Đại hội Thi đua yêu nước

Thấm nhuần tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện lời dạy của Người “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất,” trong 5 năm qua, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương, các phong trào thi đua trên cả nước đã phát triển mạnh mẽ…

Với chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,” nội dung và hình thức thi đua ngày càng đổi mới, bám sát các nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần cổ vũ, động viên nhân dân cả nước hăng hái thi đua phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo công tác thi đua yêu nước. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo công tác thi đua yêu nước. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Đặc biệt, từ đầu năm 2020, dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 diễn ra phức tạp trên toàn cầu, thực hiện lời dạy của Bác “Càng khó khăn thì càng phải thi đua,” hưởng ứng Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các ngành, các cấp và nhân dân cả nước đã ra sức thi đua phấn đấu, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu kép mà Chính phủ đề ra là kiểm soát được đại dịch và phát triển kinh tế-xã hội.

Về đích trước hạn

Trong 5 năm qua, Thủ tướng Chính phủ đã phát động bốn phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020,” “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển,” “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau,” “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở.” Ngay sau phát động của Thủ tướng, các phong trào này đã được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, các cấp, các ngành triển khai tích cực, đồng bộ và hiệu quả, trở thành nòng cốt trong các phong trào thi đua của cả nước.

Các phong trào thi đua đã góp phần đưa về đích sớm gần hai năm các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020

Trong đó, phong trào có hiệu quả thiết thực nhất và để lại dấu ấn, làm thay đổi bộ mặt, diện mạo của nông thôn Việt Nam trong thời gian qua là phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới.” Hàng loạt mô hình mới, sáng tạo được thực hiện hiệu quả và nhanh chóng được nhân rộng ra cả nước như mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” xuất phát từ tỉnh Quảng Ninh được nhân rộng thành chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2018-2020; mô hình “Xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu” tại tỉnh Hà Tĩnh, Phong trào “Sáng, xanh, sạch đẹp” của các tỉnh Đồng bằng sông Hồng; phong trào “Cánh đồng mẫu lớn có sự liên kết 4 nhà” của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam bộ; phong trào “Điểm sáng biên giới” của các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc; phong trào “Làng quê không rác thải,” “Đường hoa thay cỏ dại” ở các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên…

Người dân xã Phú Nghiêm, dọn dẹp vệ sinh đường làng góp phần xây dựng nông thôn mới. (Ảnh: Nguyễn Nam-TTXVN)
Người dân xã Phú Nghiêm, dọn dẹp vệ sinh đường làng góp phần xây dựng nông thôn mới. (Ảnh: Nguyễn Nam-TTXVN)

Trong 10 năm, đã có hàng vạn hộ gia đình tự nguyện hiến gần 45 triệu m2 đất, đóng góp hàng chục nghìn tỷ đồng và gần 60 triệu ngày công lao động để xây dựng các công trình công cộng, phúc lợi ở địa phương, góp phần về đích sớm gần hai năm các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Có 61% xã, 26% đơn vị cấp huyện và 12 tỉnh, thành phố có 100% xã về đích nông thôn mới. Một số nơi đã xây dựng được mô hình nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu và đang nhân rộng để phấn đấu đến 2025 đạt 10% số xã nông thôn mới kiểu mẫu.

Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước xuống dưới 3%; so với đầu nhiệm kỳ có 32,5% xã vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, 50% huyện thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Mô hình du lịch vườn của nông dân Lục Ngạn, Bắc Giang. (Ảnh: TTXVN)
Mô hình du lịch vườn của nông dân Lục Ngạn, Bắc Giang. (Ảnh: TTXVN)

Phong trào “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” được triển khai hiệu quả, khuyến khích khởi nghiệp, tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Trong 5 năm qua, có hơn 630.000 doanh nghiệp thành lập mới và ngày càng nhiều các doanh nghiệp đạt các danh hiệu “Doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ công nhận Thương hiệu quốc gia,” “Doanh nghiệp vì người lao động”…

Phong trào “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” góp phần xây dựng hình ảnh người cán bộ, công chức, viên chức tận tụy, trách nhiệm, chuyên nghiệp, phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Thi đua sâu rộng trên mọi lĩnh vực

Bên cạnh các phong trào do Thủ tướng phát động, phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực cũng được triển khai sâu rộng ở các ngành, các cấp, khắp các vùng miền trên cả nước, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.

Phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực cũng được triển khai sâu rộng ở các ngành, các cấp, khắp các vùng miền trên cả nước.

Trong lĩnh vực kinh tế, tiêu biểu có thể kể đến phong trào “Phòng giao dịch khách hàng kiểu mẫu,” “Trạm biến áp kiểu mẫu,” “Đường dây kiểu mẫu” của mảng công thương, giao thông. Phong trào “Cùng nông dân bảo vệ môi trường,” “Áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGap), “Quản lý bảo vệ rừng tận gốc” của khối ngành nông nghiệp. Phong trào “Thi đua thực hiện thành công tái cơ cấu ngân hàng,” “Lao động giỏi, sáng tạo, quản lý tốt”… của khối tài chính, ngân hàng. Các phong trào thi đua đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, các phong trào thi đua rất phong phú, đa dạng và lan tỏa mạnh mẽ. Việt Nam đã đạt nhiều thành tích cao ở các đấu trường quốc tế về khoa học, giáo dục, đào tạo nghề, thể thao đạt. Lần đầu tiên cả hai đội bóng đá nam và nữ đều giành vô địch tại SeaGames 30.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cùng các đại biểu dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. (Ảnh: TTXVN)
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cùng các đại biểu dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. (Ảnh: TTXVN)

Đặc biệt, trong thời gian qua, khi các tỉnh miền Trung chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, phong trào ủng hộ đồng bào miền Trung đã phát triển mạnh trên toàn quốc, ở mọi phương diện, tương trợ nhân dân miền Trung từ cây bút viết đến xây dựng nhà chống lũ. Trong phòng, chống dịch COVID-19, “mỗi người dân là một chiến sĩ,” từ cụ già đến em nhỏ đều ý thức tham gia. Những chiến sỹ áo trắng hết lòng với những ca bệnh; các cán bộ, chiến sĩ công an, bộ đội, dân phòng, tình nguyện viên tham gia việc cách ly đã tạo nên những lá chắn thép không để bệnh dịch lan ra cộng đồng.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nội chính và đối ngoại, phong trào Thi đua quyết thắng trong quân đội nhân dân được đẩy mạnh. Phong trào “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ,” “Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” trong các lực lượng vũ trang. Phong trào “Nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ Quốc hội,” “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” trong các cơ quan của Quốc hội, khối tư pháp, nội chính. Phong trào “Giữ vững môi trường hòa bình, hội nhập quốc tế hiệu quả, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” trong công tác đối ngoại…

Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. (Ảnh: Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc)
Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. (Ảnh: Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc)

Các phong trào đã góp phần quan trọng giữ vững chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Lần đầu tiên Việt Nam cử sỹ quan quân đội tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Việt Nam đảm nhiệm thành công vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2…

Phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng Đảng, chính quyền đã góp phần củng cố hệ thống chính trị và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nổi bật là phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phong trào “Dân vận khéo,” “Sáng tạo, chủ động, tích cực, đoàn kết,” “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh,” “Ngày vì người nghèo”…

các phong trào đua trong giai đoạn 2016-2020 đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước

Có thể nói, các phong trào đua trong giai đoạn 2016-2020, với tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật.

Từ các phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện ngày càng nhiều các tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc, điển hình tiến tiến. Việc kịp thời tuyên dương, khen thưởng các gương thi đua yêu nước tiêu biểu đã khích lệ, động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua, phấn đấu hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ, đưa phong trào thi đua tiếp tục phát triển.

Các điển hình tiêu biểu tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. (Ảnh: TTXVN)
Các điển hình tiêu biểu tham dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. (Ảnh: TTXVN)

Trong 5 năm qua, Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương đã khen tặng 343.727 huân, huy chương; 25.920 danh hiệu vinh dự Nhà nước (trong đó bao gồm cả nhà giáo, thầy thuốc, nghệ sỹ, nghệ nhân ưu tú và nhân dân); 28 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 73 Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới; 308 Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh và 380 Chiến sỹ thi đua toàn quốc.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân

Tiếp tục phát huy những kết quả nổi bật đã đạt được trong các hoạt động, phong trào thi đua yêu nước 5 năm qua, giai đoạn 5 năm tới (2021-2025), tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương đặt mục tiêu phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trở thành động lực to lớn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.

Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh chụp ảnh cùng đoàn đại biểu dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc của Thông tấn xã Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)
Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh chụp ảnh cùng đoàn đại biểu dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc của Thông tấn xã Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

Giai đoạn mới, cả nước tiếp tục thực hiện các phong trào thi đua do Thủ tướng phát động với các chỉ tiêu cụ thể. Phong trào “cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức, viên chức tham gia có hiệu quả; 100% bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát động phong trào thi đua. Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đặt mục tiêu đến năm 2025 có trên 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có ít nhất 40% số xã nông thôn mới nâng cao, 10% số xã nông thôn mới kiểu mẫu, đến năm 2025 không còn xã đạt dưới 15 tiêu chí. Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” đưa tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì giảm từ 1 đến 1,5% hàng năm.

Đại hội xác định các nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về thi đua, khen thưởng; tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là các phong trào do Thủ tướng phát động; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phát hiện, nhân điển hình tiên tiến; nâng cao chất lượng công tác khen thưởng và chất lượng hoạt động của Hội đồng Thi đua-Khen thưởng các cấp.

Trước tình hình thế giới và trong nước có cả khó khăn và thuận lợi đan xen trong giai đoạn tới, đặc biệt là tình hình thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch COVID-19 có thể còn kéo dài, để đạt được các mục tiêu trên và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII sắp tới, phát huy truyền thống thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thành quả 5 năm qua, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X xác định sẽ tiếp tục thực hiện chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Đại hội xác định mục tiêu phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục thực hiện chủ đề “đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Ảnh: TTXVN)
Đại hội xác định mục tiêu phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục thực hiện chủ đề “đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” (Ảnh: TTXVN)

Hiệp định RCEP: Sức bật mới để tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Năm 2020 ghi dấu ấn quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Chỉ chưa đầy 4 tháng, sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (gọi tắt là EVFTA) có hiệu lực (ngày 1/8/2020), Việt Nam và các đối tác thành viên trong ASEAN đã chính thức ký kết Hiệp định RCEP với 5 đối tác lớn.

Theo các chuyên gia, việc ký kết Hiệp định RCEP đã ghi thêm một bước tiến mới trong tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, góp phần nâng cao vai trò và vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

Đánh giá của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng cũng nhấn mạnh các nước liên quan đã mất tới 8 năm để đàm phán, thương lượng về RCEP. Vì vậy, việc ký kết được Hiệp định này sẽ tạo nên một sức bật mới, một cú hích mới cho sự phát triển thương mại trong khu vực, đặc biệt là các nước tham gia ký kết.

Điều này có ý nghĩa rất lớn với Việt Nam nói riêng, với vai trò là Chủ tịch ASEAN năm 2020, trong quá trình thúc đẩy để đạt được thỏa thuận đi đến ký kết RCEP.

‘Không gian mới’ cho phục hồi kinh tế hậu COVID

Ngày 15/11/2020, 10 nước thành viên ASEAN và 5 nước đối tác là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand đã chính thức ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) tại Hà Nội.

RCEP khi đi vào thực thi sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang 14 thị trường trong khối.

Đây là một Hiệp định có tầm quan trọng rất lớn, bởi khi được ký kết và đi vào thực thi, RCEP sẽ hình thành khu vực kinh tế lớn nhất từ trước đến nay, với GDP chiếm tới 30% tổng GDP toàn cầu, khoảng 26,2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% dân số thế giới.

Quan trọng hơn, RCEP sẽ tạo ra một không gian phát triển mới cho các nước thành viên ASEAN để có thể phục hồi kinh tế sau hậu COVID-19.

“Cửa lớn” cho doanh nghiệp

Theo cam kết, Việt Nam và các nước đối tác sẽ xóa bỏ thuế quan đối với ít nhất 64% số dòng thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực. Đến cuối lộ trình sau 15-20 năm, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 85,6% đến gần 90% số dòng thuế với các nước đối tác.

Ở chiều ngược lại, các nước đối tác sẽ xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam từ 90%-92% số dòng thuế. Riêng các nước ASEAN sẽ xóa bỏ từ 85-100% số dòng thuế cho Việt Nam.

Bên cạnh đó, một số mặt hàng được các nước xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định có hiệu lực như viễn thông, công nghệ thông tin, máy móc, phụ tùng, hóa chất…

Chính những lợi thế này sẽ giúp Việt Nam có cơ hội mở thêm nhiều thị trường cho doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào Hiệp định RCEP.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 và Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh tại lễ ký kết Hiệp định RCEP. (Ảnh Thống Nhất/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch ASEAN 2020 và Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh tại lễ ký kết Hiệp định RCEP. (Ảnh Thống Nhất/TTXVN)

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết RCEP khi đi vào thực thi sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang 14 thị trường trong khối.

Cụ thể, RCEP sẽ giúp mở cửa để nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn, đặc biệt là các nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất. Bởi chỉ tính riêng ASEAN, nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị sản xuất của nước ta hàng năm vượt 30 tỷ USD.

Bên cạnh đó, các quy trình về hải quan sẽ được thống nhất, tạo thuận lợi thương mại hay xây dựng các quy tắc chung để hạn chế, kiểm soát các hàng rào phi thuế quan cũng như giảm chi phí dưới tác động của mở cửa thị trường dịch vụ phục vụ sản xuất.

“Nếu như ở CPTPP, Việt Nam khó tận dụng ưu đãi thuế quan đối với sản phẩm dệt may bởi quy tắc xuất xứ nội khối, vì phần lớn nguồn cung nguyên liệu của Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc, thì khi tham gia RCEP sẽ giảm bớt gánh nặng chi phí nhập khẩu nguyên liệu đầu vào từ những ưu đãi thuế quan,” bà Nguyễn Thị Thu Trang cho biết thêm.

Nhờ vào việc hài hòa quy tắc xuất xứ trong Hiệp định RCEP, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng khả năng đáp ứng điều kiện để hưởng ưu đãi thuế quan do nguồn cung nguyên liệu đầu vào chủ yếu nằm trong RCEP nhằm gia tăng khả năng xuất khẩu trong khu vực này, đặc biệt ở các thị trường lớn như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc…

Ở một khía cạnh khác, bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), nhìn nhận: Với tất cả các nước ASEAN, mặc dù Hiệp định RCEP không hướng đến giá trị gia tăng mới về mở cửa thị trường do ASEAN đều đã có FTA với các đối tác, song Hiệp định này về cơ bản là thỏa thuận mang tính kết nối các cam kết đã có của ASEAN với 5 đối tác trong một Hiệp định FTA.

“Về cơ bản, RCEP sẽ không tạo ra cam kết mở cửa thị trường hay áp lực cạnh tranh mới mà chủ yếu hướng đến tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ,” bà Nga cho hay.

Thiết lập chuỗi cung ứng mới

Trên thực tế, Việt Nam đã tham gia với các nước ASEAN và 5 đối tác trong RCEP theo các hiệp định FTA giữa nội khối ASEAN. Cụ thể là hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các FTA giữa ASEAN với từng đối tác trong số 5 đối tác trên (gọi tắt là Hiệp định ASEAN+1).

Vì vậy, quá trình tự do hóa thuế quan với các nước ASEAN đã được thực hiện trong suốt 20 năm qua và với 5 đối tác trên trong vòng khoảng 15 năm.

Đại diện Bộ Công Thương nhận định việc thực hiện Hiệp định RCEP sẽ không tạo ra cú sốc về giảm thuế quan đối với Việt Nam. Ngoài ra, với quá trình thực thi RCEP, Việt Nam sẽ có thêm những đổi mới mạnh mẽ về thủ tục hành chính, tạo điều kiện hơn cho hoạt động sản xuất-kinh doanh trong nước và cải thiện môi trường đầu tư.

Hiệp định RCEP sẽ mở nhiều cơ hội về thị trường cho doanh nghiêp. (Nguồn: TTXVN)
Hiệp định RCEP sẽ mở nhiều cơ hội về thị trường cho doanh nghiêp. (Nguồn: TTXVN)

Điều này cũng sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, tạo đà để doanh nghiệp tham gia sâu hơn và ổn định hơn vào các chuỗi giá trị mới thiết lập trong khu vực.

Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), cho biết trước tình hình thế giới đầy biến động gây ra những xáo trộn về chuỗi cung ứng trong những năm gần đây, việc hình thành một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới theo Hiệp định RCEP sẽ tạo ra một thị trường xuất khẩu ổn định dài hạn cho Việt Nam, qua đó góp phần thực hiện chính sách xây dựng nền sản xuất định hướng xuất khẩu.

Bên cạnh đó, dù thâm hụt thương mại của Việt Nam với một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc hiện còn cao, song ông Lương Hoàng Thái khẳng định Hiệp định RCEP sẽ không làm trầm trọng vấn đề nhập siêu, thậm chí có khả năng cải thiện cho Việt Nam và các nước ASEAN trong dài hạn.

“Khi Việt Nam gia nhập WTO thì nhập siêu cũng rất lớn, nhưng từ việc chấp nhận hội nhập để tự vươn lên thì doanh nghiệp của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và doanh nghiệp không bị giảm đi mà còn tăng lên. Việt Nam đã hội nhập trong nhiều năm nên hy vọng sẽ rút ra được các kinh nghiệm cần thiết để hội nhập thành công khi tham gia RCEP,” Vụ trưởng Vụ chính sách Thương mại đa biên nhấn mạnh.

Hiệp định RCEP sẽ không làm trầm trọng vấn đề nhập siêu, thậm chí có khả năng cải thiện cho Việt Nam và các nước ASEAN trong dài hạn.(Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên – Bộ Công Thương)

Trước khi ký RCEP, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do với các đối tác; trong đó có những hiệp định thế hệ mới với mức độ cam kết rất cao.

Tuy vậy, theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, RCEP có tính chất khác xa so với các FTA đã ký. Nếu như CPTPP hay EVFTA hướng đến mở cửa thị trường, thì RCEP hướng đến vai trò trung tâm của ASEAN, cụ thể là tạo ra một khuôn khổ để thuận lợi hóa thương mại và tạo không gian kết nối chung sản xuất trong toàn ASEAN, vì thế lợi ích mang lại cũng khác biệt.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện năm 2018, việc thực thu RCEP có thể giúp tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của Việt Nam tăng thêm 0,4% đến năm 2030, nếu xét lợi ích trực tiếp và có thể lên đến 1%, nếu có tính đến lợi ích gián tiếp từ cải cách thể chế.

“Việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ mở ra cơ hội mới cho các sản phẩm từ các lĩnh vực nổi bật như viễn thông, công nghệ thông tin, dệt may, giày dép và nông nghiệp,” Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nói.

Tuy vậy, để khai thác triệt để lợi ích do Hiệp định RCEP cũng như các hiệp định FTA khác mang lại, các chuyên gia cũng lưu ý các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ cam kết của Hiệp định, nhất là các cam kết về lộ trình cắt giảm và xóa bỏ thuế quan đối với hàng hóa của Việt Nam cũng như của các nước tham gia Hiệp định; quy tắc xuất xứ của Hiệp định, cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, các quy định về thủ tục hải quan và thuận lợi hóa thương mại…

Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước cũng cần chủ động nắm bắt và chuẩn bị trước về các tác động bất lợi, nhất là việc gia tăng cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa.

Theo Luật sư Trần Xuân Tiền, Trưởng văn phòng Luật sư Đồng Đội, Hiệp định RCEP và các FTA sẽ mang lại cơ hội cho doanh nghiệp nào chủ động đáp ứng với những thay đổi về môi trường kinh doanh do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, thông qua việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho giai đoạn trung và dài hạn nhằm thúc đẩy dòng chảy của hàng hóa vào các thị trường đối tác tiềm năng nêu trên.

Song doanh nghiệp cần chủ động tìm hướng hợp tác với các thị trường đối tác của Hiệp định để thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn vốn và việc chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn lớn. Đây cũng chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu./.

Doanh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khi Hiệp định RCEP thực thi.(Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)
Doanh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khi Hiệp định RCEP thực thi.(Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Hiệp định RCEP: Bước đi mang tính chiến lược

Việc hình thành một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới theo Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sẽ tạo ra một thị trường xuất khẩu ổn định dài hạn cho Việt Nam, qua đó góp phần thực hiện chính sách xây dựng nền sản xuất định hướng xuất khẩu của Việt Nam.

Với các FTA đã ký kết, có thể xét dưới góc độ thương mại thuần túy thì nhiều hiệp định thương mại không đem lại quá nhiều lợi ích, thế nhưng chúng ta cần nhìn nó trong các chuỗi giá trị và mảng sản xuất, chuỗi cung ứng để nâng hiệu quả và gắn với đầu tư.

Theo chuyên gia kinh tế, tiến sỹ Võ Trí Thành, bên cạnh những ngành nghề Việt Nam có lợi thế đang tham gia vào các mảng sản xuất, chuỗi cung ứng, như: Dệt may, da giày, đồ gỗ được hưởng lợi trực tiếp thì Hiệp định RCEP cũng tạo hiệu ứng tích cực tới một số lĩnh vực phục vụ người tiêu dùng như: Du lịch, giáo dục, giải trí, y tế, bán lẻ…, đặc biệt là các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ công nghiệp hỗ trợ…

– Thưa ông, cùng với Hiệp định CPTPP và EVFTA đã ký kết trước đây, Hiệp định RCEP sẽ có những tác động cụ thể như thế nào đối với Việt Nam?

Tiến sỹ Võ Trí Thành: Nếu nhìn vào một hiệp định thương mại tự do thì lợi ích cụ thể đầu tiên là tiếp cận thị trường, do thuế quan giảm rất mạnh (thường về 0%). Trước đây chúng ta đã thực thi ASEAN+1, nhưng xét về tổng thể thì mức độ giảm thuế quan đặc biệt là về 0% của RCEP có tỷ lệ cao hơn, đây rõ ràng là lợi ích tốt hơn.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị cấp cao Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP. (Nguồn: TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị cấp cao Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP. (Nguồn: TTXVN)

Nhìn lại quá khứ, khi Việt Nam có hoạt động thương mại thì nguyên tắc xuất xứ thường là của ASEAN với 1 nước thành viên. Tuy nhiên, khi thành một Hiệp định ASEAN+ chung với các đối tác thì nguyên tắc xuất xứ này chung cho cả khối, như vậy vừa tạo thuận lợi vừa tạo điều kiện mới để tăng cường lợi ích từ thương mại và đầu tư.

Thực tế cho thấy khu vực Đông Á là khu vực mà mảng liên kết sản xuất-kinh doanh, các chuỗi cung ứng được coi là phát triển và năng động nhất toàn cầu. Do vậy, tổng thể này tạo ra một cơ hội mới cho đầu tư, sản xuất-kinh doanh và thúc đẩy tiếp các chuỗi sản xuất và cung ứng.

Cuối cùng phải thấy rằng mặc dù trình độ phát triển khác nhau, song sự hợp tác để nâng cao năng lực của các nước có trình độ yếu hơn là tác động rất tích cực.

– Ông có thể nói rõ hơn về những lợi ích cụ thể mà RCEP mang lại cho Việt Nam cũng như các thách thức mà chúng ta phải vượt qua để có thể tận dụng được các cơ hội của Hiệp định này?

Tiến sỹ Võ Trí Thành: Thực sự những lợi ích đem lại là rất to lớn về tiếp cận thị trường và trao đổi thương mại-đầu tư ở khu vực cũng như tạo ra chuỗi cung ứng hay thu hút đầu tư trên thế giới. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là mọi việc trôi chảy, không có thách thức gì.

Bên cạnh việc nâng cao năng lực về thể chế, năng lực của doanh nghiệp, thì cần thấy một điểm đó là trong khu vực này Việt Nam thâm hụt thương mại rất lớn với các đối tác (như Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN)…, nhưng Việt Nam lại có thặng dư thương mại với các nước khác như Hoa Kỳ, EU…

Tiến sỹ Võ Trí Thành. (Nguồn: Vietnam+)
Tiến sỹ Võ Trí Thành. (Nguồn: Vietnam+)

Điều đó nói lên một điều, bên cạnh việc hiểu và tận dụng RCEP để tạo thuận lợi và nâng cao hiệu quả của việc tham gia vào các chuỗi cung ứng thì Việt Nam cũng phải quan tâm tới các thị trường khác.

Trên thực tế, đây là một chiến lược của chúng ta, tức là bên cạnh các FTA với các nước trong khu vực rất năng động này thì Việt Nam cũng có FTA với các thị trường lớn như CPTPP hay EVFTA.

Như vậy, chúng ta phải biết nhìn nhận hoạt động sản xuất-kinh doanh trong tổng thể đó để vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa học hỏi nhưng đồng thời cũng nâng được hiệu quả, nhất là trong thương mại và đầu tư.

Với các FTA đã ký kết, có thể xét dưới góc độ thương mại thuần túy thì nhiều hiệp định thương mại không đem lại quá nhiều lợi ích, thế nhưng chúng ta cần nhìn nó trong các chuỗi giá trị và mảng sản xuất, chuỗi cung ứng để nâng hiệu quả và gắn với đầu tư.

– Điều quan tâm là không phải ký được nhiều hiệp định mà chính là sự đồng bộ, liên kết giữa các Hiệp định, vậy quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Tiến sỹ Võ Trí Thành: Trong suốt 20 năm qua, đã có các cuộc tranh luận rất lớn-đó là các FTA song phương và các FTA mà nhiều bên tham gia, bên cạnh ý nghĩa tác động tích cực thì nó có thể tạo ra những sự “méo mó” bởi vì chỉ có các nước trong “câu lạc bộ” FTA đó mới được hưởng những quyền lợi đó, tức là mang tính xây dựng hay ngăn cản.

Danh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khi RCEP thực thi. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Danh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khi RCEP thực thi. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Tinh thần các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương (như APEC) đều ủng hộ đa phương và ủng hộ WTO, vì nếu có một hiệp định chung nhất cho toàn cầu như kiểu WTO (dù mức độ chiều sâu về thương mại-đầu tư của hiệp định này còn hạn chế) thì rõ ràng lợi ích đem lại sẽ tốt cho các bên và ít méo mó trong phân bổ nguồn lực.

Tuy nhiên, rất khó đi tìm một điểm chung, cộng với trình độ phát triển… cũng như chiều hướng chủ nghĩa bảo hộ gia tăng nên không thể có một lựa chọn tốt nhất. Do vậy, Hiệp định này chính là đi vào từng bước để có lựa chọn phù hợp, như lựa chọn ít bên hơn, song tinh thần là ngày càng tiến tới một khu vực mở, rộng hơn.

– Xin cảm ơn ông./.

Các doanh nghiệp có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu khi RCEP được thực thi. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Các doanh nghiệp có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu khi RCEP được thực thi. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Doanh nghiệp Việt: Tấn công chớ quên phòng thủ

Những cam kết về mở cửa thị trường và ưu đãi về thuế quan tại Hiệp định RCEP là cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tăng thị phần trong thị trường 26.000 tỷ USD này.

Cùng với các cơ hội về thị trường và giảm thuế quan, Hiệp định RCEP cũng tháo những “nút thắt” về quy tắc xuất xứ, qua đó thúc đẩy nhiều hơn những cơ hội cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những yêu cầu khắt khe của thị trường.

Chủ động “đón sóng”

Chất lượng, giá cả phù hợp nhu cầu tiêu dùng của người dân bản địa, các sản phẩm của Santa từ nhiều năm qua đã tạo dựng tên tuổi tại các thị trường như Trung Quốc, Malaysia.

Không những vậy, khi Hiệp định RCEP thực thi sẽ tiếp tục mở cơ hội lớn để doanh nghiệp này có thể đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chia sẻ về những yếu tố tạo nên thành công cho doanh nghiệp, ông Cao Minh Sang, Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm Santa, nhìn nhận: Với một hiệp định có mức độ cam kết rất cao như RCEP, doanh nghiệp đã phải chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện, từ những quy định của thị trường, đến những tiêu chuẩn về hàng hóa để có thể đón cơ hội từ hiệp định này.

Doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới nâng cao năng lực cạnh tranh. (Ảnh Xuân Quảng/Vietnam+)
Doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới nâng cao năng lực cạnh tranh. (Ảnh Xuân Quảng/Vietnam+)

Thực tế, các sản phẩm của Công ty đều đạt các chứng nhận như: ISO, HACCP, USDA… Bên cạnh đó, doanh nghiệp đã xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu theo tiêu chuẩn hữu cơ tại khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Cao Minh Sang cho hay việc áp dụng dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại như dây chuyền chần trụng nguyên liệu ngay lập tức mà không cần qua chế biến của Mỹ, Nhật Bản đã giúp sản phẩm được làm chín phù hợp và giữ được hương vị, màu sắc và độ tươi. Hay công nghệ cấp đông IQF của Mỹ, công nghệ đóng chai HPP… tất cả đều đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA)…

“Chúng tôi kỳ vọng sau khi RCEP được thực thi,việc tiếp cận thị trường sẽ rộng mở hơn, từ đó giúp doanh nghiệp tăng kim ngạch xuất khẩu từ 15-20% so với trước đây,” ông Cao Minh Sang chia sẻ.

Thống kê của Bộ Công Thương cũng cho thấy bất chấp đại dịch COVID-19, xuất khẩu của Việt Nam vào một số thị trường vẫn đạt kết quả khả quan. Đơn cử, tại thị trường Australia, sau 11 tháng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này tăng 1,5% và Trung Quốc tăng tới 16%. Đây đều là những nước thành viên tham gia RCEP nên dự báo thời gian tới khi Hiệp định thực thi sẽ có những thay đổi tích cực, mạnh mẽ.

Ông Phạm Thiết Hòa, Tổng Giám đốc Tổng Công ty nông nghiệp Sài Gòn, đánh giá Hiệp định RCEP có sự tham gia của 15 nước đã chiếm 30% tổng GDP toàn cầu là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Hơn thế, các quốc gia thành viên RCEP là các quốc gia nằm gần nhau ở khu vực châu Á nên việc di chuyển, đường đi của hàng hóa xuất khẩu cũng thuận tiện.

Ngoài ra, lượng hàng hóa luân chuyển trong RCEP rất lớn sẽ tạo ra một thị trường “khổng lồ” cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.

“Ngoài việc cần đạt được các tiêu chuẩn xuất khẩu của các nước thành viên RCEP thì các doanh nghiệp trong nước cũng không nên chủ quan, bởi các doanh nghiệp trong khối cũng sẽ khai thác các lợi thế để “tấn công” thị trường nội địa. Vì thế, doanh nghiệp cũng phải củng cố vị thế ở thị trường nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh về giá, chất lượng cho hàng xuất khẩu, đặc biệt ở sân chơi lớn như RCEP,” ông Phạm Thiết Hòa chia sẻ.

Cùng với các cơ hội về thị trường và giảm thuế quan, Hiệp định RCEP cũng tháo những “nút thắt” về quy tắc xuất xứ, qua đó thúc đẩy nhiều hơn những cơ hội cho doanh nghiệp.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), nhận định hiệp định RCEP tích hợp một số FTA mà ASEAN đã ký trước đó, do đó khi RCEP có hiệu lực, doanh nghiệp xuất khẩu có thể dùng chung một mẫu giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)thay vì từng mẫu C/O cho từng thị trường như hiện nay, giúp đơn giản thủ tục.

“Theo các cam kết, RCEP còn giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường nhờ hưởng ưu đãi về thuế quan,” đại diện VASEP nói thêm.

Sẵn sàng tạo lập cuộc chơi mới

Có thể nói, “sân chơi” của doanh nghiệp Việt Nam chưa bao giờ lớn như hiện nay. Tuy nhiên, để hiện thực hóa các cơ hội từ hiệp định mang lại, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cũng khuyến nghị các doanh nghiệp cần xem xét các chuỗi cung ứng hiện tại trong khu vực hoặc toàn cầu để đánh giá tác động của Hiệp định RCEP lên mô hình kinh doanh trong tương lai.

Điều này không chỉ quan trọng đối với doanh nghiệp có trụ sở tại các thị trường thành viên mà còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào kinh doanh trong khu vực, kể cả thị trường nội địa.

RCEP sẽ mở nhiều cơ hội về thị trường. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
RCEP sẽ mở nhiều cơ hội về thị trường. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

“Chúng ta cũng cần phải hiểu là mặc dù Hiệp định RCEP về nguyên tắc luật chơi sẽ diễn ra bình đẳng trên cùng một sân chơi, tất cả các bên tham gia đều có mong muốn cùng thắng theo triết lý kinh doanh “win-win”. Nhưng quy luật “mạnh được, yếu thua” trong cạnh tranh là không thể tránh khỏi và phần thắng luôn thuộc về sản phẩm, dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao hơn,” đại diện Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho hay.

Bên cạnh đó, để tránh tạo ra những “cú sốc” về thị trường, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp cần nghiên cứu, tìm hiểu kỹ và rõ tác động về thuế quan đến từng nhóm hàng hóa, dịch vụ của mình để đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp và khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh.

Đặc biệt, doanh nghiệp phải chủ động đầu tư cho con người, máy móc và công nghệ; hướng tới hoạt động nghiên cứu phát triển, thiết kế sản phẩm và nâng cao năng suất, cắt giảm chi phí đến mức tối đa. Chỉ khi chủ động tham gia vào các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao thì doanh nghiệp Việt Nam mới được hưởng lợi thực sự từ các FTA nói chung và RCEP nói riêng.

Ông Frederick R.Burke, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Baker& Mckenzine Việt Nam, cho rằng RCEP là thị trường lớn, bao trùm phần lớn chuỗi sản xuất (từ nguồn cung nguyên liệu đến thị trường tiêu thụ) của nhiều sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như: dệt may, nông sản, thiết bị điện tử.

Với quy tắc xuất xứ nội khối, đây sẽ là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia vào chuỗi cung ứng vùng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

“Tuy nhiên, để các doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội này, Nhà nước cần có sự hướng dẫn doanh nghiệp một cách cụ thể về các mức thuế quan theo từng ngành và theo lộ trình trong các hiệp định đã cam kết để doanh nghiệp nắm vững, vận dụng thực thi sao cho hiệu quả cao nhất,” ông Frederick R.Burke khuyến nghị thêm./.

Doanh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khi RCEP được thực thi. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)
Doanh nghiệp sẽ có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khi RCEP được thực thi. (Ảnh: Xuân Quảng/Vietnam+)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn, nhà cách mạng thiên tài, nhà tuyên truyền kiệt xuất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Người không chỉ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Marx-Lenin, đề ra đường lối chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam, mà còn tuyên truyền phổ biến và tổ chức thực hiện nhiều phong trào thi đua yêu nước để biến những quan điểm, tư tưởng đó thành hành động cách mạng thực tiễn của nhân dân.

Thi đua để mọi người đều làm việc tốt hơn, nhiều hơn. Bởi vậy, “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và, những người thi đua là những người yêu nước nhất.” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Chính những quan điểm, tư tưởng ấy đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”

Vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin về thi đua vào phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên một tầm tư tưởng, coi thi đua là một phẩm chất đạo đức, thể hiện lòng yêu nước của người Việt Nam.

Chiếc máy cày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng cho Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), nơi khởi nguồn phong trào thi đua ‘Gió Đại Phong’ trong nông nghiệp, thực hiện luống cày đầu tiên (tháng 6/1961). (Ảnh: Văn Thượng/TTXVN)
Chiếc máy cày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng cho Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), nơi khởi nguồn phong trào thi đua ‘Gió Đại Phong’ trong nông nghiệp, thực hiện luống cày đầu tiên (tháng 6/1961). (Ảnh: Văn Thượng/TTXVN)

Ngày 11/6/1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra gay go, ác liệt, Người đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Từ nội dung của Lời kêu gọi thi đua ái quốc và những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra một số nội dung chính trong tư tưởng thi đua yêu nước của Người.

Về quan điểm về thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Theo Người thi đua là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung.

Thi đua để mọi người đều làm việc tốt hơn, nhiều hơn. Bởi vậy, “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và, những người thi đua là những người yêu nước nhất.”

Trong những năm đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra sức vận động các tầng lớp Nhân dân thi đua yêu nước, tham gia khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thực sự là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ảnh: Gia đình một nông dân ở xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định ủng hộ lúa gạo cho cách mạng, góp phần nuôi quân chiến đấu. (Ảnh: Thành Vinh/TTXVN)
Trong những năm đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra sức vận động các tầng lớp Nhân dân thi đua yêu nước, tham gia khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thực sự là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ảnh: Gia đình một nông dân ở xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định ủng hộ lúa gạo cho cách mạng, góp phần nuôi quân chiến đấu. (Ảnh: Thành Vinh/TTXVN)

Mục đích thi đua yêu nước, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là để thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu của mỗi thời kỳ cách mạng trong tình hình và điều kiện lịch sử cụ thể. Như trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ mục đích thi đua yêu nước là “Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm,” để đem lại kết quả đầu tiên là: “Toàn dân đủ ăn, đủ mặc/ Toàn dân biết đọc, biết viết/ Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để diệt ngoại xâm/ Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.”

Về nội dung thi đua yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phải toàn diện, phải xuất phát và phục vụ nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng; phải thiết thực, ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của đất nước, gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, từng cấp, hướng vào cải tạo và xây dựng con người mới, hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản thiết thực của nhân dân; thi đua phải gắn với công việc hằng ngày của mỗi người.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: “Toàn dân kháng chiến, Toàn diện kháng chiến.”

Trong những năm đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra sức vận động các tầng lớp Nhân dân thi đua yêu nước, tham gia khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thực sự là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ảnh: Chị em phụ nữ xã Thanh An (Bến Cát, Thủ Dầu Một) đóng góp lương thực, tiền bạc cho quỹ kháng chiến chống Mỹ (1968). (Ảnh: Hoàng Vinh/TTXVN)
Trong những năm đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra sức vận động các tầng lớp Nhân dân thi đua yêu nước, tham gia khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa thực sự là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong ảnh: Chị em phụ nữ xã Thanh An (Bến Cát, Thủ Dầu Một) đóng góp lương thực, tiền bạc cho quỹ kháng chiến chống Mỹ (1968). (Ảnh: Hoàng Vinh/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ cách tổ chức phong trào thi đua yêu nước. Đó là “phải dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây: hạnh phúc cho dân;” các phong trào thi đua yêu nước cần phải đa dạng, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự giác, sáng tạo và sức lực của các tầng lớp nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng.

Người chỉ rõ: “thi đua chứ không phải ganh đua” nên phương châm thi đua yêu nước là phải đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau để đạt thành tích cao. Thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng; khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua; khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục.

Không chỉ để lại tư tưởng về thi đua yêu nước, mà Người còn để lại những kinh nghiệm phong phú về công tác lãnh đạo tổ chức vận động phong trào thi và bản thân Người đã nêu một tấm gương mẫu mực.

Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, hàng loạt phong trào thi đua đã được tổ chức; toàn thể nhân sĩ, trí thức, công nông binh và cả dân tộc hăng hái tham gia, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, lập nên những chiến công hiển hách và những thành tích to lớn.

Phát huy truyền thống thi đua yêu nước trong thời kỳ mới

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các phong trào thi đua hướng vào việc giải quyết những nhiệm vụ khó khăn nhất của cả nước và của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Đó là, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.

Nhà cửa khang trang, đường làng được bêtông hóa là diện mạo mới tại xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên (Bắc Giang) sau khi triển khai phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Nhà cửa khang trang, đường làng được bêtông hóa là diện mạo mới tại xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên (Bắc Giang) sau khi triển khai phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Trong những năm gần đây, chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đã được các ngành, các cấp hưởng ứng tích cực, bằng nhiều phong trào thi đua cụ thể, liên tục, thiết thực, có tác động lan toả rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực, góp phần huy động được nhiều nguồn lực xã hội cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong 70 năm (1948-2018), Đảng, Nhà nước đã truy tặng, phong tặng 7.814 tập thể và trên 9.300 cá nhân nhận Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, 1.332 tập thể và cá nhân Anh hùng Lao động, vinh danh gần 140.000 Mẹ Việt Nam Anh hùng.

Tiêu biểu là các phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo;” “Thi đua quyết thắng,” “Vì an ninh Tổ quốc;” “Dạy tốt, học tốt;” “Dân vận khéo;” đặc biệt là 3 phong trào thi đua trọng tâm: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới,” “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển,” “Cả nước chung tay vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau.”

Từ trong phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến, tiêu biểu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều đề tài, sáng kiến, giải pháp hữu ích, làm lợi cho Nhà nước và xã hội hàng nghìn tỉ đồng; nhiều mô hình, giải pháp được nhân rộng, tác động lan toả trong cả nước, đến mọi tầng lớp nhân dân, góp phần phát huy mọi tiềm lực trong xã hội để xây dựng đất nước.

Nhiều tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu được tôn vinh, khen thưởng kịp thời, trở thành những tấm gương điển hình trong các phong trào thi đua các cấp, mang lại hiệu quả xã hội to lớn.

Trong 70 năm (1948-2018), Đảng, Nhà nước đã truy tặng, phong tặng 7.814 tập thể và trên 9.300 cá nhân nhận Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, 1.332 tập thể và cá nhân Anh hùng Lao động, vinh danh gần 140.000 Mẹ Việt Nam Anh hùng…

Nhìn lại chặng đường hơn 70 năm qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, của dân tộc đều gắn liền với tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước./.

Dây chuyền may xuất khẩu tại Công ty TNHH BT Fashion, tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Dây chuyền may xuất khẩu tại Công ty TNHH BT Fashion, tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Cultural preservation and tourism development of Cai Rang floating market

Cai Rang floating market has long been an enticing tourism feature of the Mekong Delta city of Can Tho. UK tourism magazine Rough Guide has ranked it among the top ten most impressive markets worldwide and the top five most interesting markets in Asia.

A unique type of market in river basin

Cai Rang floating market is located on Cai Rang River, about 6km away from the heart of Can Tho city. To reach the market by waterway, it takes about 30 minutes from Ninh Kieu wharf in the district of the same name.

UK tourism magazine Rough Guide has ranked it among the top ten most impressive markets worldwide and the top five most interesting markets in Asia.

According to the Can Tho institute of social and economic development, the market was originally located at the intersection of four rivers – Can Tho, Dau Sau, Cai Son, and Cai Rang Be, and was adjacent to Cai Rang market on the shore. In the 1990s, due to waterway traffic obstacles, it was moved over 1km away from the location.

Fruits are the most popular goods traded at Cai Rang floating market (Photo: VNA)
Fruits are the most popular goods traded at Cai Rang floating market (Photo: VNA)

Nowadays, the floating market lies on a large water surface downstream of the Can Tho River, about 600m from Cai Rang Bridge. As part of the Hau river – Xa No canal waterway, it enjoys favourable conditions for trade with neighbouring localities and with the entire Mekong Delta area, thus becoming the biggest of its kind in the area.

The market opens every day from dawn to about 8 to 9 am, with wholesale transactions only.

Cai Rang Floating Market is located on Cai Rang River, about 6km from the heart of Can Tho city. To reach the market by waterway, it takes about 30 minutes from Ninh Kieu wharf in the district of the same name. (Photo: VNA)
Cai Rang Floating Market is located on Cai Rang River, about 6km from the heart of Can Tho city. To reach the market by waterway, it takes about 30 minutes from Ninh Kieu wharf in the district of the same name. (Photo: VNA)

It offers diverse and plentiful goods, with the most abundant being farm produce such as fruits, vegetables, and ornamental trees, followed by handicrafts-household appliances, and food. Small boats serving as floating convenient stores and restaurants for locals and visitors create a lovely feature of the market. Each seller erects a long stick on his boats to hang representatives of the products he offers so that buyers can see from distance, facilitating trade.

Foreign tourists tour floating stalls at the market (Photo: VNA)
Foreign tourists tour floating stalls at the market (Photo: VNA)

At the market, there are no sales on credit or bargains. Quick transactions, mostly based on trust and done orally, are preferred as the market opens for a very short time per day. These have constituted a “floating market culture”.

Currently, on a daily basis, the market sees between 300 and 350 boats trading, with additional services offered for merchants such as petrol, motor maintenance, and tailoring.

Preserving and promoting tourism at Cai Rang floating market

The market, a tourist magnet of the city, was recognised as a national intangible cultural heritage in 2016. However, it is yet to be developed on par with its tourism potential and is facing the risk of deterioration.

Foreign tourists tour the floating market (Photo: VNA).
Foreign tourists tour the floating market (Photo: VNA).

At an October workshop on preserving the special market held by the Ministry of Culture, Sports and Tourism in Can Tho, most of the participants agreed on a need to harmonise the benefits of merchants, farmers, tourists and state management agencies involved.

Nguyen Khanh Tung, Director of the Can Tho Department of Culture, Sports and Tourism, said since 2016, the city has implemented a series of concerted measures, like loan support, price subsidisation, and clean water supply, along with garbage collection to help the merchants improve their livelihoods and boost incomes.

According to him, priorities have been given to the promotion of indigenous cultural activities at the market, particularly the practice of southern folk music “Don ca tai tu”. The pilot of a Can Tho tourism route in association with Cai Rang floating market at night has also been considered.

As for farmers, specifically those supplying farm produce for merchants at the market, the city has directed the building of related wholesale markets and cooperatives offering clean products.

Foreign tourists taste pineapple, a signature fruit of the market (Photo: VNA)
Foreign tourists taste pineapple, a signature fruit of the market (Photo: VNA)

Ngo Anh Tin, Director of the Can Tho Department of Science and Technology, stressed the need to help farmers apply advanced technologies in their production, especially in after-harvest process, to cut losses and offer products of better quality.

Duong Tan Hien, Vice Chairman of the municipal People’s Committee, said a project on preserving and developing the Cai Rang floating market has been carried out.

Consisting of two phases, 2016-2018 and 2019-2020, the project was set to build key facilities like a float system to facilitate traffic, stopovers, and riverside floating restaurants.

The Can Tho river embankment project is moving quickly toward its completion. Its part passing through Cai Rang floating market will be specially designed to suit the operation of the floating market, facilitate the handling of goods, and allow tourists to stand on the shore to enjoy the view./.

Foreign tourists enjoy their breakfast of hu tieu (noodle soup), a famous dish at the Cai Rang floating market. (Photo: VNA)
Foreign tourists enjoy their breakfast of hu tieu (noodle soup), a famous dish at the Cai Rang floating market. (Photo: VNA)

Cổ tích giữa đời thường

Ngồi trên xe khách suốt 18 tiếng đồng hồ từ Quy Nhơn (Bình Định) ra Hà Nội nhưng Trương Xuân Lâm và Nguyễn Thị Hoa không hề tỏ ra mệt mỏi. Ra Thủ đô Hà Nội lần này, họ sẽ được Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (CWD) tổ chức đám cưới trong mơ – điều mà họ chưa làm được dù đã “về một nhà” cách đây bốn tháng vì nghèo khó…

Đôi vợ chồng khuyết tật sinh năm 1989 nhẹ nhàng dìu nhau tới sảnh lớn của hội trường. Cô gái chỉ nặng 35kg lúc nào cũng bám chặt vào tay chồng, bé nhỏ trong chiếc váy cưới lộng lẫy, thì thào: “Em cứ nghĩ mình đang mơ.” Anh Lâm thì tự tin hơn, và luôn miệng khẳng định rằng: “Hôm nay là ngày vợ xinh nhất!”

Từ chuyện tình cổ tích…

Trương Xuân Lâm sinh ra trong một gia đình nghèo ở Quy Nhơn. Mẹ mất sớm, bố lại đau yếu luôn nên chàng trai đã phải bươn chải mưu sinh từ rất sớm.

Học hết phổ thông, Lâm ra thành phố tìm việc làm. Anh không còn nhớ mình đã trải qua bao nhiêu công việc nữa. Đến năm 22 tuổi, anh tới thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân tại một nhà máy. Những tưởng từ đây, anh có một công việc ổn định để tự lo cho bản thân và đỡ đần cho bố, rồi còn thành gia lập thất như những người đàn ông khác vậy mà số mệnh đã đưa cuộc đời anh rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

Trương Xuân Lâm và Nguyễn Thị Hoa đều xuất phát điểm không được như mọi người nhưng họ đều đến với nhau bằng tình yêu thương thực sự. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Trương Xuân Lâm và Nguyễn Thị Hoa đều xuất phát điểm không được như mọi người nhưng họ đều đến với nhau bằng tình yêu thương thực sự. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đôi mắt đượm buồn, Lâm kể, vào ngày 3/12/2011, trong khi đang sửa máy trong công ty thì một người đồng nghiệp không biết đã ấn nút vận hành. Chỉ trong một khoảnh khắc, anh còn chưa kịp cảm nhận được nỗi đau thì cánh tay đã bị nghiền nát.

Lâm đã khủng hoảng tâm lý suốt nhiều tháng sau đó. Anh không dám soi gương, không dám nhìn vào cánh tay mình. Cứ đêm đến, anh lại khóc vì lo sợ: Rồi đây tương lai của mình sẽ ra sao. Hễ nhắm mắt là anh lại tưởng tượng ra đủ thứ chuyện không hay.

Rất lâu sau đó, chàng trai vốn có tính tự lập từ rất sớm ấy đã vực dậy tinh thần. Anh đã đọc nhiều sách báo về người khuyết tật, tìm hiểu về những hoàn cảnh còn khó khăn hơn mình. Anh lại tìm cách đi làm, đi bán hàng rong vì cuộc đời dù sao cũng không cho phép anh ủ dột, đau khổ mãi được. Anh phải đứng dậy và sống tiếp.

Anh tham gia nhiều hội nhóm của những người cùng hoàn cảnh trên mạng xã hội. Rồi một ngày tình cờ, anh được biết chị Nguyễn Thị Hoa, cô gái nhỏ nhắn, dễ thương, nhìn qua ảnh thì có nước da trắng trẻo và chiếc răng khểnh rất duyên. Anh tìm cách làm quen và trò chuyện với Hoa qua mạng xã hội.

Hoàn cảnh khó khăn nên họ chưa từng nghĩ đến một lễ cưới với đầy đủ nghi thức như những cặp đôi khác.

Từ đó, anh được hiểu thêm nhiều hơn về cô. So với Hoa, có lẽ Lâm còn may mắn hơn nhiều vì ít ra thì anh cũng có một mái nhà, còn Hoa là trẻ mồ côi bị bỏ rơi ngay từ khi sinh ra. Cô gái có hoàn cảnh đáng thương ngay từ khi chào đời ấy đã được đưa về Trung tâm Nuôi dưỡng Người già và Trẻ khuyết tật tại Ba Vì.

Hoa đã lớn lên ở đó và dần dần phát hiện ra rằng, đầu gối mình bị tật khiến cô không thể co chân lên được. Thể trạng của cô cũng rất nhỏ bé, chỉ nặng 35kg. Ấy vậy mà tại Trung tâm, Hoa cũng rất nhanh nhẹn phụ giúp các cô giáo tại khu nuôi dạy trẻ mầm non. Năm 2013, Hoa được giới thiệu về Trung tâm Vì ngày mai tại An Dương Vương (Hà Nội) để học nghề may.

Cặp đôi tuy cách xa nhau về địa lý nhưng lại đến với nhau bằng cả con tim chân thành. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cặp đôi tuy cách xa nhau về địa lý nhưng lại đến với nhau bằng cả con tim chân thành. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Qua một thời gian trò chuyện thấy hợp nhau, anh Lâm thổ lộ tình cảm của mình và muốn hai người về chung một nhà. Hoa cảm động và họ quyết định hẹn hò nhau lần đầu tiên.

Hôm đó, anh Lâm đã bắt xe khách chạy một mạch từ Quy Nhơn để gặp bạn gái. Thời điểm đó, Hoa lại đang ở trung tâm trên Ba Vì. Xe tới nơi thì trời cũng đã tối. Lạ nước, lạ cái, trong túi cũng không có nhiều tiền, chàng trai miền Trung cứ đi bộ rất lâu để tìm một nhà trọ, định ngủ lại qua đêm rồi sáng hôm sau vào tìm gặp Hoa, mà không thể tìm được. Anh Lâm đành ngủ nhờ ở mái hiên một nhà dân gần đó. Biết chuyện, chị Hoa càng cảm động hơn. Tình yêu cứ thể nảy nở rồi họ quyết định đi đăng ký kết hôn.

Hoàn cảnh khó khăn nên họ chưa từng nghĩ đến một lễ cưới với đầy đủ nghi thức như những cặp đôi khác. Họ chỉ nghĩ đơn giản rằng, tìm được một người phù hợp, đồng cảm với mình đã là tốt lắm rồi.

…tới những giấc mơ có thật

May mắn đã bất ngờ đến với Hoa và Lâm khi Trung tâm Vì ngày mai – nơi chị Hoa cư trú và học nghề may – đã làm hồ sơ đề nghị Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (CWD) giúp họ tổ chức một lễ cưới tập thể cùng những cặp đôi khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn khác. Đây là lần thứ 3 chương trình này diễn ra tại Hà Nội. Từ đó, giấc mơ về một đám cưới đủ đầy cứ dần dần thành hình.

Trương Xuân Lâm và Nguyễn Thị Hoa hạnh phúc bên nhau trong ngày diễn ra lễ cưới tập thể. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Trương Xuân Lâm và Nguyễn Thị Hoa hạnh phúc bên nhau trong ngày diễn ra lễ cưới tập thể. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Sáng ngày 12/11/2020, các cặp cô dâu, chú rể khuyết tật đã tham gia buổi chụp ảnh tại hồ Hoàn Kiếm để chuẩn bị cho lễ cưới tập thể.

Ngày chụp ảnh cưới diễn ra vào một buổi sáng đẹp trời, vì thế, có rất nhiều du khách dạo bộ và tham quan hồ Hoàn Kiếm. Có người thấy lạ lẫm “vì sao có nhiều cô dâu chú rể chụp ảnh đến thế?” Cũng có người tinh ý nhận ra ngay điều đặc biệt của những cặp đôi này. Bởi cùng với bộ vest phong độ, nam tính, tà áo cưới thướt tha, lộng lẫy… là chiếc kính đen, chiếc gậy, hay những bước chân chẳng được bình thường.

“Dù thân thể có khiếm khuyết, nhưng những cặp vợ chồng đến với chương trình này đều rất thương yêu nhau. Bạn có thể thấy ngay ở đây những người vợ làm đôi mắt, đôi chân cho chồng. Có người chồng dù không nhìn thấy gì, nhưng nụ cười luôn rạng rỡ và liên tục khen vợ rất đẹp. Họ còn mang theo con đến, để con chứng kiến thời khắc hạnh phúc của bố mẹ. Còn gì tuyệt vời hơn khi chương trình đã lan tỏa những điều đẹp đẽ và nhân văn ấy đến tất cả chúng ta, sau gần 3 mùa tổ chức?” bà Nguyễn Thị Hảo, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển phụ nữ Hà Nội, Phó Trưởng ban tổ chức chương trình xúc động chia sẻ.

Dù thân thể có khiếm khuyết, nhưng những cặp vợ chồng đến với chương trình này đều rất thương yêu nhau

Quả thực, có rất nhiều cặp vợ chồng đã xây dựng mái ấm cùng nhau và có con nhưng họ chưa từng biết thế nào là một đám cưới. Vợ chồng chị Nguyễn Thị Hương và anh Nguyễn Văn Nam (Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội) đã sống chung 6 năm và có con gái 5 tuổi, nhưng đến giờ mới chính thức được tổ chức lễ cưới.

Trước đó, họ còn ngại ngần không muốn đăng ký làm đám cưới bởi họ nghĩ mình đều đã nhiều tuổi, sống với nhau đã lâu rồi, con cái cũng có rồi, “rình rang mà làm gì.” Nhưng rồi, được bạn bè trong nhóm người khuyết tật tại địa phương động viên tham gia, chị Hương cũng đã được mặc bộ váy cô dâu.

Các cặp vợ chồng khuyết tật, có hoàn cảnh khó khăn tại lễ cưới tập thể. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Các cặp vợ chồng khuyết tật, có hoàn cảnh khó khăn tại lễ cưới tập thể. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Cô con gái Nguyễn An Nhiên rất “biết việc,” em đỡ váy cho mẹ, cầm nạng giúp mẹ khi mẹ mệt (chị Hương bị mất một chân do ảnh hưởng từ căn bệnh ngày bé mắc phải). Anh chị cho biết, đến tham dự chương trình mới thấy, còn nhiều mảnh đời giống mình quá. “Chương trình đã cho chúng tôi có thêm nhiều người bạn và thấy tự tin, bớt mặc cảm với cuộc sống,” anh Nam tâm sự.

Ngày 6/12 tại Hà Nội, lễ cưới tập thể mang tên “Giấc mơ có thật” đã hiện thực hóa mong mỏi được làm đám cưới của những cặp vợ chồng khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Khi giai điệu bản nhạc “Wedding March” vang lên, chú rể Trương Xuân Lâm đỡ cô dâu Nguyễn Thị Hoa lên sân khấu để cùng thực hiện nghi lễ quan trọng nhất trong cuộc đời họ. Từ nay, họ sẽ chính thức trở thành vợ chồng. Điều đặc biệt là có 45 cặp đôi khác cũng đang cùng chia sẻ khoảnh khắc này với họ. Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nhưng vào lúc này, họ đều cảm thấy hạnh phúc trào dâng, giấc mơ về một mái ấm đủ đầy đang dần dần hiện hữu trước mắt họ.

Những chú rể bảnh bao trong bộ vest đen, các cô dâu rạng rỡ trong chiếc váy cưới. Họ đang tay trong tay bước lên sân khấu để thực hiện các nghi lễ của một lễ cưới.

Niềm vui của các cặp vợ chồng trong ngày vui nhất đời họ. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Niềm vui của các cặp vợ chồng trong ngày vui nhất đời họ. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Những bước đi không hề dễ dàng nhưng nụ cười thì rạng rỡ hơn bao giờ hết. Mọi khó khăn được gác lại một bên, nơi đây chỉ còn tình yêu và niềm hạnh phúc. Những cô dâu, chú rể quay sang nhìn nhau, cười ngượng ngùng rồi lại quay đi, rồi họ rụt rè hôn lên má nhau và ôm nhau thật chặt. Khoảnh khắc ấy, khiến bất kỳ ai chứng kiến cũng đều rưng rưng xúc động.

Cô gái bé nhỏ tỏ ra xúc động, sau ngày hôm nay Hoa và Lâm sẽ chính thức là vợ chồng. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cô gái bé nhỏ tỏ ra xúc động, sau ngày hôm nay Hoa và Lâm sẽ chính thức là vợ chồng. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Chị Hoa chia sẻ: “Em rất xúc động. Cô gái nào cũng mơ ước một ngày được khoác lên mình chiếc váy cô dâu. Hôm nay, em rất hạnh phúc vì giấc mơ đã trở thành sự thật.”

Lan toả hạnh phúc

Bà Lê Minh Hiền, Giám đốc Trung tâm Vì ngày mai, nơi đã giúp đỡ vợ chồng chị Hoa-anh Lâm đến với đám cưới tập thể, xúc động khi chứng kiến cô gái bé nhỏ rạng rỡ ôm bó hoa cưới. Trước đó, bà cũng đứng ra làm vài mâm cơm ấm cúng thân mật tại trung tâm để tiễn Hoa về nhà chồng.“Hoa là một cô bé hiền lành, xinh xắn, chăm chỉ, luôn hòa đồng, nhiệt tình tham gia các hoạt động của trung tâm. Tôi rất vui khi con tìm được nhân duyên của cuộc đời mình,” bà xúc động nói.

Bà Dương Ngọc Linh, Giám đốc Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, Trưởng ban tổ chức chương trình, cho biết: “Mỗi người đều có hoàn cảnh và điều kiện sống riêng. Không phải ai cũng may mắn được trải nghiệm lễ cưới và sự thăng hoa trong những thời khắc quan trọng trong cuộc đời.”

(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

“Chính vì lẽ đó, chương trình này là sự tiếp nối nghĩa cử nhân văn và kêu gọi sự quan tâm, hành động nhiều hơn nữa vì sự hòa nhập, phát triển, khuyến khích sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của người khuyết tật. Tôi hy vọng chương trình thường niên này sẽ lan tỏa ra toàn quốc để tất cả mọi người đều có thể chạm tới hạnh phúc của mình,” bà nói.

Họ dám ước mơ và khát khao chạm tới được ước mơ của mình

Bà Linh tâm sự đã chứng kiến nhiều câu chuyện xúc động qua 3 năm tổ chức chương trình. Họ là những người khiếm khuyết về hình thể nhưng có ý chí và tâm hồn tuyệt vời, họ dám ước mơ và khát khao chạm tới được ước mơ của mình. Bản thân bà cảm thấy chính mình học được ở họ rất nhiều, cảm thấy có nhiều năng lượng hơn, để tiếp tục duy trì chương trình.

“Nhìn vào họ, mỗi chúng ta đều thấy trân quý hơn hạnh phúc mà mình đang có. Qua chương trình, chúng tôi cũng muốn lan tỏa ý nghĩa nhân văn rằng: Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy, bạn vẫn sẽ tìm được một nửa của mình,” bà chia sẻ./.

(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

“Bàn tay vàng”

28 năm làm công việc trong ngành nhãn khoa, bác sỹ Bùi Tiến Hùng luôn tâm niệm một điều bất di bất dịch: không bao giờ được thử nghiệm với mắt. Với ông, phẫu thuật nhãn khoa không giống mổ các bệnh tật khác, bao gồm cả cấp cứu.

Trong các trường hợp mổ cấp cứu thông thường, bác sỹ có thể giải thích cho bệnh nhân về những rủi ro có thể gặp phải, nhưng ở mắt, không một bệnh nhân nào chấp nhận rủi ro và người thầy thuốc cũng không bao giờ cho phép gây rủi ro cho bệnh nhân.

Gần ba thập kỷ gắn bó với nghề, Bùi Tiến Hùng được mệnh danh một trong những bác sỹ có “bàn tay vàng” về mổ Phakic [phương pháp phẫu thuật điều trị tật khúc xạ bằng cách sử dụng thấu kính có độ an toàn cao đặt trực tiếp vào bên trong mắt người bệnh – pv] ở Việt Nam…

Những cú bứt phá ngoạn mục

Tháng 10/2020, một thông tin vui với ngành nhãn khoa Việt Nam khi lần thứ 4 bác sỹ chuyên khoa 2 Bùi Tiến Hùng – Giám đốc chuyên môn Bệnh viện mắt quốc tế Nhật Bản (cũng là đại diện duy nhất của Việt Nam) vinh dự nhận Giải thưởng ghi nhận sự thành công trong phẫu thuật Phakic ICL.

Đây là một giải thưởng uy tín, nằm trong hệ thống của Nhãn khoa châu Âu, hàng năm tổ chức nhiều hội nghị cấp cao, quy tụ các phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm để chia sẻ và cập nhật những công nghệ mới.

Bác sỹ Bùi Tiến Hùng. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bác sỹ Bùi Tiến Hùng. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Tạm gác bộn bề công việc, Bùi Tiến Hùng kể rằng anh học Phakic từ 2006 nhưng đến 2012 bắt đầu đi sâu vào phương pháp này. Tới năm 2014, anh được mời tham dự hội nghị quốc tế về nhãn khoa. Mỗi lần đi họp, thấy bác sỹ của các quốc gia bạn nhận giải thưởng về 1.000 ca phẫu thuật Phakic, 2.000 ca, 5.000 ca, 10.000 ca…, bác sỹ Hùng vô cùng ngưỡng mộ. Từ đó, anh đã trăn trở để nghiên cứu sâu hơn về phương pháp này.

“Khi ấy, có những ngày tôi miệt mài nghiên cứu các tài liệu, báo chí nước ngoài để có thể làm cho bệnh nhân cận 20 đi-ốp lại giác mạc mỏng. Tôi cũng sang châu Âu để học để nâng cao kiến thức của mình,” bác sỹ Hùng kể.

Rồi anh bảo, vào năm 2012, bệnh nhân mổ Phakic chỉ 10-12 ca/tháng nhưng kết quả đem lại rất tốt. Tới năm 2014, khi chính thức về công tác tại Bệnh viện mắt quốc tế Nhật Bản, bác sỹ Hùng đã có điều kiện hơn để thực hiện phương pháp mổ này một cách quy mô và đồng bộ.

Bác sỹ Bùi Tiến Hùng khám và tư vấn cho bệnh nhân. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bác sỹ Bùi Tiến Hùng khám và tư vấn cho bệnh nhân. (Ảnh: PV/Vietnam+)

“Xuất phát điểm là một phẫu thuật viên khúc xạ, hàng ngày tiếp xúc nhiều bệnh nhân cận thị, tôi luôn nghĩ phải tìm giải pháp an toàn nhất cho bệnh nhân. Tôi liên hệ với các hãng và được họ mời sang châu Âu tìm hiểu về phương pháp Phakic mới. Không ngờ một ngày rất ngắn tôi đã đạt được giải thưởng 500, sau đó đó là những mốc khác,” bác sỹ Hùng cho hay.

Bác sỹ Hùng tâm sự với kỹ thuật Phakic, anh đã tốn không ít mồ hôi và nước mắt. Đó là nhiều buổi thức đêm triền miên để nghiên cứu, học hỏi, can thiệp những tình huống phát sinh…

Bác sỹ Hùng tâm sự với kỹ thuật Phakic, anh đã tốn không ít mồ hôi và nước mắt. Đó là nhiều buổi thức đêm triền miên để nghiên cứu, học hỏi, can thiệp những tình huống phát sinh…

Vị bác sỹ bảo, trong 5 ca đầu tiên sẽ có vấn đề như bệnh nhân có vài biến chứng nhỏ. Tuy nhiên, đến 500 ca tiếp theo hầu như không có chuyện xảy ra và đến 1.000 ca thì rất an toàn bởi Phakic là phương pháp tốt nhất hiện nay. Tuy nhiên, để có một kết quả tốt thì khâu chẩn đoán, đo đạc, tính toán cho bệnh nhân đều phải cẩn trọng. Hơn nữa, người bác sỹ mổ mắt phải đặc biệt mỗi một cấu trúc mắt vì mỗi người một khác.

“Ngoài việc học tập trực tiếp, mỗi năm tôi đều dành khoảng 1 tuần sang châu Âu để học hỏi từ các chuyên gia hàng đầu,” bác sỹ Hùng cho biết.

Giúp hơn 2.500 người nhìn rõ

Với những nỗ lực của mình, tới nay, bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã tiến hành phẫu thuật thành công cho hơn 2.500 bệnh nhân và chưa gặp biến chứng đáng tiếc nào như mất thị thực hoặc kết quả phẫu thuật không đạt yêu cầu.

Thế nhưng, trong hành trình ấy, có những bệnh nhân đã để lại kỷ niệm sâu đậm trong lòng người bác sỹ hiền từ. Bác sỹ Hùng kể rằng, có một bệnh nhân nữ 25 tuổi (nhân viên văn phòng) bị cận tới… 25 đi-ốp, phải đeo cặp kính dầy cộp. Với trường hợp này, bác sỹ Hùng phải chọn phương pháp phối hợp vì phương pháp Phakic thường thực hiện với những người cận từ 18-20 đi-ốp.

“Khi đó, tôi quyết định bàn với bệnh nhân: Lúc đầu mổ bằng phương pháp Phakic 20 đi-ốp, 5 đi-ốp tiếp theo làm theo phương pháp laze và hiệu quả với bệnh nhân rất tốt,” bác sỹ Hùng cho hay.

Mô phỏng của chiếc thấu kính được đặt vào mắt bệnh nhân.
Mô phỏng của chiếc thấu kính được đặt vào mắt bệnh nhân.

Bác sỹ Hùng phân tích, Phakic là phương pháp an toàn, hiệu quả, không gây ra cộm mắt, khô mắt, như tia laze, không gây viêm nhiễm, đào thải. Tuy nhiên, đây là phương pháp khó, có nhiều hệ lụy tác dụng phụ đi kèm nếu như không có hệ thống máy móc hiện đại đo đạc đồng bộ.

Trong những nỗ lực không ngơi nghỉ để đem “cái nhìn rõ nét” tới cho người bệnh, bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã được thế giới ghi nhận bằng những ghi nhận của đồng nghiệp quốc tế.

Đặc biệt, thấu kính khi đặt trong mắt bệnh nhân không gây ảnh hưởng đến mọi hoạt động của người bệnh. Sau khi làm xong sau 5 ngày, bệnh nhân có thể đi đá bóng, trồng cây chuối, bơi… Kính nằm trong mắt không gây ra các bệnh lý như bệnh thiên đầu thống, đục thủy tinh thể, bong võng mạc… và có thể được các bác sỹ rút ra bất cứ khi nào khi có yêu cầu một cách dễ dàng.

Phẫu thuật viên Phakic hàng đầu Đông Nam Á

Trong những nỗ lực không ngơi nghỉ để đem “cái nhìn rõ” tới cho người bệnh, bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã được thế giới ghi nhận bằng những ghi nhận của đồng nghiệp quốc tế.

Cụ thể, Giải thưởng “Phẫu thuật viên Phakic ICL hàng đầu” (Top Surgeon on ICL Implants) hàng năm được trao tặng nhằm tôn vinh những đóng góp của các bác sỹ, phẫu thuật viên trên khắp thế giới trong điều trị tật khúc xạ (cận thị, viễn thị và loạn thị) bằng phương pháp phẫu thuật Phakic ICL được trao tại Hội nghị phẫu thuật viên Phakic ICL quốc tế do Staar Surgical tổ chức nằm trong khuôn khổ “Hội nghị Nhãn Khoa châu Âu.”

bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã được thế giới ghi nhận bằng những ghi nhận của đồng nghiệp quốc tế. (Ảnh: PV/Vietnam+)
bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã được thế giới ghi nhận bằng những ghi nhận của đồng nghiệp quốc tế. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Ở giải thưởng này, Bùi Tiến Hùng từng được ghi nhận tại hạng mục: Award 500 vào năm 2017, Award 1.000 vào năm 2019 dành cho phẫu thuật viên có số lượng ca phẫu thuật dẫn đầu, Giải thưởng Phẫu thuật viên Phakic ICL hàng đầu Đông Nam Á 2018 và năm 2020…

Do dịch bệnh COVID-19, Hội nghị Nhãn Khoa châu Âu cũng như Hội nghị phẫu thuật viên Phakic ICL quốc tế thường niên năm 2020 không thể diễn ra như kế hoạch, nên giải thưởng này đã được trao trực tiếp cho bác sỹ Bùi Tiến Hùng tại nơi làm việc.

Rồi anh bảo, những giải thưởng ấy càng thôi thúc anh tiếp tục học hỏi nâng cao nghiệp vụ để phục vụ người bệnh. Bởi lẽ, Phakic đang là phương pháp phẫu thuật tối ưu nhất để điều trị tật khúc xạ mắt hiện nay, phổ biến tại Pháp, Đức, Mỹ, Thụy Sỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc….

Theo bác sỹ Hùng, ngưỡng điều trị của phương pháp phẫu thuật Phakic rộng, điều trị được cho bệnh nhân có mắt cận tới 18 đi-ốp hoặc viễn thị tới 10 đi-ốp, đi kèm loạn thị tới 6 đi-ốp. Phương pháp này cũng giúp bảo tồn tối đa cấu trúc giác mạc, phù hợp cho mắt có giác mạc mỏng, đem lại chất lượng thị giác cao, hạn chế các hiện tượng khó chịu về thị giác sau mổ.

Bác sỹ Bùi Tiến Hùng đang có một câu chuyện tình đẹp với ca sỹ Thanh Lam. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bác sỹ Bùi Tiến Hùng đang có một câu chuyện tình đẹp với ca sỹ Thanh Lam. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Tại Bệnh viện mắt quốc tế Nhật Bản, khi bệnh nhân lựa chọn phương pháp này phải chờ đợi 2-3 tuần để bác sỹ chuyển toàn bộ hồ sơ sang Thuỵ Sỹ để sản xuất ra thấu kính cho riêng bệnh nhân rồi chuyển về Việt Nam.

“Tôi phải mất đến 6 năm mới đạt được giải thưởng ở mốc 500 bệnh nhân mổ bằng phương pháp Phakic, nhưng chỉ 2 năm sau lại đạt được giải 1.000 và từ 1.000 đến 2.000 ca chỉ mất 1 năm… Giải thưởng khiến tôi rất vui, nhưng điều hạnh phúc hơn cả chính là sự ghi nhận của của bệnh nhân sau từng ca phẫu thuật,” bác sỹ Hùng tâm sự./.

Tình yêu đẹp giữa mùa COVID-19

Ít ai biết rằng, chính trong mùa COVID-19, bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã có một câu chuyện tình đẹp với diva Thanh Lam.

Khi ấy, ca sỹ Thanh Lam muốn tranh thủ thời gian không chạy show để mổ mắt. Trong một lần đi tái khám, chị không gọi được taxi nên nhờ bác sỹ Hùng đưa về. Dọc đường, câu chuyện hợp ý khiến họ xích lại gần nhau hơn…

Hiện nay, cuộc sống với bác sỹ Hùng không chỉ có những bệnh nhân tin tưởng mà còn có những người nghệ sỹ luôn đồng hành trong các hoạt động. Bác sỹ Bùi Tiến Hùng cho hay từ khi gắn kết với ca sỹ Thanh Lam, cuộc sống trở nên “sôi động” hơn vì mối duyên được gặp gỡ, được thân thiết với những người nghệ sỹ.

Bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã tiến hành phẫu thuật thành công cho hơn 2.500 bệnh nhân và chưa gặp biến chứng đáng tiếc nào. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bác sỹ Bùi Tiến Hùng đã tiến hành phẫu thuật thành công cho hơn 2.500 bệnh nhân và chưa gặp biến chứng đáng tiếc nào. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Chung tay vì người nghèo

Nhiều chương trình, hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo được các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện như khám, chữa bệnh miễn phí, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo đã đem lại sự đổi thay rất tích cực đối với cuộc sống người dân đang gặp khó khăn.

“Nếu không có thẻ, có lẽ sẽ phải ôm bệnh suốt đời”

Cầm chiếc thẻ bảo hiểm y tế trên tay, anh Lầu A Say (thôn 6, xã Đắk R’Măng, huyện Đắk Glong, Đắk Nông) rưng rưng: “Cảm ơn Nhà nước nhiều lắm.”

Trong căn nhà gỗ tuềnh toàng, trống hơ, trống hoác không có tài sản gì đáng giá ngoài chiếc xe máy cà tàng đã vỡ hết yếm, mặt nạ, trơ ra chiếc khung với dây dợ lằng nhằng, gia đình anh Lầu A Say cũng khó khăn như nhiều hộ đồng bào nghèo người dân tộc H’mông di cư từ Lào Cai vào đây.

Giai đoạn 2016-2020, công chức, viên chức toàn ngành Bảo hiểm xã hội đã đóng góp hơn 8 tỷ đồng và mua 3.300 thẻ bảo hiểm y tế hỗ trợ hộ cận nghèo, hộ nông nghiệp và hộ chính sách.

Tháng 2/2019, anh bị tai nạn ngã xe máy, nằm viện 15 ngày ở huyện Đắk Glong. Tiếp đến tháng 7/2019, con trai anh – cháu Lầu A Phương – trong khi đi mua kẹo lại bị xe đâm gãy xương chân, phải nằm 20 ngày tại bệnh viện ở Đắk Nông. Chiếc thẻ bảo hiểm trở thành cứu cánh cho gia đình anh trong lúc nguy nan.

Trao đổi với chúng tôi, anh Lầu A Say cũng không biết chi phí điều trị trong thời gian nằm viện của mình và con hết bao nhiêu tiền, nhưng anh hiểu là chi phí rất lớn, ngoài khả năng của gia đình. Bởi, ngoài tiền viện phí được Nhà nước chi trả hoàn toàn và được hỗ trợ tiền ăn với mức hơn 20.000 đồng/ngày, anh chỉ phải chi trả các phụ phí sinh hoạt cá nhân mà đã khá tốn, phải cần đến sự hỗ trợ của người thân.

Bác sỹ khám bệnh cho học sinh có thẻ bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
Bác sỹ khám bệnh cho học sinh có thẻ bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)

“Bác sỹ bảo không có bảo hiểm y tế thì cái chân mình mổ thế này phải có 20-25 triệu đồng mới mổ được. Bác sỹ bảo mình có bảo hiểm thì không mất gì. Có cái thẻ bảo hiểm không mất đồng nào đi mua thuốc, có Nhà nước lo,” anh Lầu A Say chia sẻ.

Di cư vào Đắk Nông từ năm 2015, anh được Nhà nước cấp ngay thẻ bảo hiểm y tế. Mỗi khi ho, sốt, đau đầu, anh lại đến trạm y tế xin thuốc. Riêng năm 2020, anh đã 3 lần đến trạm y tế xã và Trung tâm Y tế huyện để lấy thuốc chữa bệnh.

Thời gian ở Lào Cai, anh cũng được cấp thẻ bảo hiểm y tế và sử dụng thẻ này để đi mổ 2 lần ở Lào Cai, 1 lần ở Hà Nội, mọi chi phí đều được Nhà nước chi trả.Còn anh Hoàng A Vàng (thôn 6, xã Đắk R’Măng, huyện Đắk Glong) vào Đắk Nông từ năm 2004, đến năm 2008 anh được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế. May mắn chưa phải nằm viện lần nào, ốm sơ sơ chỉ cần qua khám và lấy thuốc ở trạm xá, nhưng con dâu anh khi sinh nở tại bệnh viện huyện Đắk Glong được quỹ bảo hiểm y tế chi trả hoàn toàn cũng đỡ cho gia đình anh một gánh nặng không nhỏ.

Hội Phụ nữ xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) triển khai phong trào “Biến rác thải thành thẻ Bảo hiểm y tế.” Sau khi phân loại rác thải, phế liệu tại gia đình, các chị em phụ nữ đem nộp cho Hội phụ nữ xã Nghi Thạch bán lấy tiền mua thẻ Bảo hiểm y tế tặng cho các gia đình khó khăn. (Ảnh: Tá Chuyên/TTXVN)
Hội Phụ nữ xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) triển khai phong trào “Biến rác thải thành thẻ Bảo hiểm y tế.” Sau khi phân loại rác thải, phế liệu tại gia đình, các chị em phụ nữ đem nộp cho Hội phụ nữ xã Nghi Thạch bán lấy tiền mua thẻ Bảo hiểm y tế tặng cho các gia đình khó khăn. (Ảnh: Tá Chuyên/TTXVN)

“Rất cảm ơn Nhà nước, Bảo hiểm xã hội cho chúng tôi cái thẻ. Người không bị gì thì không sao, nhưng không may bị ốm đau thì cũng không mất tiền, có bảo hiểm sẽ được Nhà nước chi trả,” anh Hoàng A Vàng thật thà.

Anh cho biết, em trai anh có con nhỏ 2 tuổi bị ung thư máu, phải điều trị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đầu năm đến nay, cháu bé nằm viện liên miên, hầu hết thời gian là ở viện, “Nếu không có thẻ bảo hiểm y tế thì em trai không bao giờ có số tiền đó để mà đi chữa bệnh cho con nó.”

Đoàn viên thanh Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tặng thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, người già neo đơn trong Tháng Thanh niên. (Ảnh: Thanh Vũ/ TTXVN)
Đoàn viên thanh Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tặng thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, người già neo đơn trong Tháng Thanh niên. (Ảnh: Thanh Vũ/ TTXVN)

Không chỉ hộ đồng bào dân tộc thiểu số mà với các gia đình nghèo, chiếc thẻ bảo hiểm y tế cũng là “cứu cánh” đối với họ  khi chẳng may bị ốm đau.

Ông Ngô Văn Dung (50 tuổi) ở thôn Đắk R’Tăng, xã Quảng Tân, huyện Đắk R’Lấp là một ví dụ. Gia đình ông thuộc diện hộ nghèo, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, đã hai năm nay, ông phải vào bệnh viện chạy thận nhân tạo, mỗi tuần 3 lần, mỗi lần hết 800.000 đồng.

Nhờ có bảo hiểm y tế chi trả hoàn toàn nên ông yên tâm điều trị, nếu không có thẻ bảo hiểm y tế, ông nghĩ mình sẽ phải chịu ôm bệnh suốt đời vì không có tiền chạy chữa.

Bà Hoàng Thị Cầm (58 tuổi) ở thôn Gia Lâm, xã Ia Krê, huyện Đức Cơ, Gia Lai cũng vậy. Bị bệnh thận mãn, 6 tháng nay, bà thường xuyên phải vào viện chạy thận nhân tạo. Là con liệt sỹ, bà được Quỹ bảo hiểm y tế chi trả 100% tiền điều trị. Bà cho biết, nếu không được Nhà nước chi trả, bà sẽ không có tiền để chạy thận hàng tháng.

Lễ trao tặng thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân nghèo tại Đà Lạt, Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)
Lễ trao tặng thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân nghèo tại Đà Lạt, Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)

Những hành động ý nghĩa

Thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau,” Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường phối hợp với Ban Chỉ đạo giảm nghèo tại địa phương, tích cực tham gia các chương trình, kế hoạch giảm nghèo.

Ngành xác định bảo đảm quyền lợi chăm sóc sức khỏe thông qua bảo hiểm y tế cho người nghèo, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện chính sách xã hội… là giải pháp quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo bền vững.

Giai đoạn 2016-2020, công chức, viên chức toàn ngành đã đóng góp hơn 8 tỷ đồng và mua 3.300 thẻ bảo hiểm y tế hỗ trợ hộ cận nghèo, hộ nông nghiệp và hộ chính sách.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức trao tặng 250 thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân Phú Yên bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 9 vừa qua. (Ảnh: Xuân Triệu/TTXVN)
Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức trao tặng 250 thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân Phú Yên bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 9 vừa qua. (Ảnh: Xuân Triệu/TTXVN)

Theo Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Lê Hùng Sơn, năm 2019, sau khi ban hành Kế hoạch số 1910/KH-BHXH về hỗ trợ mua tặng thẻ bảo hiểm y tế cho người có hoàn cảnh khó khăn và giúp đỡ bệnh nhân nghèo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội và các cá nhân, tổ chức đã trao tặng 2.400 thẻ bảo hiểm y tế cho người có hoàn cảnh khó khăn trong cả nước, tương đương 1,8 tỷ đồng.

Có 11 tỉnh, thành phố kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp tặng 11.865 thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo, học sinh, sinh viên và người có hoàn cảnh khó khăn tại Kon Tum, Lâm Đồng, Cà Mau, Bình Phước, Đồng Tháp, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh…

Điều này đã góp phần giúp những người khó khăn có điều kiện tham gia bảo hiểm y tế và được bảo vệ bởi quỹ bảo hiểm y tế mỗi khi ốm đau, bệnh tật, tiếp tục nỗ lực thoát nghèo.

Các bác sỹ Bệnh viên đa khoa khu vực ATK huyện Yên Sơn, Tuyên Quang đang khám bệnh cho bệnh nhân. (Ảnh Quang Đán/TTXVN)
Các bác sỹ Bệnh viên đa khoa khu vực ATK huyện Yên Sơn, Tuyên Quang đang khám bệnh cho bệnh nhân. (Ảnh Quang Đán/TTXVN)

Ông Lê Hùng Sơn cho biết, hằng năm, bên cạnh đóng góp tiền mua tặng thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, hộ nông nghiệp và hộ chính sách, các công chức, viên chức toàn ngành còn tích cực tham gia và ủng hộ bằng hiện vật, xây nhà tặng người nghèo; mua quà tặng các gia đình chính sách, nuôi dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, tặng học bổng cho các học sinh nghèo, hỗ trợ mua vật dụng cho các xã nghèo; xây dựng đường; mua cây giống, con giống tặng các hộ nghèo…

Giai đoạn 2016-2020, Bảo hiểm xã hội Việt Nam huy động công chức, viên chức ủng hộ trên 41 tỷ đồng để giúp đỡ địa bàn nghèo, hộ gia đình chính sách, hộ nghèo; trực tiếp giúp đỡ xây nhà mới hoặc phối hợp cùng Ủy ban Nhân dân các địa phương đóng góp 3,3 tỷ đồng xây dựng nhà thay thế nhà dột nát cho 31 hộ nghèo.

Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương cho rằng, phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau” đã phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, đóng góp tích cực trong nỗ lực giảm nghèo, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên về đích trước mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về giảm nghèo.

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 giảm nhanh, từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% vào năm 2020./.

Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chính quyền địa phương trao tặng 250 thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 9 vừa qua. (Ảnh: Xuân Triệu/TTXVN)
Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam và chính quyền địa phương trao tặng 250 thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 9 vừa qua. (Ảnh: Xuân Triệu/TTXVN)

Nhìn lại 4 phong trào thi đua yêu nước do Thủ tướng phát động

“Thực tế giai đoạn vừa qua cho thấy, chương trình nông thôn mới thực sự là luồng gió đổi mới tích cực cho sự phát triển kinh tế nông thôn, làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống người dân khu vực này,” đây là đánh giá của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 tại cuộc họp của Ban Chỉ đạo gần đây.

Đưa Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới về đích trước gần 2 năm

Theo Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, đến nay, cả nước có 5.385 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 162 đơn vị cấp huyện của 46 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn nông thôn mới. 9 tỉnh, thành phố có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Qua các phong trào thi đua yêu nước đã có nhiều tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc được tôn vinh; nhiều mô hình hiệu quả ngày càng được nhân rộng, huy động được tiềm năng, sức sáng tạo, đóng góp to lớn vào thành tựu 35 năm đổi mới.

Qua phong trào, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng nâng cao. Bộ mặt nông thôn đổi mới, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được cải thiện.

Trụ sở xã Xuân Phú, huyện miền núi Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đạt chuẩn nông thôn mới được xây dựng khang trang. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)
Trụ sở xã Xuân Phú, huyện miền núi Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đạt chuẩn nông thôn mới được xây dựng khang trang. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)

Tư duy, nhận thức của cán bộ và nhân dân trong xây dựng nông thôn mới ngày càng chuyển biến rõ nét. Người dân ý thức được xây dựng nông thôn mới là xây dựng đời sống mới cho chính mình, mình là chủ thể, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại, tự giác cao trong tổ chức thực hiện.

Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” là một trong bốn phong trào thi đua yêu nước do Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương phát động giai đoạn 2016-2020.

Nhìn lại các phong trào thi đua thời gian qua, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cho biết, phong trào thi đua yêu nước trên cả nước có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức, thiết thực và hiệu quả.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo chính quyền các cấp đã có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã chủ động phối hợp để tổ chức các phong trào thi đua, bám sát nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, được đông đảo đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia hưởng ứng.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương với các đại biểu cùng đoàn đại biểu thành phố Hà Nội đi dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương với các đại biểu cùng đoàn đại biểu thành phố Hà Nội đi dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Các phong trào thi đua đã tập trung hướng về cơ sở và người lao động, gắn kết chặt chẽ với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trở thành động lực quan trọng, thực sự đi vào cuộc sống, khơi dậy, động viên, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng.

Sau 10 năm thực hiện, với sự chung tay, vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là sự vào cuộc mạnh mẽ của nhân dân trên cả nước, phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đã đạt nhiều thành tựu to lớn, góp phần đưa Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 về đích trước gần 2 năm.

Các tỉnh, thành phố đã tổ chức phát động phong trào thi đua với nhiều tên gọi, cách làm phù hợp với tình hình thực tiễn, bám sát vào nhiệm vụ trọng tâm như tổ chức dồn điền, đổi thửa, phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, hệ thống giao thông nông thôn, đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất, phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nâng cao thu nhập người dân.

 Ông Hà Văn Thái (dân tộc Thái), bản Đồng Tâm, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa thực hiện mô hình trang trại trồng trọ, chăn nuôi, trồng rừng cho thu nhập 130 triệu/năm. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)
 Ông Hà Văn Thái (dân tộc Thái), bản Đồng Tâm, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa thực hiện mô hình trang trại trồng trọ, chăn nuôi, trồng rừng cho thu nhập 130 triệu/năm. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)

Nổi bật có thể kể đến là các mô hình nông dân tham gia bảo vệ môi trường, thực hiện tiêu chí 17 trong Chương trình xây dựng nông thôn mới, như Mô hình “Di dời chuồng chăn nuôi ra xa nhà ở tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên… đã vận động người dân bỏ tập quán chăn nuôi gia súc thả rông, nhốt dưới gầm nhà sàn của các dân tộc thiểu số; mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng…

Hội Nông dân Việt Nam các cấp đã xây dựng thành công nhiều mô hình thí điểm về quản lý và bảo vệ môi trường do cộng đồng dân cư thực hiện như “Trồng cây bản địa ngăn mặn xâm thực, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường;” “Đồng bào dân tộc Thái lưu giữ và phát triển ruộng bậc thang canh tác bền vững trên đất dốc;” “Trồng cây bản địa chống xói mòn cải tạo đất dốc để nâng cao hiệu quả canh tác” ở Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Nghệ An, Hoà Bình, Yên Bái, Lào Cai…

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương phát biểu chỉ đạo Đại hội Thi đua yêu nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2020-2025. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương phát biểu chỉ đạo Đại hội Thi đua yêu nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2020-2025. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Những mô hình thí điểm phát huy hiệu quả đã được tiếp tục tuyên truyền nhân rộng và vận động đoàn viên, hội viên, người dân bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, chống lũ quét, sạt lở đất, chống thoái hóa đất, sử dụng, cải tạo đất canh tác hợp lý, bảo vệ nguồn nước, sử dụng năng lượng sẵn có, bảo vệ hệ sinh thái ven biển gắn với phát triển kinh tế, đảm bảo sinh kế cho người dân trên địa bàn, từ đó duy trì công tác bảo vệ môi trường.

Phong trào thi đua phát triển sâu rộng

Cùng với phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới,” các phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau,” “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển,” “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” đã được phát động sâu rộng với sự tham gia mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, người dân, cộng đồng xã hội và doanh nghiệp.

Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau” đã phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, đóng góp tích cực trong nỗ lực giảm nghèo, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên về đích trước mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về giảm nghèo.

Gia đình chị Hay Hkuk, dân tộc Ê đê ở buôn Trang Xa, xã Ea Blang, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk vay vốn chương trình giải quyết việc làm đầu tư chăm sóc 1,5ha cà phê, góp phần tăng thu nhập cho gia đình (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Gia đình chị Hay Hkuk, dân tộc Ê đê ở buôn Trang Xa, xã Ea Blang, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk vay vốn chương trình giải quyết việc làm đầu tư chăm sóc 1,5ha cà phê, góp phần tăng thu nhập cho gia đình (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 9,2% năm 2016 xuống dưới 3% vào năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều).

Nhiều chương trình, hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo đã được các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện như khám, chữa bệnh miễn phí, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo; miễn, giảm học phí; hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nghèo…

Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Lê Hùng Sơn cho biết, hàng năm, bên cạnh đóng góp tiền mua tặng thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, hộ nông nghiệp, hộ chính sách, các công chức, viên chức toàn ngành còn tích cực tham gia, ủng hộ bằng hiện vật, xây nhà tặng người nghèo; mua quà tặng các gia đình chính sách, nuôi dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, tặng học bổng cho các học sinh nghèo, hỗ trợ mua các vật dụng cho các xã nghèo; xây dựng đường; mua cây giống, con giống tặng các hộ nghèo.

Giai đoạn 2016-2020, ngành huy động công chức, viên chức ủng hộ trên 41 tỷ đồng để giúp đỡ địa bàn nghèo, hộ gia đình chính sách, hộ nghèo.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại chương trình Cả nước chung tay vì người nghèo” năm 2020. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại chương trình Cả nước chung tay vì người nghèo” năm 2020. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Phong trào “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” đã được các cấp, các ngành triển khai tích cực; từng ban, bộ, ngành, tỉnh, thành phố đều đã ban hành nghị quyết chuyên đề, kế hoạch tổ chức thực hiện, cụ thể hóa các nội dung của phong trào nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, hỗ trợ xúc tiến thương mại, đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn tiên tiến, xây dựng thương hiệu sản phẩm, quảng bá thương hiệu và bảo hộ sản phẩm…

Trong điều kiện rất khó khăn do dịch COVID-19 và khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới nghiêm trọng, nhưng số doanh nghiệp thành lập mới từ năm 2016 đến nay liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước.

Công ty cổ phần cà phê hòa tan Trung Nguyên tại Bắc Giang hiện đang xuất khẩu sang nhiều nước như Trung Quốc, Nga, Singapore…không bỏ lỡ cơ hội đã có kế hoạch đầu tư thêm nhiều dây chuyền mới trong đầu năm 2021. (Ảnh: Danh Lam/ TTXVN)
Công ty cổ phần cà phê hòa tan Trung Nguyên tại Bắc Giang hiện đang xuất khẩu sang nhiều nước như Trung Quốc, Nga, Singapore…không bỏ lỡ cơ hội đã có kế hoạch đầu tư thêm nhiều dây chuyền mới trong đầu năm 2021. (Ảnh: Danh Lam/ TTXVN)

Theo Tổng cục Thuế, đến thời điểm ngày 19/10/2020, toàn quốc có 799.500 doanh nghiệp đang kinh doanh, tăng 41.967 doanh nghiệp (5,54%) so với thời điểm cuối năm 2019.

Đánh giá về phong trào “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở,” Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cho rằng, phong trào bước đầu tạo nên những chuyển biến rõ nét về nhận thức và hành động; tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và chiến sỹ lực lượng vũ trang; tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Qua đó, tiếp tục xây dựng hình ảnh đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu, tận tụy, chuẩn mực, chuyên nghiệp, trách nhiệm, kỷ cương, tận tình, thân thiện; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thông qua những việc làm cụ thể hàng ngày, trên mọi lĩnh vực công tác.

“Có thể nói, phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng trong cả nước đã từng bước được đổi mới với nhiều hình thức, nội dung phong phú, bám sát nhiệm vụ chính trị và tình hình kinh tế-xã hội của đất nước. Các phong trào thi đua đã trở thành động lực phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,” Phó Chủ tịch nước nói.

Qua các phong trào thi đua yêu nước đã có nhiều tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc, được các ngành, các cấp khen thưởng, tôn vinh; nhiều mô hình được xây dựng có hiệu quả, ngày càng được nhân rộng, huy động được tiềm năng, sức sáng tạo và sự tham gia hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân, đóng góp to lớn vào thành tựu 35 năm đổi mới, tô thắm thêm truyền thống yêu nước và vận dụng sáng tạo tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”./.

Hội thi văn hóa công sở và doanh nghiệp năm 2020 tại Ninh Bình. (Ảnh: Hải Yến/TTXVN)
Hội thi văn hóa công sở và doanh nghiệp năm 2020 tại Ninh Bình. (Ảnh: Hải Yến/TTXVN)

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Hơn 10 năm trước, tôi đã có may mắn được biết nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhiều lần đến quấy quả ông tại văn phòng Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trên con phố Nguyễn Đình Chiểu. Căn phòng của ông lúc nào cũng đầy sách, nhưng thật kỳ lạ, ông luôn tìm được chính xác một cuốn sách nào đó được nhắc tới trong câu chuyện của mình, hoặc khi tôi hỏi về một nhà văn nào đó, ông cũng cung cấp thông tin được ngay.

Năm 2017, ông được bổ nhiệm là Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Dù vẫn kiêm nhiệm công việc của Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và Giám đốc Trung tâm Dịch thuật của hội, ông vẫn phải rời văn phòng của mình sang nhà xuất bản tại Nguyễn Du.

Những ngày cuối năm 2020, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được bầu là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2025. Ông bảo: “Chắc tôi lại phải dọn về Nguyễn Đình Chiểu rồi, bên ấy nhiều việc phải làm lắm.”

Kết thúc đại hội Hội Nhà văn Việt Nam khóa X diễn ra 23-25/11 tại Hà Nội, gần 600 đại biểu đã nhất trí với kết quả bầu Ban chấp hành mới. Sau khi chèo lái con thuyền văn chương nước nhà trong suốt 20 năm, nhà thơ Hữu Thỉnh đã bàn giao trọng trách Chủ tịch hội cho nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Công cuộc chuyển giao thế hệ đã được thực hiện một cách nghiêm túc, trong sự phấn khởi của đông đảo hội viên.

Nhận nhiệm vụ mới, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều bày tỏ sự xúc động trước niềm tin và sự tín nhiệm của Đảng và Nhà nước cũng như toàn thể hội viên. Sau khi nhận sự chúc mừng của hội viên, bạn bè gần xa, ông trầm ngâm trong căn phòng đầy sách: “Ngay trước đại hội, tôi đã nghĩ nếu được lựa chọn, thì đó là niềm vui, vinh dự nhưng cũng là thách thức cực lớn. Sau khi Ban chấp hành họp phiên đầu tiên chọn ra danh sách để bầu cử thì tôi đã nhận được sự tín nhiệm rất lớn. Kể từ đó, trước mặt tôi đã hiện lên một vách tường rất cao.”

Ông xác định, đó là trách nhiệm rất lớn, phải đưa cả một hội nhà văn hơn 1.000 thành viên tới một thời đại mới mẻ, ý nghĩa hơn, năng động hơn.

“Khi nhận trách nhiệm này, niềm vui chỉ đến trong một ngày, ngay sau đó lập tức là khối lượng công việc khổng lồ trước mắt mình,” ông nói.

Nhà thơ Hữu Thỉnh và những nhà văn, nhà thơ trước đó đã hình thành một đội ngũ đông đảo các tác giả Việt Nam. Họ đã tạo dựng một nền tảng quan trọng để thực hiện những công việc như kết nạp hội viên, trao giải thưởng khích lệ, quảng bá văn học, tuyên truyền chính sách, đối nội, đối ngoại và những hoạt động khác.

Ở cương vị của mình, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều xác định rằng ông sẽ cần tạo ra nhiều điều mới mẻ, trên một con đường đã trở nên quen thuộc.

Ở cương vị của mình, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều xác định rằng ông sẽ cần tạo ra nhiều điều mới mẻ, trên một con đường đã trở nên quen thuộc. Dù viết văn là việc của cá nhân, nhưng Hội sẽ đánh thức họ, tôn vinh họ và đồng hành cùng họ trong những sáng tạo âm thầm.

“Trong một giai đoạn mới, chúng ta cần những tác phẩm mạnh mẽ hơn về nội dung, đề tài, sự đối mặt thẳng thắn với các vấn đề của xã hội,” ông nói.

“Ngoài sáng tạo riêng của mình, những người viết phải thổi vào tác phẩm hơi thở thời đại, phải song hành với những tâm tư tình cảm của con người thời đại này, những vấn đề của xã hội hiện nay. Đó không chỉ là những vấn đề lớn lao, mà còn phải bao gồm cả những điều nhỏ bé, nỗi niềm của những sinh linh nhỏ bé, những người không ai biết đến, hoặc đang gặp khó khăn bất hạnh, nhà văn thì phải chia sẻ những điều đó, cất lên tiếng nói vì những điều đó,” ông nói thêm.

Vậy là ngay khi nhận trọng trách, tân chủ tịch đã hoạch định trong đầu mình những đầu việc rất cụ thể: mở rộng đa chiều của sáng tác, có chiến lược hoạt động cụ thể để quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài, gắn kết tất cả những tác giả trong nước (dù họ chưa phải hội viên hội nhà văn) và chú trọng phát triển văn học thiếu nhi.

Là một người quảng giao, thông thạo ngoại ngữ, nên rất tự nhiên, ông đã trở thành cây cầu nối các tác giả Việt Nam với các tác giả nước ngoài và từng tổ chức nhiều sự kiện văn học quốc tế tại Việt Nam.

Nhờ cơ hội tiếp xúc với nhiều tác giả nước ngoài trên khắp các châu lục, ông tự hào khi cái tên Việt Nam đã vang lên trên thế giới bởi nền văn hóa đặc sắc lâu đời, bởi cả dân tộc đã đi qua những cuộc chiến tranh ác liệt và chiến đấu kiên cường vì độc lập, tự do của mình. Ngay sau chiến tranh, dân tộc ấy đã tái thiết đất nước nhanh chóng. Quan trọng hơn là Việt Nam đã kết bạn với cả thế giới, kể cả những kẻ thù cũ. Nhiều người đã bày tỏ sự tò mò với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, họ muốn biết người Việt Nam đang sinh sống và phát triển đất nước ra sao, đang suy nghĩ gì, nền văn học Việt Nam đang phát triển thế nào. Mối quan tâm này lại càng tăng lên khi những trang viết của các nhà văn, nhà thơ như Bảo Ninh, Nguyễn Ngọc Tư, Mai Văn Phấn xuất hiện trên thế giới và giành giải thưởng.

“Họ đã hỏi tôi rằng ngoài những tác giả đó, Việt Nam còn ai đáng đọc không, vì sao lại ít tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài như vậy. Tôi có nói với họ về các nhà văn khác, nhưng tôi biết họ cũng sẽ quên ngay những cái tên đó,” nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho biết.

Một trong những điều khiến ông trăn trở nhất là có quá ít tác phẩm văn học Việt Nam được dịch và xuất bản trên thế giới. Ông coi đó là việc phải làm ngay trên cương vị Chủ tịch Hội Nhà văn. Ông sẽ cùng Ban chấp hành xây dựng một chiến lược cho văn học dịch, tiến hành chọn ngay những tác phẩm chất lượng nhất, có bản sắc nhất, có thể đại diện cho văn học Việt Nam để dịch. Trước mắt, những tác phẩm đó sẽ được giới thiệu trong khu vực, rồi sau đó là thế giới. Bởi theo ông, chúng ta không thể tuyên truyền suông, cần phải có một cuốn sách cụ thể, để độc giả trên thế giới có thể tiếp cận được ngay.

Tất nhiên, chiến lược này cần có sự ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Xuất bản, Cục Hợp tác Quốc tế… để những tác phẩm Việt Nam có thể xuất hiện ở các hội chợ sách lớn trên thế giới ở Frankfurt (Đức), Bologna (Ý), London (Anh) hay Helsinki (Hà Lan).

“Chúng tôi đã nghĩ đến việc thành lập một trang web giới thiệu văn chương Việt Nam bằng tiếng Anh, xuất bản một tờ tạp chí về văn học bằng tiếng Anh…”

Các nhà quản lý sẽ chọn lựa những tác phẩm hay thật sự, được thế giới quan tâm, có khả năng đại diện cho văn học Việt Nam để dịch và mang đi giới thiệu. Ông tự tin rằng điều này hoàn toàn khả thi vì chúng ta có những người dịch tiếng Anh rất tốt trong nước, có những người bạn là những nhà thơ, nhà văn danh tiếng trên thế giới sẵn sàng giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho bản dịch.

“Chúng tôi đã nghĩ đến việc thành lập một trang web giới thiệu văn chương Việt Nam bằng tiếng Anh, xuất bản một tờ tạp chí về văn học bằng tiếng Anh. Ở đó, chúng ta giới thiệu truyện ngắn, trích đoạn tác phẩm, chân dung tác giả. Từ đó, các đơn vị có thể liên hệ trực tiếp với tác gỉa để trao đổi thông tin về bản quyền, đặt vấn đề dịch thuật, rồi tác phẩm đó có thể được xuất bản tại nước ngoài,” ông nói.

“Dịch COVID-19 đã khiến nhiều hoạt động văn hóa phải chuyển sang nền tảng trực tuyến, đây là dịp thuận lợi để nghĩ đến việc xây dựng kênh thông tin này. Kể cả không có dịch, thì đây cũng là việc cần làm bởi chúng ta đang ở một thời đại bùng nổ thông tin rồi,” ông nói thêm.

Bên cạnh việc quảng bá văn học Việt Nam, ông cũng tìm cách nâng cao vị thế của Hội Nhà văn Việt Nam trên cộng đồng văn chương thế giới thông qua Hội Nhà văn Á-Phi-Mỹ Latinh, nơi ông đã từng đóng vai trò Phó Tổng Thư ký; Hội Văn học Việt-Hàn Vì hòa bình, do ông đồng sáng lập; và giải thưởng văn học Mekong, thành lập năm 2006 do Hội Nhà văn Việt Nam khởi xướng.

“Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tham dự các sự kiện quốc tế với một vị thế tốt hơn nữa sau những gì chúng ta đã làm được trong dịch bệnh. Tôi muốn Hội sẽ đăng cai tổ chức trao những giải thưởng quốc tế, điều này sẽ tác động mạnh mẽ hơn nữa đến cảm hứng sáng tạo và hoạt động văn chương tại nước ta,” ông chia sẻ.

Hai đại diện Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, đã trình bày đề án đăng cai giải thưởng Hoa sen của Hội Nhà văn Á-Phi-Mỹ Latinh. Kế hoạch này đang dần dần đi vào thực tiễn. Khi đó, rất nhiều các tác giả khắp nơi trên thế giới sẽ hội tụ về Việt Nam. Những tác phẩm tốt nhất, đại diện cho nhiều nền văn hóa sẽ được giới thiệu tại Việt Nam.

Bên cạnh các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, tân chủ tịch Hội Nhà văn cũng tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng các tác phẩm văn học dịch. Ông cho rằng chưa bao giờ các tác phẩm văn học nước ngoài được dịch và xuất bản tại Việt Nam nhiều như bây giờ. Người đọc đang được hưởng thụ những tác phẩm lớn từ những nền văn học lớn qua nhiều ngôn ngữ như tiếng Anh, Pháp, Ba Lan, Trung Quốc,… được dịch sang tiếng Việt.

“Nhiều đơn vị như Nhã Nam, Đông A,… đang rất tích cực trong việc chọn lựa các tác phẩm văn học nước ngoài. Bên cạnh những tác phẩm ăn khách, họ cũng cân nhắc chọn dịch những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, dù biết rằng có thể khó bán. Ngoài chất lượng nội dung, họ cũng chú trong đầu tư đến hình thức trình bày để phục vụ nhu cầu của những người yêu sách, chơi sách,” ông nói.

Với nhiều ấp ủ, dự định, mọi người lo lắng nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sẽ không thể toàn tâm toàn ý sống trong thế giới nghệ thuật của mình nữa, mà sẽ bận rộn hơn nhiều.

Đáp lại sự quan tâm ấy, ông cho biết dù làm công tác quản lý, sáng tác thơ văn hay vẽ tranh, thì tâm hồn ông cũng sẽ vang lên những thanh âm tươi đẹp, ông vẫn tận hưởng trọn vẹn cuộc sống.

“Điều đáng tiếc nhất của con người không phải những vẻ đẹp bị mất đi, mà là chúng ta không nhận ra được những vẻ đẹp, dù chúng vẫn đang ở đấy,” ông nói.

Trăn trở lớn nhất trong cuộc đời của ông là sự giá lạnh, vô cảm của con người. Chúng ta ngày càng ích kỷ, ngờ vực nhau nhiều hơn, suy tính lợi ích nhiều hơn. Ông cho rằng có 3 ngôi nhà, là 3 thành trì vững vàng nhất bảo vệ lương tâm nhân loại: Nhà mình, nhà trường, nhà chùa, vậy mà những gì xấu xa, đen tối nhất đều đã xảy ra ở đó. Nhiệm vụ của nhà văn là đánh thức lương tâm con người, ông nói.

Quả thực, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã bền bỉ truyền tải những thông điệp về cái đẹp và lòng trắc ẩn qua những trang viết của mình và ông sẽ còn tiếp tục kể những câu chuyện giản dị mà sâu sắc được ông góp nhặt trong những chuyến đi.

Trong chuyến đi đến Boston, Mỹ, ông tới thăm một trường tiểu học. Sáng hôm ấy, các em học sinh phát hiện một tổ chim non, những con chim đã chết. Các em buồn bã, chôn chúng trong góc vườn. Các thầy cô giáo cũng tham gia buổi lễ mặc niệm ấy.

Giải thưởng văn học quốc tế Changwon KC. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Giải thưởng văn học quốc tế Changwon KC. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

“Tôi đã ngỡ ngàng trước một nghi lễ của nhân tính, đó là dấu hiệu tốt nhất của lòng trắc ẩn. Khi trẻ em biết yêu một cái cây, một con thú nhỏ, thì chúng sẽ biết yêu toàn thế giới,” ông nói.

Với mục tiêu dùng văn học để đánh thức nhân tính và lòng trắc ẩn, ông cho rằng việc cần làm chính là phát triển văn học thiếu nhi, bởi đó là thánh đường của những gì thánh thiện, trong sáng nhất.

Khi một đứa trẻ sinh ra, người lớn sẽ thay đổi. Đứa trẻ là thiên thần xuống mặt đất để nhắc nhở chúng ta không được phép làm điều gì đó phi nhân tính trước mặt chúng, bên cạnh chúng hay sau lưng chúng.

Đó chính là trải nghiệm của cá nhân nhà thơ Nguyễn Quang Thiều khi hai đứa cháu Mem và Kya được sinh ra và trở thành cảm hứng để ông sáng tác. Ông tâm sự rằng những đứa trẻ làm cho ông phải suy nghĩ lại cách làm người, nắn nót lại những trang viết của mình.

“Khi một em bé sinh ra, những thờ ơ bị dập tắt. Trước sinh linh bé bỏng tuyệt vời kia, mọi người xích lại gần nhau hơn, tự biến mình thành những người bảo vệ cho chúng, dẫn đường cho chúng, nên người lớn cũng trở thành một phiên bản tốt đẹp hơn chính họ trước kia,” ông nói.

Khi nhắc đến các cháu, những trầm ngâm, trăn trở trên gương mặt ông giãn ra, đôi mắt ánh lên niềm vui. Cuốn sách đầu tiên về những mẩu chuyện của Mem và Kya hiện đang được dịch sang tiếng Hàn Quốc. Đây là sẽ là khởi điểm cho những sáng tác dành riêng cho thiếu nhi của ông, trong giai đoạn này.

Văn học thiếu nhi hiện nay đã phong phú và chất lượng hơn so với 20-30 năm trước. Nhiều lần, những người hàng xóm, kể cả người chạy xe ôm, đã hỏi nhà thơ dạo này có cuốn sách nào hay, để họ mua cho con cháu. Từ đó, ông nhận thấy ngày càng nhiều bậc phụ huynh quan tâm đến sách thiếu nhi. Tuy nhiên, ông đánh giá dòng văn học này vẫn thiếu sự kỳ ảo, tính nghệ thuật dành riêng cho độc giả nhỏ tuổi.

“Chúng ta vẫn đang sa vào những gì thông thường, khuôn sáo, chứa đựng nhiều thông điệp khiến cho cuốn sách bị đạo đức hóa, giáo dục hóa. Theo tôi, tác giả cần thấu hiểu tâm lý trẻ em, tạo dựng một thế giới của trẻ em, nói ngôn ngữ của trẻ em. Khi đó, những câu chuyện sẽ dễ dàng được tiếp nhận.”

Sau khi kết thúc công việc, sự háo hức lớn nhất trong ngày của nhà thơ là đi đón cháu. Nhìn bàn tay bé nhỏ vẫy ông, mọi mệt mỏi, phiền muộn tan biến. Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận ra điều đó. Nếu chúng ta tìm thấy niềm vui từ những điều giản dị nhất thì chúng ta mới có được hạnh phúc lớn lao./.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 tại Ứng Hòa (Hà Nội), học ngoại ngữ ở Cuba rồi làm báo Văn Nghệ và hiện đang là Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Ông đã in gần 30 tác phẩm: Thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ dịch và đoạt nhiều giải thưởng thơ và truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội, báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam. Ngoài sáng tác thơ văn, ông còn được biết đến như một nghệ sỹ tài hoa trong âm nhạc và mỹ thuật.

Đại hội đại biểu dân tộc thiểu số:

Nước ta có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với 14,19 triệu người, chiếm 14,7% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng, đan xen với dân tộc đa số ở 51 tỉnh, thành phố, chủ yếu ở miền núi, biên giới vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, những địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại và mới trường sinh thái.

Mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng, phong phú đặc sắc, thống nhất trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, đều là “Con Rồng cháu Tiên” chung sống hòa thuận; một lòng theo Đảng, kề vai, sát cánh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không ngừng được củng cố và tăng cường, đi vào chiều sâu và tầm cao mới; đồng thuận xã hội được nâng lên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng ngày càng vững chắc hơn.

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số lần thứ 2 tổ chức ngày 4/12 tại Hà Nội đã thu hút sự tham gia của gần 2.000 đại biểu. Đại hội đã đánh giá quá trình 10 năm thực hiện Quyết tâm thư Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số lần thứ 1, kết quả cho thấy niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước không ngừng được củng cố và tăng cường, đi vào chiều sâu và tầm cao mới; đồng thuận xã hội được nâng lên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng ngày càng vững chắc hơn.

Hành trình 10 năm cùng phát triển

Từ đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số lần thứ 1 (năm 2010) đến nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào; chăm lo củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc. Tổng hợp kết quả từ Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu của 363 huyện và tỉnh/thành phố, sau 10 năm thực hiện Quyết tâm thư Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số lần thứ 1, kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.

Ông Đỗ Văn Chiến-Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, cho biết các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị đã ưu tiên nguồn lực, đầu tư phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là các địa bàn kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn đạt được kết quả rất quan trọng. Cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư xây dựng ngày càng đồng bộ; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh bền vững hơn.

Sau 10 năm thực hiện Quyết tâm thư của Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số lần thứ nhất, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn điện trên các lĩnh vực.

Theo ông Đỗ Văn Chiến, mặc dù nguồn lực nhà nước còn khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước đã ưu tiên bố trí ngân sách Trung ương; các tỉnh, thành phố ưu tiên bố trí ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bên vững và nguồn ngân sách đầu tư công tập trung xây dựng hàng vạn công trình đường, điện, trường học trạm y tế, nhà văn hóa… ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; làm cho bộ mặt nông thôn miền núi đã có bước phát triển mới, cơ sở hạ tầng thiết yếu được xây dựng đồng bộ hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

Mười năm qua, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật mang dấu ấn lịch sử, huy động được sự vào cuộc của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sau 10 năm thực hiện Quyết tâm thư của Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số lần thứ nhất, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.

Các số liệụ thống kê cho thấy: 100% đường từ tỉnh đến trung tâm huyện lỵ được rải nhựa hoặc bê tông hóa; 98,4% xã có đường ôtô đến trung tâm huyện; 100% xã, 97,2% thôn có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện đạt 96,7%; 100% xã có trường tiểu học, trung học cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,5% xã có trạm y tế; 65,8% xã, 76,7% thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng. Bình quân hàng năm, tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 2-3%; các xã, thôn đặc biệt khó khăn giảm 3-4%; các huyện nghèo giảm 4-5%, có nơi giảm trên 5%.

Mặc dù nguồn lực Nhà nước còn khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước đã ưu tiên bố trí ngân sách Trung ương; các tỉnh, thành phố ưu tiên bố trí ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số.

Đi đôi với phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo; sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân; sự nghiệp văn hóa, thông tin, truyền thông; hợp tác quốc tế về công tác dân tộc; tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ công; góp phần nâng cao nhận thức, mức độ hưởng thụ văn hóa, mặt bằng dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu. Cùng với sự chăm lo của Đảng và Nhà nước, đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; phát huy nội lực, đóng góp sức người, sức của.

Trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển cùng với đất nước. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, vượt khó vươn lên; hăng hái thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từng bước làm giàu chính đáng. Nhiều người dân tộc thiểu số đã mạnh dạn khai thác tiềm năng, thế mạnh của miền núi, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất với quy mô lớn hơn, tạo được sản phẩm hàng hóa đáp ứng yêu cầu của thị trường, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động.

Những năm gần đây, để xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia như: Công trình thủy điện, công trình khai thác chế biển khoáng sản, công trình giao thông, thủy lợi… đã có hàng trăm nghìn hộ gia đình người dân tộc thiểu số với hàng triệu nhân khẩu phải di dời nhà cửa ruộng vườn, quê hương, bản quán gắn bó bao đời để dành đất phục vụ lợi ích quốc gia. Tuy được bồi thường theo chính sách của Nhà nước nhưng để xây dựng lại được cơ ngơi như nơi ở cũ, ổn định cuộc sống, không phải là một sớm, một chiều.

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Thành tựu quan trọng và toàn diện của công tác dân tộc đạt được trong 10 năm qua có được là nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; sự đoàn kết, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu vươn lên của đồng bào các dân tộc trên mọi miền đất nước. Tại diễn đàn của Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số lần thứ 2, đồng bào các dân tộc thiểu số đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước và Bác Hồ.

“Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt.”

Đồng bào các dân tộc thiểu số là máu thịt của dân tộc Việt Nam, bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 54 dân tộc “như cây một cội, như con một nhà” đều mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, luôn kề vai sát cánh bên nhau chế ngự thiên nhiên, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Máu xương của những người con đất Việt đã hòa vào lòng đất mẹ, xây dựng nên thành đồng Tổ quốc Việt Nam.  Không một thế lực nào, dù xảo quyệt đến đâu cũng không thể chia rẽ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tại đại hội, đồng bào các dân tộc nguyện một lòng đoàn kết, đi theo Đảng, tin tưởng Đảng lãnh đạo sẽ đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số.

Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, hơn 14 triệu đồng bào dân tộc thiểu số nắm chặt tay nhau, quyết tâm thực hiện bằng được lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ muôn vàn kính yêu: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt.”/.