Châu Phi và nỗi ám ảnh COVID-19

Với hơn 30.300 ca mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 và khoảng 1.400 ca tử vong tính đến sáng 27/4, châu Phi vẫn được xem là khu vực ít chịu ảnh hưởng nhất của virus SARS-CoV-2.

Hiện ở châu Phi chỉ còn hai quốc gia nhỏ bé là Comoros và Lesotho chưa phát hiện ca nhiễm virus SARS-CoV-2, trong khi Nam Phi cùng 3 nước ở khu vực Bắc Phi như Ai Cập, Maroc và Algeria đang đứng đầu châu lục về số ca mắc và tỷ lệ tử vong do căn bệnh này.

Sự bùng phát của dịch COVID-19 ở châu Phi diễn ra chậm hơn so với các châu lục khác, nhưng không có nghĩa là không nghiêm trọng và vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường.

Nhiều nước châu Phi hiện có số ca mắc COVID-19 không đáng kể và thực sự thấp hơn rất nhiều nếu so với các tâm dịch như Mỹ, các nước châu Âu hay Trung Quốc.

Tuy nhiên, những con số trên không mô tả được hết bức tranh thực tế về nỗi ám ảnh COVID-19 ở “lục địa Đen.” Nói cách khác, sự bùng phát của dịch COVID-19 ở châu Phi diễn ra chậm hơn so với các châu lục khác, nhưng không có nghĩa là không nghiêm trọng và vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã sớm đưa ra cảnh báo rằng hệ thống y tế ở châu Phi không được trang bị đầy đủ để đối phó với virus SARS-CoV-2 gây chết người nếu dịch COVID-19 lan rộng tại đây. Với điều kiện y tế nghèo nàn, lạc hậu và nguồn lực tài chính của châu Phi như hiện nay, dịch COVID-19 được dự báo sẽ còn tiếp tục kéo dài dai dẳng và khó có thể sớm chấm dứt, thậm chí nhiều ý kiến còn cho rằng sau châu Âu và Mỹ, châu Phi sẽ là “điểm nóng” tiếp theo trên bản đồ dịch COVID-19 của thế giới.

Nhân viên y tế lấy mẫu  xét nghiệm COVID-19 tại một trạm xét nghiệm lưu động ở Johannesburg,  Nam Phi, ngày 21/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Nhân viên y tế lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 tại một trạm xét nghiệm lưu động ở Johannesburg, Nam Phi, ngày 21/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)

Có thể hình dung rằng các nước phát triển như Mỹ, Italy, Tây Ban Nha, Pháp… với các hệ thống y tế được xem là hiện đại hàng đầu thế giới, nhưng vẫn đang bị tổn thương sâu sắc và lao đao vì dịch COVID-19. Trong khi đó, châu Phi, vốn là nơi tập trung đa số các nước nghèo hoặc đang phát triển và hằng năm vẫn phải dựa vào nguồn viện trợ nước ngoài, hầu như không có khả năng chống đỡ nếu dịch COVID-19 bùng phát. Chưa kể châu Phi cũng là nơi đi kèm với mạng lưới y tế lạc hậu, phương tiện vệ sinh thiếu thốn.

Hậu quả của một ổ dịch với quy mô tương tự như ở Mỹ và châu Âu, khi xảy ra tại châu Phi, chắc chắn sẽ tàn khốc hơn nhiều. Đơn cử như tại Nigeria – đất nước có khoảng 200 triệu dân, bằng khoảng 2/3 dân số nước Mỹ – nhưng hiện có chưa đến 500 máy thở, so với khoảng 172.000 máy thở của Mỹ. Hay ở thủ đô Mogadishu của Somalia, bệnh viện Martini hiện là cơ sở y tế duy nhất của nước này được dành cho việc điều trị các bệnh nhân mắc COVID-19, trong khi số ca nhiễm mới đang tăng lên từng ngày.

Hậu quả của một ổ dịch với quy mô tương tự như ở Mỹ và châu Âu, khi xảy ra tại châu Phi, chắc chắn sẽ tàn khốc hơn nhiều.

Theo thống kê của Liên hợp quốc, châu lục với 1,3 tỷ dân này hiện cần tới 74 triệu bộ kit xét nghiệm COVID-19 và 30.000 máy thở chỉ trong năm nay để chống dịch. Tuy nhiên, 41 nước ở châu Phi mới chỉ có gần 2.000 máy thở và có tới 10 nước hiện hoàn toàn không có máy thở.

Ngoài ra, nhiều cơ sở y tế ở châu Phi thiếu cả giường bệnh chuyên dụng với các thiết bị dùng cho bệnh nhân mắc COVID-19, cũng như khẩu trang, găng tay, quần áo bảo hộ cho đội ngũ y, bác sỹ… WHO cho biết tỉ lệ giường bệnh ở châu Phi là gần 5 giường/1 triệu người, chênh lệch rất xa so với mức gần 4.000 giường bệnh/1 triệu người ở các nước châu Âu.

Do tình hình dịch bệnh hoành hành, hơn 70 nước trên thế giới đã ban hành các quy định hạn chế xuất khẩu vật tư, thiết bị y tế. Trong khi đó, châu Phi nhập khẩu trên 90% các loại thuốc men và thiết bị y tế. Bên cạnh đó, hiện nhiều nước đã đóng cửa biên giới hoặc tạm dừng hoạt động giao thông đường không. Thực trạng này đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến cho cơ hội tiếp cận và nhập khẩu thiết bị y tế trở nên vô cùng khó khăn, thậm chí đối với nhiều nước châu Phi là “bất khả thi.” Nhiều nước chỉ còn cách trông chờ vào sự giúp đỡ của WHO hay một số tổ chức cứu trợ quốc tế.

Nhân viên y tế phun  thuốc khử trùng để ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 tại một bến xe  ở Mamelodi East, Nam Phi. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Nhân viên y tế phun thuốc khử trùng để ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 tại một bến xe ở Mamelodi East, Nam Phi. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Không chỉ hạ tầng y tế yếu kém, tại các nước nghèo và đang phát triển ở châu Phi, đội ngũ nhân viên y tế cũng thiếu hụt trầm trọng và chưa được đào tạo bài bản.

Tỷ lệ bác sỹ ở châu Phi thuộc hàng thấp nhất thế giới, trung bình 1 bác sỹ/1.000 người dân, trong khi tỉ lệ này của Liên minh châu Âu (EU) là 37 bác sỹ/1.000 người dân. Tại một số nước như Malawi, cứ 100.000 bệnh nhân mới có 2 bác sỹ, Mozambique là 2,6/100.000 bệnh nhân, trong khi theo tiêu chuẩn của WHO, phải có tối thiểu 20 bác sỹ trên 100.000 bệnh nhân.

Tỷ lệ bác sỹ ở châu Phi thuộc hàng thấp nhất thế giới, trung bình 1 bác sỹ/1.000 người dân, trong khi tỉ lệ này của Liên minh châu Âu (EU) là 37 bác sỹ/1.000 người dân.

Đối với châu Phi, tình trạng còn nghiêm trọng hơn nhiều ở những nơi mà giao tranh và xung đột vẫn đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ; những nơi mà tình trạng thiếu thốn lương thực và trẻ em suy dinh dưỡng là “căn bệnh kinh niên;” những nơi quanh năm cần cứu trợ khẩn cấp của quốc tế để ngăn chặn nạn đói; những nơi ngay cả khi không có dại dịch COVID-19 thì cũng vẫn phải chống chọi triền miên với nhiều loại dịch bệnh thông thường khác.

Số người nhiễm HIV tại “lục địa Đen” chiếm hơn 2/3 tổng số gần 38 triệu ca nhiễm trên thế giới, tức là cứ 25 người trưởng thành tại châu Phi thì có một người nhiễm HIV. Hơn 90% số ca mắc và tử vong do sốt rét là ở châu Phi. Mỗi năm, khoảng 2,7 triệu người châu Phi mắc bệnh tả và 95 nghìn người tử vong…

Hơn nữa, có một thực tế là biên giới trên bộ giữa một số nước châu Phi rất mờ nhạt, một số nơi chỉ có điểm thông quan hay cửa khẩu ở những trục đường chính. Điều này có nghĩa là virus SARS-CoV-2 có thể tiếp tục lây lan từ nước này sang nước khác một cách dễ dàng, và khó có thể xác định được nguồn gốc lây nhiễm hoặc khả năng cao nhiều trường hợp bị bỏ sót.

Nhiều khu vực ở châu Phi gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn nước sạch và điều kiện vệ sinh không đảm bảo cũng sẽ khiến những nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 bị hạn chế. Các khu tập trung đông lao động nghèo, các khu ổ chuột chật chội ở châu Phi đang là điểm nóng đáng lo ngại.

Nhân viên cơ quan bầu cử kiểm tra thân nhiệt của cử tri tại điểm bầu cử Quốc hội ở Bamako ngày 19/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Nhân viên cơ quan bầu cử kiểm tra thân nhiệt của cử tri tại điểm bầu cử Quốc hội ở Bamako ngày 19/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)

Đối mặt với một đại dịch có sức tàn phá khủng khiếp như COVID-19, châu Phi sẽ dễ bị tổn thương hơn so với các nước phát triển, không chỉ là những hậu quả về y tế mà còn cả tình trạng mất an ninh, bất ổn xã hội xuất phát từ dịch COVID-19.

Châu Phi vốn đã chứng kiến rất nhiều cuộc xung đột, bạo lực hay dịch bệnh, và sẽ không quá lời khi cho rằng COVID-19 là một nguy cơ thực sự có thể dẫn đến những thảm họa nhân đạo đặc biệt nghiêm trọng, khi xung đột và dịch bệnh xảy ra cùng lúc.

Những người lao động nghèo ở châu Phi đang là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và chịu ảnh hưởng nhiều nhất.

Những bất ổn về kinh tế, tình trạng thất nghiệp tăng cao đột biến do dịch COVID-19 gây ra có thể làm nảy sinh sự thất vọng hay bất mãn trong dân chúng, làm gia tăng nguy cơ bất ổn xã hội, kéo dài các cuộc nội chiến, xung đột sắc tộc và thậm chí có thể dẫn tới các cuộc đảo chính – hiện tượng phổ biến ở nhiều nước châu Phi.

Những người lao động nghèo ở châu Phi đang là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Họ không chỉ có nguy cơ cao bị lây nhiễm bệnh do thiếu khả năng phòng chống COVID-19 mà còn có nguy cơ mất việc làm và thu nhập. Thậm chí, với những đối tượng nghèo cùng cực, mối đe dọa đang thực sự đối mặt là có thể chết vì đói trước khi chết vì bệnh tật, bởi ngay cả khi chưa có COVID-19, khoảng 45 triệu người châu Phi đã phải trông chờ vào viện trợ lương thực khẩn cấp.

Hiện các nước châu Phi đã áp dụng nhiều biện pháp như giãn cách xã hội, hạn chế đi lại hay phong tỏa hoàn toàn. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện giãn cách xã hội và đeo khẩu trang là một khó khăn mang tính đặc thù của châu Phi.

Cảnh vắng vẻ trên đường phố tại Algiers, Algeria ngày 25/3/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Nguồn: THX/TTXVN)
Cảnh vắng vẻ trên đường phố tại Algiers, Algeria ngày 25/3/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Nguồn: THX/TTXVN)

Đối với người lao động nghèo, ở nhà chống dịch là điều gần như không thể thực hiện được khi nó đồng nghĩa với không có thu nhập, không có bữa ăn hằng ngày. Hàng triệu người hằng ngày vẫn phải ra đường để mưu sinh và sử dụng các phương tiện công cộng. Ngoài ra, tại rất nhiều nước châu Phi – nơi công nghệ thông tin chưa phát triển bằng các châu lục khác, đại đa số người lao động vẫn phải đến công sở làm việc chứ không thể làm việc từ xa.

Chiếc khẩu trang – vật dụng tưởng chừng đơn giản và rẻ tiền được giới chức y tế khuyến cáo sử dụng, cũng là thứ xa xỉ và khó kiếm đối với nhiều người lao động nghèo. Có những nơi, giá tiền của một chiếc khẩu trang y tế dùng một lần tương đương, thậm chí còn đắt hơn một bữa ăn.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh châu Phi (ACDC) cảnh báo dịch COVID-19 có thể gây ra cuộc khủng hoảng kép ở châu lục này, bao hàm cả lĩnh vực y tế, kinh tế cũng như an ninh.

Theo ACDC, cộng đồng quốc tế vẫn chưa có hành động đầy đủ như mong đợi để hỗ trợ các quốc gia châu Phi đối phó với mối đe dọa của dịch COVID-19. Điều này được lý giải một phần là do vấn đề hạn chế nguồn lực khi đại dịch “không chừa một ai.”

COVID-19 có thể gây ra cuộc khủng hoảng kép ở châu lục Phi, bao hàm cả lĩnh vực y tế, kinh tế cũng như an ninh.

Trong giai đoạn hiện nay, nguồn ngân quỹ từ WHO, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB) đều phải chia sẻ và phân phối cho rất nhiều nơi bởi COVID-19 đã lây lan tới 210 quốc gia và vùng lãnh thổ.

WHO ước tính nếu không sớm tìm mọi cách ngăn chặn tốc độ lây lan của COVID-19, số ca nhiễm ở châu Phi có thể tăng vọt lên 10 triệu người trong vòng từ 3-6 tháng tới, và ít nhất 300.000 người sẽ tử vong. Thêm hàng chục triệu người sẽ bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực, với những hậu quả thảm khốc kéo dài.

Điều này đòi hỏi những quyết sách mạnh mẽ, hành động nhanh chóng của chính phủ các nước khu vực trước khi quá muộn. Bên cạnh đó, một lần nữa châu Phi lại cần đến sự chung tay hỗ trợ của cộng đồng quốc tế để “lục địa Đen” không bị bỏ lại phía sau trong cuộc chiến chống lại “kẻ thù vô hình” của cả thế giới./.

Một ban nhạc thiếu nhi  tại thủ đô Pretoria cùng biểu ngữ tuyên truyền các biện pháp chống lây  lan dịch COVID-19. (Nguồn: TTXVN/phát)
Một ban nhạc thiếu nhi tại thủ đô Pretoria cùng biểu ngữ tuyên truyền các biện pháp chống lây lan dịch COVID-19. (Nguồn: TTXVN/phát)

Tôi muốn chiến thắng Henkelpott

Sau khi hay tin Thomas Müller gia hạn hợp đồng với FC Bayern đến 2023, hai phóng viên Sportbild là Christian Falk và Jörg Althoff đã xin gặp và phỏng vấn anh.

Bài phỏng vấn được đăng tải trên tạp chí Sportbild số 17/2020 phiên bản toàn châu Âu.

Tôi cảm thấy mình sống động hơn cả một huyền thoại

– Anh Müller, với 521 trận chính thức cho Bayern anh đã vượt Philipp Lahm (517) và Bastian Schweinsteiger (500) trận. Anh đứng thứ 7 trên bảng xếp hạng vĩnh cửu của câu lạc bộ. Với bản hợp đồng mới đến năm 2023 số trận vẫn còn chưa biết sẽ lên đến bao nhiêu nữa. Anh cảm thấy thế nào khi là một huyền thoại còn đang thi đấu cho FC Bayern?

Thomas Müller: Hiện tại tôi cảm thấy mình còn sống động hơn cả một huyền thoại. Nếu nói về kỷ lục số trận, mà tôi hy vọng sẽ thêm nhiều nữa trong 3 năm tới – nhưng với tôi quan trọng nhất vẫn là, cuối cùng chúng tôi sẽ thành công như thế nào…

“Chúng tôi là đội hình Bayern duy nhất đã giành Triple, ba lần có mặt trong trận chung kết Champions League… và vẫn còn đang viết tiếp.”

– Đứng trên anh hiện nay là Franz Beckenbauer với 543 trận. Anh chắc chắn sẽ vượt “Hoàng đế.” Kế tiếp là Schwarzenbeck (547), Augenthaler (549), Gerd Müller (576), Oliver Kahn (632), và người đứng đầu là Sepp Maier (642) – tất cả đều là huyền thoại! Anh có giật mình khi thấy tên anh cũng có ở đó không?

Thomas Müller: Đúng thế, người ta hiện nay vẫn nói rất nhiều về thế hệ những năm 70. Không chỉ họ đã chơi rất nhiều trận mà họ còn thành công khủng khiếp. Với 3 lần chiến thắng C1 liên tiếp họ đã trở thành những huyền thoại.

Tất nhiên, thế hệ chúng tôi cũng có Manu, Basti, Philipp, Franck, Arjen và cả tôi từ năm 2010 cũng ghi được dấu ấn, chúng tôi cũng có một thời kỳ rất thành công. Chúng tôi là đội hình Bayern duy nhất đã giành Triple, ba lần có mặt trong trận chung kết Champions League và tất nhiên còn phải kể đến 7 chức vô địch liên tiếp. Nhưng quan trong nhất đối với tôi là: Thành công này vẫn còn đang viết tiếp. (Nguyên văn Müller nói: viết chưa xong).

– Cuộc săn đuổi kỷ lục có thể gây nguy hiểm cho sự nghiệp của anh. CEO tương lai Oliver Kahn đang đứng thứ 2 và ông ấy là người rất tham vọng. Anh có cam đảm truất ngôi ông ấy không?

Thomas Müller: Tôi còn ít nhất 3 năm, mỗi mùa đá 40 trận. Ok, thôi tính có thể 30 trận đi. Lúc đó vị trí thứ 2 sau Sepp Maier là của tôi – nếu như Olli trước đó không đuổi việc tôi, chuyện mà anh ấy có thể dễ dàng làm ngay bây giờ…(cười lớn)

– Tiền đạo nào là thần tượng của anh hồi anh còn ra bãi tập đá bóng?

Thomas Müller: Tôi có một áo đấu của Giovane Elber. Và một của Ruggiero Rizzitelli, họ cũng là huyền thoại Bayern…(cười)

– Ngoài Oliver Kahn, CEO Karl-Heinz Rummenigge cũng có thể đe dọa đuổi anh. Vì với 195 bàn thắng, anh đang tiến lại gần và gây nguy hiểm cho vị trí thứ 3 của ông ấy với 217 bàn…

Thomas Müller: Cũng may là giữa chúng tôi không bao giờ có chuyện gì. Trong khi ông ấy may mắn vì mấy năm gần đây tôi cũng ít ghi bàn hơn. Kiến tạo thì người ta cũng không mấy để ý. Tất nhiên tôi hy vọng, tôi có thể tăng hiệu suất ghi bàn hơn nữa. Nếu nói một cách tự tin, đây là chuyện có thể, rằng tôi sẽ vượt Karl-Heinz Rummenigge. Tôi đang cố gắng.

– Robert Lewandowski hiện chỉ còn đứng sau Gerd Müller về kỷ lục ghi bàn. Anh thấy vị trí của Lewandowski nên xếp ở đâu trong lịch sử của câu lạc bộ?

Thomas Müller: Nếu xếp vào hàng huyền thoại thì tôi chưa biết xếp Lewy vào đâu, vì Lewy là một đồng đội mà nếu chỉ nói đến việc ghi bàn và hiệu suất trong lịch sử câu lạc bộ thì chỉ sau Gerd Müller. Còn trên cả Karl-Heinz Rummenigge.

Nhưng đối với riêng tôi, huyền thoại Bayern này đã hai lần chiến thắng Champions League, là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu và đã từng vô địch châu Âu – điều đó đã nói lên tất cả. Nếu nói về huyền thoại phải kể đến họ đã có được những danh hiệu gì.

Tôi muốn giành Henkelpott với Bayern thêm một lần nữa

– Người hâm mộ một ngày nào đó sẽ nói gì về Thomas Müller?

Thomas Müller: Thật tuyệt nếu như sau khi tôi giải nghệ họ nói rằng: “Cái thằng Müller này! Hơn 30 rồi mà vẫn chiến thắng Champions League một lần nữa.” Và đó, cũng là đích phấn đấu của tôi. Tôi muốn sau năm 2013 sẽ có thêm một lần nữa được giơ cao Henkelpott với Bayern.

Người ta không thể tham gia thi đấu rồi hy vọng, một ngày nào đó cúp sẽ rơi vào tay mình! Trong 2, 3 năm gần đây mọi chuyện ở Bayern không được suông sẻ để có thể mơ về nó. Nhưng bây giờ tôi thấy, thời điểm đó đã đến, rằng FC Bayern đã có thể nhìn đến những thứ lớn hơn. Chúng tôi muốn mang cúp về.

Thật tuyệt nếu như sau khi tôi giải nghệ họ nói rằng: “Cái thằng Müller này! Hơn 30 rồi mà vẫn chiến thắng Champions League một lần nữa.”

– Anh có thấy lấy làm tiếc không, khi Champions League ngừng thi đấu vì khủng khoảng virus corona. Trong khi cả châu Âu không có một đội bóng nào thi đấu thống trị và ổn định như Bayern?

Thomas Müller: Hiện nay thì đúng là có chút cay đắng, vì chúng tôi lượt về chỉ có một trận hòa còn lại thắng tất cả. Chúng tôi có cảm giác, với lối chơi của chúng tôi kể cả những đối thủ trên đấu trường quốc tế chúng tôi cũng có thể kiếm được cái gì đó! Chưa kể đến, đương kim vô địch Liverpool cũng đã bị loại. Bây giờ thì đành phải chờ xem mọi việc tiếp đến sẽ như thế nào thôi.

– Đội hình hiện tại có đủ chất lượng để chiến thắng Champions League không?

Thomas Müller: Chất lượng này chúng tôi có lâu rồi. Tất nhiên là phải nói đến nhiều mặt. Ví dụ như chấn thương: tôi còn nhớ rất rõ, hai năm đầu với Pep Guardiola chúng tôi có một đội hình tuyệt vời. Nhưng sau đó, tháng Ba, tháng Tư, hai gọng kìm của chúng tôi Arjen Robben và Franck Ribery lại vừa mới hồi phục. Người ta không thể có giải pháp thay thế 100% được.

Top 10 bàn thắng của Müller cho Bayern.

– Anh có sẵn sàng cùng đội bóng bị cách ly để có thể tiếp tục tham gia giải đấu Champions League ở một thành phố nào đó kéo dài 14 ngày như dự kiến của UEFA hay không?

Thomas Müller: Có một chuyện rõ ràng thế này, bóng đá phải chịu ràng buộc bởi những quy định khác hiện nay, mà nó là cần thiết. Chúng tôi không đá bóng cho vui. Người ta không thể quên rằng, bóng đá không những là công việc của chúng tôi mà cả một nghành công nghiệp đang phụ thuộc vào nó, với rất nhiều chỗ làm việc. Nếu đến lúc nào đó, những quy định, luật lệ đã được thống nhất, những cầu thủ chuyên nghiệp chúng tôi sẽ thi đấu. Nếu là cần thiết, kể cả phải cách ly.

– Trên bưu thiếp của anh ký cho fan có cần thêm nhiều danh hiệu Champions League?

Thomas Müller: Cần chứ! Về cảm giác thì là như vậy, rằng người ta thi đấu cũng thống trị ở châu Âu mà thành tích 1, 2 hay 3 năm gần đây như vậy là quá ít. Nếu chỉ tính 2 lần liên tiếp ở Madrid với Ancelotti và sau đó là Jupp Heynckes, chúng tôi chơi hay hơn, một lần bán kết và một lần tứ kết, nhưng không thể đi tiếp. Tôi may mắn vẫn còn 3 năm nữa. Tôi thấy có cơ hội.

– Sẽ lại có một trận chung kết trên sân nhà vào năm 2022. Năm 2012 anh đã mở tỷ số khi gặp Chelsea đưa Bayern trên đường đến với chiến thắng…

Thomas Müller: Nếu chỉ tính riêng trận đó thôi, tôi đã xứng đáng có thêm một chiến thắng. Nhưng thôi, không cần nhắc lại nữa.

– Cơ hội lại đến năm 2022, để có thể chiến thắng Champions League trên sân nhà Munich…

Thomas Müller: Tất nhiên, điều đó lại càng làm chúng tôi cồn cào hơn. Nhưng ở đâu không quan trọng, tôi muốn một lần nữa có cơ hội được mang chiếc cúp đó về.

‘Cầu thủ Bayern không thể chấp nhận được khi nhìn thấy, ai đó không phải chúng tôi đứng đầu trên bảng xếp hạng,” – Thomas Müller.

– Hansi Flick vừa gia hạn đến 2023. Đây là huấn luyện viên cuối cùng của anh ở München?

Thomas Müller: Đây là một tín hiệu tốt cho Bayern, rằng Hansi là huấn luyện viên cuối cùng của tôi. Vì điều đó có nghĩa, đến năm 2023 chúng tôi không có thay đổi huấn luyện viên nữa. Trên một cái nhìn khác, nó cũng có nghĩa là chúng tôi thành công.

– Franck Ribery đã có 9 chức vô địch, anh đang có 8. Thomas Müller đến khi kết thúc hợp đồng vào năm 2023 sẽ có 12 danh hiệu?

Thomas Müller: Tất nhiên đó là mục tiêu của chúng tôi. FC Bayern năm nào cũng muốn vô địch Đức, có ghi cả trong hợp đồng của tôi đấy… (lăn ra ghế cười lớn). Nhưng chính xác là thế này, cầu thủ Bayern không thể chấp nhận được khi nhìn thấy, ai đó không phải chúng tôi đứng đầu trên bảng xếp hạng.

Müller cùng Bayern lên ngôi Champions League vào năm 2013. (Nguồn: Getty Images)
Müller cùng Bayern lên ngôi Champions League vào năm 2013. (Nguồn: Getty Images)

Chúng tôi muốn cạnh tranh, muốn có đối thủ

– Anh có ý kiến gì về lời tuyên chiến của Marco Reus trên Sportbild, rằng Dortmund muốn phá vỡ sự thống trị của Bayern?

Thomas Müller: Quá hợp lý! Nếu với tư cách là đội trưởng của BVB cậu ấy nói khác đi thì thật là không xứng đáng. Chúng tôi muốn cạnh tranh, muốn có đối thủ. Không ai cần phải phất cờ trắng rồi đưa chức vô địch cho chúng tôi.

Đối với chúng tôi, nghe rất đần độn rằng ai đó đang đầu bảng rồi suy yếu và nói rằng: Họ đứng thứ 3 là đủ rồi. Tôi rất muốn nghe những lời tuyên chiến này từ đối thủ. Nó như Súp có thêm gia vị.

– Nếu mùa này ngừng thi đấu, anh sẽ vui vẻ nhận chức vô địch chứ?

Thomas Müller: Một điều quan trọng duy nhất bây giờ là chúng tôi được phép tiếp tục thi đấu. Nếu như không thể tiếp tục thi đấu, thành tích thể thao đối với tôi mới là tất cả. Rằng chúng tôi đứng ở vị trí đầu bảng. Còn việc trong hoàn cảnh đặc biệt này có công nhận chức vô địch hay không, đối với tôi không quan trọng.

“Chúng tôi muốn cạnh tranh, muốn có đối thủ. Không ai cần phải phất cờ trắng rồi đưa chức vô địch cho chúng tôi.”

– Xuất thân từ Bayern, trụ cột, có chân trong hội đồng cầu thủ, đội phó – lúc nào đó anh sẽ là đội trưởng Bayern chứ?

Thomas Müller: Tôi không hy vọng điều đó. Mặc dù tôi luôn muốn chia sẻ trách nhiệm nhưng Manu có thể là đội trưởng của tôi cho đến khi tôi giải nghệ.

– Nếu muốn thế thì Neuer phải gia hạn. Hợp đồng của anh đến năm 2023 còn của Neuer chỉ đến 2021 thôi.

Thomas Müller: Đúng là như vậy. Nhưng nó cũng nói lên rằng, hai bên còn hẳn một năm để có thể lại gần nhau hơn và thống nhất. Ước muốn của tôi là, chuyện gia hạn sẽ có một kết thúc sớm.

– Anh có nghĩ là việc anh gia hạn sớm và quá dễ dàng như vậy với Bayern sẽ gây sức ép cho Neuer không?

Thomas Müller: Cậu ấy có cảm thấy thế không? Tôi cũng có nói chuyện với Manuel về vấn đề này và không có cảm giác rằng, cậu ấy đang bị sức ép khi gia hạn.

Số trận đấu của huyền thoại Bayern

1- Sepp Maier: 642

2- Oliver Kahn: 632

3- Gerd Müller: 576

4- Klaus Augenthaler: 549

5- Georg Schwarzenbeck: 547

6- Franz Beckenbauer: 543

7- Thomas Müller: 521

8- Philipp Lahm: 517

9- Bernd Dürnberger: 504

10- Bastian Schweinsteiger: 500

————————————-

Số bàn thắng của các huyền thoại Bayern

1- Gerd Müller: 515

2- Robert Lewandowski: 230

3- Karl-Heinz Rummenigge: 217

4- Thomas Müller: 195

5- Roland Wohlfarth: 155

6- Rainer Ohlhauser: 152

7- Dieter Höneß: 145

8- Arjen Robben: 144

9- Giovane Elber: 140

10- Claudio Pizarro: 125

Buộc Google và Facebook chia sẻ doanh thu

Sunraysia Daily là một nhật báo khổ nhỏ được phát hành tại khu vực Sunraysia, tây bắc bang Victoria của Australia, kể từ năm 1920. Nhân viên của tờ báo này đang mong mỏi đến dấu mốc kỷ niệm 100 năm ra đời tờ báo vào cuối năm nay, thì đùng một cái vào ngày 24/3 vừa qua, họ được triệu tập họp để nghe hung tin rằng số báo ngày 28/3 sẽ là số báo cuối cùng. Ít ra là cho tới khi có thông báo tiếp theo.

Các giám đốc và quản lý cấp cao thông báo với nhân viên rằng họ sẽ phải từ nhiệm vì công ty ngừng tất cả hoạt động báo in truyền thống tại các thành phố Mildura, Swan Hill và Kerang do tác động kinh tế khủng khiếp của đại dịch COVID-19.

Số phận tương tự cũng ập lên đầu các phóng viên của tờ báo Yarram Standard, đóng tại khu vực Gippsland của bang Victoria và gần đây đã phải đóng cửa sau hơn 120 năm hoạt động. Nhiều nơi khác tại Australia, tập đoàn News Corp đã ngừng bản in của hơn 60 tờ báo địa phương, trong đó có các tờ Manly Daily, Wentworth Courier, Brisbane News và Mornington Peninsula Leader.

Tờ báo Yarram Standard phải đóng cửa sau 120 năm hoạt động. (Nguồn: Gutsofgippsland.com)
Tờ báo Yarram Standard phải đóng cửa sau 120 năm hoạt động. (Nguồn: Gutsofgippsland.com)

Quảng cáo chiếm 70% doanh thu của các tờ báo này, và trong bối cảnh nền kinh tế đình trệ do COVID-19, nguồn thu quảng cáo nhanh chóng bốc hơi, khiến cho ngày càng nhiều chủ báo địa phương phải đắng lòng chấm dứt hoạt động.

Giờ đây, Chính phủ Australia quyết định thực thi các biện pháp nhằm giúp lĩnh vực kinh doanh báo chí tồn tại. Ngày 19/4 vừa qua, Bộ trưởng Tài chính Josh Frydenberg đã chỉ đạo cơ quan giám sát cạnh tranh – Ủy ban Tiêu dùng và Cạnh tranh Australia (ACCC) – xây dựng một bộ quy tắc ứng xử bắt buộc đối với Facebook và Google.

Vốn theo kế hoạch là phải hoàn tất vào tháng 11/2020, bộ quy tắc này yêu cầu các ông lớn quảng cáo digital phải thương lượng thành tâm về cách thức trả tiền cho các cơ quan báo chí để sử dụng nội dung của họ, báo trước cho các cơ quan báo chí về những thay đổi thuật toán có thể ảnh hưởng đến việc xếp hạng nội dung, hỗ trợ nội dung thông tin gốc trong kết quả tìm kiếm và chia sẻ dữ liệu với các cơ quan báo chí. Giờ đây, bộ quy tắc này sẽ phải hoàn tất vào cuối tháng Bảy, và chính phủ tỏ rõ quyết tâm sớm phê duyệt ngay sau đó.

Bộ quy tắc bắt buộc đối với Google và Facebook yêu cầu các ông lớn quảng cáo digital phải thương lượng thành tâm về cách thức trả tiền cho các cơ quan báo chí để sử dụng nội dung của họ

Luke Taylor, nhà sáng lập đồng thời là giám đốc điều hành của công ty ngăn chặn quảng cáo lừa đảo TrafficGuard, khẳng định nếu không có bộ quy tắc này và không có sự can thiệp của chính quyền, thì Google và Facebook sẽ không đời nào tự nguyện chi trả cho nội dung một cách công bằng.

“Báo chí có tầm quan trọng vô cùng lớn,” ông nói với trang The Drum, bổ sung thêm rằng phán quyết gần đây ở Pháp (ngày 9/4, cơ quan giám sát cạnh tranh tại đây tuyên bố rằng Google phải trả tiền cho các cơ quan báo chí Pháp cũng như các hãng thông tấn vì đã tái sử dụng nội dung của họ) “có khả năng sẽ đóng một vai trò không nhỏ.”

“Sự kỳ vọng ở đây là phương thuốc áp dụng ở châu Âu cũng sẽ được thực thi với báo chí Australia. Ủng hộ nỗ lực ở châu Âu sẽ tăng thêm sức mạnh cho cả các đồng nghiệp ở đó lẫn ở đây.”

Ảnh minh họa. (Nguồn: Niemanlab.org)
Ảnh minh họa. (Nguồn: Niemanlab.org)

Thực thi bộ quy tắc ứng xử này chắc chắn sẽ mang lại cơ hội về nguồn thu mới đối với các cơ quan báo chí, những nơi đang tạo ra nội dung thông tin chất lượng cao và tin cậy trong thời buổi nội dung quá dễ tiếp cận và trôi qua nhanh chóng, còn nội dung câu khách và tin giả đã trở thành thứ tràn lan.

Mitchell Greenway, giám đốc phụ trách phát triển quan hệ với báo chí Australia và New Zealand tại hãng quảng cáo OpenX, cho rằng bộ quy tắc này có thể dẫn đến sự thay đổi trong cách các nền tảng công nghệ định nghĩa về “nội dung tốt,” giúp cho cách làm báo chuyên nghiệp và chất lượng cao sẽ chiếm ưu thế trước loại nội dung gây sốc câu view và giúp cho nhiều cơ quan báo chí tăng thêm thu nhập mà họ xứng đáng được hưởng. “Làm như vậy sẽ cho phép các cơ quan báo chí tập trung sản xuất nội dung chất lượng,” ông giải thích. “Rốt cục những biện pháp đó sẽ giúp đảm bảo một hệ sinh thái bền vững cho các nhà xuất bản tin tức trên toàn bộ không gian mở của Internet.”

Trong khi đó, Darren Woolley, nhà sáng lập và là giám đốc điều hành của hãng tư vấn TrinityP3, lo ngại rằng ngoài những tập đoàn báo chí lớn như News Corp và Nine Entertainment hay các kênh truyền hình quốc gia khác như Kênh 10 và Kênh 7, hàng trăm tờ báo nhỏ hoặc báo phục vụ các cộng đồng địa phương chưa chắc đã được lợi gì từ bộ quy tắc này. Ông nói không khéo khoản doanh thu này chỉ rơi vào túi các cơ quan báo chí lớn mà thôi.

Cũng phải thừa nhận một thực tế rằng nhiều người lên Facebook và Google để đọc tin, nhưng chính các cơ quan báo chí cũng dựa vào Facebook và Google để có độc giả. Victor Condogeorges, giám đốc phụ trách nghiên cứu và dữ liệu của công ty Orchard nhận xét: “Loại bỏ tin tức khỏi nền tảng của hai ông khổng lồ này thì người dùng sẽ tìm kiếm ở nơi khác. Vì thế câu hỏi ở đây là ai sẽ thua thiệt nhiều hơn? Chính là những cơ quan báo chí sử dụng kênh mạng xã hội để thu hút mọi người đến với website của họ hay các kênh phân phối mạng xã hội sử dụng tin tức để thu hút người dùng đến với nền tảng của họ?”

Cũng phải thừa nhận một thực tế rằng nhiều người lên Facebook và Google để đọc tin, nhưng chính các cơ quan báo chí cũng dựa vào Facebook và Google để có độc giả.

Simon Larcey – Giám đốc điều hành Viztrade dự đoán rằng Facebook và Google sẽ chẳng có cách nào khác ngoài việc chấp nhận bộ quy tắc ứng xử của Australia, nếu không sẽ bị cấm sử dụng tin tức. Nhưng ông nói không nên lạc quan quá vì thực tế việc phân chia doanh thu quảng cáo chỉ được áp dụng với phần nội dung không phải do các nền tảng này tạo ra. “Tôi nghĩ nó chẳng ảnh hưởng mấy đến Facebook hay Google. Hãy so sánh tỷ lệ giữa tin tức với nội dung do người dùng khởi tạo mà xem. Mọi điều tùy thuộc vào mức độ nội dung mà các cơ quan báo chí phân phối trên các nền tảng này.”

Nói cho công bằng thì các ông lớn quảng cáo digital đang cố gắng cứu các cơ quan báo chí quy mô nhỏ trên toàn thế giới khỏi ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, vì các tòa soạn lớn có khả năng sáng tạo để vượt qua cuộc khủng hoảng này. Google đã lập một quỹ cứu trợ khẩn cấp để hỗ trợ các tòa soạn nhỏ với niềm tin rằng các cơ quan báo chí địa phương là nguồn thông tin vô cùng quan trọng để kết nối người dân trong cộng đồng, và còn có trách nhiệm lớn lao hơn vào giai đoạn thực thi giãn cách xã hội và mọi người phải ở nhà. Google cũng miễn phí cho các cơ quan báo chí sử dụng công cụ Ad Manager trong 5 tháng.

Tuy nhiên, vẫn chưa rõ các biện pháp này có giúp được gì cho những tờ báo như Sunraysia Daily và Yarram Standard sống sót qua đại dịch COVID-19 hay không. Giờ đây, họ chỉ biết trông chờ vào bộ quy tắc ứng xử./.

Ảnh minh họa. (Nguồn: AFP)
Ảnh minh họa. (Nguồn: AFP)

Морская тропа Хо Ши Мина

Возможно, ни одна дорога не обладает такой магической силой и не демонстрирует такие уникальность и креативность, как морская тропа имени Хо Ши Мина. Время может испортить мачты и превратить железные корпуса линкоров в ржавые, но легенда о судоходном маршруте под названием “Морская тропа Хо Ши Мина” навечно останется в народной памяти. Эта дорога всегда будет ярким символом революционного героизма, бессмертной легендой вьетнамской Народной Армии.

Легенда за пределами человеческого воображения:

В соответствии с Женевским соглашением 1954 года Вьетнам был временно разделен по 17-ю параллели на две части – Юг и Север. Страна ждала всеобщих выборов с целью осуществления мирного воссоединения. Однако счастье вьетнамского народа было недолго – американские империалисты преднамеренно нарушили Соглашение, превратив Юг Вьетнама в свою новую колонию. Они создали правительство так называемой “Республики Вьетнам” и попытались подавить и запугать людей, принимавших участие в войне сопротивления.

Легенда о судоходном маршруте под названием “Морская тропа Хо Ши Мина” навечно останется в народной памяти.Эта дорога всегда будет ярким символом революционного героизма, бессмертной легендой вьетнамской Народной Армии. 

В этом контексте тогдашний ЦК КПВ на своём 15-м пленуме принял решение о переходе от политической борьбы к вооруженной в освобождении Юга Вьетнама. Отсюда возникла постоянно растущая потребность в поддержке вооруженными силами и военной техникой фронта Южного Вьетнама.

Транспортное судно 125-го конвоя, маскированое под рыбацкую лодку, выполняет задание по транспортировке оружия, подкрепляя южный фронт, апрель 1966 года. (Фото из архива)

Транспортное судно 125-го конвоя, маскированое под рыбацкую лодку, выполняет задание по транспортировке оружия, подкрепляя южный фронт, апрель 1966 года. (Фото из архива)

Следуя указаниям Политбюро ЦК и Центральной военной комиссии КПВ, 23 октября 1961 года Главное командование Народной армии Вьетнама решило создать 759-й корпус – предшественник 125-й морской бригады (часто называемой группы судов “без номера”). Эта группа кораблей отвечала за доставку оружия и снаряжения морским путем на южный фронт. После периода разведки и подготовки, 11 октября 1962 года первый деревянный корабль под кодовым названием “Восток 1” с более чем 30 тоннами оружия и боеприпасов покинул гавань Вансет (Дошон, г. Хайфон) и двинулся на юг. Утром 19 октября 1962 года судно “Восток 1” благополучно прибыл в гавань Вамлунг (уезд Намкан, провинция Камау). Таким образом морской маршрут стратегической поддержки с Севера на Юг – морская тропа Хо Ши Мина – была официально открыта. В то время 30 тонн оружия были очень ценной и весомой поддержкой для самого отдаленного поля боя на Юге.

Зона 15 в районе Дошоне города Хайфона – место отправления кораблей, доставляющих оружие на южный фронт. (Фото из архива)

Зона 15 в районе Дошоне города Хайфона – место отправления кораблей, доставляющих оружие на южный фронт. (Фото из архива)

В течение 15 лет, группа кораблей “без номера” выполняла свою стратегическую роль военно-морского транспорта, создавая легендарную “морскую тропу Хо Ши Мина”. Храбрые и находчивые командиры и матросы 125-й бригады ВМС Вьетнама, прорывая военную блокаду врага, совершали подвиги и добивались удивительных результатов, тем самым внося огромный вклад в дело борьбы за освобождение Юга и воссоединение страны.

Морская тропа Хо Ши Мина, включающая 5 маршрутов общей протяженностью около 12 тысяч морских миль (более 22 тысяч км), связывает тыл на севере с передовым фронтом на юге страны, она легендой вошла в историю войны за освобождение благодаря героическим подвигам, совершенным на ней. (Фото: Музей ВМС)

Морская тропа Хо Ши Мина, включающая 5 маршрутов общей протяженностью около 12 тысяч морских миль (более 22 тысяч км), связывает тыл на севере с передовым фронтом на юге страны, она легендой вошла в историю войны за освобождение благодаря героическим подвигам, совершенным на ней. (Фото: Музей ВМС)

Морская тропа Хо Ши Мина стала символом нашей борьбы за национальное освобождение, легендой о нашей войне сопротивления с американскими империалистами.

Люди, создавшие бессмертную легенду

Прошло много лет, и синее море, кажется, стерло все, однако память о легендарной морской тропе, о безмолвных подвигах моряков-героев – навсегда останется в сердцах вьетнамского народа.

                   Памятник легендарной пристани для конвоя безномерных кораблей на заливе Вунгро в провинции Фу-йене. (Источник: phuyen.gov.vn)
 
Памятник легендарной пристани для конвоя безномерных кораблей на заливе Вунгро в провинции Фу-йене. (Источник: phuyen.gov.vn)

Выход в море в то время был полон смертельных опасностей. Почти 100 солдат – лучших членов команды группы кораблей “без номера” – погибли при выполнении задач, и только останки одного матроса были найдены.

Солдаты на безномерных кораблях записали самые славные страницы в истории героической Морской силы Вьетнама, внеся большой вклад в великую победу войны сопротивления против США, спасения страны и освобождения Юга, воссоединение страны.

Товарищи Бонг Ван Зиа, Фан Ван Ньо (псевдоним Ты Мау), Нгуен Фан Винь, Нгуен Ван Хьеу…, навсегда оставшиеся на морской тропе Хо Ши Мина, –  примеры героизма и мужества для всех поколений.

Церемония спуска венков в память о павших. (Фото: Банг Ньем/ВИА)
Церемония спуска венков в память о павших. (Фото: Банг Ньем/ВИА)

Товарищи Бонг Ван Зиа, Фан Ван Ньо (псевдоним Ты Мау), Нгуен Фан Винь, Нгуен Ван Хьеу…, навсегда оставшиеся на морской тропе Хо Ши Мина, –  примеры героизма и мужества для всех поколений.

Среди них – герой полковник Народных вооруженных сил Бонг Ван Зиа, который совершил два самых первых рейса по морю (туда и обратно). Он и его команда вносили огромный и важный вклад в формирование легендарного маршрута – морской тропы Хо Ши Мина.

Капитан Ле Ван Мот, который управлял первым кораблем “без номера” (вместе с тов. Бонг Ван Зиа). Их судно пересекло Восточное море, открыв важный маршрут поставки оружия на Юг для борьбы с американцами.

Подполковник Ву Ван Тинь, которого окрестили “навигатор, ведущий корабль по звездам на небе”. Именно он неоднократно вел корабли “без номера” в безопасную гавань без использования приборов морской навигации.

Командир корабля Нгуен Фан Винь, приказавший своим матросам дать отпор противнику, отразив множество его атак. Они сражались с врагами до последнего патрона и погибли вместе со своим кораблем, не оставив никаких следов после себя.

Герой Нгуен Ван Хьеу, который во время опасности попросил всех матросов выпрыгнуть в море и уплыть подальше от корабля, а сам остался на корабле, и взорвал свое судно вместе с вражеским кораблем…

Покойный премьер-министр Во Ван Кьет подчеркивал: “Пройдут годы, но героические подвиги и великие жертвы вьетнамцев, открывших стратегический морской транспортный маршрут имени нашего уважаемого дяди Хо, навсегда войдут в историю героической борьбы нашего народа против американских агрессоров за свою Родину. Наша Родина и наш народ навсегда запомнят заслуги создателей легендарной морской тропы Хо Ши Мина ”./.

Залив Вунгро связан с легенларным пристанью безномерных кораблей. (Фото: Чонг Дат/ВИА)

Залив Вунгро связан с легенларным пристанью безномерных кораблей. (Фото: Чонг Дат/ВИА)

Tất cả vì miền Nam ruột thịt

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã đưa đến non song gấm vóc, đất nước liền một dải. Làm nên thắng lợi đó có sự đóng góp to lớn của quân dân miền Bắc khi trở thành nền, thành gốc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Ròng rã hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc Xã hội chủ nghĩa trong vai trò hậu phương lớn luôn “thắt lưng, buộc bụng,” sẵn sàng chia lửa, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng cung cấp đến những dòng vật chất cuối cùng để chở sức mạnh hậu phương ra chiến trường, vì một miền Nam thành đồng,“đi trước, về sau.”

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975–30/4/2020), Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu chùm 3 bài viết với chủ đề:“Tất cả vì miền Nam ruột thịt.”

Dốc toàn lực cho tiền tuyến

“Vì miền Nam ruột thịt, mỗi người làm việc bằng hai”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”… đã khởi lên những phong trào thi đua khắp miền Bắc khi đế quốc Mỹ leo thang và mở rộng chiến tranh phá hoại ra hậu phương lớn Xã hội chủ nghĩa còn chế độ Sài Gòn tiếp tục những tội ác man rợ với đồng bào Nam bộ.

Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, khí thế hăng say lao động, sản xuất đã trở thành một cao trào lôi cuốn hàng triệu phụ nữ, nông dân, công nhân, bác sỹ trên toàn miền Bắc tham gia. Cũng theo đó, nguồn nhân lực, vật lực bất chấp bom đạn của kẻ thù đã băng ngàn, vượt bể kịp thời chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Từ “Quê hương người gái đảm”

Tượng đài Phụ nữ Ba đảm đang ở Quốc lộ 32, đoạn tại trung tâm Thị trấn Phùng, hướng nhìn thẳng về phía Thủ đô Hà Nội, thể hiện một phụ nữ tư thế hiên ngang, vai đeo súng, tay bồng con, vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, xây dựng hậu phương vững chắc cho tiền tuyến yên tâm đánh giặc. Tượng đài cũng là hiện thân cho lòng yêu nước, khát vọng hòa bình của phụ nữ Đan Phượng nói riêng và hàng triệu phụ nữ cả nước nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

“Thời kỳ đó, làm bất cứ một phong trào gì mà vất vả, chúng tôi đều gọi đó là ‘Ba đảm đang.’”

Nhớ như in ngày khánh thành công trình tượng đài vào năm 2009 cũng như nguồn gốc, ý nghĩa của tượng đài, bà Lê Thị Quýnh (nguyên Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, nơi khởi đầu của phong trào “Ba đảm đang”) chia sẻ lý do vì sao lại có phong trào “Ba đảm đang”? Là vì cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt, khắp miền Bắc đang phát động hàng loạt phong trào thi đua lao động, sản xuất để xây dựng hậu phương vững mạnh và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Lúc đó, thanh niên đã có “Ba sẵn sàng” nhưng phụ nữ chưa có phong trào gì để tập trung lực lượng, góp sức bảo vệ Tổ quốc.

Học sinh trường cấp  III Yên Hòa, Hà Nội đăng ký phong trào “Ba đảm nhiệm”, sau này là phong  trào phụ nữ “Ba đảm đang.” (Ảnh: Thanh Tụng/TTXVN)
Học sinh trường cấp III Yên Hòa, Hà Nội đăng ký phong trào “Ba đảm nhiệm”, sau này là phong trào phụ nữ “Ba đảm đang.” (Ảnh: Thanh Tụng/TTXVN)

Tháng 3/1965, Hội Liên hiệp Phụ nữ Đan Phượng đã đề xuất với Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào “Ba đảm nhiệm” với quyết tâm xây dựng hậu phương vững chắc, tiếp thêm sức mạnh động viên chồng con vững bước ra trận diệt thù. Phong trào có các nội dung: Đảm nhiệm sản xuất, công tác, thay cho nam giới đi chiến đấu; Đảm nhiệm gia đình, khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu; Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết. Được sự đồng ý, ngày 8/3/1965, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Đan Phượng phát động phong trào tại Trường cấp II xã Đan Phượng.

“Khi ấy, tôi mới 23 tuổi, một nách nuôi hai con nhỏ và mẹ già, ông ấy đi thanh niên xung phong, nên vất vả lắm. Sau khi các xã nghe phát động phong trào về, tôi bắt tay cùng chị em triển khai ngay. Thời kỳ đó, làm bất cứ một phong trào gì mà vất vả, chúng tôi đều gọi đó là ‘Ba đảm đang.’

Bác Hồ đã sửa tên ‘Ba đảm nhiệm’ thành ‘Ba đảm đang.’

Như xã Trung Châu không có ruộng, chúng tôi phát động chị em làm bèo hoa dâu, làm phân xanh, tăng gia sản xuất đảm bảo lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến. Chị em còn tổ chức đắp một con đường chống tràn từ Vân Thủy về Vân Môn gọi là ‘Con đường ba đảm đang.’ Chị em ngày đi sản xuất, đêm về tập luyện dân quân. Chị em nào có chồng đi B lâu ngày, chúng tôi còn tập trung đến giúp làm cỏ, an ủi, đùm bọc,” bà Quýnh nhớ lại.

“Sau này, Bác Hồ đã sửa tên ‘Ba đảm nhiệm’ thành ‘Ba đảm đang.’ Cũng từ đây, phụ nữ Đan Phượng vinh dự được nhân dân cả nước biết đến là “quê hương người gái đảm,” bà Quýnh tự hào kể.

Đến làn gió mới trong lao động, sản xuất

Khởi nguồn từ Đan Phượng, chỉ trong thời gian ngắn, phong trào “như diều gặp gió” lan rộng toàn miền Bắc. Sau hơn hai tháng thực hiện, đến tháng 5/1965, toàn miền Bắc đã có hơn 1,7 triệu phụ nữ đăng ký thực hiện các nội dung của “Ba đảm đang.” Làn gió mới thúc đẩy thi đua lao động, sản xuất, bảo vệ quê hương trong giới nữ đã được các chị em ở khắp nơi hưởng ứng, thực hiện theo cách riêng của mình.

Phụ nữ nông thôn tăng gia sản xuất, tích cực áp dụng các biện pháp khoa học để tăng diện tích và sản lượng lúa, chăn nuôi theo kỹ thuật mới. Chị em khối công nhân viên chức thực hiện nhiều phong trào thi đua sôi nổi như “Ngày thứ Bảy năng suất cao,” “Luyện tay nghề thi thợ giỏi.” Nhiều sáng kiến có giá trị của các chị được ứng dụng trong sản xuất…

(Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
(Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Nhớ lại những năm tháng đó, bà Phương Kim Dung, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, nguyên cán bộ Quân dược công tác tại Xí nghiệp Dược phẩm 6/1 thuộc Viện Bào chế, Cục Quân y- Bộ Quốc phòng cho hay khí thế thi đua của phong trào sôi nổi, rộng khắp trong các phân xưởng, toàn thể chị em trong xí nghiệp đều nhiệt tình hưởng ứng.

“Chị em ở xí nghiệp có đặc thù là vừa sản xuất các loại dược phẩm thiết yếu vừa sản xuất thuốc chiến thương phục vụ các chiến trường với nhiều loại thuốc như: Thuốc tiêm, thuốc viên, thuốc nước, đặc biệt là các loại như Penecilin, Moocphin, Steptomicin, Atrophin… vừa trực tiếp tham gia trực chiến, tham gia bảo vệ xí nghiệp, vừa chăm sóc, nuôi dạy con cái vì nhiều người có chồng là bộ đội đi chiến trường”, bà Phương Kim Dung kể lại.

đến tháng 5/1965, toàn miền Bắc đã có hơn 1,7 triệu phụ nữ đăng ký thực hiện các nội dung của “Ba đảm đang.”

Theo bà Phương Kim Dung, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, Mỹ đã mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Đặc biệt là trong 12 ngày đêm từ 18 đến 29/12/1972, máy bay B-52 của Mỹ bắn phá ác liệt, quyết đưa Hà Nội và nhiều tỉnh, thành phố “về thời kỳ đồ đá.”

Xí nghiệp nơi bà làm việc nằm cạnh Bến phà Đen, Nhà máy Xay Lương Yên, Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, Bệnh viện Quân y 108 nên là một trong những trọng điểm rải bom của máy bay Mỹ. Tiểu đoàn tự vệ của Xí nghiệp đã phối hợp với các đơn vị phòng không để bảo vệ Xí nghiệp, bảo vệ vùng trời Thủ đô. Theo sự phân công, ca nào sản xuất, chị em vẫn có mặt sản xuất, pha chế, đóng gói thuốc, chuyển dược phẩm, thuốc men ra chiến trường, ca nào trực chiến thì bám trận địa.

Trong giai đoạn chiến tranh phá  hoại lần thứ nhất của Mỹ, năng lực sản xuất ở một số ngành công nghiệp  vẫn được giữ vững, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu nhất cho chiến đấu,  sản xuất và đời sống. Trong ảnh: Công nhân trong Nhà máy  Dệt 8/3 đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất. (Ảnh: Tư liệu  TTXVN)
Trong giai đoạn chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, năng lực sản xuất ở một số ngành công nghiệp vẫn được giữ vững, bảo đảm những nhu cầu thiết yếu nhất cho chiến đấu, sản xuất và đời sống. Trong ảnh: Công nhân trong Nhà máy Dệt 8/3 đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

“Không khí lao động khẩn trương nhưng đảm bảo nghiêm ngặt về yêu cầu và điều kiện vệ sinh vô trùng của sản xuất thuốc, điều này đã giảm đau đớn cho thương, bệnh binh cũng như góp phần vào chiến thắng ngày 30/4/1975,” bà Phương Kim Dung xúc động nói.

Sẽ là không đủ nếu chỉ nhớ đến hậu phương lớn với “Ba đảm đang”! Suốt chiều dài chiến tranh, từ những năm 1960 đến 1975, khắp miền Bắc dấy lên các phong trào thi đua lao động, sản xuất với khí thế sôi nổi.

Như Thủ đô Hà Nội khởi lên Thanh niên “Ba sẵn sàng,” phụ nữ “Ba đảm đang,” nông dân “Tay cày tay súng,” công nhân “Tay búa tay súng,” học sinh làm “Nghìn việc tốt chống Mỹ”… Tỉnh Thái Bình lại ghi bảng vàng 5 tấn đánh dấu mốc lịch sử về năng suất lúa của miền Bắc. “Thóc thừa cân, quân vượt mức” của Thái Bình đã cổ vũ tinh thần nhân dân cả nước thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu, đánh đuổi đế quốc Mỹ, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Từ những năm 1960 đến 1975, khắp miền Bắc dấy lên các phong trào thi đua lao động, sản xuất với khí thế sôi nổi.

Cuối năm 1972, hơn 2 vạn thanh niên miền Bắc đã tham gia thanh niên xung phong, bổ sung cho lực lượng đảm bảo giao thông. Họ cùng với các lực lượng khác lập nên nhiều thành tích trong thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giao thông: Chỉ trong 24 giờ sau khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc vào đầu năm 1973, tuyến đường bộ và toàn bộ cầu phà trên tuyến đường 1A đã được khai thông từ Hà Nội đến Vĩnh Linh; 3 ngày sau, trên tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh, ô tô ray đã kéo 10 tấn hàng đến ga Vinh an toàn.

“Tất cả vì miền Nam ruột thịt” đã trở thành một cao trào sôi nổi, lôi cuốn hàng triệu người tham gia. Và “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, trở thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí kiên cường của hầu hết thanh niên miền Bắc./.

Tháng 5/1964, phong trào thanh  niên “Ba sẵn sàng” (Sẵn sàng chiến đấu; Sẵn sàng nhập ngũ; Sẵn sàng đi  bất cứ nơi nào Tổ quốc cần), xuất phát từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,  đã trở thành một cuộc vận động có sức lôi cuốn mạnh mẽ, rộng khắp của  tuổi trẻ Thủ đô, sau đó trở thành phong trào sâu rộng của tuổi trẻ miền  Bắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ,  cứu nước. (Ảnh: TTXVN0
Tháng 5/1964, phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng” (Sẵn sàng chiến đấu; Sẵn sàng nhập ngũ; Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần), xuất phát từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã trở thành một cuộc vận động có sức lôi cuốn mạnh mẽ, rộng khắp của tuổi trẻ Thủ đô, sau đó trở thành phong trào sâu rộng của tuổi trẻ miền Bắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN0

Sống mãi ký ức hào hùng

Tháng Tư lịch sử, bao nhiêu ký ức, kỷ niệm về Ngày giải phóng miền Nam lại xếp lớp dày đặc trong tâm trí những người khoác lên mình bộ quân phục màu xanh, nhận lấy danh xưng người lính Bộ đội Cụ Hồ.

Chiến tranh lùi xa đã bốn mươi lăm năm kể từ ngày 30/4/1975, song mỗi vết thương trên người họ, mỗi hình ảnh về những đoàn quân ra trận, những lần đi qua lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết trong các trận đánh đều là minh chứng sống động về một thời gian khổ mà vinh quang.

Hướng về phương Nam

Xã Hòa Xá nằm ở phía Tây Nam của huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây cũ, nay là thành phố Hà Nội. 55 năm trước, nơi đây là khởi nguồn của phong trào “Chiếc gậy Trường Sơn” với sức lan tỏa rộng rãi, cổ vũ kịp thời tinh thần đấu tranh của lớp lớp thanh niên cả nước lên đường tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chứng kiến khí thế sục sôi của những người lính trẻ vai khoác balô, tay mang theo “Chiếc gậy Trường Sơn” hành quân hướng về phương Nam trên tuyến lửa năm xưa là ông Phùng Văn Mạnh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Hòa Xá- người từng tham gia các trận đánh trên chiến trường Đông Nam bộ trong Sư đoàn 5, Quân khu 7.

Phong trào “Chiếc gậy Trường Sơn” tạo ra sức lan tỏa rộng rãi, cổ vũ kịp thời tinh thần đấu tranh của lớp lớp thanh niên cả nước lên đường tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Mở chuyện về ý nghĩa, khởi nguồn của phong trào “Chiếc gậy Trường Sơn,” người lính năm xưa cho biết từ giữa những năm 60 của thế kỷ trước, đế quốc Mỹ tăng cường lực lượng tấn công miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại hậu phương miền Bắc. Với tinh thần cả nước là một chiến trường, thanh niên, học sinh, sinh viên ở miền Bắc ngoài việc học tập và phục vụ xây dựng hậu phương lớn Xã hội chủ nghĩa, đã cháy bỏng nguyện vọng lên đường chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.

Cũng thời điểm này, xã Hòa Xá đã có sáng kiến thành lập phân đội dự bị để sẵn sàng lên đường nhập ngũ, vào Nam chiến đấu. Xã rà soát kỹ lực lượng thanh niên và tổ chức rèn luyện bằng cách để họ hành quân, đeo ba lô nặng. Trong những buổi tập luyện, người Hòa Xá có sáng kiến làm cây gậy chống để chặng đường hành quân đỡ mệt. Năm 1966, ba người con của Hòa Xá là Đỗ Tít, Lưu Long, Phùng Quán trên đường hành quân vào miền Nam, gặp đồng đội chuẩn bị ra miền Bắc đã gửi về quê hương ba chiếc gậy Trường Sơn nhằm báo tin cho gia đình yên tâm.

Món quà “Chiếc gậy Trường Sơn” tặng trai làng nhập ngũ ở huyện Văn Giang, Hưng Yên, năm 1967. (Nguồn: Tung tâm Lưu trữ quốc gia IV - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước)
Món quà “Chiếc gậy Trường Sơn” tặng trai làng nhập ngũ ở huyện Văn Giang, Hưng Yên, năm 1967. (Nguồn: Tung tâm Lưu trữ quốc gia IV – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước)

“Những chiếc gậy đó đã mòn vẹt chỗ tay cầm, trên thân gậy khắc ghi những dòng chữ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.” Phía đầu gậy có chữ nhỏ hơn “Trường Sơn 1/4/1967,” phía cuối gậy khắc những cái tên của từng người lính cùng chữ “Hòa Bình” là nơi đóng quân,” ông Phùng Văn Mạnh hồi nhớ.

Nhận được kỷ vật là những chiếc gậy từ Trường Sơn gửi ra, cùng với sự kiện Đoàn cán bộ tỉnh Nam Hà (cũ) đến thăm xã, gửi tặng một chiếc nhẫn làm từ xác máy bay giặc Mỹ, chính quyền và nhân dân xã Hòa Xá đã nhân rộng thành phong trào “Trao gậy hành quân” và “Tặng nhẫn chung thủy.” Phụ lão trong xã đã cất công đi tìm những thân tre ngà thật đẹp, tỉ mỉ đẽo gọt làm gậy hành quân tặng con cháu trong ngày lên đường. Trên mỗi cây gậy đều khắc câu thơ: “Gậy này là gậy Trường Sơn/Của trai Hòa Xá lên đường tòng quân.”

“Những chiếc gậy đó đã mòn vẹt chỗ tay cầm, trên thân gậy khắc ghi những dòng chữ ‘Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.’”

Với những chàng trai nhập ngũ đã có người yêu, Hội Phụ nữ xã phối hợp với Đoàn Thanh niên tổ chức tặng “Nhẫn chung thủy trọn nghĩa vẹn tình” được kỳ công mài giũa từ xác máy bay giặc. Những người mẹ của chiến sỹ ra trận thành lập Hội mẹ chiến sỹ may cờ, thêu dòng chữ “Ra đi là chiến thắng” gửi tặng thanh niên.

“Từ việc rèn quân, tặng gậy, quê hương Hòa Xá nhận được gậy bộ đội của làng gửi về, năm 1967, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã sáng tác ca khúc “Chiếc gậy Trường Sơn.” Hòa Xá bỗng trở nên nổi tiếng khắp các tỉnh, thành miền Bắc bởi một sáng kiến độc đáo về tổ chức phong trào động viên, huấn luyện tân binh sẵn sàng lên đường vượt Trường Sơn vào tuyến lửa. Năm 1973, lực lượng vũ trang nhân dân xã Hòa Xá được tuyên dương là Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân,” ông Phùng Văn Mạnh nhớ lại.

Tiến về Sài Gòn

Như lời hiệu triệu, phong trào “Chiếc gậy Trường Sơn” đã góp phần thôi thúc thanh niên Hòa Xá cũng như trên toàn miền Bắc tòng quân khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt. Hơn 1,5 triệu thanh niên miền Bắc đã gia nhập quân đội trong tổng số hơn 3 triệu người được huy động phục vụ cho chiến tranh, chiếm hơn 12% số dân miền Bắc. Miền Bắc có tới hơn 70% số hộ có người thân chiến đấu trên các chiến trường; trên đồng ruộng, phụ nữ chiếm hơn 63% số lao động trực tiếp, để nam giới đi đánh giặc, cứu nước.

Chào quê hương, các chàng trai Thủ đô vào chiến trường niềm Nam chiến đấu, năm 1971. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước)
Chào quê hương, các chàng trai Thủ đô vào chiến trường niềm Nam chiến đấu, năm 1971. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước)

Riêng thanh niên Hòa Xá, ngoài tình yêu Tổ quốc, tiếng gọi non sông, họ còn niềm tự hào, hãnh diện quê hương của “Chiếc gậy Trường Sơn.” Tình cảm đó giúp họ hướng ra tiền tuyến với một nghị lực phi thường, ý chí quyết chiến, quyết thắng không gì lay chuyển nổi. Như trường hợp ông Đỗ Ngọc Bình, một xạ thủ của Đại đội 16, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2.

Nói đến việc du kích xã Hòa Xá nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, người lính già bất chợt nhắm nghiền mắt lại. Những lời nói nghẹn nửa chừng xen những giọt nước mắt giàn giụa về ký ức một trưa hè ở mặt trận Quảng Trị. Hôm ấy, anh lính Đỗ Ngọc Bình được Đại đội trưởng gọi lên gặp rồi đặt vào tay tờ báo và bảo: “Cậu là người Hòa Xá đúng không. Đơn vị du kích Hòa Xá quê cậu được phong Anh hùng đấy!”. Lúc đó, người lính trẻ bật khóc. Những giọt nước xúc động, sung sướng và tự hào, hãnh diện.

“Tình cảm, niềm tự hào quê hương là động lực giúp người lính hăng hái, tiên phong hơn.”

“Tình cảm, niềm tự hào quê hương là động lực giúp người lính hăng hái, tiên phong hơn. Trước những trận đánh, sau khi đào xong công sự, tôi thường nằm nghe tiếng côn trùng rả rích. Lúc ấy, có biết bao nhiêu hình ảnh quê hương, gia đình, bạn bè, những kỷ niệm thân thương… Nhưng khi pháo hiệu tấn công vạch một đường sáng rực trên bầu trời, tất cả tan biến hết, trong tâm trí chỉ có duy nhất ý nghĩ là lao về phía trước nổ súng,” ông Đỗ Ngọc Bình xúc động kể.

“Chiến tranh khó khăn, gian khổ, ác liệt lắm. Hôm nay xuất kích 47 tay súng nhưng ngày mai chỉ còn vài người. Có những lần, mình trong công sự, trên đầu là pháo, bom, đạn bắn như mưa, tiếng nổ đinh tai nhức óc. Địch bắn nhồi lên nhồi xuống. Lúc đó, chỉ duy nhất ý nghĩ là: Quả nào sẽ trúng mình đây? Nhưng lượt bắn qua đi, cùng với ý nghĩa “mình còn sống” là hiệu lệnh tấn công. Lúc đó, lại nhanh nhẹn xách súng lao ra khỏi công sự, hướng về phía trước,” ông Đỗ Ngọc Bình hồi nhớ.

Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh “huyền thoại” trong mưa bom, bão đạn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20. (Ảnh: Văn Bảo/TTXVN)
Đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh “huyền thoại” trong mưa bom, bão đạn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20. (Ảnh: Văn Bảo/TTXVN)

Nhắc đến những ngày tháng Tư năm 1975, tâm trí người xạ thủ già của Sư đoàn 304 miên man hình ảnh Quân đoàn 2 sau khi giải phóng Đà Nẵng, dàn thành hàng dọc dài dằng dặc trên Quốc lộ 1 hướng về mục tiêu cuối cùng là Dinh Độc Lập. Xe tăng, pháo binh, bộ binh nối nhau đi ầm ầm với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa.” Là hình ảnh những đoàn xe tiến vào Sài Gòn sáng 30/4 và người lính trẻ Đỗ Ngọc Bình tay xách súng, đứng ở nội đô, trong đầu là ý nghĩ “Thắng rồi, đất nước thống nhất rồi!”

Người lính già lại khắc khoải thương nhớ những đồng đội, đồng ngũ, đồng chí năm xưa đã hy sinh ngay trước giờ hợp điểm tại Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975.

“Họ đã nằm xuống khi đánh chiếm cụm căn cứ Long Thành-Nước Trong, căn cứ hải quân Cát Lái, chi khu Long Bình, Tổng kho Long Bình, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, diệt các ổ đề kháng…”, ông Đỗ Ngọc Bình xúc động nói./.

Non sông một dải

Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, chế độ Ngụy quyền Sài Gòn trong cơn hấp hối vẫn bấu víu vào một niềm tin, dù mong manh, rằng: Có thể Hà Nội sẽ chấp nhận đàm phán, thương lượng về một chế độ quá độ vì “Hà Nội chưa chắc đã có một bộ máy hành chính để quản lý toàn quốc.”

Nhưng trái lại, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với 5 cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn bằng những bước chân thần tốc, táo bạo, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới, quyết chiến đã giành lấy toàn thắng. Miền Nam được giải phóng, non sông một dải, Sài Gòn được giữ gần như nguyên vẹn và ta nhanh chóng tiếp quản thành phố. Cuộc sống ở đây cũng sớm khôi phục và ổn định ngay sau trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Căn hộ chung cư của một cao ốc nằm trên phố Láng Hạ, Hà Nội, là nơi vợ chồng Đại tá Nguyễn Quý, nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật – Bộ Tư lệnh Công binh (Bộ Quốc phòng) sống điền viên tuổi già.

Từ Bắc đến chí Nam, rợp một màu cờ đỏ sao vàng. Cả quân và dân đều như say trong niềm vui đại thắng. Một không khí hào hùng và sôi động nhất trong lịch sử dân tộc.

Người ta thường nhớ đến vị đại tá năm nay đã 88 tuổi này là một trong những người đặt nền móng cho các công trình cho Trường Sa rồi nhà giàn DK1 đầu tiên trên biển, từ DK1/1 đến DK1/16 liên tục trong những năm 1988 đến 1996. Họ nhớ đến ông với những chuyến hành quân từ Tân Cảng Sài Gòn, Bà Rịa–Vũng Tàu… ra tiền đồn cắm mốc chủ quyền Tổ quốc nơi khu vực Tư Chính, Phúc Tần, Ba Kè để tạo thế chân kiềng trên vùng biển rộng lớn của Tổ quốc. Nhưng ít người biết rằng, Đại tá Nguyễn Quý có một gia tài khác trong cuộc đời binh nghiệp, đó là ký ức về những ngày đầu tiếp quản Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Những ngày đặc biệt 45 năm trước ấy, như lời Đại tá Nguyễn Quý nói, là đẹp nhất cuộc đời của ông. Từ Bắc đến chí Nam, rợp một màu cờ đỏ sao vàng. Cả quân và dân đều như say trong niềm vui đại thắng. Một không khí hào hùng và sôi động nhất trong lịch sử dân tộc.

Nhân dân Sài Gòn ra đường đón chào quân Giải phóng, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)
Nhân dân Sài Gòn ra đường đón chào quân Giải phóng, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)

“Có một kỷ niệm không bao giờ quên là hai chiếc xe vận tải quân sự loại Zil 130 chở đoàn của Binh chủng Công binh vừa đi quá Văn Điển một đoạn thì xe của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi đến, giữ lại. Đại tướng kiểm tra xem chúng tôi đi như thế nào. Thấy xe không đủ ghế, anh em phải ngồi bệt xuống sàn xe, Đại tướng liền nói: “Không được! Ta vào Sài Gòn là tư cách người chiến thắng. Tới nơi, bà con sẽ nhìn vào. Người chiến thắng vào tiếp quản phải đàng hoàng. Các cậu đi như thế này là mất tư thế.” Rồi ông yêu cầu chúng tôi quay xe lại và cho gắn thêm hai chiếc ghế băng vào xe cho anh em ngồi,” ông Nguyễn Quý xúc động nhớ lại.

Mang theo công lệnh đặc biệt, đoàn cán bộ, chiến sỹ Binh chủng Công binh được Ủy ban Quân quản nhanh chóng cho vào Sài Gòn. Vào đến nơi, Sài Gòn trước mắt họ là một thành phố không có cảnh hoang tàn, đổ nát của một đô thị sau cuộc chiến. Sài Gòn được giữ gần như nguyên vẹn. Thành phố không có tình trạng cướp bóc, hôi của.

Người dân đón chào Quân giải phóng như đón những người con xa trở về sau bao năm dài xa cách.

Người dân đón chào Quân giải phóng như đón những người con xa trở về sau bao năm dài xa cách. Họ cũng chứng kiến nhân dân tham gia đắc lực vào việc gìn giữ trật tự trong thành phố với gần 4 triệu người khi chính quyền cách mạng chưa kịp tổ chức, khi mà bất kỳ lúc nào, ở đâu các phần tử lợi dụng “đục nước, béo cò” đều có thể có cơ hội đập phá nhà công, cướp bóc nhà tư, trả thù, trả oán cá nhân hay tuyệt vọng làm càn.

Dưới sức mạnh của nhân dân, thành phố vẫn bình yên, nguyên vẹn sau một chiến dịch lớn, mọi sinh hoạt của người dân vẫn bình thường, cuộc sống dần dần ổn định.

“Chế độ Sài Gòn sụp đổ để lại một khối lượng vũ khí trang bị, cơ sở vật chất rất lớn. Chỉ đạo xuyên suốt từ trên xuống là chậm một ngày tiếp quản, thiệt hại sẽ vô cùng nên công tác tiếp quản khẩn trương lắm. Tinh thần là ngành nào tiếp quản ngành đó, binh chủng nào tiếp quản binh chủng đó, quân chủng nào tiếp quản quân chủng ấy. Chúng tôi vừa tiếp quản vừa tìm hiểu thông tin các căn cứ, kho hàng, nhà kho liên quan đến công binh và tiến hành niêm phong, bảo quản. Đến cuối năm 1975, công tác kiểm kê, phân loại, bàn giao cơ sở vật chất doanh trại, kho tàng, trang bị, vũ khí đạn dược mới hoàn tất,” ông Nguyễn Quý kể.

Quân giải phóng làm chủ Cảng Bạch Đằng thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy. (Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN)
Quân giải phóng làm chủ Cảng Bạch Đằng thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy. (Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN)

Ngược lại những ngày lịch sử cũng thấy, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, lực lượng vũ trang Sài Gòn-Gia Định gần như ngay lập tức chuyển sang thực hiện nhiệm vụ quân quản, bảo vệ thành quả cách mạng, khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng, tổ chức lại quân đội tương thích với điều kiện thời bình.

Ủy ban Quân quản làm Lễ ra mắt đồng bào thành phố, bắt tay thực hiện các nhiệm vụ, trong đó có công tác tiếp nhận trình diện và cải huấn sỹ quan, binh lính, nhân viên trong bộ máy ngụy quyền với gần 440.000 người đã ra đăng ký trình diện. Không kể một số ít có nợ máu phải tập trung cải huấn dài ngày, đại đa số được học tập trong thời gian ngắn rồi trở về địa phương.

Đối với những phần tử ngoan cố không ra trình diện, sống lẩn lút, móc nối tìm cách chống phá cách mạng bằng nhiều thủ đoạn hoặc ngấm ngầm hoặc công khai, Ủy ban Quân quản đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang tổ chức truy quét, trấn áp, phá nhiều vụ án chống phá cách mạng của các phe nhóm phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn địa bàn trong những tháng sau chiến tranh.

Chúng ta đã chuẩn bị giải phóng miền Nam bằng tất cả sức mạnh quân sự, chính trị, ngoại giao và tính toán đến vấn đề xây dựng miền Nam sau khi giải phóng.

Nói về việc tiếp quản Sài Gòn, đặc biệt là giai đoạn những ngày đầu giải phóng, Thượng tướng, Viện sỹ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng- người từng chỉ huy một mũi tấn công vào Sài Gòn trong những ngày tháng Tư năm 1975 nhấn mạnh: Chúng ta đã chuẩn bị giải phóng miền Nam bằng tất cả sức mạnh quân sự, chính trị, ngoại giao và tính toán đến vấn đề xây dựng miền Nam sau khi giải phóng. Việc nhanh chóng hiệp thương hai miền để thống nhất đất nước cũng là biểu hiện tầm chiến lược của Đảng, Nhà nước.

Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, khi chúng ta đánh vào Sài Gòn, do cách đánh của chúng ta, do nghệ thuật chiến tranh của chúng ta nên chúng ta đã giữ được Sài Gòn gần như nguyên vẹn, không để thành phố rơi vào cảnh hoang tàn, đổ nát của một đô thị sau cuộc chiến.

“Sau giải phóng, quân đội ta cũng nhanh chóng củng cố cơ sở cách mạng, ổn định được trận địa lòng dân, tạo nên sự đoàn kết quân với dân. Đây có lẽ là điều kiện vô cùng quan trọng, thậm chí là quan trọng nhất bởi không có nhân dân, chúng ta không bao giờ thành công. Chỉ có nhân dân giúp đỡ mới được có được tất cả, mới giúp chúng ta làm nên chiến thắng,” Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khẳng định./.

Thắng lợi của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của quân và dân ta, tạo bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới đối với nước ta – kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phát huy cao độ nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt và mưu lược

Việc xác định đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, tư duy chiến lược, tài thao lược xuất sắc của Đảng, nhất là ở những thời điểm mang tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến.

Sau khi Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, trước ý đồ thay thế Pháp, xâm lược miền Nam nước ta của đế quốc Mỹ, tháng 7/1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Đảng ta đã sớm xác định kẻ thù chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương là đế quốc Mỹ.

Tiếp theo đó, Đảng ta đã tìm ra phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp nên đã đối phó có hiệu quả với địch, đưa cách mạng tiếp tục phát triển. Bước chuyển biến mới, rõ rệt nhất của cách mạng ở miền Nam là sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (tháng 1/1959), lực lượng ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước hình thành. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.

Đảng ta đã sớm xác định kẻ thù chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương là đế quốc Mỹ.

Các căn cứ địa cách mạng tại chỗ được khôi phục và mở rộng; đường bộ 559, đường biển 759 được hình thành và phát huy tác dụng… Sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả của miền Bắc đã thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển; đã vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và giữ gìn lực lượng đã chuyển sang thế tiến công.

Sau đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam; thể hiện rõ tư duy lý luận chiến lược về lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng ta. Đảng đã sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù mới của dân tộc ta là đế quốc Mỹ và tay sai, sớm vạch ra một cách đúng đắn hai chiến lược cách mạng; khẩn trương ổn định tình hình, củng cố miền Bắc làm hậu phương vững chắc, là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng cả nước; vạch ra đường lối, phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, có lợi nhất, đưa đến cuộc đồng khởi vĩ đại, đánh thắng chiến lược đầu tiên của đế quốc Mỹ; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giải phóng miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng quốc tế.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu)
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu)

Đảng ta cũng đã kịp thời chuyển cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng; kết hợp nhuần nhuyễn giữa khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng; đưa cuộc chiến tranh của nhân dân ở miền Nam phát triển phù hợp với tình hình mới; đánh địch bằng cả quân sự và chính trị, bằng cả ba mũi giáp công; trên cả ba vùng chiến lược.

Nhờ đó đã kìm chế và làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ,” đưa quân Mỹ và chư hầu trực tiếp xâm lược, tham chiến ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện từ Bắc vào Nam.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dự kiến sớm và đúng xu thế diễn biến của chiến tranh nên đã đề ra các chủ trương đối phó đúng đắn, chủ động và sáng tạo. Khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đi đến thất bại, Đảng ta đã dự kiến địch có thể leo thang lên nấc cao hơn và có thể đánh ra miền Bắc. Lúc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, Đảng ta đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch-ta; kiên định quyết tâm đánh Mỹ; đã chủ động kết hợp tốt phản công với tấn công.

Việc xác định đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, tư duy chiến lược, tài thao lược xuất sắc của Đảng.

Tại các hội nghị của Bộ Chính trị, của Trung ương Đảng năm 1967, đầu năm 1968, Đảng ta vạch rõ: Cần phải tạo ra một chuyển biến lớn về tình hình có lợi cho ta giữa lúc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đang hoang mang, dao động, phải tạo được một bước ngoặt lớn của chiến tranh, dùng cách đánh mới, hiểm, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ.

Đảng ta đã lựa chọn hướng tiến công không phải là rừng núi và nông thôn mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở… Đồng thời dự kiến các khả năng và quyết định Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Điều này thể hiện rõ tư duy quyết đoán, sáng tạo và cách đánh mới rất bất ngờ, đầy hiệu lực của Đảng ta. Nhờ đó đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngày 1/11/1968, đế quốc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và đánh phá (lần thứ nhất) trên toàn bộ miền Bắc, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ.”

Đảng ta cũng đã dự kiến trước khả năng Mỹ có thể đánh bom, bắn phá trở lại miền Bắc, mở rộng chiến tranh sang Lào, Campuchia để gây sức ép với ta. Đồng thời thấy rõ những điểm yếu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Đảng ta đã tìm ra phương hướng chiến lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.”

Với những phán đoán đúng và dự kiến sớm, ta đã chuẩn bị tốt và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai trên miền Bắc, nổi bật là đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Thủ đô Hà Nội (tháng 12/1972), buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Tháng 5/1964, phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng” (Sẵn sàng chiến đấu; Sẵn sàng nhập ngũ; Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần), xuất phát từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)
Tháng 5/1964, phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng” (Sẵn sàng chiến đấu; Sẵn sàng nhập ngũ; Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần), xuất phát từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)

Tháng 5/1973 và sau đó, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp đợt 1 từ ngày 19/6 đến 6/7; đợt hai từ ngày 1/10 đến 4/10/1973) đã phân tích sâu sắc diễn biến tình hình trên chiến trường, trong nước, trong khu vực và trên thế giới có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam; chỉ rõ âm mưu, hành động chống phá Hiệp định Paris ngày càng trắng trợn của Mỹ-ngụy.

Từ đó, Đảng ta khẳng định dứt khoát con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng, bất kỳ trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, chỉ đạo linh hoạt, mềm dẻo để đưa cách mạng miền Nam tiến lên.

Từ giữa năm 1974, nguồn viện trợ kinh tế, quân sự từ Mỹ ngày càng bị cắt giảm, làm cho chính quyền và quân đội ngụy Sài Gòn lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Nắm bắt thời cơ, Đảng ta đã chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực lượng, chuẩn bị chiến trường. Các binh đoàn chiến lược được thành lập, hệ thống đường ống dẫn dầu được mở rộng; một khối lượng lớn vật chất, phương tiện chiến tranh được chuyển nhanh ra tiền tuyến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 7/1974, Bộ Tổng Tham mưu khởi thảo kế hoạch giải phóng miền Nam.

Tháng 10 và tháng 12/1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng Bộ tư lệnh miền Nam họp bàn về quyết tâm và kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 và dự kiến nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Đảng ta khẳng định dứt khoát con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng, bất kỳ trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công.

Và trước tình thế cách mạng và thời cơ đã đến, Đảng ta quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên với trận đột phá chiến lược Buôn Ma Thuột (10/3/1975). Với chiến thắng này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Sau khi Huế được giải phóng (26/3) và Đà Nẵng được giải phóng (29/3), đến ngày 3/4, ta giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 26/4 và đến 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam

Từ tháng 7/1954, Đảng ta đã xác định phải xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (tháng 3/1955), nhiệm vụ của hai miền được xác định rõ hơn: “Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà; miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.”

Tiếp theo đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (tháng 12/1957), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trong đó, nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới; lực lượng cách mạng miền Nam cần tiếp tục duy trì và phát triển.

Đảng ta coi đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đảng ta tiếp tục khẳng định tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)
Đảng ta tiếp tục khẳng định tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960), vị trí của cách mạng mỗi miền được Đảng ta tiếp tục khẳng định tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Còn đồng bào ta ở miền Nam có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền Nam đng thời cũng là “theo yêu cầu của cả nước, góp phần bảo vệ miền Bắc và tạo điều kiện thuận lợi cho miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà

Thực tế đã chứng minh, sự gắn bó của cách mạng hai miền đã tạo nên sức mạnh vô địch trên toàn đất nước. “Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh giữ nước và cứu nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và hoàn thành một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước.”

Còn nhân dân miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thể hiện vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng trong cuộc chiến đấu kiên cường, dẻo dai, vượt qua mọi thử thách ác liệt, sáng tạo ra nhiều cách đánh đầy uy lực như đồng khởi, vành đai diệt Mỹ, đánh địch bằng hai chân, ba mũi, ba vùng… xứng đáng là thành đồng của Tổ quốc.

Nghệ thuật quân sự và chiến tranh nhân dân phát triển tới đỉnh cao

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự và chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển tới đỉnh cao. Nhân tố bảo đảm cho sự phát triển không ngừng của chiến tranh nhân dân đó là lực lượng vũ trang nhân dân, gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng vững mạnh, bố trí rộng khắp; trong đó, các binh đoàn chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong các chiến dịch, thực hiện tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn. Nắm vững quy luật chiến tranh, vận dụng và thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, chúng ta đã từng bước chuyển hóa cục diện chiến trường theo hướng có lợi, luôn đánh địch trên thế mạnh, thế chủ động, thế bất ngờ.

Dân quân dũng cảm bắn trả máy bay Mỹ trong đợt chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. (Nguồn: Tư liệu/TTXVN)
Dân quân dũng cảm bắn trả máy bay Mỹ trong đợt chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. (Nguồn: Tư liệu/TTXVN)

Nét đặc sắc, độc đáo của chiến tranh nhân dân còn được thể hiện ở chỗ đã kết hợp chặt chẽ các nhân tố “thế, lực, thời, mưu” trong từng trận đánh, từng chiến dịch một cách linh hoạt, làm cho địch không thể lường được các hướng, mũi, lực lượng và sức mạnh tiến công của ta. Đó là cơ sở để Đảng ta kiên trì thực hiện phương châm chiến lược: đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi cuối cùng bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là thành quả vĩ đại của nhân dân ta, thể hiện ý chí, khát vọng độc lập, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Với đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, Đảng ta đã huy động được cao nhất sức mạnh của cả nước, bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh chính trị-tinh thần, sức mạnh truyền thống yêu nước nồng nàn của đất nước ngàn năm văn hiến cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược lâu dài, cam go, quyết liệt.

Nét đặc sắc, độc đáo của chiến tranh nhân dân còn được thể hiện ở chỗ đã kết hợp chặt chẽ các nhân tố “thế, lực, thời, mưu” trong từng trận đánh, từng chiến dịch một cách linh hoạt, làm cho địch không thể lường được

Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với quan điểm đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng, Đảng ta đã phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Việt Nam mãi mãi biết ơn và không bao giờ quên sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em; đặc biệt là sự đoàn kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia. Sự ủng hộ to lớn cả vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế…

Từ thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta có cơ sở để phát huy cao độ tiềm lực của cả nước, thực hiện đại đoàn kết 54 dân tộc anh em trong một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khắc phục mọi khó khăn, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện đường lối đổi mới, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

Nhân dân Sài Gòn tham gia cuộc míttinh mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
Nhân dân Sài Gòn tham gia cuộc míttinh mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)

Thư, nhật ký thời chiến

Trong hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, nhiều người con đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc nhưng bút tích của họ vẫn còn lưu lại.

Không chỉ chứa đựng bao tâm tình, nhiệt huyết, những bức thư, những dòng nhật ký nhuốm màu thời gian và khói bụi chiến trường còn là minh chứng cho sức mạnh tinh thần, lý tưởng sống cao đẹp của một thế hệ con người Việt Nam đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc trong thế kỷ XX.

Trong những năm tháng chiến tranh, có thể nói những lá thư, những trang nhật ký đã trở thành vật bất ly thân và gắn bó mật thiết với mỗi người lính; là cầu nối giữa tiền tuyến và hậu phương; là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm, ước nguyện và mong ước hòa bình.

Không chỉ chứa đựng bao tâm tình, nhiệt huyết, những bức thư, những dòng nhật ký thời chiến còn là minh chứng cho sức mạnh tinh thần, lý tưởng sống cao đẹp của một thế hệ người Việt Nam đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. 

Những lá thư, những trang nhật ký thời chiến được viết mọi lúc, mọi nơi, khi dưới hầm trú ẩn, lúc dừng chân trên đường hành quân ra trận, tại góc rừng già bình yên hay bên trận địa còn vương khói súng; gửi gắm bao niềm thương nỗi nhớ, bao hy vọng mà không hề bi lụy, không hề nhụt chí. Bởi “…bom đạn có thể làm rung chuyển núi rừng, nhưng không thể làm rung chuyển trái tim chúng con…”

Đong đầy tinh thần lạc quan và ý chí, lý tưởng cao đẹp

Không chỉ ghi chép về cuộc sống, sinh hoạt, học tập, công tác và chiến đấu, mỗi trang thư, nhật ký chiến trường còn đong đầy tâm tư, tình cảm, tinh thần lạc quan và ý chí, lý tưởng cao đẹp của những chiến sỹ trong cuộc chiến ác liệt với kẻ thù.

Bức thư của Liệt sỹ thanh niên xung phong Võ Thị Tần, tiểu dội trưởng, tiểu đội 10 cô gái thanh niên xung phong gửi về cho mẹ ngày 19/7/1968 được trưng bày tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)
Bức thư của Liệt sỹ thanh niên xung phong Võ Thị Tần, tiểu dội trưởng, tiểu đội 10 cô gái thanh niên xung phong gửi về cho mẹ ngày 19/7/1968 được trưng bày tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)

Dù mỗi người một hoàn cảnh, tâm thế, trạng thái riêng nhưng tất cả đều là những lăng kính soi chiếu cuộc sống, cuộc chiến đấu, với những tâm tư, tình cảm chung.

Ở họ luôn tràn đầy tinh thần lạc quan, lãng mạn hóa cả chiến tranh để làm yên lòng những người thân yêu nhất: “… Ở đây vui lắm mẹ ạ! Ban đêm giặc Mỹ soi sáng cho chúng con làm đường, ban ngày chúng ném bom giết cá cho chúng con cải thiện, bom đạn có thể làm rung chuyển núi rừng, nhưng không thể làm rung chuyển trái tim chúng con mẹ ạ!…” (Thư của liệt sỹ Võ Thị Tần, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4, thuộc Đại đội 552, Tổng đội Thanh niên xung phong tỉnh Hà Tĩnh, làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông ở Ngã Ba Đồng Lộc-Hà Tĩnh gửi mẹ ngày 19/7/1968).

Nếu như những lá thư gửi về hậu phương chan chứa niềm vui, lạc quan thì những dòng nhật ký của những người đi giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái chết lại thể hiện niềm tin son sắt vào một ngày hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước đang đến thật gần, những điều đã góp phần tiếp thêm sức mạnh, làm nên chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc.

Tất cả tạo nên những cung bậc cảm xúc đa dạng ở một giai đoạn khó quên của lịch sử đất nước. Trên đường ra trận, liệt sĩ Đỗ Đình Xô (chiến sỹ Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 20, Quân khu 9) đã viết những dòng nhật ký đong đầy cảm xúc về niềm tin chiến thắng: “Ta lại ra đi, tiếp những con đường vào gian khó và vinh quang: Chiến đấu. Ta ra đi mang theo tất cả tình yêu đất nước quê hương… Phía trước là mặt trận, là nơi những trận đánh đang tiếp diễn, đất nước đang chờ đợi chiến thắng của chúng tôi.”

Một số nhật ký tiêu biểu tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)
Một số nhật ký tiêu biểu tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)

Niềm tin ấy như càng mãnh liệt hơn trong chiến tranh ác liệt, ánh lên tinh thần thép của những người chiến sỹ cộng sản kiên trung. Họ khẳng định rằng: “Chiến tranh có thể tàn phá mọi thứ. Duy chỉ có một thứ chiến tranh không thể làm gì được, đó là mục tiêu lý tưởng, khát vọng hòa bình và ý chí đấu tranh của người lính Cụ Hồ” (Nhật ký của đồng chí Nguyễn Bá Hạnh (chiến sỹ Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 – Sư đoàn Sao Vàng, Quân khu 5).

Dưới “mưa bom, bão đạn,” nhiều trang thư, nhật ký đã được viết trên những tờ giấy xé vội hay tận dụng vỏ bao thuốc, mảnh vải quần… còn hằn nguyên dấu mồ hôi, khói bụi hoặc nhòe mờ vì thời gian. Nhiều dòng tâm sự được viết trong thời khắc người gửi đã dần tắt sự sống hay được gửi từ lao tù “địa ngục trần gian…”

Tất cả làm nên sự khác biệt đầy bi thương và hùng tráng của một thời gian khó mà kiêu hãnh của dân tộc.

“Ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn”

Trong những năm tháng chiến tranh, có những mối tình vô cùng sâu nặng nhưng khi Tổ quốc cần, người chiến sỹ luôn sẵn sàng hy sinh tình yêu riêng để chiến đấu vì sự nghiệp chung của dân tộc.

Cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm tràn đầy chất lý tưởng và tình người của người con gái Hà Nội, một liệt sỹ, bác sỹ đã hy sinh anh dũng khi tuổi đời chưa đầy 28. đã được dịch ra khoảng 20 thứ tiếng.
Cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm tràn đầy chất lý tưởng và tình người của người con gái Hà Nội, một liệt sỹ, bác sỹ đã hy sinh anh dũng khi tuổi đời chưa đầy 28. đã được dịch ra khoảng 20 thứ tiếng.

Trong bức thư cuối cùng chưa kịp gửi về gia đình, liệt sỹ Lê Văn Huỳnh nhắn đến người vợ trẻ: “Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống hòa bình hãy nhớ tới công anh.”

Hay những dòng tâm sự trong bức thư duy nhất mà chiến sỹ Khương Thế Hưng gửi cho người yêu mình – bác sỹ Đặng Thùy Trâm: “Sự sống của tình yêu không cần sự có mặt của nhau, dù ở Nam hay Bắc, dù là gần nhau hay xa cách ngàn dặm đường nắng mưa cát bỏng. Ở đâu anh cũng vẫn là anh của 8 năm qua và nhiều năm nữa, để mà yêu em tha thiết. Hãy sống với nhau như một người thân yêu nhất trên đời.”

Dù không biết trước được ngày về nhưng trước khi ra chiến trường, họ vẫn dành cho nhau những lời hẹn ước vô cùng lãng mạn. Liệt sỹ Đỗ Đình Xô (chiến sỹ Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 20, Quân khu 9) đã nói với người yêu trước lúc lên đường: “Em yên tâm ở nhà, anh đi đánh giặc sớm về, rồi chúng mình cùng đi trên con đường đỏ lửa nắng hè…”

Trong những lá thư sau gửi người yêu nơi hậu phương, anh còn khẳng định bằng thơ:

“Đóa hoa em để trên bànHoa theo năm tháng thời gian đổi màuTình ta muôn thuở dài lâuNếu không nguyện để kiếp sau làm người.”

Đậm sâu một thế giới nội tâm da diết, mỗi trang thư, mỗi dòng nhật ký còn gửi gắm những điều tưởng chừng giản dị mà xa xôi, là những khát khao thương nhớ, những phút giây ngắn ngủi được gặp vợ, gặp con rồi lại chia tay lên đường đi chiến đấu.

Một số bức thư tiêu biểu tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)
Một số bức thư tiêu biểu tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)

Trong cuốn nhật ký của đồng chí Hoàng Quang Hưng (Đội điều trị 51, Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần) viết “… Ở nơi cuộc chiến tranh diễn ra ác liệt, hằng ngày bên các đồng chí, anh có thể khắc phục được tất cả… Song đôi khi anh vẫn thấy thiếu thốn về tình cảm, đó cũng là tâm trạng chung của những người đi xa, anh nhớ em…”

Không chỉ đong đầy nỗi nhớ, mỗi lá thư gửi đi, gửi đến từ hậu phương, từ tiền tuyến còn động viên, khích lệ tinh thần người chiến sỹ nơi tuyến đầu đánh giặc và làm an lòng người ở hậu phương: “Mẹ ơi, thời gian này mặc dù địch đánh phá ác liệt nhưng bọn con vẫn tập được nhiều bài hát mới. Cuốn sổ tay mẹ mới gửi cho con dạo nọ đã gần hết giấy rồi, mẹ gửi thêm cho con ít giấy. Mới về thăm mẹ mà sao con thấy nhớ mẹ quá, mẹ nhớ giữ gìn sức khỏe và đừng lo cho con nhiều” (Thư của liệt sỹ Võ Thị Tần gửi mẹ ngày 19/7/1968).

Hay lá thư gửi vợ trước khi lên chiến trường Tây Nguyên (tháng 4-1968), Thượng úy Đỗ Sâm, phòng Pháo binh, Bộ Tham mưu Quân khu 5 đã động viên: “… Em hãy luôn tự hào có một người chồng xứng đáng đang ở trên tuyến đầu tiêu diệt kẻ thù của Tổ quốc và em hãy luôn xứng đáng là một người vợ đáng để anh suốt đời mến phục.”

Đó còn là lời dặn của người lính Ngô Bích Sen (quê xã Đông Xuân, huyện Kim Anh, Vĩnh phúc, nay là Sóc Sơn, Hà Nội) với người vợ trẻ trước ngày ra trận (tháng 11-1973):

“Hãy nhớ lời anh dặn em ơiNuôi con mình tới ngày vào lớp mộtAi thương yêu thì em bước tiếpThế là em trọn với anh rồi…”

 Những bức thư từ hậu phương gửi vào tiền tuyến trưng bày tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)
 Những bức thư từ hậu phương gửi vào tiền tuyến trưng bày tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)

Đáp lại những cánh thư gửi về từ chiến trường, thư hậu phương gửi ra tiền tuyến cũng mang đầy nỗi nhớ thương da diết; những lời động viên ân cần, để các anh, các chị vững vàng tay súng, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng.

“… Em chỉ mong anh tích cực công tác, nắm chắc tay súng giữ lấy Cồn Cỏ thân yêu, quyết không để quân thù cướp lấy…, anh giữ lấy đảo như giữ lòng chung thủy của em không để cho một ai cướp mất” (Thư của chị Phạm Thị Hiền ở Cửa Tùng, Vĩnh Linh, Quảng Trị gửi chồng là chiến sỹ Võ Văn Phương, Đại đội 32, Trung đoàn 270, Quân khu 4).

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, những cuốn nhật ký, những lá thư đi-về không trọn vẹn. Có khi phải mất cả năm người thân mới nhận được, hay có những lá thư đến tay người nhận thì người lính đã hy sinh, lại có những lá thư được trở về từ lòng đất mẹ. Mặc dù vậy nhưng những trang thư hay là những dòng nhật ký đã nhuốm màu thời gian vẫn vẹn nguyên lý tưởng cao đẹp của người lính cầm súng trong mưa bom, bão đạn hay trong những giây phút sinh tử cận kề.

Cảm hóa, thức tỉnh và dẫn dắt những người lính bên kia chiến tuyến

Không chỉ đong đầy cảm xúc và lý tưởng cao đẹp, những trang thư, nhật ký đầy lửa và chất thép này còn cảm hóa, thức tỉnh và dẫn dắt những người lính bên kia chiến tuyến tìm kiếm, trả lại những báu vật vô giá cho chủ nhân hoặc thân nhân của nó.

Cựu binh Mỹ Carl W. Greifzu một người Mỹ gốc Đức, một cựu binh trong chiến tranh Việt Nam, là người có công giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm. đến ôm hôn mẹ anh hùng liệt sỹ Đặng Thùy Trâm, nghẹn ngào không nói lên lời. (Ảnh: Đặng Vương Hưng)
Cựu binh Mỹ Carl W. Greifzu một người Mỹ gốc Đức, một cựu binh trong chiến tranh Việt Nam, là người có công giữ cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” hơn 20 năm. đến ôm hôn mẹ anh hùng liệt sỹ Đặng Thùy Trâm, nghẹn ngào không nói lên lời. (Ảnh: Đặng Vương Hưng)

Nhiều năm qua, bằng con đường ngoại giao và thông qua một số dự án, nhiều cựu chiến binh Mỹ đã đưa những kỷ vật chiến tranh, trong đó có cả những cuốn nhật ký của chiến sỹ Quân Giải phóng Việt Nam được trở về đất mẹ – nơi sinh ra những người con dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc.

Điển hình như cuốn nhật ký của bác sỹ, liệt sỹ Đặng Thùy Trâm được sỹ quan quân báo Hoa Kỳ Frederic Whitehurst lưu giữ 35 năm và đã trao trả cho gia đình liệt sỹ Đặng Thùy Trâm vào tháng 4/2005.

Hay nhật ký bằng tranh của họa sỹ Lê Đức Tuấn, vẽ 109 bức tranh phong cảnh, chân dung và cảnh sinh hoạt diễn tập của bộ đội từ tháng 3-1967 đến tháng 3/1968, được con gái một cựu quân nhân Mỹ trao trả lại vào năm 2009.

Nhiều cuốn nhật ký sau này đã được xuất bản thành sách, như Nhật ký của liệt sỹ Đỗ Đình Xô, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc… và trở thành cuốn sách gối đầu giường của những thế hệ trẻ sau này.

Tính lý tưởng của thanh niên Việt Nam thời chiến vốn không phải là một khái niệm xa lạ với giới trẻ hiện nay. Nhưng sự xuất hiện hai cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi 20” và “’Nhật ký Đặng Thùy Trâm” là cơ hội để thế hệ trẻ được tiếp xúc với những biểu hiện cụ thể và xác thực nhất của lý tưởng đã trở thành một thứ niềm tin của ông cha.

Bìa cuốn sách “Nhật ký thời chiến Việt Nam”
Bìa cuốn sách “Nhật ký thời chiến Việt Nam”

Ngày 26/4/2020, nhân kỷ niệm 45 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2020), Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Quỹ “Mãi mãi tuổi 20” và Câu lạc bộ “Trái tim người lính” xuất bản bộ sách “Nhật ký thời chiến Việt Nam” của nhiều tác giả.

Bộ sách do nhà văn, cựu chiến binh Đặng Vương Hưng chủ biên, gồm 4 tập, mỗi tập dầy hơn 1.000 trang.Nhà văn, cựu chiến binh Đặng Vương Hưng cho biết ông được Hội đồng Quản lý “Quỹ mãi mãi tuổi 20” giao trách nhiệm tổ chức sưu tầm và biên soạn bộ sách “Nhật ký thời chiến Việt Nam,” phải mất 16 năm (2004-2020) ông và các cộng sự mới hoàn thành công trình tâm huyết này.

Đây là lần đầu tiên, những tác phẩm “Nhật ký thời chiến Việt Nam” hay nhất, nổi tiếng nhất một thời cùng đứng chung trong một bộ sách, với 30 tác phẩm của 30 tác giả.

Những lá thư thời chiến. (Ảnh: Nhà báo Đặng Vương Hưng cung cấp)
Những lá thư thời chiến. (Ảnh: Nhà báo Đặng Vương Hưng cung cấp)

Không chỉ có nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi”“Nhật ký Đặng Thùy Trâm,” mà còn có hàng chục cuốn nhật ký đầy máu lửa chiến trường khác như “Gửi lại mai sau” của Nguyễn Hải Trường (tức liệt sỹ Công an Nhân dân Vũ trang Nguyễn Minh Sơn), những trang viết của các văn nghệ sỹ nổi tiếng: “Nhật ký chiến tranh” của anh hùng, nhà văn, liệt sỹ Chu Cẩm Phong; “Nhật ký chiến trường” của liệt sỹ, nhà văn Dương Thị Xuân Quý; “Những ngày trong vòng vây” của nhà báo, nhà văn Trần Mai Hạnh; “Nhật ký vượt Trường Sơn” của tiến sỹ Phạm Quang Nghị; “Nhật ký Bê trọc” của nhà văn, tiến sỹ Phạm Việt Long và “Nhật ký đi B” của cố nhà văn Triệu Bôn…

Đánh giá về bộ sách này, nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Tổng thư ký thứ Nhất Hội Nhà văn Á-Phi khẳng định không có gì mang tính chính xác về cuộc chiến tranh hơn là những trang nhật ký của chính những người lính. Bởi họ viết những trang nhật ký này ngay tại chiến trường, viết những gì mà họ muốn nói nhất khi biết rằng sau đó họ có thể mãi mãi không thể trở về với gia đình, quê hương họ. Họ viết trong bom đạn, chết chóc.

Qua những dòng chữ và trang giấy mỏng manh đã ngả màu thời gian như có lửa, có thép, các thế hệ có thể nhận rõ khí phách Việt Nam – những điều đã làm nên sức mạnh trường tồn của cả dân tộc.

Chỉ khi cái chết cận kề thì tiếng nói con người mới vang lên trung thực nhất. Và sự trung thực ấy đã minh chứng tình yêu đất nước, yêu độc lập tự do và sự dâng hiến trọn vẹn của họ cho Tổ quốc.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng những bức thư, những dòng nhật ký thời chiến mãi là những chứng nhân lịch sử vô cùng sinh động về lý tưởng cống hiến cho đất nước của cả một thế hệ; tình yêu gia đình, tình yêu lứa đôi hòa cùng tình yêu đất nước, luôn vững tin vào một ngày mai chiến thắng.

Qua những dòng chữ và trang giấy mỏng manh đã ngả màu thời gian như có lửa, có thép, các thế hệ có thể nhận rõ khí phách Việt Nam – những điều đã làm nên sức mạnh trường tồn của cả dân tộc./.

Cuốn “Nhật ký bằng tranh” của đồng chí Lê Đức Tuấn (chiến sỹ Đại đội 1, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 2019, Sư đoàn 312” được trưng bày tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)
Cuốn “Nhật ký bằng tranh” của đồng chí Lê Đức Tuấn (chiến sỹ Đại đội 1, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 2019, Sư đoàn 312” được trưng bày tại triển lãm chuyên đề “Thư, Nhật ký thời chiến” ngày 26/4/2018 tại Hà Nội.(Nguồn: Ban Tổ chức)

Đại dịch COVID-19

Quy mô của cuộc khủng hoảng dịch bệnh COVID-19 đang khiến nhiều người chống vắcxin càng tin chắc hơn vào quan điểm của họ, nhưng cũng làm xói mòn sự phản đối ở những người khác.

Theo các chuyên gia, đại dịch COVID-19 có thể khiến một bộ phận những người chống vắcxin hoài nghi quan điểm của họ, nhưng cũng khiến những người khác càng chắc chắn hơn với niềm tin đó. Ngoài ra, sự do dự với việc tiêm vắcxin, được ủng hộ bởi một số người nổi tiếng, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới một chương trình tiêm chủng trong tương lai.

COVID-19 có thể khiến một bộ phận những người chống vắcxin hoài nghi quan điểm của họ, nhưng cũng khiến những người khác càng chắc chắn hơn với niềm tin đó.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện đang có 70 mẫu vắcxin chống virus SARS-CoV-2 đang được phát triển, trong đó có 3 mẫu đã sẵn sàng để thử nghiệm lâm sàng. Trong khi đó, phản ứng từ cộng đồng những người chống vắcxin lại đang có sự chia rẽ.

“Những người có quan điểm cực đoan, những nhóm phản đối vắcxin xuất phát từ niềm tin của họ, với mục tiêu là ngăn cản và gây phân cực không hề có sự chuyển biến nào – thực tế là họ đang lợi dụng tình hình hiện nay,” Heidi Larson, giám đốc Dự án Niềm tin vào Vắcxin (VCP) tại London chia sẻ.

Một số nhân vật nổi tiếng với lượng người theo dõi đông đảo trên các mạng xã hội cũng đã bày tỏ sự hoài nghi của mình. Trên Facebook, Novak Djokovic, tay vợt số 1 thế giới cho biết thái độ phản đối của anh với vắcxin có thể ngăn cản anh trở lại thi đấu quần vợt, và nói rằng anh “không muốn bị ai ép phải tiêm vắcxin” để được đi lại tự do.

Rapper người Anh M.I.A. cũng bị nhiều người chỉ trích khi đăng dòng tweet: “Nếu phải chọn giữa vắcxin hoặc gắn chip, tôi thà chọn cái chết còn hơn.”

Trong một diễn biến khác, diễn viên người Australia Isabel Lucas đã bị cách chức khỏi vị trí đại sứ của một tổ chức từ thiện cho các bé gái sau khi phát ngôn rằng cô “không tin vào con đường tiêm chủng.”

Tay vợt số 1 thế giới Novak Djokovic cho biết thái độ phản đối vắcxin của anh có thể ngăn cản anh trở lại thi đấu quần vợt. (Nguồn: Getty Images)
Tay vợt số 1 thế giới Novak Djokovic cho biết thái độ phản đối vắcxin của anh có thể ngăn cản anh trở lại thi đấu quần vợt. (Nguồn: Getty Images)

Tuy nhiên, Larson cho biết cũng có những bằng chứng cho thấy những người “từng không chắc chắn vì một số lý do, hoặc đã gặp vấn đề với một loại vắcxin cụ thể – vắcxin MMR mà con họ được tiêm chẳng hạn – có thể sẽ hành xử khác đi trong bối cảnh đại dịch.”

VCP đã tiến hành một nghiên cứu dài 18 tháng với các đối tác tại địa phương trên toàn cầu, thực hiện các cuộc thăm dò ý kiến cấp quốc gia và xem xét các cuộc đối thoại trực tuyến về virus corona để đo lường thái độ với vắc xin trong tương lai.

Larson cho biết sau khi phân tích hơn 3 triệu bài đăng trên mạng xã hội mỗi ngày từ tháng 1 đến tháng 3, bà tự tin rằng đa số người dân “rất trông chờ vào vắcxin chống virus corona, và mong nó được đưa vào sử dụng càng sớm càng tốt.”

Quy mô và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng COVID-19 toàn cầu có thể làm xói mòn sự phản đối với vắcxin.

Tuy nhiên, vẫn sẽ có những sự phản đối. Phong trào chống vắcxin đã phát triển trên toàn cầu trong những năm gần đây, được thúc đẩy một phần bởi một nghiên cứu dài mà chưa được kiểm chứng từ Andrew Wakefield – một bác sỹ người Anh với luận điệu sai trái về mối liên hệ giữa vắc xin phòng sởi, quai bị và rubella (MMR) và chứng tự kỷ ở trẻ em.

Theo WHO, cơ quan đã xếp “sự do dự với việc tiêm vắcxin” vào một trong 10 mối đe dọa sức khỏe hàng đầu thế giới hồi năm ngoái, tùy vào tình hình dịch bệnh, khoảng 75-95% dân số thế giới cần được tiêm vắc xin để bảo đảm miễn dịch cộng đồng.

Khảo sát năm 2018 của tổ chức Wellcome Trust về thái độ với vắcxin của người dân trên toàn cầu cho thấy cứ 10 người thì có 8 người (79%) phần nào hoặc hoàn toàn đồng ý rằng vắcxin là an toàn, trong khi có 7% phần nào hoặc hoàn toàn không đồng ý với quan điểm đó.

Các con số cũng có sự khác biệt tùy theo khu vực địa lý: 72% người dân ở Bắc Mỹ và 73% ở Bắc Âu đồng ý rằng vắc xin an toàn, nhưng ở Tây Âu và Đông Âu, các con số chỉ là 59% và 40%.

Số người dân Anh từ chối tiêm vắc xin giảm sau ki dịch COVID-19 bùng phát. (Nguồn: AFP)
Số người dân Anh từ chối tiêm vắc xin giảm sau ki dịch COVID-19 bùng phát. (Nguồn: AFP)

Tuy nhiên, quy mô và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng COVID-19 toàn cầu có thể làm xói mòn sự phản đối với vắcxin. Một cuộc khảo sát gần đây của VCP tại Pháp, quốc gia có sự phản đối tiêm chủng mạnh mẽ nhất với 33% dân số không cho rằng vắc xin là an toàn, cho thấy chỉ có 18% số người được hỏi từ chối tiêm vắc xin chống virus corona.

Một cuộc thăm dò tại Vương quốc Anh hồi giữa tháng 3 cho thấy có khoảng 7% người dân sẽ từ chối tiêm vắcxin phòng ngừa virus corona, trong khi cuộc khảo sát thứ hai diễn ra hồi đầu tháng 4 – thời điểm số người chết vì COVID-19 bắt đầu tăng nhanh – cho thấy tỷ lệ này đã giảm xuống còn 5%.

Tại Nga – nơi chỉ có 62% người dân tin vào hiệu quả của vắcxin, theo số liệu của Wellcome Trust – đang có những dấu hiệu cho thấy những quan ngại với cuộc khủng hoảng virus corona đã gây ra những mâu thuẫn trong cộng đồng những người chống vắcxin và hoài nghi y tế.

Quản trị viên của The Truth about Vaccines (tạm dịch: Sự thật về vắcxin), một trong những nhóm chống vắcxin lớn nhất trên mạng xã hội, đã tỏ ra thất vọng với sự lung lay của 100.000 thành viên trong nhóm này.

“Biết điều gì làm tôi ngạc nhiên không?” quản trị viên này viết. “Tôi ngạc nhiên với phản ứng của những người chống vắcxin trong nhóm này. Nhiều người tin rằng đại dịch COVID-19 đang diễn ra ở Nga, rằng mọi người đang mắc bệnh và chết vì virus.”

Quản trị viên của The Truth about Vaccines tỏ ra thất vọng với sự lung lay của 100.000 thành viên trong nhóm này.

Ở Italy, Claudio Simion, thủ lĩnh nhóm chống vắcxin Comilva nói rằng vắcxin không phải là giải pháp duy nhất và “có thể chỉ là một cách để giúp mọi người bình tĩnh.” Nhưng ông cũng nói: “Chúng tôi không có thái độ thù địch với vắcxin.”

Tuy nhiên, ở những nơi khác, đại dịch dường như đã tăng cường thái độ của những người chống vắcxin. Ở Mỹ, nhiều nhân vật nổi tiếng đã chớp lấy cơ hội từ COVID-19 để củng cố những lập luận của họ và thúc đẩy các thuyết âm mưu.

Nhiều người cho rằng COVID-19 đang là cơ hội làm giàu cho ngành dược phẩm. (Nguồn: AFP)
Nhiều người cho rằng COVID-19 đang là cơ hội làm giàu cho ngành dược phẩm. (Nguồn: AFP)

Del Bigtree, nhà sản xuất của Vaxxed, một “phim tài liệu” năm 2016 do Wakefield viết kịch bản, đã có một bài thuyết trình dài một tiếng đồng hồ nói rằng COVID-19 là một âm mưu làm giàu của ngành dược phẩm.

Robert Kennedy Jr, con trai của cựu tổng thống John Kennedy thì lên Twitter buộc tội Bill Gates và các quan chức y tế cấp cao đang ủ mưu sản xuất một loại vắcxin “nguy hiểm và đáng sợ.”

Scott Ratzan, một thành viên của khoa y tế công cộng thuộc Đại học thành phố New York cho biết các kết quả của một cuộc thăm dò dư luận ở New York, với chỉ 53% người dân chắc chắn sẽ đồng ý tiêm vắcxin ngừa virus corona và 29% sẽ từ chối, là rất đáng báo động.

“Chuyện gì sẽ xảy ra nếu có nhiều người quyết định không tiêm vắcxin cho mình hay cho con cái của họ?” Ratzan đặt câu hỏi. “Ngay lúc này, gần một nửa dân số New York nói rằng họ sẽ làm điều đó. Nếu chuyện đó xảy ra, chúng ta sẽ không thể bảo vệ cộng đồng khỏi một làn sóng bệnh dịch mới.”

Larson cho biết thời điểm công bố vắcxin, được dự đoán là trong năm 2021, đóng vai trò cực kỳ quan trọng, vì nhiều mẫu thử nghiệm có thể sẽ bị từ chối bởi bất kỳ lý do nào đã bị đẩy nhanh tiến độ và không được thử nghiệm chỉn chu.

“Chuyện gì sẽ xảy ra nếu có nhiều người quyết định không tiêm vắcxin cho mình hay cho con cái của họ?”

Larson cũng cho rằng bà không tin virus corona sẽ có tác động trực tiếp tới quan điểm chống vắcxin. Tuy nhiên bà đã dự đoán về tác động gián tiếp, khi những lo sợ về dịch bệnh dẫn tới việc trì hoãn tiêm vắcxin phòng sởi tại 24 quốc gia và sự hủy bỏ tại 13 quốc gia khác, làm dấy lên sự lo ngại từ cả WHO và UNICEF.

Nếu sự do dự với vắcxin không giảm xuống sau cuộc khủng hoảng COVID-19, Larson cho rằng đó có thể là kết quả của “những đợt bùng phát các bệnh khác như sởi tăng lên vì các bậc phụ huynh không dám đưa con cái của họ đến các trung tâm y tế giữa tình hình đại dịch.”

Dịch bệnh có thể sẽ bùng phát nếu người dân tiếp tục do dự với vắcxin. (Nguồn: AFP)
Dịch bệnh có thể sẽ bùng phát nếu người dân tiếp tục do dự với vắcxin. (Nguồn: AFP)

Đông Nam Á trước thách thức COVID-19

Với số ca nhiễm hiện đã lên đến hàng chục nghìn người và tốc độ lây lan cấp số nhân ở một số nước chỉ trong vài ngày qua, khu vực Đông Nam Á đang có nguy cơ trở thành một điểm nóng mới của đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Tính đến sáng 22/4, khu vực này ghi nhận hơn 30.000 ca nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19, trong đó 88,8% là ở Singapore, Indonesia, Philippines và Malaysia.

Thực trạng này đòi hỏi các nhà lãnh đạo các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) phải hành động quyết liệt hơn ở quy mô trong nước cũng như toàn khu vực.

Tính đến sáng 22/4, khu vực ASEAN ghi nhận hơn 30.000 ca nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh COVID-19, trong đó 88,8% là ở Singapore, Indonesia, Philippines và Malaysia.

Singapore hiện là quốc gia có số ca mắc COVID-19 cao nhất tại Đông Nam Á, trong đó phần lớn là lao động nước ngoài hợp pháp sống chen chúc trong các khu nhà tập thể.

Sau vài ngày liên tiếp có số ca nhiễm mới trong ngày vượt quá con số 1.000, tới nay Singapore ghi nhận tổng cộng 9.125 ca nhiễm, với 11 ca tử vong. Đáng chú ý, số ca mắc bệnh tại đảo quốc này đã tăng gấp 6 lần kể từ đầu tháng.

Nhân viên y tế kiểm tra sức khỏe cho người dân tại khu tập thể Toh Guan ở Singapore ngày 8/4/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)
Nhân viên y tế kiểm tra sức khỏe cho người dân tại khu tập thể Toh Guan ở Singapore ngày 8/4/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)

Vùng dịch lớn thứ hai là Indonesia, với 7.135 người nhiễm song số ca tử vong cao nhất khu vực (616 ca), nằm trong nhóm 5 nước châu Á có tỉ lệ tử vong cao. Tiếp đến là Philippines, 6.599 ca và Malaysia 5.482 ca.

Các chuyên gia cho rằng có nhiều nguyên nhân khiến tình hình dịch bệnh ở một số nước Đông Nam Á đang dần vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

Năng lực y tế được coi là một yếu tố, song cũng có ngoại lệ, như trường hợp Singapore được đánh giá là một trong những nước có hệ thống y tế tốt nhất thế giới. Tuy vậy, tình trạng nhiều nước ASEAN chỉ dành ngân sách tối thiểu cho hệ thống y tế rõ ràng ảnh hưởng không nhỏ.

Ngân sách y tế hạn hẹp khiến cho các nước như Philippines, Indonesia, Lào… rơi vào cảnh thiếu bộ xét nghiệm chẩn đoán virus SARS-CoV-2 cũng như thiết bị bảo hộ khi “cơn lốc” COVID-19 bất ngờ ập đến.

Tỷ lệ xét nghiệm còn quá thấp, nhiều nước thậm chí còn phải gửi mẫu xét nghiệm sang các nước láng giềng để phân tích, trong khi nhân viên y tế phải tận dụng túi đựng rác và áo mưa để bảo vệ mình.

Quân đội và cảnh sát Indonesia tham gia phun thuốc khử trùng phòng lây lan dịch COVID-19 tại Surabaya, ngày 16/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Quân đội và cảnh sát Indonesia tham gia phun thuốc khử trùng phòng lây lan dịch COVID-19 tại Surabaya, ngày 16/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Ngoài ra, do thiếu bảo hiểm y tế, nhiều người không đi khám sức khỏe khi xuất hiện những triệu chứng của bệnh COVID-19, khiến cho công tác phát hiện, sàng lọc và khoanh vùng thêm khó khăn.

Nguyên nhân thứ hai là sự bùng nổ lao động nhập cư ở Đông Nam Á, vốn đóng góp rất lớn vào sự phát triển của khu vực với số lượng hiện khoảng 10 triệu người.

Đơn cử tại Singapore, khoảng 90% số ca lây nhiễm COVID-19 là lao động nước ngoài sinh sống tại hơn 1.200 khu nhà ở chật chội trên khắp cả nước.

Nhiều phòng trọ là nơi sinh hoạt chung của 10-20 người, khiến nguy cơ lây nhiễm là rất lớn. Chi phí y tế đắt đỏ so với thu nhập cũng khiến nhiều người ngần ngại đi khám sức khỏe khi có triệu chứng.

Kết quả là, chỉ trong 2 tuần qua, số ca nhiễm trong cộng đồng người lao động nhập cư ở Singapore đã tăng gấp 70 lần, lên thành hơn 3.000 ca từ mức chỉ 38 ca hồi đầu tháng này.

Nhân viên y tế lấy mẫu dịch xét nghiệm COVID-19 cho người dân tại bệnh viện ở Damansara, Malaysia ngày 30/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Nhân viên y tế lấy mẫu dịch xét nghiệm COVID-19 cho người dân tại bệnh viện ở Damansara, Malaysia ngày 30/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Truyền thống tập trung đông người trong các sự kiện tôn giáo cũng có thể là một lý do. Ví dụ điển hình là Malaysia, nhiều ca nhiễm có liên quan đến một sự kiện tôn giáo diễn ra từ ngày 27/2-1/3 với sự tham gia của gần 16.000 người, trong đó có 1.500 người nước ngoài.

Việc tổ chức một sự kiện tập trung hàng nghìn người như vậy không những làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus SARS-CoV-2 ở Malaysia mà còn khiến virus nguy hiểm này phát tán ra nhiều nước.

Ngoài ra, tình hình an ninh bất ổn ở miền Nam Philippines hay những khó khăn kinh tế tại một số nước cũng đang gây cản trở nỗ lực dập dịch.

Một lý do nữa cũng phải nhắc đến là tâm lý chủ quan, lơ là của người dân, trong khi tại nhiều nơi, chính quyền chưa kịp thời có biện pháp can thiệp quyết liệt từ sớm.

Ở Singapore, nhiều người vẫn đi làm khi thấy không khỏe, vẫn đến các trung tâm mua sắm hay quán bar đông người để tụ tập với bạn bè, trong khi nhiều người vì ích kỷ cá nhân vẫn cố tình vi phạm dù được yêu cầu cách ly 14 ngày tại nhà.

 Người dân đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 khi xếp hàng bên ngoài một cửa hiệu ở Manila, Philippines ngày 11/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
 Người dân đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 khi xếp hàng bên ngoài một cửa hiệu ở Manila, Philippines ngày 11/4/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Đây là một trong những nguyên nhân khiến Singapore, từ một quốc gia được coi là “mô hình” kiểm soát dịch hiệu quả trong giai đoạn đầu tiên, nay lại đứng đầu khu vực về số ca lây nhiễm.

Trong số các nước Đông Nam Á, Việt Nam đang được đánh giá là kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, dù có đường biên giới dài hơn 1.000 km với Trung Quốc, tâm dịch đầu tiên của thế giới.

Tới sáng 22/4, Việt Nam đã bước qua ngày thứ sáu liên tiếp không ghi nhận các ca nhiễm mới, 81% trong tổng số 268 ca mắc COVID-19 đã được công bố khỏi bệnh (216 ca) và không có ca tử vong.

Tại cuộc họp báo trực tuyến của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương, tổ chức ngày 21/4, ông Takeshi Kasai, Giám đốc WHO khu vực Tây Thái Bình Dương đánh giá cao nỗ lực chống dịch của Việt Nam, với “sự lãnh đạo hiệu quả, quyết liệt và xuyên suốt nhiều cấp chính quyền,” đồng thời “đề ra được kế hoạch phù hợp và thực hiện nó đúng với những gì đã dự đoán trước, trong mỗi giai đoạn.”

Theo thống kê của WHO, Việt Nam đang là quốc gia có tỷ lệ ca mắc COVID-19 trên tổng dân số thấp thứ hai của khu vực Tây Thái Bình Dương (3 ca bệnh/1000.000 dân).

Truyền thông quốc tế và khu vực nhận định Việt Nam là “hình mẫu” thành công của một chiến lược chống dịch “chi phí thấp” song hiệu quả cao nhờ có phản ứng nhanh chóng với các biện pháp chủ động, quyết liệt, đồng bộ và minh bạch mà các quốc gia ASEAN cũng như nhiều nước trên thế giới có thể học hỏi.

Tích cực điều trị cho các ca bệnh COVID-19 nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 (Đông Anh, Hà Nội). (Ảnh: Hồng Hà/TTXVN)
Tích cực điều trị cho các ca bệnh COVID-19 nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 (Đông Anh, Hà Nội). (Ảnh: Hồng Hà/TTXVN)

Nhằm chặn đứng đà lây lan của dịch COVID-19, hiện các nước ASEAN đều đang áp dụng các biện pháp hạn chế đi lại và cách ly xã hội ở nhiều mức độ khác nhau.

Philippines là một trong những quốc gia đầu tiên tại khu vực thực hiện, với khoảng 50% trong tổng số 107 triệu dân thuộc diện cách ly.

Singapore đóng cửa toàn bộ các công sở, dịch vụ không thiết yếu từ ngày 7/4, các trường học, chuyển sang học trực tuyến từ ngày 8/4.

Tại Indonesia, quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới, thủ đô Jakarta triển khai giãn cách xã hội trên diện rộng, đóng cửa các trung tâm thương mại, các chợ chuyển sang bán hàng trực tuyến và các nhà hàng chỉ cung cấp dịch vụ cho khách mang đi, việc tụ họp trên 5 người bị cấm.

Trong khi đó, Malaysia áp dụng lệnh phong tỏa toàn quốc với những biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt từ ngày 18/3.

Kiểm tra thân nhiệt cho người dân tại một trạm kiểm soát ở Bangkok, Thái Lan nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19, ngày 26/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Kiểm tra thân nhiệt cho người dân tại một trạm kiểm soát ở Bangkok, Thái Lan nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19, ngày 26/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Thái Lan coi giãn cách xã hội là “một vũ khí mạnh” để chống lại COVID-19 và đặt mục tiêu đạt 80% dân số thực hiện giãn cách xã hội, trong khi Việt Nam, bên cạnh hàng loạt biện pháp hiệu quả được áp dụng từ cuối tháng 1, cũng đã thực hiện cách ly toàn xã hội từ ngày 1/4, yêu cầu người dân không ra đường khi không cần thiết, chỉ mở cửa những cơ sở thiết yếu phục vụ đời sống xã hội…

Cùng với Việt Nam, tới nay một số quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia… cũng đã ghi nhận tiến triển bước đầu trong phòng chống COVID-19 khi số lượng các ca nhiễm mới đang trong xu hướng giảm.

Tuy nhiên, kết quả này chưa đồng đều ở tất cả các nước Đông Nam Á, khiến dịch bệnh COVID-19 vẫn đang là thách thức đối với toàn khu vực.

Nguy cơ trở thành một điểm nóng mới của đại dịch COVID-19 đòi hỏi lãnh đạo các quốc gia ASEAN phải hành động quyết liệt hơn ở quy mô trong nước cũng như toàn khu vực. 

Trước tình hình này, với tư cách Chủ tịch ASEAN 2020, ngày 14/4, Việt Nam đã chủ trì Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN và Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN+3 (các nước đối tác Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) dưới hình thức trực tuyến để thảo luận việc thúc đẩy hợp tác giữa các nước ASEAN cũng như giữa ASEAN với các đối tác nhằm cũng nhau đối phó với đại dịch COVID-19.

Tuyên bố chung của cả hai hội nghị trên đều khẳng định quyết tâm và cam kết của các nước trong việc tăng cường đoàn kết, thúc đẩy hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau hành động một cách quyết liệt nhằm kiểm soát và ngăn chặn sự lây lan của đại dịch, giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh đối với đời sống của người dân, nền kinh tế và xã hội khu vực.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 phát biểu khai mạc Hội nghị Cấp cao đặc biệt trực tuyến ASEAN với các đối tác Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc (ASEAN+3) về ứng phó với dịch bệnh COVID-19. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 phát biểu khai mạc Hội nghị Cấp cao đặc biệt trực tuyến ASEAN với các đối tác Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc (ASEAN+3) về ứng phó với dịch bệnh COVID-19. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trước đó, Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò dẫn dắt Cộng đồng ASEAN ứng phó với đại dịch COVID-19, với việc ra Tuyên bố của Chủ tịch ASEAN về ứng phó chung của ASEAN trước sự bùng phát của dịch bệnh hồi tháng 2 vừa qua, đề nghị và chủ trì một loạt cuộc họp của ASEAN và ASEAN với Trung Quốc để thảo luận về hợp tác phòng chống COVID-19, cũng như chủ động chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ Lào, Campuchia, Myanmar, Indonesia…

Người dân đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Phnom Penh, Campuchia, ngày 25/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người dân đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Phnom Penh, Campuchia, ngày 25/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Như đánh giá của Tổng Thư ký ASEAN Dato Lim Jock Hoi sau hai hội nghị cấp cao đặc biệt nêu trên: “Việt Nam đã chỉ ra rằng chúng ta có thể vượt qua các thách thức từ đại dịch COVID-19 nếu các nước trong khu vực hợp tác cùng nhau trong tình đoàn kết và sự kiên cường” trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn diễn biến khó lường và không có giới hạn quốc gia, các nước Đông Nam Á cần một nỗ lực chung và phản ứng tập thể để đối phó với khủng hoảng.

“Gắn kết và chủ động thích ứng,” đó là tinh thần mà Chủ tịch ASEAN năm 2020 Việt Nam đã và đang tích cực điều phối và thúc đẩy để cả Cộng đồng ASEAN cùng nhau vượt qua thời khắc cam go này./.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 chủ trì Hội nghị Cấp cao đặc biệt trực tuyến ASEAN với các đối tác Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc (ASEAN+3) về ứng phó với dịch bệnh COVID-19. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 chủ trì Hội nghị Cấp cao đặc biệt trực tuyến ASEAN với các đối tác Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc (ASEAN+3) về ứng phó với dịch bệnh COVID-19. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Chủ quyền biển đảo Việt Nam

Với tầm nhìn về vai trò quan trọng của biển đảo, ông cha chúng ta từ xa xưa đã đổ biết bao công sức để khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển, đảo khác, khi mà chúng chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc (UNCLOS 1982), Việt Nam kiên quyết và kiên trì bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng biện pháp hòa bình, trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, thông qua nhiều bằng chứng pháp lý và lịch sử thuyết phục.

TTXVN xin giới thiệu chùm 2 bài: Chứng cứ lịch sử và Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam để độc giả hiểu rõ hơn về chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cứ liệu lịch sử

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo vô chủ cho đến thế kỷ XVII. Lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa và ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là Bãi Cát Vàng (thể hiện trong bản đồ cổ của Việt Nam mang tên “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” do nhà địa lý Đỗ Bá biên soạn và hoàn thành năm 1686).

Vào nửa đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn tổ chức “đội Hoàng Sa” lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp.

Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa được nhiều triều đình phong kiến trước đây xác lập, thực thi nhất quán và liên tục; cùng bao công sức, thậm chí cả tính mạng của nhiều thế hệ người dân đất Việt

Chúa Nguyễn lại tổ chức thêm “đội Bắc Hải” lấy người thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa.

Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử, điển hình sau:

Thư tịch cổ

+ “Phủ biên tạp lục” – cuốn sách do nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776 là tài liệu cổ xưa, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Nghĩa.

Lê Quý Đôn miêu tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với 2 quần đảo này.

 Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)
 Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)

Sách chép: “Ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải.”

“ Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ đến tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về…

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản…”

+ “Đại Việt sử ký tục biên” (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê-Trịnh biên soạn, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn.

Ý nghĩa của “Đại Việt sử ký tục biên” chính là tác phẩm này đã biến ghi chép khoa học, khách quan của Lê Quý Đôn thành một nội dung của bộ Quốc sử, chuyển tinh thần cơ bản của bản viết tay của Lê Quý Đôn thành bản khắc in chính thức trên danh nghĩa quốc gia.

 Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)
 Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)

+ “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú là bộ bách khoa thư lớn của thế kỷ XIX, được hoàn thành vào năm 1821 có phần dư địa chí chép về Hoàng Sa từ địa thế, sản vật đến việc tổ chức Đội Hoàng Sa.

Sách viết: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Dương ở gần biển. Ngoài biển phía Đông Bắc có đảo (Hoàng Sa), nhiều núi linh tinh, đến hơn 130 ngọn núi. Đi từ chỗ núi (chính) ra biển (sang các đảo khác) ước chừng hoặc một ngày hoặc vài trống canh.

Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số yến sào, các thứ chim có đến hàng nghìn vạn con, thấy người vẫn cứ đỗ quanh, không bay tránh…

Các đời chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy những hải vật. Hằng năm cứ đến tháng 3, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ 6 tháng lương, chở 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, 3 ngày 3 đêm mới đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ tìm kiếm các thứ… Đến tháng 8 thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn đến thành Phú Xuân, đưa nộp.”

+ “Đại Nam thực lục chính biên” là bộ sử ký do Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn soạn, viết về các đời vua Nguyễn. Phần viết về đời Vua Gia Long (1802-1819), Vua Minh Mệnh (1820-1840), Vua Thiệu Trị (1841-1847) được soạn xong năm 1848, ghi sự kiện Vua Gia Long chiếm hữu các đảo Hoàng Sa; sự kiện Vua Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia, trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này.

Năm 1815, Vua Gia Long “cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển.”

Năm 1816, Vua Gia Long “lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển.”

Năm 1833, Vua Minh Mệnh chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị thuyền sang năm sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối.

Năm 1834, Vua Minh Mệnh cử đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người ra Hoàng Sa vẽ bản đồ.

Năm 1835, Vua Minh Mệnh sai cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính và thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến Hoàng Sa dựng miếu. Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong.

Ông Đặng Thanh Tùng, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (bên trái) trao 19 Châu bản triều Nguyễn nói về việc xác lập và thực thi chủ quyền của triều đình nhà Nguyễn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho ông Võ Ngọc Đồng, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
Ông Đặng Thanh Tùng, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (bên trái) trao 19 Châu bản triều Nguyễn nói về việc xác lập và thực thi chủ quyền của triều đình nhà Nguyễn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho ông Võ Ngọc Đồng, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)

Năm 1836, chuẩn y lời tâu của Bộ Công, Vua Minh Mệnh sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ. Yêu cầu của công việc đo đạc, vẽ bản đồ đã được “Đại Nam thực lục chính biên” ghi lại rất chi tiết:

“Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển chung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tận đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình.”

+ “Đại Nam nhất thống chí” là bộ sách địa lý chính thức của nước Việt Nam, do Quốc sử quán thời Tự Đức biên soạn từ năm 1865-1910. Phần nói về tỉnh Quảng Ngãi xác định các đảo Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi và công việc khai thác các đảo này vẫn tiếp tục, việc quản lý được tăng cường dưới các đời Vua Gia Long và Minh Mệnh.

Sách viết: “Phía đông tỉnh Quảng Ngãi, có đảo cát (tức đảo Hoàng Sa), kiền cát với biển làm hào, phía Tây Nam miền sơn man, có lũy dài vững vàng, phía nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn.”

“Đầu đời vua Gia Long, phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đây thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam còn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ “Vạn lý Ba Bình” (muôn dặm sóng yên).

Cồn cát này xưa gọi là Phật Tự Sơn, phía Đông và phía Tây đảo đều có đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, ngang với cồn cát gọi là Bàn Than Thạch. Năm Minh Mệnh thứ 16 sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được đồng lá và gang sắt có đến hơn 2000 cân.”

Các bản đồ cổ

+ Theo “Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá, tự Công Đạo sưu tầm, biên soạn và hoàn thành năm 1686, ít nhất đến thế kỷ XVII, bản đồ Việt Nam đã gọi hai quần đảo bằng cái tên chung là Bãi Cát Vàng và ghi nó vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa.

Lúc đó, Bãi Cát Vàng còn được gọi bằng nhiều tên khác như: Hoàng Sa, Cồn Vàng, Trường Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn lý Trường Sa… và ngày nay là Hoàng Sa và Trường Sa.

 Tập Atlas Thế giới của nhà địa lý học kiệt xuất người Bỉ Philippe Vandermaelen (1795-1869), thành viên Hội địa lý Paris, được xuất bản năm 1827 khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
 Tập Atlas Thế giới của nhà địa lý học kiệt xuất người Bỉ Philippe Vandermaelen (1795-1869), thành viên Hội địa lý Paris, được xuất bản năm 1827 khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Trong lời chú giải bên trên bản đồ có nói rõ việc khai thác “Bãi Cát Vàng” của chúa Nguyễn như sau: “… Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm (1) đến cửa Sa Vinh (2). Mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; có gió đông bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”

+ “Giáp Ngọ bình Nam đồ” – bản đồ xứ Đàng Trong do Đoan quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

+ “Đại Nam nhất thống toàn đồ” hoàn thành trong khoảng năm 1838 dưới thời vua Minh Mệnh. Trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” và “Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam.

+ “An Nam đại quốc họa đồ” của Giám mục Jean Louis Taberd năm 1838, trong đó có vẽ 9 dấu chấm nhỏ tượng trưng cho khu vực được đánh dấu là Paracels seu Cát Vàng (Paracels hay là Cát Vàng).

+ “Bộ Atlas thế giới” xuất bản ở Brussels 1827

“Bộ Atlas thế giới” của Philippe Vandermaelen (1795-1869) – nhà địa lý học kiệt xuất, thành viên Hội Địa lý Paris, xuất bản năm 1827 tại Brussels là một bằng chứng hùng hồn về giá trị pháp lý quốc tế cao, bổ sung vào kho bằng chứng khổng lồ chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Theo tập bản đồ này, Việt Nam được giới thiệu trong các tấm bản đồ số 97, 105, 106, 110 đều có ghi chú rõ ràng, quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thuộc chủ quyền của Đế chế An Nam (Empire d’An-nam) (3).

Đặc biệt, tờ bản đồ Partie de la Cochinchine (4) (tờ số 106-Châu Á) là bản đồ đầu tiên đã vẽ một cách tuyệt đối chính xác vị trí (kinh độ, vĩ độ), đặc điểm địa lý, tên gọi phương Tây của các đảo lớn nhất và quan trọng nhất trong quần đảo Hoàng Sa.

Bản đồ đặt trong khu vực Cochinchine là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của Đế chế An Nam, minh chứng một cách rõ ràng và chuẩn xác chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa đã được quốc tế ghi nhận.

“Bộ Atlas thế giới” xuất bản ở Brussels 1827 hiện do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước – Bộ Nội vụ bảo quản và lưu giữ từ năm 2014.

Văn bản hành chính cổ

Các Châu bản triều Nguyễn là bằng chứng rõ ràng về quá trình thực thi chủ quyền của các nhà nước phong kiến Việt Nam ở hai quần đảo này. Điển hình như:

+ Các bản tấu của Thủ ngự Đà Nẵng về việc thuyền của Pháp mắc cạn ở Hoàng Sa (27/6/1830 – năm Minh Mệnh thứ 11)

+ Bản dụ của vua Minh Mệnh thứ 16 (11/7/1835) và vua Minh Mệnh thứ 18 (13/7/1837) về các đoàn đi công vụ ở Hoàng Sa

+ Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), Bộ Công dâng sớ lên tâu vua rằng: “Bản quốc Hải cương Hoàng Sa xứ, tối thị hiểm yếu” (Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực biển nước ta, hết sức hiểm yếu).

+ Các bản tấu của Bộ Công (13/7/1837 – năm Minh Mệnh thứ 18) về việc phạt những người đi Hoàng Sa không lập xong bản đồ, về việc phái đoàn công vụ lên đường ra Hoàng Sa nhưng do gặp gió lớn mà không xuất phát được…

+ Đặc biệt có tờ tấu của Bộ Công (21/6/1838 – năm Minh Mệnh thứ 19) cho biết đoàn khảo sát Hoàng Sa trở về báo cáo đã đến được 25 đảo thuộc 3 vùng, (trong đó có 12 hòn đảo đoàn đến kiểm tra lại, còn 13 đảo đoàn chưa từng đến.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) theo nghi thức truyền thống, nhằm tái hiện những đội thuyền năm xưa ra đi bảo vệ vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) theo nghi thức truyền thống, nhằm tái hiện những đội thuyền năm xưa ra đi bảo vệ vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)

“Theo viên dẫn đường Vũ Văn Hùng thì toàn bộ xứ Hoàng Sa có 4 vùng, lần này khảo sát được 3 vùng, còn một vùng ở phía Nam, nơi này cách nơi kia khá xa, gió Nam lại thổi mạnh, việc khởi hành đến đó không tiện, phải đợi gió thuận thì muộn, xin đợi đến sang năm cử thuyền đến đó. Lại xem xét 4 bản đồ mang về (có 3 bức vẽ riêng từng vùng, 1 bức vẽ chung), cùng một bản nhật ký cũng chưa được tu sửa hoàn chỉnh, xin cho Bộ Thần thẩm tra kỹ và sức cho họ chỉnh sửa hoàn thiện để dâng trình.”

Tư liệu từ nhiều nhà hàng hải, giáo sỹ phương Tây

Sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố năm 1982 dẫn các nguồn tư liệu lịch sử có ghi rõ một số sự kiện như sau:

Một giáo sỹ phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701, viết trong một lá thư rằng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam.”

J.B. Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú thích bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine: “Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh (5)… một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành…”

“Ghi chép về địa lý nước Cochinchine” xuất bản năm 1837, cũng mô tả “Pracel hay Paracels” là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “Cát Vàng.”

Khách tham quan triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu ‘Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý’ tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/9/2019, (Ảnh: Thu Hoài/TTXVN)
Khách tham quan triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu ‘Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam – Những bằng chứng lịch sử và pháp lý’ tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/9/2019, (Ảnh: Thu Hoài/TTXVN)

Giám mục J.L.Taberd, trong bài

Trong “An Nam đại quốc họa đồ” xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay.

Trong bài “Địa lý vương quốc Cochinchina” của Gutzlaff xuất bản năm 1849, có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là “Kát Vàng.”

Như vậy, các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sỹ phương Tây kể trên đã cho thấy, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác (từ thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn) đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới các hình thức và biện pháp khác nhau như thành lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để vãng thám, kiểm tra kiểm soát; khai thác các sản vật, cứu tàu bị nạn; khảo sát, đo vẽ bản đồ; dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết…

Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được quy định rõ ràng. Ví dụ như Vua Tự Đức (1867) đã phong cho những chiến sỹ đội Trường Sa hy sinh danh hiệu “Hùng binh Trường Sa.”

Công việc ở Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng gian nan nguy hiểm, nhiều trường hợp có đi mà không có về. Ý thức được đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm với quê hương đất nước, nhiều người tự nguyện coi đó là trách nhiệm của chính mình.

Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa được nhiều triều đình phong kiến trước đây xác lập, thực thi nhất quán và liên tục; cùng bao công sức, thậm chí cả tính mạng của nhiều thế hệ người dân đất Việt./.

 Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)
 Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

(1) Cửa Đại Chiêm nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam

(2) Cửa Sa Vinh nay là cửa Sa Huỳnh, thuộc tỉnh Quảng Ngãi

(3) “Đế chế An Nam” hay “Vương quốc An Nam” chỉ nước Việt Nam thời bấy giờ.

(4) Danh từ Cochinchine (tiếng Pháp) hoặc Cochinchina (tiếng Anh) có hai nghĩa tùy theo văn cảnh: a) Nước Việt Nam thời bây giờ, dịch là nước Cochinchine; b) Xứ Đàng Trong thời bấy giờ, dịch là xứ Cochinchine.

(5) Tức Đàng ngoài

Bảo vệ chủ quyền biển đảo

Các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sỹ phương Tây ở Phần I bài viết đã cho thấy, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác (từ thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn) đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới các hình thức và biện pháp khác nhau.

Vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam là hết sức thiêng liêng, nhưng cũng hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trước sau như một, Việt Nam kiên quyết và kiên trì đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam, Pháp nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các chính quyền miền Nam Việt Nam sau này cũng đều phản đối kiên quyết tất cả các trường hợp xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cứ liệu lịch sử các giai đoạn tiếp theo

Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam theo Hiệp ước ngày 6/6/1884, Pháp nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Vùng Cảnh sát biển 2 luôn đồng hành với ngư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). (Ảnh: Trần Tĩnh/TTXVN)
Vùng Cảnh sát biển 2 luôn đồng hành với ngư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). (Ảnh: Trần Tĩnh/TTXVN)

Trong thời kỳ đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã có phương án dựng một đèn biển ở quần đảo Hoàng Sa, tiến hành các cuộc tuần tiễu trong vùng biển hai quần đảo bằng các tàu chiến để đảm bảo an ninh.

Từ năm 1925 đến năm 1927, Viện Hải dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để nghiên cứu về hải dương, địa chất, sinh vật…

Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alert, La Malicieuse và cả tàu De Lanessan liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa.

Từ năm 1930 đến năm 1933, các đơn vị hải quân Pháp lần lượt đóng tại các đảo chính của quần đảo Trường Sa, gồm Trường Sa, An Bang, Ba Bình, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ.

Việc này được công bố trong Công báo của nước Cộng hòa Pháp ra ngày 26/7/1933. Cũng trong năm 1933, quần đảo Trường Sa được quy thuộc vào tỉnh Bà Rịa theo Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer.

Năm 1938, quần đảo Hoàng Sa được nhập vào tỉnh Thừa Thiên. Nhà cầm quyền Đông Dương đã cho một đơn vị quân đội ra đóng tại quần đảo Hoàng Sa và lập các trạm khí tượng, vô tuyến điện, xây dựng thêm bia chủ quyền, đèn biển.

Đầu năm 1939, Nhật Bản tuyên bố đặt một số đảo của quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của họ, Pháp đã chính thức phản kháng. Từ năm 1939 cho đến hết cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản đã chiếm đóng cả hai quần đảo này.

Tàu cá của ngư dân vào neo đậu tránh trú bão ở âu tàu Sinh Tồn, huyện đảo Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)
Tàu cá của ngư dân vào neo đậu tránh trú bão ở âu tàu Sinh Tồn, huyện đảo Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)

Khi trở lại Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu năm 1947, Pháp đã yêu cầu Trung Quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép từ cuối năm 1946. Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc và xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.

Năm 1956, khi rút khỏi Đông Dương, Pháp đã chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho nhà cầm quyền Sài Gòn. Nhà cầm quyền Sài Gòn đã cho quân ra tiếp quản hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, xây dựng các bia chủ quyền tại các đảo chính, duy trì các trạm khí tượng (các trạm này đã được đăng ký vào danh mục các trạm của Tổ chức Khí tượng thế giới OMM), cử các đoàn khảo sát khoa học ra nghiên cứu.

Lợi dụng việc Pháp rút khỏi Đông Dương, năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân ra xâm chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1974, lợi dụng việc quân đội chính quyền Sài Gòn phải đối phó với cuộc tiến công của lực lượng vũ trang của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng không quân và hải quân chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa.

Lúc đó chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên bố kịch liệt phản đối và đã thông báo cho các nước và Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về sự kiện này. Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã công bố lập trường 3 điểm bao gồm đề nghị các bên liên quan phải cùng nhau thương lượng để giải quyết vấn đề.

Trong tất cả các trường hợp xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều lên tiếng phản đối kiên quyết.

Những hội nghị quốc tế

Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét.

– Tại Hội nghị Cairo (tháng 11/1943), khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, những người đứng đầu các nước Anh, Mỹ và Cộng hòa Trung Hoa đã họp tại Cairo, thủ đô Ai Cập. Tuyên bố Cairo không ghi nhận quần đảo Paracel tức Hoàng Sa và Spratly tức Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

– Tại Hội nghị Potsdam (tháng 7/1945), những người đứng đầu 3 nước Liên Xô, Mỹ, Anh lại ra tuyên bố xác nhận lại một lần nữa Tuyên bố Cairo.

– Tại Hội nghị hòa bình San Francisco (tháng 8/1951) với sự tham gia của 51 quốc gia, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được thừa nhận.

Chiến sỹ đảo Núi Le nâng cao cảnh giác, vững vàng tay súng bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Chiến sỹ đảo Núi Le nâng cao cảnh giác, vững vàng tay súng bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Tại Hội nghị này, trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã khẳng định chủ quyền lâu đời của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp bất cứ sự phản đối nào của 50 quốc gia tham dự còn lại. Sự kiện đó chứng tỏ Hội nghị San Francisco đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

– Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và Quốc gia Việt Nam quản lý.

– Điều 1 Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý, và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

Như vậy, theo luật pháp quốc tế đương thời về thụ đắc lãnh thổ, một quốc gia được coi là có chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ khi quốc gia đó chứng minh được mình đã chiếm hữu, thực thi, quản lý và khai thác lãnh thổ đó với tư cách Nhà nước một cách liên tục, hòa bình. Theo đó, Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Một số sự kiện liên quan đến việc Trung Quốc chiếm đóng các đảo và xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam

Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm vào các năm: Năm 1946, lấy cớ giải giáp quân Nhật ra chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; năm 1956 đối với bộ phận phía Đông của quần đảo Hoàng Sa; năm 1974 đối với bộ phận phía Tây quần đảo Hoàng Sa; và năm 1988 đối với một số đá, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa.

Từ góc độ của luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi phi pháp.

Từ sau năm 1988, Trung Quốc tiến hành cải tạo, xây dựng, biến một số thực thể địa lý ở phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa của Việt Nam thành các đảo nhân tạo lớn, đủ để xây dựng và bố trí các thiết bị quân sự hải, lục, không quân hiện đại.

Ngoài ra, Trung Quốc đã đưa tàu thăm dò dầu khí vào bãi Tư Chính (năm 1994), đưa giàn khoan Kantan 03 vào khoan thăm dò trên thềm lục địa Việt Nam (năm 1997), thực hiện một số vụ cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam, trong đó có tàu Bình Minh 02 (năm 2011), đưa giàn khoan Hải Dương 981 trái phép vào vùng biển của Việt Nam (năm 2014).

Từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 10/2019, Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 nhiều lần khảo sát trái phép tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Căn cứ vào UNCLOS 1982, khu vực mà Trung Quốc đưa tàu vào hoạt động không phải là khu vực tranh chấp hay có chồng lấn mà là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng.(Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng.(Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Gần đây nhất, tàu cá QNg 90617 TS và 8 ngư dân Việt Nam đang hoạt động bình thường tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu hải cảnh Trung Quốc ngăn cản và đâm chìm.

Trước việc Trung Quốc ngày 18/4/2020 thông báo thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và “quận Nam Sa” (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam) tại “thành phố Tam Sa,” ngày 19/4/2020, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng lê tiếng phản đối mạnh mẽ:

“Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Lập trường nhất quán của Việt Nam là phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” và các hành vi có liên quan, vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không có giá trị và không được công nhận, không có lợi cho quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia và gây thêm phức tạp tình hình Biển Đông, khu vực và thế giới.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, huỷ bỏ các quyết định sai trái liên quan đến những việc làm đó và không có những việc làm tương tự trong tương lai.”

Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế

Với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Việt Nam trước sau như một khẳng định nhất quán kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các quần đảo, các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như đã được quy định theo luật pháp quốc tế, bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Chiến sỹ Trường Sa ngày đêm canh gác biển trời Tổ quốc. (Ảnh: Trần Việt/ TTXVN)
Chiến sỹ Trường Sa ngày đêm canh gác biển trời Tổ quốc. (Ảnh: Trần Việt/ TTXVN)

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam – là văn bản pháp quy đầu tiên và là cơ sở nền tảng cho các văn bản pháp quy sau này.

Tuyên bố xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, không chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác.

Tuyên bố này được đưa ra khi Công ước Luật Biển 1982 đang được xây dựng, phản ánh xu thế được đa số các nước ủng hộ tại Hội nghị Luật Biển lần thứ 3, thể hiện sự đóng góp của Việt Nam vào quá trình pháp điển hóa tiến bộ luật biển quốc tế.

Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước Luật Biển, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

Đồng thời, Nghị quyết còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến vấn đề Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển 1982.

Là thành viên Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý.

Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà tại đó Việt Nam được hưởng những quyền lợi đối với vùng biển và tài nguyên theo quy định của Công ước là khoảng gần 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền.

Trẻ em vui đùa trên đảo Trường Sa Lớn. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)
Trẻ em vui đùa trên đảo Trường Sa Lớn. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã ban hành Luật Biển Việt Nam năm 2012 nhằm thống nhất quản lý việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển và quản lý các vùng biển, thềm lục địa, hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng.

Cùng với việc ban hành Luật Biển, Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Hàng hải 2015, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015)…

Vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam là hết sức thiêng liêng, nhưng cũng hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trước sau như một, Việt Nam kiên quyết và kiên trì đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, cả ở thực địa và trên mặt trận ngoại giao, qua nhiều kênh và ở nhiều cấp khác nhau để giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế./.

Lá cờ Tổ quốc làm từ gốm trên nóc nhà văn hóa đảo Trường Sa Lớn. (Ảnh: Nguyễn Thủy/TTXVN)  
Lá cờ Tổ quốc làm từ gốm trên nóc nhà văn hóa đảo Trường Sa Lớn. (Ảnh: Nguyễn Thủy/TTXVN)