Maradona sẽ luôn “bất tử” trong tim người hâm mộ

Huyền thoại bóng đá thế giới Diego Maradona đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 24/11/2020 sau một cơn đau tim đột ngột. Sự ra đi của “Cậu bé vàng” với những pha xử lý bóng đầy mê hoặc đã khiến người hâm mộ trên toàn thế giới vô cùng bàng hoàng và tiếc thương. Tổng thống Argentina Alberto Fernandez đã quyết định để Quốc tang huyền thoại bóng đá Maradona trong 3 ngày.

Maradona đã đưa người hâm mộ bóng đá Argentina trải qua mọi cung bậc cảm xúc, với đỉnh cao là chiếc cúp vàng World Cup 1986

Với hơn 300 bàn thắng xuyên suốt cả sự nghiệp, cùng nhiều pha xử lý bóng trên sân đầy mê hoặc, Diego Maradona được ca ngợi là một trong những huyền thoại của làng bóng đá thế giới.

Trong suốt sự nghiệp vẻ vang của mình, Maradona đã đưa người hâm mộ bóng đá Argentina trải qua mọi cung bậc cảm xúc, với đỉnh cao là chiếc cúp vàng World Cup 1986 cùng các “vũ công Tango” và hai bàn thắng “để đời” trong trận Tứ kết gặp đội tuyển Anh cùng năm đó…

Người viết trang sử mới cho bóng đá Argentina

Diego Maradona sinh ngày 30/10/1960, tại Buenos Aires, Argentina, trong một gia đình nghèo. Với cậu bé Maradona, cuộc sống khi ấy chỉ có bóng đá và bóng đá. Trong các trận bóng với hội trẻ con trong làng, cậu luôn là ngôi sao với khả năng điều khiển bóng và tốc độ vô cùng ấn tượng.

Sau này, “cậu bé vàng” của làng bóng từng chia sẻ rằng: “Tôi muốn làm mọi thứ với bóng, đôi khi chẳng giống ai. Nếu không có bóng đá, cuộc sống của tôi không biết sẽ đi về đâu.”

Với niềm đam mê cháy bỏng, mơ ước lớn nhất của cậu bé Maradona là trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Mùa hè năm 1969, cuộc đời cậu đã bước sang một trang mới khi tham gia cuộc thi tuyển chọn tài năng trẻ của câu lạc bộ Argentinos Juniors. Với tài năng thiên bẩm, cậu đã chính thức trở thành cầu thủ của câu lạc bộ Argentinos Juniors. Và hành trình của huyền thoại bóng đá Diego Maradona chính thức bắt đầu.

Maradona và hai bàn thắng để đời.

Người ta ví Maradona giống huyền thoại bóng đá Pele ở chỗ cả hai đều ra mắt đội tuyển quốc gia từ rất sớm. Diego Maradona có trận ra mắt đội tuyển quốc gia Argentina vào ngày 27/2/1977, trong trận gặp Hungary, khi mới 17 tuổi. Tuy nhiên, ông không được tham dự World Cup 1978 do tuổi đời còn quá trẻ.

Đến năm 1979, Maradona tham dự FIFA U20 World Cup tại Nhật Bản. Tại giải đấu này, ông nổi lên như một ngôi sao của giải đấu, giúp U20 Argentina vô địch và được trao tặng danh hiệu “Quả bóng vàng.”

World Cup 1982, Diego Maradona lần đầu tiên được ra sàn đấu lớn thế giới ở Tây Ban Nha trong trận gặp Bỉ. Dù thất bại 0-1 trước Bỉ nhưng Argentina vẫn lọt vào vòng hai sau chiến thắng trước hai đội Hungary và El Savaldor. Tuy nhiên, Argentina đã phải dừng cuộc chơi sớm khi chạm chán “ông lớn” Brazil.

Kết thúc mùa giải năm đó, Maradona ra sân đủ 450 phút thi đấu chính thức, với 2 bàn thắng. Trở về Argentina, ông tiếp tục lao vào tập luyện và phải 4 năm sau, đến Worl Cup 1986, Maradona đã tỏa sáng rực rỡ.

Giải đấu năm 1986 tổ chức tại Mexico, được xem là một trong những kỳ chung kết World Cup cảm xúc bậc nhất trong lịch sử bóng đá, ghi dấu ấn lẫy lừng trong sự nghiệp của Maradona.

Đây là nơi giai thoại gắn liền với Argentina và Maradona luôn được người người nhắc đến mỗi khi nói về World Cup. Người ta gọi đó là “bàn tay của Chúa”. Bởi vì chỉ có Chúa mới biết được làm thế nào mà Diego Maradona dùng tay ghi bàn vào lưới đội tuyển Anh mà vẫn được trọng tài người Tunisia Ali Bennaceur công nhận.

Chỉ có Chúa mới biết được làm thế nào mà Diego Maradona dùng tay ghi bàn vào lưới đội tuyển Anh.

Ngày 25/6/1986, đội tuyển Argentina vào bán kết gặp Bỉ và một lần nữa khán giả trên khắp thế giới phải nín thở dõi theo từng bước chạy của người được nhật báo Pháp L’Equipe gọi là “nửa quỷ, nửa thần.”

Và Diego Maradona trở thành huyền thoại với 2 bàn thắng xuất sắc vào lưới đội tuyển Bỉ. Vượt qua Bỉ, Argentina tiếp tục bước vào trận chiến cuối cùng với Tây Đức, chạm trán với những “tượng đài” bóng đá Adreas Brehme và Lothar Matthaeus. Kết thúc World Cup 1986, Maradona được trao giải Quả bóng vàng cùng danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới.

Maradona cùng Argentina vô địch World Cup 1986. (Nguồn: Getty Images)
Maradona cùng Argentina vô địch World Cup 1986. (Nguồn: Getty Images)

Mùa hè Italy năm 1990, Diego Maradona tiếp tục là tâm điểm sự chú ý của thế giới. Sau 4 năm, tuy những bước chạy của ông không còn rực lửa như trước, nhưng vẫn đưa Argentina vào tận chung kết sau khi đánh bại đội tuyển Italy trên chấm luân lưu. Chiến thắng tưởng như trong tầm tay đã trượt mất khi Argentina không thể vượt qua sự vững chắc của “cỗ xe tăng” Đức.

Bốn năm sau trên đất Mỹ, Diego Maradona vẫn tiếp tục cống hiến cho Argentina hết sức mình nhưng đó cũng chính là thời điểm khởi đầu cho hàng loạt những “tai tiếng” của ông. Khi ghi bàn vào lưới Hy Lạp, Maradona chạy đến trước ống kính và ăn mừng với nét mặt bất thường, sau đó FIFA đã xét nghiệm và trục xuất ông về Argentina với lý do dương tính với doping.

Từ đó về sau, người ta không còn chứng kiến Diego Maradona thi đấu tại World Cup nữa bởi sau scandal, ông đã tuyên bố chính thức giải nghệ.

Người hùng của Napoli

Trong bóng đá, đặc biệt là tại giải đấu Serie A, có những mối “tình duyên” không thể giải thích. Và Maradona với câu lạc bộ Napoli của Italy là một trong số đó.

Câu lạc bộ này từng chịu chi 9 triệu USD – một kỷ lục thế giới vào thời điểm ấy – để nhận về chữ ký của Maradona. Nhiều người từng ví đây là mối duyên tiền định. Maradona mang lại cho Câu lạc bộ Napoli luồng sinh khí mới, trên cả khía cạnh thành tích lẫn tinh thần. Bỏ qua khởi đầu khó khăn, Maradona thừa hưởng băng đội trưởng và dẫn dắt Napoli một mạch lên đỉnh vinh quang.

Lịch sử Napoli gần 100 năm có tổng cộng 11 danh hiệu, trong số đó 5 chiếc vào thời gian Maradona khoác áo câu lạc bộ.

Với Maradona, Napoli chơi thứ bóng đá tuyệt vời nhất lịch sử và vươn đến đỉnh cao sự nghiệp. Từ một cầu thủ ở dạng tiềm năng, Maradona trở thành cầu thủ số một thế giới.

Còn về Napoli, từ một câu lạc bộ chưa từng vô địch Serie A, Napoli trở thành đối thủ đáng gờm và lần đầu tiên trong lịch sử phá vỡ thế thống trị bóng đá Italy của những câu lạc bộ lớn như AC Milan, Juventus…

Maradona trong màu áo Napoli. (Nguồn: the42.ie)
Maradona trong màu áo Napoli. (Nguồn: the42.ie)

Trong 8 năm thi đấu tại Napoli (1984-1992), Maradona đã ra sân 188 trận và có hơn 100 bàn thắng, đồng thời giúp đội bóng lập nhiều kỷ lục với 2 lần giành chức vô địch Scudetto, 1 lần đoạt Coppa Italia, 1 lần vô địch UEFA Cup và giành thêm 1 Siêu Cup Italy.

Lịch sử Napoli gần 100 năm có tổng cộng 11 danh hiệu, trong số đó 5 chiếc vào thời gian Maradona khoác áo câu lạc bộ. Trong màu áo Napoli, Maradona đã thể hiện những pha bóng đẹp nhất sự nghiệp và trở thành người hùng của Napoli.

Tuy nhiên, ông đã khóc như mưa sau một đêm chung kết thất bại và ra đi vì dương tính với doping. Napoli bắt đầu trượt dốc không phanh, trong khi Maradona không bao giờ còn là chính ông nữa.

Luôn bất tử trong lòng người hâm mộ

Tại Argentina, Maradona được coi là thiên tài độc nhất vô nhị và là cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất trong lịch sử. Ngoài tài năng bóng đá thiên bẩm, tính cách sôi nổi và vô tư của “Cậu bé vàng” cũng đã chinh phục con tim và sự đồng cảm của nhiều thế hệ người dân “xứ sở Tango.”

Trong niềm tiếc thương huyền thoại của bóng đá nước nhà và thế giới, Tổng thống Argentina Alberto Fernandez đã quyết định để Quốc tang “Cậu bé vàng” Maradona trong 3 ngày.

Dự kiến, lễ viếng huyền thoại Maradona sẽ được tổ chức từ ngày 26/11/2020 tại Phủ Tổng thống Casa Rosada, trụ sở cơ quan hành pháp Argentina ở thủ đô Buenos Aires.

Cổ động viên tưởng nhớ huyền thoại Diego Maradona. (Nguồn: AP)
Cổ động viên tưởng nhớ huyền thoại Diego Maradona. (Nguồn: AP)

Vốn là một cổ động viên trung thành của câu lạc bộ Argentinos Juniors, nơi Maradona khởi đầu sự nghiệp bóng đá, ông Fernandez cho biết vẫn không thể tin được rằng ngôi sao lớn nhất trong lịch sử bóng đá Argentina đã về cõi vĩnh hằng và ông coi đây là một ngày buồn nhất đối với các cổ động viên của Argentinos Juniors nói riêng và người hâm mộ bóng đá Argentina và thế giới nói chung.

Trong khi đó, người vẫn được coi là truyền nhân của Maradona, siêu sao của Barcelona và ngôi sao của tuyển Argentina Lionel Messi chia sẻ trên tài khoản Instagram rằng dù Maradona đã ra đi nhưng ông sẽ sống mãi trong tim của mọi người.

Trên mạng xã hội Instagram, “Vua bóng đá” Pele đã viết những dòng đầy cảm xúc: “Tôi đã mất đi một người bạn thân, còn thế giới mất đi một huyền thoại. Còn rất nhiều điều để nói, nhưng hy vọng Chúa sẽ mang đến sức mạnh cho gia đình cậu ấy vào lúc này. Tôi hy vọng một ngày nào đó chúng tôi sẽ cùng nhau chơi bóng trên thiên đường.”

Ngoài tài năng bóng đá thiên bẩm, tính cách sôi nổi và vô tư của “Cậu bé vàng” cũng đã chinh phục con tim và sự đồng cảm của nhiều thế hệ người dân “xứ sở Tango.”

Một trong những huyền thoại của bóng đá thời hiện đại Cristiano Ronaldo thì gọi Maradona là “một trong những cầu thủ xuất sắc nhất và là một ảo thuật gia không ai có thể sánh bằng.”

“Mái nhà xưa” Napoli cùng hàng loạt câu lạc bộ lớn trên thế giới như Real Madrid, Manchester City, Everton… và nhiều nhân vật quan trọng trong làng bóng đá thế giới cũng gửi những lời tri ân tưởng nhớ đến Maradona.

Maradona đã ra đi vào cõi vĩnh hằng nhưng đối với người hâm mộ thì hình tượng của ông là bất tử và có lẽ với nhiều người thì những cảm xúc mà ông đem lại sẽ không bao giờ nhạt phai.

     Vietnam-Cuba     Relato de una amistad imperecedera

En 1954, patriotas vietnamitas, decididos a romper las cadenas del colonialismo, cargaron sobre los campos de Dien Bien Phu. Lucharon con denuedo incansable. Lucharon como poetas guerreros. Y conquistaron su libertad.

Casi cinco años después, a miles de kilómetros de distancia, en una pequeña isla del mar Caribe otra flama revolucionaria descendió de las montañas el 1 de enero de 1959 para prender una luz de esperanza en América Latina y el resto del mundo.

Quizás nadie, o muy pocos, podían intuirlo entonces. Pero ambos pueblos y sus Revoluciones quedarían profundamente hermanados. Hasta nuestros días…

Las imagenes sobre la visita del líder cubano Fidel Castro a la zona de liberación de Vietnam del Sur en septiembre de 1973 (Foto: vtv.vn)
Las imagenes sobre la visita del líder cubano Fidel Castro a la zona de liberación de Vietnam del Sur en septiembre de 1973 (Foto: vtv.vn)

Lazos históricos

Bien mirado, no es fortuito que fuese José Martí el primero en hablarle de Vietnam a las nuevas generaciones de cubanos y latinoamericanos, cuando en 1889 publicó en la revista La Edad de Oro un artículo en el que exponía las costumbres y los valores de los vietnamitas, un pueblo humilde y trabajador que luchó muchas veces por su independencia.

Tampoco lo fue que Cuba se convirtiese, el 2 de diciembre de 1960, en el primer país de América Latina en establecer oficialmente relaciones diplomáticas con la entonces República Democrática de Vietnam…

Tampoco lo fue que Cuba se convirtiese, el 2 de diciembre de 1960, en el primer país de América Latina en establecer oficialmente relaciones diplomáticas con la entonces República Democrática de Vietnam, justo cuando más arreciaban las agresiones imperialistas contra los dos países.

“… cuando los franceses nos han venido a quitar nuestro Hanoi, nuestro Hue, nuestras ciudades de palacios de madera, nuestros puertos llenos de casas de bambú y de barcos de junco, nuestros almacenes de pescado y arroz, (…) hemos sabido morir, miles sobre miles, para cerrarles el camino”, narraba Martí en boca de los vietnamitas, en un texto premonitorio del heroico triunfo de ese pueblo sobre el colonialismo.

Y en Dien Bien Phu, guiados por el sabio liderazgo de Ho Chi Minh y el general Vo Nguyen Giáp, el país indochino logró poner fin a 80 años de dominación de Francia y abolir la monarquía; aunque todavía debió enfrentar la reunificación del país (dividido en Norte y el Sur) en una las peores guerras del siglo XX contra Estados Unidos (1955-1975).

…el Gobierno cubano fue el primero en reconocer al Frente de Liberación Nacional de Vietnam del Sur y el único en abrir una embajada ante el gobierno provisional de ese territorio.

En ese contexto, tan solo 23 meses después del triunfo revolucionario de 1959, no solo se establecieron los nexos diplomáticos entre La Habana y Hanoi, sino que el Gobierno cubano fue el primero en reconocer al Frente de Liberación Nacional de Vietnam del Sur y el único en abrir una embajada ante el gobierno provisional de ese territorio.

Allí, en la actual provincia de Tay Ninh, cerca de Camboya, en una pequeña cabaña en pleno corazón de la selva tuvo su oficina Raúl Valdés Vivó, quien –además de su función como diplomático– desarrolló una intensa labor reporteril, junto a la también periodista Marta Rojas, para revelar a la opinión pública internacional las atrocidades cometidas por las tropas norteamericanas durante la guerra.

Mientras los invasores sembraban el estigma de la barbarie, arrojando sobre Indochina más de siete millones de toneladas de bombas -el triple de las lanzadas en Europa y Asia durante toda la Segunda Guerra Mundial-, Vietnam encontró un asidero en la solidaridad de Cuba. Y la ayuda de la Mayor de las Antillas no se hizo esperar.

Recuerdos imborrables

“Al comerte una fruta, piensa en aquel que plantó el árbol”, reza un tradicional proverbio en Vietnam, de ahí que los vietnamitas honran perennemente a sus héroes.

Sembrado de estatuas de patriotas y mártires, no solo los nombres de muchas de sus calles evocan a quienes dieron la vida por la causa justa de la independencia y reunificación nacional, sino que el país jamás se desvincula del ejemplo de Ho Chi Minh y sus ideales. Tampoco es desmemoriado con los amigos que le tendieron la mano en los momentos difíciles.

En ese sentido, en la retina de muchos vietnamitas permanece grabada una imagen: la de Fidel Castro, con su uniforme verde olivo, ondeando la bandera del Frente de Liberación Nacional del Sur para contagiarle su optimismo a los combatientes revolucionarios.

Fidel Castro hace ondear la bandera victoriosa condecorada con medallas de la brigada de Khe Sanh del Ejército de Liberación de Tri Thien, Hue. (Foto: VNA)
Fidel Castro hace ondear la bandera victoriosa condecorada con medallas de la brigada de Khe Sanh del Ejército de Liberación de Tri Thien, Hue. (Foto: VNA)

Por Vietnam estamos dispuestos a dar nuestra sangre”

Igualmente recuerdan siempre una frase: “Por Vietnam estamos dispuestos a dar nuestra sangre”, pronunciada por el líder cubano durante la Primera Conferencia Tricontinental de La Habana, en enero de 1966.

Corría septiembre de 1973, cuando Fidel realizó una visita histórica a Vietnam en uno de los momentos más tensos de la resistencia contra la invasión norteamericana. Y aunque los vietnamitas intentaron disuadirlo por considerar aquella expedición demasiada riesgosa, se convirtió en el primer y único Jefe de Estado extranjero en acudir a la zona liberada del Sur.

Jamás un mandatario extranjero se había acercado siquiera a esa región, donde el Paralelo 17 todavía fracturaba en dos un país indivisible y los continuos bombardeos y las minas sin estallar constituían una seria amenaza de muerte.

De hecho, en su recorrido por las provincias de Quang Binh y Quang Tri, el convoy de Fidel debió detenerse para trasladar con urgencia a una joven vietnamita gravemente herida por la metralla del enemigo.

“Si él no me hubiese ayudado, yo no estaría en este mundo”, afirma emocionada Nguyen Thi Huong (Foto: VNA)
“Si él no me hubiese ayudado, yo no estaría en este mundo”, afirma emocionada Nguyen Thi Huong (Foto: VNA)

“Si él no me hubiese ayudado, yo no estaría en este mundo”, afirma emocionada Nguyen Thi Huong, quien al conocer la noticia del deceso del líder cubano el 25 de noviembre de 2016, tras 90 años de una vida muy viva, no pudo evitar llorar sin consuelo ante la pérdida del segundo padre al que llamaba afectuosamente “abuelo”.

Como ella, miles de vietnamitas acudieron por esas fechas a la embajada cubana en Hanoi para expresar sus condolencias, con sinceras muestras de gratitud y respeto. Mientras, el Estado y las autoridades del país indochino declararon un día de duelo nacional en honor de quien, en palabras muy suyas, más que un aliado o amigo supo ser ante todo “un hermano”.

Pasan los años y Vietnam nunca olvida. Especialmente, en Quang Tri, donde todavía se aprecian las cicatrices de la guerra, late el recuerdo de aquella visita que es hoy una presencia permanente, gracias al monumento erigido para rendirle homenaje a Fidel.

Inauguración del Parque Fidel en la provincia central vietnamita de Quang Tri (Fuente: VNA)
Inauguración del Parque Fidel en la provincia central vietnamita de Quang Tri (Fuente: VNA)

Como recuerda Nguyen Trung Thanh, embajador de Vietnam en Cuba hasta 2020, por aquel entonces los enemigos no querían que se supiera que esta provincia era ya una zona liberada. La visita de Fidel hizo posible que el mundo lo supiera. Por ello, subraya, pero sobre todo por poner en alto los ideales de la solidaridad, la valentía, la dignidad, y el impulso de seguir luchando por la justicia, Fidel y Cuba calaron en el corazón de los vietnamitas.

Solidaridad a prueba de balas

Aquella primera visita del líder cubano –a la que luego se añadirían otras dos en 1995 y 2003– no solo guardó un especial simbolismo para estrechar el vínculo entre ambos países. También dejó arraigados firmemente los cimientos de la cooperación solidaria que se venía gestando desde la década anterior.

Ya en 1972, cuando las tropas estadounidenses arreciaban los bombardeos en el Norte y rociaban con napalm aldeas indefensas, los buques cubanos Imías y El Jigüe se las ingeniaron para romper el cerco impuesto al puerto de Hai Phong, bajo la tormenta de balas y torpedos, con el fin de llevar ayuda a Vietnam.

En pos de contribuir a la construcción de la ruta de Truong Son para el traslado de suministros al ejército y el pueblo de Vietnam del Sur, la Mayor de las Antillas envió equipamiento y provisiones, así como ingenieros y especialistas que se sumaron a trabajar, codo con codo, junto a la población de la nación indochina en la creación de aquel laberíntico sendero entre las montañas que burlaba el acoso aéreo del enemigo.

Asimismo, en nombre del pueblo cubano, Fidel ofreció a Vietnam varias obras estratégicas, que tendrían un impacto en el  desarrollo socioeconómico de la nación asiática aun después de terminada la guerra. A saber: el Hospital de Dong Hoi en la provincia Quang Binh, la carretera Son Tay-Xan Mai, el hotel Thang Loi en Hanoi, la granja Moncada en Ba Vi (dedicada al desarrollo genético del ganado bovino), la de vacas lecheras de Moc Chau, y la de cría avícola en Luong My.

El Hospital de Amistad Vietnam-Cuba en el distrito de Dong Hoi, provincia Quang Binh (Foto: VNA)
El Hospital de Amistad Vietnam-Cuba en el distrito de Dong Hoi, provincia Quang Binh (Foto: VNA)

Luego de la visita del líder cubano, miles de técnicos, arquitectos y trabajadores de la nación caribeña llegaron a Vietnam con la misión de ejecutar esas obras. También grupos de doctores y enfermeros cruzaron miles de kilómetros para trabajar allí voluntariamente.

La puesta en funcionamiento del Hospital de Amistad Vietnam-Cuba en el distrito de Dong Hoi, el más moderno del país en esa época, abrió una nueva etapa en la atención de la salud de los pobladores del país indochino.

En particular, la puesta en funcionamiento del Hospital de Amistad Vietnam-Cuba en el distrito de Dong Hoi, el más moderno del país en esa época, abrió una nueva etapa en la atención de la salud de los pobladores del país indochino.

Hasta la fecha, esas construcciones siguen funcionando y son utilizadas con eficiencia por Vietnam, como la prueba más fehaciente de los fuertes lazos de amistad y solidaridad entre ambos pueblos.

Inseparables en la paz

No en vano, cuando el 30 de abril de 1975, la bandera del Frente Nacional de Liberación de Vietnam del Sur finalmente ondeó en el Palacio de la Independencia en Saigón (hoy Ciudad Ho Chi Minh), y el mundo entero supo que el país se hallaba libre y unido; ese mismo día los principales periódicos cubanos celebraron el triunfo en sus portadas con el mismo júbilo que si fuera propio.

Con el paso de los años, cambian los tiempos y cambian las generaciones. Sin ir más lejos, hoy Vietnam es un país renovado que descuella entre las 16 economías más dinámicas del mundo y lucha con fuerza por erradicar la pobreza y garantizar la prosperidad de sus casi 100 millones de habitantes.

Estados Unidos, el enemigo de antaño, ha pasado a ser su principal socio comercial, tras la normalización de las relaciones emprendida en 1995. Pero hay cosas, sin embargo, que permanecen inalterables.

Para comprobarlo, solo hay que desandar las calles de Hanoi y conversar con su gente. Hop, Huong, Trung, Hoa, Oanh y Ha, por ejemplo, comparten dos cosas en común: todos trabajan en la Agencia Vietnamita de Noticias y, en diferentes etapas, estudiaron en Cuba.

Al igual que ellos, a lo largo de estas seis décadas, cientos y cientos  de vietnamitas viajaron a la Mayor de las Antillas para formarse en diversas carreras y contribuir a impulsar el desarrollo del país indochino a su regreso. Todos atesoran los recuerdos compartidos en la isla caribeña, a la cual muchos consideran una segunda Patria.

No son los únicos. Por la parte cubana, Carlos, Alberto, Maiker y Claudia, quienes han estudiado o trabajado en Vietnam, guardan también un afecto especial por la nación asiática.

Vietnam y Cuba han cultivado a lo largo del tiempo una cercanía cada vez más cercana

De ese modo, sin que importen demasiado la distancia geográfica, la barrera lingüística ni las diferencias culturales, Vietnam y Cuba han cultivado a lo largo del tiempo una cercanía cada vez más cercana.

Lo refrenda Vietnam cada año, al reclamar en la Asamblea General de las Naciones Unidas el cese del bloqueo económico, comercial y financiero impuesto a Cuba por Washington, o al enviar cargamentos de arroz para aliviar las dificultades que atraviesa la Isla desde el derrumbe de la Unión Soviética hace ya tres décadas.

En los años 90 del siglo pasado, cuando Cuba sufrió el azote de una tormenta, Vietnam reaccionó con presteza, abriendo una recaudación de fondos. Hubo incluso quienes, como el Héroe de las Fuerzas Armadas Populares Phan Văn Quý, donaron gran parte de su salario para apoyar al pueblo cubano a mitigar las graves pérdidas causadas por las severas inundaciones.

De igual modo, mientras el COVID-19 se cernía sobre el mundo entero este año, a mediados de abril el Gobierno y el pueblo vietnamitas le donaron a Cuba cinco mil toneladas de arroz para ayudarla a enfrentar las dificultades provocadas por la pandemia en la importación de alimentos.

La entrega simbólica de cinco mil toneladas de arroz ofrecidas por Vietnam a Cuba (Foto: VNA)
La entrega simbólica de cinco mil toneladas de arroz ofrecidas por Vietnam a Cuba (Foto: VNA)

Entretanto, la Mayor de las Antillas respondió con el mismo apego, enviando una brigada de especialistas médicos y miles de dosis del interferón alfa 2B –fármaco efectivo en el tratamiento de pacientes graves– para respaldar a la nación asiática, cuando la segunda ola de la epidemia golpeó la ciudad de Da Nang y la provincia de Quang Nam a finales de julio.

Son apenas unos ejemplos de la amistad tejida entre ambos pueblos, pues así, desde hace 60 años, en los duros y en los buenos tiempos, Cuba y Vietnam, Vietnam y Cuba, van de la mano apoyándose mutuamente.

Por una cooperación multifacética

Además de los intercambios de delegaciones diplomáticas de alto nivel –como las respectivas visitas del secretario general del Partido Comunista de Vietnam, Nguyen Phu Trong, y el presidente cubano, Miguel Díaz-Canel, en 2018–, los dos países no dejan de mancomunar sus esfuerzos en diversos sectores, incluida la economía.

El secretario general del Partido Comunista y jefe de Estado de Vietnam, Nguyen Phu Trong, y el presidente de Cuba, Miguel Díaz-Canel Bermúdez, en ocasión de la visita del dirigente del país caribeño en Hanoi (Foto: VNA)
El secretario general del Partido Comunista y jefe de Estado de Vietnam, Nguyen Phu Trong, y el presidente de Cuba, Miguel Díaz-Canel Bermúdez, en ocasión de la visita del dirigente del país caribeño en Hanoi (Foto: VNA)

Entre los principales pasos en ese sentido, cabe destacar el Proyecto de Cooperación Vietnam-Cuba para el desarrollo de la producción arrocera en la nación caribeña, con la participación de trabajadores agrícolas y expertos de ambas partes.

Iniciado en 1999, ese programa se ha convertido en uno de los símbolos de la cooperación bilateral, al extenderse a varias provincias cubanas, con el objetivo de satisfacer un 86 por ciento del consumo interno de la Isla en 2023 para garantizar la seguridad alimentaria.

Asimismo, empresas vietnamitas como el grupo Thai Binh y la corporación Viglacera ocupan hoy un espacio en la Zona Especial de Desarrollo Mariel (ZEDM), 45 kilómetros al oeste de La Habana, como parte de la estrategia para extender su mercado fuera de la nación asiática y promover al mismo tiempo el crecimiento de un importante polo económico en la Mayor de las Antillas.

Vietnam es actualmente el segundo socio comercial de Cuba en la región de Asia, un nexo que ambas partes pretenden seguir fortaleciendo en el futuro.

No en balde, Vietnam es actualmente el segundo socio comercial de Cuba en la región de Asia, un nexo que ambas partes pretenden seguir fortaleciendo en el futuro.

Precisamente, la visita de Nguyen Phu Trong hace dos años devino el marco propicio para la firma de 22 acuerdos de cooperación entre ambos países que se han ido concretando en los últimos meses.

El secretario general del Partido Comunista de Vietnam, Nguyen Phu Trong, viajó en marzo de 2018 a Santiago de Cuba, en compañía del presidente Raúl Castro (Foto: VNA)
El secretario general del Partido Comunista de Vietnam, Nguyen Phu Trong, viajó en marzo de 2018 a Santiago de Cuba, en compañía del presidente Raúl Castro (Foto: VNA)

Como han reconocido dirigentes de ambas partes en repetidas ocasiones, los dos estados comparten la misma ideología orientada al socialismo, existen vínculos de confianza mutua y toca trabajar para llevar la relación económica y comercial al mismo nivel que las excelentes relaciones políticas.

Y gracias a esa voluntad, no es casual que la Asociación de Naciones del Sudeste Asiático (ASEAN) aprobara la solicitud de adhesión de Cuba al Tratado de Amistad y Cooperación (TAC) de la agrupación, al ejercer este año Vietnam la presidencia rotativa del bloque.

Una amistad imperecedera

Y de la más poderosa raíz nació la amistad entre Vietnam y Cuba, una relación que tiene su esencia en el alma de ambos pueblos y, como la ceiba y el baniano, crece cada día más frondosa y robusta.

“Solo cuando la raíz es firme, el árbol puede vivir mucho tiempo”, señaló sabiamente Ho Chi Minh en unos de sus versos. Y de la más poderosa raíz nació la amistad entre Vietnam y Cuba, una relación que tiene su esencia en el alma de ambos pueblos y, como la ceiba y el baniano, crece cada día más frondosa y robusta.

Ahora –afirma Nguyen Trung Thanh– es responsabilidad de las nuevas generaciones y de los nuevos líderes de ambos países que las relaciones bilaterales entre Cuba y Vietnam continúen siendo de hermandad, solidaridad y apoyo inquebrantable, como lo han sido desde el año 1960.

Y lo cierto es que ese anhelo apunta a cumplirse seguramente, pues a pesar de la distancia y las incontables diferencias culturales, vietnamitas y cubanos parecen dibujar un vínculo especial que trasciende todas las fronteras. Un vínculo mágico que, contemplando el millón de pinturas elaboradas por niños de Vietnam para conmemorar estos 60 años, se torna visible y palpable.

La entrañable amistad entre ambos pueblos, a fin de cuentas, ha superado la prueba del tiempo hasta convertirse en un verdadero paradigma: mientras otros se empeñan en levantar muros, Vietnam y Cuba tienden puentes para construir un mundo, como lo soñaron Ho Chi Minh y José Martí, cien veces más hermoso.

Vietnam y Cuba tienden puentes para construir un mundo, como lo soñaron Ho Chi Minh y José Martí, cien veces más hermoso.

                         Por Ariel Barredo Coya, especial para la VNA

Hành động để xóa bỏ bạo lực với phụ nữ

Hiện nay, bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vẫn là một trong những vi phạm về quyền con người phổ biến nhất trên thế giới và những tác động tiêu cực của bạo lực gây ra đối với nạn nhân, gia đình và cộng đồng là vô cùng to lớn.

Bạo lực không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần của phụ nữ và trẻ em, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Ước tính thiệt hại kinh tế do bạo lực gây ra cho nền kinh tế Việt Nam tương đương với 1,8% GDP.

Do đó, việc ngăn chặn và xóa bỏ bạo lực với phụ nữ là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội.

Nhiều phụ nữ vẫn có nguy cơ cao bị bạo lực

Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vẫn đang là vấn đề nóng trên toàn cầu. Theo báo cáo của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, cứ ba phụ nữ trên thế giới thì có một người sẽ trở thành đối tượng của bạo lực giới.

Tại Việt Nam, theo Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019, cứ ba phụ nữ thì có gần hai phụ nữ (gần 63%), bị một hoặc hơn một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần và bạo lực kinh tế cũng như kiểm soát hành vi do chồng gây ra trong cuộc đời, và gần 32% phụ nữ bị bạo lực hiện thời (trong 12 tháng qua).

Trong đó, phụ nữ khuyết tật bị các hình thức bạo lực do chồng gây ra cao hơn so với phụ nữ không bị khuyết tật. So với Báo cáo năm 2010, tỷ lệ phụ nữ bị các dạng bạo lực đã giảm nhẹ.

Nạn nhân bị bạo lực giới có thể được hỗ trợ về mặt y tế và chăm sóc các tổn thương thể xác, hỗ trợ tâm lý, đảm bảo an toàn hỗ trợ tư pháp. (Nguồn: dangcongsan.vn)
Nạn nhân bị bạo lực giới có thể được hỗ trợ về mặt y tế và chăm sóc các tổn thương thể xác, hỗ trợ tâm lý, đảm bảo an toàn hỗ trợ tư pháp. (Nguồn: dangcongsan.vn)

Thay đổi tích cực diễn ra rõ nét ở nhóm phụ nữ trẻ tuổi, họ không cam chịu và mạnh mẽ hơn trong đấu tranh với bạo lực. Những người có trình độ học vấn cao có tỷ lệ bị bạo lực cũng thấp hơn và điều này cho thấy trình độ học vấn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp phụ nữ tự tin hơn, mạnh mẽ và độc lập hơn trong cuộc sống.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hà, nhiều phụ nữ vẫn có nguy cơ cao bị bạo lực. Tình trạng bạo lực với phụ nữ vẫn được che giấu do định kiến giới còn khá phổ biến trong xã hội.

Sự im lặng, kỳ thị của cộng đồng và “văn hóa đổ lỗi” là những rào cản khiến người bị bạo lực không dám lên tiếng và kìm hãm sự giúp đỡ. Trẻ em cũng là nạn nhân, dễ gặp rủi ro hơn trong cuộc sống khi phải sống trong gia đình có xảy ra bạo lực.

Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cũng chỉ ra, bạo lực đối với phụ nữ vẫn bị che giấu. Một nửa số phụ nữ bị chồng bạo lực chưa bao giờ kể với bất kỳ ai. Hầu hết phụ nữ (90,4%) bị bạo lực thể xác và/hoặc tình dục do chồng gây ra không tìm kiếm bất kỳ sự hỗ trợ nào từ các cơ quan chính quyền.

Gần 200 phụ nữ và trẻ em, đại diện các tầng lớp trên địa bàn thành phố Hà Nội tham dự diễn đàn Phòng, chống bạo lực gia đình; phòng, chống xâm hại phụ nữ, trẻ em. (Ảnh: Kim Thu/TTXVN)
Gần 200 phụ nữ và trẻ em, đại diện các tầng lớp trên địa bàn thành phố Hà Nội tham dự diễn đàn Phòng, chống bạo lực gia đình; phòng, chống xâm hại phụ nữ, trẻ em. (Ảnh: Kim Thu/TTXVN)

Bạo lực không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần của phụ nữ và trẻ em, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Ước tính thiệt hại kinh tế do bạo lực gây ra cho nền kinh tế Việt Nam tương đương với 1,8% GDP.

Đáng lo ngại, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, vấn đề bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vốn đã tồn tại trước đó đã trở nên càng trầm trọng hơn. Các báo cáo gần đây liên quan đến COVID-19 đã chỉ ra rằng những hạn chế về di chuyển, cách ly xã hội và các biện pháp ngăn chặn tương tự, cùng với áp lực cũng như căng thẳng về kinh tế-xã hội hiện tại hoặc đang gia tăng đối với các gia đình, đã dẫn đến sự leo thang của bạo lực, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em.

Ảnh minh họa.  (Nguồn: straitstimes)
Ảnh minh họa.  (Nguồn: straitstimes)

Ở nhiều quốc gia, số trường hợp bạo lực gia đình ước tính đã tăng lên ít nhất 30%. Tại Việt Nam, đường dây nóng 1900 969 680 của Ngôi nhà Bình yên (nhà tạm lánh thuộc Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) và đường dây nóng của Ngôi nhà Ánh dương 1800 1769 (do UNFPA hợp tác với Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc-KOICA hỗ trợ tại tỉnh Quảng Ninh) đã nhận được gấp đôi số cuộc gọi kêu cứu trong những tháng qua so với cùng kỳ những năm trước đó.

Đẩy mạnh các giải pháp xóa bỏ bạo lực với phụ nữ

Việc ngăn chặn và xóa bỏ bạo lực với phụ nữ là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tất cả mọi người đều là một phần trong quá trình phát triển của xã hội. Do đó, trong những năm qua, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai các giải pháp nhằm ngăn chặn và tiến tới giảm thiểu thực trạng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, nâng cao chất lượng công tác bình đẳng giới.

 Các cán bộ quản lý mô hình Địa chỉ tin cậy - Nhà tạm lánh xã Xuân Phú (Xuân Lộc, Đồng Nai)- địa chỉ nương náu an toàn của hàng trăm phụ nữ không may bị chồng bạo hành- tuyên truyền về luật hôn nhân và gia đình cho người dân. (Ảnh: Lê Xuân/TTXVN)
 Các cán bộ quản lý mô hình Địa chỉ tin cậy – Nhà tạm lánh xã Xuân Phú (Xuân Lộc, Đồng Nai)- địa chỉ nương náu an toàn của hàng trăm phụ nữ không may bị chồng bạo hành- tuyên truyền về luật hôn nhân và gia đình cho người dân. (Ảnh: Lê Xuân/TTXVN)

Đây được xem là nền tảng quan trọng thể hiện sự quan tâm, cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo an sinh xã hội với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau.”

Cụ thể, nhiều văn bản pháp luật quy định các biện pháp bảo vệ gia đình và phòng ngừa bạo lực gia đình đã được ban hành, như: Hiến pháp năm 1992, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020, Đề án phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030…

Bên cạnh đó, một số mô hình, như địa chỉ tin cậy, nhà tạm lánh cộng đồng, cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới, Trung tâm công tác xã hội cung cấp bình đẳng giới, trường học an toàn, thân thiện không bạo lực, thành phố an toàn, thân thiện với phụ nữ và trẻ em gái đã được triển khai thực hiện, góp phần từng bước nâng cao nhận thức của cộng đồng, giảm thiểu nguy cơ và cải thiện chất lượng dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới.

Những nỗ lực của Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thị Hà, Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia đạt được nhiều thành tựu về bình đẳng giới, xóa bỏ khoảng cách giới, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động, việc làm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục…

Việt Nam hiện là một trong ba nhóm các nước đứng đầu thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động, xếp thứ 68/166 nước về chỉ số phát triển giới.

Tuy nhiên, trước tình trạng nhiều phụ nữ vẫn có nguy cơ cao bị bạo lực, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm xóa bỏ các nguy cơ này. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, hiện nay, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đang triển khai xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Đề án phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2021-2025.

Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tập trung nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện pháp luật, chính sách và Đề án phòng ngừa và ứng phó với bạo lực đối với phụ nữ giai đoạn 2021-2025; đẩy mạnh hơn nữa những hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức và thực hành về bình đẳng giới, xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới, bạo lực đối với phụ nữ.

Ký kết hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2020 tại Cần Thơ. (Ảnh: Trung Kiên/TTXVN)
Ký kết hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2020 tại Cần Thơ. (Ảnh: Trung Kiên/TTXVN)

Xóa bỏ bạo lực với phụ nữ không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức phi chính phủ và mỗi người dân.

Theo đó, các cấp, các ngành, đoàn thể, địa phương cần thực hiện đồng bộ lồng ghép hiệu quả công tác bình đẳng giới với các chương trình mục tiêu khác, đưa các nội dung của công tác phòng, chống bạo lực gia đình vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các đơn vị, địa phương.

Thường xuyên đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình nhằm thay đổi nhận thức, hành động và trách nhiệm về thực hiện bình đẳng giới ở các cấp, các ngành và trong các tầng lớp nhân dân.

Bên cạnh đó, cần duy trì và nhân rộng các mô hình như Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững, Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, Câu lạc bộ gia đình không sinh con thứ 3… Đẩy mạnh và khuyến khích hơn nữa nam giới tham gia vào công tác phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái.

Thường xuyên kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và liên ngành về việc thực hiện hoạt động bình đẳng giới, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

Cùng với đó, giải quyết hiệu quả các bất bình đẳng, các chính sách, chương trình liên quan về giới, nâng cao tính tự chủ của phụ nữ để họ tích cực tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, tôn vinh những giá trị nhân văn sâu sắc của gia đình Việt Nam; tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của gia đình và xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Đối với mỗi người phụ nữ, cần nâng cao nhận thức về giá trị bản thân, nâng cao trình độ hiểu biết, đặc biệt là kiến thức gia đình, chú ý đến kiến thức pháp luật, tìm hiểu Luật Phòng, chống bạo lực gia đình để tự bảo vệ mình và lên tiếng khi bị bạo lực./.

Nạn nhân bị bạo lực giới được cán bộ tại Ngôi nhà Ánh Dương tư vấn. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Nạn nhân bị bạo lực giới được cán bộ tại Ngôi nhà Ánh Dương tư vấn. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Quốc hội khóa XIV: Đổi mới linh hoạt, mang lại hiệu quả cao

Không khí sôi nổi, thẳng thắn, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn đã đi thẳng vào nội dung trọng tâm mà các đại biểu và cử tri quan tâm.

“Các thành viên Chính phủ rất cầu thị, trách nhiệm, đi thẳng vào câu hỏi của đại biểu thuộc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành mình.”

Đáng chú ý, cách tổ chức kỳ họp được kết hợp cả trực tuyến và trực tiếp, song song các phiên thảo luận, xây dựng pháp luật cũng như thực hiện các công việc giám sát của Quốc hội vẫn đảm bảo thông suốt, thành công và đem lại hiệu quả rất cao.

Đây có thể coi là dấu ấn nổi bật của Kỳ quốc hội thứ 10, Quốc hội khóa XIV diễn ra từ ngày 20/10 đến 17/11.

Hỏi trực diện, trả lời thực chất

Trước khi diễn ra Kỳ họp thứ 10, đã có 3.365 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội thông qua Mặt trận Tổ quốc các cấp.

Đây đều là những ý kiến hết sức tâm huyết và mong mỏi của cử tri cả nước trước các vấn đề nóng, mang tính thời sự, gắn chặt với mọi mặt của đời sống, an sinh xã hội.

Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc. (Nguồn: TTXVN)
Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc. (Nguồn: TTXVN)

Dù là kỳ họp gần như cuối cùng của nhiệm kỳ quốc hội khóa XIV, song công tác chuẩn bị nội dung cũng như thực hiện các vấn đề về xây dựng pháp luật… đều được tiến hành chặt chẽ và kỹ lượng.

Điều đáng nói là Quốc hội đã dành tới 5 ngày rưỡi với 11 phiên họp liên tục được phát thanh, truyền hình trực tiếp các vấn đề mang tính Quốc kế dân sinh, nhờ vậy các vị đại biểu Quốc hội cũng như cử tri cả nước có thể tiếp nhận ngay thông tin, đánh giá được các vị bộ trưởng, trưởng ngành đã thực hiện cam kết của mình trước cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân như thế nào.

Sau 2,5 ngày chất vấn đã có tổng cộng 121 lượt đại biểu Quốc hội chất vấn và 41 lượt đại biểu tranh luận. Các thành viên Chính phủ, trong đó có 3 Phó Thủ tướng Chính phủ và 15 Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trực tiếp trả lời chất vấn về các vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý, điều hành của mình.

“Trả lời theo phương thức chất vấn mở cho phép tất cả các thành viên Chính phủ và Tư lệnh ngành có cơ hội được tham gia trả lời chất vấn, giải trình vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.”

Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo làm rõ, cụ thể thêm một số nội dung thuộc trách nhiệm của Chính phủ và trả lời chất vấn của các đại biểu.

Ông Vũ Minh Tuấn, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhìn nhận rằng những phiên chất vấn đã cho thấy các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đã chủ động triển khai nhiều giải pháp, biện pháp để thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội, tạo chuyển biến thực sự trong các lĩnh vực đã được chất vấn, giám sát, được đại biểu Quốc hội, cử tri và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao,” ông Vũ Minh Tuấn nói.

Trong kỳ chất vấn này, phạm vi rộng, ở tất cả các lĩnh vực, có thể “động chạm” đến các ngành, Chính phủ, nhưng đó là vấn đề mà các đại biểu và cử tri quan tâm.

“Các thành viên Chính phủ rất cầu thị, trách nhiệm, đi thẳng vào câu hỏi của đại biểu thuộc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành mình. Điều này chứng tỏ các Bộ trưởng, Trưởng ngành nắm rất chắc các vấn đề của Bộ, ngành và đã đưa ra nhiều giải pháp thực hiện,” đại biểu Nguyễn Ngọc Phương, Đoàn Quảng Bình nói.

Ngoài ra, nhiều đại biểu cũng nhận xét và đánh giá rất cao việc trả lời theo phương thức chất vấn “mở” của kỳ họp lần này cho phép tất cả các thành viên Chính phủ và tư lệnh ngành có cơ hội được tham gia trả lời chất vấn, giải trình vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.

Mỗi ý kiến, chất vấn đều được quy định thời gian và có chuông nhắc hết giờ nhằm tránh tình trạng nói “tràng giang đại hải,” không tập trung vào nội dung chính và mất thời gian của các đại biểu khác như nhiều kỳ họp trước.

 Toàn cảnh phiên bế mạc Quốc hội. (Nguồn: TTXVN)
 Toàn cảnh phiên bế mạc Quốc hội. (Nguồn: TTXVN)

Đơn cử như phát biểu của nữ đại biểu ĐB Ksor H’Bơ Khăp (Gia Lai) khi chất vấn Bộ trưởng Tài nguyên và môi trường Trần Hồng Hà về việc bão lũ, sạt lở ở miền Trung cũng rất rõ ràng, để lại ấn tượng tích cực trong cử tri và nhân dân về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.

“Nếu như trả lời chất vấn theo cách thức tập trung theo nhóm vấn đề thì sẽ giúp các vị đại biểu Quốc hội đi sâu, đi đến cùng của vấn đề chất vấn nhưng lại hạn chế về số lượng, cơ hội cho các thành viên Chính phủ được trả lời. Trong khi đó, trả lời theo phương thức chất vấn mở thì cho phép tất cả các thành viên Chính phủ và Tư lệnh ngành có cơ hội được tham gia trả lời chất vấn, giải trình vấn đề thuộc trách nhiệm của mình,” đại biểu Đặng Xuân Phương, đoàn Đăk Lắk nói về cách đổi mới tại Kỳ họp này.

Trách nhiệm trước cử tri

Mặc dù thời gian tổ chức kỳ họp gói gọn trong 18 ngày, song Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã hoàn thành toàn bộ chương trình kỳ họp, thông qua 7 luật, 13 nghị quyết, cho ý kiến về 4 dự án luật.

Trong đó, Nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận được sự ủng hộ rất cao của các đại biểu, khi có tới 420 đại biểu biểu quyết tán thành (chiếm 87,14%).

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. (Nguồn: TTXVN)
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. (Nguồn: TTXVN)

Điều đặc biệt theo đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh), việc các đại biểu bấm nút thông qua Nghị quyết sẽ giúp nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bộ máy chính quyền đô thị, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới.

Như vậy, chỉ còn một kỳ họp nữa sẽ kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, song có thể thấy điểm nổi bật lớn nhất qua 10 kỳ họp Quốc hội là sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, trong đó có quyết tâm cao của Chính phủ và các Tư lệnh ngành.

“Nghị quyết sẽ giúp nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bộ máy chính quyền đô thị, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới.”

Đại biểu quốc hội Nguyễn Văn Chiến (Đoàn Hà Nội), cho rằng qua các nội dung chất vấn và các thành viên Chính phủ trả lời đã cho thấy sự tương tác rất ăn ý, trọng tâm, đặc biệt các Tư lệnh ngành đã trả lời giải quyết căn cơ, trách nhiệm những vấn đề nóng cử tri đang quan tâm.

Ví dụ như vấn đề về môi trường, giải quyết hậu quả bão lụt miền Trung cũng như thực hiện phòng chống đại dịch COVID-19. Đại biểu bày tỏ ấn tượng với phần trả lời của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng về những giải pháp căn cơ để xử lý hậu quả của môi trường, chú trọng giảm thiểu thiệt hại do bão lũ miền Trung gây ra cho người dân.

Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Văn Chiến, để góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong những năm tiếp theo 2021-2025, Chính phủ cần đặt ra nhiều giải pháp; trong đó tập trung những vấn đề làm sao để cải tiến, giải quyết những tồn đọng, cơ chế chính sách của hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện; bổ sung những chỗ trống để tạo ra hành lang pháp lý tốt hơn, thuận lợi hơn cho quản trị quốc gia cũng như mục tiêu xây dựng phát triển doanh nghiệp.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Đại biểu Trần Hoàng Ngân. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Qua phiên chất phấn, nhiều ý kiến cho rằng vẫn còn quá nhiều vấn đề nóng của thực tiễn cuộc sống mà cử tri chưa yên tâm. Đơn cử công tác phòng, chống bão lũ, trồng rừng, giữ rừng, an ninh trật tự, an ninh mạng, giáo dục đào tạo… Đặc biệt là vấn đề thực chất nguyên nhân của lũ lụt, sạt lở đất ở các tỉnh miền Trung là gì, do thiên tai hay nhân tai?

“Chính phủ cần tập trung rà soát, đánh giá lại toàn bộ tác động, mức độ an toàn của hệ thống hồ chứa, thủy điện, thủy lợi và các dự án thủy điện vừa và nhỏ; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc vận hành các nhà máy thủy điện, công trình thủy lợi…,” đại biểu Dương Minh Tuấn, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đề xuất.

Như vậy, với những kết quả đạt được tại Kỳ họp thứ 10 cũng như nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV tiếp tục khẳng định trách nhiệm, sự nỗ lực, quyết tâm cao của Quốc hội, không ngừng đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, đồng thời tạo chuyển biến thực sự trong các lĩnh vực đã được chất vấn, giám sát.

Trước những thời cơ và vận hội mới, để tạo đà cho việc phát triển đất nước những năm tiếp theo, ngoài những đóng góp tâm huyết của các đại biểu Quốc hội, sự đổi mới trong khâu tổ chức các kỳ họp quốc hội, nhiều cử tri hy vọng việc thực hiện lời hứa sau chất vấn sẽ không chỉ dừng ở “ ghi nhận,” “tiếp thu” và “rút kinh nghiệm” mà phải bàn cho ra cơ chế, giải pháp, chịu trách nhiệm giải quyết dứt điểm vấn đề và kết quả thực tế thực hiện những cam kết, lời hứa của các thành viên Chính phủ, Tư lệnh ngành vẫn luôn là câu trả lời chính xác, thỏa đáng nhất./.

 Các đại biểu tại phiên họp Quốc hội. (Nguồn: TTXVN)
 Các đại biểu tại phiên họp Quốc hội. (Nguồn: TTXVN)

Những người thầy mang bút nghiên xẻ dọc Trường Sơn

Những người thầy mang bút nghiên xẻ dọc Trường Sơn

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục cho học sinh và đồng bào miền Nam, chuẩn bị lực lượng trí thức xây dựng và phát triển đất nước sau giải phóng đồng thời đấu tranh với địch trên mặt trận văn hóa giáo dục, gần 3.000 nhà giáo miền Bắc đã gác lại gia đình, sự nghiệp để lên đường đi B vào miền Nam.

Trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại không chỉ in dấu chân của những anh bộ đội từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn có cả dấu chân của hàng nghìn nhà giáo mang sách vở, bút nghiên xẻ dọc Trường Sơn.

Bài 1: RỜI BỤC GIẢNG, NHÀ GIÁO ĐI B

Ngày 5/3/1969, đoàn giáo viên tình nguyện đi B hành quân bằng ô tô từ Hòa Bình đến câu lạc bộ Thống Nhất, cạnh Hồ Gươm, để dự lễ tiễn đưa. Hơn 200 thầy cô giáo là những người được tuyển chọn kỹ càng cả về chuyên môn sư phạm và phẩm chất chính trị đều trong tư thế sẵn sàng: Ba lô gọn gàng trên lưng, dép cao cao su rút quai vừa vặn để chuẩn bị cho hành trình vượt Trường Sơn vào với chiến trường khốc liệt miền Nam. Nơi ấy, họ được giao một nhiệm vụ đặc biệt trên mặt trận riêng: Vừa đấu tranh với địch, vừa xây dựng và phát triển giáo dục.

Cô giáo trẻ Phạm Thị Hải Ấm nhìn khắp lượt các anh chị trong nhóm của mình. Đó là những người sẽ cùng sống chết bên cô trên chặng đường dài hành quân phía trước. Mới 21 tuổi và vừa rời ghế giảng đường, Hải Ấm là thành viên trẻ nhất đoàn…

Gác hạnh phúc riêng

Hơn 50 năm đã trôi qua, cô gái đôi mươi ngày nào giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng bà vẫn không thể quên những ngày tháng thanh xuân đã cùng đồng nghiệp cống hiến cho sự nghiệp phát triển giáo dục miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chia sẻ với chúng tôi trong một ngày thu Hà Nội tại nhà riêng, bà vẫn nghẹn ngào khi nhớ về một thời hoa lửa.

Nhà giáo Phạm Thị Hải Ấm chia sẻ với phóng viên VietnamPlus về một thời hoa lửa. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)
Nhà giáo Phạm Thị Hải Ấm chia sẻ với phóng viên VietnamPlus về một thời hoa lửa. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)

“Mọi người được dành thời gian để chia tay với gia đình, bạn bè, vợ con. Tôi lặng nhìn cảnh những cặp vợ chồng ôm hôn nhau thắm thiết mà không cầm được nước mắt vì ai cũng biết rõ người đi đâu có hẹn ngày về,” nhà giáo Phạm Thị Hải Ấm xúc động chia sẻ.

Trong số gần 3.000 nhà giáo tình nguyện đi B, có rất nhiều người đã có gia đình, có chức vụ trong công tác, nhưng họ đã gác lại niềm riêng, sự nghiệp, vợ dại con thơ để lên đường vì Tổ quốc…

Những nhà giáo tình nguyện đi B khi đang ở vị trí hiệu trưởng như nhà giáo Nguyễn Thỏa, Hiệu trưởng Trường cấp II Quang Phục (Tiên Lãng, Hải Phòng); nhà giáo Phạm Tăng, Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp II Châu Giang (Đông Hưng, Thái Bình); nhà giáo Nguyễn Viết Nhiên, Hiệu trưởng Trường cấp II Quỳnh Vinh (Quỳnh Lưu, Nghệ An)…

Nhà giáo Đỗ Trọng Văn tại Tiểu ban Giáo dục R. (Ảnh: NVCC)
Nhà giáo Đỗ Trọng Văn tại Tiểu ban Giáo dục R. (Ảnh: NVCC)

Bỏ lại sự nghiệp, họ còn gửi lại cả những yêu thương. Nhìn về phía bức ảnh gia đình, nhà giáo Đỗ Trọng Văn bảo, khi ông lên đường đi B, con nhỏ mới tròn 8 tháng, con lớn chập chững lên ba. Nay đã xấp xỉ tuổi 80, ông vẫn nhớ những cảm xúc nghẹn lòng khi ôm hôn từng đứa con nhỏ dại, dặn dò an ủi người vợ trẻ trước khi lên đường. “Nhớ và thương rất rất nhiều, nhưng chúng tôi lúc đó đều hiểu khi Tổ quốc cần, mỗi người đều phải gác lại hạnh phúc riêng,” thầy Văn xúc động nói.

Ngày nhận lệnh đi B năm 1964, nhà giáo Trần Thư Nguyên khi ấy còn chưa có con dù hai vợ chồng đã cưới được ba năm. “Ban đầu, tổ chức cũng băn khoăn, nhưng mãi sau này tôi mới biết chính vợ tôi đã gửi thư lên tận Ban Thống nhất Trung ương bày tỏ đồng ý cho tôi đi B,” thầy Nguyên chia sẻ. Cuộc chia ly kéo dài đến tận 10 năm. Năm 1975 thầy Nguyên mới trở lại miền Bắc, đoàn tụ gia đình, nhưng ước mơ về tiếng trẻ bi bô trong ngôi nhà nhỏ đã mãi không thể trở thành hiện thực.

Vượt Trường Sơn bằng ý chí người thầy

Hành trình ba tháng đi bộ ròng rã vượt Trường Sơn đến chiến trường miền Nam là thử thách với bất kỳ ai, càng là thử thách lớn hơn với những thầy, cô giáo vốn chỉ quen với sách vở, cầm viên phấn trắng. Dù đã có hai, ba tháng ròng rã tập đeo gạch, đi bộ, leo núi để làm quen nhưng những thử thách với thầy cô trong hành trình là vô cùng lớn.

“Cứ đêm đi ngày nghỉ, mỗi ngày đi khoảng 7 tiếng mới đến trạm giao liên, nhưng khi có địch lại phải đi xuyên trạm lên đến hơn 10 tiếng đi chuyển liên tục đường rừng, nhiều dốc dựng đứng, trơn trượt. Có khi đến điểm nghỉ lại không có nước, phải đi xa lấy nước về nấu ăn. Chúng tôi đi qua khu 6 là nơi chiến tranh đang diễn ra ác liện nên trong suốt 4 này đi không được nói, không được nấu ăn. Cơm phải nắm lại, đốt cháy xung quanh, khi mở ra ăn đã chua mà vẫn thấy ngon. Hết cơm thì ăn đến gạo rang,” thầy Nguyên bổi hồi kể.

Thầy Trần Thư Nguyên bồi hồi nhớ lại những ngày tháng thanh xuân cống hiến cho chiến truồng miền Nam. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)
Thầy Trần Thư Nguyên bồi hồi nhớ lại những ngày tháng thanh xuân cống hiến cho chiến truồng miền Nam. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)

Đói, khát, mệt, đối mặt với bom đạn kẻ thù, các thầy cô còn phải chống chọi với sốt rét rừng. Nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trên đường hành quân.

Với những giáo viên nữ chân yếu tay mềm như cô giáo Hải Ấm, hành trình vượt Trường Sơn còn vất vả hơn gấp nhiều lần. “Dốc Nguyễn Chí Thanh thẳng đứng với 1.800 bậc như lên tận trời, chân người nọ chạm đầu người kia. Đi liên tục khiến cho chân sưng tấy, phồng rộp,” cô Hải Ấm nhớ lại.

Trong nhật ký hành trình vượt Trường Sơn của mình, nhà giáo Phạm Thanh Liêm ghi: “Đi trên đường Tây Trường Sơn 26 ngày trên đất bạn Lào thật gian nan vì đói và thiếu gạo. Có những chặng đường phải đi liên tục suốt 7 ngày liền không được nghỉ dưỡng sức. Đến ngày thứ 36 đã có nhiều người bị bệnh, chủ yếu là sốt rét, phải gửi lại trạm ở dọc đường. Ngày thứ 43, mỗi người nhận thêm 14 kg gạo để ăn trên đường. Lúc này, mâu thuẫn giữa đói ăn và bệnh tật với mang nặng thật là gay gắt.”

“Chúng tôi đã vượt Trường Sơn không phải bằng sức lực mà bằng ý chí người thầy, không phải đi bằng chân mà đi bằng đầu,” thầy Đỗ Trọng Văn nói.

“Ngày thứ 65, hôm qua hành quân từ 5 giờ chiều, đi suốt đêm, mãi đến 6 giờ sáng nay mới tới địa điểm, lại phải vác nước đi một tiếng rưỡi mới tới chỗ nghỉ, người mệt lả, thật gian khổ…, thực phẩm đã cạn, đường sữa hết cả rồi, lo sức khỏe sa sút. Ngày thứ 80, chặng đường căng thẳng vì máy bay do thám nhiều hơn và phải qua 9 trạm, từ K1 đến K9, đi qua nhiều bãi bị B52 đánh trụi trông thật khủng khiếp. Càng gần đến nơi càng căng thẳng vì sự khốc liệt của bom đạn. Ngày thứ 91, từ trạm V1 đến V4, toàn đi đêm, đường dài B52 cày xới, thật là căng thẳng. Phải đi qua những cánh đồng lớn giữa biên giới Miên –Việt trong đêm tối mù mịt và mưa như trút nước.”

Chân tứa máu với “cánh đồng chó ngáp”

Đến điểm tập kết, với các thầy cô giáo nhận nhiệm vụ công tác về miền Tây Nam Bộ, còn một cuộc hành quân nữa, gian nan ác liệt còn hơn vượt Trường Sơn khi phải vượt sông, nước, bom đạn với đồn bốt địch dày đặc. Có đoàn đi phải quay lại, rồi lại lên đường. Từ Hà Nội vượt Trường Sơn đến Tây Ninh mất ba tháng, nhưng từ Tây Ninh về Tây Nam Bộ, nhiều giáo viên đã phải đi bốn, năm tháng mới tới nơi. Với những giáo viên về Cà Mau, Rạch Gia, vượt Trường Sơn không phải là một trăm ngày mà là hai, ba trăm ngày.

Nhà giáo Phạm Thị Hải Ấm trên đường hành quân vượt Trường Sơn năm 1969. (Ảnh: NVCC)
Nhà giáo Phạm Thị Hải Ấm trên đường hành quân vượt Trường Sơn năm 1969. (Ảnh: NVCC)

Được phân về Kiến Tường, cô Hải Ấm vẫn nhớ hành trình ba ngày vượt qua cánh đồng tràm Đồng Tháp mênh mông nước. Những gốc tràm nhọn hoắt đâm vào chân tứa máu, làm mồi nhử cho đỉa bám đuổi theo sau. “Cứ lội như thế mà đi trong suốt ba ngày mới qua được cánh đồng mà chúng tôi hay gọi đùa là ‘cánh đồng chó ngáp,” cô Hải Ấm kể.

Gian khổ, nhưng hiểm nguy lớn nhất là bom đạn kẻ thù. Nhà giáo Phạm Tăng khi đi tới giữa cánh đồng Mông Thọ (Kiên Giang) thì bị lộ, hai chiếc máy bay của địch đuổi theo bắn dữ dội nhưng may không ai trúng đạn. Đi trong vùng địch nên các thầy cô phải đêm đi, ngày nghỉ. Đỉa trâu bám nặng ống quần cũng không thể đứng lại vì phải đến căn cứ trước khi trời sáng. Cứ như thế đêm này qua đêm khác, chân sưng vù rơi cả móng.

“Chúng tôi đã vượt Trường Sơn không phải bằng sức lực mà bằng ý chí người thầy, không phải đi bằng chân mà đi bằng đầu,” thầy Đỗ Trọng Văn, Trưởng chi hội nhà giáo đi B, Hội Cựu giáo chức Việt Nam xúc động nói.

Những người thầy ngã xuống

cho mái trường mọc lên

Ra đi để dựng trường, mở lớp cho con em đồng bào miền Nam, nhưng đến chiến trường, để phục vụ cho công cuộc kháng chiến, các nhà giáo đã được giao rất nhiều nhiệm vụ khác nhau, người dạy học, người tuyên truyền, người văn công, người trực tiếp cầm súng ra chiến trường.

Bất cứ nhiệm vụ nào, các nhà giáo cũng đều hoàn thành xuất sắc. Nhiều giáo viên đi B đã vĩnh viễn nằm lại miền Nam. Trên tấm bia tưởng niệm các nhà giáo liệt sỹ đặt tại Tây Ninh có khắc tên của 600 nhà giáo, trong đó có 111 nhà giáo từ miền Bắc đi B vào chiến trường miền Nam…

Vừa dạy học, vừa chạy địch càn

Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước, nhưng cô Hải Ấm bảo vẫn không thể hình dung hết được những khó khăn gian khổ khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở miền Nam. Những ngày giặc đi càn quét, cô phải nắm cơm trốn vào rừng, núp dưới những tán lá dừa nước, tối lại về làng để dạy và vận động học sinh đến lớp. Khi giặc rút, ban ngày cô dạy các em học sinh, tối lại lên lớp bổ túc xóa mù chữ cho người lớn.

Giữa chiến trường, những lớp học vẫn được dựng lên bởi những người thầy tận tâm. (Ảnh: NVCC)
Giữa chiến trường, những lớp học vẫn được dựng lên bởi những người thầy tận tâm. (Ảnh: NVCC)

Lớp học chỉ thời chiến nên thiếu thốn đủ thứ, lại phải rất linh hoạt. Một lớp có khi ghép vài trình độ. Để có tài liệu giảng dạy, giáo viên phải tự biên soạn, hoặc lấy sách của hệ thống giáo dục của địch ở miền Nam để chọn lọc, viết lại cho phù hợp. Sách khan hiếm đến mức có khi cả tỉnh, thậm chí cả khu mới có một quyển và giáo viên, học sinh phải chuyền tay nhau chép. Lớp học ngay dưới tán cây trong rừng, cũng có khi ở nhà dân, hoặc được dựng tạm từ tre nứa. Cũng có khi học sinh vừa đến đã phải chạy dạt vào rừng khi được tin địch sắp càn.

Những nhà giáo miền Bắc đã mãi mãi nằm lại miền Nam. (Ảnh: NVCC)
Những nhà giáo miền Bắc đã mãi mãi nằm lại miền Nam. (Ảnh: NVCC)

“Mùa khô năm 1970, giặc mở trận càn lớn đánh phá căn cứ. Từ sáng sớm đã nghe dân kêu to: ‘Địch càn xe zep tới’. Tiếng ù ù từng dàn xe bọc thép tiến vào. Trên bầu trời các loại trực thăng bay kín trời. Chúng tôi sợ quá, quẳng ba lô vào bụi rậm, theo dân chạy thục mạng vào rừng. Mệt và đói, quần áo gai cào rách bươm. Ban đêm, yên tĩnh, chúng tôi theo dân trở về. Cảnh tượng kinh hoàng khi cả cánh rừng toàn cây to bị bừa nằm rạp cả xuống. May hôm đó chúng tôi chạy theo dân, nếu chui xuống hầm bí mật thì khó giữ được mạng sống,” cô Hải Ấm nhớ lại.

Những người thầy ngã xuống

Dưới bom đạn kẻ thù, rất nhiều thầy cô giáo đã ngã xuống. Thầy Nguyễn Đức Châu hy sinh ngay trên đường hành quân, khi bom na-pan phủ trùm lên võng. Thầy Cao Thành vĩnh viễn nằm lại Phú Yên khi không thể vượt qua cơn sốt rét rừng. Thầy Lê Trọng Thế anh dũng hy sinh khi quyết liệt chống địch càn tại cầu Bến Lức (Long An). Thầy Lâm Thanh Đáo, thầy Ngọc Sơn hy sinh khi bị địch phục kích trên đường đi công tác. Trong trận càn của địch vào Trường Nguyễn Văn Trỗi năm 1970, cô giáo Lệ Chi đã hy sinh khi cố chạy lên đưa học sinh xuống hầm. Thầy Trần Ngọc Chắc ngã xuống vì trúng đạn kẻ thù trên đường đi mua nhu yếu phẩm, bút mực cho học viên. Thầy Lương Duyên Hý cùng dân gài mìn, lựu đạn, đánh du kích khi địch đến, địch rút lại dựng trường, mở lớp tại Mỹ Lợi (Tiền Giang). Trong một trận chiến với kẻ thù, thầy đã anh dũng hy sinh trong sự tiếc thương của đồng nghiệp, đồng bào…

Những người thầy đã ngã xuống cho đất nước hồi sinh, cho những mái trường mọc lên để lớp lớp học sinh được học tập, lớn lên trong hòa bình.

Nhớ về những đồng đội được chi viện về tỉnh Quảng Đà cùng mình năm 1965, nhà giáo Bùi Thị Nguyên cho biết, trong số 8 người thì có 4 người hy sinh, một người bị bắt đi tù Côn Đảo, ba người bị thương.

Không chỉ hy sinh trên mặt trận giáo dục, nhiều nhà giáo đã trở thành chiến sỹ, chiến đầu trực tiếp với kẻ thù trên chiến trường. Những cái tên đã trở thành bất tử, như nhà giáo- chiến sỹ Lê Anh Xuân, nhà giáo-chiến sỹ biệt động Sài Gòn Lê Thị Bạch Cát.

Nhà giáo-chiến sỹ, liệt sỹ Lee Thị Bạch Cát. (Ảnh tư liệu NVCC)
Nhà giáo-chiến sỹ, liệt sỹ Lee Thị Bạch Cát. (Ảnh tư liệu NVCC)

Năm 1964, khi đang là một nữ giảng viên trẻ mới 24 tuổi của Trường Thể dục Thể thao Từ Sơn (Bắc Ninh), nhà giáo Lê Thị Bạch Cát tình nguyện lên đường vào với miền Nam khói lửa. Rời miền Bắc trong đoàn nhà giáo đi B, nhưng khi tới miền Nam, cô Bạch Cát được điều động về công tác ở Thành đoàn Sài Gòn, tham gia lực lượng biệt động vũ trang nội thành với bí danh Sáu Xuân.

Tháng 5/1966, cô tham gia thành lập Tiểu đoàn nữ biệt động Lê Thị Riêng. Tiểu đoàn đã nhanh chóng phát triển lực lượng và hình thành mạng lưới cơ sở nội tuyến trong lòng địch.

Trong đợt tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, cô Bạch Cát đã chỉ huy tổ vũ trang tuyên truyền quận 4, phát động quần chúng nổi dậy. Trong một trận chiến ác liệt với kẻ thù, cô Bạch Cát đã anh dũng hy sinh. Kẻ địch đã buộc xác cô, kéo lê khắp các nẻo đường Sài Gòn. Cảm phục tinh thần, ý chí và ghi nhớ công ơn của nhà giáo- chiến sỹ Lê Thị Bạch Cát, nhân dân rước ảnh cô vào thờ ở đền Nhơn Hòa và chùa Giác Lâm. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đặt tên cô cho một ngôi trường và một con đường của thành phố. Tại quê nhà Nghệ An, một ngôi trường cũng được vinh dự mang tên nhà giáo Lê Thị Bạch Cát.

Những người thầy, cô giáo ấy đã anh dũng ngã xuống cho nước nhà thống nhất, cho đất nước hồi sinh, cho những mái trường mọc lên để lớp lớp học sinh được học tập, lớn lên trong hòa bình./.

Hội nghị cấp cao APEC 27: Chia sẻ tinh thần đoàn kết và trách nhiệm

Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 27 chính thức diễn ra ngày 20/11 với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo 20 nền kinh tế thành viên trong khu vực.

Trong bối cảnh hiện nay, chính đoàn kết và chia sẻ trách nhiệm sẽ giúp APEC tiếp tục khẳng định vai trò là cơ chế hợp tác kinh tế khu vực hàng đầu, là động lực quan trọng xây dựng cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, kết nối, tự cường và sáng tạo

Đây là hoạt động quan trọng nhất của Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 27 do Malaysia chủ trì. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tiếp tục hoành hành trên thế giới, quốc gia Đông Nam Á này đang làm nên lịch sử bằng cách thay đổi cách thức hoạt động thông thường của APEC và thực hiện phần lớn các hội nghị APEC hoàn toàn theo hình thức trực tuyến.

Diễn đàn APEC được thành lập năm 1989, gồm 21 nền kinh tế thành viên thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có chung mục đích tạo ra sự thịnh vượng lớn hơn cho người dân trong khu vực bằng cách thúc đẩy tăng trưởng cân bằng, toàn diện, bền vững, đổi mới và an toàn, cũng như thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực.

Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, APEC – đến nay với tổng dân số 3 tỷ người, chiếm khoảng 60% tổng GDP toàn cầu và gần 50% thương mại thế giới, đã khẳng định được vị thế và vai trò đầu tàu của khu vực.

Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad và các quan chức nước chủ nhà tham gia họp báo về Năm APEC 2020. (Ảnh: Hà Ngọc/TTXVN)
Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad và các quan chức nước chủ nhà tham gia họp báo về Năm APEC 2020. (Ảnh: Hà Ngọc/TTXVN)

Đặc biệt, trong tiến trình tăng trưởng và liên kết kinh tế toàn cầu, APEC cũng đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng một cấu trúc hợp tác khu vực sâu rộng, toàn diện theo tinh thần của mục tiêu hướng tới tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư trong khu vực vào năm 2020.

Tuần lễ cấp cao APEC 27 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt và khó khăn của tình hình khu vực và thế giới, đặt ra nhiều thách thức đối với hợp tác đa phương nói chung và APEC nói riêng.

Kinh tế thế giới đang suy thoái và mặc dù có dấu hiệu phục hồi song chưa thể quay lại mức tăng trưởng trước khủng hoảng. Các nước cũng phải cùng lúc đối phó với khủng hoảng “kép” về kinh tế, an sinh-xã hội, môi trường…. do những tác động sâu rộng của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Năm 2020 cũng là dấu mốc quan trọng của hợp tác APEC, kết thúc 25 năm triển khai các mục tiêu Bogor về tự do hóa thương mại và đầu tư. Đây cũng là thời điểm rà soát kết quả triển khai nhiều chương trình hợp tác dài hạn và nhất là xây dựng tầm nhìn APEC sau năm 2020 với những định hướng hợp tác chiến lược dài hạn trong hai thập niên tới.

Trong lần thứ hai đăng cai Hội nghị cấp cao APEC, nước chủ nhà Malaysia đã chọn chủ đề cho năm 2020 là “Tận dụng tiềm năng con người vì một tương lai tự cường và thịnh vượng chung,” tập trung vào 3 ưu tiên gồm: Xây dựng tầm nhìn APEC sau năm 2020; Cải thiện thương mại và đầu tư; Bao trùm, Kinh tế số và Bền vững sáng tạo, trong đó các sáng kiến thúc đẩy chương trình nghị sự về kinh tế và công nghệ số là nội dung được các thành viên đặc biệt quan tâm.

Người dân đeo khẩu trang để phòng tránh lây nhiễm COVID-19 tại Kuala Lumpur, Malaysia, ngày 15/3/2020. (Ảnh: Hà Ngọc/TTXVN)
Người dân đeo khẩu trang để phòng tránh lây nhiễm COVID-19 tại Kuala Lumpur, Malaysia, ngày 15/3/2020. (Ảnh: Hà Ngọc/TTXVN)

Theo thông lệ, trong Tuần lễ cấp cao APEC, từ 11 đến 20/11 đã diễn ra rất nhiều hoạt động như Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao-Kinh tế APEC lần thứ 31; Hội nghị tổng kết các quan chức cấp cao APEC; Đối thoại của lãnh đạo các doanh nghiệp APEC và Hội nghị Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC).

Tuyên bố chung của các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế APEC khẳng định quyết tâm của 21 thành viên APEC tiếp tục chung tay xây dựng cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương tự cường, thịnh vượng và duy trì vai trò của APEC là cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu khu vực trong những thập niên tới.

Tuyên bố cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của “môi trường thương mại và đầu tư tự do, cởi mở, công bằng, không phân biệt đối xử, minh bạch và có thể dự báo được, nhằm thúc đẩy phục hồi kinh tế trong thời điểm đầy thách thức.”

Các bộ trưởng nhất trí cho rằng APEC cần tiếp tục đẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực, trong đó có mục tiêu hướng tới hình thành Khu vực thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP); nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ và ủng hộ nỗ lực cải cách Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.

Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.

Từ nhiều năm qua, lãnh đạo các nền kinh tế thành viên APEC cho rằng FTAAP có thể được hiện thực hóa qua những bước đi trung gian như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Chính vì vậy, nhiều thành viên đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của Hiệp định RCEP vừa được ký kết tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 và các hội nghị cấp cao liên quan do Việt Nam chủ trì, góp phần thúc đẩy thương mại tự do và mở dựa trên luật lệ cũng như tạo động lực thúc đẩy phục hồi kinh tế.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, RCEP có thể làm thu nhập thực của thế giới tăng thêm khoảng 286 tỷ USD mỗi năm (tương đương 0,2% GDP toàn cầu) vào năm 2030. Theo đó, RCEP có giá trị như một khoản đầu tư 7,2 nghìn tỷ USD với tỷ suất lợi nhuận 4% mỗi năm. RCEP có thể giúp thương mại toàn cầu tăng thêm khoảng 1,9%.

Tới thời điểm này, có 11 nền kinh tế tham gia CPTPP và 12 nước tham gia RCEP là thành viên APEC. Vì vậy, việc ký kết RCEP không chỉ góp phần tạo cơ hội phục hồi sau đại dịch cho các nền kinh tế thành viên APEC, mà cùng với CPTPP giúp “tạo lực đẩy mới” cho hội nhập kinh tế quốc tế, khởi đầu từ chính khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Trong năm nay, Việt Nam tham gia và đóng góp trong các hoạt động đa phương nói chung và APEC nói riêng với vị thế ngày càng gia tăng nhờ đảm nhận thành công các trọng trách đa phương quan trọng, như vai trò Chủ tịch ASEAN và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Đặc biệt, nhờ các biện pháp khẩn trương, quyết liệt và hiệu quả trong ứng phó với COVID-19, Việt Nam đã sớm kiểm soát tốt dịch bệnh và phục hồi kinh tế. Việt Nam cũng chuyển sang giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện với việc thực thi nhiều hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, là một trong những nước đầu tiên trong khu vực đồng thời triển khai CPTPP, ký kết và phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Liên minh châu Âu (EVFTA) và đóng góp tích cực hướng tới đàm phán và ký kết RCEP; tiếp tục phát huy vai trò tích cực thúc đẩy hợp tác APEC, nhất là triển khai các kết quả quan trọng của Năm APEC 2017 – khi Việt Nam là nước chủ nhà, như xây dựng Tầm nhìn APEC 2020, phát triển bao trùm, phát triển nguồn nhân lực và kinh tế số.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh phát biểu tại Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao-Kinh tế APEC lần thứ 31. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh phát biểu tại Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao-Kinh tế APEC lần thứ 31. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)

Năm 2020, Việt Nam đã tích cực tham gia, đóng góp tại gần 100 cuộc họp, hội nghị của APEC được tổ chức (cả hình thức trực tiếp và trực tuyến), nhất là tham dự 9 hội nghị, đối thoại cấp bộ trưởng. Việt Nam đồng thời chủ động, tích cực tham gia và đóng góp xây dựng nhiều văn bản định hướng hợp tác quan trọng của APEC như Tầm nhìn APEC sau 2020, Tầm nhìn năng lượng APEC sau 2020…

Tại các hội nghị APEC lần này, Việt Nam cũng đưa ra nhiều đề xuất quan trọng nhằm phối hợp kiểm soát dịch bệnh và phục hồi kinh tế, tăng cường kết nối, bảo đảm tính bền vững của các chuỗi cung ứng, cải cách cơ cấu, kinh tế số nhằm phục hồi kinh tế và nâng cao tính tự cường trước những khủng hoảng và “cú sốc” trong tương lai.

Trong bối cảnh hợp tác APEC bị ảnh hưởng và gián đoạn do dịch bệnh bùng phát, Việt Nam đang tích cực ủng hộ, chủ động phối hợp chặt chẽ với chủ nhà Malaysia và các thành viên bảo đảm giữ đà hợp tác APEC, thúc đẩy để các hội nghị APEC ra được Tuyên bố chung, khẳng định tinh thần hợp tác APEC.

Như Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã khẳng định, đại dịch COVID-19 càng cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, bởi vậy hơn bao giờ hết, các thành viên APEC cần đề cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, cùng chung tay đóng góp để châu Á-Thái Bình Dương sớm vượt qua các thách thức hiện nay và tiếp tục dẫn dắt quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu.

Đây cũng chính là kinh nghiệm mà Việt Nam chia sẻ khi đảm đương cương vị Chủ tịch ASEAN 2020, bởi chính tinh thần “gắn kết và chủ động thích ứng” đã giúp ASEAN vững vàng vượt lên những thách thức trong năm 2020 và tiếp tục tiến lên phía trước.

Trong bối cảnh hiện nay, chính đoàn kết và chia sẻ trách nhiệm sẽ giúp APEC tiếp tục khẳng định vai trò là cơ chế hợp tác kinh tế khu vực hàng đầu, là động lực quan trọng xây dựng cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, kết nối, tự cường và sáng tạo./.

Toàn cảnh SOM 1 APEC 2020. (Ảnh: TTXVN)
Toàn cảnh SOM 1 APEC 2020. (Ảnh: TTXVN)

Truyền thông quốc tế: Việt Nam đang là “miền đất hứa’’ với nhà đầu tư

Nhiều hãng truyền thông báo chí lớn như báo Nikkei (Nhật Bản), Sputnik (Nga) và tạp chí Global Business Outlook vừa có những bài viết nhận định rằng kinh tế Việt Nam đang tiềm ẩn cơ hội lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Điểm đến đầu tư an toàn và đầy tiềm năng

Báo Nikkei ngày 11/11 có bài viết “Việt Nam cam kết tăng trưởng 5% và sự bùng nổ đầu tư nước ngoài,” trong đó cho biết Việt Nam – nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á – đang thúc đẩy thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, trong bối cảnh đất nước đã kiềm chế được dịch bệnh COVID-19.

Global Business Outlook dẫn báo cáo của Ngân hàng Phát triển Singapore dự đoán trong 10 năm tới, Việt Nam có thể tăng trưởng ở mức 6-6,5% và đến năm 2029, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng cao hơn Singapore.

Theo Nikkei, Việt Nam đang tận hưởng làn sóng đầu tư nước ngoài và đang được kỳ vọng trở thành trung tâm sản xuất công nghệ cao lớn. Hiện chỉ riêng Samsung đã đóng góp 1/4 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, trong khi tập đoàn Intel của Mỹ cũng chọn Việt Nam để đặt nhà máy lắp ráp chip lớn nhất thế giới.

Việc các công ty dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam giúp thúc đẩy lĩnh vực sản xuất của Việt Nam trước khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên toàn cầu.

Xuất hàng đi Nhật Bản tại Nhà máy thuộc công ty Huỳnh Đức, tỉnh Đồng Nai. (Ảnh: Minh Hưng/TTXVN)
Xuất hàng đi Nhật Bản tại Nhà máy thuộc công ty Huỳnh Đức, tỉnh Đồng Nai. (Ảnh: Minh Hưng/TTXVN)

Với các khoản đầu tư từ tập đoàn điện tử khổng lồ LG của Hàn Quốc và nhà sản xuất băng dính Tesa của Đức trong năm nay, Việt Nam đang trên đà trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới vào năm 2020.

Phần lớn các khoản đầu tư mới đổ vào lĩnh vực công nghệ, ví dụ sản xuất tai nghe cho Apple và màn hình tinh thể lỏng cho Sharp. Điều này phù hợp với mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là nâng cao chuỗi giá trị và chuyển đổi sang công việc đòi hỏi kỹ năng cao hơn.

Trong khi đó, theo Sputnik, chuyên gia Sergey Sinitsyn từ trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO) nhận định “Việt Nam đang trở thành ‘miền đất hứa’ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.”

Sau khi nghiên cứu các dữ liệu chính thức của Việt Nam và những phân tích của các ấn phẩm quốc tế, chuyên gia này nhấn mạnh Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 3 trong số các quốc gia ASEAN về tốc độ tăng trưởng của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

Công nhân nhà máy của công ty Huỳnh Đức tại Đông Nai kiểm tra chi tiết máy đo kỹ thuật cao. (Ảnh: Minh Hưng/TTXVN)
Công nhân nhà máy của công ty Huỳnh Đức tại Đông Nai kiểm tra chi tiết máy đo kỹ thuật cao. (Ảnh: Minh Hưng/TTXVN)

Theo chuyên gia Nga, Việt Nam là một khu vực đầu tư phát triển mạnh. Trong 4 năm qua, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam đã đi từ giai đoạn sơ khai đến một cấp độ có ý nghĩa đối với toàn bộ khu vực. Vì thế có thể đánh giá rằng Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm phát triển nhanh nhất cho các dự án đổi mới sáng tạo ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các lĩnh vực hấp dẫn nhất để đầu tư vào Việt Nam là các lĩnh vực tài chính, giáo dục, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, cũng như công nghệ blockchain.

Theo báo cáo của quỹ đầu tư ESP Capital và Cento Ventures, lượng vốn đầu tư mạo hiểm tăng từ 5% (năm 2018) lên 17% (năm 2019) trong tổng vốn đầu tư cho start-up ở khu vực.

Quỹ đầu tư nhà nước Temasek của Singapore gia nhập dự án của VNG, còn Softbanks & GIC đầu tư vào VNPAY, và Warburg Pincus đầu tư vào MoMo. Công ty cổ phần VNG chính thức trở thành start-up đầu tiên của Việt Nam đạt giá trị 1 tỷ USD sau khoản đầu tư của GIC.

VNG có mức định giá 51.000 tỷ đồng (2,2 tỷ USD). Đây là một kết quả siêu ấn tượng, chuyên gia Nga nhấn mạnh.

Các doanh nghiệp Việt Nam kết nối trực tiếp với bộ phận thu mua của AEON Việt Nam. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)
Các doanh nghiệp Việt Nam kết nối trực tiếp với bộ phận thu mua của AEON Việt Nam. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)

Tạp chí Global Business Outlook (chuyên đưa tin về các ngành công nghiệp chủ chốt, trụ sở tại Anh) cũng đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam.

Global Business Outlook dẫn báo cáo của Ngân hàng Phát triển Singapore công bố ngày 10/11 dự đoán trong 10 năm tới, Việt Nam có thể tăng trưởng ở mức 6-6,5% và đến năm 2029, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng cao hơn Singapore.

Nhà kinh tế cấp cao Irvin Seah của Ngân hàng Phát triển Singapore cho biết các nhà đầu tư toàn cầu rất quan tâm đến Việt Nam. Ông Seah viết trong báo cáo: “Nói một cách đơn giản, trong 10 năm nữa, quy mô nền kinh tế Việt Nam sẽ lớn hơn Singapore và tiềm ẩn các cơ hội tăng trưởng to lớn cho các công ty và nhà đầu tư muốn tham gia.”

Đối đầu những thách thức

Những hãng truyền thông nước ngoài nói trên cũng đề cập tới những thách thức mà Việt Nam đối mặt trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, cũng như những biện pháp ứng phó của Việt Nam.

Theo các chuyên gia quốc tế, làn sóng đầu tư đang gây thêm sức ép đối với Việt Nam, cụ thể là lực lượng lao động, các nhà cung cấp và quỹ đất công nghiệp.

Chuẩn bị nguồn hàng gạo xuất khẩu tại Công ty Lương thực sông Hậu (Tổng công ty Lương thực miền Nam). (Ảnh: TTXVN)
Chuẩn bị nguồn hàng gạo xuất khẩu tại Công ty Lương thực sông Hậu (Tổng công ty Lương thực miền Nam). (Ảnh: TTXVN)

Công ty bất động sản Savills cho biết, trong 2 năm qua, tỷ lệ lấp đầy tăng mạnh ở hầu hết các khu công nghiệp, hiện đạt mức trung bình 74% trên toàn quốc. Tỷ lệ lấp đầy thậm chí còn cao hơn ở khu vực gần các thành phố, gồm 99% ở Bình Dương và 94% ở Đồng Nai, hai tỉnh ven Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc thông tin kinh doanh tại Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam, cho biết “đại bàng sản xuất” (một thuật ngữ ngày càng phổ biến) đang đổ xô vào Việt Nam và cần phải chuẩn bị cho phù hợp: “Hãy xây tổ để chào đón những con đại bàng.”

Tuy nhiên, Michael Kokalari, chuyên gia kinh tế của VinaCapital, bác bỏ quan điểm cho rằng các nhà máy và kho bãi của Việt Nam có thể sắp đạt hết công suất. Ông nhấn mạnh: “Nếu bạn quan tâm đến chi phí thì đúng là như vậy. Tuy nhiên, nếu bạn đang sản xuất đồ điện tử và các sản phẩm có giá trị cao hơn, chúng tôi vẫn còn chỗ.”

VinaCapital tính toán trong một báo cáo năm 2019 rằng, Việt Nam có đủ đất công nghiệp cho các công ty nước ngoài tăng gấp đôi quy mô đầu tư của họ vào thời điểm đó. Theo báo cáo, 20% thị phần ngành sản xuất trong nền kinh tế Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với mức 30% ở các “nền kinh tế con hổ” của châu Á, do đó có nhiều dư địa cho tăng trưởng.

Doanh nghiệp Việt giới thiệu sản phẩm với khách tham quan tại “Tuần lễ triển lãm sản phẩm doanh nghiệp Việt” ở TP.HCM (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)
Doanh nghiệp Việt giới thiệu sản phẩm với khách tham quan tại “Tuần lễ triển lãm sản phẩm doanh nghiệp Việt” ở TP.HCM (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)

Để theo kịp, Việt Nam đang triển khai xây dựng thêm nhiều khu công nghiệp. Theo số liệu của Savills, ít nhất 17 khu công nghiệp sẽ đi vào hoạt động trong vài năm tới.

Về vấn đề nguồn nhân lực, Navigos Group, sở hữu trang web việc làm lớn nhất Việt Nam, cho biết 71% công ty công nghệ nói rằng khan hiếm nhân tài là thách thức lớn nhất của họ.

Con số này vượt xa chi phí lương, vấn đề pháp lý và các thách thức khác được trích dẫn trong cuộc khảo sát công bố vào tháng 4/2020. Tương tự, các nhà tuyển dụng cho biết họ gặp khó khăn khi tìm kiếm vị trí quản lý cấp trung trong nhiều ngành khác nhau.

Tuy nhiên chuyên gia Sergey Sinitsyn từ trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO) nhận định Việt Nam có nguồn nhân lực có khả năng sản xuất các dự án sáng tạo chất lượng cao.

Chuyên gia Nga nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhiều trường đại học và học viện, cũng như các cơ quan thúc đẩy kinh doanh, các vườn ươm doanh nghiệp và các trung tâm kết nối kinh doanh trong việc đào tạo nhân sự. Ông Sinitsyn nhấn mạnh giáo dục ở Việt Nam không phải là một ngành dịch vụ, mà là một nhiệm vụ xã hội của nhà nước.

Một thách thức khác đối với Việt Nam là sự khan hiếm các nhà cung cấp trong nước, khiến Việt Nam phải tìm kiếm nguyên liệu từ Trung Quốc. Trong một nghiên cứu về nội địa hóa chuỗi cung ứng, trung bình Việt Nam tăng thêm 55% giá trị sản phẩm trước khi xuất khẩu, tỷ lệ thấp nhất trong số 8 quốc gia châu Á mà Đại học Harvard đánh giá vào tháng 3/2020.

Các nhà cung cấp đang nỗ lực đáp ứng nhu cầu này bằng các quan hệ đối tác nước ngoài, các chương trình đào tạo và các nhà máy mới./.

Thiết bị robot hàn tự động công nghệ cao tại nhà máy của công ty Huỳnh Đức, tỉnh Đồng Nai. (Ảnh: Minh Hưng/TTXVN)
Thiết bị robot hàn tự động công nghệ cao tại nhà máy của công ty Huỳnh Đức, tỉnh Đồng Nai. (Ảnh: Minh Hưng/TTXVN)

90 năm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

Trong chiến tranh, sức mạnh “dời non lấp biển” của khối đại đoàn kết toàn dân đã giúp Việt Nam đánh tan kè thù, giành lại hòa bình, thống nhất đất nước. Khi hoà bình, lại cũng chính sức mạnh đại đoàn kết ấy đã giúp nhân dân ta vượt qua được những giai đoạn khó khăn, cam go, đầy thử thách để xây dựng kinh tế-xã hội phát triển, ổn định.

Và, nơi tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ấy chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Hội tụ và lan tỏa tình đoàn kết

Trong lịch sử 90 năm hình thành và phát triển, Mặt trận Tổ quốc luôn thực hiện tốt vai trò chủ trì trong việc phát động và tổ chức thực hiện các cuộc vận động đến đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo và nguồn lực trong xã hội góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước.

Ông Ngô Sách Thực, Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam cho biết, Mặt trận luôn phát huy tinh thần yêu nước, đoàn kết và sáng tạo trong nhân dân, điều này thể hiện qua việc triển khai có hiệu quả các cuộc vận động để thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vặt chất, tinh thần của nhân dân.

Mặt trận đã trở thành cầu nối hội tụ và lan toả tinh thần đoàn kết, minh chứng cụ thể là chương trình vận động chăm lo, giúp đỡ người nghèo, đối tượng chính sách, người yếu thế, đồng bào bị bão lũ… của Mặt trận tổ quốc Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm hưởng ứng của toàn xã hội.

Trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” năm 2015, với phương châm lấy sức dân để chăm lo cho đời sống nhân dân, Ủy ban Mặt trận các cấp đã chủ trì hiệp thương, phối hợp với các tổ chức thành viên vận động nhân dân huy động nguồn lực, hiến đất, hiến công xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, chấp hành pháp luật, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, xây dựng các cộng đồng dân cư văn minh và hạnh phúc.

“Cuộc vận động đã huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng tích cực của đông đảo nhân dân, đã đem lại kết quả khá toàn diện. Đến năm 2020, cả nước có trên 60% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới,” ông Ngô Sách Thực nói.

Hằng năm, Mặt trận Tổ quốc đều có sự phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức liên quan để triển khai hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “Đoàn kết sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế”…

Mặt trận đã trở thành cầu nối hội tụ và lan toả tinh thần đoàn kết, minh chứng cụ thể là chương trình vận động chăm lo, giúp đỡ người nghèo, đối tượng chính sách, người yếu thế, đồng bào bị bão lũ… của Mặt trận tổ quốc Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm hưởng ứng của toàn xã hội.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận ủng hộ vì người nghèo.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận ủng hộ vì người nghèo.

Trong 5 năm (2015-2020), hệ thống Mặt trận các cấp đã vận động được 19.703 tỷ đồng cho các chương trình an sinh xã hội; vận động quỹ “Vì người nghèo” trên 4.672 tỷ đồng; xây dựng và sửa chữa trên 153.000 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; xây dựng hàng nghìn công trình phúc lợi, giúp đỡ hàng triệu gia đình phát triển sản xuất, được khám, chữa bệnh và học sinh nghèo có điều kiện đến trường.

Đồng hành với mặt trận, các tổ chức thành viên có nhiều chương trình hoạt động, kêu gọi, vận động xã hội chăm lo các đối tượng chính sách, người có công với nước, giúp đỡ đoàn viên, hội viên có hoàn cảnh khó khăn, người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, người khuyết tật, trẻ mồ côi và người yếu thế trong xã hội; chia sẻ, giúp đỡ đồng bào chịu thiệt hại do bão lũ, hạn hán, xâm nhập mặn gây ra và các trường hợp gặp sự cố nghiêm trọng, tổ chức tốt các hoạt động cứu trợ.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham gia chương trình ủng hộ phòng, chống dịch COVID-19 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham gia chương trình ủng hộ phòng, chống dịch COVID-19 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đặc biệt, đến tháng 9/2020, mặt trận đã chủ trì phát động, kêu gọi, vận động toàn dân tham gia phòng chống dịch COVID-19, ủng hộ Quỹ phòng chống COVID-19 được trên 2.000 tỷ đồng.

Giám sát và phản biện xã hội

Trong 5 năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khẳng định bước phát triển mới trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Từ năm 2018, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã hiệp thương xây dựng kế hoạch giám sát, phản biện xã hội hàng năm để thấy  rõ nội dung công việc Mặt trận chủ trì và những việc 5 đoàn thể chính trị- xã hội chủ trì.

Công tác giám sát và phản biện xã hội  trở thành hoạt động thường xuyên, trọng tâm của Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội. Mặt trận Tổ quốc đã chủ trì hoặc phối hợp với các tổ chức thành viên và các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước triển khai 12 chương trình giám sát cấp Trung ương, tập trung vào các lĩnh vực: chính sách đối với người có công với cách mạng; thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ; đổi mới giáo dục và đào tạo; quản lý, sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp; giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở; cải cách hành chính; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế và hải quan; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; chấp hành pháp luật của các cơ sở y tế; bảo đảm an toàn thực phẩm; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đánh giá sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước…

Nhiều lĩnh vực quản lý phức tạp, khó và nhạy cảm như bồi thường tái định cư, thu hồi đất, quản lý sử dụng các nguồn lực xây dựng nông thôn mới, bồi thường sự cố ô nhiễm môi trường biển… đã được Mặt trận các cấp giám sát có hiệu quả.

“Trong 5 năm qua, Ủy ban Mặt trận cấp tỉnh chủ trì và tham gia giám sát liên ngành được 4.093 cuộc; Ủy ban Mặt trận cấp huyện chủ trì giám sát 22.679 cuộc; Ủy ban Mặt trận cấp xã chủ trì giám sát 466.012 cuộc. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện nhiệm vụ góp ý, phản biện xã hội, cùng với giám sát và thông qua các hoạt động của Mặt trận để tham gia hoàn thiện chính sách, pháp luật; hàng năm, góp ý trên 30 văn bản pháp luật,” ông Ngô Sách Thực cho hay.

Ở các địa phương, những chủ trương lớn, cơ chế, chính sách liên quan thiết thực đến số đông người dân đều lấy ý kiến hoặc phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trước khi quyết định. Nhiều lĩnh vực quản lý phức tạp, khó và nhạy cảm như bồi thường tái định cư, thu hồi đất, quản lý sử dụng các nguồn lực xây dựng nông thôn mới, bồi thường sự cố ô nhiễm môi trường biển… đã được Mặt trận các cấp giám sát có hiệu quả.

Mặt trận phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân

Ngày nay, sự nghiệp đổi mới của đất nước đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi đan xen với không ít thách thức. Tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp và khó lường. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội và đặt ra những vấn đề mới trong phát triển đất nước. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế đạt được những thành quả to lớn, nhưng cũng có những tác động tiêu cực đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng cho rằng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải không ngừng đổi mới về mọi mặt, nhất là phương thức hoạt động, khẳng định vị thế, vai trò trong hệ thống chính trị. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tập trung làm tốt vai trò của mình với tư cách là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu; phát huy hiệu quả chức năng tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

“Mặt trận phải thực hiện tốt vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, dựa vào nhân dân để tham gia xây dựng Đảng xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, củng cố và phát huy thế trận lòng dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới,” Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng nhấn mạnh.

Mặt trận chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân hành động yêu nước, là “chỗ dựa” của nhân dân khi nhân dân cần được bảo vệ.

Theo ông Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lịch sử 90 năm qua đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, là hành trang để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục đổi mới, mở rộng, thực hiện tốt sứ mệnh của mình trên con đường phát triển của đất nước.

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận định, trong thời gian tới hoạt động của Mặt trận phải luôn bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng, linh hoạt về phương thức hoạt động. Măt trận kiên trì tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, đề cao cảnh giác, chủ động phòng và đấu tranh chống lại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Đặc biệt, cần xây dựng và nâng cao năng lực hoạt động, uy tín của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt.

Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn trò chuyện cùng bà con đồng bào dân tộc thôn Đồng Mà, xã Trung Yên huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tại Ngày hội đại đoàn kết.
Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn trò chuyện cùng bà con đồng bào dân tộc thôn Đồng Mà, xã Trung Yên huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tại Ngày hội đại đoàn kết.

Mặt trận chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân hành động yêu nước, là “chỗ dựa” của nhân dân khi nhân dân cần được bảo vệ. Do đó, mặt trận cần hướng mạnh về cơ sở, nhất là địa bàn khu dân cư, phát huy sự năng động, sáng tạo của Mặt trận các cấp. Cán bộ Mặt trận cần gắn bó, sâu sát với nhân dân để lắng nghe và phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân. Ủy ban Mặt trận các cấp phải thực sự là người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

“Lịch sử vẻ vang 90 năm của Mặt trận Dân tộc thống nhất là một dòng chảy liên tục của chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết trong tổ chức Mặt trận tạo nên những kỳ tích vĩ đại, làm rạng rỡ non sông. Đó là tiền đề để chúng ta chung sức, chung lòng viết tiếp những trang sử vàng từ một triết lý lịch sử: ‘Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công’,” ông Trần Thanh Mẫn nói./.

“Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà” – Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là kênh thông tin quan trọng phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đến đại hội đảng bộ các cấp.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là kênh thông tin quan trọng phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đến đại hội đảng bộ các cấp.

Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV

Hôm nay (ngày 17/11), kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã chính thức kết thúc. Nhiều đại biểu nhận định từ chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn toàn kỳ họp cũng như khâu tổ chức, nội dung các phiên thảo luận ở tổ… của kỳ họp phần lớn đáp ứng được mong muốn cử tri.

Đặc biệt, khác với kỳ họp trước, tại kỳ họp này, Quốc hội đã dành nhiều thời gian tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể ở Hội trường về việc thực hiện các Nghị quyết giám sát chuyên đề và các Nghị quyết chất vấn của Quốc hội từ đầu nhiệm kỳ khóa XIV cũng như một số Nghị quyết chất vấn khóa XIII; đoàn Chủ tọa kỳ họp cũng đã thực hiện một phương thức mới mang tính dân chủ hơn trong điều hành phiên chất vấn…

Một nhiệm kỳ đầy ấn tượng

Có thể thấy Việt Nam trong giai đoạn 2016-2021 có nhiều điểm nổi bật. Đạt được thành tựu trên là nỗ lực rất lớn của cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc giám sát của Quốc hội, sự điều hành năng nổ của Chính phủ để đạt được kết quả kinh tế ấn tượng (từ năm 2016-2019 tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước).

Bất chấp đại dịch COVID-19 làm cho toàn cầu lao đao, suy thoái kinh tế thế giới ngày càng trầm trọng, hầu hết các nền kinh tế tăng trưởng âm thì ba quốc gia là Brunei, Malaysia và Việt Nam của khu vực ASEAN tăng trưởng dương.

Sáng 10/11/2020, tại buổi chất vấn cuối cùng của Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIV về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số nghị quyết của Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XIII, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trực tiếp trả lời các câu hỏi của đại biểu Quốc hội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Sáng 10/11/2020, tại buổi chất vấn cuối cùng của Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIV về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số nghị quyết của Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XIII, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trực tiếp trả lời các câu hỏi của đại biểu Quốc hội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Theo thông tin của đại biểu Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh tại một phiên thảo luận ở tổ: “Mười tháng gần đây, kết quả tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá tích cực: Quý I tăng 3,66%, quý II còn 0,39%, quý III là 2,62%. Chín tháng năm 2020 tăng trung bình 2,12%, lạm phát kiểm soát dưới 4%. Xuất khẩu các nước giảm tổng cầu rất lớn, thương mại thế giới toàn cầu giảm 10-20% nhưng Việt Nam riêng quý 3 tăng 11%…”

Những con số ấn tượng đó đặt trong bối cảnh khó khăn chung toàn cầu đã giúp Việt Nam được nhận định là điểm sáng tăng trưởng kinh tế, được xem là quốc gia có mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới (4 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu tăng trưởng dương gồm Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc). Đây là sự nỗ lực có điểm tận dụng được thời cơ hội nhập quốc tế, tận dụng lợi thế 13 FTA đã ký kết, đặc biệt là 2 hiệp định thương mại thế hệ mới với châu Âu, Thái Bình Dương.

Đặc biệt, trong kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, các đại biểu cũng đánh giá thành quả an sinh xã hội của Việt Nam đã đảm bảo tốt hơn, những thành tích về quốc phòng an ninh được tăng cường, kể cả công tác đối ngoại.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh bên hành lang nghị trường kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV. (Ảnh: Xuân Mai/Vietnam+)
Đại biểu Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh bên hành lang nghị trường kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV. (Ảnh: Xuân Mai/Vietnam+)

Có thể nói 2016-2021 là một nhiệm kỳ đạt được nhiều thành tích đáng mừng. Chỉ riêng năm 2020 do những ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh gây khó khăn chung, khiến tốc độ tăng trưởng và những thành tích của cả nhiệm kỳ có phần giảm sút. Nhưng, cũng chính “cú vấp” đó lại trở thành kinh nghiệm quý báu mà sau đó Chính phủ đã rút ra trong báo cáo trước Quốc hội, tại phiên họp trực tuyến đầu kỳ họp thứ 10 vừa qua.

Nhiều vấn đề “nóng” trên nghị trường

Bước vào kỳ họp thứ 10 trong bối cảnh nền kinh tế, xã hội vừa gượng dậy sau đại dịch COVID-19 và cả miền Trung đang oằn mình gánh bão, các đại biểu đã thể hiện quan tâm đặc biệt trước vấn đề liên quan đến công tác phòng chống, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai và đặc biệt là công tác quy hoạch, nạn chặt phá rừng… Các đại biểu thể hiện niềm trăn trở, mong muốn làm rõ nguyên nhân thiên tai đâu là do khách quan gây nên và đâu là yếu tố chủ quan liên quan đến con người.

Các đại biểu không chỉ trăn trở về công tác quy hoạch, nạn chặt phá rừng, an sinh xã hội, việc làm, đào tạo nghề… mà còn chất vấn nhiều vấn đề liên quan đến phòng, chống tham nhũng…

Theo tổng kết đánh giá của các đại biểu, kỳ chất vấn lần này còn nổi lên một số nhóm vấn đề chính khác. Từ những thành quả của công tác cải cách hành chính và sự phát triển của công nghệ thông tin, đại biểu quan tâm đến việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp cần tiếp tục có những cải tiến gì để nâng cao hơn nữa hiệu quả cung cấp dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp được thuận lợi hơn.

Thiếu tướng Đặng Ngọc Nghĩa, đoàn đại biểu Quốc hội Thừa Thiên Huế. (Ảnh: Xuân Mai/Vietnam+)
Thiếu tướng Đặng Ngọc Nghĩa, đoàn đại biểu Quốc hội Thừa Thiên Huế. (Ảnh: Xuân Mai/Vietnam+)

Đi liền với khắc phục hậu quả từ đại dịch COVID-19, các đại biểu Quốc hội cũng thể hiện trăn trở về những vấn đề an sinh xã hội, việc làm, đào tạo nghề… cần làm thế nào và có giải pháp cụ thể ra sao để vượt qua khó khăn trong bối cảnh ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh.

Liên quan đến việc tổ chức thực thi pháp luật, có rất nhiều câu hỏi được nêu ra trong các phiên chất vấn như: Vấn đề về tự chủ đại học; suy thoái đạo đức lối sống, xử lý vi phạm hành chính; phòng, chống tham nhũng…

Theo thiếu tướng Đặng Ngọc Nghĩa, đoàn đại biểu Quốc hội Thừa Thiên Huế, ở kỳ họp này, Ban Thường vụ Quốc hội đã chuẩn bị nội dung chương trình khá tốt.

“Ban Thường vụ của Quốc hội đã điều hành các phiên họp và toàn thể kỳ họp này rất linh hoạt và khoa học, tôn trọng đại biểu và phát huy được tính dân chủ.”

“Đặc biệt là các luật được dư luận quan tâm, ví dụ như Luật Cư trú, Luật Môi trường, Luật Xử phạt hành chính, thảo luận về Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) và Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở… Hoặc về nhân sự, Quốc hội thông qua bổ sung một số nhân sự mà trước đây dự thảo không có, như việc phê chuẩn Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước, 3 thẩm phán tối cao,” đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa nhận định.

Kỳ họp “dân chủ, thẳng thắn và trách nhiệm”

Phát huy những mặt tích cực của kỳ họp thứ 9, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV tiếp tục được thực hiện theo hình thức họp trực tuyến và trực tiếp. Theo đó, đợt 1 họp trực tuyến kết nối giữa các điểm cầu từ Nhà Quốc hội đến 63 Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trong cả nước từ ngày 20-27/10/2020; đợt 2 họp tập trung tại Nhà Quốc hội từ ngày 02-17/11/2020.

Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Xuân Mai/Vietnam+)
Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Xuân Mai/Vietnam+)

Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng kỳ họp này tuy gặp phải nhiều khó khăn, thách thức từ dịch bệnh, thiên tai, bão lũ… nhưng lại chính là kỳ họp các đại biểu dành rất nhiều tâm huyết thảo luận, để quyết định những vấn đề quan trọng.

“Theo nhận định và đánh giá của cá nhân tôi, đây là kỳ họp thành công. Thành công bởi chúng ta đưa ra những nội dung quan trọng để các đại biểu có thể thảo luận và quyết định. Thành công bởi đại biểu đã rất thẳng thắn, chân thành và trách nhiệm trong từng phát biểu của mình. Thành công còn bởi lẽ những vấn đề lớn, những vấn đề khó được đại biểu tranh luận để cùng làm sáng rõ những chân lý, tìm ra lẽ phải và từ đó đưa ra những quyết định phù hợp với lòng dân,” đại biểu đến từ Thành phố mang tên Bác nói.

Còn thiếu tướng Đặng Ngọc Nghĩa đánh giá không chỉ riêng kỳ họp này mà nói chung cả khóa XIV các đại biểu đều tham gia rất nhiều ý kiến chất lượng, nhiều đại biểu phát biểu với tinh thần thẳng thắn, đóng góp cao; kể cả 3 chức năng của Quốc hội về ban hành luật, các vấn đề quan trọng của đất nước, về giám sát, các hoạt động bên lề nghị trường đều được thông tin tuyên truyền kịp thời.

Thiếu tướng Đặng Ngọc Nghĩa đánh giá chất lượng kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV.

Hai đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa và Nguyễn Thị Quyết Tâm đều là những gương mặt có nhiều ý kiến, chất vấn sắc sảo không chỉ trên nghị trường mà còn chia sẻ nhiều băn khoăn, trăn trở bên hành lang Quốc hội. Cả hai đều khẳng định Ban Thường vụ của Quốc hội đã điều hành các phiên họp và toàn thể kỳ họp này rất linh hoạt và khoa học, tôn trọng đại biểu và phát huy được tính dân chủ.

“Giờ đây năm đồng chí lãnh đạo của Quốc hội đã có nhiều kinh nghiệm điều hành, các đại biểu cũng mang tinh thần trách nhiệm cao giống như đồng chí Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói khi kết luận phiên chất vấn cuối buổi sáng ngày 10/11 là: Dân chủ, thẳng thắn, trách nhiệm và nhiều ý kiến,” thiếu tướng Đặng Ngọc Nghĩa chia sẻ.

Nỗ lực đổi mới

Có thể nói, khác với kỳ họp trước, tại kỳ họp này, Quốc hội đã dành nhiều ngày tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể ở hội trường. Đây được đánh giá là một trong những nỗ lực đổi mới, sự cố gắng rất lớn Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Đoàn Chủ tọa kỳ họp trong tổ chức điều hành phiên chất vấn.

Việc trả lời theo phương thức chất vấn mở của kỳ họp lần này cho phép tất cả các thành viên Chính phủ và Tư lệnh ngành có cơ hội được tham gia trả lời chất vấn, giải trình vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.

Nếu các kỳ họp trước thường chất vấn theo nhóm vấn đề và việc chất vấn chỉ tập trung vào một số thành viên Chính phủ, thì lần này Quốc hội chất vấn theo phương thức mở, cho phép tất cả các thành viên Chính phủ, các Tư lệnh ngành đều có cơ hội tham gia trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội.  

Đặc biệt, mỗi ý kiến, chất vấn đều được quy định thời gian và có chuông nhắc hết giờ nhằm tránh tình trạng nói “tràng giang đại hải,” không tập trung vào nội dung chính và mất thời gian của các đại biểu khác như nhiều kỳ họp trước. Thậm chí, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại phiên giải trình và trả lời chất vấn diễn ra sáng ngày 10/11, cũng được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân giới hạn thời gian.

Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá chất lượng kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV.

Như vậy có thể nói, Đoàn Chủ tọa kỳ họp đã thực hiện một phương thức mới mang tính dân chủ hơn trong điều hành phiên chất vấn.

Đánh giá về phần trả lời của các thành viên Chính phủ và tư lệnh ngành, đại biểu Đặng Xuân Phương, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Lăk nhận định việc trả lời chất vấn theo cách thức tập trung theo nhóm vấn đề giúp các đại biểu Quốc hội đi sâu, đi đến cùng của vấn đề chất vấn nhưng lại hạn chế về số lượng, cơ hội cho các thành viên Chính phủ được trả lời.

Trong khi đó, trả lời theo phương thức chất vấn mở cho phép tất cả các thành viên Chính phủ và tư lệnh ngành có cơ hội được tham gia trả lời chất vấn, giải trình vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.

Thời gian kết thúc khóa XIV đã gần kề, nhiều đại biểu Quốc hội mong muốn các đại biểu mới khóa mới sẽ tích cực phát huy tinh thần của các khóa Quốc hội trước và bày tỏ tin tưởng với những nỗ lực đổi mới vừa qua, Quốc hội sẽ hoàn thành được các chức năng, nhiệm vụ là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước./.

(Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
(Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Trường THCS Ngô Sĩ Liên

Tọa lạc tại số 27-29 phố Hàm Long, thuộc quận Hoàn Kiếm, trung tâm của Thủ đô, Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên là một trong số ít các trường có tuổi đời lên đến 100 năm của Hà Nội. Ngược dòng thời gian 100 năm về trước, tại chính nơi này, trường Tiểu học Leonet – một ngôi trường dành cho nam sinh – đã được người Pháp xây dựng. Vào những ngày đầu thu Hà Nội năm 1920, trường Leonet bước vào năm học đầu tiên.

Trong hành trình lịch sử 100 năm trong sự nghiệp trồng người, từ những bài giảng và tình yêu thương học trò, lòng tận tụy với nghề của thầy cô, lớp lớp học trò đã lớn lên, trở thành những chủ nhân có đức, có tài của đất nước.

Một thế kỷ trồng người

Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong những ngày lịch sử dân tộc sang trang, Trường Tiểu học Léonet được đổi thành Trường Tiểu học Hàm Long. Sang những năm 70 của thế kỷ XX, trường vinh dự mang tên nhà sử học lỗi lạc triều Lê, thành Trường cấp I, II Phổ thông cơ sở Ngô Sĩ Liên và từ năm 1983, trường chính thức mang tên Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên.

Đi trọn một thế kỷ phát triển không ngừng, trường đã ghi dấu ấn qua nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc. Trường từng là trụ sở của Đoàn phụ nữ cứu quốc thành và trung đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Minh Khai, vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm vào giữa tháng Mười năm 1945. Nơi đây cũng từng lưu dấu những trận chiến kiên cường của các chiến sỹ Thủ đô chống lại nhiều cuộc tiến công ác liệt của quân đội Pháp trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

Đi trọn một thế kỷ phát triển không ngừng, Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên  đã ghi dấu ấn qua nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc.

Hòa bình lập lại, cùng với không khí sôi động của công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước sau chiến tranh, thầy và trò Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu, thi đua dạy tốt, học tốt. Trên chính mảnh đất xưa, trường được xây dựng ngày một khang trang với 55 phòng học, hệ thống phòng chức năng hiện đại, đáp ứng nhu cầu giáo dục phổ cập trung học cơ sở cho học sinh trên địa bàn hai phường Phan Chu Trinh và Hàng Bài của quận Hoàn Kiếm.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường với sự tâm huyết, tận tụy với nghề đã không ngừng học hỏi, đổi mới. Các tổ chuyên môn tích cực đăng ký tham gia các tiết dạy hưởng ứng hội thi giáo viên giỏi các cấp. Nhiều tiết học được giáo viên đầu tư, chuẩn bị công phu, áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực. Các vấn đề chuyên môn khó được trao đổi tích cực, thẳng thắn, ghi nhận những ý kiến trái chiều để tiến tới thống nhất.

Học sinh Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên đạt giai Kỳ thi Olympic Toán Tiếng Anh quốc tế SEAMO 2020 tại Australia. (Ảnh: PV)
Học sinh Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên đạt giai Kỳ thi Olympic Toán Tiếng Anh quốc tế SEAMO 2020 tại Australia. (Ảnh: PV)

Trường cũng chú trọng việc nghiên cứu các phương pháp dạy học, các chuyên đề liên quan tới những nội dung kiến thức chuyên sâu để từ đó hình thành các sáng kiến kinh nghiệm có tính thực tiễn và khả thi cao.

Số sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên nhà trường qua các năm.
Số sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên nhà trường qua các năm.

Với những nỗ lực đó, hàng năm, nhà trường luôn có từ 4 đến 9 giáo viên đạt giải cao trong hội thi giáo viên dạy giỏi cấp quận và có từ hai đến ba giáo viên đạt giải cao trong hội thi giáo viên dạy giỏi cấp thành phố. Trong 5 năm, từ 2015 đến nay, các giáo viên của trường đã có 85 sáng kiến trong dạy học, trong đó có 48 sáng kiến xếp loại A, 28 sáng kiếp xếp loại B và hai sáng kiến xếp loại C cấp quận. 100% giáo viên nhà trường có ứng dụng công nghệ hiện đại vào giảng dạy và đã đạt 8 giải thưởng về bài giảng điện tử, trong đó có giáo viên đạt giải xuất sắc cấp quận, giải nhất cấp thành phố.

Đặc biệt, trong năm học 2019-2020, dù bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, số sáng kiến kinh nghiệm của Trường vẫn tăng mạnh với 23 sáng kiến, tăng 150% so với năm học trước đó. Khi học sinh phải nghỉ học ba tháng vì dịch bệnh, trường đã có 6 giáo viên được lựa Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội chọn tham gia giảng dạy trên truyền hình ở các môn Toán học, Ngữ văn và Tiếng Anh.

Những bài giảng đầy tâm huyết, sáng tạo của thầy cô đã mang đến cho học sinh những bài học sinh động, dễ hiểu, giúp các em hào hứng trong học tập và đạt nhiều thành tích cao. Điểm thi vào lớp 10 của học sinh Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên đứng đầu khu vực quận Hoàn Kiếm. Số học sinh đạt giải trong các kỳ thi trong nước và quốc tế ở các môn văn hóa, khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao… luôn đứng trong tốp đầu của thành phố.

Số học sinh đoạt giải cấp quốc gia, quốc tế của trường qua các năm.
Số học sinh đoạt giải cấp quốc gia, quốc tế của trường qua các năm.

Ở cấp quốc gia và khu vực, học sinh nhà trường cũng tham gia nhiều cuộc thi và đạt thành tích cao như giải khoa học tại Singapore, Indonexia, giải Toán Quốc tế tại các nước Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Hong Kong (Trung Quốc), thi Thử thách các nhà Toán học tương lai CFM, Olympic Toán học trẻ quốc tế ITMO, cuộc thi Toán Quốc tế Po Leung Kuk… Những năm đầu tiên tham gia các cuộc thi quốc tế, số học sinh đạt giải dưới 8 học sinh nhưng sau 7 năm, số lượng giải tăng lên nhiều lần. Nếu năm năm học 2016-2017 có 48 giải thì năm học 2019-2020, các học sinh đã đạt được kết quả đáng tự hào với 64 giải, trong đó có nhiều huy chương vàng đồng đội.

Với những thành tích đó, trường đã trở thành lá cờ đầu của ngành giáo dục Thủ đô, nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, địa chỉ tin yêu để gửi gắm con của các bậc phụ huynh.

Viết tiếp trang sử vẻ vang

Trong không khí phấn khởi và tự hào chào mừng kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, chào mừng 100 năm thành lập, thầy và trò Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên đang náo nức chờ buổi lễ kỷ niệm trang trọng sẽ diễn ra vào ngày mai, 18/11. Đặc biệt, trong buổi lễ này, trường sẽ vinh dự đón nhận nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì do Đảng và Nhà nước trao tặng.

Giờ học gắn với trải nghiệm thực tế đã mang lại cho học sinh sự hứng thú. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
Giờ học gắn với trải nghiệm thực tế đã mang lại cho học sinh sự hứng thú. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

“Đây thực sự là niềm tự hào phúc vô cùng to lớn cho ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể gần 130 cán bộ, giáo viên, nhân viên và hơn 2.500 học sinh. Đó là thành quả không chỉ của các cán bộ, giáo viên, học sinh nhà trường hôm nay mà còn là sự nỗ lực của lớp lớp biết bao thế hệ cán bộ, giáo viên, học sinh trong suốt hành trình lịch sử 100 năm của Trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên,” thạc sỹ Phạm Thu Hà, Hiệu trưởng nhà trường xúc động chia sẻ.

Cũng theo cô Hà, niềm vui hôm nay cũng mở ra tương lai phát triển đầy hứa hẹn của trường Ngô Sĩ Liên. Mái trường Ngô Sĩ Liên bước sang tuổi 101, vươn lên một tầm cao mới, phát triển theo xu thế mới của xã hội hiện đại. Đó sẽ phải là nơi học tập và làm việc truyền cảm hứng; là nơi mỗi giáo viên, nhân viên, học sinh gắn bó, tự hào cùng khát vọng vươn cao; là trường học hạnh phúc của cả thầy và trò…

Mái trường Ngô Sĩ Liên bước sang tuổi 101, vươn lên một tầm cao mới, phát triển theo xu thế mới của xã hội hiện đại.

“Điều đó khiến chúng tôi thấy thật vinh dự, tự hào song cũng ý thức được trách nhiệm của mình. Đó là trách nhiệm với lịch sử vẻ vang, với hiện tại tốt đẹp và với tương lai tươi sáng, bền vững của nhà trường. Chúng tôi sẽ không chỉ trung thành, giữ gìn và kế thừa những giá trị đã định hình trong lịch sử, mà còn phải xây dựng Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên thành mô hình sống động của một nhà trường đổi mới căn bản và toàn diện theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng. Đây thực sự là một thử thách không nhỏ. Song, với tình yêu sâu nặng mà các thế hệ giáo viên, học sinh trường Trung học cơ sở Ngô Sĩ Liên dành cho nhau và dành cho mái trường thân thương này, thầy và trò chúng tôi xin hứa sẽ tiếp tục đoàn kết, gắn bó và chung tay xây dựng, phát triển nhà trường, để tên tuổi mái trường mang tên nhà sử học lỗi lạc của dân tộc sẽ còn vang xa trong hành trình hội nhập,” thạc sỹ Phạm Thu Hà nói./.