Những ‘đòn đánh’ quyết định giúp Việt Nam kiểm soát dịch COVID-19

Những ‘đòn đánh’ quyết định

giúp Việt Nam kiểm soát dịch COVID-19

Trong đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 (từ ngày 27/4 đến nay), virus SARS-CoV-2 có những biến chủng mới, lây lan nhanh và nguy hiểm hơn, tạo ra thách thức vô cùng lớn cho Việt Nam.

Trong khó khăn, chúng ta thấy rõ nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị và người dân, doanh nghiệp trong việc khống chế, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh. Hàng loạt quyết sách đúng đắn đã được đưa ra.

Đợt dịch lớn nhất trong lịch sử

Khởi đầu từ ngày 27/4, dịch bắt đầu lây lan ở Yên Bái, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Đà Nẵng. Sau đó, dịch xuất hiện tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện K khiến hai đơn vị này phải cách ly y tế kéo dài. Tiếp theo, dịch bùng phát mạnh ở Bắc Ninh, Bắc Giang.

Ngày 12/6, Việt Nam cán mốc hơn 10.000 ca mắc COVID-19. Sau 1 tháng rưỡi, số ca tăng lên hơn 100.000 trường hợp. Gần 2 tháng sau thì vượt hơn 700.000 ca mắc.

Theo thống kê, kể từ đầu dịch đến nay Việt Nam có 822.687 ca nhiễm, đứng thứ 43/223 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nếu tính tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 155/223 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 8.357 ca nhiễm).

Dịch tấn công nhiều tỉnh/thành phố có mật độ dân cư cao, là đầu mối giao thông huyết mạch của cả nước, xâm nhập vào khu kinh tế trọng tâm phía Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nhiều địa phương thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội, áp dụng các biện pháp chưa từng có tiền lệ, trên phạm vi rộng.

Điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19. tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: Ngô Trần Hải An/Vietnam+)

Do tình hình dịch bệnh diễn biến quá nhanh, phức tạp, khó lường, với tinh thần vì sức khỏe, tính mạng người dân là trên hết, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý áp dụng biện pháp giãn cách xã hội tại đồng loạt 19 tỉnh thành phía Nam từ ngày 19/7 – một quyết định khó khăn nhưng cấp thiết để giảm tốc độ lây lan của dịch.

Trước tình trạng quá nhiều ca chuyển nặng và tử vong, lực lượng y tế gần 20.000 người từ nhiều đơn vị đã vào hỗ trợ cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.

Với yêu cầu: Ai ở đâu – ở yên đó, đây cũng là lần đầu tiên thực hiện tăng cường giãn cách xã hội trên toàn Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa bàn với các biện pháp tương tự như tình trạng khẩn cấp. Quá nhiều ca F0 khiến hệ thống y tế quá tải. Trước tình trạng quá nhiều ca chuyển nặng và tử vong, lực lượng y tế gần 20.000 người từ nhiều đơn vị đã vào hỗ trợ cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.

“Chưa bao giờ nghĩ tới tổn thất lớn như vậy”

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn, người từng lăn lộn nhiều ngày tháng tại các “chiến trường” Bắc Ninh, Bắc Giang, Thành phố Hồ Chí Minh… chia sẻ: “Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ tới tổn thất lớn như vậy tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng sau khi chúng ta chuyển chiến lược lấy xã, phường làm pháo đài, người dân là chiến sỹ, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được một số thành công để cho đến hôm nay, chúng ta đã thấy ánh sáng cuối đường hầm.”

1000


Nồng độ virus

Với biến chủng Delta, nồng độ virus trong dịch đường hô hấp gấp 1.000 lần so với chủng cũ

2-3


Ngày

Chủng Delta chỉ trong 2-3 ngày đã có thêm một vòng lây nhiễm mới (các chủng cũ 5-7 ngày)

80%


Không triệu chứng

Khoảng 80% người nhiễm không có triệu chứng; lây nhiễm xảy ra trước khi bệnh nhân có xuất hiện triệu chứng gây khó khăn cho việc phát hiện

10


RO

Tỷ lệ lây nhiễm ở mức cao, 1 người nhiễm lây cho 9-10 người, đã xuất hiện các trường hợp lây nhiễm kéo dài (hơn 14 ngày).

Thực tế, đợt dịch thứ 4 với biến chủng Delta lây nhiễm nhanh, mạnh hơn; nồng độ virus trong dịch đường hô hấp gấp 1.000 lần so với chủng cũ; chỉ trong 2-3 ngày đã có thêm một vòng lây nhiễm mới (các chủng cũ 5-7 ngày); khoảng 80% người nhiễm không có triệu chứng; lây nhiễm xảy ra trước khi bệnh nhân có xuất hiện triệu chứng gây khó khăn cho việc phát hiện. Tỷ lệ lây nhiễm ở mức cao, 1 người nhiễm lây cho 9-10 người, đã xuất hiện các trường hợp lây nhiễm kéo dài (hơn 14 ngày).

Tiễn các y bác sĩ vào Nam chống dịch (Nguồn: TTXVN)

Dịch tấn công vào các khu công nghiệp, khu vực có mật độ dân cư cao làm số nhiễm tăng rất nhanh trong thời gian ngắn gây áp lực lớn cho hệ thống y tế trong bối cảnh năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế cơ sở còn nhiều hạn chế; nhân lực, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở chưa chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống nhiều người mắc nên xảy ra quá tải cục bộ, dẫn đến số tử vong tăng trong thời gian ngắn.

Dịch tấn công vào các khu công nghiệp, khu vực có mật độ dân cư cao làm số nhiễm tăng rất nhanh trong thời gian ngắn gây áp lực lớn cho hệ thống y tế trong bối cảnh năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế cơ sở còn nhiều hạn chế…

Dịch bệnh với đa nguồn lây, đa chủng, đa ổ bệnh đã làm nhiều tỉnh, thành phố phải thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội, áp dụng các biện pháp chưa có trong tiền lệ trong thời gian dài, trên phạm vi rộng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống nhân dân và phát triển kinh tế xã hội.

Trong ba đợt dịch trước đây công tác phòng, chống dịch dựa vào 5 nguyên tắc cơ bản là ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng dập dịch, điều trị và công thức 5K, đã thành công trong phòng, chống dịch với các chủng ban đầu.

Ở đợt dịch thứ 4, trong thời điểm vaccine thiếu và khan hiếm, chưa đảm bảo miễn dịch cộng đồng nên chiến lược xét nghiệm được đưa ra. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore… cũng áp dụng xét nghiệm hiệu quả để thời gian giãn cách giảm xuống, có cơ hội phát triển kinh tế – xã hội.

Những “đòn đánh” chí mạng

Đánh giá về công tác phòng chống dịch, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long khẳng định: “Để có thể cơ bản kiểm soát được tình hình dịch bệnh như hiện nay, chúng ta đưa ra nhiều quyết định mang tính chiến lược để thay đổi, chuyển hướng, đáp ứng một cách linh hoạt với dịch COVID-19 đợt thứ 4.”

Ở góc độ chuyên môn, ông Long cho biết đã có 5 quyết định cân não được đưa ra.

Quyết định đầu tiên là phong tỏa toàn bộ vùng có dịch tại các khu công nghiệp của Bắc Giang, Bắc Ninh; xét nghiệm tầm soát trên diện rộng, xét nghiệm nhiều vòng và lặp lại. Đây là bài học thành công nhất của Bắc Giang và Bắc Ninh trong thời điểm đó.

Xét nghiệm diện rộng để mở rộng vùng xanh (Nguồn: TTXVN)

“Nếu chúng ta không thực hiện như vậy trong thời điểm đó thì tình hình sẽ rơi vào trạng thái rất căng thẳng, nghiêm trọng. Bài học thành công này dựa trên cơ sở thực tiễn rất đúng đắn. Khi đó, trên cơ sở phân tích về mặt dịch tễ học, sau khi trao đổi rất kỹ, chúng ta quyết định phải dùng test nhanh kháng nguyên nhiều vòng để bóc tách F0 đi cách ly, chăm sóc, điều trị phù hợp, không để tiếp tục lây lan ra cộng đồng,” Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh.

Theo người đứng đầu ngành y tế, nguyên lý của bệnh truyền nhiễm là cách ly nguồn truyền nhiễm. Và, muốn cách ly thì phải xét nghiệm để phát hiện nguồn lây. Có ý kiến cho rằng chỉ cần xét nghiệm người có triệu chứng, tuy nhiên, có đến 80% số ca nhiễm không có triệu chứng, nếu bỏ sót thì nguy cơ lây lan cộng đồng là rất lớn. Lúc đó, Việt Nam đã triển khai cùng lúc các biện pháp an sinh xã hội, lập bệnh viện dã chiến, trung tâm hồi sức tích cực. Bắc Ninh, Bắc Giang là bài học điển hình của đợt dịch thứ 4.

Quyết định thứ 2 là khi Thủ tướng, Ban chỉ đạo Quốc gia quyết định giãn cách hàng chục tỉnh, thành phố khu vực phía Nam. Đi cùng với đó, Việt Nam đã phải chuẩn bị tất cả kịch bản từ vấn đề về an sinh xã hội, đi lại, sản xuất kinh doanh, an ninh an toàn, sinh kế của người dân. Những quyết định đúng đắn, sáng suốt trong thời điểm đó được nâng từng bước một. Khi thấy không có khả năng kiểm soát do diễn biến dịch quá nhanh trong thời gian ngắn trên địa bàn hẹp, ngay lập tức, Ban chỉ đạo đã đưa ra quyết định giãn cách tại hàng chục tỉnh, thành phố. Nhờ vậy, tình hình dịch bệnh mới kiểm soát được tình khu vực phía Nam, góp phần ngăn chặn nhiều trường hợp nhiễm và tử vong trong khu vực này.

Khi thấy không có khả năng kiểm soát do diễn biến dịch quá nhanh trong thời gian ngắn trên địa bàn hẹp, ngay lập tức, Ban chỉ đạo đã đưa ra quyết định giãn cách tại hàng chục tỉnh, thành phố. Nhờ vậy, tình hình dịch bệnh mới kiểm soát được tình khu vực phía Nam

Theo giáo sư Nguyễn Thanh Long, quyết định thứ 3 là điều động nguồn nhân lực, huy động một cách tổng lực. Đã có gần 300.000 lượt cán bộ, chiến sỹ, y bác sỹ, công an, quân đội… được huy động cho Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các địa phương là điểm nóng về dịch bệnh. Thủ tướng quyết định điều nhân lực từ 12 địa phương về Hà Nội để tiến hành chiến dịch thần tốc xét nghiệm, chiến dịch tiêm chủng vaccine cho nhân dân Thủ đô. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn vì lực lượng tại chỗ không thể bảo đảm yêu cầu phòng, chống dịch. Nguyên tắc cơ bản là xét nghiệm phải nhanh hơn quá trình lây lan của dịch bệnh.

Nụ cười ngày chiến thắng (Nguồn: TTXVN)

Quyết định thứ 4 là chuyển hướng chiến lược, kết hợp hài hòa giữa lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt và phân cấp, phân quyền trong tổ chức thực hiện; xác định xã phường là “pháo đài,” người dân là “chiến sỹ,” là trung tâm phục vụ, là chủ thể trong hoạt động phòng chống dịch, thiết lập những trạm y tế lưu động, điều động quân y vào khu vực phía Nam. Bên cạnh đó, xét nghiệm thần tốc để phát hiện các trường hợp nhiễm, cách ly nguồn lây, từ đó chăm sóc, điều trị sớm, hạn chế lây nhiễm và tử vong.

Quyết định thứ 5 là việc thực hiện chiến lược vaccine quyết liệt. Xung quanh thực hiện chiến lược này, Việt Nam đã vượt qua những rào cản rất phức tạp, nhờ có Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội, các Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, việc mua sắm vaccine rất được quan tâm để bảo đảm tiêm chủng bao phủ ngày càng rộng.

Quyết định thứ 4 là chuyển hướng chiến lược, kết hợp hài hòa giữa lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, xuyên suốt và phân cấp, phân quyền trong tổ chức thực hiện; xác định xã phường là “pháo đài,” người dân là “chiến sỹ,” là trung tâm phục vụ…

Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19, đến nay về cơ bản, Việt Nam đã kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh trên toàn quốc. Tại tâm dịch Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, con số ca mắc cũng như tỷ lệ nhiễm và con số tử vong đã giảm sâu. Tình hình dịch bệnh của các tỉnh nằm trong khu vực giãn cách có diễn biến tích cực. 40 tỉnh, thành phố khác có các ca nhiễm đã được kịp thời xử lý, khoanh vùng dập dịch nhanh chóng.

Rõ ràng, những quyết sách trên đã góp phần bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân, hạn chế đến mức thấp nhất các ca mắc, tử vong do COVID-19. Các địa phương dần dần khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trong điều kiện thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 để phấn đấu đưa cả nước trở lại trạng thái bình thường mới từ tháng 12/2021.

BÀI 1: TẤN CÔNG VÀO BA MẶT TRẬN LỚN ĐỂ DẸP ‘CƠN ÁC MỘNG’ COVID-19
BÀI 2: VACCINE – ‘VŨ KHÍ TỐI THƯỢNG’ ĐỂ ‘TẤN CÔNG ĐẠI DỊCH’
BÀI 3: ‘MẶT TRẬN’ COVID-19: CHIẾN LƯỢC MỚI, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ
BÀI 4: NHỮNG ‘ĐÒN ĐÁNH’ QUYẾT ĐỊNH GIÚP VIỆT NAM KIỂM SOÁT DỊCH
BÀI 5: NỖI ĐAU COVID-19: NHIỀU HY SINH, MẤT MÁT VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Thùy Giang
Thùy Giang

Chế tài lớn nhất với nghệ sỹ là sự nghiêm khắc của công chúng

Nền giải trí Trung Quốc đang trải qua những “cơn sóng” lớn. Hàng loạt thành tựu của các nghệ sỹ gạo cội một thời bị xóa sổ hoàn toàn bởi trào lưu “phong sát.” Tại Việt Nam, công chúng trong nước cũng mong muốn một chế tài tương tự. Song, kể từ khi ra đời, bộ Quy tắc ứng xử của nghệ sỹ do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành dường như chưa thỏa mãn mong muốn của khán giả.

Trên các diễn đàn báo chí truyền thông, hàng loạt bình luận kêu gọi bộ Quy tắc cần bổ sung các chế tài xử phạt. Một số quan điểm cho rằng nếu không đủ răn đe, bộ Quy tắc “chẳng cần thiết, mất thời gian và không thiết thực.”

Trên các diễn đàn báo chí truyền thông, hàng loạt bình luận kêu gọi bộ Quy tắc cần bổ sung các chế tài xử phạt. Một số quan điểm cho rằng nếu không đủ răn đe bộ Quy tắc “chẳng cần thiết, mất thời gian và không thiết thực”.

Trao đổi về vấn đề này, luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc điều hành Công ty Luật ANVI cho rằng: “Trong Bộ quy tắc, có hai khía cạnh cần quan tâm, thứ nhất là những cái cần, thứ hai là những thứ không cần.

Một số nội dung cần có, vì tính chất phổ biến, hay bị vi phạm và dễ ảnh hưởng đến công chúng như: biểu diễn nghệ thuật; tham gia quảng cáo; lên mạng xã hội; hoạt động từ thiện; xuất hiện trước công chúng; trang phục và tiêu dùng.

Điều này tạo cơ sở dễ dàng hơn để khán giả “giám sát” và đánh giá chuẩn mực người nghệ sỹ.

Một số nội dung không cần thiết, vì cần phải và đã được được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành hoặc yêu cầu ứng xử tối thiểu chung như: không cần giải thích từ ngữ; không cần liệt kê chi tiết và đầy đủ mọi yêu cầu ứng xử; không cần chế tài xử phạt; và cũng không cần nhắc lại quy định của pháp luật, mà thường chỉ “quét” một câu mang tính kỹ thuật soạn thảo kiểu như ngoài ra phải tuân thủ mọi quy định liên quan của pháp luật.”

Nhiều hoạt động nghệ thuật của nghệ sỹ đã được quy định trong các văn bản pháp luật.

Nghệ sỹ, trước hết là một con người, nên có mọi quyền và nghĩa vụ của một công dân. Về nghề nghiệp, nghệ sỹ được hiểu là người hoạt động biểu diễn hay sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp. Do đó, nghệ sỹ không chỉ tuân thủ pháp luật nói chung, mà còn phải tuân thủ các quy định liên quan đến nghề nghiệp.

Chẳng hạn như quy định tại khoản 4 Điều 3 về “Quy định cấm trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn,” Nghị định số 144/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ “Quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn,” đó là cấm “Sử dụng trang phục, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, động tác, phương tiện biểu đạt, hình thức biểu diễn hành vi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, tác động tiêu cực đến đạo đức, sức khỏe cộng đồng và tâm lý xã hội.

Hay quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 5 về “Quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia biểu diễn nghệ thuật” quy định nghệ sỹ có trách nhiệm “Thực hiện các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.” Ngoài ra, nghệ sỹ còn phải tuân thủ yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, hội đoàn nơi tham gia hoạt động.

Luật sư Trương Thanh Đức cũng thẳng thắn: “Quy tắc này đòi hỏi rộng hơn, nhưng không phải là văn bản pháp quy, do đó vi phạm quy tắc này sẽ không bị xử phạt theo các chế tài xử phạt hành chính hay hình sự của pháp luật, trừ trường hợp đồng thời phạm pháp. Pháp luật mới chỉ là cái tối thiểu, quy tắc ứng xử đòi hỏi cao hơn một mức, còn chế tài lớn nhất chính là sự nghiêm khắc của công chúng.”

Đồng tình với quan điểm trên, Phó giáo sư-tiến sỹ Lê Quý Đức, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho biết bộ Quy tắc chỉ cần điều chỉnh những hành vi chưa quá nghiêm trọng. Khi xã hội phát triển, các vấn đề mới phát sinh, bộ Quy tắc sẽ được bổ sung linh hoạt để phù hợp.

Cần nhìn nhận thực tế rằng tiếng nói “nghiêm khắc” của khán giả đang đứng giữa ranh giới dễ dãi hay không dễ dãi. Sự hả hê, tán tụng, lên án của công chúng trong những livestream của nữ doanh nhân Nguyễn Phương Hằng, lùm xùm sao kê của Đàm Vĩnh Hưng, Thủy Tiên, Trấn Thành, Hoài Linh… khiến dư luận đảo chiều liên tục. 

“Nhiều nghệ sỹ được hâm mộ và fan yêu chiều một cách quá mức. Sự nổi tiếng sớm hơn, tuổi đời và kinh nghiệm còn non nớt, thiếu trải nghiệm trong cuộc sống đã gây ra những hiểu lầm trong cách ứng xử cuộc sống,” diễn viên Hà Hương, gương mặt nổi tiếng trong bộ phim “Phía trước là bầu trời” trải lòng.

Nghệ sỹ là người của công chúng, phải chịu sự soi xét nên cần phải có trách nhiệm xã hội cao hơn, mẫu mực hơn trong ứng xử.

Tuy nhiên trong thực tế, nhiều trường hợp khi thần tượng gặp scandal, một số khán giả không những không lên án, tẩy chay mà còn tán tụng, ngợi ca. Đó là lỗi của công chúng, mà cụ thể là sự nhận thức lệch lạc, giáo dục, tuyên truyền chưa tốt. Phản ứng đó của xã hội thì không thể quy thành lỗi của nghệ sỹ, vì mỗi người đều cần tự chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân.

Mặt khác, khi chưa có đầy đủ bằng chứng xác đáng và kết luận của cơ quan chức năng mà công chúng với tâm lý đám đông lại hùa vào mạt sát, xúc phạm, lăng mạ nghệ sỹ hơn cả tội phạm, thì chính công chúng mới là người đáng trách, thậm chí phạm pháp.

Luật sư Trương Thanh Đức cũng cho rằng luật pháp Việt Nam rất tôn trọng công dân: “Thậm chí theo nguyên tắc suy đoán vô tội, thì khi một người đã bị khởi tố, điều tra, truy tố hay đã bị đưa ra toà án xét xử về tội hình sự thì cũng chưa được phép coi là tội phạm, mà chỉ là bị can, bị cáo (nghi can). Chỉ khi nào bản án có hiệu lực pháp luật thì mới gọi là tội phạm hay phạm nhân.”

Công chúng liên tục “đề nghị” một cơ chế thẳng tay trừng trị giới nghệ sỹ nhưng vấn đề đặt ra là chúng ta đã đủ “tỉnh táo” để phán xét mọi chuyện mà bản thân cho là đúng hay chưa?

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, giảng viên Đại học Sân khấu-Điện ảnh chia sẻ: “Bản chất của hiện trạng ứng xử thiếu văn minh phản ánh tình trạng một bộ phận nghệ sỹ yếu kém về nhân cách, sự thiếu hụt những tình cảm xã hội tốt đẹp cần trau dồi trong suốt cuộc đời sáng tạo, nhưng khó có thể “bôi đen” cả giới nghệ sỹ vì vẫn còn những người sẵn sàng cống hiến cho quốc gia.”

Tại các trường đại học hàng đầu về nghệ thuật, điều được đặt lên trước hết trong đạo đức nghề nghiệp là mối quan tâm đối với con người, là thái độ ứng xử văn minh và nhân đạo. Con người được coi là cái gốc, mục đích cuối cùng của nghề nghiệp cũng là phục vụ con người.

Bộ Quy tắc trở nên hoàn thiện không chỉ phụ thuộc vào bên ban hành – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp – nghệ sỹ, mà còn liên quan tới mỗi công chúng thưởng thức nghệ thuật. Khi “văn hóa phong sát” len lỏi vào trí óc người Việt, chúng ta mặc định Việt Nam cần phải xử lý mạnh mẽ đến mức “bốc hơi” toàn bộ sự nghiệp chục năm của một nhân vật lớn như mô hình tại Trung Quốc, Hàn Quốc, mới chấm dứt được tình trạng tiêu cực đến từ giới nghệ sỹ, nhưng lại quên mất rằng, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là truyền thống “thương người như thể thương thân,” đoàn kết như một thể thống nhất.

Luật sư Trương Thanh Đức quan niệm: “Một xã hội muốn ổn định và bền vững cần phải cân đối mọi mặt với sự sẻ chia và thấu cảm. Nếu xã hội mất đi sự nhân văn thì liệu xã hội còn có thể tồn tại?”

“Ngay cả khi không có ‘phong sát,’ một nghệ sỹ tại Việt Nam vẫn sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp tới sự nghiệp nếu vướng vào scandal và bị người hâm mộ lên án. Con người có thể căm ghét cái tật, nhưng không thể phủ nhận cái tài! “Bán án tử” cho người nghệ sỹ cần được xem xét kỹ, bao hàm cả những đóng góp của người nghệ sỹ đó trong suốt quá trình hoạt động cho nước nhà, để có một kết quả thỏa đáng và chính xác nhất,” ca sỹ Bảo Kun tâm sự.

“Ta thấy rằng còn nhiều vấn đề mà xã hội đặt ra nổi cộm lên vì chúng ta chưa quen, chưa ứng xử với nó theo một cái nếp nào đó, nên chúng ta thấy nó lạ, mà cứ cái gì lạ thì ta cho rằng đó là bê bối,” Phó giáo sư-tiến sỹ Lê Quý Đức – nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng nhận thấy nhiều bất cập trong văn hóa ứng xử của công chúng.

Phó giáo sư-tiến sỹ Lê Quý Đức cũng cho rằng: “Chúng ta chưa nhìn sâu vào vấn đề và chạy theo dư luận xã hội, cần phải có một cách nhìn nghiêm túc, có tính nhân văn cao và văn minh hơn. Mỗi người cần tìm ra nguyên nhân của vấn đề để khắc phục chứ không phải nghiêm khắc phê phán bằng việc chửi bới, mạt sát, phỉ báng người mà chúng ta xem là bê bối.”

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn kỳ vọng về một bộ quy tắc hoàn thiện, được ban hành sớm, và điều chỉnh liên tục theo bối cảnh: “Việt Nam cần xây dựng bộ Quy tắc ứng xử mà cái gốc chuẩn chính là tình yêu con người, sự tôn trọng phẩm giá con người, có ý thức sâu sắc và khát vọng lớn về sự công bằng, chính trực. Để cái gốc ấy sâu, rộng và chắc chắn, người nghệ sỹ khi còn là sinh viên hay thợ học việc cần bồi bổ lòng say mê tri thức văn hóa, khát vọng chiếm lĩnh kỹ năng tinh xảo của nghề nghiệp!”

F0 KHỎI BỆNH TÌNH NGUYỆN Ở TUYẾN ĐẦU: CÙNG VIẾT NÊN CÂU CHUYỆN ĐẸP

Những ngày qua, câu chuyện về các F0 khỏi bệnh tình nguyện quay trở lại bệnh viện hỗ trợ các F0 khác hay tham gia lực lượng tình nguyện hỗ trợ địa phương đang được truyền tai nhau như một trong những tia sáng nhân văn giữa đại dịch khốc liệt.

Và hằng ngày, hằng giờ, đang có hàng ngàn F0 “nghĩa hiệp” như thế đổ những giọt mồ hôi chăm sóc, hỗ trợ những người không quen biết. Mỗi người một lý do, một câu chuyện, một hoàn cảnh nhưng đã cùng viết nên câu chuyện cổ tích đẹp giữa đời thường.

ATM F0 khỏi bệnh là tên gọi chung của nhóm người F0 đã khỏi bệnh sẵn sàng quay trở lại tuyến đầu, nơi họ từng được cứu chữa, điều trị để hỗ trợ đội ngũ y bác sỹ, “kề vai sát cánh” cùng các F0 khác chống chọi lại COVID-19.

Với các công việc hằng ngày ở trong các điểm nóng giữa sự sống và cái chết cận kề, những F0 khỏi bệnh đã nỗ lực tiếp thêm các nguồn năng lượng tích cực, liều thuốc tinh thần hữu ích cho các F0 vượt qua giai đoạn khó khăn trong quá trình điều trị COVID-19.

Mỗi F0 tình nguyện là một câu chuyện

“Hôm nay, tôi lại được quay lại Bệnh viện Dã chiến số 4 một lần nữa nhưng không phải vì tôi tái dương tính, chẳng qua là tôi đã đăng ký tình nguyện tham gia đội ngũ hậu cần của bệnh viện để hỗ trợ các bệnh nhân đang điều trị tại đây mà thôi. Tôi được sắp xếp một công việc khá là thú vị, làm tại Phòng Hồi sức cho các bệnh nhân nặng. Tôi được hướng dẫn cách tập thở cho các bệnh nhân nặng và nhẹ, có thêm kiến thức để giúp đỡ bệnh nhân, người thân, bạn bè… Ngoài ra, tôi sẽ mang cái năng lượng bất tử của tôi để lây nhiễm cho các bệnh nhân tại đây” – là dòng chia sẻ dí dỏm của “F0 man” Nguyễn Hồng Kỳ (35 tuổi, ngụ quận Tân Bình) trên trang cá nhân nhận được rất nhiều lần “thả tim” của bạn bè.

Từng là F0, sau khi chiến thắng bệnh tật trở về, mỗi ngày nhìn từng đoàn xe chở F0 đi cách ly, điều trị chạy ngang nhà khiến lòng anh như “lửa đốt.”

Thương đội ngũ y bác sỹ nơi tuyến đầu, đồng cảm với các F0 đang phải chống chọi với bệnh tật, anh Kỳ quyết định quay trở lại Bệnh viện Dã chiến số 4, nơi mình từng điều trị để phụ giúp đội ngũ y, bác sỹ chăm sóc người bệnh nặng. Anh kể: “Quyết định trở lại bệnh viện làm công tác tình nguyện được tôi đưa ra trong 5 phút và rất may được gia đình ủng hộ.”

ATM F0 khỏi bệnh là tên gọi chung của nhóm người F0 đã khỏi bệnh sẵn sàng quay trở lại tuyến đầu, nơi họ từng được cứu chữa, điều trị để hỗ trợ đội ngũ y bác sỹ.

Mỗi sáng, sau khi mặc lên người bộ đồ bảo hộ, anh Kỳ có mặt ở Phòng Hồi sức cấp cứu để hỗ trợ người bệnh nặng. Đút cháo, thay ga trải giường, vệ sinh cá nhân, hướng dẫn tập thở… là những công việc thường ngày của anh tại đây.

Hiện một mình anh có thể chăm sóc cùng lúc 10 bệnh nhân nặng điều trị tại phòng hồi sức cấp cứu. Dù là đàn ông nhưng anh không nề hà bất cứ công việc nào trong chăm sóc, vệ sinh cho người bệnh nặng.

“Tôi từng có khoảng thời gian chăm mẹ bệnh nên tôi rất thương các cô, chú lớn tuổi ở đây. Mỗi lần chăm sóc họ, tôi lại nhớ tới mẹ mình và cố gắng làm sao để hỗ trợ các tốt nhất, mong các cô, chú sớm được quay trở lại với gia đình, con cháu,” anh Kỳ tâm sự.

Các F0 sau khi khỏi bệnh tham gia vào việc phát suất cơm hàng ngày cho các bệnh nhân F0 khác. (Ảnh: TTXVN phát)

Còn với chàng trai trẻ Huỳnh Khang (sinh năm 1999), một tháng tham gia tình nguyện chăm sóc bệnh nhân COVID-19 là khoảng thời gian nhiều trải nghiệm của tuổi trẻ.

Tháng 7/2021, Khang mắc COVID-19 sau thời gian tham gia làm công tác tình nguyện tại một phòng xét nghiệm. Sau khi khỏi bệnh, Khang bắt đầu nghĩ đến việc làm tình nguyện và viết đơn xin được phục vụ trong các bệnh viện dã chiến.

Ngày 28/8, Khang chính thức đến nhận việc tại Bệnh viện Dã chiến điều trị COVID-19 đa tầng quận Tân Bình, phụ giúp đội ngũ y, bác sỹ tại đây chăm sóc cho những bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân nặng không thể tự sinh hoạt được.

Trong bộ đồ bảo hộ kín mít, chàng trai trẻ Huỳnh Khang cẩn thận đút từng thìa cháo cho bà cụ đang nằm trên giường bệnh. Vừa đút cháo, Khang vừa động viên: “Bà ơi, bà ráng ăn cho hết chén cháo này nha bà, có ăn được, bà mới mau khỏe và về nhà được ạ.”

Dù hơi thở vẫn còn khá khó nhọc nhưng bà cụ móm mém cười và đón lấy từng thìa cháo của Khang. Bát cháo vơi dần. “Đến thời điểm hiện tại, tôi cảm thấy công việc tình nguyện viên là việc đáng phải làm. Tuy có lúc mệt mỏi bởi công việc vất vả nhưng tôi cảm thấy rất vui. Tôi xem công việc này như một sự cảm ơn đối với sự hy sinh thầm lặng mà các y, bác sỹ và điều dưỡng đã từng điều trị cho mình,” Khang chia sẻ.

ATM F0 không cần “sao kê”

Bệnh viện Dã chiến số 4 – nơi mỗi ngày đang điều trị cho hàng ngàn F0, những ngày qua, bên cạnh đội ngũ y bác sỹ còn có thêm lực lượng F0 tình nguyện. Họ từng là bệnh nhân của bệnh viện, đã được điều trị khỏi bệnh nhưng lại tiếp tục xin được ở lại để phục vụ người bệnh khác.

Gần 30 F0 tình nguyện viên đa số đều rất trẻ, từng làm shipper, đầu bếp, sinh viên, công nhân, nhân viên căng-tin… đã lập thành “đội đặc nhiệm yêu thương.”

Mặc dù trước đây, họ chưa bao giờ phải chăm sóc người bệnh, nhưng từ ngày quyết định hỗ trợ các y bác sỹ chăm sóc F0, đặc biệt các cụ già neo đơn, “đội đặc nhiệm yêu thương” này từ bỡ ngỡ đã thành thục trong công việc mỗi ngày. Không nề hà bất cứ công việc gì, các tình nguyện viên làm tất thảy mọi việc, từ giúp các cụ già giặt đồ, thay ga giường, lau người, vệ sinh thân thể, đổ bô cho các cụ… như con cháu trong gia đình.

Bác sỹ Nguyễn Trần Nam, Phó Giám đốc Bệnh viện Dã chiến số 4, cho biết trong thời gian qua, đơn vị đã nhận được nhiều sự hỗ trợ từ các F0, trong đó có cả những người đã được xuất viện, cũng có những người đang là bệnh nhân nhưng do không có triệu chứng và có sức khỏe, đã tình nguyện chăm sóc cho các F0 khác.

Các F0 sau có mong muốn tham gia tình nguyện đều được tập huấn cấp tốc về kiến thức và kỹ năng chăm sóc bệnh nhân COVID-19. Và họ đã trở thành lực lượng đặc biệt khi trở lại các cơ sở y tế, bệnh viện, các khu cách ly để chia sẻ công tác hậu cần, chăm sóc những bệnh nhân COVID-19 khác đang rất cần sự giúp đỡ.

 F0 vừa tập vận động vừa an ủi, khích lệ người bệnh. (Ảnh: TTXVN phát)

“Đội ngũ chống dịch mới này rất quan trọng khi chia sẻ nỗi vất vả, nhọc nhằn với các y, bác sỹ khi chăm sóc các ca F0 trong sinh hoạt hằng ngày, hoặc được huấn luyện cấp tốc về những kiến thức cơ bản để theo dõi tình trạng oxy máu, tình trạng khó thở, huyết áp… của người bệnh. Một số khác tham gia hỗ trợ kỹ thuật, sửa điện thoại, hớt tóc, nấu ăn, cho F0 và lực lượng tuyến đầu. Đặc biệt, không chỉ giúp đỡ tận tình, những F0 tình nguyện còn là “liều thuốc tinh thần” khi kể về câu chuyện mình đã chiến thắng bệnh tật như thế nào để các bệnh nhân dù bi quan nhất cùng cảm thấy được tiếp thêm động lực” – bác sỹ Nguyễn Trần Nam chia sẻ.

Nhìn vào tờ danh sách các F0 từng phải thở oxy hồi sinh ngoạn mục và khỏi hẳn, giờ đồng hành cùng với mình, bác sỹ Lý Quốc Công, Trưởng Khoa Lâm sàng (Bệnh viện Dã chiến số 3) không giấu được niềm vui. Anh chia sẻ: “Nhiều bệnh nhân vào đây hoảng loạn và lo sợ lắm, trong khi đó, nhân viên y tế lại quá tải, không chăm sóc chu đáo được nên mình cũng áy náy, đôi khi ước được mọc thêm 3 cái đầu, 6 cái tay. Giờ có thêm nhiều tình nguyện viên F0, mình có thêm nhiều thời gian để cứu giúp bệnh nhân.”

Đội ngũ F0 khỏi bệnh trở thành “cánh tay nối dài” đắc lực của các y, bác sỹ, đồng thời là chỗ dựa tinh thần vững chắc của người bệnh.

Bệnh viện Dã chiến số 3 cũng là đơn vị có nhiều tình nguyện viên F0 xung phong ở lại hỗ trợ sau khi khỏi bệnh.

Cuối tháng 8 vừa qua, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam đã phát động chương trình “ATM F0 chống dịch” tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tạo ra nguồn lực tiếp sức các y, bác sỹ ở tuyến đầu chống dịch. Theo đó, những người từng là F0, nay đã khỏi bệnh sẽ được tổ chức thành lực lượng tuyến đầu đặc biệt, trở lại các cơ sở y tế, bệnh viện, khu cách ly để chia sẻ công tác hậu cần, chăm sóc những người bệnh mắc COVID-19 cần giúp đỡ.

“Đội ngũ này sẽ trở thành “cánh tay nối dài” đắc lực của các y, bác sỹ, đồng thời là chỗ dựa tinh thần vững chắc của người bệnh do đã từng trải nhiều khó khăn khi chiến đấu chống lại COVID-19,” ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam chia sẻ.

Cũng theo ông Đặng Hồng Anh, trước khi trực tiếp hỗ trợ tuyến đầu, tình nguyện viên của chương trình “ATM F0 chống dịch”sẽ được tập huấn cấp tốc về những kiến thức cơ bản để theo dõi tình trạng oxy trong máu, trạng thái hô hấp, mức huyết áp… của người bệnh.

Khi người bệnh có thay đổi bất thường, các tình nguyện viên sẽ phát hiện, thông tin với các y, bác sỹ, góp phần giảm tải áp lực cho đội ngũ tuyến đầu. Mỗi tình nguyện viên của chương trình sẽ được hỗ trợ kính phí từ 6-8 triệu đồng/tháng hoặc 2 triệu đồng/tuần.

Ngay sau khi phát động, chương trình đã nhận được sự đăng ký của hơn 500 F0 và đến nay đã lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng với hàng ngàn F0 đăng ký tham gia./.

Phát huy giá trị đa đạng sinh học ở khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau

Phát huy giá trị đa đạng sinh học

Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau

Khu dự trữ sinh quyển mũi Cà Mau là một trong những điểm đến nổi tiếng mang tính địa lý, văn hóa và sinh thái tiêu biểu của cả nước, với những đặc điểm độc đáo của vùng sinh thái cửa sông, ven biển độc đáo. Mũi Cà Mau còn là địa danh thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam, ai cũng muốn một lần đặt chân đến điểm cực Nam trên đất liền của Tổ quốc. Ở vùng đất linh thiêng đó, bạn sẽ được một lần chạm tay vào cột mốc chủ quyền đầy kiêu hãnh, hay đứng trên con tàu biểu tượng hướng thẳng ra biển Đông.

Nhiều hệ sinh thái đặc trưng

Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau có diện tích 371.506ha với 3 vùng: vùng lõi 17.329ha, vùng đệm 43.309ha và vùng chuyển tiếp 310.868ha. Vùng lõi được chia làm 3 vùng nhỏ là các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ và dãy rừng phòng hộ ven biển.

Nơi đây có nhiều hệ sinh thái đặc trưng điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất ngập nước than bùn, hệ sinh thái biển… Mỗi hệ sinh thái đều lưu giữ các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên địa chất phong phú có giá trị bảo tồn cao.

Với diện tích 371.506ha, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau có nhiều hệ sinh thái đặc trưng điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất ngập nước than bùn, hệ sinh thái biển với giá trị đa dạng sinh học cao.

Vùng Mũi Cà Mau có 4 đặc trưng sinh thái chính gồm hệ thống diễn thế nguyên sinh trên đất bãi bồi; hệ thống chuyển tiếp các hệ sinh thái đặc trưng từ rừng ngập mặn sang rừng tràm ngập nước ngọt theo mùa; là vùng bãi đẻ và nuôi dưỡng con non các loài thuỷ hải sản cho cả vùng biển rộng lớn. Do những đặc trưng trên, nên nơi đây có nhiều vùng sinh quyển độc đáo.

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002 với tổng diện tích 41.862ha, trong đó diện tích đất liền là trên 36% và phần ven biển xấp xỉ 64%, nằm trên địa bàn hai huyện Năm Căn và Ngọc Hiển, cách thành phố Cà Mau hơn 100km.

Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau nhìn từ trên cao. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Tháng 4/2013, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau trở thành khu Ramsar thứ 2 tại Đồng bằng Sông Cửu Long và thứ 5 của Việt Nam.

Đây là nơi có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng với 93 loài thực vật thuộc 38 họ (trong đó chủ yếu là đước); có 28 loài thú thuộc 13 họ; 6 loài lưỡng cư thuộc 4 họ và 34 loài bò sát thuộc 14 họ. Nhiều loài bò sát ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được ghi trong Sách đỏ của Việt Nam và Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN).

Ngoài ra, khu vực này còn có 74 loài chim thuộc 23 họ, trong đó có 28 loài chim di trú và nhiều loài quý hiếm.

Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là một trong những địa điểm quan trọng thuộc chương trình quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và vùng châu Á-Thái Bình Dương.

Hệ thống đê bao bêtông vững chắc chống xâm thực vào đất liền bao quanh Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau. Đây là điểm cuối cùng của lãnh thổ Việt Nam, nơi du khách có thể ngắm nhìn mặt trời mọc ở biển Đông và lặn ở phía biển Tây. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Nơi đây có hệ sinh thái rất đa dạng, đặc trưng là hệ động thực vật rừng ngập mặn. Thực vật đặc trưng gồm: sú, vẹt, đước, mắm, tràm….

Động vật khu vực này đa dạng, gồm có rùa, rắn, trăn, cua, các loại cá nước lợ, ba khía, sóc…

Bên cạnh mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau còn là nơi thích hợp để phát triển một số loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu khoa học ở khu cấm nghiêm ngặt; tham quan khu nuôi thú rừng; vui chơi, giải trí tại Khu du lịch Công viên Văn hóa Đất Mũi và khu dịch vụ tại trụ sở Vườn quốc gia.Vườn quốc gia U Minh Hạ có tổng diện tích 8.286ha, nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An (huyện U Minh) và các xã Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời).

Vườn có 3 phân khu chính gồm khu bảo tồn hệ sinh thái rừng trên đất than bùn; phân khu phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập nước và phân khu dịch vụ hành chính.

Vườn Quốc gia U Minh Hạ được lập trên cơ sở chuyển từ Khu bảo tồn Vồ Dơi nhằm bảo tồn, tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù, rừng tràm trên lớp đất than bùn đặc biệt mà không nơi nào trên thế giới có được.

Hệ thực vật rừng có 176 loài, trong đó loài tràm (Melaleuca cajuputii) là loại cây đặc trưng nhất. Tràm chiếm đa số nên người ta đặt tên rừng tràm vì lẽ đó.

Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là điểm cuối cùng của lãnh thổ Việt Nam, nơi du khách có thể ngắm nhìn mặt trời mọc ở biển Đông và lặn ở phía biển Tây. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Rừng tràm U Minh Hạ hiện cũng là một điểm tham quan hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến Cà Mau. Với lợi thế cây tràm giúp rừng U Minh Hạ có được đặc sản mật ong rừng tự nhiên sánh vàng, ngọt mát.

Rừng đặc dụng phòng hộ ven biển (biển Tây tỉnh Cà Mau) là nơi nối dài và chuyển tiếp giữa hai hệ sinh thái ngập mặn và ngập nước ngọt theo mùa, hình thành nhiều cảnh quan đặc sắc…

Rừng tương đối phong phú về hệ động thực vật. Trong đó chiếm ưu thế thuộc về loài đước đen, mắm trắng, mắm đen, mắm ổi, vẹt dù với quần thể thực vật gồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây đước, cây vẹt và rừng mắm. Rừng phòng hộ biển Tây Cà Mau có diễn thể tự nhiên của rừng ngập mặn ưu thế bởi cây mắm và cây đước, nhất là tại các cù lao cửa sông.

Đây là vành đai tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với tỉnh Cà Mau và cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong công tác duy trì và bảo vệ các hệ sinh thái bên trong khỏi các thiên tai, các biến cố thời tiết như bão, lũ lụt, tạo sự cân bằng cho môi trường.

Một góc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển thuộc Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau nhìn từ trên cao. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Do ảnh hưởng hệ thống dòng chảy của biển Đông và dòng chảy của biển Tây và với sự góp phần của 2 con sông lớn là sông Cái Lớn và sông Bảy Háp đã hình thành nên vùng bãi bồi Mũi Cà Mau nằm ở phía tây huyện Ngọc Hiển. Mỗi năm, nhờ phù sa bồi đắp, vùng đất bãi bồi lấn thêm ra biển gần 100 mét. Đất lấn biển tới đâu thì rừng cũng đi theo tới đó, làm cho đất nước ta thêm dài, thêm rộng.

Quá trình hoạt động của các dòng chảy này tạo ra nguồn cung cấp các loài phiêu sinh động thực vật dồi dào cho môi trường rừng ngập mặn; đồng thời làm cho quá trình lắng đọng phù sa diễn ra nhanh chóng và thúc đẩy Mũi Cà Mau không ngừng vươn ra phía tây.

Bảo tồn, phát triển bền vững

Tháng 5/2009, cùng với Cù Lao Chàm-Hội An (Quảng Nam), Mũi Cà Mau (Cà Mau) đã được UNESCO chính thức đưa vào danh sách Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đây cũng là địa danh được công nhận là Khu Du lịch quốc gia.

Việc Mũi Cà Mau được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới đã góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập nước và bảo tồn các giá trị nhân văn phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Mốc toạ độ Quốc gia tại Mũi Cà Mau số GPS 0001, biếu tượng tiểu cảnh panô Mũi Cà Mau cánh buồm căng đầy gió hướng ra biển có vị trí 8°37’30’’ vĩ độ Bắc, 104°43’ kinh độ Đông, tọa lạc tại Ấp Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau yêu cầu các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp triển khai thực hiện Quyết định số 36 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về Ban hành quy chế quản lý Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau, có hiệu lực từ đầu năm 2021.

Việc Mũi Cà Mau được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới đã góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập nước và bảo tồn các giá trị nhân văn phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Giám đốc Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển và các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp thực hiện tốt quy chế quản lý Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, thủy sản và phát triển bền vững Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước Quốc tế.

Ủy ban Nhân dân các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn và Ngọc Hiển phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau trên phạm vi địa giới hành chính của địa phương theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Đất Mũi Cà Mau nhìn từ trên cao. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Nội dung quản lý Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau tập trung vào việc quản lý tổng thể nhằm hướng đến mục tiêu điều hòa các mối quan hệ giữa con người và môi trường để đảm bảo sự cân bằng của hệ sinh thái nhân văn trong phạm vi Khu sinh quyển; phát triển kinh tế-xã hội kết hợp bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học.

Lĩnh vực quản lý hành chính sẽ tập trung vào các nội dung chính như điều tra, đánh giá, lập kế hoạch quản lý, sử dụng tài nguyên lâm nghiệp, thủy sản; bảo vệ đa dạng sinh học; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; bảo vệ môi trường đối với các làng nghề; quản lý xây dựng công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong các phân khu; phát triển du lịch sinh thái; hợp tác trong nước và quốc tế./.

Hậu giãn cách: Lộ trình phục hồi cho du lịch Việt

Hậu giãn cách: Lộ trình phục hồi cho du lịch Việt

Việt Nam đang trên lộ trình dần “hé cửa” bầu trời khi gần đây nhất, vào chiều 4/9, sân bay Vân Đồn (Quảng Ninh) đón chuyến bay quốc tế đầu tiên, thí điểm chương trình cách ly y tế bảy ngày của Bộ Y tế.

Đây cũng được coi là tiền đề ngành du lịch triển khai chỉ đạo của Bộ Chính trị trong việc thí điểm đón khách quốc tế đến một số trung tâm du lịch có thể kiểm soát được dịch bệnh, như Phú Quốc (Kiên Giang) thời gian tới.

Quan trọng là, để cuộc sống sớm quay về trạng thái bình thường, mọi hoạt động kinh tế-trong đó có du lịch, mau chóng hồi phục và các doanh nghiệp đang như “cá mắc cạn” sớm được vùng vẫy trở lại… thì “thẻ thông hành xanh” (hộ chiếu vaccine hay còn gọi giấy chứng nhận tiêm chủng COVID-19) được coi như giải pháp khả thi đối với các cơ quan quản lý trong bối cảnh mới.

Thế nhưng, hiểu thế nào cho đúng về bản chất của tấm giấy này để quyền lợi của người dân được tôn trọng, để “lá bài” đó không cản trở ngành công nghiệp không khói “xanh” trở lại và đặc biệt, Việt Nam có thể học hỏi gì từ thực tế câu chuyện này ở các nước trên thế giới mới là việc đáng bàn.

Vậy thực tế, ngành du lịch đã và đang chuẩn bị lộ trình ra sao cho “ngày vui” trở lại? Và đặc biệt, ngành du lịch cần bắt đầu lại từ đâu để phục hồi hậu giãn cách? Báo điện tử Vietnamplus xin trân trọng giới thiệu loạt bài “Hậu giãn cách: Lộ trình phục hồi cho du lịch Việt” để bạn đọc hiểu rõ và có thể sớm đồng hành với các kế hoạch “xê dịch” an toàn trong bối cảnh dịch bệnh.

Bài 3: Định vị thương hiệu du lịch quốc gia – Chớ nên ‘ăn mày dĩ vãng’

Định vị thương hiệu du lịch quốc gia:

Chớ nên ‘ăn mày dĩ vãng’

Mặc dù cả nước vẫn đang vật lộn trong cuộc chiến với COVID-19, các đơn vị kinh doanh dịch vụ bầm dập vì đại dịch… thì toàn ngành du lịch không vì thế mà “chịu chết.”

Thời điểm này, Chính phủ, các cấp quản lý đã và đang vạch ra lộ trình dài hơi cho nền kinh tế xanh phục hồi, doanh nghiệp ngày ngày nỗ lực bám trụ đến hơi thở cuối cùng với tinh thần không bao giờ bỏ cuộc…

Song, giữa ngổn ngang trăm mối vẫn có một bài toán đặt ra và cần làm rõ là du lịch Việt sẽ bắt đầu từ đâu hậu COVID-19?


Định vị thương hiệu thế nào?

Tạm đặt sang một bên những “gánh lo” sinh kế làm sao doanh nghiệp có thể tồn tại đến hồi “thái lai,” đưa du lịch cất cánh trở lại, có một việc ngành công nghiệp không khói cần và có thể làm ngay là định vị thương hiệu quốc gia.

Bởi những năm tới đây, khi đại dịch được kiểm soát, du lịch thế giới chắc chắn sẽ bùng nổ sau thời gian dài kìm nén. Vậy, giữa cả kho tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và con người nhiều tiềm năng của Việt Nam, các cấp quản lý cần chọn tài nguyên nào vượt trội nhất, mạnh nhất xây dựng thành thương hiệu du lịch quốc gia, để hễ nhắc đến Việt Nam du khách nghĩ ngay đến sản phẩm đó.

Làng nghề thủ công mỹ nghệ ở Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Đáng tiếc cho đến nay, chúng ta vẫn chưa chỉ rõ được chính xác “kim chỉ nam” đó là gì để doanh nghiệp trên cả nước cũng như các địa phương tập trung xây dựng và khai thác sản phẩm cho trúng.

Chủ tịch Hội đồng quản trị Lux Group (Tập đoàn chuyên cung ứng các dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp), ông Phạm Hà chia sẻ: “Theo hơn 20 năm kinh nghiệm làm du lịch của tôi, bằng tình yêu với du lịch và sự hiểu biết về đất nước mình, Việt Nam nên định vị thương hiệu quốc gia là điểm đến di sản.”

Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có tới 39 di sản; trong đó có 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận, 12 di sản văn hóa phi vật thể, 7 di sản tư liệu, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới và 3 công viên địa chất toàn cầu.

Theo ông Hà, bất cứ vùng miền nào ở Việt Nam cũng có những di sản vật thể hoặc phi vật thể. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có tới 39 di sản; trong đó có 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận, 12 di sản văn hóa phi vật thể, 7 di sản tư liệu, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới và 3 công viên địa chất toàn cầu.

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, quần thể danh thắng Tràng An… chính là những “nam châm” hút khách quốc tế, có thể đưa Việt Nam trở thành điểm đến di sản hấp dẫn hàng đầu.

Bằng chứng là Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards-WTA) đã vinh danh Việt Nam là “Điểm đến di sản hàng đầu thế giới” hai năm liên tiếp (2019-2020).

Khám phá bao la biển gọi Việt Nam.

Có thể nói “mỏ kim cương” di sản ở Việt Nam cần được trân quý, bảo tồn, nâng tầm cao mới, tôn vinh và lan tỏa mạnh mẽ bằng cách trở thành một thương hiệu du lịch quốc gia, để khách quốc tế phải trầm trồ và tò mò, khao khát được đến tận nơi trải nghiệm.

“Xây dựng di sản thành thương hiệu du lịch quốc gia nhưng phải sáng tạo, không ‘ăn mày di sản’ hay ‘ăn mày dĩ vãng,’ càng không thể vì mục đích tăng giá trị di sản mà phá đi làm lại. Phải làm sao để khách du lịch khắp nơi trên thế giới được chiêm ngưỡng di sản và tôi tin họ có quyền thưởng thức di sản đúng như giá trị vốn có của nó,” ông Hà nhấn mạnh.

Di sản sẽ mở đường, dẫn lối?

Chọn di sản không có nghĩa những tiềm năng, loại hình khác bị bỏ rơi, không có nghĩa “em xinh em đứng một càng xinh.” Bởi chỉ cộng sinh mới tạo ra nhiều hơn một giá trị cốt lõi.

Từ du lịch di sản có thể dễ dàng thiết lập mạng lưới, cùng khai thác các loại hình khác. Du khách quốc tế hay khách nội địa vì muốn chiêm ngưỡng di sản sẽ đến tận nơi, nhưng họ cũng cần những trải nghiệm khác như tìm hiểu văn hóa, ẩm thực bản địa, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe-sắc đẹp, chơi golf hay tham gia các sự kiện như show biểu diễn nghệ thuật, đua xe công thức 1, marathon…

Câu chuyện về thương hiệu và liên kết cũng đã được đề cập trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030 với nội dung: “Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành du lịch, bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển đồng bộ, bền vững và hội nhập quốc tế; chú trọng liên kết giữa ngành du lịch với các ngành, lĩnh vực khác trong chuỗi giá trị hình thành nên các sản phẩm du lịch để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.”

“Xây dựng, phát triển và định vị thương hiệu du lịch quốc gia gắn với hình ảnh chủ đạo, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đến năm 2030, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 47-50 triệu lượt, du lịch đóng góp khoảng 14-15% GDP và nâng tỉ trọng khu vực dịch vụ trong GDP lên trên 50%.”

Điều đáng nói là định vị thương hiệu quốc gia được xác định, nhưng trong chiến lược lại không chỉ rõ định vị thương hiệu đó là gì, tập trung vào đâu, cách làm như thế nào?

Vậy làm sao để du lịch di sản sớm trở thành bệ đỡ, giúp nền kinh tế xanh nhanh chóng phục hồi sau cơn “sóng thần COVID”? Không gì khác chính là chuyển đổi số, đáp án chung của hầu hết các chuyên gia.

“Công nghệ điện toán đám mây sẽ đồng hành với du lịch Việt Nam trong tương lai. Vì thế, chuyển đổi số cần được thực hiện càng sớm càng tốt, hỗ trợ nâng tầm và lan tỏa di sản Việt. Thời điểm này đã khác trước lắm rồi, ai ‘ăn cắp’ sản phẩm, ‘ăn cắp’ thương hiệu sẽ ‘chết’ ngay. Tất cả là nhờ chuyển đổi số,” ông Phạm Hà khẳng định.

Di sản Việt Nam giống như nguồn nguyên liệu tươi ngon đang sẵn trong vườn, chỉ chờ một bếp trưởng có tay nghề và cái tâm thấu hiểu “khẩu vị” khách du lịch để chế biến thành “đặc sản” hấp dẫn nữa thôi.

Và thực tế, cả thế giới đã và đang trải qua cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chiếc “bánh xe” lịch sử mang tên chuyển đổi số đang lăn qua tất cả các ngành nghề, lĩnh vực.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Nguyễn Văn Hùng cũng nhận thức rõ giá trị và vai trò của di sản đối với du lịch Việt. Trong một cuộc họp gần đây với Tổng cục Du lịch, Bộ trưởng chỉ đạo cần phải có giải pháp phát huy giá trị di sản, di tích thông qua du lịch.

Ông Hùng nhấn mạnh việc cần ngay chương trình phối hợp với Tổng Cục du lịch để triển khai đồng bộ việc phát huy giá trị di sản, tạo điểm đến hấp dẫn. Việt Nam được các tổ chức quốc tế xếp hạng là điểm đến hàng đầu về di tích di sản, lợi thế này cần phát huy…

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng.

Để tổng rà soát các di sản, di tích đã được xếp hạng, Bộ trưởng yêu cầu cần có nghiên cứu bài bản để báo cáo lãnh đạo Bộ thống nhất chủ trương, lộ trình thời gian tới.

Có thể nói, với chủ trương này, di sản Việt Nam giống như nguồn nguyên liệu tươi ngon đang sẵn trong vườn, chỉ chờ một bếp trưởng có tay nghề và cái tâm thấu hiểu “khẩu vị” khách du lịch để chế biến thành những món “đặc sản” hấp dẫn nữa thôi.

Câu chuyện về thương hiệu và liên kết cũng đã được đề cập trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030 với nội dung: “Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành du lịch, bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển đồng bộ, bền vững và hội nhập quốc tế; chú trọng liên kết giữa ngành du lịch với các ngành, lĩnh vực khác trong chuỗi giá trị hình thành nên các sản phẩm du lịch để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.”

Xuân Mai
Xuân Mai

Bài 4: Gỡ “nút thắt” cho du lịch phục hồi hậu giãn cách

Bài 2: ‘Cách mạng xanh’ để phục hồi du lịch hậu COVID-19

“Cách mạng xanh” để phục hồi du lịch hậu COVID-19

Thời gian qua, nhiều “thành trì” vững chãi đã tan hoang vì dịch bệnh. Mặc dù chưa có cách để hoàn toàn thoát khỏi “cơn bão hủy diệt” COVID-19, nhưng các chuyên gia cũng như lãnh đạo ngành du lịch đã bắt đầu tính toán lộ trình phục hồi dài hơi hơn và có trọng tâm, trọng điểm cho nền kinh tế xanh.

Năm năm tới (2021-2025) được xác định là giai đoạn du lịch cần được xốc lại đồng bộ để phục hồi và phát triển bứt phá sau đại dịch, trong đó sản phẩm du lịch là vấn đề cốt lõi cần hoàn thiện nếu muốn thiết lập các hoạt động liên quan.


Đa dạng “món ăn” từ văn hóa bản địa

Không phải tới khi dịch bệnh ập đến câu chuyện xây dựng một hệ thống sản phẩm du lịch sáng tạo, phù hợp với nhu cầu thị trường mới được bàn tới, nhưng có lẽ phải khi bị dồn vào “chân tường” tất cả mới bừng tỉnh. Bừng tỉnh nhận ra không thể chậm trễ hơn để làm một cuộc “cách mạng xanh.”

Theo Giám đốc Công ty lữ hành Hanoitourist, ông Phùng Quang Thắng, mỗi giai đoạn phát triển nhất định cần đánh giá và xác định sản phẩm chủ đạo để tạo ra cú hích, lợi thế cạnh tranh, thương hiệu du lịch, hiệu quả kinh tế và thúc đẩy các loại hình sản phẩm du lịch khác phát triển theo.

Là chuyên gia lâu năm trong nghề, ông Thắng cho rằng với những thế mạnh về tài nguyên và các nguồn lực khác, sản phẩm du lịch biển, đảo và du lịch văn hóa chính là mạch nguồn cho phát triển du lịch giai đoạn tới.

Khám phá Việt Nam, điểm đến văn hóa, ẩm thực.

Bởi lẽ biển, đảo Việt Nam có lợi thế tạo nhiều sức hút cho điểm đến như rất gần điểm du lịch văn hóa, sinh thái, du lịch nông nghiệp, sân golf… Hơn nữa, phần lớn các khu du lịch biển hiện nay đều được đầu tư lớn, đồng bộ với nhiều dịch vụ, kể cả vui chơi giải trí nhằm kéo dài thời gian lưu trú của khách.

Khám phá văn hóa bản địa đang là xu hướng được số đông lựa chọn và nhu cầu này lại là thế mạnh của văn hóa đa sắc tộc Việt Nam. Đặc biệt, lợi thế văn hóa ẩm thực phong phú, hấp dẫn, đã có những món ăn nổi tiếng thế giới như phở, nem, bánh mỳ… sẽ giúp hệ thống sản phẩm của du lịch trong nước chinh phục cả những du khách khó tính.

Xây dựng sản phẩm văn hóa mang giá trị cốt lõi, là bản sắc độc đáo của mỗi địa phương sẽ là “chìa khóa” giúp du lịch Việt hậu COVID chinh phục du khách.

Nhiều chuyên gia nhận định muốn du lịch phục hồi nhanh sau đại dịch, muốn lượng du khách quốc tế và nội địa tăng trưởng mạnh, cần xây dựng những sản phẩm du lịch văn hóa mang giá trị cốt lõi, là bản sắc độc đáo của mỗi địa phương và đặc biệt phải có tính sáng tạo cao.

Chẳng phải đâu xa, cứ nhìn sang những người bạn láng giềng để học hỏi cách mà họ đưa văn hóa nghệ thuật trở thành sản phẩm trình diễn ăn khách, mới thấy chúng ta đã bỏ phí nguồn tài nguyên văn hóa cho khai thác du lịch thế nào.

Hình ảnh trong show diễn thực cảnh “Tinh hoa Bắc Bộ.”

Trương Nghệ Mưu với các chương trình nghệ thuật hoành tráng của ông đã “làm mưa làm gió” ở Trung Quốc bao năm qua; hay các chương trình biểu diễn The Queen’s Banquet Show, Ba Silla, Pang Show, Jump Show ở Hàn Quốc; Show Cookin’ Nanta, Bangkok Siam Niramit, Show Calypso Cabaret Bangkok, Show trình diễn voi và cá sấu tại Samphran, Show Muay Thái ở Thái Lan… luôn chật kín khách nước ngoài, tạo nguồn thu lớn cho du lịch nước sở tại.

Đáng tiếc ở Việt Nam, sản phẩm du lịch gắn với loại hình biểu diễn văn hóa nghệ thuật chưa nhiều, quy mô còn khiêm tốn như: Rối nước Thăng Long, Ấn tượng Hội An, Tinh hoa Bắc Bộ, À ố show, múa cung đình Huế, Du ca đất Việt Nam, Làng tôi…

Thực tế trên cứ mãi dai dẳng là bởi mặc dù chủ trương từ phía các cơ quan quản lý thì có nhưng thiếu “nhạc trưởng” và sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa các đơn vị văn hóa nghệ thuật và du lịch.

Mở lối cho công nghiệp sáng tạo

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực du lịch cho rằng thời điểm này việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa chính là cách hiệu quả để tạo ra cơ hội mới, nguyên liệu mới, sản phẩm và dịch vụ mới nhằm thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa nói riêng, ngành kinh tế xanh nói chung.

Song, thời điểm này việc đầu tư vào công nghiệp văn hóa phải bỏ “tiền tấn” trong thời gian dài mà chỉ thu về “tiền lẻ” nên các nhà đầu tư mới không mấy mặn mà.

Tuy nhiên, trong lộ trình phục hồi du lịch, lãnh đạo ngành khẳng định cần thiết phải phát triển công nghiệp văn hóa. Vậy, lộ trình này sẽ phải bắt đầu từ đâu và làm thế nào cho bền vững?

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, tiến sỹ Hà Văn Siêu cho biết muốn thu hút đầu tư vào công nghiệp văn hóa, trước tiên cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, các công trình phục vụ dân sinh để tạo thuận lợi phát triển du lịch văn hóa.

Theo ông Siêu: “Nhà nước cần ban hành chính sách cụ thể, xây dựng đề án quy hoạch, bố trí quỹ đất, đầu tư cho các dự án phát triển không gian công cộng, điểm du lịch văn hóa, vui chơi giải trí, nghệ thuật biểu diễn… đồng thời xây dựng các chính sách ưu đãi, đẩy mạnh tuyên truyền, xúc tiến đầu tư phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo sẵn có lợi thế, tiềm năng.”

“Cần kêu gọi các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các hoạt động sáng tạo văn hóa, sản xuất sản phẩm và dịch vụ văn hóa; phát triển mạng lưới doanh nghiệp, trong đó hình thành một số tập đoàn lớn về công nghiệp văn hóa ở các lĩnh vực thế mạnh…”

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải đổi mới tư duy mạnh mẽ, coi truyền thống văn hóa-lịch sử là một nguồn lực, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển xanh trong giai đoạn mới.

Trong lộ trình phát triển, chắc chắn không thể thiếu việc đa dạng hóa các mô hình đầu tư, đặc biệt mô hình hợp tác công-tư (PPP); khuyến khích hình thành và phát triển các loại quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ, quỹ giải thưởng trong lĩnh vực văn hóa.

Chuyên gia du lịch còn cho rằng cần có chiến lược đào tạo đội ngũ kế cận có trình độ chuyên môn cao, am hiểu về công nghiệp văn hóa và biết áp dụng khoa học công nghệ; đẩy mạnh đổi mới và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu giữ các sản phẩm văn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa. Đặc biệt, ngành du lịch cần xây dựng và phát triển các chương trình quảng bá thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp Việt Nam tại các sự kiện quốc tế.

Phó Tổng cục trưởng Hà Văn Siêu.

Để các hoạt động có thể trơn tru, quan trọng nhất là các cơ quan quản lý nhà nước cần tạo “môi trường xanh,” điều kiện thông thoáng nhằm khai thác, phát huy những tiềm năng, giá trị đặc sắc của từng địa phương gắn với phát triển du lịch, từ đó mới có thể gia tăng giá trị kinh tế đồng thời quảng bá hình ảnh con người, đất nước và văn hóa Việt Nam.

Mới đây, trong buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng đã đề nghị Bộ này phải đổi mới tư duy mạnh mẽ, coi truyền thống văn hóa-lịch sử là một nguồn lực, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển xanh trong giai đoạn mới.

Thủ tướng nhấn mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí phải dựa trên nền tảng văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc, tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước và những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Điều này cho thấy, Chính phủ và các cấp quản lý nhà nước đều đã xác định lộ trình cho du lịch Việt phục hồi hậu COVID-19 và công nghiệp văn hóa chính là chiếc “chìa khóa vàng.”

Xuân Mai
Xuân Mai

Bài 3: Định vị thương hiệu du lịch quốc gia – Chớ nên ‘ăn mày dĩ vãng’

Bài 4: Gỡ “nút thắt” cho du lịch phục hồi hậu giãn cách

Gỡ “nút thắt” cho du lịch phục hồi hậu giãn cách

Đại dịch COVID-19 với sức tàn phá khủng khiếp đã xác lập một “trật tự thế giới mới” cho ngành du lịch. Đặc biệt, dịch bệnh đã khiến nền kinh tế xanh vướng phải nhiều “nút thắt” cần tháo gỡ nếu muốn sớm phục hồi hậu giãn cách.


Sống chung an toàn với COVID

Để có thể khởi động phục hồi du lịch nội địa trong giai đoạn bình thường mới, theo Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam, ông Vũ Thế Bình, vấn đề cốt lõi là cần làm rõ để hiểu đúng và làm trúng theo khái niệm du lịch an toàn. “Chúng ta nói rất nhiều đến du lịch an toàn, vậy thì tiêu chí của du lịch an toàn là gì, quan điểm phát triển du lịch ở các địa phương cần phải được thống nhất ra sao,” ông Bình đặt câu hỏi.

Những vấn đề đó sẽ được giải quyết khi Hiệp hội Du lịch triển khai “Chương trình khôi phục du lịch nội địa toàn quốc, khắc phục hậu quả của đại dịch COVID-19,” nhằm rút ra những kinh nghiệm cần thiết trong việc điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với tình hình mới, đó là phát triển trong bối cảnh sống chung an toàn với COVID-19.

Tuy nhiên, sau quãng dài cầm cự, doanh nghiệp cũng như nguồn nhân lực của ngành đã rơi xuống “đỉnh đáy.” Do đó, việc khởi động lại hoạt động du lịch sẽ gặp nhiều khó khăn.

Trẻ em khám phá thế giới động vật ở đảo ngọc Phú Quốc.

“Khó khăn nhất hiện nay là chúng ta chưa hiểu rõ khái niệm an toàn du lịch. An toàn du lịch thời điểm này có phạm vi rất rộng, ví dụ đi an toàn, ở an toàn, dịch vụ phải an toàn, gặp gỡ những người an toàn và đến những điểm an toàn. Từng đó hoạt động đều phải thể hiện rõ bằng các tiêu chí cụ thể và phải sớm xây dựng hoàn thiện bộ tiêu chí,” ông Bình nhấn mạnh.

Khó khăn thứ hai được vị chuyên gia này nếu ra là vấn đề nhận thức. Bởi thực tế có nhiều địa phương đang rất tích cực khởi động lại du lịch, coi du lịch như công cụ để phục hồi kinh tế, nhưng có nhiều địa phương quá lo sợ vấn đề an toàn dịch bệnh nên ngần ngại “mở cửa.”

Để sớm “mở cửa bầu trời,” du lịch không chỉ thụ động chờ đợi quyết sách từ Chính phủ, mà các cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp, địa phương cũng cần chủ động gia tăng hàm lượng giá trị văn hóa, giá trị dịch vụ…

Vì thế, cần làm rõ và hiểu rõ khái niệm “vùng xanh.” Vùng xanh ở đây là những điểm nhỏ như một phường, một xã an toàn, thậm chí một ngôi chùa… an toàn vẫn có thể đi tham quan được, không nhất thiết cứ phải một tỉnh an toàn. Đó là khái niệm lạc hậu cần thay đổi.

“Để triển khai chương trình khôi phục du lịch nội địa sẽ rất vất vả vì cần phải thống nhất được nhận thức, đồng bộ với nhau trong các hoạt động của ngành. Nhưng nếu không có mở đầu thì sẽ khó có thể giải quyết được các nút thắt,” ông Bình khẳng định.

Cần gia tăng ‘sức mạnh mềm’

Để có thể sớm “mở cửa bầu trời,” du lịch không chỉ thụ động chờ đợi những quyết sách từ Chính phủ, mà các cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp, địa phương cần chủ động tự gia tăng hàm lượng giá trị văn hóa, giá trị dịch vụ…

Về vấn đề này, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch, tiến sỹ Hà Văn Siêu cho rằng đại dịch khiến nhu cầu và tâm lý du khách thay đổi rất nhiều. Lượng khách tới các điểm đến được dự báo sẽ không còn đông như trước nữa, chi tiêu của họ cũng sẽ căn cơ chứ không vô tư nữa do ảnh hưởng về kinh tế.

Thực tế buộc những người kinh doanh dịch vụ du lịch phải chuẩn bị tâm thế sẵn sàng những sản phẩm, dịch vụ chất lượng, gia tăng hàm lượng về văn hóa cũng như đầu tư sức sáng tạo nhiều hơn, tinh tế hơn, sao cho đúng, trúng nhu cầu.

“Với yêu cầu đó, họ phải đặt yếu tố an toàn lên hàng đầu đồng thời chuẩn bị những sản phẩm, dịch vụ có chiều sâu, được thiết kế công phu, mang lại giá trị gia tăng lớn, để chi tiêu của 50 du khách bây giờ bằng doanh thu từ 100 du khách trước kia. Muốn làm được điều đó, cần sáng tạo dựa trên những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc,” ông Siêu chia sẻ.

Đặc biệt, trong bối cảnh COVID-19 bùng phát phức tạp như hiện nay, để chuẩn bị cho chặng đường dài phục hồi sắp tới, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch nên tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ, loại hình du lịch văn hóa nào để ngay khi “hé cửa” là có ngay cơ hội rút hầu bao du khách?

Theo vị chuyên gia này, để cho khách thưởng thức một món ăn, ngoài việc chế biến công phu, vừa ngon vừa bắt mắt còn phải có không gian ẩm thực thoải mái, đặc biệt cần câu chuyện, nguồn gốc của món ăn. Bên cạnh đó là những dịch vụ đi kèm như tạo điều kiện để du khách được trải nghiệm một trong những công đoạn làm ra món ăn đó, có vậy mới tạo được giá trị văn hóa gia tăng cho chuyến đi của du khách.

Như vậy, phát triển ngành công nghiệp văn hóa chính là góp phần tạo ra cơ hội mới, nguyên liệu mới, sản phẩm và dịch vụ mới để thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa nói riêng, nền kinh tế xanh nói chung trong tương lai.

Khám phá đảo ngọc Phú Quốc.

“Ở chiều ngược lại, phát triển du lịch sẽ đánh thức yêu cầu cần phải đẩy mạnh đầu tư cho phát triển công nghiệp văn hóa cũng như mang về nguồn thu không nhỏ để tái đầu tư, bảo tồn và phát triển công nghiệp sáng tạo nói riêng, nền văn hóa dân tộc nói chung. Đó là lợi ích kép, là sự chia sẻ, phân phối công bằng,” ông Siêu khẳng định.

Dẫu còn đó ngổn ngang những khó khăn thì các cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp vẫn đang gấp rút “xốc” lại tinh thần, kiện toàn bộ máy và hoàn thiện kế hoạch phục hồi nền kinh tế xanh đang nhuốm một màu xám xịt. Tương lai là câu chuyện của ngày mai, nhưng ngày mai sẽ luôn bắt đầu với những ánh bình minh tươi sáng, rạng rỡ.

Xuân Mai
Xuân Mai

Xét nghiệm đại trà – giải pháp dập dịch thần tốc của Trung Quốc

XÉT NGHIỆM ĐẠI TRÀ: GIẢI PHÁP DẬP DỊCH THẦN TỐC CỦA TRUNG QUỐC

Trong bối cảnh biến thể Delta có tốc độ lây nhiễm siêu nhanh vẫn đang hoành hành dữ dội tại nhiều nơi trên thế giới, Trung Quốc đã nhiều lần dập dịch thành công chỉ trong khoảng từ 4-5 tuần các đợt lây nhiễm mới.

Cùng với một loạt giải pháp chống dịch khác như đẩy mạnh tốc độ tiêm vaccine ngừa COVID-19 cho người dân, đạt tỷ lệ tiêm vaccine bao phủ ít nhất 80% dân số gần 1,4 tỷ người, phong tỏa nghiêm ngặt trong phạm vi hẹp tại ổ dịch…, gần đây Trung Quốc đã áp dụng rộng rãi biện pháp xét nghiệm đại trà mỗi khi phát hiện ca nhiễm mới tại một địa phương.

Giải pháp này đã nhanh chóng chứng tỏ hiệu quả khi việc xét nghiệm đại trà liên tục nhiều lần đã giúp nhanh chóng sàng lọc và phân loại F0 để khống chế lây nhiễm, qua đó giúp Trung Quốc kiểm soát các ổ dịch một cách thần tốc, nhanh chóng đưa địa phương trở lại cuộc sống bình thường.

Biện pháp xét nghiệm đại trà đã được Trung Quốc áp dụng nhiều lần từ năm ngoái, nhưng mới chỉ ở quy mô nhỏ trong một tỉnh thành. Việc triển khai xét nghiệm đại trà ở quy mô một thành phố được nước này áp dụng lần đầu tiên tại thành phố cảng Thanh Đảo thuộc tỉnh Sơn Đông vào giữa tháng 10 năm ngoái, sau khi thành phố hơn 9 triệu dân này phát hiện 6 ca mắc COVID-19.

Kể từ đó, biện pháp này đã được nhân rộng ra nhiều nơi ở Trung Quốc và chuyện một thành phố với hàng chục triệu dân đi xét nghiệm COVID-19 liên tục từ 6-12 lần chỉ trong vòng khoảng 3 tuần diễn ra phổ biến.

Trong đợt bùng phát dịch do biến thể Delta hồi giữa tháng 7 vừa qua, nhiều thành phố có dân số từ 4,5-12 triệu người đã tiến hành xét nghiệm đại trà toàn dân ít nhất 6 lần.

Thủ phủ Nam Kinh của tỉnh miền Đông Giang Tô, nơi phát hiện ổ dịch xuất phát điểm của đợt lây nhiễm này, đã xét nghiệm axit nuclieic cho toàn bộ hơn 9,3 triệu dân ít nhất 6 lần. Dương Châu một thành phố khác cũng ở tỉnh Giang Tô với quy mô dân số lên tới 17,6 triệu người, thậm chí còn tiến hành tới 12 đợt xét nghiệm cho toàn bộ người dân chỉ trong 3 tuần tính từ ngày 28/7.

Tất cả những nơi này đều đã ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của dịch bệnh. Đến cuối tháng 8, đợt dịch này đã cơ bản được khống chế tại hầu hết các địa phương.

Người dân đợi xét nghiệm COVID-19 tại một điểm xét nghiệm ở huyện Tiên Du, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. (Ảnh: THX/TTXVN)

Làm thế nào để Trung Quốc có thể tiến hành xét nghiệm đại trà rất nhanh và an toàn? Tốc độ và khoa học là hai yếu tố then chốt quyết định việc này.

Ngay từ hồi tháng 2 vừa qua, Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc đã đặt ra một quy trình cụ thể cho việc xét nghiệm đại trà nhằm đối phó tốt hơn với khả năng đại dịch COVID-19 trỗi dậy do biến thể Delta.

Theo quy trình này, giả sử việc xét nghiệm axit nucleic hàng loạt cần được thực hiện ở một thành phố với hơn 5 triệu dân thì công việc đó sẽ được hoàn thành trong vòng từ 3-5 ngày.

Đối với các thành phố dưới 5 triệu dân, thời hạn hoàn thành xét nghiệm toàn dân là 2 ngày. Tuy nhiên, mới đây, quy trình này đã được Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc cập nhật theo hướng đẩy nhanh tốc độ xét nhiệm.

Cụ thể, với một thành phố hơn 5 triệu dân, việc xét nghiệm axit nucleic sẽ được hoàn thành chỉ trong vòng 3 ngày, còn các thành phố dưới 5 triệu dân, thời hạn hoàn thành xét nghiệm toàn dân vẫn là 2 ngày. Cũng theo quy trình mới được cập nhật, khi cần thiết, các thành phố có dân số hơn 5 triệu người có thể đăng ký sự hỗ trợ quốc gia để hoàn thành xét nghiệm trong khung thời gian 3 ngày.

Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc nhấn mạnh, việc cập nhật trên nhằm mục đích nâng cao hơn nữa khả năng của Trung Quốc trong việc tổ chức và tiến hành xét nghiệm axit nucleic đại trà, đồng thời cho thấy rằng nước này có thể đối phó hiệu quả với bất kỳ đợt tái bùng phát nào xảy ra do biến thể Delta.

Tùy theo tình hình dịch bệnh mà ngành y tế Trung Quốc tiến hành xét nghiệm theo mẫu gộp 6, gộp 10 hay lấy mẫu đơn nếu dịch diễn biến nghiêm trọng.

Đơn cử như trong đợt dịch vừa qua, thành phố Vũ Hán (tâm dịch ở Trung Quốc hồi đầu năm ngoái) với dân số 12 triệu dân, ghi nhân hơn 10 ca nhiễm, thành phố này đã huy động 28.000 nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm trong vòng chưa đến 5 ngày, và xét nghiệm toàn bộ dân số ít nhất 6 lần.

Để thực hiện xét nghiệm thần tốc như vậy, điều quan trọng là Trung Quốc đã sáng chế ra phòng xét nghiệm bơm hơi dã chiến Chim Ưng (Falcon), với khả năng cho kết quả tới 200.000 mẫu/ngày.

Gần đây, tại các tỉnh Phúc Kiến, Giang Tô, Hồ Bắc, chính quyền đã triển khai phòng thí nghiệm bơm hơi Chim Ưng, với thời gian xây dựng chỉ trong chưa đầy 3 ngày.

Như vậy, nếu với mẫu gộp 6 thì mỗi ngày một phòng xét nghiệm Chim Ưng có thể xét nghiệm được 1,2 triệu người, còn với mẫu gộp 10, thì một phòng xét nghiệm này mỗi ngày có thể xét nghiệm được tới 2 triệu người, và chỉ cần 3 phòng xét nghiệm như vậy là đủ để xét nghiệm cho một thành phố có dân số 6 triệu người chỉ trong 1 ngày.

Việc đăng ký xét nghiệm đại trà cũng được tiến hành hết sức khoa học. Tại hầu hết các đô thị, nơi thường tập trung đông dân cư và chính quyền chỉ cho phép người dân sở hữu căn hộ chung cư, việc triển khai các giải pháp chống dịch được tiến hành khá bài bản và trật tự.

Khi mỗi thành phố triển khai xét nghiệm đại trà toàn dân, ban quản lý các khu chung cư thông báo cho người dân đăng ký trên các nhóm nội khu bằng mã quét QR trên điện thoại di động thông minh, đăng ký theo từng khung giờ cho đến khi đạt đủ số lượng theo quy định của khung giờ đó.

Các khu chung cư này gửi danh sách đăng ký điện tử lên các tiểu khu, sau đó danh sách xét nghiệm theo ngày giờ cụ thể được gửi trả lại qua điện thoại hoặc thiết bị kết nối mạng Internet để mỗi người tự đến điểm xét nghiệm theo giờ mà mình đã đăng ký. Theo cách làm này, người dân không phải chờ đợi, tập trung đông người.

Tiếp đó, tại địa điểm xét nghiệm, trước khi vào khu vực lấy mẫu, mỗi người phải quét mã QR sức khỏe, đi ngang qua máy đo thân nhiệt, để giúp nhân viên y tế sàng lọc những người có lịch sử từng đi tới vùng dịch và những người có thân nhiệt cao bất thường, sớm phát hiện các ca nghi mắc COVID-19, từ đó hạn chế thấp nhất tình trạng lây nhiễm.

Nhờ nền tảng số hóa phát triển mạnh, dữ liệu công dân được Trung Quốc lưu trữ trên hệ thống quốc gia, nên hầu như các khâu đều diễn ra trên điện thoại thông minh

Với các địa bàn nông thôn, chính quyền thường đưa người dân tới tận địa điểm xét nghiệm hoặc đến tận nhà để lấy mẫu, nhưng quy trình kiểm dịch cũng được thực hiện hết sức nghiêm ngặt.

Dù là ở thành phố hay nông thôn, các nhân viên y tế khi lấy mẫu xét nghiệm đều tuân thủ đầy đủ quy định phòng dịch như mặc đồ bảo hộ, đeo khẩu trang y tế, kính chống giọt bắn, và đặc biệt là sau mỗi lần lấy mẫu cho một người đều sát khuẩn, khử trùng cả hai bàn tay đang đeo găng tay y tế để tránh làm lây nhiễm từ người này sang người khác trong quá trình lấy mẫu xét nghiệm.

Nhờ nền tảng số hóa phát triển mạnh, dữ liệu công dân được Trung Quốc lưu trữ trên hệ thống quốc gia, nên hầu như các khâu đều diễn ra trên điện thoại di động thông minh hoặc các thiết bị có kết nối Internet mà không cần người dân phải đến tận nơi xét nghiệm để điền vào các biểu mẫu, giúp hạn chế tiếp xúc và lây lan.

Nhìn chung, việc sắp xếp các khung giờ khác nhau giúp người dân tránh được tình trạng tập trung đông người khi đi xét nghiệm và mọi việc diễn ra rất nhanh chóng, 1 người chỉ mất thời gian chưa đầy 30’ cho một lần xét nghiệm. Điều này đã góp phần quan trọng giúp hạn chế lây nhiễm.

Về giá xét nghiệm, nhờ chủ động được việc sản xuất các bộ kit xét nghiệm mà giá xét nghiệm tại Trung Quốc tương đối rẻ so với nhiều nơi khác trên thế giới.

Tại những bệnh viện và trung tâm y tế ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Bắc… giá 1 mẫu xét nghiệm đơn dao động từ khoảng 60-75 nhân dân tệ (khoảng 210.000-260.000 VNĐ/người, mẫu gộp 10 là 15 nhân dân tệ (khoảng 53.000 VNĐ/người).

Với mức giá xét nghiệm rẻ như vậy cùng việc chủ động ứng dụng công nghệ khoa học tiên tiến trong nước, Trung Quốc càng kiên định với phương pháp xét nghiệm đại trà thần tốc.

Theo các chuyên gia y tế nước này, việc xét nghiệm đại trà nhiều lần một cách thần tốc là giải pháp tốt nhất để hạn chế phong tỏa diện rộng, sàng lọc và phân loại các ca bệnh trong cộng đồng, qua đó giúp nhanh chóng khoanh vùng ổ dịch, đánh giá chính xác mức độ dịch bệnh để từ đó đưa ra những giải pháp kiểm soát và dập dịch phù hợp, giúp nhanh chóng phục hồi nền kinh tế.

Có thể thấy, hiệu quả dập dịch nhanh chóng và phục hồi kinh tế sớm nhờ biện pháp xét nghiệm đại trà đã được chứng minh trong thực tế tại Trung Quốc qua nhiều đợt tái bùng phát dịch bệnh vừa qua.

Biện pháp xét nghiệm đại trà giúp nhanh chóng đánh giá được tình hình dịch tễ, thần tốc kiểm soát dịch bệnh, tạo điều kiện dần mở cửa trở lại nền kinh tế, nhờ đó hệ thống y tế sớm tránh được nguy cơ quá tải và giúp Trung Quốc hạn chế tổn thất kinh tế ở mức thấp nhất.

Tiến Trung