奋战在新冠肺炎防控一线的越南边防部队:边境地区的情义口罩(第三期)

越通社河内2020年3月4日——在新冠肺炎疫情在中国愈演愈烈的背景下,其传入越南境内的可能性极高。边境地区地方政府,尤其是边防部队力量主动并积极向边境居民免费发送医用口罩和杀菌洗手液等,为在边境一线防止新冠肺炎传入境内作出重要贡献。在新型冠状病毒感染的肺炎疫情(以下简称新冠肺炎疫情)在中国愈演愈烈的背景下,其传入越南境内的可能性极高。边境地区地方政府,尤其是边防部队力量主动并积极向边境居民免费发送医用口罩和杀菌洗手液等,为在边境一线防止新冠肺炎传入境内作出重要贡献。

                     莱州省边防部队干部向边境居民免费发送医用口罩。越通社记者 功宣摄
                     莱州省边防部队干部向边境居民免费发送医用口罩。越通社记者 功宣摄

为了执行被交给的任务,从新冠肺炎疫情爆发以来,驻扎在与中国有着共同边界线的越南边防部队干部和战士们正在时时刻刻在边境一线值守,绝不让新冠肺炎传入境内。同时,主动向边境地区各少数民族同胞免费发送数万只医用口罩和数千瓶杀菌洗手液,进而帮助居民有更多条件防止新冠肺炎传入境内。

莱州省封土县马离庯乡雄鹏村的晋某高兴地说:“今天我很高兴获得边防部队干部所发的医用口罩和杀菌洗手液,边防部队的此举意义重大。我非常感谢边防部队干部和战士们,希望他们继续开展这一崇高且美好的工作。”

                     莱州省边防部队干部向边境居民免费发送医用口罩。越通社记者 功宣摄
                     莱州省边防部队干部向边境居民免费发送医用口罩。越通社记者 功宣摄

手上拿着刚刚获得谅山省边防部队干部所发的一只新口罩,居住在文朗县馆化乡的农某激动的说:“我们非常感谢边防部队干部向我们发放口罩,我们将认真执行新冠肺炎疫情的防控工作。”

           高平省边防部队干部向边境居民发送医用口罩。图自越通社
           高平省边防部队干部向边境居民发送医用口罩。图自越通社

莱州省边防部队指挥部马鹿塘口岸边防哨所副政治指导员范遵大尉表示,新冠肺炎疫情爆发期间,医用口罩供应量欠缺,因此买口罩对边境居民而言是一件难事。以边防部队的责任,我们已主动向边境居民免费发送医用口罩,目的是同居民在新冠肺炎疫情防控工作中分担困难。

除了向边境地区少数民族同胞发送口罩之外,越南边防部队力量已携手并与中国护边力量和边境居民分担困难。自新冠肺炎爆发以来,越南各省的边防部队已向中国边境保护力量和边境居民赠予数万只医用口罩和其他的医疗物资。其中,谅山、莱州、老街三省边防部队共向中国职能机关赠予近10万只医用口罩、2000瓶杀菌洗手液、3000套保护服以及其他的医疗物资等。

谅山省边防部队指挥部指挥长宁文合大校:在新冠肺炎疫情愈演愈烈的背景下,谅山省边防部队指挥部已指示驻扎在边界线的边防哨所定期与中国对口单位交换有关新冠肺炎的相关情况和防控工作以及阻止疫情传入越南境内并在社区蔓延扩散。同时主动与中国职能力量分担有关防疫物资、设备等的困难。

谅山省边防部队指挥部那型(Na Hinh)边防哨所政治指导员杜德校少校表示,针对新冠肺炎疫情的演变日益复杂化,本单位已向中国对口单位赠送1500只医用口罩和向与谅山省那型村结为“友好村”的本娟村(中国)赠送了1000只医用口罩,意在分享和协助中国职能力量和人民防止新冠肺炎疫情蔓延扩散。

越南边防部队力量在中国新冠肺炎疫情日益复杂化的背景下向中国护边力量和边境居民提供帮助是富有意义和务实的举动。此举不仅助力中国早日控制疫情,而且还为增强越中两国护边力量之间的团结和友好合作关系作出贡献。

                     谅山省边防部队向中国护边力量赠予医用口罩。越通社记者 功宣摄
                     谅山省边防部队向中国护边力量赠予医用口罩。越通社记者 功宣摄

近日,中国云南省天保出入境边防检查站副站长杨忠涵(Yang Zhonghan)少校在接受由越南河江省清水国际口岸边防哨所捐赠的2500只医用口罩后对清水国际口岸边防哨所所给予的帮助表示由衷感谢。杨忠涵少校强调,针对新冠肺炎疫情日益复杂严峻的背景下,清水国际口岸边防哨所的关注和及时的帮助具有重要意义和尤为务实;希望今后双方继续加强团结与合作,为建设日益发展的边界线作出贡献。可以说,虽然越南是与中国有着共同的边界线,人员来往频繁和旅游众多以及属于传染危机极高的国家,但截至目前,越南已有效控制疫情。之所以能够获得这一成果,离不开包括驻扎在边境地区的边防部队力量在内的军队力量所作出的巨大贡献。越共中央委员、中央军委常委、边防部队司令黄春战中将强调,新冠肺炎疫情的防控工作是紧迫性且意外的任务,需要认清“防疫如防敌”精神。“越南边防部队司令部已十分积极、及时、坚决和有效地开展新冠肺炎疫情防控措施”,黄春战中将肯定。越南政府副总理、国家新冠肺炎疫情防控指导委员会主任武德儋在由国防部于2月19日在河内举行的新冠肺炎疫情防控工作经验总结会议上强调,军队已作出重要贡献,其在防止新冠肺炎疫情在社区中蔓延扩散工作中起到决定性因素。

截止3月4日22时30分,全球新冠肺炎确诊病例94111例,死亡病例3224例,治愈出院50691例。其中,中国确诊病例80409例,死亡病例3012例,治愈出院52045例。在越南共发现新冠肺炎确诊病例16例,但全部已治愈出院。

                      莱州省边防部队向中国护边力量赠予医用口罩。越通社记者 功宣摄
                      莱州省边防部队向中国护边力量赠予医用口罩。越通社记者 功宣摄

武德儋说“包括现在我们在这里讨论的时候,边防部队战士们仍正住帐篷、躺森林以阻止和控制疫情传入”。武德儋强调,军队的作用不仅是严格控制边界线,接受从疫区回来的越南公民并将其隔离观察,而且还做好宣传与动员工作,使得人民放心。“军队已履行好职责使命,为新冠肺炎疫情防控工作取得如今的成效作出重要贡献”,武德儋强调说。

从边防部队力量在开展新冠肺炎疫情防控工作,如严格控制边界线、宣传和动员人民群众共同防疫等,可见边境一线的防疫工作的成效,其为守护边境地区居民的平安放心生活作出贡献。(完)

                                                        

奋战在新冠肺炎防控一线的越南边防部队:加大关于新冠肺炎疫情防控工作的宣传力度(第二期)

越通社河内2020年3月3日——在越中的共同边界线上,除了在边境通道和便道搭建野战帐篷和设立值班值守岗位监控并阻止不让居民出入境之外,驻扎在边境地区的越南边防部队力量还连续不断且深广地对居住在边境的每一户家庭、每一名人民进行宣传教育工作。

             莱州省边防部队干部向边境居民宣传有关疫情的防控工作。越通社记者 功宣摄 
             莱州省边防部队干部向边境居民宣传有关疫情的防控工作。越通社记者 功宣摄 

在越中的共同边界线上,除了在边境通道和便道搭建野战帐篷和设立值班值守岗位监控并阻止不让居民出入境之外,驻扎在边境地区的越南边防部队力量还连续不断且深广地对居住在边境的每一户家庭、每一名人民进行宣传教育工作。进而让老百姓更加了解和认清新型冠状病毒感染的肺炎疫情(以下简称新冠肺炎疫情)对人民生命健康造成的危害性和严重后果,最大限度地限制疫情在社区扩散蔓延。

近几日来,莱州省边防部队指挥部马鹿塘(Ma Lù Thàng)口岸边防哨所已成立一个“特殊”的工作小组。该工作小组的任务是负责到封土县马离庯(Ma Ly Pho)乡——莱州省的23个边界乡之一的所有村寨进行宣传有关防疫工作。之所以说这是一个“特殊”的工作小组,是因为与之前的数百次甚至数千次下基层进行宣传不同,这次他们进行宣传的不是有关保护边界线、保护界碑、非法移民、走私或者非法砍伐森林等,而主要目的是向边境居民加大宣传并引导对有关新冠肺炎疫情的防控措施。

近一个月来,驻扎在越中边界线的越南边防部队力量共举行了近1700个有关新冠肺炎疫情防控工作的宣传会,吸引7.5万余人参加;向边境地区居民发放有关新冠肺炎疫情防控工作的2.9万多张传单。

            莱州省边防部队干部向边境居民赠送并引导有关杀菌洗手液的使用方法。越通社记者 功宣摄 
            莱州省边防部队干部向边境居民赠送并引导有关杀菌洗手液的使用方法。越通社记者 功宣摄 

马鹿塘口岸边防哨所副政治指导员范遵大尉表示,认真落实莱州省人民委员会和边防部队指挥部的指示,本单位已与马离庯乡人民委员会配合制定在该乡全部9个村寨进行宣传的具体计划。目的是帮助边境地区少数民族同胞提高警惕和防疫的意识以及基本识别新冠肺炎的感染症状及传播方式。与此同时向少数民族同胞宣传有关党和政府以及当地各级政府所开展的防控措施的主张及指示意见,让同胞们安心和不要恐慌等。

陪同马鹿塘口岸边防哨所的工作小组到马离庯乡山平村时,我们见证了令人难以置信的严肃的宣传氛围。在有数十平方米宽的一房间里有众多少数民族同胞从早晨就聚集在这里以听取关于保护自己、家庭和全村村民的身体健康的必要信息。居住在马离庯乡的李某(瑶族人)说:“之前我对新冠肺炎疫情一无所知,但现在听边防部队干部宣传和引导后,我们都知道了疫情对生命健康的影响。我们都听从边防部队干部的指引,旨在最大限度地减少疫情对社区的传播,同时回去后也会向家人和村民们宣传,让大家知道并一起防疫。”

莱州省边防部队指挥部指挥长武文朝大校表示,新冠肺炎防控工作得到边防部队力量认真和严厉开展。驻扎在边界线的边防哨所已经和正在认真开展有关防疫的宣传工作。“我们视防疫如防敌,因为说到底防疫就是保护人民的健康和安全等”,武文朝大校强调。

           莱州省边防部队干部向边境居民发放有关新冠肺炎疫情防控措施的传单。越通社记者 功宣摄 
           莱州省边防部队干部向边境居民发放有关新冠肺炎疫情防控措施的传单。越通社记者 功宣摄 

与莱州省边防部队干部和战士一样,老街省边防部队力量除了加强巡查监控之外,也加大向边境居民进行宣传有关疫情的演变以及防控措施的工作力度。近日,老街省边防部队坝刹(Bát Xát)边防哨所本渥(Bản Vược)边防检查站的干部和战士们加强下基层,挨家挨户入户宣传和引导居民了解有关新冠肺炎的防控措施以及在疫情日益复杂化的背景下尽量不要出入境。坝刹县本渥乡的王某表示:“听广播和看电视得知新冠肺炎对身体健康造成严重影响后,我很担心。经边防部队干部屡次宣传并向我们免费发送医用口罩以及引导出门时必须佩戴以保护自己和周围其他人的身体健康,尽量不要到人群聚集的地方等。至今我们也放心了。”

截止3月3日14时45分,全球新冠肺炎确诊病例90918例,死亡病例3118例,治愈出院47796例。其中,中国确诊病例80140例,死亡病例2944例,治愈出院47204例。在越南共发现新冠肺炎确诊病例16例,但全部已治愈出院。

          老街省边防部队干部向边境居民发放有关新冠肺炎疫情防控措施的传单。越通社记者 功宣摄 
          老街省边防部队干部向边境居民发放有关新冠肺炎疫情防控措施的传单。越通社记者 功宣摄 

广宁省平辽县有长达43公里的边界线,高山深壑,地形险峻,交通不便。为防止新冠肺炎入侵,横模(Hoành Mô)边防哨所已提前开展强有力的措施,在边境通道和便道上设立6个值守岗位,每一个岗位都有5至8位战士和当地居民执行24小时的值班值守。横模边防哨所政治指导员杜文光中校在与记者交谈时表示,从收到新冠肺炎在中国爆发的消息时,本单位除了立刻在边境通道和便道上搭建野战帐篷和设立值守岗位之外,还积极向居民尤其是居住在边境地区的居民宣传有关新冠肺炎疫情的防控措施。与此同时,横模边防哨所还在集市、村文化室等众人聚集之地悬挂数十条有关防疫的横幅标语。同时向居民尤其是居住在边界线村寨的居民发放数千张有关防疫的传单。

             河江省边防部队干部向边境居民赠送医用口罩并引导口罩正确佩戴方法。越通社记者 功宣摄 
             河江省边防部队干部向边境居民赠送医用口罩并引导口罩正确佩戴方法。越通社记者 功宣摄 

住在平辽边界县的生某(瑶族人)说:“疫情发生时,横模边防哨所干部已向我们宣传和解释有关新冠肺炎的危害性,同时介绍防疫措施和免费发送医用口罩。因此,现在我们全家都知道如何防控疫情,从用肥皂洗手、戴口罩到吃熟食喝净水及保持房屋清洁干净等。”刚刚与同志们进行巡查回来的横模边防哨所的阮越河大尉分享说:“我们的工作小组刚刚沿着边界线进行巡查,我们一边在通道和便道进行检查监测非法出入境行为,一边宣传和提醒边境居民不要非法过境,旨在提高居民的防疫认识等。”(未完待续)

第三期:边境地区的情义口罩

                                                       

Còn mãi tinh thần và khí phách Gạc Ma

32 năm trước, vào ngày 14/3/1988, trong một cuộc chiến không cân sức, 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển sâu để bảo vệ chủ quyền của đất nước tại các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

32 năm đi qua, sóng biển có thể đã xóa nhòa mọi dấu vết nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng của người dân Việt Nam về những con người quả cảm mà sự hy sinh của họ được dựng thành những tượng đài bất tử về tình yêu Tổ quốc. Tinh thần chiến đấu của các anh là một nốt son trong lịch sử dân tộc mà thế hệ hôm nay và mai sau phải khắc cốt ghi tâm.

Quyết đem cả tính mạng để bảo vệ từng tấc đất, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc

Chủ quyền quốc gia là tối thượng, bất khả xâm phạm. Các thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao công sức, máu xương để xác lập chủ quyền, giữ gìn lãnh thổ, các vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Cách đây hàng trăm năm, những người con ưu tú của nước Việt Nam đã vượt muôn vàn khó khăn, gian khổ, xả thân giữa biển khơi mênh mông vì chủ quyền đất nước.

“Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của Quân chủng” (Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương).

Những câu ca lưu truyền trong dân gian tới hôm nay, như: “Hoàng Sa đi có về không – Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi” là minh chứng cụ thể nhất cho sự quả cảm, các kỳ tích mà họ đã lập nên. Cảm động biết bao khi được biết trước khi thuyền nhổ neo, mỗi người chuẩn bị một đôi chiếu, bảy sợi dây mây, bảy đòn tre để nếu hy sinh thì đồng đội bó lại, gắn tấm thẻ tre ghi tên tuổi, quê quán rồi thả xuống biển, cầu mong nếu thân xác may mắn dạt được vào bờ, người trong đất liền biết đó là ai! Chính vì “Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn – Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây” mà trong nhiều thế kỷ trước, triều đình đã có sắc truy phong một số cai đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa là “Thượng đẳng thần” và những người lính Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa là “Hùng binh Hoàng Sa.”

Tàu HQ-505, con tàu duy nhất không bị chìm do thuyền trưởng Vũ Huy Lễ quyết định cho tàu “ủi bãi” lên đảo Cô Lin sau khi bị tàu địch bắn cháy, trở thành cột mốc chủ quyền sống của Việt Nam. Đảo Cô Lin vì thế được giữ vững đến hôm nay. Với chiến công oanh liệt, tàu HQ-505 được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. (Nguồn: Tư liệu/TTXVN phát)
Tàu HQ-505, con tàu duy nhất không bị chìm do thuyền trưởng Vũ Huy Lễ quyết định cho tàu “ủi bãi” lên đảo Cô Lin sau khi bị tàu địch bắn cháy, trở thành cột mốc chủ quyền sống của Việt Nam. Đảo Cô Lin vì thế được giữ vững đến hôm nay. Với chiến công oanh liệt, tàu HQ-505 được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. (Nguồn: Tư liệu/TTXVN phát)

Để rồi, tinh thần quả cảm, quyết tâm vô hạn, dũng cảm phi thường lại được thế hệ sau nối tiếp. Ngày 14/3/1988, 64 người lính bảo vệ đảo Gạc Ma, trong cuộc chiến không cân sức, một bên chỉ có cuốc xẻng, súng AK giữa mênh mông biển khơi, một bên là tàu lớn, súng to, đã vĩnh viễn nằm xuống dưới làn mưa đạn. 64 người lính đã tỏ rõ lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Trong giờ phút sinh tử, giữa họng súng quân thù, các chiến sỹ đã nắm chặt tay nhau tạo thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc.

Họ dặn nhau “Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của Quân chủng” (câu nói của Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương).

Trong giờ phút sinh tử, giữa họng súng quân thù, các chiến sỹ đã nắm chặt tay nhau tạo thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc.

Câu nói ấy không chỉ thể hiện khí phách anh hùng, mà còn là tư thế của người làm chủ thực sự biển đảo dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là một tuyên ngôn bất tử về Trường Sa – tuyên ngôn của thế hệ trẻ hôm nay không sợ hy sinh, gian khổ, quyết đem cả tính mạng của mình bảo vệ từng tấc đất, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc.

Hơn 30 năm qua, Biển Đông chưa bao giờ ngơi bão tố. Bởi vậy, nhắc lại lịch sử không chỉ có tưởng niệm, có tri ân. Sự hy sinh của các anh, máu xương của các anh vì biển đảo thiêng liêng, vì sức mạnh của cả dân tộc, là căn cốt đảm bảo cho chủ quyền Tổ quốc mãi mãi là bất khả xâm phạm.

Thời gian có dài bao nhiêu, lịch sử có đổi thay thế nào, thì cuộc chiến đấu tự vệ và bảo vệ Trường Sa của Hải quân nhân dân Việt Nam năm 1988 vẫn thức tỉnh trái tim người Việt về nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Tri ân “Những người nằm lại phía chân trời”

64 người lính bảo vệ đảo Gạc Ma đã gác lại bao ước mơ hoài bão và dâng hiến tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ những cột mốc tiền tiêu. Máu của các anh lẫn vào biển xanh, xương của các anh đã thấm vào lòng đảo, tên các anh được đời đời thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ.

Thả vòng hoa xuống biển tưởng niệm các liệt sỹ đã anh dũng hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc tại quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Nguyễn Văn Nhật/TTXVN)
Thả vòng hoa xuống biển tưởng niệm các liệt sỹ đã anh dũng hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc tại quần đảo Trường Sa. (Ảnh: Nguyễn Văn Nhật/TTXVN)

Giờ đây, mỗi tàu ra Trường Sa đều thực hiện nghi thức thả hoa để tưởng niệm những liệt sỹ đã ngã xuống trong trận chiến ngày 14/3/1988. Từ mái tóc bạc phơ đến mái đầu xanh; từ những người vào sinh ra tử qua hai cuộc kháng chiến đến các bạn trẻ chưa một lần mặc áo lính; từ những người lăn lộn với biển, đảo sống sót trở về đến những người lần đầu tiên đến nghĩa trang xanh này đều không cầm được nước mắt, khi thắp hương tưởng nhớ các liệt sỹ.

Nghi thức tưởng niệm ấy có cả bi thương xen lẫn tự hào; có cả niềm đau xen lẫn giọt nước mắt. Nhưng cuộn gói tất cả trong đó là nghĩa cử tri ân, là lời khẳng định không ai quên khúc bi tráng Gạc Ma, không ai quên những người lính đã kiên cường bảo vệ một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông.

Không ai quên khúc bi tráng Gạc Ma, không ai quên những người lính đã kiên cường bảo vệ một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông.

Năm 2017, có một sự kiện quan trọng trong hành trình tri ân 64 liệt sỹ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã anh dũng hy sinh tại Gạc Ma ngày 14/3/1988. Đó là khánh thành Khu tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma với tên gọi: “Những người nằm lại phía chân trời” tại xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa.

Khu tưởng niệm được xây dựng trên khu đất rộng hơn 45.000m2, với 5 hạng mục chính thể hiện “Hành trình khát vọng” yêu hòa bình và tôn trọng chân lý của dân tộc Việt Nam. Phần tượng đài “Những người nằm lại phía chân trời” được xem là trái tim của khu tưởng niệm.

Trong đó, cụm tượng giữa “Vòng tròn bất tử” gồm 9 hình tượng cách điệu các chiến sỹ Gạc Ma, giữa biển cả mênh mông đầy sóng gió, quyết một lòng bảo vệ lá cờ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ. Bao quanh hình ảnh các chiến sỹ là “Vòng tròn bất tử,” biểu tượng của mặt trời chân lý và sự đồng tâm hiệp lực của các thế hệ người Việt Nam quyết tâm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Lễ khánh thành Khu Tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma, ngày 15/7/2017. Công trình được xây dựng tại xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa) nhằm ghi công và tri ân 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 14/3/1988, “địa chỉ đỏ” giáo dục chủ quyền biển đảo cho thế hệ trẻ. (Ảnh: Nguyên Lý/TTXVN)
Lễ khánh thành Khu Tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma, ngày 15/7/2017. Công trình được xây dựng tại xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa) nhằm ghi công và tri ân 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam ngày 14/3/1988, “địa chỉ đỏ” giáo dục chủ quyền biển đảo cho thế hệ trẻ. (Ảnh: Nguyên Lý/TTXVN)

Bảo tàng ngầm hình tròn quanh hồ nước với 64 bông hoa muống biển bao quanh lá cờ Tổ quốc, biểu tượng cho 64 chiến sỹ đã anh dũng hy sinh, là nơi trưng bày các bằng chứng pháp lý và lịch sử về chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đảo Gạc Ma nói riêng. Tại đây còn bảo quản, lưu giữ những hiện vật liên quan đến cuộc đời và gia đình các liệt sỹ Gạc Ma.

Quảng trường Hòa Bình hướng về phía Biển Đông cùng với khu “mộ gió” của 64 liệt sỹ Gạc Ma với đầy đủ họ, tên, địa chỉ…

Những ngày tháng 3 này, Khu tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma lại đón hàng nghìn người đến viếng thăm. Từ đây nhìn về phía biển, những người con đất Việt hôm nay lại thầm nhắn gửi lời tri ân tới những con người quả cảm, những con người đã anh dũng hy sinh cả tuổi trẻ và tính mạng của mình vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

“Không một ai bị lãng quên và không ai được phép quên lãng”

Đó chính là lời mà những người cựu binh Gạc Ma luôn tự nhắc nhở mình và đồng đội suốt nhiều năm qua kể từ sau cuộc chiến đấu tự vệ và bảo vệ Trường Sa của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày 14/3/1988.

Trong hơn 30 năm qua, bằng những hành động tri ân khác nhau các cựu binh Gạc Ma cùng người thân, bạn bè luôn nhớ đến sự hy sinh đến các anh.

“Nén hương lòng tuy nhỏ, nhưng để ấm lòng các anh em đã nằm xuống cho chúng tôi được sống đến hôm nay.” ( cựu binh Gạc Ma Trần Quang Dũng)

Theo cựu binh Lê Hữu Thảo, Trưởng ban liên lạc cựu binh Gạc Ma, dù hiện tại mỗi người ở một nơi và hầu hết đều khá khó khăn nhưng những người lính trong trận đánh bảo vệ đảo Gạc Ma năm xưa vẫn thường xuyên giữ liên lạc, quan tâm, hỏi thăm lẫn nhau. Mỗi năm ít nhất một lần, trong những ngày tháng 3 họ lại tìm về bên nhau cùng ôn lại chuyện cũ và tri ân tưởng nhớ đồng đội của mình.

Hay sau khi xuất ngũ, cựu binh Gạc Ma Trần Quang Dũng (Gio Linh, Quảng Trị) trở về quê hương miền biển của mình, đóng một con tàu nhỏ ra khơi đánh bắt, vừa gìn giữ nghề truyền thống vừa làm bạn với biển, nơi có quá nhiều kỷ niệm. Người dân thôn Xuân Lộc nơi ông sinh sống vẫn thường nói rằng ông Dũng là thuyền trưởng của con tàu mang tên “tàu bộ đội,” bởi các thuyền viên trên tàu đều là cựu binh Trường Sa.

Và kể từ cuộc chiến đấu tự vệ và bảo vệ Trường Sa ngày 14/3/1988, hằng năm cứ đến ngày 27/1 âm lịch, dù đang đánh bắt hay ở nhà, ông Dũng cùng bạn thuyền cũng làm một mâm cơm nhỏ, thắp nén hương hướng về Biển Đông nơi các đồng đội ông nằm lại. Trường Sa tuy xa lắm, xa như tên gọi của vùng biển trời thiêng liêng của dân tộc nhưng trong tiềm thức của người cựu binh này, mọi thứ thật gần gũi, gần như những tháng ngày ông cùng đồng đội đi xây dựng và bảo vệ chủ quyền của dân tộc.

“Nén hương lòng tuy nhỏ, nhưng để ấm lòng các anh em đã nằm xuống cho chúng tôi được sống đến hôm nay. Không một ai bị lãng quên, bởi chúng tôi luôn nhớ về những người đồng đội của mình”… ./.

Bà Hà Thị Liên (quê Can Lộc, Hà Tĩnh), mẹ liệt sỹ Đào Kim Cương, hôn lên di ảnh con trai ở khu lưu niệm di vật liệt sỹ Gạc Ma trong Khu tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma ở xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa). (Nguồn: TTXVN phát)
Bà Hà Thị Liên (quê Can Lộc, Hà Tĩnh), mẹ liệt sỹ Đào Kim Cương, hôn lên di ảnh con trai ở khu lưu niệm di vật liệt sỹ Gạc Ma trong Khu tưởng niệm chiến sỹ Gạc Ma ở xã Cam Hải Đông, huyện Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa). (Nguồn: TTXVN phát)

Dịch COVID-19

Dệt may, da giày là một trong nhiều ngành bị tác động trực tiếp bởi dịch COVID-19. Không chỉ sản xuất bị gián đoạn do phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu mà khâu tiêu thụ, đầu ra tại nhiều thị trường lớn cũng gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh làm giảm nhu cầu tiêu dùng.

Hiện xuất khẩu dệt may Việt Nam đã lọt top 3 thế giới, đóng góp tích cực cho việc cân bằng cán cân thương mại, giảm nhập siêu và nâng tầm thương hiệu. Tuy vậy, trước vấn đề dịch bệnh đặc biệt là việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đang đặt ra nhiều áp lực cho ngành trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng nhận định dịch bệnh xảy ra càng cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp phụ trợ nhằm chủ động nguồn cung trong nước.

Theo đó, Người đứng đầu ngành công thương cho rằng để hóa giải bài toán phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, điều trước tiên là nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp trong việc đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng thị trường. Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng hàng đầu chính là việc hoạch định các chính sách nhằm tạo động lực thu hút đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ giúp các doanh nghiệp và các ngành xuất khẩu mũi nhọn của nước ta phát triển bền vững.

Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi xin tổng hợp và đánh giá những khó khăn bất cập của doanh nghiệp đặc biệt là trong thời gian dịch bệnh COVID-19 vừa qua, để từ đó khuyến nghị những chính sách nhằm “cởi” nút thắt về nguồn cung thiếu hụt, đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy các ngành công nghiệp của Việt Nam tiến sâu vào chuỗi cung ứng.

Lo ngại thiếu nguyên liệu sản xuất dù cơ hội EVFTA đã cận kề

Từ sau Tết Nguyên Đán Canh Tý, nhiều doanh nghiệp dệt may, da giày đã rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu để sản xuất. Lo ngại hơn, nếu dịch bệnh COVID-19 tiếp tục kéo dài chắc chắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả sản xuất kinh doanh của các ngành hàng thuộc lĩnh vực công nghiệp.

Hiệu ứng domino

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Công ty hóa dệt Hà Tây, cho biết mặc dù doanh nghiệp đã chủ động được hơn 80% nguồn nguyên liệu cho sản xuất từ nguồn trong nước, song số còn lại khoảng 15% vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Trong số đó, có tới 90% chi tiết của sản phẩm phải nhập từ Trung Quốc, số còn lại từ các nước và vùng lãnh thổ khác như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)… Vì vậy, khi dịch COVID-19 lan rộng tại các thị trường trên, nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất bắt đầu gián đoạn và khó khăn vì thế cũng nảy sinh.

Khi dịch COVID-19 lan rộng tại các thị trường trên, nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất bắt đầu gián đoạn và khó khăn vì thế cũng nảy sinh.

“Nếu không thể nhập khẩu từ các quốc gia đang có dịch như Trung Quốc, Hàn Quốc thì sẽ rất khó để có thể hoàn thiện sản phẩm theo đúng hợp đồng cho đối tác, bạn hàng. Mặc dù giá trị nhập khẩu tính trung bình chỉ hơn 10% nhưng lại phân bổ gần như là tất cả các sản phẩm,” ông Tùng nói.

Sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều nước như EU, Mỹ... (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều nước như EU, Mỹ… (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Còn theo bà Nguyễn Thị Bình, Phó Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại-Dệt may Thanh Bình (quận Long Biên), công ty không vướng mắc về vấn đề đầu ra cho sản phẩm, vì năm 2020 đã ký hợp đồng xuất quần, áo sang Lào, Campuchia, nhưng dịch bệnh lại khiến doanh nghiệp khó khăn ở khâu đầu vào vì phần lớn nguyên liệu như vải, cúc, khóa… đều nhập từ nhà cung cấp Trung Quốc.

Thông thường, để bảo đảm sản phẩm cung ứng theo hợp đồng đã ký, công ty phải nhập nguyên liệu 2 tuần một lần. Tuy vậy, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, gần một tháng qua, công ty chưa nhập được nguyên liệu trong khi nguồn hàng dự trữ phục vụ sản xuất cũng cạn dần.

“Trước khó khăn này, Công ty phải tính đến việc tìm nguồn cung ứng nguyên liệu mới, nhưng cũng chỉ là giải pháp tình thế, vì để nhập khẩu cần phải kết nối được nhà cung ứng và phù hợp với giá cả của sản phẩm,” bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ.

Không chỉ những doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ảnh hưởng mà nhiều “ông lớn” trong ngành dệt may cũng đang chật vật trong việc đảm bảo nguồn cung đầu vào cho sản xuất, nhất là khi ngành may phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bàn tay khéo léo của người lao động để tạo ra sản phẩm giày xuất khẩu. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Bàn tay khéo léo của người lao động để tạo ra sản phẩm giày xuất khẩu. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Ông Thân Đức Việt, Tổng Giám đốc Tổng công ty May 10, chia sẻ: Hiện đối tác cung cấp nguyên phụ liệu cho doanh nghiệp từ phía Trung Quốc vẫn chưa đi vào hoạt động ổn định nên cũng chưa có cam kết chắc chắn về thời gian đảm bảo được cung cấp nguồn nguyên phụ liệu.

Với khoảng 12.000 lao động thuộc hơn 18 nhà máy, xí nghiệp lại trải dài tại các tỉnh thành trên khắp mọi miền đất nước, do vậy khi dịch bệnh kéo dài, nguồn nguyên liệu đầu vào không ổn định, May 10 cũng dự báo nhiều kịch bản xấu xảy ra đối với doanh nghiệp, như phải cắt giảm giờ làm, công nhân phải nghỉ việc từ đó khiến doanh thu sụt giảm mạnh.

Để tìm được nguồn cung thay thế trong ngắn hạn là khó khả thi bởi nguyên phụ liệu sản xuất trong nước không đáp ứng đủ, tìm nguồn vật tư thay thế từ nước ngoài lại cần có nhiều thời gian.

“Hiện May 10 đang phối hợp với các khách hàng có giải pháp xử lý tình huống. Tuy nhiên, để tìm được nguồn cung thay thế trong ngắn hạn là khó khả thi bởi nguyên phụ liệu sản xuất trong nước không đáp ứng đủ, tìm nguồn vật tư thay thế từ nước ngoài lại cần có nhiều thời gian,” Tổng Giám đốc May 10 nói.

Cú sốc lan tới cả thị trường tiêu thụ

Những khó khăn của các doanh nghiệp nêu trên cũng là tình trạng chung của rất nhiều doanh nghiệp ngành dệt may và da giày trong nước.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, việc nguồn nguyên liệu nhập khẩu bị gián đoạn trong thời gian qua đã ảnh hưởng đến khoảng 20-30% năng lực sản xuất tùy từng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp còn phải đối mặt với việc chịu phạt, mất khách hàng trong trường hợp chậm giao hàng hoặc không hoàn thành hợp đồng đã ký.

Chia sẻ thêm từ phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Thanh Tùng cho hay trong ngắn hạn đơn hàng chưa bị tác động nhiều vì các đối tác đã đặt hàng trước đó 3-6 tháng, song trường hợp dịch bệnh chưa kết thúc, nhu cầu tiêu dùng giảm thì khách hàng sẽ đánh giá lại và điều chỉnh đơn hàng.

Ông cũng nhẩm tính, để sản xuất một đôi giày, tiền công khoảng 3 USD, còn giao hàng từ Việt Nam sang EU bằng đường biển chỉ mất 15 cent, trường hợp đi bằng đường hàng không thì chi phí vận chuyển sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Sản phẩm giày của Công ty hóa dệt Hà Tây. 
Sản phẩm giày của Công ty hóa dệt Hà Tây. 

Do vậy, với khách hàng lâu năm, công ty phải chấp nhận bỏ thêm chi phí đảm bảo thời gian giao hàng cũng như chấp nhận lỗ. Nếu không đáp ứng được điều này, công ty sẽ bị giảm uy tín và khó nhận được các đơn hàng tiếp theo.

“Công ty đã chủ động trao đổi với khách hàng để giãn thời gian giao hàng, song nếu trễ hơn nhiều so với thời gian ký kết thì phải vận chuyển bằng máy bay, do vậy để giữ khách hàng công ty phải chấp nhận tăng chi phí vận chuyển và giảm lợi nhuận,” ông Tùng ngậm ngùi.

Với hiệp định EVFTA, doanh nghiệp này cũng nhìn thấy nhiều cơ hội để tiếp cận thị trường cũng như đa dạng nguồn cung nguyên phụ liệu, song theo ông, về lâu dài Nhà nước cần có chính sách để thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, tự chủ ngay tại thị trường nội địa.

Ngày 12/2 vừa qua, Nghị viện châu Âu khóa mới đã phê chuẩn hai hiệp định thương mại tự do với Việt Nam, gồm Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA).

Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, hiệp định EVFTA sẽ là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam gia tăng xuất khẩu thông qua nâng cao năng lực cạnh tranh tại thị trường EU, nếu hiểu đúng và thực thi đúng các cam kết của Hiệp định này.

Với những cơ hội đang mở ra, ông cho biết Bộ Công Thương đang phối hợp với các cơ quan chức năng đang đẩy nhanh việc hoàn thiện các thủ tục pháp lý để trình Quốc hội xem xét thông qua trong kỳ họp gần nhất, tạo động lực cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu.

“Khi EVFTA phê chuẩn thì công nghệ nguồn và nguồn vốn của EU sẽ giúp ích rất lớn cho Việt Nam hình thành những chuỗi cung ứng mới ở tại EU và toàn cầu và như vậy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế của chúng ta sẽ có sự hỗ trợ rất to lớn từ nguồn lực này để đảm bảo hiệu quả, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp,” Bộ trưởng nói.

Khi EVFTA phê chuẩn thì công nghệ nguồn và nguồn vốn của EU sẽ giúp ích rất lớn cho Việt Nam hình thành những chuỗi cung ứng mới ở tại EU và toàn cầu.

Tuy vậy, trong dài hạn, người đứng đầu ngành Công Thương cho rằng vẫn cần định hình lại ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, tái cơ cấu theo hướng bền vững để doanh nghiệp chủ động nguồn cung trong nước thay vì phụ thuộc nhập khẩu, giữ chắc chỗ đứng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Những nút thắt khiến dệt may chưa tự chủ được nguyên phụ liệu

Năm 2019, nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may cả nước là 22,36 tỷ USD, trong đó nhập khẩu nhiều nhất là vải đạt 12,37 tỷ USD.

Trao đổi với VietnamPlus, ông Cao Hữu Hiếu, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), cho biết vấn đề “thắt cổ chai” của ngành dệt may nằm trong khâu sản xuất dệt, nhuộm hoàn tất.

Tuy nhiên, đầu tư vào các dự án dệt nhuộm hoàn tất không phải là bài toán dễ giải, vì vốn đầu tư cao cũng như đòi hỏi trình độ cán bộ kỹ thuật vận hành quản lý tốt.

Ông Cao Hữu Hiếu Phó Tổng Giám đốc Vinatex.
Ông Cao Hữu Hiếu Phó Tổng Giám đốc Vinatex.

Hơn thế nữa cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi phải đầu tư trong dài hạn, trong khi đó đầu tư vào sợi, vào may gia công vừa đòi hỏi ít vốn lại vòng quay thu hồi vốn nhanh.

Do đó, nhiều doanh nghiệp Việt không mấy mặn mà khi đầu tư vào lĩnh vực nguyên phụ liệu. Hơn thế nữa, hiện tại Việt Nam chưa thể cạnh tranh về giá và quy mô so với các doanh nghiệp Trung Quốc hay các doanh nghiệp FDI.

– Ông có thể cho biết những tác động của dịch COVID-19 tới các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may những tháng vừa qua?

Ông Cao Hữu Hiếu: Từ đầu năm tới nay, dịch bệnh do COVID-19 lây lan trên diện rộng tại Trung Quốc và thế giới khiến không ít doanh nghiệp dệt may Việt Nam gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào. Một số doanh nghiệp biết nhìn xa trông rộng có nhập nguyên liệu trước Tết Nguyên đán, nhưng cũng chỉ đủ để phục vụ sản xuất đến hết tháng Ba, tháng Tư.

Với đơn hàng đã ký, các doanh nghiệp có phương án chung là đàm phán lại với khách hàng xin giãn thời gian giao hàng vì dịch bệnh cũng là lý do bất khả kháng. Tuy nhiên, một hệ lụy đáng quan ngại hơn mà theo tôi nhận thấy là ảnh hưởng đến tâm lý chung toàn cầu, nghiêm trọng nhất là ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng ở các nước phương Tây như Mỹ, EU… Do đó, cầu tiêu dùng bị giảm, lượng đơn hàng tồn kho tại các nhà máy bán lẻ tăng.

Dệt may áp dụng công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Dệt may áp dụng công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Lúc này các nhà bán lẻ phải dùng các biện pháp như hạ giá, kích cầu khuyến khích tiêu dùng. Vì những nguyên do này mà nhiều doanh nghiệp dệt may của Việt Nam gặp khó khăn hơn do cầu tiêu dùng giảm, nhà nhập khẩu giảm lượng đặt hàng.

Tuy nhiên, hai tháng trở lại đây, có một số doanh nghiệp trong tập đoàn đã tìm thấy một số cơ hội ở các thị trường ngách như khẩu trang, quần áo bảo hộ chuyên dụng, không chỉ phục vụ thị trường trong nước, mà còn xuất khẩu phục vụ xuất khẩu đi thị trường quốc tế. Tôi nhận thấy đấy cũng là những thị trường ngách có nhiều tiềm năng.

Biểu đồ xuất khẩu dệt may của khối FDI từ năm 2014 đến 2018. 
Biểu đồ xuất khẩu dệt may của khối FDI từ năm 2014 đến 2018. 

Về lâu dài, tình trạng dịch bệnh là tình trạng khó khăn chung, không chỉ Việt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng gặp phải. Do đó, tôi thấy hiện tại doanh nghiệp nên làm sao chủ động để tránh bị ảnh hưởng tiêu cực do dịch bệnh, bằng các biện pháp về ngắn hạn chủ động tìm tòi, đầu tư sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường, bắt tay chặt chẽ với bạn hàng cùng tìm phương án giải quyết các khó khăn trước mắt.

Doanh nghiệp nên làm sao chủ động để tránh bị ảnh hưởng tiêu cực do dịch bệnh, bằng các biện pháp về ngắn hạn chủ động tìm tòi, đầu tư sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường, bắt tay chặt chẽ với bạn hàng cùng tìm phương án giải quyết các khó khăn trước mắt. 

– Chính phủ đã có Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các ngành hàng, nhưng hiệu quả triển khai chưa như mong đợi. Ở khía cạnh ngành dệt may, theo ông đâu là điểm khó trong quá trình phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ cũng như tự chủ nguồn nguyên liệu dệt may trong nước?

Ông Cao Hữu Hiếu: Nguyên phụ liệu trong ngành dệt may là xơ, sợi, vải, nguyên phụ liệu khác như cúc, chỉ… Về phát triển xơ thiên nhiên thì thổ nhưỡng chúng ta không thích hợp để phát triển các cây trồng như Bông do đó phần lớn bông xơ ta đều nhập khẩu từ Mỹ, Ấn Độ, Australia, Uzberkistan…

Về sợi, hiện tại phần lớn sản xuất sợi ở Việt Nam đều tập trung vào các loại sợi chi số thấp và trung bình, chủ yếu xuất khẩu đi Trung Quốc. Công nghệ, máy móc, trình độ nguồn nhân lực đều chưa đạt để cho phép nhiều doanh nghiệp có thể làm được các loại sợi chi số cao.

Doanh nghiệp dệt may Việt Nam đẩy mạnh kênh phân phối tại thị trường nội địa. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Doanh nghiệp dệt may Việt Nam đẩy mạnh kênh phân phối tại thị trường nội địa. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Về vải, dệt nhuộm thì có những lý do khó khăn tôi đề cập ở trên do vốn, do công nghệ, do trình độ nhân lực. Nghị định 111/CP và các văn bản khác của Chính phủ có hướng tới phát triển Công nghiệp hỗ trợ nhưng chưa có chương trình phát triển hành động cụ thể.

Dù vấn đề này đã được đưa ra bàn thảo từ nhiều năm trước, nhưng việc tiến hành vẫn còn chậm chạm, khiến tốc độ phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam vẫn chưa theo kịp nhu cầu.

Nếu làm phép so sánh với các quốc gia mạnh về xuất khẩu dệt may như Ấn Độ, Bangladesh, sự hỗ trợ trong phát triển chính sách riêng biệt dành cho xuất khẩu, cho phát triển công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn hạn chế.

Ví dụ như với Bangladesh có chính sách cụ thể dành cho xuất khẩu giai đoạn 2015-2018 trong đó ưu tiên xuất khẩu dệt may.

Những doanh nghiệp xuất khẩu dệt may sẽ được hưởng ưu đãi về thuế vay xuất khẩu thấp hơn, hoàn thuế thu nhập, hỗ trợ tiếp cận thị trường nước ngoài, tiếp cận giá các dịch vụ ga, nước, điện rẻ hơn…

Công nhân May 10 làm chủ dây chuyền sản xuất. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Công nhân May 10 làm chủ dây chuyền sản xuất. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Hay như Ấn Độ có riêng một Bộ Dệt may, có rất nhiều quỹ và chương trình phát triển riêng biệt cho ngành dệt may như các quỹ như quỹ hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu EPF, quỹ đào tạo nguồn nhân lực Smarth, các quỹ để hỗ trợ khuyến khích xây dựng khu công nghiệp dệt may, hỗ trợ xây dựng mạng lưới marketing và bán hàng ở nước ngoài…

Việt Nam chưa có các chính sách cụ thể dành cho hỗ trợ phát triển cho ngành dệt may như các nước này, chính sách ở các địa phương nhiều khi còn chung chung chưa cụ thể, chỉ ưu đãi nhiều cho khối FDI, nhiều địa phương thậm chí còn hạn chế các dự án dệt nhuộm do quan ngại vấn đề ô nhiễm môi trường.

– Một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, EVIPA được ký kết mang lại kỳ vọng thu hút đầu tư nước ngoài vào lấp lỗ hổng thiếu nguyên phụ liệu sản xuất, xin ông cho biết tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may?

Ông Cao Hữu Hiếu: Nếu tính bình quân trong 6 năm (từ 2013 đến 2018), trung bình 1 tỷ USD vốn đầu tư FDI thêm vào dệt may tạo ra 10,2 tỷ USD xuất khẩu. Tổng vốn đăng ký FDI vào dệt may giai đoạn 6 năm 2013-2018 đạt gần 9,6 tỷ USD, vượt tổng số vốn FDI vào dệt may trong giai đoạn 24 năm trước đó (từ năm 1988 là thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa đón dòng vốn FDI đến năm 2012 đạt 8 tỷ USD).

Đóng góp xuất khẩu của khối FDI vào xuất khẩu chung của toàn ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 6 năm trở lại đây là đáng kể, trung bình chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước (trong đó xuất khẩu xơ, sợi chiếm khoảng 70% và xuất khẩu hàng dệt may chiếm khoảng 59% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng tương ứng của cả nước).

Nhâ viên Công ty May Hưng Yên sản xuất đơn hàng phục vụ xuất khẩu. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Nhâ viên Công ty May Hưng Yên sản xuất đơn hàng phục vụ xuất khẩu. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) giai đoạn 2013-2018 về xuất khẩu dệt may của khối FDI đạt 11,75%, cao hơn CAGR xuất khẩu dệt may của khối doanh nghiệp trong nước cùng thời kỳ ở mức 10,7%, hàm ý tăng trưởng xuất khẩu của khối FDI tốt hơn khối doanh nghiệp trong nước.

Có thể nói các Hiệp định Thương mại tự do đã góp phần mang đến nhiều cơ hội đầu tư cho Việt Nam. Tổng vốn đăng ký FDI của Trung Quốc vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 1,56 tỷ USD với 233 dự án (các dự án sản xuất linh kiện điện tử và các sản phẩm từ thép chiếm 50% tổng vốn đăng ký).

Có thể nói các Hiệp định Thương mại tự do đã góp phần mang đến nhiều cơ hội đầu tư cho Việt Nam.

Trong đó lĩnh vực dệt may có 11 dự án, tổng vốn đăng ký 190,5 triệu USD, tăng 4,1 lần so với cùng kỳ năm trước (5 tháng đầu năm 2018 chỉ có 8 dự án với tổng vốn đăng ký là 46 triệu USD).

Về lĩnh vực đầu tư trong 5 tháng đầu năm 2019, tỷ trọng đầu tư vào khâu sản xuất sợi, dệt nhuộm chiếm đa số 153 triệu USD tương đương 80% tổng vốn đăng ký FDI của Trung Quốc vào dệt may.

– Vậy ông có đề xuất gì về mặt chính sách với các cơ quan quan lý nhà nước và có khuyến cáo gì với doanh nghiệp trong nước để chúng ta có thể chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất?

Ông Cao Hữu Hiếu: Điểm khó của các nhà đầu tư tôi đã đề cập ở trên, về vốn, về thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao, về năng lực cạnh tranh

Còn về mặt chính sách, từ lâu chúng tôi đã có các kiến nghị cụ thể như mong muốn có chính sách hỗ trợ phát triển vùng công nghiệp tập trung riêng cho dệt may, trong đó quy tụ các khâu sản xuất theo chuỗi.

Chúng tôi có các kiến nghị mong muốn Chính phủ đưa ra chính sách cụ thể với các ưu đãi về đất, về vốn, về hỗ trợ phát triển công nghệ, về đào tạo nhân lực, về lãi suất ưu đãi… riêng cho ngành dệt may do đặc thù của các dự án.

Sản phẩm quần áo của Tổng công ty cổ phần May10. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Sản phẩm quần áo của Tổng công ty cổ phần May10. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Còn đối với doanh nghiệp dệt may, tôi nhận thấy hiện tại Việt Nam đang đứng trước những cơ hội rất lớn, một phần do các Hiệp định Thương mại tự do mang lại, một phần do xu thế chuyển dịch ra nước ngoài của những ông lớn về dệt may tại Trung Quốc.

Ở thời điểm năm ngoái, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã lên kế hoạch dịch chuyển sản xuất ra nước ngoài do một vài năm gần đây, họ phải đối mặt với giá thành sản xuất gia tăng cũng như tránh hệ lụy của Chiến tranh Thương mại Mỹ-Trung diễn ra từ năm 2019.

Trước làn sóng FDI, tôi nghĩ doanh nghiệp dệt may nội địa cần phải thực sự chủ động để không bị lép vế, tránh trở thành công ty chỉ được “gia công” cho các doanh nghiệp FDI và chủ động về nguyên phụ liệu là mấu chốt để thành công về lâu dài trong cuộc đua cạnh tranh khốc liệt như hiện tại. 

Tới năm nay, làn sóng dịch chuyển tôi nghĩ còn nhiều hơn nữa bởi dịch bệnh tại Trung Quốc ảnh hưởng tới toàn bộ chuỗi cung ứng trên toàn cầu. Do đó, trước làn sóng FDI, tôi nghĩ doanh nghiệp dệt may nội địa cần phải thực sự chủ động để không bị lép vế, tránh trở thành công ty chỉ được “gia công” cho các doanh nghiệp FDI và chủ động về nguyên phụ liệu là mấu chốt để thành công về lâu dài trong cuộc đua cạnh tranh khốc liệt như hiện tại.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Linh hoạt xoay chuyển, hút đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ

Việc đánh giá tác động ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến các ngành sản xuất của Cục công nghiệp (Bộ Công Thương) đã khắc họa rõ nét những điểm yếu lớn nhất của nhiều ngành sản xuất trong nước – đó chính là việc phụ thuộc rất lớn vào các chuỗi cung ứng nước ngoài, không tự chủ được về các yếu tố đầu vào của sản xuất dẫn đến tình trạng phụ thuộc phần lớn vào linh phụ kiện, nguyên vật liệu nhập khẩu.

Thực tế này cũng kéo theo việc nhập siêu nguyên phụ liệu từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc… khiến giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp nội địa rất thấp. Hơn thế là rất dễ bị tổn thương trước những biến động về chính trị, kinh tế và xã hội trên thế giới.

Bên cạnh đó, việc phụ thuộc phần lớn linh kiện và phụ tùng nhập khẩu đã làm cho giá trị gia tăng tạo ra do ngành công nghiệp chế biến chế tạo rất thấp so với các quốc gia trong khu vực.

Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất và kỹ năng lao động, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho sản phẩm và chất lượng nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng nhất để Việt Nam tăng trưởng bền vững trong dài hạn, nâng cao chất lượng nền kinh tế.

Linh hoạt xoay chuyển

Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện nay hàm lượng giá trị gia tăng trong nước với ngành dệt may, da giày mới đạt trên 50%.

Chỉ tính riêng năm 2019, Việt Nam đã chi 2,47 tỷ USD để nhập khẩu bông các loại và 2,3 tỷ USD để nhập xơ, sơi và tới 12,69 tỷ USD để nhập vài, 5,61 tỷ USD nhập nguyên phụ liệu dệt may, da giày chủ yếu từ các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh trực tiếp làm việc với các doanh nghiệp dệt may, da giày trên địa bàn Hà Nội để bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất-kinh doanh. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Bộ trưởng Trần Tuấn Anh trực tiếp làm việc với các doanh nghiệp dệt may, da giày trên địa bàn Hà Nội để bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất-kinh doanh. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Việc không chủ động được nguyên phụ liệu trong nước mà phụ thuộc vào nhà cung cấp nước ngoài cũng làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, những bất cập rõ rệt nhất đã được chứng minh trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 bùng phát từ sau Tết Nguyên đán.

Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội Dệt may Thêu đan Thành phố Hồ Chí Minh (AGITEX), chia sẻ nguyên liệu là vấn đề mấu chốt của ngành may và ngành này đang phụ thuộc khoảng 50% vào nguồn nhập khẩu từ Trung Quốc.

Trong bối cạnh dịch COVID-19, để tìm nguyên liệu phù hợp không dễ vì hiện sản phẩm dệt may hầu hết xuất khẩu đi châu Âu, Hoa Kỳ,… nên phải đáp ứng nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu từ vải trở lên.

“Trong những nước mà Việt Nam có thể tìm mua nguyên liệu chỉ có Hàn Quốc là có FTA với châu Âu. Trong khi nước này không đủ nguyên liệu để cung cấp cho cả ngành dệt may của Việt Nam,” ông Hồng nói.

Đánh giá của ông Nguyễn Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội bông sợi Việt Nam, cho thấy dệt may là ngành đặc thù được liên kết theo chuỗi cung ứng từ nguyên liệu đến kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất và may trên quy mô toàn cầu và cấu trúc song song theo chuỗi giá trị.

Dệt may là ngành đặc thù được liên kết theo chuỗi cung ứng từ nguyên liệu đến kéo sợi, dệt, nhuộm, hoàn tất và may trên quy mô toàn cầu và cấu trúc song song theo chuỗi giá trị.

Ở Việt Nam, ngoài những doanh nghiệp FDI lớn sở hữu cả chuỗi cung ứng trong đó có nhuộm, chỉ có vài doanh nghiệp lớn trong nước có khâu đoạn nhuộm nhưng quy mô nhỏ và chất lượng ở mức trung bình.

Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp nhuộm nhỏ trong nước tồn tại ở các làng nghề, phân tán, công nghệ lạc hậu… Chính vì vậy, việc phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào khiến hiện tại Việt Nam khó thoát khỏi phương thức gia công tại phân khúc may vốn có giá trị sản xuất rất thấp.

“Trải thảm đỏ” hút đầu tư

Để tháo gỡ nút thắt giúp ngành dệt may có thể tự chủ hơn về nguyên phụ liệu, theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam cần có nhiều chính sách để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đồng thời phải có quy hoạch quốc gia về xây dựng những vùng nguyên liệu, chiến lược về phát triển các vùng nguyên liệu hoặc các nguồn nguyên liệu nhập khẩu thay thế.

Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), cho rằng ngành dệt may rất cần giải pháp để khắc phục “nút thắt cổ chai” trong chuỗi cung ứng.

Công nhân May 10 sản xuất hàng xuất khẩu. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Công nhân May 10 sản xuất hàng xuất khẩu. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Cụ thể, ông đề nghị Nhà nước cần khẩn trương xây dựng quy hoạch, phát triển ngành dệt may tầm nhìn 2035-2040, đặt vai trò của Chính phủ với các địa phương, các khu công nghiệp, đầu tư vào công nghiệp dệt nhuộm.

Thêm vào đó, Bộ Công Thương phải là trụ cột trong chiến lược xây dựng nền tảng phụ trợ với ngành công nghiệp dệt may da giày cũng như sự minh bạch để tạo ra nền tảng pháp lý để thu hút đầu tư, tạo điều kiện cho ngành bứt phá.

Tính riêng năm 2019, xuất khẩu dệt may đã đem về gần 40 tỷ USD; trong đó sản phẩm dệt may của Việt Nam đã có mặt tại các thị trường khó tính nhất như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Tuy nhiên, ông Trương Thanh Hoài, Cục trưởng Cục công nghiệp (Bộ Công Thương), cho rằng điểm nghẽn lớn nhất của ngành da giày và dệt may đó là mới tham gia vào chuỗi giá trị ở phân khúc thấp, chủ yếu gia công, trong khi phần thương hiệu và thiết kế là khâu tạo ra giá trị gia tăng rất lớn song vẫn còn hạn chế.

Điểm nghẽn lớn nhất của ngành da giày và dệt may đó là mới tham gia vào chuỗi giá trị ở phân khúc thấp, chủ yếu gia công, trong khi phần thương hiệu và thiết kế là khâu tạo ra giá trị gia tăng rất lớn song vẫn còn hạn chế.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nội vẫn phải nhập khẩu lượng lớn nguyên phụ liệu đầu vào để phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Vì vậy, để tạo ra những chính sách đột phá, ông Hoài nhấn mạnh rằng trong Chiến lược phát triển của ngành trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tập trung giải quyết đồng bộ các vấn đề, từ khâu thiết kế, thương hiệu sau đó là phát triển nguồn cung nguyên phụ liệu.

“Bộ sẽ tổ chức hội nghị toàn quốc về dệt may-da giày ngay vào trung tuần tháng 3 này để trên cơ sở đó sẽ ban hành Chiến lược phát triển ngành giai đoạn tới. Ngoài ra, Cục cũng đang làm việc với các cơ quan của Quốc hội để bổ sung ngành dệt may, da giày vào luật đầu tư để bổ sung vào các ngành công nghiệp ưu tiên trong giai đoạn tới và trên cơ sở đó Việt Nam sẽ ban hành các hành lang pháp lý nhằm hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các ngành này,” ông Trương Thanh Hoài thông tin thêm.

Bên cạnh đó, để tận dụng hiệu quả hai hiệp định thương mại tự do vừa ký kết là CPTPP và EVFTA, theo ông, điều quan trọng là các doanh nghiệp phải đầu tư được các dây chuyền hiện đại đáp ứng các yêu cầu về nguyên phụ liệu của các chuỗi thời trang trên thế giới, thực tế này cũng đòi hỏi sự hỗ trợ của Nhà nước bên cạnh các chính sách khác về vốn và môi trường…

Đáng chú ý, nhằm tạo ra các hành lang pháp lý, hiện Bộ Công Thương đang dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ với nhiều chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.

Một trong những điểm nhấn của chính sách này là các doanh nghiệp có dự án sản xuất hoặc tham gia các công đoạn sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được vay với lãi suất vay tín dụng đầu tư từ nguồn tín dụng đầu tư của Nhà nước và được xem xét cấp bù lãi suất khi vay từ Ngân hàng thương mại.

Hội chợ triển lãm là cơ hội để doanh nghiệp dệt may tìm đối tác và cập nhật công nghệ. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Hội chợ triển lãm là cơ hội để doanh nghiệp dệt may tìm đối tác và cập nhật công nghệ. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Riêng đối với chính sách cho vay vốn lưu động, dự thảo đề xuất các doanh nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay tối đa 80% giá trị hợp đồng hợp đồng sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.

Ngoài ra, về chính sách hỗ trợ bảo vệ môi trường, dự thảo cũng đưa ra việc hỗ trợ đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải rắn tập trung và hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường từ nguồn vốn đầu tư phát triển của ngân sách địa phương và nguồn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương tại các khu, cụm công nghiệp có tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển thuê, thuê lại tối thiểu đạt 20%.

Cùng với những chính sách trên, nhằm duy trì vị thế của ngành dệt may Việt Nam trong bản đồ dệt may thế giới, các chuyên gia cũng lưu ý doanh nghiệp cần có biện pháp mới nhằm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh tạo cơ hội để xây dựng thị trường.

Tiếp đến là chủ động liên kết với khách hàng nhằm hình thành chuỗi sản xuất, đáp ứng quy tắc xuất xứ theo cam kết của các hiệp định thương mại tư do (FTA)./.

奋战在新冠肺炎防控一线的越南边防部队:官兵住帐篷、躺森林防止新冠肺炎疫情入侵(第一期)

越通社河内2020年3月2日——针对在中国爆发的新型冠状病毒感染的肺炎疫情(以下简称新冠肺炎疫情)日益复杂严峻,为了做好阻止和控制居民在边境通道和便道出入境的工作,驻扎在边境地区的越南边防部队力量搭建帐篷,就地吃住并在寒冷的天气里进行24小时值班巡查,致力于完成新冠肺炎防控一线的使命。

      老街省边防部队力量不管在夜间还是白天都在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄
      老街省边防部队力量不管在夜间还是白天都在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄

越南与中国的陆地边界线长约1400公里,连接越南7个省与中国2个省区。在两国共同的边界线上,除了各双边口岸之外,还有许多边境通道和便道。针对在中国爆发的新型冠状病毒感染的肺炎疫情(以下简称新冠肺炎疫情)日益复杂严峻,为了做好阻止和控制居民在边境通道和便道出入境的工作,驻扎在边境地区的越南边防部队力量搭建帐篷,就地吃住并在寒冷的天气里进行24小时值班巡查,致力于完成新冠肺炎防控一线的使命。

在越中边界线上,越南边防部队已在各边境通道和便道建立535个驻守岗位和工作小组,共有2800余名官兵参加。他们不管雨天还是晴天都保持24小时值班值守和巡查。

老街省边防部队本楼(Bản Lầu)边防哨所负责管理17公里长的边界线。在这条边界线上有着许多通道和便道,其中多处仅一溪之隔。为落实越南边防部队司令部的指示,本楼边防哨所已在边境地区搭建野战帐篷并进行24小时值班巡查,目的是阻止并检查居民的出入境工作。坐在宽约12平方米的野战帐篷里,本楼边防哨所的赵进银上尉边喝茶边回想第一天他和同志们一起搭建野战帐篷之事。当天大雨倾盆,但任务在身,搭建好帐篷是当务之急,因此,每个人各司其职,有人进村寨动员村民同意借地,有人则负责搬运东西过来等。自野战帐篷建好以来,他们5个人组成的工作小组轮流值班并进行24小时巡查,坚决不让居民非法出入境。

        老街省边防部队力量不管在夜间还是白天都在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄
        老街省边防部队力量不管在夜间还是白天都在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄

赵进银上尉说:“从接受春节值班值守任务以来已一个多月了我还没能回家探望亲人。春节值班任务结束后,我立刻接受在边境地区执行新冠肺炎疫情防控工作的值班巡查任务。作为边防部队的战士,我愿意克服一切困难,积极执行上级交给的任务。至今,虽然还没有具体的计划,但我和其他同志们始终都贯彻‘彻底消灭疫情才归’的精神。”

本楼边防哨所副政治指导员范善行大尉表示,新冠肺炎疫情的复杂化使得疫情跨境传播的可能性很大,因此,本单位一直鼓励所有干部和战士们主动克服困难,并提高“防疫如防敌”的精神。哨所里的一些战士执行春节值班到现在还没能回家探望亲人,但他们仍很乐意地完成任务。“以保卫祖国一线的任务和边防部队战士的职责,我们将加倍努力阻止疫情跨境传播,避免在越南境内扩散蔓延”,范善行大尉强调。与老街省边防部队干部和战士们相同,谅山省边防部队干部和战士们也加强巡逻,控制并对自己负责管理的边界线的每一个通道及便道进行值守检查。

       老街省边防部队力量不管在夜间还是白天都在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄 
       老街省边防部队力量不管在夜间还是白天都在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄 

为了防止在边境通道和便道非法过境,正在边界线上的野战帐篷里值班值守的谅山省边防部队干部和战士们已尽量忘记思乡、思亲之情,在边境寒风刺骨的天气里值班值守。他们当中甚至有人从灶神节(即农历2019年腊月23日)至今还未回家探亲过。

越南边防部队政治部副主任文玉桂大校:近一个月来,与中国接壤的越南7个省份的边防部队已将约6000名通过边境通道和便道非法入境的人员移交给职能机关并送到隔离场所进行隔离。

谅山省友谊国际口岸边防哨所的杨文好大尉分享说:“虽然远离家人和妻儿,但我们一直下决心积极执行阻止疫情传播的任务。”谅山省有着230余公里长的边界线,其中拥有诸多边境通道和便道。为防止疫情跨境传播,谅山省边防部队已制定本着“四个就地”方针(即调集当地队伍、利用现有工具、进行实地指挥和做好后勤保障)的计划。特别是,谅山省边防部队已在边界全线搭建与建立100余个野战帐篷和工作小组等,进而最大限度地减少非法出入境情况,尽量降低疫情传播的危机。友谊国际口岸边防哨所政治指导员韦文谨中校强调,该单位已与海关、公安和人民配合进行24小时值班值守和巡查,确保不让任何人员非法出入境等。

               河江省边防部队力量在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄
               河江省边防部队力量在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄

在河江省,针对日益复杂严峻的新冠肺炎疫情,河江省边防部队指挥部早在2020年1月26日(即农历大年初二)已制定与公安、人民、卫生等力量联合防疫的具体计划。同时调动军医队伍参加防疫工作以及成立数十个工作小组在边境通道和便道值班和巡查、2个机动工作小组随时在重点地区进行执行任务。

              莱州省边防部队力量在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄
              莱州省边防部队力量在边境通道和便道进行24小时值班巡查。越通社记者 功宣摄

河江省边防部队指挥部后勤部副主任阮青河少校表示,河江省边防部队指挥部指导成立近40个工作小组并在各通道和便道搭建野战帐篷值班值守;同时成立2个机动小组随时在重点地区应对疫情。在各边境通道和便道值班值守的工作小组严格控制和监测过境的人员,确保不让新冠肺炎传入越南境内。此外,在边境地区执行任务的干部和战士们都得以配备充足的医用口罩、杀菌剂等,满足防疫要求。在河江省同文县龙居乡(Lũng Cú)的419号界碑附近搭建有一个野战帐篷,这里有6名战士组成的工作小组。他们就在帐篷中吃住,并轮流顶着刺骨的寒风24小时坚守岗位值班,旨在阻止新冠肺炎疫情进入境内。

新型冠状病毒感染的肺炎疫情于2019年12月首次在中国湖北省武汉市发现。其后在中国31个省市蔓延。截止3月2日12时30分,全球共有77个国家和地区确认有89050例新冠肺炎确诊病例,死亡病例3053例,治愈出院45054例。其中,中国新冠肺炎确诊病例80026例,死亡病例2912例。在越南共发现新冠肺炎确诊病例16例,但全部已治愈出院。

龙居边防哨所战士黎文合大尉表示,由于驻守岗位没有电也没有水非常困难,但本着“防疫如防敌”的精神,因此,战士们都相互鼓励共同克服困难以积极完成任务。“在这里值班和巡查期间,执行任务的战士们已及时阻止数十名人员非法出入境,并向他们解释和宣传有关新冠肺炎的情况及其对人们生命健康造成的危害。同时将从中国回来的若干名越南劳动者送到隔离场所进行医学观察等” ,黎文合大尉分享说。

在越中边界线上,越南边防部队已搭建数百个野战帐篷和调动数千名边防战士坚守边境岗位,彻底阻止非法出入境行为。虽然,这段时间边境地区温度降低,寒风刺骨,许多岗位没有电、没有水也没有信号,但在一线值守防疫的越南边防部队干部和战士们都下决心并互相鼓励坚持到“彻底消灭疫情才归”。(未完待续)

         第二期:加大关于新冠肺炎疫情防控工作的宣传力度

                                                            

                                                       

Hiệu ứng đám đông mùa dịch COVID-19

Những hình ảnh tranh cướp mua hàng tại các siêu thị và cửa hiệu, cảnh tượng hỗn loạn của biển người chen lấn để mua bằng được lương thực, thuốc men và nhu yếu phẩm, các kệ hàng lộn xộn, trống trơn đối lập với những dòng người rồng rắn xếp hàng chờ thanh toán… đang trở nên khá phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới khi dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 diễn biến phức tạp.

Báo chí quốc tế đã dùng phép so sánh “cơn sốt mua hàng tích trữ lây lan” để mô tả làn sóng người dân đổ xô tới siêu thị và chợ “vét sạch” nhiều loại hàng hóa.

Hiện tượng “giấy vệ sinh cháy hàng” được coi như “điểm nhấn” của làn sóng tích trữ hàng hóa liên quan tới dịch COVID-19

Tình trạng này một phần phản ánh nỗi sợ hãi thái quá của người dân khi dịch bệnh do virus SARS-CoV-2 gây ra đang lây lan nhanh chóng và chưa kiểm soát được tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, song mặt khác, nó cho thấy tâm lý đám đông, một khi bị những yếu tố sai lệch chi phối, có thể dẫn tới những hành động tiêu cực, gây ra những hệ lụy khó lường đối với đời sống kinh tế-xã hội trên toàn cầu, vốn đang oằn mình gánh đỡ những tác động nặng nề của dịch bệnh.

Những yếu tố sai lệch như vậy có thể bắt nguồn từ luồng thông tin giả mạo lan tràn trên mạng xã hội, những tin đồn ác ý hay hành vi cố tình kích động, gây hoang mang, lo sợ cho người khác.

Hiện tượng “giấy vệ sinh cháy hàng” xuất phát từ châu Á hồi tháng Hai vừa qua, sau đó theo đà lan xa của virus SARS-CoV-2 trên thế giới, tiếp tục xảy ra ở châu Âu, Bắc Mỹ và Australia…, có lẽ sẽ được coi như “điểm nhấn” của làn sóng tích trữ hàng hóa liên quan tới dịch COVID-19.

Kệ hàng hóa trống trơn trong siêu thị tại Villeneuve-la-Garenne, Paris, Pháp, ngày 5/3/2020, trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)
Kệ hàng hóa trống trơn trong siêu thị tại Villeneuve-la-Garenne, Paris, Pháp, ngày 5/3/2020, trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)

Bộ trưởng Thương mại Singapore Chan Chun Sing đã cảnh báo về hành vi hoảng loạn mua đồ tích trữ theo kiểu bắt chước nhau mà không cần suy nghĩ tính toán. Đây cũng có thể coi như một loại “virus” có sức lây lan nguy hiểm.

Hoang mang trước thông tin các ca nhiễm virus SARS-CoV-2 không ngừng tăng lên và bị bủa vây trong “cơn bão” tin giả trên mạng xã hội, người dân Anh ùn ùn đổ tới các siêu thị và cửa hàng bán lẻ để nhặt nhạnh nước rửa tay, giấy vệ sinh, mỳ ống và gạo…

Các kệ hàng trống trơn – hình ảnh hiếm thấy tại các siêu thị ở Anh vốn nổi tiếng là có nguồn cung ổn định – nay lan tràn trên mặt báo. Theo kết quả khảo sát của hãng nghiên cứu bán lẻ Retail Economics đối với trên 2.000 người tiêu dùng, cứ 10 người dân Anh thì có 1 người tới “càn quét” các siêu thị để tích trữ nhu yếu phẩm. Nhiều người bày tỏ nỗi lo sợ thiếu thốn thực phẩm và nhu yếu phẩm nếu phải tự cách ly vài tuần ở nhà trong trường hợp bùng dịch COVID-19, trong khi nhiều người thừa nhận họ hành động theo đám đông.

Theo khảo sát đối với trên 2.000 người tiêu dùng, cứ 10 người dân Anh thì có 1 người tới “càn quét” các siêu thị để tích trữ nhu yếu phẩm

Thực trạng này đã buộc Chính phủ Anh phải thành lập một lực lượng nhằm phát hiện và xử lý những đối tượng tung tin giả mạo về dịch bệnh, gây tâm lý hoang mang trong dư luận. Các siêu thị ở Anh cũng bắt đầu áp dụng hình thức hạn chế số lượng mua một số mặt hàng thiết yếu để tránh nguy cơ khan hiếm.

Tại Italy, quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất ngoài Trung Quốc đại lục, với 9.172 ca nhiễm và 463 ca tử vong tính đến ngày 10/3, sau khi chính phủ của Thủ tướng Giuseppe Conte quyết định mở rộng lệnh phong tỏa ra toàn bộ “đất nước hình chiếc ủng” với hơn 60 triệu dân, người Italy cũng vơ vét hàng hóa tại các siêu thị.

Từ thủ đô Rome tới thành phố Naples, những hàng dài người nhẫn nại xếp hàng bên ngoài các cửa hiệu lúc nửa đêm để chờ mua các mặt hàng đang ngày càng khan hiếm như xà phòng và nước rửa tay, đến giấy vệ sinh, bánh quy, pasta và đồ hộp. Theo các chuyên gia kinh tế, do nhu cầu của người tiêu dùng tăng đột biến trong những ngày gần đây, doanh thu của các chuỗi siêu thị ở Italy đã nhảy vọt ở mức hai con số.

Cảnh hỗn loạn cũng xuất hiện ở vùng đô thị Bangkok ở Thái Lan khi người dân lùng sục những mặt hàng thiết yếu có thể dự trữ lâu ngày như mỳ gói, gạo, giấy ăn, cá đóng hộp và nước đóng chai. Các tập đoàn bán lẻ lớn như Tops Supermarket, Tesco Lotus, Mall Group và Big C Supercenter đã thừa nhận rằng những mặt hàng nói trên, đặc biệt là mỳ gói, được người dân mua với số lượng rất lớn để tích trữ.

Người dân xếp hàng chờ mua khẩu trang tại siêu thị ở Daegu, cách thủ đô Seoul của Hàn Quốc 300km về phía đông nam. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người dân xếp hàng chờ mua khẩu trang tại siêu thị ở Daegu, cách thủ đô Seoul của Hàn Quốc 300km về phía đông nam. (Ảnh: THX/TTXVN)

Đó chỉ là một vài nét nổi bật trong bức tranh hỗn loạn mô tả cảnh tượng chung tại các siêu thị, cửa hàng bán lẻ trên thế giới thời gian qua. Các chuyên gia trong lĩnh vực tiêu dùng lý giải tình trạng này một phần xuất phát từ tâm lý hoang mang, lo sợ của con người trước những diễn biến xấu như chiến tranh, dịch bệnh…

Trong những tình huống này, cuộc sống thường ngày bị đảo lộn, nỗi sợ phải đối mặt với tình trạng thiếu nguồn cung ngày càng tăng có thể đã thúc đẩy tâm lý tích trữ.

Giáo sư Khoa học hành vi và tâm thần tại Đại học Northwestern (Mỹ), ông Stewart Shankman, cho rằng: “Mọi người đang tìm kiếm một cảm giác rằng mình có thể kiểm soát tình hình bằng cách mua những món mà họ không thực sự cần. Đó là một cảm giác kiểm soát giả tạo.” Trong khi đó, nhiều quốc gia được đánh giá và cũng đã chứng minh đủ năng lực giải quyết trong trường hợp xảy ra khủng hoảng về nguồn cung hàng hóa.

“Mọi người đang tìm kiếm một cảm giác rằng mình có thể kiểm soát tình hình bằng cách mua những món mà họ không thực sự cần. Đó là một cảm giác kiểm soát giả tạo” (Giáo sư Stewart Shankman)

Tuy nhiên, trên thực tế, tâm lý bất an quá đà khiến không ít người mua tích trữ bởi thấy mọi người đều làm như vậy chứ không phải vì mình cần. Nói cách khác là hành động của người này đã “kích hoạt” sự lo lắng của người khác.

Bên cạnh đó, những thông tin đồn thổi hay sai lệch cũng tác động không nhỏ. Giáo sư tâm lý học rủi ro tại Đại học Doshisha (Nhật Bản) Kazuya Nakayachi cho rằng hiện tượng tích trữ hàng hóa liên quan tới việc mọi người nghe nói rằng một loại mặt hàng nào đó sẽ khan hiếm, dẫn tới họ mua thật nhiều mặt hàng đó. Những người đến sau thấy mặt hàng này đã “biến mất,” đổ xô đi săn lùng và cố gắng mua hết những gì còn lại. Đơn cử như việc người dân Hong Kong (Trung Quốc) đã “cuống cuồng” tích trữ giấy vệ sinh và nhiều nhu yếu phẩm sau khi xuất hiện tin đồn hàng hóa sắp khan hiếm vì dịch COVID-19, dù chính quyền đặc khu đã bác bỏ những tin đồn này.

Người dân Hàn Quốc xếp hàng mua khẩu trang phòng dịch COVID-19 tại Daegu, cách Seoul khoảng 330km về phía Đông Nam, ngày 27/2/2020. (Ảnh: Yonhap/TTXVN)
Người dân Hàn Quốc xếp hàng mua khẩu trang phòng dịch COVID-19 tại Daegu, cách Seoul khoảng 330km về phía Đông Nam, ngày 27/2/2020. (Ảnh: Yonhap/TTXVN)

Hành vi tích trữ hàng hóa trước hết có thể gây rối loạn thị trường bởi nó gây tình trạng khan hiếm ảo, vô hình trung tạo cơ hội cho những kẻ đầu cơ trục lợi, găm hàng để đẩy giá hàng hóa lên cao mà khi đó người tiêu dùng là đối tượng bị ảnh hưởng trước tiên.

Bên cạnh đó, tình trạng gia tăng đột biến nhu cầu hàng hóa như vậy ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động ổn định của các doanh nghiệp. Hơn nữa, trong bối cảnh mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu đang chịu tác động nặng nề của dịch bệnh tại Trung Quốc, nhà cung cấp nguyên liệu hàng đầu thế giới, tình trạng tích trữ hàng hóa có thể khiến những tác động này ngày càng trầm trọng.

Hiện tượng tích trữ hàng hóa còn có thể gây thêm tâm lý hoang mang và mất lòng tin của người dân, trong một số trường hợp dẫn tới những hành động quá khích, thậm chí là phạm tội. Điển hình như vụ ba người đàn ông bịt mặt dùng dao khống chế một tài xế xe tải bên ngoài siêu thị ở quận Mong Kok, Hong Kong (Trung Quốc) để cướp 600 cuộn giấy vệ sinh trị giá 1.600 HKD (tương đương hơn 205 USD), khi tình trạng “săn lùng” giấy vệ sinh đang lan nhanh ở khu vực châu Á vào trung tuần tháng Hai.

Những hình ảnh “mua tranh, bán cướp” trong bối cảnh dịch bệnh trầm trọng như COVID-19 có thể xem là “hành động xấu xí”

Nhà sáng lập và Giám đốc điều hành của hãng tư vấn Mỹ WSL Strategic Retail, Wendy Liebman, còn cho rằng hành vi tích trữ hàng hóa là “không nhân văn.” Quả thực, việc mỗi người dân ồ ạt tích trữ một khối lượng hàng hóa lớn khiến cho nhiều người không thể mua được những món hàng thiết yếu nếu dịch bệnh bùng phát mạnh. Khi nhiều cửa hàng Walgree ở miền Nam California, Mỹ, hết sạch thuốc ho, thuốc cảm cúm, bình xịt, khẩu trang và nhiệt kế, rất nhiều người thực sự cần để điều trị bệnh và ngăn ngừa virus sẽ không được cung cấp.

Ở khía cạnh khác, những hình ảnh “mua tranh, bán cướp” trong bối cảnh dịch bệnh trầm trọng như COVID-19 có thể xem như “hành động xấu xí,” bởi nó phản ánh một “bức tranh màu xám” về ý thức xã hội, ý thức cộng đồng.

Hành động chỉ lo vơ vét tích trữ hàng hóa cho mình, để bảo vệ mình mà không nghĩ tới những người xung quanh chính là biểu hiện của sự ích kỷ, thiếu trách nhiệm đối với xã hội. Bình tĩnh, không để những thông tin sai lệch chi phối và không chạy theo “hội chứng đám đông” có lẽ là chìa khóa để tránh những “hành động xấu xí” như vậy./.

Người dân Hàn Quốc xếp hàng mua khẩu trang phòng 
Người dân Hàn Quốc xếp hàng mua khẩu trang phòng 

Chiến thắng Buôn Ma Thuột

Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975 đã mở màn thắng lợi cho chiến dịch Tây Nguyên, tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng, thúc đẩy nhanh tiến trình của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

45 năm sau ngày giải phóng, thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và tỉnh Đắk Lắk nói chung đã “thay da đổi thịt” với những bước tiến vượt bậc trên mọi lĩnh vực.

Cuối năm 1974, cục diện chiến trường miền Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ, các lực lượng cách mạng miền Nam liên tiếp giành được nhiều thắng lợi, thế và lực của ngụy quân, ngụy quyền ngày càng suy yếu. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị đã họp và nhận định tình hình, thời cơ chiến lược mới, từ đó hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 đến 1976, chọn Tây Nguyên làm hướng tấn công chủ yếu trong năm 1975 và quyết định lấy Buôn Ma Thuột làm mục tiêu của chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.

Đòn “điểm huyệt” tạo đột biến về chiến lược

Việc lấy Buôn Ma Thuột làm mục tiêu quyết chiến trong mùa Xuân 1975 có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Buôn Ma Thuột là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk và cũng là thị xã đầu tiên của Tây Nguyên. Đây là một đô thị có giá trị chiến lược không những đối với Tây Nguyên mà cả miền Nam.

Giải phóng Buôn Ma Thuột sẽ tạo ra bàn đạp giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, đồng bằng ven biển miền Trung, mở ra hướng tiến công quan trọng vào Sài Gòn.

Để chuẩn bị giải phóng Buôn Ma Thuột, Trung ương Đảng đã chi viện cho Đắk Lắk Sư đoàn 10, Sư đoàn 316, Trung đoàn 95B, Tiểu đoàn 196 công binh và bộ binh, pháo binh. Cùng với đó, toàn thể quân và dân các dân tộc Đắk Lắk đồng loạt nổi dậy phối hợp tấn công. So sánh tương quan lực lượng lúc bấy giờ, quân ta hơn hẳn quân địch về số lượng, chất lượng và thiết bị, bố trí thế trận liên hoàn và hiểm hóc, hình thành những “quả đấm” mạnh ở những khu vực tác chiến then chốt của chiến dịch.

Được Quân ủy Trung ương và Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo, với sự chi viện dồi dào của hậu phương lớn, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị chủ lực và địa phương đều phấn khởi, tin tưởng, quyết tâm, hăng hái lập công.

Xe tăng quân giải phóng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, ngày 10/3/1975 trong chiến dịch Tây Nguyên. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Xe tăng quân giải phóng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, ngày 10/3/1975 trong chiến dịch Tây Nguyên. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Theo lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, để tạo bí mật cho trận quyết chiến chiến lược ở Buôn Ma Thuột, quân ta đã tiến hành kế hoạch nghi binh tài tình, thu hút sự đối phó của quân địch lên phía bắc Tây Nguyên. Vì vậy, đến đầu tháng 3/1975, quân địch vẫn chưa phát hiện quân ta sắp tấn công vào Buôn Ma Thuột, do đó vẫn điều quân từ Đắk Lắk để đối phó với quân ta tại chiến trường Bắc Tây Nguyên.

Sau quá trình chuẩn bị lực lượng, đúng 2 giờ 3 phút ngày 10/3/1975, từ các hướng, quân ta nổ súng tấn công vào thị xã Buôn Ma Thuột. Ngay trong ngày 10/3/1975, quân ta đánh chiếm được nhiều mục tiêu quan trọng.

Đến tối 11/3/1975, đoàn cán bộ chính trị gồm 83 người do đồng chí Tô Tấn Tài (Ama H’oanh) – Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột dẫn đầu, tiến vào thị xã, tỏa xuống các đường phố, khu dân cư, phát động quần chúng, kêu gọi những người chạy lánh cư trở về.

Xe tăng 980 của Trung đoàn Tăng-Thiết giáp 273, Mặt trận Tây Nguyên bắn sập và húc đổ cổng sắt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 ngụy, tạo điều kiện cho đồng đội tiến vào tiêu diệt các ổ đề kháng cuối cùng của địch trong trận giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 11/3/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Xe tăng 980 của Trung đoàn Tăng-Thiết giáp 273, Mặt trận Tây Nguyên bắn sập và húc đổ cổng sắt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 ngụy, tạo điều kiện cho đồng đội tiến vào tiêu diệt các ổ đề kháng cuối cùng của địch trong trận giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 11/3/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Ngày 18/3/1975, Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột do đồng chí Y’Blốc Êban, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đắk Lắk đã ra mắt nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi tiêu diệt lực lượng địch, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, Tỉnh ủy Đắk Lắk đã lãnh đạo các huyện sử dụng lực lượng địa phương phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kềm, truy quét tàn quân địch. Đến ngày 24/3/1975, tỉnh Đắk Lắk hoàn toàn được giải phóng.

Sau 45 năm giải phóng, những nhân chứng từng sống và chiến đấu trong thời khắc lịch sử quan trọng vẫn không khỏi bồi hồi, xúc động khi nhớ về sự kiện lịch sử này.

Một trong những người lính trực tiếp tham gia trận chiến Buôn Ma Thuột, cựu chiến binh Hồ Quảng Trị (sinh năm 1939) bồi hồi nhớ lại ngày 10/3/1975, đơn vị của ông có nhiệm vụ tấn công và tiêu diệt Tổng kho Mai Hắc Đế (kho chứa vũ khí, cung cấp hỏa lực cho các tỉnh Tây Nguyên của địch).

Cũng trong ngày 10/3/1975, đại đa số căn cứ của quân địch tại Buôn Ma Thuột đã bị quân ta đánh chiếm.

Đến ngày 11/3/1975, quân và dân ta tiêu diệt hết cứ điểm và đánh lùi các đợt phản kích nhằm tái chiếm Buôn Ma Thuột của quân địch. Quân và dân thị xã Buôn Ma Thuột ai nấy đều phấn khởi, đổ ra đường ăn mừng chiến thắng, cờ giải phóng tung bay khắp thị xã.

Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã giáng đòn điểm huyệt choáng váng, buộc quân địch phải rút bỏ Tây Nguyên, lực lượng tàn quân tháo chạy cũng bị tiêu diệt gọn

Chung niềm vui giải phóng của những ngày tháng Ba lịch sử, ông Lê Chí Quyết, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản tỉnh Đắk Lắk chia sẻ khi quân ta lần lượt hạ các căn cứ của địch và giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, nhân dân, quân đội đều hồ hởi, phấn khởi đổ ra đường hò reo, ca hát, nhảy múa quên cả mệt mỏi.

Trong cuốn sách “Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng,” cố Thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên) viết: “Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã giáng đòn điểm huyệt choáng váng, buộc quân địch phải rút bỏ Tây Nguyên, lực lượng tàn quân tháo chạy cũng bị tiêu diệt gọn. Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã tạo sức mạnh toàn diện mới. Điều quan trọng là nó đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về tinh thần, tư tưởng, về so sánh lực lượng, về thế chiến lược giữa ta và địch.”

Tạo đà cho giải phóng hoàn toàn miền Nam

Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, nhà quân sự, chiến thắng Buôn Ma Thuột bắt nguồn từ sự chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, nhận định đúng tình hình, chọn đúng thời cơ và địa điểm, có quyết tâm cao, động viên và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả nước về lực lượng, hậu cần và ý chí của toàn quân, toàn dân.

Chiến thắng là đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch, trước hết là nghệ thuật sử dụng không gian và thời gian mở chiến dịch; nghệ thuật xác định hướng, chọn mục tiêu tiến công; nghệ thuật sử dụng lực lượng, bố trí đội hình tiến công.

Chiến thắng Buôn Ma Thuột là chiến thắng của tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí, linh hoạt của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương trên khắp chiến trường. Buôn Ma Thuột từ trận tiến công có ý nghĩa chiến dịch trở thành một thắng lợi chiến lược.

Đồng bào Tây Nguyên múa hát mừng chiến thắng. (Ảnh: Thanh Tụng/TTXVN)
Đồng bào Tây Nguyên múa hát mừng chiến thắng. (Ảnh: Thanh Tụng/TTXVN)

Chiến thắng Buôn Ma Thuột là sự nỗ lực của quân và dân các dân tộc tỉnh Đắk Lắk phát huy lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc cao độ, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, đã đoàn kết một lòng, thủy chung son sắt, quả cảm kiên cường suốt 30 năm gian khổ, vùng lên chiến đấu, giải phóng quê hương, làm nên thắng lợi vẻ vang.

Thắng lợi to lớn, toàn diện của trận Buôn Ma Thuột đã tạo ra đột biến về chiến lược, tạo ra thế và lực mới để ta giành thắng lợi từ bộ phận đến giành thắng lợi hoàn toàn, xuất hiện thời cơ chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam nhanh hơn, chín muồi hơn. Đó là cơ sở để Đảng ta bổ sung quyết tâm chiến lược, rút ngắn thời gian kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm xuống còn 55 ngày đêm, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các hướng chiến trường nắm thời cơ, huy động toàn bộ lực lượng, mở ra chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975-10/3/2005), cố Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy, Bí thư Đảng ủy chiến dịch Tây Nguyên nhận xét trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đã chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm then chốt, trận đánh mở đầu theo nguyên tắc tiến công vào chỗ hiểm và yếu để đạt được hai yêu cầu: phá vỡ thế chiến lược của địch, làm chuyển biến cho được cục diện chiến lược; tạo đà phát triển để tác động đến toàn bộ chiến trường, làm đảo lộn, tạo ra đột biến dẫn đến sự tan vỡ về chiến lược của địch.

Giải phóng Buôn Ma Thuột đã mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, đánh dấu một bước suy sụp mới của Mỹ ngụy

Giải phóng Buôn Ma Thuột đã mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, đánh dấu một bước suy sụp mới của Mỹ ngụy, thời cơ chiến lược để giành thắng lợi hoàn toàn sớm hơn dự kiến đã xuất hiện.

Trong cuốn sách “Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng,” Thượng tướng, giáo sư Hoàng Minh Thảo (Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên) cũng nhận định sau chiến thắng Tây Nguyên, quân ta có một bàn đạp rất vững chắc và cơ động, chiếm ưu thế về địa hình và thế trận hiểm sắc để đánh xuống đồng bằng, mở ra một hành lang chiến lược rất thuận lợi để tiến xuống Sài Gòn, đánh vào sào huyệt của địch. Chiến thắng Tây Nguyên là đòn chiến lược mở đầu, là trận then chốt về chiến lược tạo ra điều kiện và thời cơ cho các trận then chốt, quyết định tiếp theo giành thắng lợi lớn hơn và đi đến toàn thắng.

Trước sự thay đổi nhanh chóng của cục diện chiến trường, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị họp nhận định trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này; do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp dự kiến và không kịp trở tay. Bộ Chính trị quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (5/1975)./.

Đẩy mạnh tặng thẻ bảo hiểm y tế

Chính sách bảo hiểm y tế đã được triển khai thực hiện từ năm 1992 bằng việc ban hành các Nghị định của Chính phủ về thực hiện bảo hiểm y tế.

Năm 2008, Luật Bảo hiểm y tế đã được Quốc hội khoá XII thông qua tại kỳ họp thứ tư ngày 14-11-2008. Luật này được Quốc hội khóa XIII sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014.

Kỷ niệm 10 năm Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam (01/7/2009 – 01/7/2019), Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chọn chủ đề “Chung tay xây dựng, phát triển bảo hiểm y tế vì sức khỏe toàn dân.”

Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Đào Việt Ánh đã có cuộc trao đổi về nội dung, ý nghĩa của chủ đề này.

– Không phải ai cũng biết rõ về sự ra đời cũng như ý nghĩa của Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam, xin ông cho biết sơ lược về lịch sử của Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam?

Ông Đào Việt Ánh: Ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật bảo hiểm y tế, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2009. Để ghi dấu mốc quan trọng này trong quá trình phát triển, hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo hiểm y tế, ngày 16/6/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 823/QĐ-TTg, lấy ngày 01/7 hằng năm là Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam để tuyên truyền Luật bảo hiểm y tế; khuyến khích, động viên nhân dân tham gia bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; động viên và nâng cao ý thức trách nhiệm của những người làm công tác bảo hiểm y tế và cán bộ, nhân viên ngành y tế.

Tham gia thực hiện Luật bảo hiểm y tế không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ, chia sẻ gánh nặng tài chính với những người không may ốm đau, bệnh tật của tất cả mọi công dân.

Ngay trong năm đầu tiên kỷ niệm Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi thư tới cán bộ, nhân viên ngành y tế, những người làm công tác bảo hiểm y tế và toàn thể nhân dân tham gia bảo hiểm y tế.

Nội dung thư của Chủ tịch nước nêu rõ: “Tham gia thực hiện Luật bảo hiểm y tế không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ, chia sẻ gánh nặng tài chính với những người không may ốm đau, bệnh tật của tất cả mọi công dân.”

Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Đào Việt Ánh. (Ảnh: PV/Vietnam+) 
Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Đào Việt Ánh. (Ảnh: PV/Vietnam+) 

Chủ tịch nước cũng ra lời kêu gọi: “nhân dân cùng toàn thể cán bộ, nhân viên y tế cả nước tích cực tham gia và thực hiện Luật bảo hiểm y tế. Cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế, nhất là các đơn vị quản lý bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh phải thực hiện nghiêm các quy chế chuyên môn và quy định của Luật bảo hiểm y tế, nâng cao y đức và chất lượng phục vụ người bệnh.”

Trải qua 9 năm tổ chức, Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam là dịp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chung tay, góp sức thực hiện tốt Luật bảo hiểm y tế với lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; giúp người dân dần nhận thức đầy đủ hơn về bản chất nhân văn của chính sách bảo hiểm y tế. Với những quyền lợi do bảo hiểm y tế mang lại, từ đó, người dân chủ động tham gia như một biện pháp hữu hiệu dự phòng chăm lo sức khỏe bản thân và gia đình; góp phần chia sẻ cùng cộng đồng, vì an sinh đất nước.

Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam là dịp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chung tay, góp sức thực hiện tốt Luật bảo hiểm y tế với lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân

Đây cũng trở thành một trong những dịp để truyền thông sâu rộng và nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành, toàn xã hội về vị trí, vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm y tế – trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính và y tế quốc gia. Đây cũng là phương thức huy động đóng góp của mọi người dân, các tổ chức, toàn xã hội và sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm tạo nguồn tài chính cho hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân.

– Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam mỗi năm đều có một chủ đề riêng để định hướng hoạt động truyền thông và đặt ra các mục tiêu phấn đấu. Năm nay, chủ đề có nội dung, ý nghĩa gì thưa ông?

Ông Đào Việt Ánh: Trong 9 năm tổ chức Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam (từ 2009 đến 2018), tùy theo nhiệm vụ cụ thể của từng thời điểm, chúng ta có những chủ đề riêng để định hướng hoạt động truyền thông. Có thời điểm, chủ để tập trung vào công tác phát triển đối tượng tham gia, hướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân; có thời điểm lại lấy chủ đề người hưởng chính sách làm trung tâm với yêu cầu nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế của cơ sở y tế. có thời điểm lại tập trung truyền thông nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan tổ chức thực hiện chính sách…

Người bệnh làm thủ tục thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. (Ảnh: Thuỳ Giang/Vietnam+)
Người bệnh làm thủ tục thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. (Ảnh: Thuỳ Giang/Vietnam+)

Như vậy, xuất phát từ thực tế và yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ để lựa chọn chủ đề cụ thể từng năm cho phù hợp. Qua chủ đề của từng năm, có thể thấy, tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình phát triển chính sách bảo hiểm y tế đều đã được lựa chọn, trong đó người tham gia bảo hiểm y tế luôn được đặt ở vị trí trung tâm và quan trọng nhất.

Thực tế cho thấy, việc đẩy mạnh truyền thông theo chủ đề đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần vào việc hoàn thành vượt mức tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế được giao, 89% dân số đã có bảo hiểm y tế tính đến hết tháng 5/2019.

Việc đẩy mạnh truyền thông theo chủ đề đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần vào việc hoàn thành vượt mức tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế được giao, 89% dân số đã có bảo hiểm y tế.

Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chọn chủ đề Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam năm 2019 là: “Chung tay xây dựng, phát triển bảo hiểm y tế vì sức khỏe toàn dân.”

Chủ đề năm nay không chỉ hàm nghĩa phát triển đối tượng, mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế, mà còn bao gồm cả công tác xây dựng, phát triển, hoàn thiện cơ chế, chính sách; tổ chức thực hiện chính sách; bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm y tế.

– Với những nội dung, ý nghĩa đó, xin ông cho biết các hoạt động được Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tổ chức nhân Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam năm nay?

Ông Đào Việt Ánh: Nhân Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm y tế, hướng tới hoàn thành mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân…

Nội dung truyền thông hướng đến những kết quả, nỗ lực của ngành bảo hiểm xã hội, ngành y tế trong cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ người tham gia bảo hiểm y tế. Những nỗ lực của ngành bảo hiểm xã hội trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, giao dịch điện tử nhằm phục vụ người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng tốt hơn.

Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố cũng phối hợp với các đơn vị trên địa bàn tổ chức các hoạt động tuyên truyền như: Tọa đàm, đối thoại, tư vấn chính sách trực tiếp tại cơ sở, thực hiện các phóng sự, chuyên mục, tọa đàm, tin, bài… tuyên truyền về chính sách, pháp luật bảo hiểm y tế; tổ chức treo các băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về Ngày bảo hiểm y tế Việt Nam.

Đặc biệt, năm nay, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tổ chức Chương trình “Tặng thẻ bảo hiểm y tế cho người có hoàn cảnh khó khăn và giúp đỡ bệnh nhân nghèo” với dự kiến hỗ trợ mua, tặng thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng 2.400 đối tượng khó khăn tại 8 tỉnh, thành phố từ nguồn kinh phí đóng góp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam và sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Chương trình cũng kêu gọi sự chung tay, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp cho những bệnh nhân mắc bệnh nặng có hoàn cảnh khó khăn đang điều trị tại một số bệnh viện Trung ương.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Tính đến 31/5/2019, có 84,5 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế khoảng 89% dân số, dự kiến đến cuối năm 2019, đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế 90%.

Trong các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, nhóm do người sử dụng lao động và người lao động đóng: 13,4 triệu người; nhóm do tổ chức Bảo hiểm Xã hội đóng: 3,1 triệu người; Nhóm do ngân sách nhà nước đóng: 34,2 triệu người; Nhóm do ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng: 17,1 triệu người; Nhóm do ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng: 17,1 triệu người; Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình: 16,7 triệu người.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện:

Mặc dù tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang tăng nhưng để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết số 28-NQ/TW đặt ra thì vẫn còn là một chặng đường khó khăn.

Bằng những nỗ lực của cơ quan bảo hiểm xã hội, tỷ lệ mở rộng bảo hiểm xã hội tự nguyên đang tăng nhanh. Thế nhưng, thời gian để có thể đạt được những mục tiêu đặt ra cũng không còn dài.  

Tăng nhanh bảo hiểm tự nguyện

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc qua đời, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Như vậy, chính sách bảo hiểm xã hội được thực hiện trên cơ sở huy động sự đóng góp, tích lũy của những người lao động khi còn trẻ, còn khỏe mạnh để bảo đảm ổn định thu nhập khi gặp phải các rủi ro.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện được áp dụng đối với những người lao động không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; hiện đang được thực hiện với hai chế độ là hưu trí và tử tuất.

Ông Trần Hải Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), cho biết hiện có hai loại hình bảo hiểm xã hội là bắt buộc và tự nguyện. Theo đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với người lao động có quan hệ lao động (làm việc theo hợp đồng lao động) với năm chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất; trách nhiệm đóng góp được quy định thuộc về cả người lao động và người sử dụng lao động.

Trong khi đó, bảo hiểm xã hội tự nguyện được áp dụng đối với những người lao động không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; hiện đang được thực hiện với hai chế độ là hưu trí và tử tuất. Do không có quan hệ lao động theo hợp đồng nên trách nhiệm đóng góp thuộc về người lao động.

Cũng theo ông Hải, số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng hàng năm và hoàn thành các chỉ tiêu Chính phủ giao. Nếu tính 5 năm trở lại đây, từ năm 2014, hàng năm số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng bình quân hơn 5,8%.

Ông Đinh Duy Hùng, Phó Trưởng Ban Thu (Bảo hiểm xã hội Việt Nam), nhận định rằng bảo hiểm xã hội tự nguyện có tốc độ tăng lớn hơn. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tính đến tháng 9/2019 là hơn 15,2 triệu người, trong đó người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hơn 14,7 triệu người, tăng hơn 2,2% so với năm trước; bảo hiểm xã hội tự nguyện hơn 463.000 người, tăng 6,7%.

Từ nay đến các năm 2021, 2025, thời gian cũng không còn dài để có thể đẩy mạnh diện bao phủ. Rõ ràng, đây là một nhiệm vụ khó khăn đặt ra với cơ quan bảo hiểm xã hội.

“Mục tiêu của cơ quan bảo hiểm xã hội là số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trong năm 2020 phấn đấu tăng so với năm 2019 ít nhất là 240.000 người. Trong năm 2019, kế hoạch đặt ra là 490.779 người; cho đến nay đã đạt trên 463.000 người, nghĩa là kế hoạch của năm 2019 đang rất khả quan, nếu không muốn nói là vượt mức,” ông Đinh Duy Hùng nói.

Cải thiện quy trình, linh hoạt chi trả

Mặc dù tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang tăng nhưng vẫn còn nhiều thách thức để có thể đạt được mà Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội  đặt ra là 1% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện vào năm 2021 và 2,5% vào năm 2025. Đây là một nhiệm vụ không hề đơn giản.

Ông Trần Hải Nam nhận định nhìn lại con số tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện qua 10 năm triển khai thực hiện (2008- 2018), tính đến 31/12/2018, cả nước mới có 270.779 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, chiếm khoảng 0,55% lực lượng lao động trong độ tuổi. Từ nay đến các năm 2021, 2025, thời gian cũng không còn dài để có thể đẩy mạnh diện bao phủ. Rõ ràng, đây là một nhiệm vụ khó khăn đặt ra với cơ quan bảo hiểm xã hội.

Câu chuyện về một người lao động làm nghề lái xe công nghệ, và trong tương lai sẽ là một trong những người cao tuổi không có lương hưu.

Để có thể “cán đích” mục tiêu về phát triển đối tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện, cơ quan bảo hiểm xã hội đang tích cực đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thông qua các hệ thống phát triển mạng lưới thu, các đại lý thu bảo hiểm xã hội; trong đó có phối hợp với Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam để thu hút thêm người lao động.

Hiện nay, cơ quan bảo hiểm xã hội đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bằng việc liên thông cơ sở dữ liệu giữa các tỉnh. Người dân chỉ cần đến làm việc tại cơ quan bảo hiểm xã hội gần nhất mà vẫn truy xuất được dữ liệu của mình.

Bà Đinh Thị Thu Hiền, Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội Việt Nam), chia sẻ cơ quan bảo hiểm xã hội đã xây dựng nhiều quy trình thuận tiện cho người lao động đồng thời tiến hành cắt giảm các thủ tục hành chính. Hiện nay, chỉ còn tổng 28 thủ tục hành chính cho toàn bộ các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Điều này đã tiết kiệm được rất nhiều chi phí và thời gian cho người dân khi giao tiếp với cơ quan bảo hiểm xã hội.

“Chúng tôi cũng áp dụng phương thức chi trả linh hoạt. Người thụ hưởng bảo hiểm xã hội có thể lựa chọn nhận tiền mặt tại cơ quan bảo hiểm xã hội, hay qua tài khoản ngân hàng, hoặc qua người sử dụng lao động mới,” bà Đinh Thị Thu Hiền nói.

Hiện nay, cơ quan bảo hiểm xã hội đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bằng việc liên thông cơ sở dữ liệu giữa các tỉnh. Người dân chỉ cần đến làm việc tại cơ quan bảo hiểm xã hội gần nhất mà vẫn truy xuất được dữ liệu của mình. Giao dịch điện tử trong các thủ tục hành chính cũng đang được đẩy mạnh nhằm giảm thiểu thời gian, thuận tiện cho người dân và đơn vi khi giao tiếp với cơ quan bảo hiểm xã hội./.

Tăng tuổi nghỉ hưu:

Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cần có tầm nhìn dài hạn và lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp, không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động. Vậy thì lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu, thời gian cụ thể bắt đầu áp dụng lộ trình này, quyền nghỉ hưu và những quy định nào để tạo điều kiện để người lao động thực hiện quyền này…

Tìm lộ trình phù hợp

Nghị quyết số 28-NQ/TW cũng chỉ rõ: “Từ năm 2021, thực hiện điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung, thu hẹp dần khoảng cách về giới trong quy định tuổi nghỉ hưu; đối với những ngành nghề đặc biệt, người lao động được quyền nghỉ hưu sớm, hoặc muộn hơn 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu chung.”

Theo tinh thần này, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cũng cần phù hợp quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của người lao động Việt Nam, tránh phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, bảo đảm góp phần ổn định chính trị – xã hội.

Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu cần có tầm nhìn dài hạn và lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp.

Liên quan đến quy định về tuổi nghỉ hưu, theo đại diện Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu sẽ được điều chỉnh theo mục tiêu tăng tuổi nghỉ hưu chung.

Việc điều chỉnh cần có tầm nhìn dài hạn và lộ trình phù hợp với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thất nghiệp. Đặc biệt, phương án phải không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động, bảo đảm số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số; bình đẳng giới; cân đối quỹ bảo hiểm xã hội trong dài hạn…

Thứ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Doãn Mậu Diệp cho biết, việc điều chỉnh cần được tiến hành theo lộ trình vì hai lý do.

“Lý do thứ nhất là việc điều chỉnh là nhằm tránh gây sốc cho thị trường lao động. Chúng ta đặt giả thiết là một nước có quy mô dân số tương tự như Việt Nam, mỗi năm có khoảng 400.000 người bước vào độ tuổi lao động. Như vậy nếu chúng ta nâng độ tuổi nghỉ hưu nhanh, tăng một năm, thêm một tuổi chẳng hạn, thì lập tức sẽ có 400.000 người cho dù làm việc ở khu vực nhà nước hay khu vực tư nhân, vẫn tiếp tục làm việc thêm một năm. Điều này đồng nghĩa với 400.000 người khác sẽ phải ngồi chờ thêm một năm. Như vậy sau hai năm, con số này sẽ tăng lên 800.000-900.000 người ‘ngồi chờ.’ Điều này sẽ gây sự ‘tắc nghẽn’ rất lớn trong thị trường lao động,” Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp nói.

Chi trả lương hưu cho người lao động. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Chi trả lương hưu cho người lao động. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo ông Diệp, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đề xuất theo lộ trình, mỗi năm chỉ tăng ba tháng tuổi, như vậy “dòng chảy” của thị trường lao động sẽ chậm lại đôi chút, chứ không gây “tắc nghẽn.”

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp cho biết thêm, lý do thứ hai là việc điều chỉnh theo lộ trình sẽ tạo tâm lý tốt hơn cho tâm lý xã hội, đối với người lao động, cũng như người sử dụng lao động.

“Chắc chắn tâm lý người lao động sẽ không muốn làm việc quá lâu và đóng bảo hiểm xã hội lâu dài. Người lao động thường muốn nghỉ hưu hoặc tham gia các hoạt động kinh tế khác để có thêm thu nhập. Khi đó, họ đồng thời có hai nguồn thu nhập là tiền lương hưu từ bảo hiểm xã hội và số tiền nhận được từ các hoạt động khác của họ. Đây là tâm lý chung của tất cả người lao động thuộc các nước trên thế giới, không chỉ riêng Việt Nam. Việc điều chỉnh theo lộ trình thì cũng tạo tâm lý tốt hơn cho người sử dụng lao động,” ông Diệp nói.

Hai phương án tăng tuổi nghỉ hưu

Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đề xuất hai phương án tăng dần tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện làm việc bình thường từ năm 2021. Lộ trình này sẽ thực hiện dần dần, cho tới lúc nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi. Có hai phương án để trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

Phương án 1: Kể từ ngày 1/1/2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi ba tháng đối với nam và đủ 55 tuổi bốn tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm ba tháng đối với nam và bốn tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt có quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá năm tuổi.

Phương án 2: Kể từ ngày 1/1/2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi bốn tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 6 tháng đối với nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm bốn tháng đối với nam và sáu tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.

Dự thảo Bộ luật cũng quy định quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá năm tuổi đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; và một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt.

Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt có quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá năm tuổi.

Tỷ lệ nghỉ hưu đúng tuổi tăng

Ông Điều Bá Được, Trưởng ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) cho biết, thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tính đến 31/12/2018 có hơn 2,5 triệu người đang hưởng lương hưu. Trong đó, hơn 700.000 người hưởng lương hưu từ ngân sách nhà nước và khoảng gần 1,8 triệu người hưởng lương hưu từ Quỹ Bảo hiểm xã hội.

Theo ông Được, những năm gần đây, tỷ lệ những người nghỉ hưu đúng tuổi có được cải thiện. Năm 2017 có đến 64% số người hưởng lương hưu đúng tuổi. Đến năm 2018, tỷ lệ này đã tăng lên 70% số người hưởng lương hưu đúng tuổi.

Theo lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu (nam tăng lên 62 tuổi, nữ lên 60 tuổi), từ năm 2021, có người phụ nữ nghỉ hưu ở 55 tuổi 3 tháng, đến năm 2036 mới có người phụ nữ đầu tiên nghỉ hưu ở tuổi 60, năm 2029 có người đàn ông đầu tiên về hưu ở độ tuổi 62. Tuy nhiên, việc điều chỉnh vẫn chưa nhận được sự đồng thuận của những người lao động trực tiếp sản xuất.

Các chính sách về giải quyết việc làm, đào tạo nghề chuyển đổi công việc, an sinh xã hội cần được xem xét, điều chỉnh một cách tổng thể để giảm thiểu tác động tiêu cực của việc tăng tuổi nghỉ hưu

Phó Trưởng Ban Quan hệ lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) Lê Đình Quảng nhấn mạnh, việc tăng tuổi nghỉ hưu thường phải nhìn một cách tổng thể ở lợi ích quốc gia và có thể xử lý bằng nhiều cách. Còn nếu như để lấy ý kiến của đối tượng trực tiếp là người lao động thì chắc chắn không chỉ ở Việt Nam mà ở các quốc gia khác cũng không có việc đồng thuận trong việc tăng tuổi nghỉ hưu.

Dẫn chứng về ý kiến của lao động trực tiếp sản xuất, ông Lê Đình Quảng cho biết công đoàn cơ sở của một công ty sản xuất linh kiện ở khu công nghiệp Thăng Long tiến hành khảo sát bằng phiếu thăm dò, đưa ra 400 phiếu thì chỉ có 2/400 phiếu đồng ý tăng tuổi nghỉ hưu của nữ lên 60 tuổi và có 5/400 phiếu đồng ý tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 tuổi. Điều đó cho thấy rằng, người lao động mong muốn không tăng tuổi nghỉ hưu.

“Rõ ràng đối với người lao động trực tiếp thuộc ngành nghề đặc thù đã khó khăn trong việc bảo đảm công việc khi vào giai đoạn tuổi cao, cho nên nếu tăng tuổi nghỉ hưu của nhóm lao động này sẽ tăng thêm khó khăn đối với họ,” ông Lê Đình Quảng nói,

Ông Lê Đình Quảng cho rằng, các chính sách về giải quyết việc làm, đào tạo nghề chuyển đổi công việc, an sinh xã hội cần được xem xét, điều chỉnh một cách tổng thể để giảm thiểu tác động tiêu cực của việc tăng tuổi nghỉ hưu./.