Báo lá cải của Anh

Bất chấp lượng ấn bản lưu hành giảm sút và danh tiếng bị sứt mẻ, các tờ báo lá cải vẫn duy trì được sự bám trụ quyền lực của mình khi nước Anh chuẩn bị cắt đứt quan hệ với Liên minh châu Âu.

Tony Gallagher, tổng biên tập của The Sun, một trong những tờ báo lá cải có tiếng nói và sức ảnh hưởng lớn nhất ở Anh, luôn nhìn chính phủ với vị thế đứng trên, theo đúng nghĩa đen. Từ độ cao của tòa soạn ở tầng 12, tất cả các cửa sổ đều bằng kính với tầm nhìn rộng, Điện Westminster trông như một tòa lâu đài đồ chơi, một thứ để vui đùa hoặc lờ đi nếu muốn.

Gallagher cũng ngồi cao hơn tổng biên tập của tờ Times of London, tờ báo có chừng mực hơn với văn phòng nằm ngay tầng dưới, và luôn kéo rèm che kín cửa sổ. Hệ thống phân cấp được thể hiện rất rõ.

Ở Xứ sở Sương mù, sau cuộc bỏ phiếu về cái gọi là Brexit, quyền lực của những tờ báo lá cải là một điều hiển nhiên. Số ấn bản lưu hành của họ có thể giảm xuống, và danh tiếng của họ có thể sứt mẻ bởi một loạt những vụ bê bối nghe lén điện thoại. Nhưng khi đất nước chuẩn bị cắt đứt quan hệ với Liên minh châu Âu sau một chiến dịch ồn ào và đôi khi là khó chịu, những chính trị gia hàng đầu đang ve vãn các tờ báo lá cải và sợ hãi cơn thịnh nộ của họ. Các đài phát thanh theo sát những gì các tờ báo này chỉ ra, nếu không muốn nói là thể hiện cùng giọng điệu trong cùng chủ đề.

Những độc giả của họ, nhiều người đã ngoài 50 tuổi, thuộc tầng lớp lao động và sống ở ngoại ô London, rất giống những cử tri đóng vai trò quan trọng trong kết quả trưng cầu ý dân năm ngoái về quan hệ thành viên của Anh tại Liên minh châu Âu. Đó là những công dân của “vùng đất Brexit” mà các tờ báo lá cải ngụ ý đại diện ngay tại trái tim của lãnh thổ kẻ thù: Trú tại những tòa nhà nguy nga trong một số khu dân cư đắt đỏ nhất London, họ tự coi mình là những đại diện của tầng lớp trung lưu Anh Quốc ở London.

Trong chiến dịch dẫn đến cuộc bỏ phiếu chóng vánh hôm 8/6, hầu hết các tờ báo lá cải đều có thể được trông cậy để hành động như những người bảo vệ kiên trung của Brexit và như một bộ phận cổ vũ cho chính phủ đảng Bảo thủ của Thủ tướng Theresa May – mặc dù thành phố nơi họ đang trú ngụ lại bỏ phiếu theo hướng ngược lại.

Gallagher đã để lại dấu ấn trên ba tờ báo ủng hộ Brexit mạnh mẽ nhất của Anh. Ông từng là tổng biên tập tờ Daily Telegraph, một tờ báo theo quan điểm bảo thủ, và phó tổng biên tập tờ báo của thị trường tầm trung Daily Mail, một trong những đối thủ chính của The Sun, trước khi Rupert Murdoch chiêu mộ ông về cách đây 20 tháng. Nghiên cứu của đại học Loughborough cho thấy, kết hợp lại, ba tờ báo này là lý do trọng tâm khiến độ phủ sóng trên báo chí của chiến dịch trưng cầu dân ý lệch về tỷ lệ 80-20 theo hướng ủng hộ Brexit.

Tòa soạn Sun nằm ngay dưới văn phòng của ông Murdoch và là nơi duy nhất trong tòa nhà có lối dẫn trực tiếp lên tầng của ban lãnh đạo (Ảnh: NYT)
Tòa soạn Sun nằm ngay dưới văn phòng của ông Murdoch và là nơi duy nhất trong tòa nhà có lối dẫn trực tiếp lên tầng của ban lãnh đạo (Ảnh: NYT)

Tại sảnh đợi bằng đá hoa cương và ốp toàn kính của tòa nhà cao 17 tầng mang tên News Building (Tòa nhà Tin tức), thuộc đế chế truyền thông tại Anh của tỷ phú Murdoch, có một tấm biển nhỏ kỷ niệm ngày khai trương tòa nhà hồi năm 2014 bởi Boris Johnson, người khi đó là thị trưởng London và hiện là Bộ trưởng Ngoại giao của Anh.

Ông Johnson, người có mái tóc hoang dã và sự dí dỏm, đã trở thành kiến trúc sư trưởng của Brexit. Bốn tháng trước khi diễn ra cuộc trưng cầu dân ý, ông đã dùng sức ảnh hưởng của mình để hỗ trợ cho lý do mà tới khi đó vẫn được liên hệ chặt chẽ với đảng Tự do theo chủ nghĩa dân túy của Anh. Nhưng đóng góp chính của ông với Brexit đã bắt đầu từ hơn hai thập kỷ trước.

Từng là phóng viên tại Brussels của tờ Daily Telegraph trong những năm đầu thập niên 90, ông Johnson được các đồng nghiệp coi là người đi đầu việc đưa tin tức ngờ vực về Liên minh châu Âu, mà kể từ đó đã trở thành bối cảnh mặc định cho nhiều tớ báo ở Anh. Vốn không quan tâm mấy đến sự thật – từng bị tờ Times of London đuổi việc vì bịa ra một lời trích dẫn – Johnson đã viết về một châu Âu đang lên kế hoạch áp dụng quy định về kích thước chuẩn của bao cao su và cấm món khoai tây chiên có vị cocktail tôm yêu thích của nước Anh (cả hai đều không phải sự thật).

Các nhà phê bình nói rằng các tờ báo lá cải đã đầu độc cuộc tranh luận bằng cách chơi đùa với những bản năng và định kiến tồi tệ nhất của con người, làm méo mó sự thực

“Boris đã phát minh ra tin tức giả,” Martin Fletcher, cựu biên tập viên nước ngoài của tờ Times, người đã có mặt ở Brussels không lâu sau ông Johnson nhận định. “Ông ta đã biến chủ nghĩa nghi ngờ châu Âu thành một hình thức nghệ thuật mà mọi biên tập viên tin tức ở London mong đợi.”

Fletcher cũng nói thêm rằng, trước cuộc trưng cầu dân ý, “Boris đã lên chiến dịch dựa theo bức biếm họa Brussels mà ông ta đã tự mình tạo ra.”

Chiến dịch được dánh dấu bằng những câu nói tu từ chống nhập cư không mệt mỏi và những lời nói dối lớn bị sa lầy: 350 triệu bảng Anh (khoảng 450 triệu USD theo tỷ giá hiện tại) mà nước Anh phải trả cho Liên minh châu Âu mỗi tuần (tin giả) và triển vọng hàng triệu người Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tràn sang Anh nếu nước Anh ở lại với Liên minh (Thổ Nhĩ Kỳ còn chưa tham gia khối này). Hai năm trước, Liên Hợp Quốc đã hối thúc Anh xử lý những phát ngôn thù ghét trên báo chí ở nước mình, nêu rõ một cột tin trên tờ The Sun đã so sánh người nhập cư với loài gián và norovirus (một chủng virus gây bệnh tiêu chảy, nôn mửa và đau bụng).

Các tờ báo lá cải nói rằng họ chỉ đơn thuần phản ánh những quan ngại và lo sợ của độc giả. Nhưng các nhà phê bình lại nói rằng họ đã đầu độc cuộc tranh luận bằng cách chơi đùa với những bản năng và định kiến tồi tệ nhất của con người, làm méo mó sự thực và tạo ra một bệ phóng tuyên truyền truyền bá sự không khoan dung và định hình chính sách.

Trang nhất một số báo hồi mùa thu năm ngoái, nói rằng những đứa trẻ tỵ nạn từ Calais (Pháp) đến Anh đã khai man tuổi nên cần phải kiểm tra răng bằng X-quang.
Trang nhất một số báo hồi mùa thu năm ngoái, nói rằng những đứa trẻ tỵ nạn từ Calais (Pháp) đến Anh đã khai man tuổi nên cần phải kiểm tra răng bằng X-quang.

Kính trọng, và kinh sợ

Tôi đã gửi thư cho Gallagher đề nghị được phỏng vấn vào ngày 29/3, cùng ngày mà nước Anh gửi thư đến cho các lãnh đạo Liên minh châu Âu ở Brussels, chính thức bắt đầu các cuộc đàm phán Brexit dài hai năm. Tôi lập luận rằng khó mà hiểu được nước Anh ngày nay nếu không hiểu về những tờ báo lá cải. Ông đã đồng tình.

Thang máy chạy qua văn phòng của tờ Wall Street Journal, cơ quan tin tức của Dow Jones, tờ Sunday Times và tờ Times để tiến thẳng lên tòa soạn của The Sun. Tỷ phú Murdoch, chủ sở hữu của The Sun từ năm 1969, có văn phòng ở ngay bên trên.

Tại tờ Telegraph, Gallagher giành được sự kính trọng vì đã phụ trách tuyến tin về một trong những bê bối chính trị lớn nhất trong lịch sử gần đây của nươc Anh: Hơn 20 nhà lập pháp phải từ chức sau khi tờ báo này tiết lộ việc lạm dụng ở diện rộng tiền phụ cấp và các khoản chi phí được trả cho những bồn cầu gỗ sồi và dọn sạch một con hào.

Nhưng ông cũng có tiếng là nóng tính. “Người đưa thư,” một cuốn sách mới về tờ Daily Mail, nơi Gallagher đã dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp, trích lời những đồng nghiệp cũ mô tả ông là “biểu tượng của cái chết,” người “mang nỗi sợ hãi ma quỷ đến cho các phóng viên.”

Với dáng người cao và gọn gàng, ông chỉ cho tôi đến chỗ ngồi đối diện với góc nhìn toàn cảnh thành phố London. Trong suốt cuộc trò chuyện, ông rất thận trọng và gần như không cười, nhưng rất lịch sự. (Ông gọi là điều mô tả về mình trong cuốn sách là “xấu tính.”)

Một cách tự phát, ông chỉ tới một cầu thang và giải thích rằng tòa soạn của The Sun là nơi duy nhất trong tòa nhà có lối dẫn trực tiếp lên tầng của ban lãnh đạo. (“Họ lên xuống cầu thang suốt,” một nhà báo sau đó cho biết. “Họ” ở đây là tỷ phú Murdoch, khi ông ta có mặt, và Rebekah Brooks, cựu tổng biên tập của The Sun và tờ News of the World hiện đã ngừng hoạt động, người từng bị buộc các tội danh hình sự liên quan đến nghe lén điện thoại, nhưng sau đó đã được bồi thẩm đoàn tuyên trắng án năm 2014.)

Tòa soạn của The Sun là nơi duy nhất trong tòa nhà có lối dẫn trực tiếp lên tầng của ban lãnh đạo.

Gallagher vẫn đang sung sướng tận hưởng kết quả của một cuộc đối đầu với chính phủ gần đây. Tờ The Sun đã in nhiều hình dán và đăng một bài đặc biệt dài 8 trang về việc tăng tiền đóng bảo hiểm của những người tự kinh doanh sẽ làm tổn hại thế nào đến những “người lái xe tải màu trắng,” cụm từ chỉ những người thuộc tầng lớp lao động, những người mà theo quan điểm của The Sun là đang không được đối xử công bằng.

Đó là lần đầu tiên các tờ báo lá cải tấn công vào chính quyền mới 9 tháng tuổi của bà May, và bà đã phải nhanh chóng rút lui. “Họ mất chưa đến một tuần”, Gallagher nhớ lại.

Ông kể lại cơn giận dữ của ông David Cameron – người tiền nhiệm giữ chức thủ tướng của bà May, người đã kêu gọi trưng cầu dân ý và lập chiến dịch để ở lại Liên minh châu Âu – khi tờ The Sun quay lưng lại với ông về vấn đề Brexit với một cuộc công kích rát bỏng trên trang nhất.

Gallagher cũng đã có một cuộc gặp được hẹn trước với ông Cameron vào hôm đó – “Chỉ để theo kịp tình hình thôi”, vị tổng biên tập nhớ lại. Ông Cameron đã nguyền rủa “về những thông tin mà ông nhận được trong những giai đoạn đầu của cuộc trưng cầu,” Gallagher cho hay. “Ông ấy giận đến đỏ bừng mặt.”

“Tôi phải ngậm bút vào miệng vì tôi nghĩ mình sẽ phá ra cười mất,” ông nói thêm.

Ở khía cạnh tích cực nhất, những tờ báo lá cải bất kính của nước Anh đưa tin mà không sợ hãi hay cần ưu ái gì, quyết liệt bắt các nhân vật tinh hoa chính trị chịu trách nhiệm. Nhưng thực tế là họ chọn lựa người để săn đuổi – và hay khoe khoang. Năm 1992, khi đảng Bảo thủ bất ngờ đánh bại đảng Lao động sau một chiến dịch chống đảng Lao động điên cuồng trên tờ The Sun, tiêu đề của tờ báo đã tuyên bố rằng “The Sun mới là người mang đến chiến thắng.”

Và Brexit? Có phải cũng là The Sun khiến nó xảy ra không?

“Chúng tôi đã vận động cho Brexit,” Gallagher cẩn trọng chọn từng từ. “Tôi không nghĩ chúng tôi đã khiến Brexit xảy ra.”

Vào tháng Sáu, chưa đầy một giờ sau khi có kết quả trưng cầu dân ý, ông lại thể hiện một giọng điệu hoàn toàn khác trong một tin nhắn văn bản tới một nhà báo của tờ Guardian: “Quá kinh khủng trong bối cảnh quyền lực của báo in đang giảm sút.”

Tony Gallagher, tổng biên tập của The Sun, trong văn phòng của ông (Ảnh: NYT)
Tony Gallagher, tổng biên tập của The Sun, trong văn phòng của ông (Ảnh: NYT)

Phản chiếu hay kích động người đọc?

Theo một phân tích gần đây của Liên minh Cải cách Truyền thông, các lãnh đạo cấp cao của những công ty thuộc sở hữu của ông trùm Murdoch đã gặp mặt thủ tướng hoặc bộ trưởng ngân khố 10 lần trong năm kết thúc hồi tháng 9, khi nghiên cứu này được hoàn tất – nhiều hơn bất kỳ tổ chức truyền thông nào trong nước.

Tuy nhiên, The Sun hiện nay chỉ bán được 1,6 triệu bản in (hơn 80% số đó là ở ngoài London và vùng đông nam giàu có của nước Anh), giảm từ mức đỉnh 4,7 triệu bản hồi giữa những năm 1990. Tờ báo này đã bị lỗ hơn 60 triệu bảng Anh (khoảng 75 triệu USD) trong năm ngoái.

Tại sao các chính trị gia vẫn sợ hãi đến vậy?

“Thực tế là báo in, những tờ báo quốc gia, đã thiết lập chương trình nghị sự ở đây hiệu quả hơn so với các đài phát thanh truyền hình về cơ bản là một phương tiện phản ứng,” Gallagher nhận định và lưu ý rằng báo chí có thể tiếp tục đánh hiệu quả vào những vấn đề nhất định.

“Vì vậy nếu bạn là một tờ báo đang phản ánh sự thật rằng tất cả những điều luật của chúng ta được lập ra ở châu Âu, cuối cùng điều đó cũng sẽ thấm vào nhận thức của mọi người trên toàn quốc,” ông nói.

Đương nhiên nước Anh tự đặt ra rất nhiều điều luật cho mình. Nhưng đó là một lựa chọn ví dụ thú vị. Một ví dụ rõ ràng hơn có thể là vấn đề nhập cư.

Nghiên cứu của một cựu nhà báo của tờ Times, Liz Gerard, cho thấy các tờ báo lá cải đã liên tục nã vào vấn đề nhập cư, với ít nhất 30 trang nhất thể hiện sự thù địch rải rác trên tờ Daily Mail trong vòng 6 tháng dẫn đến cuộc trưng cầu dân ý, và 15 trang tương tự trên tờ The Sun. Các tiêu đề – “Biên giới mở tung của nước Anh,” như tờ Daily Mail viết – thường có xu hướng thể hiện sự đạo đức giả. The Sun đã bóng gió rằng những trẻ em tỵ nạn đến Anh đã khai gian tuổi và phải đi chụp X-quang răng để kiểm tra.

“Hãy cho chúng tôi xem răng,” một dòng tít viết.

“Nhưng họ đang đăng tải những thông tin không chính xác và bị bóp méo, tác động đến cách mọi người cảm nhận những gì họ đang cảm nhận.” (Greenslade, giáo sư về báo chí tại Đại học thành phố London)

Một tuần trước đó, tôi đã gặp Kelvin MacKenzie, một cựu biên tập viên của tờ Sun kiêm người phụ trách một chuyên mục, sau đó đã bị đình chỉ vì gọi một ngôi sao bóng đá đa chủng tộc là một “con khỉ đột.” Ông nói rằng tờ báo vẫn phản ánh “trái tim đang đập của nước Anh,” và Brexit đã có chiến thắng “bỏ xa nghìn dặm” so với vấn đề nhập cư.

Gallagher tỏ ra tinh tế hơn.

“Đó là chuyện kết hợp giữa nhập cư, chủ quyền dưới một bóng ô rộng lớn hơn của việc lấy lại quyền kiểm soát, và suy nghĩ rằng, với tư cách một quốc gia, chúng ta không còn kiểm soát được số mệnh của mình nữa,” ông nói.

The Sun, tờ báo đã tuyển dụng một số nhân viên ngay từ khi họ còn học trung học, có một mối quan hệ gần như là riêng tư với các độc giả của mình, giống như mối quan hệ với một người bạn đáng tin cậy ở quán rượu.

Gallagher lưu ý rằng những tờ báo khác thuộc tập đoàn của tỷ phú Murdoch vẫn ủng hộ việc ở lại Liên minh châu Âu, phản ánh những quan điểm của độc giả. Trong nhóm đó có phiên bản Scotland của The Sun, và cũng giống như những cử tri Scotland, ủng hộ việc ở lại.

“Điều đó hợp lý về mặt thương mại,” Gallagher nói. Nhưng ông cũng là một người nhiệt tình theo chủ nghĩa nghi ngờ châu Âu suốt nhiều năm.

“Không có gì phải nghi ngờ, chúng tôi đã sống dựa trên sự nhiệt tình của người dân,” Gallagher cho biết. Tuy nhiên ông cũng nói thêm rằng, “ý tưởng bằng cách nào đó chúng tôi có thể lôi kéo những độc giả không sẵn lòng theo một quan điểm nào đó họ không có là một ảo tưởng.”

Roy Greenslade, một cựu biên tập viên tại The Sun lại không đồng tình. Ông cho biết, năm 1975, lần gần đây nhất nước Anh tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân về quan hệ thành viên với tổ chức khi đó được gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu, cũng là thời điểm các cuộc thăm dò dư luận cho thấy hầu hết mọi người ủng hộ dứt áo ra đi, nhưng tất cả các tờ báo (trừ tờ Morning Star) lại vận động cho việc ở lại. Và người dân đã bỏ phiếu ở lại.

“Mọi biên tập viên theo chủ nghĩa dân túy sẽ nói với bạn rằng, ‘Chúng tôi chỉ đơn thuần phản ánh và làm rõ quan điểm của công chúng,’” Greenslade, người hiện là một giáo sư về báo chí tại Đại học thành phố London cho biết. “Nhưng họ đang đăng tải những thông tin không chính xác và bị bóp méo, tác động đến cách mọi người cảm nhận những gì họ đang cảm nhận.”

Một vài số báo của tờ Daily Mail
Một vài số báo của tờ Daily Mail

Những tiêu đề “sáng tạo”

Lúc đó là 2h30 chiều, và Gallagher đã biên tập xong từ trang 3 đến trang 29 của số báo ngày hôm sau. Ông kỳ vọng trang nhất sẽ đăng bài về đám tang của sĩ quan cảnh sát thiệt mạng trong vụ tấn công khủng bố ở Westminster gần đây. Người vợ góa và con của sĩ quan này sẽ xuất hiện trước công chúng lần đầu tiên, và có thể sẽ có những bức ảnh “đầy cảm xúc”, ông cho biết. Nhưng quyết định đó sẽ không chắc chắn cho tới khi diễn ra cuộc họp thống nhất nội dung trang 1 vào lúc 5 giờ chiều.

Gallagher cho biết ông từng dự một cuộc họp tin tức tại tờ New York Times. Ông không thấy ấn tượng gì mấy.

“Tôi đã bị sốc khi thấy sự sáo mòn và chẳng có mấy cuộc thảo luận thật sự ở trong cuộc họp đó,” ông nói. “Chẳng có tí năng lượng hay sự sáng tạo nào. Cuộc thảo luận đó chẳng thể lung tung và hời hợt hơn được. Nó thật tệ.”

Các cuộc họp tin tức của The Sun “sôi động” hơn rất nhiều, ông nói.

“Được rồi,” tôi nói. “Tôi có thể tham dự cuộc họp của The Sun chiều nay không?”

Ông khựng lại ngay. “Không,” ông nói. “Đó là một cuộc họp nội bộ vô cùng bí mật.”

Một cái gì cơ?

“Chúng tôi có luật sư trong cuộc họp”, ông giải thích, và nói thêm, “chúng tôi thử nghiệm các tiêu đề ở đó. Đó là một cuộc họp sáng tạo.”

Các tờ báo lá cải ở Anh tự hào với sự “sáng tạo” của họ. Có lẽ khẳng định trơ tráo nhất trên trang nhất hồi năm ngoái của The Sun chính là “Nữ hoàng ủng hộ Brexit,” một dòng tít mà sau đó đã được cơ quan quản lý báo chí ở Anh phán quyết là gây hiểu nhầm.

Ông vua của những tiêu đề “sáng tạo” ở The Sun không ai khác là MacKenzie, một trong những biên tập viên của tờ báo. Một số phòng họp được đặt theo tên những sáng tạo đáng nhớ nhất của ông, ví dụ như “Bắt được rồi nhé,” tiêu đề về vụ một tàu chiến Argentina bị chìm trong cuộc chiến giành quần đảo Falklands khiến hơn 300 người thiệt mạng, và “Im đi Delors” nhắm vào Jacques Delors, người khi đó là chủ tịch Ủy ban châu Âu đang đề xuất một đồng tiền châu Âu mới.

Có lẽ khẳng định trơ tráo nhất trên trang nhất hồi năm ngoái của The Sun chính là “Nữ hoàng ủng hộ Brexit,” một dòng tít mà sau đó đã được cơ quan quản lý báo chí ở Anh phán quyết là gây hiểu nhầm.

Tôi đã gặp MacKenzie một tuần trước để hỏi về những dòng tít đó. “Các trang nhất của tờ báo đôi khi rất hài hước và đôi khi lại hơi thái quá,” tôi mở lời, và ông chen vào ngay, “Và đôi khi sai sự thật nữa!”

Ái chà.

Tôi hỏi ông muốn thấy dòng tít như thế nào xuất hiện trên báo nếu ông vẫn còn được giao nhiệm vụ đó.

“Tôi nghĩ dòng tít tin tức giả sẽ mang đến niềm vui lớn nhất cho đất nước này,” ông vui vẻ đáp lại, “có thể là ‘Jeremy Corbyn bị một người tị nạn đâm chết bằng dao.’”

Ông Corbyn là lãnh đạo của Đảng Lao động. Dòng tít tin tức giả của MacKenzie không tránh khỏi việc gợi nhớ đến vụ sát hại Jo Cox, một nhà lập pháp của đảng Lao động chủ trương ở lại đã bị một người đàn ông có khuynh hướng cực hữu giết chết một tuần trước cuộc trưng cầu ý dân. Cái chết của bà đã thúc đẩy rất nhiều suy nghĩ tự vấn lương tâm về việc giọng điệu của chiến dịch có khuyến khích những tội phạm thù ghét hay không.

(Sáng hôm sau, tôi nhận được một tin nhắn từ MacKenzie: “Chào Katrin, cô có thể thay đổi tiêu đề hoàn hảo từ “Jeremy Corbyn bị một người tị nạn đâm chết bằng dao” thành “Jeremy Corbyn bị một người tị nạn lừa bịp” không? Trước vụ giết hại Jo Cox, tiêu đề của tôi nghe thật khiếm nhã.”)

Gallagher đã đi dự “buổi họp nội bộ cực kỳ bí mật” nhưng hứa sau đó sẽ tóm tắt lại nội dung cho tôi. Tôi lang thang lên căngtin ở tầng 14.

Tất cả những người phục vụ đều là người Nam Âu. Một trợ lý bếp trưởng đi ngang qua cho biết nhân viên nhà bếp cũng hầu hết là người nước ngoài. Anh không thể tưởng tượng người ta sẽ tuyển nhân viên cho nhà bếp thế nào sau Brexit. “Sẽ rất hỗn loạn,” anh nói.

Đã 5 giờ 40 phút chiều. Trang nhất của số báo ngày mai đã được quyết định. Những bức ảnh lễ tang của sĩ quan cảnh sát được cho là “không đạt yêu cầu” để dàn ra toàn trang. Một cầu thủ bóng đá, Ross Barkley, người bị đánh trong một hộp đêm và sau đó trở thành đối tượng trong mục tin của MacKenzie đã trở thành câu chuyện chính. Tiêu đề là: “Barkley bị đánh vào mông.”

Tôi đã hết thời gian. Gallagher vẫn giữ gương mặt lạnh như tiền cả buổi chiều. Lần duy nhất tôi nghĩ ông ta đã cử động trong ghế ngồi là khi tôi hỏi các con ông ta có quan điểm thế nào về Brexit. Ông nói mình có 2 người con còn quá nhỏ để đi bỏ phiếu, nhưng người con cả, hiện 21 tuổi đã bỏ phiếu ở lại.

Ông tiễn tôi ra cửa. “Đừng gài bẫy tôi đấy nhé,” ông nói.

Tấn công tình dục

Chaz Wing mới 12 tuổi khi bị rơi vào tầm ngắm. Lũ bạn học đã dày vò cậu cũng chỉ là những đứa trẻ vừa đến tuổi mọc mụn trứng cá và vỡ giọng.

Cuối cùng, cậu lên tiếng khẳng định rằng, đám con trai đã cưỡng bức cậu và bỏ mặc cậu chảy máu, đỉnh điểm sau một năm quấy rối. Mặc dù Chaz đã liên tục nói với các giáo viên và nhân viên quản trị trong trường về những lời xúc phạm và tấn công thể xác nhắm vào cậu, nhưng phải tới một năm sau, sau một cuộc chiến pháp lý dai dẳng để xác định nhà trường đã có đủ các biện pháp để bảo vệ cậu hay chưa, Chaz mới tuyên bố là đã bị tấn công tình dục.

Chuyện của Chaz không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về tình trạng bắt nạt leo thang. Trên khắp nước Mỹ, hàng nghìn học sinh đã bị tấn công tình dục bởi những học sinh khác, ở trường cấp 2, trường cấp 3, thậm chí ở cả tiểu học – một nỗi kinh hoàng ẩn giấu mà các nhà giáo dục đã từ lâu được cảnh báo là không được bỏ qua.

Dựa trên các hồ sơ giáo dục của các bang, cùng với dữ liệu tội phạm liên bang, cuộc điều tra kéo dài một năm của hãng tin Associated Press đã hé lộ khoảng 17.000 báo cáo chính thức về tấn công tình dục do học sinh gây ra trong vòng 4 năm, từ mùa thu năm 2011 đến mùa xuân năm 2015.

Mặc dù con số đó đại diện cho số liệu đầy đủ nhất tính đến nay về số vụ tấn công tình dục diễn ra trong cộng đồng 50 triệu học sinh K-12 (từ mẫu giáo đến lớp 12) của nước Mỹ, nó không thể hiện được toàn diện vấn đề vì những vụ tấn công này thường ít khi được trình báo, một số bang không theo dõi hiện tượng này, và ở những bang có quan tâm thì cách phân loại bạo lực tình dục của họ cũng rất khác nhau. Những ước tính học thuật cho thấy con số các vụ tấn công tình dục cao hơn rất nhiều.

“Trường học phải giữ cho học sinh an toàn,” Charol Shakeshaft, một giáo sư thuộc đại học Virginia Commonwealth chuyên về các hành vi tình dục sai trái ở trường học nhận định. “Đó là một phần nhiệm vụ của họ. Đó là một phần trách nhiệm pháp lý của họ. Nhưng điều đó không xảy ra. Tại sao chúng ta không biết nhiều hơn về nỗi kinh hoàng đó, và tại sao nó vẫn chưa được ngăn chặn?”

Hàng nghìn học sinh đã bị tấn công tình dục – một nỗi kinh hoàng ẩn giấu mà các nhà giáo dục đã từ lâu được cảnh báo là không được bỏ qua.

Các trường tiểu học và trường cấp 2 không bị ràng buộc bởi quy định nhà nước về việc theo dõi hay tố cáo bạo lực tình dục, và họ cảm nhận được áp lực kinh hoàng nên che giấu điều đó. Thậm chí theo các điều luật đa dang của các bang, thừa nhận một vụ việc vẫn có thể dẫn đến các trách nhiệm pháp lý và yêu cầu hành động.

Và khi trường học không hành động – hay khi những nỗ lực của họ nhằm đánh bật gốc rễ tình trạng lạm dụng không mang lại hiệu quả – thì công lý không được thực thi.

Điều này, như Chaz Wing khẳng định trong vụ kiện chống lại trường Brunswick, chính xác là những gì đã xảy ra với cậu.

Mặc dù trường học không thừa nhận xảy ra vụ cưỡng hiếp nào, nhưng điều tra của hãng tin AP đã phát hiện ra rằng các nhân viên quản trị của trường đã để cho việc Chaz bị bắt nạt ngày càng nghiêm trọng hơn và rồi thất bại trong việc điều tra những cáo buộc của cậu về việc bị lạm dụng tình dục.

Gần như từ ngày đầu tiên đặt chân vào trường cấp hai Brunswick, Chaz đã bị những học sinh khác quấy rối, chế nhạo về cân nặng của cậu và bắt cậu phải làm những trò như “kiểm tra đồng tính.” Phản ánh với giáo viên và quản trị viên cũng chẳng giúp được gì, cậu nói. Rồi cậu rơi vào trầm cảm và không muốn đến trường.

Chaz Wing làm việc bán thời gian tại một đài phát thanh. (Ảnh AP/Robert F. Bukaty)
Chaz Wing làm việc bán thời gian tại một đài phát thanh. (Ảnh AP/Robert F. Bukaty)

Thế rồi một ngày năm 2012, mẹ cậu về nhà và phát hiện cậu nằm cuộn tròn trên giường, người run bần bật. Người mẹ đã cầu xin cậu con trai nói cho mình biết chuyện gì đã xảy ra. Và rồi từ từ, cậu nói từng lời một.

“Tụi nó làm đau con,” cậu khóc.

Cậu nói mình đã bị cưỡng hiếp. Ba lần.

Chaz khai với cảnh sát, điều tra viên các vụ lạm dụng trẻ em và luật sư bằng một lời thề rằng cậu không dám nói về những vụ tấn công suốt gần một năm vì những lời đe dọa nhắm vào cậu và gia đình cậu nếu cậu mở mồm.

Những cáo buộc lạm dụng tình dục có thể rất khó điều tra. Do nhiều người buộc tội ban đầu giữ im lặng, nên khi các điều tra viên vào cuộc, những vật chứng có thể đã mất từ lâu. Thông thường, do không có nhân chứng nên tất cả những gì các điều tra viên có chỉ là lời khai mâu thuẫn giữa người buộc tội và người bị buộc tội.

Những gì Chaz nói với chính quyền và các nhà điều tra – rất nhiều lần suốt 4 năm – không hề thay đổi, theo một đánh giá của AP về các hồ sơ chính phủ và tòa án. Và một điều tra viên về lạm dụng trẻ em cho biết có “chứng cứ có sức nặng” rằng Chaz đã bị tấn công tình dục.

Trường Brunswick đã kiên quyết bảo vệ cách thực hiện cuộc điều tra của họ. Hiệu trưởng trường cấp 2 cho biết cuộc thẩm tra của ông đã xác định rằng các vụ tấn công tình dục là “rất ít có khả năng xảy ra.” Ông còn lưu ý rằng một trong số những nam sinh bị buộc tội thậm chí còn chưa bao giờ nghe về tấn công tình dục qua đường hậu môn.

“Luôn có – và nên có – khuynh hướng tin vào những lời cáo buộc tấn công tình dục ngay từ đầu,” luật sư của trường, Melissa Hewey viết trong một email gửi AP. “Nhưng đôi khi, những bằng chứng lại dẫn đến kết luận là những cáo buộc đó là dối trá.”

“Những cậu bé bị buộc tội là những nạn nhân thực sự trong vụ án này và chúng xứng đáng được bảo vệ,” bà nói.

MỘT VẤN ĐỀ ẨN GIẤU

Theo một đánh giá của AP về dữ liệu tội phạm liên bang, cho phép đưa ra phân tích chi tiết hơn so với các hồ sơ giáo dục của bang, trẻ em dễ bị tấn công tình dục bởi những trẻ em khác nhiều nhất trong bối cảnh riêng tư tại nhà. Nhưng trường học – nơi nhiều người lớn đang canh chừng, và là nơi các bậc phụ huynh tin rằng con cái họ sẽ được an toàn – lại là địa điểm nguy hiểm thứ nhì mà thiếu niên bị tấn công tình dục bởi những người cùng tuổi với các em.

Từ cưỡng hiếp tới kê gian, tới ép buộc quan hệ bằng miệng và mơn trớn, hiện tượng bạo lực tình dục mà AP tìm hiểu đã bị phân loại nhầm thành bắt nạt, ăn hiếp hoặc hành vi có sự đồng tình. Chuyện đó xảy ra ở bất cứ đâu mà học sinh không bị giám sát: trên xe buýt và trong nhà vệ sinh, hành lang lớp học và phòng để tủ đựng đồ. Không một trường học nào miễn nhiễm với những hành vi này, bất kể là ở một khu ngoại ô dân trí cao, một khu dân cư trong thành phố hay một thị trấn của các công nhân làm việc theo giờ.

Và tất cả trẻ em đều dễ bị tổn thương, không chỉ những em bị gặp rắc rối như Chaz.

Bị mơn trớn một cách không mong muốn là hình thức tấn công phổ biến nhất, nhưng theo phân tích số liệu tội phạm dựa trên sự cố của liên bang, cứ 5 học sinh bị tấn công thì có 1 em bị cưỡng hiếp, kê gian hay dùng đồ vật chọc vào vùng kín.

Khoảng 5% vụ bạo lực tình dục liên quan đến trẻ 5-6 tuổi. Nhưng những con số này lại tăng đáng kể ở lứa tuổi 10-11 – độ tuổi nhiều học sinh bắt đầu đi học cấp 2 – và tiếp tục tăng tới tuổi 14. Sau đó, các con số này giảm đi khi học sinh lên cấp 3.

Các kiểu tấn công tình dục tại trường học
Các kiểu tấn công tình dục tại trường học

AP chỉ tính các hình thức tấn công tình dục nghiêm trọng nhất, không bao gồm các phân loại được gọi bằng thuật ngữ có nghĩa rộng hơn, như quấy rối tình dục, hay những hành vi như hôn nhau trên sân chơi.

Trái với nhận thức chung, số liệu cho thấy các vụ tấn công tình dục giữa học sinh với học sinh phổ biến hơn so với các vụ do giáo viên gây ra. Phân tích dữ liệu tội phạm liên bang của AP cho thấy, cứ mỗi vụ người lớn tấn công tình dục trẻ em được báo cáo xảy ra tại trường học lại có 7 vụ tấn công tình dục giữa học sinh với học sinh.

AP cũng nhận thấy rằng các trường học thường không sẵn lòng hay ít được trang bị kỹ năng để giải quyết vấn đề này, dù đã từ lâu được Tòa án tối cao Hoa Kỳ cảnh báo rằng họ có thể phải chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại bằng tiền. Một số nhân viên quản trị và nhà giáo dục thậm chí còn tham gia che đậy chứng cứ tội phạm để bảo vệ hình ảnh của trường.

“Chẳng hiệu trưởng nào muốn trường mình mang tiếng là nơi xảy ra vụ cưỡng hiếp, bị nêu tên trên báo chí vì đang bị điều tra. Các trường học luôn cố che giấu sự việc. Chỉ có những hiệu trưởng can đảm mới làm điều đúng đắn,” theo lời tiến sỹ Bill Howe, một cựu giáo viên K-12 đã dành 17 năm theo dõi việc tuân thủ của bang Connecticut với Luật số IX, một bộ luật liên bang được sử dụng để bảo vệ các nạn nhân bị tấn công tình dục tại trường học.

Pháp luật và các rào cản pháp lý cũng hậu thuẫn cho sự im lặng. Các trường học thường hiểu các quy định bảo vệ sự riêng tư của học sinh và thiếu niên là giấu những thông tin cơ bản về các vụ tấn công tình dục để cộng đồng không biết. Các nạn nhân cùng gia đình họ phải đối mặt với những bức tường pháp lý rất cao nên khó kiện thành công các trường không duy trì được môi trường học tập an toàn.

“Chẳng hiệu trưởng nào muốn trường mình mang tiếng là nơi xảy ra vụ cưỡng hiếp, bị nêu tên trên báo chí vì đang bị điều tra. Các trường học luôn cố che giấu sự việc. Chỉ có những hiệu trưởng can đảm mới làm điều đúng đắn”

“Ai cũng cảm thấy chúng ta chẳng có vấn đề gì, và lý do họ cảm thấy như vậy là vì họ luôn né tránh,” nhà tâm lý học Wilson Kenney ở Oregon, người đã hỗ trợ xây dựng các chương trình can thiệp dành cho học sinh chia sẻ.

Kenney cũng cho biết những vụ tấn công tình dục giữa học sinh với học sinh thường bị khuất trong bóng tối so với những sự chú ý dành cho bạo lực súng đạn tại trường học, như vụ xả súng ở Newtown. “Chẳng có vụ Sandy Hook nào về tấn công tình dục. Nhưng tôi nghĩ nguy cơ gây hại là rất lớn,” ông nói.

Cuộc chiến pháp lý của Chaz với trường cấp 2 Brunswick đã đưa đến một cái nhìn sâu sắc vào cuộc điều tra những cáo buộc tấn công tình dục của học sinh tại trường học.

AP đã xem xét khoảng 1.500 trang lời khai được tuyên thệ, email, tài liệu tòa án và báo cáo điều tra, cũng như những lời cung khai được ghi hình lại của 15 nhân viên quản trị trường học, giáo viên và cảnh sát, và những cuộc phỏng vấn với khoảng một chục người có liên quan tới vụ việc.

Các quan chức của trường học và học khu đã từ chối yêu cầu phỏng vấn của AP. Cha mẹ của một số học sinh bị buộc tội trong các vụ tấn công cũng vậy, trừ việc nói rằng con trai họ vô tội.

AP không thường nêu tên các nạn nhân bị tấn công tình dục, nhưng Chaz và cha mẹ cậu đã quyết định công khai danh tính với hy vọng có thể giúp những người khác.

“Tôi không muốn điều này xảy ra với những đứa trẻ khác,” Amy Wing, mẹ của Chaz chia sẻ.

NHỮNG DẤU HIỆU CẢNH BÁO

Từ ngày đầu tiên của Chaz ở trường cấp 2 Brunswick hồi tháng 9 năm 2010, các giáo viên nói rằng rõ ràng cậu là mục tiêu mà những kẻ bắt nạt sẽ nhắm vào.

Bị thừa cân với mái tóc mullet màu nâu, cậu có những quan điểm khác thường và không hề ngần ngại thể hiện chúng. Cậu không thích thể thao, trò chơi điện tử và nhạc pop. Khi những nam sinh khác có mặt để tham gia một dự án của lớp học trong trang phục áo bóng đá, cậu lại thể hiện tình yêu làm vườn bằng cách đội mũ và đeo găng tay, mang theo xẻng và cầm những chiếc bánh quy đường hình hoa.

Chaz khai trong hồ sơ vụ kiện rằng ban đầu, một số nam sinh đã dồn cậu vào một góc ở chỗ tủ để đồ, chế nhạo cậu và gọi cậu là đồ béo. Nhưng điều làm cậu bận lòng nhất chính là cuộc “kiểm tra đồng tính.” Khi cảm thấy có ai chạm nhẹ vào vai trong lớp nghiên cứu xã hội, cậu đã gạt ra và thấy là một bàn tay con trai. Vài giây sau, một bàn tay khác lại đặt lại lên vai cậu. Đám nam sinh nói với cậu rằng đó là một bài kiểm tra. Nếu cậu không để ý trong vòng 10 giây, có nghĩa là cậu thích thế và là người đồng tính. Có đến một nửa nam sinh trong lớp học đã làm trò đó.

“Sao họ lại xấu tính như vậy?” Chaz luôn hỏi mẹ Amy khi cậu về nhà. “Sao họ lại ghét con?”

Ban đầu, Amy khuyên con nên lờ việc đó đi và cố làm thân với mọi người. Nhưng sau khi vụ “kiểm tra đồng tính” xảy ra, cô đã khuyến khích con báo cáo sự việc và Chaz đã làm thế, hàng chục hàng chục lần với giáo viên, cố vấn và hiệu trưởng. Cậu phản ánh thường xuyên đến nỗi trong mắt họ, cậu dường như là một học sinh quá nhạy cảm và phiền toái.

Một giáo viên thậm chí còn hỏi Chaz có phải người đồng tính không. “Cháu nói với cô ấy là ‘không’ và cô ấy bảo đừng lo chuyện đó nữa.”

Cuối cùng, Chaz có được một cuộc gặp mặt với hiệu trưởng Walter Wallace, người đã lập một ủy ban chống bắt nạt không lâu sau khi vào trường. Wallace khai rằng hồi đầu năm 2010, các học sinh trường Brunswick đã tham gia một cuộc khảo sát, trong đó cứ 6 em thì có 1 em cho biết thường xuyên bị bắt nạt về thể chất. Wallace đã thực hiện một hệ thống lưu hồ sơ các vụ bắt nạt học sinh, nhưng chỉ ghi lại được những khiếu nại đã được xác minh và chỉ ghi lại được tên những người bị buộc tội, thay vì nạn nhân.

Trong cuộc gặp hồi cuối năm 2010, Chaz cho biết cậu đã kể chi tiết về sự quấy rối xảy ra với mình – nhưng tình trạng đó vẫn không dừng lại. Sau này Wallace có khai rằng ông đã nói chuyện với những nam sinh mà Chaz nêu tên và “không bao giờ nghe thấy chuyện đó một lần nữa.” Nhưng Chaz nói rằng một đợt sóng mới lại xuất hiện với những nam sinh mới.

Đến tháng 1 năm 2011, mất hết kiên nhẫn, Amy lần đầu đến nói chuyện với hiệu trưởng Wallace. “Chuyện này cần phải dừng lại,” cô nói với ông. Hai tuần sau, khi những vụ bắt nạt vẫn tiếp diễn, cô lại đứng trong văn phòng hiệu trưởng.

Wallace sau đó nói với cô rằng ông đã nói chuyện với bốn nam sinh đứng sau xúi giục chủ yếu và ít nhất một người đã thú nhận có tham gia “kiểm tra đồng tính.”

Các vụ tấn công tình dục ở trường học xét theo độ tuổi và giới tính nạn nhân
Các vụ tấn công tình dục ở trường học xét theo độ tuổi và giới tính nạn nhân

Chaz đến trường cấp 2 Brunswick với đánh giá là một học sinh có “năng khiếu và tài năng,” nhưng khi lên đến lớp 7 vào mùa thu năm 2011, điểm số của cậu đã tụt hạng. Những khiếu nại quấy rối của cậu chiếm nhiều thời gian của các giáo viên đến nỗi họ phải yêu cầu Wallace và hiệu phó tiếp nhận.

“Chuyện đó không xảy ra khi chúng tôi giám sát và chúng tôi luôn cố gắng theo sát tình hình,” một giáo viên khai, “nhưng nó luôn lẩn khuất ở đâu đó xa khỏi tầm mắt chúng tôi.”

Hiệu trưởng Wallace cho biết ông nghĩ Chaz đã trở nên nhạy cảm quá mức và có những phản ánh mà các giáo viên không thể chứng minh. Nhưng cố vấn lớp 7 của Chaz, Bunny Andrews cho biết cô đã “rất, rất lo lắng” khi những sự việc xảy ra với tần suất thường xuyên hơn.

“Chaz đã bị bắt nạt,” cô nói. “Tôi không bao giờ có thể phủ nhận chuyện đó.”

Thế rồi những hành hạ thể chất mà Chaz phải chịu đựng leo thang nhanh chóng. Tháng 11 năm 2011, cậu đã bị một nhóm bạn cùng lớp tấn công tình dục lần đầu tiên.

Theo hồ sơ vụ việc, các nam sinh đã chui qua khe hở cửa phòng vệ sinh, kê một lưỡi dao nhỏ vào cổ tay Chaz, ép cậu phải nằm rạp xuống sàn và chế ngự cậu. Sau khi bị cưỡng bức, Chaz cho biết một nam sinh đã đe dọa sẽ đốt trụi nhà cậu, làm hại người thân của cậu và giết thú cưng của cậu nếu có ai phát hiện ra – rồi dùng dao rạch vào tay phải cậu.

Tới tháng 2, Amy nhận thấy Chaz bị căng thẳng và không thể hoàn thành bài tập, vậy là cô liên lạc với nhà trường.

Đó cũng là khoảng thời gian Chaz bị hiếp dâm lần thứ hai. Cậu cho biết khi đó cậu đang thay quần áo để tập thể dục trong một phòng để tủ đồ vì cậu cảm thấy tự tin với vẻ ngoài của mình. Một nam sinh đã tấn công cậu trong khi một nam sinh khác đứng canh chừng.

Cậu bị ép vào tường và bị tụt quần soóc, và chuyện đó xảy ra trong chưa đầy 2 phút. Chaz vẫn giữ im lặng vì sợ những đe dọa từ vụ tấn công đầu tiên.

Sau khi bị cưỡng bức, Chaz cho biết một nam sinh đã đe dọa sẽ đốt trụi nhà cậu, làm hại người thân của cậu và giết thú cưng của cậu nếu có ai phát hiện ra – rồi dùng dao rạch vào tay phải cậu.

Một ngày cuối mùa xuân – Chaz không thể nhớ đó là tháng 4 hay tháng 5 – trường bị mất điện ngay trước bữa trưa, vì thế cậu rời lớp học sớm để đến căngtin. Khi đi qua một phòng vệ sinh, cậu đã bị tóm từ phía sau, lôi vào trong và đè vào tường. Bên trong quá tối nên không thể nhìn rõ mặt những kẻ tấn công, nhưng cậu cảm thấy hai đứa con trai đứng hai bên giữ tay mình. Sau khi chúng cưỡng bức cậu xong, Chaz đã phải nhồi giấy vệ sinh vào trong quần lót để ngăn máu chảy.

Một lần nữa, Chaz không dám nói với ai vì sợ.

Thế nhưng, hồ sơ cho thấy nhà trường biết việc Chaz bị bắt nạt đã trở nên nghiêm trọng hơn, bao gồm một vụ bị đâm bằng bút chì mà cậu đã khai báo, trong đó đầu chì gãy găm vào cánh tay cậu.

Vào tháng 6, các quan chức trong trường đã đề ra một kế hoạch an toàn, bao gồm việc để một giáo viên đi kèm Chaz khi đổi lớp học. Hai ngày sau, sau khi những học sinh khác tỏ ra thương hại, Chaz nói với giáo viên hộ tống rằng, “Xin đừng. Chuyện này chỉ làm mọi thứ tệ hơn.”

Đến hết năm lớp 7, Chaz đã bỏ lỡ rất nhiều buổi học trên lớp, và rất dễ nổi nóng hay tức giận. Amy đã gọi cho một luật sư thuộc một quỹ biện hộ phi lợi nhuận, người tin rằng Chaz có thể đâm đơn kiện vì cậu đã bị lạm dụng tình dục.

Trong ngày đi học cuối cùng của con trai, Amy đã đi thẳng vào văn phòng trường để lấy một bản sao chính sách chống bắt nạt. Hai tuần sau, cô nộp đơn kiện với Ủy ban Nhân quyền Maine – khởi động cuộc chiến pháp lý kéo dài hơn 4 năm.

Chaz Wing dán nhãn cho các thiết bị điện tử mà cậu sửa và bán tại một chợ đồ cũ (Ảnh AP/Robert F. Bukaty)
Chaz Wing dán nhãn cho các thiết bị điện tử mà cậu sửa và bán tại một chợ đồ cũ (Ảnh AP/Robert F. Bukaty)

CÓ NGHĨA VỤ PHẢI HÀNH ĐỘNG

Các nghiên cứu từ lâu đã phát hiện ra rằng bắt nạt có thể là tiền đề dẫn đến quấy rối và tấn công tình dục. Thông thường, điểm số của các nạn nhân sẽ sụt giảm, các em ít có mặt trên lớp hơn, tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và suy nghĩ tự sát tăng lên. Các trường học đôi khi bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo, và cho rằng đó “chỉ là chuyện trẻ con.”

“Có một sự miễn cưỡng phải thừa nhận bạo lực tình dục xuất hiện ở một lứa tuổi nhỏ như vậy,” Dorothy Espelage, người đã nghiên cứu các vụ tội phạm và quấy rối tình dục ở học sinh trung học khi còn học ở Đại học Illinois cho hay.

Vào tháng 10 năm 2010 và tháng 4 năm 2011, Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đã nhắc nhở các trường công rằng Luật số IX buộc họ phải hành động chống lại tình trạng bắt nạt và bạo lực tình dục. Họ được yêu cầu phải điều tra – tách biệt với việc thẩm vấn của cảnh sát – và hành động nhanh chóng. Bộ cũng yêu cầu cụ thể phải xử lý các hoạt động gièm pha chống người đồng tính, các dấu hiệu quấy rối tình dục, gây tổn hại thể chất và động chạm không mong muốn – hầu hết là những gì Chaz khai là cậu đã kể cho các viên chức nhà trường.

Các trường phải báo cáo toàn bộ các số liệu về học sinh, từ những em được ăn trưa miễn phí đến những em mang vũ khí đến trường. Nhưng không có yêu cầu nào của liên bang bắt buộc phải theo dõi bạo lực tình dục.

Ngược lại, các trường cao đẳng và đại học phải có nhật ký tội phạm công khai, phải gửi cảnh báo khẩn cấp về các vụ tấn công tình dục, đào tạo nhân viên và hỗ trợ các nạn nhân theo một luật liên bang được đặt theo tên một sinh viên bị cưỡng hiếp và sát hại năm 1986.

Thông thường, điểm số của các nạn nhân sẽ sụt giảm, các em ít có mặt trên lớp hơn, tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và suy nghĩ tự sát tăng lên.

“Rõ ràng, chúng ta có đủ sự quan tâm để bắt buộc các trường cao đẳng và đại học phải báo cáo,” luật sư Chris Dove của thành phố Kansas, người đã đại diện cho nhiều nạn nhân bị lạm dụng tình dục bởi người đồng trang lứa nhận định. “Không phải chúng ta nên quan tâm nhiều hơn nữa tới trẻ em dưới 18 tuổi hay sao?”

AP nhận thấy rằng liệu – và làm thế nào – để bạo lực tình dục trường học được theo dõi là tùy theo quyết định của từng bang, và sự khác biệt là rất lớn trong việc xác minh thông tin hoặc đào tạo hiểu biết về tấn công tình dục giữa học sinh với học sinh. Một cuộc khảo sát các sở giáo dục của các bang cho thấy:

— 32 bang và Đặc khu Columbia có theo dõi các vụ tấn công tình dục, mặc dù một số bang chỉ làm việc này nếu các vụ việc dẫn tới các hình phạt như đình chỉ hay đuổi học; các bang còn lại, bao gồm cả Maine, thì không.

— 18 bang báo cáo rằng họ có các yêu cầu đào tạo dành cho giáo viên, quản trị viên trường học hoặc học sinh về tấn công tình dục ngang hàng.

— Một số học khu lớn nhất quốc gia báo cáo không có vụ tấn công tình dục nào trong một khoảng thời gian kéo dài nhiều năm, và một số quan chức giáo dục của bang nói với AP rằng họ nghi ngờ những con số này của các học khu.

Trong nhiều trường hợp, AP thấy rằng các trường đã gây khó khăn cho các cuộc điều tra, không giám sát được những học sinh họ biết là có vấn đề, và lơ là việc thông báo cho các nhà chức trách hoặc thậm chí tồi tệ hơn.

Một trường trung học ở Mississippi đã không bảo vệ được hiện trường là một phòng máy tính, nơi xảy ra một vụ hiếp dâm nữ sinh năm 2014, và các nhân viên vệ sinh đã lau dọn nơi đó trước khi lực lượng hành pháp đến thu thập chứng cứ, theo các hồ sơ của tòa án. Các luật sư cho biết điều này xảy ra vì ban đầu nữ sinh đó không nói rằng việc quan hệ là bị ép buộc. Ba nam sinh bị buộc tội đã bị đình chỉ nhưng vài ngày sau đã được quay lại lớp học.

Theo một báo cáo của cảnh sát, một nam sinh trung học ở Missouri có hồ sơ kỷ luật vì hay đụng chạm bạn nữ đã ve vãn một nữ sinh trên xe buýt của trường năm 2014 và nói với một viên chức nhà trường rằng “Em không thể dừng lại được.” Khi chuyển đến trường trung học của quận vào năm sau, cậu ta bị cáo buộc đã tấn công một nữ sinh trong một lớp học. Nam sinh này khẳng định đã có sự đồng ý của nữ sinh đó, và ban đầu bị đình chỉ học 10 ngày, nhưng về sau bị tuyên án hiếp dâm cấp độ 2.

Và ở Iowa năm 2013, một cặp vợ chồng đã không trình báo các vụ tấn công tình dục nhắm vào con gái mình với nhà chức trách vì hiệu trưởng trường tiểu học đã tỏ ý là ông sẽ làm việc đó. Vài tháng sau, họ phát hiện ra là chuyện đó chưa hề được thực hiện khi tìm kiếm mã số vụ việc tại sở cảnh sát. Hai phụ huynh đã liên hệ với các nhà chức trách, và một điều tra viên của cảnh sát đã tới tiếp quản vụ việc. Các kết quả điều tra vụ án tuổi vị thành niên này được bảo mật tuyệt đối.

Khi các trường học xử lý sai những vụ việc này, các nạn nhân thường sẽ có rất ít nơi để trông cậy.

Khi các trường học xử lý sai những vụ việc này, các nạn nhân thường sẽ có rất ít nơi để trông cậy. Các công tố viên đôi khi thấy do dự khi phải buộc tội những đứa trẻ, và việc xóa những rào cản pháp lý để kiện các học khu là rất khó.

Một tòa án liên bang ở Alabama đã phong tỏa vụ án một nữ sinh 14 tuổi khai rằng mình bị dùng làm “mồi câu hiếp dâm” và bị tấn công năm 2010 trong một kế hoạch nhằm bắt một thiếu niên bị nghi ngờ có hành vi tình dục sai trái. Thẩm phán viết trong hồ sơ rằng vụ án này không đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý để bắt học khu chịu trách nhiệm, mặc dù ông nói rằng kế hoạch do một trợ lý giáo viên trường trung học đề ra là “ngu ngốc” và phản tác dụng “khủng khiếp.” Quyết định này sau đó được kháng cáo thành công, và cuối cùng trường học phải bồi thường 200.000 USD.

Số tiền dàn xếp có thể thấp đến nỗi các luật sư do dự không muốn nhận những vụ kiện thường là sẽ dai dẳng và phức tạp như thế này. Với các gia đình, quá trình đầy đau đơn và tốn kém này thường được thúc đẩy bởi một điều lớn hơn mong muốn được bồi thường tiền bạc.

“Tư tưởng bắt các trường học chịu trách nhiệm và bảo đảm họ đưa ra những thay đổi để xử lý tấn công tình dục rất quan trọng với các nạn nhân,” Adele Kimmel, một luật sư thuộc tổ chức pháp lý phi lợi nhuận Public Justice ở Washington, D.C. chia sẻ.

Adele Kimmel, luật sư thuộc tổ chức pháp lý phi lợi nhuận Public Justice ở Washington, D.C.
Adele Kimmel, luật sư thuộc tổ chức pháp lý phi lợi nhuận Public Justice ở Washington, D.C.

CUỘC ĐIỀU TRA

Năm lớp 8 của Chaz có khởi đầu tốt, nhưng khi những trò bắt nạt lại xảy ra, cậu đã ngừng đến trường học. Cuối cùng, sau khi nói hết với mẹ vào tháng 10/2012 là cậu đã bị lạm dụng tình dục, mẹ của Chaz đã gọi cho các viên chức trường học để nói rằng cậu sẽ không quay lại Brunswick.

Hiệu trưởng Wallace khi đó không có mặt, nhưng đã báo cho sếp của mình là Giám đốc Paul Perzanoski. Ông giám đốc cho biết trong một bản tuyên bố là ông không biết những kẻ bắt nạt đã nhắm vào Chaz tới khi Amy đến lấy bản sao chính sách chống bắt nạt.

Thay vì gọi một điều tra viên có kinh nghiệm, Perzanoski khai rằng ông ta đã quyết định là những quản trị viên của trường có thể xử lý vụ việc. Wallace đã dẫn đầu cuộc điều tra với sự hỗ trợ của hiệu phó Lisa Cushman – hai người này cũng là những người có nhiệm vụ ngăn chặn việc Chaz bị bắt nạt. Cả hai đều chưa bao giờ điều tra một vụ tấn công tình dục trước đây hay từng được đào tạo về Luật số IX.

Cushman đã đặt các câu hỏi với Chaz trước sự có mặt của mẹ cậu và cố vấn hướng dẫn.

Và Wallace đã nói chuyện với 4 nam sinh mà Chaz nói là tham gia vào các vụ tấn công trước sự có mặt của phụ huynh các nam sinh này, cùng một sĩ quan cảnh sát được chỉ định đến trường Brunswick là Mike Andreotti, người sau đó khai rằng hiệu trưởng đã không báo với anh ta về những khiếu nại bị bắt nạt của Chaz.

Theo các hướng dẫn của Sở giáo dục, các trường học được phép tự tiến hành điều tra riêng rẽ với các cuộc thẩm vấn của cảnh sát. Tuy nhiên, theo cung khai của mình, Wallace cho biết đã chỉ đạo việc thẩm vấn 4 nam sinh, mặc dù đó là cuộc gặp mặt duy nhất của Andreotti với những kẻ bị buộc tội.

“Đó là sự phủ nhận mạnh mẽ hoặc là sự nhầm lẫn,” Wallace nói về những câu trả lời của các nam sinh. Theo ông, một nam sinh “còn chẳng biết quan hệ tình dục qua đường hậu môn là gì.”

Wallace khai rằng đã điều tra các hiện trường nơi Chaz nói từng xảy ra các vụ tấn công. Ông cũng đã nói chuyện với một huấn luyện viên, người cho biết căn cứ theo không gian, địa điểm và khoảng 5-8 phút mà các nam sinh có trước khi tập thể dục, gần như là bất khả thi để thực hiện một vụ cưỡng hiếp.

Wallace đã nói với Perzanoski rằng các vụ tấn công tình dục là “không có khả năng xảy ra”, nhưng không nộp báo cáo bằng văn bản. Ông ta cũng không hề phỏng vấn Chaz hay nói chuyện với cha mẹ cậu bé về những phát hiện của mình. Thay vào đó, ông ta gửi email cho gia đình Wings, nói rằng Chaz nên quay lại trường học.

Viên chức của trường đã có cuộc phỏng vấn dài hơn 90 phút với Chaz tại đồn cảnh sát. Không giống cuộc xét hỏi những nam sinh bị buộc tội, bố mẹ của Chaz được yêu cầu chờ ở bên ngoài. Andreotti nói rằng anh ta không biết chắc đó có phải là một phần của vấn đề hay không – mặc dù, như Amy đã nói, họ là những người đã gọi cảnh sát.

Andreotti nói với bố mẹ Chaz rằng anh ta sẽ tiến hành thẩm vấn tiếp 4 nam sinh, nhưng cuối cùng lại không làm vậy sau khi quyết định là không có đủ bằng chứng đáng tin cậy về một cuộc tấn công tình dục. Các công tố viên cũng đồng tình.

Trong lời cung khai, Andreotti được hỏi liệu quan điểm của anh ta có thay đổi hay không qua một bản đánh giá lạm dụng trẻ em mà anh ta yêu cầu, trong đó nói rằng những lời khai của Chaz “rõ ràng, thống nhất và cung cấp những thông tin chi tiết” và phát hiện thấy “bằng chứng có sức nặng” rằng Chaz đã bị tấn công tình dục.

“Tất nhiên là có,” Andreotti cho biết, nhưng cũng nói thêm rằng một cuộc giám định thể chất đã không tìm thấy chứng cứ nào về sự lạm dụng hay chấn thương gần đây. Một luật sư của Chaz lưu ý rằng người giám định cũng nói rằng không có dấu hiệu không có nghĩa là việc lạm dụng không xảy ra.

“Đúng thế. Điều đó để lại khả năng rằng có thể chuyện đó đã xảy ra,” Andreotti đáp.

Viên cảnh sát đã về hưu cũng từ chối yêu cầu phỏng vấn của AP. Cảnh sát vùng Brunswick cũng từ chối thảo luận về vụ việc của Chaz hay cung cấp bản sao báo cáo điều tra của mình, và nói rằng các vụ án trẻ vị thành niên phải được giữ bí mật theo luật của bang.

Theo chỉ huy Mark Waltz, một người phát ngôn của cảnh sát, Andreotti đã phỏng vấn khoảng 20 học sinh và giáo viên, và cuộc điều tra của anh ta rất “triệt để”.

Chaz Wing đi bộ trên phố Maine ở Brunswick. (Ảnh AP/Robert F. Bukaty)
Chaz Wing đi bộ trên phố Maine ở Brunswick. (Ảnh AP/Robert F. Bukaty)

“Tất cả đều đã được trình lên văn phòng công tố, và có lý do chính đáng khi họ đưa ra quyết định như vậy,” Waltz trả lời và từ chối nói rõ hơn. Văn phòng công tố viên hạt Cumberland cũng từ chối bình luận.

Để nộp đơn kiện, gia đình Chaz cần phải thuyết phục Ủy ban Nhân quyền rằng Chaz đã bị quấy rối tình dục, rằng môi trường học tập của cậu đã trở nên thù địch, và rằng nhà trường biết nhưng không thực hiện bất kỳ hành động phù hợp và kịp thời nào.

Trong các hồ sơ gửi đến ủy ban, học khu cho biết trường đã xem xét những khiếu nại của Chaz một cách nghiêm túc, và lập luận rằng nhận thức của Chaz thường “không khớp với sự thực,” ví dụ như lần cậu bé báo rằng một trong những học sinh hay bắt nạt đã đánh cậu bằng một cây gậy đánh bóng vợt. Theo nhà trường, nam sinh này “đã nói một cách đáng tin cậy là cậu ta chỉ chạm nhẹ” vào Chaz để chào cậu bé.

Các luật sư của trường cũng buộc tội Chaz đã bỏ học để củng cố thêm các khiếu nại của mình. Thực tế, cậu bé đã phải nhập viện hồi tháng 12 năm 2012 – lần đầu trong số 4 lần – được chẩn đoán là bị trầm cảm, có suy nghĩ tự sát và rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý, và được khuyên là không nên quay lại Brunswick.

Vào tháng 6 năm 2014, điều tra viên của ủy ban đã tìm thấy những căn cứ hợp lý để tin rằng trường đã phân biệt đối xử với Chaz. Điều tra viên cho biết trường đã không thấy được “bức tranh toàn cảnh” về tình trạng bắt nạt và đã cho phép “một môi trường giáo dục thù địch tồn tại.” Nhưng điều tra viên không kết luận về những vụ hiếp dâm được khai báo, vì, như lời cô nói, hành vi quấy rối là đủ chứng minh kết quả điều tra của mình. Cô cũng nói rằng vết sẹo trên cánh tay Chaz, cùng việc cậu bé phải tiếp tục điều trị trầm cảm “sẽ hỗ trợ những cáo buộc của cậu.”

Mặc dù trường học “có những chính sách tốt… nhưng họ chưa làm đủ,” một phần vì đã xử lý mỗi sự việc trên cơ sở từng vụ việc.

Một tháng sau, ủy ban đã mở đường cho gia đình Chaz khởi kiện, điều mà Amy đã làm vào tháng 7 năm 2015 với cáo buộc rằng Luật số IX đã bị vi phạm. Ủy ban cũng tham gia với tư cách đồng nguyên đơn “để bảo đảm rằng Brunswick có những biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn một môi trường giáo dục thù địch dựa trên giới tính và định hướng tình dục.”

Các luật sư đã đặt rất nhiều câu hỏi với Chaz trong buổi cung khai dài 8 tiếng đồng hồ. “Người đầu tiên đè lên người cháu trong bao lâu?” một luật sư hỏi. “Cháu chỉ làm những gì cậu ta yêu cầu cháu làm thôi à?”

Khi thẩm phán gần tiến đến quyết định vụ việc có được tiến hành xét xử hay không, hai bên đã cân nhắc việc hòa giải. Nhiều tuần đàm phán đã dẫn đến một thỏa thuận vào mùa thu năm 2016: Vụ kiện sẽ kết thúc, Brunswick sẽ sửa chữa một số khiếm khuyết trong hoạt động giám sát liên quan đến vụ việc của Chaz, và Chaz sẽ được bồi thường 50.000 USD.

Lời xin lỗi – một trong những điều mà Chaz mong muốn nhất – thì không có.

Perzanoski đã từ chối những đề nghị liên tục của AP để phỏng vấn ông ta, Wallace và những người liên quan đến vụ việc của Chaz. Ông chỉ đưa ra một bình luận ngắn qua email nói rằng lý do chính cho việc hòa giải là để cho tất cả mọi người “để lại mọi chuyện phía sau và tiến về phía trước.”

MÙA CỦA HY VỌNG

Chaz và Amy đánh dấu những tiến triển theo mùa: Năm ngoái, lần đầu tiên sau khi nói với mẹ rằng mình bị cưỡng hiếp, Chaz đã không phải ở lại bệnh viện trong mùa thu.

“Mùa thu luôn là khoảng thời gian khó khăn với cháu hàng năm, vì đó là thời điểm vụ tấn công đầu tiên xảy ra,” Chaz chia sẻ. “Đó là khi cháu cuối cùng cũng nói được với mẹ về những gì đã xảy ra. Đó cũng là khi cháu rời trường cấp 2 Brunswick.”

Amy đã bán ngôi nhà có sân sau rộng rãi, nơi Chaz và em trai đã lớn lên và chuyển tới một thị trấn gần đó, để hai anh em theo học ở một ngôi trường mới.

Chaz vẫn phải nghỉ học trong 2 năm đầu ở trường trung học công nghệ và khoa học mới để nhận hướng dẫn chuyên môn do chứng trầm cảm và rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý. Sau khi đổi cách điều trị, cậu bé ít phải nghỉ học hơn. Cứ cách một tuần, cậu lại đến gặp bác sĩ tư vấn.

Cậu hiện là một trong những chủ sở hữu gian hàng trẻ tuổi nhất tại một khu chợ đồ cũ ở địa phương, nơi cậu trò chuyện với những vị khách đến vào cuối tuần về kho điện thoại quay số kiểu cũ, tivi và những món đồ điện tử cổ khác của mình. Cậu cũng làm việc bán thời gian tại một trạm phát thanh, đọc tin thời tiết và bán quảng cáo, và nghĩ rằng mình có thể tạo nên sự nghiệp trong lĩnh vực phát thanh.

Vài tuần nữa, Chaz sẽ tròn 18 tuổi và sẽ tốt nghiệp. Cậu luôn nói rằng mình sẽ không bao giờ rời Maine. Nhưng gần đây, cậu đã suy nghĩ về việc đi học hoặc đi làm ở bang khác. Đó là dấu hiệu cho thấy tầm nhìn của cậu đã mở rộng.

“Cháu vẫn chưa chắc chắn mình sẽ làm gì,” Chaz nói. “Cuộc sống là một con đường thênh thang.”

Thụy Điển

Nhắc tới Thụy Điển, chúng ta thường chỉ nghĩ tới giải Nobel, ban nhạc ABBA hay đồ điện tử Electrolux. Tuy nhiên, quốc gia vùng Bắc Âu này còn có nhiều điều đặc biệt hơn thế.

Hành trình đi tới đỉnh cao dân chủ

Năm 2006, báo cáo của Phòng tình báo kinh tế (EIU) thuộc tờ The Economist, đánh giá Thụy Điển là quốc gia dân chủ nhất thế giới, với điểm số 9,88/10. “Thụy Điển, một nền dân chủ gần như hoàn hảo, đã đứng đầu bảng xếp hạng của chúng tôi, theo sau là nhiều quốc gia Bắc Âu nằm gần đó,” báo cáo viết.

Thụy Điển giữ vị trí đầu bảng đó cho đến năm 2010, khi bị Na Uy soán ngôi. Nhưng tới nay, Thụy Điển vẫn nằm trong top 3 các quốc gia dân chủ nhất thế giới, theo xếp hạng của EIU.

“Thụy Điển, một nền dân chủ gần như hoàn hảo, đã đứng đầu bảng xếp hạng của chúng tôi, theo sau là nhiều quốc gia Bắc Âu nằm gần đó,” trích báo cáo của EIU

Lẽ dĩ nhiên, không phải tự dưng mà Thụy Điển có được thành tựu như vậy. Quá trình hình thành nền dân chủ như hiện nay của Thụy Điển là một lịch sử kéo dài, với một số sự kiện xảy ra trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 được cho là có tác động đặc biệt quan trọng, đóng vai trò đặt những viên gạch ban đầu.

Trước tiên phải kể tới sự ra đời của Hiến pháp 1809, gồm Luật Công cụ điều hành Chính quyền. Luật này chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguyên tắc chia tách các quyền lực, với tư tưởng chủ đạo là việc phân lập giữa các quyền lực lập pháp, tư pháp và hành pháp.

Theo Luật Công cụ điều hành Chính quyền, nhà vua Thụy Điển không còn là người nắm quyền lực duy nhất trong đất nước. Thay vì thế, quyền lực được chia làm 4 phần. Quyền điều hành nằm trong tay nhà vua. Quyền liên quan tới các loại thuế được đặt vào tay Quốc hội. Quốc hội và nhà vua cũng chia nhau quyền ban hành luật. Quyền phán xử được trao cho tòa án.

Dù quyền lực đã được chia theo luật mới, vẫn chưa có sự dân chủ rõ ràng ở Thụy Điển. Tuy nhiên luật đã tạo ra nền móng và mang tới cơ hội để dân chủ được phát triển. Ngoài việc phân chia lại quyền lực, Luật Công cụ điều hành Chính quyền 1809 còn tăng cường sự tự do và quyền lợi của cá nhân, như quyền tự do biểu đạt quan điểm, quyền tự do lựa chọn tôn giáo.

Hoạt động phổ cập giáo dục tiểu học được triển khai ở Thụy Điển vào năm 1842. Điều này có nghĩa mọi đứa trẻ đều phải tới trường. Ngày càng có nhiều người học đọc và viết khiến dân trí dần cao hơn và đây là yếu tố hết sức quan trọng cho sự phát triển của dân chủ ở Thụy Điển.

Năm 1909, đại đa số đàn ông Thụy Điển giành được quyền bỏ phiếu. Tới năm 1919, đến lượt phụ nữ có quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử địa phương. Năm 1921, toàn bộ người Thụy Điển, cả đàn ông lẫn phụ nữ, đủ năng lực hành vi đã được quyền bỏ phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử.

Video giới thiệu về đất nước Thụy Điển. (Nguồn: YouTube)

Vào cuối thế kỷ 19, các phong trào như đi nhà thờ tự do, phong trào phụ nữ, phong trào lao động và các đảng phái chính trị dần xuất hiện ở Thụy Điển. Thông qua việc tự đưa mình vào các phong trào nêu trên, người ta dễ dàng thúc đẩy những điều trong xã hội mà họ muốn thay đổi.

Các phong trào này dạy người ta cách thức tổ chức mình, cách tiến hành hội họp và cần phải làm những gì để thúc đẩy sự thay đổi. Gây ảnh hưởng mạnh nhất trong số đó là phong trào lao động, vốn lớn mạnh cùng với quá trình công nghiệp hóa diễn ra vào cuối thế kỷ 19. Chính phong trào này đã đóng vai trò động lực cải cách khi Thụy Điển bước vào thế kỷ 20.

Năm 1914, Dân chủ Xã hội trở thành đảng phái chính trị lớn nhất tại Thụy Điển và tới năm 1930 thì chính thức cầm quyền. Nhờ áp dụng chính sách đề cao thỏa hiệp và đối thoại với các đảng phái chính trị mang đường lối dân chủ khác, chính quyền của đảng Dân chủ Xã hội đã có thể thiết kế mô hình nhà nước phúc lợi, với nguồn vốn hoạt động dựa trên một chính sách thuế tiến bộ.

Trong những năm 1940 và 1950, chính quyền tiến hành hàng loạt cuộc đại cải cách để đặt nền móng cho một nhà nước phúc lợi. Cùng lúc, đã có những lời kêu gọi cần hiện đại hóa bản Hiến pháp 1809.

Kết quả là một Hiến pháp mới, với Luật Công cụ điều hành Chính quyền mới được thông qua vào năm 1974. Văn bản mới nêu rõ rằng toàn bộ công quyền ở Thụy Điển đều do nhân dân tạo ra. Nhân dân cũng là những người bầu thành viên Quốc hội Thụy Điển trong các cuộc tuyển cử tự do.

Quyền lực của nhà vua Thụy Điển tiếp tục bị cắt giảm. Theo đó, vua Thụy Điển vẫn nắm vai trò nguyên thủ quốc gia, nhưng chỉ là hình thức. Quyền lực thực sự nằm ở Quốc hội, cơ quan đại diện thực sự của nhân dân.

Người dân mừng ngày Quốc khánh Thụy Điển. (Nguồn: Swedish Institute)
Người dân mừng ngày Quốc khánh Thụy Điển. (Nguồn: Swedish Institute)

Một đất nước tự do và hạnh phúc

Quá trình phát triển liên tục nêu trên khiến cho Thụy Điển hiện có nền dân chủ vô cùng cởi mở và minh bạch. Hiến pháp Thụy Điển quy định rõ mọi công dân đều có quyền tự do tìm kiếm thông tin, tổ chức các cuộc biểu tình, hình thành các đảng chính trị và thực hành tôn giáo của họ.

Năm 1766, Thụy Điển trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa vấn đề tự do báo chí vào Hiến pháp. Những người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm phát ngôn và phải cung cấp đầy đủ tất cả các thông tin cho báo chí. Những người cung cấp thông tin cho các nhà xuất bản, biên tập viên hoặc cơ quan truyền thông đều được bảo vệ, và các nhà báo không bao giờ bị ép buộc phải tiết lộ nguồn tin của họ.

Những người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm phát ngôn và phải cung cấp đầy đủ tất cả các thông tin cho báo chí.

Luật cơ bản về Tự do ngôn luận được điều chỉnh vào năm 1991, đã mở rộng thêm việc bảo vệ nguồn tin của các phương tiện truyền thông ngoài báo in, chẳng hạn như truyền hình, các hãng phim hay đài phát thanh. Luật nhằm bảo đảm quyền tự do trao đổi quan điểm, thông tin và sự sáng tạo nghệ thuật.

Công chúng và các phương tiện thông tin đại chúng có quyền tiếp cận các văn kiện, tài liệu chính thức của nhà nước. Điều này cho phép công dân Thụy Điển hiểu rõ hơn về hoạt động của chính phủ và chính quyền địa phương.

Việc kiểm tra được coi là có giá trị đối với một nền dân chủ, và chính sự minh bạch làm giảm nguy cơ lạm quyền. Tiếp cận tài liệu chính thức cũng có nghĩa là công chức nhà nước và những người làm việc cho chính phủ được quyền thông tin cho giới truyền thông hoặc những người bên ngoài.

Tuy nhiên, các tài liệu có thể được giữ kín nếu chúng liên quan đến các vấn đề về an ninh quốc gia; mối quan hệ của Thụy Điển với một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế; chính sách tài khóa, tiền tệ; việc kiểm tra, kiểm soát và các hoạt động giám sát khác của các cơ quan công quyền; hoạt động phòng, chống tội phạm; lợi ích kinh tế của công chúng; vị thế và tài chính của cá nhân…

Ở Thụy Điển, nhân quyền cũng được bảo vệ trong Hiến pháp, theo đó các quy định nên được thực thi với sự tôn trọng quyền bình đẳng của mọi người và sự tự do cũng như phẩm cách của cá nhân.

Các cơ quan nhà nước đặc biệt bảo vệ quyền được làm việc, được có nhà ở và được giáo dục. Chính quyền cũng thúc đẩy phúc lợi xã hội, đảm bảo an ninh và môi trường tốt cho người dân.

Chính sách phúc lợi ưu việt của Thụy Điển cho phép cha mẹ được nghỉ làm tới 16 tháng để chăm sóc đứa con của họ. (Nguồn: YouTube)

Về mặt phúc lợi, có lẽ ít nước nào sánh được với Thụy Điển. Trẻ em sinh ra tại đây được trợ cấp tài chính cho tới khi đủ 16 tuổi. Các bậc phụ huynh cũng được nghỉ phép tới 480 ngày để chăm con. Trẻ bị đau ốm hoặc tật nguyền được hưởng trợ cấp đặc biệt.

Những người không có đủ tiền mua nhà sẽ được trợ cấp nhà ở. Người đau ốm, tật nguyền hoặc không thể làm việc được hưởng một khoản trợ cấp riêng. Người thất nghiệp sẽ được trợ cấp trong vòng 300 ngày. Ngoài ra còn vô số các khoản phúc lợi khác khó có thể kể hết trong nội dung bài viết này.

Vì thế, không ngạc nhiên khi Thụy Điển là 1 trong 10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2017 do Mạng lưới các giải pháp phát triển bền vững (SDSN) công bố trong ngày 20/3/2017 – đúng Ngày Quốc tế Hạnh phúc hàng năm, Thụy Điển cùng với Na Uy, Đan Mạch, Iceland, Phần Lan, Hà Lan, Canada, New Zealand, Australia, Thụy Sĩ là 10 nước đứng đầu danh sách các quốc gia mà người dân hài lòng nhất với cuộc sống.

Danh sách xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc dựa trên 6 tiêu chí, gồm mức thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ người dân, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và không có tình trạng tham nhũng trong chính phủ hoặc doanh nghiệp.

Hình ảnh đồ họa cho thấy Thụy Điển thuộc top 10 nền kinh tế sáng tạo nhất thế giới trong năm 2017. (Nguồn: Bloomberg)
Hình ảnh đồ họa cho thấy Thụy Điển thuộc top 10 nền kinh tế sáng tạo nhất thế giới trong năm 2017. (Nguồn: Bloomberg)

Quê hương của các thương hiệu toàn cầu

Nền tảng khuyến khích tự do và dân chủ đã khiến Thụy Điển đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực. Mảnh đất này là nơi xây dựng, sáng tạo ra rất nhiều thương hiệu, sản phẩm nổi tiếng, với sức ảnh hưởng toàn cầu.

Đó là IKEA, tập đoàn bán lẻ đồ nội thất lớn nhất thế giới, được ông Ingvar Kamprad, một doanh nhân Thụy Điển, thành lập năm 1943. Tên gọi IKEA bắt nguồn từ các chữ cái đầu của tên của người sáng lập Ingvar Kamprad Elmtaryd Agunnaryd.

Các tín đồ thời trang cao cấp không thể không biết H&M – một thương hiệu nổi tiếng với các thiết kế có tính tiện dụng cao, hiện đại, hợp thời trang. Xuất hiện đầu tiên ở Thụy Điển, đến nay, H&M đã có mặt tại hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới. Cùng với Zara của Mỹ, H&M là một thương hiệu thời trang bán lẻ lớn nhất nhì thế giới.

Ericsson là tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng mang quốc tịch Thụy Điển với trên 130 năm kinh nghiệm hoạt động. Liên doanh giữa Ericsson và Sony của Nhật Bản được thành lập năm 2001, nhanh chóng trở thành thương hiệu có tiếng.

IKEA là một trong những thương hiệu toàn cầu mạnh nhất của Thụy Điển. (Nguồn: How Stuffs Work)
IKEA là một trong những thương hiệu toàn cầu mạnh nhất của Thụy Điển. (Nguồn: How Stuffs Work)

Những chiếc điện thoại Sony Ericsson từng làm bao tín đồ công nghệ thích thú, tuy nhiên, với sự ra mắt của hàng loạt các loại điện thoại thông minh, Sony Ericsson dần trở nên thất thế trên thị trường với sự thống trị của Apple và Samsung. Tháng 10/2011, Sony đã bán cổ phần của Ericsson, khai tử thương hiệu Sony Ericsson.

Electrolux, thương hiệu hàng điện tử-điện lạnh gia dụng quen thuộc với nhiều người, cũng có nguồn gốc từ Thụy Điển. Electrolux là một trong những nhà sản xuất lớn nhất thế giới về các sản phẩm điện như tủ lạnh, máy giặt, nồi cơm điện, điều hòa nhiệt độ, cưa xích, máy cắt cỏ, máy dọn vườn…

Volvo là thương hiệu xe hơi Thụy Điển được đánh giá cao với những dòng xe có độ an toàn cao. Volvo đã từng có thời kỳ “làm mưa làm gió” ở thị trường châu Âu và Mỹ, nơi người tiêu dùng khá kỹ tính.

Skype là ứng dụng gọi video, chat, nhắn tin, gọi điện, gọi nhóm… miễn phí, tiện lợi và phổ biến trên thế giới. Niklas Zennström, người Thụy Điển và Janus Friis, người Đan Mạch, là hai người khai sinh ra Skype. Năm 2011, hãng Microsoft đã mua lại Skype với giá “khủng” – 8,5 tỷ USD.

Với 50 triệu người dùng trả phí, Spotify tiếp tục nới rộng khoảng cách với các đối thủ và khẳng định vị thế dẫn đầu của mình trong dịch vụ âm nhạc trực tuyến. Thương hiệu của Thụy Điển được đánh giá cao với ưu điểm là dịch vụ dễ sử dụng và kho âm nhạc đa dạng. Spotify hiện bỏ khá xa Apple Music, sản phẩm của “Quả táo cắn dở” Apple.

Người Việt Nam hẳn không còn lạ lẫm với giai điệu của ca khúc “Happy New Year.” (Nguồn: YouTube)

Cũng cần phải nhắc lại rằng Thụy Điển chính là nơi sinh ra giải Nobel danh giá. Alfred Bernhard Nobel (1833-1896) là một nhà hóa học, một nhà kỹ nghệ, nhà sản xuất vũ khí, người phát minh ra thuốc nổ và một triệu phú người Thụy Điển. Ông dùng tài sản của mình để sáng lập ra Giải thưởng Nobel – giải thưởng danh giá dành cho những phát minh khoa học vĩ đại.

ABBA, ban nhạc lừng danh thế giới một thời, được thành lập vào năm 1972 tại Thụy Điển. Nhắc đến ABBA, người yêu nhạc không ai không nhớ đến ca khúc nổi tiếng “Happy new year,” luôn vang lên vào những dịp Năm mới. Tính đến nay, ABBA đã tiêu thụ được gần 370 triệu đĩa và là một trong những ban nhạc thành công nhất trong lịch sử âm nhạc.

Thụy Điển còn là nơi khai sinh của Pippi Tất dài, cô bé 9 tuổi, khỏe mạnh nhất, sáng dạ nhất và giàu nhất thế giới. Pippi Tất dài là tên nhân vật chính, đồng thời là tên tác phẩm nổi tiếng viết cho thiếu nhi của nhà văn Thụy Điển Astrid Lindgren.

Câu chuyện kể về cô bé kỳ lạ – với mái tóc đỏ hoe tết thành hai cái đuôi sam cứng như hai cái que, mũi to như quả cà chua và khuôn mặt đầy tàn nhang – đã được xuất bản tại hơn 90 nước và bảy lần dựng thành phim tại các quốc gia khác nhau. Pippi Tất dài trở thành một trong những nhân vật kinh điển được yêu quý nhất của văn học thiếu nhi châu Âu và thế giới.

Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển Urban Ahlin đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chiều 6/4/2017. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN) 
Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển Urban Ahlin đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chiều 6/4/2017. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN) 

Đối tác quan trọng của Việt Nam tại châu Âu

Thụy Điển là nước phương Tây đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (11/1/1969). Thụy Điển cũng là nước phương Tây có phong trào ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam mạnh nhất, sớm nhất (8/1966). Tháng 10/1968, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam lập phòng thông tin tại Stockholm.

Tháng 6/1970, Thụy Điển lập Đại sứ quán tại Hà Nội và tháng 7/1970, Việt Nam lập Đại sứ quán tại Stockholm. Ngày 4/9/1982, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức quyết định đặt quan hệ với Đảng Xã hội Dân chủ Thụy Điển.

Thụy Điển là nước phương Tây đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (11/1/1969)  

Tháng 12/2010, Chính phủ Thụy Điển, với lý do cắt giảm ngân sách, đã quyết định đóng cửa 5 sứ quán Thụy Điển trên thế giới vào năm 2011, trong đó có Sứ quán Thụy Điển tại Hà Nội. Tuy nhiên, ngày 2/8/2011, sau khi thỏa thuận được vấn đề ngân sách với liên minh đối lập, Chính phủ Thụy Điển tuyên bố giữ lại Đại sứ quán tại Việt Nam.

Đầu tháng 11/2012, Đại sứ quán Thụy Điển tại Hà Nội xin phép mở thêm Văn phòng Thương mại trực thuộc Cơ quan xúc tiến thương mại-đầu tư Thụy Điển “Business Sweden” nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước. Giữa tháng 9/2013, Văn phòng Thương mại chính thức đi vào hoạt động.

Việt Nam và Thụy Điển thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao giữa 2 bên.

Mới đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam đã thăm chính thức Vương quốc Thụy Điển từ ngày 6-8/4/2017 theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển Urban Ahlin.

Chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tục củng cố, tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Thụy Điển trên một số lĩnh vực cụ thể, trong đó tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm hoạt động giữa cơ quan lập pháp hai nước.

Đây là chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam đến Thụy Điển sau 24 năm kể từ chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh năm 1993.

Đại sứ Thụy Điển nói về quan hệ giữa Việt Nam và Thụy Điển.

Nhiều lãnh đạo cấp cao khác của Việt Nam cũng đã thăm Thụy Điển như Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1974), Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Thụy Điển (1995), Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (1999), Thủ tướng Phan Văn Khải (1999), Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (2002), Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng (2008), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên (4/2010), Trưởng ban đối ngoại Hoàng Bình Quân (9/2012), Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu (12/2013), Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh (4/2014).

Nhiều lãnh đạo cấp cao Thụy Điển từng đã đến thăm Việt Nam như Thủ tướng Carl Bildt (1994); Chủ tịch Quốc hội Birgiha Dahl (1995); Nhà Vua Thụy Điển Carl XVI Gusstaf và Hoàng hậu (2004); Thủ tướng Thụy Điển Goran Persson và Ngoại trưởng Laila Freivals dự Hội nghị thượng đỉnh ASEM 5 tại Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Thụy Điển Carl Bildt dự Hội nghị FMM 9 (2009). Tháng 3/2014, Thứ trưởng Ngoại giao Frank Belfrage chủ trì Hội nghị các Đại sứ Thụy Điển khu vực châu Á tại Hà Nội); Chủ tịch Quốc hội Urban Ahlin thăm chính thức tháng 4/2015.

Thụy Điển là nước phương Tây đi đầu trong việc hỗ trợ Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới ngay từ những năm đầu tiên trong các lĩnh vực cải cách kinh tế; tài chính; ngân hàng; quản lý kinh tế; hành chính; luật pháp… và tích cực hỗ trợ Việt Nam khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế (IMF, WB…). Tháng 1/2014, Quốc hội Thụy Điển đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện Việt Nam-EU (PCA).

Thời gian qua, đầu tư của Thụy Điển vào Việt Nam tăng trưởng mạnh với 52 dự án, tổng số vốn đăng ký đạt 92,7 triệu USD (tháng 12/2016), đứng thứ 43/115 nước và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.

Các dự án của Thụy Điển có mặt tại 7 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng và Hưng Yên).

Thụy Điển là nước Tây Bắc Âu viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam (bắt đầu từ năm 1967), tổng viện trợ trên 3,5 tỷ USD, tập trung vào các lĩnh vực y tế, cải cách kinh tế, xây dựng thể chế, nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính, luật pháp, phát triển nguồn nhân lực, môi trường và biến đổi khí hậu…

Quan hệ song phương Việt Nam - Thụy Điển
Quan hệ song phương Việt Nam – Thụy Điển

Sau năm 2013, Thụy Điển chấm dứt cung cấp viện trợ phát triển song phương cho Việt Nam, quan hệ hợp tác phát triển giữa hai nước chuyển sang quan hệ đối tác bình đẳng cùng có lợi.

Trước đây, với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển, hợp tác văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ hai nước phát triển mạnh. Thụy Điển là một trong những nước cung cấp viện trợ phát triển nhiều nhất và có hiệu quả nhất cho ngành văn hóa Việt Nam với những dự án trong các lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, nâng cao kỹ năng và nghiệp vụ trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, báo viết của Việt Nam.

Hai bên đã ký hai Hiệp định hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa và truyền thông.

Sự hợp tác giữa các đối tác Thụy Điển và Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo báo chí đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của báo chí Việt Nam.

Viện đào tạo báo chí Fojo, Thụy Điển đã cùng hợp tác với Việt Nam từ năm 1988 khi các giảng viên đầu tiên của Fojo đặt chân sang Hà Nội theo lời mời của các đồng nghiệp Việt Nam và Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông).

Đến nay, 175 khóa học với khoảng 500 tuần học đã được tiến hành, tập trung vào các chủ đề khác nhau và được tổ chức dưới nhiều hình thức. Khoảng 40 nhà báo Thụy Điển đã có cơ hội làm việc, hợp tác với 5.000 lượt phóng viên và lãnh đạo các cơ quan báo chí cùng các trợ giảng người Việt Nam.

Về giáo dục-đào tạo, Thụy Điển đã giúp Việt Nam đào tạo chuyên gia, kỹ sư, tiến sỹ trong các ngành lâm nghiệp, giấy, năng lượng, công nghệ sinh học, y học, báo chí.

Bên cạnh đó, một số trường đại học lớn của Thụy Điển, như trường Đại học Uppsala, đã liên kết với trường Đại học Quốc gia Hà Nội mở các khóa đào tạo tại Việt Nam.

Trong buổi tiếp Đại sứ đặc mệnh Toàn quyền Vương quốc Thụy Điển tại Việt Nam Pereric Hogberg, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định hai nước có quan hệ chính trị tin cậy lẫn nhau nên Việt Nam và Thụy Điển cần mở rộng hợp tác mạnh mẽ hơn nữa trên nhiều lĩnh vực./.

Công nhân tại Nhà máy giấy Bãi Bằng - một trong những nhà máy giấy lớn và hiện đại mà Thụy Điển giúp Việt Nam xây dựng trong thập niên 1970.(Nguồn: TTXVN) 
Công nhân tại Nhà máy giấy Bãi Bằng – một trong những nhà máy giấy lớn và hiện đại mà Thụy Điển giúp Việt Nam xây dựng trong thập niên 1970.(Nguồn: TTXVN) 

Các thuật toán

Công ty khởi nghiệp Articoolo tại Israel khẳng định sản phẩm trí tuệ nhân tạo của họ có thể tạo ra những nội dung nguyên bản về bất kỳ chủ đề nào trong vài phút – và chúng ta sẽ không thể nhận ra sự khác biệt.

Viết nội dung có thể gây đau đầu cho các nhà quản lý trang web. Sản xuất nội dung đòi hỏi thời gian, nhân lực có kỹ năng và tiền bạc. Trong hiện thực kỹ thuật số hiện nay, các thương hiệu, công ty và các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ đều phải có một trang web để duy trì liên lạc với khách hàng và thu hút khách hàng mới. Ngoài ra, họ cần có một danh sách phân phối email và các hồ sơ trên mạng xã hội.

Hiện có khoảng hơn một tỷ trang web nội dung trên toàn thế giới. Các nghiên cứu cho thấy mỗi ngày, có 4 triệu bài blog được viết và 215 tỷ email thương mại được gửi đi. Mặc dù các nhà thiết kế và viết nội dung không được trả lương hậu hĩnh, việc viết những nội dung nguyên bản tỏ ra là một gánh nặng tài chính đáng kể. Ở các công ty lớn hơn, nhu cầu nội dung gốc phong phú để duy trì sự hiện diện của họ trong thế giới kỹ thuật số có thể khiến chi phí tăng vọt.

Một giải pháp cho những vấn đề này vừa được công ty khởi nghiệp Articoolo ở Israel đưa ra.

Giải pháp này giúp việc viết lách trở thành một quá trình đơn giản với chi phí thấp bằng cách sử dụng trí tuệ nhân tạo. Articoolo đã phát minh ra một công cụ công nghệ có thể sản xuất một bài tin tức 500 từ với nội dung nguyên bản và chất lượng cao về bất kỳ nội dung nào trong vòng 2 phút. Độc giả sẽ không thể phân biệt được văn bản này được người viết hay máy viết.

“Về mặt trí tuệ nhân tạo, sản xuất một bài tin tức mạch lạc rất phức tạp,” Doron Tal, một trong những nhà sáng lập công ty cho biết. “Giải pháp của chúng tôi cho phép cải tiến các mẩu nội dung đã có trong không gian kỹ thuật số, trình bày chúng theo một cách thống nhất, sử dụng ngôn ngữ rõ ràng và chính xác.”

Articoolo đã phát minh ra một công cụ công nghệ có thể sản xuất một bài tin tức 500 từ với nội dung nguyên bản và chất lượng cao về bất kỳ nội dung nào trong vòng 2 phút.

Ý định đầu tiên của Articoolo là sử dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục để giúp các sinh viên đại học viết các bài luận. Công ty nhanh chóng nhận ra lĩnh vực tiếp thị còn có nhu cầu viết tự động lớn hơn. “Trong thập kỷ qua, quảng cáo đã trải qua rất nhiều thay đổi. Khách hàng bây giờ tìm kiếm những giá trị và ít bị ảnh hưởng bởi những câu khẩu hiệu hơn. Các công ty và thương hiệu do đó đã chuyển sự tập trung và đầu tư của họ vào nội dung,” Tal cho biết.

Articoolo được thành lập cách đây 2 năm bởi Tal và các cộng sự, tiến sỹ toán học Nir Haloani và nhà phát triển phần mềm Lilia Demidov – cả hai người này có kinh nghiệm dày dạn trong việc nén dữ liệu và quảng cáo trên internet. Năm ngoái, Articoolo là một trong số 8 công ty khởi nghiệp được tham gia vào chương trình tăng tốc danh tiếng của IBM. Điều này đã giúp các nhà sáng lập tiếp cận với một trong những hệ thống trí tuệ nhân tạo mạnh mẽ nhất thế giới: Watson.

“Trong vòng một tháng rưỡi, chúng tôi đã tăng vốn ban đầu lên tới hàng triệu USD, và trong vòng một năm, chúng tôi chỉ nghiên cứu các thuật toán cơ bản. Tầm nhìn của chúng tôi là xây dựng một cỗ máy dựa trên trí tuệ nhân tạo có thể viết một bài tin tức mà người đọc sẽ nghĩ là do con người viết. Điều quan trọng với chúng tôi là văn bản đó phải nguyên gốc, không được là sự sao chép hay cắt dán,” Tal chia sẻ.

“Ở bất kỳ phân khúc thị trường nào, nếu bài viết bị sao chép từ đâu đó và không phải là duy nhất, thì nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Bạn có thể sử dụng Google để lấy một văn bản. Chúng tôi đã trải qua một quá trình bảo đảm chất lượng dài hơi, phát hiện các vấn đề và lỗi sai, và mỗi lần như vậy chúng tôi lại cải thiện được thuật toán. Đây là một quá trình bất tận, chúng tôi sẽ luôn phải cải tiến nó và chúng tôi sắp xin được bằng sáng chế cho sản phẩm này,” ông cho biết thêm.

Từ trái sang: Các nhà sáng lập của Articoolo - Nir Haloani, Lilia Demidov và Doron Tal (Ảnh: haaretz.com)
Từ trái sang: Các nhà sáng lập của Articoolo – Nir Haloani, Lilia Demidov và Doron Tal (Ảnh: haaretz.com)

Sản xuất tại Ấn Độ

– Ông nghĩ chất lượng văn bản do cỗ máy tạo ra như thế nào?

Tal: “Sáu tháng trước chúng tôi đã cho chạy thử và đạt được kết quả là 100% các bài viết đều là độc nhất. Chúng tôi hài lòng vơi kết quả này. Chúng tôi chưa gặp câu văn nào nghe vô lý. Chất lượng là một vấn đề chủ quan và chúng tôi chỉ còn cách những mục tiêu của mình một nửa đường nữa.”

– Hệ thống này xử lý tin tức giả như thế nào? Điều gì sẽ xảy ra nếu thuật toán sử dụng một bài báo bịa đặt?

“Theo định nghĩa, thuật toán tìm kiếm những nguồn có dạng bài viết. Chúng tôi thường không sử dụng nội dung từ các trang web tin tức hay các trang blog viết về các sự kiện đang diễn ra như nguồn tin bài. Điều này làm giảm khả năng gặp phải tin giả. Rõ ràng, ngay cả khi coi các bài tin tức là một nguồn, chúng tôi cũng có thể gặp những thông tin sai, nhưng điều này cũng giống như một người viết là con người tìm kiếm các nguồn tin và tìm thấy một thứ gì đó mà anh ta không thể truy nguyên. Khả năng bị vấp ngã như vậy của chúng tôi thấp hơn vì chúng tôi đã phân loại các nguồn tin khác nhau, làm giảm nguy cơ gặp phải những nguồn không đáng tin cậy.”

– Articoolo có bao nhiêu người dùng?

“Chúng tôi có 33.000 người dùng đã tạo ít nhất một bài tin tức, trong đó có 2.000 người là khách hàng trả tiền. 7% những người đăng ký sử dụng đã trở thành khách hàng trả tiền. 60 phần trăm khách hàng trả tiền cũng đăng ký theo dõi, hoặc là khách hàng cũ quay lại.

“Về mặt chiến lược, mục tiêu của chúng tôi là tiếp cận các công ty và tổ chức lớn thường xuyên có nhu cầu về nội dung gốc với số lượng lớn. Chúng tôi co một số dự án thí điểm với các công ty về quảng cáo và nội dung tự nhiên, và chúng tôi đãng kiểm chứng khả năng xử lý khối lượng công việc lớn của công cụ của mình. Các mức giá của chúng tôi phụ thuộc vào việc công ty đăng ký thuê bao trả tiền hay chỉ muốn mua một số lượng tin bài giới hạn. Mười bài viết có giá 19 USD và 100 bài có giá 99 USD. Mặt khác, người dùng đăng ký trả tiền có thể tạo 30 bài tin tức với giá 29 USD hoặc 250 bài với giá 99 USD.”

– Ai là đối thủ cạnh tranh của công ty? Có công ty nào khác tạo nội dung bằng trí tuệ nhân tạo không?

“Chúng tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu một số giải pháp khác trong lĩnh vực này. Không công ty nào cung cấp một giải pháp hoàn chỉnh như chúng tôi. Ví dụ, có những sản phẩm phần mềm gọi là spinner, có thể lấy một văn bản hay một từ rồi thay thế bằng từ đồng nghĩa hay văn bản tương tự. Vấn đề là họ không phân tích văn bản, dẫn đến việc văn bản có thể không mạch lạc. Một công ty khởi nghiệp tên là Narrative Science viết được những bài tóm tắt nhưng cũng có thể sản xuất những văn bản, tuy nhiên hoạt động này phải dựa trên các mẫu cố định. Chúng tôi không sản xuất những văn bản cứng nhắc mà cung cấp những sản phẩm cho các công ty cần nội dung gốc với số lượng lớn và tần suất liên tục.

“Chúng tôi cố gắng chỉ đạo hệ thống sản xuất ra văn bản dưới dạng các bài viết, vì thế đối thủ chính của chúng tôi thực ra là những cây viết con người. Nghiên cứu cho thấy 79% nội dung tiếng Anh trên internet được viết ra ở Ấn Độ. Có rất nhiều trang web viết tin bài do người Ấn Độ quản lý với mức giá khá cao. Trong lần thử nghiệm của mình, chúng tôi nhận ra nhu cầu là rất cao và mọi người đều sẵn sàng trả tiền. Trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi sẽ có thể tăng giá vì chúng tôi gần như không có đối thủ cạnh tranh nào. Khi lựa chọn thay thế chủ yếu là cây viết con người, giá thành phẩm trở nên rất đáng kể.”

Viết bằng thuật toán

– Các anh có phải là một mối đe dọa với những người viết nội dung hay không? Các nhà báo có cần bắt đầu tìm một công việc mới không?

“Chúng tôi sẽ không thay thế các nhà báo. Đây là một sự trợ giúp dành cho nhiều nhóm người dùng. Vẫn cần các nhà báo xem xét lại nội dung, biên tập và trong trường hợp của chúng tôi là dịch thuật ra nữa. Chúng tôi đã kết luận rằng các nhà báo và những cây viết chuyên nghiệp không muốn để một thuật toán viết bài thay họ. Họ đã quá mệt mỏi với những thuật toán như vậy rồi. Mặt khác, họ cũng cần sự giúp đỡ khi viết lách, nhất là trong những giai đoạn đầu khi họ ngồi trước một trang giấy trắng và cần một điểm xuất phát. Thuật toán này không khiến các nhà báo mất việc. Trái lại, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của cây viết con người, do thuật toán sẽ không bao giờ đọ được với một nhà báo cùng khả năng phân biệt và sự hiểu biết của họ. Nó có thể giúp công việc của nhà báo trở nên dễ dàng hơn mà không hoàn toàn thay thế họ. Sẽ phải mất một thời gian dài để máy móc có thể thay thế hoàn toàn một cây viết con người.”

– Tuy nhiên, sản phẩm của các anh vẫn đặt ra câu hỏi về công việc của người viết hoặc nhà báo: Họ có nên xuất bản những tin bài do máy viết thay vì do họ viết không?

“Tôi không nghĩ việc một nhà báo dùng Articoolo và các công cụ công nghệ của chúng tôi để lấy ý tưởng hay xây dựng nội dung từ đó lại là phi đạo đức. Cả thế giới đang hướng về trí tuệ nhân tạo và sẽ không có cách nào quay lưng lại với nó được.”

Trong những tháng gần đây, một số trang web nội dung đã tiếp cận công ty này và đề nghị dùng thử các công cụ của họ, và các quan hệ đối tác đã được thành lập, một số còn trên cơ sở dài hạn. Một ví dụ là BITA, một trang blog công nghệ của Nhật Bản sử dụng thuật toán của Articoolo để viết các tin bài chủ yếu liên quan đến tin tức và khảo sát công nghệ. Sự hợp tác này làm tăng sự hiện diện của công ty ở Nhật và khách hàng Nhật Bản hiện chiếm 15% cơ sở khách hàng của họ.

Các công cụ của Articoolo đã làm dấy lên nhiều câu hỏi về nội dung được tạo tự động mà không có sự can thiệp của con người. Ngoài việc đe dọa công ăn việc làm của những người viết nội dụng và những nhà báo (dù Tal đã phủ định việc này), những nội dung do máy móc tạo ra vẫn cần khách hàng phải kiểm tra và xác minh trong một số trường hợp để bảo đảm không có thông tin sai lệch. Việc chuẩn bị tin bài do đó trở thành một quá trình lâu hơn so với dự định của khách hàng.

Tuy nhiên, Articoolo nỗ lực sản xuất những văn bản đơn giản, không phải là các luận án học thuật hay mục tin tức. Đó là lý do vì sao công ty đáp ứng được nhu cầu cao của thị trường trong việc nhanh chóng tạo ra những nội dung có liên quan với số lượng lớn, sự mạch lạc và độ chính xác tương đối.

Không có sự tham gia của con người

Văn bản dưới đây có tên “Những ảnh hưởng về mặt tài chính của biến đổi khí hậu” được viết hoàn toàn bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo của Articoolo. Hệ thống được cho 5 từ khóa theo chủ đề và giới hạn bài viết ở 250 từ.

Thuật toán phân tích từng từ và quét toàn bộ internet để chọn nguồn chính để viết bài. Sau đó, phần mềm sẽ tìm kiếm những nội dung liên quan hơn và tạo những câu chính cho bài viết từ các nguồn này. Cuối cùng, văn bản thô được viết lại và chỉnh sửa bằng công cụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên để chắc chắn về độ rõ ràng và dễ hiểu. Toàn bộ quá trình này mất không quá hai phút.

Đoạn nội dung 250 chữ này do hệ thống trí tuệ nhân tạo của Articoolo viết ra
Đoạn nội dung 250 chữ này do hệ thống trí tuệ nhân tạo của Articoolo viết ra

Những ảnh hưởng về mặt tài chính của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trên thị trường, nên các nhà đầu tư và tổ chức tài chính cần cân nhắc điều này trong các kế hoạch chiến lược của họ. Tuy nhiên, không phải mọi điều kiện vi mô và thay đổi vĩ mô sẽ có tác động tương tự nhau lên bất kỳ khoản đầu tư nào.

Bạn có thể tìm thấy những cơ hội và thách thức có liên hệ với chính sách đo lường việc giảm khí nhà kính (GHG). Để đạt được mục tiêu toàn cầu là giữ nhiệt độ trung bình trên thế giới từ thời tiền công nghiệp tăng dưới 2 độ C, cách thức đầu tư phải thay đổi đáng kể.

Các khoản đầu tư và tài sản sẽ bị ảnh hưởng bởi những tác động vật lý của biến đổi khí hậu. Các sự kiện thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu sẽ tác động đến lượng mưa, cơ sợ hạ tầng, nông nghiệp và nguồn cung thực phẩm cũng như nguồn nước theo những cách chưa thể được ước tính.

Quyết định của các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư trong khu vực tư nhân sẽ có ảnh hưởng lớn đến cách xã hội phản ứng với biến đổi khí hậu.

Sẽ có sự quan tâm đáng kể với nguồn vốn, khi các cơ quan trông cậy vào khu vực tư nhân để hỗ trợ đa phần. Để giữ nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 2 độ C, đầu tư thêm vào riêng ngành cung cấp năng lượng hàng năm phải đạt từ 190 tỷ USD đến 900 tỷ USD, cùng với sự chuyển dịch lớn từ năng lượng hóa thạch sang các nguồn ít carbon như năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân.

Phạm Băng Băng

Ban tổ chức Liên hoan phim Cannes mới công bố thành phần ban giám khảo, trong đó có 2 đại diện châu Á là diễn viên Hoa ngữ Phạm Băng Băng và đạo diễn người Hàn Quốc Park Chan-wook.

Ngay sau khi thông tin này lan truyền trên báo chí, cư dân mạng Trung Quốc đã bày tỏ sự hoài nghi về khả năng của Phạm Băng Băng, điều mà đã thành thông lệ mỗi khi cô diễn viên xinh đẹp này nhận được vinh dự nào đó.

Nhưng dù gì thì vẫn phải khẳng định rằng gần 20 năm sau vai diễn nàng hầu Kim Tỏa trong “Hoàn Châu Cách Cách,” Phạm Băng Băng đã có những bước tiến ngoạn mục để trở thành ngôi sao điện ảnh hàng đầu Trung Quốc.

Với vai diễn trong bộ phim “Tôi không phải Phan Kim Liên,” Phạm Băng Băng đã nhận giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Lễ trao giải điện ảnh Trung Quốc lần thứ 8, diễn ra vào tối 22/4 tại Bắc Kinh. Đây là thành công nối tiếp sau giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắt nhất ở Liên hoan phim quốc tế San Sebastián và Giải thưởng Điện ảnh châu Á.

Chính sự nỗ lực, thẳng thắn, chăm chỉ và tính cách dịu dàng mới chính là nguyên nhân cô được truyền thông săn đón.

Trong giây phút nhận giải thưởng, Phạm Băng Băng chia sẻ rằng: “Đã nhiều năm trôi qua, tôi muốn bước lên sân khấu này nhưng vẫn chưa có cơ hội. Cuối cùng hôm nay tôi đã có cơ hội này. Cảm ơn vì mọi người đã nhìn thấy những nỗ lực trong nhiều năm qua của tôi.”

Từ vai diễn Kim Tỏa trong “Hoàn Châu Cách Cách” đến khi trở thành ngôi sao hàng đầu của châu Á, dường như Phạm Băng Băng đã chứng minh bản thân không chỉ xinh đẹp như “nữ thần,” mà chính sự nỗ lực, thẳng thắn, chăm chỉ và tính cách dịu dàng mới chính là nguyên nhân cô được truyền thông săn đón.

Phạm Băng Băng bén duyên với sự nghiệp diễn xuất từ năm 16 tuổi. Tên tuổi của cô được biết tới từ sau vai diễn trong tác phẩm của Quỳnh Dao.

Phạm Băng Băng nhớ lại: “Từ nhỏ tôi đã hứng thú với các bộ phim, tôi gần như mê đắm bộ ‘Võ Tắc Thiên.’ Tôi thường xuyên bắt chước mọi động tác của bà ấy, và cũng từ thời khắc đó, tôi ước mình sẽ là một diễn viên.”

Phạm Băng Băng sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật ở Thanh Đảo, Sơn Đông, khi cha cô vốn làm ca sỹ trong đoàn văn công hàng không hải quân, còn mẹ cô từng là diễn viên múa. Cô tốt nghiệp từ trường Minh tinh Hằng Thông của đạo diễn Tạ Tấn và Học viện Hí kịch Thượng Hải.

Phạm Băng Băng có phải là “bình hoa di động”?

Những lời chia sẻ, tâm sự của cô khi nhận giải thưởng dường như là tiếng lòng trong suốt bao nhiêu năm qua khi người ta gọi cô là “bình hoa di động,” cũng giống như lời của đạo diễn Phùng Tiểu Cương nói sau khi đoàn làm phim nhận giải thưởng ở Tây Ban Nha. Ông nói: “Như vậy người ta sẽ chẳng còn cớ nói cô suốt ngày chỉ sải bước trên thảm đỏ rồi.”

“Tôi có thể đi trên thảm đỏ, cũng có thể đi từ đầu này của thảm đỏ đến đến đầu kia, nơi trao giải thưởng,” cầm trên tay Vỏ sò bạc tại San Sebastián 2016, Phạm Băng Băng bạo gan đáp lại.

Ngày 26/11/2016, một lần nữa Phạm Băng Băng lại bước gần đến mục nhận giải sau khi được đề cử ở giải Kim Mã nhưng lần này cô bị Chu Đông Vũ và Mã Tư Thuần “cản bước.”

Dù thất bại nhưng cũng không đến nỗi bi thảm như người ta vẫn tưởng tượng, trước buổi lễ trao giải, Phạm Băng Băng bình tĩnh trả lời rằng: “Đương nhiên tôi hy vọng sẽ nhận được giải nhưng sau khi nhận giải tại Tây Ban Nha, mọi giải thưởng khác chỉ như lớp kem trên chiếc bánh.” Phạm Băng Băng của ngày hôm nay dường như rất hài lòng với những giải thưởng mình đạt được: “Một diễn viên 8X của Trung Quốc với những thành công như vậy, tôi có lẽ là số một.”

Thảm đỏ không phải là cuộc hành trình và sân khấu trao giải cũng không phải đích đến, con đường của diễn viên rất dài và Phạm Băng Băng vẫn trên con đường đó.

Cũng giống như những gì Phạm Băng Băng từng nói, dù không đạt được giải thưởng Kim Mã nhưng cô là nữ diễn viên 8X duy nhất nhận được hai giải thưởng ở liên hoan phim quốc tế. Năm 2010, cô chiến thắng ở Tokyo và năm 2016, cô được vinh danh ở Tây Ban Nha.

Trailer phim “Tôi không phải Phan Kim Liên”

Nhớ về Phạm Băng Băng của 12 năm trước – năm 2004, với tác phẩm “Cell Phone,” cô nhận được giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắt nhất giải Bách Hoa. Nghĩ lại cảm giác hôm đó khi nhận giải, Phạm Băng Băng cười lớn: “Hồi đó tôi cảm thấy sung sướng trong một thời gian dài, cảm thấy mình vô cùng lợi hại.”

Cùng với các giải thưởng chính là sự khẳng định của người trong giới. “Cell Phone” là bộ phim điện ảnh đầu tiên của cô, khi đó cô vừa chuyển từ đóng phim truyền hình sang điện ảnh và lần đầu đóng nữ chính, hợp tác với đạo diễn Phùng Tiểu Cương. Phạm Băng Băng bộc bạch rằng khi đó cô vô cùng hồi hộp nhưng những tiếng vỗ tay khi kết thúc cảnh quay khiến cô có niềm tin với điện ảnh.

Sự động viên của giới chuyên môn khiến Phạm Băng Băng ngày càng tự tin với việc trở thành diễn viên, và ngày càng hà khắc hơn với bản thân. “Giải thưởng của Liên hoan phim quốc tế San Sebastián chỉ khiến tôi vui một ngày, hiện tại thời gian hào hứng ngày càng ít đi,” Phạm Băng Băng nói.

Có người nói rằng cô là bình hoa di động, cũng có người nói rằng cô không biết diễn, Phạm Băng Băng chẳng hề giấu giếm điều gì, và nói rằng: “Mọi người thường cảm thấy những diễn viên xinh đẹp thì không có năng lực diễn xuất, thực ra vì câu nói đó mà tôi quyết tâm bám trụ với công việc này. Tôi muốn chứng minh cho bạn thấy những thứ bạn nói là sai lầm và tôi đã chứng minh được rồi. Rồi có người lại nói, tôi không có bộ phim mang tên tuổi của mình, thực ra tôi thấy bạn đang giả vờ ngủ và không thể tỉnh nổi.”

Đương nhiên, Phạm Băng Băng cũng hiểu rõ những chất vấn đó xuất phát từ đâu. Ngoài “Quan âm Sơn,” “Lạc lối ở Bắc Kinh,” “Tôi không phải Phan Kim Liên,” thì Phạm Băng Băng cũng tham gia diễn xuất trong một lượng lớn phim thảm họa.

Phạm Băng Băng không hề trốn chạy những hoài nghi của khán giả nhưng cô nói rằng cô có một tiêu chuẩn riêng cho mình. Dù đã trở thành diễn viên hạng A nhưng cô vẫn thường xuyên gặp phải những dự án phim phải thay đổi kịch bản khi đã bấm máy, điều mà diễn viên không thể kiểm soát nổi.

Cảm giác khó chịu này từng bủa vây lấy cô nhưng sau này khi đọc được tự truyện của Trương Mạn Ngọc, phát hiện rằng dù diễn viên có giỏi đến đâu cũng gặp những bộ phim thảm họa, và rồi dần dần cô nhận ra: “Cô ấy cũng đóng rất nhiều phim mà bản thân không thích nhưng cô ấy nói rằng tất cả phim thảm họa cũng là một cơ hội để tích lũy kinh nghiệm. Những kinh nghiệm như vậy sẽ giúp bạn phân biệt được phim hay và phim không hay, như thế nào là nhân vật hay, và như thế nào là tẻ nhạt. Đó chính là một quá trình.”

Giá trị thương mại

Đầu năm 2017, Phạm Băng Băng vinh dự xuất hiện trên trang bìa của Tạp chí Time. Đây là lần đầu tiên sau 9 năm, một ngôi sao Trung Quốc lại một lần nữa được bước lên Tạp chí Time.

Trong số đó, Time nói nhiều đến sự ảnh hưởng qua lại giữa Hollywood và điện ảnh Trung Quốc, cũng như nói đến việc Trung Quốc đã làm thế nào để được điện ảnh toàn cầu chú ý tới.

Trong bài viết của Time, Phạm Băng Băng cũng được nhắc tới với vai diễn trong bộ phim “Tôi không phải là Phan Kim Liên.” Cô được ngợi khen về khả năng diễn xuất và vẻ ngoài xinh đẹp.

Chắc chắn không phải ngẫu nhiên Phạm Băng Băng có được vinh dự đó, cô vẫn thường là cái tên nổi bật nhất của Trung Quốc và thậm chí là cả châu Á mỗi khi xuất hiện trên thảm đỏ thế giới.

Nếu quan tâm đến phong cách thời trang của Phạm Băng Băng thì phải nhắc tới chiếc đầm đuôi cá Long Bào mà cô diễn viên xinh đẹp này xuất hiện tại Liên hoan phim Cannes 2010. Cô lẽ đây chính là cột mốc đánh dấu tên tuổi của Phạm Băng Băng với điện ảnh thế giới.

Chiếc đầm Long Bào được thiết kế theo cảm hứng về chiếc long bào của những vị vua triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc, họa tiết rồng phượng được thêu chỉ nổi trền nền vải lụa. Hình ảnh Phạm Băng Băng trong chiếc đầm đã trở thành điểm nhấn tại Liên hoan phim Cannes năm đó.

Để rồi sau đó, cô trở thành một nhân vật được chú ý của làng thời trang thế giới. Cô được ca ngợi là “búp bê Trung Hoa” khi xuất hiện trên thảm đỏ Cannes 2011 với bộ đầm Tiên Hạc. Một thiết kế hoa văn hạc trên nền vải đỏ giúp Phạm Băng Băng nổi bật trên thảm đỏ, một lần nữa cô lại chứng minh mình là nữ hoàng thảm đỏ Trung Hoa.

Phạm Băng Băng trên trang bìa tạp chí Time nổi tiếng
Phạm Băng Băng trên trang bìa tạp chí Time nổi tiếng

Không để người hâm mộ phải thất vọng, khi xuất hiện trên thảm đỏ Cannes 2012, Phạm Băng Băng lại gây sốt với chiếc đầm Sứ Trung Hoa. Chiếc váy với họa tiết lấy cảm hứng từ gốm sứ mang phong cách cổ điển, cộng thêm với lối trang điểm phong cách cổ trang của Phạm Băng Băng. Cô đã thật sự khiến người ta phải nhớ về mình.

Sau mỗi lần xuất hiện ấn tượng trên thảm đỏ, Phạm Băng Băng không chỉ được truyền thông biết đến, mà cả những thương hiệu.

Trờ thành một ngôi sao và được mệnh danh là “Nữ hoàng thị phi” trong làng giải trí Trung Quốc, dù Phạm Băng Băng đã dấn thân vào sự nghiệp diễn xuất hơn 10 năm nhưng trong mắt rất nhiều khán giả, thậm chí đạo diễn, giá thị thương mại của cô ấy lớn hơn giá trị diễn viên.

Năm 2012, Phạm Băng Băng trở thành đại sứ thương hiệu của Louis Vuitton tại Trung Quốc và trở thành gương mặt đại diện châu Á đầu tiên cho dòng túi xách LVAlma. Phạm Băng Băng cũng trở thành sao châu Á đầu tiên lộ diện trong quảng cáo mùa Xuân Hè 2014.

Cô tiếp tục trở thành người đại diện toàn cầu cho Adidas Originals, L’oreal Paris, Renault, Cartier, Mercedes-Benz…

Trong 3 năm liên tiếp, từ 2013-2015, Phạm Băng Băng dẫn đầu bảng xếp hạng những nhân vật nổi tiếng Trung Quốc do tạp chí Forbes bình chọn. Năm 2016, trong danh sách những nữ diễn viên có thu nhập cao nhất thế giới của Forbes, cô đứng ở vị trí thứ 5, sau Jennifer Lawrence, Melissa McCarthy, Scarlett Johansson và Jennifer Aniston. Điều đó đồng nghĩa với việc cô trở thành nữ nghệ sỹ châu Á có giá trị thương mại cao nhất.

Mới đây, Phạm Băng Băng là nữ diễn viên châu Á duy nhất lọt vào danh sách 100 người có sức ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới 2017 do tạp chí Time bình chọn.

Nhà thiết kế nổi tiếng Diane von Furstenberg nói với Time rằng nhạy cảm thời trang của Phạm Băng Băng khiến cô trở thành người đại diện của các hãng thời trang khác nhau trên thế giới. Phạm Băng Băng không chỉ là diễn viên xuất sắc mà còn là một người phụ nữ có sự nghiệp thành công.

Phạm Băng Băng (trái) là một trong những đại sứ thương hiệu của Louis Vuitton
Phạm Băng Băng (trái) là một trong những đại sứ thương hiệu của Louis Vuitton

Mối tình đẹp như mơ

Trở thành ngôi sao hàng đầu của làng giải trí Hoa ngữ, chắc chắn chuyện tình của Phạm Băng Băng là nhân tố mà truyền thông sẽ khai thác triệt để, nhất là sau khi cô nàng công khai chuyện tình với nam diễn viên Lý Thần.

Trước khi hẹn hò, Phạm Băng Băng và Lý Thần đã quen biết nhau hơn 10 năm nhưng dường như họ chỉ kết đôi khi đóng chung “Võ Mỵ Nương truyền kỳ.” Sau này, Lý Thần nói rằng “Biết Phạm Băng Băng hơn chục năm nhưng từ năm 2013 mới là lần đầu tiên chúng tôi hợp tác. Lần hợp tác này quả đúng là tâm nguyện trong nhiều năm khiến chúng tôi thân thuộc hơn so với trước đây.” Truyền thông Trung Quốc gọi họ là một cặp điển hình của “phim giả tình thật.”

Phạm Băng Băng và Lý Thần đã nhiều lần úp mở về mối quan hệ bằng những dòng tin nhắn mùi mẫn dành cho nhau.

Tháng 3/2014, Phạm Băng Băng lần đầu đăng tải một bức hình chụp chung vô cùng thân mật mà báo chí Trung Quốc khi đó miêu tả rằng “Hai người dựa đầu vào nhau vô cùng tình tứ” trên trang cá nhân Weibo kèm dòng trạng thái: “Cuối cùng cũng đã có cơ hội làm việc với anh ấy, xem này, có phải là quá thân thiết không.” Đây là tín hiệu đầu tiên để công khai một mối quan hệ, khiến người hâm mộ đứng ngồi không yên nhưng dường như vẫn còn quá sớm để phán đoán về một mối tình.

Phạm Băng Băng trong trailer phim “Quan âm sơn”

Khi đó, dù chưa công khai nhưng Phạm Băng Băng và Lý Thần rất chịu khó tương tác trên mạng xã hội. Người đẹp họ Phạm đã bày tỏ sự xót xa khi anh chàng diễn viên họ Lý bị thương và phải khâu 22 mũi khi quay chương trình “Running man.”

Rồi thời gian trôi đi, cư dân mạng còn phát hiện bức ảnh cặp đôi chụp cùng bà ngoại của Lý Thần. Người hâm mộ gần như đã chắc chắn với phỏng đoán của mình nhưng công ty quản lý của hai người vẫn chưa xác nhận chuyện này.

Vào một đêm đầu tháng 2/2015, Bắc Kinh đón thêm một trận tuyết, Lý Thần viết trên Weibo rằng: “Tuyết rơi rồi, nếu không cầm ô mà cứ đi như vậy, phải chăng có thể đi đến đầu bạc…” Không lâu sau đó, Phạm Băng Băng cũng chia sẻ trạng thái mới trên Weibo: “Yêu một người rất đơn giản, chính là sau khi nói chúc ngủ ngon vẫn muốn nói tiếp chúc ngủ ngon. Bắc Kinh đêm nay có tuyết.” Người hâm mộ thì đã đoán gần như chính xác mối quan hệ này nhưng cả hai vẫn kiên quyết phủ nhận: “làm gì có chuyện đó.”

Tuy không cùng nhau xuất hiện trong các sự kiện, trên mặt báo, nhưng người hâm mộ vẫn nhận ra mối liên hệ của cặp đôi này. Phạm Băng Băng và Lý Thần đã nhiều lần diện đồ đôi, đeo vòng cổ đôi và cả nhẫn đôi, khiến nhiều người đồn đoán cả hai đã bí mật đính hôn.

Phạm Băng Băng nói rằng Lý Thần là người đàn ông có tính khí dễ chịu nhất mà cô từng quen biết.

Cuối tháng 5/2015, lần đầu tiên Phạm Băng Băng đăng tải một tấm hình cả hai chụp cùng nhau trên Weibo với dòng trạng thái “chúng tôi” – như một lời thừa nhận hai người đang có mối quan hệ đặc biệt.

Sau này, trong một cuộc phỏng vấn, Phạm Băng Băng nói rằng: “Anh ấy sẽ là người bạn trai cuối cùng của tôi.” Còn Lý Thần bổ sung rằng vào thời điểm đó họ đã yêu nhau được một năm nhưng họ chưa từng cãi nhau.

Từ khi chính thức công khai, họ luôn xuất hiện cùng nhau tại các sự kiện, luôn dành cho nhau những lời nói ngọt ngào. Phạm Băng Băng nói rằng Lý Thần là người đàn ông có tính khí dễ chịu nhất mà cô từng quen biết.

Còn Lý Thần chia sẻ rằng: “Khi cô ấy bị ép rượu, tôi sẽ uống thay cô ấy, khi cô ấy bị bắt nạt, tôi sẽ bảo vệ cô ấy. Khi cô ấy cô đơn, tôi sẽ ở bên cô ấy.” Anh bảo rằng cô là nữ diễn viên xuất sắc nhất trong lòng anh.

“Trở thành một diễn viên không nổi tiếng thì có cảm giác gì?” Một diễn viên viết rằng không nổi tiếng đồng nghĩa bạn sẽ có cảm giác tự do khi đi ra ngoài, bạn chẳng sợ ai làm phiền, bạn cũng chẳng cần dùng đến chiếc khẩu trang xấu xí đó. Vậy nếu có câu hỏi là “Trở thành ngôi sao vô cùng nổi tiếng thì sẽ có cảm giác gì?” có lẽ Phạm Băng Băng chính là người trả lời phù hợp nhất./.

Phạm Băng Băng và Lý Thần. (Nguồn: Weibo)
Phạm Băng Băng và Lý Thần. (Nguồn: Weibo)

ASEAN

Hội nghị Cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 30 diễn ra tại thủ đô Manila, Philippines trong hai ngày 28 và 29/4/2017, với sự tham dự của lãnh đạo 10 nước ASEAN. Đại diện cho Việt Nam là Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Đây là Hội nghị Cấp cao đầu tiên trong năm Chủ tịch ASEAN 2017 của Philippines với chủ đề “Chung tay đổi thay, Kết nối toàn cầu”.

Hội nghị tập trung thảo luận về các vấn đề triển khai hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, các Kế hoạch tổng thể triển khai Tầm nhìn trên ba trụ cột chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội; Kế hoạch kết nối ASEAN 2025; Chương trình công tác giai đoạn III Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI), tăng cường liên kết, đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN; Tăng cường quan hệ giữa ASEAN và các Đối tác; Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cần quan tâm.

Tại Hội nghị, các nhà lãnh đạo ASEAN dự kiến sẽ ký kết 1 văn kiện là Tuyên bố ASEAN về vai trò của nền công vụ làm chất xúc tác trong việc đạt được Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2015; Ghi nhận 5 văn kiện trong đó có các báo cáo của Tổng Thư ký ASEAN, Hội đồng Cộng đồng ASEAN 3 trụ cột, và Giám đốc điều hành Quỹ ASEAN. Ngoài ra, theo thông lệ, Philippines sẽ ra Tuyên bố Chủ tịch của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 30.

Đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 30 nhằm mục tiêu góp phần thúc đẩy ASEAN liên kết chặt chẽ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, củng cố đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN trước những diễn biến phức tạp của tình hình hiện nay; thúc đẩy các hoạt động hợp tác mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và thu hẹp khoảng cách phát triển, tiếp tục thúc đẩy quan hệ Việt Nam với các nước thành viên ASEAN.

Lịch sử Hội nghị cấp cao ASEAN

Hội nghị cấp cao ASEAN, hay Hội nghị thượng đỉnh ASEAN là hội nghị giữa các nhà lãnh đạo của các quốc gia thành viên ASEAN để thảo luận về các vấn đề hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, và an ninh giữa các nước thành viên với nhau cũng như với các thành viên đối thoại của ASEAN.

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1976, tại Indonesia. Từ đó các nhà lãnh đạo ASEAN nhận thấy sự cần thiết phải tổ chức hội nghị định kỳ hàng năm.

Tuy nhiên, trong thời gian đầu, do tính chất nội dung hội nghị không có gì đặc biệt, nên chỉ tổ chức hội nghị không chính thức. Từ năm 2001, hội nghị chính thức mới được tổ chức thường niên. Hội nghị cấp cao lần thứ 12 dự định tổ chức vào năm 2006, song vì lý do an ninh nên nước chủ nhà Philippines đã quyết định lùi thời gian tổ chức sang đầu năm 2007. Từ đó, hàng năm diễn ra 2 kỳ của Hội nghị cấp cao ASEAN (một kỳ vào đầu năm và một kỳ vào cuối năm).

Thông thường, một Hội nghị cấp cao ASEAN bao gồm các phiên họp nội bộ giữa các nhà lãnh đạo 10 nước thành viên, phiên hội nghị giữa các nhà lãnh đạo với các ngoại trưởng của các nước thành viên trong Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), phiên họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN+1, ASEAN+3 và phiên họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN, Australia và New Zealand.

Từ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 11, bắt đầu có thêm phiên hội nghị giữa các nhà lãnh đạo ASEAN với các nhà lãnh đạo của 6 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia, New Zealand và Ấn Độ với tên gọi chính thức là Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS). Ngoài ra, còn có phiên hội nghị giữa các nhà lãnh đạo ASEAN với lãnh đạo Nga, Mỹ.

Hội nghị cấp cao ASEAN được tổ chức luân phiên giữa các quốc gia thành viên ASEAN và quốc gia nào tổ chức thường kiêm luôn chức Chủ tịch luân phiên ASEAN trong năm đó.

28 kỳ Hội nghị cấp cao của ASEAN

Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất tổ chức tại Bali, Indonesia trong hai ngày 23 và 24/2/1976. Hội nghị thông qua Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Tuyên bố Bali I.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 2 tổ chức tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia trong hai ngày 4 và 5/8/1977. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết một thông cáo chung.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 3 tổ chức tại thủ đô Manila, Philippines trong hai ngày 14 và 15/12/1987. Tại hội nghị, các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Tuyên bố Manila và bốn hiệp định kinh tế quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế trong các nước ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 4 tổ chức tại Singapore từ ngày 27 đến ngày 29/1/1992. Hội nghị thông qua Tuyên bố Singapore và Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 5 tổ chức tại thủ đô Bangkok, Thái Lan trong hai ngày 14 và 15/12/1995. Các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Tuyên bố Bangkok và ký kết một số văn kiện quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 6 tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam trong hai ngày 15 và 16/12/1998. Các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Tuyên bố Hà Nội, Kế hoạch hành động Hà Nội và một số “biện pháp táo bạo” nhằm tăng cường hợp tác kinh tế, chính trị và an ninh.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 7 tổ chức tại thủ đô Bandar Seri Begawan, Brunei trong hai ngày 5 và 6/11/2001. Các nhà lãnh đạo thông qua đánh giá giữa kỳ của Kế hoạch Hành động Hà Nội và xác định các ưu tiên mới trong đó có hội nhập ASEAN, thông tin và công nghệ truyền thông cùng với việc xây dựng năng lực con người. Các nhà lãnh đạo cũng thông qua Tuyên bố ASEAN về Hành động chung chống khủng bố và Tuyên bố về Căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 8 tổ chức tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia trong hai ngày 4 và 5/11/2002. Các nhà lãnh đạo đạt được sự đồng thuận về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, bao gồm quá trình hội nhập ASEAN và cuộc chiến chống khủng bố đồng thời ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 9 tổ chức tại Bali, Indonesia trong hai ngày 7 và 8/10/2003. Tại hội nghị, các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua một văn kiện quan trọng – Tuyên bố Bali II đạt mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2020.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 10 tổ chức tại thủ đô Vientiane, Lào trong hai ngày 29 và 30/11/2004. Các nhà lãnh đạo thông qua Chương trình hành động Vientiane, một phương tiện để xây dựng cộng đồng ASEAN thông qua quá trình hội nhập toàn diện.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 11 tổ chức tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia từ ngày 12 đến 14/12/2005. Hội nghị thông qua Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập Hiến chương ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 12 tổ chức tại Cebu, Philippines từ ngày 11 đến ngày 14/1/2007. Hội nghị ra Tuyên bố Cebu về việc đẩy nhanh tiến trình hình thành Cộng đồng ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 13 tổ chức tại Singapore từ ngày 18 đến ngày 22/11/2007. Tại Hội nghị, các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Hiến chương ASEAN và Tuyên bố về Kế hoạch Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 14 tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan từ ngày 26/2 đến ngày 1/3/2009. Các nhà lãnh đạo ASEAN ký Tuyên bố Hua Hin về Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2009-2015), đồng thời thông qua một số văn kiện quan trọng có tầm quan liên quan tới sự phát triển của ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 15 tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan từ ngày 23 đến ngày 25/10/2009. Các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Tuyên bố Hua Hin về việc thành lập Ủy ban ASEAN liên chính phủ về nhân quyền (AICHR), Tuyên bố Hua Hin về Tăng cường Hợp tác trong giáo dục, xây dựng một cộng đồng ASEAN chăm sóc và chia sẻ, cùng Dự thảo Tuyên bố chung ASEAN về biến đổi khí hậu.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 16 tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam trong hai ngày 8 và 9/4/2010. Hội nghị đã thông qua “Tuyên bố ASEAN về phục hồi và phát triển bền vững” và “Tuyên bố ASEAN về ứng phó biến đổi khí hậu”.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 17 tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Việt Nam từ ngày 28 đến ngày 30/10/2010. Hội nghị đã ra “Tuyên bố Chủ tịch về Xây dựng Cộng đồng ASEAN tự cường, năng động và chăm lo cho người dân”.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 18 tổ chức tại Jakarta, Indonesia trong hai ngày 7 và 8/5/2011. Tại Hội nghị, các nhà lãnh đạo nhất trí thông qua ba tuyên bố chung về “Cộng đồng ASEAN trong một cộng đồng các quốc gia toàn cầu”, “Thành lập Viện Hòa bình và Hòa giải ASEAN” và “Tăng cường hợp tác chống lại buôn bán người ở Đông Nam Á”.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 19 tổ chức tại Bali, Indonesia từ ngày 17 đến ngày 19/11/2011. Các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Tuyên bố Bali III về Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng các quốc gia toàn cầu, Hiệp định về thành lập Trung tâm Điều phối ASEAN về nhân đạo hỗ trợ trong quản lý thiên tai và Tuyên bố về Thống nhất ASEAN trong Đa dạng văn hóa: Hướng tới tăng cường Cộng đồng ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 20 tổ chức tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia trong hai ngày 3 và 4/4/2012. Các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua bốn văn kiện gồm: “Chương trình nghị sự Phnom Penh về xây dựng Cộng đồng ASEAN”, Tuyên bố Phnom Penh về “ASEAN: Một Cộng đồng, Một Vận mệnh”, Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về một Khu vực ASEAN không ma túy vào năm 2015” và “Văn bản khái niệm về Phong trào ôn hòa toàn cầu”.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 21 tổ chức tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia từ ngày 18 đến ngày 20/11/2012. Các nhà lãnh đạo thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN, Tuyên bố ASEAN về việc thành lập trung tâm hành động bom mìn khu vực ASEAN và Kế hoạch hành động Tuyên bố Bali III. Các nhà lãnh đạo cũng cam kết thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 22 tổ chức tại thủ đô Bandar Seri Begawan, Brunei ngày 24 và 25/4/2013. Tại hội nghị, các nhà lãnh đạo nhất trí đẩy nhanh Lộ trình ASEAN và Kế hoạch chi tiết về thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), tăng cường các nỗ lực khu vực và tiểu khu vực để thực hiện mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 23 tổ chức tại thủ đô Bandar Seri Begawan, Brunei trong hai ngày 9 và 10/10/2013. Hội nghị thông qua Tuyên bố Bandar Seri Begawan về tầm nhìn của cộng đồng ASEAN sau năm 2015.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 24 tổ chức tại thủ đô Nay Pyi Taw, Myanmar trong hai ngày 10 và 11/5/2014. Hội nghị ra Tuyên bố Nay Pyi Taw và Tuyên bố riêng của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về Biển Đông.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 25 tổ chức tại thủ đô Nay Pyi Taw, Myanmar trong hai ngày 12 và 13/11/2014. Hội nghị thông qua nhiều văn kiện quan trọng như Tuyên bố Nay Pyi Taw về Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2015, Tuyên bố ASEAN về Tăng cường năng lực Ban Thư ký ASEAN và nâng cao hiệu quả phối hợp các cơ quan ASEAN.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 26 tổ chức tại Kuala Lumpur và Langkawi, Malaysia trong hai ngày 26 và 27/4/2015. Hội nghị thông qua 3 Tuyên bố: Tuyên bố Kuala Lumpur về ASEAN lấy người dân làm trung tâm; Tuyên bố Langkawi về Phong trào Ôn hòa Toàn cầu; và Tuyên bố Kuala Lumpur về thể chế hóa khả năng tự cường của ASEAN, các cộng đồng và người dân đối với thảm họa về biến đổi khí hậu.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 27 tổ chức tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia trong hai ngày 21 và 22/11/2015 thông qua Tuyên bố về thành lập Cộng đồng ASEAN, đồng thời chính thức thông qua và ký Tuyên bố Kuala Lumpur về Tầm nhìn ASEAN 2025, định hướng cho ASEAN trong 10 năm tới.

Hội nghị Cấp cao lần thứ 28-29 tổ chức tại thủ đô Vientiane, Lào, từ ngày 6 đến 8/9/2016. Các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua Tuyên bố Chủ tịch, trong đó có một phần riêng về Biển Đông./.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các nước ASEAN chụp ảnh chung tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 28-29. (Ảnh: THX/TTXVN)
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các nước ASEAN chụp ảnh chung tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 28-29. (Ảnh: THX/TTXVN)

100 ngày lãnh đạo nước Mỹ

Ngày 29/4/2017 đánh dấu 100 ngày lãnh đạo nước Mỹ của Tổng thống Donald Trump. Kể từ khi trở thành người đứng đầu cường quốc số một thế giới, bên cạnh những kết quả đạt được, ông Trump cũng đối mặt với không ít thách thức trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.

Thực hiện cam kết nhưng lại đưa ra những chính sách đối nội gây tranh cãi

Ngay sau khi lên cầm quyền, Tổng thống Mỹ Trump đã có những động thái nhằm xóa bỏ di sản của người tiền nhiệm Barack Obama và từng bước gây dựng dấu ấn cá nhân bằng việc thực hiện những cam kết với cử tri được đưa ra trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016.

Có thể kể đến là việc Tổng thống Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp chính thức rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), khi cho rằng hiệp định mà Mỹ và 11 nước đối tác đạt được hồi tháng 10/2015 gây phương hại cho khu vực sản xuất của Mỹ và cướp công ăn việc làm của người dân nước này; tuyên bố nhanh chóng khởi động việc đàm phán lại Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với Canada và Mexico; phê duyệt dự án xây dựng đường ống dẫn dầu Keystone XL nối Canada và Mỹ; bỏ hỗ trợ về tài chính cho các thành phố chứa chấp nhiều dân di cư trái phép; cấm các nhân viên chính phủ vận động hành lang sau 5 năm rời nhiệm sở; cam kết tăng ngân sách quốc phòng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ; thành lập lực lượng đặc nhiệm chống tội phạm và tăng ngân sách cho chương trình đào tạo và hỗ trợ cảnh sát địa phương; dỡ bỏ các hạn chế về khai thác nhiên liệu hóa thạch…

Có thể thấy, các quyết sách của Tổng thống Trump đã mang lại những kết quả cho nước Mỹ khi chỉ riêng trong tháng 2 và tháng 3 vừa qua đã tạo ra hơn 500.000 việc làm giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 4,6%; khuyến khích các công ty xuyên quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ, chế tạo, dịch vụ như Google, Apple, Intel, Toyota, … cam kết chi hàng trăm tỷ USD đầu tư mới. Đồng thời kinh tế Mỹ được dự báo sẽ tăng trưởng 2,8% trong quý I/2017 và đây là mục tiêu đầy tham vọng bởi năm 2016 kinh tế nước này chỉ tăng trưởng 1,6%. Ngoài ra, số các vụ vượt biên trái phép cũng giảm được đến 60%.

Nội bộ nước Mỹ trong 100 ngày cầm quyền Tổng thống Trump bị chia rẽ với việc nhà lãnh đạo Mỹ ký hàng loạt sắc lệnh gây tranh cãi.

Một thành tựu nổi bật của Tổng thống Trump là bổ nhiệm thẩm phán Neil Gorsuch vào chiếc ghế còn bỏ trống ở Tòa án Tối cao sau một tiến trình phê chuẩn gay gắt tại Thượng viện. Đây được coi là chiến thắng chính trị lớn nhất của ông trong 100 ngày cầm quyền đầu tiên, đồng thời giúp khôi phục thế áp đảo (5/4 ghế) của phe Cộng hòa tại Tòa án Tối cao.

Tuy nhiên, nội bộ nước Mỹ trong 100 ngày cầm quyền Tổng thống Trump lại bị chia rẽ với việc nhà lãnh đạo Mỹ ký hàng loạt sắc lệnh gây tranh cãi. Trước hết là sắc lệnh cấm người nhập cư đến từ 7 nước Hồi giáo gồm Syria, Iraq, Iran, Somalia, Libya, Sudan và Yemen, làm dấy lên một loạt tranh cãi pháp lý cùng làn sóng chỉ trích tại Quốc hội Mỹ và làm lan rộng các cuộc biểu tình phản đối.

Tiếp đó là việc Tổng thống Trump buộc phải đề nghị không đưa dự luật Chăm sóc sức khỏe Mỹ (AHCA, còn gọi là Trumpcare) do phe Cộng hòa bảo trợ ra bỏ phiếu tại Hạ viện vì gần như chắc chắn sẽ không nhận đủ số phiếu tối thiểu cần thiết để được thông qua. AHCA đã vấp phải những phản ứng tiêu cực từ giới lập pháp Mỹ khi cho rằng dự luật này sẽ khiến hàng triệu người Mỹ mất bảo hiểm và gây tổn hại lớn cho ngân sách liên bang. Đây được xem là một đòn giáng mạnh đối với Tổng thống Trump trong nỗ lực vận động sự ủng hộ của các thành viên trong đảng nhằm thay thế chương trình chăm sóc sức khỏe hợp túi tiền Obamacare của cựu Tổng thống Obama.

Ngoài ra, việc hoàn thiện danh sách nội các của Tổng thống Trump cũng đang diễn ra khó khăn. Mặc dù việc đề cử nhân sự của ông được tiến hành đúng quy trình, nhưng đa số các vị trí không thể nhậm chức đúng hạn do hầu hết các đề cử khi đưa ra Thượng viện đều vấp phải sự phản đối của phe Dân chủ.

Các nhà phân tích cho rằng, với những diễn biến nêu trên, nội bộ nước Mỹ trong 100 ngày cầm quyền của Tổng thống Trump vẫn còn khá nhiều vấn đề phải giải quyết.

Tổng thống Trump bị chỉ trích vì chơi golf quá nhiều (Ảnh: Esquire)
Tổng thống Trump bị chỉ trích vì chơi golf quá nhiều (Ảnh: Esquire)

Chính sách đối ngoại có phần đảo ngược với cam kết tranh cử

Về chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Trump, trong 100 ngày lãnh đạo vừa qua chính sách đối ngoại của nước Mỹ có phần đi ngược lại với những gì ông Trump đã từng thể hiện trong quá trình tranh cử. Trong chiến dịch tranh cử, ông Trump từng bày tỏ quyết tâm giảm bớt các cam kết của Mỹ trong các vấn đề quốc tế và với các đồng minh ở châu Âu, Đông Bắc Á và Trung Đông, nhằm tập trung tốt hơn cho các vấn đề trong nước, theo khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết”.

Tuy nhiên, ông Trump lại ra lệnh không kích căn cứ quân sự của Syria tại tỉnh Homs bằng tên lửa hành trình Tomahawk nhằm đáp trả vụ tấn công mà Mỹ và một số nước cáo buộc là vũ khí hóa học của chính quyền Syria tại thị trấn Khan Sheikhun, tỉnh Idlib, khiến 87 dân thường thiệt mạng, ném “siêu bom” GBU-43/B xuống mục tiêu của Tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng ở Afghanistan, điều tàu sân bay áp sát bán đảo Triều Tiên để sẵn sàng đánh phủ đầu CHDCND Triều Tiên nếu nước này tiếp tục tiến hành thử hạt nhân lần thứ 6…

Những động thái cứng rắn này cho thấy chính quyền Tổng thống Trump sẵn sàng theo đuổi chính sách can thiệp đơn phương, chấm dứt chính sách “kiên nhẫn chiến lược” đối với CHDCND Triều Tiên dưới thời cựu Tổng thống Obama. Chính sách đối ngoại của nước Mỹ có phần đi ngược lại với những gì ông Trump đã từng thể hiện trong quá trình tranh cử

Chính sách đối ngoại của nước Mỹ có phần đi ngược lại với những gì ông Trump đã từng thể hiện trong quá trình tranh cử

Về tiến trình hòa bình Trung Đông, trong cuộc điện đàm với nhà lãnh đạo Israel vào tháng 2 vừa qua, Tổng thống Mỹ đã bày tỏ ủng hộ ý tưởng về giải pháp hai nhà nước cho cuộc xung đột Israel-Palestine. Đây lần đầu tiên ông đưa ra ý kiến cá nhân về vấn đề này kể từ khi các nhà phân tích quốc tế chỉ trích khả năng Mỹ từ bỏ giải pháp này, vốn được coi là “hòn đá tảng” trong chính sách Trung Đông lâu nay của Washington.

Trong quan hệ với Trung Quốc, Tổng thống Trump đã khiến Trung Quốc phải nhượng bộ để tránh một cuộc chiến tranh thương mại và hiểu rằng quan hệ Mỹ-Trung gắn liền với sự hợp tác của Trung Quốc trong vấn đề Triều Tiên.

Trong khi đó, đối với Nga, trước đây ông Trump từng khẳng định về một mối quan hệ tích cực giữa 2 cường quốc trên thế giới khi ông lên nắm quyền, khiến dư luận tin tưởng về một sự cải thiện trong quan hệ giữa Washington và Moskva vốn trở nên xấu đi vào nhiệm kỳ cuối của Tổng thống Obama. Thế nhưng, Tổng thống Mỹ đã quay sang chỉ trích Điện Kremlin vì ủng hộ chính quyền của Tổng thống Syria Bashar al-Assad.

Đối với các đồng minh truyền thống, hàng loạt chuyến thăm tới châu Âu, Đông Bắc Á, Nam Á và Trung Đông của Phó Tổng thống Mike Pence, Ngoại trưởng Rex Tillerson, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis, Cố vấn An ninh Quốc gia H.R. McMaster đã cho thấy chính quyền Tổng thống Trump vẫn chú trọng quan hệ với nước các đồng minh, trái với các tuyên bố trong chiến dịch tranh cử như sẵn sàng xem xét lại quan hệ với các đồng minh nếu không san sẻ gánh nặng chi phí quốc phòng.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đáp chuyên cơ tại Washington, DC để tới Milwaukee, Wisconsin ngày 18/4. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tổng thống Mỹ Donald Trump đáp chuyên cơ tại Washington, DC để tới Milwaukee, Wisconsin ngày 18/4. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Sau một thời gian im hơi lặng tiếng, chính quyền Mỹ đã xác nhận Tổng thống Trump sẽ tham dự Hội nghị cấp cao của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ và Cấp cao Đông Á (EAS) vào tháng 11 tới.

Việc công bố quyết định trên trước 6 tháng cho thấy chính quyền Trump vẫn rất coi trọng khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng, trái với những thông tin cho rằng chính quyền mới ở Mỹ sẽ từ bỏ chính sách “xoay trục” sang châu Á được đưa ra dưới thời chính phủ tiền nhiệm. Những động thái này cũng hé lộ khả năng Tổng thống Trump muốn lấy đối ngoại làm điểm nhấn trong giai đoạn đầu nhiệm kỳ của mình.

Về quan hệ trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), trước thời điểm nhậm chức Tổng thống Mỹ, ông Trump từng mô tả NATO là một tổ chức “lỗi thời”. Nhưng trong một cuộc gặp với Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg tại Nhà Trắng vào tháng 4 vừa qua, ông Trump đã thể hiện sự thay đổi quan điểm về NATO khi khẳng định rằng “tổ chức này không còn lỗi thời”.

Sau quãng thời gian kỳ vọng về một sự đổi thay mạnh mẽ cho nước Mỹ, những người ủng hộ ông Trump có vẻ bị thất vọng.

Sau quãng thời gian kỳ vọng về một sự đổi thay mạnh mẽ cho nước Mỹ, những người ủng hộ ông Trump có vẻ bị thất vọng. Nhìn một cách tổng thể, cách xử lý công việc của ông Trump sau 100 ngày cầm quyền đầu tiên được đánh giá là chưa thỏa đáng và tỷ lệ ủng hộ ông hiện ở mức thấp nhất so với các đời tổng thống Mỹ kể từ năm 1945.

Nguyên nhân khiến Tổng thống Trump không nhận được nhiều sự tín nhiệm của người dân có thể xuất phát từ việc ông chưa thực hiện được những lời hứa đưa ra lúc tranh cử, cũng như những thất bại của ông trong việc ban hành sắc lệnh cấm nhập cư hay thay thế các di sản của chính quyền tiền nhiệm như Obamacare.

100 ngày cầm quyền đầu tiên là chưa đủ để kết luận thành công hay thất bại, nhưng cũng cho thấy cách thức mà vị Tổng thống thứ 45 điều hành nước Mỹ cũng như những chính sách đối ngoại của chính quyền mới. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những điều mà Tổng thống Trump chưa đáp ứng được kỳ vọng của người dân Mỹ. Và thách thức vẫn đang chờ đợi người đứng đầu Nhà Trắng trong chặng đường sắp tới./.

Tổng thống Donald Trump trong phiên họp với các quan chức Chính phủ và các nhà lập pháp Mỹ tại Washington DC. vào ngày 2/2. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tổng thống Donald Trump trong phiên họp với các quan chức Chính phủ và các nhà lập pháp Mỹ tại Washington DC. vào ngày 2/2. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Bộ đội đặc công

Với các tiêu chí “đi không tiếng, về không tăm”, “luồn sâu, đánh hiểm, đánh trúng” và cách đánh: “từ trong đánh ra”, “đánh nở hoa trong lòng địch”, bộ đội đặc công trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù, là niềm tự hào của quân và dân ta.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, bộ đội đặc công đã chiến đấu anh dũng, mưu trí sáng tạo, lập được nhiều chiến công xuất sắc, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Bộ đội đặc công đánh trận then chốt trong chiến dịch Tây Nguyên

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định sử dụng lực lượng chủ lực mạnh (một quân đoàn tăng cường) mở Chiến dịch Tây Nguyên, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk Lắk và toàn bộ địa bàn chiến lược Tây Nguyên, thực hiện chia cắt, tạo thế chiến lược…

Thị xã Buôn Ma Thuột được chọn làm mục tiêu chủ yếu, đồng thời là trận then chốt mở màn chiến dịch. Nhiệm vụ của các đơn vị đặc công là: luồn sâu, đánh chiếm giữ một số mục tiêu quan trọng trên hướng chủ yếu ở Buôn Ma Thuột, nghi binh, kiềm chế, chia cắt địch ở Plây-cu, Kon Tum. Thực hiện nghi binh, tạo thế, từ ngày 4 đến ngày 9-3; tập kích sân bay Cù Hanh, khu kho Pty Crông, đánh chiếm và vây ép chi khu Đức Lập.

Các chiến sỹ đặc công miền Nam với lời thề quyết tử (Ảnh: Viettimes)
Các chiến sỹ đặc công miền Nam với lời thề quyết tử (Ảnh: Viettimes)

Từ ngày 4 đến 9/3, bộ đội ta tác chiến nghi binh tạo thế, triển khai lực lượng, chia cắt chiến dịch. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trận theo chốt mở đầu chiến dịch, đêm ngày 8 rạng ngày 9, Tiểu đoàn Đặc công Sư đoàn 10 tiến hành luồn sâu vào mỏm B Đức Lập đồng loạt nổ súng; sau hai giờ chiến đấu đã làm chủ hoàn toàn mỏm B để chủ lực triển khai hỏa lực (pháo 85 mm) bắn thẳng vào chi khu Đức Lập, tạo điều kiện cho bộ binh đánh chiếm toàn bộ chi khu vào ngày 10/3.

Như vậy, ta đã cắm chốt trên Đường 14, làm chủ đoạn đường từ Đức Lập-đường 14B-Lộc Ninh và uy hiếp trực tiếp Buôn Ma Thuột từ hướng Tây Nam. Tiểu đoàn 3 hỏa lực ĐKB (Trung đoàn Đặc công 198) đưa pháo vào sát hàng rào sân bay Cù Hanh từ ngày 4-3, liên tục đánh phá sân bay, phá hủy nhiều máy bay, bom đạn, xăng dầu, làm tê liệt sân bay địch.

Trên hướng tiến công chủ yếu, đêm ngày 9, rạng ngày 10-3 các tiểu đoàn 4, 5, 27 của Trung đoàn Đặc công 198 bất ngờ, đồng loạt tiến công sân bay thị xã, kho đạn Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình, hậu cứ Trung đoàn 44, căn cứ Trung đoàn 53 ngụy; sau khi tiến công, các đơn vị đã tổ chức chiếm giữ mục tiêu, kiên cường bám trụ đánh bại nhiều đợt phản kích của địch, tạo bàn đạp thuận lợi cho binh chủng hợp thành tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Trên hướng Plâyku, Kon Tum các tiểu đoàn 1, 2, 3 của Trung đoàn Đặc công 198 phối hợp với bộ binh tiến công Đắc Soong, sân bay Cù Hanh, trận địa xe tăng, kho tàng… thực hiện chia cắt địch chi viện cho Buôn Ma Thuột.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, đặc công đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch; đồng thời bổ sung, phát triển lý luận về nghệ thuật tác chiến và sử dụng đặc công trong chiến dịch tiến công; tác chiến binh chủng hợp thành; sử dụng đặc công tiến công đồng loạt các mục tiêu chủ yếu, quan trọng trong các trận then chốt, quyết định và chiếm giữ mục tiêu… làm cơ sở cho chỉ đạo hoạt động tác chiến tiếp theo trên các chiến trường.

Một buổi luyện tập của Đoàn đặc công B29 - đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Một buổi luyện tập của Đoàn đặc công B29 – đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)

Lực lượng đặc công giải phóng quần đảo Trường Sa

Ngày 5/4/1975, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định sử dụng lực lượng đặc công và hải quân giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Hải quân điều gấp 4 tàu của Đoàn 125 và lực lượng đặc công của Đoàn Đặc công nước 126 từ Hải Phòng vào Đà Nẵng.

Ngày 11/4, lực lượng đặc công gồm Đội 4 Đoàn Đặc công nước 126, một phân đội của Tiểu đoàn 471 Quân khu 5, 1 phân đội của tỉnh Khánh Hòa dưới sự chỉ huy của đồng chí Mai Năng, Đoàn trưởng Đoàn Đặc công nước 126.

Ngày 14/4, Đội 4 (Đoàn 126) giải phóng đảo Song Tử Tây.

Tiếp theo, từ ngày 21/4 ta giải phóng đảo Côn Sơn, rồi Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, An Bang.

Ngày 29/4, ta giải phóng hoàn toàn các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ.

Lực lượng đặc công đánh chiếm giữ 14 cây cầu và một số mục tiêu quan trọng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết định mở chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng nhằm đánh bại toàn bộ lực lượng địch còn lại, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trong chiến dịch này, đặc công được giao nhiệm vụ đánh chiếm và giữ 14 cây cầu (Rạch Bà, Biên Hòa, Rạch Chiếc, Tân Cảng, Bình Phước, Tân An, Chợ Mới, cầu Sắt, cầu Bông, cầu Sáng, Bà Hom, Nhị Thiên Đường, cầu Ghềnh, Rạch Cát), 6 căn cứ án ngữ cửa ngõ Sài Gòn, bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm cảng Nhà Bè, chia cắt sông Lòng Tàu, tạo thuận lợi và bảo đảm đường cơ động cho bộ đội binh chủng hợp thành thần tốc tiến công, đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng bên trong nội đô, hỗ trợ quần chúng nổi dậy.

Trên hướng Đông và Đông Nam, đặc công đánh căn cứ thiết giáp Hốc Bà Thức, làm chủ đoạn đường từ ngã ba Bửu Hòa đến cầu Hóa An, đánh chiếm và bảo vệ cầu Ghềnh cho chủ lực tiến vào Sài Gòn; đánh cảng Nhà Bè, đồn bảo an Phước Khánh, khống chế sông Lòng Tàu; đánh chiếm cầu Đồng Nai, chi khu quân sự Bến Gỗ, phà Cát Lái, cùng lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến vào nội đô, chiếm Dinh Độc lập, Đài phát thanh, Ngân hàng, Bộ Tư lệnh Hải quân…; đánh chiếm cầu Rạch Bà, ấp Long Xuyên, cảng Rạch Dừa, phối hợp Sư đoàn 3 tiến công thị xã Vũng Tàu; đánh chiếm cầu Rạch Chiếc, cầu Tân Cảng, cùng chủ lực tiến vào nội đô.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội đặc công đã đánh 19.329 trận, phá huỷ 6.316 máy bay các loại, 11.494 xe quân sự, 2.161 khẩu pháo, đánh cháy, đánh chìm hàng nghìn tàu địch.

Trên hướng Tây và Tây Nam, đặc công đánh sân bay Tân Sơn Nhất, phối hợp với Trung đoàn 3 đánh chiếm, làm chủ toàn bộ khu vực Tân Tạo, sau đó phát triển đánh chiếm Trường đua Phú Thọ; tiến công Chiến đoàn 7 nguỵ, khu ra-đa Phú Lâm… cùng với Trung đoàn 24 đánh chiếm căn cứ Ký Thúc Ôn, cầu Nhị Thiên Đường… sau đó phát triển vào quận 8; đánh chiếm trại biệt kích Diên Hồng và chi khu Phú Thọ; đánh chiếm trụ sở quốc hội ngụy và một số mục tiêu khác; dẫn đường và cùng chủ lực đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, làm nòng cốt phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở một số khu vực.

Trên hướng Bắc và Tây Bắc, đặc công đánh chiếm các cầu Chợ Mới, Rạch Cát, bắn pháo vào sân bay Tân Sơn Nhất…; tiến hành mở và bảo vệ cửa mở ở Bắc sân bay Tân Sơn Nhất, sẵn sàng đón chủ lực vào đánh chiếm sân bay; đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng và Thành Quan Năm…; cơ động về hướng Bình Dương tiến công các vị trí địch co cụm trên đường số 8, đánh chiếm căn cứ Hải Thuyền, đồng thời truy quét tàn quân địch; đánh chiếm cầu Bình Phước, phối hợp với chủ lực tiến công Lữ đoàn kỵ binh 3 án ngữ từ cầu Bình Phước đến cầu Vĩnh Bình; đánh chiếm trung tâm điện toán, cùng chủ lực đánh chiếm khu Bộ Tổng Tham mưu…

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội đặc công đã đánh 19.329 trận, phá huỷ 6.316 máy bay các loại, 11.494 xe quân sự, 2.161 khẩu pháo, đánh cháy, đánh chìm hàng nghìn tàu địch, tiêu huỷ và thu nhiều vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh của địch. Bộ đội đặc công đã trực tiếp tham gia hầu hết các chiến dịch lớn như: Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1972, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chiến dịch nào bộ đội đặc công cũng là những đội quân thiện chiến, tinh nhuệ và chủ lực.

Với những thành tích xuất sắc, những chiến công kỳ diệu, Binh chủng Đặc công đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và 16 chữ vàng: “Đặc biệt tinh nhuệ/ Anh dũng tuyệt vời/ Mưu trí táo bạo/ Đánh hiểm thắng lớn.”

Ghi nhận công lao to lớn, đặc biệt xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, ngày 21-4-2007, Binh chủng Đặc công đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta./.

Sáng 19/3/2017, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Binh chủng Đặc công (19/3/1967-19/3/2017) và đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất. Trong ảnh: Chủ tịch nước Trần Đại Quang duyệt đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam. (Ảnh: Nhan Sáng-TTXVN)
Sáng 19/3/2017, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống Binh chủng Đặc công (19/3/1967-19/3/2017) và đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất. Trong ảnh: Chủ tịch nước Trần Đại Quang duyệt đội danh dự Quân đội nhân dân Việt Nam. (Ảnh: Nhan Sáng-TTXVN)

Biệt động Sài Gòn

Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng (1945-1975), Sài Gòn là thủ đô của chính phủ ngụy quyền, nơi cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều đặt “tổng hành dinh”, với chế độ bảo vệ đặc biệt nghiêm ngặt.

Công tác đấu tranh vũ trang ở nội thành Sài Gòn, vì thế, không thể sử dụng một lực lượng vũ trang thông thường như ở các chiến trường khác, mà đòi hỏi một lực lượng được tổ chức tinh gọn, có chất lượng chiến đấu cao, nghệ thuật chỉ huy và thực hành tác chiến tài trí, dũng cảm, có hệ thống tổ chức ém giấu lực lượng và cung cấp hậu cần, kỹ thuật công phu.

Ðã từng có một lực lượng như thế ở Sài Gòn với tên gọi: Biệt động Sài Gòn.

Một lực lượng quân đội đặc biệt

Lực lượng biệt động Sài Gòn ra đời trên cơ sở các đội tự vệ chiến đấu, được thành lập ngay sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945.

Ngay sau khi Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ra lời kêu gọi toàn dân đứng lên cứu nước vào sáng 23/9, guồng máy kháng chiến ở Sài Gòn lập tức được khởi động. Tất thảy tầng lớp nhân dân, từ thanh niên, công nhân, học sinh, nhân sĩ, tu sĩ đến kẻ bụi đời, “anh chị”… đều hăm hở tham gia lực lượng vũ trang chống Pháp.

Cùng với sự ra đời của các đơn vị vũ trang ở ngoại thành, các đơn vị vũ trang đặc biệt được thành lập, như: Ban trinh sát, Ban hành động, Ðội cảm tử, Ðội phá hoại, Ðội trừ gian, Ðội ám sát… Họ vừa làm nhiệm vụ tác chiến tiêu diệt địch, vừa làm trinh sát, liên lạc, phát động quần chúng, gây dựng cơ sở. Mỗi người đều có nghề nghiệp ổn định để có điều kiện sinh sống và dễ bề che mắt địch.

Năm 1947, các ban, đội nêu trên phát triển thành từng ban công tác Thành. Mỗi ban công tác Thành được tổ chức theo hệ thống ngăn cắt (gồm ban-liên tổ-tổ độc lập), có mạng lưới quần chúng ngoại vi hậu thuẫn về mọi mặt, phân chia phạm vi hoạt động trên từng vùng của thành phố và cơ động theo đối tượng nhiệm vụ được giao.

Cuối năm 1949, các ban công tác Thành hợp nhất tổ chức thành Tiểu đoàn quyết tử 950; năm 1951, giải thể Tiểu đoàn quyết tử 950 để tổ chức thành ba đại đội quyết tử ở nội đô (3721, 3824, 3927), một đội đặc công hoạt động trong nội đô; ba đại đội biệt động (2763, 2766, 2300) và hai đội đặc công binh chủng, bố trí trên ba hướng ngoại ô thành phố.

Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, sinh ngày 1/2/1940 tại làng Thanh Quýt, nay là xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Giữa năm 1963, anh trở thành một chiến sỹ biệt động Sài Gòn, thuộc Đại đội Quyết tử 65. Anh bị địch bắt khi đang làm nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP Hồ Chí Minh), nơi dự đoán Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mc Namara cùng phái đoàn Mỹ từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm Sài Gòn sẽ đi qua. Trong ảnh: Những phút cuối cùng oanh liệt của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường Khám Chí Hòa. (Ảnh Tư liệu/TTXVN phát)
Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, sinh ngày 1/2/1940 tại làng Thanh Quýt, nay là xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Giữa năm 1963, anh trở thành một chiến sỹ biệt động Sài Gòn, thuộc Đại đội Quyết tử 65. Anh bị địch bắt khi đang làm nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP Hồ Chí Minh), nơi dự đoán Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mc Namara cùng phái đoàn Mỹ từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm Sài Gòn sẽ đi qua. Trong ảnh: Những phút cuối cùng oanh liệt của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường Khám Chí Hòa. (Ảnh Tư liệu/TTXVN phát)

Những dấu ấn lịch sử về một tổ chức vũ trang đặc biệt

Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các đơn vị nêu trên tồn tại và chiến đấu như một lực lượng vũ trang chủ yếu trong nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn. Hoạt động của họ tập trung vào nhiệm vụ xây dựng cơ sở, diệt ác trừ gian, tập kích các công sở, đồn bốt địch, đã góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị diễn ra sôi động và liên tục, làm rung động hệ thống quân viễn chinh thực dân và bè lũ tay sai ngay tại sào huyệt của chúng.

Các trận đánh diệt bọn ác ôn phản động như: trùm mật thám Bazin, chủ bút báo Phục Hưng Hiền Sĩ, các vụ tiến công kho đạn Thị Nghè, sân bay Tân Sơn Nhất, kho bom Phú Thọ Hòa; các trận đánh thủy lôi trên sông Lòng Tàu, Rừng Sác cùng những tấm gương hy sinh anh dũng như: Nguyễn Ðình Chính, Lan Mê Linh… đã tạo nên những dấu ấn lịch sử về một tổ chức vũ trang đặc biệt hoạt động trong đô thị, sào huyệt của kẻ thù.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, các lực lượng chính trị nội thành được xây dựng lại, tổ chức thành các cánh (theo từng khu vực địa phương và các khối). Từ đó, tổ chức vũ trang gồm các tổ tự vệ và đội biệt động được tái thành lập.

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, các đơn vị vũ trang cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn tập kết ra miền Bắc. Số cán bộ, chiến sĩ công tác Thành được phân công ở lại chuyển sang mặt trận đấu tranh chính trị; một thời gian sau, một số bị bắt, tù đày, bị hy sinh, số còn lại chuyển vùng ẩn giấu tung tích, hoặc ra bưng biền lập căn cứ gây dựng lại các nhóm vũ trang.

Từ năm 1961, Bộ chỉ huy Quân khu Sài Gòn-Gia Ðịnh và các đơn vị vũ trang cách mạng được tái lập, trên cơ sở tiếp nhận số cán bộ tập kết trở về cùng số cán bộ ở lại; lực lượng mới ra đời trước và trong phong trào Ðồng khởi. Trong nội đô Sài Gòn, các ngành, các cánh công tác phong trào chính trị (thanh niên, học sinh, Hoa vận, Phụ vận, Binh vận, Tuyên huấn… ) tổ chức các tổ, liên tổ tự vệ mật, đồng thời rút một số thanh niên ra căn cứ bàn đạp huấn luyện thành chiến đấu viên, cán bộ quân sự nội thành.

Vừa xây dựng, lực lượng biệt động Sài Gòn vừa tổ chức hàng loạt trận tập kích, gây tiếng vang lớn. Từ năm 1963 đến 1967, là thời kỳ hoạt động vang dội nhất của Biệt động Sài Gòn.

Từ đó, sáu đội biệt động Thành (159, 65, 66, 67, 68, 69) của Quân khu Sài Gòn-Gia Ðịnh ra đời và hoạt động. Các đội biệt động tổ chức thành hai lực lượng: lực lượng trực tiếp chiến đấu (gồm các tổ, nhóm hoạt động độc lập, hoặc có phối hợp trong tác chiến); lực lượng công tác bảo đảm (gồm những cán bộ và gia đình cơ sở trung kiên từ nội thành ra vùng ven và các tỉnh, cả ở nước ngoài, bố trí thành nhiều tuyến, với một hệ thống hành lang, với các điểm nút, bàn đạp, căn cứ. Hoạt động trên hệ thống hành lang này là đội ngũ giao liên công khai, bán công khai và bí mật làm nhiệm vụ chuyển tin, đưa đón bảo vệ cán bộ, vận chuyển vũ khí, tài chính…).

Vừa xây dựng, lực lượng biệt động Sài Gòn vừa tổ chức hàng loạt trận tập kích, gây tiếng vang lớn. Từ năm 1963 đến 1967, là thời kỳ hoạt động vang dội nhất của Biệt động Sài Gòn. Trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân, lực lượng biệt động được giao nhiệm vụ đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố. Cuộc tập kích được triển khai đồng loạt vào lúc hai giờ sáng ngày mồng 2 Tết Nguyên đán.

Các đội biệt động số 3, 4, 5, 6, 7, 9, 11 tiến công Dinh Ðộc Lập, Tòa Ðại sứ quán Mỹ, căn cứ Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Ðài phát thanh Sài Gòn, căn cứ Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Tuy nhiên, lực lượng hỗ trợ thanh niên, sinh viên Sài Gòn và các tiểu đoàn mũi nhọn đã không có mặt để tiếp ứng kịp thời theo kế hoạch.

Các đơn vị biệt động sau khi tập kích, đột nhập vào bên trong các mục tiêu, đã đơn thương độc mã chiến đấu cho đến khi hy sinh, hoặc bị địch bắt gần hết. Chỉ một số rất ít thoát trở về căn cứ. Sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, các lực lượng biệt động và đặc công ở Sài Gòn-Gia Ðịnh được tổ chức lại, thành Lữ đoàn Ðặc công-Biệt động 316.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4/1975, Lữ đoàn đã phối hợp các đơn vị đặc công của Miền, cùng lực lượng vũ trang địa phương mở các hành lang nông thôn dẫn vào thành phố; khống chế và chiếm một số mục tiêu quan trọng được phân công; đánh, chiếm giữ các cầu quan trọng trên các trục lộ giao thông chính vào nội thành Sài Gòn, hướng dẫn các binh đoàn chủ lực cơ động đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố; tham gia giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ các tổ chức chính quyền mới được thành lập ở cơ sở.

Nữ chiến sĩ biệt động Sài Gòn dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng trên đường Trương Minh Giảng tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất. (Ảnh: Hoàng Thiểm/TTXVN)
Nữ chiến sĩ biệt động Sài Gòn dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng trên đường Trương Minh Giảng tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất. (Ảnh: Hoàng Thiểm/TTXVN)

Những con người mưu trí quả cảm

Tồn tại và hoạt động trong lòng quần chúng ở nội đô, với phương châm lợi dụng sơ hở của địch, lấy ít đánh nhiều, tập kích nhanh rút gọn, với lối đánh độc đáo biến hóa, bí mật bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm, hành động mưu trí quả cảm, xuất quỷ nhập thần, lực lượng biệt động đã chiến đấu có hiệu quả ngay giữa trung tâm đầu não Sài Gòn, trở thành nỗi kinh hoàng của Mỹ-ngụy trong suốt cuộc chiến tranh.

Hoạt động của họ đã góp phần tiêu diệt một bộ phận sinh lực cao cấp của địch, phá hoại nhiều cơ sở vật chất, phương tiện chiến tranh của chúng; phá vỡ âm mưu, hạ uy thế và gây hoang mang cho quân địch ngay ở cơ quan chóp bu; kích thích tinh thần của quần chúng, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị ở nội đô, tạo điều kiện cho quần chúng ven đô đấu tranh với địch; phối hợp các chiến trường trên toàn miền Nam.

Lực lượng biệt động đã chiến đấu có hiệu quả ngay giữa trung tâm đầu não Sài Gòn, trở thành nỗi kinh hoàng của Mỹ-ngụy trong suốt cuộc chiến tranh.

Lịch sử biệt động Sài Gòn gắn liền những chiến công mà ý nghĩa vượt khỏi phạm vi một trận đánh thông thường ở các mục tiêu: rạp chiếu bóng Kinh Ðô, tàu Card, cầu Công Lý, khách sạn Brink, khách sạn Caravell, khách sạn Metropole, cảng Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất, dinh Ðộc Lập, Ðại sứ quán Mỹ, dinh thự Bộ Tổng tham mưu ngụy… gắn liền những tên tuổi mà cuộc đời và chiến công của họ đã đi vào huyền thoại, như Phạm Văn Hai, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Tăng, Trần Văn Ðang, Trần Phú Cương, Lâm Sơn Náo, Nguyễn Thanh Xuân, Lê Văn Việt, Ðỗ Tấn Phong, Ðoàn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Thu Trang…

Do đặc điểm hoạt động đơn tuyến ở địa bàn sào huyệt của kẻ thù, không ít chiến sĩ biệt động ngày nào chưa được minh định công trạng và tặng thưởng xứng đáng. Dù vậy, những chiến công của họ đã âm thầm lát những viên gạch nhỏ trên chặng đường lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Sau 42 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, những chiến sĩ biệt động người còn, người mất. Nhưng chắc chắn hình ảnh hào hùng của họ một thời xông pha trận mạc, chấp nhận hy sinh gian khổ để đất nước được độc lập, tự do sẽ còn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam./.

Tối 21/3/2012, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM tổ chức chương trình giao lưu“ Nữ biệt động Sài Gòn” nhân dịp xuất bản cuốn sách “Những thiên thần đường phố” (viết về nữ biệt động Sài Gòn) của tác giả Mã Thiên Đồng. Trong ảnh: Các nữ biệt động Sài Gòn giao lưu với độc giả. (Ảnh: Phương Vy-TTXVN)
Tối 21/3/2012, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM tổ chức chương trình giao lưu“ Nữ biệt động Sài Gòn” nhân dịp xuất bản cuốn sách “Những thiên thần đường phố” (viết về nữ biệt động Sài Gòn) của tác giả Mã Thiên Đồng. Trong ảnh: Các nữ biệt động Sài Gòn giao lưu với độc giả. (Ảnh: Phương Vy-TTXVN)

Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là một trong những chiến công lớn của thế kỷ XX. Đối với dân tộc Việt Nam, đây là bản anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh. Năm tháng trôi qua càng khẳng định và làm nổi bật tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của thắng lợi này.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tiếp đó, dân tộc Việt Nam phải tiến hành ngay cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, nhân dân ta đã kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cách mạng suốt 30 năm, đánh thắng hoàn toàn các cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc lớn, giải phóng hoàn toàn đất nước.

Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Trung ương Đảng đã có nhiều Hội nghị bàn các vấn đề cụ thể của cách mạng hai miền Nam-Bắc: Hội nghị lần thứ 21 (7/1973) bàn về phương hướng và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, Hội nghị lần thứ 22 (12/1973) bàn về khôi phục kinh tế miền Bắc, Hội nghị lần thứ 23 (12/1974) về tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng… Miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế nhằm bảo đảm nhu cầu nâng cao đời sống nhân dân miền Bắc và chi viện có hiệu quả về sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Nắm vững quan điểm, chủ trương của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21, quân và dân miền Nam tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng, giữ vững thế tiến công, đẩy chế độ ngụy quyền Sài Gòn vào thế bị động, lúng túng.

Nhân dân ta đã kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cách mạng suốt 30 năm, đánh thắng hoàn toàn các cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc lớn, giải phóng hoàn toàn đất nước.  

Từ giữa năm 1974, so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam có lợi cho cách mạng, thời cơ cách mạng đã xuất hiện. Bộ Chính trị họp các hội nghị vào tháng 10/1974 và tháng 1/1975 bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm. Bộ Chính trị nhận định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực” (Văn kiện Đảng toàn tập, t.35, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, tr.196).

Đầu năm 1975, sau chiến thắng Phước Long, với nỗ lực và quyết tâm rất cao, quân và dân ta đã tiến hành liên tục 3 chiến dịch lớn của cuộc Tổng tiến công gồm Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mùa xuân năm 1975, với khí thế tiến công như vũ bão, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn của địch, giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bộ đội ta tiến vào giải phóng Xuân Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn, ngày 21/4/1975. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Bộ đội ta tiến vào giải phóng Xuân Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn, ngày 21/4/1975. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4/3 đến 24/3/1975): Bộ Tổng tư lệnh quyết định chọn Tây Nguyên làm địa bàn đột phá, mở đầu trận quyết chiến chiến lược vì Tây Nguyên là vùng cao nguyên rộng lớn có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, ta lại chọn Buôn Ma Thuột là trận đột phá chiến lược. Bởi vì, thắng lợi ở Buôn Ma Thuột có khả năng tạo ra sự chuyển biến về chiến dịch và sự rung động về chiến lược.

Ngày 4/3/1975, chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu. 2 giờ 03 phút ngày 10/3, quân ta bắt đầu tiến công Buôn Ma Thuột. Đúng 11 giờ trưa ngày 11/3, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã được kéo lên trên cột cờ của Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, quân ta làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột, hoàn thành trận đánh then chốt mở đầu thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên.

Ngày 24/3, quân ta tiến công Củng Sơn, tiêu diệt và bắt toàn bộ quân địch ở đây, hoàn thành trận then chốt thứ ba, kết thúc chiến dịch Tây Nguyên. Sau 20 ngày đêm chiến đấu quyết liệt trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 7 vạn quân địch, xoá sổ quân đoàn 2 và quân khu 2 ngụy, làm tan rã một tập đoàn phòng ngự lớn, giải phóng một địa bàn rất quan trọng, dẫn đến sự suy sụp và tan rã về chiến lược của địch, mở ra thời cơ của cuộc tổng tiến công chiến lược, tạo điều kiện cho chiến dịch Huế-Đà Nẵng, mở ra bước ngoặt quyết định cho thời kỳ toàn thắng của cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Chiến dịch Huế-Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3/1975): Với chiến thắng oanh liệt của Chiến dịch Tây Nguyên, cuộc chiến tranh Cách mạng đã bước sang một giai đoạn mới, từ tiến công chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược, tạo thời cơ chín muồi hình thành chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm: “Tiêu diệt quân đoàn 1 địch, không cho chúng rút về Sài Gòn, để cùng với thắng lợi của Tây Nguyên tạo nên chuyển biến lớn về so sánh lực lượng chiến lược có lợi cho ta, tạo điều kiện giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam”.

Thực hiện quyết tâm trên, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Huế-Đà Nẵng với mật danh “Mặt trận 475”. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng là hoạt động trọng tâm của quân ta tiếp sau chiến thắng Tây Nguyên. Chiến trường được phân thành hai khu vực: Trị Thiên-Huế và Quảng Nam-Đà Nẵng, trong đó mục tiêu chủ yếu là Huế-Đà Nẵng.

Ngày 21/3/1975, chiến dịch Huế-Đà Nẵng bắt đầu: Phát triển thế tiến công đã tạo được trước đó; từ các hướng bắc, tây, nam, quân ta đồng loạt tiến công, hình thành nhiều mũi bao vây địch trong thành phố Huế. Quân ta chia làm hai hướng: Hướng Nam Huế và hướng Bắc Huế đồng loạt tiến công quân địch.

Chiến dịch Huế-Đà Nẵng là hoạt động trọng tâm của quân ta tiếp sau chiến thắng Tây Nguyên.

Thế trận của địch ở Thừa Thiên-Huế bị vỡ, và trước áp lực tiến công từ các hướng của quân ta, địch càng lúng túng, trong cơn hoảng loạn chúng chỉ còn một lối thoát duy nhất là chạy ra biển theo cửa Thuận An và Tư Hiền. Pháo binh ta một mặt khống chế chặt cửa Thuận An, kết hợp với bộ đội đặc công thả mìn không cho tàu địch vào đón quân rút chạy.

Ngày 25/3, quân ta tiến công địch ở khu cảng Tân Mỹ-Thuận An, tiêu diệt và làm tan rã hầu hết địch dồn về đây. Cùng ngày các mũi tiến công khác của quân chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến vào thành phố, kết hợp với quần chúng nổi dậy, giải phóng cố đô Huế. Trưa ngày 26/3, cờ Cách mạng đã tung bay trên cột cờ trước Ngọ Môn, kết thúc vẻ vang trận đánh Thừa Thiên-Huế.

Sau bốn ngày chiến đấu quân và dân ta đã hoàn toàn tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên-Huế. Thắng lợi vang dội này là một đòn phủ đầu chí mạng giáng vào kế hoạch phòng ngự co cụm chiến lược mới của địch ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung.

Đoàn quân giải phóng trên quốc lộ I từ Nha Trang tiến về giải phóng miền Nam. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)
Đoàn quân giải phóng trên quốc lộ I từ Nha Trang tiến về giải phóng miền Nam. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)

Từ ngày 26/3 đến 29/3/1975, cuộc tiến công Đà Nẵng của quân ta diễn ra hết sức khẩn trương, nhanh chóng. Ngày 27/3, quân ta trên ba hướng tiến quân về Đà Nẵng không kể ngày đêm. Các lực lượng vũ trang địa phương gấp rút tiến về thành phố cùng với lực lượng chính trị của quần chúng trong và ven thành phố tiến công địch. Bị bao vây chặt, quân địch ở Đà Nẵng trở nên hỗn loạn, kế hoạch co cụm lớn bị phá vỡ. Ngày 28 và 29/3, ta tiến công căn cứ quân sự liên hợp lớn của địch ở Đà Nẵng.

Cuộc tổng công kích đã diễn ra trên các hướng Bắc Đà Nẵng, Tây Nam Đà Nẵng, Nam và Đông Nam Đà Nẵng. Đến 15 giờ ngày 29/3, quân ta từ các hướng tiến công đã gặp nhau ở trung tâm thành phố, chiếm lĩnh xong toàn bộ căn cứ liên hợp Đà Nẵng-bán đảo Sơn Trà. Trận tiến công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng đã kết thúc toàn thắng. Hơn 10 vạn quân địch trong đó có cơ quan bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy đã bị tiêu diệt và tan rã hoàn toàn. Căn cứ quân sự liên hợp mạnh nhất của địch ở miền Trung đã hoàn toàn bị đập tan trong một cuộc tiến công và nổi dậy thần tốc 32 giờ. Ta thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh.

Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng đã giành thắng lợi một cách nhanh chóng, rực rỡ: Quân ta đã đập tan hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở quân khu 1, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 120.000 tên, trong đó bắt tại trận 55.000 tên, với 7.000 sĩ quan (220 cấp tá), làm tan rã 137.000 phòng vệ dân sự; Thu toàn bộ vũ khí quân trang, đạn dược, nhiên liệu). Giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh với hơn 2 triệu dân, trong đó có 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Thắng lợi của chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, nó đã làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, tạo ra những điều kiện rất cơ bản, góp phần giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (từ 9/4 đến 30/4/1975): Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp nhận định: Thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã hoàn toàn chín muồi. Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc”.

Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Phải nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không để chậm”. Để thực hiện quyết tâm đó, Bộ Chính trị quyết định tập trung lực lượng chỉ đạo giành thắng lợi trong trận quyết chiến lịch sử này. Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được mang tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Các chiến dịch và các hoạt động tạo thế chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh được tiến hành theo các hướng: Hướng Đông, hướng Tây Nam, hướng Đông và Đông Nam, hướng Tây và Tây Nam, hướng Bắc và Tây Bắc. Tối 28/4, Bộ Tư lệnh Chiến dịch thông báo tình hình và lệnh, các hướng quân ta tiếp tục phát triển tiến công để đảm bảo sáng 29/4 toàn mặt trận nhất loạt thực hiện tổng tấn công vào thành phố Sài Gòn theo đúng kế hoạch đã định.

Ngày 30/4/1975: Quân ta thống nhất hiệp đồng các cánh, các hướng tổng công kích vào nội thành, chiếm lĩnh các mục tiêu chiến lược. 10 giờ ngày 30/4/1975, trung đoàn 66 bộ binh, cùng với xe tăng của lữ đoàn 203 thuộc sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến công thọc sâu, đập tan toàn bộ lực lượng phòng ngự của quân ngụy vượt qua cầu Sài Gòn. 10 giờ 45’, cán bộ, chiến sĩ ta bắt toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện. 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, ta kéo cờ chiến thắng trên nóc dinh Độc Lập.

10 giờ 45’, cán bộ, chiến sĩ ta bắt toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện.

Trên đà chiến thắng, từ ngày 30/4/1975, đồng bào và các chiến sĩ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, lần lượt giải phóng các tỉnh còn lại. Ngày 1-5-1975, toàn bộ lãnh thổ trên đất liền miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng.

Từ 30/4 đến 1/5/1975, đồng bào các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Long An, Hậu Nghĩa, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang, Châu Đốc, Sa Đéc, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau đã đứng lên giành quyền làm chủ.

Cùng với các tỉnh ở đất liền, ngày 30/4/1975, các chiến sĩ yêu nước bị địch giam giữ ở đảo Côn Sơn đã nổi dậy, làm chủ hoàn toàn đảo này. Ngày 2/5/1975, Quân giải phóng phối hợp cùng nhân dân tiến công và nổi dậy, giành quyền làm chủ hoàn toàn đảo Phú Quốc. Trước đó, trong tháng 4-1975, ta giải phóng các đảo dọc bờ biển Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ trong quần đảo Trường Sa; quân giải phóng tiến công và giải phóng các đảo do quân ngụy chiếm giữ: đảo Song Tử Tây, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết, đảo Sinh Tồn, đảo Trường Sa và đảo An Bang.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã hơn 40 vạn tên địch, 10 sư đoàn chủ lực và tổng trù bị, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân; đánh sụp toàn bộ ngụy quyền Trung ương và địa phương gồm 22 vạn tên, giải phóng Sài Gòn và toàn bộ các tỉnh còn lại, kết thúc rất oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ chống ngoại xâm của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta.

Văn kiện Đảng nhận định: “Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công Mùa Xuân 1975, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta” (Văn kiện Đảng toàn tập, t.35, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, tr.206)./.

Nhân dân Sài Gòn đón chào quân Giải phóng tiến vào giải phóng thành phố, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN)
Nhân dân Sài Gòn đón chào quân Giải phóng tiến vào giải phóng thành phố, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN)