam Thủ Đức. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Nữ phạm nhân Preayamooch (Thái Lan) đang được giam giữ, cải tạo tại Trại giam Thủ Đức. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

“Tôi nhiều lần đạt giải nhất bóng bàn toàn trại. Không biết nói tiếng Việt nhiều, nhưng tôi thực sự rất cảm ơn Ban Giám thị, Hội đồng cán bộ và cảm nhận được tình cảm của cán bộ như trong một gia đình,” Li Chun Ying xúc động cho biết.

Khi nói về thời gian tại Trại giam Thủ Đức, nữ phạm nhân người Thái Lan Preayamooch cho biết, ở đây điều kiện sống rất tốt, hoàn toàn khác với những gì trước kia cô tưởng tượng về cuộc sống phạm nhân trong trại giam.

Các cán bộ thân thiện, giúp đỡ, tạo điều kiện cho phạm nhân làm quen với cuộc sống trong trại để cải tạo và chấp hành bản án. Cô được hưởng chế độ như những phạm nhân Việt Nam khác và còn được nghỉ, ăn tiêu chuẩn cao hơn trong những ngày Tết và Quốc khánh Thái Lan; không chỉ được khám bệnh định kỳ mà khi ốm bệnh thì được nghỉ lao động, được cán bộ y tế chăm sóc.

Gia đình Preayamooch mỗi lần sang thăm cô đều vui và khuyên bảo cô yên tâm cải tạo, thực hiện đúng nội quy để sớm được trở về.

Các phạm nhân người nước ngoài đọc sách tại thư viện của Phân trại 1, Trại giam Thủ Đức. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Các phạm nhân người nước ngoài đọc sách tại thư viện của Phân trại 1, Trại giam Thủ Đức. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Tiếng Việt và những bài học tình người

Xác định công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và có vai trò quan trọng đặc biệt nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống của phạm nhân, giúp họ hiểu rõ tội lỗi, không tái phạm, Ban Giám thị Trại giam Thủ Đức đã luôn quan tâm, đẩy mạnh công tác phổ biến kiến thức pháp luật, giáo dục công dân, dạy tiếng Việt cho phạm nhân là người nước ngoài.

Học tiếng Việt không chỉ giúp các phạm nhân nước ngoài có một ngôn ngữ chung trong sinh hoạt, mà còn giúp họ hiểu rõ hơn nội quy, quy định của trại, các chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Trại giam không phải làm nơi giam cầm, trừng phạt người phạm tội, mà là nơi giáo dục, cảm hóa, giúp họ tự tin, sửa chữa lỗi lầm và làm lại cuộc đời.

Hiểu biết về các chính sách, chế độ, nội quy giúp họ an tâm cải tạo, chấp hành nội quy cơ sở giam giữ và được hưởng chính sách nhân đạo của Việt Nam như giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá trước thời hạn.

Qua những bài học tiếng Việt, các phạm nhân người nước ngoài có thêm cơ hội tìm hiểu, làm quen với con người và nền văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Lớp trưởng lớp tiếng Việt của các phạm nhân nước ngoài tại Trại giam Thủ Đức, anh Peng Kang Yu, người Đài Loan, Trung Quốc, cho biết, phạm nhân của trại đến từ rất nhiều nơi như Campuchia, Nigeria, Thái Lan, Hoa Kỳ… nên học tiếng Việt giúp họ gần gũi và hiểu nhau hơn.

Cố gắng học tiếng Việt cũng là để đọc được nhiều sách của thư viện, giúp con người sửa đổi tâm tính, cải tạo tốt hơn.

Trong khi đó, nữ phạm nhân Thái Lan Preayamooch cho biết, vốn Anh ngữ có được từ thời sinh viên đã giúp cô học tốt tiếng Việt, không những thế còn là trợ giảng đắc lực cho các thày, cô giáo trong giờ tiếng Việt.

“Việc học tiếng Việt giúp hiểu được những gì cán bộ nói, thêm tin tưởng và ổn định tinh thần để chấp hành bản án. Những bài học chữ Việt có nội dung giáo dục con người, giúp thêm động lực phấn đấu, chấp hành tốt quy định, chuẩn bị tinh thần cho ngày trở về với xã hội. Xã hội giờ đã có nhiều thay đổi nên không thể nói trước, nhưng cũng có thể sau này trở về Thái Lan, tôi sẽ làm một công việc gì đó liên quan đến Việt Nam và tiếp tục sử dụng tiếng Việt,” Preayamooch vui vẻ nói về dự định sau này.

Các nữ phạm nhân người nước ngoài được dạy nghề và lựa chọn những công việc phù hợp với thể trạng, sức khỏe. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Các nữ phạm nhân người nước ngoài được dạy nghề và lựa chọn những công việc phù hợp với thể trạng, sức khỏe. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Có “thâm niên” hơn 19 năm sống tại Trại giam Thủ Đức và sử dụng thành thạo tiếng Việt, Mohd Hafiz Gomez Bin Abdullah, quốc tịch Malaysia, cho biết, vốn là kẻ “cứng đầu,” hồi mới vào trại phạm nhân cũng ngang bướng, phá phách, nhưng sau nhờ sự giúp đỡ, chia sẻ ân cần của cán bộ trại, người đàn ông này đã hiểu ra và quyết tâm thay đổi bản thân để làm lại cuộc đời, sớm trở về với gia đình.

Học tiếng Việt giúp anh hiểu và yêu thích văn hóa Việt, con người Việt. Gomez đặc biệt ấn tượng với sự đoàn kết, nhân hậu, chia sẻ khó khăn của người Việt Nam và những đức tính ấy thể hiện rõ ngay cả trong cuộc sống ở trại, giữa các phạm nhân với nhau hay giữa cán bộ và phạm nhân.

“Tình cảm và sự giúp đỡ của các cán bộ đã giúp phạm nhân thêm động lực để cải tạo thành người tốt. Bản thân tôi đã được giảm án 7 lần, nay chỉ còn 10 tháng nữa là được tự do. Mười tháng nữa sẽ nhanh lắm, bởi ngoài gia đình tôi ở Malaysia còn có một người con gái Việt Nam đang chờ đợi tôi,” Gomez tươi cười chia sẻ một cách lưu loát bằng tiếng Việt.

Trân trọng với những đối xử đầy tình người trong thời gian chấp hành bản án cũng là tâm lý chung của các phạm nhân nước ngoài tại Trại giam Thủ Đức.

Trước ngày trở về quê hương Australia, Kevin Willia De Santos viết: “Tôi đã thi hành án tại Việt Nam được 4 năm 11 tháng. Trong thời gian ở đây, tôi được đối xử công bằng, thậm chí đôi khi tôi còn được đối xử tốt trên cả mong đợi. Những lần gia đình từ Australia đến thăm tôi đã được tạo điều kiện thuận lợi tối đa như được thăm thêm giờ. Tôi ghi nhận tất cả ở trong lòng, vì thế tôi luôn chấp hành tốt. Tôi xin được gửi lời cảm ơn Ban Giám thị, Hội đồng cán bộ đã đối xử rất tử tế và tôn trọng tôi. Tôi luôn có cảm giác thoải mái và an toàn trong những ngày thi hành án ở đây. Tôi cũng cảm ơn Ban Giám thị đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia lớp học tiếng Việt và cảm ơn các cán bộ giáo viên đã hướng dẫn tôi. Tôi được rời Việt Nam trong một trạng thái tinh thần, sức khỏe rất tốt.”

Không chỉ với Kevin Willia De Santos, cuốn sổ cảm tưởng về những ngày sống tại Trại giam Thủ Đức đã được rất nhiều phạm nhân nước ngoài ghi lại với những dòng chữ xúc động, thể hiện tấm lòng tri ân đối với sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ nơi đây – những người đã giúp họ thấu hiểu tính nhân đạo, bao dung của con người và pháp luật Việt Nam đối với những người từng lầm đường, lạc lối.

Thượng tá Phạm Thị Minh Hải cho rằng, giống như các trại giam khác, cơ sở Thủ Đức dù còn nhiều khó khăn nhưng đã và đang nỗ lực hết sức để giúp các phạm nhân, trong đó có người nước ngoài phạm tội, nhìn ra lỗi lầm, “tu tâm-hướng thiện.”

Trại giam không phải làm nơi giam cầm, trừng phạt người phạm tội, mà là nơi giáo dục, cảm hóa, giúp họ tự tin, sửa chữa lỗi lầm và làm lại cuộc đời.

“Ở đây không có ‘tù nhân’ mà chỉ có ‘phạm nhân’ – những người đang chấp hành bản án do những sai lầm họ đã phạm phải. Chính vì vậy, công tác quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân phải luôn tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; các biện pháp phải mang tính nhân đạo, nhân văn, tôn trọng và đảm bảo quyền con người. Thực hiện được nhiệm vụ này, các trại giam sẽ trở thành trường học cuộc đời cho những người lầm lạc,” Thượng tá Phạm Thị Minh Hải khẳng định.

Phạm nhân Mohd Hafiz Gomez Bin Abdullah (Malaysia) đã thụ án được hơn 19 năm tại Trại Thủ Đức được giao phụ trách việc chăm sóc cây cảnh. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Phạm nhân Mohd Hafiz Gomez Bin Abdullah (Malaysia) đã thụ án được hơn 19 năm tại Trại Thủ Đức được giao phụ trách việc chăm sóc cây cảnh. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Theo chân “biệt đội phá bẫy” cứu thú

Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà được mệnh danh là “lá phổi xanh” của thành phố Đà Nẵng, có hệ sinh thái đa dạng với hàng ngàn loài thực vật và hàng trăm loài động vật.

Thời gian qua, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại đây đang được các cấp chính quyền và người dân Đà Nẵng triển khai nhiều biện pháp quyết tâm gìn giữ.

Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2020, lực lượng bảo vệ rừng đã kiểm tra, phát hiện và thu giữ hàng nghìn bẫy thú các loại, góp phần mang lại “mái nhà chung” bình yên cho các loài động vật hoang dã tại bán đảo Sơn Trà.

Theo chân “biệt đội phá bẫy”

Một ngày nắng gắt đầu tháng 7/2020, phóng viên TTXVN cùng tham gia chuyến kiểm tra của Đội tuần tra liên ngành bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng quận Sơn Trà.

Tổ công tác có 6 đồng chí, đến từ Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn, Đồn Biên phòng Sơn Trà và dân quân phường Thọ Quang (quận Sơn Trà). Chỉ với những dụng cụ gọn nhẹ gồm bản đồ, máy định vị, dao quắm, nước uống…, đội tuần tra tiến vào rừng Sơn Trà từ phía Tây Nam của bán đảo.

Quan trọng nhất vẫn là thay đổi nhận thức của người dân về bảo vệ động vật hoang dã, bảo vệ môi trường.

Sau đoạn leo núi khá dốc ban đầu, chúng tôi tiến sâu vào rừng, men theo một đường mòn nhỏ. Anh Trần Thanh Dũng, thành viên trẻ tuổi nhất của Đội tuần tra cũng là người nhanh nhẹn và thông thạo địa hình khu vực.

Anh Dũng cho biết sau đợt cao điểm kiểm tra, thu gom bẫy thú vừa qua, tình trạng đặt bẫy động vật hoang dã tại Sơn Trà đang tạm lắng xuống. Vừa đi, đội kiểm tra vừa chỉ những hố đất, những cành cây đã từng được tháo bẫy trước đây.

Các loại bẫy thú thường gặp gồm bẫy dây rút, bẫy lưới, bẫy lồng…; trong đó phổ biến nhất là bẫy dây rút vì loại này đơn giản, gọn nhẹ, dễ mang theo, dễ lắp đặt trong rừng. Bẫy được làm từ sợi dây kẽm, một đầu buộc vào cành cây uốn cong, một đầu buộc tròn như thòng lọng, đặt dưới một hố đất nhỏ và phủ lá cây lên trên.

Khi động vật hoang dã tới ăn mồi đặt trên bẫy, chân sẽ bị sụp xuống hố, thòng lọng siết chặt lại và cành cây bật lên, treo ngược con thú. Khi đó con thú càng giãy dụa thì dây càng siết chặt, không thể thoát ra được.

Loại bẫy dây rút được các đối tượng sử dụng nhiều, do dễ vận chuyển, lắp đặt và có thể bắt được nhiều loại động vật khác nhau. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Loại bẫy dây rút được các đối tượng sử dụng nhiều, do dễ vận chuyển, lắp đặt và có thể bắt được nhiều loại động vật khác nhau. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Bên cạnh yếu tố gọn nhẹ, loại bẫy này cũng thường được các thợ sơn tràng dùng vì có khả năng bắt được tất cả các con vật, không phân biệt kích thước, chủng loại.

Một thành viên Đội tuần tra, Thiếu tá Phan Châu Trinh – Đồn Biên phòng Sơn Trà cho biết một số loại bẫy khác là bẫy bằng lồng thép (con vật chui vào ăn mồi sẽ bị sập cửa), bẫy bằng lưới (giăng lưới và để mồi vào giữa, khi con vật ăn sẽ bị cuộn lại)…

Các loại thú thường dính bẫy là thú nhỏ như cầy, chồn, sóc, chim… Theo nhận định của các thành viên Đội tuần tra, các loài linh trưởng như khỉ vàng, voọc chà vá chân nâu không phải là mục tiêu của các loại bẫy này vì không có nhiều giá trị về kinh tế và khó bẫy.

Những hình ảnh khỉ bị thương tật được đưa lên mạng xã hội thời gian qua có thể do tai nạn giao thông hoặc bị người dân tấn công. Dù đã có nhiều biển cấm, nhưng một số du khách thiếu ý thức vẫn cho khỉ ăn quà vặt nên chúng đã quen tràn xuống đường, vào nhà dân phá phách.

Đi săn… thợ săn

Bên cạnh việc tuần tra, phá bẫy định kỳ 2 lần/tuần, lực lượng chức năng cũng tăng cường kiểm tra, xử lý đột xuất đối với những trường hợp vào rừng săn thú trái pháp luật.

Ông Trần Thắng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn nhớ lại chuyến tuần tra đáng nhớ vào đêm 12/2 vừa qua. Nhận được tin báo của nhân dân về đối tượng khả nghi, ông Thắng cùng các kiểm lâm viên và cán bộ Đồn Biên phòng Sơn Trà lập tức xuất phát kiểm tra khu vực Hố Sâu (bán đảo Sơn Trà).

Một chiếc bẫy lồng sắt được lực lượng chức năng tháo gỡ. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Một chiếc bẫy lồng sắt được lực lượng chức năng tháo gỡ. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Tại đây, đoàn công tác phát hiện một xe máy dựng ven đường, trên xe có treo quả dứa (loại quả thường được dùng làm mồi bẫy thú). Lực lượng chức năng đi kiểm tra khu vực xung quanh, kêu gọi người điều khiển xe ra mặt nhưng không có hồi đáp. Tuy trời tối đen, vào rừng sẽ nguy hiểm nhưng đoàn kiểm tra quyết tâm vào rừng để tìm ra đối tượng.

“Đang leo lên thì một đồng chí thấy có một tấm lưới giăng sẵn, rộng khoảng 30×70 cm và có đặt miếng dứa ở giữa. Kiểm tra khu vực gần đó, Đoàn công tác phát hiện một người đàn ông đang ẩn nấp trong bụi rậm, phải rất cố gắng lực lượng chức năng mới kéo được đối tượng ra khỏi bụi. Vì chưa gây hậu quả (chưa bẫy được thú) nên đối tượng bị xử phạt hành chính 750.000 đồng và phải tự tháo dỡ tổng cộng 8 mảnh bẫy lưới” – ông Trần Thắng cho biết.

Mới đây, ngày 10/6, tổ công tác cũng kịp thời phát hiện và xử lý một người đàn ông mang 3 dụng cụ bẫy thú vào rừng nhưng chưa kịp thực hiện hành vi; xử phạt hành chính 500.000 đồng và tịch thu 1 bẫy kẹp, 2 bẫy lồng.

Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, trong 6 tháng đầu năm 2020, đơn vị đã tổ chức 36 đợt tuần tra, kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng. Kết quả, đã phát hiện tháo gỡ, tiêu hủy 1.370 dây bẫy bằng cáp nhỏ, 37 chuồng bẫy, 1 lồng bẫy bằng sắt, 1 bẫy kẹp, một số vật dụng (búa, kìm, võng,  bạt nylon, xoong, nồi…) và 8 mảnh lưới thép có kích thước 30x70cm.

Theo Nghị định 35/2019/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực Lâm nghiệp thì hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật rừng bị phạt tiền rất nặng, từ 5-400 triệu đồng tùy thuộc số lượng, giá trị của động vật rừng là tang vật vi phạm.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong công tác phát hiện, xử lý hành vi này. Thứ nhất, địa bàn rừng núi rộng lớn, lực lượng tuần tra, kiểm tra lại mỏng nên không thể bao quát được hết các khu vực.

Thứ hai, các đối tượng sử dụng nhiều mánh khóe để qua mặt lực lượng chức năng như: nhờ người khác chở lên núi để không bị phát hiện xe máy, phi tang chứng cứ khi gặp lực lượng chức năng, vờ làm du khách đi lạc trong rừng… Nếu đối tượng chưa bẫy được con vật (chưa gây hậu quả) thì chỉ có thể xử phạt nhẹ, nhắc nhở.

Bên cạnh đó, nếu có gây hậu quả thì cũng khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc định giá động vật hoang dã để áp dụng xử phạt.

Vì vậy, theo ông Thắng, xử phạt chỉ là một trong những biện pháp trước mắt, quan trọng nhất vẫn là thay đổi nhận thức của người dân về bảo vệ động vật hoang dã, bảo vệ môi trường.

Đội tuần tra liên ngành Bảo vệ rừng, Phòng cháy chữa cháy rừng quận Sơn Trà xác định khu vực thường xuyên có bẫy thú. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Đội tuần tra liên ngành Bảo vệ rừng, Phòng cháy chữa cháy rừng quận Sơn Trà xác định khu vực thường xuyên có bẫy thú. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Nâng cao ý thức cộng đồng

Nhằm tuyên tuyền, phổ biến văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, đầu tháng 7/2020, Phòng Kinh tế quận Sơn Trà vừa phối hợp với Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Lâm nghiệp năm 2020.

Hội nghị có sự tham gia của đại diện lãnh đạo các Ủy ban Nhân dân phường trong quận Sơn Trà, tổ trưởng tổ dân phố và các hội đoàn thể của phường Thọ Quang (phường có bán đảo Sơn Trà), nhóm bảo vệ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, các doanh nghiệp hoạt động trên báo đảo Sơn Trà, người dân trong khu vực…

Mỗi một chiếc bẫy được phá, một động vật hoang dã sẽ được ở lại với bầy đàn.

Ông Trần Văn Thành – Phó Trưởng phòng Kinh tế quận Sơn Trà cho biết, Hội nghị sẽ tuyên truyền, phổ biến những điều, khoản quan trọng trong Luật Lâm nghiệp năm 2017; các Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp, phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý rừng bền vững, lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng…

Qua đó, chính quyền địa phương và người dân hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật trong bảo vệ rừng, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là các tổ chức, cá nhân, hộ nhận giao rừng, các hộ dân sống ven rừng về công tác gìn giữ, bảo vệ rừng.

Đồng quan điểm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn cũng cho rằng giải pháp lâu dài, hiệu quả vẫn là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân cùng chung tay bảo vệ rừng.

Bên cạnh các hội nghị tuyên truyền, phổ biến, lực lượng kiểm lâm đã tăng cường công tác bám cơ sở, thiết lập đường dây “nóng,” thường xuyên tiếp nhận và xử lý những tin báo của người dân sống trong khu vực.

Một chiếc bẫy thú dạng dây rút được lực lượng chức năng phát hiện. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)  
Một chiếc bẫy thú dạng dây rút được lực lượng chức năng phát hiện. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)  

Nhờ có “tai mắt” của những người yêu Sơn Trà nên các tổ công tác đã nhiều lần kịp thời phát hiện, xử lý các đối tượng vi phạm, không để xảy ra hậu quả đáng tiếc.

Bên cạnh tuyên truyền cho người dân địa phương thì việc nâng cao ý thức của du khách cũng rất quan trọng.

Trong 6 tháng qua, Đội liên ngành tổ chức tuần tra bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng đã thực hiện 140 đợt tuần tra ban ngày và 12 đợt tuần tra đêm trên bán đảo Sơn Trà, nhắc nhở du khách không đốt lửa, không cho khỉ ăn, không tự ý đi sâu vào khu vực rừng rậm nguy hiểm, không thực hiện những hành vi gây nguy hại đến đa dạng sinh học Sơn Trà. Đã có nhiều trường hợp bị nhắc nhở, xử phạt nhưng những hành vi vi phạm vẫn tái diễn.

Trong khi việc nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ thiên nhiên, môi trường đang được triển khai theo kế hoạch lâu dài, Đội tuần tra bảo vệ rừng vẫn miệt mài vào rừng phá bẫy, cứu thú hàng tuần.

Đối với các anh Dũng, anh Trinh, anh Thắng… mỗi một chiếc bẫy được phá, một động vật hoang dã sẽ được ở lại với bầy đàn. Đó không chỉ là trách nhiệm với công việc bảo vệ rừng, mà còn là trách nhiệm gìn giữ “vật báu” Sơn Trà trong lòng người Đà Nẵng.

Theo quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,” Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà được quy hoạch với diện tích 2.591,1 ha.

Đề tài nghiên cứu khoa học do Viện Sinh thái học miền Nam thực hiện năm 2017 đã thống kê: số loài động vật được ghi nhận trên phần đất liền của bán đảo Sơn Trà bao gồm 41 loài thú, 151 loài chim, 52 loài bò sát, 18 loài lưỡng cư và 1852 loài côn trùng (86 loài bướm, 20 loài cánh cứng, 79 loài côn trùng khác).

Trong đó, có loài Voọc Chà Vá chân nâu là loài linh trưởng đặc biệt quý hiếm, con vật biểu tượng của thành phố Đà Nẵng, thuộc danh mục nhóm “nguy cấp” trong Sách Đỏ Việt Nam và xếp vào “danh sách bảo vệ vô điều kiện” của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới.

Lực lượng chức năng phát hiện và thu giữ một chiếc bẫy thú dạng lồng sắt. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Lực lượng chức năng phát hiện và thu giữ một chiếc bẫy thú dạng lồng sắt. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)