Thành phố Hồ Chí Minh

Kể từ lúc xuất hiện cho đến nay, dịch COVID-19 đã tác động nghiêm trọng đến kinh tế toàn cầu. Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng không ngoại lệ khi có hàng chục nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc đang cầm cự một cách khó khăn.

Cả hệ thống chính trị đã và đang khẩn trương vào cuộc, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp, từ chính sách quản lý vĩ mô cho đến chính sách tài khoá, thuế, thủ tục hành chính… nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại, ổn định sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện phục hồi cho doanh nghiệp.

TTXVN giới thiệu loạt bài phản ánh nỗ lực tự thân vượt khó của doanh nghiệp cũng như các chính sách hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi được xem là đầu tàu kinh tế của cả nước./.

Bài toán cho quản trị doanh nghiệp

Nhằm chuẩn bị cho giai đoạn sau dịch COVID-19, các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp cần bắt tay đánh giá lại toàn bộ quy trình vận hành doanh nghiệp vừa qua, cũng như tính hiệu quả công việc của đội ngũ người lao động.

Song song đó, sau thời gian người lao động “sống chậm” khi thực hiện làm việc từ xa, ở nhà… trở lại với guồng máy bình thường, doanh nghiệp cần giải bài toán quản trị doanh nghiệp để đảm bảo chiến lược sản xuất, kinh doanh đã đặt ra.

“Giữ chân” người lao động

Theo cuộc khảo sát của Công ty cổ phần Kết nối Nhân tài (Talentnet), trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện chuyển đổi số hóa và cắt giảm chi phí vận hành công ty, đồng thời giải quyết bài toán về nhân sự hậu mùa dịch. Điều mà doanh nghiệp quan tâm nhiều nhất hiện nay là làm sao có đủ nguồn thu để tồn tại và giữ nhân viên.

Nhằm chuẩn bị cho giai đoạn sau dịch COVID-19, các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp cần bắt tay đánh giá lại toàn bộ quy trình vận hành doanh nghiệp vừa qua, cũng như tính hiệu quả công việc của đội ngũ người lao động.

Bà Tiêu Yến Trinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Talentnet cho rằng, công tác nhân sự “hậu COVID-19” là bài toán vừa khó vừa dễ. Cụ thể doanh nghiệp sẽ thuận lợi khi nguồn ứng viên dồi dào do lượng người lao động mất việc tăng, thái độ và sự cầu thị của ứng viên đối với vị trí tuyển dụng sẽ tốt hơn trước đây.

Quận Thủ Đức trao tặng quà cho công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn bị ảnh hưởng dịch bệnh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Quận Thủ Đức trao tặng quà cho công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn bị ảnh hưởng dịch bệnh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Tuy nhiên, khó khăn đối với nhà tuyển dụng là trong làn sóng dịch chuyển đầu tư sẽ có nhiều nhà đầu tư đến mở nhà máy, cơ sở sau khi Việt Nam kiểm soát tốt dịch bệnh, kéo theo nhu cầu tuyển dụng của một số ngành nghề đặc thù với sự cạnh tranh khốc liệt trong cuộc chiến dành nhân tài.

Dự báo doanh nghiệp sẽ tạm dừng hoặc không tuyển một số vị trí trọng yếu do việc triển khai chiến lược sản xuất, kinh doanh năm 2020 có thay đổi.

Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp có xu hướng quyết định đầu tư vào đội ngũ nhân viên hiện tại, thay vì tuyển nhân sự mới trong khi bản thân người lao động cũng sẽ cân nhắc và thận trọng hơn đối với những cơ hội việc làm mới.

“Điều quan trọng là nhà tuyển dụng cần có một kế hoạch tổng thể với sự phân bổ nguồn lực hợp lý thì mới tận dụng được cơ hội từ thị trường nhân lực; đồng thời, người lãnh đạo cần truyền cảm hứng cho người lao động, đào tạo cho nhân viên mình đủ năng lực để thực thi nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần có chính sách tưởng thưởng cho người lao động, xây dựng văn hóa và môi trường lao động linh hoạt nhằm tối đa hóa nguồn lao động hiện hữu và sử dụng lao động bên ngoài,” bà Tiêu Yến Trinh chia sẻ.

Ông Trần Tấn Thiện, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Càphê Hello 5 chia sẻ khó khăn của doanh nghiệp tại chương trình tọa đàm với chủ đề Dự báo kinh tế Việt Nam 2020, tác động của dịch COVID-19 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp thích ứng với dịch bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)
Ông Trần Tấn Thiện, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Càphê Hello 5 chia sẻ khó khăn của doanh nghiệp tại chương trình tọa đàm với chủ đề Dự báo kinh tế Việt Nam 2020, tác động của dịch COVID-19 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm giải pháp thích ứng với dịch bệnh tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)

Ở khía cạnh khác, bà Nguyễn Phương Mai, Giám đốc điều hành Công ty Navigos Search (công ty cung cấp dịch vụ tuyển dụng nhân sự) cho rằng, khi dịch bệnh được kiểm soát, nhu cầu tuyển dụng sẽ bùng nổ vì các doanh nghiệp sẽ cần đến đội ngũ nhân lực để vực dậy hoạt động sản xuất kinh doanh.

Do đó, các doanh nghiệp nên xúc tiến hoạt động tuyển dụng trong thời gian này vì nguồn cung lao động đang dồi dào hơn và ứng viên khi nhận việc sẽ có nhiều thời gian để hòa nhập với công ty và chuẩn bị cho kế hoạch phát triển sau khi dịch bệnh qua đi.

Trong khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực giữ lại nhân sự của mình. Ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần Đầu tư Nam Long (NLG) cho biết, đến nay NLG chưa phải cắt giảm nhân viên nào để giảm chi phí.

Ngược lại, mọi kế hoạch tuyển dụng các nhân sự tài năng và tâm huyết vẫn đang diễn ra để đáp ứng kế hoạch mở rộng và phát triển kinh doanh cho năn 2021-2022.

Việc gìn giữ con người giống hệt như những gì chúng tôi đã trải qua trong cuộc khủng hoảng 5 năm liên tục 2008-2012. Trong 5 năm này đã có lúc những nhà lãnh đạo cao cấp từ chối nhận lương nhưng vẫn không cắt giảm một nhân viên nào bởi chúng tôi luôn tin rằng “con người,” đặc biệt là những nhân tài là tài sản quý giá nhất của một doanh nghiệp.

Định hướng chính sách nhân lực sau dịch COVID-19, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh cũng chia sẻ, thành phố cần giữ cho doanh nghiệp không phá sản bằng cách hỗ trợ thu nhập cho người lao động để người lao động không mất việc làm. Bởi lẽ nếu mất lao động, doanh nghiệp không thể phục hồi sản xuất. Thành phố có thể hỗ trợ thu nhập cho người lao động ít nhất là 3-4 tháng bằng gói hỗ trợ của Chính phủ và gói hỗ trợ riêng của thành phố.

Gia tăng quản trị tài chính

Bên cạnh câu chuyện về nhân sự, theo các chuyên gia, việc tái cấu trúc, tăng cường quản trị tài chính là giải pháp trọng yếu để doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh sau dịch COVID-19.

Quang cảnh chương trình tư vấn trực tuyến Chính sách hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 của Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Quang cảnh chương trình tư vấn trực tuyến Chính sách hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 của Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Cụ thể, doanh nghiệp cần thu hồi nguồn vốn, dòng tiền về càng nhanh càng tốt để hạn chế rủi ro thay vì quá tập trung vào lợi nhuận trước mắt.

Muốn vậy, người chủ doanh nghiệp phải kịp thời có chiến lược quản trị tài chính phù hợp với biến động của nền kinh tế trong nước cũng như nền kinh tế toàn cầu.

Doanh nghiệp cần có chiến lược sản xuất kinh doanh khả thi, quản trị tài chính công khai, minh bạch… để có thể sử dụng hiệu quả vốn vay từ hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Theo bà Lâm Thị Ngọc Hảo, Phó Tổng giám đốc KPMG Việt Nam, nếu có kế hoạch kinh doanh với định hướng chiến lược rõ ràng, có chiến lược quản trị tài chính tốt thì doanh nghiệp sẽ không gặp khó khăn khi tiếp cận các tổ chức tài chính và nguồn vốn vay, có thể phòng, chống những rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xử lý được khủng hoảng khi có đột biến thị trường.

Bên cạnh câu chuyện về nhân sự, theo các chuyên gia, việc tái cấu trúc, tăng cường quản trị tài chính là giải pháp trọng yếu để doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh sau dịch COVID-19.

Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, dịch COVID-19 ngoài thách thức còn là cơ hội để tái cấu trúc kinh tế lại theo hướng hiệu quả, bền vững, doanh nghiệp tái cơ cấu để thích ứng và hiệu quả cao hơn, phát triển bền vững hơn.

 Khách hàng giao dịch tại phòng giao dịch VietinBank. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
 Khách hàng giao dịch tại phòng giao dịch VietinBank. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Giáo sư, tiến sỹ Hồ Đức Hùng, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, có thể tái cấu trúc lại doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung vào chuỗi giá trị, định hướng về thị trường, nhất là thị trường nội địa.

Đồng thời, khôi phục và khai thác những sản phẩm hiện có, thay đổi phương thức kinh doanh, phát triển sản phẩm hiện có sang thị trường mới nhất là ngành công nghiệp chế biến.

Còn theo ông Trần Quốc Mạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh, dịch COVID-19 là khó khăn lớn, nhưng chưa phải là dấu chấm hết đối với doanh nghiệp. Thay vào đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc; trong đó, coi trọng việc chuyển đổi công nghệ thông tin, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Nhiều nước đang chuyển đổi công ty từ một số nơi; trong đó, có Trung Quốc về các nước Đông Nam Á nên đây sẽ là cơ hội đối với cộng đồng doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch hội Lương thực thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, ngay từ lúc này cần xác định kịch bản cho thời điểm “hậu COVID-19” là giai đoạn tăng cường xuất khẩu mặt hàng thực phẩm lương thực cho châu Âu và Mỹ là những thị trường hiện đang căng thẳng chuỗi cung ứng thực phẩm.

Muốn vậy, thành phố cần hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thêm thị trường thông qua việc đàm phán với các quốc gia hiện không có dịch COVID-19 hoặc kiểm soát dịch tốt đễ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận; đồng thời, đưa ra dự báo tác động lên nhóm ngành hàng, sản phẩm nhằm định hướng và đề xuất biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp./.

Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)

Khởi động lại với mô hình kinh doanh mới

Ghi nhận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh theo khung giờ bình thường và đảm bảo thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch COVID-19.

Song song đó, nhằm tạo động lực mới và kích cầu tiêu dùng, không ít doanh nghiệp đã chuyển đổi mô hình kinh doanh và tung ra nhiều sản phẩm mới phù hợp với xu hướng tiêu dùng của người dân.

Phát triển dịch vụ tiện ích

Chia sẻ về kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển năm 2020, đại diện Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (SATRA) cho biết, doanh nghiệp chú trọng thị trường nội địa thông qua hoạt động mở rộng phân phối bán lẻ song song với việc đảm bảo hiệu quả quản trị và kiểm soát.

Nhằm tạo động lực mới và kích cầu tiêu dùng, không ít doanh nghiệp đã chuyển đổi mô hình kinh doanh và tung ra nhiều sản phẩm mới phù hợp với xu hướng tiêu dùng của người dân. 

SATRA đang tiếp tục tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu và có biện pháp ứng phó với phòng vệ thương mại từ những thị trường xuất khẩu.

Người dân theo đạo Hồi tham quan, mua sắm tại cửa hàng thực phẩm tiện lợi Satrafoods Halal. (Ảnh: Mỹ Phương/TTXVN)
Người dân theo đạo Hồi tham quan, mua sắm tại cửa hàng thực phẩm tiện lợi Satrafoods Halal. (Ảnh: Mỹ Phương/TTXVN)

Cùng với đó, SATRA sẽ chú trọng lĩnh vực công nghệ, nhằm từng bước xây dụng hệ thống quản trị công nghệ đáp ứng vận hành hành thống bán lẻ đang được mở rộng và mục tiêu chuyển dịch dần sang quản lý số.

“Hiện, SATRA đã và đang xây dựng mô hình thương mại điện tử, quảng cáo điện tử trên ứng dụng Satra Loyalty và triển khai thực hiện dịch vụ thanh toán bằng các ví điện tử cho hệ thống bán lẻ của SATRA. Ngoài ra chúng tôi còn đề xuất giải pháp E-makerting, bán hàng online và thương mại điện tử cũng như nhiều biện pháp số hóa khác cho các hoạt động quản lý,” đại diện của SATRA cho biết thêm.

Ở lĩnh vực du lịch, bên cạnh dấu hiệu khởi sắc từ thị trường khách lẻ, thị trường khách đoàn nội địa của Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist cũng đã bắt đầu đón nhận những dấu hiệu tích cực trở lại khi các đoàn khách công ty, đoàn khách cơ quan, xí nghiệp đã liên hệ tư vấn và ký hợp đồng du lịch cho các tour dự kiến khởi hành trong thời gian tới.

Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, nhiều công ty lữ hành, doanh nghiệp du lịch đã kịp thời triển khai những gói tour du lịch phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới của người dân.

Cụ thể, đáp ứng nhu cầu đi du lịch của du khách sau một thời gian dài giãn cách cũng như đánh dấu việc chính thức khởi động lại hoạt động kinh doanh, Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist triển khai các gói sản phẩm du lịch trong nước dành cho nhóm khách nhỏ, nhóm khách gia đình với mức giá ưu đãi so với giá bình thường.

Mặc dù, Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist triển khai và giảm giá nhiều gói sản phẩm du lịch đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn phòng chống dịch cho du khách đi tour cũng như chất lượng dịch vụ không đổi, hành trình tham quan phong phú, mới lạ, lịch khởi hành linh hoạt.

Điển hình, đối với những tour khởi hành từ Thành phố Hồ Chí Minh, Lữ hành Saigontourist triển khai lại một số tour định kỳ khởi hành trong tháng 5, 6/2020 như các tour Đà Lạt, Nha Trang, Phan Thiết, Cần Thơ… với mức giá ưu đãi từ 1,979 triệu đồng/khách (tùy hành trình); sản phẩm Free & Easy đi Vũng Tàu, Hồ Tràm, Phan Thiết, Đà Lạt, Nha Trang với giá từ 1,439 triệu đồng/khách, dịch vụ book khách sạn và thuê xe dành cho nhóm khách nhỏ, nhóm khách gia đình.

 Gian hàng của Công ty du lịch Saigontourist trong “Ngày hội khuyến mại du lịch”. (Ảnh: Trần Việt/ TTXVN)
 Gian hàng của Công ty du lịch Saigontourist trong “Ngày hội khuyến mại du lịch”. (Ảnh: Trần Việt/ TTXVN)

Cùng với những gói tour truyền thống, tour Free and Easy hay Combo nghỉ dưỡng cao cấp, Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist còn triển khai dịch vụ cung cấp Travel Voucher.

Với tính năng tiện dụng và linh hoạt phù hợp với thị hiếu tiêu dùng hiện đại, phiếu du lịch Saigontourist Travel Voucher là món quà ý nghĩa và hữu ích để các công ty, doanh nghiệp dành tặng nhân viên hay khách hàng, đối tác như một hình thức tri ân, khen thưởng…

Liên kết bán hàng online

Khảo sát của Nielsen Việt Nam cho thấy, những xu hướng tương lai bán lẻ sẽ được định hình theo những đặc điểm chính như nhu cầu về sự tiện lợi, nhu cầu cao cấp hóa các sản phẩm dịch vụ, nhu cầu kết nối liên tục…

Thị trường Việt Nam đang đứng hàng đầu về kết nối internet, với trung bình hàng tuần người Việt Nam dùng đến hơn 24 giờ để kết nối internet.

Cùng với xu hướng kết nối internet, người tiêu dùng hiện đại đang hướng đến mua sắm đa kênh, gồm không gian mua sắm hiện đại, được nhân viên tiếp đón văn minh, chu đáo; hàng hóa sản phẩm có xuất xứ rõ ràng, thực phẩm được sơ chế kỹ và đóng gói cẩn thận; có đủ dịch vụ tiện ích tại hầu hết các siêu thị, cửa hàng từ khâu giữ xe, giao hàng tận nhà, giao dịch thanh toán hóa đơn điện, nước, internet, cab tivi… Tất cả tạo ra sự kết nối đồng bộ, thống nhất cho cả hệ thống thương mại, dịch vụ.

Nhiều người dân đã chuyển hướng sang “đi chợ online” thời dịch COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Nhiều người dân đã chuyển hướng sang “đi chợ online” thời dịch COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Dưới góc độ chuyên gia, theo tiến sỹ Đinh Bá Tiến, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dịch COVID-19 đã đẩy nhanh tốc độ chuyển đổi từ offline sang online, đẩy giao dịch trực tuyến tăng 20-30%.

Không chỉ thế, các sàn thương mại điện tử còn đưa ra các gói hỗ trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ tích cực bán hàng qua sàn. Các nền tảng giao nhận, thanh toán cũng đã đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường trong mùa dịch bệnh.

Vì vậy, trong thời gian tới, doanh nghiệp cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh… để tăng hiệu quả kinh doanh sau dịch bệnh.

“Vừa qua có một số doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khá nhanh nhạy trong chuyển đổi kinh doanh sang online. Tuy nhiên, muốn doanh nghiệp ứng dụng hiệu quả hơn, nhà nước nên tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp để họ có thể tiếp cận các giải pháp tổng thể khi chuyển đổi số. Về lâu dài, sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát, Thành phố Hồ Chí Minh cần đẩy mạnh chuyển đổi số ở khối cơ quan nhà nước và đầu tư hạ tầng kinh tế số bảo đảm thông tin liền mạch. Riêng với các doanh nghiệp, tập đoàn công nghệ lớn trong nước cần ngồi lại để đưa ra những gói dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ làm việc từ xa, giao dịch online… hiệu quả trong kinh doanh,” tiến sỹ Đinh Bá Tiến chia sẻ.

Để nắm bắt cơ hội kinh doanh mới, sau thời gian thử nghiệm và nhận được sự ủng hộ từ quý khách hàng, trong tháng 4/2020 vừa qua, Công ty Cổ phần Việt Nam Kỹ nghệ sức sản – VISSAN chính thức đưa vào hoạt động dịch vụ đặt hàng và giao tận nhà qua Hotline và Fanpage. Chương trình được áp dụng tại tất cả các quận huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (trừ huyện Củ Chi và huyện Cần Giờ).

Song song đó, kể từ ngày 25/4, VISSAN chính thức mở gian hàng trên nền tảng thương mại điện tử Sendo nhiều tiện ích và ưu đãi hấp dẫn cho khách hàng khi người tiêu dùng có thể lựa chọn mua sắm với hơn 300 sản phẩm của VISSAN trên những trang thương mại điện tử lớn và uy tín tại Việt Nam.

Trong thời gian tới, VISSAN sẽ tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa kênh bán hàng trực tuyến thông qua website. Với việc hợp tác với các trang thương mại điện tử, không chỉ VISSAN mà nhiều doanh nghiệp sản xuất đã và đang khẳng định uy tín thương hiệu trong việc mở rộng và phủ sóng những kênh bán hàng, đảm bảo cung cấp những sản phẩm tươi ngon, an toàn vệ sinh đến tận tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất.

Đại diện một thương hiệu khác, ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Nhà sáng lập, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư Tập đoàn Xuân Nguyên chia sẻ kinh nghiệm thành công khi giới thiệu ra thị trường 24 chủng loại sản phẩm, trong đó có nhiều sản phẩm phối hợp với mật ong là việc Tập đoàn đã và đang không ngừng phát triển đa dạng kênh phân phối, bán lẻ như siêu thị, nhà thuốc, tiệm tạp hóa…

Bên cạnh đó, Xuân Nguyên đảm bảo được sản lượng cung ứng cho thị trường với tổng sản lượng 10.000 tấn/năm, với tỷ trọng xuất khẩu chiếm khoảng 20% và còn lại là phục vụ thị trường nội địa.

Còn theo ông Nguyễn Anh Đức, Tổng Giám đốc Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op), dự kiến nhu cầu đối với hoạt động mua sắm online, giao hàng, chuyển phát có thể gia tăng trong thời gian tới.

Hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.op.(Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.op.(Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Để đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt hiện tại của thị trường bán lẻ, Saigon Co.op đang tập trung mọi nguồn lực để triển khai chiến lược phát triển, đồng hành cùng nhà cung cấp và đối tác.

Saigon Co.op cũng sẽ tăng cường ứng dụng các công nghệ mới, số hóa, tự động hóa, phát triển E-commerce kết hợp phương thức bán hàng đa kênh…

Riêng trong những tháng đầu năm 2020, Saigon Co.op đã phát triển dịch vụ dịch vụ bán hàng tận nhà với hơn 800 điểm bán của Saigon Co.op bao gồm Co.opmart, Co.opmart SCA, Co.opXtra, Co.op Food, Finelife, Co.op Smile…

Đặc biệt, nhân viên thuộc hệ thống bán lẻ của Saigon Co.op sẽ gửi đến tận nhà khách hàng phiếu đặt hàng có sẵn danh mục gồm 3 nhóm hàng là thực phẩm tươi sống, thực phẩm công nghệ thiết yếu và hóa phẩm.

Khách hàng chỉ cần chọn lựa theo danh mục này và liên hệ siêu thị theo số điện thoại trên phiếu đặt hàng, hàng sẽ được đưa tới nhà. Bên cạnh hình thức phiếu đặt hàng, dịch vụ đặt hàng qua điện thoại của Saigon Co.op vẫn tiếp tục phục vụ khách hàng theo giờ hoạt động của điểm bán./.

Người dân mua sắm tại hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.op. (Ảnh: Thanh Vũ/ TTXVN)
Người dân mua sắm tại hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.op. (Ảnh: Thanh Vũ/ TTXVN)

Hỗ trợ về vốn và chính sách thuế

Ngoài yếu tố nhân lực, quản trị, điều cốt lõi, không thể tách rời đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp là vấn đề tài chính. Dịch COVID-19 đã ảnh hưởng toàn diện đến cộng đồng doanh nghiệp, không những sụt giảm lợi nhuận mà còn đẩy doanh nghiệp đến bờ phá sản vì hết thiếu tiền, hết tiền và không đủ tiền để cầm cự trong khoảng thời gian nhất định.

Trước diễn biến đó, sự vào cuộc của ngành thuế, ngân hàng có ý nghĩa vô cùng hệ trọng đối với “sinh mệnh” của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Khoanh nợ, giảm lãi suất

Trong giai đoạn hiện nay, nhiều doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ lãi suất vay ưu đãi, cơ cấu lại nợ để có cơ hội tiếp cận thêm đa dạng nguồn vốn vay và có thể vay mới.

Trước tác động của dịch COVID-19, sự vào cuộc của ngành thuế, ngân hàng có ý nghĩa vô cùng hệ trọng đối với “sinh mệnh” của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Theo ông Trần Việt Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cao su Nhựa Tp. Hồ Chí Minh, hiện nay “cứu doanh nghiệp như cứu hỏa” và muốn vậy chính sách hỗ trợ phải làm nhanh, nên hỗ trợ cho cả ngành thay vì hỗ trợ đối với từng doanh nghiệp.

Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Nguồn: TTXVN)
Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Nguồn: TTXVN)

Để tiết giảm thời gian trong hậu kiểm thiệt hại, chỉ cần kiểm tra vấn đề nợ thuế, bảo hiểm xã hội và nợ ngân hàng của doanh nghiệp, sau đó giải ngân gói hỗ trợ.

Ông Phạm Văn Việt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may thêu đan Thành phố Hồ Chí Minh nêu thực trạng việc nhiều doanh nghiệp dệt may thành phố không có nguồn thu do ảnh hưởng bởi dịch COVID-19; trong đó, có không ít doanh nghiệp đã đóng cửa từ tháng 3/2020 nên không có tiền đề trả lương cho công nhân. Trong khi đây là điều kiện để xét duyệt hồ sơ vay vốn của ngân hàng.

Vì thế ngân hàng nên cân nhắc xem xét hạ tiêu chí cho vay, cùng với đó có chính sách giảm lãi suất các khoản vay của doanh nghiệp trước thời điểm xảy ra dịch COVID-19 và cung cấp các khoản vay ưu đãi từ 6-12 tháng thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Đồng quan điểm, ông Trần Quốc Mạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện khó khăn hiện nay về nguyên liệu, thị trường xuất khẩu ngưng trệ, không có đầu ra, nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, trong khi đây là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Do vậy, hệ thống ngân hàng cần hạ chỉ tiêu cho vay đối với doanh nghiệp cũng như hỗ trợ về giảm lãi suất, giãn nợ…

Trong khi đó, ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ tiếp tục cho kéo giãn, chuyển nợ thuế doanh nghiệp sang năm 2021 và các năm tiếp theo tùy thuộc vào sự phục hồi kinh tế và sức khỏe của doanh nghiệp, kiến nghị được giảm thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng.

Văn phòng Ủy ban Nhân dân Quận 3 phục vụ người dân và doanh nghiệp trong ngày đầu tiên kết thúc thời gian giãn cách xã hội. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Văn phòng Ủy ban Nhân dân Quận 3 phục vụ người dân và doanh nghiệp trong ngày đầu tiên kết thúc thời gian giãn cách xã hội. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Đồng thời cho các doanh nghiệp được hỗ trợ mà không cần phải chứng minh thiệt hại, không phân biệt quy mô thông qua nhóm giải pháp giải cứu cấp bách và giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp với sự vào cuộc chủ động của hệ thống ngân hàng trong việc thẩm định, trả lời hồ sơ vay vốn cho doanh nghiệp, bảo trợ cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ.

Dưới góc độ chuyên gia, tiến sỹ Trần Du Lịch, Thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ đề xuất, việc Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại để khoanh nợ vay cho doanh nghiệp, ưu tiên doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất và chuỗi lưu thông dễ đổ vỡ như du lịch, vận tải, ẩm thực, giải trí… và những doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tiếp sức cho doanh nghiệp

Nói về các giải pháp hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 mà hệ thống ngân hàng đã và đang thực hiện, ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, tính đến ngày 26/4 trên địa bàn thành phố đã cơ cấu lại nợ là 63.000 tỷ đồng, giảm lãi cho doanh nghiệp, kinh tế hộ khoảng 12.300 tỷ đồng với 168.000 khách hàng (trong đó chiếm 38% là doanh nghiệp). Từ khi có dịch COVID-19 đến nay hệ thống ngân hàng trên địa bàn thành phố đã cho vay mới hơn 88.800 tỷ đồng.

Ngân hàng hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp. (Nguồn: TTXVN)
Ngân hàng hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp. (Nguồn: TTXVN)

Để hỗ trợ cho doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng yêu cầu các doanh nghiệp công bố công khai bộ tiêu chí rõ ràng, cụ thể về doanh thu, dòng tiền, khả năng trả nợ để ngân hàng đưa vào danh sách các đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ.

Doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành và các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có tài sản thế chấp khi đưa vào chương trình kết nối ngân hàng-doanh nghiệp phải báo cáo minh bạch, rõ ràng dòng tiền, có như vậy ngân hàng mới quản lý, đảm bảo thu hồi nợ và cho vay vốn.

“Ngành ngân hàng luôn đồng hành với doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì, khôi phục sản xuất kinh doanh và tạo đà phát triển sau dịch COVID-19. Ngân hàng cam kết không thiếu vốn cho doanh nghiệp và sẽ thực hiện hiệu quả hơn nữa chương trình kết nối doanh nghiệp-ngân hàng trong thời gian tới. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh sẽ kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm nếu các ngân hàng gây khó khăn, thiệt hại cho doanh nghiệp,” ông Nguyễn Hoàng Minh khẳng định.

Đồng quan điểm, ông Hoàng Minh Hoàn, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB) phụ trách khối quản trị tài chính và nguồn vốn cho biết, mục tiêu mà các ngân hàng thương mại là hỗ trợ cho doanh nghiệp, không có chuyện trì hoãn, gây khó dễ cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên hoạt động của ngân hàng thương mại cũng phải đảm bảo các quy trình an toàn theo quy định của pháp luật.

Dẫn chứng cụ thể, ông Hoàng Minh Hoàn cho hay, đối với ngân hàng thương mại, việc xét duyệt hồ sơ vay của doanh nghiệp đều phải thông qua hệ thống thẩm định nội bộ và dựa trên nhiều yếu tố để quyết định hạn mức cho vay.

Ngân hàng SCB luôn cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn khó khăn tạm thời này, tuy nhiên nhằm đảm bảo hoạt động ngân hàng hiệu quả, SCB phải kiểm soát được rủi ro mới quyết định duyệt cho vay.

Cán bộ Phường 1, Quận 3 chi trả hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Cán bộ Phường 1, Quận 3 chi trả hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Trong bối cảnh dịch COVID-19 tác động đến tất cả hoạt động kinh tế, Chính phủ đã ban hành các gói cứu trợ, từ chính sách tài khóa đến tài chính đã góp phần củng cố niềm tin cho doanh nghiệp.

Đầu tháng 4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 41/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất nhằm hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân kinh doanh bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện Nghị định nói trên của Chính phủ, theo thống kê từ Cục Thuế thành phố, đã có khoảng 255.000 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 97,35% trên tổng số doanh nghiệp trên địa bàn được thụ hưởng chính sách này.

Ông Lê Duy Minh, Cục trưởng Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, hiện cơ quan thuế đang thực hiện khoanh nợ cho các doanh nghiệp trong thời gian từ tháng 3/2020 đến tháng 6/2020 theo Nghị định 41/NĐ-CP của Chính phủ với số tiền được khoanh nợ khoảng 40.000 tỷ đồng.

“Từ nay đến 30/7/2020, doanh nghiệp gửi đơn xin gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất sẽ được cơ quan thuế tự động gia hạn. Cũng trong khoảng thời gian này, cơ quan thuế sẽ không gây bất kỳ áp lực nào cho doanh nghiệp trong việc gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất,” ông Lê Duy Minh cam kết.

Cũng theo đại diện Cục Thuế thành phố, ngoài đối tượng doanh nghiệp, trên địa bàn thành phố có 43.000 hộ kinh doanh, tiểu thương đang gặp nhiều khó khăn do COVID-19 cũng được gia hạn nộp thuế.

Từ tháng 3 đến hết tháng 12/2020, các đối tượng này sẽ được khoanh nợ, không phát sinh các khoản chậm nộp để có thêm nguồn lực tài chính ổn định tình hình sản xuất kinh doanh./.

Người dân nộp thuế tại điểm thu Ngân hàng Vietcombank. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Người dân nộp thuế tại điểm thu Ngân hàng Vietcombank. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Phát triển trong trạng thái bình thường mới

Trước đại dịch COVID-19, hơn ai hết, mỗi doanh nghiệp, tổ chức hoạt động kinh tế cần ý thức việc tự chủ, “mình cứu mình,” tái cơ cấu hoạt động theo hướng tinh gọn, hiệu quả hơn. Sau đó với các chính sách hỗ trợ từ cơ quan quản lý nhà nước, việc phụ hồi, duy trì và lấy đà phát triển đối với doanh nghiệp sẽ trở nên khả thi và thuận lợi hơn.

Dịch COVID-19 là cơ hội để Thành phố Hồ Chí Minh tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghệ cao, đô thị xanh, giảm thâm hụt lao động.

Về dài hơi, doanh nghiệp sẽ vượt qua được khủng hoảng nếu nền kinh tế vĩ mô ổn định, vừa thực hiện được mục tiêu kép là phát triển kinh tế và kiểm soát được dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh, với vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, không nằm ngoài quy luật đó.

Cơ hội chuyển đổi

Theo ông Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, dịch COVID-19 là cơ hội để tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghệ cao, đô thị xanh, giảm thâm hụt lao động.

Công nhân Công ty TNHH Pouyuen Việt Nam thực hiện giãn ca, rửa tay khử trùng và đo thân nhiệt trước khi vào xưởng. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Công nhân Công ty TNHH Pouyuen Việt Nam thực hiện giãn ca, rửa tay khử trùng và đo thân nhiệt trước khi vào xưởng. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Chống dịch vẫn là mục tiêu quan trọng nhưng biện pháp thực hiện sẽ có sự điều chỉnh cho phù hợp để đạt được mục tiêu kép là kết hợp được sự phục hồi kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội; trong đó, sự ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường trong nước trở nên quan trọng hơn đối với sự phục hồi kinh tế của Việt Nam nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo chia sẻ của ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp đã “xoay chuyển” tình thế khá tốt, tận dụng cơ hội để sản xuất các thiết bị công nghệ cao phục vụ phòng chống dịch, sản phẩm thiết bị y tế, dịch vụ số cho doanh nghiệp, môi trường trực tuyến… nên ít ảnh hưởng, tăng trưởng tốt.

Tương tự, nhóm doanh nghiệp trong lĩnh vực lương thực thực phẩm do nhu cầu sản phẩm thiết yếu tăng cao nên đã tận dụng cơ hội để sản xuất hết công suất, đưa thêm nhiều sản phẩm, đầu tư thêm công nghệ, nâng cao giá trị sản phẩm. Nhóm doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may, da giày đã chuyển đổi sang sản xuất khẩu trang, đồ bảo hộ y tế để đi vào các thị trường lớn.

Để chủ động vượt qua khó khăn giai đoạn hiện nay, ông Chu Tiến Dũng cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục đầu tư hạ tầng, chuẩn bị đón làn sóng chuyển dịch đầu tư nước ngoài thời kỳ hậu COVID-19; hoàn thiện môi trường pháp lý để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sang môi trường kinh tế số; hướng dẫn, công khai các tiêu chí để doanh nghiệp tiếp cận các gói hỗ trợ của Chính phủ và thành phố, hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo, chuyển đổi nguồn nhân lực, khởi nghiệp sáng tạo.

Nghiên cứu phát triển sản phẩm vi mạch bán dẫn, kết quả hợp tác chuyển giao công nghệ tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)
Nghiên cứu phát triển sản phẩm vi mạch bán dẫn, kết quả hợp tác chuyển giao công nghệ tại Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Đồng thời, thành lập Tổ công tác giải cứu doanh nghiệp để theo dõi, đôn đốc, giải quyết và đề xuất các giải pháp hỗ trợ kịp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp.

Trong khi đó, tiến sỹ Nguyễn Xuân Thành, Đại học Fulbright đề xuất việc thành phố phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn triển khai cho nhiều dự án đầu tư công trọng điểm. Như vậy mới tận dụng được cơ hội, tạo đà cho sự phục hồi kinh tế trong năm 2021, đảm bảo tính thanh khoản cho doanh nghiệp, duy trì việc làm cho người lao động.

Chủ động để thích ứng

Ngay từ khi dịch COVID-19 xuất hiện, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động, kiên quyết, kiên trì phòng chống dịch bệnh, thực hiện các giải pháp từ ngắn hạn đến dài hạn để ứng phó, giảm thiểu tối đa thiệt hại kinh tế, ổn định sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội cũng như chờ thời điểm lấy đà để phát triển trở lại.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh, chính quyền thành phố, cộng đồng doanh nghiệp và người dân tiếp tục chung tay phòng dịch quyết liệt, phục hồi sản xuất, kinh doanh và hoạt động xã hội trong điều kiện bình thường.

Theo Bí thư Thành uỷ Nguyễn Thiện Nhân, thành phố sẽ có giải pháp hỗ trợ, khuyến khích sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, nhất là vật tư thiết bị có lợi thế nguồn gốc địa phương, mở rộng chuỗi giá trị gia tăng trong nước, phối hợp với các nước đối tác chủ yếu về thương mại, đầu tư và du lịch để mở cửa hoạt động kinh tế du lịch với từng nước.

Cùng với đó, việc số hóa tài nguyên của các doanh nghiệp, triển khai quản trị thông minh ở các doanh nghiệp, đẩy mạnh thực hiện thành phố thông minh, phấn đấu đến tháng 10/2020 giải ngân trên 80% các dự án, xây dựng Khu công nghệ cao giai đoạn 2, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững, đẩy mạnh đề án khởi nghiệp sáng tạo…

Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong phát biểu trong buổi làm việc trực tuyến giữa Thủ tướng với lãnh đạo chủ chốt của Thành phố Hồ Chí Minh về thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong phát biểu trong buổi làm việc trực tuyến giữa Thủ tướng với lãnh đạo chủ chốt của Thành phố Hồ Chí Minh về thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Hiện thành phố đang phải đối diện với một số vấn đề thách thức như vấn đề kinh tế số trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thị trường xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng do đứt gãy chuỗi cung ứng, việc vực dậy sức mua của thị trường nội địa, thời điểm mở cửa để phát triển du lịch quốc tế…

“Sự tăng trưởng chậm lại của thành phố sẽ có nhiều tác động đến sự tăng trưởng chung của cả nước. Vì vậy, tập trung mọi nguồn lực và giải pháp để khôi phục và phát triển kinh tế thành phố là mệnh lệnh cần phải làm ngay,” Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong cho hay.

Theo người đứng đầu Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, dù bị ảnh hưởng nặng nền bởi dịch COVID-19 nhưng kinh tế-xã hội thành phố vẫn có những điểm sáng đáng ghi nhận.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế 4 tháng đầu năm 2020 giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 25% trong GDP cả nước. Giải ngân vốn đầu tư công đạt gần 4.270 tỷ đồng, tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2019.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 14,42 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ 2019. Điều này cho thấy, thành phố vẫn có những yếu tố tích cực là tiền đề để tiếp tục phát triển nhanh hơn.

Du khách tham quan du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)
Du khách tham quan du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Trong thời gian tới, thành phố xác định chủ động chuyển sang trạng thái “bình thường mới,” tập trung thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa hạn chế những tác động khó khăn của dịch COVID-19, phấn đấu ngăn chặn, xử lý tốt tình hình dịch bệnh trên địa bàn, đồng thời thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố năm 2020.

Về giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong cho biết, thành phố sẽ triển khai thực hiện kế hoạch hỗ trợ doanh nghiệp từ nay đến hết năm 2020 với 5 nhóm nội dung.

Cụ thể, thành phố hỗ trợ duy trì sản xuất kinh doanh, ngăn chặn sự phá sản của doanh nghiệp; trong đó, chú trọng hỗ trợ thu nhập cho người lao động để doanh nghiệp không mất lao động (tháng 5 đến tháng 6/2020), hỗ trợ đảm bảo tính thanh khoản của doanh nghiệp, hỗ trợ phục hồi sản xuất, dịch vụ nhằm vào nhu cầu thị trường nội địa 100 triệu dân.

Đồng thời, hỗ trợ giảm chi phí sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, hỗ trợ khuyến khích sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, nhất là vật tư, thiết bị có lợi thế nguồn gốc địa phương và mở rộng chuỗi giá trị gia tăng trong nước, kể cả sản phẩm xuất khẩu.

Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục hỗ trợ đổi mới công nghệ phục vụ sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh quá trình số hóa quản trị doanh nghiệp và quản lý ngành; thực hiện các chương trình khởi nghiệp sáng tạo. Dự báo kịp thời, phối hợp với các nước đối tác chủ yếu về thương mại, đầu tư và du lịch để mở cửa hoạt động kinh tế, du lịch với từng nước vào thời điểm phù hợp (tháng 5 đến tháng 12/2020).

Mặt khác thành phố sẽ xây dựng kịch bản dự báo tăng trưởng kinh tế từng quý và cả năm 2020, dự báo đánh giá chỉ số từng ngành, lĩnh vực, qua đó có giải pháp thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên, tiềm năng, có giá trị gia tăng cao, đóng góp lớn vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố nhằm đạt mức tăng trưởng GRDP cao nhất có thể.

Ngoài các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp riêng, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Công Thương tiếp tục giảm 10% giá điện như hiện nay và tạm thời dừng áp dụng bậc thang giá điện để hỗ trợ nhân dân và doanh nghiệp cho đến khi Chính phủ công bố hết dịch tại Việt Nam.

Ủy ban Nhân dân thành phố kiến cũng nghị Chính phủ xem xét, chấp thuận cho doanh nghiệp được giãn tiến độ nộp tiền sử dụng đất đối với số nợ tiền sử dụng đất phải nộp phát sinh từ tháng 3 đến tháng 6/2020.

Với những nỗ lực “tự giải cứu” của doanh nghiệp, các chính sách quản lý kinh tế và hỗ trợ từ Chính phủ, địa phương, thiệt hại kinh tế đối với doanh nghiệp trên cả nước đã được giảm thiểu đến mức thấp nhất.

Không chỉ vậy, nhiều doanh nghiệp đã tận dụng cơ hội trong giai đoạn khó khăn tạm thời này để tái cơ cấu hoạt động, chuyển hướng kinh doanh phù hợp, tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ để cầm cự, ổn định sản xuất, tiến tới hồi phục, lấy lại đà phát triển trong thời điểm “hậu COVID-19,” góp phần quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế của cả nước./.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Chung/TTXVN)

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Chung/TTXVN)

胡志明主席: 革命道德的一面明镜

对我们每个人来说,胡志明主席一直以来是革命道德的一面明镜,是为党和民族的革命事业不惜牺牲和奉献一生和一生为国家和人民鞠躬尽瘁的好榜样。

胡志明主席曾说,“河有源泉才有水,没有源泉河水就枯竭,树需要根,没有根树就萎缩。革命者需要有革命道德,没有革命道德,他如何杰出也不能领导人民。”。胡志明已给后代留下一个十分宝贵的精神遗产——胡志明世代、胡志明思想、胡志明风格,特别是胡志明道德。

没有革命道德,他如何杰出也不能领导人民

越南共产党缔造者——胡志明主席曾强调,“党不是当官发财的组织。它需完成民族解放、致使国家富强和同胞享受幸福的任务。” “河有源泉才有水,没有源泉河水就枯竭,树需要根,没有根树就萎缩。革命者需要有革命道德,没有革命道德,他如何杰出也不能领导人民。”

为了履行好该任务,党员干部队伍乃至革命者需不断努力奋进,不断修养革命道德。据胡志明思想,革命道德拥有4个基本内容:忠于国,孝于民;热爱他人;勤俭廉正,至公无私。总的来说,“革命道德是下决心终身为党、为革命而斗争。那是最关键的问题。把党和劳动人民的利益置于个人利益之上。尽心尽力为党、为人民服务。为党、为人民而尽力斗争,在各项工作中发挥模范带头作用。认真学习马克思-列宁主义,用自我批评和批评来提高思想,改进自己工作和跟同志一起进步。”

           胡志明主席与中央常委会于1953年在太原省定化县富廷乡开会,决定开展1953-1954年冬春战役、奠边府战役。图自越通社
           胡志明主席与中央常委会于1953年在太原省定化县富廷乡开会,决定开展1953-1954年冬春战役、奠边府战役。图自越通社

在不同时期,胡志明都谈到道德品质,然而特别强调革命道德。胡志明要求革命者除了有道德外还要有才,若有德而无才就无用,但有才无德,那个党员干部也不能汇聚人民群众和领导他们。因此,道德需与能力在一起,在修养、践行道德的同时,党员干部还需要不断学习,提高专业水平和能力,完善自己,从而才能汇聚人民群众和领导他们胜利落实各项任务。

胡伯伯——革命道德的一面明镜

对越南民族来说,胡志明主席一直是革命道德,为党和民族的革命事业牺牲和奉献一生,尽心尽力为祖国奉献,为人民服务的伟大榜样。

在国家遭敌人侵略,亲眼看到劳动人民遭受压迫和痛苦的时期中出生和成长,那是21岁的阮必成已下决心出国寻找救国之路。奔波在海外30年期间中,这位青年已面临许多风波,但其也不能让他的意志减退。胡志明一直保持坚强意志,下决心越过各困难和障碍,走向崇高的目标:同胞的自由、国家的独立。

1945年9月2日,胡志明主席在巴亭官场 宣读《独立宣言》,越南民族共和国正式诞生。图自越通社
1945年9月2日,胡志明主席在巴亭官场 宣读《独立宣言》,越南民族共和国正式诞生。图自越通社

回归祖国,成立越南共产党后,胡志明主席和我们党以各英明的主张、及时和创新的决策领导越南革命越过重重困难, 建设组织和力量,成功进行历史性的八月革命。在以后数十年里到与世长辞时,胡志明主席已为争取独立斗争、国家斗争,为人民带来自由和幸福奉献一生。

胡志明主席不仅为民族解放事业、越南人类解放事业奉献一生,他还为进步人类为人的良知和品格,为世界和平,为各民族之间的友谊而斗争竭尽全力。因此,胡志明受到越南人民乃至世界人民的爱戴和尊重。

                  1951年2月,胡志明主席造访越北根据地的工兵厂。图自越通社
                  1951年2月,胡志明主席造访越北根据地的工兵厂。图自越通社

若爱国和爱民是胡志明主席一生中追求革命活动的动力和目的,那么“勤俭廉正”就是养成胡志明人格和品质的核心和根本品质。胡志明已彻底奉行其道德观念,甚至还做得比他所说的更多和更好。

关于“勤”,胡志明已辛勤劳动,学习和研究,旨在寻找救国之路而不感到厌烦,跟党制定计划,组织和领导人民成功进行革命。

              胡志明主于1951年出差越北路上。图自越通社
              胡志明主于1951年出差越北路上。图自越通社

关于“俭”,胡志明就是稀有简朴、清白的榜样。胡志明主席的穿着和住房都较为简朴。在工作中,他一直注重节约。

关于“廉”,胡志明的清廉充分体现在他的每句话和行动。他从不想到个人利益,一直为人民怎样能过上更好的生活而着想。

关于“正”,胡志明一直较为谦虚,敬上接下,热爱和关关心各社会阶层人民,尤其是穷人。特别,胡志明一直把民族的利益置于最前面和为民族的独立、人民的自由奉献一生。

按照胡志明思想修行和践行革命道德

领会胡志明关于革命道德的思想,我们党成立与成长90年历程中,广大党员干部已发挥革命道德和品质。

广大党员干部一直修养、践行革命道德和品质,爱国、爱民、至公无私、树立榜样,拥有清洁和健康生活方式。绝大多数党员和干部在国家和世界的动荡下仍持有坚定不移的意志,在革命事业中发挥率先带头作用,完成被交付的任务。

                   胡志明主席于1950年探望慰问正收割水稻的北件省农民。图自越通社
                   胡志明主席于1950年探望慰问正收割水稻的北件省农民。图自越通社

胡志明的一生就是所有党员干部和群众关于革命道德、勤俭廉正的一面明镜。特别,许多在复杂环境和困难条件中工作的党员和干部已发挥创新,敢想敢做,敢于承担责任,敢于探索和采用新做法来提高工作效率,受人民群众的信任和称赞,为在新形势下提高党的威信的领导作用等做出贡献。

大部分党员和干部拥有较强纪律意识,认真落实党章、国家法律,地方、机关和单位的规定。然而,部分党员干部革命道德修养不够,蜕化变质,思想立场不坚定,在受外部冲击时被动摇,陷入个人主义和自私自利的陷阱,被物质利益和小集团利益引诱等。

部分党员干部,其中包括领导人在内没有发挥率先带头作用,出现官僚主义表现,没有走进基层,了解实际情况和人民群众愿望,阻止党的事业和革命的发展,甚至为革命事业造成巨大损失。

为了让干部队伍真正领会和有效践行革命道德,多年来,各级党委已经和正在深入展开越共第十二届中央政治局关于“推进学习和践行胡志明思想、道德和作风”的第05号指示与越共第十二届四中全会关于“加大落实加强整党建党,预防和遏制政治思想衰退、道德败坏、生活作风坠落,内部“自我演变”、“自我转化”表现”的决议力度相结合。

原越南国家油气集团董事长丁罗升在任职期间已犯下“故意违反国家经济管理规定 造成严重后果罪”和“贪污罪”遭受法律的处罚。图为丁罗升被告人在法庭上说最后一句话。越通社记者 尹晋  摄
原越南国家油气集团董事长丁罗升在任职期间已犯下“故意违反国家经济管理规定 造成严重后果罪”和“贪污罪”遭受法律的处罚。图为丁罗升被告人在法庭上说最后一句话。越通社记者 尹晋  摄

同时颁布规定来要求党员、干部修养和践行革命道德,如关于党员不能做的各件事的第47号规定,党员、干部尤其是各级主要领导树立榜样的责任的第101号规定,越南祖国阵线、各政治和社会组织和人民对领导人、主要领导、党员和干部修养和锻炼道德和生活作风的监察的第124号规定,党组织对党员和干部修养和践行道德和工作作风的第109号规定以及最近颁布关于“干部、党员,尤其是政治局委员、书记处委员、中央委员树立榜样责任”的第08号规定。

每个党组织已把践行革命道德与预防和遏制政治思想衰退、道德败坏、生活作风坠落,内部“自我演变”、“自我转化”表现相结合,提高了每个党员和干部的认识和行动,为按照越共十二大决议的精神建设从政治、思想到组织真正廉洁和强大的党组织做出重要贡献。

原越南国家油气集团董事长丁罗升在任职期间已犯下“故意违反国家经济管理规定 造成严重后果罪”和“贪污罪”遭受法律的处罚。图为丁罗升被告人在法庭上说最后一句话。越通社记者 尹晋  摄
原越南国家油气集团董事长丁罗升在任职期间已犯下“故意违反国家经济管理规定 造成严重后果罪”和“贪污罪”遭受法律的处罚。图为丁罗升被告人在法庭上说最后一句话。越通社记者 尹晋  摄

革命道德修养和践行需经常、不间断和终身进行;是预防和斗争消除个人主义的第一重要措施。

因此,党员干部道德修养需在时时处处进行。革命道德修养和践行需在实践活动、与各组织和个人的关系中进行,并需本着依靠人民推进党建设的精神接受各级党委和人民的监督。

每个党员、干部需不断以日常生活具体行动和实施任务来不间断修养和践行,同时发挥领导和管理干部乃至党员干部在各工作领域和日常生活中树立榜样的作用。

特别在越共十三大即将召开之际,我们正集中做好人事工作,选择德才兼备的人来担任国家各重要领导职务,目前每个干部和党员需真正勤俭廉正、至公无私,不愧为人民的领导者和忠诚的公仆。(完)

                  胡志明主席1951年2月在越北战区举行越南共产党第二次全国代表大会上读政治报告。图自越通社
                  胡志明主席1951年2月在越北战区举行越南共产党第二次全国代表大会上读政治报告。图自越通社

Chợ Cồn

Nằm tại vị trí trung tâm thành phố, chợ Cồn hiện là khu chợ rộng lớn, đông đúc, sôi động nhất tại thành phố Đà Nẵng.

Không chỉ nổi tiếng với hàng ngàn gian hàng phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, khu chợ này còn là một công trình mang đậm ký ức đô thị Đà Nẵng, là điểm đến của du khách khi ghé thăm thành phố biển.

Thăng trầm lịch sử

Tại Đà Nẵng, nếu như chợ Hàn (nằm sát Sông Hàn) là ngôi chợ đầu tiên, lâu đời nhất, chợ Cồn lại được biết đến như chợ đầu mối lớn nhất, là nơi buôn bán tấp nập nhất Đà thành.

Không chỉ nổi tiếng với hàng ngàn gian hàng phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, chợ Cồn còn là một công trình mang đậm ký ức đô thị Đà Nẵng, là điểm đến của du khách khi ghé thăm thành phố biển.

Hiện nay chưa có bất cứ tài liệu, văn bản sử sách nào nêu chính xác thời điểm chợ Cồn được thành lập. Nhiều người Đà Nẵng tin rằng chợ Cồn được nhóm họp từ những năm 1940, nằm trên một cồn đất cao nên người dân đặt là chợ Cồn.

Cũng có ý kiến cho rằng chợ được hình thành muộn hơn, từ giữa những năm 1950, để “giảm tải” cho chợ Hàn, khi đó đã quá tải.

Theo nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh thì chợ Cồn trở thành chợ đầu mối lớn như hiện nay là nhờ lượng hàng hóa dồi dào vận chuyển bằng đường xe lửa những năm 1960. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Theo nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh thì chợ Cồn trở thành chợ đầu mối lớn như hiện nay là nhờ lượng hàng hóa dồi dào vận chuyển bằng đường xe lửa những năm 1960. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Đà Nẵng cho biết căn cứ vào tình hình phân bố dân cư của thành phố Tourane (Đà Nẵng thời kỳ Pháp thuộc) đương thời, có thể chấp nhận ý kiến cho rằng thời điểm hình thành chợ Cồn là vào thập niên 1940.

Trong bối cảnh khu vực này, đường phố ở phía Nam (nay là Hùng Vương và đường Lý Thái Tổ), đường phố và Kho Đạn ở phía Tây (nay là đường Ông Ích Khiêm) đã được hình thành, dẫn đến dân cư đông đúc hơn trước, sinh hoạt sầm uất hẳn lên.

“Khác với nhiều người cho rằng, chợ Cồn được lập ra để giảm tải cho chợ Hàn, theo tôi chợ Cồn ra đời đơn giản vì dân số khu vực này đã lớn tới mức cần thành lập chợ để thông thương, buôn bán,” ông Bùi Văn Tiếng nhận định.

Khi mới được thành lập, dù chỉ với những lều bạt dựng tạm bợ, nhưng chợ Cồn luôn tấp nập, nhộn nhịp. Khi đó, Tourane còn khá nhỏ nên chợ Cồn nằm ở phía Tây, ngoài rìa thành phố ( Sau này, thành phố Đà Nẵng phát triển rộng về phía Tây nên chợ trở thành trung tâm như hiện tại).

Vị trí ngoài rìa thành phố thuận tiện cho thương lái các tỉnh lân cận mang nông sản về cung cấp cho người dân thành phố, hàng hóa chủ yếu là rau xanh và các loại gia súc, gia cầm.

Là người đã xuất bản 4 cuốn sách về lịch sử, văn hóa thành phố Đà Nẵng – nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh cũng có những ký ức khó phai đối với chợ Cồn.

Sinh năm 1958, tại một ngôi nhà trên phố Lê Duẩn, từ nhỏ, ông đã thường xuyên đến đây chơi. Thậm chí khoảng 7, 8 tuổi, ông đã có 1 năm sống cùng người bố nuôi ngay tại ga chợ Cồn.

Nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh cho rằng, thời điểm chợ Cồn được nhóm họp là trong thập niên 1940, khi dân cư từ các vùng quê có xu hướng tập trung lại các vùng đô thị. Theo ông, sở dĩ chợ Cồn từ một chợ tạm, trở thành một chợ bán sỉ tấp nập như hiện nay vì có tuyến đường sắt đi qua nên lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt rất lớn.

Ông cho biết, trong thời kỳ Pháp thuộc, chỉ chợ Hàn mới có ga đường sắt chứ chợ Cồn chưa có. Các cuộc trao đổi hàng hóa giữa tàu hỏa với tàu biển diễn ra tấp nập tại chợ Hàn. Nhưng không rõ vì lý do gì, đến khoảng những năm 1960, ga Chợ Hàn không còn hoạt động, trung tâm hàng hóa chuyển về ga chợ Cồn.

Từ năm 1960 đến 1975, hàng hóa từ các tỉnh thành lân cận tấp nập theo tàu hỏa nhập về chợ Cồn, nhiều nhất vẫn là lương thực-thực phẩm: Gạo, mía, tôm cá khô, gia súc, gia cầm… Từ đó, các tiểu thương chợ Cồn vừa bán sỉ vừa bán lẻ, cung cấp cho các hàng quán trong toàn thành phố, chợ Cồn trở thành chợ đầu mối lớn nhất Đà Nẵng.

Nhà nghiên cứu Phạm Ngô Minh nhớ lại ký ức những năm 1965 tại chợ Cồn: “Tàu đi từ Huế, dừng ở ga chợ Cồn khoảng 45 phút để lên xuống hàng hóa, sau đó mới đi tiếp về ga Đà Nẵng để đón trả hành khách. Tiếng tàu hú, tiếng bánh xe dập trên đường ray, tiếng các tiểu thương, cửu vạn lại hô hào nhau khuân vác, vận chuyển hàng hóa rất nhộn nhịp. Đặc biệt, do tàu chạy bằng hơi nước nên nhiều người dân mang đồ đựng ra xin nước sôi về dùng, khung cảnh rất thú vị. Ngày nay, nhà ga và tuyến đường sắt đều đã không còn, nhưng phía đường Phạm Ngũ Lão vẫn còn dấu tích của đường ray xưa.”

Bà Trần Thị Thơm (sinh năm 1954) là một trong những tiểu thương gắn bó với chợ Cồn lâu nhất. Từ năm 1971, bà Thơm theo gia đình từ Huế vào Đà Nẵng sinh sống, rồi mở sạp tạp hóa, đồ khô, bánh kẹo tại chợ và bán đến tận bây giờ.

Trung bình mỗi sạp hàng trong chợ Cồn chỉ rộng từ 1-3m2, nên chưa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của các tiểu thương. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
Trung bình mỗi sạp hàng trong chợ Cồn chỉ rộng từ 1-3m2, nên chưa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của các tiểu thương. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Nhớ lại những ngày Đà Nẵng thuộc chế độ cũ trước năm 1975, bà Trần Thị Thơm cho biết, các chị em tiểu thương chợ Cồn thường ngầm giúp đỡ chính quyền Cách mạng. Thời đó các mật vụ, an ninh Ngụy kiểm soát rất gắt gao, nhưng các tiểu thương vẫn âm thầm cung cấp thuốc men, thực phẩm, nhu yếu phẩm cho các vùng kháng chiến. Những đồ này được ngụy trang trong các thùng bánh kẹo, hàng hóa để vận chuyển khỏi thành phố.

Các tiểu thương tại chợ Cồn ngày nay vẫn lưu truyền về những hoạt động bí mật của Hội Phụ nữ Cách mạng chợ Cồn ngày trước. Hiện nay, cổng chính của chợ Cồn (Ngã tư Hùng Vương- Ông Ích Khiêm) có một tấm bia đá ghi lại một chiến tích lịch sử tại khu vực này như sau: 13 giờ ngày 9/2/1971, chiếc xe Jeep chở tên Trưởng ban mật vụ Nha Cảnh sát vùng 1 chiến thuật cùng hai sỹ quan an ninh Ngụy đã bị nổ tung tại ngã tư chợ Cồn – thành phố Đà Nẵng.

Chiến công diệt ác này do đồng chí Hồ Thị Phương, chiến sỹ Ban An ninh, quận 3 thành phố Đà Nẵng mưu trí tiếp cận gài chất nổ dưới gầm xe của chúng.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, cùng với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng, chợ Cồn ngày càng sầm uất, đông đúc, trở thành trung tâm mua sắm chính của thành phố.

Năm 1985, để kỷ niệm 10 năm thống nhất đất nước, chợ Cồn được phá dỡ, xây mới hoàn toàn. Công trình được thực hiện “thần tốc” trong 100 ngày, khánh thành đúng vào Ngày Giải phóng Đà Nẵng 29/3/1985.

Sau khi khánh thành, công trình được đổi tên thành Trung tâm Thương nghiệp Đà Nẵng, gồm tòa nhà chính 3 tầng ở giữa, các dãy sạp hàng phía sau, với tổng diện tích khoảng 14.000m2. Hiện nay, kiến trúc này vẫn còn được giữ gần như nguyên trạng.

Theo Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng Bùi Văn Tiếng, ngày khánh thành Trung tâm Thương nghiệp Đà Nẵng, có người quá hào hứng vì dáng vẻ hoành tráng của công trình đã thốt lên: “Chủ nghĩa xã hội là đây rồi chứ còn ở đâu nữa.”

Câu nói này chứng tỏ Trung tâm Thương nghiệp Đà Nẵng từng mang lại cho người dân nơi đây sự hưng phấn tâm lý về một diện mạo đô thị mới.

Trung tâm Thương nghiệp Đà Nẵng năm 1985 chính là sự kết hợp giữa chợ truyền thống với hình thức trung tâm thương mại hiện đại, đạt được thành công đến tận ngày nay.

Nhưng dù đã được đổi tên, người dân Đà Nẵng vẫn giữ thói quen, gọi công trình này với cái tên thân thương “chợ Cồn.”

Đến năm 2012, chính quyền thành phố đã chính thức trả lại tên cũ cho chợ Cồn, tiếp tục phát triển thành khu chợ sỉ, lẻ lớn nhất thành phố. Sau 35 năm xây dựng, công trình này đã bộc lộ một số hạn chế, cần được “thổi làn gió mới” để phù hợp hơn với hình ảnh thành phố du lịch nổi tiếng Đà Nẵng.

Gìn giữ cho tương lai

Đầu năm 2020, Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng tổ chức cuộc thi Phương án quy hoạch, kiến trúc chợ Cồn Đà Nẵng và nhận được sự quan tâm rất lớn từ người dân.

Sau 35 năm, công trình biểu tượng một thời này đã xuống cấp, không theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của thành phố du lịch nổi tiếng miền Trung. Thay đổi để phù hợp với tình hình mới nhưng vẫn giữ lại được cái hồn ký ức đô thị, là điều người dân và chính quyền Đà Nẵng mong muốn ở cuộc thi thiết kế chợ Cồn lần này.

 Chủ sạp quần áo Lê Thị Tức ủng hộ việc xây chợ mới để khang trang, rộng rãi. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)
 Chủ sạp quần áo Lê Thị Tức ủng hộ việc xây chợ mới để khang trang, rộng rãi. (Ảnh: Quốc Dũng/TTXVN)

Treo những bộ quần áo đẹp nhất lên phía trước, bà Lê Thị Tức đang sửa soạn cho một ngày buôn bán mới. Đây là công việc quen thuộc hàng ngày của bà, suốt từ năm 1975 đến nay. Mỗi lối đi, mỗi sạp hàng tại chợ Cồn đều in đậm trong tâm trí của bà chủ sạp quần áo này, tưởng như nhắm mắt bà cũng có thể đi hết được.

Biết tin chợ Cồn sắp được xây mới, bà Lê Thị Tức vừa mừng, vừa lo. Bà mừng vì chợ mới chắc chắn sẽ khang trang, sạch đẹp hơn, diện tích sạp hàng và đường đi trong chợ sẽ rộng rãi hơn. Nhưng bà cũng lo vì công việc buôn bán đang ổn định, liệu xây chợ mới có đông khách không và vị trí kinh doanh của các sạp hàng mới có bị xáo trộn không?

“Những điều càng thân quen càng khó để thay đổi nhưng tôi và các tiểu thương vẫn ủng hộ dự án xây mới chợ Cồn. Nhiều vị trí trong chợ đã xuống cấp và diện tích các sạp hàng quá nhỏ, không còn thích hợp với nhu cầu tiêu dùng hiện nay,” bà Tức tâm sự.

Sạp hàng quần áo của bà Tức có diện tích chưa đầy 3m2, nhưng đã thuộc diện lớn trong chợ. Ông Mai Phước Ba, Phó Giám đốc Công ty Quản lý và Phát triển các chợ Đà Nẵng (đơn vị quản lý chợ Cồn) cho biết trung bình các sạp hàng khác có diện tích chỉ khoảng 1 đến 3m2.

Việc kinh doanh buôn bán thuận lợi khiến cho ngày càng nhiều tiểu thương tập trung buôn bán tại chợ Cồn, nhưng diện tích của chợ mấy chục năm nay không thay đổi.

Từ khoảng 500 sạp hàng, đến nay, chợ Cồn đã có trên 1.700 sạp hàng cố định và 300 gian hàng khác. Năm 2019, tổng thu phí chợ, dịch vụ và sự nghiệp khác vào khoảng 18,7 tỷ đồng.

Từng là công trình tự hào năm 1985, nhưng sau 35 năm, chợ Cồn hiện nay đã bộc lộ những vấn đề như nhiều khu vực đã xuống cấp, bị thấm, dột; khu vực để xe luôn trong tình trạng quá tải. Vấn đề xử lý nước thải, rác thải cũng đang bộc lộ nhiều nhược điểm.

“Trong những năm qua, Ban Quản lý chợ cùng các tiểu thương đã rất nỗ lực để giữ gìn chợ luôn sạch đẹp, an toàn nhưng vẫn rất khó khăn vì chợ đã xuống cấp. Thành phố đã có chủ trương xây dựng lại chợ từ những năm 2000. Tôi cũng rất mừng vì đến nay đã tổ chức cuộc thi thiết kế, quy hoạch lại chợ Cồn” – Ông Mai Phước Ba cho biết.

Theo đại diện Trung tâm Tư vấn kỹ thuật xây dựng (thuộc Sở Xây dựng Đà Nẵng), đơn vị tổ chức cuộc thi tuyển phương án kiến trúc xây dựng chợ Cồn mới, phương án kiến trúc được Ủy ban Nhân dân thành phố phê duyệt sẽ có tổng diện tích xây dựng sàn đề xuất là gần 21.000 m2, cao tối đa 8 tầng, trong đó, khu vực chợ truyền thống (bố trí lại cho tiểu thương hiện có) tối đa 3 tầng; khu vực khai thác thương mại tối đa 5 tầng; khu vực tầng hầm để xe tối đa 2 tầng.

Đặc biệt, quy hoạch chợ Cồn mới còn tính đến phương án bố trí khu chợ đêm, khu ẩm thực đêm phục vụ cho người dân và du khách. Chợ đêm hoạt động từ 19 giờ đến 23 giờ. Sản phẩm chủ yếu là hàng ăn, đồ lưu niệm, áo quần, giày dép, thời trang…

Đây hứa hẹn là điểm đến thu hút khách du lịch, những người mong muốn khám phá “thiên đường ẩm thực” Đà Nẵng.

Qua gần 2 tháng triển khai cuộc thi Phương án quy hoạch, kiến trúc chợ Cồn Đà Nẵng, Ban Tổ chức đã nhận được 21 phương án tham gia dự thi từ 19 đơn vị, trong đó có 2 đơn vị nước ngoài. Sau đó, các phương án thiết kế này đã được trưng bày tại chợ để lấy ý kiến người dân, tiểu thương trong chợ.

Sau khi tham khảo các phương án dự thi thiết kế chợ Cồn, ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Đà Nẵng góp ý phương án được chọn phải nhấn mạnh vào “yếu tố chợ truyền thống,” thiết kế kiến trúc thế nào để tạo điều kiện đến mức cao nhất cho đông đảo tiểu thương tiếp tục buôn bán thuận lợi, tránh biến chợ Cồn thành… Cồn Plaza.

Trung tâm Thương mại Vĩnh Trung Palaza (đối diện chợ Cồn) hiện nay cũng hình thành từ chợ Vĩnh Trung cũ (khánh thành 2007), nhưng tiểu thương chợ Vĩnh Trung trước đây đã không đủ sức để thuê mặt bằng kinh doanh tại tòa nhà này nữa.

Đối với các tiểu thương tại chợ, điều mà họ quan tâm nhất là chợ mới phải thuận tiện cho kinh doanh và có mức thu phí hợp lý.

Chủ sạp quần áo Lê Thị Tức mong muốn khu vực dành cho buôn bán sẽ thuận tiện trong giao thông, dễ tiếp cận người mua, không xây quá cao vì các tiểu thương không ai muốn lên tầng trên cả.

“Hiện nay, tổng cộng giá thuê sạp và các chi phí khác của tôi chưa tới 1 triệu đồng/tháng. Mong rằng sau khi chợ được xây mới, chi phí sẽ không bị đội lên quá nhiều. Tôi cũng mong muốn Nhà nước sẽ đầu tư và tiếp tục quản lý chợ Cồn mới, không giao cho doanh nghiệp tư nhân. Như vậy, các tiểu thương được yên tâm làm ăn lâu dài,” bà Lê Thị Tức nêu ý kiến.

Đồng quan điểm, bà Trần Thị Thơm, người kinh doanh tạp hóa tại chợ Cồn từ năm 1971 cho biết chúng tôi không muốn các doanh nghiệp đầu tư và tiếp quản chợ Cồn mới, vì họ sẽ chỉ tính đến lợi nhuận của họ. Nếu Nhà nước thiếu vốn đầu tư, tập thể tiểu thương chợ Cồn sẵn sàng đóng góp kinh phí theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. Bà Thơm nói: “Tôi muốn sau này vẫn tự hào nói với con cháu rằng mình là tiểu thương ở chợ Cồn, chứ không phải là một nhân viên siêu thị.”

Ngày 24/4 vừa qua, Hội đồng tuyển chọn cuộc thi thiết kế chợ Cồn đã tiến hành sơ khảo và chọn ra 14 phương án tối ưu nhất để vào vòng báo cáo thuyết trình. Hiện nay, Hội đồng tuyển chọn cuộc thi vẫn đang họp bàn, lựa chọn phương án thích hợp nhất để trao giải.

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh, Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn cuộc thi khẳng định phương án kiến trúc chợ Cồn phải bảo đảm tính truyền thống theo hướng văn minh, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển của hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch của thành phố, tạo dựng được hình ảnh riêng, đặc trưng thương hiệu chợ Cồn, gợi nhớ lại giá trị lịch sử lâu đời của chợ.

Hội đồng tuyển chọn sẽ chọn ra phương án dự thi có chất lượng tốt nhất làm cơ sở trình Ủy ban Nhân dân thành phố xem xét, lựa chọn triển khai vào thực tế.

Việc các tiểu thương đồng lòng xin giữ lại tên chợ Cồn cho thấy cái tên này đã gắn bó và ăn sâu vào tâm thức của bao thế hệ người Đà Nẵng. Hy vọng rằng, chủ trương đúng đắn của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng và sự ủng hộ của bà con tiểu thương sẽ góp phần gìn giữ và phát triển “ký ức đô thị” chợ Cồn còn mãi cho thế hệ mai sau./.

Du khách quốc tế tham quan thành phố Đà Nẵng bằng xíchlô. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
Du khách quốc tế tham quan thành phố Đà Nẵng bằng xíchlô. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)

Quản lý rừng bền vững

Ý nghĩa môi trường xã hội của quản lý rừng bền vững trong thế giới hiện đại đã trở thành yêu cầu bắt buộc của phát triển bền vững. Vì vậy, Việt Nam đã và đang thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp và các chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững.

Đây là những hành động cụ thể hóa Nghị quyết 24 ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nhờ đó, tổng diện tích đất có rừng toàn quốc hiện nay trên 14,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên gần 10,3 triệu ha, rừng trồng trên 4,3 triệu ha.

Đây là số liệu được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra trong Công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2019. Riêng diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc trên 13,8 triệu ha, tỷ lệ che phủ 41,89%.

Để làm rõ những thành tựu đó, TTXVN giới thiệu chùm 2 bài về “Quản lý rừng bền vững” gồm “Giao đất, giao rừng-giải pháp đảm bảo đất lâm nghiệp có chủ” và “Quản lý rừng bền vững: Bảo tồn và phát triển vốn rừng.”

Giao đất, giao rừng

Giải pháp đảm bảo đất lâm nghiệp có chủ

Giao đất, giao rừng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, giữ vai trò định hướng cho ngành lâm nghiệp từng bước ổn định, khẳng định vị thế trong tiến trình phát triển và hội nhập theo hướng phân quyền quản lý.

Kết quả thực hiện chính sách cho đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tài nguyên rừng, đảm bảo chức năng phòng hộ, đa dạng sinh học và nguồn sinh kế cho người dân sống bằng nghề rừng.

Tạo động lực bảo vệ và phát triển vốn rừng

Theo phân tích của các nhà khoa học Trần Thị Tuyết, Lê Thu Quỳnh, Nguyễn Thị Loan, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, giao đất, giao rừng được xem là công cụ thu hút các thành phần trong xã hội tham gia vào quản lý rừng, góp phần hạn chế các hoạt động tiêu cực, tăng cường chất lượng tài nguyên rừng và giảm tải cho lực lượng quản lý nhà nước, từng bước cải thiện sinh kế cho người dân.

Việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tài nguyên rừng, đảm bảo chức năng phòng hộ, đa dạng sinh học và nguồn sinh kế cho người dân sống bằng nghề rừng.

Từ những năm 1980, Việt Nam đã thực hiện giao đất, giao rừng theo chủ trương “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ,” với kỳ vọng ngăn chặn nạn phá rừng, nâng độ che phủ, chất lượng rừng và xóa đói giảm nghèo, kết hợp với sự thay đổi chính sách sở hữu đất đai, chính sách hưởng lợi từ rừng để tạo nên động lực yên tâm quản lý và sản xuất.

Kiểm lâm, các công ty lâm nghiệp địa phương kết hợp với các cuộc họp làng để tuyên truyền việc trồng rừng trên đất lâm nghiệp. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)
Kiểm lâm, các công ty lâm nghiệp địa phương kết hợp với các cuộc họp làng để tuyên truyền việc trồng rừng trên đất lâm nghiệp. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Mục tiêu hướng tới là đảm bảo an ninh môi trường, cải thiện chất lượng tài nguyên rừng, phát triển lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo thị trường đất đai và việc làm, qua đó cải thiện nguồn vốn sinh kế và thu nhập cho người dân, nhất là dân cư sống dựa vào rừng.

Sau năm 1986, bước vào thời kỳ đổi mới, ngành lâm nghiệp đã có bước chuyển từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, người dân trở thành lực lượng thiết yếu bảo vệ, phát triển vốn rừng cả về chất và lượng.

Trong bối cảnh đó, nhiều văn bản pháp quy được ban hành nhằm đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng, chú trọng hơn đến các thành phần tư nhân, các hộ gia đình phù hợp với Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Trên cơ sở đó, Nhà nước đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ, chăm sóc, nuôi trồng, khai thác và tận dụng sản phẩm rừng, tạo điều kiện cho dân cư ở vùng có rừng, đất rừng sinh sống và làm giàu bằng kinh doang tổng hợp các thế mạnh của rừng.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tháng 12/2019. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tháng 12/2019. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Bằng việc thay đổi quan điểm, nhận thức trong phân quyền quản lý lâm nghiệp đã mở rộng đối tượng được giao đất, giao rừng, thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia vào bảo vệ, phát triển rừng.

Điều này phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường đa thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng trong cải thiện đội che phủ và chất lượng rừng, góp phần giữ vững vị trí quan trọng của ngành lâm nghiệp trong quá trình phát triển đất nước.

Chỉ tính đến năm 2017, diện tích rừng của các chủ thể nhà nước là Ban quản lý rừng và Ủy ban Nhân dân xã quản lý, sử dụng chiếm tới 2/3 tổng diện tích rừng tự nhiên và 48% diện tích rừng trồng.

Lực lượng kiểm lâm kiểm tra diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Kông Chro. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)
Lực lượng kiểm lâm kiểm tra diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện Kông Chro. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Còn đối với chủ thể ngoài nhà nước, diện tích do cộng đồng quản lý tăng mạnh, riêng thành phần kinh tế hộ gia đình chiếm 20% tổng diện tích rừng cả nước.

Gia tăng diện tích và chất lượng

Báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp cho thấy diễn biến diện tích rừng có chuyển biến tích cực kể từ khi thực hiện giao đất, giao rừng. Cụ thể là trước năm 1986, diện tích và độ che phủ rừng có xu hướng giảm và giảm mạnh nhất là giai đoạn 1976-1985 gần 2 triệu ha rừng tự nhiên. Đến năm 1990 độ che phủ rừng trên toàn quốc chỉ đạt 28%.

Việt Nam đã và đang thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp và các chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững. Tổng diện tích đất có rừng trên 14,6 triệu ha, tỷ lệ che phủ 41,89%.

Nhưng kể từ khi thực thi đồng bộ các chính sách bảo vệ, phát triển rừng, độ che phủ của rừng ở Việt Nam được cải thiện rõ rệt. Đến năm 2017 tổng diện tích rừng lên tới trên 14,4 triệu ha, độ che phủ đạt 41,45%; hiện tại trên 14,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên gần 10,3 triệu ha, rừng trồng trên 4,3 triệu ha.

Lực lượng kiểm lâm phối hợp với Ban Quản lý rừng và Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, triển khai công tác đi tuần tra bảo vệ rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện quản lý. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Lực lượng kiểm lâm phối hợp với Ban Quản lý rừng và Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, triển khai công tác đi tuần tra bảo vệ rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện quản lý. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Việt Nam trở thành một trong những quốc gia trong khu vực có diện tích rừng ngày càng tăng, trong đó tăng mạnh nhất là diện tích rừng trồng.

Cùng với việc gia tăng diện tích rừng, chất lượng rừng cũng được duy trì, bảo tồn tốt hơn. Kiểm kê tổng trữ lượng gỗ năm 2016 tăng so với thời kỳ kiểm kê trước 370 triệu m3. Trong đó Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc Bộ có trữ lượng chiếm gần 87%.

Những khu rừng đặc dụng và phòng hộ được quy hoạch và quản lý hiệu quả đã giúp duy trì đa dạng sinh học, đảm bảo chức năng phòng hộ, nhất là ở thượng nguồn các lưu vực sông, suối.

Tuy vậy, trong giai đoạn tới, để phát huy được hiệu quả to lớn hơn nữa của công cụ giao đất, giao rừng, đòi hỏi ngành lâm nghiệp phải có những giải pháp mang tính tổng thể, đột phá và bền vững.

Đó là hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân. Theo đó, thiết lập lâm phận quốc gia ổn định lâu dài và cắm mốc ranh giới trên thực địa đảm bảo ổn định lâm phận.

Mặt khác, ngành lâm nghiệp cần hỗ trợ phát triển các mô hình kinh tế, trong đó chủ trọng mô hình nông-lâm kết hợp đa sản phẩm; gắn sản xuất với bảo vệ môi trường sinh thái tăng thu nhập cho chủ rừng; ưu tiên thực thi bảo hiểm lâm nghiệp và chứng chỉ rừng, giao đất, giao rừng gia tăng diện tích rừng sản xuất. Coi các hộ gia đình là một mắc xích quan trọng hình thành nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ./.

Gia đình ông Nguyễn Văn Tý (phải), thôn Châu Sơn, xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trồng 3ha rừng theo tiêu chuẩn FSC với thu nhập đạt 80 triệu/năm. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)
Gia đình ông Nguyễn Văn Tý (phải), thôn Châu Sơn, xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trồng 3ha rừng theo tiêu chuẩn FSC với thu nhập đạt 80 triệu/năm. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)

Bảo tồn và phát triển vốn rừng

Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là gói giải pháp kinh tế-kỹ thuật-tổ chức để phát triển kinh tế lâm nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tính đến thời điểm đầu năm 2019, Việt Nam đã có 235.000ha rừng được cấp chứng chỉ từ Hội đồng quản trị rừng thế giới đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững.

Từ năm 1998, Việt Nam đã tham gia vào quá trình quản lý rừng bền vững. Cho đến nay, Viện Nghiên cứu quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng (SFMI) hoạt động theo quy chế thành viên Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC), được coi là “Sáng kiến quốc gia” của Việt Nam.

Những lợi ích thiết thực

Theo Giáo sư tiến sỹ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, mục tiêu chính của phát triển bền vững đối vơi lĩnh vực lâm nghiệp Việt Nam là môi trường-kinh tế-xã hội cho hiện nay và tương lai ở mức độ cao nhất, trên cơ sở bảo tồn và phát triển vốn rừng.

Người dân xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) chuẩn bị cấy giống cho vụ trồng rừng năm 2020. (Ảnh: Quang Đán/TTXVN)
Người dân xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) chuẩn bị cấy giống cho vụ trồng rừng năm 2020. (Ảnh: Quang Đán/TTXVN)

Có 5 lợi ích phổ biến của quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng. Đó là đáp ứng nhu cầu khách hàng; tạo cơ hội tiếp cận tốt thị trường; mang lại lợi thế so sánh cạnh tranh; là biện pháp thực thi cam kết có trách nhiệm đối với tài nguyên rừng; biện pháp thực hiện chính sách phát triển bền vững.

Điều đó cho thấy quản lý bền vững có ý nghĩa quan trọng phát triển kinh tế, vừa là để ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua thực thi cam kết có trách nhiệm đối với chính sách tài nguyên và phát triển bền vững.

Hội đồng quản trị rừng thế giới đã có quy trình chứng chỉ rừng đạt quản lý bền vững theo nhóm các hộ gia đình của từng xã, từng huyện có cơ hội tham gia phong trào quản lý rừng bền vững. Hình thức này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, vì thực tế đa số rừng trồng sản xuất được giao quyền sử dụng cho các hộ gia đình ở quy mô phân tán từ 0,2 đến 30ha, hộ nhiều nhất 100ha.

Nhờ đó chỉ tính đến năm 2017, diện tích rừng trồng có khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu hàng năm ở Việt Nam là 4,1 triệu ha, chiếm gần 98% tổng diện tích rừng trồng.

Lực lượng liên ngành tổ chức tuần tra bảo vệ rừng thông nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia Tà Đùng, xã Đắk Som, huyện Đắk GLong, tỉnh Đắk Nông. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Lực lượng liên ngành tổ chức tuần tra bảo vệ rừng thông nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia Tà Đùng, xã Đắk Som, huyện Đắk GLong, tỉnh Đắk Nông. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Phần lớn diện tích này được giao cho các hộ gia đình quản lý và sử dụng, trong đó rừng trồng tập trung khoảng 1,5 triệu ha được giao cho khoảng 1,5 triệu hộ gia đình là đối tượng rất cần thực hiện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.

Tính đến thời điểm đầu năm 2019, Việt Nam đã có 235.000ha rừng được cấp chứng chỉ từ Hội đồng quản trị rừng thế giới đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững.

Các mô hình liên kết hộ gia đình trồng rừng đã và đang diễn ra tại một số địa phương có diện tích và sản lượng gỗ rừng trồng trọng điểm như Yên Bái, Tuyên Quang, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Ninh Thuận, Bình Thuận.

Thực tiễn ở Quảng Trị

Quảng Trị là một trong những tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, thường xuyên bị ảnh hưởng của bão, lụt, sạt lở đất, hạn hán…Trong bối cảnh của biến đổi khí hậu nên tầng suất thiên tai xảy ra ngày càng cao hơn và gây hậu quả rất lớn.

Người dân tộc thiểu số tại huyện Kông Chro ký cam kết phòng cháy chữa cháy và đăng ký trồng rừng. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)
Người dân tộc thiểu số tại huyện Kông Chro ký cam kết phòng cháy chữa cháy và đăng ký trồng rừng. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Với sự nỗ lực của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế KFW2, WF và IKEA và quyết tâm của các hộ gia đình, Hợp tác xã trồng rừng, quan trọng nhất là có sự tham gia dẫn dắt tiếp cận thị trường của Doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm gỗ IKEA, thông qua doanh nghiệp thương mại và chế biến gỗ trong nước, Quảng Trị đã phát triển liên kết hộ gia đình trồng rừng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững qua 3 giai đoạn.

Giai đoạn 2007-2010: Các cơ quan chức năng của tỉnh vận động các hộ gia đình tham gia, đồng thời tổ chức tập huấn nâng cao năng lực thực hiện cho các thành viên và quản lý tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí chứng chỉ Hội đồng quản trị rừng; triển khai xây dựng mô hình thí điểm cấp chứng chỉ cho nhóm hộ gia đình trồng rừng; hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật theo quy trình trồng rừng có chứng chỉ. Kết quả bước đầu là nhóm hộ đầu tiên tại huyện Gio Linh và Vĩnh Linh được cấp chứng chỉ Hội đồng quản trị rừng thế giới với quy mô 316 ha của 118 hộ gia đình.

Giai đoạn 2011-2015: Từng bước hoàn thiện hệ thống tổ chức của các nhóm hộ trồng rừng có chứng chỉ. Qua đó thành lập Hội các nhóm hộ có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và chịu sự quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Quy chế hoạt động, quy chế tài chính của Hội được UBND tỉnh phê duyệt và ban hành.

Lực lượng kiểm lâm phối hợp với Ban Quản lý rừng và Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, triển khai công tác đi tuần tra bảo vệ rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện quản lý. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Lực lượng kiểm lâm phối hợp với Ban Quản lý rừng và Công ty Lâm nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, triển khai công tác đi tuần tra bảo vệ rừng nguyên sinh trên địa bàn huyện quản lý. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Đồng thời vận động doanh nghiệp thương mại và chế biến gỗ tham gia và hỗ trợ 100% chi phí đánh giá đầu kỳ, chi phí đánh giá hàng năm giai đoạn 2016-2020 cho diện tích rừng đủ tiêu chuẩn cấp chứng chỉ.

Quy mô diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ tính đến năm 2015 đạt trên 1.392ha của 526 hộ.

Gia đoạn 2016-2020: Tỉnh mở rộng sự tham gia của các đối tượng chủ rừng khác như Hợp tác xã lâm nghiệp; mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ lên 3.000ha.

Hội các nhóm hộ sẽ tự vận hành hoạt động và chi trả cho phí dịch vụ đánh giá đầu kỳ và hàng năm để duy trì chứng chỉ bằng quỹ của Hội, được hình thành do khoản đóng góp của hội viên từ mức chênh lệch bán gỗ có chứng chỉ của Hội đồng quản trị rừng.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh quảng Trị, tính đến năm 2017, tổng diện tích rừng trồng sản xuất đạt chứng chỉ của Hội đồng quản trị rừng trên địa bàn trên 22.000ha, trong đó Hội các nhóm hộ có chứng chỉ gần 1.900ha.

Kết quả sản xuất của ngành nông-lâm nghiệp đóng góp 22,7% tổng giá trị cơ cấu kinh tế của tỉnh. Rừng trồng keo và bạch đàn là loại cây trồng phổ biến, cung cấp trung bình mỗi năm 400.000n3 gỗ nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ./.

Công nhân Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, xã Vĩnh Hoàn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định khai thác rừng trồng. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Công nhân Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, xã Vĩnh Hoàn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định khai thác rừng trồng. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Bảo tồn voi ở Tây Nguyên

Từ thông tin tập hợp qua báo chí, cổng thông tin các Bộ, ngành, các địa phương trong 5 năm trở lại đây, từ kết quả khảo sát qua các chuyến đi thực địa và phỏng vấn chuyên gia, nhóm biên soạn gồm các tác giả Dương Văn Thọ, Nguyễn Thúy Hằng, Hoàng Văn Chiên thuộc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) đã công bố ấn phẩm “Voi Tây Nguyên: Quần thể suy giảm đe dọa sự tồn vong.”

Ấn phẩm nêu lên thực trạng bảo tồn voi nơi “đại ngàn” đồng thời đưa ra các khuyến nghị với mong muốn góp một phần cải thiện “bức tranh” bảo tồn voi ở Tây Nguyên hiện nay.

Số lượng suy giảm nhanh

Nội dung ấn phẩm nêu rõ voi là loài vật gắn bó với người dân Tây Nguyên từ bao đời, được coi là một trong những biểu tượng văn hóa của vùng đất này.


Từ 1.500-2000 cá thể vào những năm 1990, đến nay số lượng voi hoang dã tại Việt Nam chỉ còn khoảng 124 đến 148 cá thể, phân bố tại 8 tỉnh bao gồm Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắk Lắk, Đắk Nông, Đồng Nai và Bình Phước.

Trước đây Tây Nguyên là nơi có nhiều voi sinh sống, nhưng do tác động của con người trong những năm gần đây, quần thể voi Tây Nguyên ngày càng suy giảm.

Voi nhà tại Đắk Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Voi nhà tại Đắk Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Nếu không có những biện pháp bảo tồn quyết liệt và hữu hiệu hơn, trong thời gian không xa nữa, hình ảnh đàn voi vốn thân thuộc với người Tây Nguyên sẽ chỉ còn trong tiềm thức.

Khu vực Tây Nguyên gồm 5 tỉnh là Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng với tổng diện tích tự nhiên 54.641km2, dân số 5,8 triệu người.

Theo kết quả công bố hiện trạng rừng năm 2018, tổng diện tích có rừng của các tỉnh Tây Nguyên là 2.557.322 ha, tỷ lệ che phủ rừng toàn vùng đạt 46%.

Tây nguyên là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao của Việt Nam. Khu vực này có 6 vườn quốc gia, 5 khu bảo tồn thiên nhiên, 2 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm nằm trong Sách Đỏ của thế giới và Việt Nam.

Phân loài voi sinh sống tại Việt Nam là voi Châu Á, được xếp vào bậc Nguy cấp trong danh mục sách Đỏ của IUCN, bậc Cực kỳ nguy cấp theo Sách Đỏ Việt Nam và nằm trong Phụ lục I của Công ước CITES.

Voi phục vụ du khách ở Hồ Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Voi phục vụ du khách ở Hồ Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Những năm trước đây voi có vùng phân bố khá rộng từ Lai Châu dọc dãy Trường Sơn tới Bình Phước, Tây Ninh và một số tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ như Bình Thuận, Ninh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu. Song tài liệu điều tra 2001-2002 cho thấy các tỉnh Lai Châu, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Gia Lai, Lâm Đồng và một số nơi khác hầu như không còn, theo Sách Đỏ Việt Nam.

Trong khoảng gần hơn 30 năm trở lại đây, số lượng voi Việt Nam nói chung và voi Tây Nguyên suy giảm nhanh theo từng năm.

Những năm 1990, ước tính số voi hoang dã của Việt Nam còn khoảng 1.500-2000 cá thể.

Hiện chỉ còn khoảng 124 đến 148 cá thể voi hoang dã, phân bố trên 8 tỉnh bao gồm Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắk Lắk, Đắk Nông, Đồng Nai và Bình Phước.

Trong số đó chỉ có 3 khu sinh cảnh còn trên 10 cá thể voi là Vườn quốc gia Pù Mát và vùng phụ cận (tỉnh Nghệ An) còn 13-15 cá thể; Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn và Văn hóa Đồng Nai, Công ty Lâm nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên La Ngà (Đồng Nai) còn 14 cá thể; Vườn quốc gia Yok Đôn (tỉnh Đắk Lắk) còn khoảng 80-100 cá thể.

Số lượng voi hoang dã lớn nhất cả nước là Đắk Lắk hiện có 5 quần thể, trong đó quần thể nhỏ nhất gồm 5-10 cá thể, quần thể lớn nhất có 32-36 cá thể, phân bố chủ yếu ở Vườn quốc gia Yok Đôn.

Voi phục vụ chở du khách tham quan ở Buôn Đôn. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Voi phục vụ chở du khách tham quan ở Buôn Đôn. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Về voi nuôi (voi thuần dưỡng), theo thống kê năm 2018, cả nước có 91 voi nuôi tại 11 tỉnh, thành phố. Trong khi con số này của năm 2000 là 165.

Tỉnh Đắk Lắk, nơi được coi là “thủ phủ” của voi thuần dưỡng, số voi cũng giảm mạnh. Cụ thể, trong thời gian 1979-1980 Đắk Lắk có 502 con voi thuần dưỡng; năm 1990 có 299 con; năm 1997 còn 169 con và năm 2000 chỉ còn 138 con, giảm 364 con trong vòng 20 năm (từ 1980-2000).

Đến năm 2018, con số voi nuôi của Đắk Lắk giảm gần 100 cá thể so với năm 2000, chỉ còn 45.

Môi trường sống bị thu hẹp

Theo các chuyên gia, để bảo tồn voi hoang dã, vấn đề sống còn là duy trì sinh cảnh của chúng. Nhưng những cánh rừng già nguyên sinh, sinh cảnh cố hữu của voi đã và đang bị khai thác tràn lan, ngày càng suy giảm về diện tích, suy thoái về chất lượng hoặc bị xâm lấn bởi hoạt động của con người.

Theo kết quả kiểm kê rừng của Tổng cục Lâm nghiệp, trong 7 năm (từ năm 2008-2014) diện tích rừng tự nhiên tại Tây Nguyên mất hơn 358.700ha, tương đương mỗi năm mất hơn 51.200ha rừng.

Hiện tượng phá rừng trái phép khiến nơi cư trú của voi ở tỉnh Đắk Lắk đang dần bị thu hẹp. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam/Vietnam+)
Hiện tượng phá rừng trái phép khiến nơi cư trú của voi ở tỉnh Đắk Lắk đang dần bị thu hẹp. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam/Vietnam+)

Một số dự án thủy điện khi đi vào hoạt động cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đàn voi hoang dã.

Số liệu của Sở Công thương Đắk Lắk cho thấy, sông Sêrêpôk có 6 con đập lớn tạo hồ chứa cho các nhà máy thủy điện chắn ngang dòng là Buôn Tuôr Sar, Buôn Kuôp, Hòa Phú, Đray H’ling, Sêrêpôk 3, Sêrêpôk 4. Riêng thủy điện Sêrêpôk 4A lấy nước từ dòng chính Sêrêpôk dẫn sang kênh tạo cao trình trước khi đổ xuống tuabin nhà máy, rồi chảy theo kênh đào 4km nữa trước khi trả lại sông.

Theo các chuyên gia, để bảo tồn voi hoang dã, vấn đề sống còn là duy trì sinh cảnh của chúng, nhưng những cánh rừng già nguyên sinh, sinh cảnh cố hữu của voi đã và đang bị khai thác tràn lan, ngày càng suy giảm về diện tích, suy thoái về chất lượng.

Đoạn sông cong bị mất dòng do thủy điện S4A dài khoảng 20km, vốn là một phần ranh giới tự nhiên của Vườn Quốc gia Yok Đôn. Các thủy điện trên sông Sêrêpôk làm thay đổi dòng chảy, kéo theo sự thay đổi sinh cảnh ven sông, thu hẹp không gian sinh tồn của loài voi và ảnh hưởng đến các “hố nước” vốn rất quan trọng với tập tính sinh tồn của loài voi, nhất là vào mùa khô.

Việc voi bị mất sinh cảnh, nguồn thức ăn và hành lang di chuyển làm nảy sinh những xung đột nghiêm trọng, thậm chí nguy hiểm giữa voi và con người.

Với tập tính di chuyển rộng, voi đi qua các vùng trồng trọt, phá hoa màu, phá lán trại gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân.

Các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng cũng chịu thiệt hại do voi, theo thói quen, vẫn tiếp tục di chuyển qua những nơi từng là hành lang di chuyển của chúng.

Cá thể voi rừng ngà lệch kéo về phá nương rẫy, nhà của người dân. (Nguồn: TTXVN)
Cá thể voi rừng ngà lệch kéo về phá nương rẫy, nhà của người dân. (Nguồn: TTXVN)

Vì vậy những năm gần đây, ở Tây Nguyên thường xuất hiện tình trạng voi hoang dã bỏ rừng kéo về phá nương rẫy để kiếm ăn, gây nguy hại đến tài sản và tính mạng của con người.

Điển hình như năm 2013, đàn voi rừng khoảng 17 cá thể đã kéo về cách trung tâm huyện Ea Súp 5km gây rối. Tại xã Ea H’Lê, huyện Ea H’leo, trước năm 2012, voi rừng thường xuyên về phá hoại hoa màu của người dân.

Nhưng thời gian gần đây không còn thấy voi xuất hiện, nguyên nhân là do khu vực này đã được nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp. Các công ty này đã tiến hành khai hoang rừng làm nhiễu loạn sinh cảnh khiến voi bỏ đi nơi khác.

Từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2018, voi đã làm thiệt hại khoảng 100ha cây trồng các loại cũng như một số chòi rẫy, công cụ, dụng cụ sản xuất nông nghiệp của nhân dân và doanh nghiệp trên địa bàn.

Voi rừng tấn công làm chết 1 voi nhà và làm bị thương nhiều voi nhà thả kiếm ăn trong rừng. Từ năm 2011 đến 2016, voi làm chết 1 người dân huyện Ea Hleo và 1 người dân huyện Ea Súp, làm bị thương một người dân huyện Ea Súp.

Bảo tồn chưa hiệu quả

Bảo tồn voi là vấn đề được Việt Nam quan tâm, thể hiện qua các chương trình, đề án, kế hoạch hành động bảo tồn voi từ rất sớm. Những nỗ lực này được đánh giá là vẫn chưa đủ để ngăn đà suy giảm của quần thể voi.

Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk và đại diện Tổ chức Động vật Châu Á tại Việt Nam ký kết thỏa thuận bảo tồn voi ở Đắk Lắk giai đoạn 2019-2021 ngày 11/1/2019. (Ảnh: Phạm Cường/TTXVN)
Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk và đại diện Tổ chức Động vật Châu Á tại Việt Nam ký kết thỏa thuận bảo tồn voi ở Đắk Lắk giai đoạn 2019-2021 ngày 11/1/2019. (Ảnh: Phạm Cường/TTXVN)

Từ những năm 90, theo Quyết định số 1204 ngày 16/7/1996 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chương trình hành động bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 1996-1998 đã được thực hiện.

Theo đó, mục tiêu của chương trình là bảo tồn voi tại các vùng trọng điểm tỉnh Đắk Lắk thông qua các hoạt động như rà soát lại hệ thống rừng đặc dụng, xây dựng mới các khu bảo tồn thiên nhiên, tăng cường đầu tư, trợ giúp kỹ thuật để đảm bảo an toàn cho nơi sống của voi; xây dựng, bổ sung những quy định pháp luật nhằm ngăn chặn việc săn bắt, mua bán động vật hoang dã và các sản phẩm liên quan; chỉ đạo các địa phương giải quyết cụ thể những vụ xung đột voi với người; tuyên truyền bảo tồn voi trên phương tiện thông tin đại chúng…

Nối tiếp là Kế hoạch hành động khẩn trương bảo tồn voi đến năm 2010 theo Quyết định số 733 ngày 16/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ.

Sau 5 năm triển khai thực hiện, Kế hoạch này cũng thu được một số kết quả, trong đó có việc xây dựng hoàn thiện Dự án bảo tồn voi tại các tỉnh có số lượng quần thể voi lớn nhất là Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An; đồng thời thành lập Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk nhằm hỗ trợ công tác chăm sóc, hỗ trợ sinh sản cho đàn voi.

Voi phục vụ chở du khách tham quan ở Vườn Quốc gia Yok Don. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Voi phục vụ chở du khách tham quan ở Vườn Quốc gia Yok Don. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Tiếp đến năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 940 ngày 29/7/2012 về Phê duyệt Kế hoạch hành động khẩn cấp đến năm 2020 để bảo tồn voi ở Việt Nam.

Tháng 5/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013-2020” tại Quyết định số763, với tổng kinh phí khái toán 278 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và các tổ chức, cá nhân nước ngoài tài trợ.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2018, sau 3 năm thực hiện, Đề án đã đạt được một số kết quả như tình trạng săn bắn, giết hại voi giảm; số lượng cá thể voi có tín hiệu phát triển tăng; xung đột voi/người cũng được hạn chế.

Ở cấp địa phương, Đắk Lắk vào cuộc khá sớm, năm 2010, Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt Dự án Bảo tồn voi tại Đắk Lắk giai đoạn 2010-2015 với tổng kinh phí 61 tỷ đồng.

Cơ quan công an đang kiểm tra hiện trường vụ hai cá thể voi hoang dã bị giết chết trong Vườn quốc gia York Đôn vào tháng 8/2013. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam/Vietnam+)
Cơ quan công an đang kiểm tra hiện trường vụ hai cá thể voi hoang dã bị giết chết trong Vườn quốc gia York Đôn vào tháng 8/2013. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam/Vietnam+)

Dự án được triển khai nhằm quản lý bền vững quần thể voi hoang dã, phát triển đàn voi nhà, bảo tồn bản sắc văn hoá bản địa, tuyên truyền giáo dục về môi trường sinh thái.

Đến năm 2013, Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt “Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020” với tổng kinh phí gần 85 tỷ đồng (thay cho Dự án trước đó).

Các chuyên gia cho rằng so với nhiều loài khác, chính sách bảo tồn voi thể hiện rõ cam kết của Nhà nước khi bố trí cả nguồn lực tài chính và con người, nhưng hiệu quả chưa cao vì nhiều nguyên nhân. Trước hết là cho đến nay, các cơ quan bảo tồn vẫn chưa có số liệu chính xác về quần thể voi Tây Nguyên.

Phương pháp thống kê số lượng voi chủ yếu qua quan sát bằng mắt thường hoặc dấu chân và chưa có kinh phí để sử dụng phương pháp phân tích ADN (ước tính trung bình 3000 USD/mẫu).

Thông tin từ Trung tâm Bảo tồn Voi Đắk Lắk và Vườn quốc gia Yok Đôn cho biết, một số trường đại học nước ngoài và một vài tổ chức bảo tồn quốc tế sẵn sàng hỗ trợ tài chính để phân tích AND voi, nhưng kinh phí chỉ đủ cho số lượng mẫu không lớn nên số liệu không thể toàn diện.

Tổ chức Động vật Châu Á và Vườn Quốc gia Yok Đôn ký kết thỏa thuận hỗ trợ chuyển đổi mô hình du lịch voi ngày 13/7/2018. (Ảnh: Phạm Cường/TTXVN)
Tổ chức Động vật Châu Á và Vườn Quốc gia Yok Đôn ký kết thỏa thuận hỗ trợ chuyển đổi mô hình du lịch voi ngày 13/7/2018. (Ảnh: Phạm Cường/TTXVN)

Mặt khác, các chính sách vẫn theo hướng đơn nhất, chưa huy động được sự vào cuộc của chính quyền các cấp từ xã, huyện, tỉnh và đặc biệt của các chủ rừng gồm các công ty lâm nghiệp, ban quản lý các rừng phòng hộ, cộng đồng người dân địa phương.

Người dân ở các khu vực có voi sinh sống thường nghèo, sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, canh tác nông nghiệp trong hoặc gần rừng, khó có thể yêu cầu họ phải có ý thức bảo tồn voi khi chưa có chính sách hỗ trợ sinh kế.

Chẳng hạn như hỗ trợ chuyển đổi cây trồng sang những loài không phải là thức ăn ưa thích của voi.

Việc phối hợp thực thi chính sách giữa các cơ quan quản lý chưa ăn khớp. Từ khi một quyết định chính sách được ban hành cho tới khi có hiệu lực trong thực tế là một quá trình rất dài và cần rất nhiều thủ tục.

Đơn cử là Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk dù được tỉnh chấp thuận cấp kinh phí mua lại một cá thể voi nhà, song phải mất nhiều tháng thì số tiền mới được giải ngân và khi đó chủ sở hữu voi không đồng ý bán vì trượt giá.

Khuyến nghị về các giải pháp

Theo các chuyên gia, để bảo vệ và phát triển quần thể voi Tây Nguyên, giải pháp xét nghiệm mẫu phân để thống kê chi tiết các khu vực có voi, nhằm xác định tương đối chính xác số lượng cá thể, cấu trúc giới tính, cấu trúc tuổi phải được tiến hành.

 Hàng rào điện có chiều dài 50km nhằm ngăn voi rừng vào phá nương rẫy của người dân. (Ảnh: Sỹ Tuyên/TTXVN)
 Hàng rào điện có chiều dài 50km nhằm ngăn voi rừng vào phá nương rẫy của người dân. (Ảnh: Sỹ Tuyên/TTXVN)

Tình trạng sinh cảnh và khả năng bảo tồn tại chỗ của các đàn voi cần được đánh giá. Áp dụng công nghệ hiện đại như đeo vòng cổ gắn chíp điện tử để giám sát di chuyển của voi. Nghiên cứu khả năng thiết lập hành lang sinh cảnh liên kết vùng hoạt động của các đàn voi nhỏ, tính tới khả năng di dời các đàn/cá thể ở những địa phương khác trong nước có quá ít cá thể voi để bổ sung cho các đàn voi ở khu vực trọng điểm là Vườn quốc gia Yok Đôn-Ea Súp.

Nghiên cứu tập tính di chuyển theo mùa, vùng hoạt động, chất lượng sinh cảnh (nơi trú ẩn, trữ lượng thức ăn, nguồn nước, nguồn khoáng, mức độ tác động).


Việc bảo vệ và phát triển quần thể voi Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa bảo tồn một nguồn gene quý, mà còn là gìn giữ biểu tượng văn hóa của vùng đất “đại ngàn.”

Voi là loài di cư nên cần soạn thảo và ký kết cơ chế bảo tồn xuyên biên giới giữa Việt Nam và Campuchia để đảm bảo quản lý hiệu quả hành lang di chuyển của chúng. Đánh giá mức độ xung đột và các nguyên nhân gây ra xung đột giữa voi và người, xây dựng các biện pháp hạn chế xung đột giữa voi và người.

Tổng kết kinh nghiệm giải quyết xung đột giữa voi-người trên thế giới thành tài liệu hướng dẫn tiếng Việt và tuyên truyền cho người dân các khu vực thường xảy ra xung đột để giảm thiểu tối đa số vụ và thiệt hại.

Có thể tính tới biện pháp xây hào, xây dựng hàng rào điện ngăn voi, chuyển đổi sang các giống cây trồng không thu hút voi… để hạn chế xung đột. Đồng thời thúc đẩy công tác tuyên truyền pháp luật để nâng cao ý thức bảo tồn của người dân.

Các chuyên gia siêu âm đánh giá khả năng sinh sản cho voi cái. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Các chuyên gia siêu âm đánh giá khả năng sinh sản cho voi cái. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Sinh cảnh của voi cần được bảo tồn nhằm duy trì và phát triển số lượng cá thể voi hoang dã hiện có tại tỉnh Đắk Lắk. Đặc biệt cần giữ được nguyên vẹn 173.000ha diện tích cư trú, di chuyển, kiếm ăn của quần thể voi này.

Các hành vi săn bắn, giết hại voi trái pháp luật cần phải được ngăn chặn thông qua việc đẩy mạnh thực thi pháp luật, xử lý thích đáng các hành vi săn bắt, buôn bán các sản phẩm và dẫn xuất của voi.

Với đàn voi nhà, cần quy hoạch khu chăn thả, chăm sóc sức khỏe, sinh sản tại huyện Lắk (150ha) và huyện Buôn Đôn (200ha) là 2 huyện duy nhất còn phân bố voi nhà trong tỉnh.

Năng lực cứu hộ, chăm sóc sức khoẻ, hỗ trợ sinh sản phát triển quần thể voi cần phải được tăng cường để giữ gìn voi không chỉ là một nguồn gene quý, mà còn cả một biểu tượng văn hóa của vùng đất “đại ngàn”./.

Voi nhà tại Đắk Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Voi nhà tại Đắk Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Bài toán cân bằng kiểm soát COVID-19

Italy đã bước vào giai đoạn hai của cuộc chiến chống đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 sau khi chính thức nới lỏng lệnh phong tỏa dài nhất và nghiêm ngặt nhất ở châu Âu từ ngày 4/5. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc gia là tâm dịch đầu tiên của châu Âu này vẫn ghi nhận 1.327 ca nhiễm mới virus SARS-CoV-2 trong ngày 8/5, có thể nói Chính phủ Italy đang đối mặt với nhiều sức ép để dần mở cửa nền kinh tế khi vẫn phải “sống chung với virus.”

Việc nới lỏng các quy định giãn cách xã hội đang được Chính phủ Italy triển khai thận trọng, theo từng bước và sẽ thường xuyên được điều chỉnh tùy theo tình hình diễn biến của dịch bệnh, bên cạnh những bước đầu tiên trong chiến lược khôi phục kinh tế sau đại dịch.

Những hoạt động thể dục, thể thao ngoài trời được cho phép nhưng mọi người phải giữ khoảng cách tối thiểu.

Các nhà máy phục vụ xuất khẩu và các công trường xây dựng được phép hoạt động ngay lập tức, với hơn 4 triệu người Italy, chiếm khoảng 20% lực lượng lao động nước này, đi làm trở lại.

Những hoạt động thể dục, thể thao ngoài trời được cho phép nhưng mọi người phải giữ khoảng cách tối thiểu. Những người thân, họ hàng có thể đi thăm nhau mà không còn bị cảnh sát kiểm tra, nhưng hầu hết các quyền tự do đi lại khác vẫn bị hạn chế.

Cửa hàng, bảo tàng và thư viện sẽ được mở cửa từ ngày 18/5, tiệm làm tóc và phòng tập thể dục sẽ trở lại hoạt động từ 1/6. Các quán bar và nhà hàng có thể bán đồ mang đi, nhưng sẽ không thể mở lại hoàn toàn cho đến ngày 1/6. Các trường học sẽ bắt đầu đón học sinh từ tháng 9.

Thủ tướng Italy Giuseppe Conte tuyên bố rằng giai đoạn 2 của lệnh phong tỏa “không nên được coi như tín hiệu cho phép tất cả mọi người được thoải mái đi lại.” Ông nhấn mạnh nếu muốn cuộc sống bình thường trở lại, người dân cần hợp tác, nâng cao ý thức trách nhiệm và chấp hành nghiêm các quy định về giãn cách xã hội.

Người dân di chuyển trên phố ở Milan, Italy ngày 18/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người dân di chuyển trên phố ở Milan, Italy ngày 18/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Việc duy trì giãn cách xã hội được coi là điều kiện tiên quyết để chống dịch COVID-19 tại Italy, khi dịch bệnh cho đến nay đã cướp đi gần 30.000 sinh mạng tại nước này. Mặc dù tương đối lạc quan và vui sướng khi được ra đường hít thở không khí trong lành sau 55 ngày phải thực thi lệnh phong tỏa nghiêm ngặt, người dân Italy vẫn lo lắng về làn sóng lây nhiễm thứ hai.

Một ví dụ về những rủi ro của việc nới lỏng phong tỏa là có tới 14/60 lái xe, bị cảnh sát chặn lại ngẫu nhiên trên một con đường dẫn vào thành phố Naples hôm 4/5, có kết quả xét nghiệm dương tính với virus SARS-CoV-2. Tất cả số ca bệnh này đều không có triệu chứng nhiễm bệnh.

Ông Walter Ricciardi, nhà khoa học tư vấn cho Bộ Y tế  Italy về các biện pháp chống COVID-19, cảnh báo Italy có thể sẽ phải phong tỏa trở lại nếu tỷ lệ nhiễm bệnh có dấu hiệu tăng.

Trong khi đó, tiến sỹ Silvio Brusaferro, Chủ tịch Viện Sức khỏe quốc gia Italy (ISS), cho rằng chìa khóa để kiểm soát dịch là cách ly sớm những người nghi nhiễm và tăng số lượng người được xét nghiệm.

Thủ tướng Conte cũng tuyên bố, trong giai đoạn 2, Italy sẽ thực hiện nhiều xét nghiệm hơn để phát hiện người nhiễm virus SARS-CoV-2. Chính quyền sẽ chuyển 5 triệu bộ xét nghiệm tới các vùng trong cả nước trong hai tháng tới. Ngoài ra, từ này 4/5, khoảng 150.000 xét nghiệm máu sẽ được thực hiện để xác nhận số lượng người Italy đã có kháng thể COVID-19.

Thủ tướng Conte cũng tuyên bố, trong giai đoạn 2, Italy sẽ thực hiện nhiều xét nghiệm hơn để phát hiện người nhiễm virus SARS-CoV-2.

Mặc dù vậy, sức ép vẫn đè nặng đối với Chính phủ Italy, trong bối cảnh trước đó giới lãnh đạo một số địa phương và doanh nghiệp Italy đã lên tiếng chỉ trích Thủ tướng Conte và kêu gọi chính phủ đẩy nhanh tiến trình nới lỏng lệnh phong tỏa.

Italy là quốc gia phương Tây đầu tiên áp lệnh phong tỏa do COVID-19 từ ngày 9/3. Từ hồi đầu tháng Tư, nhiều công ty và các trung tâm nghiên cứu tại Italy đã thúc giục chính phủ cho phép mở cửa lại các cơ sở sản xuất để tránh thảm họa kinh tế.

Ở Italy, dịch bùng phát chủ yếu từ vùng Lombardy và Veneto – khu vực công nghiệp quan trọng nhất đóng góp đến 30% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), gần 50% kim ngạch xuất khẩu hằng năm của Italy. Ít nhất 1,1 triệu doanh nghiệp nhỏ tại Italy đứng trước bờ vực phá sản do ảnh hưởng của COVID-19.

Trong báo cáo kinh tế hằng tháng công bố ngày 7/5, Viện Thống kê quốc gia Italy nhấn mạnh rằng dịch COVID-19 có ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế nước này. Số liệu GDP sơ bộ quý I/2020 cho thấy hoạt động kinh tế giảm 4,7%  so với cùng kỳ năm trước.

Nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện ở Bologna, Italy, ngày 9/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện ở Bologna, Italy, ngày 9/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Trong tháng 3/2020, các biện pháp phòng chống dịch COVID-19 tại Italy và các đối tác thương mại chính đã tác động tiêu cực đến ngoại thương của nước này, với kim ngạch xuất khẩu sang các nước không phải thành viên Liên minh châu Âu (EU) giảm 13,9% và kim ngạch nhập khẩu giảm 12,4% so với tháng 2.

Kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu về dư luận và thị trường Italy (Demoskopika) cho thấy ngành du lịch Italy đang bị tàn phá với hơn 40.000 doanh nghiệp lữ hành có nguy cơ bị phá sản do sụt giảm doanh thu ít nhất 10 tỷ euro.

Demoskopika dự báo nguy cơ các công ty du lịch phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường việc làm với hơn 184.000 lao động. Trong khi đó, HIS Markit đánh giá hoạt động sản xuất và dịch vụ của Italy trong tháng 4 cũng giảm mạnh, khi chỉ số PMI (chỉ số thu mua) trong cả 2 ngành đã giảm xuống 10,9 điểm, so với 20,02 điểm của tháng 3.

Các dự báo mới của Ủy ban châu Âu (EC) cũng gây lo ngại không kém. Theo EC, nợ công của Italy sẽ tăng lên mức gần 160% GDP trong năm nay. Đây sẽ là mức cao nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ Hai tại Italy.

Thâm hụt ngân sách của Italy dự báo tăng lên mức 11,1% GDP trong năm nay, cao hơn rất nhiều so với mức trần 3% GDP mà EU đề ra, và là mức cao nhất trong EU (dự báo mức trung bình toàn khối là 8,5% GDP). EU cho rằng nền kinh tế Italy suy giảm 9,5% trong năm nay, tương đương với dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trong khi ngân hàng đầu tư Goldman Sachs còn đưa ra mức giảm tới 11,6%.

Chính phủ Italy cũng dự báo rằng nền kinh tế nước này sẽ giảm 8% trong năm nay và đã đưa ra một loạt các biện pháp thúc đẩy kinh tế. Italy là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch COVID-19.

Chính phủ Italy cũng dự báo rằng nền kinh tế nước này sẽ giảm 8% trong năm nay và đã đưa ra một loạt các biện pháp thúc đẩy kinh tế.

Chính phủ Italy thừa nhận việc phong tỏa đất nước nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 cùng với các gói cứu trợ lớn để giúp các hộ gia đình và doanh nghiệp đã gây tổn hại nặng nề cho nền kinh tế Italy, đồng thời sẽ đẩy nợ công và thâm hụt lên mức cao chóng mặt.

Theo tính toán của Chính phủ Italy, thâm hụt ngân sách năm nay tăng lên 10,4% GDP, tăng vọt so với mức thâm hụt dự kiến 2,2% trước khi xảy ra đại dịch và 1,6% vào năm 2019. Nợ công của Italy sẽ tăng lên 155,7% GDP, từ mức dự báo trước khi dịch COVID-19 bùng phát là 135,2% GDP và mức 134,8% được ghi nhận vào năm ngoái.

Thực tế những tác động của đại dịch COVID-19 đang có xu hướng đẩy Italy vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Hơn thế nữa, Italy luôn được coi là mắt xích yếu nhất EU với tỉ lệ nợ công hay tỉ lệ thất nghiệp ở mức cao nhất Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone). Tỷ lệ thất nghiệp của nước này luôn trên 10%, thậm chí con số này ở nhóm những người trẻ lên tới 40%. Nợ công của Italy hiện khoảng 2,4 nghìn tỷ euro, chiếm gần 135% GDP.

Sau hơn 1 thập niên mất mát do cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính 2008-2009, trong khi hầu hết các nền kinh tế châu Âu đã hồi phục thì kinh tế Italy vẫn  trì trệ. GDP hiện tại của Italy đang kém 5% so với năm 2008, điều này cho thấy trong thập niên vừa qua, kinh tế nước này không có bất cứ tăng trưởng nào.

Giới chuyên gia cảnh báo bất kể một cú sốc kinh tế nào ở Italy cũng tác động mạnh tới EU. Hệ thống ngân hàng ở các nước EU nắm giữ gần 450 tỷ euro trong số nợ công của Italy.

Nếu “con tàu” Italy bị chìm và số chứng chỉ nợ công này bị sụt giảm về mặt giá trị, nó sẽ làm chao đảo hệ thống ngân hàng của EU, có thể dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính tương tự năm 2008. Điều này càng khiến bài toán cân bằng kiểm soát COVID-19 và khôi phục kinh tế tại Italy thêm hóc búa.

Cửa hàng tại Rome, Italy, đóng cửa trong bối cảnh dịch COVID-19. (Ảnh: THX/TTXVN)
Cửa hàng tại Rome, Italy, đóng cửa trong bối cảnh dịch COVID-19. (Ảnh: THX/TTXVN)

Presidente Ho Chi Minh

Para cada vietnamita, el Presidente Ho Chi Minh siempre es un brillante símbolo de la moral revolucionaria y sacrificio, quien consagró su vida a la causa revolucionaria del Partido y de la Nación, sirviendo de todo corazón a la Patria y al pueblo.


“Así como un río tiene una fuente, hay agua, si no hay fuente, se seca; el árbol sin raíz, muere. La persona revolucionaria debe tener una moral revolucionaria, sin ella, aunque sea talentosa, no puede liderar al pueblo”. (Presidente Ho Chi Minh).

El Presidente Ho Chi Minh ha legado a las nuevas generaciones una herencia espiritual extremadamente valiosa, que es la era de Ho Chi Minh, el pensamiento, el estilo y especialmente la moral de Ho Chi Minh.

“Sin ética revolucionaria, aunque sea talentosa, no puede liderar al pueblo”

El Presidente Ho Chi Minh, fundador, entrenador y desarrollador del Partido Comunista de Vietnam, enfatizó una vez: “El Partido no es una organización para mandarines o una mina de oro, debe cumplir la tarea de la liberación nacional, hacer que el país sea rico y próspero y que su gente sea feliz”.

Así como un río tiene una fuente, hay agua, si no hay fuente, se seca; el árbol sin raíz, muere. La persona revolucionaria debe tener una moral revolucionaria, sin ella, aunque sea talentosa, no puede liderar al pueblo.” (2)

El presidente Ho Chi Minh se reúne con el Comité Permanente del Comité Central del Partido Comunista para elaborar planes de los ataques estratégicos Invierno-Primavera 1953-1954 y la Campaña de Dien Bien Phu, en la comuna de Phu Dinh, distrito de Dinh Hoa, provincia de Thai Nguyen, a finales de 1953. (Foto: Archivo/VNA)

El presidente Ho Chi Minh se reúne con el Comité Permanente del Comité Central del Partido Comunista para elaborar planes de los ataques estratégicos Invierno-Primavera 1953-1954 y la Campaña de Dien Bien Phu, en la comuna de Phu Dinh, distrito de Dinh Hoa, provincia de Thai Nguyen, a finales de 1953. (Foto: Archivo/VNA)

Para cumplir esta tarea, los revolucionarios en general, y los cuadros, funcionarios y militantes en particular deben hacer esfuerzos constantes y fortalecer la ética revolucionaria, la cual, según el pensamiento de Ho Chi Minh, se caracteriza por la fidelidad absoluta con el país y el pueblo, el amor hacia la persona, la imparcialidad, y el internacionalismo puro. En general, la ética revolucionaria es un compromiso de por vida para luchar por el Partido y por la revolución. Deben poner los intereses del Partido y los trabajadores por delante de sus propios intereses, servir al pueblo con todo el corazón, aprender el marxismo-leninismo, utilizar la autocrítica y la crítica para mejorar sus ideas. (3)

Desde los días de preparación política, ideológica y organizativa para el nacimiento del Partido Comunista de Vietnam, el presidente Ho Chi Minh dejó en claro los requisitos sobre las cualidades morales y la competencia de los cuadros revolucionarios, incluidos los 23 mandamientos. Ho Chi Minh pidió a los revolucionarios que sepan corregir sus errores, estudiar constantemente, sin arrogancia, cumplir lo que se promete, sacrificarse, mantener firme la ideología, ser valiente y obedecer al colectivo.” (4)

El presidente Ho Chi Minh en la Plaza Ba Dinh en 2 de septiembre de 1945 (Fuente: VNA)

El presidente Ho Chi Minh en la Plaza Ba Dinh en 2 de septiembre de 1945 (Fuente: VNA)

Junto con la moral, los revolucionarios deben tener talento porque, según el presidente Ho Chi Minh, tener virtud sin talento es inútil. Por lo tanto, los funcionarios y militantes deben cultivar las habilidades profesionales, entrenarse y mejorar sus destrezas para reunirse y atraer a las masas, cumpliendo con éxito las tareas asignadas.

El Tío Ho – Ejemplo brillante de la ética revolucionaria

Para el pueblo vietnamita, el presidente Ho Chi Minh siempre es un brillante símbolo de la moral revolucionaria y sacrificio, quien consagró su vida a la causa revolucionaria del Partido y de la Nación, sirviendo de todo corazón a la Patria y al pueblo.

El Presidente Ho Chi Minh en su viaje a Viet Bac (1951) (Foto: Archivo/VNA)

El Presidente Ho Chi Minh en su viaje a Viet Bac (1951) (Foto: Archivo/VNA)

Nacido y criado cuando el país era invadido y las personas sufrían miseria, el joven Nguyen Tat Thanh, de 21 años, decidió salir a buscar una manera de salvar al país. Tras treinta años de viajes por el extranjero, llenos de dificultades, siempre persistía en lograr un objetivo noble: “Libertad para mi pueblo, independencia para mi país, eso es todo lo que deseo y todo lo que hago.” (5)

Después de regresar a la Patria y establecer el Partido Comunista de Vietnam, con pautas sabias y decisiones oportunas y creativas, el Presidente Ho Chi Minh y el Partido lideraron la revolución vietnamita a superar numerosas dificultades, construir organizaciones y fuerzas, y realizar con éxito la Revolución de Agosto. Y durante las décadas posteriores, hasta que cerró sus ojos, el Presidente Ho Chi Minh dedicó su vida a luchar por la independencia, la reunificación nacional, brindando libertad y felicidad a la gente.

El Presidente Ho Chi Minh en su viaje a Viet Bac (1951) (Foto: Archivo/VNA)

El Presidente Ho Chi Minh en su viaje a Viet Bac (1951) (Foto: Archivo/VNA)

No solo se dedicó a la causa de la liberación nacional, el presidente Ho Chi Minh también hizo sus mejores esfuerzos en la lucha de la humanidad progresista por la conciencia y la dignidad humana. Por tal motivo, no solo el pueblo vietnamita, sino también la gente del mundo, le ama y siente por él respeto y buenos sentimientos.

Practicando la moral revolucionaria según el pensamiento de Ho Chi Minh

Imbuidos con el pensamiento de Ho Chi Minh sobre la moral revolucionaria, durante más de 90 años de construcción y desarrollo del Partido, la mayoría de los cuadros y militantes promovieron esta virtud.

El Presidente Ho Chi Minh visita a agricultores de la provincia de Bac Can en 1950. (Foto: Archivo/VNA)

El Presidente Ho Chi Minh visita a agricultores de la provincia de Bac Can en 1950. (Foto: Archivo/VNA)

La mayoría de los cuadros y militantes siempre cultivan y mantienen la ética revolucionaria, el patriotismo y los estilos de vida limpios. Son firmes ante las agitaciones nacional y mundial, y pioneros en el proceso de renovación y el cumplimiento de las tareas asignadas.


El Presidente Ho Chi Minh es un ejemplo brillante de ética revolucionaria a seguir por todos los cuadros, militantes y personas

En particular, muchos funcionarios y militantes que operan en entornos complejos y condiciones difíciles han sido activos, creativos y audaces al pensar, hacer y asumir la responsabilidad ante el pueblo y el Partido, obteniendo una alta eficiencia y el reconocimiento de las masas, al contribuir a mejorar el prestigio y el papel de liderazgo del Partido en nuevas condiciones.

La mayoría de los cuadros y militantes tienen un alto sentido de organización y disciplina, acatan estrictamente las reglas del Partido, las leyes del Estado, las regulaciones locales, las agencias y las unidades.

Sin embargo, todavía hay una parte de cuadros y militantes que no tienen temperatura firme y son tentados por intereses materiales, incumplen su responsabilidad y provocan pérdidas graves a la causa revolucionaria.

Dinh La Thang, expresidente de la Junta Administrativa del Grupo Nacional de Petróleo y Gas de Vietnam, acusado de “violar las regulaciones sobre la inversión en construcción, causando graves consecuencias” y “apropiarse indebidamente los bienes”. (Fuente: VNA)

Dinh La Thang, expresidente de la Junta Administrativa del Grupo Nacional de Petróleo y Gas de Vietnam, acusado de “violar las regulaciones sobre la inversión en construcción, causando graves consecuencias” y “apropiarse indebidamente los bienes”. (Fuente: VNA)

En este contexto, durante los últimos años, se ha impulsado la campaña “estudiar y seguir el pensamiento, la moral y el estilo de Ho Chi Minh” y la implementación de la resolución del cuarto pleno del Comité Central del Partido del XII Congreso sobre el fortalecimiento del Partido y la prevención de las manifestaciones de autoevolución y autotransformación.

Cada cuadro y militante necesita cultivar constantemente la moralidad con acciones específicas en la vida diaria y al realizar sus deberes. Al mismo tiempo, debe ser ejemplo en el trabajo y la vida cotidiana.

En particular, antes del XIII Congreso del Partido, más que nunca, cada cuadro y militante debe esforzarse para merecer ser el líder y un servidor leal del pueblo./.

Президент Хо Ши Мин

Для каждого из нас президент Хо Ши Мин всегда был ярким символом революционной морали и примером того, кто всю свою жизнь посвятил революционному делу Партии и народа, искренне служа Отечеству и людям.

“У каждой реки есть источник воды, а если его нет – река превращается в ручей. У каждого дерева есть свои корни, а дерево без корней – быстро засохнет. Так, и у революционера – должна быть революционная мораль, без которой даже очень талантливый человек не сможет руководить народом”. (Президент Хо Ши Мин)(1) 

Президент Хо Ши Мин оставил нынешнему и будущим поколениям чрезвычайно ценное духовное наследие – хошиминовскую эпоху, хошиминовскую идеологию, хошиминовский стиль, и особенно хошиминовскую мораль.

“Без революционной морали даже очень талантливый человек не cможет руководить народом”

Президент Хо Ши Мин – великий вождь, основавший, обучивший и развивший Коммунистическую партию Вьетнама (КПВ), однажды подчеркнул: “КПВ – это не та организация, которая помогает человеку стать чиновником и богачом. КПВ должна выполнить задачу национального освобождения, сделать страну богатой и процветающей, а ее народ – счастливым”.

“У каждой реки есть источник воды, а если его нет – река превращается в ручей. У каждого дерева есть свои корни, а дерево без корней – быстро засохнет. Так, и у революционера – должна быть революционная мораль, без которой даже очень талантливый человек не сможет руководить народом”. (Президент Хо Ши Мин) (2)

Президент Хо Ши Мин и члены Постоянного комитета ЦК КПВ на совещании решили открыть зимне-весеннюю операцию 1953-1954 гг. и битву при Дьенбьенфу. Община Фудинь, уезда Диньхоа, провинция Тхайнгуен, конец 1953 года. (Фото: из архива/ВИА)

Президент Хо Ши Мин и члены Постоянного комитета ЦК КПВ на совещании решили открыть зимне-весеннюю операцию 1953-1954 гг. и битву при Дьенбьенфу. Община Фудинь, уезда Диньхоа, провинция Тхайнгуен, конец 1953 года. (Фото: из архива/ВИА)

Для выполнения этой задачи, революционеры в целом, коммунисты и члены Партии в частности, должны всегда прилагать усилия и регулярно практиковать революционную мораль, потому что согласно хошиминовской идеи, “революционная мораль может быть обобщена в четырех основных принципах: будь верным Родине и благочестивым по отношению к народу; любить людей; быть трудолюбивым, скромным, честным, благопристойным и обладать беспристрастной волей; чистым интернациональным духом. Другими словами, “Революционная мораль – решительная борьба за Партию и революцию в течение всей жизни. Самое важное – постановка интересов Партии и трудящихся выше своих интересов. Со всей своей волей и всеми силами служить народу. Сражаться за Партию и народ своей страны, забывая о себе. Быть примером во всех делах. Прилагать все свои усилия в изучении и постижении марксизма-ленинизма. Всегда использовать самокритику и критику, чтобы укрепить свои мысли и улучшить качество работы. Быть прогрессивным вместе со своими товарищами”. (3)

С самого начала политической, идеологической и организационной подготовки к созданию Коммунистической партии Вьетнама, президент Хо Ши Мин заявлял, что требуемые высокие моральные качества и способности революционных кадров включают в себя 23 заповеди: “Необходимо требовать от себя трудолюбия и скромности, бескорыстия и мира среди масс; решительного, осторожного, но без стеснения исправления своих ошибок; терпения перед трудностями; тяги к исследованиям и самообразованию; железной и беспристрастной воли; не быть высокомерным и честолюбивым; беспрекословно выполнять поручения руководства; укреплять свою веру; быть готовым к самопожертвованию; уметь хранить секреты.    

2 сентября 1945 года на исторической площади Бадинь президент Хо Ши Мин зачитал Декларацию о независимости, объявив о рождении Демократической Республики Вьетнам. (Фото: из архива/ВИА)

2 сентября 1945 года на исторической площади Бадинь президент Хо Ши Мин зачитал Декларацию о независимости, объявив о рождении Демократической Республики Вьетнам. (Фото: из архива/ВИА)

По отношению к другим быть терпимым; ответственным и серьезным в коллективах, организациях; всегда быть готовым учить других; быть упрямым, однако не безрассудным; уметь наблюдать за другими.

К любой работе нужно относится внимательно и ответственно, быть напористым и смелым, уметь подчинить свою личность коллективной воле”. (4)

Наряду с высокими моральными качествами, президент Хо Ши Мин требовал, чтобы революционеры были талантливыми. По его словам, добродетель без таланта бесполезна. Однако если есть талант, но нет морали, какими бы талантливыми революционеры не были, они все равно не смогут объединить людей и повести их за собой.

Дядя Хо – яркий символ революционной морали

Для вьетнамского народа президент Хо Ши Мин навсегда остался ярким символом революционной морали и примером того, кто всю свою жизнь посвятил революционному делу Партии и народа, искренне служа Отечеству и людям.

Президент Хо Ши Мин посещает инженерный цех в революционной базе Вьетбак (февраль 1951 г.). (Фото: из архива/ВИА)

Президент Хо Ши Мин посещает инженерный цех в революционной базе Вьетбак (февраль 1951 г.). (Фото: из архива/ВИА)

Он родился и вырос во времена, когда его страна находилась под гнетом французских колониалистов, а народ страдал от несчастья. 21-летний молодой человек Нгуен Тат Тхань (имя Хо Ши Мина в молодости) решил поехать за границу, чтобы найти способ спасти свою страну. Он был всегда настойчив и полон решимости преодолеть все трудности, чтобы достичь благородной цели: “Свобода для моего народа и независимость для моей страны – это все, чего я хочу и это все, что я понимаю”. (5)

После возвращения на родину, Хо Ши Мин принял активное и главное участие в основании Коммунистической партии Вьетнама (КПВ). Руководствуясь мудрыми принципами, своевременными и творческими решениями, Хо Ши Мин и КПВ вели вьетнамскую революцию по пути преодоления многочисленных трудности, создавая организацию, собирая силы для успешного проведения исторической Августовской революции 1945 года. В течение всей своей жизни и вплоть до самой смерти, президент Хо Ши Мин посвящал себя и все свои силы борьбе за независимость страны, ее воссоединение, за свободу и счастья вьетнамского народа.

Президент Хо Ши Мин в командировке во Вьетбаке (1951г.). (Фото: из архива/ВИА)

Президент Хо Ши Мин в командировке во Вьетбаке (1951г.). (Фото: из архива/ВИА)

Патриотизм является целью жизни, источником, мотивацией и конечным результатом всех революционных действий вождя Хо Ши Мина, а “трудолюбие, скромность, честность, благопристойность” – его основными качествами, на которых основывалась его личность и привычки.

Трудолюбие президента Хо Ши Мина выражалось в его неустанной и непрерывной работе, учебе и исследованиях в поиске пути спасения своей страны.  

Дядя Хо посещает молодежное подразделение добровольцев в 1951 году. (Фото: из архива/ВИА) 
Дядя Хо посещает молодежное подразделение добровольцев в 1951 году. (Фото: из архива/ВИА) 

Говоря о его скромности, необходимо отметить, что президент Хо Ши Мин, даже будучи лидером целой страны, был типичным примером простоты и сдержанности – простым человеком.

Честность Хо Ши Мина была видна в каждом его слове и действии: он никогда не преследовал личных интересов, а всегда думал и заботился о народе, и его благосостоянии.

Президент Хо Ши Мин был благопристойным и скромным лидером, ко всем относился с уважением, заботой и любовью, особенно беспокоился о благосостоянии народа. Хо Ши Мин всегда ставил интересы народа превыше всего, самоотверженно жертвуя своей собственной жизнью в борьбе за независимость страны и ее свободу.

Практиковать революционную мораль в соответствии с хошиминовской идеологией

За более чем 90-летний период становления и взросления нашей Партии, пропитанный идеями Хо Ши Мина о революционной морали, у большинства коммунистов и членов Партии хорошо развивались революционные качества и мораль.

Большинство чиновников и коммунистов всегда культивируют и бережно хранят революционные качество и мораль, патриотизм, любовь к народу. Они обладают беспристрастной волей и ведут высокоморальный образ жизни.

Президент Хо Ши Мин посещает крестьян в провинции Баккан, которые собирают зимний рис в 1950 году. (Фото: из архива ВИА)

Президент Хо Ши Мин посещает крестьян в провинции Баккан, которые собирают зимний рис в 1950 году. (Фото: из архива ВИА)

Многие руководители и члены Партии, работающие в сложных и тяжелых условиях, всегда показывали себя активными и творческими людьми, отважно брали на себя ответственность перед народом и Партией. Они смело изучали и исследовали множество новых методов работы, добившись высокой эффективности. Они были любимы и почитаемы народом, что способствовало повышению престижа и руководящей роли Партии в новых условиях.


На протяжении всей своей жизни, президент Хо Ши Мин показывал яркий пример революционной морали, трудолюбия, скромности, честности и благопристойности. Он был живым примером для всех коммунистов, членов Партии и народа.

Тем не менее, помимо выдающихся примеров и коммунистов, есть еще часть чиновников и членов Партии, которым не хватает самосовершенствования. Они не воспитывают в себе революционную мораль, поэтому они постепенно деградируют, а их идеологическая позиция теряет стабильность. Такие представители ведут эгоистичный образ жизни, заботясь только о личных интересах, забывают о своем долге перед Партией и народом, и в конечном итоге – оказываются соблазненными материальными благами, и втянутыми в коррупционные правонарушения.        

Подсудимый Динь Ла Тханг, бывший председатель совета директоров Вьетнамской национальной нефтегазовой группы, сказал последнее слово перед апелляционным судом, его осудило за «Умышленное нарушение государственных норм по управлению экономикой, что привело к серьезным последствиям “” и «Хищения имущества” по время работы во нефтегазовой группк (Фото: Зоан Тан / ВИА)

Подсудимый Динь Ла Тханг, бывший председатель совета директоров Вьетнамской национальной нефтегазовой группы, сказал последнее слово перед апелляционным судом, его осудило за «Умышленное нарушение государственных норм по управлению экономикой, что привело к серьезным последствиям “” и «Хищения имущества” по время работы во нефтегазовой группк (Фото: Зоан Тан / ВИА)

Для того чтобы кадры и члены Партии действительно эффективно и практически изучали, и использовали в своей работе революционную мораль, в последние годы среди парткомов всех уровней была усилена работа в соответствии с Распоряжением № 05-CT / TW Политбюро ЦК КПВ XII-го созыва о “Содействии изучению и следованию идеологии, морали и стилю Хо Ши Мина”. Осуществление этого Распоряжения тесно связано с выполнением резолюции 4-го пленума ЦК КПВ XII-го созыва об “Укреплении строительства и корректировки линии Партии; предотвращение и борьба с упадком политической идеологии, морали, образа жизни; предотвращение и отторжение внутрипартийной “самодеградации”.

В каждой первичной партийной организации, укрепление революционной морали проводится в тесной связи с предотвращением и борьбой с упадком политической идеологии, морали, образа жизни; предотвращение и отторжение внутрипартийной “самодеградации”.

Вид на Национальную партийную конференцию по итогам инспекции и надзора 2019 года. (Фото: Фыонг Хоа/ВИА)

Вид на Национальную партийную конференцию по итогам инспекции и надзора 2019 года. (Фото: Фыонг Хоа/ВИА)

Благодаря вышеперечисленным мерам Партия повысила осведомленность и активность каждого коммуниста и члена Партии, поощрила свои позитивные элементы, а негативные – оттолкнула. Первичные партийные организации, таким образом, внесли важный вклад в превращении Партии в действительно чистую и сильную организацию в политическом, идеологическом, организационном и моральном отношениях, в соответствии с духом резолюций XII съезда КПВ.

Каждому коммунисту и члену Партии необходимо постоянно совершенствовать свою нравственность с помощью конкретных действий в повседневной жизни, а также при выполнении своих обязанностей. В то же время каждый чиновник, каждый коммунист и каждый руководитель должен стать достойным примером для подражания во всех сферах своей деятельности, и повседневной жизни.

Сейчас, перед организацией XIII съезда КПВ, наступает важный момент для отбора достойных, высокоморальных и талантливых кадров, которые смогут взять на себя полную ответственность за руководство страной. Поэтому каждый кандидат, каждый коммунист и каждый чиновник по-настоящему должен продемонстрировать свое трудолюбие, скромность, честность и благопристойность, а также должен обладать железной и беспристрастной волей, чтобы “быть достойным руководителем и верным слугой народа”./.

Президент Хо Ши Мин читает политический доклад на Втором всевьетнамском съезде партии, проходившем в революционной базе Вьетбак (февраль 1951 года). (Фото: из архива ВИА)

Президент Хо Ши Мин читает политический доклад на Втором всевьетнамском съезде партии, проходившем в революционной базе Вьетбак (февраль 1951 года). (Фото: из архива ВИА)

Список источников цитат, примененных в статье:

(1), (2) Хо Ши Мин, полное собрание сочинений, Национальное политическое издательство, Ханой, 2011г., том 5, стр. 933, 292-293.

(3) там же, том 11, стр.603.

(4) там же, том 2, стр. 280-281.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Với mỗi chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

“Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Người đã để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó là thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh và đặc biệt là đạo đức Hồ Chí Minh.

“Không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập, rèn luyện và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam từng nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.”

Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.” (2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, quyết định mở Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, cuối năm 1953. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, quyết định mở Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, cuối năm 1953. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Để làm tròn nhiệm vụ đó, người cách mạng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng phải luôn nỗ lực phấn đấu, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, bởi vì: “Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản là: Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Tựu trung lại: “Đạo đức cách mạng là quyết tấm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Marx-Lenin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.” (3)

Ngay từ những ngày chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực của người cán bộ cách mạng, bao gồm 23 điều răn: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể.” (4)

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Sau đó, ở trong những thời điểm khác nhau, Người nói nhiều về các phẩm chất đạo đức, song nhấn mạnh đạo đức cách mạng biểu hiện cụ thể ở những phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng…

Cùng với đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cách mạng phải có tài. Bởi theo Người, có đức mà không có tài thì vô dụng, nhưng nếu có tài mà không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy, người cán bộ, đảng viên cũng không quy tụ, lãnh đạo được nhân dân.

Do đó, đạo đức phải gắn liền với năng lực; với việc trau dồi năng lực chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ… Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự mình rèn luyện đạo đức, hoàn thiện bản thân để quy tụ và hấp dẫn được quần chúng; từ đó, lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Bác Hồ – tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng

Đối với dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xưởng công binh tại căn cứ địa Việt Bắc (2/1951). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xưởng công binh tại căn cứ địa Việt Bắc (2/1951). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước nhà bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, 21 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Ba mươi năm bôn ba nước ngoài với biết bao phong ba, bão táp cũng không ngăn nổi, không làm chùn ý chí của Người. Người luôn bền chí, quyết tâm vượt qua, để hướng tới một mục đích cao cả: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” (5)

Sau khi trở về Tổ quốc, rồi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, với những chủ trương sáng suốt và những quyết sách kịp thời, sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, xây dựng tổ chức, lực lượng và tiến hành thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Và suốt mấy chục năm sau đó, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình để đấu tranh giành độc lập, thống nhất cho đất nước, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác ở Việt Bắc (1951). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác ở Việt Bắc (1951). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Không chỉ cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nỗ lực hết mình trong cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì lương tri và phẩm giá con người, vì hòa bình trên thế giới và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Chính vì vậy mà không chỉ nhân dân Việt Nam kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhân dân thế giới cũng rất yêu quý Người, dành cho Người những tình cảm trân trọng và tốt đẹp.

Nếu như yêu nước thương dân là lẽ sống, là ngọn nguồn, động lực và đích đến của mọi hoạt động cách mạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, thì “cần kiệm liêm chính” lại là những phẩm chất căn bản, cốt lõi tạo nên tính cách, thói quen của Người.

Người đã thực hành triệt để tất cả những quan niệm đạo đức mình đưa ra, thậm chí Người còn làm nhiều hơn, tốt hơn những gì Người nói.

Về “cần,” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lao động, học tập, nghiên cứu không biết mệt mỏi để tìm ra con đường cứu nước; rồi cùng với Đảng lên kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công.

Bác Hồ thăm đơn vị thanh niên xung phong năm 1951. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Bác Hồ thăm đơn vị thanh niên xung phong năm 1951. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Về “kiệm,” Người chính là tấm gương điển hình hiếm có về tính giản dị, thanh bạch. Dù là lãnh tụ của cả một quốc gia, nhưng Người luôn giản dị hết mức, từ ăn, mặc (đôi dép cao su, bộ ka ki màu vàng với đôi giày vải); đến ở (lúc ở chiến khu thì ở chung với cán bộ, nhân viên, về Hà Nội ở nhà của người thợ điện, sau này ở trong nhà sàn đơn sơ với vài vật dụng cá nhân tối cần thiết).

Ngay cả trong công việc Người cũng luôn đề cao tính tiết kiệm, “khi không nên xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu”… Về “liêm,” sự thanh liêm của Người đã được thể hiện rõ nét qua từng lời nói, hành động. Không những không bao giờ có ý nghĩ tư lợi cá nhân, Người còn luôn trăn trở, nghĩ cách làm sao để dân mình có cuộc sống tốt hơn, làm sao để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

Về “chính,” Người luôn khiêm tốn, kính trên nhường dưới, yêu thương, quan tâm đến mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là những người nghèo khổ. Đặc biệt, Người luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trước hết, và đã hy sinh cả cuộc đời để mang lại nền độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân.

Bằng cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về cần, kiệm, liêm, chính cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo.

Rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, trong hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng ta, đại bộ phận cán bộ, đảng viên phát huy được phẩm chất, đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa năm 1950. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa năm 1950. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đa số cán bộ, đảng viên luôn trau dồi và giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, yêu nước, yêu dân, chí công, vô tư, gương mẫu, có lối sống trong sạch, lành mạnh. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên vững vàng trước những biến động trong nước và thế giới, hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Bằng cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, về cần, kiệm, liêm, chính cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo.

Đặc biệt, nhiều cán bộ, đảng viên hoạt động trong các môi trường phức tạp, điều kiện khó khăn đã năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm nhiều cách làm mới, đạt hiệu quả cao, được quần chúng tin yêu, ca ngợi, góp phần nâng cao uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.

Đại bộ phận cán bộ, đảng viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bị cáo Đinh La Thăng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nói lời sau cùng trước khi tòa nghị án để tuyên án trong vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng,” “Tham ô tài sản” xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.(Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN) 
Bị cáo Đinh La Thăng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam nói lời sau cùng trước khi tòa nghị án để tuyên án trong vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng,” “Tham ô tài sản” xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.(Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN) 

Tuy vậy, bên cạnh những cán bộ, đảng viên mẫu mực, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thoái hoá, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng, dao động trước những tác động từ bên ngoài, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, của lợi ích nhóm… nên đã không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân.

Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng, thậm chí gây ra những tổn thất lớn cho sự nghiệp cách mạng.

Để đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần và rèn luyện đạo đức cách mạng hiệu quả, thiết thực, trong những năm qua, cấp ủy các cấp đã và đang triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.”

Quang cảnh Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng năm 2019. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
Quang cảnh Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng năm 2019. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)

Đồng thời ban hành các quy định nhằm rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên, như Quy định 47-QĐ/TW “Về những điều đảng viên không được làm,” Quy định 101-QÐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp,” Quy định 124-QĐ/TW về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên,” Quy định 109-QĐ/TW về “Công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên” và gần đây nhất là Quy định 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.”

Tại mỗi tổ chức cơ sở đảng, bằng cách gắn thực hành đạo đức cách mạng với phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đã nâng cao được nhận thức và hành động cho mỗi cán bộ, đảng viên, phát huy tích cực, đẩy lùi tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu; góp phần quan trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Rèn luyện đạo đức cách mạng là việc phải làm thường xuyên, liên tục, suốt đời; là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống và đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân.

Vì vậy, việc rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi. Quá trình rèn luyện đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong mọi mối quan hệ với tổ chức và cá nhân; và phải được giám sát bởi cấp ủy, bởi nhân dân trên tinh thần: dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tu dưỡng đạo đức bằng những hành động cụ thể trong đời sống hàng ngày và khi thực thi nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường để làm mẫu mực cho quần chúng.

Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, khi chúng ta đang đứng trước thời điểm lựa chọn những người vừa có đức, vừa có tài để đảm nhận những trọng trách lãnh đạo đất nước, hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, tổ chức ở Chiến khu Việt Bắc (2/1951). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, tổ chức ở Chiến khu Việt Bắc (2/1951). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Tài liệu tham khảo:

(1), (2): Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5 tr.293, 292-293

(3): Sđd, t.11, tr.603,

(4): Sđd, t.2, tr.280-281

(5): Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975, tr 5,6.

Nới lỏng giãn cách xã hội

Một tuần với quá nhiều thay đổi, từ quan điểm cảnh báo nới lỏng quá sớm các biện pháp giãn cách xã hội đến việc trở lại cuộc sống gần như ở trạng thái bình thường trên tất cả các lĩnh vực.

Với một loạt quyết định được chính quyền liên bang và các bang thống nhất đưa ra ngày 6/5, Nhà nước Liên bang Đức đã chính thức chuyển sang giai đoạn nới lỏng thứ hai khi đã đi qua giai đoạn đầu tiên của đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Nhìn chung, những quy định còn được “giữ lại” để kiềm chế dịch là giữ khoảng cách và hạn chế tiếp xúc (sẽ được duy trì cho đến ngày 5/6).

Theo lời Thủ tướng Đức Angela Merkel, nước Đức đã đi qua giai đoạn đầu của dịch bệnh, song vẫn cần duy trì việc giữ khoảng cách và hạn chế tiếp xúc, tránh để tỷ lệ lây nhiễm tăng lên.

Nước Đức đã đi qua giai đoạn đầu của dịch bệnh, song vẫn cần duy trì việc giữ khoảng cách và hạn chế tiếp xúc

Trong khi tiếp tục duy trì khoảng cách tiếp xúc tối thiểu 1,5m, quyết định mới đã cho phép các thành viên của 2 hộ gia đình gặp nhau, thay vì quy định một người chỉ được gặp một người ngoài gia đình như trước.

Trong lĩnh vực giáo dục, kinh doanh nhà hàng và khách sạn, các bang được tự quyết kế hoạch nối lại hoạt động, trong khi mọi cửa hàng đều được mở cửa trở lại, không còn bị giới hạn ở diện tích tối đa 800m2 như trước đây.

Giải bóng đá Bundesliga cũng sẽ được phép trở lại từ giữa tháng Năm, song các trận đấu sẽ không có khán giả trên sân. Đây được coi là điều sống còn với nhiều câu lạc bộ đang đứng trước nguy cơ phá sản vì không có thu nhập trong suốt thời gian qua.

Người dân đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Berlin, Đức ngày 27/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người dân đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Berlin, Đức ngày 27/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Một điểm đáng chú ý trong quyết định mới là việc các bang, thay vì chính phủ liên bang, có trách nhiệm phản ứng và hành động trong trường hợp số ca nhiễm mới ở địa phương đó tăng lên. Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ liên bang “đá quả bóng” về phía các bang, chấm dứt nỗ lực lâu nay của liên bang trong công tác điều phối biện pháp ứng phó toàn quốc với đại dịch, đặc biệt sau khi nhiều bang, bất chấp quy định và cảnh báo của chính quyền trung ương, vẫn chọn cách đi riêng.

Sự phân quyền trong nhà nước liên bang đã dẫn tới điều này và cũng là chủ đề gây tranh luận trong cuộc khủng hoảng hiện nay.

Theo quy định đã được thống nhất chung, nếu ở một huyện hoặc thành phố có trên 50 ca nhiễm mới/100.000 dân trong thời gian 7 ngày, thì địa phương đó sẽ phải áp dụng trở lại những biện pháp giãn cách xã hội ngặt nghèo trước đây.

Trước những thành công bước đầu về ngăn ngừa tỷ lệ lây nhiễm, nhiều bang đã hy vọng và thực tế là đã nới lỏng một cách thái quá những hạn chế về giãn cách xã hội.

Mặc dù đã có nhiều cảnh báo về nguy cơ làn sóng lây nhiễm thứ hai, thậm chí là thứ ba với mức độ nguy hiểm hơn nhiều, song ở một góc độ nào đó, nhiều bang đã không thể kìm hãm, chờ đợi thêm.

Người dân mua hàng tại siêu thị ở Jena, Đức ngày 6/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Người dân mua hàng tại siêu thị ở Jena, Đức ngày 6/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)

Một thực tế là do sự đa dạng vùng miền cũng như đặc thù kinh tế-xã hội của từng bang, nhất là khi các bang lại có thực quyền riêng ở một số chính sách, nên việc thực thi một chính sách liên bang trong một thời gian dài là tương đối khó.

Chẳng hạn, các bang vùng Tây Nam nước Đức vốn là khu vực trọng điểm về kinh tế và công nghiệp không thể đóng cửa ngồi nhìn các công ty lần lượt lâm vào phá sản, hay các bang miền Bắc vốn nổi tiếng với tiềm năng du lịch cũng không thể mãi chứng kiến các nhà hàng, khách sạn và bãi biển vắng hoe không một bóng người.

Trong khi đó, Đức đã kiểm soát khá thành công đại dịch cho đến nay, khi tỷ lệ nhiễm mới giảm, số ca tử vong thấp hơn so với nhiều nước khác và các bệnh viện không bị quá tải.

Một phần của thành công xuất phát chính từ người dân, khi họ ban đầu là thờ ơ và đánh giá thấp mức độ nguy hiểm của dịch, nhưng khi tỷ lệ lây nhiễm tăng nhanh chóng, đã thấy lo sợ và dẫn tới có ý thức bảo vệ mình hơn.

Tuy nhiên, khi tỷ lệ lây nhiễm giảm, kết hợp với việc các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, người dân trở nên hưng phấn với tinh thần “thoát” giãn cách xã hội cao hơn, bởi đại đa số người dân hoặc gia đình không bị ảnh hưởng bởi COVID-19, nên dễ dàng có ấn tượng các biện pháp kiềm chế đã được “phóng đại” và nghĩ rằng đã đến lúc trở lại cuộc sống bình thường. Chính điều này làm tăng nguy cơ làn sóng lây nhiễm thứ hai có thể xảy ra.

Thủ tướng Merkel đã nhiều lần cảnh báo điều này, song dường như không được các bang chú ý, bởi họ chỉ biết một thực tế đến nay là cuộc chiến chống làn sóng lây nhiễm đầu tiên ở Đức đã thành công khi tỷ lệ nhiễm mới trong ngày chỉ trên dưới 1.000 người.

Họ cũng không quan tâm tới một nghiên cứu gây chú ý mới đây về tỷ lệ lây nhiễm thực tế ở thành phố Heinsberg, trong đó cảnh báo số người lây nhiễm có thể cao hơn gấp 10 lần con số thực tế ghi nhận, điều có nghĩa số ca mắc COVID-19 ở Đức có thể lên tới 1,8 triệu ca ở thời điểm hiện nay.

Nếu so sánh với 7 ngày trước, dường như các quyết định được đưa ra khá quyết đoán, chóng vánh và mang nhiều dấu ấn của các bang hơn.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 tại Munich, Đức ngày 27/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 tại Munich, Đức ngày 27/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Ngày 30/4, chính quyền liên bang và các bang nhất trí cho rằng còn quá sớm để đánh giá tác động của các biện pháp nới lỏng giãn cách xã hội lần một và do đó, vẫn chưa thể quyết định liệu có thể nới lỏng hơn nữa hay không. Quyết định 1 tuần trước đã được thay thế bằng một quyết định khác, với quy mô nới lỏng rộng rãi và quan trọng là “trả lại” quyền quyết định cho các bang.

Theo các chuyên gia, quyết định nới lỏng mới này có thể là quá sớm, bởi nếu xảy ra làn sóng lây nhiễm thứ hai thì sẽ không chỉ gây nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng của con người, mà còn gây hậu quả thảm khốc hơn đối với nền kinh tế.

Nhiều chuyên gia cảnh báo về những điểm tương đồng của đợt dịch lần này với dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918.

Thực tế là hiện rất nhiều công ty đang phải nợ nần và gặp khó khăn để tiếp tục duy trì hoạt động, trong khi hơn 10 triệu người đang phải làm việc theo chế độ thời gian ngắn. Nếu làn sóng lây nhiễm thứ hai bùng phát, việc phải đưa ra một quyết định “lockdown” mới có thể dẫn tới một làn sóng phá sản lớn và tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh. Nền kinh tế Đức sẽ không thể phục hồi nhanh chóng từ một kịch bản như vậy.

IMF ước tính làn sóng lây nhiễm thứ hai, nếu xảy ra, có thể làm giảm sản lượng kinh tế ở các nước công nghiệp gần 10% vào cuối năm tới

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính làn sóng lây nhiễm thứ hai, nếu xảy ra, có thể làm giảm sản lượng kinh tế ở các nước công nghiệp gần 10% vào cuối năm tới. Điều này tương đương với thất nghiệp hàng loạt và suy thoái kinh tế. Không ai có thể nói trước về nguy cơ của một kịch bản như vậy, song hầu hết các nhà dịch tễ học đều nhận định nguy cơ đó là có thật và sẽ rất nghiêm trọng. Điều quan trọng lúc này là giảm thiểu rủi ro, bởi chi phí cho một kịch bản như vậy không liên quan đến những lợi ích tiềm năng từ việc nới lỏng nhanh chóng các biện pháp giãn cách xã hội.

Giới chuyên gia cho rằng điều tốt hơn hết là cần “hết sức thận trọng” hơn là “dũng cảm” trong việc đưa ra các quyết định nới lỏng giãn cách xã hội. Nhưng dù sao quyết định cũng đã được đưa ra và chính quyền các bang giờ đây sẽ phải có trách nhiệm hơn với những quyết định tiếp theo./.