Italy và bài học cho cả châu Âu

Dịch bệnh COVID-19 do chủng mới của virus corona (SARS-CoV-2) gây ra đã bùng phát mạnh mẽ, và ảnh hưởng đến 195 quốc gia/vùng lãnh thể trên toàn thế giới.

Italy là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch COVID-19. Theo thống kê của worldometers (tính đến trưa 24/3), đất nước hình chiếc ủng này đã có đến 63.927 ca nhiễm, trong đó 6.077 trường hợp tử vong (nhiều nhất thế giới).

“Cuộc chiến” chống COVID-19 tại Italy có thể xem là bài học quý giá cho các quốc gia châu Âu láng giềng đang đi theo một quỹ đạo tương tự.

Thờ ơ và chủ quan trước dịch bệnh

Bình thường, một bữa ăn ở quảng trường St Mark tại Venice chỉ tốn một khoản hầu bao nhỏ. Thậm chí, hôm 3/3, chủ các quán bar tại đây đã triển khai chương trình mua một tặng một cho mỗi món đồ uống được gọi nhằm thu hút khách hàng trước cảnh thành phố trở nên vắng lặng giữa cơn bùng phát virus corona ở Italy. Chương trình này dự kiến sẽ kéo dài trong một tháng.

Ở Rome, nơi những du khách đang có mặt tại thủ đô vẫn duy trì tâm trạng thoải mái và lựa chọn tiếp tục chuyến du lịch của mình thay vì trở về nhà, các nhà hàng đã hài hước mời họ thử món “carbonaravirus” (ghép giữa “carbonara” – một món mỳ nổi tiếng và “virus”).

Cuộc sống vẫn diễn ra bình thường ở Italy cho dù có hàng chục ca tử vong...
Cuộc sống vẫn diễn ra bình thường ở Italy cho dù có hàng chục ca tử vong…

Đó là những gì đã xảy ra trong tuần đầu tiên của tháng 3. Khó có thể trách các chủ doanh nghiệp lo xa trước tác động của virus corona tới việc làm ăn của họ, đặc biệt là khi các nhà lãnh đạo liên tục đưa ra những thông điệp gây bối rối.

Ngày 27/2, tức bốn ngày sau khi 11 thị trấn ở miền bắc Italy bị phong tỏa và 17 người đã thiệt mạng vì virus cùng 650 người khác bị nhiễm bệnh, Nicola Zingaretti, lãnh đạo đảng Dân chủ cầm quyền, đã tới Milan, thủ phủ vùng Lombardy – trung tâm bùng phát dịch bệnh, để uống một ly rượu khai vị với một nhóm sinh viên.

Ở Rome, nơi những du khách đang có mặt tại thủ đô vẫn duy trì tâm trạng thoải mái và lựa chọn tiếp tục chuyến du lịch của mình thay vì trở về nhà…

“Chúng ta không cần phải thay đổi thói quen của mình,” ông viết trong một bài đăng trên mạng xã hội. “Nền kinh tế của chúng ta mạnh hơn nỗi lo sợ: hãy ra ngoài và làm một bữa khai vị, uống một tách cà phê hay ăn một chiếc pizza.”

Cùng ngày, Beppe Sala, thị trưởng thành phố Milan, đã chia sẻ một đoạn video với khẩu hiệu “Milan không dừng lại.” Đoạn video có hình ảnh người dân ôm nhau, ăn uống tại các nhà hàng, đi dạo trong công viên và chờ đợi tại các ga tàu. 9 ngày sau chuyến đi tới Milan, khi số người chết đã tăng lên 233 và số trường hợp được xác nhận dương tính với virus là 5.883 người, Zingaretti thông báo rằng ông cũng đã bị nhiễm virus.

Giuseppe Pantaleo, một nhà tâm lý học xã hội thuộc trường Đại học Vita-Salute San Raffaele ở Milan cho biết: “Ban đầu, mọi người không thực sự tin những gì đang xảy ra, vì thế các chính trị gia như Zingaretti chỉ muốn trấn an người dân. Ông ấy đến Milan để chứng minh rằng một số hình thức hoạt động xã hội vẫn an toàn và rằng chính phủ đang nỗ lực tìm giải pháp… nhưng rõ ràng là ông ấy đã đánh giá thấp mức độ rủi ro.”

Một số người cho rằng COVID-19 nó chỉ nguy hiểm hơn bệnh cúm mùa một chút. (Nguồn: AFP)
Một số người cho rằng COVID-19 nó chỉ nguy hiểm hơn bệnh cúm mùa một chút. (Nguồn: AFP)

Các thông tin y tế cũng đầy mâu thuẫn, với một số đánh giá virus là rất nghiêm trọng, trong khi số khác cho rằng nó chỉ nguy hiểm hơn bệnh cúm một chút.

Khi virus lây lan, công chúng lại tìm đến sự hài hước, với những hình ảnh meme và video được chia sẻ khắp nơi trên mạng xã hội, bao gồm một đoạn video ghi lại cảnh một bà cụ người Italy cho lời khuyên về việc rửa tay. Một đoạn video khác lại có nội dung về một băng đảng lên kế hoạch buôn lậu Amuchina – sản phẩm rửa tay diệt khuẩn sản xuất tại Italy đang cháy hàng, thay vì cocaine.

“Dù là trong các nhóm xã hội hay trên mạng xã hội, mọi người đều phản ứng bằng những trò đùa và sự mỉa mai,” Pantaleo chia sẻ. “Bật cười là một phản ứng rất phổ biến của con người khi phải đối mặt với ý nghĩ về cái chết. Nhưng tất nhiên, trong những ngày đầu, chẳng ai nghĩ đó là một khả năng nghiêm trọng.”

Khi lệnh cấm được ban hành…

Chính phủ đã cấm việc hôn lên má và ôm, cũng như khuyên dân chúng nên duy trì khoảng cách. Tuy nhiên, người dân vẫn ra đường, đến các quán bar, nhà hàng, công viên và bãi biển. Vì các trường học và trường đại học đều cho nghỉ, thanh thiếu niên và sinh viên đã tận dụng cơ hội này để giao lưu nhiều hơn với bạn bè.

Với đa phần người dân, cuộc sống vẫn tiếp diễn bình thường, cho tới khi xuất hiện một sự thay đổi đột ngột vào ngày 8/3, khi số ca tử vong do Covid-19 tăng vọt hơn 50%.

Các thông tin y tế cũng đầy mâu thuẫn, với một số đánh giá virus là rất nghiêm trọng, trong khi số khác cho rằng nó chỉ nguy hiểm hơn bệnh cúm một chút.

Thủ tướng Giuseppe Conte đã ra lệnh phong tỏa toàn bộ vùng Lombardy và 14 tỉnh khác bị ảnh hưởng nặng nề do dịch bệnh ở miền bắc. Tin tức về lệnh phong tỏa đã bị rò rỉ với báo giới Italy vài giờ trước khi có thông báo chính thức, kích động hàng ngàn người dân quê ở miền nam chạy khỏi miền bắc để về nhà.

Quân đội đứng canh gác tại quảng trưởng Piazza del Duomo ở Milan, Italy.
Quân đội đứng canh gác tại quảng trưởng Piazza del Duomo ở Milan, Italy.

Lệnh phong tỏa toàn quốc được ban bố vào ngày 10/3, nhưng các biện pháp này chỉ thực sự có tác động vài ngày sau đó, khi các quán bar, nhà hàng và các cửa hàng không bán nhu yếu phẩm khác bị đóng cửa hàng loạt trên cả nước.

Giọng điệu của ông Conte đã trở nên rõ ràng và thẳng thắn hơn, nhưng cũng khiêm nhường hơn. Ông cảm ơn người dân Italy “vì những hy sinh to lớn” của họ cho lợi ích chung, đồng thời nhắc lại lời kêu gọi mọi người ở nhà.

Sara Raginelli, một nhà tâm lý học ở Ancona thuộc vùng Marche cho biết: “Vào khoảnh khắc chính trị thay đổi và bắt đầu nói chuyện một cách rõ ràng và thẳng thắn hơn, hành vi của mọi người cũng thay đổi, và họ dần phát triển thái độ nhận thức cao hơn. Khi người dân Italy được yêu cầu ở trong nhà, và những biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt được áp dụng, đa phần dân chúng đều chấp hành.”

Tuy nhiên, sau khi lệnh phong tỏa được áp dụng, trong vòng một tuần, cảnh sát đã xử phạt hơn 40.000 công dân không chấp hành các quy định phong tỏa. Các quy định này chỉ cho phép người dân ra ngoài khi thực sự cần thiết, chẳng hạn như vì công việc, các lý do sức khỏe, hoặc đi siêu thị.

Cảnh sát cũng đã tăng cường kiểm tra trong những ngày gần đây, và quân đội liên tục tuần tra trên các con phố ở Naples và Sicily. Có lẽ đã hiểu lầm quy định, một số người đã tận dụng cơ hội này để đi chạy bộ hoặc đi dạo trong công viên, dẫn đến việc đóng cửa toàn bộ các công viên vào hôm 21/3. Người dân vẫn có thể tập thể dục ngoài trời miễn là họ không đi xa khỏi nhà.

Các quy định này chỉ cho phép người dân ra ngoài khi thực sự cần thiết, chẳng hạn như vì công việc, các lý do sức khỏe, hoặc đi siêu thị.

Sau khi số người tử vong tăng mạnh lên 4.825 vào tối ngày 21/3, thủ tướng Conte đã có một bài phát biểu ấn tượng khác, thông báo rằng tất cả các doanh nghiệp, trừ các nhà cung ứng nhu yếu phẩm và dịch vụ thiết yếu, phải đóng cửa. “Đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của chúng ta trong thời kỳ hậu chiến,” ông nói.

Người dân Italy lạc quan trước ‘cơn bão’ dịch bệnh COVID-19.

Động thái này dự kiến sẽ càng khiến người dân cảm nhận rõ ràng được mức độ nghiêm trọng của virus.

Pantaleo chia sẻ: “Giờ đây, khi chúng ta đang thực sự cảm nhận được nguy cơ về cái chết – của chúng ta, của người thân hay bạn bè, chúng ta trở nên nghiêm túc hơn và có nhiều động lực hơn để hành xử theo các chuẩn mực xã hội.”

“Vì vậy, việc làm gương là rất quan trọng, vì nếu có các tiêu chuẩn rõ ràng và các nhà lãnh đạo tuân thủ theo đó, thì người dân cũng sẽ làm theo. Chúng ta cũng sẽ thấy lòng tự trọng của mình tăng lên khi cùng nhau hành động vì một mục tiêu chung, và ngay cả việc giữ bình tĩnh hết mức có thể và ở yên trong nhà cũng là một cách để đóng góp.”

Hiện tại, nước Anh có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh tương tự Italy. Những kinh nghiệm từ Italy – cụ thể là về sự chủ quan của người dân trong ngày đầu của cuộc khủng hoảng – có thể là lời cảnh báo cho các quốc gia khác ở châu Âu đang đi theo một quỹ đạo lây nhiễm tương tự.

Cảnh vắng lặng trên cây cầu Westminster ở London, Anh trong bối cảnh dịch COVID-19 lây lan mạnh. (Nguồn: THX)
Cảnh vắng lặng trên cây cầu Westminster ở London, Anh trong bối cảnh dịch COVID-19 lây lan mạnh. (Nguồn: THX)

Phát triển bền vững nghề cá,

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản trên biển ở Việt Nam có những bước tiến đáng kể, diện tích và sản lượng không ngừng tăng lên. Đây là dấu hiệu khả quan để nghề nuôi cá biển ở Việt Nam có thể thay thế việc khai thác gần bờ, khai thác theo kiểu “tận diệt” sang hình thức nuôi trồng trên biển bền vững hơn.

Hình thức chuyển đổi này cũng góp phần đưa ngành khai thác, chế biến tiến gần đến việc tuân thủ các quy định về chống khai thác hải sản bất hợp pháp IUU của Ủy ban châu Âu. Từ đó, giúp Việt Nam sớm được gỡ bỏ “thẻ vàng IUU.”

Giá trị kinh tế cao

Hồng Nhung–Thanh Trà

Nghề đánh bắt hải sản bao năm qua đã mang lại nguồn sống, giúp ngư dân ven biển của Việt Nam ổn định đời sống. Thế nhưng, với xu thế phát triển của thế giới, tiêu dùng gắn liền với bảo vệ môi trường, khai thác quá mức trở nên đáng báo động hơn bao giờ hết. Vì vậy, việc khai thác bền vững gắn với nuôi trồng đang là đòi hỏi bức thiết để phát triển bền vững hơn cho nghề cá ở Việt Nam.

Sử dụng lợi thế mặt nước biển

Các địa phương ven biển như Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Kiên Giang, Cà Mau… đang tận dụng tối đa mặt nước biển ven bờ vào việc nuôi trồng hải sản. Tính đến hết năm 2019, thống kê của Tổng cục thủy sản cho thấy, Việt Nam có khoảng  500.000ha mặt nước giàu tiềm năng nuôi trồng hải sản. Từ năm 2010 đến nay, diện tích và sản lượng nuôi biển tăng trên 20%/ năm. Năm 2019, có trên 5 triệu m3 lồng nuôi với sản lượng hơn 500.000 tấn hải sản. Hiện nay, đa số diện tích nuôi biển là nhuyễn thể và giáp xác, các loại cá biển…

Việc khai thác bền vững gắn với nuôi trồng đang là đòi hỏi bức thiết để phát triển bền vững hơn cho nghề cá ở Việt Nam.

Trước tình trạng khai thác gần bờ quá mức trong nhiều năm liền làm cho đa dạng loài trên biển không còn phong phú như trước. Cùng với tiềm năng mặt nước hiện có, nhiều ngư dân Cà Mau, Kiên Giang đã chuyển sang nuôi hải sản lồng, bè trên biển.

Theo Chi cục Thủy sản Kiên Giang, hiện toàn tỉnh có khoảng 4.300 lồng bè nuôi cá trên biển. Đối tượng nuôi phổ biến là cá bóp, cá mú, cá chim, cá hồng mỹ, cá chim vây vàng, ngọc trai và một số loài nhuyễn thể.

Qua tìm hiểu, đa số người nuôi đều sử dụng lồng bè kiểu truyền thống, cho ăn bằng thức ăn tươi sống (cá tạp). Tận dụng môi trường sinh thái biển thuận lợi, người dân thả nuôi các loại cá có giá trị kinh tế cao như cá bóp, cá mú đen, cá mú sao…

Nuôi các lồng bè trên vùng biển An Thới, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Nuôi các lồng bè trên vùng biển An Thới, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Ông Phan Nhâm Dần, ấp Bãi Chướng, xã Hòn Thơm, huyện Phú Quốc, Kiên Giang hiện có 10 bè nuôi cá bóp trên biển (16m2/bè nuôi 100 con).

Theo ông Dần, điều kiện môi trường nước trong lành, không bị ô nhiễm nên cá lớn rất nhanh, nguồn thức ăn tự nhiên cho cá khá rẻ được mua trực tiếp từ các tàu đánh bắt trên biển.

Từ lúc thả nuôi đến khi thu hoạch là 12 tháng, cá sinh trưởng tốt đạt 9-10kg/con, tỷ lệ hao hụt thấp. Nhờ đầu ra ổn định, với giá bán 110.000-120.000 đồng/kg, lợi nhuận mỗi bè khoảng 50 triệu đồng/vụ.

Tính đến hết năm 2019, thống kê của Tổng cục thủy sản cho thấy, Việt Nam có khoảng  500.000ha mặt nước giàu tiềm năng nuôi trồng hải sản.

Khác với Kiên Giang, diện tích các đảo ở Cà Mau không lớn, khó phát triển nuôi trồng thủy sản, riêng đảo Hòn Chuối, huyện Trần Văn Thời có điều kiện nguồn nước trong lành có thể nuôi trồng hải sản.

Ông Lê Văn Phương sinh sống trên đảo Hòn Chuối trước kia sống bằng nghề đánh bắt, nhưng nay chuyển sang nuôi cá lồng bè. Là một trong những ngư dân đầu tiên trên đảo thử nghiệm mô hình nuôi cá bóp lồng, sau thời gian đầu thả nuôi, cá lớn rất nhanh, tỷ lệ cá sống đạt trên 98%.

Tuy nhiên, theo ông Phương, để đầu tư một bè nuôi cá diện tích 16m2, chi phí khoảng 150 triệu đồng, nguồn vốn là trở ngại đối với người nuôi cá muốn mở rộng quy mô.

Gắn liền với tiêu thụ ổn định

Là địa phương đầu tiên trong 28 tỉnh có biển, tỉnh Kiên Giang đã có bước chuyển biến đột phá trong chuyển đổi sang nuôi biển. Theo đó, đến năm 2030, tỉnh Kiên Giang đầu tư phát triển khai thác tiềm năng nuôi biển theo hướng công nghiệp hiện đại, bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, tăng thu nhập cho người dân vùng biển đảo, góp phần phát triển kinh tế biển.

Tàu cá neo đậu trên vùng biển đảo Thổ Chu, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Tàu cá neo đậu trên vùng biển đảo Thổ Chu, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang chia sẻ, trước mắt, tỉnh lập đề án phát triển nuôi biển theo hướng bền vững, hiệu quả đến năm 2030, đánh giá đúng, đủ các nguồn lực phát triển nuôi biển của địa phương trong mối liên hệ bảo vệ nguồn lợi thủy sản, môi trường sinh thái và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng biển đảo. Xây dựng các phương án nuôi biển cụ thể, hiệu quả gắn với những giải pháp đồng bộ khả thi; kết hợp phát triển nuôi biển với dịch vụ thủy sản và du lịch.

Trong nhiều loại thủy sản được nuôi trên biển, cá biển là đối tượng nuôi chính theo hình thức nuôi lồng bè trên biển. Vùng nuôi tập trung quanh các đảo thuộc các huyện Phú Quốc, Kiên Hải và một số xã đảo của huyện Kiên Lương, thành phố Hà Tiên, với các loại như: cá bóp, cá mú, cá chim trắng, cá chim vây vàng, cá hồng mỹ, cá cam… Đến hết năm 2019, toàn tỉnh có 3.464 lồng nuôi cá trên biển, với sản lượng hơn 3.500 tấn, đạt hơn 80% kế hoạch năm và tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Phát triển khai thác tiềm năng nuôi biển theo hướng công nghiệp hiện đại, bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

Để có thể phát triển nghề nuôi biển, người nuôi cần có nguồn thu nhập ổn định; trong đó, khâu thu mua sản phẩm, liên kết tiêu thụ là một khâu không thể thiếu.

Theo ông Nguyễn Đình Xuyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi–Thú y Kiên Giang, để giúp nghề nuôi cá lồng bè trên biển phát huy hiệu quả, tỉnh Kiên Giang đã triển khai áp dụng công nghệ nuôi mới của các nước phát triển, kết hợp với lợi thế mặt nước biển sẵn có.

Bên cạnh đó, triển khai chính sách khuyến khích, thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư ngành thủy sản, mở rộng và tìm kiếm thị trường tiêu thụ đồng thời, phát triển thủy sản phải gắn với tái cấu trúc lại ngành, tuyệt đối không khai thác thủy sản bất hợp pháp, đảm bảo năng suất, hiệu quả, đủ sức cạnh tranh trên thị trường…

Cụ thể, tỉnh Kiên Giang tạo điều kiện về cơ chế, chính sách vận hành cho các công ty, doanh nghiệp đầu tư nuôi biển số lượng lớn thuận lợi trong khâu vận chuyển, tiêu thụ cá thương phẩm, liên kết thu mua cá thương phẩm của người nuôi biển.

Các doanh nghiệp và người nuôi cũng đề xuất nguyện vọng các ngành chức năng tạo điều kiện cho tàu thu mua của nước ngoài vào vùng biển Kiên Giang, thu mua cá thương phẩm còn sống, vận chuyển đi tiêu thụ ở các nước trong khu vực và các thị trường lớn, khó tính. Bởi khi thực hiện nuôi biển, ngư dân thực hiện tốt truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản, đáp ứng đúng tiêu chí chống khai thác, đánh bắt bất hợp pháp theo quy định của Ủy ban châu Âu.

(Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
(Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Chuyển hướng sản xuất

Hồng Nhung–Thanh Trà

Mặc dù nghề nuôi biển chỉ mới phát triển và mở rộng trong 10 năm trở lại đây, nhưng nhiều ngư dân nhận thấy tiềm năng, triển vọng và lợi nhuận mang lại từ nuôi biển là rất tốt.

Từ đó, các ngư dân khai thác xa bờ nhưng có hiệu quả thấp cũng dần chuyển hướng để có thể sản xuất ổn định, nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, chính vì sự mới mẻ này mà nuôi biển vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn.

Vẫn còn những khó khăn

So với tiềm năng mặt nước hiện có, nghề nuôi biển của Việt Nam còn khá khiêm tốn.

Theo Tổng cục thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ước tính đến hết năm 2019, tổng diện tích nuôi hải sản trên biển và quanh vùng nước quanh các hải đảo khoảng 250.000ha. Trong tổng diện tích này, có hơn 150.000ha nuôi vùng bãi triều ven biển, nuôi vũng vịnh, eo ngách hơn 80.000ha, nuôi vùng biển hở gần 20.000 ha.

Theo Vụ Nuôi trồng thủy sản, Tổng cục Thủy sản, các địa phương ven biển ở nước ta có tiềm năng nuôi thủy sản biển rất lớn, song hiện các địa phương vẫn chưa khai thác hết tiềm năng này.

Ông Nguyễn Bá Sơn, Vụ Nuôi trồng thủy sản, cho biết, khó khăn nhất hiện nay đối với nuôi biển là đa số còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch chi tiết. Điều kiện cơ sở hạ tầng còn hạn chế, trình độ kỹ thuật của người nuôi chưa đáp ứng được yêu cầu, mật độ lồng nuôi ngày càng gia tăng dẫn tới phá vỡ quy hoạch tại các vùng nuôi.

Các địa phương ven biển ở nước ta có tiềm năng nuôi thủy sản biển rất lớn, song hiện các địa phương vẫn chưa khai thác hết tiềm năng này.

Theo ông Quảng Trọng Thao, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, hiện nghề nuôi biển của tỉnh Kiên Giang vẫn còn nhỏ lẻ, với công nghệ lạc hậu. Các hộ nuôi biển chủ yếu tự chế khung, lồng bằng cây, không đảm bảo độ an toàn khi có sóng to, gió lớn.

Bên cạnh đó, công nghệ sản xuất giống thủy sản nuôi biển còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu nuôi thương phẩm, đặc biệt là chưa sản xuất được giống tôm hùm. Nguồn tôm hùm giống chủ yếu khai thác từ tự nhiên, song sản lượng khai thác ngày càng giảm.

Nếu năm 2015 chỉ khai thác được khoảng 1,4 triệu con, đến năm 2018 còn khoảng 270.000 con. Do lượng con giống tôm hùm khai thác giảm, trong khi nhu cầu giống để nuôi tăng cao nên những năm gần đây, tôm hùm giống chủ yếu nhập từ các nước Philippines, Malaysia, Indonesia.

Trong khi đó, công nghệ nuôi và hệ thống lồng bè chưa thích ứng với điều kiện thời tiết, sóng biển. Một số đối tượng nuôi chưa có quy trình chuẩn hoặc chưa được nghiên cứu thử nghiệm. Đối với thức ăn cho thủy sản nuôi, hầu hết người nuôi sử dụng cá tạp nên rất dễ gây ô nhiễm môi trường. Dịch bệnh tại hầu hết các vùng nuôi chưa được kiểm soát. Trong khi hiện nay, môi trường vùng ven biển ở nhiều địa phương bị ô nhiễm nặng do tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Ngư dân thị xã Sông Cầu lặn thu hoạch tôm hùm nuôi trên vịnh Xuân Đài. (Ảnh: Phạm Cường/TTXVN)
Ngư dân thị xã Sông Cầu lặn thu hoạch tôm hùm nuôi trên vịnh Xuân Đài. (Ảnh: Phạm Cường/TTXVN)

Theo ý kiến của một số chuyên gia trong và ngoài nước, để tăng mạnh được sản lượng, phải mạnh dạn phát triển nuôi xa bờ thay vì chỉ nuôi ven bờ như hiện nay. Ông Lucas Manomaitis, Giám đốc Kỹ thuật nuôi khu vực Đông Nam Á thuộc Hiệp hội xuất khẩu đậu tương Hoa Kỳ – chuyên cung cấp thức ăn chăn nuôi thuỷ sản cho hay, nuôi ven bờ đang ngày càng chịu áp lực bởi ô nhiễm môi trường, sự phát triển của các khu dân cư ven biển… nên sẽ không còn phù hợp trong tương lai.

Việt Nam có đủ điều kiện để phát triển nuôi xa bờ và có thể tiến hành nuôi quanh năm. Xa bờ không có nghĩa là nuôi giữa đại dương mênh mông mà là xác định vị trí đủ xa để có độ sâu và dòng chảy cần thiết, đủ gần với các hỗ trợ hậu cần trên đất liền và nên ở những vùng đã được định sẵn cho thủy sản.

Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư

Các doanh nghiệp đã sẵn sàng đầu tư công nghệ, thúc đẩy chuyển hướng để nghề nuôi biển phát triển mạnh.

Nhận thấy việc chuyển hướng từ khai thác, đánh bắt hải sản trên biển sang nuôi trồng trên biển mang lại nhiều lợi ích kinh tế, góp phần phát triển nghề cá bền vững, đảm bảo an toàn sinh thái biển, cốt lõi nhất là để ngư dân không vi phạm vùng biển nước ngoài trong hoạt động khai thác, đánh bắt, các doanh nghiệp đã sẵn sàng đầu tư công nghệ, thúc đẩy chuyển hướng để nghề nuôi biển phát triển mạnh.

Nuôi tôm trên cát ở huyện Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)
Nuôi tôm trên cát ở huyện Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Là một trong những doanh nghiệp đầu tư chuyển hướng sang nuôi biển, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại Dịch vụ xuất nhập khẩu Trấn Phú (Kiên Giang) đã mạnh dạn đầu tư nuôi với 6 lồng ương cá giống và 4 lồng nuôi cá thương phẩm, tại vùng biển thuộc xã Gành Dầu, huyện đảo Phú Quốc.

Ông Thái Tổ Trấn, Giám đốc Công ty Trấn Phú cho biết, toàn bộ lồng nuôi được nhập khẩu từ Na Uy; trong đó, lồng ương loại vuông có diện tích 5 x 5m, còn lồng nuôi cá thương phẩm loại tròn có đường kính 20m. Mỗi lồng tròn có thể nuôi được từ 25-30 tấn cá thương phẩm. Ưu điểm của loại lồng này là chịu được thời tiết khắc nghiệt trên biển, khung lồng bằng ống nhựa có tuổi thọ trên 35 năm, độ an toàn nuôi trên 20 năm.

Lồng nuôi chịu được sóng, gió cấp 10 và có thể xả van nhận chìm để đảm bảo an toàn khi có bão lớn. Chi phí đầu tư toàn bộ khung, lưới và dây neo… khoảng 700 triệu đồng/lồng nuôi cá thương phẩm. Với loại lồng nhập khẩu từ Na Uy, người nuôi có thể đầu tư nuôi ngoài khơi xa, hạn chế nguồn ô nhiễm. Hiện Công ty Trấn Phú đang đầu tư nuôi 2 loại cá là chim trắng vây vàng và Hồng Mỹ, với thời gian ương vèo từ 60 đến 75 ngày, sau đó chuyển lồng nuôi tiếp 6 đến 7 tháng là thu hoạch.

Việc chuyển hướng từ khai thác, đánh bắt hải sản trên biển sang nuôi trồng trên biển mang lại nhiều lợi ích kinh tế.

Cùng với Công ty Trấn Phú, Công ty Cổ Phần Tập đoàn Mavin (Hà Nội) cũng đã nắm bắt được xu hướng phát triển nuôi trồng biển, tiến hành triển khai dự án nuôi cá biển quy mô lớn tại Kiên Giang, ứng dụng công nghệ nuôi hiện đại của châu Âu để sản xuất các loại cá biển chất lượng cao, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Theo đại diện Tập đoàn Mavin, Mavin đầu tư nuôi biển tại Kiên Giang trên tổng diện tích là 2.000ha mặt nước, với sản phẩm nuôi trồng là các loại cá có giá trị kinh tế cao như cá vược, cá song, cá chim vây vàng… Với mức đầu tư này, Mavin có thể sản xuất 30.000 tấn cá biển các loại mỗi năm. Tổng vốn đầu tư của dự án là 30 triệu USD, dự kiến sẽ chính thức đi vào vận hành ổn định từ năm 2021.

Tập đoàn Mavin sẽ sử dụng toàn bộ công nghệ nuôi biển hiện đại của thế giới với công nghệ lồng nuôi biển của Na Uy, công nghệ cho ăn, kiểm soát nuôi của Pháp và công nghệ thu hoạch cá của Australia. Đây là dự án nuôi biển phục vụ xuất khẩu, nên Tập đoàn Mavin cũng đặc biệt chú trọng vào việc kiểm soát môi trường nuôi và truy xuất nguồn gốc xuất xứ, giúp việc xuất khẩu cá của dự án được thuận lợi, đáp ứng được đầy đủ các khuyến nghị của Cộng đồng châu Âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU).

Quy hoạch chặt chẽ

Hồng Nhung–Thanh Trà

Nuôi biển đang trở thành sự lựa chọn đầy triển vọng của nghề cá Việt Nam nói chung và của những ngư dân đánh bắt xa bờ chuyển đổi sản xuất nói riêng.

Tuy nhiên, để tránh tình trạng chuyển đổi ồ ạt, vỡ trận khi sản phẩm cung vượt cầu, không đáp ứng được các tiêu chuẩn của người tiêu dùng quốc tế,… sự chuyển đổi cần một quy hoạch chặt chẽ, rõ ràng và đồng bộ ở các địa phương giữa người nuôi, nhà thu mua, nhà chế biến xuất khẩu và các tiêu chuẩn khắt khe của người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Hướng đến quy mô công nghiệp

Phát triển nuôi biển là hướng đi được các chuyên gia kinh tế và môi trường đánh giá cao. Hướng đi này tạo điều kiện cho Việt Nam đến gần với các quốc gia tiên tiến đang đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường; trong đó, có bảo vệ môi trường sinh thái biển. Tuy nhiên, để hướng đi này bền vững, nhiều chuyên gia nhận định, ngành nuôi biển cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu, hướng đến quy mô công nghiệp để tồn tại.

Theo tiến sỹ Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, để có thể đáp các yêu cầu của người tiêu dùng, nguồn hàng phải đảm bảo đủ, đều và chất lượng vào bất kỳ thời điểm nào mà người tiêu dùng yêu cầu.

Ngành nuôi biển cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu, hướng đến quy mô công nghiệp để tồn tại.

Do đó, các địa phương ven biển cần tổ chức lại sản xuất, cải tiến công nghệ nuôi thích ứng với điều kiện tự nhiên và biến đổi khí hậu; phát triển các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao, theo quy mô công nghiệp, có liên kết chuỗi giữa người nuôi và thu nhà thu mua, cung ứng ra thị trường, có lợi thế cạnh tranh và thị trường tiêu thụ đồng thời, cần có chứng nhận, chỉ dẫn địa lý để có thể truy xuất nguồn gốc.

Các tổ chức, cá nhân tham gia nuôi biển cần áp dụng công nghệ nuôi hiện đại như công nghệ nuôi tuần hoàn, công nghệ tạo dòng chảy, sử dụng thức ăn công nghiệp, nuôi kết hợp các loài hải sản theo hình thức hữu cơ, sinh thái, bảo đảm sức tải môi trường, gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ.

Mô hình nuôi biển ở Bãi Nam, xã Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương (Kiên Giang). (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)
Mô hình nuôi biển ở Bãi Nam, xã Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương (Kiên Giang). (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Cùng với nỗ lực của người nuôi, nhà tiêu thụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng quy chuẩn quốc gia về trại giống hải sản; ban hành quy định cụ thể về kiểm soát giống hải sản; bổ sung trại sản xuất mang tính công nghiệp vào đối tượng được vay vốn theo chính sách phát triển thủy sản. Ngoài ra, ngành nông nghiệp và các địa phương cũng có chính sách hỗ trợ thiết lập trại giống hải sản hiện đại; xây dựng sàn giao dịch giống hải sản, phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ.

Vấn đề cốt lõi để thực hiện nuôi biển theo quy mô công nghiệp chính là từng bước thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Quy hoạch bền vững

Trong chuyến khảo sát về phát triển nuôi biển tại tỉnh Kiên Giang là địa phương có bước đột phá về chuyển đổi nuôi biển mới đây, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chỉ đạo tỉnh Kiên Giang tập trung tái cấu trúc lại ngành thủy sản, giảm cơ cấu khai thác và tăng sản lượng nuôi trồng, tạo việc làm cho lao động nuôi trồng, giảm lao động khai thác. Để làm được điều này, các đơn vị nghề cá Việt Nam và nghề cá Kiên Giang cần có một quy hoạch cụ thể, cùng chính sách đi kèm để tạo điều kiện cho sự chuyển đổi này thuận lợi phát triển.

Tập trung tái cấu trúc lại ngành thủy sản, giảm cơ cấu khai thác và tăng sản lượng nuôi trồng, tạo việc làm cho lao động nuôi trồng, giảm lao động khai thác.

Chủ tịch Hiệp hội nuôi biển Việt Nam, tiến sỹ Nguyễn Hữu Dũng nhìn nhận, các cơ quan chức năng nên nghiên cứu kỹ những xu hướng chuyển dịch của lĩnh vực nuôi biển trên thế giới, bao gồm chuyển từ các trại nuôi quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu sang nuôi công nghiệp, quy mô lớn với công nghệ hiện đại; chuyển từ vùng nước ven bờ, nơi có hệ sinh thái nhạy cảm và dễ chồng lấn với các hoạt động kinh tế khác ra vùng biển xa bờ và tiến dần ra nuôi ngoài đại dương.

Bên cạnh đó, chuyển từ mô hình hộ gia đình sang doanh nghiệp nuôi biển, nhờ các chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư có vai trò của nhà nước;  thiết lập quy hoạch phát triển nuôi biển quốc gia, tăng cường công cụ quản lý nhà nước và cơ chế đồng quản lý theo mô hình hợp tác công tư (PPP). Ngoài ra, xây dựng hệ thống cảnh báo, kiểm soát ô nhiễm môi trường và đảm bảo an ninh nuôi biển; thiết lập và phát triển chuỗi giá trị, liên kết trại nuôi với hệ thống mạng lưới cung cấp thức ăn, con giống, các cơ sở chế biến, phân phối và tiêu thụ sản phẩm.

Ông Huỳnh Văn Chiều, ở xã đảo Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương (Kiên Giang)  với mô hình nuôi cá mú sao quy mô 44 lồng, đạt lợi nhuận hơn 8 tỷ đồng/vụ. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)
Ông Huỳnh Văn Chiều, ở xã đảo Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương (Kiên Giang) với mô hình nuôi cá mú sao quy mô 44 lồng, đạt lợi nhuận hơn 8 tỷ đồng/vụ. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Song song với những yêu cầu về quy hoạch tổng thể chuyển đổi sang nuôi biển, mỗi địa phương có biển cũng có những quy hoạch riêng, phù hợp với đặc trưng của từng nơi.

Ông Nguyễn Đình Xuyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi–Thú y Kiên Giang cho biết, đối với các địa phương có quy hoạch nuôi cá lồng bè ven biển, đảo, cần thực hiện đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt về vị trí đặt lồng, số lượng lồng, bảo vệ môi trường khu vực nuôi.

Người nuôi phải giám sát chặt chẽ tình hình môi trường nước vùng nuôi, thường xuyên theo dõi sức khỏe của cá. Phân công người trực canh trên bè 24/24 giờ để kịp thời phát hiện các hiện tượng bất thường của môi trường nước và đưa ra các giải pháp ứng phó thích hợp.

Từ năm 2012, Việt Nam đã có mặt trên bản đồ những nước nuôi cá biển hàng đầu thế giới.

Không những vậy, các địa phương thực hiện chuyển đổi từ khai thác, đánh bắt hải sản sang nuôi biển tập trung thực hiện hiệu quả quy trình phòng bệnh tổng hợp đã được cơ quan chuyên môn hướng dẫn, tập huấn, như chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, đã được kiểm dịch, kích cỡ đồng đều, cá khỏe mạnh…

Theo tiến sỹ Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, từ năm 2012, Việt Nam đã có mặt trên bản đồ những nước nuôi cá biển hàng đầu thế giới. Nếu Nhà nước có chính sách khuyến khích và ưu tiên thu hút đầu tư thì sản lượng nuôi biển hàng năm bao gồm tôm và tôm hùm, cá biển, trai ngọc, nhuyễn thể khác, tảo và rong biển, các hải sản khác sẽ có thể tăng mạnh trong những năm tới.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến, trong thời gian qua Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách, chương trình để thúc đẩy nuôi biển phát triển. Hiện nay, một số bộ phận hỗ trợ ngành công nghiệp nuôi biển đã bước đầu được hình thành ở Việt Nam như hạ tầng vùng sản xuất giống, vùng nuôi tập trung, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến, phát triển thị trường tiêu thụ,…

Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu như trên, ngành nuôi biển không thể tiếp tục phát triển theo kiểu tự phát, nhỏ lẻ, mà phải chuyển sang nuôi công nghiệp, quy mô lớn bằng công nghệ tiên tiến, thân thiện với sinh thái và môi trường biển, đảm bảo phát triển bền vững./.

Nuôi cá lồng bè trên biển tại xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Nuôi cá lồng bè trên biển tại xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc (Kiên Giang). (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Устойчивое развитие рыбного хозяйства:

Предисловие

В последние годы морская аквакультура во Вьетнаме добилась значительных успехов, увеличив свою площадь и производство. Это хороший знак того, что морская аквакультура во Вьетнаме может заменить прибрежное рыболовство, а вьетнамские фермеры постепенно переходят от «разрушительного» рыболовства к более устойчивому морскому рыбному хозяйству.

Эта форма конверсии также способствует сближению рыбопромысловой и перерабатывающей промышленности Вьетнама с положениями Европейской комиссии по борьбе с незаконным рыболовством (IUU), помогая при этом Вьетнаму вскоре убрать с себя «IUU желтую карточку».

Высокая экономическая ценность

Хонг Ньюнг – Тхань Ча

В течении многих лет рыбная отрасль принесла источник жизни вьетнамским прибрежным рыбакам, помогая им стабилизировать свою жизнь. Однако в связи с тенденцией развития в мире, согласно которой потребление тесно связано с охраной окружающей среды, чрезмерный вылов рыбы стал более тревожным, чем когда-либо. Таким образом, устойчивая эксплуатация в тесной связи с аквакультурой является неотложным требованием в процессе устойчивого развития рыбного хозяйства во Вьетнаме.

Использование преимущества морской поверхности

Прибрежные провинции, такие как Фуйен, Кханьхоа, Ниньтхуан, Биньтхуан, Бенче, Кьенжанг, Камау…, занимают большую возможную для аквакультуры часть поверхности прибрежной воды.

По данным Главного управления рыбного хозяйства, к концу 2019 года Вьетнам имеет около 500.000 гектаров морской поверхности с богатым потенциалом для аквакультуры. С 2010 года по настоящее время площадь и продукция морской аквакультуры увеличилась более чем на 20% в год. В 2019 году насчитывается более 5 миллионов м3 производственных садок морской аквакультуры, которые произвели более 500.000 тонн морепродуктов.

Рыболовство в тесной связи с аквакультурой является важным требованием в процессе устойчивого развития рыбного хозяйства во Вьетнаме.

Столкнувшись с чрезмерной эксплуатацией морских ресурсов на прибрежной поверхности моря в течение многих лет, разнообразие видов рыб в море осталось уже не так много, как раньше. Используя существующий водный потенциал, многие фермеры в провинциях Камау и Кьенжанг перешли на разведение рыб и креветок в производственных садках на море. По данным Департамента рыбного хозяйства Кьенжанга, в настоящее время во всей провинции имеется около 4.300 производственных садок для разведения рыбы на море.

Разведение рыб в производственных садках на море Антхой, уезда Фукуок провинции Киенжанг. (Фото: Ле Хи/ВИА)
Разведение рыб в производственных садках на море Антхой, уезда Фукуок провинции Киенжанг. (Фото: Ле Хи/ВИА)

Например, фермер Фан Ням Зан в уезде Фукуок провинции Кьенжанг в настоящее время имеет 10 рыбных садков в море (площадь одного садка в сотню рыб – 16 м2).

По словам г-на Зана, водная среда здесь очень благоприятная, не загрязненная, поэтому рыба растет очень быстро. Натуральный корм для выращиваемых здесь рыб довольно дешевый, и его покупают прямо в море с рыбацких лодок.

По данным Главного управления рыбного хозяйства, к концу 2019 года Вьетнам имеет около 500.000 гектаров морской поверхности с богатым потенциалом для аквакультуры.

Полный производственный процесс на морской ферме (с самого начала разведения рыбы до ее ловли – 12 месяцев. За этот период времени рыба достигают веса до 9-10 кг. Благодаря стабильному рынку потребления рыбы, при отпускной цене от 110.000 до 120.000 донгов за кг, прибыль каждого рыбного садка – около 50 миллионов донгов за “урожай”.

В отличие от провинции Кьенжанг, в провинции Камау только остров Хонтюой в уезде Чанвантхой имеет условия для разведения морепродуктов. Фермер Ле Ван Фыонг на острове Хонтюой раньше зарабатывал на жизнь естественной ловлей рыбы на море, но теперь он перешёл на разведение рыб в садке. Однако, по словам г-на Фыонг, инвестиции на один садок для рыбы площадью 16м2 обойдутся примерно в 150 миллионов донгов. Он хочет расширить масштабы своего рыбного хозяйства, но капитал является для него большим препятствием.

Рыбоводство должно быть тесно связано со стабильным рынком потребления

Кьенжанг – первая из 28 прибрежных провинций Вьетнама, которая совершила прорыв в переходе от рыбной ловли к ее разведению. Согласно плану, с настоящего времени по 2030 год провинция Кьенжанг будет инвестировать в разведение морской рыбы, развивая аквакультурное хозяйство в направлении современной и устойчивой промышленности.

Рыболовные лодки на море вокруг островка Тхотью, уезда Фукуок (провниции Киенжанг). (Фото: Ле Хи Хай/ВИА)
Рыболовные лодки на море вокруг островка Тхотью, уезда Фукуок (провниции Киенжанг). (Фото: Ле Хи Хай/ВИА)

Директор Департамента сельского хозяйства и развития деревни провинции Кьенжанг Нгуен Ван Там отметил что, в ближайшем будущем провинция планирует развивать устойчивое разведение рыбы в морских садках до 2030 года. Рыбохозяйственная территория сосредоточена вокруг островов уездов Фукуок, Кьенхай и некоторых островных коммун уезда Кьенлыонг, и города Хатиен.

Эксплуатация морских потенциалов в направлении современного и устойчивого развития, связанного с защитой экологической среды.

Для развития разведения рыбы в морских садках фермерам нужен стабильный источник дохода, а для этого нужен стабильный рынок сбыта продукции. Наличие рынка для реализации товара является обязательным этапом в этом процессе.

По словам заместителя директора Департамента животноводства и ветеринарии провинции Кьенжанг Нгуен Динь Сюйена, для того, чтобы разведение рыбы в морских садках было эффективным, провинция Кьенжанг перенимает у развитых стран новые технологии рыбного хозяйства и использует их в сочетании с имеющимися в провинциях морскими преимуществами.

В частности, провинция Кьенжанг создает благоприятные условия в механизмах и политиках для фермеров и предприятий, которые вкладывают большие средства в морское рыбоводство. Кроме того, провинция помогает в транспортировке и реализации готовой продукции.

Со своей стороны, предприниматели и фермеры также запросили помощи у ведомств в создании благоприятных условий для иностранных торговых судов, чтобы те могли заходить в порты Кьенжанга, покупать живую рыбу и транспортировать ее для реализации на больших и взыскательных мировых рынках.

(Фото: Ле Хи Хай/ВИА)
(Фото: Ле Хи Хай/ВИА)

Изменение в производстве

Хонг Ньюнг – Тхань Ча

Хотя разведение рыбы в садке на море было развито и расширено только за последние 10 лет, многие фермеры четко осознали потенциал, перспективы и прибыль, которые приносит эта отрасль.

Таким образом, фермеры, которые до недавнего времени специализировались только на добыче натуральных морепродуктов в море, что имело низкую эффективность, постепенно переключились на разведение рыбы в садке на море, что даёт им стабильно производить продукцию и увеличивать свой доход.

Существуют еще и трудности

По сравнению с существующим водным потенциалом, морское рыбное хозяйство Вьетнама пока еще довольно скромно.

По данным Главного управления рыбного хозяйства (Министерство сельского хозяйства и развития деревни), к концу 2019 года общая площадь морской аквакультуры вокруг островов Южного Вьетнама составила около 250.000 га.

По данным Департамента аквакультуры (Главное управление рыбного хозяйства), прибрежные районы во Вьетнаме имеют большой потенциал для развития морской аквакультуры, однако местные фермеры пока еще не в полной мере используют этот потенциал.

Прибрежные районы во Вьетнаме имеют большой потенциал для морской аквакультуры, но местные фермеры еще не в полной мере используют этот потенциал.

По словам заместителя директора Департамента сельского хозяйства и развития деревни провинции Кьенжанг Куанг Чонг Тхао, в настоящее время морское рыбное хозяйство в Кьенжанге пока еще слабо развито и использует устаревшие технологии. Местные фермеры сами строят морские садки из дерева для разведения рыбы. Эти садки не безопасны при больших волнах и сильном ветре.

Кроме того, технология производства некоторых видов морских креветок и рыб по-прежнему ограничена, что не позволяет удовлетворить спрос на их коммерческое разведение. В особенности это касается омаров, которых вьетнамские фермеры пока еще не в состоянии разводить, поэтому в последние годы омаров в основном импортируют из Филиппин, Малайзии и Индонезии.

К тому же технологии разведения рыб и креветок в морских садках и система имеющихся садков во Вьетнаме пока еще не адаптированы к погодным условиям и морским волнам, а в качестве корма большинство фермеров используют мусорную рыбу, которая может легко загрязнить окружающую среду.

Собирает королевские клеветки на заливе Суандай. (Фото: Фам Кыонг/ВИА)
Собирает королевские клеветки на заливе Суандай. (Фото: Фам Кыонг/ВИА)

По мнению ряда отечественных и зарубежных экспертов, для того, чтобы быстро увеличить производство, необходимо активно развивать оффшорное рыбное хозяйство, а не только прибрежное, как в настоящее время.

Вьетнам имеет все условия для развития оффшорного рыбного хозяйства и может заниматься этим хозяйством круглый год. Оффшорные морские садки вовсе не означают разведение рыбы и креветок в далеком океане, а это всего лишь расположение морских садков на некотором удалении от берега так, чтобы те имели необходимые глубину и поток, и в то же время находились достаточно близко к суше для упрощения логистики. Другими словами, производственные садки должны быть в удобных для рыбного разведения районах моря.

Предприниматели готовы на инвестицию

Предприниматели уже готовы инвестировать в технологии, чтобы ускорить это направление развития морской аквакультуры.

Понимая, что переход от морского рыболовства к организованному морскому аквакультурному хозяйству приносит много экономических выгод, вьетнамские предприниматели уже готовы инвестировать в технологии, чтобы ускорить этот процесс.

Разведение клеветок на песке в общине Куангдиен, провинции Тхыатхиен-Хюэ. (Фото: Хо Кау/ВИА)
Разведение клеветок на песке в общине Куангдиен, провинции Тхыатхиен-Хюэ. (Фото: Хо Кау/ВИА)

Переход от естественного морского рыболовства к организационной морской аквакультуре приносит много экономических выгод

Одно из предприятий, переходящих на морскую аквакультуру, Товарищество с ограниченной ответственностью (ТОО) Чанфу (провинция Кьенжанг) смело инвестирует средства в рыбное хозяйство с 6 рыбными питомниками и 4 садками для коммерческого разведения рыбы в водах коммуны Ганьзау (уезд Фукуок).

Директор ТОО Чанфу Тхай То Чан сказал, что все питомники и садки были привезены из Норвегии. Каждый круглый садок может производить 25-30 тонн коммерческой рыбы.

С садками из Норвегии, фермеры могут спокойно инвестировать в оффшорное рыбное хозяйство, которое находится достаточно далеко от загрязненных прибрежных вод.

Устойчивое планирование

Хонг Ньюнг – Тхань Ча

В прежнее время рыболовство было источником жизни, помогая вьетнамским прибрежным рыбакам стабилизировать свою жизнь. Однако в связи с тенденцией развития в мире, когда потребление связано с охраной окружающей среды, чрезмерная эксплуатация морских ресурсов становится все более тревожной. Поэтому эксплуатация морских ресурсов, связанная с аквакультурой, является неотложным требованием для более устойчивого развития рыбного хозяйства во Вьетнаме.

На пути к промышленному масштабу

Развитие морской аквакультуры – направление, высоко оцененное экспертами в области экономики и экологии. Этот подход создает условия для Вьетнама, позволяя ему приблизиться к передовым странам, которые прилагают усилия по защите окружающей среды, в том числе и морской экологии. Тем не менее, для того, чтобы это направление было устойчивым, многие эксперты утверждают, что морское рыбоводство нуждается в тесной связи между различными этапами в процессе производства, а, чтобы выжить, оно должно быть нацелено на промышленный масштаб.

Морское рыбоводство нуждается в тесной связи между различными этапами в процессе производства

Прибрежные провинции Вьетнама нуждаются в реорганизации производства, совершенствовании технологий ведения рыбного хозяйства для адаптации к природным условиям и изменениям климата. Им необходимо разрабатывать рыбохозяйственные объекты высокой экономической ценности, иметь промышленный масштаб производства, иметь тесные связи с производителями и покупателями-поставщиками продуктов на рынок. Наряду с этим, продукция должна быть сертифицирована и иметь географические указания на страну происхождения продуктов.

Совместно с усилиями фермеров и потребителей Министерство сельского хозяйства и развития деревни должно разрабатывать национальный стандарт для рыбопитомников, обнародовать конкретные положения о контроле за видами морепродуктов, добавить промышленные рыбоводственные фермы в список субъектов, имеющих право занимать капитал в соответствии с политикой по развитию рыбного хозяйства.

Ферма по разведению рыб на море в провинции Киенжанг. (Фото: Хонг Дат/ВИА)
Ферма по разведению рыб на море в провинции Киенжанг. (Фото: Хонг Дат/ВИА)

Ключом к развитию морского рыбоводства в промышленном масштабе является поэтапное выполнение распоряжения вьетнамского Правительства о Генеральном плане и Стратегии устойчивого развития морской экономики до 2030 года с видением на 2045 год.

Устойчивое планирование

В ходе недавней обзорной поездки по развитию морского рыбоводства в провинции Кьенжанг, заместитель премьер-министра Вьетнама Чинь Динь Зунг поручил провинции Кьенжанг сосредоточиться на реструктуризации рыбного хозяйства, сокращении рыболовства и увеличении рыбоводства, создание новых рабочих мест для работников рыбного хозяйства, сокращение числа рыбаков. Для создания благоприятных условий для этого перехода, вьетнамские рыбохозяйственные подразделения в целом и промыслы Кьенжанга в частности, должны иметь конкретный план и проводить соответствующую политику.

Сосредоточиться на реструктуризации рыбного хозяйства, сокращении рыболовства и увеличении рыбоводства, создание новых рабочих мест для работников рыбного хозяйства, сокращение числа рыбаков.

Кроме того, у государства должна быть такая политика привлечения инвестиций, чтобы она могла стимулировать преобразование масштабов производства морской продукции из мелкого семейного рыбоводства в крупные рыбоводческие предприятия. Государству необходимо разработать систему предупреждения и контроля за загрязнением окружающей среды для обеспечения экологической безопасности морского рыбоводства. Государству также необходимо установить связь между рыбоводственными фермами и рыбопитомниками, сетью поставок кормов, рыбводственными фермами и предприятиями по переработке и потреблению рыбы.

В ферме по разведению рыб Хуинь Ван Тьеу в островной общине Хоннге, провинции Киенжанг 44 таких клеток, Тьеу получает прибыль в сумму 8 млрд. донгов за один сбор. (Фото: Хонг Дат/ВИА)
В ферме по разведению рыб Хуинь Ван Тьеу в островной общине Хоннге, провинции Киенжанг 44 таких клеток, Тьеу получает прибыль в сумму 8 млрд. донгов за один сбор. (Фото: Хонг Дат/ВИА)

Заместитель директора Департамента животноводства и ветеринарии провинции Кьенжанг Нгуен Динь Сюйен сказал, что для защиты окружающей среды в местах морского рыбоводства, местным властям необходимо разработать и следовать плану, утвержденному компетентными органами, по размещению аквакультурных ферм и количеству морских садков на каждом месте.

С 2012 года Вьетнам находится на карте ведущих стран мира по разведению морских рыб.

Мало того, в уездах и коммунах, где осуществляется переход от рыболовства к рыбоводству, необходимо эффективно осуществлять комплексные мероприятия по профилактике заболеваний среди рыб. Эти мероприятия инструктируются профессиональными учреждениями. Фермеры также должны быть обучены, чтобы знать, как правильно выбрать здоровую рыбную породу с известным происхождением. Отобранные для аквакультуры рыбы должны быть одинаковы по размеру и должны пройти карантин.

По словам заместителя министра сельского хозяйства и развития деревни Фунг Дык Tьена, в последние годы Правительство, а также министерства и ведомства разработали множество программ для содействия развитию морского рыбоводства.

Однако для достижения целей, поставленных Правительством, министерствами и ведомствами, морское рыбоводство не может продолжать развиваться стихийно и медленно, а должно перейти на промышленное крупномасштабное производство с использованием передовых технологий, обеспечивающих как устойчивое развитие этой отрасли, так и чистую морскую среду./.

Разведение морских рыб в плавающих клетках в общине Ганьзау, провинции Киенжанг. (Фото: Де Хи Дай/ВИА)
Разведение морских рыб в плавающих клетках в общине Ганьзау, провинции Киенжанг. (Фото: Де Хи Дай/ВИА)

Nhật ký cách ly:

LTS: Là một người yêu bóng đá, là “fan ruột” của đội tuyển Đức và câu lạc bộ Bayern Munich từ hơn 20 năm, nhưng phải đến đầu năm 2020 anh Nguyễn Hồng Đức mới có được một chuyến công tác tại Đức – chuyến công du mà anh tâm sự trên trang cá nhân là ‘đã chờ đợi 25 năm.’

Oái oăm thay, chuyến đi này rơi đúng vào thời điểm dịch COVID-19 bùng phát và ngày 15/3 trở về nước sau chuyến công du vẻn vẹn 1 tuần, người cán bộ Viện Triết học-Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam được đưa vào cách ly tập trung hai tuần tại trung tâm cách ly Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô, Sơn Tây, Hà Nội.

Ở đây, Nguyễn Hồng Đức có 14 ngày trải nghiệm khá là ‘thú vị’ trong trung tâm cách ly, chưa hết, vị chủ tịch của “Fanclub Mia san Vietnam” (CLB những người hâm mộ đội bóng Bayern Munich tại Việt Nam – thành viên của FanClub Bayern toàn cầu) đã tranh thủ thời gian cách ly để “truyền đạo.”

Vietnam+ xin giới thiệu bài viết “Nhật ký ở khu cách ly” của anh.

Ngày đầu tiên…

Khi về Việt Nam ngày 15/3, tôi được đưa đến khu cách ly ở Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô, Sơn Tây. Trong những ngày qua, tôi vẫn thường nhận được những lời hỏi thăm của người thân và bạn bè về tình hình ăn ở trong khu cách ly.

Đến hôm nay thì chúng tôi đã trải qua 7 ngày – một nửa thời gian của đợt cách ly, nhiều khi tôi muốn thể hiện cho những người ngoài vùng cách ly thấy được sự bình yên và sự lạc quan của chúng tôi ở đây nhưng không biết nên chọn phương thức nào.

Ngày đầu tiên, nhiều người còn chưa bắt nhịp được với cuộc sống ở khu cách ly. Dễ hiểu, khi mà tâm trạng và sự chuẩn bị tinh thần của mỗi người, vì thế cũng khác nhau.

Nhiều người vẫn chưa thể hình dung được một ngày trong khu cách ly của chúng tôi sẽ ra sao, liệu có vất vả, tù túng quá hay không? Chúng tôi có được ăn uống đủ dinh dưỡng và lượng?

Câu trả lời của tôi là: Điều kiện ăn ở đầy đủ, sinh hoạt bình thường, sức khỏe tốt.

Chúng tôi được đưa về tới trung tâm tối 15/3, khu vực cách ly gồm 2 tòa nhà 5 tầng, nơi bình thường đây là khu nhà ở của các chiến sỹ. Mỗi phòng có 16 người, được bố trí vào 8 giường tầng.

May mắn của chúng tôi là được ở trong khu nhà của các chiến sỹ bộ đội. Nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát. Cơ sở vật chất và điều kiện sinh hoạt ở đây thậm chí còn tốt hơn rất nhiều các khu nhà trọ đông người.

Ngay trong buổi tối đầu tiên, khi các thành viên đã làm xong thủ tục nhận phòng và có mặt ở phòng, việc đầu tiên chúng tôi làm là lập danh sách các thành viên trong phòng để tiện theo dõi và liên lạc khi cần thiết.

Tôi được chọn làm trưởng phòng, chịu trách nhiệm đảm bảo thông tin liên lạc và tổ chức các hoạt động của phòng. Trừ 3 thành viên cao tuổi, còn lại các thành viên khác đều phải có nhiệm vụ thay phiên nhau trực nhật.

Phòng chúng tôi có nhiều đối tượng, về từ nhiều nước trên các chuyến bay khác nhau. Có người đi từ Đức, có người từ Anh, cũng có người từ Ba Lan hay Séc…

Ngày đầu tiên, nhiều người còn chưa bắt nhịp được với cuộc sống ở khu cách ly. Dễ hiểu, khu cách ly có từ các bạn học sinh 16, 17 tuổi đến những người ngoài 50 tuổi. Tâm trạng và sự chuẩn bị tinh thần của mỗi người, vì thế cũng khác nhau.

Sự rối loạn xuất hiện ở một số người. Nhiều người mang đồ dùng từ nước ngoài về cho người thân, trong đó có đồ ăn cần được bảo quản trong điều kiện đặc biệt. Thế nhưng giờ lại bị cách ly, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” thì không biết nên xử lý như thế nào. Thêm vào đó là những đồ dùng, nhu yếu phẩm hằng ngày khác không phải ai cũng có sẵn.

Trong ngày đầu tiên, mặc dù biết là mình sẽ được trung tâm cung cấp những đồ gì, nhưng vì chưa có một thông báo cụ thể nào về đồ đạc sẽ được cấp phát, cái gì đã phát, cái gì chưa nên càng khiến mọi người không yên tâm. Vì thế, với các đồ dùng mục đích phòng, tránh dịch, mọi người lựa chọn phương án chủ động trang bị, nếu có thừa thì cũng tốt.

Ngoài ba bữa ăn chính đã được hỗ trợ, nhiều người cũng có nhu cầu ăn vặt hoặc ăn uống bổ sung thêm nên nhu cầu lương thực cũng rất lớn. Phần lớn là sữa và mỳ tôm.

Hàng gửi cho người trong khu cách ly được tiếp nhận từ bảo vệ vòng ngoài, sau đó được các chiến sỹ vận chuyển vào khu vực sinh hoạt chung trong khuôn viên cách ly.

Đo thân nhiệt định kỳ 2 lần/ngày. (Ảnh: Tác giả cung cấp)
Đo thân nhiệt định kỳ 2 lần/ngày. (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Ngày đầu tiên đó có lẽ là ngày vất cả nhất của các cán bộ, chiến sỹ ở trung tâm này. Phần lớn trong số họ có lẽ còn bị động hơn cả những người bị cách ly. Chúng tôi từ nước ngoài về, ít nhiều cũng đã chuẩn bị trước phương án có thể sẽ phải đi cách ly tập trung 2 tuần. Nhưng với các chiến sỹ ở đây, dù biết trước sẽ đón đoàn cách ly, nhưng con số trên dưới 700 người dồn về trong một đêm chắc là điều không ai nghĩ đến.

Tôi còn nhớ, trong ngày đầu tiên, các xe đẩy chở hàng liên tục ra vào mang đồ cho các công dân, chiến sỹ phụ trách phải thông báo tên người nhận liên tục từ sáng đến tối mà hàng vẫn chưa nhận hết.

Ngày đầu tiên đó có lẽ là ngày vất vả nhất của các cán bộ, chiến sỹ ở trung tâm này. Phần lớn trong số họ có lẽ còn bị động hơn cả những người bị cách ly.

Chỉ riêng việc đi phát đồ dùng cho các phòng, các cá nhân trong ngày đầu tiên và bê hộ đồ từ bên ngoài gửi vào cho mọi người đã chiếm hết trọn thời gian của các chiến sỹ trẻ. Họ gần như không có thời gian để nghỉ ngơi.

Trong hoàn cảnh như hiện nay, khi mà số lượng người được đưa vào các trung tâm cách ly ngày càng nhiều, số lượng cán bộ, chiến sỹ ở các trung tâm lại có hạn thì việc họ phải làm việc liên tục và quá tải là rất có thể xẩy ra. Cho nên, có thể có đôi lúc chúng tôi chưa vừa lòng vì phải chờ đợi gì đó quá lâu thì chúng tôi vẫn hiểu và thông cảm cho họ.

Họ đã và đang cố gắng hết mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình cũng như đảm bảo cho mọi công dân trong khu cách ly không bị thiếu thốn về điều kiện ăn ở, sinh hoạt.

Ăn uống, sinh hoạt… theo nghiêm quân

Mỗi ngày, chúng tôi được hỗ trợ ba bữa ăn gồm sáng, trưa và tối.

Tầm 7 giờ rưỡi sáng, khi một số người trong phòng còn chưa ngủ dậy thì các chiến sỹ phục vụ đã mang đồ ăn sáng đến tận cửa phòng. Suất ăn buổi sáng là cơm hoặc cháo thay phiên nhau. Đồ ăn được để sẵn trên bàn, ai dậy lúc nào thì ăn lúc đó.

Sau khi ăn sáng xong, mọi người lại tiếp tục công việc của mình. Các bác lớn tuổi thường sẽ tranh thủ lúc trời mát để đi bộ thể dục. Các bạn trẻ sẽ mở điện thoại để theo dõi tin tức, chơi game hoặc nhắn tin với bạn bè, người nhà. Ai chưa dậy thì vẫn sẽ tranh thủ ngủ nướng thêm một lúc nữa.

Một suất cơm dành cho người được cách ly. (Ảnh: Tác giả cung cấp)
Một suất cơm dành cho người được cách ly. (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Giờ ăn trưa là 11 giờ 30 đến 12 giờ, còn giờ ăn tối là 18 giờ đến 18 giờ 30. Đến giờ ăn, các chiến sỹ sẽ mang cơm trưa cho từng phòng. Suất ăn trưa và ăn tối sẽ đầy đủ và nhiều món hơn so với buổi sáng. Các món sẽ thay đổi theo từng ngày.

Về cơ bản, ngoài cơm và món ăn mặn thì khẩu phần ăn còn có rau, có canh và có một món tráng miệng. Tinh thần chung của Ban chỉ đạo là không để cho công dân bị đói. Các gia đình có con nhỏ hoặc những người có nhu cầu ăn kiêng sẽ có khẩu phần ăn riêng phù hợp cho từng đối tượng. Ban đêm, ai đói có thể ăn thêm mỳ tôm hoặc uống sữa mà người nhà gửi thêm vào.

Dù mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau, nhưng mọi người trong phòng vẫn sẵn sàng chia sẻ đồ dùng, thực phẩm cho nhau. Mục đích là sát cánh cùng nhau vượt qua thời gian cách ly một cách an toàn.

Khi ăn, chúng tôi vẫn phải đảm bảo yêu cầu cách ly giữa các thành viên trong phòng, giữ khoảng cách tối thiểu 1,5m. Trước mỗi bữa ăn, mỗi người phải chủ động rửa tay bằng xà phòng hoặc sát khuẩn bằng cồn, dung dịch rửa tay khô.

Đồ dùng sau khi ăn sẽ được gom vào một túi, đặt vào thùng rác để các chiến sỹ phục vụ mang đi tiêu hủy hằng ngày. Với tinh thần, “mình vì mọi người, mọi người vì mình,” giữ sức khỏe cho người khác cũng chính là giữ sức khỏe cho mình, nên các biện pháp vệ sinh công cộng cũng được các thành viên tự giác, thay phiên nhau thực hiện. Bàn để đồ ăn sau khi ăn xong cũng được lau chùi bằng cồn hoặc dung dịch sát khuẩn.

Trước mỗi bữa ăn mỗi người phải chủ động rửa tay bằng xà phòng hoặc sát khuẩn bằng cồn, dung dịch rửa tay khô. 

Mỗi ngày sẽ có một người làm nhiệm vụ trực nhật phòng. Việc đầu tiên mỗi sáng là quét và lau dọn phòng, hành lang và khu vực sinh hoạt chung.

Ngoài việc nhắc nhở mọi người chủ động thực hiện các biện pháp vệ sinh, kháng khuẩn cá nhân, chúng tôi còn nhắc nhở nhau sắp xếp đồ đạc trong phòng gọn gàng, và người trực nhật có trách nhiệm đảm bảo phòng luôn được vệ sinh sạch sẽ, không có rác trên sàn.

Kiểm tra thân nhiệt

Mỗi ngày, chúng tôi sẽ có 2 lần kiểm tra thân nhiệt. Mọi người sẽ tự điền các thông tin về sức khỏe của mình vào phiếu theo dõi sức khỏe cá nhân.

Nhưng không phải lúc nào mọi người cũng có mặt đầy đủ trong phòng khi cán bộ y tế đến. Cho nên mọi người sẽ chủ động nhờ cán bộ y tế kiểm tra nếu tình cờ gặp ở khu vực hành lang hoặc ở sân để đảm bảo rằng một ngày được kiểm tra thân nhiệt ít nhất 2 lần.

Trong phòng chúng tôi, có một anh mang về một chiếc máy đo thân nhiệt cầm tay từ Đức. Thế là anh mang ra cho cả phòng dùng. Máy đo thân nhiệt trở thành một món đồ chơi của cả phòng chúng tôi.

Các thành viên trong phòng kiểm tra thân nhiệt cho nhau.(Ảnh: Tác giả cung cấp)
Các thành viên trong phòng kiểm tra thân nhiệt cho nhau.(Ảnh: Tác giả cung cấp)

Ngoài hai lần kiểm tra của cán bộ y tế, chúng tôi còn tự kiểm tra cho nhau thêm 2, 3 lần nữa. Lúc nào thấy có người có dấu hiệu mệt mỏi, sốt là chúng tôi lại lấy máy ra đo. Ai không có biểu hiện gì cũng đề nghị được đo. Đây là công cụ duy nhất mà chúng tôi có thể dùng để tự kiểm tra sức khỏe của mình và cho người khác trong điều kiện cách ly.

Cũng nhờ cách làm này mà phòng chúng tôi đã phát hiện ra một số trường hợp có biểu hiện sốt cao và yêu cầu xuống trung tâm y tế kiểm tra lại. Một trong số họ sau thời gian theo dõi đã cho kết quả dương tính với SARS-CoV-2 (BN109).

Có một điều mà những người thân ở ngoài luôn quan tâm và lo lắng là liệu chúng tôi có bị lây nhiễm nếu cùng phòng hay cùng đi có người bị mắc bệnh hay không?

Trong khu vực cách ly, nhưng chúng tôi vẫn được tự do sinh hoạt trong khuôn viên cách ly nhưng phải đảm bảo yêu cầu cách ly của Ban Chỉ đạo.  

Có lẽ nói là 100% không lây nhiễm thì chưa dám chắc vì tôi mới chỉ đi qua 7 ngày mà sinh hoạt chung với nhau hàng ngày, cho dù đeo khẩu trang và không dùng chung đồ cá nhân, nếu đồ nào bắt buộc phải dùng chung thì đều lau, rửa tay trước khi dùng. Tuy nhiên, nếu mỗi bản thân từng người có ý thức trước tiên là bảo vệ mình thì tôi cho rằng khả năng lây bệnh là rất thấp.

Trong khu vực cách ly, nhưng chúng tôi vẫn được tự do sinh hoạt trong khuôn viên cách ly nhưng phải đảm bảo yêu cầu cách ly của Ban Chỉ đạo.

Mặc dù không có quy định nào yêu cầu đeo khẩu trang 24/24 giờ cả, nhưng mọi người cố gắng thực hiện, để bảo vệ  mình và an toàn cho những người xung quanh.

Dĩ nhiên, cũng có nhiều người không thực hiện đúng các quy định cách ly như ngồi ăn cùng bàn với nhau, đá bóng cùng nhau, đi ra ngoài không đeo khẩu trang… dù các cán bộ của trung tâm cách ly đã nhiều lần nhắc nhở.

Cuộc sống không gián đoạn và luôn có ý nghĩa

Hạn chế lớn nhất trong khu vực cách ly có lẽ là sự giao tiếp với nhau. Chúng tôi hạn chế giao tiếp, tiếp xúc với người khác. Chúng tôi cũng chỉ nói chuyện với những người cùng phòng hoặc bạn bè, người thân của mình chứ rất ít phát sinh bạn mới. Còn lại thì mọi người vẫn có thể học tập và làm việc bình thường. Trong phòng ai làm việc của người đó.

Các bạn học sinh vẫn thường xuyên lên lớp với các buổi học online. Các cán bộ, nhân viên vẫn duy trì công việc của mình trên máy tính. Mọi hoạt động vẫn được duy trì, không khác gì cách ly tại nhà.

Vệ sinh phòng ở. (Ảnh: Tác giả cung cấp)
Vệ sinh phòng ở. (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Ngoài việc tự lo cho bản thân mình, chúng tôi vẫn thường xuyên nhắc nhở các thành viên khác thực hiện tốt các quy định cách ly.

Thay vì tiếp xúc với người ngoài, chúng tôi dành thời gian để liên lạc với người nhà và bạn bè. Những cuộc gọi video với người thân luôn là những món ăn tinh thần của những người trong vùng cách ly như chúng tôi.

Những thông tin trong phòng, trong khu cách ly luôn được cập nhật, chia sẻ cho người nhà để những người ngoài vùng cách ly cảm thấy yên tâm làm việc và công tác.

Theo chiều ngược lại, chúng tôi cũng biết được sinh hoạt và cuộc sống của người thân của mình ở nhà như thế nào. Có lẽ, nhờ cách ly mà nhiều thành viên trong chúng tôi có nhiều thời gian nói chuyện với người thân hơn. Trong khi thường ngày, ai cũng cắm đầu vào công việc, quỹ thời gian để chia sẻ cùng nhau hầu như không có.

Buổi tối thường là thời điểm mà các thành viên trong phòng có thời gian để trò chuyện, chia sẻ thông tin chung với nhau. Qua những cuộc “họp phòng” như thế này, chúng tôi hiểu thêm về nhau hơn.

Điều mà tôi thấy thú vị nhất là mỗi khi có ai đó trong phòng nhắc đến ở đâu đó trong các khu cách ly khác có người chê cơm cách ly, hoặc đưa ra các đòi hỏi này kia thì mấy anh em trong phòng chúng tôi lại cùng nhau lên tiếng phê bình.

Mỗi lầm cầm suất cơm trên tay, họ lại cùng nhau “Cảm ơn Đảng, Cảm ơn Nhà nước” như thể đang thực hiện nghi thức ‘cầu nguyện tôn giáo vậy.’

Nhất là các anh, chú nhiều tuổi, những người con đi làm ăn, sinh sống xa Tổ quốc nhiều năm. Họ ra đi vì hoàn cảnh khó khăn, vì mưu kế sinh nhai, nhưng họ vẫn luôn hướng về Tổ quốc. Đối với họ chế độ tiếp đãi công dân cách ly như thế này là quá tốt rồi.

Có thể giờ khi là những người có của ăn của để, nhưng trước đây, đã phải nếm trải nhiều khó khăn của cuộc sống, thế nên họ hiểu giá trị của mỗi bữa ăn mà họ đang được hưởng.

Mỗi lầm cầm suất cơm trên tay, họ lại cùng nhau “Cảm ơn Đảng, Cảm ơn Nhà nước” như thể đang thực hiện nghi thức ‘cầu nguyện tôn giáo vậy.’

Quyên góp tiền ủng hộ. (Ảnh: Tác giả cung cấp)
Quyên góp tiền ủng hộ. (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Lúc ban đầu, tôi cứ nghĩ rằng rất có thể mình sẽ phải làm công tác “dân vận” để những người cùng phòng mình hiểu được sự nỗ lực và cố gắng của Đảng và Nhà nước cho chiến dịch cách ly này.

Nhưng những băn khoăn đó của tôi là không cần thiết, thậm chí chính thái độ của họ đã “dân vận” lại tôi.

Sau khi biết Thủ tưởng Chính phủ kêu gọi ủng hộ phòng chống dịch COVID-19, chính họ, chứ không phải tôi, là những người đã đề xuất các thành viên trong phòng cùng chung tay hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng.

Có thể ở phòng nào đó trong khu vực cách ly của chúng tôi hay ở bất kỳ điểm cách ly nào khác, vẫn còn những người chưa thực sự hài lòng với chính sách, chế độ cách ly mà họ được hưởng.

Nhưng với những người mà tôi quen, gặp trong khu cách ly, họ vẫn dành một sự biết ơn và trân trọng những gì mà Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã dành cho họ – những người con dân đất Việt tìm về đất mẹ trong cơn đại dịch.

Cá nhân tôi, tận dụng thời gian cách ly, tôi đã thực hiện công tác “truyền đạo” – nói vui vậy, thực tế là tôi đã đem tình yêu và niềm đam mê với đội tuyển Đức, với câu lạc bộ Bayern Munich của mình đến với các bạn cùng phòng và trong trung tâm.

Thực ra, ai thì cũng có một câu lạc bộ nào đó để hâm mộ, nhưng tôi muốn đem tinh thần “mia san mia”- chúng ta là một gia đình của Bayern Munich như một thông điệp gắn kết để cùng vượt qua đại dịch.

“Tôi muốn đem tinh thần “mia san mia”- chúng ta là một gia đình của Bayern Munich như một thông điệp gắn kết để cùng nhau vượt qua đại dịch,” Hồng Đức chia sẻ. (Ảnh: Tác giả cung cấp)
“Tôi muốn đem tinh thần “mia san mia”- chúng ta là một gia đình của Bayern Munich như một thông điệp gắn kết để cùng nhau vượt qua đại dịch,” Hồng Đức chia sẻ. (Ảnh: Tác giả cung cấp)

Chuyện những người ‘gác cửa’

Sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những cửa ngõ lớn nhất Việt Nam, nơi mỗi ngày đón hàng ngàn lượt khách quốc tế đến Việt Nam những ngày qua, luôn trong tình trạng quá tải.

Ở đó, có những con người vẫn ngày đêm giữ chắc phòng tuyến chống dịch – những nhân viên kiểm dịch y tế quốc tế. Hơn 2 tháng qua, không một phút nghỉ ngơi, không có thời gian cho riêng mình, họ căng mình “gác cửa,” trở thành chốt chặn tin cậy phát hiện dịch COVID-19 xâm nhập, hạn chế lây lan trong cộng đồng.

Những “lá chắn” ở tuyến đầu

Hai giờ ngày 16/3, sân bay Tân Sơn Nhất, một chuyến bay từ Anh vừa hạ cánh, anh Nguyễn Tạ Minh Quang, nhân viên Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế cùng với một số đồng nghiệp khác được phân công đứng giữa khu vực hải quan và khai báo y tế để hướng dẫn hành khách đến khu vực khai báo y tế và kiểm tra thân nhiệt, giải đáp thắc mắc cho hành khách vừa từ máy bay xuống.

Hơn 2 tháng qua, không một phút nghỉ ngơi, không có thời gian cho riêng mình, họ căng mình “gác cửa,” trở thành chốt chặn tin cậy phát hiện dịch COVID-19 xâm nhập, hạn chế lây lan trong cộng đồng.

Những người khác phụ trách công tác khai báo tờ khai sức khỏe cho hành khách. Nhiệm vụ của nhân viên kiểm dịch y tế quốc tế là kiểm soát hành khách nhập cảnh vào Việt Nam. Tất cả hành khách xuống máy bay được kiểm dịch COVID-19 và tầm soát các bệnh khác như Ebola, Mers-CoV, Lassa… Chỉ đến khi hành khách đảm bảo các yếu tố an toàn mới được nhân viên y tế kiểm dịch hướng dẫn đến khu vực công an cửa khẩu làm thủ tục nhập cảnh.

Trong đêm 16/3, một số hành khách có thân nhiệt cao hơn bình thường, ngay lập tức được đưa vào khu vực sàng lọc để đội ngũ y bác sỹ kiểm tra, thăm khám. Tại khu vực kiểm dịch, nhiều nhân viên trong ca trực mặc đồ chuyên dụng kín từ đầu đến chân, đeo kính bảo hộ, liên tục kiểm tra, đo nhiệt độ và hướng dẫn khách làm tờ khai y tế. Dù gần về sáng, nhiệt độ đã giảm thấp nhưng bên trong những bộ đồ bảo hộ kín mít, mồ hôi các nhân viên này vẫn tuôn từng đợt. Cứ như thế, giải quyết xong hành khách của chuyến bay này thì một chuyến bay khác lại hạ cánh, một quy trình khác được lặp lại, nhân viên kiểm dịch không lúc nào được ngơi tay.

Nhân viên y tế của Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế kiểm tra sức  khỏe của hành khách nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí  Minh. (Nguồn: TTXVN phát)
Nhân viên y tế của Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế kiểm tra sức khỏe của hành khách nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN phát)

Bác sỹ Nguyễn Hồng Tâm – Giám đốc Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, từ khi dịch COVID-19 bùng phát cũng là thời điểm mở ra chuỗi ngày căng thẳng chưa từng có của 80 nhân viên Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế tại sân bay Tân Sơn Nhất. Cụ thể, từ ngày 23/1 (tức ngày 28 Tết Nguyên đán Canh Tý 2020), khi dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc và bắt đầu ghi nhận người nhiễm bệnh nhập cảnh vào Việt Nam, toàn bộ 80 nhân viên của Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế được huy động.

Không nghỉ Tết, không về quê thăm gia đình, một “lệnh giới nghiêm” được đưa ra cùng dồn toàn lực chống dịch. Mỗi ngày, các nhân viên kiểm dịch y tế trực 24 giờ ở sân bay, mỗi ca trực có 20 nhân sự nhằm đảm bảo tất cả hành khách nhập cảnh vào Việt Nam đều được giám sát y tế.

Tình hình dịch bệnh diễn biến càng ngày càng phức tạp, hành khách nhập cảnh mỗi ngày một đông hơn, có lúc nhân viên kiểm dịch y tế rơi vào tình trạng quá tải, thậm chí có lúc dù đã hết ca làm việc nhưng vẫn phải nán lại để cùng đồng đội giải quyết các sự cố, tình huống khẩn cấp.

Mỗi ngày, các nhân viên kiểm dịch y tế trực 24 giờ ở sân bay, mỗi ca trực có 20 nhân sự nhằm đảm bảo tất cả hành khách nhập cảnh vào Việt Nam đều được giám sát y tế.

Đặc biệt từ ngày 6/3, khi Chính phủ bắt buộc phải thực hiện khai báo y tế đối với tất cả hành khách nhập cảnh vào Việt Nam, công việc của nhân viên kiểm dịch y tế tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất càng trở nên căng thẳng.

Bác sỹ Nguyễn Hồng Tâm cho hay: “Bình thường chúng tôi phải thực hiện việc giám sát y tế khoảng 3.500-4.500 người nhưng từ khi dịch COVID-19 bùng lên thì con số tăng lên đến 7.000 lượt người, có những thời điểm lên đến 11.000 người. Chúng tôi phải ‘cầu cứu’ Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh xin chi viện thêm nhân sự nhằm đảm bảo sức khỏe, tinh thần cho nhân viên kiểm dịch.”

Nỗi niềm “người gác cổng”

Ngày 25/2, một tài khoản có tên Harry Nguyen livestream “khoe” cách trốn bị cách ly khi từ Hàn Quốc về sân bay Tân Sơn Nhất. Dù trước đó cô gái này có sống tại thành phố Daegu (tâm dịch COVID-19 tại Hàn Quốc) nhưng đã đi qua thành phố Busan để đáp máy bay về Thành phố Hồ Chí Minh nhằm qua mặt bộ phận kiểm dịch ở sân bay.

Ngay lập tức, dư luận lên án hành động thiếu ý thức này nhưng cũng đồng thời bắt đầu có sự nghi ngờ về hệ thống kiểm soát phòng dịch tại sân bay – nơi mà Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh đang “đứng mũi chịu sào.”

“Sau khi điều tra, chúng tôi biết được do cô gái này có 2 quốc tịch Hàn Quốc và Việt Nam, khi đến cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất, cô gái chỉ trình hộ chiếu Việt Nam nên cơ quan chức năng nắm sót thông tin cô gái từng đến Deagu, vì vậy trường hợp này không thuộc diện cách ly tập trung,” bác sỹ Nguyễn Hồng Tâm giải thích.

Nhân viên Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế giám sát thân nhiệt của hành khách nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN phát)
Nhân viên Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế giám sát thân nhiệt của hành khách nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN phát)

Bỏ sót, bỏ lọt đối tượng nguy cơ là áp lực lớn nhất mà các nhân viên kiểm dịch y tế quốc tế phải đối mặt trong những ngày qua. Lượng hành khách về Việt Nam mỗi ngày một nhiều, công việc quá tải là có thật nhưng nhân viên kiểm dịch y tế tại sân bay không cho phép xảy ra một chút sai sót, lơ là nào bởi các anh chị hiểu rõ chỉ cần để lọt một trường hợp nguy cơ cao cũng có thể khiến nhiều người trong cộng đồng nhiễm bệnh.

“Đôi khi việc để sót, lọt người về từ vùng dịch do lý do khách quan nhưng dư luận không hiểu khiến chúng tôi bị ảnh hưởng tâm lý rất nhiều,” bác sỹ Nguyễn Hồng Tâm bộc bạch.

Ngoài ra, kể từ khi dịch bệnh diễn biến phức tạp trên thế giới, danh sách vùng dịch ngày càng mở rộng, các quy định về kiểm dịch y tế vì thế cũng liên tục thay đổi khiến nhân viên kiểm dịch y tế ở đây phải thích ứng trong thời gian ngắn ngất.

Bỏ sót, bỏ lọt đối tượng nguy cơ là áp lực lớn nhất mà các nhân viên kiểm dịch y tế quốc tế phải đối mặt trong những ngày qua.

Ban đầu, kiểm dịch sân bay được yêu cầu kiểm soát gắt gao khách đến từ Trung Quốc, đặc biệt là từ thành phố Vũ Hán, sau đó tới khách Hàn Quốc, Iran, Italy và bây giờ là một loạt nước châu Âu, Mỹ… Điều này đồng nghĩa quy định kiểm dịch tại các cửa khẩu, sân bay liên tục mở rộng đòi hỏi nhân viên kiểm dịch thường xuyên cập nhật.

Đặc biệt, một áp lực vô hình khác mà nhân viên y tế cửa khẩu luôn phải đối mặt, đó là nỗi lo mình có thể mắc bệnh, mang virus về cho người thân, gia đình. Công việc đòi hỏi thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người về từ vùng dịch khiến nhân viên kiểm dịch luôn phải đề cao cảnh giác, chú ý giữ gìn an toàn cho chính bản thân.

“Dù đã mặc đồ bảo hộ, dù tuân thủ các quy định nghiêm ngặt như giữ khoảng cách với hành khách nhưng có đôi lúc công việc cuốn mình theo những thắc mắc của hành khách nên đứng hơi gần họ so với quy định. Mỗi lúc như thế bọn mình cũng lo lắng lắm,” một nhân viên kiểm dịch cửa khẩu chia sẻ.

Nhân viên Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế hướng dẫn hành khách  thực hiện tờ khai y tế trước khi làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Tân  Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN phát)
Nhân viên Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế hướng dẫn hành khách thực hiện tờ khai y tế trước khi làm thủ tục nhập cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN phát)

Sau mỗi ca trực, nhân viên kiểm dịch phải tắm rửa, khử khuẩn rồi mới về nhà, nhưng cũng có người có con nhỏ, nhà xa đành phải thuê khách sạn ở,… Cũng có những người tan ca trực đi ngay về nhà, tự cách ly mình tại nhà, không tiếp xúc nhiều với những người xung quanh. Như trường hợp của chị Huỳnh Thị Mỹ Ngọc, do cả hai vợ chồng đều công tác tại Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế nên kể từ khi dịch bùng phát chị buộc phải gửi hai đứa con về cho ông bà ngoại chăm sóc. Nhiều khi nhớ con chị cũng không dám về thăm, chỉ nói chuyện qua điện thoại.

“Thiệt thòi đủ thứ nhưng đây là lúc chúng ta cần hy sinh những lợi ích cá nhân vì lợi ích của cả cộng đồng.” bác sỹ Nguyễn Hồng Tâm bày tỏ.

“Hai tháng qua, nhân viên của tôi đã phải tạm quên đi hạnh phúc riêng tư chỉ để tập trung phòng dịch, Tết không được sum vầy với người thân, phải xa con cái, có người không dám về nhà, cũng có người cưới xong cũng không được hưởng tuần trăng mật… thiệt thòi đủ thứ nhưng đây là lúc chúng ta cần hy sinh những lợi ích cá nhân vì lợi ích của cả cộng đồng,” bác sỹ Tâm bày tỏ.Những ngày này, người Việt Nam ở nước ngoài, du học sinh “hồi hương” tấp nập ở các sân bay. Điều này đồng nghĩa với việc các nhân viên kiểm dịch lại vẫn tiếp tục căng mình giám sát. Dù không ít áp lực, dù nhiều khó khăn vất vả nhưng họ luôn tự nhủ, cuộc chiến với đại dịch COVID-19 vẫn còn dài, chỉ có “bền gan vững chí” mới có thể cùng cả dân tộc chung tay phòng chống đại dịch nguy hiểm này./.

Khi các ‘ông lớn’ công nghệ

Chỉ mới hơn một tháng trước, khi nói đến sự tham gia của giới công nghệ trong nỗ lực kiểm soát đà lây lan chóng mặt của virus corona mới (SARS-CoV-2), người ta dễ dàng nhận thấy vai trò nổi bật của các công ty công nghệ Trung Quốc từ các ứng dụng di động tổng hợp tất cả trong một cho phép mọi người theo dõi diễn biến dịch bệnh, xin tư vấn bác sỹ, mua hàng trực tuyến cho đến các giải pháp trí tuệ nhân tạo giúp đỡ các nhà khoa học trong nghiên cứu vắcxin.

Trong khi đó, cùng thời điểm, các đại gia công nghệ hàng đầu thế giới chỉ quanh quẩn trả lời câu hỏi: Làm sao bù đắp doanh số sụt giảm do thị trường Trung Quốc và châu Á bị khóa chặt trong vòng vây của COVID-19? hay xứ lý thế nào với bài toán chuỗi cung ứng toàn cầu gián đoạn khi công xưởng của thế giới tê liệt?

Có chăng, ở thời điểm đó, một số trang mạng xã hội như Facebook đưa ra các tuyên bố cùng những hành động ở mức khiêm tốn nhằm ngăn chặn thông tin sai lệch về virus.

Khi COVID-19 không còn là “chuyện nhà người ta,” và “giặc” đã ở ngay trong nhà, các đại gia công nghệ mới chợt tỉnh giấc.

Tuy nhiên, “gió đã đảo chiều” nhanh như cái cách virus SARS-CoV-2 âm thầm xâm nhập, bùng phát và giáng một “cú đấm knoc-out” hạ gục hàng loạt nước châu Âu và Mỹ – nơi đặt tổng hành dinh của các đại gia công nghệ.

Giờ đây, khi COVID-19 không còn là “chuyện nhà người ta,” và “giặc” đã ở ngay trong nhà – nhiều nhân viên của Google, Facebook, Microsoft, Apple… dương tính với SARS-CoV-2 – cùng với đó là nhiều chính phủ áp đặt tình trạng khẩn cấp, phong tỏa quốc gia, các đại gia công nghệ mới chợt tỉnh giấc, tham gia cuộc chiến chung của toàn nhân loại chống lại đại dịch mà như Thủ tướng Australia Scott Morrison nói là “sự kiện dạng trăm năm mới xảy ra một lần.”

Cơ hội lấy lại niềm tin từ công chúng

Khi nước Mỹ chuyển sang một cuộc chiến toàn diện để chiến đấu với COVID-19, Tổng thống Trump và Nhà Trắng đã kêu gọi các công ty công nghệ giúp đỡ. Các công ty đang đàm phán với chính phủ để tận dụng sức mạnh và quy mô kinh doanh của họ trong hoạt động phòng chống dịch.

Nhà Trắng đã tổ chức một hội nghị để đặt hàng các hãng công nghệ về những gì họ có thể làm, từ việc giúp phân tích nghiên cứu học thuật đến ngăn chặn thông tin sai lệch về virus.

Đối với những gã khổng lồ công nghệ, lời đề nghị này thể hiện một cơ hội lớn để khôi phục niềm tin đã mất từ công chúng sau hàng loạt những bê bối dữ liệu. Nó thúc giục các đại gia công nghệ bước lên, thể hiện vai trò người hùng trong thời điểm khẩn cấp quốc gia.

Với kho dữ liệu thông tin người dùng toàn cầu khổng lồ không ngừng được cập nhật từng giây, từng phút, Facebook, Apple, Twitter, Amazon và Google đang nắm giữ những dữ liệu mơ ước mà các nhà nghiên cứu y tế công cộng luôn mong muốn có được: Họ biết chúng ta đang ở đâu, chúng ta đang tìm kiếm gì, thường mua gì, chúng ta đang dành thời gian với ai. Với loại thông tin đó, theo Larry Brilliant, một nhà dịch tễ học đang là giám đốc điều hành của tổ chức từ thiện Google.org: “Bạn có thể thay đổi bộ mặt của sức khỏe cộng đồng.”

Từ sự giúp đỡ của những dữ liệu kỹ thuật số quý hơn vàng đó, các nhà nghiên cứu có thể biết sớm về nơi có khả năng bùng phát dịch bệnh và triển khai thử nghiệm vắcxin. Họ có thể nhắm mục tiêu đóng cửa trường học, đọc chính xác hơn về tỷ lệ tử vong và tìm hiểu xem liệu chúng ta có thấy đầy đủ diễn biến virus lây lan hay chỉ là phần nổi của tảng băng trôi.

Facebook, Apple, Twitter, Amazon và Google đang nắm giữ những dữ liệu mơ ước của các nhà nghiên cứu y tế công cộng

Tuy vậy, việc hợp tác với chính phủ lại gợi nhắc một ký ức buồn muốn lãng quên của các đại gia công nghệ. Đó là những bê bối xoay quanh quyền riêng tư cá nhân.

Trong những năm qua, Thung lũng Silicon đã cố gắng đào thoát khỏi vấn đề này, bao gồm cả sự kiện Cambridge Analytica 2018, nơi Facebook cung cấp dữ liệu cho các nhà nghiên cứu nhưng rốt cuộc những dữ liệu của hàng chục triệu người dùng lại bị đem bán để thao túng chính trị, và những tiết lộ năm 2013 của Edward Snowden rằng các công ty công nghệ và viễn thông đang chia sẻ dữ liệu với Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ.

Và nay khi đại dịch COVID-19 tấn công nước Mỹ, các đại gia công nghệ lo ngại rằng chính phủ sẽ xâm phạm dữ liệu cá nhân khách hàng của họ, như yêu cầu nhiều dữ liệu khác nhau hơn mức cần thiết cho nhu cầu thực sự trong phòng chống dịch.

Sau cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo công nghệ và Nhà Trắng hôm thứ Tư 18/3, các nguồn tin nói với tờ Politico của Mỹ rằng chính quyền đã yêu cầu các công ty chia sẻ dữ liệu để giúp theo dõi virus, nhưng Nhà Trắng sau đó đã phủ nhận điều này.

Facebook và Twitter từ chối bình luận về việc họ có nhận được yêu cầu của chính phủ về việc chia sẻ dữ liệu hay không.

Tổng thống Mỹ Donald Trump giơ một mẩu giấy liên quan đến Google, khi ông phát biểu trong cuộc họp báo ngắn về COVID-19 ở Phòng họp báo của Nhà Trắng, ngày 15/3. (Nguồn: AP)
Tổng thống Mỹ Donald Trump giơ một mẩu giấy liên quan đến Google, khi ông phát biểu trong cuộc họp báo ngắn về COVID-19 ở Phòng họp báo của Nhà Trắng, ngày 15/3. (Nguồn: AP)

Nhưng trong một tuyên bố sau đó, Google cho biết dữ liệu vị trí ẩn danh có thể giúp các quan chức y tế “xác định tác động của cách ly xã hội, tương tự như cách chúng tôi hiển thị theo thời gian thực các nhà hàng phổ biến và mô hình giao thông trong Google Maps.”

Gã công nghệ khổng lồ nói thêm: “Công việc này sẽ tuân theo các quy trình bảo mật nghiêm ngặt của chúng tôi và sẽ không liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu về bất kỳ vị trí, di chuyển hoặc liên hệ của bất cứ cá nhân nào.”

Trong một tuyên bố riêng rẽ khác, Facebook nói với CNN rằng công ty này đã xuất bản các bản đồ số về các thảm họa với dữ liệu vị trí người dùng tổng hợp kể từ năm 2017. Ví dụ, Facebook đã xuất bản các bản đồ theo dõi các hoạt động đi lại của người dùng để đối phó với thảm họa cháy rừng ở California. Cũng như Google, dữ liệu vị trí mà Facebook thu thập đến từ những người dùng đồng ý tham gia chia sẻ vị trí.

Các đại gia công nghệ lo ngại chính phủ sẽ xâm phạm dữ liệu cá nhân khách hàng của họ, như yêu cầu nhiều dữ liệu khác nhau hơn mức cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực sự trong phòng chống dịch.

“Trong bối cảnh lây lan của virus SARS-CoV-2, các nhà nghiên cứu và tổ chức phi lợi nhuận có thể sử dụng những bản đồ này… để hiểu và giúp chống lại sự lây lan của virus,” tuyên bố của Facebook cho biết.

Trước đó, hôm 17/3, tờ Washington Post đưa tin chính phủ Mỹ đang đàm phán với giới công nghệ về việc truy cập dữ liệu điện thoại di động tổng hợp và ẩn danh. Israel, một đồng minh của Mỹ, đã sử dụng công nghệ theo dõi điện thoại cá nhân để cảnh báo người dùng tránh tham gia các sự kiện, địa điểm có người nhiễm SARS-CoV-2.

Giúp mọi người giao tiếp, làm việc thời cách ly

Giữa thời điểm hàng triệu người bị khóa chặt trong nhà, trong thành phố và quốc gia mà họ đang ở vì đại dịch COVID-19 thì những giải pháp công nghệ giúp giao tiếp trực tuyến với thế giới bên ngoài của các hãng công nghệ thực sự lên ngôi.

Nhiều công ty khuyến cáo, thậm chí yêu cầu nhân viên làm việc từ xa, tại nhà để phòng lây nhiễm virus. Facebook đã hỗ trợ cho mỗi nhân viên của mình một khoản tiền 1.000 USD trong đợt bùng phát COVID-19. Theo Facebook, phần hỗ trợ này giúp các nhân viên làm việc từ xa trang trải các chi phí bổ sung, chẳng hạn như thiết lập khu vực làm việc tại nhà hoặc chi tiêu cho việc chăm sóc con cái. Google, Twitter và nhiều hãng công nghệ khác cũng có động thái tương tự.

Khi mọi người chuyển công việc từ văn phòng về nhà thì các điều kiện cần thiết về công nghệ từ phần cứng (hệ thống máy tính, thiết bị mạng) đến phần mềm (các ứng dụng cho công việc, bảo mật thông tin) đòi hỏi mọi người tìm đến sản phẩm của các hãng công nghệ.

Lấy ví dụ về ứng dụng làm việc trực tuyến Teams của Microsoft. Ứng dụng này đã có thêm 12 triệu người dùng mới trong một tuần nhờ gia tăng số người làm việc tại nhà. Microsoft cho biết hiện có 44 triệu người dùng ứng dụng hàng ngày và 20 khách hàng có hơn 100.000 người dùng đăng nhập vào dịch vụ làm việc nhóm từ xa. Không rõ chính xác có bao nhiêu trong số 12 triệu người dùng mới đã trả tiền cho dịch vụ và bao nhiêu trong số đó là miễn phí. Gần đây, Microsoft đã mở khóa một số tính năng cao cấp cho người dùng dịch vụ miễn phí.

Số người làm việc tại nhà tăng dẫn đến sự gia tăng các ứng dụng như Microsoft Teams, Slack và dịch vụ hội nghị truyền hình Zoom.

Số lượt tải xuống toàn cầu của các ứng dụng làm việc nhóm trực tuyến bao gồm Tencent Conference, WeChat Work, Zoom, Microsoft Teams và Slack đã tăng gần năm lần kể từ đầu năm, khi dịch COVID-19 buộc các công ty thay đổi cách làm việc.

Điều này cho phép các nhóm lớn người kết nối trong khi làm việc ở các địa điểm xa – bao gồm cả nhà của họ.

Microsoft cho biết Teams đã có 44 triệu người dùng tính đến ngày 18/3, gấp đôi con số 20 triệu người dùng hoạt động hàng ngày mà gã khổng lồ phần mềm báo cáo vào tháng 11/2019. Số lượng người dùng hàng ngày tăng 37% chỉ trong một tuần từ 11/3 đến 18/3 – trùng với các lệnh phong tỏa được ban bố ở châu Âu và Mỹ.

Dữ liệu từ hãng phân tích Sensor Tower cho thấy, số lượt tải xuống toàn cầu của các ứng dụng làm việc nhóm trực tuyến bao gồm Tencent Conference, WeChat Work, Zoom, Microsoft Teams và Slack đã tăng gần năm lần kể từ đầu năm, khi dịch COVID-19 buộc các công ty thay đổi cách làm việc.

Theo công ty phân tích ứng dụng Sensor Tower, trong khi các ứng dụng như vậy thu hút 1,4 triệu người dùng mới trên App Store và Google Play trong tuần đầu tiên của tháng 1, thì nay con số đó đã nhảy vọt lên mức kỷ lục 6,7 triệu trong tuần đầu tiên của tháng 3.

(Nguồn: news.sky.com)
(Nguồn: news.sky.com)

Cùng với việc cung cấp các giải pháp tiện ích cho người dùng trực tuyến từ nhà, các công ty công nghệ còn chấp nhận hy sinh chất lượng dịch vụ  cho công tác phòng chống dịch bệnh.

Ngày 20/3, Netflix và YouTube thông báo giảm chất lượng hình ảnh mặc định của dịch vụ truyền phát video trực tuyến (Streaming video) tại châu Âu để giảm tải cho mạng Internet tại thị trường này trong bối cảnh nhu cầu truy cập mạng tăng mạnh khi hàng triệu khách hàng ở nhà do lo ngại lây lan dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Thông báo trên được đưa ra sau khi Ủy viên Kinh tế công nghệ Liên minh châu Âu (EU) Thierry Breton kêu gọi các hãng dịch vụ kết nối Internet chuyển đổi từ độ phân giải cao sang độ phân giải tiêu chuẩn như trước đây để giảm dung lượng các file truyền tải trong thời điểm mọi người dân đều mong muốn được truy cập Internet giải trí và đọc tin tức về dịch bệnh tại nhà.

EU muốn dành băng thông Internet để đối phó với các dịch vụ quan trọng như chăm sóc sức khỏe và học tập trực tuyến của hàng ngàn trẻ em ở nhà trong thời gian dịch COVID-19.

Khi ngày càng nhiều quốc gia áp dụng các biện pháp phong tỏa và cách ly, các trường học, cửa hàng và biên giới tạm đóng cửa, các hoạt động tụ tập cũng không được diễn ra, nhu cầu truy cập Internet của người dân trên toàn châu Âu ngày càng gia tăng.

Ủy viên Breton cho rằng những dịch vụ truyền phát trực tuyến dung lượng lớn, độ phân giải cao của những nhà mạng lớn như Netflix, Disney Plus, Hulu, HBO và Amazon là những yếu tố làm chậm đáng kể tốc độ kết nối mạng.

Cơ quan quản lý của EU muốn dành băng thông Internet để đối phó với các dịch vụ quan trọng như chăm sóc sức khỏe và học tập trực tuyến của hàng ngàn trẻ em ở nhà trong thời gian dịch COVID-19.

Chung tay ngăn chặn “bệnh dịch thông tin”

Facebook, Alphabet – công ty mẹ của Google, Microsoft, Twitter và Reddit cho biết đang hợp tác để cung cấp thông tin chính xác về virus SARS-CoV-2 và bệnh COVID-19 mà nó gây ra.

Theo một tuyên bố chung từ các tuyên bố chung của các công ty trên: “Chúng tôi sẽ giúp đỡ hàng triệu người kết nối đồng thời chống lại các hành vi lừa đảo và thông tin sai lệch về virus, tăng cường những nội dung chính thống trên các nền tảng của chúng tôi và chia sẻ các cập nhật quan trọng trong việc phối hợp với cơ quan chăm sóc sức khỏe của các chính phủ trên khắp thế giới.”

Mạng xã hội LinkedIn của Microsoft và YouTube của Google cũng là một phần của liên minh này.

Các gã khổng lồ công nghệ và mạng xã hội cho biết các công ty khác đều được chào đón tham gia nỗ lực của họ.

Một số công ty, bao gồm cả Facebook và YouTube, trước đó đã có những cam kết riêng rẽ chống lại thông tin sai lệch về COVID-19.

Aleksandra Kuzmanovic, người phụ trách mảng truyền thông xã hội của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết: “Trong hoàn cảnh cụ thể của dịch COVID-19, do sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng truyền thông xã hội những năm gần đây, thông tin phát tán còn nhanh hơn cả bản thân con virus này.”

Việc chia sẻ thông tin quá dễ dàng trên các ứng dụng khiến nhiều người không để ý đến tính chính xác của thông tin mà họ chia sẻ. Người ta chia sẻ thông tin vì tin rằng nó đúng, để rồi sau đó (hoặc không bao giờ) phát hiện ra rằng nó hoàn toàn sai lệch.

“Chúng tôi sẽ giúp đỡ hàng triệu người kết nối đồng thời chống lại các hành vi lừa đảo và thông tin sai lệch về virus, tăng cường những nội dung chính thống trên các nền tảng của chúng tôi.”

WHO đã phải gọi sự bùng phát của tin tức sai lệch liên quan đến COVID-19 với một thuật ngữ hoàn toàn mới nhưng rất sát nghĩa, “infodemic” (dịch bệnh thông tin). Theo WHO, infodemic là “tình trạng quá dư thừa thông tin – gồm cả thông tin chính xác và thông tin không chính xác – khiến mọi người rất khó tìm ra những nguồn tin đáng tin và chỉ dẫn tin cậy khi họ cần.”

Các nền tảng xã hội như Google (bao gồm cả YouTube), Facebook (bao gồm cả Whatsapp, Instagram) đã tung ra hàng loạt các công cụ giúp công chúng hiểu đúng và cập nhật những thông tin chính thống về COVID-19.

Ngày 18/3, Giám đốc điều hành Mark Zuckerberg đã tổ chức một cuộc họp báo trực tuyến công bố ra mắt “Trung tâm thông tin COVID-19.”

Trung tâm này sẽ xuất hiện ở đầu Nguồn cấp dữ liệu (News Feeds) của người dùng với thông tin chính thống từ các tổ chức như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC).

Giao diện trung tâm thông tin COVID-19 trên ứng dụng Facebook.
Giao diện trung tâm thông tin COVID-19 trên ứng dụng Facebook.

Italy, Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Mỹ và Anh sẽ là những quốc gia đầu tiên nhận được bản cập nhật Facebook có Trung tâm thông tin COVID-19 trong 24 giờ tới, và ra mắt toàn cầu trong vài ngày tới.

“Ưu tiên hàng đầu đối với chúng tôi là đảm bảo mọi người có thể truy cập vào thông tin về sự bùng phát của COVID-19 từ các nguồn đáng tin cậy,” ông Zuckerberg nói trong cuộc họp báo.

Trung tâm thông tin COVID-19 sẽ bao gồm các cập nhật tin tức theo thời gian thực từ các cơ quan y tế và các tổ chức uy tin trên toàn cầu, cũng như các bài báo, video và bài đăng về các khuyến nghị ngăn chặn sự lây lan của virus.

“Ưu tiên hàng đầu đối với chúng tôi là đảm bảo mọi người có thể truy cập vào thông tin về sự bùng phát của COVID-19 từ các nguồn đáng tin cậy.”Giám đốc điều hành Facebook Mark Zuckerberg

Trong khi đó, ngày 21/3, Google đã ra mắt một trang web phổ biến kiến thức về virus SARS-CoV-2 và đại dịch COVID-19 mà con virus này gây ra trên toàn cầu.

Trang web này cung cấp các mẹo giữ vệ sinh an toàn và thông tin chính thống về đại dịch.

Trang web có địa chỉ: google.com/covid19, “tập trung vào giáo dục, phòng ngừa và cung cấp các tài nguyên thông tin địa phương. Mọi người có thể tìm thấy thông tin dựa trên trạng thái, mẹo giữ an toàn và phòng ngừa, xu hướng tìm kiếm liên quan đến COVID-19 và các tài nguyên khác cho các cá nhân, nhà giáo dục và doanh nghiệp,” Google cho biết trong một bài đăng trên blog.

Gã khổng lồ tìm kiếm cũng cho biết rằng họ sẽ bắt đầu cung cấp những thông tin đáng tin cậy về virus trực tiếp trong kết quả tìm kiếm và trên Google Maps khi người Mỹ tìm kiếm các dịch vụ y tế.

Rõ ràng với sự chung tay, hỗ trợ từ các gã khổng lồ công nghệ, thế giới sẽ không thể bị chia cắt dù nhiều quốc gia đã phong tỏa biên giới, hạn chế đi lại, thay vào đó, nó góp phần giúp nhân loại đoàn kết hơn trong cuộc chiến chung chống lại đại dịch chết người./.

Những người mang lời thề Hippocrates

Những ngày này, đội ngũ nhân viên y tế cả nước đang từng ngày, từng giờ căng mình đối diện mọi khó khăn, thử thách, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng để phòng chống dịch COVID-19.

Thế nhưng, mang trong mình lời thề Hippocrates, khoác trên người bộ đồ bảo hộ, họ không hề nao núng, vẫn hàng ngày, hàng giờ miệt mài chăm sóc bệnh nhân.

Trong ngành y tế hiện có 89.000 bác sỹ và có 126.000 điều dưỡng trên toàn quốc.

Tâm sự của “bác sỹ F1”

Tính tới chiều 21/3, sau hơn 2 tháng chiến đấu với dịch bệnh, những y bác sỹ nơi tuyến đầu đã chữa khỏi cho 17 bệnh nhân.

Trong cuộc chiến với COVID-19, nhân viên y tế là những “chiến sỹ” ở tuyến đầu của mặt trận chống dịch và họ luôn là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong dịch bệnh.

Bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng khám cho bệnh nhân thứ 52 mắc bệnh COVID-19 tại Bệnh viện số 2. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng khám cho bệnh nhân thứ 52 mắc bệnh COVID-19 tại Bệnh viện số 2. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trong cuộc chiến với COVID-19, nhân viên y tế là những “chiến sỹ” ở tuyến đầu của mặt trận chống dịch và họ luôn là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong dịch bệnh.

“Việc đầu tiên khi vào đến khu cách ly là tháo đồng hồ trên tay, cất đi để không nhìn vào đó, đỡ sốt ruột. Hàng ngày, sau khi tham gia hội chẩn trực tuyến với đồng nghiệp qua thiết bị công nghệ thông minh, cố gắng tìm xem xung quanh mình có vật dụng gì bị hỏng để sửa chữa, càng khó càng hay,” bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh – người đang thực hiện nhiệm vụ là Giám đốc Bệnh viện số 2 (nơi điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh COVID-19 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh) chia sẻ.

Là bác sỹ, ông Hùng hiểu hơn ai hết nỗi lo của xã hội khi có dịch. Với “cuộc chiến” dài ngày này, ông bảo, đội ngũ y-bác sỹ được tăng cường cho hai Bệnh viện dã chiến của tỉnh Quảng Ninh, ai cũng trong tâm lý sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Ngày 8/3 vừa qua, bác sỹ Hùng bắt đầu chuỗi 14 ngày trong khu cách ly của Bệnh viện số 2 dành cho người thuộc diện F1 tiếp xúc gần với bệnh nhân COVID-19 (4 bệnh nhân người nước ngoài trên chuyến bay VN0054 từ London về Nội Bài ngày 2/3 được phát hiện ở Quảng Ninh).

[Video]: Bác sỹ tại “tâm dịch” Quảng Ninh chia sẻ việc điều trị cho các bệnh nhân COVID-19:

Tiếp đó, vào ngày 13/3, Bệnh viện số 2 tiếp nhận thêm bệnh nhân 52 là hành khách trên chuyến bay từ London về Việt Nam ngày 9/3. Ngày 13/3, bệnh nhân được lấy mẫu và làm xét nghiệm tại Quảng Ninh cho kết quả dương tính. Sáng 14/3, mẫu bệnh phẩm được gửi lên Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, kết quả dương tính với SARS-CoV-2. Bác sỹ Hùng và những người đồng nghiệp lại bắt tay vào một giai đoạn tiếp theo điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại tỉnh.

Hơn mười ngày thực hiện việc cách ly tại bệnh viện, bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng chia sẻ, 59 tuổi, 35 năm trong nghề y, chưa bao giờ ông thức dậy sau 6 giờ và cũng hiếm khi được nghỉ 2 ngày liên tiếp. Vì vậy, ông coi quãng thời gian cách ly 2 tuần là dịp để “sống chậm một chút.” Bởi lẽ, ông “vẫn tham gia điều hành bệnh viện chứ không ngồi một chỗ. Không tiếp xúc với bên ngoài, chứ vẫn tham gia hội chẩn trực tuyến, điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19.”

(Ảnh: PV/Vietnam+)
(Ảnh: PV/Vietnam+)

Hơn mười ngày thực hiện việc cách ly tại bệnh viện, bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng chia sẻ, 59 tuổi, 35 năm trong nghề y, chưa bao giờ ông thức dậy sau 6 giờ và cũng hiếm khi được nghỉ 2 ngày liên tiếp. Vì vậy, ông coi quãng thời gian cách ly 2 tuần là dịp để “sống chậm một chút.”

“Sinh nghề tử nghiệp! Đã vào nghề này thì chúng tôi xác định phải là lực lượng để người dân nhìn vào, để cho người dân yên tâm, nếu dịch có xảy ra thì người bệnh cũng có chỗ để gửi gắm sự tin tưởng. Đó là điều hạnh phúc của nhất của những người làm ngành y,”  bác sỹ Hùng bộc bạch.

Trong khi đó, chia sẻ về vấn đề trường hợp nhân viên y tế mắc bệnh COVID-19, giáo sư Tạ Thành Văn – Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho hay: “Chúng tôi đã lường trước một ngày nào đó thấy nhân viên y tế, sinh viên của trường dương tính với SARS-CoV-2. Với chúng tôi, đây không phải là điều bất ngờ bởi họ cũng chỉ là người dân bình thường. Đi siêu thị, họ cũng có thể gặp 1 nguồn lây và dễ dàng nhiễm bệnh ngay huống chi hàng ngày hàng giờ phải tiếp xúc với nhiều đối tượng có nguy cơ rất lớn.”

Buổi giao ban của các bác sỹ tại Bệnh viện số 2 của tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.T/Vietnam+)
Buổi giao ban của các bác sỹ tại Bệnh viện số 2 của tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.T/Vietnam+)

“Chúng tôi đã lường trước một ngày nào đó thấy nhân viên y tế, sinh viên của trường dương tính với SARS-CoV-2. Với chúng tôi, đây không phải là điều bất ngờ bởi họ cũng chỉ là người dân bình thường. Đi siêu thị, họ cũng có thể gặp 1 nguồn lây và dễ dàng nhiễm bệnh.”

Theo thống kê của Bộ Y tế, trong ngành y tế hiện có 89.000 bác sỹ và có 126.000 điều dưỡng trên toàn quốc. Đây là nguồn nhân lực rất quý giá để Việt Nam có thể sử dụng hiệu quả tham gia vào khoanh vùng dập dịch và điều trị cho người bệnh.

Sinh viên Y sẵn sàng vào điểm nóng

Trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh COVID-19, bên cạnh những nhân viên y tế đang ngày ngày nỗ lực cứu chữa chăm sóc người bệnh, những sinh viên ngành y cũng đang là các chiến sỹ xung kích với tinh thần: “Đâu cần sinh viên y có, đâu khó có sinh viên y.”

Giáo sư Tạ Thành Văn cho hay kể từ khi dịch bệnh bùng phát, ngoài nhiệm vụ học tập phục vụ bệnh nhân, các sinh viên của trường còn có nhiều hoạt động hỗ trợ ngành y tế. Nhà trường đã tổ chức các đoàn cán bộ sinh viên của trường tham gia các công việc trong phòng chống.

Sinh viên trường y trong buổi ra quân hỗ trợ Sở Y tế Hà Nội và ngành y tế chống dịch COVID-19.(Ảnh: PV/Vietnam+)
Sinh viên trường y trong buổi ra quân hỗ trợ Sở Y tế Hà Nội và ngành y tế chống dịch COVID-19.(Ảnh: PV/Vietnam+)

Giáo sư Văn phân tích: “Là trường đại học chuyên ngành sức khỏe, chúng tôi xác định có trách nhiệm chung tay cùng Chính phủ và Bộ Y tế bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nhất là trong bối cảnh dịch đang lan rộng là lúc ngành y tế đang cần rất nhiều nhân lực.”

Trong thời gian qua thầy, trò của Trường Đại học Y Hà Nội được huy động tham gia công tác phòng, chống dịch trên địa bàn Thủ đô, theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 và đề nghị của Sở Y tế Hà Nội.

Tới nay, đã có 124 sinh viên năm cuối hệ y tế dự phòng của trường tình nguyện viết đơn đăng ký và tham gia hỗ trợ Hà Nội phòng, chống dịch COVID-19; có 2 đợt các bác sỹ, nhân viên y tế của Trường đại Học Y Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tham gia lấy mẫu, phân loại bệnh nhân ở Sân bay Nội Bài. Họ đã làm việc từ 4 giờ chiều đến 1-2  giờ sáng, bất kể thời gian. Hiện nay những đội quân xung kích đó vẫn túc trực lấy mẫu xét nghiệm…

Tới nay, đã có 124 sinh viên năm cuối hệ y tế dự phòng của trường tình nguyện viết đơn đăng ký và tham gia hỗ trợ Hà Nội phòng, chống dịch COVID-19,

“Các sinh viên sẽ tham gia nhiều công việc phòng, chống COVID-19 như điều tra dịch tễ học các trường hợp về từ vùng dịch; thu thập thông tin, nhập số liệu vào máy tính, thu thập mẫu xét nghiệm; giám sát vệ sinh khử khuẩn chống dịch…,” giáo sư Văn cho biết thêm.

Trước câu hỏi về việc nhà trường liệu có lo ngại trường hợp nhân viên y tế và sinh viên bị cách ly hay mắc bệnh COVID-19?, giáo sư Văn thẳng thắn: “Nếu chúng tôi lo sợ thì đã không cử sinh viên và con em mình đi. Chúng tôi hiểu cấu trúc gene, dịch tễ học, lâm sàng, diễn biến của virus gây bệnh COVID-19 từ đó dựa trên nghiên cứu khoa học, quyết định sinh viên vẫn đi học bình thường.”

“Các sinh viên trường y tham gia chống dịch là chuyện rất bình thường. Khi dịch bệnh ở một giai đoạn khác, ngành y tế huy động thêm, chúng tôi sẵn sàng tiếp ứng và tham gia với lực lượng sinh viên sau đại học, bác sỹ nội trú các chuyên ngành khác nhau. Trường Y còn có 6.000 sinh viên sau đại học, còn lớp bác sỹ nội trú, chuyên gia y tế trong nhiều lĩnh vực. Tất cả đều sẵn sàng,” giáo sư Văn khẳng định.

[Video]: Sinh viên trường Đại học Y Hà Nội tiếp sức mùa dịch:

Ông cũng cho biết  Đại học Y Hà Nội đã xây dựng kịch bản để ứng phó. Các thầy thuốc chắc chắn sẽ không chùn bước trước dịch bệnh. Họ sẽ luôn có mặt ở tuyến đầu trong cuộc chiến sinh tử với “giặc COVID-19.”

 Đại học Y Hà Nội đã xây dựng kịch bản để ứng phó. Các thầy thuốc chắc chắn sẽ không chùn bước trước dịch bệnh. Họ sẽ luôn có mặt ở tuyến đầu trong cuộc chiến sinh tử với “giặc COVID-19.”

Theo các dự báo, đại dịch COVID-19 còn sẽ diễn biến phức tạp trong thời gian tới. Và, dù biết khó khăn, nguy hiểm trước mắt nhưng những người mặc áo blouse trắng luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ với quyết tâm cao nhất. Và có lẽ, điều họ cần bây giờ chính là sự ủng hộ tinh thần từ cộng đồng. Đây sẽ là liều thuốc tốt nhất giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc chiến còn nhiều cam go ấy…/.

Ngày 20/3, Bộ Y tế thông báo hai nhân viên y tế đầu tiên của Việt Nam mắc COVID-19.

Đó là hai nữ điều dưỡng của Bệnh viện Bạch Mai gồm một người 54 tuổi làm ở phòng khám ngoại trú HIV và một người 34 tuổi làm công việc tiếp đón bệnh nhân ở Phòng khám sàng lọc, đều thuộc Trung tâm Bệnh Nhiệt đới của Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

Theo thông tin từ Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, hơn 200 người có liên quan tới 2 ca bệnh nói trên bước đầu có kết quả âm tính.

Trong khi đó, tính tới chiều 21/3, Việt Nam ghi nhận 91 ca bệnh mắc COVID-19. Có 17 trường hợp đã khỏi bệnh, chưa có trường hợp tử vong.

Theo dõi sức khỏe cho bệnh nhân số 52 mắc COVID-19 tại Bệnh viện số 2, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Theo dõi sức khỏe cho bệnh nhân số 52 mắc COVID-19 tại Bệnh viện số 2, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Поиск рынков для сельхозпродукции –

Сельское хозяйство Вьетнама добилось многих достижений в своей деятельности, а производительность и выпуск сельхозпродукции постоянно растут, не только удовлетворяя внутренний спрос, но и внося существенный вклад в экспортный оборот. Однако большая часть сельхозпродукции Вьетнама потребляется и экспортируется в сыром и свежем виде с низкой ценой и большими рисками. В этом контексте стимулирование внутреннего потребления и переработки рассматриваются как ключ к повышению цены и обеспечению стабильного рынка сбыта для сельхозпродукции.

В первые месяцы 2020 года экспорт товаров в целом и экспорт сельхозпродукции в частности понесли значительные убытки в связи с эпидемией COVID-19. В таких сложных условиях многие предприятия в городе Хошимин активно изучают и инициативно разрабатывают новые продукты, способствующие росту потребления сельхозпродукции и повышению ее конкурентоспособности.

Экспорт свежей сельскохозяйственной продукции сталкивается со многими трудностями

Согласно данным Министерства промышленности и торговли Вьетнама, экспорт овощей и фруктов в феврале 2020 года достиг 200 млн. долл. США, что на 28,8% меньше, чем в январе, и на 12,6% меньше по сравнению с аналогичным периодом 2019 года.

Генеральный секретарь Вьетнамской ассоциации производителей фруктов и овощей Данг Фук Нгуен сказал, что на китайский рынок приходится 60-70% годового оборота экспорта овощей и фруктов из Вьетнама, однако из-за воздействия эпидемии COVID-19 экспорт на этот рынок был прерван.

Если эпидемия затянется, то экспортный оборот фруктов и овощей из Вьетнама в этом году может значительно сократиться.

Переработка драконних фруктов для экспорта. (Фото: Буй Жанг/ВИА)
Переработка драконних фруктов для экспорта. (Фото: Буй Жанг/ВИА)

Директор Вьетнамской академии сельскохозяйственных наук Нгуен Хонг Шон сказал, что в условиях сложного распространения эпидемии COVID-19 во многих регионах мира, в том числе на основных экспортных рынках Вьетнама, экспорт свежих сельскохозяйственных продуктов, овощей и фруктов из Вьетнама в ближайшие месяцы столкнется со многими трудностями.

С другой стороны, поскольку уровень производства сельского хозяйства у вьетнамских фермеров пока еще находится в переходном периоде от традиционного производства к стандартному производству, поэтому сельхозпродукция не соответствует требованиям рынков многих стран. Поиск же альтернативных рынков в короткие сроки неосуществим.

Вьетнамская ассоциация производителей овощей и фруктов также рекомендует фермерам учитывать масштабы производства и производить сельхозпродукцию в “умеренном” количестве, которое соответствует внутреннему спросу и позволяет сохранить цены на сельскохозяйственную продукцию. Сейчас то время, когда фермеры должны дать земле “отдохнуть” для восстановления питательных веществ в почве, дождаться окончания эпидемии и восстановления спроса на рынках, после чего производство может увеличиться.

Когда пищевой бизнес вступает за дело

В последнее время многие вьетнамские потребители ищут новые продукты, такие как вермишель из арбузного сока, или рисовая бумага из сока драконего фрукта. Эти продукты востребованы многими потребителями из-за их привлекательных цветов и особых фруктовых вкусов.

Директор ТОО по импорту и экспорту продуктов питания “Зуи-ань” Ле Зуи Тоан сказал, что, в рамках помощи фермерам в реализации их арбузов и плодов драконего фрукта, ему пришла в голову идея попробовать использовать арбузный сок и сок плодов драконего фрукта в производстве вермишели и рисовой бумаги.

Производство вермишеля на соке арбуза в компании “Зуи-ань”. (Фото: ВИА)
Производство вермишеля на соке арбуза в компании “Зуи-ань”. (Фото: ВИА)

“Как предприятие пищевой промышленности, ТОО “Зуи-ань” производит вермишель из арбузного сока и рисовую бумагу из сока плодов драконего фрукта не только для того, чтобы помочь фермерам продать свою сельскохозяйственную продукцию в краткосрочной перспективе, но и рассматривает новое производство как стратегию разработки новых ценных продуктов и роста своего бизнеса”, – сказал он.

В среднем за день ТОО “Зуи-ань” использует 1 – 1,2 тонны арбузов и 300 кг драконего фрукта для производства вермишели и рисовой бумаги. По сравнению с традиционными видами вермишели и рисовой бумаги (изготовленными из рисовой муки и воды) затраты на производство вермишели из арбузного сока и рисовой бумаги из сока драконего фрукта примерно на 30% выше.

Однако после выхода на рынок эти продукты получили очень положительные отзывы как от отечественных, так и от зарубежных потребителей. В настоящее время ТОО “Зуи-ань” получила заказ на экспорт вермишели из арбузного сока и рисовой бумаги из сока драконего фрукта в Южную Корею, Канаду, США…

Запуск новых линий продуктов традиционными компаниями является «ярким моментом» экономики на фоне борьбы страны с эпидемией COVID-19.

Председатель Ассоциации предпринимателей города Хошимина Тью Тиен Зунг считал, что предприятие, смело исследующее и выпускающее новые продукты из сельхозпродукции, является «ярким моментом» экономики на фоне ее борьбы с эпидемией COVID-19. Такие идеи не только помогают фермерам продать сельхозпродукцию, но и создают новые виды продуктов питания на рынке.

Реализация вышеупомянутой идеи хоть и создала положительный эффект, однако предприятиям в ближайшее время станет все труднее потреблять излишки сельхозпродукции из-за ее перепроизводства. Поэтому ключом к решению проблемы поиска рынков сбыта сельхозпродукции должно быть стимулирование внутреннего потребления и методическое инвестирование в развитие перерабатывающей промышленности.

Упаковка фермишеля из арбуза в компании “Зуи-ань”. (Фото: ВИА)
Упаковка фермишеля из арбуза в компании “Зуи-ань”. (Фото: ВИА)

Организация рационального производства и потребления

Директор Вьетнамской академии сельскохозяйственных наук Нгуен Хонг Шон считал, что внутренний спрос на сельхозпродукцию вообще, и на овощи и фрукты в отдельности, очень высок. Однако из-за эффекта интеграционного процесса все еще существует явление, когда предприятия слишком увлекаются экспортом и уделяют мало внимания внутреннему рынку. Когда возникают проблемы с экспортом, предприятия изо всех сил пытаются найти выход на внутренний рынок. Но увы, им теперь приходилось конкурировать с большим количеством импортных продуктов.

Когда возникают проблемы с экспортом, предприятия изо всех сил пытаются найти выход на внутренний рынок. Но увы, им теперь приходилось конкурировать с большим количеством импортных продуктов.

Эксперты отмечают, что в условиях сложной эпидемии потребительский спрос на некоторых зарубежных рынках локально снизился из-за ограниченной торговли, поэтому отечественным сельхозпроизводителям необходимо организовать разрозненное производство в течение нескольких сезонов в году, применяя разумные методы для регулирования баланса предложения их сельхозпродукции.

Однако разрозненное производство и методы для регулирования баланса предложения должны быть скоординированы между разными провинциями таким образом, чтобы достичь наибольшую эффективность.

Менеджер по продажам продуктов питания при Союзе коммерческих кооперативов города Хошимина “Saigon Co.op” Нгуен Ву Тоан заявил о высоком потенциале внутреннего потребления, подчеркнув, что спрос на фрукты и овощи у вьетнамцев растет с каждым днём.

Тем не менее, потребление сельхозпродуктов во Вьетнаме по-прежнему сталкивается со многими проблемами. В частности, большинство сельхозпродуктов в стране производятся в небольших масштабах, поэтому их качество неравномерно и его сложно контролировать.

Люди покупают дуриан на помощь фермерам в дельте реки Кыулонг, город Хынг-иен, 17 февраля 2020 года. (Фото Фам Киен/ВИА)
Люди покупают дуриан на помощь фермерам в дельте реки Кыулонг, город Хынг-иен, 17 февраля 2020 года. (Фото Фам Киен/ВИА)

Кроме того, все еще существует феномен, когда фермеры спешат произвести несколько видов одних и тех же сельхозкультур, не заботясь о том, как и куда продать свою продукцию. Это приводит к резкому росту производства продукции, превышению предложения над спросом – и соответственно к падению цены на эту продукцию.

Поэтому для стимулирования внутреннего потребления фермерам и предприятиям необходимо организовать разумное производство с учетом потребностей и стандартов рынка, обеспечивающих единообразие и стабильность качества выпускаемой продукции.

Пропорциональное инвестирование в переработку сельхозпродукции

Министерство промышленности и торговли прогнозирует, что в сложных условиях развития эпидемии COVID-19 экспорт фруктов, овощей и другой свежей сельхозпродукции столкнется с трудностями. Однако переработанные продукты, такие как консервированные, замороженные и сушеные, будут активно потребляться на многих рынках в ближайшем будущем благодаря удобству транспортировки и потребления.

Генеральный секретарь Вьетнамской ассоциации производителей фруктов и овощей Данг Фук Нгуен сказал, что в настоящее время доля переработанных фруктов и овощей во Вьетнаме составляет всего около 5% от общего объема выращенных овощей и фруктов. Хотя проектная мощность наших перерабатывающих предприятий может достигать 10%, однако из-за нестабильного источника сырья, нестабильных цен и его качества наши предприятия пока не могут полноценно работать.

На конвейере по поизводству сушенных драконих фруктов завода “Nafood” (община Дыкхоа, провинция Лонг-ан). (Фото: Буй Жанг/ВИА)
На конвейере по поизводству сушенных драконих фруктов завода “Nafood” (община Дыкхоа, провинция Лонг-ан). (Фото: Буй Жанг/ВИА)

По словам директора Сельскохозяйственного кооператива “Суандинь” (провинция Донгнай) Данг Тхи Тхюи Нга, как только производство достигает определенных масштабов, покупка свежих сельскохозяйственных продуктов не может гарантировать стабильный рынок для фермеров.

На самом деле закупающие предприятия не имеют складских помещений и перерабатывающих производств. Эти предприятия только закупают, а затем распределяют и экспортируют продукты в свежем виде. Со своей стороны, из-за нехватки складских и консервационных помещений многие перерабатывающие заводы работают только с высокой мощностью в течение основного времени сбора урожая. Это снижает операционную эффективность завода, увеличивает его эксплуатационные расходы и амортизацию производственных линий.

Хотя проектная мощность наших перерабатывающих предприятий может достигать 10%, однако из-за нестабильного источника сырья, нестабильных цен и его качества наши предприятия пока не могут полноценно работать.

Поэтому эксперты подчеркивают, что для того, чтобы устранить вышеуказанные недостатки и способствовать развитию перерабатывающей промышленности, сельскохозяйственная отрасль должна организовать и перепланировать производственную деятельность в направлении производства крупных объемов товаров.

Параллельно, у государства должна быть конкретная политика поддержки для того, чтобы побуждать предприятия вкладывать средства в строительство своих складов. Кроме того, государство должно помочь регулировать предложение и поддерживать постоянный источник сырья для развития производств глубокой переработки./.

Giải quyết đầu ra cho nông sản

Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong sản xuất; năng suất và sản lượng nông sản không ngừng tăng lên, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, phần lớn nông sản Việt Nam đang được tiêu thụ, xuất khẩu dưới dạng thô, tươi sống với giá trị thấp và dễ gặp rủi ro. Trong bối cảnh đó, thúc đẩy tiêu thụ nội địa và chế biến được coi là chìa khóa giúp nâng cao giá trị và đảm bảo đầu ra ổn định cho nông sản.

Những tháng đầu năm 2020, hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng đã gánh chịu những thiệt hại không nhỏ từ dịch COVID-19. Trong hoàn cảnh khó khăn đó, nhiều doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới góp phần tiêu thụ nông sản cho người nông dân và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Xuất khẩu tươi gặp khó

Theo số liệu của Bộ Công Thương, xuất khẩu hàng rau quả trong tháng 2/2020 đạt 200 triệu USD, giảm 28,8% so với tháng 1 và giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2019. Lũy kế trong 2 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu hàng rau quả ước đạt 481 triệu USD, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết thị trường Trung Quốc chiếm tới 60-70% kim ngạch xuất khẩu rau quả hằng năm của Việt Nam, song do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên có thời điểm việc xuất khẩu sang thị trường này bị gián đoạn.

Đến nay, mặc dù hoạt động thương mại đã được nối lại nhưng do yêu cầu kiểm soát dịch bệnh và sức tiêu thụ giảm nên sản lượng và giá trị xuất khẩu nhiều loại rau quả tươi vẫn còn thấp dẫn đến nhiều mặt hàng như thanh long, dưa hấu, sầu riêng… bị ứ đọng. Nếu dịch bệnh kéo dài thì kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm nay có thể bị sụt giảm đáng kể.

Chế biến thanh long để xuất khẩu. (Ảnh: Bùi Giang/TTXVN)
Chế biến thanh long để xuất khẩu. (Ảnh: Bùi Giang/TTXVN)

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, trong khi thanh long có thể xuất khẩu sang một số thị trường khác ngoài Trung Quốc thì dưa hấu, sầu riêng… chỉ mới xuất khẩu sang Trung Quốc, do đó khi thị trường Trung Quốc gặp sự cố, một lượng lớn dưa hấu Việt Nam bị ứ đọng và đang phải hỗ trợ tiêu thụ.

Mặc dù chưa vào chính vụ nhưng nhiều nhà vườn trồng sầu riêng đã bắt đầu lo lắng. Bà Đặng Thị Thúy Nga, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Xuân Định, tỉnh Đồng Nai thông tin hiện nay, sầu riêng đang ra trái hàng loạt, dự tính vài tháng nữa sẽ cho thu hoạch số lượng lớn. Đáng chú ý, đầu ra của các vùng trồng sầu riêng lớn hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào thương lái thu mua xuất đi Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Nếu giao thương khó khăn và thị trường Trung Quốc không sớm khôi phục sức mua thì khả năng sầu riêng vào vụ chính cũng gặp tình trạng tương tự như dưa hấu hiện nay.

Ông Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho rằng với tình hình dịch COVID-19 tiếp tục lan rộng và diễn biến phức ở nhiều khu vực, trong đó có các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Đông Á, châu Âu…, xuất khẩu nông sản, rau quả tươi sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong những tháng tới.

Mặt khác, do trình độ canh tác của nông dân Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất theo tiêu chuẩn nên sản phẩm nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường nhiều nước, vì vậy việc tìm kiếm thị trường thay thế trong thời gian ngắn là chưa khả thi.

Trong bối cảnh hiện nay, nông dân cần nắm chắc diễn biến dịch bệnh để điều tiết sản xuất, thực hiện rải vụ, cân đối cung cầu, tránh dư thừa sản lượng gây ứ đọng cục bộ.

Hiệp hội Rau quả Việt Nam cũng khuyến cáo nhà vườn cân nhắc quy mô sản xuất, chỉ canh tác “cầm chừng” đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước để giữ giá cho nông sản. Đây cũng là thời gian người dân nên cho đất nghỉ ngơi, phục hồi dinh dưỡng đến khi dịch bệnh qua đi và nhu cầu thị trường phục hồi có thể tăng cường sản xuất.

Khi doanh nghiệp thực phẩm vào cuộc

Thời gian gần đây, các sản phẩm bún dưa hấu, bánh tráng thanh long đang được nhiều người tiêu dùng quan tâm tìm mua bởi màu sắc bắt mắt và hương vị trái cây đặc biệt. Đó là sản phẩm mới của Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thực phẩm Duy Anh, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Anh Lê Duy Toàn, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thực phẩm Duy Anh cho biết xuất phát từ việc mua dưa hấu, thanh long ủng hộ các vựa trái cây tiêu thụ nông sản, anh đã nảy ra ý tưởng thử dùng nước ép dưa hấu và thanh long vào sản xuất bún, bánh tráng để gia tăng hương vị và màu sắc cho sản phẩm.

Dưa hấu, thanh long thu mua trực tiếp từ nông dân ở Long An, Gia Lai và Bình Thuận, sau khi gọt vỏ, bỏ hạt, được ép lấy nước cốt, dùng thay thế một phần nước trong công thức chế biến bún khô và bánh tráng. Bún được làm từ bột gạo và nước cốt dưa hấu màu đỏ sau khi sấy khô lại cho ra màu cam lạ mắt, khi chế biến có mùi thơm của dưa hấu. Trong khi đó, bánh tráng thanh long được làm từ bột gạo và nước ép thanh long ruột đỏ cho ra sản phẩm có màu hồng bắt mắt và vị ngọt nhẹ.

Sản xuất bún dưa hấu tại Công ty Thực phẩm Duy Anh. (Ảnh: TTXVN)
Sản xuất bún dưa hấu tại Công ty Thực phẩm Duy Anh. (Ảnh: TTXVN)

“Là một doanh nghiệp trong ngành thực phẩm, Duy Anh sản xuất bún dưa hấu, bánh tráng thanh long không chỉ vì muốn ‘giải cứu’ nông sản trong ngắn hạn mà xem đó là một chiến lược phát triển sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp. Đồng thời, đa dạng hóa sản phẩm giúp người tiêu dùng có thêm nhiều lựa chọn trong việc chế biến món ăn”, anh Lê Duy Toàn chia sẻ.

Trung bình mỗi ngày, công ty Duy Anh đang tiêu thụ từ 1-1,2 tấn dưa hấu và 300kg thanh long ruột đỏ vào việc chế biến bún và bánh tráng. So với các sản phẩm bún khô, bánh tráng truyền thống (làm từ bột gạo và nước) thì chi phí sản xuất bún dưa hấu, bánh tráng thanh long cao hơn khoảng 30%.

Tuy nhiên, sau một thời gian đưa ra thị trường, các sản phẩm này nhận được phản hồi rất tích cực từ cả người tiêu dùng trong nước lẫn nước ngoài. Hiện nay, Công ty Duy Anh đã nhận được đơn hàng xuất khẩu bún dưa hấu, bánh tráng thanh long đi Hàn Quốc, Canada, Mỹ…

Ngoài Công ty Duy Anh, nhiều doanh nghiệp khác cũng đã tham gia hỗ trợ tiêu thụ nông sản bằng công nghệ chế biến. Bà Huỳnh Kim Chi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Việt Nam Kỹ nghệ bột mỳ (Vikybomi) thông tin doanh nghiệp này đã hoàn thiện công thức sản xuất các sản phẩm từ bột mì kết hợp với các loại trái cây như thanh long, dưa hấu.

Theo bà Huỳnh Kim Chi, thời gian gần đây, khi nhiều loại nông sản tươi bị ứ đọng, giá nông sản giảm sâu do ảnh hưởng của dịch COVID-19, bà và các chuyên gia chế biến của công ty đã nghiên cứu công thức và làm thử nghiệm các sản phẩm bánh mì da beo kết hợp với thanh long ruột đỏ, mỳ tươi thanh long…

Các sản phẩm này đã được giới thiệu ra thị trường để thăm dò ý kiến người tiêu dùng và nhận được phản hồi rất tích cực, đặc biệt là mì tươi thanh long hiện rất hút khách.

Việc doanh nghiệp mạnh dạn nghiên cứu và cho ra sản phẩm chế biến mới từ các loại nông sản là “điểm sáng” trong bối cảnh cả nền kinh tế phải  gồng mình ứng phó với dịch COVID-19 

“Do đặc thù là nhà cung cấp nguyên liệu nên sắp tới, chúng tôi sẽ không trực tiếp chế biến và phân phối bánh mì thanh long, mỳ tươi thanh long mà sẽ chuyển giao miễn phí công thức sản xuất các sản phẩm trên đến các doanh nghiệp chế biến có nhu cầu phát triển sản phẩm. Như vậy, số lượng nông sản được tiêu thụ sẽ tăng thêm nhiều lần so với mức khoảng 500-600kg thanh long/ngày hiện nay của công ty. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm các công thức chế biến sản phẩm mới từ nông sản để góp phần hỗ trợ bà con nông dân,” bà Chi chia sẻ.

Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá việc doanh nghiệp mạnh dạn nghiên cứu và cho ra sản phẩm chế biến mới từ các loại nông sản là “điểm sáng” trong bối cảnh cả nền kinh tế phải gồng mình tìm cách ứng phó với dịch COVID-19. Những ý tưởng trên không chỉ hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản mà còn tạo ra sự đa dạng, phong phú về chủng loại sản phẩm. Đó cũng là minh chứng cho thấy tính nhạy bén và khả năng sáng tạo của doanh nghiệp trong việc biến khó khăn, thách thức thành cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh cho chính mình.

Đóng gói bún dưa hấu tại Công ty Thực phẩm Duy Anh. (Ảnh: TTXVN)
Đóng gói bún dưa hấu tại Công ty Thực phẩm Duy Anh. (Ảnh: TTXVN)

Mặc dù những mô hình, ý tưởng đưa nông sản vào các sản phẩm truyền thống của một số doanh nghiệp thực phẩm đã tạo nên tín hiệu lạc quan nhưng khó có thể tiêu thụ hết lượng nông sản tồn đọng hiện tại và bao tiêu được toàn bộ nông sản sản xuất thời gian tới. Do đó, chìa khóa giải quyết đầu ra lâu dài cho nông sản phải là thúc đẩy tiêu thụ nội địa và đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến một cách bài bản.

Tổ chức sản xuất-tiêu thụ hợp lý

Ông Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng nhu cầu tiêu thụ nông sản, rau quả trong nước là rất lớn nhưng do hiệu ứng từ quá trình hội nhập, vẫn có hiện tượng doanh nghiệp mải mê với xuất khẩu mà ít quan tâm tới thị trường trong nước. Đến khi xuất khẩu gặp vấn đề, doanh nghiệp mới loay hoay tìm về sân nhà thì đã phải cạnh tranh với rất nhiều sản phẩm ngoại nhập.

“Người sản xuất và cả doanh nghiệp thương mại cần thay đổi quan niệm cho rằng thị trường trong nước là thị trường ‘dễ tính,’ yêu cầu chất lượng thấp. Thực tế hiện nay, người dân rất quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm và có nhu cầu sử dụng sản phẩm chất lượng cao, đó là lý do ngày càng nhiều sản phẩm nhập khẩu được ưa chuộng,” ông Nguyễn Hồng Sơn nhấn mạnh.

Người sản xuất và cả doanh nghiệp thương mại cần thay đổi quan niệm cho rằng thị trường trong nước là thị trường ‘dễ tính,’ yêu cầu chất lượng thấp

Các chuyên gia khuyến cáo trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp, nhu cầu tiêu dùng ở một số thị trường giảm cục bộ do việc giao thương bị hạn chế, các địa phương cần tổ chức sản xuất theo hình thức rải vụ, áp dụng các kỹ thuật để điều tiết cân đối nguồn cung hợp lý.

Ví dụ như cây thanh long rất dễ để điều tiết sản lượng, mùa vụ theo chu kỳ chiếu đèn, tùy vào nhu cầu thị trường cần tổ chức chiếu đèn luân phiên để cân đối cung cầu, giữ được giá bán và lợi nhuận cho người nông dân. Nhưng việc rải vụ, điều tiết sản xuất phải được phối hợp thực hiện giữa nhiều địa phương mới mang lại hiệu quả cao.

Thông tin về tiềm năng tiêu thụ trong nước, ông Nguyễn Vũ Toàn, Giám đốc kinh doanh hàng Thực phẩm Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) cho biết nhu cầu sử dụng rau củ quả của người dân Việt Nam ngày càng tăng.

Trung bình, mỗi ngày hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm của Saigon Co.op ghi nhận mức tiêu thụ hơn 200 tấn rau củ quả. Nếu cộng dồn khối lượng tiêu thụ tại các hệ thống siêu thị bán lẻ khác thì con số sẽ cao hơn nhiều lần, nhưng số lượng này cũng mới phản ánh khoảng 15 -20% tổng nhu cầu tiêu dùng của thị trường nội địa vì kênh phân phối chợ truyền thống vẫn đang chiếm hơn 80% thị phần.

Người dân tập trung mua sầu riêng 'giải cứu' cho nông dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ngày 17/2/2020 tại thành phố Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Người dân tập trung mua sầu riêng ‘giải cứu’ cho nông dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ngày 17/2/2020 tại thành phố Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)

Tuy nhiên, việc kết nối tiêu thụ nông sản của Việt Nam vẫn đang gặp nhiều thách thức, cụ thể, phần lớn nông sản được sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún nên thiếu sự đồng đều và khó kiểm soát được chất lượng. Tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật cả chủ động và bị động vẫn còn phổ biến khiến nông sản không đủ tiêu chuẩn tiếp cận các hệ thống phân phối hiện đại và làm giảm niềm tin của người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, vẫn còn hiện tượng người dân đổ xô sản xuất theo phong trào một vài loại cây trồng mà không quan tâm đến đầu ra khiến sản lượng tăng vọt, cung vượt cầu, nông sản rớt giá.

Do đó, muốn thúc đẩy tiêu thụ nội địa, nông dân, doanh nghiệp cần tổ chức sản xuất hợp lý, dựa trên nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường, đảm bảo sự đồng đều và ổn đinh về chất lượng cũng như sản lượng; phải cắt giảm được chi phí trung gian trong việc thu mua, vận chuyển, bảo quản thì nông sản Việt Nam mới có thể cạnh tranh với nông sản nhập khẩu.

Đầu tư tương xứng cho chế biến

Bộ Công Thương dự báo trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, việc xuất khẩu các sản phẩm rau quả, nông sản tươi sẽ gặp khó khăn nhưng sản phẩm chế biến như đồ hộp, đông lạnh, rau củ sấy sẽ được tiêu thụ mạnh ở nhiều thị trường trong thời gian tới nhờ tiện lợi trong vận chuyển và tiêu dùng.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam nêu thực tế hiện nay, tỷ lệ rau quả chế biến của Việt Nam mới chiếm khoảng 5% tổng sản lượng trồng được. Mặc dù công suất thiết kế các nhà máy chế biến có thể đạt 10% nhưng do nguồn nguyên liệu không tập trung, giá cả và chất lượng nguyên liệu không ổn định nên chưa vận hành hết công suất.

Thanh long được sơ chế để chế biến thành sản phẩm sấy dẻo ở nhà máy Nafood (huyện Đức Hòa, Long An). (Ảnh: Bùi Giang/TTXVN)
Thanh long được sơ chế để chế biến thành sản phẩm sấy dẻo ở nhà máy Nafood (huyện Đức Hòa, Long An). (Ảnh: Bùi Giang/TTXVN)

“Chế biến nông sản của Việt Nam đang rất yếu vì chưa có nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư vào lĩnh vực này. Chỉ một số ít doanh nghiệp lớn đã đầu tư dây chuyền chế biến hiện đại thì lại chưa có sự tương thích giữa cơ sở chế biến với vùng nguyên liệu. Nhà máy chế biến chỉ có thể đặt cố định một chỗ nhưng vùng nguyên liệu lại phân tán trên diện rộng khiến việc thu mua nguyên liệu từ các hộ sản xuất nhỏ lẻ rất khó khăn. Điều này dẫn đến tình trạng khập khiễng khi chưa có nhà máy thì nông sản dư thừa không có nơi tiêu thụ nhưng khi đầu tư xây dựng nhà máy công suất lớn lại không đủ nguyên liệu để chế biến,” ông Đặng Phúc Nguyên phân tích.

Trong khi đó, bà Đặng Thị Thúy Nga, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Xuân Định (Đồng Nai) nêu vấn đề khi sản xuất đạt đến quy mô nhất định thì việc thu mua, tiêu thụ nông sản tươi không thể đảm bảo đầu ra ổn định cho người nông dân. Điển hình như tại Đồng Nai, dù các hợp tác xã có ký kết hợp đồng tiêu thụ với doanh nghiệp thương mại nhưng khi vào vụ thu hoạch chính sầu riêng, chôm chôm, bơ… vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng ùn ứ cục bộ do doanh nghiệp thu mua không kịp.

Nhà máy chế biến đặt cố định nhưng vùng nguyên liệu lại phân tán trên diện rộng khiến việc thu mua nguyên liệu từ các hộ sản xuất nhỏ lẻ rất khó khăn.

Thực tế là doanh nghiệp thu mua không có kho bảo quản, không có cơ sở chế biến mà chỉ thu gom phân phối, xuất khẩu tươi. Ngược lại, cũng vì thiếu kho dự trữ, bảo quản mà nhiều nhà máy chế biến chỉ hoạt động đúng công suất trong thời điểm thu hoạch chính vụ. Điều này khiến hiệu suất vận hành thấp, chi phí vận hành, khấu hao dây chuyền tăng lên.

Chính vì vậy, các chuyên gia nhấn mạnh để giải quyết các bất cập trên, thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển, ngành nông nghiệp cần tổ chức, quy hoạch lại họat động sản xuất theo hướng hàng hóa lớn, tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao; đồng thời, xây dựng các cụm liên kết sản xuất-chế biến-tiêu thụ nông sản tại các khu vực có sản lượng nông sản lớn, thuận lợi trong việc kết nối giao thông vận tải.

Song song với đó, Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng các kho bảo quản đạt tiêu chuẩn, giúp điều tiết nguồn cung và duy trì nguồn nguyên liệu thường xuyên phục vụ phát triển chế biến sâu./.

‘Dịch bệnh thông tin’ bùng phát

Liệu dịch bệnh thông tin sinh ra từ dịch bệnh Covid-19 trên toàn cầu có khiến mọi người tìm đến với các thương hiệu báo chí tin cậy khi họ không thể tin được vào các kênh truyền thông xã hội?

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mới đây đã giải thích khá kỹ về khái niệm “infodemic” (dịch bệnh thông tin) như sau: “Tình trạng quá dư thừa thông tin – gồm cả thông tin chính xác và thông tin không chính xác – khiến mọi người rất khó tìm ra những nguồn tin đáng tin và chỉ dẫn tin cậy khi họ cần.”

Aleksandra Kuzmanovic, người phụ trách mảng truyền thông xã hội của WHO giải thích thêm: “Trong hoàn cảnh cụ thể của dịch Covid-19, do sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng truyền thông xã hội những năm gần đây, thông tin phát tán còn nhanh hơn cả bản thân con virus này.”

Việc chia sẻ thông tin quá dễ dàng trên các ứng dụng khiến nhiều người không để ý đến tính chính xác của thông tin mà họ chia sẻ. Người ta chia sẻ thông tin vì tin rằng nó đúng, để rồi sau đó (hoặc không bao giờ) phát hiện ra rằng nó hoàn toàn sai lệch.

“Trong hoàn cảnh cụ thể của dịch Covid-19, do sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng truyền thông xã hội những năm gần đây, thông tin phát tán còn nhanh hơn cả bản thân con virus này”

Chỉ cần lướt qua ứng dụng mạng xã hội Instagram là thấy rất nhiều người nổi tiếng đưa ra những thông tin không chính xác hoặc quảng cáo sai lệch. YouTube, Whatsapp cũng chẳng ít hơn. Facebook và TikTok đầy những hình chế về virus corona và không ít người còn vờ là chính họ bị nhiễm.

Thông tin giả về dịch bệnh Covid-19 thì hoành hành khủng khiếp, từ những thuyết âm mưu về nguồn gốc của loại virus màu cho đến các phương pháp chữa trị phản khoa học và vô căn cứ, những thông tin cập nhật sai lệch về số ca lây nhiễm và tử vong cũng như những fake news chủ đích gây hoang mang cho xã hội và phủ nhận những nỗ lực của cơ quan chức năng.

(Nguồn: Straits Times)
(Nguồn: Straits Times)

Nhưng quả là trong “nguy” thì xuất hiện “cơ”: Giữa bối cảnh ngập tràn thông tin thật-giả hiện nay, có những dấu hiệu cho thấy người tiêu dùng thông tin đang quay trở lại với các cơ quan báo chí chính thống, nhất là các thương hiệu báo chí uy tín, với hy vọng nhận được những thông tin chính xác về dịch bệnh.

Nếu chú ý quan sát sẽ nhận ra một điều rằng khi thị trường chứng khoán thế giới sập sàn thì giá cổ phiếu của New York Times lại tăng lên trong tuần cuối tháng 2. Chưa rõ xu hướng này có giống hiện tượng mà chúng ta từng gọi là “Trump Bump” hay không. Liệu lần này độc giả có trả phí thuê bao cho những nguồn tin tin cậy trong bối cảnh bị chìm ngập giữa cơn lũ tin giả?

Giữa bối cảnh ngập tràn thông tin thật-giả hiện nay, có những dấu hiệu cho thấy người tiêu dùng thông tin đang quay trở lại với các cơ quan báo chí chính thống

Cần nhắc lại về thuật ngữ “Trump Bump” (ít nhất là ở Mỹ và Tây Âu) ám chỉ việc người dân bỗng nhiên quan tâm đến việc chấp nhận trả tiền cho các cơ quan báo chí chính thống (tức là những thương hiệu báo chí “lâu đời” hoặc “đáng tin cậy”) khi họ bắt đầu hoài nghi rằng các trang thông tin điện tử đang phát tán tin giả liên quan đến vị tống thống đương nhiệm của nước Mỹ.

Joe Martin, Phó chủ tịch phụ trách hợp tác thương mại của Wall Street Journal, từng phát biểu hồi tháng 9/2018 tại sự kiện FIPP Asia ở Vũ Hán (oái oăm thay, dường như chính là nơi khởi nguồn của virus corona): “Trong một thế giới của những trang thông tin điện tử đang phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, những bánh xe của sự thay đổi có thể hiệu quả với các cơ quan báo chí truyền thống… trong một kỷ nguyên của tin giả, khi mà những giá trị của báo chí truyền thống và đáng tin cậy có ý nghĩa quan trọng với xã hội hơn bao giờ hết.”

Quan điểm này được Chủ tịch kiêm CEO của New York Times Co. là ông Mark Thompson ủng hộ. Ngay đầu tháng này, ông đã xác nhận rằng tuy doanh thu quảng cáo có chậm lại do “sự bấp bênh và lo ngại” mà virus corona gây ra, nhưng không hề có tác động tiêu cực này đối với quá trình tăng trưởng về số người đăng ký trả phí.

Bác sỹ kiểm tra hình chụp CT phổi của bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện dã chiến ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, ngày 17/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Bác sỹ kiểm tra hình chụp CT phổi của bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện dã chiến ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, ngày 17/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trong tuần đầu tháng Ba, số lượng tin bài về Covid-19 chỉ chiếm 1% tổng số bài được đăng tải trên các báo của Mỹ nhưng chiếm tới 13% tổng số trang được xem, theo dữ liệu thống kê của Parse.ly, một công ty đo hoạt động của hơn 3.000 website có lượng truy cập cao, trong đó có Wall Street Journal, Bloomberg, NBC, Conde Nast, Slate, và TechCrunch. Tổng lượng truy cập vào các trang tin tức tăng mạnh 50% so với cuối tháng Hai.

Chartbeat, một nền tảng phân tích nội dung báo chí khác, thì cho biết virus corona chiếm hết các vị trí nổi bật trong hai thước đo chính: số người đọc đồng thời các bài báo về một chủ đề và thời gian đọc những bài đó. Dữ liệu của Chartbeat ghi nhận tổng số bài đăng tải trong tuần đầu tháng 3 giảm chút ít so với cùng kỳ năm ngoái nhưng lượng pageview lại tăng 33%. Thời gian người dùng cuộn màn hình, nhấp chuột và đọc tin cũng tăng đáng kể, lên tới 30%.

Virus corona chiếm hết các vị trí nổi bật trong hai thước đo chính: số người đọc đồng thời các bài báo về một chủ đề và thời gian đọc những bài đó

Không có con số thống kê tương tự trên báo chí Việt Nam nhưng với việc số lượng nội dung liên quan đến Covid-19 chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng số tin bài mỗi ngày – lên tới 25-30% hoặc cá biệt có báo chiếm tới hơn 40% – chắc chắn lượng truy cập vào những nội dung này trên các báo điện tử và chia sẻ trên mạng xã hội là vô cùng lớn.

Tuy nhiên, tạp chí công nghệ MIT Technology Review cũng cảnh báo rằng chớ nên coi toàn bộ thông tin về virus corona trên mạng xã hội là sai và xấu độc. Tạp chí uy tín có tuổi đời hơn 120 năm này chỉ ra thực tế rằng nếu biết cách sử dụng hiệu quả thì truyền thông xã hội là một nguồn quan trọng để thẩm định thông tin về Covid-19. Những nhà báo dày dạn có thể tìm ra những chi tiết hữu ích trong một biển nội dung gồm đủ loại khác nhau.

Còn nhớ khi mới phát hiện ra con virus corona chủng mới này, các bác sỹ đã lên mạng xã hội để cảnh báo về mức độ nghiêm trọng của tình hình. Nếu biết chắt lọc thông tin trên mạng xã hội thì trong tương lai, biết đâu báo chí có thể sớm phát hiện và lần được theo dấu vết về các vụ dịch bệnh./.

Nhân viên y tế bệnh viện ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) giới thiệu trang mạng tư vấn trực tuyến sơ bộ về virus corona chủng mới, hỗ trợ người dân phòng ngừa và ngăn chặn khả năng lây lan của dịch bệnh COVID-19. (Ảnh: THX/TTXVN)
Nhân viên y tế bệnh viện ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) giới thiệu trang mạng tư vấn trực tuyến sơ bộ về virus corona chủng mới, hỗ trợ người dân phòng ngừa và ngăn chặn khả năng lây lan của dịch bệnh COVID-19. (Ảnh: THX/TTXVN)