Báo điện tử VietnamPlus thành lập ngày 13 tháng 11 năm 2008 với nơi tọa lạc ban đầu là những căn phòng cơi nới ở hành lang trên tầng áp mái của tòa nhà 79 Lý Thường Kiệt – 1 trong những trụ sở của  Thông tấn xã Việt Nam.

Từ “cái tổ nho nhỏ nơi heo hút cheo leo” như những người sáng lập và lứa biên tập viên, phóng viên đầu tiên thường “âu yếm” gọi đó, đội ngũ sáng tạo của báo đã miệt mài cống hiến để rồi tờ báo điện tử dần khẳng định vị thế của mình trên bản đồ báo chí nước nhà và được vinh danh tại nhiều giải thưởng truyền thông quốc tế.

Không chỉ nỗ lực làm tốt vai trò chuyên môn của tờ báo đối ngoại quốc gia, Báo điện tử VietnamPlus còn tâm huyết với các dự án thiện nguyện, thể hiện trách nhiệm xã hội cao của một cơ quan báo chí chính thống.

Hàng năm, lãnh đạo và phóng viên, biên tập viên Báo VietnamPlus đều tổ chức các hoạt động về nguồn kết hợp từ thiện đến những vùng sâu, vùng xa. Mỗi chuyến đi đều đọng lại thật nhiều cảm xúc, để rồi khi trở về, toàn báo lại thêm kiên tâm, vững chí, tiếp tục sáng tạo trên con đường riêng của mình.

Duyên nợ với địa đầu Hà Giang

Hà Giang chính là điểm đến xa nhất đầu tiên của VietnamPlus để rồi nơi đây đã trở thành điểm đến duyên nợ của báo trong những lần thiện nguyện, mà lần nào cũng vô cùng vất vả.

Phóng viên Nguyễn Mai Anh vẫn nhớ như in về chuyến đi cực nhọc mà đầy ấn tượng cùng với báo đến xã Sơn Vỹ, nơi xa xôi và khó khăn nhất của huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, năm 2012 để trao quà cho các em học sinh nghèo. “Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được những kỷ niệm ở Sơn Vỹ, đó là chuyến đi vất vả nhất và cũng ý nghĩa nhất trong đời,” Mai Anh chia sẻ.

Xã có 17,75 km đường biên giới, giáp hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc. Địa hình dốc, rặt núi đá nên mùa đông cũng là mùa khô, người dân vừa đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt vừa phải chống chọi với cái rét cắt da cắt thịt.

Rất nhiều đoạn dốc không thể đi xe máy, các biên tập viên, phóng viên VietnamPlus thành người hỗ trợ kéo, đẩy xe cùng vượt khó để lên bản. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Phó tổng biên tập Báo điện tử VietnamPlus lúc đó, nhà báo Nguyễn Đỗ Cường cùng 6 phóng viên lên đường vào lúc chớm đông để kịp trao cho các em học sinh dân tộc thiểu số ở điểm trường xã những món quà thiết thực gồm: 140 suất học bổng; 2,2 tấn gạo; 200 chăn ấm; 255 chiếu Nga Sơn; 510 bát ăn inox; 510 thìa ăn cơm; 100 chiếc nồi cùng rất nhiều yêu thương…

“Năm 2012 đường vào các xã biên giới chưa được như bây giờ. Từ trung tâm thành phố Hà Giang lên đến bản làng Sơn Vỹ, chúng tôi trải qua những cung đường quanh co, khúc khuỷu như đi tới nơi cùng trời cuối đất. Đường nhỏ và hẹp, một bên là núi đá dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút. Chiếc xe ô tô 7 chỗ cứ bám vách núi mà đi, 7 người ngồi trên xe cũng nín thở mỗi khi qua một đoạn cua tay áo hay leo lên con dốc cao tưởng chừng muốn lật cả xe,” phóng viên Mai Anh nhớ lại.

Những địa danh như dốc Chín Thang (trước đây người dân bắc 9 cành cây thành thang để leo dốc), dốc Thẩm Mã (đo sức ngựa), dốc Há Mồm… nghe đã có thể hình dung được địa hình hiểm trở của mảnh đất địa đầu Tổ quốc.

Từ trung tâm huyện Mèo Vạc lên xã Sơn Vỹ chỉ vài chục cây số mà đoàn phóng viên phải di chuyển bằng ô tô, xe máy và cả đi bộ. Tiết trời lúc ấy lạnh se sắt mà ai nấy ướt đẫm mồ hôi vì mệt, đói và say xe.

“Vài ngày sau chúng tôi vẫn còn thấy đầu óc váng vất, người đau ê ẩm. Đó là một chuyến đi khiến cả đoàn kiệt sức. Song chính vì vậy mà chúng tôi mới thấu hiểu được phần nào những khó khăn, vất vả của các em học sinh, các thầy cô giáo, các chiến sỹ và người dân ở nơi biên giới xa xôi,” Mai Anh chia sẻ.

Tiếng trẻ nhỏ đồng thanh đánh vần trong lớp học vách nứa đơn sơ khiến những phóng viên VietnamPlus cứ mãi vấn vương

Tiếng trẻ nhỏ đồng thanh đánh vần trong lớp học vách nứa đơn sơ khiến những phóng viên VietnamPlus cứ mãi vấn vương. Họ những mong có thể ở lại lâu hơn, trò chuyện nhiều hơn cùng các em nhỏ thơ ngây, có thể mang thêm nhiều quà hơn nữa bởi càng tìm hiểu thì càng thấy người dân nơi đây thiếu thốn biết chừng nào.

Năm 2017, Báo Điện tử VietnamPlus lại cùng với Công đoàn Thông tấn xã Việt Nam và các Mạnh Thường Quân trở lại với Hà Giang trong Chương trình “Thêm hơi ấm đến Hà Giang.”

Trong hành trình thiện nguyện này, đoàn đã trao tặng 50 triệu đồng tiền mặt, cùng với các nhu yếu phẩm thiết thực, bao gồm 60 chiếc chăn, hơn 300 áo khoác-áo ấm Đông Xuân, 300 cuốn vở, máy tính, và gần 100 chiếc ghế cho Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Tả Ván, huyện Quản Bạ.

Tả Ván là một xã vùng cao biên giới phía Bắc của tỉnh Hà Giang, có địa hình phức tạp, kinh tế chậm phát triển, đường giao thông đi lại khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao. Đây là những thách thức lớn trong công tác giáo dục của địa phương.

Đến nơi, cả đoàn xúc động và càng thấu hiểu hơn những khó khăn, thiếu thốn của các em học sinh. Mặc cho cái rét như ngấm vào da thịt, nhiều em học sinh vẫn khoác trên mình manh áo mỏng, với đôi chân trần tím tái. Khó khăn chất chồng nhưng các em vẫn cố gắng đến trường. Liên tiếp trong hai năm gần đây, 2020 và 2021, Hà Giang lại là nơi mà Báo Điện tử VietnamPlus chọn để trao tặng bồn trữ nước cho người dân Phố Cáo ở bản Lủng Sính (năm 2020) và Tráng Phúng A (năm 2021)

Ở hành trình vào cuối tháng 10 vừa qua, bên cạnh nối tiếp chương trình “Chung tay giải cơn khát cao nguyên đá,” Báo Điện tử VietnamPlus còn có những phần quà thiết thực tặng sách vở, bút, chăn ấm cho các cháu học sinh ở trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở xã Phố Cáo.

VietnamPlus trao tặng 100 bình inox trữ nước cho bà con xã Phố Cáo, huyện Đồng Văn, Hà Giang. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Trên tinh thần “quan tâm đến những vùng khó khăn thật sự, những thôn bản ‘nhiều không’: không đường, không điện, không sóng điện thoại, không nước sạch…” những món quà của Báo Điện tử VietnamPlus đến với bà con Phố Cáo được đánh giá là đã “bắt” trúng cái khó của bà con vùng cao, hỗ trợ kịp thời và thiết thực cho họ.

Ông Giàng Mí Say, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Phố Cáo, cảm kích: “Nhiều hộ gia đình cư trú trên núi cao phải đi bộ từ 4-5km để đèo từng can nước về sử dụng hoặc cả xóm dùng chung một bể chứa nước mưa rất mất vệ sinh vì vậy, với bà con chiếc bồn chứa nước là một “gia tài’ quý giá mà họ vẫn thường ao ước nay đã được Báo điện tử VietnamPlus hiện thực.

Cũng trong chuyến đi lách qua một khe cửa hẹp nhưng an toàn để đến với người dân giữa lúc dịch bệnh tại Hà Nội và Hà Giang còn diễn biến khó lường này, Báo Điện tử VietnamPlus đã trao tặng 100 phần quà gồm những thực phẩm thiết yếu cho các khu cách ly của xã Phố Cáo.

Đồng thời, hỗ trợ cho điểm chốt bản Khó Trư của Đồn Biên phòng Phó Bảng nơi giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc những vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày như: bình nước, tủ lạnh, chăn ấm, chạn bát, đèn pin… góp phần làm vơi bớt những khó khăn, thiếu thốn để lực lượng dân quân tuyến đầu chống dịch ở thôn Khó Trư yên tâm làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới địa đầu Tổ quốc.

Những chuyến thiện nguyện trên hành trình về nguồn

Trong hành trình 13 năm nỗ lực cho dòng tin không ngừng chảy, tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên VietnamPlus luôn chú tâm tới những hoạt động về nguồn tại những điểm di tích vô cùng ý nghĩa như nơi thành lập Thông tấn xã Việt Nam, nơi tác nghiệp của Thông tấn xã tại An toàn khu (Tân Trào, Tuyên Quang); Đài thu phát T6-Khu di tích cách mạng thời Kháng chiến chống Pháp, nơi sơ tán của Thông tấn xã Việt Nam thời chống chiến tranh phá hoại (Phượng Cách, Quốc Oai, Hà Nội); quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nghệ An; nhà tưởng niệm nhà báo-liệt sỹ Trần Kim Xuyến-người anh cả của Thông tấn xã Việt Nam tại Hà Tĩnh; nghĩa trang Vị Xuyên (Hà Giang), khu tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Báo Điện tử VietnamPlus trao những phần quà hết sức ý nghĩa dành cho những cán bộ đã gìn giữ khu di tích lịch sử T6. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Trong những chuyến đi khơi lên lòng tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc, của Thông tấn xã Việt Nam, Báo điện tử VietnamPlus thường kết hợp thực hiện các hoạt động thiện nguyện.

Một trong những chuyến đi “bão táp” đó chính là chuyến thiện nguyện vào miền Trung sau cơn bão số 10 và 11 năm 2013 và viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở nơi an nghỉ của ông tại Vũng Chùa Đảo Yến nằm cách Đèo Ngang 7km về phía nam, thuộc thôn Thọ Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.

Đoàn công tác của báo VietnamPlus do nhà báo-nhà thơ Đoàn Ngọc Thu, Phó Tổng biên tập, dẫn đầu đã đến vùng tâm lũ xã Hòa Hải (huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) và xã Thượng Hóa, (huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình) để hỗ trợ những gia đình vừa lâm vào cảnh trắng tay do bão lũ.

Bà Đoàn Ngọc Thu còn nhớ như in những cung đường ngổn ngang gạch đá do mưa lũ gây sạt lở dẫn vào bản Rục (Quảng Bình). Khi đoàn đến, nước lũ đã rút nhưng đường còn lầy lội khiến các phóng viên Báo điện tử VietnamPlus phải đẩy xe mới vượt qua được.

“Chúng tôi đã vượt chặng đường 1.500km trong 3 ngày để đến với bà con vùng rốn lũ. Nhiều đoạn đường xóc nảy đom đóm mắt, đôi ba mái nhà xiêu vẹo xơ xác, những vạt cây ngả nghiêng sau bão… Chúng tôi đã đi không biết mệt để đến với đồng bào Rục, giúp họ vơi bớt khó khăn, sớm ổn định cuộc sống, sản xuất,” nhà báo Đoàn Ngọc Thu chia sẻ.

“Nhưng quan trọng hơn, đó là Báo Điện tử VietnamPlus đã trở thành một địa chỉ uy tín, tin cậy để kết nối những tấm lòng của đồng bào Việt Nam xa xứ về quê hương. Chuyến thiện nguyện của chúng tôi đã được Hội Người Việt ở Stockholm (Thụy Điển) trao gửi một số tiền lớn để trao tặng đến tận tay những bà con bị ảnh hưởng của bão lũ. Những phần quà đó là 105 triệu đồng tiền mặt; 1,25 tấn gạo; 418kg đường; 418kg muối; 200 cuốn vở; 100 chiếc bút cùng áo quần và thuốc men cho 209 hộ dân.

“Chúng tôi đã vượt chặng đường 1.500km trong 3 ngày để đến với bà con vùng rốn lũ. Nhiều đoạn đường xóc nảy đom đóm mắt, đôi ba mái nhà xiêu vẹo xơ xác, những vạt cây ngả nghiêng sau bão.”

Nhà báo Đoàn Ngọc Thu

Có thể, những món quà mà Báo đem đến cho đồng báo vùng khó chỉ như ‘muối bỏ bể’ song triệu triệu hạt muối sẽ góp thành vị mặn đại dương. Thêm nữa, sự hỗ trợ về vật chất và động viên về tinh thần có thể là một ‘liều thuốc’ cho tâm hồn, giúp họ có thêm động lực để chống chọi với cái đói, cái nghèo, sự thiệt thòi do thiên nhiên tàn phá để thêm động lực vươn lên trong cuộc sống,” bà Đoàn Ngọc Thu chia sẻ.

Năm 2015, kết hợp cùng Đoàn thanh niên Ban Biên tập tin Kinh tế và Ban Biên tập Ảnh, Báo điện tử VietnamPlus đã tặng quà cho 20 gia đình chính sách gặp khó khăn trên địa bàn xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây được gọi là cơ sở T6, mật danh của Việt Nam Thông tấn xã trong những năm kháng chiến chống Pháp​.

Năm 2020, trong chuyến dâng hương tại nhà tưởng niệm nhà báo, liệt sỹ Trần Kim Xuyến, Báo điện tử VietnamPlus đã trao 40 suất quà cho các gia đình khó khăn có con em là học sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó ở xã Tân Mỹ Hà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Tập thể ban lãnh đạo và cán bộ, phóng viên, biên tập viên Báo điện tử VietnamPlus chụp ảnh lưu niệm trước Nhà tưởng niệm nhà báo liệt sỹ Trần Kim Xuyến. (Ảnh: Nguyên An/Vietnam+)

Những chuyến về nguồn và hoạt động thiện nguyện đã được nhà báo Lê Quốc Minh, Nguyên Tổng biên tập, người sáng lập Báo VietnamPlus, khởi xướng từ những ngày đầu thành lập báo.

“VietnamPlus sẽ tiếp nối truyền thống ‘lá lành đùm lá rách’ nhiều năm nay của Thông tấn xã Việt Nam và luôn ý thức rất rõ về trách nhiệm xã hội của mình,” ông nói.

Một trong những chuyến đi để lại ấn tượng đối với nhà báo Lê Quốc Minh là chuyến đi đến “xã mồ côi” Lượng Minh (Tương Dương, Nghệ An) để tặng áo ấm cho các em học sinh trong những ngày đầu năm 2016.

Gọi là “xã mồ côi” bởi Lượng Minh là điểm nóng của tệ nạn ma túy. Cái chết trắng đã khiến nhiều em học sinh trở nên không cha, không mẹ. Trên hành trình tìm “con chữ,” nhiều em đã phải bỏ dở giữa chừng bởi cái nghèo khó đeo đẳng, theo bám các em từ khi mới lọt lòng.

Trường Trung học Cơ sở Lượng Minh gồm 298 học sinh, chủ yếu từ hai dân tộc Thái và Khơ Mú. Số học sinh thuộc hộ nghèo chiếm tỷ lệ tới 90%. Trong số 10 bản của xã Lượng Minh, học sinh bản Cà Mong, Xốp Cháo thường phải qua xuồng men theo sông Lam để tới nơi học. Với học sinh các bản còn lại, phải đi qua khe suối giữa cái lạnh buốt giá của mùa đông nơi rừng núi ngút ngàn. Thậm chí, có những em phải vượt qua quãng đường xuyên rừng tới 3km để tới trường.

“Khi trao những chiếc áo ấm, chúng tôi mong rằng các em học sinh Lượng Minh ấm áp hơn trong những ngày đông giá rét. Qua món quà nhỏ, chúng tôi gửi gắm tình cảm, sự sẻ chia để các em có thêm động lực tới trường, tích lũy kiến thức, đưa xã nghèo vượt khó,” ông Lê Quốc Minh xúc động nhớ lại.

Sau mỗi chuyến đi như vậy, người VietnamPlus đều thấy trưởng thành hơn trong suy nghĩ, trách nhiệm hơn với những số phận còn bất hạnh trong xã hội, có thêm động lực để hoàn thành tốt vai trò của mình ở tòa soạn và mỗi năm lại cố gắng lên đường đến với đồng bào khó khăn…

 “Giá trị đọng lại sau những chuyến đi là sự trao gửi, gắn kết, sẻ chia, cảm thông và thấu hiểu, khơi dậy sự đùm bọc, yêu thương. Công tác thiện nguyện là một cách để phát huy truyền thống nhân ái, nhân văn của mỗi cá nhân trong tòa soạn , đồng thời đây cũng là một động lực thúc đẩy ngọn lửa đam mê dấn thân, cống hiến cho nghề, cháy hết mình cho tòa soạn,” Tổng biên tập VietnamPlus Trần Tiến Duẩn khẳng định.

“Công tác thiện nguyện là một cách để phát huy truyền thống nhân ái, nhân văn của mỗi cá nhân trong tòa soạn, đồng thời đây cũng là một động lực thúc đẩy ngọn lửa đam mê dấn thân, cống hiến cho nghề, cháy hết mình cho tòa soạn.”

Tổng biên tập VietnamPlus Trần Tiến Duẩn

Cảm xúc tự hào sau mỗi chuyến về nguồn, những trải nghiệm thực tế sau những lần trèo đèo, lội suối làm thiện nguyện đều rất giá trị đối với mỗi phóng viên. Không chỉ hun đúc lòng nhân ái và đạo đức nghề nghiệp, đội ngũ VietnamPlus còn có thêm chất liệu, đề tài, những “người thật, việc thật” để phản ánh đời sống tại những nơi mà mình đi qua.

Cụ thể, sau các chuyến đi, phóng viên VietnamPlus đã có loạt bài về nạn buôn bán ma túy ở vùng biên Tương Dương (Nghệ An); khát vọng được học hành tử tế của trẻ em ở vùng cao; thực trạng thiếu nước sinh hoạt của người dân cao nguyên đá Hà Giang và đời sống những chiến sỹ biên phòng làm công tác chống dịch COVID-19…

Đến đây, tôi nhớ tới những câu thơ của Tố Hữu:

Ta sẽ đi
Đi tới những ngày mai
Như một đoàn quân
Bước thẳng, bước dai
Như một khúc ca xuân
Của một mùa xuân lớn.

Chúng tôi nguyện góp một khúc ca để bản nhạc cuộc sống có thêm những thanh âm tươi sáng, nguyện làm cầu nối, giúp những doanh nghiệp, các Mạnh Thường Quân tiếp cận với những số phận khó khăn, để nhân lên những “khúc ca vui” trên đất nước này./.

Đỗ Minh Thu
Đỗ Minh Thu

Tái sinh cho Mẹ Đất

Sảnh đón khách tại Hội nghị Thượng đỉnh COP26, ngoài mô hình quả địa cầu lơ lửng thì còn có một biểu đồ được vẽ đơn giản với 4 mũi tên: Pandemic, Climate, Conflict, Economy (Đại dịch, Khí hậu, Xung đột, Kinh tế).

Hơn 100 nhà lãnh đạo toàn cầu, gồm cả những cường quốc lớn nhất, ngày nào cũng nhìn thấy tấm banner đó, như nhắc nhở họ rằng Biến đổi Khí hậu chính là một trong những mối quan tâm lớn nhất của nhân loại.

Việt Nam, một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của Biến đổi Khí hậu, đương nhiên cũng thể hiện những cam kết mạnh mẽ của mình trong nỗ lực cùng cả thế giới “cứu lấy Trái Đất.”

Phát biểu trước các lãnh đạo thế giới ở COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: “Ứng phó với biến đổi khí hậu, phục hồi tự nhiên phải trở thành ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách phát triển, là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của mọi cấp, mọi ngành, mọi doanh nghiệp và mọi người dân.”

Vì sao Việt Nam phải cải tạo ngành nông nghiệp?

Nếu coi Trái Đất như cơ thể của người mẹ, thì phục hồi tự nhiên không chỉ còn là nhiệm vụ, mà còn là sứ mệnh bắt buộc của nhân loại. Cách mạng nông nghiệp đã giúp loài người thoát khỏi cảnh thiếu ăn, an ninh lương thực được đảm bảo ở hầu hết mọi ngõ ngách trên Trái Đất. Nhưng mặt trái của nó là những cánh đồng cằn cỗi, những mảnh ruộng bạc màu bởi đất đai – nguồn tài nguyên quý giá nhất, đã bị vắt kiệt.

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì nông nghiệp chính là một trong những lĩnh vực gây ra phát thải khí nhà kính nhiều nhất tại Việt Nam, chỉ sau lĩnh vực năng lượng. Trong đó, ngành canh tác lúa và đất nông nghiệp phát thải nhiều nhất.

Thế nên, để đạt được Net Zero tới năm 2050 như cam kết của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại COP26 thì ngành nông nghiệp phải có những bước đi mang tính cách mạng, như trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.

Muốn vậy, “khoa học phải đi trước để dẫn dắt và nguồn lực tài chính phải là đòn bẩy, thúc đẩy chuyển đổi mô hình phát triển hướng tới kinh tế xanh, tuần hoàn. Mọi hành động phải dựa vào tự nhiên và lấy người dân làm trung tâm, không để ai bị bỏ lại phía sau,” người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh.

Cụ thể, theo hướng dẫn triển khai Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) được Bộ Tài nguyên Môi trường gửi các Bộ, ngành thì lĩnh vực nông nghiệp sẽ phải: Thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính thông qua ứng dụng các giải pháp quản lý, công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi; cải thiện khẩu phần ăn cho vật nuôi; chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng; thay đổi phương thức sử dụng đất; công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, chất thải trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Nông nghiệp Tái sinh là lời giải

Chiến lược nói trên cũng trùng với quan điểm Nông nghiệp Tái sinh (Regenerative Agriculture), khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nhưng đã trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển. Đây là một hướng làm nông nghiệp tập trung xung quanh các nguyên tắc khoa học, với mục tiêu bảo tồn và phục hồi đất trồng cùng hệ sinh thái của đất.

Nông nghiệp tái sinh mang tới nhiều lợi ích cho nông dân, môi trường và xã hội, giúp cải thiện tình trạng “sức khoẻ” cũng như độ phì nhiêu của đất. Đồng thời, nó giúp lưu giữ carbon trong đất trồng và thân cây, qua đó giảm lượng phát thải CO2 vào bầu khí quyển. Về lâu dài, nông nghiệp tái sinh giúp tăng độ chống chịu với biến đổi thời tiết của đất nông nghiệp, qua đó bảo vệ tốt hơn sinh kế của người nông dân.

Đến đây, sẽ có người đặt câu hỏi liệu ở Việt Nam đã có nông nghiệp tái sinh hay chưa, và nếu có là từ bao giờ. Câu trả lời là nếu phóng tầm mắt vào những cánh đồng càphê tại Tây Nguyên, thủ phủ ngành càphê không chỉ của Việt Nam mà còn cả thế giới thì chúng ta sẽ phần nào đó hình dung ra được khái niệm nông nghiệp tái sinh một cách rõ nét nhất, thông qua dự án NESCAFÉ Plan của Nestlé, đến nay đã tròn 10 năm.

Tại COP26, Thủ tướng Phạm Minh Chính từng nhấn mạnh “mọi hành động phải dựa vào tự nhiên và lấy người dân làm trung tâm.” Nestlé cũng bắt đầu với nông dân, xem xét kỹ bối cảnh ở địa phương, nhằm đạt mục tiêu tối đa hoá lợi ích môi trường và thu nhập của những người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.”

Và thành quả chính là việc hơn 21.000 trang trại càphê thuộc chuỗi cung ứng của NESCAFÉ đã đạt chứng chỉ chất lượng 4C với sự hợp tác hỗ trợ từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh (PAEC). Bằng việc áp dụng các quy phạm canh tác bền vững, nông dân trồng càphê đã giảm được 40% nước tưới và 20% lượng phân bón/thuốc trừ sâu hóa học; và tăng thu nhập từ 30%-100% bằng các mô hình xen canh phù hợp.

NESCAFÉ Plan cũng hợp tác với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm Tây Nguyên (WASI) phân phối hơn 53 triệu cây giống càphê kháng bệnh năng suất cao tới nông dân tại năm tỉnh Tây Nguyên: Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng và Kon Tum. Điều này đã giúp làm mới lại hơn 53.000 ha diện tích trồng càphê già cỗi và cho năng suất thấp, cũng như hỗ trợ mạnh mẽ cho chương trình quốc gia về cải tạo diện tích càphê của chính phủ.

Nhưng con số chỉ là con số. Với một chương trình ý nghĩa như thế, tốt nhất hãy nghe chính những người nông dân nói về dự án đang giúp họ cũng như chính mảnh đất nuôi dưỡng mình “tái sinh.”


Suốt 20 năm gắn bó, vườn cây càphê đã cùng gia đình ông Nguyễn Đăng Khởi trải qua biết bao thăng trầm. Từ những ngày thoát nghèo nhờ cây càphê, cả gia đình hân hoan với niềm vui mỗi mùa thu hoạch. Theo năm tháng, cả gia đình lại thấp thỏm lo âu vì vườn càphê ngày thêm già cỗi, ra sức chăm sóc nhưng năng suất vẫn thấp, không như mong đợi.

Cho đến khi NESCAFÉ Plan đến với Lâm Đồng, chương trình đã mở ra cho gia đình ông Nguyễn Đăng Khởi một bước ngoặt lớn.

“Chương trình cung cấp cho chúng tôi cây giống càphê chất lượng và còn hướng dẫn kỹ thuật canh tác mới để giảm thiểu chi phí chăm sóc mà cây càphê vẫn đạt năng suất cao, cho hạt càphê giàu giá trị. Nhờ gắn bó với NESCAFÉ Plan đến nay tôi đã có 3 hecta càphê đạt năng suất ổn định, cuộc sống gia đình tôi được cải thiện hơn trước rất nhiều,” ông Nguyễn Đăng Khởi chia sẻ.

Gia đình ông Nguyễn Đăng Khởi là một trong hàng trăm nghìn người nông dân Tây Nguyên đã gắn bó gần như cả cuộc đời với cây càphê. Cây càphê không chỉ là nguồn sống của họ mà còn là tình yêu và niềm tự hào của biết bao thế hệ nông dân ở Tây Nguyên.

Tái sinh bền vững cây càphê Tây Nguyên

Càphê là một trong những sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Việt Nam, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên. Kim ngạch xuất khẩu càphê những năm gần đây đều trên 3 tỷ USD, chiếm 3% GDP. Càphê sản xuất tại Việt Nam được tiêu thụ tại hơn 80 quốc gia. Trong suốt nhiều năm, Việt Nam vẫn luôn là nước xuất khẩu càphê lớn thứ hai trên thế giới và là nhà sản xuất càphê Robusta hàng đầu.

Tại Tây Nguyên, ngành càphê tạo ra việc làm và thu nhập ổn định cho hơn 600.000 nông hộ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và giảm nghèo, nhất là tại các cộng đồng dân tộc thiểu số và các vùng cao nguyên khác.

Suốt nhiều năm là quốc gia sản xuất càphê Robusta hàng đầu thế giới, những năm gần đây càphê Việt Nam đã gặp phải những vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển lâu dài. Từ năm 2010, ngày càng nhiều diện tích đất càphê già cỗi xuất hiện tại các tỉnh Tây Nguyên khiến năng suất sụt giảm tới 50%, ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng và chất lượng của hạt càphê trong nước và xuất khẩu.

Diện tích càphê già cỗi ngày càng tăng ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của càphê Việt. Thêm vào đó, đa phần nông dân còn canh tác và thu hái theo phương pháp truyền thống, thiếu quy trình chuẩn và chưa áp dụng khoa học-kỹ thuật vào các khâu chăm sóc nên càng hạn chế việc cải thiện chất lượng của càphê.

Tiến sỹ Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), kiêm Giám đốc Văn phòng Đối tác Phát triển Nông nghiệp Bền vững ở Việt Nam (PSAV) cho biết Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các cơ quan địa phương đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi và triển khai một số dự án quan trọng nhằm giải quyết các thách thức mà người trồng càphê phải đối mặt trong việc xây dựng ngành công nghiệp càphê bền vững và thúc đẩy thị trường xuất khẩu càphê của Việt Nam. 

“Một trong những sáng kiến quan trọng và dài hơi nhất là quan hệ hợp tác với NESCAFE Plan thông qua các Trung tâm Khuyến nông tỉnh (PAEC) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm Tây Nguyên (WASI),” ông Đỗ Anh Tuấn cho hay.

Được khởi động từ 2011, chương trình NESCAFÉ Plan thuộc công ty Nestlé Việt Nam đã phối hợp với những chuyên gia càphê từ Viện Khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) đã ra đời với sứ mệnh tiếp tục duy trì và phát triển bền vững càphê Robusta qua nhiều thế hệ nông dân Việt Nam.

Trong vòng 11 năm qua, các cán bộ nông nghiệp của Nestlé và PAEC, WASI đã đào tạo hàng trăm nghìn nông dân trồng càphê về các quy phạm canh tác tốt nhất và bền vững tại các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai.

Chương trình đã trang bị cho nông dân trồng càphê các kiến thức và kỹ thuật thích hợp để nâng cao chất lượng hạt càphê theo cách bền vững hơn, xây dựng các kỹ năng mềm cho nông dân và chia sẻ thông tin thị trường để giúp nông dân làm quen với chuỗi giá trị toàn cầu.

Chị Nguyễn Thị Hồng Thuận, cán bộ hỗ trợ nông nghiệp cho NESCAFÉ Plan tại Gia Lai chia sẻ NESCAFÉ Plan được triển khai theo mô hình hỗ trợ kỹ thuật thực hành nông nghiệp, sản xuất bền vững. Chương trình tổ chức các lớp học theo nhu cầu của bà con và theo từng giai đoạn phát triển của cây càphê với chủ đề: Kỹ thuật tưới nước tiết kiệm, cắt cảnh, ủ vỏ càphê làm phân vi sinh, kỹ thuật giảm lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, quản lý cỏ dại, thu hoạch, chất lượng càphê sau thu hoạch…

“Các lớp học đều được triển khai tại hiện trường nên người nông dân dễ dàng chia sẻ, áp dụng kiến thức trên vườn và mang lại hiệu quả tốt hơn. Hàng tháng cán bộ chương trình đều kết hợp với các nhóm trưởng đi thăm nông hộ để tư vấn, hỗ trợ áp dụng thực hành nông nghiệp tốt nhất,” chị Thuận nói.

Những kỹ thuật được học từ các cán bộ nông nghiệp NESCAFÉ Plan như tăng cường phân hữu cơ vi sinh và phân ủ từ vỏ càphê và phụ phẩm nông nghiệp, giảm lượng phân bón vô cơ đã giúp bà con nông dân bảo vệ và tăng sức khỏe cho đất.

“Những nông hộ khi tham gia chương trình đã giảm 20% lượng phân bón vô cơ, tăng lượng phân hữu cơ trên vườn, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc hóa học và đi đến không sử dụng, đặc biệt là thuốc diệt cỏ để bảo tồn nguồn đất,” chị Thuận cho hay.

Bên cạnh đó, các khuyến cáo và kỹ thuât tưới tiết kiệm nước, sử dụng chai nước và lon sữa để theo dõi độ ẩm và lượng nước tưới cũng giúp người dân tiết kiệm được 40% lượng nước tưới… những người nông dân không những giảm chi phí đầu vào mà còn góp phần bảo vệ môi trường trong vườn và môi trường xung quanh nhờ quản lý rác thải tốt hơn.

Các mô hình trồng xen hợp lý với tiêu, bơ, sầu riêng và một số cây ăn trái cũng đã giúp nông dân tăng thu nhập 30-100% so với các vườn cây trồng thuần càphê. Kỹ thuật trồng xen cũng đã góp phần giữ lượng carbon lại trong đất cao hơn lượng phát thải khi canh tác trên mỗi hecta càphê nếu trồng thuần. Cây che bóng cũng là cây chắn gió trong mùa khô, giúp cải thiện điều kiện sinh thái vườn cây, làm giảm nhiệt độ và độ bốc hơi trong vườn và đồng thời là cây cố định đạm nên cải thiện cầu trúc đất và có thêm dưỡng chất cho cả cây trồng xen và cây càphê.

Ngoài lợi ích giảm chi phí đầu vào tăng thu nhập, NESCAFÉ Plan còn duy trì hoạt động tập huấn, cập nhật các kiến thức mới nhất về canh tác càphê tiên tiến tại Việt Nam và trên thế giới, trong đó ưu tiên quản lý nông nghiệp tái sinh bằng các công cụ số như FARMS và Nhật ký nông hộ số nhằm giúp nông dân có các kiến thức quản lý kinh tế nông hộ.

Nhờ những khoá học thiết thực, gần gũi với nông dân trông càphê, số lượng nông hộ tham gia NESCAFÉ Plan tăng nhanh theo từng năm. Một cộng đồng trồng càphê bền vững đang ngày càng mở rộng, cùng với đó là hơn 53.000 hecta càphê già cỗi đã được tái sinh, đem lại những hạt càphê có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, NESCAFÉ Plan và WASI, đã phân phối hàng chục triệu cây giống càphê kháng bệnh năng suất cao tới nông dân tại năm tỉnh Tây Nguyên: Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng và Kon Tum. Điều này đã giúp làm mới lại hơn diện tích trồng càphê già cỗi và cho năng suất thấp, cũng như hỗ trợ mạnh mẽ cho chương trình quốc gia về cải tạo diện tích càphê của Chính phủ.

Một cộng đồng trồng càphê bền vững đang ngày càng mở rộng, cùng với đó là hơn 53.000 hecta càphê già cỗi đã được tái sinh, đem lại những hạt càphê có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.

Gieo tận tâm, hái thành quả

Càphê là cây trồng chủ lực của vùng Tây Nguyên, trên 90% diện tích trồng càphê của Việt Nam tập trung ở vùng này. Vì thế khi nói đến giá trị của cây càphê không phải chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà còn có giá trị về mặt sinh thái, môi trường.

Trước thực trạng canh tác lãng phí nước và lạm dụng phân hóa học làm ảnh hưởng xấu đến môi trường và hạt càphê, NESCAFÉ Plan hướng tới giúp nông dân các kỹ thuật canh tác càphê bền vững, giúp bảo tồn đất và nước, nâng cao sản lượng càphê.

Nhớ lại những ngày chưa tham gia vào NESCAFÉ Plan, ông Nguyễn Chí Thành (xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk) chỉ biết canh tác càphê dựa theo quán tính, nhiều lúc chi phí đầu tư quá mức nhưng hiệu quả không tăng, nỗi lo lắng cứ lớn dần lên khi đầu như nhiều vào chăm sóc nhưng mỗi năm càphê lại càng thêm già cỗi, năng suất vẫn thấp.

Khi tham gia NESCAFÉ Plan vào năm 2014, ông Thành mới vỡ lẽ không phải cứ bón nhiều phân là tốt mà có khi còn làm hại cây càphê. Đến nay sau hơn 6 năm tham gia chương trình, kỹ năng định lượng phân bón, nước tưới đã thành thục, ông Thành chia sẻ: “Trước đây canh tác theo quán tính chỉ được 3 tấn/hecta nhưng giờ đã tăng lên 4 tấn/hecta.”

Còn đối với chị Lê Thị Hoài (thôn 9, xã Nhân cơ, Huyện Đăk R’lấp, tỉnh Đắk Nông), tham gia vào chương trình đã được 8 năm, từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ với bao kiến thức mới thì giờ đây đã thuộc làu và thực hành nhuần nhuyễn những kỹ thuật bấm cạnh đúng thời vụ, tưới nước tiết kiệm, hái càphê chín đạt năng suất cao, cách giảm bớt bón phân hóa học, tăng cường bón phân hữu cơ bằng ủ vỏ càphê…

“Từ khi tham gia chương trình tôi hỏi được rất nhiều kiến thức giúp tăng sản lượng của cây càphê, tăng thu nhập bằng trồng thêm cây xen giữa là sầu riêng và đặc biệt là giữ gìn môi trường trong sạch,” chị Hoài chia sẻ.

Trong hành trình hơn 10 năm triển khai tại Việt Nam, dự án toàn cầu NESCAFÉ Plan đã gắn kết chặt chẽ với nông dân về cải thiện phương pháp trồng trọt, chất lượng kinh tế cho các nông hộ, duy trì một môi trường canh tác bền vững. 

Ông Nguyễn Hắc Hiển, Phó Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk đánh giá NESCAFÉ Plan là một trong những đơn vị chứng nhận 4C (một hệ thống chứng nhận toàn cầu về trồng và sản xuất càphê bền vững) triển khai trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiệu quả nhất, đã chứng nhận được cho hơn 4.000 hộ với sản lượng 22.000 tấn.

NESCAFÉ Plan đã xây dựng một cộng đồng trồng càphê bền vững với 21.000 nông hộ và 274 trưởng nhóm nông dân. Kết quả này đã ngày một gia tăng chất lượng và giá trị cho hạt càphê Việt Nam, hướng đến mục tiêu đưa Việt Nam trở thành tham chiếu cho càphê Robusta thế giới.

“Dự án được đánh giá hiệu quả cao với các chương trình đào tạo sát với thực tế, từ sản xuất đến thu hoạch, chế biến, bảo quản theo quy chuẩn,” ông Nguyễn Đắc Hiển nói.

Thành quả của hành trình hơn 10 năm tận tâm của NESCAFÉ Plan với 246.000 khoá đào tạo cho hơn 300.000 nông hộ, hỗ trợ hơn 53 triệu cây giống tối ưu là 53.000 hecta diện tích càphê già cỗi được tái sinh và 21.000 nông hộ đạt chứng chỉ càphê quốc tế 4C.

NESCAFÉ Plan đã xây dựng một cộng đồng trồng càphê bền vững với 21.000 nông hộ và 274 trưởng nhóm nông dân. Kết quả này đã ngày một gia tăng chất lượng và giá trị cho hạt càphê Việt Nam, hướng đến mục tiêu đưa Việt Nam trở thành tham chiếu cho càphê Robusta thế giới.

Đáng chú ý, những nông hộ tham gia chương trình đã góp phần không nhỏ bảo vệ môi trường bền vững khi tiết kiệm được 40% lượng nước tưới và giảm 20% lượng phân bón và thuốc trừ sâu. Về mặt xã hội, dự án đã nâng cao cai trò và vị thế của người nông dân, đặc biệt là phụ nữ, thông qua việc đào tạo đội ngũ trưởng nhóm nông dân, phát triển đội ngũ nông dân kế thừa, với cam kết tối thiểu 50% là trưởng nhóm nữ.

Trong những năm gần đây và sắp tới, cây càphê vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của vùng Tây Nguyên. Nhờ sự hỗ trợ của NESCAFÉ Plan, cây càphê đã tiếp tục sứ mệnh giúp người nông dân Tây Nguyên làm giàu trên chính mảnh đất của mình.

Dự án không chỉ dừng lại tại cánh đồng trông càphê mà còn cả ở trong sản xuất, nhà máy Nestle Trị An với công nghệ hiện đại đi tiên phong trong việc sử dụng nhiên liệu sinh khối đảm bảo 100% chất thải sau sản xuất càphê được tái sử dụng làm năng lượng sinh khối thay thế 73% nguồn nguyên liệu làm chất đốt để vận hành lò hơi, giảm 96% lượng chất thải phát sinh và giảm trung bình 22.600 tấn khí nhà kính CO2 mỗi năm trong sản xuất góp phần giảm tác động tiêu cực của chất thải đến môi trường.

Ông Binu Jacob, Tổng giám đốc công ty Nestlé Việt Nam nhấn mạnh trong suốt 25 năm qua tại Việt Nam, Nestlé đã và đang tạo nhiều giá trị chung cho cộng đồng cũng như phát triển các hoạt động bền vững của công ty và chương trình NESCAFÉ Plan là một ví dụ thành công điển hình.

“Chúng tôi tự hào khi chương trình NESCAFÉ Plan tại Việt Nam đã mang đến những tác động tích cực đến sự phát triển bền vững của ngành càphê trong nước, góp phần nâng cao giá trị hạt càphê Việt trên thương trường thế giới trong suốt 10 năm qua, trở thành mô hình tiêu biểu của chương trình NESCAFÉ Plan toàn cầu. Những thành quả mà NESCAFÉ Plan đạt được ngày hôm nay là động lực để chúng tôi tiếp tục phát triển và mở rộng chương trình NESCAFÉ Plan trong thời gian tới.”

Trong thời gian tới, chương trình NESCAFÉ Plan sẽ đẩy mạnh việc áp dụng những cải tiến khoa học công nghệ trong việc canh tác và thu hoạch càphê, giúp hạt càphê Việt Nam đạt những tiêu chuẩn cao ở các thị trường phát triển; gia tăng sản lượng chế biến sản phẩm càphê cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu; nghiên cứu và phát triển những sản phẩm càphê mới đáp ứng những thị hiếu mới của người tiêu dùng.

NESCAFÉ Plan sẽ tiếp tục đóng góp vào canh tác càphê bền vững, phát triển tăng cường liên kết chuỗi, và gia tăng chất lượng và giá trị cho hạt càphê Việt Nam.

Việt Nam đặt mục tiêu tăng doanh thu xuất khẩu càphê lên 6 tỷ USD vào năm 2030, đồng thời duy trì vị thế là nước sản xuất và xuất khẩu càphê đứng thứ hai thế giới. Các chương trình như NESCAFÉ Plan đã trở thành một nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của chuỗi giá trị càphê Việt.

Bài: Hồng Kiều<br>Thiết kế: Thanh Trà<br>Concept: Võ Hoàng Long
Bài: Hồng Kiều
Thiết kế: Thanh Trà
Concept: Võ Hoàng Long

Hình ảnh, video từ dự án NESCAFÉ Plan, TTXVN

Hành trình đưa ‘cái nước’ đến cho bà con dân bản

Hành trình đưa ‘cái nước sạch’ đến với bà con dân bản

Phố Cáo ngày cuối Thu năm 2021 bỗng tất bật hơn thường lệ khi ông Giàng Mí Say, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Phố Cáo cùng các cán bộ xã đến từng hộ dân bản Tráng Phúng A để khảo sát địa điểm đặt bồn chứa nước sinh hoạt cho những người dân ở đây.

Ngày mai, Báo điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam) sẽ lại chở thêm 100 chiếc bồn inox – thứ đồ dùng mà họ bao năm ao ước, lên trao tặng cho bà con dùng để trữ nước sạch, giúp cuộc sống của họ bớt vất vả trong mùa khô.

Năm 2020, Báo điện tử VietnamPlus đã tặng những chiếc bồn chứa nước như thế này cho các hộ dân bản nghèo Lủng Sính (xã Phố Cáo). Ông Say bảo rằng món quà này đã trở thành tài sản đáng giá nhất trong gia đình họ.

Và như lời hẹn, một năm sau, 100 chiếc bồn nước đã được chuyển tới bà con dân bản Tráng Phúng A. Hãy cùng theo chân bà con dân bản đưa bồn nước về nhà, trên những triền núi cao quanh co, khúc khuỷu, mịt mờ mây phủ.

Bà con dân bản háo hức rời nhà từ mờ sáng, tụ tập ở trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Phố Cáo để chờ đón đoàn

Bà con dân bản háo hức rời nhà từ mờ sáng, tụ tập ở trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Phố Cáo để chờ đón đoàn

Nhiều em bé cũng theo mẹ xuống núi

Ánh mắt ngây thơ của các em gợi lên nét trong trẻo, hồn nhiên đặc trưng của trẻ em vùng cao

Ánh mắt ngây thơ của các em gợi lên nét trong trẻo, hồn nhiên đặc trưng của trẻ em vùng cao

Đây là năm thứ hai liên tiếp, Báo điện tử VietnamPlus kết hợp với Samsung tổ chức trao tặng bồn nước cho bà con

Với đồng bào vùng cao ở Đồng Văn, bồn nước có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp họ tích trữ nước sạch để vượt qua mùa khô hạn kéo dài

Cùng với đó là những phần quà trao tặng cho người dân tại các khu cách ly của xã Phố Cáo

Và cả sách vở, đồ dùng học tập dành tặng các điểm trường còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

Nhân viên kỹ thuật chỉ dẫn tận tình cách lắp đặt van vòi cho bà con dân bản

Nhân viên kỹ thuật chỉ dẫn tận tình cách lắp đặt van vòi cho bà con dân bản

Không phải ai cũng có điều kiện sắm sửa bồn nước thế này, vì vậy đây là món quà thực sự đáng quý

Giờ là lúc đưa “em nó” về nhà

Những hộ dân ở gần trụ sở Ủy ban Nhân xã Phố Cáo chủ động gùi bồn nước trên lưng để đi bộ về nhà

Người thì tận dụng chiếc xe cải tiến…

Bà con tâm sự, bồn nước tuy hơi cồng kềnh nhưng còn nhẹ và dễ dàng hơn là gùi củi khô trên lưng

Cảnh hàng dài người nối đuôi nhau chở bồn nước về nhà tạo nên hình ảnh hết sức đáng nhớ với người dân vùng cao

“Có bồn nước rồi, mình không lo phải đi xin nước sạch nữa…”

Ở nơi “thâm sơn cùng cốc” thế này, chiếc bồn nước là ước ao từ lâu của đồng bào dân tộc thiểu số

Cuộc sống của đồng bào cũng ngày càng được cải thiện nhờ sự quan tâm của chính quyền các cấp, cũng như các đơn vị tài trợ

Bữa ăn của đồng bào sẽ không còn chỉ có mèn mén, mà sẽ thêm nhiều dinh dưỡng

Đoàn cán bộ VietnamPlus cũng tới thăm đồn biên phòng, điểm chốt tại bản Khó Trư, vùng biên giới giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

Đây là một trong những nơi khó khăn và nghèo nhất cả nước. Địa hình đồi núi đá, giao thông đi lại khó khăn. Mùa Đông, khí hậu rất khắc nghiệt, nhiệt độ trung bình từ 0 đến 10 độ C

Ảnh: Lê Minh Sơn<br>Video: Lâm Phan-Hoàng Đạt<br>Text: Minh Thu
Ảnh: Lê Minh Sơn
Video: Lâm Phan-Hoàng Đạt
Text: Minh Thu

Khám phá Chuisky – Cung đường đẹp nhất nước Nga

Khám phá Chuisky – Cung đường đẹp nhất nước Nga

Đường Chuisky là con đường lâu đời nhất nối trung tâm vùng Siberia với châu Á. Con đường này có tổng chiều dài gần 1000 km, bắt đầu từ Novosibirsk và kết thúc ở biên giới Nga với Mông Cổ. Năm 2014, tạp chí National Geographic công bố bình chọn Top 10 con đường đẹp nhất thế giới và Chuisky được xếp ở vị trí thứ 5 trong danh sách này.

Nhiều người hẳn sẽ thốt lên kinh ngạc khi xem những bức ảnh đẹp như tranh vẽ được chụp trên cung đường này vào những ngày Thu vừa qua. Nhiều người khác có lẽ sẽ lên kế hoạch tự thực hiện chuyến khám phá vẻ đẹp Chuisky vào một thời điểm nào đó.

“Con đường tơ lụa” của vùng đất Vàng

Trong những ngày Thu tháng Mười, chúng tôi đến thăm Altai – nước cộng hòa tự trị  thuộc Liên bang Nga, có biên giới giáp với Mông Cổ, Kazakhstan và Trung Quốc. Đưa chúng tôi đi khám phá cung đường Chuisky, anh Vadic (lái xe người địa phương) giải thích từ Altai – theo tiếng địa phương có nghĩa là Vàng.

Tên gọi này được hình thành theo hai nghĩa, một là vùng đất này xưa kia có rất nhiều mỏ vàng và mùa thu vàng tuyệt đẹp ở đây. Anh Vadic nói: “Người Altai xưa và nay không thích vàng và đồ trang sức từ vàng, những mỏ vàng lớn nhất được phát hiện và khai thác vào thời Liên Xô. Đến nay gần như đã cạn kiệt. Nhưng mùa thu vàng thì vẫn còn tràn ngập trên con đường Chuisky cho tới tận biên giới Mông Cổ”.

Bức tranh mùa thu vàng Altai ở hai bên đường Chuisky. Ảnh: Trần Hiếu – PV TTXVN tại Nga

Hệ thống cáp treo phục vụ khách du lịch được đưa vào sử dụng từ tháng 10/2020

Cây cầu treo đi bộ Aiskyi bắc qua sông Katun được xây dựng từ năm 1979, là địa điểm để du khách ngắm cảnh đẹp hai bên bờ sông

Theo những tư liệu lịch sử, đường Chuisky lịch sử là một phần của con đường hiện đại từ Biysk (vùng Altai) qua thủ phủ Gorno-Altaisk của nước cộng hòa tự trị Altai đến biên giới với Mông Cổ. Quãng đường này có chiều dài khoảng 630 km với đa số là đèo dốc cua tay áo.

Việc hình thành con đường này xuất phát từ sự trao đổi hàng hóa giữa vùng Siberia của Nga và Mông Cổ vào đầu thế kỷ 19. Nhưng khi đó, đường Chuisky còn rất sơ khai, chỉ có thể dùng ngựa hoặc lạc đà để đi lại và chở hàng. Nhiều người dân địa phương vẫn ví von Chuisky là “con đường tơ lụa” của Altai và vùng đất Siberia rộng lớn.

Hồ Manzherok một trong những thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Gorno-Altai

Đến thời Liên Xô, chính quyền Moskva coi trọng giao thương và bang giao với Mông Cổ nên đường Chuisky được nâng cấp nhiều lần. Năm 1922, Ban Chấp hàng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ra nghị quyết về việc xây dựng đường Chuisky thành đường quốc lộ cho các phương tiện xe cơ giới. Đến năm 1935, tuyến đường này được hoàn thành và đưa vào hoạt động. 

Khám phá cung đường vàng

Lái xe dọc theo đường Chuisky giống như băng qua toàn bộ nước Nga. Tạp chí National Geographic đã bắt đầu bằng những từ như vậy để mô tả về Chuisky khi công bố danh sách 10 tuyến đường đẹp nhất hành tinh. Con đường bắt đầu ở Biysk, với những khu rừng thông và bạch dương bao quanh những ngôi làng. Một trong những ngôi làng đó là nơi sinh ra nhà văn Vasily Shukshin, người đã để lại cho hậu thế những tác phẩm kiệt xuất như tuyển tập truyện “Dân làng,” các phim truyện “Từng sống một gã trai như thế”, “Bên hồ”, “Kim ngân quả đỏ”, “Họ đã chiến đấu vì Tổ quốc”.

Khu du lịch sinh thái ở thượng nguồn sông Katun

Đi qua khoảng 100km, bạn sẽ đến Gorno-Altaisk – thủ phủ của nước cộng hòa Altai. Đi tiếp trên cung đường này, bạn sẽ được chứng kiến màu nước xanh ngọc bích chỉ có vào mùa thu của sông Katun, hai bờ sông là những hẻm núi đá cao dựng đứng. Đường Chuisky chạy qua những thung lũng thông xanh và thông đỏ đang vào độ chín của sắc vàng.

Thông đỏ là một sản vật quý của Altai. Loại cây này chỉ sống ở những nơi có khí hậu khắc nghiệt, gỗ cây cứng chắc hơn cả gỗ lim của rừng nhiệt đới, thường được người dân địa phương sử dụng để làm cột trụ nhà. Hạt thông đỏ được khai thác để xuất khẩu, trong khi dầu cây thông đỏ là một loại dược liệu quý có nhiều công dụng chữa bệnh.

Khi nhìn thấy thông đỏ có nghĩa là bạn đã đi vào một vùng đất khác của Taiga. Đó là địa hình Taiga vùng núi cao. Ở đây không còn những cánh rừng bạt ngàn cây cối, mà chỉ còn những mỏm núi với vài hàng cây thông đỏ kiên trì bám trụ bất chấp sự khốc liệt của khí hậu và thời gian. Trên cung đường Chuisky bạn có thể rẽ vào tham quan hồ Teletskoye, núi Belukha, thảo nguyên Kurai dưới chân sườn núi Severo-Chuiskiy, nơi hội tụ những hòn đảo nhỏ cuối cùng của rừng taiga.

Vượt qua con đèo Severo-Chuiskiy, bạn nhìn thấy một vùng rộng lớn của thảo nguyên Ongudai, nơi ngự trị của những người du mục Altai. Vùng này phát triển nghề chăn nuôi gia súc lớn, là nơi cung cấp thịt bò, cừu, dê, ngựa cho cả vùng Siberia và nhiều thành phố lớn ở Nga. Lái xe qua đây, bạn phải chú ý tập trung và tay lái bởi luôn có sự xuất hiện bất ngờ của những chú bò trên đường. “Nhưng bò thì vẫn chưa phải là nguy hiểm nhất vì nó di chuyển chậm và có thể phán đoán được. Chúng tôi sợ nhất là ngựa. Nó có thể bất thình lình nhảy lên hoặc quay đầu chạy theo hướng không thể đoán trước được” – anh lái xe Vadic của chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm sương máu khi di chuyển trên cung đường này.

Từ Ongudai, bạn đi hơn 250 km nữa là đến Kosh-Agach, huyện biên giới giáp với Mông Cổ. Đoạn đường này được hình thành vào năm 1903. Ban đầu nó là một đường mòn trên núi được các thương nhân sử dụng và khách hành hương đi bộ đến khu vực có những cây thiêng ở thượng nguồn sông Katun để hành lễ.

Phần lớn người du mục Altai theo tín ngưỡng trắng, họ tôn thờ mẹ Thiên nhiên, coi núi non, sông nước và cây cây cối là linh thiêng. Người dân theo tín ngưỡng này thường buộc những sợi vải lên cành cây cổ thụ hoặc cây ở những nơi có khe nước suối chảy ra để bày tỏ sự tôn kính với thiên nhiên.

Chuyến khám phá cung đường Chuisky của chúng tôi dừng lại ở đèo Chike-Taman khi trời đã xế chiều. Từ đỉnh đèo Chike-Taman chúng tôi phóng tầm mắt bao quát cả một vùng thung lũng rộng lớn và tận hưởng những làn gió mát lành áp vào da mặt và ngắm nhìn cảnh hoàng hôn đang buông xuống những hàng thông đỏ. Anh Vadic nói, muốn khám phá hết cung đường này phải đi một tuần. Trên cung đường này có đầy đủ các cơ sở dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống, nạp nhiên liệu và dừng nghỉ trên đường.

Năm nay, Altai đã trở thành một điểm thu hút hàng triệu người du lịch. Đây là một kỷ lục độc đáo trong thời kỳ đại dịch COVID-19. Phát triển du lịch đã và đang là một trong những ưu tiên của cộng hòa Altai. Trong tương lai, các khu  nghỉ dưỡng chất lượng cao sẽ được xây dựng tại đây và sân bay địa phương sẽ được nâng cấp thành sân bay quốc tế để đón khách từ nhiều quốc gia tới tham quan và nghỉ dưỡng.

Quang cảnh thung lũng Ongudai nhìn từ đỉnh đèo Chike-Taman

Trần Hiếu
Trần Hiếu

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Nga

Chuyến công du đầu tiên của Thủ tướng tới châu Âu

Ấn tượng Việt Nam

Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 31/10 đến 5/11 tới châu Âu, tham gia Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26); thăm làm việc tại Vương quốc Anh; thăm chính thức Cộng hòa Pháp đã thành công trên mọi phương diện.

Cơ hội để thay đổi mô hình phát triển kinh tế

Hội nghị COP26 là sự kiện quốc tế lớn, quan trọng hàng đầu, được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, thu hút sự tham gia của gần 200 quốc gia thành viên trong đó có 120 nguyên thủ và thủ tướng các nước cùng khoảng 36.000 đại biểu. Việc Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam tham gia Hội nghị mang nhiều ý nghĩa quan trọng và đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, Việt Nam coi COP26 là một cái thời cơ để thay đổi mô hình phát triển kinh tế, thay đổi tư duy từ phát triển không bền vững dựa vào tài nguyên sang phát triển tăng trưởng xanh, kinh tế carbon thấp, kinh tế tuần hoàn.

Tại hội nghị lần này, Thủ tướng Chính phủ đã có bài phát biểu quan trọng và ấn tượng như Chủ tịch COP26 đã nói, bài phát biểu Thủ tướng Việt Nam cam kết hết sức mạnh mẽ nhưng rất thực tiễn.

Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh đến trách nhiệm, đạo đức trong vấn đề ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời nhấn mạnh đến bối cảnh mà đàm phán còn rất nhiều khó khăn giữa các nước phát triển, giữa các nước đang phát triển trong việc đặt ra mục tiêu và kỳ vọng cao hơn và phải có những thay đổi rất lớn hơn.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan cho rằng Việt Nam, trong đó có ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nắm bắt thời cơ này để kêu gọi các tập đoàn kinh tế lớn đang có hướng tìm đến Việt Nam để hỗ trợ những gói tài chính, hỗ trợ về tư vấn kỹ thuật, chuyển giao những sáng kiến mà các quốc gia khác đã làm thành công trong lĩnh vực nông nghiệp để chuyển hóa thành chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Việt Nam sẽ thực hiện đúng nghĩa là một thành viên có trách nhiệm và ngành nông nghiệp cũng chứng minh rằng nền nông nghiệp Việt Nam phát triển dựa trên trách nhiệm, minh bạch và bền vững.

Khẳng định vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế

Đáng chú ý, nhân dịp tham dự COP26, Thủ tướng Chính phủ và đoàn Việt Nam đã có hơn 20 cuộc gặp, tiếp xúc song phương với lãnh đạo cấp cao các nước ở tất cả các châu lục để thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các nước và các đối tác, đưa quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả, góp phần tích cực củng cố cục diện đối ngoại vững chắc và thuận lợi để giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển đất nước.

Bộ trưởng Bộ ngoại giao Bùi Thanh Sơn cho biết điều toát lên khi lãnh đạo các nước trao đổi với Thủ tướng Việt Nam là tình cảm dành cho Việt Nam. Lãnh đạo các nước rất khâm phục trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng lên rất lớn.

Qua những cuộc trao đổi, bạn bè quốc tế thực sự coi trọng về vị trí của Việt Nam. Việt Nam với vai trò không phải là chỉ là một thành viên chủ động, tích cực của ASEAN, mà còn là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Những thông điệp mạnh mẽ của Việt Nam đưa ra trong hội nghị, đặc biệt là khi tiếp xúc với Thủ tướng Chính phủ, được bạn bè quốc tế trân trọng, đánh giá rất cao.

Cùng với những thành công vang dội tại COP26, chuyến thăm làm việc tại Anh và thăm chính thức Pháp của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đạt được nhiều mục tiêu quan trọng, kết quả thực chất và có ý nghĩa chiến lược.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cho rằng nhìn tổng thể, chuyến thăm lần này mang lại những ý nghĩa, kết quả rất toàn diện cả về song phương giữa Việt Nam với Anh, giữa Việt Nam với Pháp và cả về đa phương; thể hiện được trách nhiệm lớn của Việt Nam với cộng đồng quốc tế và qua đó cũng tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè quốc tế trong công cuộc chuyển đổi năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới. Đồng thời, chuyến thăm cũng đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển không chỉ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương mà cả trên thế giới.

Sức hút đầu tư, thương mại của Việt Nam

Trong hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư của chuyến công tác Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chứng kiến gần 60 bản ghi nhớ hợp tác đã được doanh nghiệp Việt Nam và các nước thỏa thuận, tổng giá trị đầu tư cam kết lên đến hơn 30 tỷ USD.

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ có gần 40 cuộc tiếp xúc, trao đổi với hơn 60 lãnh đạo các tập đoàn, ngân hàng, trường đại học hàng đầu của Anh, Pháp và châu Âu.

Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, ấn tượng nhất trong chuyến thăm và làm việc tại Anh và Pháp trong lĩnh vực thương mại là sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với Việt Nam. Có gần 70 nhà đầu tư lớn, các tập đoàn kinh tế lớn ở hầu hết các lĩnh vực đã tìm gặp Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo các bộ, ngành. Có thể nói, từ sáng sớm cho đến tối khuya, các doanh nghiệp vẫn xếp hàng để gặp gỡ, bày tỏ ý tưởng và đề xuất với Chính phủ, với các bộ, ngành về những dự án mà họ sẽ dự kiến triển khai.

Đây là những động thái cho thấy rằng là các nhà đầu tư ở châu Âu nói chung, Anh và Pháp nói riêng rất quan tâm đến thị trường Việt Nam và rất quan tâm đến Hiệp định bảo hộ đầu tư mà Việt Nam với Vương quốc Anh cũng như Việt Nam với Liên minh châu Âu sẽ triển khai thực hiện tới đây.

Kiều bào là bộ phận khổng thể tách rời

Đặc biệt, với tinh thần triển khai Kết luận 12 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, Thủ tướng đã có cuộc gặp với gần 100 kiều bào Anh, Ireland và hơn 200 đại diện kiều bào tiêu biểu Pháp, châu Âu, thông báo với bà con tình hình mọi mặt của đất nước, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con.

Với chương trình làm việc dày đặc, tiếp xúc trên cả kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, quốc hội, bạn bè và kiều bào, chuyến công tác lần này của Thủ tướng Chính phủ và đoàn đại biểu cấp cao đã thành công rất tốt đẹp, đạt kết quả toàn diện, thực chất và cụ thể, hiện thực hoá đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng 13 đề ra là độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, góp phần thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đặt hoa tại Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Công viên Montreau (Pháp)

Tâm sự nữ điều dưỡng chi viện: ‘Xin gửi lại nơi này, một trái tim yêu’

Tâm sự nữ điều dưỡng chi viện: ‘Xin gửi lại nơi này, một trái tim yêu’

“Chuyện đi chi viện chống dịch tại miền Nam thì nhiều, chuyện vui có, buồn có, chống chếnh và cả hân hoan cũng có.

Nhưng tôi cũng không biết bắt đầu từ đâu, bởi thời gian hai tháng qua là một cuộc hành trình khó tả, có sự vội vã và gấp gáp, lúc lại chậm dãi như một thước phim quay chậm khi đứng bên bệnh nhân cùng những chiếc máy thở chỉ phát ra từng tiếng bíp bíp đều đặn mỗi ngày…”

Điều dưỡng Đinh Thị Giang Hoài – Khoa Cơ Xương khớp (Bệnh viện Hữu Nghị) tâm sự về hơn 50 ngày cùng đồng nghiệp nhận nhiệm vụ tham gia hỗ trợ công tác chống dịch COVID-19 tại Bệnh viện Dã chiến số 2 (Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang) ở Tiền Giang.

Nỗ lực để không có những cảnh chia ly

Ngày 19/8, điều dưỡng Hoài (47 tuổi) và 29 y bác sỹ của Bệnh viện Hữu Nghị lên đường vào chi viện chống dịch tại Trung tâm ICU của Bệnh viện Dã chiến số 2 tỉnh Tiền Giang.

Trung tâm hồi sức tích cực bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang là cơ sở thu dung, điều trị cho 60-80 bệnh nhân COVID-19 có diễn biến nặng, nguy kịch. Đây cũng là cơ sở điều trị tuyến cuối thuộc tháp điều trị 3 tầng của Bộ Y tế. Trung tâm được chia làm 3 tầng, tương ứng với khu điều trị bệnh nhân nguy kịch, nặng đến nhẹ và đủ điều kiện xuất viện.

Nhân viên y tế chăm sóc cho các bệnh nhân mắc COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Mỗi kíp trực, các điều dưỡng và y bác sỹ của trung tâm phải liên tục theo dõi và chăm sóc cho 18 bệnh nhân diễn biến nặng. Vì trực ca đêm nên ai nấy đều mệt mỏi, nhưng vì tính mạng của người bệnh cũng như trách nhiệm của một nhân viên y tế nên mọi người đều tự nhủ phải cố gắng, nỗ lực từng giây, từng phút mong sao người bệnh được khỏe mạnh trong cuộc chiến cam go này.

Nhớ về những ngày tham gia chi viện tại phương Nam, chị Hoài chia sẻ: Đó dường như là một khoảng thời gian mà với tôi cảm xúc lẫn lộn, khó diễn tả bằng lời. Chỉ biết rằng, đi qua những ngày tháng ấy, chúng tôi luôn tâm niệm phải cố gắng, nỗ lực cao nhất để làm sao không có những cảnh chia ly, những câu chuyện buồn đau do đại dịch COVID-19 gây ra…”.

”Chỉ biết rằng, đi qua những ngày tháng ấy, chúng tôi luôn tâm niệm phải cố gắng, nỗ lực cao nhất để làm sao không có những cảnh chia ly, những câu chuyện buồn đau do đại dịch COVID-19 gây ra…”.

Điều dưỡng Đinh Thị Giang Hoài chia sẻ

Nhớ lại những ngày làm việc tại trung tâm, chị Hoài và những đồng nghiệp thấy “liều” và đầy may mắn. Bởi có những lúc cứu chữa bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch phải vận chuyển nhanh lên cấp cứu ở các tầng trên, mọi người trong trang phục bảo hộ 4 lớp bùng nhùng và khó di chuyển nhưng ai nấy cũng đều băng băng đi như bay khiêng bệnh nhân bằng cầu thang bộ chạy lên gác một cách nhanh nhất có thể.

Và một kỷ niệm khó quên nữa khiến chị Hoài và nhiều đồng nghiệp vẫn bùi ngùi khi nhắc lại, đó là khoảnh khắc chia tay sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ sau quãng thời gian “chiến đấu” gian khổ và kiên cường.

Điều dưỡng Hoài chăm sóc cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại Bệnh viện Dã chiến số 2 ở Tiền Giang. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

“Tôi chỉ biết rằng, trong lịch sử làm việc của mình chưa bao giờ gặp cảnh ngộ như vậy. Sau hai tháng làm việc, ngày 14/10, khi chúng tôi chia tay đoàn y bác sỹ ở Bệnh viện Dã chiến số 2 (Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang). Đó cũng gần như là lần duy nhất tại nơi làm việc chúng tôi được bỏ khẩu trang sau nhiều lần xét nghiệm để nói lời chia tay với bạn đồng nghiệp,” điều dưỡng Hoài kể. 

“Bên nhau trong những ngày gian khó”

Bệnh viện Dã chiến số 2 tại tỉnh Tiền Giang được thành lập ngày 16/6 trên cơ sở của Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi, với thiết kết ban đầu cho khoảng 60 giường điều trị bệnh nhân COVID-19. Sau đó, bệnh viện nâng dần công suất lên 80 giường bệnh.

Nhớ lại những ngày đầu, đối diện với nhiều ca bệnh nặng, chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, làm việc liên tục, mỗi ca trực đêm của các điều dưỡng và y bác sỹ tại đây có cường độ làm việc từ 8-12 giờ/ngày. Trước sự khắc nghiệt của dịch bệnh và trước bạo bệnh, sinh mệnh con người chỉ mong manh như ngọn đèn trước gió, mỗi cán bộ y tế tại bệnh viện đều không bao giờ chùn bước để bảo vệ an toàn cho mỗi người dân, giành lại sự sống cho người bệnh.

Chị Hoài nhớ lại, có ca bệnh nhân mắc COVID-19 chuyển biến xấu và khó thở nhanh trong đêm tại tầng 3 – nơi theo dõi, điều trị cho bệnh nhân nhẹ, trung bình. Khi đó 3 y, bác sỹ của Bệnh viện Hữu nghị trong ca trực tại tầng 1 tức tốc chạy lên phòng bệnh để nắm bắt tình hình.

Bệnh viện không có thang máy để di chuyển bệnh nhân, cơ sở vật chất cũng tương đối cũ mà chỉ có 3 người, việc vận chuyển bằng cáng trong tình huống cấp bách đó rất khó khăn.

Bệnh nhân H.T.A, 66 tuổi, lúc tỉnh, lúc mê, có biểu hiện suy hô hấp, nồng độ oxy trong máu SPO2 chỉ đạt 71%. Lập tức, điều dưỡng Nguyễn Văn Mạnh của Bệnh viện Hữu nghị tiến hành sơ cứu tại chỗ, tăng nồng độ oxy, mặc dù vậy bệnh nhân vẫn không có cải thiện.

Nhận thấy người bệnh có diễn biến xấu, cả nhóm chuẩn bị cáng cứu thương, bình oxy để di chuyển bệnh nhân xuống tầng 1 là khu vực điều trị cho các ca bệnh nặng, nguy kịch.

Lúc này kíp trực chỉ có 3 người, 1 nam và 2 nữ, người bệnh lại đang diễn biến nhanh, việc vận chuyển bằng cáng xuống 3 tầng lầu sẽ tốn rất nhiều thời gian và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Với kinh nghiệm cấp cứu cũng như cảm quan của một điều dưỡng, điều dưỡng Mạnh ngay lập tức cõng bệnh nhân di chuyển xuống khu vực cấp cứu xuống tầng 1.

Với họ, gần hai tháng trôi qua là một cuốn hồi ký khó quên trong suốt quãng đời còn lại. Cuốn hồi ký có chất chứa cả niềm vui, nỗi buồn, nụ cười và cả những giọt nước mắt.

Kíp trực của chị Hoài, điều dưỡng Mạnh đêm hôm đó người cõng bệnh nhân, người đỡ lưng, nâng chân, người thì ôm bình oxy nặng gần 20kg di chuyển nhanh xuống tầng một. Trong bầu không khí căng thẳng, mỗi người một việc, đặt máy thở oxy dòng cao, đặt đường truyền, mắc monitor theo dõi. Khi bác sỹ cấp cứu cho bệnh nhân, kíp trực lại chuẩn bị máy thở, máy hút đờm và tiếp tục theo dõi sát những chỉ số sinh tồn của người bệnh.

Rất may sau đó, bệnh nhân không phải đặt nội khí quản, SPO2 lên dần 80, 85… rồi 91%. Mọi người thở phào, ai nấy đều vui mừng vì nhờ sự khẩn trương, không ngại khó khăn của các điều dưỡng mà người bệnh đã vượt qua cơn nguy kịch, từ cõi chết trở về.

Các y bác sỹ tại Bệnh viện Dã chiến số 2 ở Tiền Giang. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Sau gần hai tháng tham gia hỗ trợ công tác chống dịch tại Tiền Giang, tối 15/10/2021 đoàn thầy thuốc gồm 30 nhân viên y tế của Bệnh viện Hữu Nghị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và trở về bệnh viện. Với họ, gần hai tháng trôi qua là một cuốn hồi ký khó quên trong suốt quãng đời còn lại. Cuốn hồi ký có chất chứa cả niềm vui, nỗi buồn, nụ cười và cả những giọt nước mắt.

Với điều dưỡng Hoài, chị tâm sự đó là chuyến đi công tác dài nhất của chị nhưng mang lại nhiều điều quý giá, là trải nghiệm không thể quên trong đời. Chia tay Tiền Giang, hoàn thành nhiệm vụ đi chi viện trong cuộc chiến chống lại đại dịch COVID-19, người phụ nữ, người điều dưỡng ấy xúc động viết nên những vần thơ đầy lắng đọng:

                Tạm biệt nhé, viện Lao đầy “máu lửa”
                Trải qua bao đêm thức trắng bên Người
                Những bước chân trong đêm đen vội vã
                Bậc cầu thang lên xuống đến ghê người

                Tạm biệt nhé, những đồng đội của tôi
                Đã bên nhau trong những ngày gian khó
               Cùng đóng góp một phần nhỏ bé
               Đẩy lùi dịch bệnh để cuộc sống được hồi sinh

               Tạm biệt nhé, những gì còn đọng lại
               Nơi ghi dấu những ngày tháng bên nhau
               Mai mốt về với nơi tôi đang sống
               Xin gửi lại nơi này, một trái tim yêu

Trong bốn tháng qua, Bộ Y tế đã điều động 20.000 cán bộ y tế từ các tỉnh, thành phố vào miền Nam phòng chống dịch bệnh COVID-19. Những ngày tham gia chi viện tại phương Nam, lực lượng nhân viên y tế phải gánh vác một khối lượng công việc rất lớn, mỗi người làm gấp ít nhất 5 lần công việc hàng ngày vốn đã rất áp lực. Ngoài khó khăn và nỗ lực vì phải đảm đương khối lượng công việc lớn, cán bộ y tế phải đối mặt với nguy cơ cao bị lây nhiễm, đã có hàng nghìn cán bộ y tế bị lây nhiễm khi đang làm nhiệm vụ.

Niềm vui của các y bác sỹ khi bệnh nhân mắc COVID-19 tại Bệnh viện Dã chiến số 2 ở Tiền Giang được xuất viện về nhà. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Để góp một phần công sức trong công cuộc phòng chống dịch COVID-19, những nữ cán bộ ngành y tế đã phải gác lại thiên chức làm mẹ, làm vợ, chấp nhận những hy sinh, gian khổ lên đường vào các tỉnh miền Nam tham gia đội ngũ phòng chống dịch bệnh.

Hằng ngày, dù phải đối mặt với những hiểm nguy nhưng họ vẫn quyết tâm vượt lên trên tất cả, cho đi sức trẻ, tinh thần, sự nhiệt huyết với mong muốn sớm đẩy lùi dịch bệnh một cách nhanh nhất để cuộc sống của người dân sớm trở về bình thường như trước.

Điều dưỡng Hoài và những nữ cán bộ y tế xứng đáng là những “bông hoa” trong bộ áo Blouse trắng lặng thầm tỏa hương thơm góp phần vào thắng lợi bước đầu trong công cuộc phòng chống dịch bệnh, đem lại bình yên cho nhân dân./.

Bài 5: Trong gian khó vẫn sáng mãi phẩm chất ‘Lương y như từ mẫu’

Thùy Giang
Thùy Giang

COVID-19: Trong gian khó vẫn sáng mãi phẩm chất ‘Lương y như từ mẫu’

COVID-19: Trong gian khó vẫn sáng mãi phẩm chất ‘Lương y như từ mẫu’

Gần 2 năm qua, dịch bệnh COVID-19 hoành hành trên thế giới và trong nước. Cuộc chiến phòng, chống dịch bệnh COVID-19, đặc biệt là đợt dịch thứ 4 với biến chủng Delta đã tạo nên thách thức chưa từng có trong tiền lệ với hệ thống y tế thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, với quan điểm xuyên suốt là đặt sức khỏe, tính mạng người dân lên trên hết, cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, ngành y tế và các đơn vị đã vào cuộc quyết liệt, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống trong các đợt dịch.

Trước bối cảnh dịch bệnh, cả dân tộc Việt Nam, đặc biệt là lực lượng y tế tuyến đầu đã đồng lòng đối phó, không quản ngại hiểm nguy, hàng chục ngàn nhân viên y tế sẵn sàng tình nguyện vào tâm dịch để cứu chữa cùng người dân dần dần đi qua dịch bệnh một cách kiên cường.

Những trái tim không ngại khó

Đến nay, dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam cơ bản đã được kiểm soát trong đợt dịch lần thứ 4 và đang thực hiện lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh, vừa phòng chống dịch bệnh thành công, vừa khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội.

Trong hành trình gần 600 ngày chống dịch, Việt Nam đã chứng tỏ sức mạnh của sự đoàn kết, sự đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân với sự quyết liệt, quyết tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, của sự chia sẻ, của tình yêu thương và nhân ái…

Trong hành trình gần 600 ngày chống dịch, Việt Nam đã chứng tỏ sức mạnh của sự đoàn kết, sự đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân với sự quyết liệt, quyết tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, của sự chia sẻ, của tình yêu thương và nhân ái… Đặc biệt trong số đó, đội ngũ cán bộ và nhân viên y tế, thầy thuốc trên cả nước đã có nhiều hy sinh cao cả, vượt mọi khó khăn quyết tâm chống dịch.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, kể từ đầu năm 2020, khi xảy ra dịch COVID-19 đến nay, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 đã chủ động chỉ đạo sát sao, quyết liệt, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và thực hiện các biện pháp mạnh mẽ, tích cực để ngăn chặn dịch bệnh.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình dịch COVID-19, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác phòng, chống dịch COVID-19. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Theo thống kê của Bộ Y tế, tổng nhân lực y tế tham gia hỗ trợ chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam trong đợt dịch thứ 4 là gần 24.000 người, ước tính có khoảng 2.300 nhân viên y tế bị lây nhiễm COVID-19, trong đó có 2 điều dưỡng và 1 bác sỹ ra đi mãi mãi.

Những câu chuyện có thật chứa đựng sự hy sinh lớn lao của đội ngũ nhân viên y tế khi “xông” vào tâm dịch COVID-19 để cứu chữa, điều trị chăm sóc cho bệnh nhân. Có những gia đình hai vợ chồng xung phong và tâm dịch, các nữ thầy thuốc thu xếp việc gia đình, nhờ bố mẹ chăm sóc con nhỏ để tới những miền đất xa; có những bác sỹ đã nghỉ hưu lặn lội hàng ngàn cây số vào bệnh viện dã chiến trong miền Nam; có những người phải trải qua nỗi đau mất người thân mà không thể về chịu tang…

Xây “pháo đài” vì nghĩa đồng bào

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn phân tích làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4 bắt đầu từ ngày 27/4, nhanh chóng lan rộng trên địa bàn cả nước. Trong hơn 5 tháng vừa qua, cả nước đều rất vất vả chống dịch, phát triển kinh tế xã hội, đời sống của người dân bị đảo lộn.

Có thể nhận thấy, suốt 2 năm qua, cả lý trí và tình cảm của đội ngũ y bác sỹ đều thôi thúc người thầy thuốc phải luôn có mặt tại điểm nóng dịch bệnh. Đó không chỉ là nghĩa vụ với nghề, mà còn là trách nhiệm công dân khi Tổ quốc cần, là nghĩa đồng bào, tình đồng chí cao cả.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn phân tích đỉnh cao trong cuộc chiến chống lại COVID-19 là đợt dịch khởi phát từ đầu tháng 6 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là thời gian hết sức căng thẳng đối nhân viên y tế từ trước đến nay, khi chưa bao giờ thấy số ca mắc lên tới hàng chục nghìn, tỷ lệ tử vong có ngày lên đến 340 ca, số lượng người trở nặng vào viện rất lớn.

Tổng nhân lực y tế tham gia hỗ trợ chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam trong đợt dịch thứ 4 là gần 24.000 người, ước tính có khoảng 2.300 nhân viên y tế bị lây nhiễm COVID-19, trong đó có 2 điều dưỡng và 1 bác sỹ ra đi mãi mãi.

“Sau hơn 4 tháng dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ, triệt để giãn cách xã hội, huy động tất cả mọi nguồn lực y tế, quân đội, công an và các tình nguyện viên vào Thành phố Hồ Chí Minh với số lượng khổng lồ nhất từ trước đến giờ. Với nhân viên y tế, chúng tôi huy động hơn 24.000 lượt cán bộ, trong đó có các em sinh viên, giảng viên trường đại học, các thành viên ưu tú nhất của hệ thống hồi sức, hệ thống bệnh viện trung ương, các địa phương… cùng với lực lượng quân y, sự hỗ trợ của quân đội, công an,” ông Sơn nói.

Nhờ đó, Việt Nam thực hiện được hai chiến lược hết sức quan trọng: “phường xã là pháo đài, người dân là chiến sỹ” và thành quả chống dịch đó là thành quả đồng hành của lực lượng y tế cùng với nhân dân. Vì vậy, những “pháo đài” phòng chống dịch bệnh đã được xây dựng giúp cho người dân đảm bảo tính mạng an toàn khi theo dõi sức khỏe tại nhà.

“Về mặt y tế, theo chúng tôi thấy cơ bản đã vượt qua thời gian đen tối. Tạo được chiến thắng này ở các địa phương là do có sự chỉ đạo rất chính xác, kịp thời của Đảng, Chính phủ. Bên cạnh đó ngành y tế tập trung rất nhiều nguồn lực để hỗ trợ cho Thành phố Hồ Chí Minh,” Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn cho hay.

Chăm sóc cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến trong những ngày dịch tại phía Nam bùng phát. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Ngành y tế đã và đang khẳng định được tâm thế, vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trước tính mệnh và sức khoẻ của người dân. Trong một thời gian ngắn triển khai hàng chục bệnh viện dã chiến, hàng trăm trạm y tế lưu động để thu dung, điều trị bệnh nhân, giảm chuyển nặng, giảm tử vong, trong khi nếu điều kiện bình thường sẽ mất rất nhiều thời gian để thực hiện.

Sáng mãi lời thề Hippocrates

Tham gia chi viện tại tâm dịch Thành phố Hồ Chí Minh những ngày khốc liệt nhất, bác sỹ Nguyễn Thanh Huy, Trung tâm Hồi sức người bệnh COVID-19 của Bệnh viện Trung ương Huế tại Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ: “Có bệnh nhân vừa nói chuyện ít ngày trước, sau đã vĩnh viễn bất động. Những cuộc điện thoại của người nhà bệnh nhân cứ dồn dập đến và hầu như họ đều chết lặng hoặc thảng thốt không dám tin khi nhận thông báo từ bác sĩ nên công việc cũng rấp áp lực. Lúc đầu tôi và cộng sự của mình rất khó ngủ. Nếu triền miên thế ảnh hưởng đến hiệu suất công việc. Người nọ chỉ cho người kia cách giữ cân bằng tâm lý, chặn lại các mệt mỏi kéo dài. Làm công việc này thực sự cảm xúc rất khó diễn tả.”

Họ đang hòa cùng một nhịp tạo nên những thanh âm về phẩm chất của những cán bộ y tế gác bỏ lợi ích riêng mà vì sức khỏe của cộng đồng. Họ đã sống đúng với lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu” để chữa bệnh, cứu người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Qua những đợt dịch đối phó với “giặc” COVID-19 đã cho thấy lực lượng y tế tuyến đầu đã quên hiểm nguy để vào tâm dịch chữa bệnh cho đồng bào, đồng chí nhiễm bệnh. Những con người ấy đã gác lại hạnh phúc riêng tư, gác lại cuộc sống yên bình để đi vào tâm dịch.

Những con người ấy đã quên đi giấc ngủ, quên những bữa ăn, quên ngày quên tháng, quên Thứ Bảy, Chủ Nhật, quên đi sự nóng nực của những bộ đồ bảo hộ giữa mùa hè đổ lửa, quên đi nỗi sợ hãi, ám ảnh khi chứng kiến những phút giây sinh tử… Nhưng đổi lại, họ cảm thấy ấm áp, vui mừng, tự tin khi từng bệnh nhân khỏi bệnh…

Và, trong hành trình gian nan ấy, họ cũng đã chứng kiến nhiều đồng nghiệp của mình đã bị nhiễm bệnh và có người đã ra đi mãi mãi.

Các y bác sỹ tại các bệnh viện điều trị COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trong cuộc chiến chống lại dịch COVID-19, những nhân viên y tế từ lãnh đạo cấp cao đến đội ngũ bác sỹ, dịch tễ hay những người điều dưỡng đang hòa cùng một nhịp tạo nên những thanh âm về phẩm chất của những cán bộ y tế gác bỏ lợi ích riêng mà vì sức khỏe của cộng đồng.

Họ đã sống đúng với lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu” để chữa bệnh, cứu người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Họ là những minh chứng sống động nhất của hàng chục, hàng trăm nghìn nhân viên y tế tuyến đầu đang ngày đêm cần mẫn xây dựng Đảng về đạo đức và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; công tác phòng, chống dịch.

Những phẩm chất, trách nhiệm của hàng ngàn nhân viên y tế đó với công việc một cách rất tự nhiên đã đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền trong ngành y tế.

Hơn 24.000 người thuộc ngành y và hàng chục nghìn người thuộc các lực lượng khác tham gia chống dịch là hàng trăm ngàn bông hoa đẹp, truyền cảm hứng về đức hy sinh, về trách nhiệm với đồng bào về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Họ truyền niềm tin để vượt lên nghịch cảnh, truyền năng lượng tích cực để đi qua những ngày khó khăn của dịch bệnh, bồi đắp thêm truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, ở đó tình đồng chí, nghĩa đồng bào.

Họ là những minh chứng thực tế góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa.”

Với tinh thần sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi tính mạng, sức khỏe của nhân dân bị dịch bệnh đe dọa, trong “cuộc chiến” chống lại “giặc” COVID-19, mỗi nhân viên y tế tuyến đầu đi chi viện như là những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Lan tỏa những tấm gương bình dị

Trước diễn biến dịch COVID-19 có mức độ ngày càng phức tạp, khó lường, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục có những chỉ đạo căn cơ, để phòng, chống dịch hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc;” tiếp tục chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và triển khai các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả, nhất là tại các địa phương đang có các ổ dịch lớn để sớm ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình sẽ còn diễn biến rất phức tạp, khó lường. Để chủ động hơn nữa trong công tác phòng, chống dịch, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, thỏa mãn với những kết quả bước đầu đạt được, ngăn chặn không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng; chủ động các phương án, kịch bản để kịp thời ứng phó với mọi tình huống.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc;” tiếp tục chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và triển khai các giải pháp mạnh mẽ…

Các tỉnh ủy, thành ủy, ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng và lãnh đạo các ngành, các cấp phải gương mẫu đi đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về các hoạt động phòng, chống dịch tại địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực mình phụ trách.

Những tấm gương là những nhân viên y tế bình dị ấy, họ không chỉ có trái tim nhân ái, nhân hậu mà còn trí tuệ thông minh, nghị lực kiên cường, sự chịu đựng bền bỉ, đặc biệt khi cuộc chiến diễn ra rất cam go.

Đó là những việc làm cụ thể, phát huy được sức lan tỏa, thúc đẩy việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội; ngày càng đi vào thực chất, dần trở thành việc làm thường xuyên, nền nếp, lối sống của các cán bộ, đảng viên và nhân dân trong ngành y tế tạo ra những chuyến biến tích cực trong nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh cộng hưởng, sự đồng lòng, quyết tâm trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, bảo vệ Tổ quốc, đạt nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ./.

Thùy Giang
Thùy Giang

Những trái tim nhiệt huyết trong ‘trận chiến’ đầy thử thách

Những trái tim nhiệt huyết trong ‘trận chiến’… đầy thử thách

Lời giới thiệu

Hai năm qua, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, thách thức hệ thống y tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Việt Nam đã trải qua hoàn cảnh rất khó khăn khi đợt dịch thứ 4 bùng phát với sự xuất hiện của biến chủng Delta rất nguy hiểm. Đó là cuộc chiến chống lại “kẻ thù vô hình” luôn tìm mọi cách nhằm chống lại sự nỗ lực của loài người.

COVID -19 là đại dịch nguy hiểm nhất của thế kỷ 21. “Cuộc chiến” chống COVID-19 chưa từng có trong tiền lệ trong lịch sử với mức độ ảnh hưởng rất nghiêm trọng, xảy ra ở cả 3 miền của đất nước.

Qua những đợt dịch đối phó với “giặc” COVID-19, người dân trên mảnh đất hình chữ S đã chứng kiến nhiều lực lượng tuyến đầu, trong đó có ngành y đã quên hiểm nguy để khoác lên người bộ đồ bảo hộ, đem theo trong tim lời thề hippocrates, quyết tâm chữa bệnh cho đồng bào. Những con người ấy đã gác lại hạnh phúc riêng tư, gác lại cuộc sống yên bình để đi vào tâm dịch.

Áp lực, vất vả là thế nhưng đội ngũ y, bác sỹ đã cho thấy sức chiến đấu bền bỉ để cố duy trì từng hơi thở của bệnh nhân. Tất cả mọi người đều đồng lòng, tập trung hết sức lực, trí tuệ của mình để điều trị bệnh nhân tốt nhất, sớm đẩy lùi dịch bệnh và đưa người bệnh trở về cuộc sống bình thường.

Những đảng viên, cán bộ ngành y trong loạt bài viết dưới đây là minh chứng sống động nhất của hàng chục, hàng trăm nghìn nhân viên y tế tuyến đầu đang ngày đêm để sống đúng với lời dạy của Bác Hồ “Lương y như từ mẫu” để chữa bệnh, cứu người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Qua dịch COVID-19, chúng ta đã thấy được những giá trị cốt lõi của con người, đó chính là sự đùm bọc, che chở nhau trong hoạn nạn và cả những tấm gương hy sinh vì dân, khiến không ai trong chúng ta không trân trọng và cảm phục.

Bài 1: Trò chuyện với “tướng” chỉ đạo dập dịch COVID-19

Trò chuyện với “tướng” chỉ đạo dập dịch COVID-19

Năm 2020, với sự nỗ lực của đội ngũ nhân viên y tế và các lực lượng khác cùng đoàn kết, đồng lòng Việt Nam đã đẩy lùi được 2 làn sóng của đại dịch COVID-19 xâm nhập vào nội địa. Trong năm 2021, cả thế giới sẽ phải tiếp tục chiến đấu với đại dịch lâu dài, vì tình hình trên thế giới vẫn còn diễn biến khá phức tạp.

Tại Việt Nam, trong năm 2020, “chiến trường” Đà Nẵng những ngày cuối tháng 7 và tháng 8 được coi là điểm nóng cam go nhất…

Chính trong những thời khắc khó khăn ấy, chính quyền và người dân thành phố Đà Nẵng rất cảm kích đón nhận sự chia sẻ, hỗ trợ về nhiều mặt, đặc biệt là đón các đoàn công tác từ Bộ Y tế, các bệnh viện lớn trên cả nước và từ các địa phương bạn đến tham gia, hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân COVID-19.

Đêm 30/7 Bộ Y tế đã quyết định thành lập “Bộ phận thường trực đặc biệt chống dịch COVID-19 tại Thành phố Đà Nẵng” để tăng cường công tác chỉ đạo và thực hiện các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 và điều trị bệnh nhân tại khu vực này, dưới sự chỉ huy của Phó giáo sư Nguyễn Trường Sơn, Thứ trưởng Bộ Y tế – Trưởng Tiểu ban Điều trị, Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch COVID-19.

Các y bác sỹ nỗ lực cứu chữa cho bệnh nhân mắc COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn – Ủy viên Ban cán sự Đảng Bộ Y tế để có cái nhìn tổng những chiến lược tạo nên thành công trong đợt dịch thứ hai tại Việt Nam.

Những “mũi công” chiến lược

– Thưa Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn, năm 2020 chứng kiến hai làn sóng COVID-19 ở Việt Nam. Tại đợt dịch thứ 2 với tâm điểm là Đà Nẵng, ông được xem là “tư lệnh” ở mặt trận “chống giặc” COVID tại địa phương này. Điều này đã tạo áp lực thế nào cho ông?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Quả thực, đó là một thách thức vô cùng lớn. Lúc đó chúng tôi nhận nhiệm vụ là phải làm sao hạn chế được số lượng mắc, làm sao hạn chế được tỷ lệ tử vong và phải điều trị giảm, tỷ lệ tử vong càng lớn càng tốt. Bên cạnh đó, công tác triển khai phòng, chống dịch trong thành phố cũng phải có những ý kiến tư vấn đối với cả hệ thống dịch của thành phố Đà Nẵng.

Với những áp lực đó, mình bản thân tôi chắc không thể chịu nổi. Tuy vậy, tôi may mắn được các đồng nghiệp cùng tham gia vào thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh đó có các hệ thống chỉ đạo từ phía Trung ương, Ban chỉ đạo, Bộ Y tế, các hệ thống hỗ trợ hội chẩn từ các giáo sư đầu ngành tại Hà Nội và tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Huế.

ĐÓ LÀ MỘT THÁCH THỨC VÔ CÙNG LỚN. LÚC ĐÓ CHÚNG TÔI NHẬN NHIỆM VỤ LÀ PHẢI LÀM SAO HẠN CHẾ ĐƯỢC SỐ LƯỢNG MẮC, LÀM SAO HẠN CHẾ ĐƯỢC TỶ LỆ TỬ VONG VÀ PHẢI ĐIỀU TRỊ GIẢM, TỶ LỆ TỬ VONG CÀNG LỚN CÀNG TỐT.

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn

Phải nói là các “mũi tên” về sách lược mà chúng tôi phân công như các hướng về phòng dịch, điều trị và tăng cường năng lực xét nghiệm ở Đà Nẵng đều là những chuyên gia rất giỏi, có nhiều kinh nghiệm.

Chúng tôi đã bàn bạc rất kỹ và sau đó đưa ra những quyết định rất phù hợp với tình hình Đà Nẵng.

– Ngày đó, đã có những lá đơn tình nguyện xung phong vào Đà Nẵng của các cán bộ y tế. Ông nghĩ thế nào về việc này?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Tôi hết sức trân quý những tấm gương tình nguyện của các đồng nghiệp trên khắp cả nước đã xung phong vào Đà Nẵng để cùng với Ban chỉ đạo phòng, chống dịch của quốc gia hỗ trợ y tế Đà Nẵng trong bối cảnh dịch lan rộng, đặc biệt khi có tới 3 bệnh viện của Đà Nẵng đang bị phong tỏa.

– Theo ông, điều gì đã thôi thúc những đội ngũ y, bác sỹ ở khắp nơi trên cả nước xung phong đến điểm nóng Đà Nẵng và đã hy sinh rất nhiều những quyền lợi cá nhân của mình trong sự nghiệp cứu người?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Tôi nghĩ đây không phải là chuyện thôi thúc mà là vấn đề trách nhiệm.

Với tôi, trước khi đi Thủ tướng cũng như đồng chí quyền Bộ trưởng Bộ Y tế lúc đó có giao nhiệm vụ phối hợp với Ban chỉ đạo phối hợp với Sở Y tế và các ngành y tế của Đà Nẵng để kiểm soát tình hình dịch bệnh.

Điều trị các bệnh nhân mắc COVID-19 tại Đà Nẵng. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bản thân tôi nhận thức đây là trách nhiệm của bản thân. Khi chúng tôi được mọi người gọi là sĩ quan ra trận tuyến trong cuộc chiến chống COVID-19 thì phải có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ mới trở về.

Trong cuộc họp Chính phủ, khi Thủ tướng yêu cầu, tôi có báo cáo về tình hình dịch và tất cả anh em ở đây đều trong tâm thế sẵn sàng phòng, chống dịch. Tất cả mọi người đều xin Thủ tướng là đến khi nào dịch ổn định thì mới ra Bắc.

Bản thân tôi nhận thức đây là trách nhiệm của bản thân. Khi chúng tôi được mọi người gọi là sĩ quan ra trận tuyến trong cuộc chiến chống COVID-19 thì phải có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ mới trở về.

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn

Đây những ý nghĩ tự đáy lòng của tất cả các đồng nghiệp có tâm nguyện đi vào hỗ trợ Đà Nẵng. Họ ra đi nhận nhiệm vụ với một tâm thế sẵn sàng. Cho đến bây giờ chúng ta rất vui mừng khi chiến dịch dập dịch ở Đà Nẵng đã thành công.

Trăn trở của “tư lệnh” chiến trường COVID-19

– Trong những ngày không thể nào quên trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 tại Đà Nẵng, Thứ trưởng có những kỷ niệm sâu đậm gì trong thời khắc cam go nguy nan nhất?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Thời khắc cam go nguy nan nhất là trong những ngày đầu. Tất cả những bệnh nhân nặng của Bệnh viện C Đà Nẵng và Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng đã được vận chuyển đến bệnh viện khác như Bệnh viện Trung ương Huế.

Sau khi chúng tôi thành lập 2 bệnh viện dã chiến tại Trung tâm Y tế Hòa Vang và Bệnh viện Phổi của Đà Nẵng, các bệnh viện Dã chiến bắt đầu tiếp nhận bệnh nhân. Khi đó, số lượng bệnh nhân tử vong và số lượng người mắc trong cộng đồng ngày càng tăng lên, kể cả trong bệnh viện.

Tôi nhớ, ngày cao điểm nhất có tới 4 trường hợp tử vong trong một ngày. Lòng tôi lúc đó cảm xúc khó tả, trùng xuống. Nhưng tôi nghĩ nếu mình không có bản lĩnh, không chịu đựng được thì đồng nghiệp của mình, cấp dưới của mình cũng sẽ bị hiệu ứng lan tỏa.

– Xin ông kể rõ hơn những áp lực khi ấy?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Áp lực, khó khăn rất nhiều. Thứ nhất là về tình hình lan rộng dịch COVID-19 tại Đà Nẵng. Thứ hai là có nhiều bệnh nhân, bệnh nhân nặng yếu thế bị bị mắc COVID-19. Chúng tôi đã tập trung tất cả mọi nỗ lực, nhưng một số trường hợp không qua khỏi.

Trường hợp tử vong do COVID-19 đầu tiên ở Việt Nam đã xảy ra trong vụ dịch tại thành phố Đà Nẵng. Sau dịch đã có 35 trường hợp tử vong có liên quan đến bệnh COVID-19. Đó là áp lực lớn.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn chỉ đạo công tác chống dịch COVID-19. (Ảnh: PV/vietnam+)

Áp lực lớn thứ ba nữa là khi chúng tôi làm việc với Ban chỉ đạo thành phố Đà Nẵng vào giữa tháng 8. Lúc đó, có một số ý kiến cho rằng phong tỏa theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng đối với Đà Nẵng là còn tương đối nhẹ và đề xuất những biện pháp cao hơn. Chẳng hạn như giống với Vũ Hán (Trung Quốc).

Khi đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ có hỏi ý kiến tham mưu, đoàn chúng tôi rất phân vân, bởi nếu chúng ta thực hiện phong tỏa như vậy sẽ làm cả thành phố Đà Nẵng bị đình trệ toàn bộ.

Với thực tiễn khảo sát Đà Nẵng trong thời gian trước đó, đến thăm các cơ sở cách ly tập trung, cơ sở sản xuất và cơ sở điều trị…, chúng tôi tự tin báo cáo là việc phong tỏa chưa cần thiết và Đà Nẵng nên tiếp tục thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng với tâm thế cao hơn một chút. Chúng tôi gọi lúc đó là Chỉ thị 16+, tức là mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, thần tốc hơn.

– Khi bệnh nhân cuối cùng ở Đà Nẵng được công bố khỏi bệnh, cảm giác của ông thế nào?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Lúc bệnh nhân cuối cùng Đà Nẵng xuất viện thì tôi đang ở Hà Nội.

Khi đó, một niềm vui khôn tả dâng trào. Chúng tôi ở Hà Nội họp nhóm “Bộ Chỉ huy tiền phương” chống dịch COVID-19 ở Đà Nẵng, liên hoan nhẹ với nhau một bữa để chúc mừng thành công của đội tiền phương, tổ công tác của Bộ Y tế.

– Đội tiền phương đó chắc chắn vẫn là nòng cốt để sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu nếu như có những phát sinh mới về các hộ dịch tại các địa phương?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Đây là một đội rất tinh nhuệ, kể cả về thời gian công tác phòng, chống dịch, điều trị bệnh… Đặc biệt, lần này trong “Bộ Chỉ huy tiền phương” chống dịch COVID-19 ngoài các đội: Điều tra giám sát dịch; Điều trị; Xét nghiệm còn có thêm Truyền thông.

Thông qua phòng, chống dịch của COVID-19 tại thành phố Đà Nẵng, đội hình này đã được bổ sung rất mạnh, thêm những công cụ, thêm những trình độ, thêm vũ khí để có thể là hoàn toàn chủ động.

Tôi chắc chắn là tất cả các đồng nghiệp đã tham gia vào Đà Nẵng, đến khi có sự điều động mới, sẽ hoàn toàn chủ động và vào trận với tâm thế quyết liệt.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn kiểm tra công tác chống dịch tại khu điều trị bệnh nhân COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Chìa khóa thành công

– Trong năm 2021, theo ông, đâu là chìa khóa quan trọng nhất để Việt Nam chúng ta tiếp tục duy trì được thành tựu đã đạt được trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 và chiến đấu chiến thắng với đại dịch này?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Tôi nghĩ điều quan trọng nhất để phòng, chống dịch COVID-19 đó là sự tiếp tục vào cuộc một cách quyết liệt, chủ động của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó là sự tham gia tích cực của các bộ, ngành, của các tổ chức chính trị xã hội, từng người dân để chúng ta ý thức được và chúng ta cùng nhau hợp tác, phối hợp để đảm bảo được công tác phòng, chống dịch COVID-19 và đảm bảo được an toàn xã hội.

Tôi nghĩ là vai trò của cộng đồng cũng hết sức quan trọng. Nếu mỗi người dân ý thức được tự bảo vệ mình đồng thời phát hiện được những trường hợp nghi ngờ nhiễm COVID-19 và báo cho lực lượng chức năng thì chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát sớm và kiểm soát chủ động.

TOÀN THỂ ĐỒNG NGHIỆP CỦA TÔI ĐÃ THỂ HIỆN TINH THẦN TẬN TỤY VÀ TINH THẦN CHIA SẺ TINH THẦN TƯƠNG TRỢ, LÀM THEO ĐÚNG LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, ĐÓ LÀ LƯƠNG Y NHƯ TỪ MẪU.

– Trong cuộc chiến chống lại dịch COVID-19 được xác định còn dài lâu và nhiều cam go không thể lường trước được, cá nhân ông muốn nói điều gì với những người đồng nghiệp của mình?

Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn: Đầu tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn đến toàn bộ các đồng nghiệp đã tham gia vào trong cuộc chiến chống COVID-19 tại Đà Nẵng và cuộc chiến với dịch từ đầu năm 2020 cho đến nay. Toàn thể đồng nghiệp của tôi đã thể hiện tinh thần tận tụy và tinh thần chia sẻ tinh thần tương trợ, làm theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là lương y như từ mẫu.

Trong năm 2021 tôi gửi đến các đồng nghiệp, nhân viên y tế trong cả nước lời chúc mừng năm mới và tuân theo sự chỉ đạo của Ban Bí thư, của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về công tác phòng chống dịch. Đó là chúng ta không được lơ là, đánh mất cảnh giác và khi dịch xảy ra thì các cơ sở y tế là những đơn vị tiền tiêu.

Vì vậy, để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị khác thì công tác tham gia trực tiếp của ngành y tế vào trong công cuộc phòng, chống COVID-19 là một trong những thách thức rất lớn.

Tôi rất mong toàn thể các đồng nghiệp và nhân viên y tế ý thức được điều này và cùng nhau chung sức để có thể giúp cho đất nước đạt được thắng lợi trong công cuộc phòng, chống COVID-19.

– Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

Bài 2: Chuyện về đội quân dịch tễ’ đắp đê vây giặc’’ COVID-19

Thùy Giang
Thùy Giang

Chuyện về đội quân dịch tễ’ đắp đê vây giặc’’ COVID-19

Chuyện về đội quân dịch tễ’ đắp đê vây giặc’’ COVID-19

Những bữa trưa được bắt đầu lúc 14 giờ hay bữa tối lúc 22 giờ đã trở thành giờ ăn bình thường của những cán bộ dịch tễ/y tế dự phòng. Một chiếc ghế bên hành lang, chiếc bàn cũng trở thành điểm tựa để họ thiếp đi một vài phút nghỉ ngơi trước khi tiếp tục đội mưa rét truy vết, lập danh sách những trường hợp tiếp xúc gần với bệnh nhân COVID-19, lấy mẫu để xét nghiệm.

Chàng bác sỹ 8X Trần Anh Tú (sinh năm 1989) – Cán bộ dịch tễ, Khoa Kiểm soát Bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã chia sẻ về công việc của mình và các đồng nghiệp trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 suốt hơn 1 năm qua.

Tú bảo, việc điều tra, truy vết ở mỗi ổ dịch lại có những khó khăn khác nhau nhưng nhờ có đó, anh và đồng nghiệp lại có thêm những kinh nghiệm để công tác chống dịch được hoàn thiện hơn, nhất là trong bối cảnh đại dịch chưa có điểm dừng. Và, rõ ràng khi sóng càng lớn, đê đắp phải càng cao…

“Biệt đội” dịch tễ

Hơn một năm qua, đại dịch COVID-19 là nỗi ám ảnh trên toàn cầu. Ít ai biết rằng, khi dịch COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam, trong thời gian ngắn nhất, một kịch bản ứng phó nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra được dựng lên bởi một “đội quân” thầm lặng. Thậm chí, họ còn đón đầu, lên kế hoạch tác chiến cho mọi tình huống ngay từ khi dịch mới chỉ bùng phát ở Vũ Hán. Họ là những chiến sỹ y tế dự phòng, vệ sinh dịch tễ ở khắp mọi miền của đất nước.

Bác sỹ Trần Anh Tú.

Bác sỹ Trần Anh Tú là một trong những người được tham gia vào tổ công tác chống dịch của Bộ Y tế tại các ổ dịch COVID-19 ở nhiều địa phương. Tổ công tác của anh là những người trên tuyến đầu chống dịch COVID-19, phải đối mặt với nhiều nguy cơ nhiễm bệnh.

Tính đến thời điểm hiện tại, chàng bác sỹ 8X đã tham gia chống dịch tại 4 ổ dịch COVID-19 trọng điểm: Xã Sơn Lôi  (Vĩnh Phúc), thôn Hạ Lôi (Mê Linh, Hà Nội), thành phố Đà Nẵng và giờ là tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, Tú còn tham gia công tác truy vết những hành khách dương tính trên các chuyến bay hồi tháng 3/2020. Nhiệm vụ của những bác sỹ về dịch tễ ngoài vấn đề chuyên môn khoanh vùng cách ly y tế còn phải lo vấn đề an sinh, an ninh y tế.

Gần đây nhất, Tú đang trong tâm dịch COVID-19 tại tỉnh Hải Dương. Đã 1 tháng nay anh cùng những người đồng nghiệp của mình từ tuyến Trung ương được cử về “nằm vùng” tại tâm dịch Hải Dương để tiến hành truy vết… Tú bảo, đây cũng là đợt chinh chiến dài nhất từ đầu mùa dịch đến nay.

“Ổ dịch Sơn Lôi là kinh nghiệm lần đầu tiên chúng tôi thực hiện việc điều tra dịch tễ và phong toả thành công, ổ dịch Hạ Lôi là “cửa ngõ” được bảo vệ thành công để giữ an toàn cho Hà Nội. Ổ dịch tại Đà Nẵng là một trận địa khủng khiếp khi trận chiến trong các bệnh viện khốc liệt, công tác truy vết được tiến hành trên toàn thành phố thần tốc nhất có thể. Trong khi đó, ổ dịch Hải Dương thì đã gần 30 ngày, chúng tôi vẫn đang làm việc miệt mài ngày đêm với công suất hơn cả 100%…” bác sỹ Tú trải lòng.

Chàng bác sỹ 8X đã tham gia chống dịch tại 4 ổ dịch COVID-19 trọng điểm: Xã Sơn Lôi  (Vĩnh Phúc), thôn Hạ Lôi (Mê Linh, Hà Nội), thành phố Đà Nẵng và giờ là tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, Tú còn tham gia công tác truy vết những hành khách dương tính trên các chuyến bay…

Theo lời Tú, từ khi dịch COVID-19 xảy ra, cuộc sống của “biệt đội dịch tễ” vô cùng bận rộn và đảo lộn. Họ sẵn sàng làm việc xuyên ngày đêm với tinh thần quyết tâm ngăn chặn không để dịch lan rộng. Những cán bộ y tế dịch tễ và dự phòng gõ cửa từng nhà, đi từng ngõ xóm để điều tra dịch.

Bác sỹ Tú kể, ở những khu vực cách ly, nơi có bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2, những người làm dịch tễ đã tiến hành các hoạt động giám sát, điều tra, cảnh báo, lấy mẫu xét nghiệm và sàng lọc thông tin từ các nguồn để phát hiện những nguy cơ xung quanh người nhiễm bệnh đều được thực hiện một cách gấp rút.

Ngoài những lúc đi thực địa, anh và đồng nghiệp ngày ngày thường trực bên chiếc máy tính với công việc giám sát, truy vết để phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm…

Sẵn sàng vào điểm nóng

Tú bảo rằng hơn một năm qua, anh và đồng nghiệp lúc nào cũng trong tình trạng sẵn sàng vào vùng dịch. Tâm thế sẵn sàng, bác sỹ cũng như là những người lính xung trận, lúc nào cũng phải đi trước một bước, ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

Nhớ lại những ngày đầu trong đợt dịch thứ ba bùng phát tại Hải Dương, bác sỹ Tú cho hay, ngày 27/1, khi ca bệnh COVID-19 đầu tiên được ghi nhận cũng là thời điểm anh nhận lệnh tiếp tục lên đường vào vùng dịch.

Ngày 28/1, khoác chiếc ba lô đựng vật dụng cá nhân và chiếc máy tính để phân tích dữ liệu, Tú hăng hái lên đường vào tâm dịch. Ít ai ngờ rằng trận địa dịch COVID-19 tại Hải Dương những ngày sau đó khiến không ít người choáng ngợp, số ca mắc bệnh gia tăng nhanh chưa từng thấy…

Tú bảo rằng hơn một năm qua, anh và đồng nghiệp lúc nào cũng trong tình trạng sẵn sàng vào vùng dịch. Tâm thế sẵn sàng, bác sỹ cũng như là những người lính xung trận…

Như Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã thông tin, để chuẩn bị đón 1 chuyến bay giải cứu vài trăm người, nhiều cơ quan, đơn vị phối hợp với nhau chuẩn bị phải mất vài tuần mới đón và cách ly được 200-300 người. Trong khi đó, ở thành phố Chí Linh chỉ trong 24 giờ phải xử lý cách ly khẩn cấp cho hơn 2.300 công nhân để thực hiện việc khóa chặt ổ dịch thì không phải là đơn giản. Năng lực của 1 thành phố tương đương cấp huyện trong 1 đêm phải di chuyển vài nghìn công nhân đến địa điểm cách ly tập trung an toàn, không gây mất trật tự an ninh, là một nỗ lực rất lớn của toàn lực lượng.

Bác sỹ Tú cho hay, tình hình dịch bệnh tại Hải Dương có yếu tố nguy cơ cao hơn Đà Nẵng vì tốc độ lây lan nhanh. Nhưng cũng có may mắn là dịch chưa xâm nhập vào bệnh viện nên chưa có trường hợp nào tử vong như Đà Nẵng.

Chính vì vậy, công tác y tế/dịch tễ đối mặt với vô cùng khó khăn để giám sát phát hiện ra ca bệnh thông qua các biện pháp giám sát thông thường mà bắt buộc phải thông qua xét nghiệm diện rộng, nhanh. Các vụ dịch trước đây tỷ lệ người lành mang trùng chỉ 35%-40%.

Nhân viên y tế làm công tác truy vết và lấy mẫu xét nghiệm. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo bác sỹ Tú, hai ổ dịch Đà Nẵng và Hải Dương đều có điểm chung là nguy cơ lây lan trong cộng đồng là rất lớn. Chính vì vậy, những cán bộ dịch tễ tại hai nơi này phải làm việc hết sức vất vả và hầu như trên 100% khả năng của họ.

Với tác nhân là chủng mới lây lan rất nhanh so với các ổ dịch trước đó, ổ dịch ở Hải Dương gây ra rất nhiều khó khăn cho các lực lượng chống dịch. Tuy vậy, với tiêu chí an toàn tuyệt đối cho cán bộ y tế và các lực lượng tham gia phòng chống dịch, công tác phòng hộ luôn được ưu tiên hàng đầu. Do đó, “đội quân” tham gia chống dịch rất yên tâm và vững vàng khi công tác tại thực địa.

“Về mặt dịch tễ học, các bác sỹ phải điều tra thông tin của tất cả các ca bệnh. Từ những thông tin dịch tễ bao gồm người bệnh tiếp xúc với ai, đi những đâu, làm những gì…, chúng tôi đưa ra quyết định về khu vực cần phải cách ly,” bác sỹ Tú cho biết.

Bác sỹ Tú bảo, phó giáo sư Trần Như Dương – người thủ lĩnh của Viện dẫn đầu đoàn trong các vụ dịch vẫn luôn quán triệt anh em, ở mọi ổ dịch, khâu quan trọng nhất ở các vùng dịch đó là việc xác định các mốc dịch tễ.

“Mốc dịch tễ” chính là những địa điểm/những sự kiện mà bệnh nhân đã đến, đã tham dự trong thời gian từ 3 ngày trước khi khởi phát đến khi bệnh nhân được cách ly y tế (ví dụ các mốc dịch tễ hay gặp tại thực địa là đám cưới, đám ma, chợ, quán ăn, lễ hội, bệnh viện, cơ quan, công sở …). Truy các mốc dịch tễ rồi từ đó truy ra từng F1, nếu bị bỏ quên mốc dịch tễ thì có nghĩa là rất nhiều F1 sẽ bị bỏ sót.

Bác sỹ Tú kể, về cơ bản, hầu hết mọi người đều ủng hộ và phối hợp rất tốt với nhân viên y tế khi được phỏng vấn điều tra thông tin dịch tễ. Tuy nhiên, đôi khi họ vẫn gặp một vài trường hợp “khoai,” chưa thực sự hợp tác. Những lúc như vậy, khả năng điều tra dịch tễ cũng như kinh nghiệm nắm bắt tâm lý của người bệnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc lấy thông tin.

“Tôi nghĩ đó là khó khăn nhưng cũng là thử thách thú vị trong nghề của mình và khi vượt qua được tôi thấy mình trưởng thành trong nghề nghiệp,” Tú trải lòng.

“Trận chiến” chưa từng có

Nhớ về Sơn Lôi – trận địa COVID-19 đầu tiên, bác sỹ Trần Anh Tú bảo rằng đây là một cuộc chiến vô cùng cam go, là phép thử tiên quyết dẫn tới những thắng lợi nối tiếp trong cuộc chiến chống lại đại dịch này.

Ở mọi ổ dịch, khâu quan trọng nhất ở các vùng dịch đó là việc xác định các mốc dịch tễ.

“Tôi tham gia vào Tổ công tác chống dịch COVID-19 tại ổ dịch Sơn Lôi, nhiệm vụ là khoanh vùng cách ly y tế hơn 10.000 người dân trong vòng 21 ngày. Thật sự đây là việc không hề đơn giản bởi theo lời những người đi trước thì điều này chưa bao giờ xảy ra trong công tác phòng chống dịch tại Việt Nam,” bác sỹ Tú cho hay.

Khác với những ổ dịch thông thường chỉ thuần chuyên môn, sử dụng các biện pháp y tế để có thể chống dịch, dập dịch…, tại các ổ dịch COVID-19, cán bộ dịch tễ còn phải lo vấn đề an sinh, an ninh y tế, các vấn đề liên quan tới sức khỏe khác… của người dân.

Một trong những kỷ niệm nhớ nhất với bác sỹ Trần Anh Tú đó là trường hợp 1 em bé tại Sơn Lôi (Vĩnh Phúc) bị mắc bệnh mạn tính điều trị thuốc tại nhà. Trong thời gian cách ly, em bé bị hết thuốc và không thể tìm mua được loại thuốc đặc trị này ở xã Sơn Lôi và phải tái khám trong khi việc đưa em bé ra khỏi khu vực cách ly là rất mạo hiểm. Vì vậy tổ công tác phải nghĩ cách kết nối trực tuyến với Bệnh viện Nhi Trung ương để chẩn đoán trực tuyến từ xa và đưa ra phác đồ điều trị cho bé. Sau 1 ngày, Tổ công tác đã lấy được thuốc cung cấp cho em bé để tiếp tục điều trị.

Tổ công tác đặc biệt chống Covid -19 làm việc tại tỉnh Vĩnh Phúc. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bác sỹ Tú bảo rằng hơn một năm qua, để chống lại dịch COVID-19 trên toàn quốc, lực lượng y học dự phòng tại các cửa khẩu đã phải huy động cán bộ kiểm dịch y tế tại nhiều cửa khẩu khác nhau như hàng không, đường bộ, đường biển, đường sắt…

Tại cơ sở, cán bộ y tế phải đến từng địa chỉ, thậm chí phải đi trong đêm vì nếu không kịp sợ hành khách di chuyển tới điểm khác và có thể không thực hiện cách ly kịp thời… Vất vả là thế, nhưng không ai nản lòng vì xác định rõ trách nhiệm đè nặng lên đôi vai của họ.

Rõ ràng, các cán bộ kiểm dịch/dịch tễ như là những tấm khiên, lá chắn trước dịch bệnh. Họ là những người đầu tiên phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm…

Truyền thống của ngành y tế dự phòng đã từng chiến thắng dịch bệnh SARS năm 2003, dịch bệnh cúm H1N1 năm 2009 và giờ đây, không có lý do gì Việt Nam không kiểm soát được được COVID-19.

Bác sỹ Tú nhấn mạnh, truyền thống của ngành y tế dự phòng đã từng chiến thắng dịch bệnh SARS năm 2003, dịch bệnh cúm H1N1 năm 2009 và giờ đây, không có lý do gì Việt Nam không kiểm soát được được COVID-19.

Tú bảo, nếu có một điều ước, anh chỉ mong sớm có biện pháp phòng, trị bệnh đặc hiệu để có thể sớm đưa cộng đồng trở về cuộc sống bình thường. Tuy nhiên, để hiện thực hóa được ước mơ đó, mỗi người cần phải thực hiện tốt công tác dự phòng theo khẩu hiệu 5K. Có như vậy mới có thể kéo dài thời gian chung sống an toàn với dịch COVID-19 đến khi có đủ vắcxin cũng như xây dựng được phác đồ điều trị đặc hiệu…/.

Bài 3: Những ‘đảng viên áo trắng’ tiên phong trên mặt trận chống COVID-19

Nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm RT-PCR cho người dân. (Ảnh: TTXVN/Vietnam+)
Thùy Giang
Thùy Giang

Những ‘đảng viên áo trắng’ tiên phong trên mặt trận chống COVID-19

Những ‘đảng viên áo trắng’ tiên phong trên mặt trận chống COVID-19

Tôi nhớ như in ngày 26/7, chuyến xe ôtô đưa 10 người của Bệnh viện Bạch Mai vào Đà Nẵng để nắm bắt tình hình. Ai cũng hiểu rằng đây là giai đoạn “nước sôi lửa bỏng,” bởi sau 99 ngày Việt Nam không có ca lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng thì việc dịch bệnh bùng phát ở ngay thành phố du lịch miền Trung là một “cú sốc” khá mạnh.

Còn sau hơn 2 tháng vào Thành phố Hồ Chí Minh chi viện, tôi cảm thấy mình khỏe hơn khi tham gia các hoạt động cùng những đồng nghiệp của mình để cứu chữa bệnh nhân mắc COVID-19 trong công tác chống dịch. Những ngày tại Thành phố Hồ Chí Minh, công việc tại bệnh viện dã chiến gần như gấp đôi so với công suất tại Bệnh viện Bạch Mai ở Hà Nội…

Thạc sỹ – bác sỹ Phạm Thế Thạch (sinh năm 1982), Phó Trưởng Khoa hồi sức tích cực (Bệnh viện Bạch Mai), một đảng viên đã nhiều năm “chinh chiến” trong những tình huống khẩn cấp, nhớ lại những ngày anh cùng nhóm chuyên gia của Bệnh viện Bạch Mai đi biệt phái về các vùng tâm dịch bùng phát để chống dịch COVID-19.

Đội công tác tinh nhuệ chưa từng có

Trong trận chiến tại Đà Nẵng, chúng tôi ngay lập tức xác định “trận chiến COVID-19” là một cuộc thần tốc về truy vết và một cuộc thử lửa về công tác hồi sức cho các bệnh nhân. Cơ sở vật chất tại những bệnh viện khi đó được lựa chọn làm cơ sở dã chiến điều trị bệnh COVID-19 tuềnh toàng, khan hiếm thiết bị hiện đại… Mệnh lệnh được đưa ra: Khẩn trương thiết lập bệnh viện dã chiến nhanh nhất có thể, thiết bị y tế từ Thành phố Hồ Chí Minh được vận chuyển khẩn cấp vào Đà Nẵng… Đó thực sự là một cuộc tổng huy động nhân viên ngành y tế ứng cứu cho công tác phòng chống dịch bệnh.

Theo lời kể của bác sỹ Thạch, trên chuyến xe ôtô đưa 10 chuyên gia của Bệnh viện Bạch Mai vào Đà Nẵng, tâm trạng ai cũng có chút lo âu, căng thẳng bởi biết đích đến phía trước là một vùng dịch không hề dễ dàng đối phó.

“Khi đó, thông tin chúng tôi nhận được là Đà Nẵng được xác định là một ổ dịch lớn, đã tiểm ẩn khá lâu và đầy rẫy nguy cơ lây lan,” vị bác sĩ đầy kinh nghiệm chia sẻ.

Khi đó, thông tin chúng tôi nhận được là Đà Nẵng được xác định là một ổ dịch lớn, đã tiểm ẩn khá lâu và đầy rẫy nguy cơ lây lan…

Tuy nhiên, với tinh thần của một người Đảng viên và bản lĩnh của một bác sỹ hồi sức tích cực đã hơn 10 năm đứng trong hàng ngũ những người thầy thuốc, nơi ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết luôn hiện hữu, những khó khăn đó dần được bác sỹ Thạch cùng những người đồng nghiệp gác lại một bên để đặt nhiệm vụ cứu chữa cho những người bệnh nơi tâm dịch COVID-19 tại miền Trung đang rất khốc liệt lên hàng đầu…

Từ thông tin ca bệnh 416 ở Bệnh viện C và ca bệnh trước đó ở Trung tâm tim mạch của Bệnh viện Đa khoa, dịch COVID-19 tại Đà Nẵng được Bộ Y tế nhận định có tốc độ lây nhiễm cao hơn lần trước. Để ứng phó một cách nhanh nhất, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế đã lên các kế hoạch khẩn cấp để phòng chống dịch, đặc biệt là việc thiết lập một lực lượng đội ngũ y bác sỹ chi viện cho “chiến trường” Đà Nẵng.

Có thể nói, Bộ Y tế đã huy động một lực lượng lớn y bác sỹ chưa từng có trong tiền lệ vào tiếp sức, chia lửa với Đà Nẵng.

Nhân viên y tế điều chỉnh thiết bị y tế điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trước tình thế nguy nan tại Đà Nẵng, hưởng ứng lời kêu gọi, nhiều “chiến sỹ áo trắng” đã không ngại hiểm nguy, gian khổ tình nguyện vào “tiếp sức” cho Đà Nẵng ứng phó tốt hơn với dịch COVID-19.

Bất chấp những hiểm nguy rình rập, những ngày sau đó, rất nhiều “chiến sĩ áo trắng” đến từ nhiều nơi như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Hải Phòng, Bình Định… tiếp tục được chi viện cho miền Trung trong cuộc chiến dài hơi chống lại bệnh dịch.

Trong trận chiến này, riêng Bệnh viện Bạch Mai có tổng cộng 52 nhân viên y tế đã vào ứng cứu cho Đà Nẵng.

Có thể nói, chính đội ngũ thầy thuốc, nhân viên y tế là những người lính xung kích trên mặt trận phòng-chống dịch bệnh, góp phần quan trọng tạo nên những kết quả khả quan mà nhiều quốc gia phát triển có nền y tế hiện đại cũng chưa đạt được.

Trước tình thế nguy nan tại Đà Nẵng, nhiều “chiến sỹ áo trắng” đã không ngại hiểm nguy, gian khổ tình nguyện vào “tiếp sức”

Các êkip y bác sỹ hồi sức tích cực giỏi từ Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Chợ Rẫy được cấp uỷ chỉ đạo đến với Đà Nẵng ngay từ những ngày đầu để trợ giúp các đồng nghiệp cấp cứu các ca bệnh nặng. Và liên tiếp những ngày sau đó là các đội công tác tinh nhuệ của ngành y tế bao gồm hàng trăm y bác sỹ từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh khác cũng lập tức lên đường vào chi viện cho “khúc ruột” miền Trung ruột thịt.

Theo bác sỹ Thạch, ngày 26/7, giáo sư Nguyễn Quang Tuấn-Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã ký quyết định cử đoàn cán bộ tham gia Phòng, chống dịch COVID-19 tại thành phố Đà Nẵng gồm 11 người. Trưởng đoàn là Bí thư Đảng ủy Nguyễn Quang Tuấn và các thành viên là lãnh đạo các khoa, phòng ban, trong đó có bác sỹ Thạch. Đoàn công tác bắt đầu làm việc tại thành phố Đà Nẵng từ ngày 27/7/2020 để kịp thời lên phác đồ điều trị ngay sau khi phát hiện những trường hợp đầu tiên mắc COVID-19 ở thành phố Đà Nẵng.

“Chúng tôi cảm thấy có chút lo ngại vào những thời điểm đầu tiên. Tuy nhiên, ngay sau đó, ai cũng xác định tinh thần phải vững vàng để cùng đối phó với dịch bệnh, dù không biết con đường phía trước gian khổ tới mức nào,” bác sỹ Thạch bồi hồi nhớ lại.

Nhân viên y tế khắp mọi miền đất nước không ngại gian khổ vào chi viện ở vùng tâm dịch. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Cùng với đó, nhiều tỉnh thành đã cử đội ngũ y bác sỹ đến tiếp sức cho Đà Nẵng như tỉnh Bình Định cử 30 cán bộ y, bác sỹ và Thừa Thiên-Huế đã cử 40 cán bộ. Đoàn cán bộ y tế của tỉnh Hải Phòng gồm 33 người,16 cán bộ y tế đoàn Nghệ An, 38 bác sỹ-điều dưỡng của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã xung phong, tình nguyện vào Quảng Nam để chia lửa cùng đồng nghiệp.

Chiến dịch mùa Hè: Những điểm khốc liệt

Cho đến bây giờ, khi mọi chuyện đã qua êm ả, nhìn lại hầu hết mọi người đều rất tự hào là nhiều người ngay khi nhận được quyết định lên đường thì chưa chuẩn bị sẵn tư trang, nhưng ai ai cũng đều giữ trong mình một tâm thế “xung kích” của người đảng viên, hướng về mặt trận Đà Nẵng với một tinh thần quyết tâm chống dịch rất cao.

“Khi vào đến đây, chúng tôi tức tốc bắt tay ngay vào công việc, cùng với bệnh viện, Sở Y tế Đà Nẵng và Bộ Y tế lên các kế hoạch để thực hiện phong tỏa Bệnh viện Đà Nẵng, Viện C, Chấn thương Chỉnh hình và Phục hồi chức năng của Đà Nẵng. Cùng với đó là xây dựng những ‘căn cứ địa’ cho ngành y tế Đà Nẵng điều trị bệnh COVID-19 ở Trung tâm Y tế Hòa Vang và Bệnh viện Phổi Đà Nẵng, đặc biệt là thiết lập những cơ sở điều trị phù hợp cho các bệnh nhân nặng,” bác sĩ Thạch cho hay.

Chúng tôi cảm thấy có chút lo ngại vào những thời điểm đầu tiên. Tuy nhiên, ngay sau đó, ai cũng xác định tinh thần phải vững vàng để cùng đối phó với dịch bệnh, dù không biết con đường phía trước gian khổ tới mức nào

Điểm khốc liệt khi dịch xảy ra tại Đà Nẵng là COVID-19 đã tấn công vào bệnh viện, với việc điều trị cho số lượng lớn bệnh nhân nặng trong thời gian ngắn, nhiều nhân viên y tế cũng mắc bệnh. Các ca tử vong xuất hiện liên tiếp do hầu hết đều đang có bệnh nền nặng như suy thận, lọc máu, kèm thêm các nhiễm trùng bệnh viện…

Công tác giải tỏa được triển khai quyết liệt, ban đầu tại Bệnh viện Đà Nẵng ngày 27-28/7 có gần 4.000 người, sau giải tỏa dần bệnh nhân đến ngày 3/8 chỉ còn 1.900 người và 1 tuần tiếp sau đó giải phóng nốt gần 2.000 người còn lại.

Trong đợt dịch tại Đà Nẵng, một tổn thất lớn ngay khi bắt đầu trận chiến là có 1.200 nhân viên y tế tại Bệnh viện Đà Nẵng phải chuyển sang các bệnh viện khác để cách ly; trong đó nhiều người lính áo trắng thuộc diện F1 phải cách ly hoàn toàn.

Cũng theo bác sỹ Thạch, song song với việc khẩn trương thiết lập các cơ sở y tế dã chiến, đoàn đã đi khảo sát các bệnh viện ở Đà Nẵng từ công đến tư nhằm đánh giá mỗi cơ sở có thể chứa được bao nhiêu bệnh nhân để giải phóng từ Bệnh viện C Đà Nẵng ra.

Một thực tế đáng lo ngại là mặc dù Trung tâm Y tế Hòa Vang có thể kê giường điều trị cho 200 bệnh nhân, nhưng phòng hồi sức thì chỉ có thể điều trị được 20 bệnh nhân. Chưa kể, trang thiết bị vô cùng thiếu thốn…

Một thực tế đáng lo ngại là mặc dù Trung tâm Y tế Hòa Vang có thể kê giường điều trị cho 200 bệnh nhân, nhưng phòng hồi sức thì chỉ có thể điều trị được 20 bệnh nhân. Chưa kể, trang thiết bị vô cùng thiếu thốn, chỉ có phòng, tường nhưng không có vách ngăn, không có hệ thống oxy trung tâm để cho các bệnh nhân thở oxy hay thở máy, hệ thống camera theo dõi bệnh nhân tại các giường bệnh nặng… Thế nhưng, nhờ tinh thần bắt tay ngay vào việc mà chỉ trong vòng vài ngày, cùng với sự hỗ trợ của lực lượng tại chỗ, đoàn đã thiết lập được một hệ thống từ hồi sức đến chạy thận nhân tạo. Chỉ trong vòng 1 tuần, đến ngày 4/8, Trung tâm Y tế Hòa Vang đã cải tạo xong cơ sở vật chất để tiếp nhận ca bệnh dương tính sang điều trị.

Chuyến xe “bão táp” vượt đèo Hải Vân

Nhớ lại những đêm căng thẳng trên xe cấp cứu chở các bệnh nhân vượt đèo Hải Vân tới Huế, bác sỹ Thạch tâm sự: “Đó là những thời khắc dường như khó khăn lên đến đỉnh điểm khi tôi và những người đồng nghiệp phải vận chuyển bệnh nhân nặng.”

Những chuyến xe đêm bắt đầu từ 10 giờ đêm, qua 2,5 giờ vượt đèo, lao nhanh trong đêm, giữa rừng núi, vượt hầm trong khi các y bác sỹ căng mình để giữ an toàn cho các bệnh nhân COVID-19. Khi chuyển bệnh nhân tới Bệnh viện Trung ương Huế là đoàn y bác sỹ lại ngay tức khắc quay ra Đà Nẵng trong đêm.

Bác sỹ Thạch trong phòng làm việc tại Bệnh viện Dã chiến Hoà Vang. (Ảnh: PV/Vietnam+)

“Lúc đó, trên những chuyến xe cấp cứu, tôi phụ trách việc chăm sóc cho các bệnh nhân vượt đèo Hải Vân đi tới Bệnh viện Trung ương Huế với rất nhiều áp lực. Gần một tuần, dường như đêm nào cũng phải di chuyển. Thế nhưng sự vất vả, quãng đường dài không làm nao lòng đội ngũ y bác sỹ. Điều đáng buồn nhất là có bệnh nhân COVID-19 vì có thêm bệnh nền rất nặng nên khi tới Huế đã tử vong sau đó, khiến ai cũng lặng người, trùng xuống, với nỗi đau buốt tận tim khi không thể nào giữ lại được sinh mạng cho họ,” bác sỹ Thạch trải lòng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn – người trực tiếp chỉ huy chống dịch tại Đà Nẵng nhận định: “Nơi tâm dịch Đà Nẵng với các y bác sỹ có rất nhiều áp lực. Chúng tôi thường thực hiện buổi trao đổi giữa các tổ nhóm ở các bệnh viện vào buổi tối. Sáng hôm sau, bộ phận thường trực đặc biệt, đặc biệt là 2 nhóm: Điều trị và dịch tễ.”

Khó khăn càng tăng thêm gấp bội khi có những bệnh nhân trong tình trạng nặng tử vong ngay từ chỗ tiếp nhận của Bệnh viện Trung ương Huế. Lúc đó, những chuyến xe cấp cứu vượt đèo Hải Vân đi Bệnh viện Trung ương Huế chịu rất nhiều áp lực. Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 cũng như Bộ Y tế đưa ra quyết định chỉ có Bệnh viện Trung ương Huế là đủ các điều kiện để tiếp nhận những bệnh nhân của Đà Nẵng chuyển ra.

Trở về sau những đợt “đảo quân”

Bác sỹ Phạm Thế Thạch tâm sự chúng ta đã trải qua 4 đợt dịch, đợt dịch thứ 4 với tâm dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là đợt dịch khốc liệt nhất, các y bác sỹ với cường độ làm việc rất khắc nghiệt.

Sau hơn 2 tháng vào Thành phố Hồ Chí Minh cảm thấy mình khỏe hơn khi tham gia các hoạt động cùng những đồng nghiệp của mình đi chi viện  để cứu chữa bệnh nhân mắc COVID-19. Với các anh em hồi sức tích cực, đây đã là công việc thường xuyên trong 2 năm qua.

Ngày đầu tiên tôi đi trực lãnh đạo để tiếp nhận các bệnh nhân và điều phối tôi nhận được trên 300 cuộc điện thoại từ sáng đến 3 giờ chiều, với khoảng 150 bệnh nhân chuyển đến trong 1 ngày từ rất nhiều nơi.

Bác sỹ Thạch cho hay tại Bệnh viện dã chiến số 16 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm hồi sức của Bệnh viện Bạch Mai tại đây có 500 giường, khi cao điểm nhất nhận hơn 300 bệnh nhân, trong đó có 3 khoa chính. Ở khoa hồi sức tích cực 3, nơi bác sỹ Thạch làm việc, lúc cao điểm nhất có tới 250 nhân viên với 150 giường bệnh…

“Có khi chỉ trong vòng 3 ngày Trung tâm đã nhận kín toàn bộ bệnh nhân vào các giường hồi sức. Ngày đầu tiên đi trực lãnh đạo để tiếp nhận các bệnh nhân và điều phối, tôi nhận được trên 300 cuộc điện thoại từ sáng đến 3 giờ chiều, khoảng 150 bệnh nhân chuyển đến trong 1 ngày từ rất nhiều nơi. Ngày 12/8, Bệnh viện Bạch Mai bắt đầu nhận bệnh nhân, chỉ 4-5 giờ đồng hồ nhận khoảng 60 người và anh em gần như phải thức trắng đem để làm việc,” bác sỹ Thạch nhớ lại.

Nhân viên y tế trong những ngày điều trị cho bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện Dã chiến Hoà Vang. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Đặc biệt, trong tuần đầu tiên, khó khăn lớn nhất là bệnh nhân nằm ở các tuyến quận, huyện trong tình trạng nặng chuyển tới trong 1-2 ngày đã tử vong gây áp lực cho cán bộ y tế. Công việc tại các bệnh viện dã chiến gần như gấp đôi so với công suất tại Bệnh viện Bạch Mai. Bác sỹ Thạch bảo rằng, điều làm nên thành công chính là sức mạnh đoàn kết, phối hợp công việc của các bác sỹ đến từ  nhiều bệnh viện khác nhau như: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Mắt Trung ương, Bệnh viện Tai mũi họng, Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh, Bệnh viện 71 của Thanh Hóa.

“Tại Trung tâm hồi sức ở Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh nhân đều rất nhiều trong khi trang thiết bị không thể sẵn có như các bệnh viện thông thường khác nên đối với tất cả các y bác sỹ, công tác chống dịch thật sự vất vả. Nhân viên y tế mặc bộ đồ bảo hộ nhiều lớp, nhiều khi ngứa cũng không thể gãi được. Trong guồng quay đó, mọi người đều làm việc 1 mạch từ 4-6 giờ đồng hồ, sau đó thay ca. Vào tháng 7, tháng 8, Thành phố Hồ Chí Minh nóng lực nhưng cũng có những ngày mưa rào thời tiết ẩm rất khó chịu với mọi người. Tuy nhiên, đó cũng là một trải nghiệm, một bài học đối với những người làm hồi sức trong nhiều năm như chúng tôi hiểu thế nào là điều kiện dã chiến thiếu thốn trang thiết bị, từ đó chúng ta có những kinh nghiệm ứng phó trong các tình huống khẩn cấp,” bác sỹ Thạch cho hay.

Các bác sỹ sau những đợt “đảo quân” liên tiếp, với dịch COVID-19 lần này, họ như những người lính vừa bước ra khỏi cuộc chiến khốc liệt với những ám ảnh, những nỗi buồn và cả những niềm tin, hy vọng.

Những ngày gần đây, tâm dịch Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đã hạ nhiệt, số ca tử vong đã giảm rõ rệt. Các bác sỹ sau những đợt “đảo quân” liên tiếp đi chi viện vào phía Nam, đến nay họ đã được trở về với nơi làm việc của mình. Với dịch COVID-19 lần này, họ như những người lính vừa bước ra khỏi cuộc chiến khốc liệt với những ám ảnh, những nỗi buồn và cả những niềm tin, hy vọng.

Sức mạnh tinh thần và ý chí chiến đấu vô hình

Gác lại mọi nỗi bộn bề phía sau, nhìn lại cuộc chiến tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng khi ấy, bác sỹ Thạch cười, có những sức mạnh tinh thần và ý chí chiến đấu vô hình khiến đội ngũ y bác sỹ cứ thế gác lại hết khó khăn, lao vào cuộc chiến mà không do dự.

“Đặc biệt, những ngày hè oi bức, nhiệt độ ngoài trời lên tới 40 độ C, nhưng những nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân COVID-19 không được sử dụng điều hòa, mặc trên mình những bộ trang phục bảo hộ kín mít vài lớp từ đầu tới chân suốt nhiều giờ đồng hồ thăm khám, chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân. Mồ hôi túa ra, người lúc nào cũng ướt ròng, trái ngược với thời tiết mùa Đông. Khi anh chị em ra ngoài, cởi những bộ đồ bảo hộ màu trắng ra, những chiếc áo xanh bên xong cũng đầm đìa như vừa mới từ phòng xông hơi ra,” bác sĩ Thạch cho biết.

Vị bác sỹ “đảng viên-áo trắng” tâm sự, vào vùng dịch Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bắc Giang… không phải là lần duy nhất anh tham gia “trận chiến” khẩn cấp mà đã có nhiều kinh nghiệm khi trước đó từng tham gia cấp cứu thảm họa vụ sập cầu Chu Va kinh hoàng ở Lai Châu xảy ra vào năm 2014 khiến 8 người chết, 38 người bị thương nặng…

Những năm qua, bác sỹ Thạch đã tham gia cấp cứu, điều trị cho hàng trăm bệnh nhân cúm A/H1N nặng có biến chứng suy hô hấp cấp tiến triển nặng, bệnh nhân sốc tim do viêm cơ tim virus biến chứng suy đa tạng, ngừng tuần hoàn, và nhiều bệnh nhân khác; tham gia hội chẩn cấp cứu, điều trị các bệnh nhân nặng của đơn vị khác như tham gia điều trị các chiến sỹ trong vụ rơi máy bay ở Hòa Lạc, Lào Cai.

Bác sỹ Thạch bảo rằng cuộc chiến chống COVID-19, quả thực như một cuộc “đi lính” giữa thời bình. Tuy nhiên, nhiều năm được tham gia đào tạo, cấp cứu trong các đợt cấp cứu thảm họa là những kinh nghiệm xương máu để không chỉ anh mà ngành y tế có thêm sức mạnh hơn. Cũng giống như một cuộc “chiến tranh,” trong dịch bệnh công tác điều phối rất quan trọng. Khâu điều phối tốt sẽ góp phần làm giảm tối đa sự lãng phí về nguồn lực sức người cũng như sức của để nhanh chóng dập tắt dịch.

“Thử hình dung, nếu cuộc chiến với dịch bệnh cứ kéo dài trong 6 tháng, anh em kiệt quệ sẽ không có người tiếp sức, khi đó cuộc chiến đấu sẽ thất bại và hậu quả sẽ rất khó lường,” bác sĩ Thạch chia sẻ.

Thực tế qua nhiều cuộc “chiến đấu” cả ở thời chiến lẫn thời bình đều cho thấy những người đảng viên như bác sỹ Thạch hay lớp lớp thế hệ trẻ nhân viên y tế đều phát huy tinh thần, trách nhiệm với nhiệt huyết vì cộng đồng. Họ không ngại khó, ngại khổ đến những vùng tâm dịch, cùng các cấp chính quyền từng bước đẩy lùi dịch bệnh, góp phần bảo vệ sức khỏe cho người dân./.

Bài 4: Tâm sự nữ điều dưỡng chi viện: ‘Xin gửi lại nơi này, một trái tim yêu’

Thùy Giang
Thùy Giang