越南抗击新冠肺炎疫情的力量源泉:政治力量

越通社河内9月4日——越南是一个经济发展水平较底、医疗服务水平和基础设施较为落后的国家,但在党的集中统一领导下,越南政治制度保持稳定,人民有着深厚的爱国主义传统和互爱互助精神,越南经济在革新开放时期强劲发展,前景光明。因此,充分发挥政治、文化和经济优势,将有助于越南获得战胜一切困难和挑战的巨大力量,尤其是在与新冠肺炎疫情的艰难战斗中。

越共中央总书记、国家主席阮富仲呼吁全国人民、军队战士及旅居海外侨胞全心全意,团结起来共同抗击疫情。图自越通社
越共中央总书记、国家主席阮富仲呼吁全国人民、军队战士及旅居海外侨胞全心全意,团结起来共同抗击疫情。图自越通社

集中统一领导

越南政治制度是由越南共产党建立和领导的社会主义政治制度。

越南社会主义政治制度的最大优势是党的全面领导。在党的集中统一领导下,越南抗击新冠肺炎疫情工作果断、有力全面展开,方向明确,重点突出,形成了“全民抗疫”的战略局面。

在抗疫的初期阶段,越共中央总书记、国家主席阮富仲已呼吁全国人民、军队战士及旅居海外侨胞全心全意,团结起来共同抗击疫情。阮富仲的呼吁立即受到了全党、全民、全军和旅居海外同胞的积极响应。

越南从未处于被动状态,也从未恐慌,因为所有情况尽在预料之中。越南总是考虑到最坏的情况,从而致力使其永不发生,并且确定这场战役会很漫长,正如无论田埂多么坚固,只要暴雨一直降在相邻的田地,发生溃漏是难以避免的。

在抗击疫情的第二阶段,越南政府总理阮春福要求本着“抗疫如抗敌”、“每个公民都是一名战士,每个村庄都是一座堡垒”的方针,迅速、果断地向抗疫工作投入一切资源和采取一切强有力的措施,杜绝疫情扩散蔓延。此后,从城市到农村,从平原到山区,男男女女,老老少少,所有人都支持并响应政府总理的呼吁。

与初期阶段相比,当前的疫情防控形势有很大的不同,越南多地已具有一定的实践经验,尚未出现疫情的地方也获得了充分的培训。因此,在第二阶段,越南对防疫措施考虑十分慎重,旨在实现“双重目标”,即在防控疫情的同时继续维持经济社会稳定,杜绝第二波疫情的发生和再度采取全国范围内的社交距离措施。

凭借上述果断有力的指示,越南一直保持主动姿态。除了及时采取预防、发现、隔离、划分疫区、扑灭疫情等措施之外,越南还虚心学习借鉴世界各国的经验,不断改进和完善防疫措施。

                  越南政府总理阮春福。图自越通社
                  越南政府总理阮春福。图自越通社

越南政府副总理、国家新冠肺炎疫情防控指导委员会主任武德儋表示:“越南从未处于被动状态,也从未恐慌,因为所有情况尽在预料之中。越南总是考虑到最坏的情况,从而致力使其永不发生,并且确定这场战役会很漫长,正如无论田埂多么坚固,只要暴雨一直降在相邻的田地,发生溃漏是难以避免的”。

在疫情初期阶段,越南是最早出台最坚决果断的防疫措施,并采取比国际组织的建议更加严格的防疫措施的国家,越南也是世界上第一个要求从疫区入境人员实行强制性健康申报制度的国家。

据国际组织和专家的评价,越南的防疫措施即正确、及时又非常廉价。到目前为止,越南抗疫经费投入与世界上许多国家相比仍处于较低水平。实际上,有很少国家像越南那样受到国际社会的普遍好评。

越南政府副总理、国家新冠肺炎疫情防控指导委员会主任武德儋在主持召开指导委员会的会议上指示有关部门和单位全力参与疫情防控工作。图自越通社
越南政府副总理、国家新冠肺炎疫情防控指导委员会主任武德儋在主持召开指导委员会的会议上指示有关部门和单位全力参与疫情防控工作。图自越通社

调动全民力量的能力

越南政治制度的优越性之一是集结力量、组织力量和动员全民的力量来战胜巨大的挑战。

越南的政治制度是党、政府、祖国阵线、武装力量、政治社会组织的统一体。越南政治制度不仅在每个村庄、每个街区、每个家庭而且还在每个人自身上“扎根”,从而形成了共同认识并成为整个社会的牢固联系。

上述的特征助力越南动员全民参与抗疫工作。

                              越南整个政治体系都参与疫情阻击战。  

越南成功动员了医务人员、公安、军队以及各家信息技术公司、各所大学及广大人民群众的力量,因此疫点疫区划分、疫情控制扑灭等工作迅速展开,尤其是第一(F1)、第二(F2)甚至第四(F4)、第五代(F5)密切接触者的追踪工作可在较短的时间内完成,这只有越南能做得到。

新冠肺炎确诊病例接近清零和无死亡病例等是越南在抗击第一波疫情中所取得的积极成果。这一成果充分证明了越南党和政府的正确领导,而民众的信心来自于党和政府的正确领导。一旦有了信心将唤起爱国主义精神,进而建立起一股强大的“抗疫”力量。

越南国防部副部长阮志咏上将表示:“我们有足够能力以最快的速度、最佳的方式调动国家的力量来执行紧急任务,而不损害社会的根基。”

在越南连续99天无新增本地病例后,第418例确诊病例在岘港出现,尽管当时全球单日新增确诊病例数依然居高不下,但在越南并没有任何惊慌、混乱或涌向超市囤货现象,相反,全国人民纷纷同岘港分忧,助力岘港抗击疫情。全国人民均相信政府,相信政治制度将再次击退疫情。

此外,还有一个“越南性特征”,正因为能动员全民力量,所以越南能够迅速地将国家从“和平状态”转变为“战斗状态”或从“正常状态”转变为“新常态”。

越南国防部副部长阮志咏上将表示:“我们有足够能力以最快的速度、最佳的方式调动国家的力量来执行紧急任务,而不损害社会的根基。”

                                 越南医务人员对接受隔离者进行取样检测。图自越通社
                                 越南医务人员对接受隔离者进行取样检测。图自越通社

政权的优越性取决于社会的性质和政府组织形式,这种优越性表现在速度、规模、质量和效率上。当国家的综合实力减弱或增强时,这一优越性将变得更加明显。“在各场国家解放斗争中,我们在动员全民力量方面吸取了宝贵的经验教训,如果没有像越南的政治制度,那么动员全民力量一事就很难做到”,阮志咏上将强调。

我为人人、人人为我的精神

疫情刚刚爆发的时候,整个世界对越南人外出时总是佩戴口罩和数万人愿意在遥远的医院或军营接受集中隔离而感到十分惊讶。越南人这样做不仅是为了保护自己的健康,而且还为了保护社区的健康。他们已经领悟胡志明主席在谈到社会主义人生观时所提到的社会主义集体精神和“我为人人、人人为我”的思想。

         截至9月4日上午,在越南全国的1046例新冠肺炎确诊病例中,累计治愈病例755例。图自越通社
         截至9月4日上午,在越南全国的1046例新冠肺炎确诊病例中,累计治愈病例755例。图自越通社

新冠肺炎疫情是各国的“巨大考验”。疫情爆发时,越南的政治体制已经迅速、准确和有效地做出了回应,并得到了世界的认可。而部分经济实力雄厚、拥有现代医疗系统的国家却陷入“崩溃”状态,数千万人感染新冠病毒,数十万人死亡,不少人被“掉队”。其原因之一是政权的特殊性,各国政府难以控制人民的“自由意志”,导致疫情在社区中迅速蔓延。

法国前驻越大使琼•诺埃尔•波伊里尔(Jean-Noël Poirier)(第148例新冠肺炎确诊病例)在越南接受新冠肺炎治疗后表示,在越南,集体利益一向放在优先地位。越南政府所采取的防疫措施在人口近1亿人的越南发挥了积极作用,因为这些措施受到人民群众的广泛支持。当个人利益需服从集体利益时,为了保护社区的健康,越南人愿意接受为期两周的隔离。

法国前驻越大使琼•诺埃尔•波伊里尔(第148例新冠肺炎确诊病例)获得治愈出院。图自Vietnam+
法国前驻越大使琼•诺埃尔•波伊里尔(第148例新冠肺炎确诊病例)获得治愈出院。图自Vietnam+

欧洲国家人民就很难接受越南所采取的措施,因为其与他们的价值观不一致,但是这些价值观却导致新冠肺炎病毒在整个欧洲蔓延。

琼•诺埃尔•波伊里尔强调,面对敌对势力时,一群坚守纪律的人总能赢得一群各行其是的人,那是永恒的教训。他认为,通过觉悟的宣传,集体纪律和秩序优于西方个人主义。

法国前驻越大使的观点肯定了社会主义政权在抗击疫情中的优越性。集体精神是抵御各种社区危机的有效武器。

在当今的“扁平世界”中,疫情不会“放过”任何一个国家,任何人都可能被感染,个人行为也会影响到整个社区,因此,在此期间,社会主义的集体精神继续发挥其价值。在第二波疫情的战斗中,每个越南人被视为一名“战士”,“我为人人”的集体精神比以往任何时候都更加重要。(未完待续)

第二期:文化力量

Quy hoạch phát triển đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đất nước ngày càng phát triển và đổi mới, đời sống người dân ngày càng được cải thiện nâng cao. Với quy mô là đô thị lớn nhất cả nước hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đang đổi thay từng ngày với những công trình, khu đô thị mới được quy hoạch bài bản, hiện đại, từng bước nâng cao chất lượng đời sống của người dân thành phố, trở thành động lực cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ.

Hiện nay thành phố đang thực hiện việc điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Thành phố đến năm 2045 tầm nhìn năm 2060.

Theo đó, thành phố đang tổ chức rà soát, đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch để xem xét, điều chỉnh cục bộ phân khu, quy hoạch chi tiết; lập quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị theo hướng tái cấu trúc đô thị tại các khu vực xung quanh nhà ga, tuyến đường sắt đô thị, dọc các tuyến kênh.

Với những khát vọng đổi mới, sáng tạo không mệt mỏi, sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, người dân có quyền tin tưởng trong tương lai không xa, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn, bền vững hơn, tiếp tục duy trì vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, trở thành trung tâm tài chính, khoa học công nghệ, giáo dục không chỉ của Việt Nam mà còn ngang tầm khu vực và thế giới.

Kỷ niệm 75 năm Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2020), TTXVN có loạt bài nhìn lại thành tựu trong quy hoạch phát triển đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế, tài chính của cả nước.

Đổi thay diện mạo thành phố

Với nỗ lực không mệt mỏi của cả hệ thống chính trị, được sự đồng tình ủng hộ của người dân, dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Tân Hóa-Lò Gốm đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần chỉnh trang đô thị, cải thiện cuộc sống người dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Hồi sinh những dòng kênh “chết”

Tuyến kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè dài hơn 10km, chảy qua địa bàn các Quận 1, 3, Tân Bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh. Đây là tuyến kênh ô nhiễm bậc nhất Thành phố Hồ Chí Minh.

Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè đã cải thiện đáng kể tình trạng ngập úng,ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe, môi trường sống cho hơn 1,2 triệu dân; góp phần thực hiện chủ trương chỉnh trang đô thị, tạo môi trường sống xanh, sạch, đẹp.   

Với quyết tâm “giải cứu” kênh Nhiêu Lộc, từ năm 2002, dự án cải tạo vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè (giai đoạn 1) được thiết kế với tổng mức đầu tư gần 8.600 tỷ đồng.

Sau gần 10 năm triển khai, vào ngày 18/8/2012, công trình xây dựng, cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè và đường Hoàng Sa, Trường Sa dọc kênh được khánh thành, đánh dấu sự hồi sinh của dòng kênh hơn 20 năm “chết” chìm trong rác.

Giờ đây, nước kênh đã xanh trở lại, khoảng 1,2 triệu người sống xung quanh lưu vực kênh; trong đó, hầu hết là người nghèo có hệ thống thu gom nước thải tập trung, trực tiếp được hưởng lợi thông qua cải tạo điều kiện vệ sinh, giảm nguy cơ ngập lụt.

Dự án cải tạo kênh Tân Hóa-Lò Gốm. (Nguồn: Mạnh Linh/TTXVN)
Dự án cải tạo kênh Tân Hóa-Lò Gốm. (Nguồn: Mạnh Linh/TTXVN)

Vào mỗi buổi sáng hay mỗi đêm xuống, người dân xung quanh tản bộ dọc bờ kênh hóng mát, tập thể dục. Đường sá 2 bên tuyến kênh được tổ chức lại sạch sẽ, trở thành nơi buôn bán, kinh doanh nhộn nhịp.

Theo lãnh đạo Ủy  ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè đã cải thiện đáng kể tình trạng ngập úng, ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe, môi trường sống cho hơn 1,2 triệu dân; góp phần thực hiện chủ trương chỉnh trang đô thị, tạo môi trường sống xanh, sạch, đẹp và tổ chức tốt việc tái định cư người dân trong khu vực.

Tương tự, tuyến kênh Tân Hóa-Lò Gốm có khoảng 1 triệu dân chịu ảnh hưởng trực tiếp do tuyến kênh bị lấn chiếm, xây nhà trái phép, xả rác bừa bãi.

Từ cầu Lò Gốm (Quận 6) lên hướng thượng nguồn về phía quận Tân Phú, Tân Bình, dòng kênh càng nhỏ lại, nước đen bốc mùi hôi thối, đến địa bàn quận Tân Phú, dòng kênh chỉ còn là con rạch nhỏ.

Phát huy những bài học kinh nghiệm từ dự án kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai dự án “Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa-Lò Gốm” nhằm mở rộng kênh, xây tường kè, cống hộp, nạo vét bùn, đắp bờ kênh và cải tạo đường rộng từ 6-20m, xây mới 10 cầu qua kênh, chỉnh trang 4 khu cảnh quan dọc tuyến.

Đến nay, toàn bộ nước thải sinh hoạt của dân cư, các cơ sở sản xuất vốn gây ô nhiễm cho dòng kênh nay được chảy ngầm trong lòng cống, vấn đề ngập nước khi có triều cường hay mưa lớn trong lưu vực Tân Hóa-Lò Gốm đã cơ bản được giải quyết.

Sau khi hoàn thành, dự án đã cải thiện ô nhiễm và giải quyết ngập cho lưu vực kênh Tân Hóa-Lò Gốm có diện tích gần 19km2 ở các Quận 6, Quận 11, Quận Tân Bình và Quận Tân Phú.

Nhiều khu vực từ Bàu Cát đến Đầm Sen, đường Âu Cơ, Hòa Bình đã không còn chìm ngập trong nước bẩn, bốc mùi hôi thối như trước.

Hiện nay, đô thị xung quanh tuyến kênh đã được chỉnh trang theo hướng văn minh, hàng nghìn căn nhà trước kia nằm trong hẻm, hướng ra đường Nguyễn Văn Luông nay trở thành mặt tiền đường Tân Hóa, Lò Gốm rộng 12m.

Dọc kênh Tân Hóa-Lò Gốm, đoạn từ cầu Ông Buông đến hạ lưu kênh, nhiều nhà mới khang trang được xây cất, một số dự án thương mại, chung cư cao tầng cũng đang được khẩn trương xây dựng…

Ông Nguyễn Đình Đức, ngụ tại Quận 6 cho biết, kể từ khi cải tạo tuyến kênh, mở rộng đường dọc kênh, cuộc sống người dân đã thay đổi, nhiều người thuận tiện hơn trong sinh hoạt, buôn bán, kinh doanh và thoát khỏi cảnh ô nhiễm nặng nề đã từng phải chịu đựng từ nhiều năm qua.

Theo đánh giá của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, dự án đạt được đa mục tiêu về nâng cao điều kiện sống của hơn 1 triệu người dân với nhiều thế hệ sinh sống dọc hai bên bờ kênh vốn ô nhiễm trầm trọng và thường xuyên ngập lụt. Giá trị đất đai nhà cửa cũng nhờ đó tăng cao, tình trạng bệnh tật được đẩy lùi, phúc lợi công cộng, an sinh xã hội được đầu tư đầy đủ, diện mạo của khu vực thay đổi một cách rõ rệt và nhanh chóng.

Tiếp tục chỉnh trang

Cải tạo, hồi sinh các “dòng kênh chết” không chỉ là việc khơi thông dòng chảy, kè bờ, nâng cấp các tuyến đường xung quanh mà còn là việc di dời, tổ chức lại cuộc sống của hàng nghìn hộ gia đình sống trên và ven kênh rạch.

Tiếp theo giai đoạn 1, Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai giai đoạn 2 dự án cải tạo vệ sinh môi trường lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè có tổng mức đầu tư 524 triệu USD với mục tiêu xử lý nguồn nước thải sinh hoạt trong lưu vực Nhiêu Lộc-Thị Nghè và Quận 2 trước khi thải ra môi trường; khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái sông Sài Gòn và lưu vực hạ lưu sông Đồng Nai cũng như cải tạo, chỉnh trang đô thị, nâng cao chất lượng môi trường và đảm bảo sức khỏe cho người dân. Hiện nay, một số dự án thành phần đang được đẩy nhanh tiến độ; trong đó, có dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải ở Quận 2.

Kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè là địa giới tự nhiên tách biệt khu trung tâm thành phố với các quận ngoại thành ở Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè là địa giới tự nhiên tách biệt khu trung tâm thành phố với các quận ngoại thành ở Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Nguyễn Luân)

Cùng với đó, thành phố đang nỗ lực huy động mọi nguồn lực để tiếp tục chỉnh trang đô thị, cải tạo chung cư cũ, xây dựng chung cư mới, tạo những ô phố được quy hoạch bài bản, hiện đại, văn minh.

Đây là những nội dung quan trọng nằm trong chương trình Chỉnh trang và phát triển đô thị thuộc một trong 7 chương trình đột phá mà Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020 đưa ra và sẽ tiếp tục đeo bám, quyết tâm thực hiện đạt kết quả cao trong giai đoạn 2021-2025.

Theo đó, đến hết năm 2020 thành phố phấn đấu di dời, tổ chức lại cuộc sống cho 20.000 hộ gia đình đang sống trên và ven kênh rạch; cải tạo, xây dựng mới, thay thế 50% chung cư hư hỏng, xuống cấp được xây dựng trước năm 1975.

Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố, đến nay việc di dời nhà trên và ven kênh rạch đã cơ bản xác định được các khu vực, phạm vi di dời và đã tiến hành chuẩn bị đầu tư, tạo tiền đề để tiếp tục triển khai trong giai đoạn 2021-2025.

Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục thực hiện cuộc vận động người dân không xả rác ra đường cũng như đẩy mạnh xử lý các trường hợp lấn chiếm hệ thống thoát nước, góp phần chỉnh trang đô thị dọc các tuyến kênh.

Đối với chương trình cải tạo chung cư mới, thay thế chung cư cũ, việc uỷ quyền, phân công đã tạo điều kiện để Ủy ban Nhân dân các quận chủ động thực hiện thủ tục đầu tư, điều chỉnh chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc tại chung cư cũ, đảm bảo hiệu quả kinh tế, thu hút các nhà đầu tư tham gia dự án, đề xuất các chính sách bồi thường, tái định cư phù hợp.

Trong tổng số 65 dự án được lập nhằm di dời 22.861 căn nhà trên và ven kênh rạch, hiện đã có 3 dự án đã hoàn thành bồi thường, di dời được 1.086 căn, giải ngân được 3.849 tỷ đồng; 21 dự án xác định được ranh quy hoạch, hành lang bảo vệ kênh rạch, điều tra khảo sát số hộ di dời; 13 dự án đang lập thủ tục trình duyệt chủ trương đầu tư công; 8 dự án đã có chủ trương đầu tư, đang lập thủ tục phê duyệt dự án bồi thường… Dự kiến đến hết năm 2020 thành phố sẽ bồi thường, di dời được 2.487 căn.

Đối với chương trình cải tạo chung cư cũ, hiện trên địa bàn thành phố có 474 căn chung cư xây dựng trước năm 1975; trong đó, có 15 chung cư cấp D, cấp hư hỏng nặng cần di dời khẩn cấp.

Từ năm 2016 đến nay, thành phố đã cải tạo, sửa chữa hoặc di dời, tháo dỡ để đầu tư xây dựng mới 222 chung cư; trong đó hoàn tất di dời 15 chung cư cấp D.

Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân và có những chuyển biến tích cực, hoàn thành cơ bản các nội dung đề ra.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã được nâng cấp, cải thiện đáng kể; các hạng mục hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, công viên cây xanh) được quan tâm đầu tư, qua đó cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thành phố.

Thành phố cũng đã di dời cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi nội thành, thực hiện dự án Đại lộ Đông Tây (Võ Văn Kiệt-Mai Chí Thọ), tạo mặt bằng cho các dự án lớn, hiện đại dọc tuyến Võ Văn Kiệt hoặc các tuyến kênh lớn như Tàu Hủ-Bến Nghé, Kênh Đôi-Tẻ.

Cùng với đó, các chương trình cải tạo môi trường, di dời cơ sở ô nhiễm đã dẫn tới việc hình thành các khu công nghiệp và dân cư mới ngoại thành, tạo điều kiện phát triển các khu công nghiệp và đô thị mới./.

Du khách trải nghiệm du lịch trên kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè. (Ảnh: An Hiếu/TTXVN)
Du khách trải nghiệm du lịch trên kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè. (Ảnh: An Hiếu/TTXVN)

Phát triển các khu đô thị hiện đại

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công một số hình mẫu khu đô thị hiện đại, văn minh, vừa đáp ứng nhu cầu sinh sống, làm việc của người dân vừa tạo dựng môi trường đầu tư và điểm đến hấp dẫn cho cộng đồng quốc tế.

Dấu ấn Phú Mỹ Hưng

Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Quận 7 từng là khu đầm lầy hoang vu. Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, nơi đây đã trở thành khu đô thị kiểu mẫu với sự hiện đại, văn minh bậc nhất của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và các tỉnh phía Nam nói chung.

Dự án được hình thành từ việc Tập đoàn CT&D Đài Loan hợp tác với Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận (IPC) làm Khu chế xuất Tân Thuận, đã đề xuất giao Công ty Liên danh Phú Mỹ Hưng đầu tư xây dựng con đường dài 17,8km, lộ giới 120m để đổi lại thuê 600ha đất xây dựng Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng.

Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Quận 7 từng là khu đầm lầy hoang vu. Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, nơi đây đã trở thành khu đô thị kiểu mẫu với sự hiện đại, văn minh bậc nhất của Thành phố Hồ Chí Minh.

Toàn bộ khu đô thị Phú Mỹ Hưng được quy hoạch trên diện tích 2.600ha tọa lạc về phía Nam nằm dọc theo Đại lộ Nguyễn Văn Linh.

Hiện tại, Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát triển Phú Mỹ Hưng đang khai thác và phát triển 5 cụm đô thị với tổng diện tích hơn 600ha. Ngoài ra, các nhà quy hoạch chuyên nghiệp đã quy hoạch thành 21 phân khu chức năng dọc theo đại lộ Nguyễn Văn Linh.

Một góc Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)
Một góc Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Phú Mỹ Hưng đang trở thành nơi tập trung sinh sống của những người có thu nhập cao, tri thức, là trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, khoa học, văn hóa, giáo dục… với đầy đủ hạ tầng cần thiết, chức năng hoàn chỉnh.

Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành công của Phú Mỹ Hưng đến từ quy hoạch tốt theo phong cách đô thị hiện đại, đa dạng, hỗn hợp các yếu tố đô thị và loại hình công trình xây dựng, ưu tiên không gian công cộng, có bản sắc, có tính sinh thái, khả năng thích ứng, sáng tạo, an ninh, an toàn và ngay từ đầu hướng tới tầng lớp giàu có trong nước và quốc tế.

Bài học từ Khu đô thị Phú Mỹ Hưng là cần có ý tưởng tốt, quyết tâm đầu tư, quy hoạch định hướng thực thi, huy động nguồn lực, đặc biệt đối với dự án hợp tác công tư.

Hướng đến các khu đô thị hiện đại

Phú Mỹ Hưng là niềm tự hào của Thành phố Hồ Chí Minh trong công tác quy hoạch, phát triển đô thị. Tuy nhiên, thành phố không chỉ dừng lại ở Phú Mỹ Hưng mà còn hướng đến việc hình thành các khu đô thị hiện đại khác, có tiêu chuẩn sống cao hơn; trong đó có Khu đô thị Hiệp Phước, huyện Nhà Bè.

Khu đô thị Hiệp Phước có quy hoạch 1.354ha nằm trong tổng thể Khu đô thị cảng Hiệp Phước (3.900ha). Do nằm ở vùng đất thấp, giáp sông Soài Rạp, sông Đồng Điền nên Khu đô thị Hiệp Phước được quy hoạch với mật độ xây dựng thấp, tôn tạo cảnh quan mặt nước và cây xanh. Đây là khu đô thị mới đa chức năng, có tính đặc thù của đô thị ven cảng, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo điều kiện mở rộng không gian đô thị thành phố ra biển.

Bốc dỡ hàng khia trương cảng Tân Cảng-Hiệp Phước. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)
Bốc dỡ hàng khia trương cảng Tân Cảng-Hiệp Phước. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

Theo quy hoạch, Khu đô thị Hiệp Phước được xây dựng thành 3 giai đoạn; trong đó giai đoạn 1 đầu tư vào các khu công nghiệp (đã đầu tư hơn 10 năm qua), giai đoạn 2 đầu tư hệ thống cảng và dịch vụ cảng (đang được đầu tư), giai đoạn 3 phát triển một khu đô thị với quy mô gần 200.000 dân.

Hiện nay, thành phố đã bồi thường, giải phóng mặt bằng đạt 65,4/1.354 ha, hoàn thành hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư Hiệp Phước giai đoạn 1. Khu đô thị Hiệp Phước đã được Ủy ban Nhân dân thành phố phê duyệt 5 hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000.

Tương lai gần, Khu đô thị Hiệp Phước được kỳ vọng sẽ “lột xác” từ vùng đất thấp trũng thành đặc khu kinh tế, đô thị biển có chất lượng sống cao hơn cả Khu đô thị Phú Mỹ Hưng.

Cùng với Khu đô thị Hiệp Phước, thành phố đang nỗ lực triển khai xây dựng một số khu đô thị kiểu mẫu khác như Khu đô thị Nam thành phố, Khu đô thị Tây Bắc (huyện Củ Chi).

Đơn cử, Khu đô thị Tây Bắc (quy hoạch 6.000ha) đã bồi thường, giải phóng mặt bằng được 3.347ha của giai đoạn 1.

Thành phố đang thưc hiện thủ tục đầu tư các dự án hạ tầng kỹ thuật giao thông theo hợp đồng BT đối với khu tái định cư, nhà ở xã hội (917,8ha), hạ tầng kỹ thuật các khu trường đại học, cao đẳng (quy mô 131ha). Hiện, dự án cũng đã được phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh phân khu tỷ lệ 1/5000 nhằm tính toán lại quy mô và hiệu quả kêu gọi đầu tư.

Trong khi đó, Khu đô thị Nam thành phố đã đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh mạng lưới hạ tầng giao thông chính, đầu tư xây dựng phát triển thêm 1,86/4,2 triệu m2 sàn xây dựng đồng thời đang được tổ chức lập điều chỉnh quy hoạch, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh quy hoạch.

Tương tự dự án Khu đô thị lấn biển Cần Giờ cũng đang được điều chỉnh quy hoạch theo hướng phát triển huyện Cần Giờ thành đô thị du lịch, nghỉ dưỡng và giải trí; trong đó bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Đánh giá chung việc quy hoạch và triển khai quy hoạch các khu đô thị mới trên địa bàn, theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trong hơn 10 năm trở lại đây không gian thành phố đã mở rộng vào các khu vực đã kết nối công nghiệp và trũng thấp, mở rộng ra bên ngoài và dài trải trên nhiều hướng.

Theo quy hoạch, hướng mở rộng chính của thành phố là Đông, Tây Nam và 2 hướng phụ là Tây Bắc, Nam.

Tuy nhiên, trên thực tế các khu vực mở rộng chính lại hướng tới các khu đất có chi phí thấp, gắn với các khu vực có nhu cầu lao động công nghiệp cao phía Tây Nam và phía Nam (huyện Bình Chánh, quận Bình Tân, huyện Nhà Bè).

Một số khu vực phát triển khác kết nối phía Bắc và phía Đông Bắc với tỉnh Bình Dương vẫn là các khu công nghiệp (Quận 12, Quận 9) hoặc khu vực phía Đông (Quận 2) gắn với cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành chủ yếu làm nhà ở.

Cùng với đó, khu đô thị mới Thủ Thiêm và các khu đô thị nằm ở phía Đông Thành phố, trong tương lai sắp tới là thành phố Thủ Đức đang trong quá trình hình thành với quy mô hơn 21.000km2 sẽ trở thành những đô thị hiện đại, động lực phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhìn chung, các dự án khu đô thị như Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, An Phú, Hiệp Phước, Tây Bắc, Khu đô thị sinh thái lấn biển Cần Giờ… đã tạo ra các mảng đô thị mới có quy hoạch đạt tiêu chuẩn mới, có tính chất hiện đại, phù hợp với nhu cầu hội nhập kinh tế cũng tạo sự hấp dẫn đầu tư./.

Hồ Bán nguyệt trong Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7. (Ảnh: Quang Nhựt/TTXVN)
Hồ Bán nguyệt trong Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7. (Ảnh: Quang Nhựt/TTXVN)

Khát vọng đô thị thông minh

Lãnh đạo Trung ương và các thế hệ lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định, đánh giá cao truyền thống năng động, sáng tạo của thành phố, xem đây là một trong những nhân tố quyết định sự thành công trong quá trình xây dựng và phát triển của một đô thị giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước.

Giai đoạn 2021-2030 Thành phố Hồ Chí Minh đang hướng tới việc khôi phục vị thế “Hòn ngọc viễn Đông” với mục tiêu trở thành siêu đô thị văn hoá, trung tâm công nghiệp dịch vụ tiên tiến của khu vực Đông Nam Á và Đông Á.

Vì thế, khát vọng vươn xa với những sáng kiến, sự tìm tòi, sáng tạo thông qua những mô hình, cách làm mới luôn thường trực, cháy bỏng trong mỗi cá nhân lãnh đạo và người dân thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu.

Thành phố trong thành phố

Vừa qua, một tin vui và nguồn động viên, cổ vũ lớn lao cho Thành phố Hồ Chí Minh là Chính phủ đã đồng ý thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở sắp xếp Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức.

Theo đánh giá của Chính phủ, việc thành lập thành phố Thủ Đức theo định hướng hình thành khu đô thị sáng tạo, tương tác cao là phù hợp với chủ trương chung về phát triển kinh tế số, phát huy năng lực, đổi mới, sáng tạo.

Để đạt hiệu quả cao nhất đối với mô hình này, Phó Thủ tướng Chính phủ Thường trực Trương Hoà Bình yêu cầu Thành phố cần lưu ý về quy hoạch chung, tổ chức lấy ý kiến của các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn công nghệ, tài chính, bất động sản hàng đầu thế giới về định hướng xây dựng thành phố Thủ Đức nhằm tìm hiểu các nhu cầu đầu tư, yêu cầu về cơ sở hạ tầng… để có thể tích hợp vào quy hoạch, định hướng chung của thành phố.

 Một góc Thành phố Thủ Đức được hợp nhất từ quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. (Nguồn: TTXVN)
 Một góc Thành phố Thủ Đức được hợp nhất từ quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. (Nguồn: TTXVN)

Nhằm thu hút đầu tư vào thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cũng cần làm rõ các điểm nhấn, điểm khác biệt của thành phố mới, trong việc so sánh không chỉ với các thành phố trong nước, mà còn đối với các trung tâm tài chính, công nghệ trong khu vực châu Á.

Để làm được điều này, Thành phố Hồ Chí Minh cần làm việc với các Bộ, ngành để có thể tích hợp các đề án, chương trình liên quan vào định hướng phát triển của thành phố mới.

Thành phố cũng cần lưu ý việc quy hoạch thành phố Thủ Đức gắn trong quy hoạch chung của thành phố cũng như quy hoạch vùng, để tạo động lực tăng trưởng hỗ trợ, tránh trùng lặp định hướng phát triển giữa các vùng, các khu vực và tránh tạo ra cạnh tranh nội vùng không cần thiết, dễ làm phân tán nguồn lực.

“Bên cạnh các yếu tố kinh tế, tài chính, do đặc thù của thành phố Thủ Đức tương lai có thể là nơi tập trung đông dân cư, với thành phần đến từ nhiều tỉnh thành, quốc gia khác nhau, Thành phố Hồ Chí Minh cần thiết kế không gian rộng rãi, xanh sạch đẹp, đáng sống. Việc bảo đảm an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội và yếu tố liên quan tới dịch tễ không để phát sinh lây lan dịch bệnh cần phải được tính toán trước, nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay,” Phó Thủ tướng Chính phủ Thường trực Trương Hoà Bình nêu rõ.

Nhấn mạnh định hướng phát triển mô hình “thành phố trong thành phố,” Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân cho rằng, thành phố đã xây dựng đề án và kiến nghị Trung ương về việc sáp nhập Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức thành một thành phố mới, với tên tạm gọi là thành phố Thủ Đức. Thành phố này rộng hơn 21.000ha và sẽ có khoảng 1 triệu dân.

“Nếu thành phố này được thành lập thì đây sẽ thực sự là thành phố công nghiệp, nghiên cứu khoa học, dịch vụ. Khu vực này chiếm khoảng 10% diện tích, 10% dân số thành phố nhưng có thể đóng góp 1/3 kinh tế cho thành phố, tức bằng khoảng 7% GDP của cả nước. Như vậy, quy mô kinh tế của thành phố Thủ Đức này sẽ lớn hơn Đồng Nai, Bình Dương và chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội,” Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân cho biết.

Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong, trong định hướng quy hoạch thành phố Thủ Đức, Quận 2 với hạt nhân Khu đô thị mới Thủ Thiêm sẽ giữ vai trò Trung tâm tài chính, y tế kỹ thuật cao, thể dục thể thao đa năng (Khu Liên hợp thể dục thể thao quốc gia Rạch Chiếc).

Còn đối với Quận 9, Khu công nghệ cao giữ vai trò Trung tâm công nghệ giáo dục, nơi phát triển các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, sản xuất mẫu thử, sản phẩm sáng tạo công nghệ cao.

Khu Tam Đa của Quận 9 sẽ trở thành khu phức hợp hiện đại với nhiều phân khu như căn hộ, chung cư, trung tâm thương mại, trường học, bệnh viện, thể thao… để tiếp thêm động lực phát triển ngành bất động sản của thành phố.

Lấy lại vị thế “Hòn ngọc Viễn Đông”

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020 đặt ra muc tiêu tổng quan xây dựng thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại nghĩa tình; trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính thương mại, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á.

Về mặt phát triển thành phố, giai đoạn 2021-2030 Thành phố Hồ Chí Minh đang hướng tới việc khôi phục vị thế “Hòn ngọc viễn Đông” với mục tiêu trở thành siêu đô thị văn hoá, trung tâm công nghiệp dịch vụ tiên tiến của khu vực Đông Nam Á và Đông Á, có chức năng hiện đại, thiết kế đô thị phát huy truyền thống lịch sử văn hoá trên cơ sở vận dụng điều kiện tự nhiên đặc thù của thành phố.

Một góc trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
Một góc trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)

Còn đối với giai đoạn 2030-2045 thành phố được định hướng phát triển theo hướng điều chỉnh cơ chế phân bổ đầu tư có trọng điểm trong hệ thống đô thị quốc gia; đổi mới hệ thống quy hoạch và kiểm soát sự phát triển tích hợp trên nền tảng số; chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, thông minh, bền vững.

Mở rộng đô thị, tăng cường sức chống chịu ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như phát triển vùng ven trên ranh giới phát triển thực tế thay vì ranh giới hành chính; đồng thời, giải phóng nguồn lực đất đai, trao quyền và thúc đẩy hợp tác.

Để phát huy và trò đầu tàu kinh tế của cả nước, vừa qua, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ ủng hộ chủ trương phát triển trung tâm tài chính khu vực và quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh; xem đây là nhiệm vụ trọng điểm, chiến lược quan trọng của quốc gia và được đưa vào chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045.

Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố, kiến nghị này hướng đến việc nâng tầm quốc gia lên vị trí mới trong bản đồ các trung tâm tài chính phát triển của thế giới. Việc hình thành và phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại thành phố đã được Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương ủng hộ tại nhiều hội thảo, diễn đàn được tổ chức trong những năm qua.

Ý tưởng xây dựng một trung tâm tài chính của Việt Nam đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có quy mô tập trung lớn, bước đầu có thể đặt mục tiêu cung cấp dịch vụ tài chính cho các nước lân cận (như Lào, Campuchia, Myanmar…).

Về dài hạn, Thành phố Hồ Chí Minh định hướng gia nhập mạng lưới trung tâm tài chính tầm cỡ khu vực, cung cấp dịch vụ tài chính không chỉ cho các nước trong khu vực ASEAN mà còn rộng hơn thế. Trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh có thể thu hút được nhiều nguồn cung, cầu về sản phẩm tài chính phục vụ phát triển hoạt động thương mại, đầu tư vào kinh doanh; thu hút các định chế tài chính, các tổ chức kinh tế hàng đầu của khu vực và toàn cầu.

Hiện nay, mật độ tập trung các định chế định tài chính trên địa bàn Thành phố cao nhất so với cả nước. Chỉ tính riêng hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã có 2.138 đơn vị; trong đó, 50 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài, 31 ngân hàng thương mại cổ phần và 4 ngân hàng quốc doanh.

Riêng năm 2019, tổng vốn huy động trên địa bàn thành phố chiếm 24,09% tổng vốn huy động của cả nước. Tổng dư nợ cho vay cũng chiếm tới 28,05% tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế.

Trên thị trường, tổng vốn giá trị vốn hoá tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố chiếm tới 95% tổng vốn hoá toàn thị trường và 54,33% GDP cả nước.

Thành phố hiện là đầu tàu động lực chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 22,3% GDP, chiếm 26,6% ngân sách quốc gia và thu hút 33,8% số dự án FDI của cả nước. Đây cũng là nơi ra đời thị trường chứng khoán của Việt Nam.

“Thành công trong việc phát triển trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tác động tích cực đối với nguồn vốn – huyết mạch của nền kinh tế. Cùng đó, sẽ thu hút sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư, kéo theo các sản phẩm, dịch vụ kinh doanh, tài chính phụ trợ,” ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ.

Đối với công tác quy hoạch và phát triển quy hoạch đô thị bền vững, Thành phố Hồ Chí Minh được định hướng chuyển đổi không gian đô thị theo hướng khôi phục cảnh quan sông, vốn dĩ là đặc trưng mang tính “sông nước Nam Bộ.”

Thành phố khắc phục hiện tượng phát triển “da beo,” hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo khu vực và đầu tư dứt điểm, khai thác tối đa giá trị tại các khu chức năng đô thị.

Kiểm soát mở rộng các vùng trũng trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm tăng nhanh tình trạng ngập lụt và sụt lún đồng thời phát triển các trung tâm mới trong chùm đô thị gắn với nền tảng TOD (giao thông công cộng) để giảm tải cho vùng trung tâm, phát triển đô thị, đảm bảo giao thông bền vững.

Bên cạnh đó, hiện nay thành phố đang thực hiện việc điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Thành phố đến năm 2045 tầm nhìn năm 2060. Theo đó, thành phố đang tổ chức rà soát, đánh giá quá trình thực hiện quy hoạch để xem xét, điều chỉnh cục bộ phân khu, quy hoạch chi tiết; lập quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị theo hướng tái cấu trúc đô thị tại các khu vực xung quanh nhà ga, tuyến đường sắt đô thị, dọc các tuyến kênh.

Với những khát vọng đổi mới, sáng tạo không mệt mỏi, sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, người dân có quyền tin tưởng trong tương lai không xa, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn, bền vững hơn, tiếp tục duy trì vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, trở thành trung tâm tài chính, khoa học công nghệ, giáo dục không chỉ của Việt Nam mà còn ngang tầm khu vực và thế giới./.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Chung/TTXVN)
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Chung/TTXVN)

Dấu ấn tiên phong

Trong suốt chặng đường cùng đất nước đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như  xây dựng và phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh luôn phát huy tinh thần “vì cả nước, cùng cả nước,” không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát triển toàn diện, nhất là duy trì và phát huy vai trò tiên phong, đầu tàu kinh tế đối với đất nước, từng bước vươn tầm khu vực.

Trong bối cảnh có nhiều thách thức hiện nay, từ khách quan đến nội tại, Thành phố Hồ Chí Minh đang khẩn trương tìm kiếm các giải pháp phù hợp, đáp ứng với nhu cầu thực tế của thành phố cũng như cả nước và xu hướng chung của quốc tế để xây dựng thành phố ngày càng hiện đại, văn minh, qua đó đóng góp nhiều hơn nữa cho cả nước, duy trì vị trí đầu tàu kinh tế.

TTXVN có loạt bài viết ghi nhận những thành tựu quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển kinh tế cũng như những định hướng để phát triển thành phố nhanh, bền vững hơn nữa trong thời gian tới.

Không ngừng khẳng định vai trò đầu tàu

Để hoàn thành vai trò vị trí đầu tàu trong các mặt phát triển, nhất là lĩnh vực kinh tế, trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, các thế hệ lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh một mặt tận dụng hiệu quả những lợi thế sẵn có như đất đại, hạ tầng, nguồn nhân lực, mặt khác luôn chủ động sáng tạo, đổi mới, “khai phá” nhiều cách làm mới để thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ. Có thể nói, vị trí đó không phải tự nhiên có được, mà do có sự nỗ lực rất lớn của nhiều thế hệ lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố qua nhiều thời kỳ.

Từ những con số biết nói…

Vai trò và vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh luôn được nhắc đến và khẳng định trong nhiều văn kiện cũng như đánh giá của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành phố qua các thời kỳ. Thực tế này cũng được thể hiện rõ qua quy mô kinh tế của thành phố ngày càng tăng cũng như đóng góp vào quy mô kinh tế cả nước ngày càng lớn.

Về vai trò đầu tàu kinh tế, ông Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh phân tích, tỷ trọng đóng góp của Thành phố Hồ Chí Minh vào nền kinh tế cả nước trong 25 năm qua không ngừng tăng lên. Cụ thể, giai đoạn 1996-2000, kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chiếm bình quân 17% kinh tế cả nước; giai đoạn 2001-2010 chiếm 20% nhưng đến giai đoạn 2011-2019 là hơn 22%.

Tỷ trọng đóng góp của Thành phố Hồ Chí Minh vào nền kinh tế cả nước trong 25 năm qua không ngừng tăng lên

Tương tự, giá trị gia tăng tạo ra trên 1km2 của thành phố so với cả nước cũng ngày một tăng. Nếu giai đoạn 1996-2000, trên 1km2 của Thành phố Hồ Chí Minh tạo ra giá trị gia tăng cao gấp 27 lần bình quân cả nước, thì giai đoạn 2001-2010 gấp 31 lần và giai đoạn 2011-2019 gấp 35 lần.

Điều này có nghĩa là sau khoảng 3 năm, giá trị gia tăng tạo ra trên 1km2 của Thành phố Hồ Chí Minh bằng giá trị cả nước tạo ra trên 1km2 trong 100 năm. Theo ông Nguyễn Thiện Nhân, cơ sở để đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao hơn bình quân cả nước và đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước ngày càng tăng, đó là năng suất lao động. Thành phố Hồ Chí Minh luôn duy trì năng suất lao động bình quân cao hơn cả nước khoảng 2,7 lần và năm 2019 là 2,9 lần.

Dưới góc độ con số tuyệt đối, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố tăng bình quân khoảng 8,3%/năm (giai đoạn 2016-2019); quy mô GRDP tăng hơn 1,6 lần, từ 919 nghìn tỷ đồng năm 2015 lên 1,49 triệu tỷ đồng vào năm 2020. Các ngành dịch vụ của thành phố phát triển đạt kết quả cao cả về quy mô và năng suất, chất lượng; giá trị gia tăng dịch vụ chiếm hơn 33% giá trị gia tăng của toàn ngành dịch vụ, đứng đầu của cả nước.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí đầu tàu không chỉ là tăng trưởng mà đóng góp vào ngân sách cả nước. Cụ thể, thu ngân sách của thành phố giai đoạn 2001-2010 bình quân đóng góp ở mức 26% ngân sách cả nước, đến giai đoạn 2011-2019 là khoảng 27,6%.

“Tỷ trọng đóng góp ngân sách tiếp tục tăng, đây là yếu tố chỉ rõ Thành phố Hồ Chí Minh là vị trí đầu tàu kinh tế cả nước, tiếp tục được giữ vững và tiếp tục được khẳng định,” ông Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh.

Hiện Thành phố Hồ Chí Minh thu hút vốn xã hội đạt 36% tổng sản phẩm nội địa, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X đề ra là 30%. Tỷ lệ thu hút vốn đầu tư nước ngoài của thành phố so với cả nước cũng không ngừng tăng. Năm 2015, tỷ lệ này là 13,4%, đến năm 2016 chiếm 13,7%, năm 2017 chiếm 14,2% và trong 2 năm gần đây đều chiếm 14,7% cả nước. Dự kiến đến cuối năm 2020, trên địa bàn thành phố có hơn 10.000 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư, kể cả cấp mới và tăng vốn là hơn 49 tỷ USD.

Những cách làm đột phá

Từ sau ngày giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh luôn là một đầu tàu kinh tế, có nguồn thu ngân sách lớn của cả nước. Bà Phạm Phương Thảo, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ đây là nơi có nhiều đề xuất, đóng góp xây dựng đường lối đổi mới từ thực tiễn sinh động và từ đòi hỏi của cuộc sống. Thành phố đã tìm cách bung ra sản xuất theo yêu cầu, theo năng lực và tháo gỡ việc ngăn sông cấm chợ, góp phần xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế cũng được Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định thông qua các mô hình phát triển hiệu quả như khu công nghiệp-khu chế xuất, khu công nghệ cao; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; ngân hàng thương mại cổ phần; thành lập trung tâm chứng khoán thành phố, xây dựng thị trường vốn…

Khởi đầu với Khu chế xuất Tân Thuận năm 1991 – khu chế xuất đầu tiên của cả nước, sau đó là các khu công nghiệp, khu chế xuất khác được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này từng bước hiện thực hóa chính sách phát triển kinh tế mới, tạo dựng khung pháp lý về mô hình này để thành lập các khu chế xuất, khu công nghiệp trong cả nước. Thông qua đó, thành phố đã thực hiện các mục tiêu về thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết việc làm; tiếp nhận kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, hiện đại; góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa vùng ngoại thành…

Nút giao thông hiện đại được hình thành tại khu vực Cát Lái-Xa lộ Hà Nội, góp phần phát triển khu đô thị mới tại quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Nút giao thông hiện đại được hình thành tại khu vực Cát Lái-Xa lộ Hà Nội, góp phần phát triển khu đô thị mới tại quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Để thực hiện tham gia vào nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, trong nhiều năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động đề xuất và triển khai nhiều biện pháp, giải pháp bình ổn thị trường, tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp, đề ra nhiều chương trình, điển hình như Chương trình bình ổn thị trường, Chương trình kết nối doanh nghiệp-ngân hàng…

Một trong những thành tựu nổi bật khác của Thành phố Hồ Chí Minh là phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại. Trên cơ sở quy hoạch đô thị và vùng đô thị, thành phố tập trung nhiều nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông, hình thành các trục giao thông như Đại lộ Võ Văn Kiệt, Xa lộ Hà Nội, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và các tuyến Vành đai 2, 3… đang từng bước được hoàn thiện. Song song đó, các khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, khu đô thị Tây Bắc, Hiệp Phước, khu đô thị mới Thủ Thiêm… đã và đang được xây dựng, hình thành nên vóc dáng của một đô thị hiện đại.

Cùng đó, Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi có nhiều thị trường phát triển mạnh mẽ, có quy mô hàng đầu cả nước như thị trường hàng hóa với quy mô lớn, duy trì mức tăng trưởng cao; thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường vốn liên tục tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, cá nhân; các thị trường như bất động sản, khoa học và công nghệ, lao động cũng phát triển mạnh mẽ, có khả năng cạnh tranh cao, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Một trong những thành tựu nổi bật của Thành phố Hồ Chí Minh là phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại

Với khát vọng đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trong những trung tâm kinh tế của khu vực châu Á, từ năm 2015, Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung các nguồn lực để triển khai xây dựng đô thị thông minh, trong đó Đề án xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017-2020 được triển khai với các yếu tố cấu thành như cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông; kho dữ liệu dùng chung; nền tảng dữ liệu mở, Trung tâm điều hành thông minh, Trung tâm an toàn thông tin… Thành phố là địa phương đầu tiên thực hiện đô thị thông minh và mới đây cũng là địa phương đầu tiên công bố Chương trình chuyển đổi số.

Theo ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đây là giải pháp mang tính cấp thiết và căn cơ giúp thành phố giải quyết những mặt trái của cơ chế thị trường, đô thị hóa…

Bên cạnh đó, mô hình đô thị thông minh còn có ý nghĩa to lớn hơn ở cấp quốc gia, góp phần khẳng định vai trò và vị trí đầu tàu của thành phố trong nền kinh tế quốc gia, góp phần tạo bản lề cho thành phố phát triển theo hướng kinh tế trí thức./.

Những mô hình

tiên phong

Bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ dựa vào những lợi thế sẵn có để phát triển mà còn chủ động nghiên cứu, tìm tòi, triển khai các mô hình phát triển mới theo xu hướng chung của thế giới, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ cao. Những mô hình đầu tiên của cả nước này được triển khai 20 năm qua, đến nay đã bước đầu cho trái ngọt; trong đó, điển hình là Khu công nghệ cao thành phố, Công viên phần mềm Quang Trung. Đây cũng là những “hạt nhân” trong xây dựng đô thị sáng tạo tương tác cao, đô thị thông minh của thành phố hiện nay và trong tương lai.

Khu công nghệ cao tỷ đô

Được thành lập đầu những năm 2000, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (SHTP) đã thật sự tạo được dấu ấn riêng trong sự phát triển của các khu công nghiệp-khu chế xuất của thành phố, với những dự án “triệu đô.” Đây được xem là chính sách phát triển đột phá của Đảng và Nhà nước.

Nguyên Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Lê Hoài Quốc cho biết sự phát triển của SHTP có thể chia làm hai giai đoạn chính là từ năm 2002 đến 2011 và từ năm 2011 đến nay. Nếu như điểm nhấn của giai đoạn đầu là Nidec và Intel thì giai đoạn hai, dấu ấn là Samsung với việc Thành phố Hồ Chí Minh trao giấy chứng nhận đầu tư dự án Samsung CE Complex có tổng vốn 1,4 tỷ USD.

Một góc Khu công nghệ cao, quận 9, TP.HCM. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)
Một góc Khu công nghệ cao, quận 9, TP.HCM. (Ảnh: Trần Xuân Tình/TTXVN)

Trong giai đoạn đầu, dự án Intel Product Vietnam (IPV) với tổng giá trị đầu tư của giai đoạn 1 hơn 1 tỷ USD vào năm 2006 là một dấu mốc quan trọng cho lĩnh vực khoa học công nghệ Việt Nam. Hiện nay IPV đang có kế hoạch mở rộng với số vốn đầu tư dự kiến cho giai đoạn 2 khoảng 1 tỷ USD.

Ông Lê Hoài Quốc nhớ lại: “Thời điểm đó, IPV là dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao đầu tiên có giá trị đầu tư lớn nhất và có tác động lan tỏa rất lớn cho việc thu hút đầu tư các dự án sau đó tại SHTP nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Nối tiếp IPV, nhiều dự án công nghệ lớn cũng đầu tư vào khu… Dự án của Intel đã để lại dấu ấn đậm nét không chỉ về doanh thu, về năng suất lao động trên đầu người luôn dẫn đầu trong các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, mà đặc biệt là góp phần đào tạo nhân lực cho Việt Nam.”

Cũng từ dấu ấn này, IPV đã góp phần cùng Ban Quản lý Khu đề xuất với Trung ương nhiều cơ chế và chính sách trong quản lý các doanh nghiệp FDI, tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư mở rộng cho các doanh nghiệp công nghệ cao. Sau 14 năm kể từ ngày Tập đoàn Intel chính thức đầu tư dự án IPV, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đã cơ bản hoàn thành với hạ tầng kỹ thuật được hoàn thiện, hơn 95% đất đã được giao cho nhà đầu tư và giá trị sản xuất cũng như xuất khẩu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Tính đến tháng 8/2020, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh có 158 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư còn hiệu lực, với 108 dự án trong nước (tổng vốn 44.497 tỷ đồng) và 50 dự án nước ngoài (5.679 triệu USD). Trong 8 tháng năm 2020, giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao ước đạt 12,687 tỷ USD, tăng 15,85% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến nay, giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao ước đạt 77,64 tỷ USD, giá trị xuất khẩu đạt 73,425 tỷ USD và giá trị nhập khẩu đạt 66,842 tỷ USD.

Nghiên cứu phát triển sản phẩm vi mạch bán dẫn, kết quả hợp tác chuyển giao công nghệ tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)
Nghiên cứu phát triển sản phẩm vi mạch bán dẫn, kết quả hợp tác chuyển giao công nghệ tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Năng suất lao động bình quân của SHTP giai đoạn 2015-2019 ước đạt 295.000 USD/lao động, tăng gấp 2,6 lần so với giai đoạn 2010 – 2015. Theo bà Lê Bích Loan, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, năng suất lao động theo giá trị gia tăng của lao động trong khu luôn cao hơn gấp 20 lần so với năng suất lao động bình quân cả nước.

Những năm gần đây, doanh nghiệp tại SHTP đã tăng dần các hoạt động R&D (nghiên cứu triển khai) và tăng chi phí đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao. Hiện đa số nhân sự bộ phận R&D đều là người Việt Nam. Nhiều tập đoàn lớn đã và đang hình thành các trung tâm nghiên cứu tại SHTP với mục tiêu đầu tư phát triển hoạt động R&D của tập đoàn tại Việt Nam.

Không chỉ thu hút đầu tư và nghiên cứu khoa học, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đang hướng tới đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Chỉ trong năm 2020, SHTP đã thương mại hóa thành công 2 sản phẩm gồm dung dịch rửa tay diệt khuẩn dựa trên nền tảng công nghệ Nano bạc, nước súc miệng và gel rửa tay khô DR-OH đáp ứng nhu cầu thị trường tham gia phòng chống dịch COVID-19.

Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Anh Thi cho biết, từ khi thành lập đến nay, Khu Công nghệ cao chủ yếu tập trung thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao. Từ năm 2020, Khu sẽ chú trọng thêm nhiệm vụ phát triển các sản phẩm công nghệ cao cùng các doanh nghiệp trong nước. Cụ thể, thực hiện mô hình đi từ nghiên cứu trong phòng thí nhiệm (Labs), xác lập sở hữu trí tuệ, sản xuất công nghiệp và thương mại hóa; trong đó hướng tới xuất khẩu.

Khu công viên “1 vốn… 30 lời”

Nếu SHTP là điểm nhấn về phát triển công nghệ cao, thì Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC) được thành lập năm 2001 là điểm sáng về “đón đầu” làn sóng phát triển công nghệ thông tin. Vốn là một khu Hội chợ Quang Trung nằm ở vùng ven thành phố, QTSC được quy hoạch phát triển thành khu công viên phần mềm tập trung đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam, với tổng diện tích 43ha.

Sau 20 năm, QTSC đã có sự phát triển vượt bậc và thể hiện sự thành công lớn trong chính sách đầu tư. Nếu như năm 2001, QTSC có 21 doanh nghiệp và 250 nhân viên, thì nay đã có 165 doanh nghiệp và 21.831 người; hình thành hệ sinh thái công nghệ và môi trường sáng tạo. Trong số 165 doanh nghiệp phần mềm, có 4 doanh nghiệp hàng đầu thế giới là KDDI (Nhật Bản), Hitachi Vantara, Concentrix (Hoa Kỳ) và Hexagone (Anh); 6 doanh nghiệp có chứng chỉ CMMI (quản lý chất lượng sản xuất phần mềm tiên tiến thế giới).

Quản lý vận hành hệ thống quản lý thông minh tại Công viên Phần phầm Quang  Trung. (Ảnh: Hoàng Tuấn-Tiến Lực/TTXVN)
Quản lý vận hành hệ thống quản lý thông minh tại Công viên Phần phầm Quang Trung. (Ảnh: Hoàng Tuấn-Tiến Lực/TTXVN)

Mô hình hợp tác công tư PPP đã phát huy hiệu quả tại Công viên Phần mềm Quang Trung, đó là việc nhà nước chỉ đầu tư khoảng 230 tỷ đồng vào hạ tầng nhưng đã thu hút được các thành phần kinh tế khác với vốn thực hiện 5.600/6.606 tỷ đồng đăng ký.

Theo ông Lâm Nguyễn Hải Long, Giám đốc QTSC, hiện công viên đã đạt tỷ lệ lấp đầy 87,61% diện tích, dự kiến giai đoạn 2021-2022 sẽ không còn quỹ đất. Tổng ngân sách đầu tư đến tháng 6/2020 là 230 tỷ đồng và đã thu hút 6.606 tỷ đồng vốn đăng ký đầu tư. Tính ra, 1 đồng vốn ngân sách đầu tư đã thu hút tới gần 30 đồng vốn doanh nghiệp.

Sự phát triển của QTSC cũng góp phần thực hiện chiến lược công nghệ thông tin và chính phủ điện tử. QTSC cung cấp dịch vụ NOC với 805 điểm kết nối cho sở ngành, 1 kết nối vào mạng số liệu chuyên dùng cho Văn phòng Chính phủ để sử dụng phần mềm liên thông văn bản 4 cấp; các dịch vụ hạ tầng điện toán đám mây; dịch vụ an ninh thông tin và hộp thư điện tử cho các cán bộ và các đơn vị thành phố.

Hiện nhiều hoạt động cũng được triển khai hiệu quả tại QTSC, như ươm tạo nhiều doanh nghiệp phần mềm với khoảng 40 doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ; đưa vào vận hành Khu thực nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp (đang nâng cấp mô hình “làng thông minh” trong năm 2020). Năm 2018, QTSC đưa vào vận hành Khu nghiên cứu công nghệ mới (R&D Labs) ưu tiên dành cho doanh nghiệp Việt Nam.

Công viên phần mềm Quang Trung. (Nguồn: hcmcpv.org.vn)
Công viên phần mềm Quang Trung. (Nguồn: hcmcpv.org.vn)

Từ mô hình khu công nghệ thông tin tập trung đầu tiên của cả nước, hiện QTSC đang được phát triển thành chuỗi Công viên Phần mềm Quang Trung, với các thành viên là Khu công nghệ phần mềm Đại học Quốc gia; Trung tâm HueCIT; công viên phần mềm Mekong; Bến Tre Innotech… nhằm phát huy thế mạnh, đặc trưng của từng địa phương, đối tác… Đây là điều chưa có tiền lệ, hướng tới QTSC phát triển thành công viên phần mềm trọng điểm quốc gia, hỗ trợ mạnh mẽ cho ngành công nghệ thông tin Việt Nam.

Ông Lâm Nguyễn Hải Long cho biết, mục tiêu phát triển của QTSC là xây dựng thành công mô hình công viên phần mềm lớn nhất Việt Nam trong số 8 công viên phần mềm của cả nước, tạo thành điểm thu hút đầu tư quan trọng cho ngành phần mềm thành phố và cả nước. Điều này giúp QTSC luôn phát triển ổn định, bền vững, năm sau luôn cao hơn năm trước.

Nắm bắt xu thế hội nhập quốc tế, hiện QTSC đã, đang triển khai và ứng dụng những giải pháp công nghệ, với hơn 20 hệ thống cho hoạt động quản trị Công viên phần mềm Quang Trung. Những hoạt động này góp phần nâng tầm QTSC lên một nước ngoặt mới, trở thành một khu đô thị phần mềm ngày một thông minh hơn, tiến đến trở thành mộ mô hình mẫu về đô thị thông minh đầu tiên của cả nước.

Thương hiệu QTSC được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đóng góp vào xây dựng thương hiệu quốc gia cho ngành công nghiệp thông tin và phần mềm Việt Nam

Thương hiệu QTSC được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đóng góp vào xây dựng thương hiệu quốc gia cho ngành công nghiệp thông tin và phần mềm Việt Nam. Theo QTSC, thời gian qua, có 1.107/1.499 đoàn khách nước ngoài đến khu tìm hiểu ngành công nghệ thông tin, phần mềm Việt Nam.

Theo đánh giá của hãng KPMG năm 2017, trong các khu công nghệ tại châu Á, QTSC thuộc Top 3 về thế mạnh về chính sách ưu đãi đầu tư cao và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng; Top 4 khu công nghệ có thế mạnh về mức độ tập trung, đồng nhất ngành nghề của doanh nghiệp hoạt động trong khu.

Nhờ hai chủ trương chính xác và kịp thời là đầu tư khu công nghệ cao và khu công nghệ thông tin tập trung của Việt Nam, đến nay Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành đầu tàu, trung tâm khoa học công nghệ của cả nước. Đây cũng là nền tảng để Thành phố Hồ Chí Minh là điểm đến, “địa chỉ đỏ” cho làn sóng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo./.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Chung/TTXVN)
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Chung/TTXVN)

‘Địa chỉ đỏ’

về không gian sáng tạo đổi mới

Với mục tiêu hướng đến phát triển thành phố thành đô thị thông minh cũng như tạo môi trường tốt nhất cho hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình, đề án khởi nghiệp sáng tạo quy mô nhất cả nước. Các chủ trương, chính sách đã giúp Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định vị thế và là trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam.

Cộng đồng khởi nghiệp

Trong thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm thúc đẩy việc xây dựng nền tảng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và là địa phương có nhiều hoạt động triển khai hiệu quả Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” của Thủ tướng Chính phủ. Đây cũng là địa phương luôn tiên phong với việc ban hành nhiều chính sách đột phá và các hoạt động đa dạng trong hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Một trong những “đột phá” trong triển khai chính sách được thành phố xây dựng là hình thành không gian hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo (Saigon Innovation Hub – Sihub) với diện tích 2.000m2. Không gian này đủ điều kiện hỗ trợ thành lập và hoạt động cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học công nghệ, đánh dấu sự tham gia của Nhà nước trong hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.

Theo ông Huỳnh Kim Tước, Giám đốc Điều hành Sihub, đây là sáng kiến triển khai mô hình Nhà nước hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức kết nối và chia sẻ nguồn lực, kết nối cộng đồng, nhờ đó hệ sinh thái phát triển mạnh mẽ. Các sự kiện được tổ chức tại Sihub rất đa dạng, có sự liên kết, hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế và các sự kiện này được diễn ra thường xuyên và liên tục.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)

Sự hỗ trợ một phần của thành phố thông qua Sihub đã giúp thu hút đông đảo các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tham gia, đặc biệt, phần lớn các sự kiện tại Sihub đều do cộng đồng thực hiện. Thông qua đó, thành phố kịp thời nắm bắt được những nhu cầu của cộng đồng, kịp thời xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển.

Hiện Sihub đã kết nối trên 40 tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Mô hình đặt tại Sihub với 3 trụ cột là Studio Lab (hỗ trợ các dịch vụ quay clip giới thiệu sản phẩm/dịch vụ, chụp ảnh mẫu sản phẩm, quay các video bài giảng online…); Maker Space (khu vực chế tạo mẫu thử nghiệm); Open Lab (xưởng sản xuất thực nghiệm).

Từ các hoạt động đó, thành phố đã thiết lập nền tảng kết nối chia sẻ dữ liệu 134 phòng thí nghiệm, 626 chuyên gia, 275 tổ chức khoa học công nghệ…, qua đó đã giúp các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp nói chung và doanh nghiệp nói riêng có những chuyển biến rõ rệt về nhận thức, vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này thể hiện qua việc số lượng doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo chiếm tỷ lệ 36,4%.

Dẫn đầu về khởi nghiệp

Năm 2016, nắm bắt xu thế hoạt động khởi nghiệp, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 4181/QĐ-UBND về Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 5342/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Theo ông Nguyễn Khắc Thanh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố, từ chủ trương trên, Sở đã triển khai Chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp thành phố (Speedup), đến nay đã tuyển chọn hỗ trợ cho 40 dự án với tổng kinh phí hỗ trợ của nhà nước là 25,3 tỷ đồng, kinh phí đối ứng từ các quỹ đầu tư là 10,3 tỷ đồng. Ngoài ra, Sở Khoa học và Công nghệ cũng đã hỗ trợ kinh phí tổ chức trên 60 sự kiện thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp với tổng kinh phí thực hiện khoảng 62 tỷ đồng; trong đó, ngân sách nhà nước chiếm 30%.

Nhiều dự án khởi nghiệp được hỗ trợ thông qua các chương trình đã gọi vốn thành công từ các quỹ đầu tư hoặc nhà đầu tư thiên thần với định giá tăng từ 1,5 đến 1,8 lần so với định giá trước khi nhận được hỗ trợ. Nổi bật là Dự án Teamup được một quỹ đầu tư mua lại với định giá là 15 tỷ đồng; dự án SchoolBus đã gọi vốn thành công cho giai đoạn tiếp theo là 1,8 tỷ đồng; dự án 689 Cloud đã gọi vốn thành công từ các nhà đầu tư thiên thần cho giai đoạn tiếp theo với số vốn 100.000 USD…

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Vốn đầu tư mạo hiểm đổ vào các startup Việt giai đoạn 2015-2018 tăng từ 140 triệu USD lên gần 900 triệu USD. Nhờ đó, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng hàng đầu, quy mô thì từ vị trí thứ 6 (năm 2015) đã vươn lên vị trí thứ 3 (năm 2019) trong khu vực.

Sự “bùng nổ” về phong trào khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh giúp số lượng startup của Việt Nam tăng từ 400 startup năm 2012 lên gần 1.800 startup vào năm 2015, đạt 3.000 startup năm 2017 và năm 2019 ước đạt 3.800 startup; trong đó, gần 50% là số lượng startup tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Không chỉ mô hình Sihub, thành phố đã đầu tư và khai thác hiệu quả các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ tại các trường đại học, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Công viên Phần mềm Quang Trung, góp phần xây dựng nên một hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững. Trong số này, nổi bật là Vườn ươm Doanh nghiệp công nghệ cao, mỗi năm tiếp cận với hơn 90 dự án khởi nghiệp và đưa vào ươm tạo mới khoảng 10 dự án; đã hỗ trợ cho hơn 29/63 dự án thương mại hóa sản phẩm thành công. Tổng doanh thu của các dự án đang ươm tạo năm 2017 đạt trên 5 tỷ đồng và năm 2018 đạt trên 9 tỷ đồng.

Từ vị thế dẫn đầu trong hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thành phố thúc đẩy hình thành các hệ sinh thái tại các tỉnh, thành trong khu vực cũng như liên kết vùng. Thành phố đã hỗ trợ huấn luyện, tư vấn cho các tỉnh như: Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Phú Yên, Bình Định, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An… hình thành các không gian, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ hình thành mạng lưới kết nối với gần 30 tỉnh thành trên cả nước trong việc hỗ trợ phát triển hệ sinh thái.

Hiện trên 97% doanh nghiệp trên địa bàn thành phố là doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ nên nguồn lực còn yếu, việc đầu tư cho ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo rất hạn chế.

Bên cạnh đó, các trường đại học đầu tư phần lớn nguồn lực cho hoạt động đào tạo, cơ sở vật chất phòng thí nghiệm cũng hạn chế; hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chưa gắn với thị trường. Thực tế này đòi hỏi thành phố phải đẩy mạnh hơn hoạt động đổi mới sáng tạo, hình thành nên hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Thành phố đang hoàn thiện Đề án Hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025 với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng của thành phố phát triển ngang tầm khu vực 

Ông Nguyễn Khắc Thanh cho biết hiện Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố đang hoàn thiện Đề án Hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành phố giai đoạn 2021-2025 với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng của thành phố phát triển ngang tầm khu vực. Đây là nền tảng vững chắc hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất chất lượng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, phát triển sản phẩm chủ lực của thành phố, góp phần nâng cao tỉ trọng đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào GRDP hàng năm từ 40% trở lên.

Thành phố sẽ đề ra các giải pháp trọng tâm như phát triển hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ hệ sinh thái; nâng cao năng lực cho các thành phần hệ sinh thái và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của các lĩnh vực, sản phẩm trọng điểm; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm và thị trường; thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong khu vực công…

Đây là hệ thống các nhiệm vụ hỗ trợ sự gắn kết bền vững và hợp tác cùng phát triển giữa doanh nghiệp, trường-viện, nhà nước, tổ chức hỗ trợ, tổ chức tài chính, doanh nghiệp lớn, có năng lực dẫn dắt thị trường và cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo. Những nỗ lực và chủ trương, chính sách này nhằm tạo động lực cho thành phố tiếp tục phát triển nhanh, bền vững./.

Phát huy hiệu quả 

các nguồn lực xã hội

Trong điều kiện nguồn lực của nhà nước còn nhiều khó khăn, hạn chế, Thành phố Hồ Chí Minh nổi lên là một trong những điểm sáng của cả nước trong phát huy các nguồn lực xã hội để đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, thành phố tiếp tục thể hiện tư duy đổi mới, hình thành khu đô thị sáng tạo nhằm đột phá để tiếp tục phát triển.

Điểm sáng huy động vốn đầu tư xã hội

Trong 5 năm 2016-2020, tổng vốn đầu tư xã hội bình quân chiếm khoảng 35% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố. Cơ cấu đầu tư chuyển dịch theo hướng tỷ trọng khu vực nhà nước giảm từ 19,9% năm 2015 xuống chỉ còn 11,5% năm 2020, tăng tỷ trọng đầu tư khu vực ngoài nhà nước năm 2020 là 88,5%. Điều này cho thấy, môi trường đầu tư, các chính sách khuyến khích phát triển của nhà nước ngày càng hoàn thiện, huy động tốt hơn các nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế thành phố.

Hiện Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý 22 Hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) đã ký kết và đang triển khai, với tổng mức đầu tư 64.244 tỷ đồng; 166 dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư theo hình thức PPP, với tổng mức đầu tư dự kiến là 324.770 tỷ đồng. Thành phố đang kêu gọi đầu tư gần 293 dự án trên tất cả các lĩnh vực giao thông, môi trường, y tế, văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác với tổng mức đầu tư dự kiến 910.426 tỷ đồng.

Theo Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh Trần Anh Tuấn, hình thức hợp tác PPP được các cơ quan, ngành tham mưu Ủy ban Nhân dân thành phố triển khai đúng hướng, hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích trong công việc quản lý, khai thác công trình, công ty dịch vụ như thu hút được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng từ khu vực tư nhân.

Thông qua hình thức BT, trong giai đoạn 2015-2017, thành phố đã huy động được 20.338 tỷ đồng từ khu vực tư nhân để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

Thông qua hình thức BT (xây dựng-chuyển giao), trong giai đoạn 2015-2017, thành phố đã huy động được 20.338 tỷ đồng từ khu vực tư nhân để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, góp phần giải quyết yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết nhu cầu vốn trong điều kiện ngân sách thành phố còn hạn chế; góp phần nâng cao điều kiện sống cho người dân như giảm kẹt xe, xây dựng các cơ sở y tế, văn hóa, giáo dục…

Một số dự án BT hoàn thành và đưa vào sử dụng như dự án cầu Phú Mỹ, cầu Sài Gòn 2, đường nối Tân Sơn Nhất-Bình Lợi-Vành đai ngoài (đây là công ty đầu tư theo hình thức BT đầu tiên của nhà đầu tư nước ngoài (Công ty GS-Hàn Quốc thực hiện), qua đó, có thể thực hiện thành công bước đầu trong việc kêu gọi nguồn vốn tư nhân trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn khi tham gia đầu tư cho hạ tầng giao thông.

Một góc Quận 2 với tuyến đường xa lộ Hà Nội và tuyến Metro số 1. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Một góc Quận 2 với tuyến đường xa lộ Hà Nội và tuyến Metro số 1. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Để thu hút vốn đầu tư cho các công trình trọng điểm, Ủy ban Nhân dân thành phố đã tổ chức nhiều hội thảo mời gọi đầu tư vào các lĩnh vực cấp thiết; chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng cổng thông tin điện tử PPP của thành phố, là công cụ hữu hiệu trợ giúp các nhà đầu tư tiềm năng tiếp cận được các thông tin dễ dàng, thuận tiện, đầy đủ. Ngoài những dự án trên, các cơ sở hạ tầng giao thông đầu mối quan trọng khác như mở rộng Xa Lộ Hà Nội, Nhà máy xử lý nước thải kênh Tham Lương-Bến Cát… cũng góp phần phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.

Việc đưa quỹ đất vào thanh toán cho các dự án theo hình thức BT đã góp phần giảm áp lực sử dụng vốn ngân sách nhà nước thành phố trong đầu tư hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, góp phần phát triển thành phố. Thời gian tới, khi Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành, thành phố có thể sẽ gặp khó khăn trong việc kêu gọi đầu tư các dự án không có nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công hoặc khó khả thi về mặt tài chính do luật không còn quy định về đầu tư theo hình thức Hợp đồng BT.

Theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố đang chuẩn bị một quy trình của thành phố để triển khai các dự án PPP, đồng thời kiến nghị Trung ương có quy trình để liên kết các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ các địa phương thực hiện các dự án PPP. Quy trình này là quy trình cụ thể cho từng loại dự án PPP, chủ động đề xuất dự án để kêu gọi đầu tư, không được bị động, mặt khác đấu thầu công khai chọn các nhà đầu tư.

Phát triển đô thị sáng tạo

Trong nỗ lực đổi mới sáng tạo, từ năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đề án xây dựng Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông để hình thành trung tâm động lực tăng trưởng mới cho thành phố trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Khu đô thị sáng tạo cao phía Đông thành phố (gồm quận 2, quận 9 và Thủ Đức) có diện tích là 21.000ha (chiếm 11% diện tích thành phố), gần 1 triệu dân (11% dân số thành phố). Đây là khu vực có Khu công nghệ cao (tổng đầu tư trên 7 tỷ USD, xuất khẩu 8 tỷ USD/năm) và 4 khu công nghiệp, khu chế xuất cùng với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và 5 đại học khác (100.000 sinh viên và gần 2.000 tiến sỹ); Khu đô thị mới Thủ Thiêm (Quận 2) có Trung tâm tài chính, cảng Cát Lái – cảng container lớn nhất cả nước. Với những nền tảng đó, Khu đô thị sáng tạo phía Đông sẽ là nơi có mật độ công nghiệp, dịch vụ công nghệ cao lớn nhất thành phố, mật độ sinh viên và nghiên cứu khoa học đại học lớn nhất cả nước, trong tương lai có thể đóng góp 30% GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh.

Một trong những “hạt nhân” của Khu đô thị sáng tạo phía Đông là Khu Công nghệ cao thành phố, nơi tập trung nhiều tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới và một nền tảng phát triển mạnh mẽ.

Bà Lê Bích Loan, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao thành phố cho biết Khu Công nghệ cao thành phố đặt mục tiêu trong tương lai trở thành trung tâm không gian khoa học sáng tạo, là hạt nhân Khu đô thị sáng tạo phía Đông, chuyên cung cấp và nuôi dưỡng nhân lực, vốn, công nghệ cao từ trong và ngoài nước.

Một góc khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)
Một góc khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)

Hiện Khu Công nghệ cao đang tập trung thu hút công nghệ cao, sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng; thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút các công nghệ mới, hình thành các trung tâm R&D trong doanh nghiệp, hoạt động R&D tăng về lượng và chất. Sự liên kết với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các trường đại học khác, Khu Công nghệ cao tạo được giá trị cốt lõi trong đào tạo nhân lực chất lượng cao cho thành phố và các tỉnh lân cận, thông qua các chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế cung ứng cho doanh nghiệp.

Với vai trò là trung tâm khoa học-công nghệ hạt nhân của khu đô thị sáng tạo, theo bà Lê Bích Loan, Khu Công nghệ cao sẽ tập trung xây dựng môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học – công nghệ; thu hút nguồn nhân lực phát triển khoa học-công nghệ; xây dựng mối liên kết giữa chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, viện, trường trong việc phát triển công nghệ cao cho thành phố; trung tâm nghiên cứu, phát triển các ứng dụng công nghệ tiên tiến, đặc biệt hướng đến xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh.

Những cách làm hay, sáng tạo đã giúp Thành phố Hồ Chí Minh tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ thời gian qua

Vừa qua, Ủy ban Nhân dân Thành phố đã ban hành hành động nhằm xây dựng khu vực phía Đông thành khu đô thị sáng tạo, tương tác cao. Đây đồng thời sẽ là khu vực dẫn dắt kinh tế thành phố trong các hoạt động kinh tế tri thức, như đào tạo, nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao.

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân, khu vực này có cường độ ứng dụng công nghệ cao, cường độ đào tạo và nghiên cứu khoa học cao nhất cả nước, có khu đô thị mới, trung tâm tài chính quốc tế. Đây là các yếu tố tác động tạo nên vùng tăng trưởng mới.

Những cách làm hay, sáng tạo đã giúp Thành phố Hồ Chí Minh tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ thời gian qua. Khi những nguồn lực đầu tư hạn chế, kinh tế tri thức bùng nổ, thành phố đã chủ động nắm bắt thời cơ, quy hoạch phát triển khu Đông thành một đô thị sáng tạo, nhờ chuỗi nguồn lực khoa học công nghệ-trí thức-doanh nghiệp nhằm tạo bước “đột phá mới” trong phát triển./.

Vượt qua trở lực

Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh luôn giữ vững vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước, song từ thực tiễn phát triển của thành phố trong những năm qua cho thấy, đã xuất hiện nhiều trở lực khiến tốc độ tăng kinh tế chậm lại, thậm chí nhiều lĩnh vực giảm sút so với trước đây. Trước thực trạng đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang không ngừng nghiên cứu, đề xuất các giải pháp mới để đưa kinh tế thành phố phát triển bền vững và tăng trưởng mạnh hơn nữa.

Không ít trở lực

Tốc độ tăng trưởng của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước hiện đang giảm. Giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố bằng khoảng 1,6 lần cả nước, nhưng 2011-2019 chỉ bằng 1,2 lần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều hướng chậm lại, với cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, một trong những nguyên nhân được nhiều chuyên gia kinh tế và lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh nhận định là trong 20 năm qua tỷ lệ ngân sách để lại cho thành phố đầu tư phát triển ngày càng giảm.

Cụ thể, tỷ lệ ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh được giữ lại là 33% (năm 2000) đã giảm còn 18% (giai đoạn 2017-2020). Trong cùng thời gian đó, tỷ lệ ngân sách để lại cho Hà Nội tăng từ 30% lên 35%, Hải Phòng để lại từ 100% còn 78%.

“Việc làm giảm nguồn lực từ ngân sách là một lý do khách quan hạn chế sự vượt trội của Thành phố Hồ Chí Minh,” Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân phân tích.

Ngoài nguyên nhân trên, ông Nguyễn Thiện Nhân cho rằng cần rà soát lại những yếu tố chưa đột phá, chưa được phát huy hết trong thời gian qua, như ứng dụng khoa học công nghệ.

Về liên kết vùng để thúc đẩy phát triển, gần đây Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều chuyển biến, như hợp tác phát triển du lịch với 13 tỉnh miền Tây, 5 tỉnh Đông Nam Bộ; ký kết với tỉnh Tây Ninh đầu tư tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài… Tuy nhiên, nhìn lại 5 năm qua chưa có đột phá.

Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI đã chỉ ra nhiều khó khăn, hạn chế hiện nay trong phát triển kinh tế thành phố. Đó là, chưa thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn; liên kết doanh nghiệp, khoa học, đào tạo và nhà nước hiệu quả chưa cao, nên đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao còn chậm; chưa chú trọng đúng mức việc phát triển hạ tầng công nghiệp, hạ tầng dịch vụ và hạ tầng giao thông nên chưa tạo được sự dẫn dắt phát triển các ngành kinh tế và tạo đột phá về thu hút đầu tư. Sự tụt hậu về hạ tầng là điểm nghẽn lớn nhất đối với phát triển kinh tế.

Đi vào cụ thể, hiện công nghiệp, dịch vụ đóng góp hơn 99% trong cơ cấu kinh tế, nhưng quỹ đất dành cho công nghiệp, dịch vụ hiện chỉ chiếm gần 5% quỹ đất toàn thành phố, tức khoảng 10.000ha. Điều này, theo Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân là bất hợp lý.

Cuối năm 2017, Đảng bộ thành phố ra Nghị quyết năm 2018 phải có một khu công nghiệp mới để thu hút đầu tư, nhưng đến nay vẫn chưa thể thực hiện. Nếu Thành phố dành quỹ đất tốt hơn cho công nghiệp, dịch vụ thì có thể đón thêm các nhà đầu tư lớn.

Đại lộ Phạm Văn Đồng, tuyến đường kết nối đến sân bay Tân Sơn Nhất và trung tâm thành phố. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)
Đại lộ Phạm Văn Đồng, tuyến đường kết nối đến sân bay Tân Sơn Nhất và trung tâm thành phố. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Cùng với đó, hạ tầng thành phố những năm qua dù được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như tốc độ phát triển chung. Theo kết quả giám sát của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tiến độ và hiệu quả đầu tư các công trình giao thông trọng điểm mới đây, trong tổng số 172 dự án giai đoạn 2016-2020, thành phố mới hoàn thành 37 dự án (tỷ lệ 21,51%); chưa thực hiện 70 dự án (chiếm 40,7%); đang dừng thi công 65 dự án.

Riêng giai đoạn 2018-2020, hoàn thành 14/85 dự án theo kế hoạch. Điều này xuất phát từ nguồn lực hạn chế, như giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn ngân sách thành phố đã bố trí cho 120 dự án với số vốn là 12.4822 tỷ đồng (đạt 27%); nguồn vốn ngoài ngân sách được kỳ vọng rất lớn nhưng thực tế phần vốn đầu tư cho các dự án theo hình thức đối tác công tư (PPP) với 13/40 dự án triển khai, ước đạt được khoảng 16.996 tỷ đồng (chỉ đạt 13% so với nhu cầu).

Từ thực tế này, tại buổi làm việc, góp ý vào dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý về mô hình phát triển của thành phố thời gian tới, nếu thành phố đi theo mô hình cũ, cả thể chế, mô hình phát triển thì khó có thể phát triển. Không đổi mới cách làm, không tăng năng suất lao động cần thiết, thì một số thành phố khác như Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Nội, Bình Dương có thể vượt mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân của Thành phố Hồ Chí Minh.

Chủ động đổi mới, sáng tạo, tiên phong

Trước những trở lực đã được nhận diện, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động, kiên trì nghiên cứu, đề xuất với Trung ương để xem xét, quyết định, cùng với đó, thành phố cũng đẩy mạnh, phát huy nội lực để đưa kinh tế thành phố phát triển.

Tại buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ cũng như các bộ, ban ngành Trung ương, Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa 4 chuyên đề để tạo động lực phát triển cho thành phố gồm: hình thành Khu đô thị sáng tạo phía Đông, kiến nghị thành lập thành phố Thủ Đức – hạt nhân phát triển kinh tế của thành phố; thực hiện chính quyền đô thị; đề xuất chủ trương phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành Trung tâm tài chính khu vực và quốc tế; điều chỉnh tỷ lệ điều tiết ngân sách cho Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn 2026-2030 để tăng thu ngân sách chuyển Trung ương và tạo tiền đề để thành phố phát triển nhanh, bền vững.

Thành phố Thủ Đức được hợp nhất từ quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. (Nguồn: TTXVN)
Thành phố Thủ Đức được hợp nhất từ quận 2, quận 9 và quận Thủ Đức. (Nguồn: TTXVN)

Với vai trò là trung tâm, đầu tàu kinh tế của cả nước, có vị thế quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và châu Á, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị, thành phố cân nhắc mục tiêu phấn đấu sớm trở thành thành phố công nghiệp thông minh, hiện đại, hội nhập, trở thành một trung tâm kinh tế, tài chính có tầm khu vực và toàn cầu. Thành phố đi đầu trong hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, cần nâng tỷ lệ ngân sách cho nghiên cứu và phát triển lên 5-7% tổng chi ngân sách hoặc 2% GRDP của thành phố trong 5 năm tới.

Cũng theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, là trung tâm của vùng, Thành phố Hồ Chí Minh cũng nên dành ít nhất 5% nguồn lực, ngân sách, vốn tín dụng, đất đai để cùng các địa phương cùng vùng kinh tế trọng điểm giải bài toán phát triển vùng. Thành phố Hồ Chí Minh cần nhấn mạnh đến rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển thành phố gắn với vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, giải quyết các điểm nghẽn, bất cập trong quy hoạch hiện nay.

Trong các buổi làm việc với lãnh đạo thành phố gần đây, Thủ tướng cũng đề nghị Thành phố Hồ Chí Minh phải thúc đẩy rõ hơn kinh tế ban đêm, bởi theo tính toán, cứ 4 tiếng đồng hồ thêm về kinh tế ban đêm thì đóng góp từ 5-8% GDP của thành phố. Ngoài ra, thành phố xác định hướng đi chính là công nghiệp công nghệ cao; đón bắt, tận dụng tốt cơ hội chuyển dịch sản xuất của các tập đoàn, chuỗi giá trị toàn cầu đến khu vực Đông Nam Á; tạo mọi thuận lợi để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn đến năm 2030, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ sắp tới, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng và thực hiện 4 chương trình phát triển thành phố; trong đó có 3 chương trình đột phá và 1 chương trình trọng điểm với 47 chương trình, đề án cụ thể. Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh cũng sẽ đẩy nhanh quá trình xây dựng chính quyền điện tử và chuyển đổi số, kinh tế số để xứng tầm thành phố thông minh, đi đầu về ứng dụng công nghệ 4.0.

Với những chủ trương, định hướng rõ ràng, Thành phố Hồ Chí Minh xác định sẽ tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế, đi đầu trong thực hiện mô hình tăng trưởng mới. Trong đó, Đảng bộ và nhân dân thành phố sẽ nỗ lực để phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng năng suất lao động. Đây là trung tâm khởi nghiệp sáng tạo lớn nhất cả nước, đi đầu trong việc tận dụng các cơ hội của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển mạnh kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn.

Thành phố Hồ Chí Minh cũng xác định việc tăng cường liên kết vùng, đảm bảo Thành phố Hồ Chí Minh vừa đóng vai trò trung tâm, vừa phát triển bền vững, hài hòa

Mặt khác, Thành phố Hồ Chí Minh cũng xác định việc tăng cường liên kết vùng, đảm bảo Thành phố Hồ Chí Minh vừa đóng vai trò trung tâm, vừa phát triển bền vững, hài hòa, tạo động lực cho chính bản thân thành phố cũng như khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ.

Song song với đó, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu là mục tiêu của sự phát triển, đồng thời phát huy hiệu quả mọi nguồn lực xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; tập trung ưu tiên đầu tư các dự án hạ tầng giao thông và hạ tầng số với hệ thống thông tin di động 5G…

Với sự hỗ trợ tích cực của Trung ương và phát huy tinh thần chủ động, đổi mới, sáng tạo vốn có của mình, Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước tháo gỡ, vượt qua các trở lực để tiến lên một cách vững chắc, khẳng định vị thế đầu tàu của khu vực cũng như cả nước trong phát triển kinh tế,  nâng cao đời sống nhân dân./.

Một góc cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Một góc cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Thông tấn xã Việt Nam

Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù (1960–1975), Thông tấn xã Giải phóng phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần. Tuy nhiên, Thông tấn xã Giải phóng luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam. Trong ảnh: Tổ điện báo TTXGP điện tin từ mặt trận về căn cứ. (Ảnh: TTXVN)
Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù (1960–1975), Thông tấn xã Giải phóng phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần. Tuy nhiên, Thông tấn xã Giải phóng luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam. Trong ảnh: Tổ điện báo TTXGP điện tin từ mặt trận về căn cứ. (Ảnh: TTXVN)

Ngày 1/9/2020, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định 1521/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho 15 tập thể vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thông tấn xã Giải phóng (Thông tấn xã Việt Nam – TTXVN) có tên trong danh sách phong tặng danh hiệu lần này. Đây là lần thứ ba, TTXVN vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Ngày 15/9/1945, Việt Nam Thông tấn xã phát đi toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập cùng với danh sách Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thông qua những bản tin bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Sự kiện này có ý nghĩa trọng đại không chỉ với TTXVN mà với cả dân tộc. Ngày 15/9 đã trở thành Ngày truyền thống của ngành thông tấn quốc gia.

Quá trình hình thành và phát triển của TTXVN luôn đồng hành với sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc và dựng xây đất nước của nhân dân ta. Trong công cuộc kháng chiến cứu quốc, đội ngũ đông đảo những người làm báo của TTXVN đã thực sự là những nhà báo-chiến sỹ. Với trên 260 liệt sỹ, TTXVN là cơ quan báo chí có số nhà báo hy sinh nhiều nhất trong số các cơ quan báo chí cả nước.

Cơ quan phát ngôn và thông tấn chính thức của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Năm 1954, Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương đã tạm thời chia Việt Nam thành hai miền do hai chính thể quản lý để chờ tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo quy định tại Hiệp định.

Nhằm duy trì chế độ bù nhìn, phản động của mình, Mỹ-Diệm ra sức đàn áp những người yêu nước và phong trào cách mạng ở miền Nam. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình miền Nam và từ những yêu cầu tất yếu của cách mạng trong tình hình mới, năm 1960, cách mạng miền Nam chuyển từ đấu tranh chính trị, sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang.

Bản tin đầu tiên của TTXGP ra mắt ngày 12/10/1960. (Ảnh: TTXGP)
Bản tin đầu tiên của TTXGP ra mắt ngày 12/10/1960. (Ảnh: TTXGP)

Để khẳng định sự chính danh và tăng cường thống nhất sự lãnh đạo cách mạng trong toàn miền, việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một yêu cầu cấp bách.

Sau chiến thắng Tua Hai (ngày 26/1/1960) tại Tây Ninh, Cơ quan Xứ ủy Nam kỳ dời về căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) và xúc tiến việc thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Để phục vụ cho việc tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (ngày 20/12/1960) và đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam, Ban Tuyên huấn Xứ ủy đã giao đồng chí Đỗ Văn Ba, nguyên phụ trách Chi nhánh Việt Nam Thông tấn xã Nam Bộ trong thời kháng chiến chống Pháp, chịu tránh nhiệm về nhân sự, phương tiện kỹ thuật… chuẩn bị cho sự ra đời của Thông tấn xã Giải phóng.

Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, đúng 19 giờ ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), “Tiếng nói chính thức của những người yêu nước miền Nam Việt Nam” đã bắt đầu phát lên trên sóng điện 31m bằng một chiếc máy phát sóng 15 W, đánh dấu sự ra đời của Thông tấn xã Giải phóng với tên gọi “GPX” (Giải phóng xã).

Trong lời ra mắt, Thông tấn xã Giải phóng trịnh trọng thông báo cho quốc dân đồng bào và bè bạn trên thế giới: “Thông tấn xã Giải phóng là cơ quan phát ngôn và thông tấn chính thức của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ phổ biến tin tức và kinh nghiệm đấu tranh phong phú của đồng bào ở khắp nơi, phản ánh uy thế ngày càng lớn của phong trào cách mạng và sự suy sụp của tập đoàn thống trị miền Nam. Ngoài ra, Giải phóng xã cũng sẽ cung cấp một số tài liệu về tình hình địch và ta để vạch trần âm mưu, ý đồ của địch cũng như để làm sáng tỏ đường lối, chính sách của cách mạng.”

Điện báo viên B8 Thông tấn xã Giải phóng đang thu phát tin. (Ảnh: TTXVN)
Điện báo viên B8 Thông tấn xã Giải phóng đang thu phát tin. (Ảnh: TTXVN)

Thực hiện tôn chỉ, chức năng và nhiệm vụ đó, trong suốt hơn 15 năm ra đời và phát triển, Thông tấn xã Giải phóng luôn đi tiên phong trong công tác thông tin, tuyên truyền; trở thành cơ quan chủ lực trong khối thông tấn báo chí cách mạng ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và giai đoạn đầu thống nhất đất nước.

Với tư cách là cơ quan phát ngôn chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Thông tấn xã Giải phóng với các bản tin phản ánh “đúng sự thật, đúng sự lãnh đạo của Đảng,” phát đi từ Hà Nội đều đặn vào 18 giờ hàng ngày, đã trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng sắc bén, mạnh mẽ, góp phần cực kỳ quan trọng làm nên những chiến công chói lọi của dân tộc ta đi tới ngày thống nhất đất nước.

Duy trì “mạch máu” thông tin giữa chiến trường ác liệt

Với khẩu hiệu “Làn sóng điện không bao giờ tắt,” từ lúc ra đời, mặc dù chỉ có một số máy phát 15 watt, nhưng Thông tấn xã Giải phóng không ngừng nỗ lực vượt khó, cải tiến phương tiện kỹ thuật tại chỗ và tiếp nhận các phương tiện kỹ thuật mới được tăng cường, hỗ trợ từ nhiều nguồn khác nhau. Nhờ vậy, Thông tấn xã Giải phóng nhanh chóng trở thành cơ quan thông tấn báo chí có phương tiện kỹ thuật tốt và có tính bảo mật cao nhất trong khối thông tin báo chí cách mạng ở miền Nam lúc bấy giờ.

Mặc dù phải thay đổi căn cứ hàng chục lần nhưng Thông tấn xã Giải phóng vẫn luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam. 

Trong suốt 15 năm chống Mỹ ác liệt, dưới bom đạn kẻ thù, mặc dù phải thay đổi căn cứ hàng chục lần nhưng Thông tấn xã Giải phóng vẫn luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam. Tin, ảnh của Thông tấn xã Giải phóng từ Cà Mau đến Quảng Trị, từ vùng nông thôn U Minh Thượng đến đô thị Sài Gòn-Gia Định… đều luôn nóng hổi tính thời sự, không chỉ cung cấp kịp thời cho các cơ quan thông tấn báo chí trong, ngoài nước, giúp Trung ương cục miền Nam phân tích, nhận định tình hình để đi đến những quyết định có tính chiến lược, chỉ đạo kịp thời hoạt động trên chiến trường mà còn là những bằng chứng tố cáo với toàn thế giới về tội ác tàn bạo của Mỹ-ngụy, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè khắp năm châu đối với cuộc kháng chiến đầy gian lao của nhân dân ta.

Các phóng viên ảnh Thông tấn xã Giải phóng trao đổi công tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN)
Các phóng viên ảnh Thông tấn xã Giải phóng trao đổi công tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN)

Trong giai đoạn ác liệt của cuộc chiến, không một chiến trường, không một hướng tiến quân, không một địa bàn chiến đấu nào vắng mặt phóng viên của Thông tấn xã Giải phóng. Có thể nói, ở đâu có trận đánh là ở đó phóng viên Thông tấn xã Giải phóng, thông tin kịp thời thành tích của quân dân ta từ chiến thắng tại Ấp Bắc (năm 1963), Bình Giã (năm 1964) đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (năm 1968) đánh vào Sài Gòn và các đô thị miền Nam…

Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, Thông tấn xã Giải phóng tung ra hai cánh quân lớn cùng với một số phóng viên Việt Nam Thông tấn xã bám sát các đơn vị chủ lực, thông tin nhanh về các trận đánh, về tình hình chiến trường, về các bước tiến quân như vũ bão của bộ đội, tiếp quản các vùng giải phóng… Nhờ vậy, phóng viên Thông tấn xã đã kịp thời ghi lại thời khắc lịch sử, với những bức ảnh nổi tiếng như “Xe tăng chiếm dinh Độc lập” của phóng viên Trần Mai Hưởng hay “Mẹ con ngày gặp mặt” của phóng viên Lâm Hồng Long…

Bên cạnh những thông tin trên chiến trường, Thông tấn xã Giải phóng còn là đơn vị chủ lực thông tin về hai phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đấu tranh ngoại giao với phái đoàn của Mỹ và của ngụy quyền Sài Gòn tại Hội nghị Paris về Việt Nam. Hằng ngày, các phái đoàn đàm phán của ta đều nhận được bản tin của Thông tấn xã Giải phóng, phục vụ đắc lực công việc đàm phán.

Thông tấn xã Giải phóng đã tạo dư luận đồng tình trong nước và quốc tế. Cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên mặt trận quân sự, ngoại giao… đã góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân 1975.

“Chắc tay bút, vững tay súng”

Bên cạnh nhiệm vụ thông tin nhanh, đúng định hướng tư tưởng, góp phần mạnh mẽ vào việc cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng còn trực tiếp cầm súng chiến đấu và trở thành những chiến sỹ thực thụ.

Tại căn cứ cũng như các phân xã, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng đều được trang bị vũ khí, từ súng tiểu liên đến cả súng chống tăng và súng cối 82mm. Không chỉ cầm súng để bảo vệ căn cứ, bảo vệ nơi trú đóng mà tất cả phóng viên Thông tấn xã Giải phóng khi tham gia đưa tin trong các trận đánh đều trở thành chiến sỹ, luôn “tay viết-tay súng, tay máy-tay súng.”

Nhiều phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng đã kiên cường chiến đấu với quân địch và sẵn sàng hy sinh để bảo toàn căn cứ. Để có những dòng tin chiến sự nóng bỏng, một tấm ảnh có sức cổ vũ, để kịp thời chuyển tải những thông tin lãnh đạo của Đảng ta đến chiến sĩ, nhân dân miền Nam, phóng viên, kỹ thuật viên Thông tấn xã Giải phóng đã phải có mặt tại những nơi nóng bỏng, tại mặt trận như những người lính và cũng chịu hy sinh như người lính.

Chiến công diệt xe tăng của TTXGP trong trận càn Junction City (1967). (Ảnh: TTXGP)
Chiến công diệt xe tăng của TTXGP trong trận càn Junction City (1967). (Ảnh: TTXGP)

Trong muôn vàn dòng tin tấm ảnh các anh các chị gửi về miền Bắc có cả những dòng tin cuối cùng của một phân xã, bởi chỉ sau đó ít phút các anh các chị đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng để những dòng tin ấy đến được Hà Nội, đến được với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng. Một cuốn phim chụp dở dang, một đoạn phim còn trong máy quay, một bản tin đang phát dở không lưu tên tác giả, không rõ người phát. Đó là những tác phẩm vô giá bởi chúng đã được đổi bằng cả cuộc đời.

Điển hình như đồng chí Trần Ngọc Đặng, tháng 3/1967, tại căn cứ Tây Ninh, đã bắn cháy hai xe bọc thép Mỹ và anh dũng hy sinh, được tuyên dương danh hiệu “Dũng sỹ diệt cơ giới.” Đồng chí Trần Văn Minh (chiến đấu cùng đồng chí Đặng) bị thương nặng, bị Mỹ bắt và cưa chân. Đồng chí Trương Thị Mai, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng ở Trung Nam Bộ bị địch bắt, tra tấn dã man, nhưng vẫn không một lời khai báo, chấp nhận hy sinh để bảo toàn căn cứ.

Nhiều trường hợp hy sinh cả tập thể, cơ quan bị xóa sổ nhiều lần, nhưng các phân xã, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng vẫn quyết tâm bám trụ đến cùng để hoàn thành nhiệm vụ. Cụ thể như Phân xã Kiến Tường (nay là Long An) 3 lần bị địch hủy diệt, hàng chục đồng chí hy sinh năm 1968; Phân xã Rạch Giá (Kiên Giang) 5 lần bị địch giết hại toàn bộ phóng viên, kỹ thuật viên; Phân xã Nam Tây Nguyên (khu X) có 5/6 đồng chí cùng hy sinh do bom địch năm 1969… Rồi có gia đình, hai cha con, hai anh em ruột đều là liệt sĩ của Thông tấn xã Giải phóng.

Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù (1960–1975), Thông tấn xã Giải phóng phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần. Tuy nhiên, Thông tấn xã Giải phóng luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam. Trong ảnh: Phòng thu-phát tin, ảnh của TTXGP tại chiến khu Dương Minh Châu. (Ảnh: TTXGP)
Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù (1960–1975), Thông tấn xã Giải phóng phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần. Tuy nhiên, Thông tấn xã Giải phóng luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam. Trong ảnh: Phòng thu-phát tin, ảnh của TTXGP tại chiến khu Dương Minh Châu. (Ảnh: TTXGP)

Trong số các liệt sỹ của Thông tấn xã Giải phóng có đồng chí Phó Giám đốc Bùi Đình Túy (bút danh Đinh Thúy), hy sinh tại Trảng Dầu (Bình Long) ngày 21/9/1967 do bị địch ném bom. Ông là nhà báo đầu tiên được lấy tên để đặt cho đường phố ở Việt Nam (đường Bùi Đình Túy, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, thì trong 30 năm chiến tranh giữ nước, báo chí cả nước có khoảng 450 người hy sinh thì riêng Thông tấn xã Giải phóng có tới 240 người, là đơn vị có số lượng nhà báo hy sinh lớn nhất trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam. Nhiều phóng viên, kỹ thuật viên Thông tấn xã Giải phóng đã vĩnh viễn nằm lại trên những cánh rừng già, đến nay hài cốt vẫn chưa tìm thấy. Bên cạnh đó, hàng chục người khác đã để lại một phần xương máu của mình trên chiến trường. Đây là những tổn thất to lớn nhưng cũng là niềm tự hào về truyền thống dũng cảm kiên cường, bất khuất của những chiến sỹ xung kích trên mặt trận báo chí và tư tưởng, sẵn sàng hy sinh để duy trì “mạch máu” thông tin giữa chiến trường ác liệt.

Năm 1968, Trung ương cục miền Nam khen tặng Thông tấn xã Giải phóng 16 chữ vàng “CẦN CÙ DŨNG CẢM, TỰ LỰC CÁNH SINH, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ”

Ghi nhận những đóng góp to lớn của Thông tấn xã Giải phóng, năm 1968, Trung ương cục miền Nam khen tặng Thông tấn xã Giải phóng 16 chữ vàng “CẦN CÙ DŨNG CẢM, TỰ LỰC CÁNH SINH, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ,” cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà nước.

Sau khi thống nhất đất nước, ngày 24/5/1976, thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng – cơ quan thông tin chính thức của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam – được hợp nhất, đánh dấu một giai đoạn mới trong bước phát triển của ngành.

Ngày 12/5/1977, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết số 84/NQ-QHK6 phê chuẩn việc đổi tên Việt Nam Thông tấn xã thành Thông tấn xã Việt Nam.

Trải qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và phát triển gắn liền với những dấu mốc lịch sử của đất nước, TTXVN 3 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Cùng với đó, TTXVN đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, hai Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân, huy chương cao quý khác./.

Bên cạnh nhiệm vụ thông tin nhanh, đúng định hướng tư tưởng, góp phần mạnh mẽ vào việc cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng còn trực tiếp cầm súng chiến đấu và trở thành những chiến sỹ thực thụ. Trong ảnh: Phóng viên TTXGP trên đường hành quân. (Ảnh: TTXVN)
Bên cạnh nhiệm vụ thông tin nhanh, đúng định hướng tư tưởng, góp phần mạnh mẽ vào việc cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng còn trực tiếp cầm súng chiến đấu và trở thành những chiến sỹ thực thụ. Trong ảnh: Phóng viên TTXGP trên đường hành quân. (Ảnh: TTXVN)

Bayern & mùa bóng ‘lịch sử’

Bayern Munich vừa trải qua mùa bóng 2019-20 “điên rồ” với nhiều kỷ lục mà điển hình là việc tái lập “cú ăn ba” lịch sử gồm Bundesliga, DFB Cup và Champions League mà họ từng làm được ở mùa 2012-13.

Ngay sau chiến tích của Hùm xám, các phóng viên Bild, Sportbild và Kicker đã lượm lặt 100 chi tiết thú vị giới thiệu đến bạn đọc.

1. Sau khi từ Lisbon trở về các cầu thủ Bayern mở Party riêng ăn mừng ở Club “Enter the Dragon.”

2. Neuer kết thúc ngày thứ Hai của mình sau chiến thắng ở một quán ăn gần thành phố München tên là “Rosso Enoteca Italiana,” khi ra về anh mang theo một cái bánh Pizza và chai rượu vang Prosecco.

3. Có hai vợ của cầu thủ ăn mừng cùng đội bóng ở Lisbon là Coutinhos Ainê và Thiagos Júlia.

FC Bayern vừa trải qua mùa bóng 2019-20 “điên rồ” với nhiều kỷ lục mà điển hình là việc tái hiện “cú ăn ba” lịch sử.

4. Flick dùng PowerPoint chỉ cho các cầu thủ ba chiếc Cup họ có thể dành được ở trại huấn luyện mùa Đông-Doha và số trận đấu để đi đến đó.

5. Người hùng trận chung kết Coman cầu hôn bạn gái Sabrajna khi đi nghỉ ở Mykonos ngày 17/7.

6. Neuer là cầu thủ duy nhất ra sân trong cả 11 trận với 990 phút.

Neuer - chốt chặn quan trọng của Bayern ra sân cả 11 trận ở Champions League. (Nguồn: Getty Images)
Neuer – chốt chặn quan trọng của Bayern ra sân cả 11 trận ở Champions League. (Nguồn: Getty Images)

7. Flick thể hiện sự tin tưởng Müller tuyệt đối, liên quan đến việc chuyển nhượng, ông đã nói với ban lãnh đạo Bayern rằng, mặc dù ông rất muốn có Havertz nhưng đội hình của ông đã có Müller rồi nên Havertz sẽ không có chỗ chính trong mùa tới.

8. Rummenigge và Flick mùa này nhiều lần đi ăn chung với nhau.

9. Lewandowski ở đấu trường châu Âu có 30 cú sút khung thành (kỷ lục), 15 lần bóng vào lưới.

10. Coman đang sở hữu một chiếc McLaren. Vào năm 2018, anh đã đâm nát một chiếc đúng y như vậy trên xa lộ.

11. Kimmich cũng như Goretzka, rất hay đi xe đạp đến tập.

12. Neuer rất thích đi Vespa.

13. Bayern khi đến Lisbon luyện tập ở khu “City of Football,“ đây là trung tâm huấn luyện xây dựng riêng cho đội tuyển Quốc gia Bồ Đào Nha.

14. Thiago ra đi đã không còn là điều bí mật nữa khi anh đã nói chia tay với rất nhiều người trong câu lạc bộ, anh còn nói biệt thự của gia đình ở Grünwald từ Hè này sẽ bán.

15. Thiago, Martínez và Hernández rất hay đi ăn cùng nhau ở một nhà hàng Thái sang trọng ở trung tâm München tên là “Cochinchina.”

16. Năm ngày trước khi Sané về Bayern, Man-City-Sportchef Begiristain gửi mail cho Salihamidzic với nội dung rằng, Man-City chỉ đồng ý khi đổi Sané lấy Coman, nhưng Salihamidzic đã từ chối.

17. Món ăn ưa thích của Süle là Döner ở nhà hàng “Türkitch.”

18. Khi Kahn phát biểu ở Algarve về sự đoàn kết của đội bóng sẽ là sức mạnh và vô cùng ngạc nhiên khi có nhiều cầu thủ nước ngoài tỏ ý không hiểu anh muốn nói gì và cần nhờ tới phiên dịch.

19. Thiago đã xác lập một kỷ lục tại mùa bóng Champions League 2019-20 với 855 đường chuyền trong đó có tới 93% số đường chuyền tới đích!

Kimmch đạp xe đạp đến sân tập. (Nguồn: Getty Imago)
Kimmch đạp xe đạp đến sân tập. (Nguồn: Getty Imago)

20. Giống như Mats Hummel, Boateng khi thi đấu ở đội trẻ là ở vị trí tiền đạo, đặc biệt Boateng đã từng là vua phá lưới giải trẻ với 35 bàn cho Tebe-Berlin.

21. Lewandowski chia tay đồng đội về Warschau ngay tối thứ Hai. Ở đó anh đã mở một buổi tiệc nhỏ để ăn mừng chiến thắng cùng gia đình và những người bạn thân thiết nơi quê nhà.

22. Flick tự mình mang cho mỗi cầu thủ một chiếc xe đạp khi dịch Corona mới bùng phát.

23. Kimmich là cầu thủ chạy nhiều nhất Champions League với số đường chạy là 118,7km.

24. Trong thời gian giãn cách vì dịch COVID-19, Alaba là thợ cắt tóc cho đồng đội mỗi khi ai đó có nhu cầu.

Alaba trổ tài cắt tóc (Nguồn: Getty Imago)
Alaba trổ tài cắt tóc (Nguồn: Getty Imago)

25. Sở thích của tuyển thủ người Pháp Cuisance là câu cá, thường anh cùng với Mösmang-người chăm sóc cầu thủ có những buổi đi câu thú vị.

26. Hermann Gerland mời Hansi Flick uống Whisky-Cola khi họ giành chức vô địch Đức. Hansi hứa sẽ uống nếu như có được Triple, nhưng ông lại chỉ uống Bia và rượu vang khi ăn mừng ở Lisbon.

27. Thomas Müller trong tổng số 50 trận ra sân mùa này có công trong 40 bàn thắng (14 bàn và 26 kiến tạo-lập kỷ lục cá nhân).

28. Leon Goretzka không những đã tận dụng thời gian nghỉ dịch để tập tăng cường sức mạnh cơ thể mà anh còn đọc rất nhiều sách. Trong số đó có cuốn sách tâm lý học nổi tiếng “ Nghĩ nhanh và nghĩ chậm.”

29. Serge Gnabry ghi 9 bàn thắng trên đấu trường Champions League ở London và Lisbon. Anh không bỏ lỡ một cơ hội lớn nào mùa này và có cú poke tại Champions League trong trận thắng Tottenham 2-7.

30. Có hai người bạn rất thân nhau ở Bayern là Joshua Kimmich và Serge Gnabry. Họ đã quen biết nhau từ năm 12 tuổi khi cùng thi đấu cho U13 VfB Stuttgart.

Sau khi Bayern giành Henkel-Pott, họ đăng một tấm ảnh ôm nhau cùng với Henkel-Pott với dòng chữ: “Một hành trình, hai người bạn quen nhau từ ngày còn trẻ và cùng chơi bóng và đêm nay là một đêm điên rồ với danh hiệu vô địch.”

31. Sau khi vô địch thế giới năm 2014, Thomas Müller quay lại sân Allianz và ăn mừng bằng một cái “Leberkäs-Semmel” (một món bánh mỳ với thịt rất bình dân và rẻ tiền ở Bayern). Lần này, sau khi có Triple, anh đặt một cái Pizza và ngồi ăn mừng trên băng ghế HLV của Hansi Flick ở sân Allianz.

32. Cha Thiago, Mazinho là cầu thủ Brazil vô địch thế giới 1994.

33. Coman là cầu thủ tạt bóng nhiều nhất Bayern ở Chapions League với 32 lần. Nhưng chính anh lại là người ghi bàn thắng duy nhất cho Bayern ở trận chung kết sau pha tạt bóng của Kimmich…

34. Cha Kimmich, Berthold sang Lisbon hóng con đá bóng và xem trận chung kết ở một quán bar gần sân vận động. Sau khi trận đấu kết thúc, lúc 1 giờ 52 phút sáng 24/8, ông được đưa vào chỗ các cầu thủ đang ăn mừng để ôm cậu con trai của mình.

Flick từng nói với ban lãnh đạo Bayern rằng, mặc dù ông rất muốn có Havertz nhưng đội hình đã có Müller.

35. Sau khi nhậm chức tại Bayern, Oliver Kahn đã bay sang Doha để ra mắt các cầu thủ. Trong bài phát biểu của mình Kahn khẳng định: “Cầu thủ FC Bayern là những người chiến đấu đến cùng và luôn muốn giành chiến thắng mỗi khi ra sân.”

36. Manuel Neuer hay thực hiện tour xe đạp mỗi khi được nghỉ. Sau World Cup 2018 đầy thất vọng, anh đã cùng với một vài người bạn đi xe đạp vượt dãy núi Alpen.

37. Trong thời gian chuẩn bị cho mùa giải 2019-20, Goretzka và Kimmich đổi xe hơi cho nhau.

38. Herbert Hainer tình cờ gặp Leroy Sané ngay trong ngày đầu tiên anh đến München ở quán Bar Giornale và theo như Leroy Sané kể lại sau đó, họ đã nói chuyện rất lâu và sôi nổi về đội bóng.

39. Davies với tuổi 19 là cầu thủ trẻ nhất của một đội bóng Đức thi đấu chung kết Champions League.

40. Các cầu thủ Bayern rất hay đến tiệm ăn Wagners ở Fraunhoferstraße-München. Đặc biệt là Neuer, Gnabry, Kimmich.

41. Neuer có một chiếc xe Mercedes-Oldtimer. Rảnh rỗi anh hay dùng nó đi dạo ở Tegernsee.

42. Thợ xe Daniel Barinc là người chuyên độ lại xe cho các cầu thủ Bayern. Người vừa được Daniel Barinc độ lại xe là Lucas Hernández.

43. Alphonso Davies sau khi gia hạn hợp đồng với Bayern đã chuyển nhà. Bây giờ cậu bé này hàng xóm của Jérôme Boateng ở khu phố Grünwald.

44. Herbert Hainer hay đậu chiếc Audi e-Tron (ôtô điện) mầu đỏ của mình trước hầm để xe của cầu thủ. Ở đó cũng có một nơi để nạp điện, ý ông muốn làm gương khuyến khích các cầu thủ Bayern đi xe điện.

45. Uli Hoeneß là người quyết định quan trọng nhất khi đưa Hansi Flick lên làm huấn luyện viên Bayern.

Ngay khi Hansi Flick về Bayern năm 2019 chính ông và CEO Karl-Heinz Rummenigge đã ký một bản Hợp đồng riêng với Flick không liên quan và phụ thuộc vào bản Hợp đồng của huấn luyện viên trưởng Niko Kovac khi đó.

Theo Hoeneß: “Đây là một quyết định rất đúng đắn vì chúng tôi cần một người đàn ông làm việc với những người trẻ tuổi và hòa nhập họ.”

Sau khi Hansi Flick được Karl-Heinz Rummenigge đưa lên làm huấn luyện viên trưởng, ông đã ngay lập tức mời Hansi về nhà riêng ăn tối và nói chuyện.

46. Luận văn cử nhân của Hansi Flick đạt điểm cao nhất năm 2003 Đại học thể thao Cologne.

47. Chú chó Vasco của Michaël Cuisance có một tài khoản Instagram riêng.

48. Ở Resort Penha Longa Lisbon các cầu thủ chơi rất nhiều môn thể thao khác nhau như Billard, Bóng bàn, MiniGolf…

Uli Hoeneß là người quyết định quan trọng nhất khi đưa Hansi Flick lên làm huấn luyện viên Bayern. (Ảnh: Getty Images)
Uli Hoeneß là người quyết định quan trọng nhất khi đưa Hansi Flick lên làm huấn luyện viên Bayern. (Ảnh: Getty Images)

49. Alphonso Davies rất hãnh diện khi Rap-Superstar Drake cũng người Canada theo dõi mình trên Instagram.

50. Hansi Flick là người đã nền móng cho sự trở lại của Jérôme Boateng. Trước khi nghỉ Đông, ông nói với Jérôme Boateng: “Nếu trong kỳ tập huấn lần này, cậu cố gắng hết sức, tôi hứa lượt về sẽ cho cậu cơ hội ra sân.”

Trong trả lời phỏng vấn sau chiến thắng Champions League, nói về tương lai của mình, Boateng cho biết: “Vẫn chưa có bất kỳ cuộc đàm phán nào về hợp đồng của tôi. Nhưng rõ ràng với tôi rằng tôi sẽ rất vui khi được tiếp tục trên con đường dưới sự dẫn dắt của Hansi Flick.”

“Tôi và gia đình luôn cảm thấy Munich là ‘ngôi nhà’ của mình. Tôi chắc chắn rằng chúng tôi có thể đạt được nhiều thành tích với Bayern một lần nữa vào năm sau. Tôi muốn trở thành một phần của nó một lần nữa,” trung vệ kỳ cựu chia sẻ.

51. Salihamidzic từ đầu năm nay chạy chiếc Audi RS6 mầu đen của Höneß để lại.

52. Các cầu thủ Bayern cũng hay đến quán ăn bình dân Italy “Dal Cavaliere” ở Rosenheimer Platz.

53. Nhà vô địch thế giới Benjamin Pavard thích yên tĩnh, anh sống ở gần như giữa một khu rừng bên hồ Hinterbrühler-See.

54. Alaba có 7 trong tổng số 8 lần ra sân ở Champions League mùa này không phạm một lỗi nào. Anh không bị một thẻ vàng trong 24 trận gần đây nhất của trên đấu trường quốc tế.

55. Lola là chú chó hoang được vợ của Karl-Heinz Rummenigge, bà Martina và con gái Charlotte mang từ Mallorca (Tây Ban Nha) về nuôi.

56. Sau khi xuất hiện tin đồn làm nội bộ bất ổn rằng Hernández nhận lương 24 triệu euro/năm, Giám đốc Thể thao Salihamidzic đã phải gặp riêng gần như từng người để làm rõ với họ là chuyện này là không hề có. Mức lương tối đa ở Bayern giới hạn ở mức 20 triệu euro.

57. Tất cả nhân viên Bayern không được thưởng đặc biệt khi đội bóng giành Triple.

58. Ban lãnh đạo và cầu thủ thống nhất với nhau, họ chung tiền vào một quỹ để trả thêm cho những cầu thủ ra sân nhiều.

59. Cựu chủ tịch Hoeneß vẫn giữ sợi dây liên lạc chặt chẽ với cầu thủ để gắn kết với câu lạc bộ, kể cả những cầu thủ trẻ. Mới đây ông mời Gnabry về nhà dùng bữa trưa.

60. Coman đã ở Munich từ 2015 và giờ đây anh đã thành thạo tiếng Đức. Trong lần trả lời phỏng vấn gần đây nhất, anh không còn cần tới phiên dịch.

Coman ghi bàn thắng quyết định giúp Bayern giành 'cú ăn ba' ở mùa này. (Nguồn: Getty Images)
Coman ghi bàn thắng quyết định giúp Bayern giành ‘cú ăn ba’ ở mùa này. (Nguồn: Getty Images)

61. Coutinho là cầu thủ duy nhất ngoài Neuer và Kimmich có mặt trên sân trong cả 11 trận đấu ở Champions League mùa này.

62. Thomas Müller chơi golf hay nhất Bayern. Süle, Ulreich, Alaba, Lewandowski và thủ môn dự bị Hoffman cũng đánh golf nhưng thứ hạng không cao bằng Müller.

63. Gnabry tư vấn cho Kimmich khi mua sắm quần áo.

64. Flick chưa bao giờ nhòm ngó tới ghế của Kovac nhưng vẫn yêu cầu một bản hợp đồng không phụ thuộc vào ai là huấn luyện viên trưởng.

65. Kimmich chăm chỉ học tiếng Tây Ban Nha, không phải để một ngày nào đó tới thi đấu cho Barca hay Real. Anh muốn tự mở ra cho mình một chân trời mới và giữ cho đầu óc khỏe mạnh khi biết thêm một ngoại ngữ.

“Đây là một quyết định rất đúng đắn vì chúng tôi cần một người đàn ông làm việc với những người trẻ tuổi và hòa nhập họ,” Hoeneß nói về việc bổ nhiệm Flick.

66. Cầu thủ mượn từ Real Madrid Odriozola mùa này ra sân 10 trận (5 trận cho Real, 5 trận cho Bayern) và đã giành tới 4 danh hiệu. Triple với Bayern và vô địch Tây Ban Nha.

67. Coutinho sắp làm cha lần thứ 3. Vợ anh Ainê đang mang thai tháng thứ 6.

68. Xe hơi hoàng tránh nhất của Bayern thuộc về Lewandowski. Anh hay đi chiếc Ferrari màu đỏ hoặc chiếc Bentley Continental màu xanh lá cây mui trần đến SäbenerStr. Niklas Süle cũng chạy Ferrari nhưng màu trắng.

69. Khi đàm phán gia hạn hợp đồng của Neuer bế tắc, Höneß đã gọi điện cho Neuer và nói với đội trưởng của Bayern rằng: Anh quan trọng như thế nào đối với Bayern cũng như ngược lại. Neuer và người đại diện sau đó tiếp tục ngồi lại và bàn thảo với Bayern.

70. Mỗi khi đẹp trời, Boateng đi một chiếc xe môtô ba bánh hiệu Can-Am đã độ lại có ghi tên anh và số áo trên đầu xe.

71. Alaba thường thuê cả một phòng chiếu phim ở Bayerischen-Hof mỗi khi gia đình anh đi xem phim.

72. Sau khi đã nói chuyện riêng với Alaba rất lâu, Flick đã quyết định đưa anh vào vai trò thủ lĩnh hàng phòng ngự. Trong lần nói chuyện đó, ông khẳng định với Alaba rằng ông cần anh bây giờ và trong tương lai, đồng thời khẳng định ở vị trí này anh chắc chắn sẽ thành công.

73. Lewandowski trong kỳ nghỉ có tham gia làm video với vợ. Vợ anh Anna là huấn luyện viên thể hình online và có tới 2,9 triệu người đăng ký theo dõi.

74. Quán càphê “Occam Deli” ở Schwabing là địa điểm yêu thích của các cầu thủ Bayren khi ăn sáng.

Vợ chồng Müller cùng hai chú chó Micky và Murmel.
Vợ chồng Müller cùng hai chú chó Micky và Murmel.

75. Müller là người yêu động vật, gia đình anh có hai chú chó Micky và Murmel, một con ngựa lùn Freddie, 5 chú thỏ nhỏ Blume, Charly, Polly, Zucker và Zimt. Hai con thỏ khổng lồ Rambo và Hexe. Tất nhiên bên cạnh đó vợ anh còn cả một trại ngựa đua.

76. Uli Hoeneß là người đầu tiên ủng hộ Hansi Flick lên làm huấn luyện viên Bayern. Đây là một việc đã được ban lãnh đạo Bayern tính toán từ trước nếu như không thể tiếp tục cộng tác cùng Niko Kovac.

77. Serge Gnabry được huấn luyện viên phản xạ thần kinh đặc biệt Lars Lienhard huấn luyện thêm nhằm giúp anh cảm nhận được không gian ba chiều nhanh hơn trong một thời gian cực ngắn.

78. Michaël Cuisance vẫn đi chiếc Audi A3 màu xám mang theo từ Gladbach, thậm chí chưa đổi biển số (biển số Gladbach bắt đầu từ hai ký tự MG-, biển xe Munich ký tự đầu tiên là một chữ M-).

79. Kimmich, Goretzka, Gnabry, Davies, Alaba và cầu thủ U19 Arrey-Mbi ăn mừng trên du thuyền ở Formentera đến 6 giờ sáng. Những cô bạn gái của các cầu thủ đến sau và cũng từ hôm đó đến nay không còn thấy họ thức đêm tưng bừng như trước.

80. Lewandowski tung ra tổng cộng 220 cú sút trên mọi đấu trường và ghi được 55 bàn. Trung bình 4 cú sút anh có 1 bàn thắng.

81. Khi Benjamin Pavard chấn thương, Hansi Flick gặp Kimmich nói chuyện, ông tha thiết yêu cầu anh về trở lại vị trí hậu vệ phải, Kimmich đồng ý và bỏ vị trí tiền vệ mà anh ưa thích.

 Lewandowski ghi tổng cộng 55 bàn thắng ở mùa này. (Nguồn: Getty Images)
 Lewandowski ghi tổng cộng 55 bàn thắng ở mùa này. (Nguồn: Getty Images)

82. Kingsley Coman ghi bàn thắng đầu tiên cho FC Bayern tại Champions League mùa giải 2019-20 bằng đầu khi gặp Red Star Belgrade (ngày 18/9/2019) và anh cũng là người ghi bàn thắng cuối cùng ở trận chung kết gặp PSG cũng bằng đầu, mang lại Triple cho Bayern.

83. Toni Tapalovic không chỉ là huấn luyện viên thủ môn mà còn là người phân tích chiến thuật. Một trong những người tư vấn quan trọng để Flick tham khảo ý kiến.

84. Thomas Müller là cầu thủ người Munich duy nhất có mặt trong 4 trận chung kết Champions League 2010, 2012, 2013 và 2020.

85. Lần đầu tiên Bayern ăn mừng không uống loại bia quen thuộc Paulaner. Khi đã có trong tay chức vô địch Đức họ uống bia Beck tại Atlantic-Hotel ở Bremen. Sau khi có Henkel-Pott ở Lisbon họ uống Heineken.

86. Prof. Dr. Dieter Mayer, phó chủ tịch thứ nhất Bayern e.V đi một chiếc Porsche mầu xám.

87. Uli Hoeneß chỉ có cháu trai. Con trai ông Florian và con dâu Sabine có hai con trai Anton và Emil. Con gái ông Sabine và con rể Daniel Stühler cũng có hai con trai là Leopold và Ferdinand.

88. Joshua Zirkzee năm 12 tuổi chuyển từ Spartaan về đội trẻ ADO Den Haag với giá 40.000 euro. Năm 2017, cậu bé từ Rotterdam về Munich với giá 150.000 euro.

89. Alphonso Davies hay chạy bộ trong công viên Englischen-Garten.

90. Robert Lewandowski đi chơi golf ở Aschheim thường lái Ferrari đỏ.

91. Salihamidzic và Flick hay có những bất đồng quan điểm về chuyển nhượng. Mỗi lần như vậy Oliver Kahn lại phải gặp hai người để họ có thể có một tiếng nói chung.

Kingsley Coman ghi bàn thắng đầu tiên và bàn cuối cùng cho FC Bayern tại Champions League mùa giải 2019-20.

92. Bayern có hẳn một “Audi-R8-Gang” với những cầu thủ Süle, Boateng, Hernández, Pavard, Alaba và Gnabry.

93. Bayern rất thận trọng trong việc phòng dịch. Lần đầu tập trung huấn luyện sau giãn cách họ chơi bóng bàn có mang khẩu trang và tất cả vợt bóng bàn đều được sát trùng nhiều lần.

94. Mỗi khi có sinh nhật các cầu thủ Bayren hay ăn mừng ở quán “Matsuhisa“ trong Mandarin Oriental Hotel.

95. Serge Gnabry là cầu thủ ăn mặc màu sắc và hợp mốt nhất Bayern. Bây giờ anh có thêm đối thủ cạnh tranh là Leroy Sané.

96. Goretzka sống trong một căn hộ sát mái có Balkon rất rộng và có thể nhìn vào trung tâm thành phố.

97. Lewandowski không những là Vua phá lưới Champions League mùa này với 15 bàn mà anh còn là cầu thủ có nhiều kiến tạo nhất – 6 lần (ngang bằng với Di María của Paris).

98. Vợ và những người thân trong gia đình các cầu thủ đã cùng nhau làm một video bằng tiếng nước mình để chúc các cầu thủ may mắn. Video được chiếu sau buổi họp đội cuối cùng trước khi ra sân thi đấu.

99. Lần ăn mừng đầu tiên của các cầu thủ Bayern năm nay vào ngày 17/6 khi họ có chức vô địch. Alaba mời tất cả về nhà mình nướng thịt.

100. Bayern từ chối một kỳ nghỉ dài và vẫn đá trận khai mạc Bundesliga 2020-21 như dự kiến vào ngày 18/9 gặp Schalke với hai lý do. Thứ nhất, họ không muốn nhường quyền này cho BVB và Gladbach. Thứ hai, họ có thời gian nghỉ dài hơn trước khi đá trận Siêu cúp châu Âu vào ngày 24/9.

Sau mùa giải vô cùng thành công, Bayern giờ đây lại chuẩn bị bước vào guồng quay mới và chưa bao giờ hết khát khao chinh phục những danh hiệu. (Nguồn: Getty Images)
Sau mùa giải vô cùng thành công, Bayern giờ đây lại chuẩn bị bước vào guồng quay mới và chưa bao giờ hết khát khao chinh phục những danh hiệu. (Nguồn: Getty Images)

Economic, trade cooperation 

Hanoi (VNA) – Since Vietnam and the US normalised their ties and set up diplomatic relations on July 12, 1995, the two countries have gone from former foes into friends and become comprehensive partners, from politics-diplomacy, economy, education and science-technology to defence-security.

Twenty-five years since the normalisation of their ties, trade between Vietnam and the US has risen nearly 120-fold, from 451 million USD in 1995 to 77.5 billion USD in 2019.

Apart from sound political links, economic and trade relations are also considered one of the most successful fields of bilateral cooperation and becoming a driving force for the overall relationship between the two countries.

Breakthrough growth

Twenty-five years since the normalisation of their ties, the US is currently the third-largest among more than 100 trade partners of Vietnam around the globe.

In return, the Southeast Asian country ranks 16th among trade partners of the North American nation. Bilateral trade has grown by 20 percent annually, with Vietnam continually recording surplus with the US.

The Bien Dong Seafood Co. Ltd, located in the Tra Noc II Industrial Park of the Mekong Delta city of Can Tho, is one of the three Vietnamese exporters of tra fish to the US benefiting from a low anti-dumping duty in this market (Photo: VNA)
The Bien Dong Seafood Co. Ltd, located in the Tra Noc II Industrial Park of the Mekong Delta city of Can Tho, is one of the three Vietnamese exporters of tra fish to the US benefiting from a low anti-dumping duty in this market (Photo: VNA)

Trade between the two countries has surged by almost 120 times, from 451 million USD in 1995 to 7.8 billion USD in 2005, 45.1 billion USD in 2015, 47.15 billion USD in 2016, 50.8 billion USD in 2017 and 60.3 billion USD in 2018.

In 2017 alone, Vietnam’s exports to the US accounted for over 20 percent of its total overseas shipments. Vietnam is also the biggest Southeast Asian exporter to the US.

Their trade turnover reached 77.5 billion USD in 2019, which was forecast to hit 80 billion USD this year by the American Chamber of Commerce (AmCham).

According to the General Department of Vietnam Customs, two-way trade stood at 31.11 billion USD in the first five months of 2020.

Out of this, Vietnam shipped 25.11 billion USD worth of goods to the US, up 10.6 percent year on year. The main export items include textile-garment products; mobile phones and components; computers, electronic products and components; machinery, equipment, tools and spare parts; footwear; and wood products, with a revenue of at least 1 billion USD for each commodity.

Meanwhile, the US earned 6 billion USD from shipments to Vietnam during the period, up 5.4 percent from a year earlier, with computers, electronic products and components sold the most, worth 1.92 billion USD, up 8.2 percent year on year.

The US has also continually recorded growth in the export of many items to the Southeast Asian nation, including timber, wood products, animal feed and materials, aquatic products, fruit and vegetables. Regarding agricultural products, it is posting a trade surplus of 400 million USD per year with Vietnam in terms of soya beans, meat, milk and fruit.

Party General Secretary and President Nguyen Phu Trong and US President Donald Trump witness the signing of a contract worth nearly 3 billion USD for 10 Boeing 787-9 Dreamliner aircraft between Bamboo Airways and Boeing in Hanoi on February 27, 2019 (Photo: VNA)
Party General Secretary and President Nguyen Phu Trong and US President Donald Trump witness the signing of a contract worth nearly 3 billion USD for 10 Boeing 787-9 Dreamliner aircraft between Bamboo Airways and Boeing in Hanoi on February 27, 2019 (Photo: VNA)

Besides trade in goods, the two countries have also enjoyed vibrant trade links in the aviation sector with a host of contracts to buy Boeing planes from Vietnamese carriers like Vietnam Airlines, Vietjet Air and Bamboo Airways.

In terms of investment, by the end of 2019, the US ranked 11th among 130 countries and territories directly investing in Vietnam, with nearly 1,000 valid projects worth approximately 10 billion USD at present.

The US has yet to rank among the top foreign investors in Vietnam, but it is assessed as a high-quality investor. Running many valuable projects, US businesses have been actively cooperating with and assisting their local partners to develop while contributing considerably to social activities.

The North American country is also an investment recipient of Vietnamese enterprises. It stood at second place among overseas destinations of Vietnamese investment between January and May this year, with 21.72 million USD or nearly 12 percent of the latter’s total overseas investment.

Additionally, the US has always kept official development assistance (ODA) for Vietnam at a stable level of more than 100 million USD every year.

With regard to tourism, it has also continually been among the top five sources of foreign visitors to Vietnam. The number of American travellers grew by 11.55 percent on average between 2014 and 2018.

In 2018, 687,200 tourists from the US came to Vietnam, increasing 11.9 percent from the previous year and making up 4.4 percent of total foreign arrivals here. They accounted for about 11 percent of total American visitors to Asia.

In February 2019, the second summit between the US and the Democratic People’s Republic of Korea took place in Hanoi. This meeting demonstrated Vietnam’s stature in the international community and its role in maintaining peace and holding world-level political events.

Successes reaped thanks to important agreements and policies

On July 13, 2000, Minister of Trade Vu Khoan and US Trade Representative Charlene Barshefsky signed the Vietnam-US Bilateral Trade Agreement (BTA) at the Office of the US Trade Representative in Washington DC. Later, President Bill Clinton announced this agreement during an event at the White House Rose Garden.

The BTA officially came into force on December 11, 2001, when Vietnamese Minister of Trade Vu Khoan and US Trade Representative Robert B. Zoellick exchanged letters ratifying the deal in Washington DC.

Minister of Trade Vu Khoan and US Trade Representative Charlene Barshefsky sign the Bilateral Trade Agreement in Washington DC on July 13, 2000 (Photo: VNA)
Minister of Trade Vu Khoan and US Trade Representative Charlene Barshefsky sign the Bilateral Trade Agreement in Washington DC on July 13, 2000 (Photo: VNA)

According to the agreement, all Vietnamese goods exported to the US would be entitled to tariff rates under the unconditional normal trade relations status, much lower than previous rates.

Two years after the BTA was effective, the US became the top importer of Vietnamese goods and retained this position until now.

Experience gained during the BTA talks proved useful for Vietnam during the negotiation on its entry into the World Trade Organisation (WTO) with the US, a major partner in the WTO, paving the way for Vietnam to become the 150th member of this organisation in January 11, 2007.

On July 17, 2003, the Vietnam-US Textile Agreement was signed by Minister of Trade Truong Dinh Tuyen and US Ambassador Raymond Burghardt in Hanoi. Later the same year, on December 4, the two countries inked the Bilateral Air Transport Agreement.

On December 8-9, 2016, the US House of Representatives and the Senate approved the status of permanent normal trade relations (PNTR) for Vietnam. US President George W. Bush signed the statement granting the PNTR to the country.

The two countries signed the Bilateral Maritime Agreement on March 15, 2007 and the Trade and Investment Framework Agreement (TIFA) on June 21 the same year.

On March 27-28, 2017, they reactivated the technical meeting of the TIFA Council, holding dialogue in the spirit of ensuring mutual benefits and seeking new cooperation fields.

Vietnam Airlines General Director Nguyen Xuan Hien and President of the US’s Export-Import Bank Philip Merrill sign a financing agreement for one Boeing 777-200ER aircraft for Vietnam Airlines in Washington DC on August 15, 2003. This was the second among the four Being 777-200ERs Vietnam bought from Boeing and also the first to be directly delivered to Vietnam Airlines (Photo: VNA)
Vietnam Airlines General Director Nguyen Xuan Hien and President of the US’s Export-Import Bank Philip Merrill sign a financing agreement for one Boeing 777-200ER aircraft for Vietnam Airlines in Washington DC on August 15, 2003. This was the second among the four Being 777-200ERs Vietnam bought from Boeing and also the first to be directly delivered to Vietnam Airlines (Photo: VNA)

Talking about the rapid growth in Vietnam-US trade ties, US Assistant Secretary of State David Stilwell considered it the result of the industry and vision of many people from both sides who believe in the prospect of peace.

At the ceremony debuting the logo of the 25th anniversary of bilateral diplomatic relations in late December 2019, Stilwell affirmed that US businesses are investing more and more in Vietnam while Vietnamese manufacturers are also bringing more goods to American consumers.

For his part, Vietnamese Deputy Prime Minister Trinh Dinh Dung said the Vietnamese and US economies are increasingly complementary. While his country has many strong products shipped to the US like seafood, cashew nut, apparel and footwear, the US has also been supplying Vietnam with high-tech products such as energy investment projects and aircraft purchase contracts.

Opening the 2019 US-Vietnam Business Summit, he stressed that investment and business opportunities of US firms in Vietnam have been playing an increasingly important role in local development, helping the host country join global supply chains, improve local workers’ skills and income, and bring about prosperity to the Vietnamese people./.

The Sumi-Hanel Wiring System Co. Ltd, located in Hanoi’s Sai Dong B Industrial Park, specialises in assembling automotive electric wires for export to the US (Photo: VNA)
The Sumi-Hanel Wiring System Co. Ltd, located in Hanoi’s Sai Dong B Industrial Park, specialises in assembling automotive electric wires for export to the US (Photo: VNA)

75 năm thực hiện lời thề độc lập

Cách đây 75 năm, trong những ngày mùa thu lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập,” khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sự kiện trọng đại này là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

75 năm qua, thực hiện lời thề thiêng liêng tại Lễ Tuyên ngôn độc lập “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy,” nhân dân ta đã đổ biết bao công sức, trí tuệ, hy sinh biết bao xương máu để giữ vững thành quả và thực hiện các mục tiêu cao cả của Cách mạng Tháng Tám: độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Qua gần 35 năm đổi mới, đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên, ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, vượt qua ngưỡng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; đời sống nhân dân được cải thiện; chính trị-xã hội ổn định; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Nhân kỷ niệm 75 năm Quốc khánh 2/9, Phóng viên TTXVN thực hiện chùm 5 bài viết “75 năm thực hiện lời thề độc lập.”

“Bệ đỡ” để phát triển

Quỳnh Hoa

Cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống pháp luật của đất nước đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý vững chắc, là nền tảng, cơ sở để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật

Ngay từ những ngày đầu tiên sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chủ tịch đã xác định, một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là phải xây dựng cho được một bản Hiến pháp dân chủ.

Hệ thống pháp luật của đất nước đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý vững chắc, là nền tảng, cơ sở để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau mười tháng chuẩn bị, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I đã thảo luận và thông qua bản Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Hiến pháp năm 1946 đánh dấu thắng lợi lịch sử đã giành được trong Cách mạng Tháng Tám, xác lập Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, phát triển cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.

Mục tiêu chiến lược của Hiến pháp là hoàn thành độc lập dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ nhân dân, chuẩn bị tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.
Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.

Cùng với quá trình phát triển của đất nước, pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được hoàn thiện với sự ra đời của các bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013.

Mỗi bản Hiến pháp ra đời đều có bối cảnh và ở những thời điểm lịch sử nhất định nhằm thể chế hóa đường lối cách mạng của Đảng cho mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

Theo đánh giá của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Hiến pháp năm 2013 ra đời phản ánh thành quả của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới và 8 năm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa, phát triển và hình thành nhiều tư duy pháp lý mới mang tính nền tảng, cơ bản, chủ đạo, tạo cơ sở pháp lý – chính trị cao nhất cho quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ mới.

Một mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp năm 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm chủ quyền nhân dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân.

Nhấn mạnh bản chất nhà nước ta là nhà nước thực hiện chủ quyền nhân dân, thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và bảo đảm quyền lực của nhân dân, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân…”

Cùng với Hiến pháp – luật gốc, một hệ thống các văn bản luật và dưới luật đã được khẩn trương xây dựng để cụ thể thi hành hiến pháp. Hệ thống pháp luật được xây dựng và ngày càng được hoàn thiện, là cơ sở pháp lý xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Bước sang giai đoạn đổi mới, hệ thống pháp luật của Việt Nam phát triển cơ bản cân đối trên mọi lĩnh vực. Hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có văn bản quy phạm pháp luật ở tầm luật điều chỉnh, cơ bản thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, mà còn bảo đảm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, chủ động hội nhập quốc tế của đất nước.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký chứng thực Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi), được thông qua ngày 28/11/2013. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký chứng thực Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi), được thông qua ngày 28/11/2013. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)

Số lượng các đạo luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành từ năm 1986-2016 gấp gần 8 lần số lượng luật, pháp lệnh ban hành trong 41 năm về trước.

Cụ thể trong giai đoạn này, các cơ quan chức năng đã ban hành 483 luật, pháp lệnh. Đặc biệt trong 4 năm 2016-2020, Quốc hội đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nhìn vào số lượng các văn bản luật và dưới luật đã được ban hành để cụ thể hóa hiến pháp để thấy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống pháp luật, là nền tảng, “bệ đỡ” cho mọi quan hệ xã hội từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng phát triển.

Đặc biệt sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013, thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện, trong đó các quyền con người được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm.

Tôn trọng, bảo vệ quyền con người

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu về pháp luật, một trong những thay đổi lớn nhất của Hiến pháp 2013 là chế định về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Các quyền này được đề cao, thể hiện nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển.

Giờ học tiếng Mông của học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Lao Chải, huyện Sa Pa (Lào Cai). (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Giờ học tiếng Mông của học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Lao Chải, huyện Sa Pa (Lào Cai). (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)

Dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham gia phiên đối thoại về báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, các nước ghi nhận các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị UPR, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo và quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Theo báo cáo của Chính phủ, đến hết tháng 6/2019, Quốc hội đã ban hành 11/16 luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền con người, quyền công dân thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị như quyền ứng cử, bầu cử; quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý… đã được quan tâm cụ thể hóa thông qua việc ban hành mới Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Trưng cầu ý dân.

Các Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng đã được ban hành để bảo đảm hệ thống pháp luật về các quyền con người, quyền công dân ngày càng hoàn thiện, đủ cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện và bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung tại Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát, ngày 22/1/2019, tại Geneva (Thụy Sĩ). (Ảnh: Hoàng Hoa/TTXVN)
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung tại Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát, ngày 22/1/2019, tại Geneva (Thụy Sĩ). (Ảnh: Hoàng Hoa/TTXVN)

Các quyền con người, quyền công dân trong nhóm quyền kinh tế, văn hóa xã hội đã được cụ thể hóa trong các đạo luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hộ tịch, Luật Căn cước công dân, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình… đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung kịp thời để bảo đảm ghi nhận và quy định cụ thể cơ chế tổ chức thực hiện, bảo vệ tốt hơn nữa các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, lao động, hôn nhân, gia đình.

Trong đó, phải kể tới các quyền về nhân thân, quyền tài sản, quyền về an sinh xã hội, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế; quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó; quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.

Đối với nhóm quyền con người, quyền công dân trong tư pháp như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, quyền bình đẳng trước pháp luật… đã được cụ thể hóa trong các đạo luật quan trọng như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành án hình sự…

Đặc biệt, việc ban hành Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đã giúp cho Nhà nước và nhân dân có thêm công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong phòng, chống tội phạm, đề cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Qua triển khai Luật cùng nhiều biện pháp đồng bộ, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, năm 2019, số vụ tội phạm đã được kéo giảm 7,39%. Đây là con số ấn tượng so với chỉ tiêu Bộ Công an đã đăng ký với Chính phủ, Quốc hội là từ 3-5%.

Điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội

Theo nhận định của Chính phủ, trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định mô hình tổng thể tổ chức bộ máy nhà nước đã được quy định tại Hiến pháp năm 1992, đồng thời có một số phát triển mới trong các quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, chính quyền địa phương và một số thiết chế khác bảo đảm phù hợp hơn với nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.

Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)
Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Sơ kết 5 năm triển khai thi hành Hiến pháp 2013, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đánh giá, các luật, pháp lệnh về tổ chức bộ máy đã được ban hành trên tinh thần cụ thể hóa nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước; đổi mới cơ chế hoạt động, phân công, phối hợp và kiểm soát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan; đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương theo hướng phân cấp, phân quyền, ủy quyền rành mạch, rõ ràng hơn nhằm hướng tới xây dựng một bộ máy nhà nước gọn về tổ chức và hiệu quả trong hoạt động.

Tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, đồng thời đổi mới mô hình tổ chức, hình thức, phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung ương, địa phương theo chủ trương của Đảng nhằm hướng tới một bộ máy nhà nước tinh gọn về tổ chức, hiệu quả trong hoạt động và tăng cường trách nhiệm giải trình, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương…

Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, căn cứ quan trọng để xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, hiệu quả.

Theo đánh giá của Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Mạnh Hùng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được ban hành kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Với quan điểm phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ, Hiến pháp năm 2013 đã quy định mang tính khái quát về mục tiêu, định hướng và các chính sách cơ bản làm cơ sở để hoàn thiện và thực thi hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường.

Trong những năm qua, pháp luật trong các lĩnh vực này đã được hoàn thiện một bước quan trọng. Tính đến hết tháng 6/2019, Quốc hội đã ban hành các đạo luật về thuế và 31/37 luật, pháp lệnh khác thuộc lĩnh vực này.

Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các đạo luật thuộc lĩnh vực này đã tập trung góp phần tạo nền tảng pháp lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh, các quyền về an sinh xã hội của công dân, cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư và phát triển các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước; bảo đảm quyền, lợi ích của người dân, doanh nghiệp; ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.

Các đạo luật về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đã kịp thời được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa các quy định mới của Hiến pháp và yêu cầu của tình hình mới.

Tính đến hết tháng 6/2019, Quốc hội đã ban hành 06 luật, pháp lệnh về bảo vệ Tổ quốc trong Danh mục và 05 luật, pháp lệnh ngoài Danh mục.

Những nỗ lực trong công tác lập pháp thời gian quan đã từng bước đưa các quy định của Hiến pháp dần đi vào cuộc sống, tác động tích cực tới mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của đất nước; góp phần bảo vệ, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình đánh giá việc triển khai thi hành Hiến pháp đã góp phần nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người dân; tạo cơ sở quan trọng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới./.

Quang cảnh phiên họp Quốc hội. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Quang cảnh phiên họp Quốc hội. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Nền kinh tế chuyển mình

Chu Thanh Vân

Từ nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và thấp kém vào năm 1945, trong 75 năm qua, nền kinh tế nước ta đã qua nhiều bước chuyển mình, phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử, để đến hôm nay, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình.

Quy mô nền kinh tế năm 2019 đạt hơn 262 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. GDP bình quân đầu người đạt gần 2.800USD/người, gấp 1,32 lần năm 2015. Dự kiến năm 2020, GDP bình quân đầu người sẽ vượt 3.000 USD, đạt mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020 đề ra.

Thoát ra từ nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến, thấp kém

Giai đoạn 1945-1954 là giai đoạn đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt Nam và cũng là thời kỳ khó khăn nhất của đất nước. Nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong thế bị bao vây, cô lập, phải đối phó với nhiều loại kẻ thù.

Từ nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và thấp kém vào năm 1945, trong 75 năm qua, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình.

Đảng, Chính phủ đã nêu cao thiện chí và chính nghĩa, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, nỗ lực tìm kiếm sự đồng tình, ủng hộ của các nước trong khu vực, các lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới đối với cách mạng Việt Nam.

Cùng với nhiệm vụ thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp, Việt Nam đã thực hiện chuyển nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và thấp kém thành nền kinh tế dân chủ, độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến và kiến quốc.

Các chính sách về ruộng đất, giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng từng bước được cải thiện. Sản lượng lương thực quy thóc năm 1954 ở vùng giải phóng đạt trên 2,9 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946.

Công nhân xưởng dệt Vinatexco chủ động khôi phục lại sản xuất từ tháng 10/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Công nhân xưởng dệt Vinatexco chủ động khôi phục lại sản xuất từ tháng 10/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Giai đoạn 1955-1975, đất nước bị chia cắt, nền kinh tế hai miền Nam, Bắc có nhiều điểm khác nhau. Kinh tế miền Bắc thực hiện hàng loạt nhiệm vụ như: khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, tạo cơ sở kinh tế và chính trị vững chắc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội (thời kỳ 1955-1957); cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế (thời kỳ 1958-1960); thực hiện đường lối phát triển kinh tế trong bối cảnh miền Bắc có chiến tranh (thời kỳ 1961-1975).

Trong khi đó nền kinh tế miền Nam phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ nhưng hết sức yếu ớt, trống rỗng; tình trạng lạm phát, giá cả hàng hóa tăng với tốc độ cao.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960) đã xác định: “Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở nước ta.” Thu nhập bình quân đầu người của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp năm 1970 đã tăng 20% so với năm 1965.

Năm 1975, ở miền Bắc, tổng sản phẩm xã hội gấp 2,3 lần so với năm 1960, thu nhập quốc dân gấp 1,9 lần. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp gấp 3,4 lần.

Quan hệ thương mại giữa miền Bắc nước ta với các nước trên thế giới cũng được mở rộng, từ 10 nước (trong đó có 7 nước xã hội chủ nghĩa) trong năm 1955, đến năm 1965, đã tăng lên 35 nước (trong đó có 12 nước xã hội chủ nghĩa).

Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (giai đoạn 1976-1985), cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta.

Nhân dân sôi nổi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985). Mặc dù đạt được một số thành tựu, nhưng nhìn chung nền kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới có nhiều hạn chế, thậm chí có những dấu hiệu khủng hoảng.

Bước chuyển mình thực sự của Việt Nam, tạo được dấu ấn và nhiều thành tựu bước đầu quan trọng là vào năm 1986, sau khi công cuộc đổi mới đất nước được Đảng ta khởi xướng.

Sản xuất linh kiện điện tử tại công y EVA trong khu công nghiệp Vsip. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
Sản xuất linh kiện điện tử tại công y EVA trong khu công nghiệp Vsip. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Thời điểm đó, Việt Nam bị khó khăn bủa vây. Cuộc tổng điều chỉnh giá-lương-tiền trước đó bộc lộ nhiều khuyết điểm khiến nền kinh tế xuống dốc, lạm phát có thời gian lên tới trên 700% khiến hơn 7 triệu người thiếu đói.

Đất nước bị cấm vận, nguồn viện trợ từ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa bị cắt giảm.

Nhìn thấu yêu cầu đổi mới, không có con đường nào khác là phải kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế, phát huy vai trò của khoa học kỹ thuật, mở rộng nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, trên cương vị là Tổng Bí thư từ năm 1986-1991, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân triển khai thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước.

Đại hội VI đã quyết định tập trung đổi mới từ nền kinh tế quốc doanh, tập thể chuyển sang kinh tế nhiều thành phần; thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

Khâu lưu thông, phân phối được đổi mới. Nhiều mô hình mới xuất hiện, đặc biệt là Nghị quyết 10 (Khoán 10) về khoán sản phẩm đã tạo ra một cú hích mạnh mẽ làm nông nghiệp bừng tỉnh; bãi bỏ chế độ tem phiếu thúc đẩy nhiều mô hình làm ăn được “bung” ra, đời sống nhân dân dần khởi sắc.

Từ một nước thiếu đói, phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới. Đến năm 1995, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1991-1995) hoàn thành vượt mức, sự nghiệp đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm 1990-2000 đạt 7,5%.

Bước vào nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế

Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2006-2010 cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng nhanh.

Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 đạt 101,6 tỷ USD (gấp 3,26 lần so với năm 2000).

Những kết quả này đã tạo đà cho giai đoạn 2011-2020 duy trì ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức thấp, tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế-xã hội.

Nút giao thông trọng điểm giao giữ đường Võ Nguyên Giáp - đường Bùi Viện góp phần giảm thiểu thời gian lưu thông giữa khu vực phía Đông thành phố hải Phòng. (Ảnh: Nguyễn Tuấn/TTXVN)
Nút giao thông trọng điểm giao giữ đường Võ Nguyên Giáp – đường Bùi Viện góp phần giảm thiểu thời gian lưu thông giữa khu vực phía Đông thành phố hải Phòng. (Ảnh: Nguyễn Tuấn/TTXVN)

Từ năm 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình quân 5,9%/năm; giai đoạn 2016-2020 ước đạt 6,8%/năm.

Dự trữ ngoại hối tăng từ 12,4 tỷ USD năm 2010 lên trên 80 tỷ USD vào năm 2020. Sức cạnh tranh của nền kinh tế và năng suất lao động được nâng lên rõ rệt. Năm 2013-2014, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia trong bảng xếp hạng.

Năm 2019, năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc so với năm 2018, đứng thứ 67/141 nền kinh tế. Chỉ số môi trường kinh doanh năm 2019 tăng 8 bậc so với năm 2015, xếp thứ 70/190 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân giai đoạn 2011-2015 là 4,3%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 5,8%/năm. Xếp hạng toàn cầu về chỉ số đổi mới sáng tạo của nước ta những năm gần đây tăng vượt bậc, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp.

Đến đầu năm 2020, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), có quan hệ thương mại với 224 đối tác, trong đó có hơn 70 nước là thị trường xuất khẩu của Việt Nam; có quan hệ với hơn 500 tổ chức quốc tế.

71 nước công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Các địa phương đã ký kết 420 thỏa thuận quốc tế với các địa phương, đối tác, doanh nghiệp nước ngoài, tăng 20,3% so với giai đoạn 2014-2016.

Chia sẻ với phóng viên TTXVN trước thềm Xuân Canh Tý, đồng chí Vương Đình Huệ ( lúc đó giữ cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ) nhận định, năm 2019, bất chấp những biến động bất thường của kinh tế thế giới, sự suy giảm của đầu tư và thương mại toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam vẫn phát triển rất ấn tượng, năm thứ 3 liên tiếp hoàn thành toàn diện 12/12 chỉ tiêu phát triển về kinh tế-xã hội, trong đó có 5 chỉ tiêu vượt kế hoạch.

Đặc biệt ấn tượng có thể nói là vấn đề tăng trưởng.Tăng trưởng GDP năm 2019 là 7,02%, là một trong những nước có tăng trưởng cao nhất của khu vực cũng như trên thế giới. Trong điều kiện nhiều nước, nhiều nền kinh tế lớn suy thoái, không tăng trưởng hoặc tăng trưởng âm, chúng ta đã có mức tăng trưởng rất ấn tượng.

Cùng với quá trình ổn định kinh tế vĩ mô, hội nhập quốc tế, các chính sách xã hội cũng được quan tâm hơn, đời sống nhân dân được cải thiện, không ngừng nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt qua các năm, kể cả khu vực nông thôn và thành thị, từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7% năm 2015 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015), từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).

GDP bình quân đầu người tăng từ 1.332 USD/người năm 2010 lên khoảng 3.000 USD/người năm 2020.

Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc. Tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch dự kiến đến năm 2020 đạt khoảng 90%, dân số nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh ước đạt 96%.

Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường ước năm 2020 là 90%. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 30,5% năm 2010 lên khoảng 40% năm 2020.

Con đường đi tới một Việt Nam thịnh vượng

6 tháng đầu năm 2020, trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của các quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta, toàn bộ hệ thống chính trị đặt ưu tiên hàng đầu cho việc phòng, chống và dập dịch, hy sinh lợi ích kinh tế để bảo đảm tính mạng và sức khỏe của người dân.

Kiểm tra chất lượng xe ôtô tại nhà máy sản xuất ôtô Vinfast. (Nguồn: TTXVN) 

Kiểm tra chất lượng xe ôtô tại nhà máy sản xuất ôtô Vinfast. (Nguồn: TTXVN) 


Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID-19.

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện trong từng tháng, từng quý.

Đây chính là nền tảng vững chắc để nền kinh tế nước ta tiếp tục duy trì tăng trưởng. Trong khi nhiều nước rơi vào tình trạng tăng trưởng âm, GDP 6 tháng đầu năm 2020 của Việt Nam vẫn tăng 1,81%.

Trong Báo cáo Điểm lại tháng 7/2020, một ấn phẩm bán thường niên đánh giá về tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 30/7, cơ quan này nhận định, dù chịu cú sốc lớn do dịch COVID-19, nhưng Việt Nam vẫn là quốc gia năng động, nền kinh tế vẫn chịu đựng tốt và sẽ phục hồi.

Quyền Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam Stefanie Stallmeister nhận định, Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những nền kinh tế sôi động nhất thế giới.

Theo dự báo mới nhất, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 2,8% vào năm 2020 và sẽ phục hồi lại mức 6,7% vào năm 2021. Kết quả dự báo trên cho thấy, Việt Nam sẽ là quốc gia tăng trưởng đứng thứ 5 trên thế giới trong năm 2020.

Nhờ thoát được quỹ đạo dịch bệnh trong khủng hoảng COVID-19 sớm hơn, Việt Nam có cơ hội đặc biệt nhằm nâng tầm dấu ấn của mình trong nền kinh tế toàn cầu cả về thương mại và đầu tư, đồng thời thúc đẩy nghị trình cải cách trong nước.

Con đường đi tới một Việt Nam hùng cường và thịnh vượng, sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới như mong muốn của Bác Hồ đã được hoạch định với từng mốc thời gian.

Chiến lược cho 10 năm tới, với mốc kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có thu nhập ở nhóm nước trung bình cao trên thế giới với GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt 8.000-9.000 USD/người.

Đến năm 2045, với dấu mốc 100 năm thành lập nước, Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp, phát triển hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có mức thu nhập cao trên thế giới./.

 Cầu Hoàng Văn Thụ là cây cầu hiện đại, do Việt Nam hoàn toàn thiết kế và thi công, một trong những công trình trọng điểm mang dấu ấn lớn của Hải Phòng. (Ảnh: Trọng Luân/TTXVN)  
 Cầu Hoàng Văn Thụ là cây cầu hiện đại, do Việt Nam hoàn toàn thiết kế và thi công, một trong những công trình trọng điểm mang dấu ấn lớn của Hải Phòng. (Ảnh: Trọng Luân/TTXVN)  

Kiên định mục tiêu giảm nghèo,an sinh xã hội bền vững

Hạnh Quỳnh

Thực hiện giảm nghèo, chăm lo an sinh-phúc lợi xã hội cho nhân dân đang đưa đến nhiều thành tựu cho Việt Nam. Công cuộc đó cũng thể hiện bản chất tốt đẹp, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định chính trị-xã hội và phát triển bền vững của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trên chặng đường 75 năm qua, nhất là sau hơn ba thập kỷ đổi mới.

Không để ai bị bỏ lại phía sau

Năm 2020, giữa đại dịch COVID-19, khoản tiền hỗ trợ 1,5 triệu đồng từ gói 62 nghìn tỷ theo tinh thần Nghị quyết 42 của Chính phủ khiến ông Đặng Gia Định, thương binh hạng 3/4, ở ngõ 43 phố Nguyễn Phong Sắc, phường Dịch Vọng Hậu (quận Cầu Giấy) cảm thấy ấm lòng.

Thành tựu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam chính là sự thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Trong suy nghĩ của ông Định, đó là nguồn động viên to lớn, không chỉ là thể hiện rõ tinh thần “một miếng khi đói bằng một gói khi no” mà còn là sự khẳng định của Chính phủ về việc “không để ai bị bỏ lại phía sau.”

Cũng như người thương binh ở phố Nguyễn Phong Sắc, chị Phùng Thị Ngọc Anh, phường Ô Chợ Dừa (quận Đống Đa, Hà Nội) cảm kích và phấn khởi khi đón nhận khoản hỗ trợ theo Nghị quyết 42 của Chính phủ từ cơ quan chức năng. Số tiền 1,5 triệu đó như chiếc “phao” giúp gia đình chị – một hộ cận nghèo, trang trải cuộc sống.

Những hạt gạo nghĩa tình giúp bà con gặp khó khăn vượt qua giai đoạn gian nan của đại dịch. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)
Những hạt gạo nghĩa tình giúp bà con gặp khó khăn vượt qua giai đoạn gian nan của đại dịch. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Điểm chung trong suy nghĩ của ông Đặng Gia Định và chị Phùng Thị Ngọc Anh khi nhận số tiền hỗ trợ của Chính phủ là, họ không chỉ tiếp nhận những động viên kịp thời, có giá trị về vật chất mà còn có ý nghĩa tinh thần, thấy cuộc sống thêm ý nghĩa.

Bởi lẽ, họ đã được chứng kiến Đảng, Nhà nước dốc tổng lực để thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch và dành mọi nguồn lực để hỗ trợ an sinh xã hội cho người dân bị ảnh hưởng do COVID-19.

Đợt dịch bệnh này, họ chỉ là hai trong số 15,8 triệu người thuộc các nhóm đối tượng trong diện được thụ hưởng gói hỗ trợ 62 nghìn tỷ như người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, lao động trong doanh nghiệp, lao động không có giao kết hợp đồng lao động, hộ kinh doanh.

Cảm nhận tinh thần về ý nghĩa cuộc sống trong đại dịch COVID-19 của hai người dân đó, như khái quát của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc Chính phủ với các địa phương do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì hồi tháng 7 mới đây: “Thông qua gói hỗ trợ an sinh 62 nghìn tỷ đồng, các nước trên thế giới cũng như người dân trong nước ghi nhận, đồng tình ủng hộ. Qua đó, niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Chính phủ được nâng lên. Đây là cái được vô giá !”

Dẫn chứng từ ông Đào Ngọc Dung là, dù dịch bệnh bùng phát gây xáo trộn mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến người lao động, người nghèo và những đối tượng khó khăn, yếu thế trong xã hội, nhưng Việt Nam đã thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra vừa đảm đảm nhiệm vụ chống dịch, đảm bảo sức khỏe vừa phục hồi kinh tế, ổn định kinh tế xã hội, những kết quả đạt được là rất đáng mừng và đáng trân trọng.

Đời sống nhân dân, an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm nhanh, tỷ lệ thiếu đói giảm 74,6% so cùng kỳ. Đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân theo đầu người tăng lên đạt 4,3 triệu đồng.

Đặc biệt mới đây trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, cùng với việc đề xuất điều chỉnh các chính sách hỗ trợ người dân, người lao động cho phù hợp với thực tiễn, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội vừa có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất gói hỗ trợ lần 2 là 18.600 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp và người lao động gặp khó khăn do đại dịch này.

Đối tượng thụ hưởng gói hỗ trợ lần 2 là doanh nghiệp vừa và nhỏ; hợp tác xã, tổ hợp tác; hộ kinh doanh, trong đó ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh; người lao động tại khu vực nông thôn.

Vững vàng niềm tin

Không phải đến những khó khăn mà đại dịch COVID-19 gây ra mới thấy niềm tin của người dân vào Đảng, Nhà nước và Chính phủ trong thực hiện các chính sách an sinh-phúc lợi xã hội và xóa đói giảm nghèo. Mà vốn dĩ niềm tin ấy đã vững vàng bao trùm suốt chặng đường 75 năm qua, nhất là sau hơn ba thập kỷ đất nước đổi mới…

Những thành quả tốt đẹp từ hàng loạt các chủ trương, chiến lược xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp với nguồn kinh phí huy động từ Chính phủ, cộng đồng và các tổ chức quốc tế đã cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các địa phương.

Ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, các nhóm dân tộc thiểu số khó khăn phát triển kinh tế. (Ảnh: Hoài Thu/TTXVN)
Ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, các nhóm dân tộc thiểu số khó khăn phát triển kinh tế. (Ảnh: Hoài Thu/TTXVN)

Những nỗ lực to lớn, không ngừng nghỉ nhằm đầu tư nguồn lực và đổi mới cơ chế, chính sách để thực hiện an sinh xã hội đã cải thiện không ngừng cuộc sống của người dân. Phát triển dân sinh được đặt trong mối tương quan hài hòa và gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, giữa đầu tư phát triển kinh tế với đầu tư bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội; quan tâm đầu tư cho vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hải đảo.

Thông tin từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã cho thấy điều đó, đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước tiếp tục giảm xuống, chỉ còn 3,75%.

Trên 1,35 triệu hộ trong tổng số hơn 2,33 triệu hộ nghèo vào cuối năm 2015 đã thoát nghèo. Ước đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo cả nước tiếp tục giảm xuống, chỉ còn khoảng 2,75%. Thu nhập bình quân hộ nghèo dự kiến đến cuối năm nay cũng tăng 1,6 lần, vượt chỉ tiêu đề ra.

Việc thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo, nhất là giai đoạn 2016-2020 đã góp phần ổn định xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, tạo sự đồng thuận cao của toàn xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Người nghèo đã được cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách, nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập.

Thành tựu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam chính là sự thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Thành tựu đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, nhìn nhận Việt Nam là một trong các nước có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất thế giới, đạt được tiến bộ ấn tượng nhất trong các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam cam kết thực hiện.

Bình đẳng trong phát triển kinh tế, xã hội

Trước những thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã ghi nhận trong báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam”: Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ hộ nghèo trong các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm là kết quả rất đáng khích lệ, những nỗ lực tập trung vào việc tăng cường thu nhập cho các dân tộc thiểu số có thể gia tăng cơ hội cho nhóm người này và giảm sự bất bình đẳng kéo dài.

Các bệnh viện đầu tư trang thiết bị hiện đại khám, chữa bệnh cho người dân có thẻ bảo hiểm y tế. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Các bệnh viện đầu tư trang thiết bị hiện đại khám, chữa bệnh cho người dân có thẻ bảo hiểm y tế. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)

Đánh giá về những kết quả mà Việt Nam đạt được trong Việt Nam đã đạt được tiến bộ tốt trong phát triển con người, bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam nhận định, Việt Nam đã kiên định chọn hướng phát triển lấy con người làm trọng tâm và sự bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người kể từ năm 1990 với mức độ bất bình đẳng tăng chậm.

Thẳng thắn nhìn nhận, mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, được nhân dân trong nước đồng tình, dư luận quốc tế đánh giá cao, nhưng công cuộc giảm nghèo, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là xoá đói giảm nghèo chưa thật sự bền vững, khoảng cách giàu nghèo vẫn rộng và có xu hướng gia tăng.

Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước đã và đang đưa ra nhiều chủ trương mới nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững. Đáng chú ý là đề xuất khung chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021-2025.

Theo đề xuất này, giảm nghèo và an sinh xã hội, nâng cao đời sống người dân, bảo đảm tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Để thực hiện giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững có hiệu quả, giải pháp tổng thể được xác định từ đối tượng, phạm vi đến đề ra mục tiêu cần đạt được trong từng giai đoạn 5 năm, 10 năm trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp tác động đến giảm nghèo và an sinh xã hội, bao gồm: hệ thống các chính sách và Chương trình mục tiêu quốc gia; tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá.

Chương trình được xây dựng và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt để làm căn cứ thực hiện, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 của Đảng, Chính phủ và các cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Chương trình này đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và an sinh xã hội bền vững. Phấn đấu từng bước xóa bỏ hoàn toàn nghèo đói cho tất cả mọi người ở mọi nơi; nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, tạo việc làm đầy đủ, việc làm tốt cho tất cả mọi người; góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, giảm bất bình đẳng trong xã hội./.

Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Chính sách xã hội. (Ảnh: CTV)
Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Chính sách xã hội. (Ảnh: CTV)

Bảo vệ Tổ quốc bằng hòa bình bền vững

Hiền Hạnh

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn coi trọng giữ ổn định bên trong và hòa hiếu, hữu nghị với các quốc gia, dân tộc khác để xây dựng, phát triển đất nước.

 75 năm qua, thành tựu lớn nhất trên lĩnh vực quốc phòng-an ninh là đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang, 75 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nhân dân Việt Nam, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, đã xây dựng nền quốc phòng-an ninh vững chắc, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về quốc phòng-an ninh, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bảo vệ nền hòa bình bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời duy trì sức mạnh quốc phòng-an ninh cần thiết, sẵn sàng đánh bại mọi hình thái chiến tranh xâm lược.

Xây dựng toàn diện nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân

Nhiều năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã triển khai xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ở từng khu vực và trên địa bàn cả nước; thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.

Đảng, Nhà nước, Quân đội tích cực đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở mang tính lưỡng dụng đáp ứng kịp thời cho thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới.

 Xe tăng quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
 Xe tăng quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

Công tác phối hợp giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến đơn vị cơ sở. Các đơn vị Quân đội, Công an đã chủ động phối hợp để tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết nhiều vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Cùng với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân được xây dựng thông qua việc củng cố vững chắc hệ thống chính trị để làm hạt nhân lãnh đạo, quản lý, tập hợp và huy động sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp quốc phòng; xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức quần chúng góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Ý thức trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được nâng cao. Nhân dân đồng thuận, tin tưởng, đoàn kết và không ngừng nâng cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, hệ thống pháp luật về bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội ngày càng được hoàn thiện.

Đảng đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng nhằm kịp thời thể chế hóa quan điểm, đường lối quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, như “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới;” “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam;” “Chiến lược Quân sự Việt Nam;” “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng;” “Chiến lược Bảo vệ an ninh quốc gia;” “Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia.”

Nhà nước đã xây dựng, ban hành mới và bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quốc phòng, an ninh: Luật An ninh quốc gia, Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Dân quân tự vệ, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật Phòng, chống khủng bố, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Quốc phòng, Luật Công an nhân dân.

Đây là những bước tiến quan trọng, nhằm thể chế hóa đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật – cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng.

Củng cố tiềm lực an ninh-quốc phòng

Với tiền thân là các đội vũ trang của quân khởi nghĩa Nam Kỳ, các đội Cứu quốc quân ở Việt Bắc… xuất hiện trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, lực lượng Quân đội và Công an đã ra đời.

Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)
Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang nhân dân đã lớn mạnh, trưởng thành và lập nên nhiều kỳ tích trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược (1945-1975) cũng như trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; có bản lĩnh chính trị vững vàng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng trung kiên bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cũng là lực lượng tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp sức xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường “trận địa lòng dân”, chủ động giúp nhân dân phát triển kinh tế-xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa-dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực tham gia các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa,” xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, gắn bó với đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đồng thời làm tốt vai trò tham mưu, góp phần chủ động phòng ngừa, tấn công làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình,” hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh, ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hoạt động cơ hội chính trị, các loại tội phạm hình sự; tham gia tích cực, có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống và khắc phục thiên tai.

Cùng với xây dựng bộ đội chủ lực vững mạnh, Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu, rộng khắp.

Lực lượng dân quân tự vệ biển được tập trung xây dựng, củng cố, thực sự trở thành lực lượng quan trọng phối hợp cùng các lực lượng đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ ngư dân, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Bên cạnh đó, dân quân tự vệ, công an viên là lực lượng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân ở cơ sở.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh

Cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng-an ninh tiếp tục khẳng định là kênh quan trọng đóng góp vào quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, góp phần trực tiếp xây dựng lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việt Nam đã có quan hệ, hợp tác về quốc phòng, an ninh với các đối tác chủ chốt, phù hợp với các quan hệ song phương theo các khuôn khổ của đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác hợp tác toàn diện, tập trung vào những lĩnh vực phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm.

Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. (Ảnh: Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc)
Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. (Ảnh: Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc)

Hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh không ngừng được mở rộng trên nhiều lĩnh vực quốc phòng, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, phát triển cả bề rộng và chiều sâu.

Tính đến năm 2019, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 80 quốc gia và tổ chức quốc tế; có 50 nước đặt tùy viên quân sự tại Việt Nam, trong đó 28 nước thường trú và 22 nước kiêm nhiệm.

Đến nay, Quân đội đã cử 40 lượt cán bộ và tổ chức hai bệnh viện dã chiến cấp 2 (mỗi bệnh viện trên 60 quân nhân) sang tham gia Phái bộ Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan.

Các sỹ quan của Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đã và đang hoàn thành rất tốt nhiệm vụ, được Liên hợp quốc đánh cao, đồng thời tạo được hiệu ứng tốt trong Quân đội cũng như trong quần chúng nhân dân. Sắp tới, Việt Nam tiếp tục cử 10 sỹ quan lên đường thực hiện nhiệm vụ tại Cục Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (Trụ sở Liên hợp quốc, New York, Hoa Kỳ), Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan.

Bên cạnh hợp tác quốc phòng song phương, Việt Nam còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương trên kênh quốc phòng ASEAN (ADMM/ADMM+), kênh hợp tác quân sự ASEAN, kênh hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN) và một số diễn đàn đa phương khác, trong đó có thể kể đến một số chương trình quan trọng như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và Hội nghị hẹp Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM hẹp); Hội nghị các quan chức quốc phòng cấp cao ASEAN (ADSOM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị không chính thức Tư lệnh lực lượng quốc phòng các nước ASEAN (ACDFIM), Các cuộc họp nhóm giữa kỳ ARF về xây dựng lòng tin và ngoại giao phòng ngừa (ISG-CBM&PD), Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á, Diễn đàn Hương Sơn…

75 năm là cả một quá trình phấn đấu hy sinh đầy gian khổ, không tiếc của cải và cả xương máu của dân tộc, vừa kháng chiến vừa kiến quốc để bảo vệ, xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay. Ngày nay, đất nước đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, Việt Nam trở thành một quốc gia ngày càng có uy tín trên trường quốc tế.

Có thể nói, 75 năm qua, thành tựu lớn nhất trên lĩnh vực quốc phòng-an ninh là đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị-xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập trung xây dựng, phát triển đất nước.

Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo. Môi trường chính trị, an ninh, kinh tế xuất hiện nhiều yếu tố bất ổn mới, tác động nhanh, mạnh và bất ngờ. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức.Trong bối cảnh đó, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam gắn kết chặt chẽ hòa bình, lợi ích quốc gia-dân tộc với hòa bình, an ninh, ổn định của khu vực và thế giới. Đồng thời với mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, Việt Nam tích cực, chủ động tham gia bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Việt Nam quyết tâm duy trì chính sách quốc phòng có tính chất hòa bình, tự vệ; kiên quyết, kiên trì giải quyết các tranh chấp, bất đồng với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; chủ trương củng cố, phát triển sức mạnh quốc phòng, trong đó sức mạnh quân sự là nòng cốt, đủ khả năng răn đe, đánh thắng mọi hành động xâm lược và chiến tranh.

Để trở thành lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thời gian tới, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục được đầu tư các nguồn lực cần thiết để làm nòng cốt cho nền quốc phòng toàn dân, củng cố thế trận an ninh nhân dân, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích quốc gia-dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng-an ninh; tìm kiếm giải pháp lâu dài để giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, phát triển thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vì mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững./.

Cán bộ, chiến sỹ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 chào tạm biệt người thân và đồng đội lên đường làm nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Cán bộ, chiến sỹ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 chào tạm biệt người thân và đồng đội lên đường làm nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Nâng tầm vị thế Việt Nam

Nguyễn Hồng Điệp

Cách đây 75 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ đó, nền ngoại giao của nước Việt Nam hiện đại đã ra đời và vinh dự được Bác Hồ, vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên trực tiếp chỉ đạo, dìu dắt.

Trong suốt 75 năm qua, ngành Ngoại giao đã luôn đồng hành cùng dân tộc, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và có những bước trưởng thành vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước kia cũng như sự nghiệp đổi mới, hội nhập và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đúng như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.”

Nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng

Đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta được hình thành rõ nét và phát huy mạnh mẽ ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, các hoạt động đối ngoại được xúc tiến nhằm đề cao chính nghĩa, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp, chính phủ và nhân dân các nước khác đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Ngay từ những ngày đầu lập nước, dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng tiền bối, ngoại giao đã khéo léo, bản lĩnh thể hiện vai trò tiên phong trong việc giữ vững độc lập nước nhà, góp phần quan trọng bảo vệ thành công chính quyền cách mạng non trẻ.

75 năm qua, ngành Ngoại giao đã luôn đồng hành cùng dân tộc,góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc,sự nghiệp đổi mới, hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Mặt trận ngoại giao đã sát cánh cùng mặt trận quân sự “vừa đánh vừa đàm” và cụ thể hóa những thắng lợi ở chiến trường trên bàn đàm phán tại Geneva năm 1954, tại Paris năm 1973.

Tại Hội thảo khoa học “75 năm Ngoại giao Việt Nam: bài học kinh nghiệm và định hướng,” Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nêu rõ ngoại giao đã đi đầu trong việc vận động các nước ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc, công nhận nền hòa bình và độc lập của Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ Donald Trump chứng kiến lễ ký kết mua 10 máy bay Boeing 787-9 Dreamliner của Bamboo Airways tháng 2/2019. (Ảnh: Vietnam+) 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Mỹ Donald Trump chứng kiến lễ ký kết mua 10 máy bay Boeing 787-9 Dreamliner của Bamboo Airways tháng 2/2019. (Ảnh: Vietnam+) 

Trong sự nghiệp đổi mới, ngoại giao Việt Nam có sứ mệnh mới, góp phần quan trọng tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đồng thời linh hoạt, sáng tạo tìm phương cách mới thúc đẩy hợp tác quốc tế, tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước, góp phần quan trọng nâng cao thế và lực cho đất nước.

Từ những năm 50 của thế kỷ 20, hoạt động đối ngoại được triển khai gồm ba kênh: đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân cùng bổ sung, hỗ trợ cho nhau, làm cho hoạt động đối ngoại thêm phong phú, linh hoạt, thực hiện có hiệu quả đường lối đối ngoại chung, phục vụ đắc lực và thiết thực nhất mục tiêu cách mạng ở từng thời kỳ, góp phần vào đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Theo Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân, Ngoại giao Việt Nam là nền ngoại giao toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của ba kênh chủ lực. Mỗi kênh có chức năng, nhiệm vụ riêng với phương thức hoạt động khác nhau nhưng có sự phối hợp nhuần nhuyễn, bổ sung, hỗ trợ hiệu quả cho nhau, tạo thế “chân kiềng” vững chắc trên mặt trận ngoại giao, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối chính sách đối ngoại và các mục tiêu cách mạng của dân tộc qua các thời kỳ.

Cuối những năm 80 của thế kỷ 20, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc và phức tạp. Đại hội VII của Đảng đã đề ra đường lối đối ngoại “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế” với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.”

Đại hội IX đề ra tiếp tục “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.”

Thực hiện đường lối đó, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), với Mỹ (năm 1995).

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ 7 nước G7 và 17/20 nước thành viên G20. Thiết lập và nâng cấp nhiều mối quan hệ lên đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện.

Chỉ riêng trong 5 năm (2016-2020), Việt Nam đã thiết lập đối tác chiến lược với 3 nước, nâng đối tác chiến lược lên đối tác toàn diện với 1 nước, thiết lập đối tác toàn diện với 5 nước, nâng tổng số quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện lên 30 nước.

Số lượng các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, một văn phòng kinh tế văn hóa. Quan hệ với các đối tác hàng đầu không chỉ phát triển mạnh trên kênh Nhà nước, mà còn được đẩy mạnh trên cả kênh Đảng với nhiều hoạt động cấp cao vừa mang ý nghĩa chính trị, vừa có nhiều nội dung hợp tác thực chất, hiệu quả.

Việt Nam duy trì mối quan hệ tốt với các nước láng giềng và khu vực. Mặc dù có nhiều diễn biến phức tạp trên Biển Đông nhưng chúng ta đã khéo léo, kiên trì, kiên quyết đấu tranh bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, vừa bảo vệ được độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, vừa giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Việt Nam cùng ASEAN và Trung Quốc tích cực tham gia đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), đẩy mạnh trao đổi về phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia, tiếp tục duy trì các cơ chế đàm phán với Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực nghiên cứu các khả năng hợp tác cùng phát triển.

Việt Nam cũng đã hoàn thành việc tăng dày, tôn tạo mốc giới với Lào; đang triển khai việc thực hiện Nghị định thư và Hiệp định Quy chế biên giới Việt – Lào. Với Campuchia, hai nước cũng đã hoàn thành 84% việc phân giới cắm mốc và đang xúc tiến hoàn tất văn kiện ghi nhận những kết quả đã đạt được.

Công tác đối ngoại đã phối hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ pháp luật trong việc đẩy lùi, vô hiệu hóa các âm mưu và hành động chống phá Đảng, Nhà nước ta về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo; bảo hộ công dân và người Việt Nam ở nước ngoài; đấu tranh bảo vệ quyền và chủ quyền lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng, để đạt được và bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc, trong mọi chính sách và hoạt động đối ngoại đòi hỏi phải giữ vững độc lập, tự chủ.

Chỉ có độc lập, tự chủ mới chủ động tránh được sức ép bên ngoài, đảm bảo được lợi ích của dân tộc. Điều này không có nghĩa là ta chủ trương theo đuổi một chính sách dân tộc vị kỷ vì trong khi đấu tranh bảo vệ lợi ích dân tộc mình thì chúng ta đồng thời góp phần tích cực vào đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đối ngoại quốc phòng, an ninh tiếp tục khẳng định là kênh quan trọng, cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, góp phần trực tiếp xây dựng lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tích cực đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước

Việt Nam chủ động tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, tham gia Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) năm 2007.

Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chứng kiến Lễ ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chứng kiến Lễ ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)

Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ASEAN, duy trì và củng cố quan hệ của ASEAN với các đối tác bên ngoài, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng Cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Cộng đồng ASEAN) và Hiến chương ASEAN; tham gia tích cực, có trách nhiệm với các diễn đàn khu vực và quốc tế như Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Kinh tế-xã hội Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2016-2018, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (PKO), Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Không chỉ tham gia các hoạt động đa phương đơn thuần, Việt Nam còn tích cực đóng góp để xây dựng, định hình các thể chế, luật lệ, chuẩn mực đa phương, đóng vai trò tích cực hơn trong các cơ chế quản trị toàn cầu và xây dựng quan hệ hợp tác ngày càng tốt đẹp với nhiều cơ chế, tổ chức, sáng kiến quốc tế. Các nước lớn ngày càng coi trọng vị thế của Việt Nam trong chiến lược ở khu vực và trên thế giới.

Gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới Chính phủ và người dân Việt Nam nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Quốc khánh, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhấn mạnh, Việt Nam đã luôn là đối tác mạnh mẽ của Liên hợp quốc kể từ khi gia nhập tổ chức vào năm 1977.

Lực lượng Quân đội Việt Nam đang tham gia các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và vai trò đầu tàu trong việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ là nền tảng vững chắc giúp Việt Nam triển khai Chương trình Phát triển bền vững 2030.

Với tư cách là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã và đang có những đóng góp quan trọng trong việc ủng hộ hòa bình bền vững.

Việt Nam chủ động và tích cực trong việc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA), hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Việc ký các hiệp định thương mại đã mở rộng và đa dạng hóa thị trường, quan hệ bạn hàng với nhiều nền kinh tế phát triển và không để nền kinh tế đất nước rơi vào tình trạng bị lệ thuộc vào một thị trường, góp phần đưa quan hệ của Việt Nam với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện vào chiều sâu.

Tính đến tháng 7/2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, đưa tổng số nước có quan hệ ngoại thương với nước ta từ 50 nước năm 1990 lên 170 nước năm 2000.

Đến đầu năm 2020, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), có quan hệ thương mại với 224 đối tác, trong đó có hơn 70 nước là thị trường xuất khẩu của Việt Nam; có quan hệ với hơn 500 tổ chức quốc tế; 71 nước công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam.

Các địa phương đã ký kết 420 thỏa thuận quốc tế với các địa phương, đối tác, doanh nghiệp nước ngoài, tăng 20,3% so với giai đoạn 2014-2016.

Vị thế trong các tổ chức và các mối quan hệ đối ngoại đã góp phần làm cho đất nước đạt được những thành quả quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết và đi vào triển khai hàng trăm thỏa thuận hợp tác quốc tế ở các cấp từ Trung ương tới địa phương, thu hút nguồn lực to lớn cho phát triển đất nước.

Chế biến thủy sản xuất khẩu tại tỉnh Đồng Tháp. (Ảnh: Chương Đài/TTXVN)
Chế biến thủy sản xuất khẩu tại tỉnh Đồng Tháp. (Ảnh: Chương Đài/TTXVN)

Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không ngừng tăng cao. Riêng giai đoạn 2016-2020, dòng vốn FDI tính đến 20/2/2020 có 31.434 dự án có hiệu lực của 126 quốc gia và vùng lãnh thổ với tống số vốn đăng ký là 370 tỷ USD.

Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng trưởng, cải thiện đáng kể cán cân thương mại. Văn hóa, du lịch, quốc phòng-an ninh, khoa học-công nghệ … đều đạt những thành quả quan trọng.

Trong bài viết với tiêu đề: “Thành tựu đối ngoại 2019: Bản lĩnh và tinh thần Việt Nam,” Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nêu rõ, năm 2020 là thời điểm lịch sử rất quan trọng với đối ngoại Việt Nam, nhất là đối ngoại đa phương.

Việt Nam sẽ lần đầu tiên cùng lúc đảm đương đồng thời hai trọng trách là Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Đó là những trọng trách khu vực và quốc tế có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự tin cậy và kỳ vọng lớn của bạn bè quốc tế vào Việt Nam.

Đó là cơ hội quan trọng để chúng ta đóng góp chủ động, tích cực, trách nhiệm vào hòa bình, an ninh và thịnh vượng chung của khu vực và thế giới; là dịp để ta khẳng định tâm thế của một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, đổi mới, đang hội nhập quốc tế sâu rộng.

Những trọng trách đa phương này cũng là thời cơ để Việt Nam tranh thủ thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương giữa ta và các nước, tạo ra những động lực mới cho phát triển và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam.

Những thành tích vẻ vang đã đạt được trong chặng đường 75 năm trưởng thành và phát triển đã thể hiện rõ nét vị trí, vai trò của ngành Ngoại giao nói riêng và công tác đối ngoại nói chung trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhận định “Công tác đối ngoại đã trở thành một điểm sáng trong toàn bộ những thành tựu chung của đất nước”./.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 phát biểu tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 phát biểu tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Lao động châu Á tại Nhật Bản

Lao động di cư ra nước ngoài làm việc đã trở thành một trong những xu thế tất yếu của toàn cầu hóa. Đặc biệt, tại các nước có cơ cấu dân số không đủ đáp ứng nhu cầu tuyển dụng trong nước, việc thu hút lao động từ nước ngoài đang trở thành một biện pháp cần thiết. Nhật Bản là một trong những quốc gia thúc đẩy mạnh mẽ biện pháp này trong bối cảnh dân số già hóa dẫn tới nguy cơ thiếu hụt trầm trọng lực lượng lao động trong tương lai gần.

Lao động nước ngoài, đặc biệt là lao động từ các nước châu Á, trong đó Việt Nam chiếm một tỷ lệ lớn, đã trở thành nguồn nhân lực chủ chốt giúp Nhật Bản giải quyết vấn đề này.

Là người từng có nhiều năm học tập và công tác tại Nhật Bản với vai trò phóng viên Cơ quan thường trú TTXVN, nhà báo Nguyễn Tuyến đã có cơ hội tìm hiểu kỹ vấn đề này.

Chùm bài “Lao động châu Á tại Nhật Bản” với 6 bài viết chuyên sâu, cung cấp bức tranh vừa tổng quát vừa chi tiết về tình hình thực tế, những cơ hội và thách thức đối với người lao động nước ngoài, đặc biệt là châu Á, tại Nhật Bản, thị trường dẫn đầu về tiếp nhận lao động Việt Nam hiện nay.

Đông Nam Á – nguồn cung lao động quan trọng

Nhật Bản là quốc gia đứng thứ 11 thế giới về quy mô dân số với 126.860.301 dân năm 2019, giảm 0,27% so với năm 2018. Điều đáng lo ngại là cơ cấu dân số của Nhật Bản đang đi theo xu hướng già hóa.

Từ “bài toán” thiếu hụt lao động…

Theo phân tích của Cơ quan Nghiên cứu dân số, đến năm 2050, dân số Nhật Bản sẽ giảm xuống còn 90 triệu người, trong đó số người trên 65 tuổi dự kiến chiếm khoảng 40% và số người dưới 15 tuổi chỉ chiếm khoảng 8,5%. Trước xu thế này, một ủy ban của Nhật Bản về vấn đề xã hội lão hóa đã đề xuất định nghĩa lại khái niệm người già bằng cách nâng tuổi được công nhận là người già lên mức từ 75 tuổi trở lên.

Nhật Bản được coi là một quốc gia có nền văn hóa đóng, không cởi mở với người nước ngoài. Trung Quốc và Triều Tiên là hai cộng đồng nước ngoài lớn nhất và lâu đời nhất, đến nay đã có thế hệ thứ ba hoặc thứ tư sinh sống tại Nhật Bản. Tuy nhiên, kể từ sau thời kỳ năm 1980 đến nay, nhóm di dân từ một số nơi khác cũng đến Nhật Bản. Có thể tạm chia làm hai nhóm gồm người gốc Nhật sống tại Mỹ Latinh muốn trở về quê hương và nhóm di dân các nước và vùng lãnh thổ đến Nhật Bản để học tập, làm việc. Trong nhóm thứ hai, ngoài người Trung Quốc và Hàn Quốc, nổi bật có nhóm Đông Nam Á với các nước như Việt Nam, Philippines, Indonesia, Thái Lan, và ngoài Đông Nam Á là Brazil, Đài Loan (Trung Quốc), Nepal.

Theo số liệu thống kê của Cơ quan Nhập cư Nhật Bản, tính đến hết năm 2018, có 2.731.093 người nước ngoài sinh sống tại Nhật Bản. Trong số đó, người Trung Quốc chiếm 28%, người Triều Tiên chiếm 16,5%. Việt Nam đứng thứ ba với 330.835 người, chiếm 12,1%. Philippines ở vị trí thứ tư chiếm 9,9%, Brazil thứ năm với 7,4% và Nepal thứ sáu, chiếm 3,3% cộng đồng người nước ngoài tại Nhật Bản. Như vậy, có thể thấy, số người nước ngoài sinh sống tại Nhật Bản hiện nay vẫn chiếm một phần rất nhỏ trong cơ cấu dân số nước này.

Lao động Indonesia tại một nông trại trồng dâu ở Nhật Bản. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Lao động Indonesia tại một nông trại trồng dâu ở Nhật Bản. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Tuy nhiên, trong bối cảnh dân số già hóa trở thành nỗi lo lớn vì thiếu hụt lao động chính là một yếu tố cản trở đà tăng trưởng của nền kinh tế, Chính phủ Nhật Bản trong vài năm trở lại đây đã bắt đầu xúc tiến các biện pháp cần thiết để thu hút lao động nước ngoài.

Khoảng 10 năm về trước, lao động nước ngoài đã xuất hiện tại Nhật Bản nhưng số lượng đi theo visa làm việc (working visa) không đáng kể, hầu hết là vào Nhật Bản với visa du học (student visa). Những du học sinh này sau khi nhập cảnh Nhật Bản, vừa đi học, vừa đi làm, trở thành một lực lượng lao động quan trọng của loại hình công việc bán thời gian (part-time).

Một chương trình quan trọng khác đưa lượng lớn lao động nước ngoài đến Nhật Bản thời gian vừa qua là Chương trình đào tạo kỹ thuật cho thực tập sinh nước ngoài (TITP), tạm gọi là chương trình tu nghiệp sinh.

Về mặt chính thức, đây là chương trình hỗ trợ của Nhật Bản dành cho các nước đang phát triển, với mục đích đào tạo kỹ thuật công nghệ cho các thực tập sinh nước ngoài để về ứng dụng tại quê hương. Tuy nhiên, TITP đã bị một số chuyên gia đánh giá là chương trình đưa lao động bậc thấp vào Nhật Bản.

Trong những năm qua, có thể nói du học sinh và TITP đã bù đắp đáng kể cho tình trạng thiếu hụt lao động bậc thấp và lao động bán thời gian. Tuy nhiên, tình trạng thiếu hụt này giờ đây không chỉ giới hạn ở những công việc đơn giản mà đã lan sang cả những ngành nghề đòi hỏi lao động có tay nghề cao hơn.

Từ năm 2019, Chính phủ Nhật Bản đã xem xét điều chỉnh và bổ sung nhiều chính sách, biện pháp mới nhằm xây dựng một đất nước Nhật Bản thân thiện với người nước ngoài

Bên cạnh đó, những bất cập trong hai loại hình trên cũng đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết nếu như Nhật Bản mong muốn lao động nước ngoài phát huy tốt nhất năng lực của mình. Chính vì vậy, từ năm 2019, Chính phủ Nhật Bản đã xem xét điều chỉnh và bổ sung nhiều chính sách, biện pháp mới nhằm xây dựng một đất nước Nhật Bản thân thiện với người nước ngoài để thu hút nhiều hơn nữa lao động nước ngoài đến với “Xứ sở Hoa Anh đào.”

Trước đó, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe từng công bố kế hoạch thu hút 500.000 lao động nước ngoài đến Nhật Bản để bù đắp tình trạng khủng hoảng nhân lực nghiêm trọng trong các ngành như nông nghiệp, xây dựng, dưỡng lão…

… đến nguồn cung lao động chính

Nhật Bản dự kiến đến năm 2030 sẽ bị giảm 7,9 triệu lao động trong khi ngân sách cho an sinh xã hội sẽ tăng cao do người già tăng. Để duy trì dân số ở mức 100 triệu người, về mặt lý thuyết, Nhật Bản phải nhận 200.000 người nhập cư mỗi năm, nâng tỷ lệ sinh từ 1,43 lên 2,07 vào năm 2030.

Với mục tiêu 500.000 lao động nước ngoài tới Nhật Bản đến năm 2025, nước này phải nhận trung bình 71.430 lao động mỗi năm trong vòng 7 năm, tính từ năm 2018. Chính vì vậy, Nhật Bản đã tăng tốc việc tiếp nhận tu nghiệp sinh, lao động nước ngoài từ các nước Đông Nam Á. Tính đến cuối tháng 10/2018, trong tổng số 1.460.463 lao động nước ngoài tại Nhật Bản, Đông Nam Á đang nổi lên là một trong những khu vực cung cấp nguồn lao động lớn.

Các nước Đông Nam Á được đánh giá là có nguồn lao động dồi dào. Lao động tại các quốc gia này cũng hào hứng với việc sang Nhật Bản làm việc để có nguồn thu nhập cao hơn. Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng là quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á đang phát triển rất tốt đẹp với đa số người dân tại các quốc gia khu vực này đánh giá tích cực về Nhật Bản.

Việt Nam có 326.840 lao động tại Nhật Bản, đứng đầu trong nhóm Đông Nam Á. Tiếp theo là Philippines với 164.006 người. Indonesia và Thái Lan cũng nằm trong nhóm các quốc gia có số lượng lao động lớn tại Nhật Bản. Các nước còn lại như Campuchia, Myanmar, Malaysia cũng đang thúc đẩy việc tăng cường đưa lao động đến “đất nước Mặt Trời mọc.”

Lao động Việt Nam đang chăm sóc cây giống xà lách. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Lao động Việt Nam đang chăm sóc cây giống xà lách. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Đặc biệt, việc Chính phủ Nhật Bản ban hành chế độ visa mới với hai loại visa gồm Kỹ năng đặc định 1 và Kỹ năng đặc định 2 có hiệu lực từ ngày 1/4/2019, được cho là chủ yếu hướng tới nguồn lao động tại các nước Đông Nam Á.

Tính đến nay, đã có 6 nước Đông Nam Á ký bản ghi nhớ hợp tác với Nhật Bản để đưa lao động sang quốc gia này theo chế độ visa mới, gồm Việt Nam, Philippines, Campuchia, Myamar, Indonesia và Thái Lan. Biên bản ghi nhớ này sẽ mở đường cho việc đưa công nhân “cổ cồn xanh” của các nước Đông Nam Á sang Nhật Bản làm việc, đặc biệt trong các ngành thâm dụng lao động như xây dựng, nông nghiệp, đóng tàu.

Song song với nỗ lực của chính phủ, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng đẩy mạnh hoạt động thu hút lao động tại Đông Nam Á. Theo Nikkei Asian Review, Watami, chuỗi nhà hàng Nhật Bản đã lập một công ty liên doanh tại Singapore để hỗ trợ những người muốn tham gia các kỳ thi kỹ năng của chương trình visa mới tại Nhật Bản. Công ty liên doanh này sẽ phối hợp với những trường dạy tiếng Nhật và các doanh nghiệp khác ở các nước láng giềng, không chỉ tìm kiếm lao động cho Watami mà còn cung cấp lao động cho những hệ thống nhà hàng khác tại Nhật Bản. Bằng việc nhanh chóng lập một cơ sở đào tạo cấp khu vực, Watami hy vọng sẽ giành lợi thế trong nỗ lực thu hút lao động từ Đông Nam Á.

Đại diện của hệ thống cửa hàng tiện lợi Lawson cũng xác nhận đã mở trung tâm đào tạo ở nước ngoài với 3 trung tâm tại Việt Nam và 1 tại Hàn Quốc. Các trung tâm này đào tạo nội dung công việc tại các cửa hàng tiện lợi và phong tục tập quán của người Nhật Bản cho những sinh viên đã được nhận vào học tại các trường ở Nhật Bản.

Tại nhiều doanh nghiệp Nhật Bản, tỷ lệ lao động đến từ các nước Đông Nam Á đang tăng mạnh.

Tại nhiều doanh nghiệp Nhật Bản, tỷ lệ lao động đến từ các nước Đông Nam Á đang tăng mạnh. Theo đại diện của Lawson, hệ thống này có tổng cộng 11.000 nhân viên bán thời gian là người nước ngoài, trong đó có 3.200 người Việt Nam.

Hiện Trung Quốc vẫn là đang là quốc gia có số lượng lao động nhiều nhất tại Nhật Bản với tổng số 389.117 người tính đến hết tháng 10/2018. Tuy nhiên, tốc độ tăng số lao động Trung Quốc phái cử đến Nhật Bản đang giảm trong khi con số này lại đang tăng ở các nước Đông Nam Á.

Theo Nippon.com, tốc độ tăng lao động Trung Quốc của Nhật Bản là 26,6%, thấp hơn so với Việt Nam ở mức 31,9% và không cao hơn nhiều so với Indonesia ở mức 21,7%. Nguyên nhân của xu thế này là do mức lương của lao động Trung Quốc đang tăng lên, cạnh tranh giữa doanh nghiệp Nhật Bản với doanh nghiệp Trung Quốc trong việc tuyển dụng lao động ngày càng trở nên gay gắt hơn. Chính vì vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản đang chuyển hướng dần sang các nước Đông Nam Á.

Giới chuyên gia dự đoán với xu thế này, số lao động Đông Nam Á tại Nhật Bản sẽ vượt Trung Quốc trong thời gian tới và khu vực này sẽ trở thành một trong những nguồn cung lao động chính cho Nhật Bản./.

Những chương trình tuyển dụng chủ yếu

Lao động nước ngoài sang Nhật Bản thông qua nhiều hình thức, trong đó có ba chương trình đưa số lượng lớn lao động gồm TITP; chế độ visa kỹ năng đặc định 1 và 2; và du học sinh.

TITP – những bất cập và lợi ích

Trong khi thực hiện các biện pháp nhằm đẩy mạnh thu hút lao động nhập cư, Nhật Bản cũng cần tìm cách cải thiện những bất cập còn tồn tại trong các chương trình tuyển dụng lao động nước ngoài hiện tại, trong đó đáng chú ý nhất là TITP.

Tính đến tháng 6/2019, trong số 14 nước ký bản ghi nhớ hợp tác với Nhật Bản về TITP, có tới 7 nước Đông Nam Á gồm Việt Nam, Campuchia, Philippines, Lào, Myanmar, Thái Lan và Indonesia.

Theo số liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản, tính đến cuối năm 2018, tổng cộng có 328.360 lao động nước ngoài đến Nhật Bản theo diện TITP, trong đó đứng đầu là Việt Nam với 164.499 người. Trung Quốc đứng thứ hai với 77.806 người. Tiếp đến là ba nước Đông Nam Á gồm Philippines (30.321), Indonesia (26.914) và Thái Lan (19.181).

Số lao động nước ngoài đến Nhật Bản theo diện TITP tăng mạnh, song cũng xuất hiện không ít những chỉ trích về việc thực chất của chương trình là cung cấp lao động giá rẻ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước này.

Theo Giáo sư Asato Wako của Đại học Kyoto, thường xuyên xảy ra các vụ vi phạm luật lao động trong chương trình TITP. Nguyên nhân có thể là do hầu hết các doanh nghiệp tiếp nhận lao động là những doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ, rất khó khăn để tồn tại nếu không vi phạm. Một nửa trong số các doanh nghiệp sử dụng lao động là doanh nghiệp có quy mô dưới 10 người.

Giáo sư Asato Wako nêu một trong những thách thức của TITP là số vụ bỏ trốn đang tăng nhanh chóng và 70% số vụ bỏ trốn là do lương thấp, trong khi trước đó tu nghiệp sinh đã trả một khoản tiền lớn để được sang Nhật Bản làm việc. TITP còn bị chỉ trích là tu nghiệp sinh hầu như không được làm các công việc có tính chất kỹ thuật nên không có kỹ năng gì sau khi hoàn thành một chương trình kéo dài ba năm.

Một trong những thách thức của TITP là số vụ bỏ trốn đang tăng nhanh chóng và 70% số vụ bỏ trốn là do lương thấp

Giáo sư Toru Shinoda thuộc Đại học Waseda cho rằng việc tiếp nhận lao động tay nghề thấp với những điều kiện cứng nhắc sẽ khiến cho lao động nhập cư không đánh giá Nhật Bản là một điểm đến làm việc hấp dẫn, có thể khiến lao động nước ngoài trở nên không mặn mà với Nhật Bản bằng các thị trường khác.

Bên cạnh đó, mặc dù TITP là chương trình đưa lao động nước ngoài sang Nhật Bản nhiều nhất hiện nay, song đây là chương trình được thiết kế với mục tiêu hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển, theo đó lao động sang Nhật Bản với tư cách học viên học việc, tiếp thu các kỹ thuật công nghệ của Nhật Bản để về ứng dụng trong nước. Vì vậy, về mặt chính thức, đây không phải là chương trình tuyển dụng lao động nước ngoài mà là chương trình đào tạo với các điều kiện ràng buộc đối với học viên.

Theo Giáo sư Asato Wako, mặc dù bị chỉ trích nhiều, song TITP vẫn được giới doanh nghiệp Nhật Bản ủng hộ, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một trong những điều khoản của TITP là không cho phép tu nghiệp sinh chuyển việc, điều này giúp doanh nghiệp đảm bảo được sự ổn định của nguồn nhân lực.

Lao động Myanmar tại Lawson. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Lao động Myanmar tại Lawson. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Ngày 1/11/2017, Nhật Bản ban hành luật thực tập sinh kỹ năng, thành lập Cơ quan Quản lý thực tập sinh nước ngoài tại Nhật Bản (OTIT) với mục tiêu hỗ trợ đảm bảo quyền lợi và phát triển nguồn nhân lực theo diện thực tập sinh. Trước đó, thực hiện vai trò này là Tổ chức Hợp tác tu nghiệp quốc tế Nhật Bản (JITCO), là một tổ chức tư nhân, có chức năng thanh sát các đơn vị tuyển dụng tu nghiệp sinh song lại không có quyền hạn pháp lý.

OTIT ra đời theo Luật thực tập sinh kỹ năng với vai trò là tổ chức có pháp lý, có quyền hạn để thực thi những quy định trong luật này.

OTIT có văn phòng tại 13 thành phố Nhật Bản gồm Tokyo, Sapporo (tỉnh Hokkaido), Miyagi (Sendai), Mito (Ibaraki), Nagano (Nagano), Aichi (Nagoya), Toyama (Toyama), Osaka, Hiroshima, Takamatsu (Kagawa), Matsuyama (Ehime), Fukuoka và Kumamoto, là những địa điểm tin cậy để rà soát năng lực của các nghiệp đoàn, công ty, giải quyết các vướng mắc giữa chủ lao động và tu nghiệp sinh, cũng như hỗ trợ, đảm bảo quyền lợi của thực tập sinh.

Chương trình kỹ năng đặc định – thu hút lao động có tay nghề

Ngày 1/4/2019, Nhật Bản ban hành luật giới thiệu tư cách lưu trú mới gồm hai tư cách lưu trú  “kỹ năng đặc định 1” và “kỹ năng đặc định 2.”

Tư cách lưu trú “kỹ năng đặc định 1” yêu cầu lao động phải có trình độ hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp cần thiết trong lĩnh vực được tuyển dụng và phải đỗ kỳ thi do các cơ quan sở, bộ, ban, ngành chức năng quy định. Yêu cầu thứ hai là phải có trình độ tiếng Nhật nhất định, đủ giao tiếp cơ bản cho cuộc sống tại Nhật Bản, trình độ tiếng Nhật sẽ được xác định bằng kết quả tham gia kỳ thi năng lực tiếng Nhật. Thời hạn của loại visa này tối đa là 5 năm. Visa này không được gia hạn và không được phép đưa thân nhân sang Nhật Bản cùng sinh sống. Visa này dành cho 14 ngành nghề gồm: xây dựng; đóng tàu và công nghiệp cơ khí máy móc tàu thuyền; sửa chữa bảo dưỡng ôtô; hàng không; lưu trú khách sạn; điều dưỡng; bảo dưỡng cao ốc; nông nghiệp; ngư nghiệp; công nghiệp chế biến đồ uống và thực phẩm; dịch vụ ăn uống; ngành công nghiệp gia công cơ khí; ngành chế tạo máy công nghiệp; ngành công nghiệp điện và điện tử.

Tư cách lưu trú “kỹ năng đặc định 2” là sự nâng cấp của loại 1. Loại 2 quy định kỹ năng nghề phải đạt mức thành thạo trong lĩnh vực được tuyển dụng, được xác nhận thông qua kỳ thi do các cơ quan sở, bộ, ban, ngành chức năng quy định. Số ngành được tuyển dụng giảm từ 14 trong visa “kỹ năng đặc định 1” xuống còn 5 ngành trong visa “kỹ năng đặc định 2,” gồm xây dựng, đóng tàu và công nghiệp cơ khí máy móc tàu thuyền, sửa chữa bảo dưỡng ôtô, hàng không, lưu trú khách sạn. Tư cách lưu trú này được phép đưa gia đình sang Nhật Bản cùng sinh sống và không bị quy định thời gian lưu trú tối đa.

Lao động Việt Nam đang ươm hạt giống xà lách tại làng Kawakami. (Ảnh: Nguyễn  Tuyến)
Lao động Việt Nam đang ươm hạt giống xà lách tại làng Kawakami. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Luật mới cho phép lao động nước ngoài được cấp visa “kỹ năng đặc định 1” có thể xin đổi sang visa “kỹ năng đặc định 2” nếu như trình độ chuyên môn tay nghề đạt yêu cầu. Năng lực tay nghề sẽ được xác nhận bằng kỳ thi do sở, ban, ngành hoặc bộ quy định.

Ngoài ra, lao động có visa “kỹ năng đặc định 2”, nếu đáp ứng đủ điều kiện, có thể xin chuyển sang tư cách “vĩnh trú” – tức là cư trú không xác định thời hạn. Visa “kỹ năng đặc định 2” được đánh giá là gần giống với visa “vĩnh trú” với tính chất không hạn chế thời gian lưu trú. Điều khác biệt lớn nhất giữa hai loại visa này là visa “kỹ năng đặc định 2” quy định ngành được tuyển dụng, không để mở như visa “vĩnh trú.”

Giáo sư Asato Wako cho rằng chế độ visa mới là cách tiếp cận dựa trên quyền lợi của người lao động với các đặc điểm gồm tuyển dụng trực tiếp, không thông qua đơn vị trung gian; sát hạch năng lực ngôn ngữ được tiến hành trên máy vi tính; không phải là nguồn cung lao động giá rẻ vì mức lương và quyền lợi tương đương với lao động Nhật Bản và người lao động được quyền tự do chuyển việc. Nhật Bản đặt mục tiêu thu hút 340.000 người lao động tay nghề cao trong vòng 5 năm với chương trình kỹ năng đặc định 1 và 2.

Kỹ năng đặc định 1 và Kỹ năng đặc định 2 được giới chuyên môn Nhật Bản đánh giá là cách tiếp cận đúng đắn để hướng đến việc thu hút lao động có tay nghề từ nước ngoài đến Nhật Bản.

Từ tháng 4/2019 đến hết tháng 12/2019, Nhật Bản đã ký kết với 9 nước phái cử để thực hiện chương trình kỹ năng đặc định gồm: Việt Nam, Phillippines, Campuchia, Myanmar, Srilanka, Nepal, Mông Cổ, Indonesia và Uzbekistan.

Du học sinh – sự sống của các hệ thống cửa hàng tiện lợi

Hình thức thứ ba được đánh giá là hỗ trợ nguồn lao động bán thời gian cho Nhật Bản là visa du học dành cho sinh viên nước ngoài.

Các sinh viên nước ngoài đi theo hai cách. Sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng và đại học, nộp đơn xin học các trường dạy tiếng Nhật tại Nhật Bản, sau khi hoàn thành 2 năm trường tiếng sẽ nộp đơn xin việc, chuyển sang visa đi làm. Cách thứ hai là các học sinh cấp 3 và những người chưa có bằng tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, nộp đơn học trường tiếng tại Nhật Bản, sau khi hoàn thành trường tiếng sẽ học tiếp lên cao đẳng hoặc đại học tại Nhật Bản. Hoàn thành cấp học đại học hoặc cao đẳng, các sinh viên này sẽ nộp đơn xin việc để chuyển sang visa làm việc.

Du học sinh chỉ được làm việc 28 giờ/tuần trong thời gian đi học vì vậy công việc làm thêm mà họ tìm đến chắc chắn là bán thời gian, điều này dẫn đến xu thế số lượng du học sinh làm việc tại các nhà hàng, hệ thống cửa hàng tiện lợi tăng mạnh.

Các lao động Việt Nam đang làm việc tại Công ty TNHH Koganei Seiki, tỉnh Gunma. (Ảnh: Đào Tùng/TTXVN)
Các lao động Việt Nam đang làm việc tại Công ty TNHH Koganei Seiki, tỉnh Gunma. (Ảnh: Đào Tùng/TTXVN)

Người Nhật dường như không muốn làm việc tại cửa hàng tiện lợi vì tính chất làm ca đêm, công việc nhiều nhưng lương thấp. Tuy nhiên, người nước ngoài, đặc biệt là du học sinh, không có nhiều lựa chọn. Các cửa hàng của hệ thống Lawson, Seven-Eleven, Family Mart, Ministop… có rất nhiều sinh viên nước ngoài làm việc. Chẳng hạn với Lawson, hệ thống có tới 15.000 cửa hàng trên toàn quốc, chủ yếu chọn du học sinh cho các công việc bán thời gian. Hệ thống này tuyển dụng theo phương thức du học sinh muốn tìm việc, thông báo với trường. Sau đó, trường sẽ thông báo với Lawson và hệ thống này tổ chức buổi gặp gỡ giới thiệu.

Làm việc tại các cửa hàng tiện lợi là công việc phổ biến với sinh viên nước ngoài còn vì lý do sẽ giúp du học sinh rèn luyện năng lực tiếng Nhật và cho họ thêm cơ hội tương tác với người Nhật Bản. Số lao động nước ngoài làm việc trong các cửa hàng tiện lợi tăng nhanh và những người này thường giới thiệu thêm bạn bè vào làm việc.

Giới chuyên gia nhận định chính các du học sinh đã giúp cho ngành kinh doanh nhà hàng, bán lẻ của Nhật Bản vượt qua được cuộc khủng hoảng nhân lực, đặc biệt các hệ thống cửa hàng tiện lợi, nơi tuyển dụng nhiều lao động nước ngoài làm bán thời gian nhiều hơn lao động Nhật Bản./.

Một Nhật Bản thân thiện với người nước ngoài

Khoảng 10 năm trở trước, Nhật Bản không phải là điểm đến được ưa thích và quen thuộc của lao động nước ngoài. Đây là quốc gia có nền văn hóa và sắc dân đồng nhất với 98% là người Nhật Bản. Cộng đồng ngoại kiều có lịch sử lâu hơn ở Nhật Bản chỉ có người Hoa và người Triều Tiên, nhưng họ sống trong những khu phố thường là biệt lập với người bản xứ. Người Nhật Bản được đánh giá có lối sống khép kín, dè dặt, không muốn có sự xáo trộn trong nếp sống và văn hóa của mình, vì vậy họ không tích cực với việc đón nhận người nước ngoài.

Bên cạnh rào cản về văn hóa, một trở ngại nữa là ngôn ngữ. Tiếng Nhật được đánh giá là một trong những ngôn ngữ khó học, vì vậy hầu như chỉ một số ít những nhân lực chuyên môn cao trong một số ngành nghề đặc thù có sử dụng tiếng Anh mới đến Nhật Bản làm việc trong giai đoạn này.

Tuy nhiên, cùng với xu thế toàn cầu hóa, tình trạng dân số lão hóa đã khiến nước Nhật bắt đầu mở cửa tiếp nhận lao động nước ngoài để bù đắp sự thiếu hụt lao động. Dường như để tránh tạo cú sốc, Chính phủ Nhật Bản thực hiện việc mở cửa từng bước, nâng dần số lượng visa hằng năm cấp cho lao động nước ngoài. Người dân Nhật bắt đầu làm quen với việc ngày càng có nhiều người nước ngoài xuất hiện tại nơi họ sinh sống và dần dần có thái độ cởi mở hơn.

Việc tiếp nhận lao động nước ngoài bắt đầu được tăng tốc trong khoảng 5 năm trở lại đây do nhu cấp cấp thiết của doanh nghiệp Nhật Bản trước tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng. Số người nước ngoài đến Nhật Bản tăng mạnh đem lại đóng góp kinh tế lớn cho quốc gia này. Tuy nhiên, sự tăng tốc này cũng làm nảy sinh những bất cập vì Nhật Bản chưa có đủ những hỗ trợ hạ tầng, kỹ thuật, pháp lý thiết yếu cho một xã hội có người nước ngoài cùng sinh sống. Những lỗ hổng pháp lý bị lợi dụng, những rào cản ngôn ngữ và văn hóa, khiến cho không chỉ những lao động nước ngoài mà cả người Nhật Bản rơi vào những tình thế rắc rối.

Các lao động Việt Nam thưởng thức món mỳ truyền thống của Nhật Bản tại lễ hội dành cho các thực tập sinh và kỹ sư Việt Nam năm 2019. (Ảnh: Đào Thanh Tùng/TTXVN)
Các lao động Việt Nam thưởng thức món mỳ truyền thống của Nhật Bản tại lễ hội dành cho các thực tập sinh và kỹ sư Việt Nam năm 2019. (Ảnh: Đào Thanh Tùng/TTXVN)

Có nhiều người nước ngoài vì không biết tiếng Nhật nên đã vấp phải khó khăn rất lớn khi bắt đầu làm việc tại Nhật Bản. Từ việc làm các thủ tục cấp thẻ ngoại kiều, đến mở tài khoản ngân hàng, thuê nhà, đóng bảo hiểm y tế… Việc không biết tiếng Nhật và không biết tìm sự trợ giúp từ đâu đã khiến nhiều người trong số này vô tình đánh mất những quyền lợi mà họ đáng ra được hưởng.

Những kẻ xấu đã lợi dụng việc người nước ngoài không biết tiếng Nhật để lừa họ ký vào những hợp đồng phi pháp hoặc những văn bản mà sự bất lợi rơi vào những người nước ngoài. Họ bị lừa vào những công việc nặng nhọc với mức lương rất thấp hoặc không được đảm bảo đầy đủ quyền lợi của một người lao động. Đối với gia đình, đã có không ít phụ nữ nước ngoài bị chồng Nhật lừa ký đơn ly hôn với những điều khoản bất lợi mà không hề hay biết.

Không chỉ như vậy, những chế tài pháp lý trong việc tuyển và sử dụng lao động nước ngoài chưa hoàn thiện đã tạo ra nhiều kẽ hở, làm tăng số lao động nước ngoài bất hợp pháp tại Nhật Bản, khiến cho người bản xứ lo ngại.

Rõ ràng lao động nước ngoài tại Nhật Bản tăng mạnh trong thời gian ngắn đã làm nảy sinh những tiêu cực, song không thể phủ nhận sự đóng góp lớn mà họ mang đến cho nền kinh tế. Đó là lý do để Nhật Bản buộc phải tìm ra những biện pháp và chính sách hoàn thiện, phù hợp hơn nhằm đưa quốc gia này trở thành một điểm đến an toàn và ưa thích của lao động nước ngoài.

Nỗ lực từ trung ương…

Để mở rộng tiếp nhận lao động nước ngoài, Chính phủ Nhật Bản chủ trương xây dựng xã hội cộng sinh với nhiều chính sách mới được dự thảo và ban hành nhằm giúp lao động nước ngoài sống thuận lợi hơn tại Nhật Bản, giảm thiểu hoặc hạn chế những ảnh hưởng của sự khác biệt về văn hóa và giảm sự tập trung quá mức vào các đô thị, thành phố lớn như: xây dựng và cấp ngân sách hoạt động cho các trung tâm hỗ trợ cho người nước ngoài ở các địa phương; tăng cường việc dạy tiếng Nhật cho người nước ngoài, xây dựng cơ chế giới thiệu việc làm cho người nước ngoài…

Khung biện pháp và chính sách dành cho việc tiếp nhận và chung sống thân thiện với người nước ngoài đã được Cơ quan Nhập cư Nhật Bản công bố trong tài liệu “Những nỗ lực để tiếp nhận và chung sống hài hòa với người nước ngoài,” với tổng kinh phí lên tới 21,1 tỷ yen (khoảng hơn 200 triệu USD).

Các biện pháp mang tính toàn diện được xác định gồm xây dựng các cộng đồng địa phương mà người Nhật Bản và người nước ngoài cùng chung sống; cải thiện việc cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội; hỗ trợ sinh viên nước ngoài tìm việc làm tại Nhật Bản; thúc đẩy sự tiếp nhận phù hợp và thuận lợi dành cho người nước ngoài, thực hiện các đợt kiểm tra năng lực tiếng Nhật, củng cố các cơ sở dạy tiếng Nhật ở nước ngoài…

Thông báo được dịch ra nhiều thứ tiếng với nội dung hỗ trợ những cô dâu người  nước ngoài tại Nhật Bản.
Thông báo được dịch ra nhiều thứ tiếng với nội dung hỗ trợ những cô dâu người nước ngoài tại Nhật Bản.

Có rất nhiều biện pháp được nêu trong văn bản trên, trong đó đáng chú ý là việc lập một đơn vị cấp toàn quốc để hỗ trợ các chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ tư vấn bằng nhiều ngôn ngữ. Dự kiến sẽ có khoảng 100 điểm được mở ra trên toàn Nhật Bản, thực hiện tư vấn bằng 11 ngôn ngữ, bao gồm các dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin, điều phối phiên dịch và sử dụng các ứng dụng phiên dịch đa ngôn ngữ. Các điểm hỗ trợ này còn được sử dụng như là một điểm tương tác cộng đồng và là một nơi để học tiếng Nhật, là nơi mà người nước ngoài có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin cần thiết.

Trong khuôn khổ kế hoạch trên, chính phủ dự kiến hỗ trợ tài chính cho các địa phương và khu vực để xây dựng một môi trường sống phù hợp thuận lợi cho việc tiếp nhận lao động nước ngoài.

Cải thiện các dịch vụ an sinh xã hội là một trong những lĩnh vực quan trọng để xây dựng một xã hội thuận tiện cho người nước ngoài, gồm các biện pháp tạo cho bệnh nhân người nước ngoài điều kiện thuận lợi để tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế trên khắp Nhật Bản (1,7 tỷ yen); thúc đẩy việc tuyên truyền bằng 11 ngôn ngữ thông tin thời tiết và thảm họa để các thông tin trở nên dễ hiểu hơn đối với người nước ngoài; hỗ trợ đảm bảo nơi ở, mở tài khoản ngân hàng và thúc đẩy các dịch vụ đa ngôn ngữ.

Song song với việc thúc đẩy các điểm hỗ trợ đa ngôn ngữ, hoạt động dạy tiếng Nhật tại địa phương cho người nước ngoài cũng được chú trọng cải thiện. Biện pháp này được thực hiện dựa trên chương trình dạy tiếng Nhật tiêu chuẩn cho cuộc sống hàng ngày và trên quy mô toàn quốc (600 triệu yen).

… đến địa phương

Việc thúc đẩy một xã hội cùng chung sống thân thiện với người nước ngoài đã trở thành xu thế ở nhiều địa phương Nhật Bản, trong bối cảnh chính các địa phương này đang tăng cường thu hút lao động nước ngoài.

Không chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động hỗ trợ người nước ngoài do chính quyền thực hiện, chính cộng đồng cư dân tại các địa phương đã trở thành những nhân tố tích cực trong nỗ lực này.

Tại thành phố Toyonaka, Osaka, Hiệp hội giao lưu quốc tế Toyonaka (ATOMS) được thành lập năm 1993, với tiêu chí xây dựng một địa phương chung sống thân thiện với người nước ngoài.

Theo ông Yamanoue Takashi, giám đốc Trung tâm giao lưu quốc tế Toyonaka thuộc ATOMS, trung tâm chỉ có 12 nhân viên cố định. Chính vì vậy, tình nguyện viên là lực lượng quan trọng của trung tâm trong việc hỗ trợ cho người nước ngoài tại đây từ việc dạy tiếng Nhật cho người lớn, trẻ em, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ các vấn đề thủ tục giấy tờ, tổ chức các sự kiện giao lưu, các hoạt động văn hóa cộng đồng. Mỗi tuần có khoảng 100 tình nguyện viên đến trung tâm.

Kobe là một trong những địa phương đang tiếp nhận ngày càng nhiều người nước ngoài đến sinh sống. Hiện tại có gần 50.000 người nước ngoài sống tại Kobe, trong đó đông nhất là người Hàn Quốc và Trung Quốc. Cộng đồng người Việt đứng thứ ba với 7.470 người.

Trung tâm cộng đồng Takatori ở quận Nagata, tỉnh Kobe, là địa điểm quy tụ 10 tổ chức phi lợi nhuận và phi chính phủ, cùng chung mục tiêu xây dựng một cộng đồng mà các cư dân từ các nền văn hóa, quốc tịch, độ tuổi có thể hiểu nhau, có một cuộc sống gắn kết, dễ chịu với tư cách là thành viên cùng trong một cộng đồng. Với 10% dân số tại đây là người nước ngoài, mục tiêu mà Trung tâm cộng đồng Takatori hướng tới là xây dựng một xã hội đa văn hóa tại Nhật Bản.

Vào thời điểm xảy ra thảm họa động đất năm 1995, người nước ngoài sinh sống Kobe gặp khó khăn rất lớn trong việc nắm được các thông tin liên quan đến ứng phó, hỗ trợ sau thảm họa. Từ nhu cầu này, Trung tâm truyền thông cộng đồng phi lợi nhuận với sự khởi đầu là Đài phát thanh cộng đồng FMYY đã được thành lập để hỗ trợ thông tin địa phương cho người nước ngoài cũng như cư dân địa phương sau thảm họa 1995. Hiện nay, FMYY không chỉ giới hạn hoạt động ở phạm vi trong thời điểm xảy ra khủng hoảng, mà mở rộng sang mục tiêu tăng cường sự kết nối, chia sẻ trong cộng đồng. FMYY hiện phát thành 6 ngôn ngữ trong đó có cả tiếng Việt.

Dương Quỳnh Trang (đứng giữa), tình nguyện viên người Việt Nam tại Trung tâm hữu nghị Kobe dành cho người nước ngoài. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Dương Quỳnh Trang (đứng giữa), tình nguyện viên người Việt Nam tại Trung tâm hữu nghị Kobe dành cho người nước ngoài. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Trung tâm Hữu nghị Kobe dành cho người nước ngoài (KFC) cũng là một tổ chức phi lợi nhuận nữa tại thành phố này hoạt động với tiêu chí xây dựng một xã hội mà cư dân từ những nền văn hóa khác nhau, cùng chung sống thân thiện và đoàn kết. KFC quan niệm rằng những người nước ngoài định cư tại Nhật Bản đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày tại Nhật Bản, là thành viên của xã hội Nhật Bản. Vì vậy, KFC xúc tiến các hoạt động để xóa bỏ định kiến và tình trạng phân biệt đối xử, nhằm xây dựng một xã hội thân thiện đa văn hóa. Một trong những hoạt động đó là dạy tiếng Nhật và hỗ trợ các môn học chính khóa khác cho trẻ em nước ngoài.

Dương Quỳnh Trang, 22 tuổi, sinh viên khoa Ngoại ngữ tiếng Anh tại Đại học Kobe là một tình nguyện viên của KFC. Trang theo bố đến Nhật Bản từ năm 12 tuổi.

Trang kể lại rằng vào những ngày đầu đến Kobe, em không hề bị phân biệt đối xử mà thậm chí còn được các bạn thích thú vì là học sinh nước ngoài duy nhất của trường. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm bản thân về những khó khăn ban đầu của một trẻ em nước ngoài khi hòa nhập vào xã hội Nhật Bản, đặc biệt là ngôn ngữ, Trang đã trở thành một tình nguyện viên dạy tiếng Nhật cũng như các môn học khác cho trẻ em nước ngoài tại KFC. Xa Việt Nam đã 10 năm, Trang giờ đây nói tiếng Nhật lưu loát không khác gì người Nhật. Thế nhưng em vẫn giữ gìn được tiếng Việt. Đối với Trang, giờ đây Việt Nam và Nhật Bản đều là quê hương./.

Lao động Việt Nam

nguồn nhân lực chất lượng cho thị trường

Trong số các quốc gia phái cử lao động sang Nhật Bản, Việt Nam đang nổi lên là quốc gia có mức tăng nhanh nhất. Các chương trình đưa số lượng lớn lao động nước ngoài sang Nhật Bản như TITP, du học sinh, kỹ năng đặc định đều có sự đóng góp đáng kể của lao động Việt Nam.

TITP – chương trình hợp tác lao động lớn nhất

Trong chương trình TITP, Việt Nam là quốc gia có số lao động tăng nhanh nhất với tốc độ tăng 31,9%. Theo số liệu thống kê mới nhất, Việt Nam có 326.840 lao động tại Nhật Bản, đứng đầu trong nhóm Đông Nam Á.

Theo thống kê của Tổng cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, đến hết tháng 11/2019 đã có 84.817 thực tập sinh Việt Nam nhập cảnh mới Nhật Bản, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước (số này chưa bao gồm 11.392 thực tập sinh năm thứ tư nhập cảnh), nâng tổng số thực tập sinh Việt Nam thực tập tại Nhật Bản đến thời điểm tháng 10/2019 lên 193.912 người, chiếm 50,5% tổng số thực tập sinh nước ngoài tại Nhật Bản. Tiếp theo là Trung Quốc với 86.982 người, chiếm 22,6%, Philippines 34.965 người, chiếm 9,1% và Indonesia 32.489 người, chiếm 8,5%. Thực tập sinh Việt Nam làm việc chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất chế tạo (gồm cả sản xuất đồ ăn, uống), xây dựng và nông nghiệp.

Các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục có đánh giá tích cực đối với thực tập sinh Việt Nam, nhất là những thực tập sinh năm thứ tư và năm thứ năm về tay nghề. Một số công ty tiếp nhận giao cho thực tập sinh năm tư hoặc năm phụ trách việc sản xuất của xưởng, của dây chuyền. Nhiều công ty tiếp tục có nhu cầu cao trong tiếp nhận lao động, nhất là trong ngành nghề hộ lý, sản xuất chế tạo, sản xuất đồ ăn uống, xây dựng, nông nghiệp.

Trụ sở của Lead Giken - một doanh nghiệp nhỏ của Nhật Bản tuyển dụng tu nghiệp  sinh Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Trụ sở của Lead Giken – một doanh nghiệp nhỏ của Nhật Bản tuyển dụng tu nghiệp sinh Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Lead Giken là một doanh nghiệp nhỏ về gia công cơ khí và khuôn mẫu chính xác có trụ sở đặt tại tỉnh Kanagawa. Giám đốc đại diện công ty cổ phần Lead Giken, ông Minoru Ogawa, thừa nhận thực trạng dân số giảm đã khiến cho các doanh nghiệp nhỏ như Lead Giken rất khó tuyển lao động Nhật Bản.

Giám đốc Ogawa cho biết Lead Giken Nhật Bản có 7 thực tập sinh nước ngoài đang làm việc, tất cả đều là người Việt Nam. Các thực tập sinh Việt Nam đều học hành và làm việc chăm chỉ, vui vẻ. Ông mong muốn các thực tập sinh sau khi kết thúc thời gian ở Nhật Bản sẽ về nước và làm việc tại Lead Giken Việt Nam.

Doanh nghiệp xây dựng Real Kensetsu cũng đối mặt với tình trạng khó tuyển dụng lao động Nhật Bản. Đó là lý do chính để doanh nghiệp này quyết định tiếp cận thị trường tuyển dụng lao động tại Việt Nam từ năm 2014. Hiện nay, tại Real Kensetsu có tổng cộng 20 lao động Việt Nam và được phân công tại nhiều công trình xây dựng mà doanh nghiệp thực hiện tại vùng Kanto.

Du học sinh

Theo số liệu của Tổng cục Xuất nhập cảnh Nhật Bản, tính đến cuối tháng 6/2019, có 82.266 du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Đây là loại visa được đánh giá đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp làm giáo dục tại Nhật Bản. Không chỉ đóng góp doanh thu cho ngành giáo dục Nhật Bản, du học sinh còn là nguồn cung cấp lao động bán thời gian, đặc biệt quan trọng đối với ngành dịch vụ Nhật Bản như nhà hàng, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, khách sạn…

Du học sinh Việt Nam được đánh giá là đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp tình trạng thiếu hụt lao động của ngành dịch vụ. Đại diện hệ thống Ten Allied, sở hữu hệ thống Tengu Sakaba và nhiều quán rượu khác, đánh giá du học sinh Việt Nam làm việc chăm chỉ và cẩn thận. Ten Allied cho rằng các du học sinh Việt Nam sẽ là lựa chọn tốt nhất nếu họ trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp tiếng Nhật.

Lao động Việt Nam là nhóm lao động nước ngoài đông nhất tại Ten Allied tính đến tháng 7/2017 với tổng cộng 480 nhân viên. Chimney, sở hữu hệ thống quán rượu Hana no Mai, cũng tăng cường tuyển dụng lao động Việt Nam. Tính đến tháng 6/2017, doanh nghiệp này tuyển dụng 214 nhân viên Việt Nam, chiếm 42% trên tổng số 512 nhân viên bán thời gian. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp lên kế hoạch nâng cấp các nhân viên Việt Nam làm bán thời gian lên nhân viên chính thức.

Kỹ năng đặc định và lao động có trình độ chuyên môn cao

Về lao động kỹ năng đặc định, kể từ tháng 5/2019, lao động đặc định nước ngoài đầu tiên nhập cảnh Nhật Bản là người Việt Nam. Theo số liệu chính thức, đến hết tháng 11/2019, đã có tổng cộng 544 lao động đặc định nước ngoài nhập cảnh Nhật Bản, trong đó, Việt Nam chiếm số đông nhất với 280 người.

Anh Nguyễn Hoàng Phương Đông - tu nghiệp sinh Việt Nam tại Lead Giken. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Anh Nguyễn Hoàng Phương Đông – tu nghiệp sinh Việt Nam tại Lead Giken. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Đối với lao động có trình độ chuyên môn cao, hiện có gần 5.000 lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc tại Nhật Bản theo visa kỹ thuật, nhân văn … Trong số này, nhiều lao động là du học sinh tốt nghiệp trường cao đẳng nghề, đại học rồi ở lại làm việc nhưng cũng ngày càng nhiều lao động được tuyển trực tiếp từ Việt Nam sang theo hợp đồng cá nhân. Lao động là kỹ sư, kỹ thuật viên trong lĩnh vực cơ khí tập trung đông ở tỉnh Aichi, Shizuoka, Osaka và các tỉnh vùng Kanto. Nhiều lao động trong số này do các công ty haken (cung ứng nhân lực) tuyển dụng.

Lao động Việt Nam được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao về trình độ, năng lực. Tại nhà máy Maebashi của Công ty Koganei Seiki ở Gunma, nơi chuyên sản xuất các linh kiện công nghệ cao cho động cơ máy bay phản lực, xe đua công thức 1, ôtô xe máy đặc chủng với độ sai số gần như bằng không, có 39 kỹ sư Việt Nam đang làm việc. Hầu hết những kỹ sư này tốt nghiệp Đại học Công nghệ-Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội làm việc ở đây khoảng 3 đến 5 năm, có người được 11 năm. Công ty đã tiếp cận thị trường lao động Việt Nam từ rất sớm thông qua việc tìm đến các trường đại học kỹ thuật hàng đầu của Việt Nam và tiến hành các đợt tuyển dụng trực tiếp.

Thực tập sinh Việt Nam và đồng nghiệp Nhật Bản trong giờ giải lao tại nơi làm  việc. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Thực tập sinh Việt Nam và đồng nghiệp Nhật Bản trong giờ giải lao tại nơi làm việc. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Chủ tịch Koganei Seiki Co.,Ltd, ông Yusuke Kamoshita cho biết công ty bắt đầu tuyển dụng lao động Việt Nam từ hơn 10 năm trước với nội dung công việc hoàn toàn giống với các nhân viên Nhật Bản. Koganei Seiki là doanh nghiệp gia công, nhân viên Việt Nam sẽ phụ trách gia công máy móc, thiết kế chương trình. Doanh nghiệp chỉ có duy nhất một người Việt Nam làm công việc hành chính, đó là “vợ của một nhân viên Việt Nam tại nhà máy.”

Ban lãnh đạo công ty khẳng định nhân viên Việt Nam có đóng góp rất lớn cho sự thịnh vượng của nhà máy, đặc biệt là những sáng kiến cải tiến về mặt kỹ thuật đã đem lại lợi nhuận lớn, trong đó có anh Vũ Lê Bình, kỹ sư lập trình máy gia công và trực tiếp tham gia sản xuất. Anh Bình sang làm việc tại Koganei Seiki từ năm 2007, được đồng nghiệp Nhật Bản đánh giá cao về cải tiến kỹ thuật do anh đề xuất.

Các chương trình tuyển dụng thực tập sinh hộ lý và điều dưỡng

Trong khuôn khổ chương trình tuyển dụng điều dưỡng, hộ lý EPA, năm 2019 là năm thứ hai hộ lý EPA Việt Nam tham gia kỳ thi quốc gia Nhật Bản theo quy định. Trong số 106 người tham gia thì có 93 người đỗ, đạt tỷ lệ 87,7%, cao hơn mức đỗ bình quân và cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ của một số nước Đông Nam Á. Đối với điều dưỡng, năm 2019, có 48 điều dưỡng Việt Nam tham gia thi và có 23 người đỗ, đạt tỷ lệ 47,9%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ của điều dưỡng EPA Indonesia và Philippines. EPA là chương trình xuất khẩu lao động ngành điều dưỡng và hộ lý sang Nhật Bản, kết quả của Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) Việt Nam–Nhật Bản ký năm 2012.

Về thực tập sinh hộ lý, đến nay, thực tập sinh hộ lý Việt Nam vẫn chiếm số lượng đông nhất với khoảng 1.000 người. Mặc dù số lượng công ty được đưa thực tập sinh hộ lý tăng lên nhưng số lượng nhập cảnh không tăng nhiều do nguồn ứng viên hạn chế, lại thêm thời gian đào tạo dài. Các cơ sở tiếp nhận đánh giá cao thực tập sinh hộ lý Việt Nam và có nhu cầu tiếp nhận số lượng lớn.

Việt Nam đang nổi lên là một trong những nguồn cung chủ chốt cho thị trường lao động Nhật Bản. Bài toán hiện nay là làm thế nào để Việt Nam duy trì được ưu thế đó, tiếp tục được đánh giá là một trong những nguồn tuyển dụng ưa thích của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản./.

Thách thức và giải pháp đối với lao động Việt Nam

Thực tập sinh đi theo chương trình TITP chiếm phần lớn số lao động Việt Nam tại Nhật Bản. Tuy nhiên, đây cũng là chương trình nảy sinh nhiều vấn đề bất cập nhất.

Theo Giáo sư Asato Wako của Đại học Kyoto, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao nhất trong số các nước thực hiện TITP với Nhật Bản. Lý giải điều này, Giáo sư Asato Wako cho rằng những lao động bỏ trốn là do lương thấp trong khi họ muốn kiếm được nhiều tiền để bù đắp lại khoản tiền nộp cho các công ty trung gian tại quê nhà trước khi sang Nhật Bản.

Theo số liệu chính thức, trong số các nước ký TITP với Nhật Bản, Việt Nam và Myanmar có khoản phí dịch vụ, trong đó số tiền phía Việt Nam thu là 3.600 USD (tương đương với 3 tháng lương cơ bản của lao động tại Nhật Bản).

Giải thích về khoản phí này, ông Phan Tiến Hoàng, Bí thư thứ nhất, Trưởng ban quản lý lao động, Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, cho biết khoản phí dịch vụ trên được thu theo luật định của Việt Nam, với mục tiêu doanh nghiệp phái cử hỗ trợ cho người lao động Việt Nam trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

Ông Hoàng cho rằng vấn đề là ngoài khoản phí trên, có thực trạng doanh nghiệp phái cử tại Việt Nam thu từ lao động nhiều khoản tiền khác, khiến cho tổng mức tiền mà lao động phải trả trước khi sang Nhật có khi lên đến từ 150-200 triệu đồng.

Để giải quyết thực trạng này, hiện nay Chính phủ Việt Nam cũng như phía Nhật Bản đang thực hiện những biện pháp kiên quyết. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam niêm yết công khai danh sách những doanh nghiệp phái cử bị cấm đưa lao động sang Nhật Bản. Về phía Việt Nam, chính phủ thường xuyên kiểm tra các doanh nghiệp phái cử để có hình thức xử lý kịp thời.

Tu nghiệp sinh Việt Nam cùng đồng nghiệp Nhật Bản tại nơi làm việc ở tinh Iwate. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Tu nghiệp sinh Việt Nam cùng đồng nghiệp Nhật Bản tại nơi làm việc ở tinh Iwate. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam đã triển khai Dự án xây dựng Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi). Một số điểm đáng chú ý trong dự án sửa đổi luật xuất khẩu lao động là tập trung vào việc minh bạch hóa quy định và chi phí đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với thực tế thị trường, xu hướng quốc tế, đảm bảo trách nhiệm của doanh nghiệp với người lao động.

Ngoài ra, dự án còn tập trung vào các quy định về hình thức tổ chức và mở rộng phạm vi hỗ trợ của Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Đối với chương trình kỹ năng đặc định, theo nhận định của ông Phan Tiến Hoàng, đây là chương trình nhằm thu hút lao động nước ngoài có trình độ tiếng Nhật và tay nghề nhất định đến làm việc. Tuy nhiên, thực tế khi triển khai, số lượng người tham dự kiểm tra tiếng, tay nghề và số người được cấp tư cách lưu trú đặc định quá ít so với kỳ vọng. Đến hết tháng 10/2019, chỉ có tổng cộng 895 lao động nước ngoài nhận được tư cách lưu trú kỹ năng đặc định số 1.

Theo Giáo sư Asato Wako, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao nhất trong số các nước thực hiện TITP với Nhật Bản

Cuối tháng 12 vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã sửa đổi phương châm mở rộng tiếp nhận lao động nước ngoài và xây dựng xã hội cộng sinh. Theo đó, từ ngày 1/1/2020, lao động nước ngoài nhập cảnh Nhật Bản có thời hạn dưới 3 tháng có quyền tham dự kiểm tra tay nghề và tiếng. Tuy nhiên, tiếng Nhật khó và yêu cầu cao về tay nghề khiến cho không có nhiều lao động có đủ khả năng đáp ứng các tiêu chí của chương trình Kỹ năng đặc định 1.

Ông Phan Tiến Hoàng nhận định đối tượng mà chương trình kỹ năng đặc định nhắm đến chủ yếu là thực tập sinh và du học sinh nước ngoài đã về nước có mong muốn quay lại Nhật Bản. Trong số này, với số lượng thực tập sinh và du học sinh về nước ngày càng tăng trong thời gian gần đây, lao động Việt Nam là một trong những đối tượng thu hút mà chương trình này hướng đến.

Hiện tại, thời hạn làm việc của một tu nghiệp sinh  Việt Nam tại Nhật Bản theo chương trình TITP có thể được kéo dài lên 5 năm thay vì chỉ 3 năm như trước kia. Để có thể được làm việc tại Nhật Bản 5 năm theo TITP, các thực tập sinh phải tham gia các kỳ kiểm tra tay nghề và tiếng trong từng năm gồm từ năm thứ nhất đến năm thứ ba. Thực tập sinh sau khi vượt qua kỳ kiểm tra của năm thứ ba sẽ được làm việc tại Nhật Bản thêm hai năm.

Lao động Việt Nam thu hoạch xà lách vào lúc 3h sáng tại làng Kawakami. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Lao động Việt Nam thu hoạch xà lách vào lúc 3h sáng tại làng Kawakami. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Đặc biệt, đối với những thực tập sinh năm thứ tư và thứ năm, sau khi nhận thấy rõ cơ hội được làm việc lâu dài tại Nhật Bản, nhiều người đã cố gắng học tập, trau dồi tay nghề và tiếng Nhật và tham gia kiểm tra, đạt các trình độ cao về tay nghề và tiếng Nhật. Riêng trong năm 2019, đã có 3 thực tập sinh đỗ trình độ tiếng Nhật N1 (trình độ cao nhất trong kỳ thi năng lực tiếng Nhật), hơn 10 người đỗ N2 và nhiều tu nghiệp sinh Việt Nam đỗ N3.

Ông Phan Tiến Hoàng cho biết nhìn chung, đại bộ phận thực tập sinh Việt Nam có công việc và thu nhập ổn định, thu nhập cầm tay bình quân khoảng 1.000-1.200 USD/tháng (22 đến 24 triệu đồng/tháng). Hầu hết lao động Việt Nam sau khi làm việc tại Nhật Bản đều hài lòng vì những kết quả đạt được sau một thời gian dài nỗ lực. Đại đa số đều tích lũy được một khoản tiết kiệm, có thêm tay nghề và vốn tiếng Nhật, đủ để họ có thể mở riêng một doanh nghiệp nhỏ cho mình hoặc xin vào làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam.

Lao động Việt Nam được đánh giá là chăm chỉ, cầu tiến, có khả năng nắm bắt nhanh kỹ thuật, công nghệ, đang ngày càng được các doanh nghiệp Nhật Bản ưa chuộng. Để phát huy được ưu thế của lao động Việt Nam tại Nhật Bản, hai nước đang phối hợp chặt chẽ, nỗ lực nghiên cứu, tham vấn nhằm đưa ra những quyết sách phù hợp, phát huy hơn nữa tiềm năng hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong lĩnh vực lao động./.

Những ‘chú ong thợ’ Việt Nam đầy nghị lực

Vẫn còn một số bất cập, song không thể phủ nhận những kết quả đáng khích lệ mà chương trình TITP đem lại cho các tu nghiệp sinh Việt Nam cũng như doanh nghiệp Nhật Bản. Không ít tu nghiệp sinh Việt Nam sau những năm chăm chỉ, nỗ lực tại xứ người đã trở thành những lao động nòng cốt của các doanh nghiệp Nhật Bản.

Đầu năm nay, Nguyễn Lộc Hải Đăng và Võ Văn Chiến, hai tu nghiệp sinh Việt Nam tại tỉnh Saga đã xuất sắc giành chứng chỉ tay nghề cấp N2, chuyên ngành lắp đặt cốt thép.

Ba tháng sau, Vũ Sĩ Luân, thực tập sinh Việt Nam tại công ty Shanshin Kogyo ở tỉnh Gunma, đã đỗ chứng chỉ cấp N2 trong kỳ thi tay nghề ngành đúc nhựa tổ chức ngày 7/4.

Các cuộc thi tay nghề của công nhân trên nhiều lĩnh vực khác nhau được tổ chức theo định kỳ 2 lần/năm. Cấp 2 và cấp 1, trong đó cấp 1 là cấp cao nhất, là một điều kiện tay nghề cần thiết để đủ tư cách đảm nhận vai trò quản đốc. Cấp N2 là một trình độ khó về tay nghề kể cả đối với lao động Nhật Bản. Đối với người nước ngoài, việc đạt được chứng chỉ N2 không chỉ đòi hỏi hỏi kỹ năng chuyên môn tốt mà còn yêu cầu cao về tiếng Nhật.

Anh Vũ Sĩ Luân đạt chứng chỉ tay nghề N2 chuyên ngành đúc nhựa. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)
Anh Vũ Sĩ Luân đạt chứng chỉ tay nghề N2 chuyên ngành đúc nhựa. (Ảnh: Nguyễn Tuyến)

Chính vì những khó khăn này, nên việc lao động nước ngoài đạt được trình độ N2 đã trở thành một sự kiện đáng chú ý tại Nhật Bản, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu lao động tay nghề cao của các doanh nghiệp nước này đang tăng mạnh. Sự kiện Đăng và Chiến đỗ chứng chỉ tay nghề N2 đã được báo Mainichi, một trong những nhật báo hàng đầu của Nhật Bản, đăng tải chi tiết ngày 19/6. Nhật báo Mainichi nhấn mạnh rằng Đăng và Chiến là hai người nước ngoài đầu tiên đỗ chứng chỉ tay nghề cấp 2 trong một kỳ thi chỉ dành cho người Nhật Bản.

“Cố gắng thì sẽ đạt được thôi ạ.” Đó là câu Nguyễn Lộc Hải Đăng trả lời khi tôi hỏi về những khó khăn mà Đăng phải vượt qua để được như ngày hôm nay. Hải Đăng quê ở Bình Thuận, đến Nhật Bản tháng 10/2014 theo diện tu nghiệp sinh ngành xây dựng. Đăng đảm nhận công việc gia công và lắp đặt cốt thép tại Công ty gia công cốt thép Fukuda ở tỉnh Saga. Đây là công việc hoàn toàn khác với chuyên môn công nghệ ôtô mà Đăng đã học tại Việt Nam.

Trước khi sang Nhật Bản, Đăng có 8 tháng học tiếng Nhật tại Hà Nội. Trong thời gian này, ngay khi nhận định khó có khả năng được sang Nhật làm việc đúng với chuyên ngành ôtô, Đăng đã tự tìm hiểu trước về ngành xây dựng sau khi xác định sẽ làm việc trong chuyên ngành này tại Nhật Bản.

Đã có sự chuẩn bị chút ít về ngôn ngữ cũng như kiến thức công việc, song khi sang đến Nhật Bản, Đăng mới thực sự hiểu những thử thách mà mình phải đối mặt. Khó khăn đầu tiên của Đăng là tiếng Nhật. Tám tháng học ở Việt Nam không đủ để chàng thanh niên Bình Thuận giao tiếp thuận lợi trong cuộc sống cũng như công việc.

Tại công ty, Hải Đăng là lao động Việt Nam đầu tiên. Đây quả thực là trở ngại đối với Đăng khi làm việc trong một chuyên ngành chưa được đào tạo bài bản, không có người Việt Nam nào đã vào làm việc trước để có thể hỏi kinh nghiệm hoặc được hướng dẫn. Đăng buộc phải học hỏi từ đồng nghiệp Nhật Bản bằng vốn tiếng Nhật ít ỏi của mình.

Nguyễn Lộc Hải Đăng, một trong những tu nghiệp sinh nước ngoài đầu tiên được nhận visa kỹ năng đặc định 1.
Nguyễn Lộc Hải Đăng, một trong những tu nghiệp sinh nước ngoài đầu tiên được nhận visa kỹ năng đặc định 1.

Khó khăn trong công việc, trong những ngày đầu bỡ ngỡ với cuộc sống mới không làm Đăng chùn bước. Như một chú ong thợ cần mẫn và nghị lực, kiên trì học hỏi, trau dồi cả tiếng Nhật lẫn tay nghề, sau khoảng một năm, Đăng bắt đầu có sự tự tin trong giao tiếp tiếng Nhật và sau khoản một năm rưỡi, Hải Đăng đã bắt nhịp tốt với tiến độ công việc.

Hải Đăng đi theo chương trình tu nghiệp sinh 3 năm và đã trở về nước tháng 10/2017, sau khi thời hạn làm việc theo hợp đồng kết thúc. Vào thời điểm đó, Chính phủ Nhật Bản đã có những thay đổi đối với chương trình tu nghiệp sinh, trong đó có việc kéo dài thời gian tu nghiệp tại Nhật Bản cho các lao động nước ngoài lên 5 năm.  Hải Đăng kể lại: “Khi em vừa kết thúc chương trình tu nghiệp sinh 3 năm, nắm bắt được những chuyển đổi chính sách đối với chương trình TITP của Chính phủ Nhật Bản, giám đốc công ty Fukuda đã chủ động trao đổi với em về việc  muốn tuyển dụng em làm thêm 2 năm nữa cho công ty theo chính sách mới. Vì vậy, sau khi về nước theo thời hạn trong hợp đồng ký đầu tiên, 4 tháng sau em đã trở lại Nhật Bản làm việc thêm 2 năm nữa.”

Lần thứ hai sang Nhật làm công việc đã có kinh nghiệm, trong môi trường làm việc quen thuộc, tâm lý của Đăng thoải mái và tự tin. Thái độ cầu thị, nghiêm túc, trách nhiệm trong công việc đã giúp Đăng nhận được sự tín nhiệm của ban giám đốc và đồng nghiệp trong công ty. Chính vì vậy, ngay khi chương trình visa Kỹ năng đặc định 1 dành cho lao động tay nghề cao chính thức có hiệu lực tại Nhật Bản từ ngày 1/4/2019, Hải Đăng đã trở thành một trong những lao động nước ngoài đầu tiên đủ tư cách để được cấp loại visa này.

Đánh giá về Hải Đăng, Giám đốc công ty Fukuda, ông Fukuda Nobuyuki, cho biết ông hoàn toàn tin tưởng giao phó cho Hải Đăng đảm đương vai trò chủ chốt tại công trường vì năng lực chuyên môn của Đăng rất vững. Sự tin tưởng vào tay nghề của Đăng đã trở thành động lực để giám đốc công ty Fukuda khuyến khích chàng thanh niên này tham gia kỳ thi xếp hạng tay nghề của chuyên ngành xây dựng cốt thép dành cho người Nhật Bản.

Trả lời báo Mainichi, Hải Đăng thật thà nói rằng Đăng không quá căng thẳng khi làm bài thi. Đăng vui vì đã vượt qua thử thách, đạt được thành tích tốt sau thời gian dài nỗ lực trong công việc. Tuy nhiên, với Đăng, đây chỉ là một bước ngoặt nhỏ trong quá trình nâng cao tay nghề. Mục tiêu tiếp theo của Đăng là thi đỗ tay nghề cấp 1, cấp cao nhất. Anh đang tiếp tục nâng cao tay nghề để hướng tới mục tiêu được trở thành quản đốc.

Hiện tại, công ty Fukuda có khoảng 20 lao động, trong đó có 8 người Việt. Hải Đăng đang là người có kinh nghiệm lâu nhất, được công ty tin tưởng giao phó công việc dạy tiếng Nhật và công việc cho các công nhân khác.

Khi được khen vì đã đỗ tay nghề cấp 2, Hải Đăng trả lời một cách giản dị: “Nếu bất cứ ai với khoảng thời gian sang Nhật và làm việc như em, chỉ cần cố gắng, em tin họ sẽ đạt được kết quả này.”

“Em đến Nhật làm việc vì muốn học hỏi kỹ thuật công nghệ của Nhật Bản,” Võ Văn Chiến, đã trả lời như vậy với báo chí Nhật Bản sau khi đỗ tay nghề cấp N2 trong kỳ thi tay nghề chuyên ngành xây dựng cốt thép tại tỉnh Saga.

Giám đốc công ty nơi Chiến làm việc đã đánh giá trình độ nghề cấp 2 của chuyên ngành này như sau: “Phải nhớ rất nhiều thứ, trình độ này rất khó ngay cả với người Nhật và Chiến đã vượt qua được thử thách này.”

Cũng gặp khó khăn về ngoại ngữ trong những ngày đầu sang Nhật, Chiến vẫn cố gắng từng ngày học hỏi, tích lũy kinh nghiệm với sự trợ giúp của các đồng nghiệp Nhật Bản. Mục tiêu tiếp theo của Chiến là đỗ tay nghề cấp N1 và được thử sức làm việc với những công trình lớn hơn.

Chưa bao giờ cơ hội cho lao động nước ngoài tại thị trường Nhật Bản lại nhiều như hiện nay. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Nhật Bản là một thị trường lao động dễ dãi. Lao động nước ngoài, trong đó có lao động Việt Nam, sang Nhật Bản dưới bất kỳ hình thức nào, đều cần phải có ý thức về một thái độ làm việc nghiêm túc, chăm chỉ, tinh thần học hỏi và sự tuân thủ luật pháp của nước sở tại.

Đăng, Chiến và Luân, những chàng thanh niên từ những địa phương khác nhau trên đất nước Việt Nam, đến Nhật Bản làm việc theo chương trình TITP. Cả ba chàng thanh niên Việt Nam đều cùng đối mặt với những khó khăn, thử thách của những ngày đầu đến Nhật Bản. Với sự cần cù, trách nhiệm và nghị lực, cả ba đều đã tạo dựng được bước phát triển tốt đẹp cho câu chuyện làm việc tại Nhật Bản của những lao động Việt Nam./.

Bảo tồn và phát huy di sản thế giới Đờn ca tài tử Nam Bộ

Đờn ca tài tử là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng đất Nam Bộ, đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đờn ca tài tử Nam Bộ là sản phẩm văn hóa phi vật thể của Nam Bộ,vừa mang tính bác học,vừa mang tính dân gian gắn liền với mọi sinh hoạt cộng đồng dân cư Nam Bộ, được cải biên từ nhạc cung đình Huế và sáng tác mới trên nền tảng âm nhạc dân ca, hát đối, hò vè của vùng đất Nam Bộ.

Đờn ca tài tử là tinh hoa của nghệ thuật dân tộc, gắn bó với đời sống của người dân Nam Bộ, từ những ngày đầu mở đất, là hơi thở, là tiếng lòng, là sức sống mãnh liệt của những con người trọng nghĩa khinh tài, đậm tính nhân văn của vùng sông nước giàu hoa trái và trí dũng miền Nam.

Nghệ thuật đờn ca tài tử là một viên ngọc cần được bảo tồn và phát huy, nhằm góp phần tăng thêm sức mạnh văn hoá truyền thống của vùng Nam bộ nói riêng, văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung.

Báu vật vùng đất phương Nam

Đờn ca tài tử Nam Bộ là sản phẩm văn hóa phi vật thể của Nam Bộ, vừa mang tính bác học, vừa dân gian gắn liền với mọi sinh hoạt cộng đồng dân cư Nam Bộ, được cải biên từ nhạc cung đình Huế và sáng tác mới trên nền tảng âm nhạc dân ca, hát đối, hò vè của vùng đất Nam Bộ.

Đờn ca tài tử Nam Bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phía Nam.

Đờn ca tài tử là loại hình khác hẳn với các bộ môn khác, sàn diễn có thể biểu diễn dưới bóng mát của cây, trên con thuyền trên sông hoặc trong đêm trăng sáng. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Đờn ca tài tử là loại hình khác hẳn với các bộ môn khác, sàn diễn có thể biểu diễn dưới bóng mát của cây, trên con thuyền trên sông hoặc trong đêm trăng sáng. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động.

Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục

Ca nhạc tài tử, Đàn ca tài tử, Đờn ca tài tử, tài tử miệt vườn là một trong những cái tên dùng để nói về dân ca Nam Bộ nói chung và ám chỉ về đờn ca tài tử nói riêng.

Bằng điệu đờn, tiếng hát, loại hình sinh hoạt văn hóa này gắn kết cộng đồng thông qua thực hành và sáng tạo nghệ thuật, trên cơ sở nhạc Lễ, nhạc Cung đình triều Nguyễn và âm nhạc dân gian miền Trung, miền Nam, nên vừa có tính bình dân, vừa mang tính bác học.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ không ngừng được sáng tạo nhờ tính “ngẫu hứng,” “biến hóa lòng bản” theo cảm xúc, trên cơ sở của 20 bài gốc (bài Tổ) và 72 bài nhạc cổ cho 4 điệu, gồm 6 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi, phóng khoáng), 7 bài Hạ (dùng trong tế lễ, có tính trang nghiêm), 3 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanh thoát) và 4 bài Oán (diễn tả cảnh đau buồn, chia ly).

Nhạc cụ trong Đờn ca tài tử gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, đàn tam; ngoài ra còn có sáo phụ họa (thường là sáo bảy lỗ). Hiện nay, có một loại đàn mới do các nghệ nhân Việt Nam cải biến là Guitar phím lõm. Loại nhạc cụ này được khoét lõm các ngăn sao cho khi đánh lên nghe giống nhạc cụ Việt Nam nhất (âm cao). (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Nhạc cụ trong Đờn ca tài tử gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, đàn tam; ngoài ra còn có sáo phụ họa (thường là sáo bảy lỗ). Hiện nay, có một loại đàn mới do các nghệ nhân Việt Nam cải biến là Guitar phím lõm. Loại nhạc cụ này được khoét lõm các ngăn sao cho khi đánh lên nghe giống nhạc cụ Việt Nam nhất (âm cao). (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Nhạc cụ tham gia trình diễn gồm đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn bầu, đàn cò, sáo, tiêu, song loan và hai nhạc cụ của phương Tây là violon và guitar, đã được “cải tiến” – violon được lên dây quãng 4, còn guitar được khoét phím lõm, để tăng sự nhấn nhá trong điệu đàn.

Sau biến cố Kinh đô Huế thất thủ năm 1885 của triều đình Hàm Nghi, ông Nguyễn Quang Đại cùng nhiều quan lại, dân lính triều đình chạy về phương Nam lánh nạn, với vốn ca nhạc Huế sẵn có ông đã cải biên một số bài bản trở thành đặc trưng âm nhạc Nam Bộ và tạo nên phong trào Đờn ca tài tử Nam Bộ ở miền Đông do ông đứng đầu, nhóm miền Tây (Vĩnh Long, Sa Đéc, Mỹ Tho) do ông Trần Quang Quờn đứng đầu, nhóm Bạc Liêu, Rạch Giá do ông Lê Tài Khị (1862-1924) quê ở Bạc Liêu đứng đầu và ông được tôn là hậu tổ nhạc Khị.

Sau nhiều năm, ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), Trần Quang Quờn, nhạc Khị và nhiều nghệ nhân khác ở Nam Bộ đã cải biên, sáng tạo bổ sung một số bài bài từ điệu thức Bắc, Nam.

Đặc biệt điệu thức Oán Chánh, Oán Phụ là hoàn toàn do những người sống ở vùng đất Nam Bộ sáng tạo nên. Tất cả các bài bản được cải biên, sáng tạo bổ sung đều thể hiện được tính đặc trưng Nam Bộ. Đờn ca tài tử Nam Bộ ra đời vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX (khoảng năm 1885).

Đờn ca tài tử là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng đất Nam Bộ, đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đờn ca tài tử Nam Bộ bao gồm Đờn và ca: Đờn theo dòng nhạc tài tử Nam Bộ: Nhạc tài tử Nam Bộ gồm có 05 nốt nhạc chính: Hò, xự xang, xê cóng. Nốt nhạc phụ: Phạn, tồn, là, oan.

Ca tài tử Nam Bộ: Là ca theo bài bản có sẵn, người viết chỉ dựa vào đó mà đặt lời ca sao cho phù hợp với âm nhạc

Những chặng đường quan trọng nhất trong quá trình hình thành và phát triển của Đờn ca tài tử Nam Bộ – kể cả cội nguồn sâu xa nhất là nơi đã đặt nền tàng ban đầu cho sự thai nghén thể loại ca nhạc này.

Nhà Nguyễn lên ngôi, kinh đô đặt ở miền Trung. Các thể chế chính trị, xã hội và văn hóa nghệ thuận, trong đó có âm nhạc – đặc biệt là nhạc lễ, của triều đại này có ảnh hưởng không nhỏ tới cả nước, đặc biệt là vùng đất phía Nam – nơi mà những ảnh hưởng của họ Nguyễn đã hiện diện từ trước đó trên hai trăm năm khi các chúa Nguyễn cát cứ ở Đàng Trong.

Đờn ca tài tử ra đời trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta và trở thành nguồn động viên tinh thần cho nhân dân trong cuôc̣ chiến chống ngoại xâm, đồng thời kiên cường chống chọi với những trào lưu nghệ thuật, âm nhạc mới từ phương Tây tràn vào.

Một buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Một buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Từ sau khi sân khấu cải lương “lên ngôi” cho tới nay, đờn ca tài tử vẫn tiếp tục con đường của mình: thích ứng với thời đại, sẵn sàng tiếp nhận cái mới để phát triển, nhưng kiên cường gìn giữ bản sắc cố hữu của mình. Nó tồn tại song song dưới cả hai hình thức như sinh hoạt thính phòng tri kỷ như thuở xưa và những hình thức trình diễn mới: trên sân khấu – trước đông đảo công chúng, hoặc tách biệt hẳn với công chúng qua phương thức thu – phát trên các phương tiện truyền thông mới du nhập và các đĩa hát…

Đáng nể hơn nữa, nó đã không bị những hình thức hát mới thay thế hoặc làm lụi tàn. Trái lại, đờn ca tài tử còn tiếp tục làm chổ dựa vững chắc và là nguồn hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của sân khấu cải lương.

Các bài bản của Đờn ca tài tử được sáng tạo dựa trên cơ sở nhạc Lễ, nhạc Cung đình, nhạc dân gian miền Trung và Nam. Các bài bản này được cải biên liên tục từ 72 bài nhạc cô và đặc biệt là từ 20 bài gốc cho 4 điệu, gồm: 6 bài Bắc (diễn tả sự vui tươi, phóng khoáng), 7 bài Hạ (dùng trong tế lễ, có tính trang nghiêm), 3 bài Nam (diễn tả sự an nhàn, thanh thoát) và 4 bài Oán (diễn tả cảnh đau buồn, chia li).

Nhạc cụ được sử dụng trong đờn ca tài tử khá phong phú bao gồm: đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ bà, đàn tam (hoặc đàn sến, đàn độc huyền), sáo, tiêu, song loan,… Từ khoảng năm 1930 thì có thêm đàn guitar phím lõm, violin, guitar Hawaii (đàn hạ uy cầm).

Người thực hành Đờn ca tài tử gồm người dạy đàn (thầy Đờn) có kỹ thuật đàn giỏi, thông thạo những bài bản cổ, dạy cách chơi các nhạc cụ, người đặt lời (thầy Tuồng) nắm giữ tri thức và kinh nghiệm, sáng tạo những bài bản mới, người dạy ca (thầy Ca) thông thạo những bài bản cổ, có kỹ thuật ca điêu luyện, dạy cách ca ngâm, ngân, luyến,…; người Đờn (Danh cầm) là người chơi nhạc cụ và người ca là người thể hiện các bài bản bằng lời.

Để tạo nên những bản đờn ca hay, cuốn hút lòng người cần có sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa cả đờn và ca. Tiếng đờn cất lên, tiếng ca vang vọng khắp sông nước như nói hộ tiếng lòng của người dân. Ở đó có niềm vui, có nỗi buồn, có hạnh phúc và cả sự chia ly.

Đầu thế kỷ XX, ông Cao Văn Lầu (còn gọi là Sáu Lầu) đã sáng tác bài Dạ cổ hoài lang (Vọng cổ), là một trong những bài hát nổi tiếng và phổ biến nhất của Đờn ca tài tử, được cộng đồng tiếp nhận, phát triển từ nhịp 2, 4, 16, 32, … đến nhịp 64.

Nghệ nhân đàn nhị Trần Văn Thân, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu truyền dạy cho thành viên mới. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Nghệ nhân đàn nhị Trần Văn Thân, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu truyền dạy cho thành viên mới. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Đờn ca tài tử Nam Bộ được truyền dạy theo hai hình thức: truyền ngón và truyền khẩu – thầy truyền trực tiếp kỹ thuật đờn, ca cho học trò tại nhóm, câu lạc bộ, hoặc tại nhà thầy,… Đặc biệt, còn có hình thức truyền dạy trong gia đình, dòng họ và truyền ngón, truyền khẩu kết hợp với giáo án, bài giảng (nốt ký âm theo kiểu phương Tây và chữ nhạc Việt Nam) tại một số trường văn hóa nghệ thuật địa phương và quốc gia.

Thông thường, người học đàn cần ít nhất 3 năm để có được những kỹ năng cơ bản, như: rao, rung, nhấn, khảy, búng, phi, vê, láy, day, chớp, chụp,…, rồi học chơi độc chiếc, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu, lục tấu với các nhạc cụ khác nhau kết hợp các điệu (hơi): Bắc, Hạ (nhạc), Xuân, Ai, Oán,…để diễn tả tâm trạng, tình cảm vui, buồn.

Người học ca (đơn ca, song ca) học những bài truyền thống, rồi trên cơ sở đó sáng tạo cách nhấn nhá, luyến láy tinh tế theo nhạc điệu và lời ca của bài gốc cho phù hợp với bạn diễn và thẩm mỹ cộng đồng.

Người đàn dạo nhạc mở đầu (Rao), người ca mở đầu bằng “lối nói” để tạo không khí, gợi cảm hứng cho bạn diễn và người thưởng thức. Họ dùng tiếng đàn và lời ca để “đối đáp”, “phụ họa” tạo sự sinh động và hấp dẫn của dàn tấu. Những người thực hành Đờn ca tài tử Nam Bộ luôn tôn trọng, quý mến, học hỏi nhau tài nghệ, văn hóa ứng xử, đạo đức…, góp phần gắn kết cộng đồng, xã hội, cùng hướng tới giá trị “chân, thiện, mỹ.”

Thông qua việc thực hành Đờn ca tài tử Nam Bộ, cộng đồng còn góp phần giới thiệu, bảo tồn và phát huy các tập quán xã hội khác liên quan, như lễ hội, văn hóa truyền khẩu, nghề thủ công,…

Đến nay, Đờn ca tài tử Nam Bộ vẫn được thực hành ở mọi lúc, mọi nơi: trong lễ hội, ngày giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt,… Khán giả có thể cùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo lời mới.

Lễ giỗ Tổ vẫn được duy trì vào ngày 12 tháng 8 Âm lịch hằng năm. Đối với người phương Nam, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu và là di sản văn hóa phi vật thể quý giá của cộng đồng. Hoạt động văn hóa cộng đồng này đang góp phần phục vụ du lịch bền vững ở địa phương, duy trì sự đa dạng văn hóa của quốc gia và quốc tế.

Bảo tồn đờn ca tài tử Nam Bộ: Truyền dạy thế hệ trẻ

Ở 21 tỉnh, thành phố Nam Bộ, trải qua thời gian, nghệ thuật đờn ca tài tử luôn cho thấy một một sức sống bền lâu, lan tỏa khắp các miền quê, thể hiện tâm hồn phóng khoáng, tình yêu quê hương đất nước, con người dân đất phương Nam.

Thạc sỹ Lê Thị Thanh Yến cho rằng, từ những miền quê, đờn ca tài tử Nam Bộ sống và bám rễ như những cây lúa được ươm mầm qua bàn tay chăm bón của nhà nông.

Nghệ nhân đàn bầu Lý Văn Tới, ấp 3, thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải truyền dạy cho thế hệ sau. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Nghệ nhân đàn bầu Lý Văn Tới, ấp 3, thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải truyền dạy cho thế hệ sau. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Chẳng có điều gì tạo nên sự chân thật, dung dị bằng những tài tử đờn ca, ban ngày lo việc đồng áng, tối về tụ họp nhau chơi và thưởng thức đờn ca tài tử trước sân nhà. Không gian đó đã nuôi dưỡng nghệ thuật đờn ca tài tử và ươm mầm cho nhiều thế hệ say mê nghệ thuật này.

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn nhận, đờn ca tài tử có sức lan tỏa, tác động mạnh tới công chúng chính là vì nó tồn tại song song ở cả hai hình thức: sinh hoạt thính phòng, mang hình thức truyền thống như khi mới ra đời và trình diễn trên các sân khấu.

Hiện nay các tỉnh, thành Nam Bộ đều có các câu lạc bộ, nhóm đờn ca tài tử hoạt động. Môn nghệ thuật này được biển diễn thường xuyên ở những câu lạc bộ nơi miệt vườn thôn dã cho đến các điểm du lịch hay những sân khấu, hội thi, lễ hội quy mô lớn.

Ở 21 tỉnh, thành phố Nam Bộ, trải qua thời gian, nghệ thuật đờn ca tài tử luôn cho thấy một một sức sống bền lâu, lan tỏa khắp các miền quê, thể hiện tâm hồn phóng khoáng, tình yêu quê hương đất nước, con người dân đất phương Nam.

Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bình Dương – nhạc sỹ Võ Đông Điền cho biết thực hiện Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử tỉnh Bình Dương giai đoạn 2018-2020, nhiều lớp học truyền dạy đờn ca tài tử đã được ngành Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Hội Văn học nghệ thuật, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bình Dương cùng các các địa phương thực hiện, góp phần đưa di sản văn hóa vào cuộc sống cộng đồng.

Ở Bình Dương hiện có trên 900 nghệ nhân đờn ca tài tử, hơn 60 câu lạc bộ ở các địa phương biểu diễn đầy đủ 20 bản tổ trong nghệ thuật đờn ca tài tử và cả những bản vọng cổ được viết lời mới, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần thi đua xây dựng quê hương như các bản: Bình Dương mùa trái chín, Bình Dương vững bước tương lai…

Cùng ở khu vực Nam Bộ, tỉnh Bạc Liêu là địa phương có Khu Lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sỹ Cao Văn Lầu (tác giả của bản vọng cổ bất hủ Dạ cổ hoài lang).

Trong nhiều năm qua, nghệ thuật đờn ca tài tử được tỉnh đặc biệt quan tâm bảo tồn, tạo sự lan tỏa trong người dân ở các xóm ấp và cả du khách trong và ngoài nước.

Các nghệ nhân câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu truyền dạy nghề cho các thành viên mới. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Các nghệ nhân câu lạc bộ Đờn ca tài tử xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu truyền dạy nghề cho các thành viên mới. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Toàn tỉnh có gần 200 câu lạc bộ đờn ca tài tử với khoảng 2.000 nghệ nhân đờn, ca tham gia sinh hoạt thường xuyên.

Theo thông tin từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu, nhằm tiếp tục tạo sự lan tỏa, tạo sức sống mới cho nghệ thuật đờn ca tài tử, Sở đã phát động cuộc thi sáng tác lời mới cho 20 bản cổ đờn ca tài tử Nam Bộ.

Theo đó, các sáng tác lời mới sẽ có nội dung giới thiệu những thắng ảnh, danh lam của đất nước, những nét đẹp của con người Nam Bộ nói chung, Bạc Liêu nói riêng, phản ánh quá trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa, phát triển du lịch ở địa phương.

Dự kiến, hoạt động tổng kết và trao giải cuộc thi diễn ra vào tháng 10 năm nay. Ngoài ra, Bạc Liêu vừa ban hành kế hoạch xây dựng điểm du lịch Khu lưu niệm Nghệ thuật đờn ca tài tử và nhạc sỹ Cao Văn Lầu trở thành sản phẩm OCOP (chương trình mỗi xã một sản phẩm) trong lĩnh vực du lịch.

Theo đó, tỉnh phát triển các sản phẩm du lịch trọng tâm như tái hiện quá trình ra đời của nghệ thuật đờn ca tài tử, cải lương, vọng cổ; tổ chức không gian trình diễn đờn ca tài tử, trải nghiệm học hát đờn ca tài tử…

Từ vùng đất Mũi Cà Mau, ông Võ Minh Hổ ở xã nông thôn mới Tân Ân Tây (huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) chia sẻ cũng như hầu hết người dân Nam Bộ, bà con đất Mũi Cà Mau rất mê đờn ca tài tử.

Những bản đờn ca thể hiện cuộc sống, tâm tình của chính người dân nên rất gần gũi. Xã Tân Ân Tây có câu lạc bộ đờn ca tài tử thường xuyên biểu diễn vào những dịp lễ, tết, hội họp, mừng thọ, đám cưới, đặc biệt vào ngày hội lớn như lễ đón bằng công nhận xã nông thôn mới lại càng không thể thiếu nghệ thuật đờn ca tài tử.

Đưa Đờn ca tài tử thành sản phẩm du lịch đặc trưng

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ rõ quan điểm “…phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc… phát huy lợi thế quốc gia về văn hóa dân tộc, thế mạnh các vùng, miền… liên kết, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo vùng du lịch.”

Với những giá trị hiện hữu và tầm vóc một di sản thế giới được UNESCO vinh danh thì Đờn ca tài từ giờ đây là tài nguyên vô cùng đặc sắc để các địa phương và doanh nghiệp lữ hành có thể phát triển trở thành sản phẩm du lịch đặc thù vùng Nam Bộ (bao gồm vùng du lịch Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long).

Đờn ca tài tử là loại hình khác hẳn với các bộ môn khác, sàn diễn có thể biểu diễn dưới bóng mát của cây, trên con thuyền trên sông hoặc trong đêm trăng sáng. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Đờn ca tài tử là loại hình khác hẳn với các bộ môn khác, sàn diễn có thể biểu diễn dưới bóng mát của cây, trên con thuyền trên sông hoặc trong đêm trăng sáng. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Trên cơ sở những cố gắng của chính quyền và cộng đồng điểm đến trong việc bảo tồn và đưa nghệ thuật đờn ca tài tử đến với du khách, theo các chuyên gia, các doanh nghiệp lữ hành cần phát triển sản phẩm du lịch đặc thù dựa vào đờn ca tài tử.

Cụ thể là khai thác những giá trị nổi bật và hấp dẫn du lịch của Đờn ca tài tử để xây dựng các chương trình du lịch đưa du khách đến thưởng thức đờn ca tài tử tại những địa danh gắn với nhiều tên tuổi lớn như Nhạc Khị, Cao Văn Lầu, Mộng Vân…

Tổ chức các tuyến du lịch nội vùng hoặc liên vùng tới Đồng bằng sông Cửu Long-cái nôi sinh ra đờn ca tài tử, đặc biệt là 2 tỉnh Bạc Liêu và Long An. Xác định thời gian, địa điểm, không gian thưởng thức đờn ca tài tử trở thành một trong những hoạt động chính không thể thiếu trong chương trình du lịch đến các tỉnh Nam Bộ.

Tuy nhiên, để đơn ca tài tử đủ hấp dẫn và trở thành hoạt động không thể thiếu trong chương trình du lịch thì phải có cố gắng nỗ lực đầu tư cả từ phía lữ hành và phía các địa phương, các cơ sở biểu diễn để mong đợi của du khách được thỏa mãn và tạo ra những trải nghiệm thú vị.

Biểu diễn đờn ca tài tử. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)
Biểu diễn đờn ca tài tử. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)

Ngành du lịch các địa phương cần thiết kế chương trình du lịch mà ở đó kết hợp tinh tế đờn ca tài tử với các điểm du lịch sinh thái, nơi nghỉ dưỡng, gắn đờn ca tài tử với ẩm thực, với văn hóa Ốc eo Nam bộ, văn hóa sông nước, miệt vườn…

Hình thành các tour đến các nhà hát, câu lạc bộ đờn ca tài tử, các điểm sinh hoạt cộng đồng và tổ chức cho khách giao lưu trải nghiệm và tham gia đờn ca cùng cư dân địa phương.

Tuy nhiên, để những giải pháp đưa đờn ca tài tử đến với du khách và phát triển sản phẩm đặc thù dựa vào đờn ca tài tử được thực thi, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên thì nhất thiết Nhà nước cần có chính sách, chương trình khuyến khích, hỗ trợ và bảo đảm môi trường, điều kiện cần thiết để bảo tồn giá trị đích thực và toàn vẹn đối với di sản đờn ca tài tử; tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển, hướng cho nhân dân thụ hưởng những giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc, trong đó có đờn ca tài tử; đẩy mạnh hơn nữa công tác xúc tiến, quảng bá cho di sản.

Nhà nước cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, ở đó lấy bảo tồn làm trọng và đi trước một bước; đồng thời lấy phát triển làm động lực bảo tồn; lấy du lịch có trách nhiệm với di sản là phương thức hữu hiệu để phát huy giá trị di sản bền vững, trong đó có đờn ca tài tử./.

Một buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Đờn ca tài tử thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải (Bạc Liêu). Đờn ca tài tử có thể được chơi trong bóng mát của cây, con thuyền hoặc trong đêm trăng sáng. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Một buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Đờn ca tài tử thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải (Bạc Liêu). Đờn ca tài tử có thể được chơi trong bóng mát của cây, con thuyền hoặc trong đêm trăng sáng. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

越美关系:全面合作烙印

越通社河内——1995年7月11日晚(越南时间1995年7月12日),时任美国总统威廉姆•J•克林顿(William J. Clinton)公布越美关系正常化。1995年7月12日上午(美国时间7月11日)在河内,时任越南总理武文杰宣读越南与美国关系正常化的声明。

自越南与美国实现关系正常化和两国正式建交以来,越南与美国关系从对峙转为伙伴,并成为政治外交、经贸投资、教育培训、科学技术、国防安全等方面的全面伙伴关系,双方合作关系日益得到巩固与加强,合作领域日益扩大,为两国带来切实利益。 在两国于1995年8月5日在河内宣布关系正常化和正式建立外交关系之后,时任美国国务卿沃伦•迈纳•克里斯托弗(Warren Minor Christopher)和越南外交部部长阮孟琴已签署议定书,正式建立越美外交关系。 其后,两国于1995年分别在华盛顿和河内开设大使馆。

美国时间1995年7月11日晚,时任美国总统威廉•杰斐逊•克林顿(William Jefferson Clinton)宣布越美外交关系正常化。图自越通社
美国时间1995年7月11日晚,时任美国总统威廉•杰斐逊•克林顿(William Jefferson Clinton)宣布越美外交关系正常化。图自越通社

越南与美国关系共同愿景声明得以通过,充分体现了越南与美国领导人已能够对以前曾经被视为敏感问题坦率地展开讨论。

2000年11月,时任美国总统威廉姆•J•克林顿访问越南。克林顿是对越南进行正式访问的首任美国总统。克林顿被视为为越美关系正常化进程作出重要贡献的人物。

2005年6月,时任越南总理潘文凯应美国总统乔治•沃克•布什(George Walker Bush)的邀请访问美国。这是战争结束后对美国进行访问的首位越南总理。此访期间,双方已签署经济与技术合作协议以及其他相关合作协议。

2006年11月,时任美国总统乔治•沃克•布什赴越南出席亚太经合组织领导人非正式会议4天期间已对越南进行了访问。

在越南期间,布什总统与美国国务卿康多莉扎•赖斯 (Condoleezza Rice)造访了河内与胡志明市。

2007年6月,时任越南国家主席阮明哲应美国总统的邀请对美国进行正式访问。双方讨论了经贸合作问题,同时核查了双边贸易协定的执行情况。

2008年6月,时任越南政府总理阮晋勇应美国总统的邀请对美国进行访问。在与美国高级官员进行会谈中,双方均认为越美在各个领域上的合作关系均呈现出强劲增长态势。阮晋勇总理对美国的访问成为了双方关系中的重要里程碑。

2013年7月,时任越南国家主席张晋创应美国总统巴拉克•奥巴马的邀请对美国进行访问。此访期间,双方将两国关系提升为全面伙伴关系,同时制定新阶段越美关系发展方向。

2015年7月,值此越美关系正常化20周年之际,越共中央总书记阮富仲对美国进行了正式访问。阮富仲与时任美国总统奥巴马会晤后,双方通过了越美共同愿景声明,表明越南与美国领导人已能够对以前曾经被视为敏感问题坦率地展开讨论。越美关系发展前景更为明朗。

越美关系共同愿景声明强调有效展开声明将有助于在尊重独立主权、政治体制和互不干涉对方内政的原则上不断深化两国全面伙伴关系,致力推进两国关系迈上新高度。

2016年5月,时任美国总统奥巴马对越南进行正式访问。与时任越南国家主席陈大光举行会谈时,奥巴马同意公布有关美国全面解除对越南武器禁售命令的重要决定。两国在会谈后所签署的越美联合声明充分体现两国在加强双方的全面合作关系的决定。美国总统奥巴马对越南进行访问期间,双方已签署多项重要文件和项目。

美国全面解除对越南武器禁售命令标志着两国关系已经实现了正常化,同时传达有关增进两国战略互信、密切两国全面合作关系的信息。此访被评为美国领导人改变对越南的思维的长足进展。

  时任越南政府总理潘文凯2005年6月21日对美国进行正式访问期间与美国总统乔治•沃克•布什(George Walker Bush)进行历史性的握手。图自AP/越通社
  时任越南政府总理潘文凯2005年6月21日对美国进行正式访问期间与美国总统乔治•沃克•布什(George Walker Bush)进行历史性的握手。图自AP/越通社

2017年5月,越南政府总理阮春福应美国总统特朗普的邀请对美国进行正式访问。此访为越美全面伙伴关系开辟新篇章。两国承诺维护关系发展势头,同时对越美未来全面合作新框架达成共识,为促进两国全面伙伴关系发展注入新动力,为维护地区和世界和平与繁荣作出贡献。

2017年11月,美国总统特朗普赴越南出席亚太经合组织领导人峰会。

值此之际,美国总统特朗普对越南进行了访问,双方在特朗普此次访问期间已发表联合声明,一致同意在尊重彼此独立、主权、领土完整和政治体制的原则上进一步深化越美全面伙伴关系。

2019年2月,美国总统特朗普赴越南出席美国-朝鲜领导人第二次会晤,并会见了越南高层领导人。

值此之际,越共中央总书记、国家主席阮富仲和美总统特朗普出席了两国有关航空领域的4项合作文件的签署仪式,涉及资金约210亿美元。

25年来,双方各级代表团互访频繁,助力越南与美国全面伙伴关系不断深化,为推进两国互惠互利关系发展作出积极贡献。

关于民主、人权问题,双方继续对存在异议的问题开展坦率和具有建设性的对话,不让这些问题对两国合作关系产生消极影响。

在多边关系方面,越南与美国不断加强合作,在各国际场合上密切协调与合作。

越美经贸合作实现突破性增长

两国经贸合作被视为两国关系中最成功的合作领域,同时也是助推两国关系发展的重要动力。

越美双边贸易连续多年实现强劲增长,并不断立下新里程碑。多年来,美国一向保持越南最大出口市场这一地位。反而,越南也是美国增长率最高的出口市场之一。

自从美国正式解除对越南的经济禁运以来,双向贸易额连续增长。2001年,越南-美国双边贸易协定(BTA)生效之前,双向贸易额达14亿美元。截至2019年底,两国双向贸易额已达到750亿美元,较2018年增长24.4%。

        越南国防部部长冯光青与美国国防部长阿什顿•卡特签署《越美防务关系共同愿景宣言》。图自越通社
        越南国防部部长冯光青与美国国防部长阿什顿•卡特签署《越美防务关系共同愿景宣言》。图自越通社

越美双边经贸关系中的重要特点是具有互补性。具体而言,美国对越南特色农产品或纺织品服装、皮革鞋类、木制品、机械、电子产品等越南有优势的产品拥有非常大的进口需求。

关于投资领域,计划与投资部的统计数据显示,截至2019年底,美国在对越进行直接投资的130个国家和地区中排在第11位,正在开展的投资项目近1000个,注册资金近100亿美元。

尽管美国不是对越投资最多的国家之一,但美国企业的投资质量高,为越南经济社会的发展作出巨大的贡献。

美国同时也是越南企业的投资目的地。2020年前5月,美国成为越南第二大境外投资目的国,投资总额达2172万美元,占越南境外投资总额的近12%。

  国防安全合作发生“巨大的变化”

越南与美国国防安全合作于1995年两国关系正常化之后确立。24年来,两国国防安全合作发生了“巨大的变化”。

12月5日在同奈省,美国国际开发署与越南国防部、消除有毒化学物质危害与克服环境事故国家行动中心(NACCET)联合举行边和机场迪奥辛污染清除项目动工仪式暨总额6500万美元的残疾人协助项目签字仪式。图自越通社
12月5日在同奈省,美国国际开发署与越南国防部、消除有毒化学物质危害与克服环境事故国家行动中心(NACCET)联合举行边和机场迪奥辛污染清除项目动工仪式暨总额6500万美元的残疾人协助项目签字仪式。图自越通社

2015年6月,两国国防部长已签署越美防务合作联合声明。2016年5月23日,对越南进行正式访问期间,时任美国总统奥巴马已宣布全面解除对越南杀伤性核武器禁售令,对两国关系具有长足进展,为巩固两国互相信任作出重要贡献,同时深化双方在应对地区安全危机方面的合作。

两国合作领域还扩大到军医培训、人道主义援助、灾害援助、维和、信息共享、反恐、维护网络安全和水源安全等领域。美国积极协助越南克服战争后果,增强海警和海军能力,为执行国际维和行动的越南部队提供支持。

越南、美国与其他国家在遵守1982年《联合国海洋法公约》(UNCLOS)的基础上积极维持东海上的航行自由。双方支持本着尊重国际法和UNCLOS的原则维护航行和航空自由,通过外交进程和法律规定和平解决争端,同时不采取使地区紧张局势升级的行动。

          2015年7月7日,越共中央总书记阮富仲与时任美国总统奥巴马在美国白宫举行会谈。图自越通社
          2015年7月7日,越共中央总书记阮富仲与时任美国总统奥巴马在美国白宫举行会谈。图自越通社

科学技术合作机会

2000年,越南与美国已签署科学技术合作协定,成立科学激素合作混合委员会。核能和平利用合作协定于2014年5月6日正式签署,为两国促进核领域合作敞开大门。

美国与越南还建立太空领域的合作。美国国家航空航天局(NASA)和越南科学技术翰林院已公布有关开展太空领域的合作意向书。2018年3月,双方首次在河内举行能源安全合作对话,并于2019年4月在美国华盛顿举行第二次能源安全合作对话。

双方在教育培训、卫生、环保、旅游等领域上的合作关系也取得丰硕成果。

可以说,越美关系正常化以来,两国共同利益日益广泛,为推进越南与美国关系发展注入了强劲动力。(完)