Cuộc sống đại ngàn châu Phi trong đại dịch

Đã 5 ngày qua, người ta không còn thấy Daisy tha thẩn trên những con đường cát sỏi trong khu bảo tồn thiên nhiên Kruger Park nữa. Hồi trước, Daisy là chú voi rừng được livestream nhiều nhất trên mạng xã hội vì “người khổng lồ rừng xanh” 17 tuổi luôn tỏ ra đặc biệt thân thiện với những đoàn xe chở khách tham quan tại một trong những khu bảo tồn nổi tiếng nhất thế giới thuộc Nam Phi này.

Sau một ngụm vang đỏ, Paul De Beers, chủ một trạm dừng nghỉ cho khách tham quan trong rừng chậm rãi kể rằng Daisy đã từng là “thỏi nam châm’” dẫn khách đến với trạm của ông trong nhiều năm qua. Chú voi đực thường xuyên quanh quẩn trên những con đường dẫn đến khu vực này và luôn là tâm điểm của mọi ống kính hướng ra từ cửa xe. Và sau mỗi “show diễn” đó, Daisy thủng thẳng tiến gần đến những chiếc xe để nhận phần thưởng, thường là bim bim hoặc hoa quả mà khách mang theo.

Khu vườn thiên nhiên rộng lớn này đã trở nên vắng lặng từ khi Nam Phi tuyên bố tình trạng khẩn cấp, áp dụng lệnh phong tỏa toàn quốc do dịch COVID-19

Tuy nhiên, khu vườn thiên nhiên rộng lớn này đã trở nên vắng lặng từ khi Nam Phi tuyên bố tình trạng khẩn cấp, áp dụng lệnh phong tỏa toàn quốc do dịch COVID-19 và dừng mọi đường bay quốc tế đến quốc gia châu Phi, trong đó bao gồm những chuyến bay đưa du khách đến Kruger Park. Nhưng theo thói quen, mặc dù không thấy ai cả, Daisy vẫn tản bộ trên những cung đường mà khách du lịch thường hay đi qua, hết ngày này sang ngày khác.

Kể từ khi phát hiện ca nhiễm virus SARS-CoV-2 đầu tiên hôm 5/3 đến khi ghi nhận hơn 6.000 ca vào đầu tháng 5, cơn lốc COVID-19 đã không chỉ tàn phá nặng nề, làm kiệt quệ mọi nguồn lực của đất nước nằm ở cực Nam châu Phi này, mà còn lan tới và đe dọa cả những lãnh địa tưởng chừng như khó bị chạm tới nhất, đó là sự an nhiên của đại ngàn.

Sư tử nằm phơi nắng ngay trên đường trong khu bảo tồn thiên nhiên Kruger Park trong thời gian Nam Phi ban bố tình trạng khẩn cấp. (Nguồn: Kruger National Park)
Sư tử nằm phơi nắng ngay trên đường trong khu bảo tồn thiên nhiên Kruger Park trong thời gian Nam Phi ban bố tình trạng khẩn cấp. (Nguồn: Kruger National Park)

Với ông Paul De Beers, mặc dù đây là giai đoạn kinh doanh khó khăn chưa từng có khi buộc phải đóng cửa nhà hàng, khu vui chơi và nghỉ ngơi do không có khách, nhưng với kinh nghiệm hơn 10 năm làm kiểm lâm, ông thấy lo lắng hơn cho số phận của Daisy cũng như muông thú trong Kruger Park, vì chúng có thể là mục tiêu của con người khi họ không còn kế sinh nhai nào nữa trong đại dịch.

Lẽ thường, sự vắng bóng của con người sẽ khiến muông thú tìm lại được môi trường sống tự nhiên của mình, tự do tự tại trong thế giới mà tạo hóa đã tạo ra cho chúng từ hàng vạn năm trước. Tuy nhiên, không chỉ Kruger Park, mà với đa số những khu bảo tồn thiên nhiên tại châu Phi – nơi mà doanh thu từ khách du lịch chiếm phần lớn khoản ngân sách để duy trì hoạt động bao gồm công tác bảo vệ rừng – thì tình trạng không còn khách đến tham quan đồng nghĩa với những rủi ro đang đến với hàng trăm loài động vật tại đây.

Với kinh nghiệm hơn 10 năm làm kiểm lâm, ông thấy lo lắng hơn cho số phận của Daisy cũng như muông thú trong Kruger Park, vì chúng có thể là mục tiêu của con người khi họ không còn kế sinh nhai nào nữa trong đại dịch.

Ông Matt Brown, Giám đốc điều hành khu vực châu Phi của The Nature Conservancy – một tổ chức phi chính phủ về bảo vệ thiên nhiên, chia sẻ từ khi COVID-19 bùng phát tại châu Phi, tất cả các loài động vật có sừng và ngà tại châu lục này đều đứng trước nhiều rủi ro hơn. Đơn cử, The Nature Conservancy vừa phát hiện một con voi bị giết hại với đôi ngà bị cắt cụt tại Kenya, sau nhiều năm không có việc tương tự xảy ra tại quốc gia này.

Ngoài ra, ông Matt Brown cho biết tình trạng săn thú nhỏ hơn để làm thực phẩm đang xảy ra ngày càng nghiêm trọng ở rất nhiều khu bảo tồn, khi nhiều người dân trở nên nghèo đói cùng cực trong bối cảnh nhiều quốc gia châu Phi đang áp dụng lệnh phong tỏa. Đối với họ, việc vào rừng bắn hạ thú để làm thực phẩm sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc kiếm tiền để ra chợ mua thịt.

(Nguồn: countrylife.co.za)
(Nguồn: countrylife.co.za)

Cùng lúc đó, nguồn thu từ khách du lịch bị gián đoạn do dịch COVID-19 khiến các vườn quốc gia không còn kinh phí để thuê lực lượng kiểm lâm, hoặc may mắn thì chỉ có thể duy trì lực lượng này ở mức tối thiểu. Với đa số kiểm lâm, nếu may mắn không bị sa thải, thì công việc của họ cũng sẽ kém hiệu quả khi phải kiểm soát một khu vực rộng lớn với số nhân lực ít hơn.

Trước mối đe dọa ngày càng hiện hữu đối với sự sống còn của nhiều loài động vật hoang dã bắt nguồn từ các tác động tiêu cực của dịch COVID-19, Tổ chức Bảo vệ thiên nhiên châu Phi (AWF) ngày 1/5 đã đưa ra báo cáo trong đó khẩn thiết yêu cầu việc tiếp tục thực hiện những biện pháp bảo vệ động vật song hành với cuộc chiến chống đại dịch tại châu Phi.

Nguồn thu từ khách du lịch bị gián đoạn do dịch COVID-19 khiến các vườn quốc gia không còn kinh phí để thuê lực lượng kiểm lâm, hoặc may mắn thì chỉ có thể duy trì lực lượng này ở mức tối thiểu.

Theo Giám đốc điều hành AWF Kaddu Sebunya, báo cáo trên được đưa ra trong bối cảnh hiện nhiều quốc gia châu Phi đã cắt giảm nguồn kinh phí dành cho công tác bảo vệ thiên nhiên để chuyển sang cho các hoạt động ứng phó với dịch COVID-19 cũng như hỗ trợ người dân trong đại dịch. Một số quốc gia thậm chí đã không còn một đồng ngân sách nào cho việc này, phó mặc toàn bộ công tác bảo vệ thiên nhiên cho địa phương tự lo.

Trong báo cáo, AWF nêu rõ rằng việc các quốc gia ưu tiên mọi nguồn lực vào việc ứng phó với dịch COVID-19 là điều hoàn toàn chính đáng, nhưng cũng không vì thế mà lãng quên rằng công tác bảo vệ thiên nhiên và hệ sinh thái cũng là việc tối cần thiết bởi đây chính là tiền đề để châu Phi có thể phục hồi một cách bền vững sau đại dịch này.

Nghe trên đài phát thanh tin cảnh sát tỉnh Mpumalanga vừa bắt 2 nghi phạm buôn bán các bộ phận của động vật hoang dã và thu giữ 3 cặp sừng tê giác tại một địa điểm cách Kruger Park không xa, ông Paul De Beers thấy trong lòng như có lửa đốt. Ông vội vã lái xe lao vào rừng để tìm Daisy. Ông đi về hướng hồ nước cách đó hơn 10km, nơi bầy thú hay tụ tập.

Lực lượng bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Kruger Park. (Nguồn: southafrica.net)
Lực lượng bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Kruger Park. (Nguồn: southafrica.net)

Đến nơi, Paul thấy Daisy đang chơi đùa bên hồ nước cùng 3 chú voi khác, dưới nước là lũ hà mã đang ngụp lặn trong khi bầy sư tử đang lượn lờ quanh đó. Ông nghĩ, có lẽ, sau nhiều ngày lang thang trên đường ngóng tìm những chiếc ôtô chở du khách quen thuộc mà không thấy, Daisy đã quyết định quay về với đàn của nó, tựa như Buck trong “Tiếng gọi nơi hoang dã” của đại văn hào Jack London.

Paul De Beers quay về trạm trong tâm trạng nhẹ nhõm và vui vẻ. Sáng hôm sau, ông nghe thông báo từ Ban quản lý Kruger Park, rằng đội ngũ kiểm lâm tại đây vẫn tiếp tục duy trì công tác bảo vệ rừng với đầy đủ quân số. Ông cũng nhớ rằng trước đó mấy hôm, Chính phủ Nam Phi thông báo gói hỗ trợ trị giá 11 tỷ USD dành cho những lĩnh vực kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi COVID-19, trong đó có du lịch./.

(Nguồn: Azamara)
(Nguồn: Azamara)

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 19/5/1890, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Chùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đối với mỗi người dân Việt Nam, đây là ngày rất thiêng liêng, ngày đã đi vào lịch sử của dân tộc.  

Ngày 19/5/2020, nhân dân Việt Nam tổ chức kỷ niệm lần thứ 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhân dịp này, VietnamPlus xin giới thiệu về những sự kiện và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sinh của Người, để giúp bạn đọc hiểu thêm chút ít đời thường của vị Chủ tịch nước, con người mà cả cuộc đời “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” và “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.”

Ngày 19/5/1946: Lần đầu tiên sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Tại Bắc Bộ phủ, Bác Hồ đã tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo sinh và các đại biểu Nam Bộ đến chúc thọ Người.

 Học sinh trường Trung học Trưng Vương (Hà Nội) đến chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1956). (Nguồn: TTXVN)
 Học sinh trường Trung học Trưng Vương (Hà Nội) đến chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1956). (Nguồn: TTXVN)

Người chụp ảnh chung với các cháu thiếu nhi và nói chuyện với các đại biểu Nam Bộ. Người nói: “Thật ra, các báo ở đây làm to sinh nhật tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả, mà trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thật thấy làm xẩu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình.”

Ngày 19/5/1946, lần đầu tiên sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Tại Bắc Bộ phủ, Bác Hồ đã tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô, tự vệ, hướng đạo sinh và các đại biểu Nam Bộ đến chúc thọ Người.

Sau đó, Người tiếp và nói chuyện với các phóng viên Hãng Thông tấn Pháp AFP tại Hà Nội về tình hình của hội nghị trù bị Đà Lạt.

Ngày 19/5/1947: Tại Việt Bắc, nhân ngày sinh của Bác, các đồng chí phục vụ chuẩn bị sẵn một bó hoa rừng mang đến chúc thọ Bác. Bác rất xúc động khi nhận được bó hoa này và đề nghị dành những bông hoa đó để đi viếng mộ đồng chí Lộc* vừa mới mất vì bị bệnh sốt rét.

Cùng ngày, Người rời Sơn Dương, Tuyên Quang đến một địa điểm mới.

Ngày 19/5/1948: Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài đã gửi thư chúc mừng nhân ngày sinh của Người.

 Đến thăm nhà máy xe lửa Gia Lâm vào đúng ngày sinh nhật 19/5/1955, Người nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.(Ảnh tư liệu)
 Đến thăm nhà máy xe lửa Gia Lâm vào đúng ngày sinh nhật 19/5/1955, Người nhắc nhở công nhân, cán bộ phát huy truyền thống cách mạng của nhà máy, ra sức xây dựng miền Bắc, ủng hộ miền Nam.(Ảnh tư liệu)

Bức thư có đoạn: “Đồng bào yêu mến tôi, chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn…”

Buổi tối ở An toàn khu, Văn phòng tổ chức một buổi tiệc trà và văn nghệ mừng sinh nhật Bác.

Ngày 19/5/1949: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn tổ chức lễ mừng ngày sinh của mình, vả lại lúc này tình hình chiến sự đang ác liệt, vì thế khi trả lời một số cán bộ đề nghị tổ chức sinh nhật Bác, trước ngày 19/5, Người đã làm bài thơ “Không đề”:

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.Chờ cho kháng chiến thành công đã,Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Ngày 19/5/1950: Tại “Chủ tịch phủ” trong An toàn khu ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham dự buổi lễ mừng thọ do Chính phủ tổ chức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc ở căn cứ Việt Bắc. (Ảnh tư liệu)
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phòng làm việc ở căn cứ Việt Bắc. (Ảnh tư liệu)

Trước ngày 19/5, tại một cuộc họp cán bộ các cơ quan Trung ương ở Thác Dẫng, tỉnh Tuyên Quang, để cảm ơn và đáp lại lời chúc thọ của mọi người, Bác đã làm bài thơ:

“Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,So với ông Bành vẫn thiếu niênĂn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ,Trần mà như thế kém gì tiên.”

Ngày 19/5/1951: Buổi tối, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và nói chuyện với đại biểu Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận…đến chúc thọ. Người còn tiếp và trả lời các câu hỏi của các nhà báo về chính sách của Chính phủ, về quan hệ Quốc tế và vấn đề hoà bình thế giới.

Ngày 19/5/1952: Buổi sáng, sau khi tiếp Tổng Bí thư Trường Chinh, Trưởng Ban thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn, Chủ tịch Mặt trận Liên-Việt Tôn Đức Thắng, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các đại biểu Đảng, đoàn thể và các cháu thiếu nhi đến chúc mừng sinh nhật, Bác và các đại biểu vui chơi cùng các cháu.

Ngày 19/5/1953: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm các cháu lớp mẫu giáo nhỏ tuổi, con em của các đồng chí cán bộ các cơ quan Trung ương. Bác nhắc các cô giáo phải cố gắng nuôi và dạy các cháu cho chu đáo. Bác còn chụp ảnh chung với cô giáo và các cháu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chia kẹo cho các cháu nhi đồng ở nhà trẻ của con em công nhân nhà máy cao su Sao Vàng, xà phòng Hà Nội và thuốc lá Thăng Long. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chia kẹo cho các cháu nhi đồng ở nhà trẻ của con em công nhân nhà máy cao su Sao Vàng, xà phòng Hà Nội và thuốc lá Thăng Long. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Cùng ngày, Bác ký sắc lệnh số 161/SL thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho bộ đội Kiến An (Hải Phòng).

Trước ngày 19/5, Bác làm bài thơ chữ Hán, với nhan đề “Thất cửu” (Sáu mươi ba tuổi):

“Chưa năm mươi đã kêu già,Sáu ba, mình vẫn nghĩ là đương trai.Sống quen thanh đạm nhẹ người,Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung.”

Ngày 19/5/1955: Bác đi thăm cán bộ và công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm (Hà Nội). Người ân cần thăm hỏi tình hình đời sống, công việc của anh chị em công nhân nhà máy. Người căn dặn cán bộ và công nhân nhà máy phải đoàn kết chặt chẽ và thi đua lao động sản xuất.

Ngày 19/5/1957: Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Chùa Thầy, ở Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây.

Ngày 19/5/1958: Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Chùa Hương Tích (Hà Tây). Người ghé thăm chùa Thiên Trù, lên động Tiên Sơn, sau đó vào thăm chùa Chính (Động Hương Tích). Trên đường về, Người căn dặn cán bộ, nhân dân địa phương phải trồng nhiều cây dọc hai bờ suối Yến, bảo vệ và xây dựng thắng cảnh đẹp hơn để đón nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Ngày 19/5/1959: Hồ Chủ tịch đi thăm nhà máy rượu Hà Nội. Khi thăm các phân xưởng của nhà máy, thấy công nhân phải làm những công việc nặng nhọc, Bác nói với cán bộ nhà máy: “Các chú phải cải tiến để tăng năng suất, giảm bớt sức lao động.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Nhà máy Rượu Hà Nội ngày 19/5/1959. (Ảnh tư liệu)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Nhà máy Rượu Hà Nội ngày 19/5/1959. (Ảnh tư liệu)

Cùng ngày, Bác đến thăm và vãn cảnh chùa Tây Phương ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

Những năm 1960, 1961, 1962, 1965 và 1966, vào những dịp sinh nhật, Bác thường ra nước ngoài – sang thăm Trung Quốc, Người nói: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ ở trong nước. Vì vậy tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ.” Người còn nói lại điều này với Nguyên soái Trung Quốc Diệp Kiếm Anh.

Ngày 19/5/1960: Tại Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự bữa cơm thân mật do ông Vi Quốc Thanh tổ chức tại nhà riêng ở Nam Ninh.Sau đó, Người đi xem các cháu thiếu nhi Trung Quốc biểu diễn văn nghệ và tặng kẹo cho các cháu.

Ngày 19/5/1961: Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở thăm Vô Tích (Trung Quốc), Chủ tịch Mao Trạch Đông và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc chúc mừng sinh nhật lần thứ 71 của Người.

Rời Vô Tích, Người đến thăm Hồ Nam-Quê hương của Chủ tịch Mao Trạch Đông, thăm ngôi nhà cũ của Mao Trạch Đông ở Thiều Sơn, thăm thành phố Trường Sa, thủ phủ của Hồ Nam. Người lên núi Nhạc Lộ ngắm thành phố, thăm Ái Vãn Đình, Thanh Thuỷ Đường, Trường Sư phạm Hồ Nam I và du thuyền trên sông Tương.

Ngày 19/5/1962: Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở thăm tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Buổi tối, Người dự buổi dạ hội văn nghệ nhỏ do các bạn Quảng Tây tổ chức chào mừng ngày sinh của Người ở khách sạn Tây Viên. Người đã mời các nhân viên phục vụ cùng đến xem.

Ngày 19/5/1965: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trung Quốc. Buổi sáng, Người nghe đồng chí thư ký báo cáo về tình hình đất nước, nghe tin chiến thắng của quân Giải phóng miền Nam.

Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1955. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1955. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Sau đó, Người rời Bắc Kinh đi thăm quê hương của Khổng Tử. Tới thăm di tích Khổng Phủ, qua Khổng Miếu, Khổng Lâm, Người nói nhiều về quan niệm “lấy dân làm gốc” của Khổng Tử và Mạnh Tử.

Trên đường trở về Tế Nam, Người đã làm bài thơ chữ Hán. Phỏng Khúc Phụ:

“Mười chín tháng năm thăm Khúc PhụMiếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưaUy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?Lấp loáng bia xưa chút ánh tà.”

Ngày 19/5/1966: Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Trung Quốc, Người dự bữa cơm với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Buổi tối, Người cùng Uỷ viên trưởng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Chu Đức và phu nhân xem vở balê Bạch Mao Nữ.

Ngày 19/5/1968: Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa và bổ sung vào bản Di chúc lịch sử mà Người bắt đầu thảo từ ngày 10/5/1965.

Bác tiếp thân mật một số cán bộ đến chúc thọ Người tại nhà nghỉ Hồ Tây.

Cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bác tiếp các chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu. Bác mời hai chị dự bữa cơm trưa cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng và một số chiến sỹ bảo vệ, phục vụ và lái xe nhân dịp sinh nhật Người.

Buổi chiều, Bác tiếp các bác sỹ đến kiểm tra sức khỏe; tiếp các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị và một số cán bộ đến chúc thọ Người. Bác gửi một lẵng hoa tặng: “Đại hội dũng sỹ giao thông vận tải thắng Mỹ.”

Tại lễ khai mạc kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III (20/5/1968), sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc báo cáo và lời chúc thọ, Bác nói:…”Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sỹ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ thế này:

Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,Vẫn vững hai vai việc nước nhà.Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,Tiến bước, ta cùng con em ta.”

Ngày 19/5/1969, sinh nhật cuối cùng của Bác. Sau khi tiếp các cháu là con của các đồng chí phục vụ đến chúc thọ, Bác xem kỹ lại toàn bộ các bản viết Di chúc của Người vào các năm 1965, 1968 và 1969.

Bác tiếp chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi) và chị Nguyễn Thị Châu – Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên và Sinh viên giải phóng khu Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định đến chúc thọ.

Bác viết thư khen các cháu thiếu niên hợp tác xã măng non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) đã có nhiều thành tích trong việc chăm sóc tốt trâu bò. Đây là bức thư cuối cùng Bác gửi cho các cháu thiếu nhi.

Bác gửi tặng ảnh chân dung của mình cho cán bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An; Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Cán bộ, công nhân nhà máy ximăng Hải Phòng./.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Nguồn tài liệu:

Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, các năm 1993, 1994, 1995 và 1996. Từ tập 3 đến tập 10

Nhật ký của một ông Bộ trưởng, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995

____________

* Đồng chí Lộc, người được phân công lo việc ăn uống cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người khắc họa chân dung Bác Hồ

50 năm hoạt động nghệ thuật, nhà điêu khắc Diệp Minh Châu đã tập trung trí tuệ, tài ba và tâm huyết cho một đề tài xuyên suốt: Khắc hoạ chân dung Bác Hồ.

Diệp Minh Châu sinh ngày 10 tháng 2 năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành (nay thuộc thị xã Bến Tre) tỉnh Bến Tre. Ngay từ bậc tiểu học, ông đã nổi tiếng vẽ giỏi với biệt danh “Châu vẽ.”

Năm 1940, ông ra Hà Nội thi và đỗ đầu kỳ thi tuyển khoá XIV (1940-1945) vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Để có tiền ăn học, ông làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội.

Ngay từ bậc tiểu học, ông đã nổi tiếng vẽ giỏi với biệt danh “Châu vẽ.”

Năm 1942, một số tranh chân dung của ông như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh, ông vừa sáng tác vừa tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của Tổng hội sinh viên Hà Nội.

Đầu năm 1945 sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. ông trở về Bến Tre tổ chức các cuộc triển lãm tại Bến Tre và Mỹ Tho để lấy tiền mua lương thực giúp đồng bào bị đói. Cũng trong thời gian này, ông gia nhập phong trào Thanh niên Tiền phong và tham gia đấu tranh giành chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Tháng 9/1945, thực dân Pháp được sự hậu thuẫn của thực dân Anh quay trở lại đánh chiếm Nam Bộ, Diệp Minh Châu tạm gác công việc sáng tác sang một bên để cùng bạn bè tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương. Tháng 9 năm 1946, ông chính thức gia nhập Vệ quốc đoàn và được đồng chí Trần Văn Trà (lúc đó đang là Khu trưởng khu 8) cử làm Trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre kiêm trưởng ban phóng sự mặt trận.

Trên cương vị này, ông có dịp đi theo các đơn vị Vệ quốc đoàn đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, Đồng Tháp Mười…và cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh chiến đấu, lao động sản xuất của quân và dân khu 8 như: Phong cảnh Đồng Tháp, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau…

Tháng 9/1947, từ chiến khu Đồng Tháp Mười, Diệp Minh Châu đã trích máu ở cánh tay mình, dùng  đầu ngón tay vẽ bức tranh Hồ Chủ tịch và các cháu thiếu nhi Bắc Trung Nam

Đặc biệt, tháng 9/1947, từ chiến khu Đồng Tháp Mười, Diệp Minh Châu đã trích máu ở cánh tay mình, dùng  đầu ngón tay vẽ bức tranh Hồ Chủ tịch và các cháu thiếu nhi Bắc Trung Nam (bức tranh vẽ Bác Hồ cùng ba em bé Bắc-Trung-Nam chụm đầu bên chòm râu của Bác) rồi gửi ra tặng Bác cùng với bức thư bày tỏ lòng mình “…con trân trọng gửi bức hoạ bằng máu của con đây lên Cha già để tỏ lòng biết ơn Cha đã giải phóng cho nghệ thuật của con, để tạo cho thể xác và linh hồn con thành lợi khí đấu tranh cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.”

Bác Hồ xem tranh vẽ bằng máu của Diệp Minh Châu do đồng chí Trần Văn Trà đem từ Nam Bộ ra Việt Bắc năm 1949. (Ảnh tư liệu)
Bác Hồ xem tranh vẽ bằng máu của Diệp Minh Châu do đồng chí Trần Văn Trà đem từ Nam Bộ ra Việt Bắc năm 1949. (Ảnh tư liệu)

Năm 1949, Bác Hồ đã chụp ảnh cùng bức hoạ và gửi đồng chí Lê Đức Thọ mang bức ảnh vào cho Diệp Minh Châu.

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, có bức họa Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh trong lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (huyện Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sỹ ấy. (Bức tranh hiện nay đang được lưu giữ tại Bảo tàng quân đội).

Bức họa Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh trong lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (huyện Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sỹ ấy.

Năm 1949, ông chuyển về công tác tại Ủy ban Văn hóa kháng chiến Nam Bộ đóng tại khu 9. Giữa năm 1950, ông ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác, nghiên cứu và vẽ về Bác, ông đã đem hết tâm sức, tình cảm trân trọng kính yêu để tìm tòi thể hiện hình tượng Bác. Hàng loạt tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (tranh lụa-1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (tranh sơn dầu-1951), Bác câu cá bên bờ suối (tranh sơn dầu-1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (tranh sơn dầu-1951).

Năm 1952, rời chiến khu Việt Bắc, ông sang học điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc.

Họa sĩ – Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.
Họa sĩ – Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Năm 1956, ông về làm giảng viên trường Mỹ thuật Việt Nam cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Dù sống và làm việc ở nước ngoài, hay trên đất Bắc, ông luôn hướng về Tổ quốc, hướng về miền Nam thân yêu. Ông đã sáng tác hàng loạt tác phẩm phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ miền Nam…

Vượt lên tất cả vẫn là những tượng đài ông thể hiện về Bác, ông đã làm rất nhiều tượng Bác: tượng tròn thạch cao “Bác Hồ bên suối Lênin,” tượng đồng “Bác Hồ với thiếu nhi”… Năm 1969, Bác mất, ông đã vừa khóc vừa làm suốt ngày đêm một tượng Bác lớn trong phòng của mình.

Sau năm 1975, Diệp Minh Châu trở về sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tác và dành thời gian để đào tạo, dìu dắt thế hệ trẻ.

Diệp Minh Châu  là nhà điêu khắc thuộc thế hệ đầu tiên của nền điêu khắc cách mạng, nền điêu khắc hiện đại Việt Nam. Ông là nhà điêu khắc duy nhất được Đảng và Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (10-9-1996) cho cụm tác phẩm: Tranh Hồ Chủ tịch và các cháu thiếu nhi BắcTrung Nam (vẽ bằng máu trên lụa-1947); Hương sen (tượng tròn-1957); Tượng Võ Thị Sáu trước quân thù (1958); Bác Hồ bên suối Lênin (1980); Bác Hồ với thiếu nhi (tượng đồng-1993)./.

Ngành da giày:

Dịch COVID-19 đã ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp da giày trong nước ngay từ quý đầu năm.

Theo bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó Chủ tịch Hiệp hội kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Da-Giày-Túi xách Việt Nam (lefaso), xuất khẩu và nhiều đơn hàng sụt giảm, cùng với đó nguồn cung nguyên phụ liệu bị gián đoạn.

Để hiểu rõ hơn, bà Phan Thị Thanh Xuân đã có một số trao đổi với phóng viên về tác động của dịch bệnh đối với ngành cũng như những giải pháp để ổn định sản xuất và vượt qua giai đoạn khó khăn.

Khó chồng khó

– Tình hình dịch bệnh đã tác động đến nhiều ngành kinh tế, mà ngành da giày cũng không ngoại lệ. Vậy kết quả sản xuất, kinh doanh của ngành trong quý đầu năm đã bị ảnh hưởng cụ thể như thế nào, thưa bà?

Bà Phan Thị Thanh Xuân: Có thể thấy kim ngạch xuất khẩu quý 1/2020 sụt giảm mạnh so với năm 2019. Riêng tháng 1 giảm đến 30%; tháng 2 chỉ đạt chưa đầy 1 tỷ USD, giảm rất mạnh so với con số 3,1 tỷ USD của cùng kỳ năm 2019.

Qua thống kê của Bộ Công Thương, xuất khẩu giày, dép các loại quý 1 giảm 1,9% (cùng kỳ tăng 14%), trong khi túi xách, vali, mũ, ô dù giảm 5,5% (cùng kỳ tăng 10,2%).

Khi các thị trường xuất khẩu vẫn đóng lại do kiểm soát dịch bệnh, kéo theo nhu cầu tiêu dùng sụt giảm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của ngành da giày.

Điều đáng lo ngại nhất là các quý cuối năm, một khi các thị trường xuất khẩu vẫn đóng lại do các nước phải kiểm soát dịch bệnh và hạn chế việc đi lại của khách du lịch cũng như dân chúng, dẫn đến nhiều cửa hàng tiếp tục đóng cửa đã khiến nhu cầu tiêu dùng sụt giảm, ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp da giày.

Theo tôi có ba vấn đề lớn xảy ra, đầu tiên là nguồn cung nguyên liệu mặc dù đã cung ứng trở lại và đã đáp ứng được cho việc sản xuất, nhưng lại không đa dạng. Bởi vậy, mà các đơn hàng sắp tới cũng không đủ chủng loại để đáp ứng cho việc sản xuất của các doanh nghiệp.

Tiếp đến, các doanh nghiệp dù đã sản xuất được đơn hàng nhưng lại không thể xuất khẩu vì phía khách hàng lượng hàng bán ra giảm. Do vậy, những đơn hàng đã sản xuất xong cũng không được giao nhận vì khả năng khách hàng sẽ hủy đơn hàng là cao. Cuối cùng, việc khách hàng không tiếp tục đặt hàng do tình hình dịch bệnh dẫn đến việc mua bán bị ảnh hưởng.

Chính ba thách thức này đã ảnh hưởng cực kỳ lớn tới các doanh nghiệp của ngành da giày Việt Nam.

Một công đoạn để sản xuất giày tại Công ty hóa dệt Hà Tây. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)
Một công đoạn để sản xuất giày tại Công ty hóa dệt Hà Tây. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

– Bà có thể chia sẻ rõ hơn về những khó khăn mà ngành da giày đang phải đối mặt cũng như những kịch bản ứng phó mà các doanh nghiệp đã chuẩn bị?

Bà Phan Thị Thanh Xuân: Các quý 1, quý 2 hiện nay, doanh nghiệp vẫn đang cố gắng đáp ứng để kịp giao cho khách hàng, nhưng cũng thấy rất rõ rằng các thị trường đang đóng lại.

Chính vì thế, các doanh nghiệp đang rất lo ngại về việc giao hàng của quý 2, đó là với tình hình còn diễn biến phức tạp và kéo dài, khả năng khách hàng từ chối đơn hàng là rất cao.

Bởi lẽ khách hàng không thể mở các cửa hàng tại các thị trường mà họ đã có những chuỗi cung ứng. Do vậy, doanh nghiệp Việt đang đứng trước nguy cơ rủi ro cao.

Còn đối với quý 3 và quý 4, hiện nay các khách hàng vẫn đang nhìn diễn biến của tình hình dịch bệnh. Nếu như dịch bệnh giảm và kiểm soát tốt thì việc mở cửa hàng trở lại sẽ có hứa hẹn tốt, đồng nghĩa các doanh nghiệp của chúng ta còn có cơ hội tiếp tục nhận được đơn hàng.

Ngược lại, nếu như tình trạng dịch bệnh kéo dài thì đơn hàng sẽ giảm, tối thiểu là 30% và nhiều doanh nghiệp có thể không có đơn hàng nữa. Điều này ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới doanh nghiệp sản xuất da giày.

Cụ thể nhất là vấn đề việc làm cho người lao động sẽ không được đảm bảo. Theo đó, từ tháng 4, tháng 5 nhiều doanh nghiệp phải giãn vụ, giãn việc cho công nhân; thậm chí là cho công nhân nghỉ luân phiên hoặc yêu cầu công nhân nghỉ hết phép để trong kỳ dịch bệnh này vẫn giữ được công nhân, chờ thời điểm khôi phục trở lại.

Tuy nhiên, điều này lại đang rất mông lung, các doanh nghiệp phải chờ đợi xem tình hình dịch bệnh sẽ diễn biến như thế nào. Bởi vì, vấn đề này ảnh hưởng rất nghiêm trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh.

Hiện tại, vấn đề lớn của ngành da giày chính là vấn đề về đơn hàng, cụ thể là tại các thị trường xuất khẩu đang bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

– Khó khăn của doanh nghiệp da giày ngoài yếu tố thị trường còn có vấn đề phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Chính điều này đã tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thời điểm hiện tại. Vậy bà nhận định thế nào về ý kiến này?

Bà Phan Thị Thanh Xuân: Hiện nay, thị trường Trung Quốc đã khôi phục trở lại, tức là các nhà máy đã quay trở lại làm việc. Tuy nhiên, do vấn đề thiếu công nhân cũng như việc ảnh hưởng của giai đoạn trước cho nên vấn đề nguyên liệu họ cũng chưa đáp ứng được công suất 100% như trước kia.

Tuy nhiên, điều này hiện nay không phải vấn đề lớn, bởi trước đây vấn đề lớn của chúng ta là thiếu nguyên liệu nhưng bây giờ vấn đề lớn của ngành da giày chính là vấn đề về đơn hàng, chính là những thị trường xuất khẩu đang bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh này.

Sản phẩm của Công ty hóa dệt Hà Tây đã có mặt ở nhiều nước EU, Mỹ... (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)
Sản phẩm của Công ty hóa dệt Hà Tây đã có mặt ở nhiều nước EU, Mỹ… (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Chính sách cần phải linh hoạt

– Với đặc thù của ngành da giày, phía Hiệp hội đã có đề xuất gì về chính sách cho ngành?

Bà Phan Thị Thanh Xuân: Da giày và dệt may là ngành công nghiệp thời trang. Nói đến ngành công nghiệp thời trang thì sự thay đổi rất nhanh và rất đa dạng chứ không chỉ tập trung vào một số chủng loại sản phẩm để phục vụ cho ngành.

Đơn cử như đối với ngành da giày, hiện nay để sản xuất nguyên liệu phục vụ cho ngành có hàng trăm loại, chưa kể những phát minh mới trong thời gian tới. Vì vậy, nếu chúng ta ra chính sách chỉ tập trung vào loại đã hiện hữu và đã có từ lâu đời thì chúng ta sẽ không thể kịp nắm bắt sự thay đổi của thời cuộc.

Từ đó cho thấy, trong vấn đề về chính sách, chúng ta cần rất cởi mở và hiểu rõ về thực tế đó thì mới khuyến khích được các doanh nghiệp.

Ví dụ như các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, họ có thể tạo ra những vật liệu mới chưa có chuẩn nào cả, nhưng nó lại là cái nắm bắt thị trường rất tốt. Vậy chúng ta phải có sự đột phá, mạnh dạn. Nếu chúng ta vẫn theo lối mòn trước là phải có nguyên liệu đạt tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn kia nhưng rõ ràng điều đó đối với ngành thời trang là rất bó hẹp.

Nếu chúng ta có chính sách tốt, chúng ta sẽ thu hút được những công nghệ để sản xuất và phát triển loại vật liệu đó.

Thời gian tới, các nước phát triển sẽ áp dụng những tiêu chuẩn về khí phát thải trong quá trình sản xuất, vậy khí phát thải đó sẽ liên quan đến những vật liệu nào? Nếu chúng ta có chính sách tốt, chúng ta sẽ thu hút được những công nghệ để sản xuất và phát triển loại vật liệu đó.

Hay chúng ta phát triển đổi mới sáng tạo, các mô hình khởi nghiệp để tạo ra những nguyên liệu mới. Vậy chúng ta nên có những chính sách tập trung chủ yếu vào cái yêu cầu hơn là chúng ta quy định quá ngặt nghèo về các tiêu chuẩn cụ thể. Điều đó sẽ hạn chế, bó hẹp rất nhiều cho sự sáng tạo phát triển trong công nghiệp hỗ trợ ngành da giày.

Tiếp đến, chúng ta cũng cần có những chính sách cởi mở hơn nữa, không phải chỉ dành cho các doanh nghiệp trong ngành mà ngay cả trong hệ thống quản lý nhà nước. Từ địa phương đến trung ương, chúng ta phải có cái nhìn cởi mở hơn thì chính sách của chúng ta mới đi vào cuộc sống, nếu không sẽ rất bó hẹp.

Bà Phan Thị Thanh Xuân - Phó Chủ tịch Hiệp hội kiêm Tổng thư ký Hiệp Da-Giày-Túi xách Việt Nam. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)
Bà Phan Thị Thanh Xuân – Phó Chủ tịch Hiệp hội kiêm Tổng thư ký Hiệp Da-Giày-Túi xách Việt Nam. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Bên cạnh đó, nếu chúng ta đưa ra những tiêu chuẩn quá cao, quá ngặt nghèo thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa của chúng ta sẽ không thể với tới được. Vô hình chung, những chính sách đó lại chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có tiềm lực như các doanh nghiệp FDI hoặc các doanh nghiệp lớn.

Trong khi đó, những doanh nghiệp đó không phải là những đối tượng mà chúng ta cần phải nhắm tới. Do đó, vô hình chung, những chính sách này lại không phục vụ được cho những đối tượng mà chúng ta cần phát triển.

Tôi nhấn mạnh điều đó phải được nhìn nhận một cách khách quan và thực tế hơn. Mong muốn của chúng ta là tập trung những khu vực nào để chúng ta phát triển.

– Nhưng về lâu về dài chúng ta phải xây dựng được chuối cung ứng, làm chủ được thương hiệu để phát triển bền vững, vậy quan điểm của bà về vấn đề này thế nào?

Bà Phan Thị Thanh Xuân: Hai phương thức đó, mỗi một phương thức đều có ưu, nhược điểm khác nhau.

Hiện nhiều đơn vị đang làm gia công cho các thương hiệu lớn, toàn cầu. Đây là những thương hiệu đã có được thị phần khách hàng lớn trên thế giới. Để đạt được điều đó thì doanh nghiệp cần có tiềm lực, nguồn lực lớn mới và có sự phân công chuỗi cung ứng rõ ràng, đầy đủ. Cách thức này hiện vẫn đang phát triển. Bên cạnh đó, đối với các đơn vị gia công, thị trường là rất rộng.

Còn phát triển thương hiệu riêng cũng rất tốt. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt có làm được hay không? Chưa kể là thị phần của những thương hiệu mà chúng ta tự phát triển sẽ chiếm được bao nhiêu?

Ví dụ như thương hiệu Nike thị phần lớn như vậy, chúng ta gia công cho Nike cũng là được gia nhập vào chuỗi toàn cầu.

Còn tự phát triển thương hiệu là điều tốt nhưng vấn đề là khả năng của chúng ta rất hạn chế, thị trường của chúng ta chủ yếu là trong nước, chưa vươn được ra toàn cầu. Cho nên, tùy chiến lược kinh doanh của mỗi công ty mà chọn hướng làm gia công hay phát triển thương hiệu.

– Vậy Hiệp hội có lưu ý gì đối với doanh nghiệp để vượt qua thời điểm này cũng như có thể đứng vững trước biến động của thị trường?

Bà Phan Thị Thanh Xuân: Theo tôi, thời điểm hiện nay nguồn nguyên liệu chưa phải quá là bức xúc như 3 tháng trước đây. Các doanh nghiệp vẫn có thể có nguyên liệu để tiếp tục sản xuất đơn hàng, nhưng vấn đề khó khăn lớn nhất là đơn hàng tại các thị trường xuất khẩu.

Tự phát triển thương hiệu là điều tốt nhưng khả năng của chúng ta rất hạn chế, thị trường chủ yếu là trong nước, chưa vươn được ra toàn cầu.

Nếu như không có các đơn hàng đó, chắc chắn công ăn việc làm của người lao động sẽ bị ảnh hưởng. Bởi doanh nghiệp phụ thuộc doanh số từ việc có đơn hàng, nên nếu đơn hàng bị cắt đương nhiên kéo theo lợi nhuận giảm, thậm trí nhà máy còn bị đóng cửa và công nhân phải nghỉ việc.

Vì vậy, sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước trong giai đoạn này là rất cần thiết. Cụ thể là những chính sách đối với người lao động, đơn cử như cho doanh nghiệp được chậm hoặc giảm đối với bảo hiểm, chi phí công đoàn… hoặc những chi phí vay ngân hàng, hay chậm nộp thuế cho đến khi các đơn hàng được ổn định trở lại.

Thực tế một số doanh nghiệp đã phải cho công nhân nghỉ bằng cách nghỉ phép, song nghỉ hết phép mà đơn hàng vẫn chậm chễ như thế này thì lại tiếp tục cho nghỉ giãn vụ (làm 1 ngày nghỉ 2 ngày) hoặc nếu như tiếp tục không có đơn hàng nữa thì phải cho nghỉ không lương hoặc phải trả lương cơ bản…, như vậy người lao động rất khó khăn.

Về phía doanh nghiệp, họ đều đang vật lộn để cố gắng giữ công nhân và tìm cách vượt qua, với mong muốn sau này khi các đơn hàng khôi phục trở lại sẽ có đủ lao động để tiếp tục sản xuất.

– Xin cảm ơn bà./.

Nhiều doanh nghiệp Việt đã đầu tư công nghệ để xây dựng và phát triển thương hiệu. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)
Nhiều doanh nghiệp Việt đã đầu tư công nghệ để xây dựng và phát triển thương hiệu. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Bảo vệ người lao động

Mức độ ảnh hưởng khủng khiếp của dịch COVID-19 đối với bức tranh kinh tế xã hội đã thể hiện rõ rệt trong thời gian giãn cách xã hội. Hàng triệu cơ sở kinh doanh hộ gia đình bị đình trệ, hàng nghìn doanh nghiệp lớn nhỏ phải dừng hoạt động. Cứ mỗi ngày trôi qua lại thêm nhiều việc làm lại vuột khỏi tay của những người lao động.

Khi đại dịch COVID-19 vẫn đang tạo cuộc khủng hoảng trên toàn cầu, Việt Nam cũng sẽ không thể tránh khỏi những tác động nghiêm trọng.

Thị trường lao động ảnh hưởng nặng nề

Số liệu của Tổng Cục Thống kê từ kết quả điều tra doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và báo cáo đánh giá của các địa phương về tình hình lao động việc làm cho thấy tính đến giữa tháng 4, có gần 5 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Khoảng 84,8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19.

Theo đánh giá của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam, kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng toàn cầu trước đây cho thấy thị trường lao động phản ứng với suy thoái kinh tế có độ trễ. Điều này là bởi các doanh nghiệp trước tiên luôn cố duy trì lực lượng lao động của mình lâu nhất có thể bằng cách cắt giảm sản lượng cho đến khi không còn tiếp tục duy trì được nữa. Sự tác động của dịch bệnh đến thị trường lao động có thể sẽ rõ rệt hơn trong quý 2.

Tính đến giữa tháng 4, có gần 5 triệu lao động bị ảnh hưởng, khoảng 84,8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19.

Thực tế, đại dịch COVID-19 khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lớn thuộc ngành dệt may, da giày, điện tử, sản phẩm cao su, đồ gỗ, chế biến thực phẩm, phân bón, hóa chất… bị ảnh hưởng nặng nề. Ngành sản xuất trong nước bị ảnh hưởng không chỉ giới hạn ở vấn đề nguồn cung nguyên vật liệu, mà cả thị trường tiêu thụ, đặc biệt là xuất khẩu.

Đại diện các doanh nghiệp xuất khẩu cho biết, nhiều khách hàng lớn từ Mỹ và EU đã đề nghị doanh nghiệp dệt may, da giày Việt Nam giãn, hoãn tiến độ giao hàng, chưa ký hợp đồng mới, thậm chí hủy hợp đồng. Dự kiến, các đơn hàng mới từ tháng 6 trở đi chưa được đàm phán và khả năng phục hồi đơn hàng đến cuối năm 2020 là rất chậm.

Lao động mất việc vì dịch COVID-19 chờ giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp. (Ảnh minh hoạ: Anh Tuấn/TTXVN)
Lao động mất việc vì dịch COVID-19 chờ giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp. (Ảnh minh hoạ: Anh Tuấn/TTXVN)

Bên cạnh đó, ngành điện tử cũng sẽ bị ảnh hưởng lớn khi ước tính doanh thu và sản lượng toàn cầu của Samsung được dự báo sụt giảm. Samsung Việt Nam dự kiến giảm mục tiêu xuất khẩu xuống còn khoảng 45,5 tỷ USD trong năm 2020 so với 51,38 tỷ USD năm 2019…

Các chuyên gia ILO dự báo đến cuối quý 2 khủng hoảng có thể ảnh hưởng đến sinh kế của 4,6-10,3 triệu lao động tại Việt Nam. Người lao động bị giảm số giờ làm, giảm lương, hoặc trong trường hợp xấu nhất là mất việc.

Chuyển hướng tuyển dụng trực tuyến

Trong bối cảnh hiện nay, việc đảm bảo duy trì việc làm cho người lao động đang là vấn đề được ưu tiên. Thị trường lao động không “đóng băng” mà đã thay đổi cách thức hoạt động để thích ứng với bối cảnh mới: Việc tuyển dụng nhân sự được thực hiện bằng hình thức trực tuyến.

Để hỗ trợ người lao động tìm việc trong đại dịch COVID-19, dự án “200.000 cơ hội việc làm hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp vượt qua đại dịch COVID-19” được triển khai trên 4 website Timviecnhanh.com, Vieclam24h.vn, Viectotnhat.com và Mywork.com.vn  từ ngày 24/4 được tổ chức. Chỉ chưa đầy một tuần đã thu hút gần 4.000 doanh nghiệp đăng ký tham gia và trên 1.500 người lao động ứng tuyển.

Bà Dương Thị Tuyết Trinh, Giám đốc Khối khách hàng Ưu tiên Siêu Việt Group, phụ trách việc làm và tuyển dụng của dự án cho biết các nhà tuyển dụng đang nới lỏng yêu cầu và có rất nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên mới tốt nghiệp.

“Qua 4 website của chúng tôi cho thấy hơn 10.000 doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng hơn 300.000 lao động ở 30.000 vị trí việc làm,” bà Tuyết Trinh nói.

Việt Nam thể hiện khả năng kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ và bắt đầu nới lỏng những biện pháp giãn cách xã hội,do đó nhu cầu tuyển dụng cũng đã có những chuyển biến tích cực.

Thực tế, ngay cả nhân sự cấp quản lý vốn có quy trình tuyển dụng khắt khe hơn cũng bắt đầu đẩy mạnh việc tuyển dụng trực tuyến. Theo đó, Công ty tư vấn tuyển dụng nhân sự cấp trung và cấp cao tại Việt Nam Navigos Search thực hiện chiến dịch “Career Support-Hỗ trợ sự nghiệp” từ ngày 22/4 đến hết tháng 5. Ứng viên chỉ cần cung cấp thông tin cá nhân, ngành nghề, lĩnh vực, bộ phận và cấp bậc nhân viên hiện tại cũng như vị trí mong muốn trong tương lai. Từ những thông tin trên, Navigos Search sẽ kết nối thông tin này đến những vị trí tuyển dụng phù hợp nhất sẵn có từ dữ liệu khách hàng với đa dạng ngành nghề và lĩnh vực tại Việt Nam.

Sau tuần đầu tiên chạy khởi động thử nghiệm, chiến dịch đã nhận được sự đăng ký từ hơn 1.200 ứng viên ở đa dạng các ngành nghề và lĩnh vực tại Việt Nam.

Doanh nghiệp và người lao động đang chuyển dần sang hình thức tuyển dụng trực tuyến. (Ảnh minh hoạ: Anh Tuấn/TTXVN)
Doanh nghiệp và người lao động đang chuyển dần sang hình thức tuyển dụng trực tuyến. (Ảnh minh hoạ: Anh Tuấn/TTXVN)

Bà Nguyễn Phương Mai, Giám đốc điều hành Navigos Search cho hay: “Tại thời điểm hiện tại khi Việt Nam thể hiện khả năng kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ và bắt đầu nới lỏng những biện pháp giãn cách xã hội, nhu cầu tuyển dụng cũng đã có những chuyển biến tích cực. Một số doanh nghiệp đã đẩy mạnh hoạt động tuyển dụng để nhanh chóng phục hồi sản xuất và kinh doanh.”

“Chúng tôi hiểu không ít ứng viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm một cơ hội mới tại thời điểm này. Do đó, chiến dịch này là sự cam kết đồng hành của chúng tôi với ứng viên và doanh nghiệp để cùng nhau vượt qua những khó khăn từ ảnh hưởng của đại dịch, góp phần vào sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam,” bà Nguyễn Phương Mai chia sẻ.

Giải bài toán cho “cuộc khủng hoảng kép”

Về phương diện sức khỏe cộng đồng, Việt Nam đã thể hiện là một trong những nước đi đầu trên thế giới. Tiến sỹ Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam cho rằng đã đến lúc chứng tỏ rằng Việt Nam cũng xuất sắc như vậy trong giải quyết các thách thức về kinh tế, xã hội và thị trường lao động. Giờ chính là lúc cần có cách tiếp cận cân bằng để đối phó với cuộc khủng hoảng kép này.

Tiến sỹ Chang-Hee Lee đánh giá cao việc Việt Nam đã bắt đầu đưa ra và triển khai các gói chính sách kích thích nề kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp, việc làm và thu nhập. Điều quan trọng cần làm là tập trung duy trì việc làm, bằng cách hướng những hỗ trợ của Chính phủ tới những doanh nghiệp có thực hiện các biện pháp để giữ người lao động và bảo vệ sức khỏe của người lao động bằng các hình thức phân công công việc đảm bảo sức khỏe. Điều này sẽ giúp làm chậm lại và giảm thiểu cú sốc từ khủng hoảng việc làm.

Về phương diện sức khỏe cộng đồng, Việt Nam đã thể hiện là một trong những nước đi đầu trên thế giới. Đã đến lúc chứng tỏ rằng Việt Nam cũng xuất sắc như vậy trong giải quyết các thách thức về kinh tế, xã hội và thị trường lao động.

“Điều quan trọng cần làm là tập trung duy trì việc làm bằng cách hướng những hỗ trợ của Chính phủ tới những doanh nghiệp có thực hiện các biện pháp để giữ người lao động và bảo vệ sức khỏe của người lao động bằng các hình thức phân công công việc đảm bảo sức khỏe. Điều này sẽ giúp làm chậm lại và giảm thiểu cú sốc từ khủng hoảng việc làm,” tiến sỹ Chang-Hee Lee nói.

COVID-19 không phải là cuộc chiến của một quốc gia đơn lẻ. Đây là cuộc khủng hoảng tầm cỡ toàn cầu. Bởi vậy, ngay cả khi Việt Nam có thể khống chế hoàn toàn dịch bệnh, nhưng kinh tế và xã hội vẫn sẽ bị tác động nghiêm trọng nếu cuộc khủng hoảng này vẫn lan rộng ở các quốc gia giao thương với Việt Nam trong thời gian tới.

Tiến sỹ Chang-Hee Lee nhấn mạnh cần giảm thiểu tác động của các biện pháp kiềm chế dịch bệnh tới các doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh gia đình, nông hộ và khu vực nông nghiệp-nông thôn. Trong trường hợp sụt giảm mạnh nhu cầu của thế giới đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam, hoặc chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gẫy, thì chính hàng triệu doanh nghiệp siêu nhỏ, đơn vị kinh doanh hộ gia đình và khu vực nông nghiệp-nông thôn mang lại sự hỗ trợ thay thế. Vì vậy, hơn lúc nào hết, cần tạo điều kiện để họ phát huy vai trò của mình trong giai đoạn quan trọng này với sự hỗ trợ của Chính phủ.

Theo bà Nguyễn Phương Mai, đại dịch COVID-19 làm gián đoạn đến chuỗi cung ứng toàn cầu khiến các doanh nghiệp nhận ra sự cấp bách của việc đa dạng hóa nguồn cung ứng và hạng mục sản xuất, tránh phụ thuộc vào một quốc gia. Điều này tiếp tục củng cố thêm làn sóng dịch chuyển đầu tư và sản xuất sang các quốc gia Đông Nam Á mà địa điểm thu hút nhất chính là Việt Nam.

“Đây là một dấu hiệu tích cực cho nhu cầu tuyển dụng nhân sự tại Việt Nam trong thời gian tới, đơn cử tại các ngành Sản xuất Dệt may, Công nghiệp phụ trợ, Điện/Điện tử… Vì vậy, để củng cố triển vọng Việt Nam trở thành điểm đến của sự dịch chuyển dòng đầu tư, thị trường lao động Việt Nam cũng cần có những chuẩn bị kịp thời về chất lượng và số lượng nhân sự để không ngừng tăng cường năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh và sẵn sàng đón đầu những cơ hội mới sau đại dịch,” bà Nguyễn Phương Mai nói.

Cuộc chiến chống lại COID-19 không còn đơn thuần là một thách thức về y tế, nó tạo nên một cuộc khủng hoảng kép về chăm sóc sức khỏe lẫn kinh tế-xã hội. Các biện pháp đưa ra để bảo vệ sức khỏe cộng đồng nhưng song song với nó là cần bảo vệ sinh kế của người dân. Nếu không cứu được sinh kế của người dân, cuối cùng chúng ta cũng sẽ thất bại trong việc bảo vệ họ trong cuộc chiến chống COVID-19./.

Cần có các biện pháp bảo vệ sinh kế của người dân trong đại dịch COVID-19. (Ảnh minh hoạ: Minh Quyết/TTXVN)
Cần có các biện pháp bảo vệ sinh kế của người dân trong đại dịch COVID-19. (Ảnh minh hoạ: Minh Quyết/TTXVN)

Tiến về Sài Gòn

Để cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 đại thắng, Chiến dịch Tây Nguyên từ 4/3 đến ngày 30/4 được xác định là phát súng mở đầu, tạo tiền đề vững chắc cho quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong chiến dịch mang mật danh 275 ấy, vấn đề then chốt là phải mở và giữ bằng được được các tuyến đường vận chuyển, từ đó tạo thành thế gọng kìm “chạm ngõ” vào vùng đất đỏ bazan Tây Nguyên.

45 năm sau, Thiếu tướng Võ Sở, nguyên Chính ủy Binh đoàn 12, hiện là Chủ tịch Hội truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam – nhân chứng sống của những ngày băng núi, mở đường vẫn rưng rưng khi nhớ lại quãng thời gian đỏ lửa ấy.

Những Sư đoàn ôtô đặc biệt

Thiếu tướng Võ Sở năm nay đã 91 tuổi. Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng ông vẫn tráng kiện và minh mẫn. Đặc biệt, mỗi khi nhắc nhớ về tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, vị tướng già ấy lại sôi nổi lạ thường.

Trong những ngày cuối tháng Tư lịch sử, như bao người lính chiến khác, ông lại lật giở những tấm ảnh đã cũ nhòe, kể lại cho con cháu nghe về những năm tháng không thể nào quên của mình.

Thiếu tướng Võ Sở.
Thiếu tướng Võ Sở.

45 năm về trước, chiến dịch Tây Nguyên chính thức được mở màn, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức, thực hiện chia cắt và tạo thế chiến lược mới trên chiến trường toàn miền Nam.

Thiếu tướng Võ Sở khi ấy được giao nhiệm vụ làm Phó Chủ nhiệm Chính trị, Đảng ủy viên Bộ Tư lệnh Trường Sơn và là phái viên trên chiến trường với cấp bậc Thượng tá. Để trực tiếp phục vụ chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, một Bộ Tư lệnh tiền phương đã được thành lập.

“Bên cạnh nhiệm vụ tác chiến, Bộ Tư lệnh tiền phương còn có một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và độc đáo là phụ trách công tác hậu cần, kỹ thuật, đảm bảo tuyến đường Trường Sơn luôn được thông suốt,” Thiếu tướng Võ Sở cho hay.

Chính vì vậy, đây cũng là Bộ Tư lệnh đặc biệt khi bao gồm 3 Sư đoàn: Sư đoàn công binh 479, Sư đoàn bộ binh 968 và Sư đoàn ôtô 471. Trong đó, Sư đoàn ôtô 471 nhận trọng trách vận chuyển chi viện phục vụ toàn bộ chiến dịch.

Ngoài ra, hai trung đoàn công binh 574 và 575 cũng được thành lập để “chuyên trách” việc mở đường, đảm bảo thông suốt toàn tuyến theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Trước đó, sư đoàn khu vực 471 và Sư đoàn khu vực hậu cứ 571 cũng đã được chuyển thành hai sư đoàn vận tải ôtô.

Theo Thiếu tướng Võ Sở, việc thành lập các sư đoàn vận tải ôtô trong Chiến dịch Tây Nguyên là một sự kiện quan trọng và chưa có tiền lệ trong lịch sử tổ chức quân đội nhân dân Việt Nam.

Việc thành lập các sư đoàn vận tải ôtô trong Chiến dịch Tây Nguyên là một sự kiện quan trọng và chưa có tiền lệ trong lịch sử tổ chức quân đội nhân dân Việt Nam.

Cũng chính từ những chuyến xe của những sư đoàn đặc biệt này, từng đoàn lính cùng toàn bộ binh khí kỹ thuật đã nối đuôi nhau vào Tây Nguyên trong an toàn và bí mật.

Ngừng lại một chút, vị tướng già thoáng nhìn ra xa xăm. Trước mắt ông lúc này, dường như hình ảnh của những cánh rừng Trường Sơn mùa khô năm nào đang hiển hiện rõ nét. Đường gập ghềnh chạy dưới tán rừng thưa. Bụi theo gió hồng hộc cuốn vào cabin trống khiến mặt mũi anh em lái xe đen nhẻm. Tiếng bom rền xa xa… Tất cả bỗng sống dậy, khiến khóe mắt tướng Sở đỏ hoe…

Ông khẽ vân vê đôi tay gầy guộc, nhấp một ngụm trà rồi tiếp mạch kể: Yêu cầu dành cho các sư đoàn ôtô lúc bấy giờ rất cao, khi Bộ Tư lệnh xác định phải dồn toàn lực, đảm bảo hàng và người phải được vận chuyển không ngừng nghỉ. Lúc này, Thượng tá Võ Sở cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn 471 quyết định phải cho xe chạy lấn giờ mới đảm bảo kịp thời yêu cầu thực tế.

Tuyến đường Trường Sơn lịch sử. (Ảnh tư liệu) 
Tuyến đường Trường Sơn lịch sử. (Ảnh tư liệu) 

“Tôi vẫn nhớ rõ, từ ngày 4/3/1975, Sư đoàn 471 nhận được nhiệm vụ phải tổ chức lực lượng, bí mật cơ động vào các vị trí tập kết, chuẩn bị tiến công Đức Lập. Toàn Sư đoàn sẽ chuyển hơn 100 tấn đạn pháo lớn vào trận địa pháo để kịp mở màn cho toàn chiến dịch,” tướng Võ Sở nhớ lại.

Thời gian ngày một rút ngắn dần. Các đoàn xe được ngụy trang kín ầm ì lên đường, leo dọc sống Trường Sơn hướng về Đức Lập. Để đảm bảo an toàn và bí mật cũng như thời gian, các “chuyến hàng” được phép chạy lấn thêm vào đầu giờ sáng cũng như cuối các giờ chiều.

Khi tiếp cận giao hàng tại những điểm gần địch, anh em lái xe sẽ buộc phải tắt hết đèn, đi mò mẫm trong đêm. Lúc này, những tài xế dày dặn kinh nghiệm, vốn đã thuộc lòng từng khúc cua của Trường Sơn huyền thoại được huy động.

Vất vả là thế, nhưng theo Thiếu tướng Võ Sở, tất cả những người lính trong các Sư đoàn đặc biệt suốt dọc những cung đường Trường Sơn đều không ca thán một lời. Với họ, an toàn của những chuyến hàng còn được đặt cao hơn chính tính mạng của bản thân. Bằng mọi giá phải để đưa xe tới điểm đã định luôn là lời thề son sắt của tất cả mọi người.

Đội làm đường thần tốc

Bên cạnh việc duy trì các sư đoàn ôtô, một nhiệm vụ sống còn được đặt ra với bộ đội Trường Sơn trong chiến dịch Tây Nguyên ngày ấy là phải mở và giữ những tuyến đường huyết mạch nối vào Tây Nguyên.

Thực hiện yêu cầu này, các trung đoàn 574, 575 được lệnh mở đường từ nam Đức Cơ (Gia Lai) xuống Chư M’nga (Đắc Lắk), đồng thời phải khôi phục các trục đường đã bị hư hỏng khác. Từ tháng 2/1975, Trung đoàn 575 tiếp tục mở trục dọc gồm các đường 50B và hai nhánh là đường 50C, 50D gần Buôn Mê Thuột với tổng chiều dài gần 60km.

Quân giải phóng tiến vào đánh chiếm sân bay Hoà Bình ở thị xã Buôn Ma Thuột. (Ảnh: TTXVN)
Quân giải phóng tiến vào đánh chiếm sân bay Hoà Bình ở thị xã Buôn Ma Thuột. (Ảnh: TTXVN)

Khi vào đến gần thị xã Buôn Ma Thuột (cũ), bộ đội Trường Sơn vấp phải một bài toán khó khi đây là khu vực trống trải, có nhiều người đi lại.

“Lúc này, tính bí mật phải được đặt lên hàng đầu. Đoạn mở vào Buôn Ma Thuột lại dài tới 20km. Nếu làm theo cách thông thường sẽ không ổn,” vị tướng 91 tuổi nhớ lại.

Bộ Tư lệnh tiền phương yêu cầu bộ đội dừng thi công, chờ phương án cụ thể. Mặt khác, một quyết định vô cùng táo bạo được đưa ra: Phải mở bằng được tuyến đường còn lại chỉ trong 1 đêm. Nhận được “mật lệnh” này, tướng Sở cũng giật mình vì… độ khó của bài toán cần phải giải.

Nhưng, thời gian không cho phép có bất cứ sự đắn đo nào. Lính công binh ngay lập tức được chia thành từng nhóm nhỏ, mang theo cưa, cuốc và xẻng. Những tấm lưng bộ đội còn gùi cõng thêm thuốc nổ rồi vạch màn đêm lên đường.

Để không làm lộ dấu vết, các chiến sỹ cưa sát từng gốc cây to trên trục đường sẽ mở nhưng vẫn để lại một phần để cây không ngã xuống. Một mũi khác nhận nhiệm vụ “ôm thuốc nổ” chôn, gài vào các khu vực gò đống chắn đường… Bài học từ Điện Biên Phủ năm nào lại được lính công binh Trường Sơn mang về Buôn Ma Thuột. Chỉ sau 1 đêm, tất cả đã được bố trí sẵn, chỉ đợi lệnh thông tuyến.

Bài học từ Điện Biên Phủ năm nào lại được lính công binh Trường Sơn mang về Buôn Ma Thuột. Chỉ sau 1 đêm, tất cả đã được bố trí sẵn, chỉ đợi lệnh thông tuyến.

Bằng cách thức đặc biệt “có một không hai” ấy, đến ngày 4/3/1975, trục đường do Trung đoàn 575 từ hướng Bắc đã vào đến bản Sở Hia, Chữ M’nga cách thị xã Buôn Ma Thuột chừng 20km mà kẻ địch không hay biết gì. Tiếp đó, đúng 23 giờ ngày 9/3, Trung đoàn đã khai thông toàn trục đường 50B, hai nhánh 50C, 50D và tổ chức xong lực lượng hộ tống xe cùng binh khí kỹ thuật.

Dân quân địa phương tham gia chống lầy, mở đường cho xe tăng quân giải phóng xuất kích trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. (Ảnh: TTXVN)
Dân quân địa phương tham gia chống lầy, mở đường cho xe tăng quân giải phóng xuất kích trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. (Ảnh: TTXVN)

“Nhìn từ phía ngoài, tất cả vẫn xanh rì cây… Nhưng dưới những tán rừng lặng lẽ là cả một chiến dịch ra quân của mấy chục nghìn quân, mấy nghìn xe ô tô, pháo lớn. Núi rừng Trường Sơn đang ẩn chứa sức mạnh tiềm tàng, to lớn mà đối phương không thể nào hình dung nổi,” vị tướng già nhớ lại.

Theo Thiếu tướng Võ Sở, tính tới trước khi chiến dịch Tây Nguyên chính thức mở màn, bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 30% và trước 3 ngày so với thời gian quy định.

Đêm trước ngày chiến dịch diễn ra, tướng Sở không sao ngủ được. Ông bảo: Sau khi báo cáo kết quả công tác chuẩn bị với Bộ Tư lệnh, tất cả anh em đều bồn chồn. Chỉ sáng mai thôi, những con đường thần tốc họ đã cùng nhau đánh đổi bằng mồ hôi, xương máu của mình sẽ cùng bộ đội tiền phương ra trận lớn.

Cánh cửa vào giải phóng Tây Nguyên thân yêu, mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã ở ngay phía trước rồi…

Những chuyến xe không ngừng nghỉ của các sư đoàn ô tô đặc biệt, cùng với cung đường bí mật dẫn về Buôn Mê Thuật được coi là những chiếc chìa khóa then chốt để mở cánh cửa vào Tây Nguyên.

Đến 11 giờ trưa 11/3, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã được kéo lên trên cột cờ của Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, quân ta làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột, hoàn thành trận đánh then chốt mở đầu thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên.

Tấm bản đồ của má Sáu Ngẫu…

và đường vào giải phóng Thành đô

Mặc dù đã qua 45 năm, nhưng Thượng tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu vẫn không thể quên được tấm bản đồ của má Sáu Ngẫu những ngày giải phóng Sài Gòn. Với ông, đó là chiếc chìa khóa góp phần mở toang cánh cửa cho quân đội tiến vào đô thành; và cũng là bằng chứng cho tình quân-dân son sắt, không thể tách rời.

Cuộc hành quân 12 ngày đêm vào “tuyến lửa

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu không thể nhớ hết được đã trải qua bao nhiêu trận đánh. Bốn chiến dịch lớn là chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào 1971, Chiến dịch Quảng Trị 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4/1975 đều có dấu của vị tướng này. Nhưng có lẽ, điều khiến ông vẫn luôn tự hào nhất là đã được đứng trong năm cánh quân chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Giữa tháng 3/1975, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khi ấy vẫn còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1. Ông đang chỉ huy Trung đoàn đắp đê ở Ninh Bình thì nhận được lệnh hành quân vào chi viện khẩn cho chiến trường miền Nam.

Thượng tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu. 
Thượng tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu. 

“Lúc này, Trung đoàn chúng tôi đang tiến hành nghi binh địch. Nhìn bề ngoài, cả đơn vị vẫn đang tiến hành sản xuất ở miền Bắc nhưng thật ra, tất cả đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc hành quân thần tốc hướng về miền Nam ruột thịt,” tướng Hiệu nhớ lại.

Chỉ hai ngày sau, cả đoàn quân rùng rùng lên đường, mang theo quyết tâm cháy bỏng giải phóng miền Nam thân yêu, thống nhất non sông một dải. Diễn biến khẩn trương của chiến dịch buộc Trung đoàn 27 phải tận dụng mọi phương tiện, từ ôtô tới tàu hỏa để tiếp cận Đông Hà – Quảng Trị làm lực lượng dự bị cho các đơn vị bạn chuẩn bị đánh vào Huế và Đà Nẵng.

“Ngày 26/3, các cứ điểm của địch tại Huế tan rã. Lúc này, chúng tôi tiếp tục di chuyển theo hướng Bắc đèo Hải Vân, vượt vào Đà Nẵng để đánh bán đảo Sơn Trà. Nhưng chỉ 3 ngày sau, các đơn vị bạn tiếp tục giải phóng thành công Sơn Trà,” tướng Hiệu nhớ lại.

Trước những diễn biến mới này, Trung đoàn 27 nhận được lệnh khẩn từ Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Phùng Thế Tài là phải đưa gấp rút tập kết tại Đồng Xoài (Đông Nam Bộ) theo xe của đoàn 559, chuẩn bị cho trận đánh lớn sau cùng,” tướng Hiệu khẽ nheo trán, lục lại trong ký ức của mình.

Ngồi trên cabin xe, lòng Nguyễn Huy Hiệu nóng như lửa đốt. Nhìn ra phía ngoài, những trảng rừng Trường Sơn mùa khô bạc phếch và mù mịt bụi đang vun vút trôi lại phía sau. Lính Trung đoàn, ai nấy đều… đỏ quạch vì đất bazan cuộn lên, “bén” vào người.

Sau này, qua nhiều năm, hình ảnh đoàn quân “đỏ” xẻ dọc sống lưng Trường Sơn ngày ấy vẫn như những thước phim quay chậm, hiện lên rõ nét trong tướng Hiệu. Ông tự trào, gọi đó là đoàn quân của những đôi mắt khi bụi chỉ để lộ ra ánh nhìn sáng quắc của những người lính giữa rừng xa…

Qua nhiều năm, hình ảnh đoàn quân “đỏ” xẻ dọc sống lưng Trường Sơn ngày ấy vẫn như những thước phim quay chậm, hiện lên rõ nét trong tướng Hiệu. Ông tự trào, gọi đó là đoàn quân của những đôi mắt khi bụi chỉ để lộ ra

Thời gian mỗi ngày một gấp gáp. Những chuyến xe 559 ì ầm hướng về Đông Nam Bộ không ngừng. Phía trước, các đội công binh cũng được huy động tối đa, mở các đường vòng tránh cho đoàn quân “đỏ” âm thầm chạy về phía đồng bằng.

Khi cả đoàn tới đèo Ăng-Bun (trên đường Trường Sơn -PV), Trung đoàn nhận được bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đài 15 oát với nội dung: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!” Bức điện như một lời hiệu triệu thiêng liêng, thổi bùng tinh thần những người lính trẻ khiến tất cả quên đi mệt mỏi, bừng bừng khí thế để tiến về tiền tuyến.

Ngừng lại một lát, tướng Hiệu khẽ nhăn trán rồi lẩm nhẩm tự tính. 1.700km – có lẽ đó là chuyến hành quân dài nhất nhưng cũng nhanh nhất trong suốt cuộc đời binh nghiệp của ông. Ngày 29/3/1975, cả Trung đoàn 27 đã có mặt tại Đồng Xoài. Tính chi ly, họ chỉ mất đúng 12 ngày để hoàn tất cuộc hành quân thần tốc, chuẩn bị cho trận tổng tiến công cuối cùng ít giờ sau đó.

Nhân dân Tây Nguyên cùng bộ đội kéo pháo để đánh chiếm các đỉnh cao ở Pleiku trong chiến dịch Tây Nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. (Ảnh: TTXVN)
Nhân dân Tây Nguyên cùng bộ đội kéo pháo để đánh chiếm các đỉnh cao ở Pleiku trong chiến dịch Tây Nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. (Ảnh: TTXVN)

“Trong lịch sử chưa có cuộc hành quân nào dài như thế và đánh hợp đồng Bộ binh – Cơ giới như thế. Đây là nghệ thuật chỉ đạo hành quân nghi binh chiến lược của Bộ Chính trị và Bộ Tham mưu chiến lược là quân ủy Trung ương. Cuộc hành quân thần tốc này được coi là có một không hai để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Nếu theo đúng kế hoạch ban đầu thì đến năm 1976 chúng ta mới giải phóng miền Nam, tuy nhiên, khi mặt trận Tây Nguyên bùng nổ làm rung chuyển quân địch, tạo thế và lực mới cho ta, Bộ Chính trị và quân ủy Trung ương đã sáng suốt và quyết đoán lãnh đạo trận đánh, thừa thắng xông lên, đưa tổng lực vào giải phóng miền Nam một cách nhanh chóng, thống nhất đất nước. Đây chính là tài thao lược của Đảng và Trung ương,” Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu chia sẻ.

Tấm “bản đồ má Sáu” mở đường vào Thành đô

Cuối tháng Tư, đội hình của Trung đoàn 27 đã vào tới địa phận Thủ Dầu Một. Nhiệm vụ của cả trung đoàn lúc này là bằng mọi cách phải thọc sâu, tiến công vào Lái Thiêu, vượt qua tuyến tử thủ cửa ngõ để vào Sài Gòn.

Ngồi thừ trên bãi cỏ ven lộ, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cau mày lo lắng. Anh và đồng đội chỉ còn một đêm nay để quyết định trận chiến lớn nhất trong đời này. Nhưng nan giải nhất là chưa ai trong Trung đoàn nắm chắc được tình hình khu vực cũng như bố trí lực lượng của địch bấy giờ ra sao.

“Chỉ còn một cách là phải phối hợp với lực lượng tại chỗ ở địa phương, dựa vào nhân dân để đánh giặc. Do đó, chúng tôi quyết định trực tiếp cùng trinh sát vào tìm sự giúp đỡ của người địa phương,” tướng Hiệu kể lại.

Từ trái sang phải: Em Phước, Chính ủy Trịnh Văn Thư, má Sáu Ngẫu, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và em Đức (Ảnh: Tư liệu)
Từ trái sang phải: Em Phước, Chính ủy Trịnh Văn Thư, má Sáu Ngẫu, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và em Đức (Ảnh: Tư liệu)

Trong lúc chưa biết bắt đầu từ đâu thì tin từ quân đoàn cho biết: Ở chợ Búng gần đó có gia đình má Sáu Ngẫu là cơ sở của cách mạng. Nhà má Sáu nằm ngay cạnh quốc lộ 13 là tuyến địch đã rút quân về tử thủ. Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu ngay lập tức lên đường.

Đêm đó, trời Thủ Dầu Một bất ngờ đổ mưa. Cả con đường dẫn vào Búng ngập trong bóng tối và sũng nước. Đến trước cửa một ngôi nhà sát lộ vẫn le lói đèn, đoàn trinh sát gõ cửa và phát tín hiệu: “Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh.” Từ bên trong, giọng một bà má miền Nam gần như ngay lập tức đối ứng: “Muôn năm. Muôn năm.” Nhận đúng “mật khẩu,” má Sáu Ngẫu mừng quýnh, vội vã mở cửa, kéo những người con Bắc Việt vào nhà.

“Tôi tự giới thiệu và xin má Sáu cung cấp thêm thông tin tình hình địch mà má biết quanh khu vực Lái Thiêu. Nhìn rất lâu vào tấm bản đồ mà chúng tôi đã chuẩn bị, má bảo: Bản đồ này má không quen, để má dô lấy bản đồ của má!,” Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 nhớ lại.

Nói đoạn, bà má miền Nam lụm cụm vào trong, mang ra một tấm bản đồ chi tiết với những dòng ghi chú hết sức nắn nót.

“Má bảo, đây là bản đồ do tự tay má ghi chép lại trong suốt những năm tháng hoạt động trong vùng địch và rất gần với thực địa. Má cũng chỉ cho chúng tôi các trục đường, vị trí đóng quân, lực lượng cũng như vũ khí của địch,” tướng Hiệu kể.

Bằng mọi phương tiện thô sơ và cơ giới, các chiến sỹ vận tải Tây Nguyên vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hoá phục vụ chiến dịch. (Ảnh: TTXVN)
Bằng mọi phương tiện thô sơ và cơ giới, các chiến sỹ vận tải Tây Nguyên vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hoá phục vụ chiến dịch. (Ảnh: TTXVN)

Thậm chí, bà má Nam Bộ còn chỉ cho tướng Hiệu ngày ấy cả cách đánh: Với trung tâm Huỳnh Văn Lương có gần 2.000 địch và một lượng nhỏ tàn quân với tinh thần đã rệu rã, bộ đội không nên tấn công mà chỉ cần dùng loa kêu gọi chúng đầu hàng. Rồi địch gài mìn, dựng chướng ngại vật ở cây cầu bắc qua sông ra sao…

Nhìn tấm bản đồ quý giá, cả đoàn trinh sát mừng như bắt được vàng. Chìa khóa mở cửa vào Sài thành là đây rồi! Dưới nét vẽ bổ sung của má, toàn tuyến phòng thủ từ chi khu Lái Thiêu đến Sài Gòn đều hiện lên rõ nét. Những địa danh xa lạ như trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương, ngã ba Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình… trong phút chốc đều được “giải mã.”

Nhìn tấm bản đồ quý giá, cả đoàn trinh sát mừng như bắt được vàng. Chìa khóa mở cửa vào Sài thành là đây rồi!

Nhờ nghiên cứu kỹ lưỡng “tấm bản đồ má Sáu Ngẫu,” ngay trong đêm 29/4, phương án tác chiến được thông qua và phổ biến tới từng tổ chiến đấu. 3 giờ sáng ngày 30/4, các đơn vị đã vào đúng vị trí quy định. Hiệu lệnh tấn công được phát động. Từ phía các lộ, hỏa lực nhắm thẳng vào từng mục tiêu cố thủ đã được “bạch hóa.” Tiếng súng nổ, tiếng pháo cối rít đì đùng báo hiệu cho thời khắc mở toang cánh cửa vào Sài Gòn đã đến rất gần.

Những chi khu của địch dần được ta đánh chiếm và gỡ bỏ. Sau 2 giờ chiến đấu, toàn bộ quận lỵ Lái Thiêu đã nằm trong tầm kiểm soát của quân đội nhân dân Việt Nam. Tuyến “tử thủ” Ngụy quân Sài Gòn đặt nhiều hy vọng sẽ chặn được các mũi tiến công của quân ta bị đập tan, cánh cửa phía Bắc Sài Gòn đã rộng mở. Hoàn thành nhiệm vụ mở đường, Trung đoàn 27 tiếp tục liên lạc với lực lượng địa phương rồi Sài Gòn đánh chiếm 13 mục tiêu của địch ở Gò Vấp.

Nhớ lại khoảng khắc ấy, tướng Hiệu bảo: Lồng ngực ông gần như nghẹn lại khi chứng kiến cờ Giải phóng phấp phới bay. Nếu không có tấm bản đồ cùng những lời dặn dò má trao gửi, chắc chắn đoàn quân sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn. Với tướng Hiệu, đó chắc chắn là tấm bản đồ kỳ lạ và có giá trị nhất trong suốt cuộc đời binh nghiệp của ông.

Nhân dân thành phố Sài Gòn mít tinh chào mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Minh Lộc – TTXVN)
Nhân dân thành phố Sài Gòn mít tinh chào mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Minh Lộc – TTXVN)

Một ngày sau chiến thắng, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng một số anh em trong Trung đoàn đã quay trở lại Lái Thiêu thăm và cảm ơn má Sáu Ngẫu. Riêng tấm bản đồ ngày ấy được ông gìn giữ cẩn thận và sau này đã trao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam lưu giữ./.

Vị tướng quân bên gốc bồ đề

45 năm sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu đã trở về cuộc sống bình lặng của riêng mình. Nhưng năm nào cũng thế, cứ vào dịp 30/4, ông và đồng đội lại sắp xếp về Lái Thiêu, thắp cho má Sáu một nén hương nghĩa tình. Tự tay ông đã đặt tấm bia trên ngôi mộ má với những lời rưng rưng: “Trung đoàn Triệu Hải, Đại đoàn Đồng Bằng, ghi công má đã dẫn đường cho trung đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.”

Và người Lái Thiêu cũng quen dần với hình ảnh vị tướng già trong bộ quân phục xanh ngồi lặng im bên má Sáu mỗi năm một lần…

“- Má ơi! Chúng con đã về đây. Đồng đội con ngày ấy, nhiều đồng chí đã đi theo các anh hùng liệt sĩ về thế giới bên kia. Những người còn sống, đến hôm nay lưng cũng đã còng, tóc đã bạc. Trước anh linh của má, chúng con một lần nữa thành kính nhớ ơn má, tưởng nhớ các đồng chí của mình. Quân đội nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi ơn những bà má Việt Nam can trường, mưu lược, dũng cảm, đã hiến dâng trọn đời mình, hiến dâng cả chồng, con mình cho cách mạng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.”

“Tổng hành dinh” diệt trừ COVID-19

Đi trực đã trở thành một phản xạ, những ngày cao điểm của dịch bệnh COVID-19. Trong những giấc ngủ không đủ sâu ấy, nhiều người bị ám ảnh bởi tiếng bíp bíp từ máy thở, máy lọc máu, máy vận mạch… được lắp xung quanh bệnh nhân nặng.

Bác sỹ Đồng Phú Khiêm – Phó trưởng khoa hồi sức tích cực (Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở 2) kể về những ngày đồng hành với cuộc chiến chống giặc COVID-19 tại “tổng hành dinh” diệt dịch.

“Cướp” lại sự sống cho người bệnh từ lưỡi hái tử thần

Theo lời bác sỹ Khiêm, vào những ngày đầu tháng Ba, thời điểm dịch COVID-19 bùng phát mạnh mẽ tại Việt Nam, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, xe cấp cứu chuyên dụng liên tục chở bệnh nhân nhập viện.

“Phát súng” đầu tiên của giai đoạn 2 – giai đoạn cao điểm của dịch COVID-19 là vào 18 giờ ngày 5/3, khi chiếc xe cấp cứu chở bệnh nhân 17 nhập viện. Nhân viên, bác sỹ, điều dưỡng của Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 cẩn thận mặc bộ đồ bảo hộ để chuẩn bị cho công tác điều trị.

Một ngày sau, khi có kết quả dương tính từ bệnh nhân, tối 6/3, cả Hà Nội như chấn động, nhiều người dân lo lắng vì sau hơn 20 ngày cả nước không có ca bệnh mắc mới COVID-19 thì đã xuất hiện thêm ca bệnh.

Sáng 7/3, vào 10 giờ, thêm một bệnh nhân được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội lấy mẫu xét nghiệm và chuyển bệnh nhân sang Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 bằng xe riêng. Kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2.

Đến ngày 12/3, tổng số ca dương tính điều trị tại bệnh viện đã lên tới 10 trường hợp, trong đó có 6 ca là người nước ngoài.

Ngày 12/3, tổng số ca dương tính điều trị tại bệnh viện đã lên tới 10 trường hợp, trong đó có 6 ca là người nước ngoài. Chỉ trong vài ngày, toàn bộ nhân viên bệnh viện được huy động tổng lực.

Chỉ trong vài ngày, toàn bộ nhân viên bệnh viện được huy động tổng lực. Những bệnh nhân dương tính đưa vào điều trị một khu riêng, các trường hợp F1 thuộc diện nghi ngờ theo dõi được đưa vào cách ly trong một khu riêng. Công suất của bệnh viện với 500 giường bệnh thì vào thời kỳ cao điểm của dịch có tới gần 400 bệnh nhân và các đối tượng thuộc diện phải cách ly được điều trị.

Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp – Trưởng Khoa cấp cứu (Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương) cho hay bước sang giai đoạn 2 và 3 của dịch, tỷ lệ bệnh nhân nặng với nhiều ca bệnh phức tạp gia tăng. Với phương châm không để bệnh nhân tiến triển nặng, hạn chế tử vong, các y bác sỹ đã căng mình ngày đêm, quay cuồng để giành giật sự sống cho bệnh nhân.

Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp – Trưởng Khoa cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.(Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp – Trưởng Khoa cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương.(Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Theo thống kê, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương đã tiếp nhận và điều trị 143 bệnh nhân dương tính với SARS-COV-2 (hơn 50% số ca mắc COVID-19 tại Việt Nam), với 15 bệnh nhân diễn biến nặng, trong đó 5 bệnh nhân có diễn biến nguy hiểm đến sinh mạng phải thở máy và điều trị hồi sức tích cực với lực lượng y bác sỹ trực tiếp làm việc trong buồng bệnh, theo dõi liên tục người bệnh 24/24h. Các bác sỹ đã cấp cứu kịp thời và thành công người bệnh có tổn thương tim gây biến chứng ngừng tuần hoàn trong đêm.

Với những nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân viên Bệnh viện, đến nay, Bệnh viện đã chữa khỏi 109 bệnh nhân. Hiện chỉ còn 2 bệnh nhân cần thở máy hỗ trợ nhưng bệnh đã thuyên giảm nhiều, người bệnh tỉnh táo và giao tiếp tốt. Các bệnh nhân khác đều ổn định và có tiến triển tốt.

Bệnh viện cũng tiếp nhận cách ly và theo dõi y tế cho hơn 2.100 trường hợp nghi ngờ, trong đó có 30 người từ vùng dịch Vũ Hán, Trung Quốc. Đến nay còn hơn 100 trường hợp đang tiếp tục được cách ly và theo dõi y tế. Số còn lại đã được ra viện hoặc chuyển tuyến dưới theo dõi.

Các bệnh nhân được công bố khỏi bệnh COVI-19 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Các bệnh nhân được công bố khỏi bệnh COVI-19 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Đảm bảo không mất lực lượng chiến đấu

Nhớ lại những ngày cao điểm, Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp bảo rằng khi ấy có tới 30 bệnh nhân ở các nơi chuyển về, các y bác sỹ quay cuồng tiếp nhận, xét nghiệm và điều trị. Cả Khoa cấp cứu có 7 bác sỹ, 15 điều dưỡng thì vào thời gian cao điểm phải phục vụ 15 bệnh nhân mắc COVID-19.

“Chúng tôi nhiều khi có cảm giác không phân biệt được thời gian hôm nay là thứ mấy, ngày mấy bởi cường độ làm việc lớn, không có khái niệm ngày nghỉ và ngày đi làm,” bác sỹ Cấp trải lòng.

Chúng tôi nhiều khi có cảm giác không phân biệt được thời gian hôm nay là thứ mấy, ngày mấy bởi cường độ làm việc lớn, không có khái niệm ngày nghỉ và ngày đi làm!

Kể về chuỗi ngày điều trị cho các bệnh nhân, bác sỹ Cấp phân tích, khác với giai đoạn 1 hầu hết 100% bệnh nhân là người Việt, giai đoạn 2 chúng tôi tiếp nhận bệnh nhân từ rất nhiều nước khác nhau như: Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển… Dịch bùng phát nhanh, đa dạng bệnh nhân ở nhiều nước khác nhau cũng gây cho chúng tôi những khó khăn không nhỏ.

Bên cạnh đó, việc COVID-19 lây nhiễm qua đường hô hấp, thêm vào đó không phải điều dưỡng nào cũng nói được tiếng nước ngoài nên các bác sỹ đã tạo ra những bảng hỏi tình hình sức khỏe, yêu cầu của bệnh nhân để họ đánh dấu vào.

Nếu trước kia, việc giao tiếp để hỏi tình trạng của bệnh nhân có thể mất 8-10 phút, thì nay, với việc tạo ra những bảng hảo, bớt được thời gian giao tiếp giữa bệnh nhân và nhân viên y tế, hiệu quả vẫn cao.

Điều trị cho bệnh nhân trong tình trạng nặng tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Điều trị cho bệnh nhân trong tình trạng nặng tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp cho hay, bệnh viện là nơi tuyến đầu điều trị cho các bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm, khó khăn nhiều hơn khi đại dịch diễn biến phức tạp nhưng chưa ai dừng lại trong cuộc chiến với bệnh tật này.

“Nguy cơ lây nhiễm với nhân viên y tế là một mối đe doạ lớn nhất đối với tất cả các bệnh viện khi tham gia chống dịch, bởi mất lực lượng chiến đấu thì cả đơn vị đó sẽ không còn khả năng để đảm bảo công việc. Ngay từ trước khi có vụ dịch, chúng tôi đã phải đảm bảo tổ chức đào tạo, tập huấn, diễn tập thường xuyên để cho anh chị em sử dụng trang thiết bị phòng hộ tốt nhất và có phương án cải tiến về phòng hộ,  hạn chế thấp nhất nguy cơ lây nhiễm,” bác sỹ Cấp cho hay.

Cảm ơn Việt Nam!

Nhờ sự nỗ lực của các chiến sỹ áo trắng trên toàn quốc, đến nay, kết quả Việt Nam đạt được đã ngoài mong đợi. Trong khi cả thế giới đã có số ca mắc lên tới hơn 3,4 triệu trường hợp và hơn 239.000 ca tử vong, Việt Nam là địa bàn sát vách với nơi xuất phát dịch bệnh, nhưng với tinh thần khoanh vùng, dập dịch hiệu quả, tới nay chỉ ghi nhận 270 ca, điều trị thành công cho 223 trường hợp và chưa có ca tử vong.

Vợ chồng ông Dixong John Garth điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Vợ chồng ông Dixong John Garth điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trong số bệnh nhân khỏi bệnh, có nhiều người quốc tịch nước ngoài. Và, nhiều người trong số đó đã bày tỏ sự cảm phục nền y tế Việt Nam đã giúp họ thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Bà Shan Coralie Baker (67 tuổi) và chồng là ông Dixong John Garth (74 tuổi, quốc tịch Anh) là một trong những người trong số đó. 22 giờ đêm 13/4 là khoảnh khắc đáng nhớ bởi họ được ra viện, trở về nước Anh an toàn sau 35 ngày được các bác sỹ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương điều trị khỏi COVID-19.

Trước đó, đầu tháng 3/2020, bà Shan Coralie Baker cùng chồng sang Việt Nam để thăm con trai tại Đà Nẵng. Bà và chồng cùng được xác định mắc COVID-19 và được chuyển vào Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương.

Chúng tôi thật may mắn và hạnh phúc khi được gặp y, bác sỹ Việt Nam. Quả là điều kỳ diệu, tôi chỉ muốn nói: Cảm ơn! Cảm ơn rất nhiều!

“Lúc đầu tôi rất sốc. Tôi dần bị nặng, ho nhiều, khó thở, viêm phổi. Nhìn vào gương tôi không nhận ra mình nữa và đã nghĩ mình sẽ chết. Các bác sỹ Việt Nam thật tuyệt vời, họ đã cứu tôi. Tôi nghĩ nếu ở Anh, chưa chắc tôi đã sống được,” bà Shan trải lòng.

Sau quá trình được điều trị tích cực, sức khỏe bà hồi phục và đã có kết quả âm tính 3 lần liên tiếp nhưng người chồng bà lại diễn biến nặng hơn, suy hô hấp, phải thở máy.

Bà Shan Coralie Baker và chồng trong đêm được công bố khỏi bệnh và xuất viện để trở về nước Anh.(Ảnh: PV/Vietnam+)
Bà Shan Coralie Baker và chồng trong đêm được công bố khỏi bệnh và xuất viện để trở về nước Anh.(Ảnh: PV/Vietnam+)

“Khi biết chồng tôi chuyển vào khoa Hồi sức tích cực, tôi rất sợ. Là điều dưỡng đã nghỉ hưu nhưng với gần 40 năm làm ở Anh, tôi biết như thế là rất nguy kịch, nguy cơ đe dọa tính mạng cao. Vì thế nỗi sợ càng tăng,” bà kể.

10 ngày cũng là quãng thời gian đội ngũ bác sỹ giành giật sự sống cho ông Dixong John Garth, một bệnh nhân bị ung thư máu đã 10 năm.

Trước thời khắc ra viện để trở về nước, bà Shan chia sẻ: “Tôi rất biết ơn và ngưỡng mộ nỗ lực của các y, bác sỹ ở đây. Thật tuyệt vời, cận kề sinh tử mà chồng tôi vẫn còn sống. Chúng tôi thật may mắn và hạnh phúc khi được gặp y, bác sỹ Việt Nam. Quả là điều kỳ diệu, tôi chỉ muốn nói: Cảm ơn! Cảm ơn rất nhiều!”./.

Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương: Nơi trận dịch nào cũng phải gánh vác

Thứ trưởng thường trực Nguyễn Thanh Long nhận xét, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương là một tấm gương rất nỗ lực. Đây cũng là nơi mà trận dịch nào cũng phải gánh vác.

Để cải thiện cho các cán bộ y tế của bệnh viện có chỗ ăn ở, nghỉ ngơi, Bộ Y tế đề xuất thuê cả khách sạn, nhưng bệnh viện vẫn thống nhất để anh em ở lại để chăm sóc bệnh nhân được tốt hơn. Nhờ đó, đến hiện tại, bệnh viện đã điều trị các ca bệnh thành công, nhất là những ca bệnh người nước ngoài, có những ca diễn biến nặng nhưng đã được cứu chữa.

Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Chuyện rơi lệ ở nơi giành giật sự sống cho người mắc COVID-19

Mỗi khi nhìn thấy mẹ – điều dưỡng Nguyễn Thị Thủy trên điện thoại, bé Sâu lại khóc, nằng nặc đòi mẹ về đón. Nhìn hàng nước mắt lăn dài trên má cô con gái mới 26 tháng tuổi, chị Thủy không khỏi day dứt. Nhiều đêm, mẹ chồng cô phải thức trắng để dỗ dành đứa cháu nội thiếu vòng tay cha mẹ.

Đã hơn hai tháng nay, chiếc điện thoại là phương tiện duy nhất để chị Thủy và chồng nhìn ngắm đứa con bé bỏng của mình…

Bố mẹ còn bận đi… bắt “con COVID-19”

Đều đặn vào 19 giờ tối hằng ngày, Sâu lại tìm điện thoại, tiến tới gần bà nội. Người phụ nữ đã ở cái tuổi về chiều nheo mắt bấm số, kết nối cho cô cháu gái nhỏ gặp mẹ.

Kể với chúng tôi câu chuyện ấy, điều dưỡng Nguyễn Thị Thủy (Khoa Viêm gan, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2) bảo rằng đã hai tháng nay, căn nhà nhỏ của vợ chồng nhờ hàng xóm trông nom, cô con gái nhỏ gửi về Thái Bình còn hai vợ chồng ở hai nơi trên bệnh viện.

[Video]: Điều dưỡng Thủy chia sẻ về những ngày “cắm chốt” tại bệnh viện:

Điều dưỡng Nguyễn Thị Thủy tâm sự.

Nhớ con lắm, nhưng công việc không cho phép Thủy và chồng là Đặng Văn Toản (điều dưỡng khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2) về thăm con. Mỗi lần gọi điện, thấy con khóc mà lòng họ như thắt lại. Hơn hai tháng nay, ba người trong gia đình nhỏ xinh ấy chỉ có thể nói chuyện với nhau qua sóng viễn thông.

Rồi những giọt nước mắt của cách xa cũng vơi dần, thay vào đó là những lời an ủi của cô gái nhỏ với mẹ: Con nhớ bố mẹ lắm, nhưng ông bà bảo bố mẹ đi “bắt con COVID-19.” Bao giờ hết dịch con mới được lên Hà Nội. Mẹ cố gắng làm việc nhé!.

Hết nói chuyện với mẹ, Sâu lại “với” sang bố Đặng Văn Toản: Bố mẹ nhanh “bắt con COVID-19” để về nhà với con.

Những điều dưỡng tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương gọi về nói chuyện với con. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Những điều dưỡng tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương gọi về nói chuyện với con. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Điều dưỡng Thủy tâm sự, 5 năm kể từ ngày về một nhà, chưa bao giờ hai vợ chồng lại phải xa nhau lâu đến vậy. Họ cũng chưa bao giờ xa con gái của mình nhiều đến thế.

Thủy kể, ngày 7/3, cô đi làm bình thường, Khoa vẫn có những bệnh nhân viêm gan, đến khi dịch COVID-19 giai đoạn 2 bùng phát tại Hà Nội, khoa được điều động nhận khám sàng lọc các bệnh nhân nghi ngờ nhiễm COVID-19 trong khi vẫn có bệnh nhân viêm gan bình thường.

Khi đó, bệnh nhân vào chưa biết dương tính hay âm tính với virus SARD-CoV-2. Đến khi có kết quả xét nghiệm ra bệnh nhân dương tính, nhân viên cả khoa ở lại, đóng băng toàn khoa.

Điều dưỡng Thủy tâm sự, 5 năm kể từ ngày về một nhà, chưa bao giờ hai vợ chồng lại phải xa nhau lâu đến vậy. Họ cũng chưa bao giờ xa con gái của mình nhiều đến thế.

Nữ điều dưỡng nhớ lại: “Em không thể nào về gặp con được. Lúc đó anh Toản chưa phải cách ly nên hỏa tốc cho bé Sâu về quê về Thái Bình. Và cũng kể từ đó, tranh thủ giờ bé không ngủ, ngày nào em cũng gọi điện để bớt nhớ con.”

“Vợ ơi, ra cửa sổ nhìn nhau một lúc”

“Nối gót” vợ, Toản cũng vào cách ly tại bệnh viện sau khoảng 1 tuần, kể từ khi xuất hiện BN19.

Toản được phân công chăm sóc cho bệnh nhân dương tính trong tình trạng nặng chia theo ca 12 tiếng. Công việc chăm sóc cho bệnh nhân từ phát thuốc, thông số máy thở, tiêm, hút đờm, cho ăn, ngay cả đến việc tắm rửa, vệ sinh…

Vất vả là vậy, nhưng Toản không nề hà, mà điều đau đáu luôn thường trực trong anh chính là gia đình. Hai vợ chồng Thủy – Toản tuy chung viện nhưng lại khác khoa. Bởi thế, họ khó có thể gặp nhau khi dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp. Nhớ vợ quá, Toản gọi điện cho Thủy: “Vợ ơi, đi ra ngoài cửa sổ, nhìn nhau một lúc…”

Điều dưỡng Đặng Văn Toản vẫy và nhìn Thuỷ từ toà nhà đối diện. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Điều dưỡng Đặng Văn Toản vẫy và nhìn Thuỷ từ toà nhà đối diện. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Rồi Toản ra hành lang tầng ba, Thủy ra cửa sổ tầng bốn của khu nhà 9 tầng, gọi điện nói chuyện và vẫy tay với nhau từ hai tòa nhà đối diện.

Toản kể rằng, khi ở Việt Nam bước vào giai đoạn 2 của COVID-19 cũng là thời điểm dịch bùng phát mạnh tại Trung Quốc. Đọc những tin tức cán bộ y tế bên nước bạn hàng nghìn người mắc bệnh, Toản cũng suy tư, chợt nghĩ tới tình huống nhỡ đâu chẳng may hai vợ chồng có làm sao thì con ai chăm sóc…?

Tuy nhiên, với những tín hiệu tốt từ công tác điều trị và phòng chống dịch của Việt Nam triển khai, trong anh có một niềm tin mãnh liệt vào việc sẽ đẩy lùi COVID-19.

Điều dưỡng Thuỷ ra phía cửa sổ nhìn chồng từ toà nhà đối diện. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Điều dưỡng Thuỷ ra phía cửa sổ nhìn chồng từ toà nhà đối diện. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Điều dưỡng Thuỷ tâm sự, những ngày cách ly là những ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời với nhiều kỷ niệm cùng đồng nghiệp, gia đình, chồng con…

Khoa của Thủy tiếp nhận bệnh nhân ban đầu. Bệnh nhân mới sẽ vào thẳng khoa, được sàng lọc SARS-CoV-2. Khi bệnh nhân có kết quả dương tính thì chuyển đi điều trị chuyên biệt, nếu âm tính thì giữ lại khoa theo dõi.

Công việc hàng ngày của những người điều dưỡng gồm đón bệnh nhân, tiếp bệnh nhân, xếp bệnh nhân. Sau khi bác sỹ khám và cho chỉ định xong thì những điều dưỡng đi làm các xét nghiệm SARS-CoV-2 cho bệnh nhân như lấy máu, dịch họng… rồi gửi  khoa xét nghiệm. Công việc trong những ngày chống dịch vất vả gấp nhiều lần bởi bệnh  nhân phải cách ly, không được ra ngoài nên mọi việc đều đến tay điều dưỡng.

Rồi những giọt nước mắt của cách xa cũng vơi dần, thay vào đó là những lời an ủi của cô gái nhỏ với mẹ: Con nhớ bố mẹ lắm, nhưng ông bà bảo bố mẹ đi “bắt con COVID-19.” Bao giờ hết dịch con mới được lên Hà Nội. Mẹ cố gắng làm việc nhé!.

Mong mỏi ngày về

Rồi Thủy bảo, điều ấn tượng nhất của cô cùng đồng nghiệp là mỗi lần bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính, được ra viện. Khi ấy, cô cũng nghĩ rằng dịch sắp dứt, hai vợ chồng được về quê đón bé Sâu lên Hà Nội, quây quần như ngày trước dịch.

“Mỗi lần bệnh nhân có kết quả âm tính lần 1, lần 2, lần 3, được công bố khỏi bệnh thì cả khoa ai cũng vui, cùng động viên an ủi nhau cố gắng,” Thủy cho hay.

Tại Khoa Viêm gan vào thời điểm giữa tâm dịch khoảng 70 bệnh nhân. Một ngày vào hơn 10-20 trường hợp là chuyện bình thường. Hiện nay tại Khoa chỉ còn hơn 30 bệnh nhân.

Những nữ điều dưỡng tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Những nữ điều dưỡng tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Nữ điều dưỡng kể, giữa tâm dịch, khi biết bệnh nhân dương tính, nhiều người có cảm giác lo lắng vì mình là người trực tiếp lấy xét nghiệm cho họ nên  khả năng bị lây nhiễm cao. Cho dù biết đó chỉ là xác suất rất nhỏ và điều dưỡng, bác sỹ được trang bị thiết bị bảo hộ nghiêm ngặt. Theo lời Thủy, khi ngoáy họng bệnh nhân để lấy dịch là lúc nguy hiểm nhất nên cũng phải phòng hộ an toàn nhất.

Thủy chia sẻ, cả khoa có 6 điều dưỡng nữ đều ở lại viện chăm sóc bệnh nhân và cách ly. Từ khi có dịch, bệnh nhân nhiều thêm nên công việc chứ chất chồng. Mọi người đồng nghiệp nhớ con nhưng tất cả phải gạt đi nỗi nhớ ấy vì “ai cũng sợ, cũng về thì lấy ai là người điều trị cho bệnh nhân…”

Bác sỹ Trần Hải Ninh, Trưởng khoa Nội Tổng hợp chia sẻ trong dịch COVID-19, khi bước chân vào phòng bệnh, ai cũng hiểu đó mình đang đối mặt với nguy cơ có thể bị lây nhiễm bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, đó là nghề nghiệp, là công việc của mình đã chọn nên chị thấy việc ấy không khó khăn bằng đối mặt với câu hỏi của con trẻ: Bao giờ mẹ về nhà?

Y bác sỹ chăm sóc cho bệnh nhân trong tình trạng nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Y bác sỹ chăm sóc cho bệnh nhân trong tình trạng nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương. (Ảnh: PV/Vietnam+)

“Chúng tôi không biết ngày nào là ngày mình được rời bệnh viện nên không dám hứa ngày về với con vì sợ không giữ được lời. Khi đó là lúc chúng tôi thấy yếu đuối nhất trong ngày,” chị Ninh trải lòng.

Còn với bác sỹ Nguyễn Trung Cấp (Trưởng Khoa Cấp cứu) thì đây không phải là vụ dịch đầu tiên anh và đồng nghiệp trải qua. Cũng giống như nhiều ngành nghề khác trên tuyến đầu chống dịch, con trẻ đều thiệt thòi vì thiếu vắng bàn tay chăm sóc của cha mẹ.

Từ khi có dịch, bệnh nhân nhiều thêm nên công việc chứ chất chồng. Mọi người đồng nghiệp nhớ con nhưng tất cả phải gạt đi nỗi nhớ ấy vì “ai cũng sợ, cũng về thì lấy ai là người điều trị cho bệnh nhân…”

Hiện tại, khó khăn vẫn chưa qua khi đại dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp. Những ngày gần đây, Việt Nam tuy không ghi nhận ca nhiễm mới trong cộng đồng nhưng vẫn còn một số trường hợp tái mắc bệnh…

Dù vất vả, đối diện với nguy hiểm từ bệnh tật là vậy nhưng tất cả họ – những “anh hùng áo trắng” – chưa ai dừng lại trong cuộc chiến với “giặc COVID-19.”

Với họ, việc phải xa gia đình, xa những đứa con thơ, ở nơi tuyến đầu chống dịch là trách nhiệm cao cả khi đã mang trong mình lời thề Hippocrates./.

Những thông điệp các y bác sỹ gửi tới người dân trong thời điểm cao điểm của dịch COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Những thông điệp các y bác sỹ gửi tới người dân trong thời điểm cao điểm của dịch COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Căng mình chống “giặc” COVID-19:

Từ chập tối đến sáng (12/4), khi nhận được tin dữ, nữ điều dưỡng Hoàng Thị Thu Hương (Điều dưỡng trưởng Khu B6, Bệnh viện số 2 tỉnh Quảng Ninh) ngồi lặng thinh trong phòng. Trong lòng chị là cả khoảng trống vô tận, một nỗi day dứt khôn nguôi khi không kịp về nhìn người cha thân yêu lần cuối.

Trong cái đêm dài nhất đời người ấy, biết phải làm gì khi đi không được, ngồi lại thì lòng không yên, Hương lặng lẽ cầm cây bút, nắn nót tô đi tô lại 5 chữ: “Con nhớ bố! Bố ơi…!”

Lập bàn thờ vọng ở nơi làm việc

Những ngày này, đội ngũ nhân viên y tế cả nước đang từng ngày, từng giờ căng mình đối diện mọi khó khăn, thử thách, thậm chí có thể nguy hiểm đến tính mạng của mình chăm sóc cho các bệnh nhân để phòng chống dịch bệnh viêm phổi cấp do virus SARS-CoV-2 (COVID-19) gây ra.

Ba tháng nay, Bệnh viện số 2 được đóng và lập tại Bệnh viện Phổi tỉnh, biệt lập với bên ngoài. Nơi đây trở thành “tâm điểm” của dịch khi điều trị cho các bệnh nhân mắc COVID-19 tại tỉnh Quảng Ninh.

Đã hơn hai tháng “cắm chốt,” thi thoảng, chị Hương nép mình một góc bên cửa sổ lặng quan sát qua hồ rộng lớn bên hông bệnh viện, xa xăm hướng về nhà mình, về phía đường phố mọi người qua lại.

Đã hơn hai tháng “cắm chốt,” thi thoảng, chị Hương nép mình một góc bên cửa sổ lặng quan sát qua hồ rộng lớn bên hông bệnh viện, xa xăm hướng về nhà mình, về phía đường phố mọi người qua lại.

Như thường lệ, 17 giờ 30 chiều 12/4, hết ca trực ngày, chị Hương trở về phòng. 18 giờ 30 phút, điện thoại của chị đặt trên chiếc bàn trong phòng réo liên hồi.

Những nữ điều dưỡng tại Bệnh viện số 2 của tỉnh Quảng Ninh làm thủ tục cho các bệnh nhân. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Những nữ điều dưỡng tại Bệnh viện số 2 của tỉnh Quảng Ninh làm thủ tục cho các bệnh nhân. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Khi đó, chị Hương đang lúi húi trong phòng vệ sinh, cô bé điều dưỡng đứng ngoài giọng thảng thốt: “Chị Hương ơi, tắm sắp xong chưa?”

– “Ừ, chị sắp xong rồi, lại có bệnh nhân nào làm sao à?,” chị đáp.

– “Không ạ, nhưng chị cứ nhanh lên rồi đi ra đi.”

Bước ra khỏi nhà tắm, chị Hương thấy mấy chị em điều dưỡng đang ở trong phòng, nắm chặt tay động viên bình tĩnh rồi bảo rằng gia đình gọi điện bố chị vừa mất.

Lặng đứng người, Hương không tin vào mắt vào tai mình. Mới ngày hôm qua, chị còn gọi điện về hỏi thăm tình hình gia đình mọi người vẫn ổn, vậy mà…

Bệnh viện cách nơi bố chị đang ở chỉ chừng 2km, ấy vậy mà giờ đây, khoảng cách rất gần đó có một bức tường vô hình khiến Hương không thể bước qua, chạy về ôm người cha ruột lần cuối.

Đứng không vững, chị Hương ngồi thụp xuống, òa khóc. Xung quanh, những người đồng nghiệp ôm chặt, mong chị bình tĩnh vượt qua nỗi đau này.

Bệnh viện cách nơi bố chị đang ở chỉ chừng 2km, đi xe máy chỉ hơn 10 phút, ấy vậy mà giờ đây, khoảng cách rất gần đó có một bức tường vô hình khiến Hương không thể bước qua, chạy về ôm người cha ruột lần cuối trước khi đưa ông về nơi cực lạc.

Vì công việc, vì nhiệm vụ thu dung, điều trị và cách ly người bệnh COVID-19, chị Hương phải phải nén đau thương ở lại hoàn thành nhiệm vụ, cúi đầu chịu tang cha từ nơi xa…

Ban lãnh đạo Bệnh viện số 2 đã lập bàn thờ vọng ngay tại nơi chị Hương đang làm nhiệm vụ. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Ban lãnh đạo Bệnh viện số 2 đã lập bàn thờ vọng ngay tại nơi chị Hương đang làm nhiệm vụ. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Điều dưỡng Hương kể, chưa bao giờ thấy đêm nào lại dài như đêm đó. Chị không thể chợp mắt, mọi ký ức, mọi nỗi nhớ về cha cứ ùa về. Tim chị như thắt lại, nấc nghẹn mà không biết phải làm sao.

Trong cuộc đời mỗi con người, không có sự mất mát nào lớn hơn mất cha, mất mẹ. Vậy mà, lần cuối tiễn đưa cha về nơi an nghỉ cuối cùng, chị Hương lại không thể có mặt… Bệnh viện số 2 điều trị cho bệnh nhân COVID-19 đã hơn 2 tháng nay cũng là chừng ấy thời gian chị gắn bó với công việc tại bệnh viện, không thể ra ngoài.

Để sẻ chia với nỗi đau của đồng nghiệp, ban lãnh đạo Bệnh viện số 2 đã lập bàn thờ vọng ngay tại nơi chị đang làm nhiệm vụ.

Để sẻ chia với nỗi đau của đồng nghiệp, ban lãnh đạo Bệnh viện số 2 đã lập bàn thờ vọng ngay tại nơi chị đang làm nhiệm vụ.

Hơn 2 tháng căng mình chống ‘giặc’ COVID-19

Hương kể rằng chị làm việc ở Bệnh viện Phổi Quảng Ninh từ năm 1993. Trước nguy cơ diễn biến dịch bệnh COVID-19, Ngày 1/2, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có quyết định số 347/QĐ-UBND về việc thành lập Bệnh viện số 2 thu dung, điều trị và cách ly bệnh nhân viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế.

Bệnh viện số 2 có quy mô 200 giường bệnh, với các trang thiết bị đảm bảo hiệu quả trong hoạt động tiếp nhận, khám, điều trị những trường hợp nghi nhiễm hoặc nhiễm bệnh COVID-19. Bệnh viện được trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị y tế hiện đại như: máy thở, máy chụp X – quang tại chỗ, monitor, hệ thống lọc máu…

(Ảnh: PV/Vietnam+)
(Ảnh: PV/Vietnam+)

Bệnh viện số 2 trưng dụng toàn bộ nhân viên y tế của Bệnh viện Lao và Phổi Quảng Ninh và các nhân viên do Sở Y tế điều động tham gia thực hiện nhiệm vụ. Và, là Điều dưỡng trưởng Khoa Bệnh phổi (Bệnh viện Phổi tỉnh Quảng Ninh), chị Hương được cử làm Điều dưỡng Trưởng Khoa B6-Bệnh viện số 2.

Kể từ khi nhận nhiệm vụ (ngày 8/2), hơn hai tháng nay hầu như chưa về nhà dù nơi ở chỉ cách bệnh viện 500m.  Đặc biệt, kể từ ngày 13/3, khi có ca bệnh số 52 dương tính vào điều trị tại đây, chị Hương và đồng nghiệp của mình được cách ly hoàn toàn.

Chị kể, trong gia đình chị có 3 người đang công tác tại Bệnh viện, chồng chị làm việc Khoa Chống nhiễm khuẩn, em gái chị cũng là điều dưỡng.

Hơn 1 tuần trước khi bố chị Hương mất, chồng và em gái chị hết thời gian cách ly được trở về nhà, chỉ còn Hương, vì nhiệm vụ điều dưỡng trưởng chị vẫn ở lại.

“Nhà có 3 anh em, khi bố mất, mình không về được. Trong cuộc sống, chưa bao giờ rơi vào tình huống như thế này. Cảm xúc khi đó thật khó tả, lẫn lộn. Ở nơi xa, cha tôi chắc cũng sẽ thấu hiểu và thông cảm với cảnh ngộ của con gái,” chị Hương nghẹn ngào.

Những y bác sỹ, điều dưỡng tại Bệnh viện số 2. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Những y bác sỹ, điều dưỡng tại Bệnh viện số 2. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo thống kê, trong hơn 2 tháng qua, tại Quảng Ninh đã ghi nhậ‌n 7 trường hợp nhi‌ễm bệnh COVID-19. Trong đó, có 2 trường hợp đang điều trị tại Bện‌h việ‌n Số 2; có 5 người sau phi phát hiện bệnh đã được chuyển lên bện‌h việ‌n Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 tại Hà Nội.

Hai bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2 là BN52 nữ, 24 tuổi, địa chỉ tại thành phố Hạ Long và BN149, nam, 40 tuổi, địa chỉ tại thành phố Hà Nội.

Sau thời gian cách ly, theo dõi điều trị tại Bệnh viện Số 2 Quảng Ninh, hiện sức khoẻ của cả hai bệnh nhân đều ổn định. Ngoài hai bệnh nhân dương tính với COVID-19 trên, Bệnh viện số 2 đang tổ chức cách ly cho nhiều đối tượng khác. Hiện nay, tại Khoa của chị Hương còn bệnh nhân là đối tượng F1 đang điều trị.

“Là đội ngũ y, bác sỹ, chúng tôi hiểu hơn ai hết nỗi lo của xã hội khi có dịch. Dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, vì vậy chúng tôi phải cứng rắn để tiếp tục là chỗ dựa đáng tin cậy của người dân,” chị Hương tỏ lòng.

Là đội ngũ y, bác sỹ, chúng tôi hiểu hơn ai hết nỗi lo của xã hội khi có dịch. Dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, vì vậy chúng tôi phải cứng rắn để tiếp tục là chỗ dựa đáng tin cậy của người dân.

Rồi chị bảo, khi được về nhà, việc đầu tiên chị làm sẽ là đến thắp nén nhang cho người cha quá cố, để được khóc cho đỡ ấm ức, cho thỏa nỗi nhớ người cả đời vất vả vì con cháu.

Quả thực, cuộc chiến chống dịch COVID-19 dự báo sẽ còn dài, đội ngũ y, bác sỹ là những chiến sỹ tiên phong trên tuyến đầu, đối diện với bao vất vả, hiểm nguy.

Bên cạnh những vất vả mà họ phải căng mình từ Tết đến giờ để đối mặt với dịch bệnh, những nỗi niềm riêng gác lại thực sự là những hy sinh to lớn, góp phần vào cuộc chiến đấu và chiến thắng “giặc vô hình” COVID-19./.

Bác sỹ kiểm tra sức khoẻ cho bệnh nhân số 52. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bác sỹ kiểm tra sức khoẻ cho bệnh nhân số 52. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Cuộc chiến vì hòa bình

Từ ngày 28/1/1973 đến ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, tại Trại Davis trong sân bay Tân Sơn Nhất, nơi đặt trụ sở của phái đoàn Liên hợp quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Đoàn A) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B), gần một nghìn lượt cán bộ, chiến sỹ ta đã trải qua 823 ngày đêm dũng cảm, mưu trí, kiên cường đấu tranh với kẻ thù để thực thi Hiệp định Paris ngay giữa trung tâm đầu não của Việt Nam Cộng hòa.

Xin trân trọng giới thiệu chùm 4 bài viết về những những năm tháng hào hùng của các cán bộ, chiến sỹ ta, đặc biệt là Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B) trong thời gian tại Trại Davis.

Nơi đây, nhờ ý chí kiên cường, tinh thần cách mạng kiên trung và niềm tin bất diệt về chiến thắng của người chiến sỹ cách mạng, đã tỏa sáng trong lòng bạn bè quốc tế, góp phần quan trọng cho cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước./.

Cánh quân thứ 6 cho ngày thống nhất

Trại Davis là trụ sở của Ban Liên hợp quân sự bốn bên trong thời gian 60 ngày và sau đó là trụ sở Ban Liên hợp quân sự hai bên, đồng thời là trụ sở, nơi đóng quân của hai phái đoàn quân sự ta từ ngày 28/1/1973 đến 30/4/1975.

Cùng với 5 cánh quân chủ lực tiến công vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cuộc đấu trí đầy cam go của quân ta giữa lòng định tại Trại Davis cũng là một cánh quân đặc biệt quan trọng.

Đây là vùng đất đầu tiên được chính thức và công khai đặt dưới quyền kiểm soát của cách mạng tại Sài Gòn. Đồng thời, đây cũng là vùng đất giải phóng đầu tiên nhờ thắng lợi của Hiệp định Paris và trở thành vùng lãnh thổ bất khả xâm phạm giữa trung tâm đầu não của đối phương cho đến này giải phóng miền Nam.

Có thể nói, cùng với 5 cánh quân chủ lực tiến công vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cuộc đấu trí đầy cam go của quân ta giữa lòng định tại Trại Davis cũng là một cánh quân đặc biệt quan trọng.

Sự ra đời của Ban Liên hợp quân sự thực thi Hiệp định Paris 1973

Trại Davis được xây dựng vào khoảng giữa năm 1961 tại sân bay Tân Sơn Nhất, ban đầu là nơi cư trú của một nhóm công tác An ninh Quân đội Mỹ, được đưa sang Việt Nam với danh nghĩa Tổ Viễn thám số 3.

Ngày 28/4/1975, các trận địa pháo của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4, lá cờ “Quyết thắng” của quân đội ta đã tung bay trên đỉnh cột cờ Bộ Tư lệnh không quân ngụy. Tuy nhiên, phải tới 14 giờ ngày 30/4, sân bay Tân Sơn Nhất mới thực sự im tiếng súng. (Ảnh: Đinh Quang Thành/TTXVN)
Ngày 28/4/1975, các trận địa pháo của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4, lá cờ “Quyết thắng” của quân đội ta đã tung bay trên đỉnh cột cờ Bộ Tư lệnh không quân ngụy. Tuy nhiên, phải tới 14 giờ ngày 30/4, sân bay Tân Sơn Nhất mới thực sự im tiếng súng. (Ảnh: Đinh Quang Thành/TTXVN)

Ngày 22/12/1961, một thành viên của Tổ Viễn thám số 3 tên James Thomas Davis bị quân du kích phục kích và chết tại Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An). Bạn bè trong Tổ đã đặt tên trại cư trú theo tên của Davis và dựng một khu tưởng niệm Davis nhỏ ở trong trại.

Khuôn viên Trại Davis như hình thang, chiều rộng nhất khoảng 200m, cạnh ngắn nhất 100m. Trại được xây dựng kiểu dã chiến, gồm nhiều dãy nhà gỗ, nền đất nện và bê tông, lợp phibrô ximăng, trang thiết bị bên trong từ giường, ghế, bàn, tủ đều bằng sắt, hàng rào vòng trong là lưới sắt.

Thực thi các điều khoản của Hiệp định Paris, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã chọn Trại Davis để làm nơi làm việc của Phái đoàn đại biểu quân sự bốn bên cũng như nơi ở của hai phái Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Đoàn A) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B).

Nguyên nhân là do nơi đây thuận tiện cho việc di chuyển của các phái đoàn bằng máy bay, đồng thời nơi này có sẵn một số cơ sở hạ tầng cần thiết.

Tuy nhiên, theo Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam tại Trại Davis), việc sắp xếp này của Việt Nam Cộng hòa chính là nhằm cô lập hai đoàn ta ở Trại Davis, ngăn không cho ta có điều kiện tiếp xúc với người dân Sài Gòn. Đồng thời, chúng có thể dễ dàng kiểm soát thông tin, phá sóng, gây nhiễu điện của ta.

Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam tại trại Davis), giới thiệu tài liệu thu thập được về quá trình xây dựng trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam tại trại Davis), giới thiệu tài liệu thu thập được về quá trình xây dựng trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Ban Liên hợp quân sự bốn bên Trung ương gồm Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Đoàn Chính phủ Hoa Kỳ; Đoàn Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Sau đó, từ ngày 29/3/1973, Ban Liên hợp quân sự chỉ còn hai bên là Đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Đoàn của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các điều khoản về các vấn đề quân sự và trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt. Song song với đó, còn có Tổ Liên hợp quân sự bốn bên, chuyên lo vấn đề người Mỹ mất tích, mồ mả, hài cốt…

Bất chấp mọi khó khăn và thủ đoạn của địch, từ tháng 1/1973 đến ngày 30/4/1975, hai đoàn đại biểu quân sự của ta đã kiên cường bám trụ tại Trại Davis để đấu tranh.

Theo Đại tá Nguyễn Bạch Vân, Trại Davis được ví như một căn cứ lõm giữa sào huyệt đối phương, được pháp lý của Hiệp định Paris thừa nhận, một trận địa cách mạng công khai trong lòng địch.

Hoạt động của hai phái đoàn ta đã góp phần đặc biệt xuất sắc phối hợp với quân dân cả nước buộc quân Mỹ và quân chư hầu phải rút khỏi nước ta, đánh cho quân ngụy sụp đổ hoàn toàn, ngay trong sào huyệt của chúng.

Cờ giải phóng tung bay trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
Cờ giải phóng tung bay trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)

Từ chiến trường khốc liệt với tiếng súng, tiếng bom, những người lính bước vào cuộc chiến đấu mới, cuộc chiến đấu về ngoại giao quân sự xung quanh những vấn đề quan trọng đầu tiên của Hiệp định Paris.

Thứ nhất, vấn đề ngừng bắn và vấn đề quân Mỹ, quân chư hầu của Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Thứ hai, trao trả nhân viên quân sự, thường dân nước ngoài, nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và bị giam giữ.

Cánh quân thứ 6 cho ngày giải phóng

Ông Lê Hùng, Trưởng ban Liên lạc truyền thống “Trại Davis” (sinh năm 1948 tại Bến Tre) vẫn còn nhớ những ngày tháng với muôn vàn khó khăn, thách thức giữa lòng địch.

Khi đó, ông là Thiếu úy công tác tại Phòng Tác chiến Miền được cử tham gia đoàn Liên hợp B, làm nhiệm vụ Văn phòng, thư ký ghi chép các cuộc họp, liên lạc giữa các đoàn bốn bên và sau này là hai bên.

Ông Lê Hùng cho biết, khi cuộc chiến bước vào giai đoạn khốc liệt, Bộ Chỉ huy Miền đã cử cán bộ vào thông báo đã sẵn sàng phương án cử một đơn vị đặc công vào Trại Davis đưa đoàn ta ra nơi an toàn, khi quân ta bắt đầu cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn.

Xe tăng quân giải phóng chiếm phủ Tổng thống ngụy, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
Xe tăng quân giải phóng chiếm phủ Tổng thống ngụy, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)

Tuy nhiên, lãnh đạo đoàn họp bàn, nhận định, lúc này ta vẫn có đủ yếu tố cần thiết để chiến đấu và bám trụ thắng lợi tại chỗ. Cuộc họp nhất trí đề nghị Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền cho phép đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ và bảo đảm sẽ đủ sức bảo toàn lực lượng. Cấp trên đồng ý.

Và ngay trước ngày chiến thắng 30/4/1975, hai chiến sỹ ta đã hy sinh, 4 đồng chí khác bị thương ngay trong Trại Davis. “Đó cũng chỉ là những mất mát nhìn thấy được sát giờ chiến thắng. Ngoài ra, còn vô vàn những khó khăn, vất vả và hiểm nguy không dễ nhìn ra mà anh em đã phải nỗ lực vượt qua trong cuộc đấu tranh với địch suốt hơn 2 năm 3 tháng tại Trại Davis” – ông Lê Hùng nhấn mạnh.

Trong giai đoạn cuối năm 1973, quân ngụy muốn xóa bỏ Hiệp định Paris, giải quyết vấn đề miền Nam bằng quân sự. Chiến sự lan rộng và quyết liệt, tiếng súng lại nổ trên khắp miền Nam.

Không thể thực hiện sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình theo Hiệp định Paris, ta không có con đường nào khác là buộc phải dùng bạo lực cách mạng để hoàn thành mục tiêu.

Tình hình đó khiến từ tháng 6/1974, hoạt động Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương đi vào bế tắc và tê liệt, không còn khả năng đạt được bất cứ kết quả tích cực nào trong đàm phán nữa.

Ngày 22/6/1974, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố đình chỉ vô thời hạn các cuộc họp Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương.

Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 2 vượt sông tiến về Sài Gòn. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 2 vượt sông tiến về Sài Gòn. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Ngày 8/10/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam; lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Paris; tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ Liên hợp quân sự 4 bên về người mất tích. Ngày 11/10/1974, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng ra Tuyên bố tương tự về vấn đề này.

Kể từ đây, cuộc đấu tranh với địch tại Trại Davis chuyển từ trực diện đấu tranh đòi thi hành Hiệp định sang đấu tranh dư luận hỗ trợ chiến trường.

Về mặt pháp lý công khai, ta vẫn duy trì hai đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam ở Trại Davis; giữ mối quan hệ bình thường với Ủy ban quốc tế.

Không những vậy, trong giai đoạn này, ta đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, vận động và đấu tranh cách mạng thông qua giới báo chí truyền thông.

Các buổi họp báo vẫn được tổ chức hàng tuần ngay tại Trại Davis, thông qua đó để giới thiệu về tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh cách mạng của ta; tố cáo hành động chiến tranh phá hoại Hiệp định của Mỹ-ngụy, kêu gọi sự ủng hộ của dư luận thế giới đối với việc ta buộc phải sử dụng biện pháp quân sự đánh trả để bảo vệ Hiệp định Paris.

Trại Davis cũng là nơi ta tiến hành các biện pháp tình báo phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị và chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Mùa Xuân 1975.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự, nguyên lãnh đạo Đoàn A, tại Trại Davis có một tổ trinh sát kỹ thuật của ta được trang bị phương tiện hiện đại, để theo dõi các mạng thông tin của địch và hỗ trợ các nhiệm vụ tình báo kỹ thuật.

Các thông tin về hoạt động luân chuyển khí tài, quân lực của địch, tình hình nội bộ chính quyền Sài Gòn và đánh giá khả năng tham chiến trở lại của Mỹ khi chế độ Sài Gòn nguy cấp là những tài liệu quý góp phần làm nên chiến thắng Mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Ngày 3/5/1975, Tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân giải phóng Miền (B2), Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh và cũng là người từng giữ chức Trưởng đoàn đầu tiên của Đoàn B đã vào thăm lại Trại Davis và tuyên bố Quân ủy Miền công nhận đơn vị Trại Davis “là một tiền tiêu của Chiến dịch Hồ Chí Minh.”

Ngày 12/9/2011, Chủ tịch Nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho hai đoàn Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên, khẳng định những đóng góp to lớn của hai đoàn trong giai đoạn ở Trại Davis./.

Xe tăng và bộ binh quân giải phóng chiếm phủ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Mai Hưởng/TTXVN)
Xe tăng và bộ binh quân giải phóng chiếm phủ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Mai Hưởng/TTXVN)

Lá cờ báo tin chiến thắng

Những ngày sống và đấu tranh công khai ngay tại lòng địch đã mang lại những kết quả quan trọng cho thành công chung của cách mạng. Những thành viên của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam luôn “giương cao” ngọn cờ cách mạng và đặc biệt, trong sáng 30/4/1975, lá cờ cách mạng đã được cắm lên ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất và khoảnh khắc “bất diệt” đó được ghi lại bởi Nhiếp ảnh gia Phùng Bất Diệt.

Quyết tâm treo cờ ngay giữa Sài Gòn

Ông Trần Trung Đệ, nguyên Thiếu úy, sỹ quan Ban Chính trị, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tại Trại Davis, tham gia Đoàn với cấp bậc Thiếu úy, thuộc Ban Chính trị, chuyên nhiệm vụ cung cấp báo chí phục vụ công tác đấu tranh tuyên truyền với địch.

Sáng 30/4/1975, lá cờ cách mạng đã được cắm lên ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất và khoảnh khắc “bất diệt” đó được ghi lại bởi Nhiếp ảnh gia Phùng Bất Diệt.

Ông Trần Trung Đệ chia sẻ, vào đêm Giao thừa năm 1973 trong Trại Davis, một chiến sỹ thông tin của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa treo một lá cờ lên trên dàn ăngten di động. Sau đó, địch phản đối quyết liệt không cho mình được treo cờ. Chúng dùng máy bay trực thăng quần thảo, lính dù vây lớp lớp bên ngoài gây sức ép đòi ta phải hạ cờ.

Ông Trần Trung Đệ, nguyên Thiếu úy, sỹ quan Ban Chính trị, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam hồi tưởng thời gian sống, chiến đấu tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Ông Trần Trung Đệ, nguyên Thiếu úy, sỹ quan Ban Chính trị, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam hồi tưởng thời gian sống, chiến đấu tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

“Giao thừa là thời khắc rất thiêng liêng, rất quý với anh em, nhất là những người xa quê, xa nhà trong vùng địch, anh em bột phát treo cờ chứ không phải chỉ đạo từ cấp trên. Sau đó, lãnh đạo trả lời là Giao thừa anh em treo lên rồi sẽ cất đi, ở đây không có cái gọi là “hạ cờ” như đòi hỏi của địch,” ông Trần Trung Đệ nhớ lại.

Câu chuyện này đã để lại ấn tượng sâu sắc với ông Trần Trung Đệ. “Tôi tự nhủ rồi sẽ có lúc mình phải treo lá cờ lên mà không ai nói gì được. Tôi cứ quyết tâm vậy, tâm niệm vậy từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm khác, nhưng cũng chỉ nghĩ trong lòng mà không nói với ai. Tôi ở trong Trại Davis tận hai lần Giao thừa mà không có cơ hội để làm điều đó,” ông Trần Trung Đệ cho biết.

Lúc đó, ông Trần Trung Đệ giữ vai trò là người nhận tài liệu chuyển từ Hà Nội vào, trong đó có rất nhiều cờ. Chính vì vậy, phòng ông có rất nhiều cờ, cả cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ (cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam), đủ kích thước, từ to 2mx3m đến nhỏ hơn là 1,8mx2m, nhiều nhất là kích thước 60cmx80cm, cả cờ đuôi nheo nhỏ nhỏ.

Theo ông Trần Trung Đệ, mỗi lần nhận cờ, ông lại nhớ đến tâm nguyện của mình, nên chuẩn bị một cái cây tầm vông, chuốt mắt tầm vông sạch sẽ, mang vào trong nhà cất đi. Rồi chuẩn bị cả dây buộc chuẩn bị cho ngày được treo cờ. Cũng chính vì mang tâm lý như thế, ông đã để ý tìm kiếm chỗ treo và phát hiện cái tháp nước là cao nhất trong trại là nơi treo cờ tốt nhất.

“Vậy nhưng tôi cũng chỉ nghĩ rồi để đó. Thỉnh thoảng tôi lấy lá cờ ra phơi. Mấy cậu lính thợ ở nhà lầu bên cạnh gọi với sang “anh giải phóng ơi, anh phơi cờ làm gì vậy.” Tôi trả lời đàng hoàng “phơi cho khô, để lúc treo cho sạch,” họ lại hỏi “thế anh treo ở đâu?” Tôi trả lời “khi nào tôi treo, các anh sẽ rõ” bởi mình không thể nói là mình sẽ treo cờ ở Sài Gòn,” ông Đệ kể lại.

 Xe tăng quân giải phóng chiếm phủ Tổng thống ngụy, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
 Xe tăng quân giải phóng chiếm phủ Tổng thống ngụy, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)

Khoảng 8 giờ ngày 30/4/1975, nhận thấy tình hình chiến thắng đã cận kề, ông Đệ báo cáo với Chủ nhiệm Chính trị Ngô Văn Sương, đề nghị treo cờ.

Ông Sương gọi điện báo Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn và báo lại là cấp trên đồng ý cho treo cờ và giao ông Đệ làm nhiệm vụ này. Ông Đệ cùng hạ sỹ quan dưới quyền là Phạm Văn Lãi, Nguyễn Cảnh Hòe và xin thêm một người bên vệ binh là anh Nguyễn Văn Cẩn để thực hiện nhiệm vụ.

Ông Đệ cho biết, trước đó, anh em tôi đã họp phân tích những nguy cơ bị bắn khi treo cờ, những góc, hướng nào an toàn… Chúng tôi ngại nhất phía trại lính dù, nhưng từ sáng 29/4, bên đó đã vắng bóng.

Tính thì phải cho hết tình huống, chứ cũng xác định lúc đó cũng không vấn đề gì. “Trước đó, để thử phản ứng, tối 28/4, tôi đã treo một lá cờ 80cmx100cm lên cái giá của sân bóng rổ (quay về hướng gia binh địch), nhưng không thấy có phản ứng gì,” ông Đệ nhớ lại.

Trèo lên tháp nước lúc đó không phải là chuyện dễ. Ông Lãi đeo súng ngắn nhận nhiệm vụ treo cờ, còn ông Cẩn mang theo cả súng ngắn và tiểu liên làm nhiệm vụ bảo vệ và đưa cờ lên. Còn ông Đệ và anh Hòe cũng mang theo vũ khí yểm trợ nhưng đứng bên dưới.

“Đó là lá cờ lớn nhất 2mx3m, lá cờ xanh đỏ sao vàng. Sau khi treo xong, mọi người thấy vậy, rời khỏi hầm, nhảy lên vui mừng hô hào. Tôi cũng không nói được câu nào, nhưng trong lòng sướng lắm, tôi ôm lấy cậu Lãi và cậu Cẩn, quên cả cậu Hòe bên cạnh.

Lúc đó khoảng 9 giờ 30 phút ngày 30/4. Sau đó, bộ đội của Quân đoàn 4 khi đến chiếm Tân Sơn Nhất đã đến ngay Trại Davis, có người nói là nhờ thấy lá cờ mà anh em tìm đến được ngay,” ông Đệ rơm rớm nước mắt nhớ lại.

Bức ảnh “sống mãi” của Phùng Bất Diệt

Khoảnh khắc treo cờ trong Trại Davis là sự khẳng định chiến thắng đã đến với quân giải phóng. Hình ảnh đó đã được ghi lại bởi Nhiếp ảnh Phùng Bất Diệt (tên thật là Phùng Văn Hiền), tham gia Đoàn B trong tổ báo chí, chuyên quay phim, chụp hình.

Bức ảnh các chiến sỹ đoàn B cắm cờ trên trại Davis sáng 30/4/1975. (Ảnh: Phùng Bất Diệt)
Bức ảnh các chiến sỹ đoàn B cắm cờ trên trại Davis sáng 30/4/1975. (Ảnh: Phùng Bất Diệt)

Ông Phùng Bất Diệt quê ở Mỏ Cày Nam, Bến Tre. Năm 1962, từ Sài Gòn về Bến Tre, ông được các anh du kích, bộ đội rủ vào quân giải phóng.

Ông lấy tên là Phùng Bất Diệt, mang vỏ bọc một thanh niên từ Sài Gòn về chơi để vào đồn ngụy, tìm hiểu nội tình cho quân giải phóng đánh chiếm đồn.

“Bố tôi biết vậy rất lo, vì thấy du kích bị địch giết nhiều, nên gọi về vừa khóc vừa bảo “mày ở nhà, tao gá vợ cho, không thì đi thật xa, chứ ở đây sớm muộn tụi nó cũng biết.”  Tôi quyết định tham gia quân giải phóng, đó là ngày 19/6/1962. Các anh ở Cục Chính trị Miền thấy cái tên tôi là lạ, lại có chút lanh lợi do từ Sài Gòn về, nên rút về Cục Chính trị Miền, cho đi học quay phim rồi về làm tại Xưởng phim Quân Giải phóng,” ông Phùng Bất Diệt nhớ lại.

Thời gian ở Trại Davis, ông Phùng Bất Diệt làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh. Ông sử dụng chiếc máy quay phim Bell Howell và máy ảnh Leica M5 (là một trong 5 chiếc máy ảnh được Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Cộng hòa Dân chủ Đức tặng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

Lúc đó, chiếc Leica M5 là một trong những chiếc máy ảnh được giới báo chí tại Sài Gòn ao ước, xuýt xoa mỗi khi nhìn thấy.

Cựu chiến binh Phùng Bất Diệt bên tấm ảnh ghi lại thời khắc lịch sử ông đã chụp sáng 30/4/1975 tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Cựu chiến binh Phùng Bất Diệt bên tấm ảnh ghi lại thời khắc lịch sử ông đã chụp sáng 30/4/1975 tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Về khoảnh khắc chụp được bức ảnh treo cờ chiến thắng trong Trại Davis năm xưa, ông Phùng Bất Diệt cho biết: “Lúc các ông ấy đi treo cờ, tôi không biết, nhưng khi đang treo, tôi được báo và cũng không nhớ ai báo. Tôi xách cái Leica M5 chạy đến chụp 2 hay 3 kiểu gì đó, sau chọn rửa được một kiểu là cái ảnh hiện nay vẫn được các sách báo, tài liệu về Trại Davis sử dụng. Thực ra, lúc đó cũng không để ý ai là người đứng trên ai là người đứng dưới (treo cờ). Sau này mới biết, đó là anh Lãi và anh Cẩn.”

Ở độ tuổi “xưa nay hiếm”, sức khỏe đã giảm sút nhiều nhưng ông Phùng Bất Diệt trở nên linh hoạt, hào hứng khi nhắc về những năm tháng ở Trại Davis.

Thời đó, ông quay phim khá nhiều các cuộc họp, các chuyến đi của anh em đoàn B thực hiện nhiệm vụ ở ngoài Trại Davis và cả trận ném bom Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975. Ngay sau khi dứt tiếng bom, ông đã leo lên nhà lầu quay sang sân bay.

Những thước phim mô tả sân bay Tân Sơn Nhất mịt mù khói lửa, còi xe cứu hỏa ầm ĩ ngay sau trận đánh đã được lãnh đạo rất khen ngợi. “Tôi cũng chụp khá nhiều ảnh, nhưng tấm ảnh chụp anh em cắm cờ trên Trại Davis ngày 30/4/1975 là bức ảnh đáng nhớ nhất. Mọi người vẫn nói với tôi là đó là tấm ảnh để đời, tôi cũng thấy đúng là như vậy”- ông Phùng Bất Diệt hào sảng chia sẻ./.

Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh cùng nội các ra trước Đài Phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh Việt Nam, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Tổng thống Ngụy Dương Văn Minh cùng nội các ra trước Đài Phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh Việt Nam, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Kiên định niềm tin chiến thắng

Những năm tháng trong Trại Davis của phái đoàn ta luôn đối mặt với khó khăn, thách thức đầy cam go. Địch thường xuyên gây áp lực, đe dọa, trấn áp tinh thần đến dụ dỗ… Nhưng lý tưởng cách mạng sáng ngời đã giúp cán bộ, chiến sỹ ta giữ vững niềm tin chiến thắng ngay giữa đầu não địch.

Những bông hoa đua nở, những mối tình giữa cán bộ ta trong Trại Davis và vùng căn cứ đơm hoa, kết trái trong những tháng ngày ác liệt nhất…

Đấu trí giữa đầu não địch

Với những cán bộ, chiến sỹ tham gia Phái đoàn liên hợp quân sự của ta tại Trại Davis, ngay từ khi nhận nhiệm vụ cũng là lúc xác định bước vào một cuộc chiến đấu mới với kẻ thù với vô vàn hiểm nguy.

Lý tưởng cách mạng sáng ngời đã giúp cán bộ, chiến sỹ ta giữ vững niềm tin chiến thắng ngay giữa đầu não địch.

Thực tế, ngay từ ngày đầu tiên Phái đoàn ta bước chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất đã là cuộc đấu trí với những âm mưu phá hoại của kẻ thù mà phần thắng đã thuộc về những người chiến sĩ cách mạng mang trong mình ý chí quyết thắng của chính nghĩa và khát vọng hòa bình.

Một cuộc họp báo của ta tại trại Davis.(Ảnh tư liệu: TTXVN)
Một cuộc họp báo của ta tại trại Davis.(Ảnh tư liệu: TTXVN)

Ngày 28/1/1973, khi phái đoàn của ta (gồm hai đoàn A và B) tới căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, lực lượng chức trách tại đây có ý định buộc các đại biểu phải tiến hành các thủ tục nhập cảnh như đã áp dụng đối với những người nước ngoài. Phái đoàn đã không chịu theo các thủ tục do cảnh sát và nhân viên hải quan yêu cầu.

Các đại biểu khẳng định, sự thống nhất của nước Việt Nam đã được công nhận ngay từ Hiệp định Geneva 1954 và Hiệp định Paris 1973; đồng thời tuyên bố từ chối tuân theo các thủ tục do chính quyền Việt Nam Cộng hòa tự tạo ra.

Chính quyền Sài Gòn không từ bỏ yêu cầu, điều quân đội vây quanh máy bay của hai đoàn của ta. Cả hai đoàn của ta cương quyết ngồi trên máy bay, không nhân nhượng, bất chấp cái nóng như nung của khoang máy bay trên đường băng ximăng.

Cuộc đấu tranh kéo dài từ chiều 28/1/1973 đến chiều 29/1/1973. Cuối cùng do sức ép của phía Mỹ (để đảm bảo thời gian tiến hành cuộc họp đầu tiên theo quy định), khoảng 14 giờ ngày 29/1, phía Việt Nam Cộng hòa buộc phải xóa bỏ yêu cầu làm thủ tục nhập cảnh và phía Mỹ đã đưa xe đến đón thành viên của phái đoàn ta về trụ sở dành cho mình tại Trại Davis.

Quân giải phóng đánh chiếm cầu Thị Nghè, sáng 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN )
Quân giải phóng đánh chiếm cầu Thị Nghè, sáng 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN )

Sự có mặt của Phái đoàn quân sự ta tại Trại Davis như một chiếc gai trong mắt chính quyền Sài Gòn. Rắp tâm phá hoại Hiệp định Paris thể hiện ngay trong những hành xử đầy mưu mô phá hoại, kích động, gây sức ép của chính quyền Sài Gòn đối với cán bộ chiến sỹ ta trong suốt 823 ngày đêm chiến đấu tại Trại Davis.

Địch dường như không che giấu ý đồ của chúng đối với Trại Davis. Án ngữ trước cửa trại là trại huấn luyện của sư đoàn dù; xung quanh trại Davis, địch cho đào hào sâu, chăng dây thép gai và dựng tới mười ba trạm gác có đặt súng cỡ đạn 12,7mm.

Đầu năm 1975, đối phương tăng cường thêm một đơn vị xe tăng và một đại đội bộ binh đến bao vây, ngày đêm khống chế nghiêm ngặt trụ sở của hai đoàn ta.

Ông Lê Hùng, Trưởng ban Liên lạc truyền thống Trại Davis chia sẻ, phái đoàn ta chịu nhiều áp lực, sức ép của địch. Sống giữa kẻ thù, hàng rào lớp lớp, cả chục vọng gác ngày đêm có lính gác ở tầm cao. Mỗi khi quan hệ giữa đoàn ta và Việt Nam Cộng hòa xấu đi, địch tăng thêm chốt gác, lính dù gây sự, chửi đổng… nhằm uy hiếp tinh thần ta.

Ngay trước mặt Trại Davis, địch đặt một Lữ đoàn dù, xung quanh là các trạm gác, danh tiếng là bảo vệ, nhưng thực ra là khống chế, trấn áp tinh thần. Có giai đoạn, địch sử dụng xe xúc đào hào xung quanh trại sâu tới 2-3m, gia tăng các lớp dây thép gai, tăng cường tuần tra vì sợ ta đào hầm.

 Ông Trần Trung Đệ, nguyên Thiếu úy, sỹ quan Ban Chính trị, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam hồi tưởng thời gian sống, chiến đấu tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
 Ông Trần Trung Đệ, nguyên Thiếu úy, sỹ quan Ban Chính trị, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam hồi tưởng thời gian sống, chiến đấu tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Theo ông Trần Trung Đệ (sỹ quan Ban Chính trị, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tại Trại Davis), cùng với những cách thức trấn áp, uy hiếp tinh thần ta, bọn chúng còn liên tục dụ dỗ, gạ gẫm cán bộ, chiến sỹ ta đi theo chúng.

Dù vậy, anh em ta lúc nào cũng cương quyết, bền tâm, nên không có bất cứ chuyện gì xảy ra về bảo vệ nội bộ. Thời đó rất căng thẳng, vì xung quanh là địch, là rào kẽm gai, còn có tôn chắn không cho nhìn ra.

Việc cắt điện, cắt nước thường xuyên diễn ra. Địch cắt điện, mình dùng đèn cầy, tổ chức đốt đèn cầy họp chi bộ ngoài đường. Chúng thấy cắt điện không ăn thua nên quay ra cắt nước. Bị cắt nước, ta tiến hành đào giếng.

Khu nhà ta ở do Việt Nam Cộng hòa bố trí, mái tôn, nền đất, tường ván, và chung quanh “ trang trí “ toàn bằng rào kẽm gai. Từ ngày 18/4, ta đào hầm, đến ngày 28/4 đào gần kín, không để địch biết. Đất thì lật tủ sắt ra, đổ vào tủ sắt rồi làm nắp cửa hầm. Đường hầm nối từ nhà này sang nhà khác, tạo cả hầm sở chỉ huy, hầm cứu thương. Sau này, hầm cứu thương được sử dụng cho quân y cứu chữa cho các đồng chí bị thương vì pháo rạng ngày 29/4/1975.

Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Sáu (thường gọi là Mai Sơn, hiện 92 tuổi), nguyên Tổ trưởng Tổ quân y đoàn B Trại Davis với cấp bậc Thượng úy (trước khi tham gia Trại Davis, ông là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn 9) cho biết giai đoạn trong Trại Davis công việc quân y cơ bản không có vất vả gì nhiều.

Ông đã từng tham gia chiến đấu trên chiến trường, đối mặt với nguy hiểm và công việc chăm sóc y tế trong bối cảnh thiếu thốn, khó khăn hơn nhiều. Do anh em đang tuổi trẻ, được lựa chọn đều có sức khỏe tốt, tại trại Davis, sinh hoạt điều độ, nên hầu như không có trường hợp bệnh tật gì nặng.

Dù vậy, theo ông Mai Sơn, không phải mọi cái đều thuận lợi. Những năm tháng ở trại Davis cũng có những kỷ niệm đáng nhớ về công tác quân y.

Thẻ công vụ của bác sỹ Ấn khi tham gia đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam làm việc tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Thẻ công vụ của bác sỹ Ấn khi tham gia đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam làm việc tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Tháng 11/1973, bác sỹ Trần Văn Ấn (tổ Quân y đoàn B) phải nhờ đến sự hỗ trợ của bác sỹ đoàn Hungary (Phái đoàn Quốc tế tham gia giám sát việc thực hiện Hiệp định Paris), để mổ cắt ruột thừa cho một cán bộ đoàn ta ngay trong Trại Davis. Bởi đúng vào giai đoạn đó, quan hệ hai bên căng thẳng, địch lấy cớ không chịu cho ta đưa bệnh nhân đến bệnh viện như những thỏa thuận trong khuôn khổ Hiệp định Paris và cũng không bố trí máy bay đưa người về căn cứ.

Rạng sáng 29/4/1975, Trung tá Nguyễn Tiến Bộ (đoàn A) bị trúng đạn pháo, chân phải dập nát, không có khả năng phục hồi, cần phải xử lý ngay để tránh nguy cơ hoại tử. Bác sỹ Mai Sơn trực tiếp tiến hành phẫu thuật cắt chân cho Trung tá Bộ trong căn hầm y tế dã chiến thiếu những điều kiện tiêu chuẩn về y tế ngay dưới lòng đất Trại Davis.

Ca phẫu thuật đã rất thành công, diễn ra trong tiếng nổ rền vang của những đợt pháo bắn cấp tập vào sân bay Tân Sơn Nhất báo hiệu giờ chiến thắng đã cận kề.

Hai đám cưới một niềm tin

Trong những ngày cam go, căng thẳng ở Trại Davis, tình yêu giữa những chàng trai nơi “tuyến đầu” Trại Davis với những cô gái “hậu phương” vùng căn cứ cũng đơm hoa, kết trái.

Nhiều đám cưới được tổ chức ngay giữa những ngày đấu tranh thực hiện thỏa thuận hòa bình của Hiệp định Paris như một minh chứng cho niềm tin và khát vọng của những người chiến sĩ cách mạng về một ngày thống nhất non sông.

Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam tại trại Davis), giới thiệu tài liệu thu thập được về quá trình xây dựng trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam tại trại Davis), giới thiệu tài liệu thu thập được về quá trình xây dựng trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Tham gia đoàn B với tư cách là sỹ quan tùy tùng của tướng Phạm Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam tại Trại Davis), Đại tá Nguyễn Bạch Vân quen một người bạn trong đoàn A tại Trại Davis.

Thấy ông Bạch Vân lúc đó đã gần 40 tuổi mà vẫn chưa lập gia đình, người bạn này đã làm mối cho ông với bà Quách Dương Liễu (lúc đó 28 tuổi, đang làm việc tại Trạm Dân y Miền).

Sau lần gặp mặt đầu tiên tại Trạm Dân y Miền, hai bên trao đổi thư từ qua lại thường xuyên trong vài tháng và nảy sinh tình cảm. Tất nhiên, trong thời điểm đó, chuyện này nhanh chóng được lãnh đạo nắm bắt và ủng hộ nhiệt tình.

Cả ông Bạch Vân và bà Dương Liễu đều “lăn tăn” về chuyện cưới xin, vì cả bố mẹ hai bên đều ở miền Bắc, trong khi cuộc chiến đấu tuy đã trên danh nghĩa đã ngừng bắn nhưng vẫn còn rất căng thẳng, cam go.

“Sau đó lãnh đạo động viên là việc cưới hỏi là cưới hỏi, chiến đấu là chiến đấu, không thể vì chuyện này ảnh hưởng đến chuyện kia. Cứ cưới đi rồi đến nay mai thống nhất đưa nhau về lại mặt nhà gái. Và thế là tôi với bà nhà tôi quyết định cưới nhau,” ông Bạch Vân cười nhớ lại.

Nở nụ cười đôn hậu trên khuôn mặt rạng rỡ, bà Quách Dương Liễu kể lại: “Lúc đó dù hàng tuần vẫn có máy bay từ Trại Davis về vùng giải phóng, nhưng không phải chuyến nào ông ấy (ông Bạch Vân) cũng được đi, nên đến tận ngày cưới, tụi tôi mới gặp nhau lại lần thứ 2. Đám cưới được tổ chức vào đầu năm 1974, tại Lò Gò, Trung ương Cục miền Nam. Đại diện nhà trai là đơn vị Bộ Tham mưu Miền ở Lộc Ninh còn nhà gái là Dân y Miền.”

Một đám cưới giản dị mà trang trọng và vui vẻ với những món đồ miền Bắc mà ông Bạch Vân mang về từ Trại Davis. Đúng như những gì tiên liệu trước, sau ngày Giải phóng, ông bà đã cùng nhau trở về Bắc ra mắt hai họ nội ngoại, giới thiệu đứa con đầu lòng sinh ngay trong tháng 4/1975 lịch sử.

Một sự trùng hợp thú vị khác đến với bác sỹ Trần Văn Ẩn, một trong hai bác sỹ của Tổ quân y đoàn B, người đã có mặt gần như suốt thời gian tồn tại của Phái đoàn quân sự ta tại Trại Davis. Nhờ những năm tháng sống ở Trại Davis, ông Ẩn cũng đã có được hạnh phúc lứa đôi.

Ở độ tuổi 91, bác sỹ Trần Văn Ấn vẫn luôn giữ tinh thần lạc quan đã có từ những ngày sống chiến đấu tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Ở độ tuổi 91, bác sỹ Trần Văn Ấn vẫn luôn giữ tinh thần lạc quan đã có từ những ngày sống chiến đấu tại trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Năm nay đã 91 tuổi, đau yếu bởi tuổi già, nhưng ông Ẩn vẫn rất minh mẫn và hóm hỉnh. Theo ông, những gì diễn ra tại Trại Davis năm xưa luôn là một quãng thời gian rất đỗi tự hào trong những ngày phục vụ trong quân ngũ của tất cả những người từng ở đó.

Riêng ông, nỗi nhớ về những ngày ở Trại Davis không chỉ có sự căng thẳng, không khoan nhượng với kẻ thù hay những lần mổ cho thương binh trong tiếng đạn nổ mà còn là kỷ niệm ngọt ngào về niềm hạnh phúc lứa đôi giữa những ngày đấu tranh vì hòa bình, thống nhất của dân tộc. “Cũng nhờ vào những ngày ở Trại Davis mà tôi có người bầu bạn đỡ đần tuổi già hôm nay đấy”- ông Ẩn cười nói.

Kém chồng tới 16 tuổi, bà Hồ Thị Y (vợ bác sỹ Ẩn), vốn là con gái vùng đất cách mạng Bến Tre. Năm 1973, khi đó mới 18 tuổi, bà nấu ăn tại Bệnh viện K71.

“Cũng có quen biết từ trước và mọi người cũng hay trêu đùa ghép cặp. Nhưng ổng nhiều tuổi lại là cán bộ, nên cũng không có ý gì. Nhưng khi ổng đi vào Davis, thấy lo, thấy nhớ, gặp lại thấy mừng, rồi sau đó thương nhau. Ổng tập kết học ở ngoài Bắc nên hay kể cho tôi nghe về Hà Nội rồi bảo chiến tranh còn chưa chấm dứt, nhưng nhất định sẽ thắng. Cưới nhau đẻ con rồi sau này thống nhất tôi đưa mẹ con bà ra thăm Hà Nội,” bà Hồ Thị Y vui vẻ chia sẻ.

Nghe lời “dụ ngọt” của ông Ẩn, bà Y báo tổ chức xin phép tổ chức lễ cưới. Đám cưới đã diễn ra đầu năm 1974 tại Lộc Ninh. “Đám cưới vui lắm. Mọi người ăn bánh kẹo, uống trà, hút thuốc lá Điện Biên, toàn đồ miền Bắc.Tôi nhớ mãi ai cũng chúc cô dâu chú rể vui duyên mới không quên nhiệm vụ”- bà Hồ Thị Y nhắc lại đám cưới của mình với ánh mắt vẫn ngời niềm hạnh phúc như ngày nào.

Cuối năm, hai vợ chồng ông bà sinh con đầu lòng. Niềm tin chiến thắng, đoàn tụ của họ đã trở thành hiện thực khi chỉ mấy tháng sau đó, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất một nhà.

Hơn 45 năm đã trôi qua, biết bao thăm trầm của cuộc sống đến với vợ chồng Đại tá Bạch Vân hay bác sỹ Trần Văn Ẩn. Hôm nay, những cặp vợ chồng ấy dù “đầu đã bạc, tay đã run” nhưng vẫn luôn ân cần chăm sóc lẫn nhau, trân quý những phút giây hạnh phúc ngọt ngào bên nhau.

Niềm hạnh phúc giản dị ấy được xây dựng, vun đắp từ những ước mong và niềm tin tất thắng mà họ đã luôn có, kể cả trong những ngày gian khó nhất của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cách đây gần nửa thế kỷ./.

Xe tăng diễu hành trên đường phố Sài Gòn tại lễ mittinh mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Đinh Quang Thành/TTXVN)
Xe tăng diễu hành trên đường phố Sài Gòn tại lễ mittinh mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Đinh Quang Thành/TTXVN)

Sáng mãi biểu tượng khát vọng thống nhất

Với việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Phái đoàn quân sự của ta tại Trại Davis hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt hoạt động. Đã 45 năm trôi qua, những ký ức của cán bộ, chiến sỹ ta trong lòng địch vẫn lưu mãi.

Trại Davis như một minh chứng hào hùng của cuộc đấu tranh cách mạng giữa lòng địch, với nhiều cam go, gian khổ nhưng kiên cường bất khuất của những người chiến sỹ cách mạng.

Trại Davis đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia, như một sự khẳng định về vai trò của quân ta trong Cách mạng. Những người từng tham gia Phái đoàn đang mong ngóng từng ngày Trại Davis được phục dựng lại, như một minh chứng hào hùng của cuộc đấu tranh cách mạng giữa lòng địch, với nhiều cam go, gian khổ nhưng kiên cường bất khuất của những người chiến sỹ cách mạng.

Ký ức không phai

Năm 1973, ông Nguyễn Tiến Quân (sinh năm 1950 tại Phan Rang, Ninh Thuận) đang là Hạ sỹ, thuộc bộ phận Ban Thông tin Miền. Do từng trực tiếp tham gia đánh trận, có kinh nghiệm chiến đấu, giỏi võ và bắn súng giỏi nên được gọi lên nhận nhiệm vụ tham gia lực lượng vệ binh đoàn B Trại Davis.

Đại diện đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong một buổi giám sát thực hiện Hiệp định Paris. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Đại diện đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong một buổi giám sát thực hiện Hiệp định Paris. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Ông Quân nhớ lại, khoảng đầu tháng 4/1975, chỉ huy nhóm họp, thông báo tình hình ta sẽ tấn công giải phóng Sài Gòn. Cán bộ, chiến sỹ hai đoàn A và B sẵn sàng chiến đấu, ứng phó với mọi tình huống.

Từ ngày 18/4/1975, anh em bắt đầu tiến hành đào hầm bằng cuốc, xẻng cá nhân, cọc màn Mỹ bằng thép đập bẹt đầu. Rất may đất bên dưới trại qua một lớp đất lèn cứng là khá mềm và nhiều cát nên đào cũng đỡ vất vả.

Nhờ thiết kế của dãy nhà ta ở Trại Davis là nhà sàn, nên anh em chui xuống sàn đào tránh được sự soi xét của địch từ các trạm gác tầm cao. Toàn bộ đất được cho vào bao tải vận chuyển vào những chỗ kín, hoặc cho vào các hòm, tủ sắt tài liệu (sau này được dùng làm nắp hầm).

Do cán bộ tham gia đoàn B nhiều người đã có tuổi, lại nắm giữ chức vụ quan trọng, anh em trẻ, nhất là vệ binh là lực lượng đào hầm chính của đoàn.

“Có những hôm tận 3 giờ sáng, Trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn (sau này là Thiếu tướng) còn chui xuống thăm hỏi anh em, mang trà thuốc tiếp tế cho anh em đào hầm. Chỉ mười ngày sau, ta cơ bản có được một hệ thống hầm liên thông giữa các phòng, đơn vị, đảm bảo yếu tố chiến đấu khi cần thiết,” ông Quân nhớ lại.

Đại úy Phạm Xuân Thệ (bên phải), Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2) cùng các chiến sỹ Quân giải phóng dẫn giải Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu của Ngụy quyền Sài Gòn tới Đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)
Đại úy Phạm Xuân Thệ (bên phải), Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2) cùng các chiến sỹ Quân giải phóng dẫn giải Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu của Ngụy quyền Sài Gòn tới Đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Với hệ thống hầm hào đào gấp gáp đó, 300 cán bộ, chiến sỹ ta trong Trại Davis với trang bị chủ yếu vũ khí cá nhân đơn giản đã dũng cảm, kiên cường quyết tâm bám trụ lại ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất chờ đón đồng đội tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Từ cơ sở phòng làm việc có sẵn, Trại Davis trở thành một địa điểm an toàn, bảo mật nhất tại Sài Gòn sau ngày giải phóng. Chính vì vậy, ngày 2/5/1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng Bộ Tham mưu tiền phương Chiến dịch Hồ Chí Minh đã đến thăm Trại Davis và tổ chức cuộc họp quan trọng với một số cán bộ cấp cao các Quân đoàn, Sư đoàn trước khi chuyển đến Sở Chỉ huy mới.

Sau ngày 30/4/1975, Trại Davis có thời gian được sử dụng làm nơi làm việc của Tướng Trần Văn Trà, với tư cách là Tư lệnh Quân quản Sài Gòn.

Một thời gian dài sau đó trại bị bỏ hoang và các kết cấu trên đất dần bị phá bỏ. Hiện nay, toàn bộ khu vực Trại Davis cũ đang nằm trong khu vực quân sự thuộc sự quản lý của Bộ Quốc phòng.

Là chứng tích lịch sử về một giai đoạn đấu tranh quân sự, ngoại giao tiêu biểu trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Trại Davis được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2017.

Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam tại trại Davis), giới thiệu tài liệu thu thập được về quá trình xây dựng trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sỹ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà (Trường đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Miền Nam Việt Nam tại trại Davis), giới thiệu tài liệu thu thập được về quá trình xây dựng trại Davis. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Theo Đại tá Nguyễn Bạch Vân, Trại Davis xứng đáng là Di tích lịch sử cấp quốc gia, bởi nơi đây ghi dấu sự thể hiện bản lĩnh, ý chí, trí tuệ Việt Nam, phát huy cao độ chủ nghĩa Anh hùng cách mạng Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao, quân sự thi hành Hiệp định hòa bình Paris 1973.

Trại Davis là vùng đất đầu tiên được chính thức và công khai đặt dưới quyền kiểm soát của Cách mạng, là vùng đất giải phóng đầu tiên nhờ thắng lợi của Hiệp định Paris.

Trại Davis là trung tâm ngoại giao quân sự, Tổng hành dinh của hai đoàn đại biểu quân sự Trung ương của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Trại Davis là di tích lịch sử cách mạng, lưu giữ nhưng giá trị, thể hiện tính độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng, hoạt động ngoại giao quân sự của ta trong đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định Paris, có giá trị lớn trong giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, công tác nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Khôi phục lại biểu tượng khát vọng thống nhất đất nước

Đại tá Nguyễn Bạch Vân, nguyên sĩ quan tùy tùng của Tướng Trần Văn Trà, nguyên Trưởng Ban liên lạc truyền thống “Trại Davis” trầm ngâm cho biết Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn (Trưởng đoàn B) khi còn sống rất băn khoăn vì Phái đoàn liên hợp quân sự của ta tại Trại Davis là một đơn vị đặc biệt “không có tiền bối và cũng không có hậu duệ,” vì vậy những hoạt động lưu giữ truyền thống của đơn vị rất khó khăn.

Một cuộc họp 4 bên tại trại Davis. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Một cuộc họp 4 bên tại trại Davis. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Các thành viên tham gia Phái đoàn liên hợp quân sự nay còn sống, đa phần tuổi cũng đã cao, sức yếu. Mong muốn của anh em cũng như ý nguyện của những đồng chí đã khuất là phục dựng lại Trại Davis với tư cách một địa điểm di tích lịch sử cách mạng, để thế hệ sau biết được ý nghĩa và giá trị lịch sử của nó.

Lật giở những tài liệu còn lưu trữ được về Trại Davis, Đại tá Bạch Vân cho biết, trong những năm qua, các cán bộ trong Ban liên lạc truyền thống “Trại Davis” đã dày công thu thập những hiện vật, tài liệu liên quan đến Trại Davis.

Đó là những bức ảnh ghi lại cuộc sống của anh em ta trong Trại Davis cho đến các cuộc họp, các chuyến công tác giám sát thực hiện việc Mỹ rút quân về nước, trao trả tù binh, các hiện vật mà cán bộ ta đã sử dụng trong thời gian sống tại Trại Davis…

Trong đó có cả những tài liệu về quá trình công binh Mỹ xây dựng Trại Davis; bản đồ tổng thể xây dựng Trại Davis ghi rõ từng vật liệu xây dựng, công năng các khối nhà…

“Đây sẽ là tài liệu rất quan trọng cho việc phục chế sau này. Chúng tôi rất ước mong có ngày được sử dụng nó để góp phần lưu giữ, tôn vinh một giai đoạn đặc biệt trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của lịch sử dân tộc,” ông Bạch Vân chia sẻ.

Lực lượng quân đội Mỹ rút quân về nước dưới sự giám sát của các thành viên Ban liên hợp 4 bên. (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Lực lượng quân đội Mỹ rút quân về nước dưới sự giám sát của các thành viên Ban liên hợp 4 bên. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Hiện nay, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân khu 7 thực hiện đề xuất phục dựng Di tích lịch sử quốc gia Trại Davis.

Theo quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, vị trí khoanh vùng phục dựng Di tích lịch sử Quốc gia Trại Davis nằm hoàn toàn trong đất quốc phòng, do các đơn vị của Quân chủng Phòng không-Không quân quản lý, thuộc phường 12, Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích khoanh vùng để phục dựng di tích là 4.000m2.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Minh Hoàng, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Trại Davis là di tích lịch sử cách mạng, nơi lưu giữ những giá trị thể hiện tính độc đáo về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng và hoạt động ngoại giao quân sự của ta trong quá trình đấu tranh buộc địch thi hành Hiệp định Paris.

Di tích này có giá trị to lớn đối với công tác giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, công tác nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong cuộc làm việc cùng các đơn vị liên quan về đề xuất phục dựng Di tích lịch sử Quốc gia Trại Davis, bà Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần bàn bạc, thực hiện các quy trình pháp lý theo quy định về chủ quyền xây dựng dự án và trực tiếp quản lý dự án.

Bộ Văn, hóa Thể thao và Du lịch luôn ủng hộ và sẽ hỗ trợ Bộ Quốc phòng về các vấn đề chuyên môn liên quan để công tác phục dựng Trại Davis đúng quy định pháp luật, đảm bảo các giá trị văn hóa và lịch sử, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan của du khách đến với Thành phố Hồ Chí Minh và những người quan tâm đến lịch sử quân sự Việt Nam.

Về vấn đề này, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cho rằng, theo quy định của pháp luật, Di tích lịch sử Trại Davis nằm trên địa bàn Thành phố được giao cho chính quyền địa phương quản lý về văn hóa, nhưng chủ quyền xây dựng dự án và trực tiếp quản lý cần bàn bạc lại.

Nếu thuộc quyền Thành phố Hồ Chí Minh, cần tổ chức bàn giao lại cho Bộ Quốc phòng và phối hợp với Quân khu 7 thực hiện các quy định về quản lý nhà nước. Bộ Quốc phòng chủ động chỉ đạo vấn đề giao đất…

Trong vòng 5 năm tới, phải hoàn tất thủ tục, hoàn thiện Đề án, triển khai xây dựng để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan lịch sử dân tộc của nhân dân và khách du lịch quốc tế khi đến Việt Nam.

Nếu được phục dựng lại, Trại Davis sẽ là một trong những di tích lịch sử quân sự đặc biệt quan trọng, di tích tiêu biểu trong hệ thống di tích lịch sử cách mạng tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Khu Di tích lịch sử Trại Davis cùng với Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh; Địa đạo Củ Chi; Bảo tàng Chứng tích chiến tranh; Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh; Hội trường Thống Nhất (Dinh Độc lập); di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam; Chiến Khu Đ; di tích Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền (căn cứ Tà Thiết); Sở Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh (căn cứ Căm Xe)… tạo thành chuỗi du lịch về nguồn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, miền Đông Nam bộ và cả nước./.

Nhân dân Sài Gòn tham gia cuộc mít tinh mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
Nhân dân Sài Gòn tham gia cuộc mít tinh mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)