Chỉ trong một tháng đẩy mạnh tuyên truyền, cơ quan bảo hiểm xã hội đã vận động được hơn 42.000 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển đối tượng năm 2020.
Ông Đào Việt Ánh, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã tăng hơn 26.000 người so với thời điểm cuối năm 2019. Tính đến 31/5, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là 600.600 người, tăng 42.000 người so với tháng 4, tăng 26.000 người so với năm 2019.
Chỉ trong tháng 5/2020, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã tăng 42.000 người. Có được kết quả này là nhờ Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện đổi mới công tác truyền thông khi lần đầu tiên phối hợp với Bưu điện Việt Nam tổ chức thành công “Lễ ra quân hưởng ứng Tháng vận động triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân-Tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện” trên quy mô toàn quốc.
Cán bộ bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố đồng loạt ra quân. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Trong 2 ngày (23/5 và 24/5) ra quân truyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, trên toàn quốc đã có 30.017 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và phát triển thêm được 4.734 người tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình.
Năm nay là năm đầu tiên thực hiện tháng vận động triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài việc thành công trong công tác phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, lễ ra quân có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu sự kiện truyền thông tạo được sự lan tỏa về chính sách bảo hiểm xã hội trong nhân dân.
Chỉ trong một tháng đẩy mạnh tuyên truyền, cơ quan bảo hiểm xã hội đã vận động được hơn 42.000 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, góp phần hoàn thành mục tiêu phát triển đối tượng năm 2020.
Trước đó, theo số liệu ước tính đến ngày 30/4, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là khoảng 557.000 người, giảm 16.000 người so với thời điểm hết năm 2019 (573.000 người) và giảm 11.000 người so với tháng 3/2020.
Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 5 tháng đầu năm nay, dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều đơn vị, doanh nghiệp và người lao động. Đây là nguyên nhân khách quan khiến một số chỉ tiêu phát triển của ngành có xu hướng giảm. Để hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra, từ nay đến cuối năm 2020 và những năm tiếp theo, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Tuyên truyền lưu động về bảo hiểm xã hội. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Ông Dương Văn Hào, Trưởng ban Thu (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) cho biết, năm 2017, trước thời điểm có Nghị quyết số 28-NQ/TW, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là 224.000 người. Từ khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2018 tăng lên hơn 277.000 người và đến năm 2019 tăng lên gần 574.000 người. Đáng chú ý, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tăng mới trong năm 2019 bằng tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện phát triển được của cả 11 năm về trước cộng lại.
Đến nay, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có trên 12.400 đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với trên 37.300 điểm thu và trên 52.200 nhân viên đại lý thu đảm bảo việc phục vụ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách kịp thời, linh hoạt.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh công tác truyền thông về bảo hiểm xã hội tự nguyện qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Hệ thống đại lý thu bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế và mạng lưới cộng tác viên được mở rộng đến từng xã, phường, thị trấn và trải đều đến từng thôn, bản, tổ dân phố, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận chính sách.
Tư vấn chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người lao động. Ảnh: PV/Vietnam+)
Đến nay, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có trên 12.400 đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với trên 37.300 điểm thu và trên 52.200 nhân viên đại lý thu đảm bảo việc phục vụ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách kịp thời, linh hoạt.
“Việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là mục tiêu các nghị quyết của Đảng, Trung ương và thực hiện Hiến pháp về quyền được an sinh xã hội. Nếu chúng ta không làm thay đổi nhận thức, làm cho người lao động và chủ sử dụng lao động là những người hộ gia đình, hộ buôn bán nhỏ, doanh nghiệp tư nhân hiểu được vấn đề này thì sẽ không thể thực hiện mục tiêu của Đảng đặt ra.”
Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội
Tính đến ngày 31/5, tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 14,4 triệu người, đạt 89,8% kế hoạch giao (giảm 11.500 người so với tháng 04/2020, giảm 796.000 người so với năm 2019); bảo hiểm xã hội tự nguyện là 600.600 người, đạt 50% kế hoạch giao (tăng 42.000 người so với tháng 4/2020, tăng 26.000 người so với năm 2019); bảo hiểm y tế là 85 triệu người, đạt 96,6% kế hoạch giao (giảm 109.000 người so với tháng 4/2020, giảm 849.000 người so với năm 2019).
Bất chấp gói cứu trợ trị giá 280 tỷ USD ngày 11/03/2011 để hàn gắn những vết thương sau “thảm họa kép,” nhiều người sơ tán vẫn không trở về nơi cũ.
Namie, một thị trấn nhỏ nằm cách nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi khoảng 10km, từng tự hào vì sở hữu 25 công ty chế biến cá.
Tuy nhiên, hiện tại cả thị trấn chỉ còn một công ty là Shibaei thuộc về ông Koichi Shiba, 82 tuổi, người cuối cùng cũng có thể mở lại doanh nghiệp thủy sản của gia đình vào năm ngoái. Ông cho rằng sẽ không có nhiều người trở lại Namie.
“Không ai muốn quay lại vì họ đã xây nhà và quen với cuộc sống mới ở nơi khác trong những năm qua,” ông Shiba trả lời phỏng vấn của hãng tin Nikkei Asia tại công ty mới xây lại.
Theo Nikkei Aisia, đã gần 10 năm từ khi trận động đất mạnh 9 độ xảy ra ngoài khơi bờ biển phía đông bắc Nhật Bản, tạo ra một cơn sóng thần khổng lồ ập tới khiến 22.000 người thiệt mạng hoặc mất tích, phá hủy 122.000 căn nhà và gây ra các vụ tan chảy lò phản ứng hạt nhân làm rò rỉ phóng xạ. Đỉnh điểm, có 470.000 người dân đã rời bỏ nhà cửa. Một thập kỷ sau, những khu vực bị ảnh hưởng như Namie vẫn đang chật vật để phục hồi.
Một nhân viên phân loại cá tại cơ sở mới thuộc sở hữu của Shibaei, một công ty chế biến thủy sản tại thị trấn Namie, tỉnh Fukushima. (Nguồn: nikkei)
Cư dân tỉnh Fukushima sống tại các khu vực nằm trong bán kính 20km tính từ nhà máy hạt nhân và các khu vực khác nghi ngờ có nồng độ phóng xạ cao – tổng cộng lên đến 1.150km2 đất – đã được lệnh phải di tản vào năm 2011. Có tới 160.000 người đã chuyển tới những nơi khác thuộc Fukushima hoặc sang hẳn các tỉnh khác, kể cả những nơi xa xôi.
Nhiều lệnh sơ tán đã được dỡ bỏ, thu hẹp khu vực giới hạn xung quanh nhà máy bị sóng thần quét qua xuống còn 337km2. Nhưng từ khi Namie bắt đầu tái mở cửa một phần hồi năm 2017, mới chỉ có 1.100 trong số 21.000 người từng sống tại đây quay trở về. Ngay cả ông Shiba, người thừa kế doanh nghiệp của gia đình, cũng suýt nữa đã quyết định tái định cư vĩnh viễn ở gần Tokyo, nếu như các quan chức và ngư dân địa phương không năn nỉ ông quay lại.
“Không ai muốn quay lại vì họ đã xây nhà và quen với cuộc sống mới ở nơi khác trong những năm qua.”
“Tôi làm điều này vì thị trấn,” ông nói. Một công ty chế biến cá khác với hy vọng tái mở cửa có thể sẽ sớm cùng tham gia với ông.
Trong nỗ lực nhằm khởi động sự phục hưng, Namie đã thiết lập các khu công nghiệp dành cho không chỉ ngành kinh doanh chủ lực là thủy sản, mà còn cho ngành nghiên cứu robot, kèm theo một cơ sở sản xuất khí hydro đẳng cấp thế giới. Chính phủ Nhật Bản đã rót nhiều khoản trợ cấp vào các khu vực nông thôn bị ảnh hưởng nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng và các tòa nhà mới làm trụ cột cho sự phục hồi kinh tế.
Nhờ dòng chảy vào của vốn đầu tư, tăng trưởng kinh tế của ba tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất – Miyagi, Iwate và Fukushima – đã tăng hơn 10% trong năm 2017 so với thời kỳ trước thảm họa.
Hơn 30 nghìn tỷ yen (khoảng 280 tỷ USD) đã được chi cho việc tái thiết toàn khu vực, bao gồm dọn dẹp các đống đổ nát, xây dựng lại cơ sở hạ tầng và hỗ trợ các nạn nhân. Ngoại trừ một số nơi tại Fukushima vẫn là các khu vực cấm vào, các công trình xây dựng cần thiết tại các vùng bờ biển bị sóng thần tàn phá ít nhiều đã hoàn thành. Và chính phủ đang lên kế hoạch tiếp tục hỗ trợ sự phục hồi của tỉnh thông qua một khoản trợ cấp bổ sung dự kiến là khoảng 1,6 nghìn tỷ yen, được chi trong các năm tài chính từ 2021 đến 2025.
Vùng Tohoku đã và vẫn là một khu vực canh tác quan trọng, đặc biệt là về trồng lúa và chăn nuôi. Khu vực này – bao gồm một phần lớn đông bắc Nhật Bản cũng như các tỉnh ít bị ảnh hưởng hơn là Aomori, Akita và Yamagata – chiếm 15,7% tổng sản lượng nông nghiệp của Nhật Bản trong năm 2008. Đóng góp của khu vực này vào nông nghiệp trong năm 2017 là 14,9%.
Trước thảm họa, Tohoku cũng nổi tiếng với những doanh nghiệp như công ty của ông Shiba, được xây dựng xung quanh các ngư trường phong phú tại Thái Bình Dương. Một báo cáo của chi nhánh Ngân hàng Nhật Bản tại thành phố Sendai, tỉnh Miyagi lưu ý rằng đất đai và nguồn lao động giá rẻ dồi dào ở đây tạo ra sức hấp dẫn lớn của khu vực với các nhà sản xuất ô tô, linh kiện điện tử và thiết bị bán dẫn.
Nhưng ngay cả trước ngày định mệnh năm 2011, Tohoku cũng không nằm ngoài cuộc vật lộn của các khu vực nông thôn Nhật Bản với sự suy giảm dân số. Số lượng cư dân đã giảm dần khi ngày càng có nhiều người chuyển ra thành phố. Đây là một vấn đề đã kéo dài từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi những người trẻ tuổi từ các vùng thôn Nhật Bản tới các đô thị để tìm kiếm việc làm.
Trận động đất ngày 11/3, với cường độ lớn kỷ lục ở Nhật Bản, đã gom lại những thách thức cũ và tạo ra nhiều thách thức mới đáng sợ. Mặc dù hiệp hội hợp tác nghề cá của Fukushima đã đặt mục tiêu nối lại toàn bộ các hoạt động, việc tiếp cận các ngư trường vẫn bị hạn chế từ sau vụ tai nạn hạt nhân, và các thuyền bè chỉ được ra khơi 2-3 ngày mỗi tuần.
Không chỉ vậy, sau tất cả những gì mà khu vực này đã trải qua, đại dịch do virus corona lại giáng thêm một đòn mạnh hơn vào nền kinh tế địa phương vẫn còn mong manh. Cụ thể như các biện pháp giãn cách xã hội đã khiến cho nhu cầu hải sản của các nhà hàng giảm mạnh, ảnh hưởng trực tiếp tới công ty của ông Shiba.
“Đôi khi tôi nghĩ, giá mà không có con virus corona đó thì tốt,” ông thở dài. Bất chấp những rào cản đáng sợ, ông Shiba và những người khác đang dần đạt được thành công.
Kyouko Tanaka đã mở lại cửa hàng bán thực phẩm địa phương của mình ở thị trấn Minamisoma, Fukushima hồi năm 2015. (Nguồn: Nikkei)
Kyouko Tanaka đã mở lại cửa hàng bán thực phẩm địa phương của mình ở thị trấn Minamisoma, Fukushima từ năm 2015, sau khi buộc phải ngừng kinh doanh vì cửa hàng nằm trong bán kính 20km tính từ nhà máy Daiichi.
20 người từng cung cấp thực phẩm cho cửa hàng của bà cũng đã qua đời trong trận động đất và sóng thần. Nhưng Tanaka cho biết bà quyết tâm “duy trì thêm ít nhất 10 năm nữa” vì lợi ích của những người xung quanh.
Trận động đất ngày 11/3, với cường độ lớn kỷ lục ở Nhật Bản, đã gom lại những thách thức cũ và tạo ra nhiều thách thức mới đáng sợ.
Bà nói rằng, sau cả một thập kỷ, công cuộc tái thiết Minamisoma cuối cùng cũng được khởi động, và nhiều người hàng xóm của bà đang dần quay trở lại khu vực từng bị bỏ hoang này. Một hiệu thuốc mới gần cửa hàng của Tanaka vừa khai trương hồi tháng Một. “Mọi thứ đang dần được xây dựng,” bà nói. “Đây vẫn luôn là giấc mơ của tôi.”
Tanaka luôn nghĩ về nhân viên và khách hàng của mình, những người đã bị chia cắt khỏi bạn bè và chịu tổn thương vì những mất mát. “Tôi muốn nơi đây trở thành một cộng đồng,” bà nói về cửa hàng của mình. Bà cũng muốn hỗ trợ những người nông dân địa phương bằng cách bán các sản phẩm của họ.
Mức phóng xạ ở Fukushima đang có những chuyển biến tốt. Trong cửa hàng của Tanaka, có một thiết bị được bà dùng để đo nồng độ phóng xạ. Bà nói rằng nồng độ phóng xạ trong các sản phẩm nông nghiệp của Fukushima hiện nay hiếm khi nào vượt quá 50 becquerel trên 1kg, tức là thấp hơn mức giới hạn chính thức là 100 becquerel. Nhưng, bà cũng nói thêm rằng các loại rau dại – thường không được bán trên thị trường – vẫn chưa đủ an toàn để ăn được.
Masaharu Tsubokura, giáo sư tại Đại học Y Fukushima, sử dụng một bộ đếm toàn thân để kiểm tra phơi nhiễm phóng xạ bên trong của một đứa trẻ tại một bệnh viện ở Minamisoma vào năm 2016. (Ảnh: Nikkei)
Theo Masaharu Tsubokura, một giáo sư tại trường Đại học Y Fukushima, phơi nhiễm phóng xạ bên trong đã được phát hiện ở 40% người trưởng thành và 30% trẻ em được xét nghiệm ở Fukushima hồi năm 2011. Nhưng “đến năm 2012, [phơi nhiễm bên trong] đã không được phát hiện ở 99,9% trẻ em, và sau đó cũng vậy,” ông nói.
Tuy nhiên, xu hướng khử nhiễm tích cực này vẫn chưa giải quyết được vấn đề dân số. Con số này vẫn duy trì ở mức thấp và tiếp tục giảm ở Fukushima cũng như ở Miyagi và Iwate.
Tổng cộng, dân số ở ba tỉnh này đã giảm 6%, xuống còn 5,3 triệu người trong giai đoạn 2010-2019. Tương tự, số lượng doanh nghiệp cũng giảm 10% trong giai đoạn 2009-2016.
Biến các thành phố thuộc khu vực này thành những nơi hấp dẫn để sinh sống, làm việc và tham quan vẫn là một thách thức dai dẳng.
Tại thành phố Rikuzentakata thuộc tỉnh Iwate, hơn 1.750 người, tức khoảng 7% dân số, đã thiệt mạng do trận sóng thần. Trong 10 năm kể từ đó, nhiều người đã từ bỏ việc xây dựng lại nhà cửa, dẫn đến việc dân số giảm tới 20%. Tiền thuế đã được đổ vào việc nâng độ cao của khu vực và ngăn chặn thiệt hại từ các trận sóng thần trong tương lai, tuy nhiên vẫn còn những lô đất trống nằm rải rác khắp thành phố.
Kanno đã nhiều lần xây lại nhà ở cùng vị trí bị sóng thần quét qua và quyết tâm ở lại đó cho đến hết đời. (Ảnh: Nikkei)
Ông Takeshi Kanno, 71 tuổi, có nhà bị cuốn trôi hồi năm 2011, đã xây lại ngôi nhà ở chỗ cũ trong năm 2013 sau những cuộc đàm phán dài hơi với thành phố. Nhưng khi thành phố tiến hành tái phát triển khu phố, ông lại bị yêu cầu phải phá nhà đi và xây mới lại một lần nữa khi dự án hoàn thành.
Ông đã có ngôi nhà mới nhất của mình hồi năm ngoái và quyết tâm sống tại đó tới ngày cuối cùng của cuộc đời. “10 năm là quá dài đối với tôi,” Kanno nói. “Tôi đã thấy một số người cao tuổi qua đời và không thể xây lại nhà của mình khi còn sống.”
Ông chỉ trích chính quyền địa phương và cho rằng: “Nơi này đã được dọn dẹp… nhưng chúng ta có thể nói rằng thị trấn đã được tái thiết hay chưa khi mới chỉ có một nhúm người đang sống ở đây?”
Ở Miyagi, tỉnh nằm giữa Fukushima và Iwate, thị trấn Onagawa thường được mô tả là “bộ mặt” của công cuộc tái thiết khu vực. Các cửa hàng và nhà hàng đã được xây dựng dọc một con phố có vỉa hè lát gạch đỏ và rợp bóng cây xanh, chạy giữa một ga xe lửa và bờ biển. Một cơ sở lớn dành cho việc làm lạnh và cấp đông các mẻ cá đánh bắt được tại địa phương đã đi vào vận hành từ năm 2012 và khu phức hợp chế biến này vừa được trang bị thêm một nhà máy xử lý nước chung.
COVID-19 khiến doanh thu từ du lịch, một trong những trụ cột kinh tế của cộng đồng này, ít đi. Và trong khi việc xây dựng lại các tòa nhà đã gần hoàn thành, sự phục hồi thật sự vẫn còn là câu hỏi để ngỏ.
Masanori Takahashi, chủ tịch phòng thương mại của Onagawa cho biết, số thành viên của cơ quan này đã giảm từ 445 trước thảm họa xuống còn 311. Nhưng ông cũng nói thêm rằng con số này đã chạm đáy và đang dần tăng lên, do nhiều doanh nghiệp mới được lập ra nhờ sự hỗ trợ hào phóng của các khoản trợ cấp tại địa phương dành cho những người mới chuyển đến.
Tuy vậy, dân số ở đây chỉ còn khoảng 6.000 người so với mức 10.000 người trước thảm họa, theo số liệu thống kê của thị trấn. “Nền kinh tế vẫn còn tàn tạ,” Takahashi nói. COVID-19 khiến doanh thu từ du lịch, một trong những trụ cột kinh tế của cộng đồng này, ít đi. Và trong khi việc xây dựng lại các tòa nhà đã gần hoàn thành, sự phục hồi thật sự vẫn còn là câu hỏi để ngỏ.
“Phần còn lại phụ thuộc vào thế hệ trẻ,” vị chủ tịch 71 tuổi nhận định.
Giữa cú sốc và sự tàn phá xảy ra một thập kỷ trước, các quan chức Nhật Bản đã tuyên bố sẽ xây dựng lại khu vực bị ảnh hưởng và nhìn chung đã thành công về mặt vật chất. Nhưng nỗ lực lớn lao này lại cho thấy sự khó khăn của một trong những thách thức cơ bản lớn nhất của cả đất nước: xây dựng nền kinh tế nông thôn bền vững.
Theo ông Masahiko Fujimoto, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đổi mới Khu vực tại Đại học Tohoku, Sendai, về lâu dài, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm các công ty chế biến thủy sản, cần phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động kinh tế tại các khu vực ven biển bị ảnh hưởng bởi thảm họa ở Iwate và Miyagi “được dẫn đầu bởi công tác xây dựng,” ông nói thêm. “Không có nhiều ưu đãi dành cho những người đến và làm ăn tại Tohoku.”
Hình ảnh một khu vực tái phát triển ở Onagawa, được ghi lại hôm 13/02. Thị trấn thường được mô tả là “bộ mặt” của công cuộc tái thiết khu vực. (Ảnh: Nikkei)
“Liệu bạn còn nhớ tên tôi, khi ta gặp nhau trên thiên đường. Liệu mọi thứ có như ngày xưa, khi ta gặp nhau trên thiên đường?”
Đó là những lời hát đã làm rung động hàng triệu trái tim trong ca khúc “Tears in Heaven” của Eric Clapton.
Khi phát hành vào năm 1991, ca khúc này nhanh chóng lọt vào top 10 ca khúc hay nhất tại hơn 20 quốc gia và giành giải Grammy tại hạng mục Ca khúc của năm và Album của năm (“Unplugged”) cùng giải thưởng màn trình diễn giọng ca pop nam xuất sắc nhất.
Nhưng những cảm xúc làm nên sự thành công rực rỡ của bài hát lại đến từ một câu chuyện cực kỳ đau lòng. Đó là bi kịch về cái chết của Conor, cậu con trai 4 tuổi của ông.
Thảm kịch đau lòng
Ngày 20/3/1991, Conor chơi trong căn hộ tại New York (Mỹ), nơi mà cậu bé đang sống cùng mẹ, nữ diễn viên Italy Lory del Santo, bạn gái cũ của Eric Clapton. Sau khi vệ sinh căn hộ, người giúp việc đã vô tình để mở một cánh cửa sổ mà quên không đóng lại, và Conor đã không may ngã qua đó, rơi từ tầng 53 xuống đất tử vong tại chỗ.
Dù xuất phát từ cảm xúc riêng của một người cha mất con, niềm hy vọng và nỗi đau tưởng chừng không thể chịu đựng được từ ca khúc đã chạm đến trái tim của hàng triệu người nghe.
Vào thời điểm đó, luật pháp New York yêu cầu người dân phải rào chắn cửa sổ trong các tòa nhà chung cư, nhưng một phán quyết vào năm 1984 đã cho phép chủ sở hữu tòa nhà tự quyết định có lắp đặt thiết bị an toàn hay không.
Vào thời điểm vụ tai nạn xảy ra, Clapton đang ở trong một khách sạn gần đó, chuẩn bị đón Conor đi ăn trưa và thăm Sở thú ở Công viên Trung tâm theo kế hoạch của hai cha con.
“Điều đầu tiên tôi nhớ được là một cuộc gọi từ căn hộ của hai mẹ con,” Clapton trả lời trong một cuộc phỏng vấn năm 1992 với nhà báo người Anh Sue Lawley. “Tôi đã rời phòng khách sạn để đi đón thằng bé rồi cùng ăn trưa. Lory ở đầu dây bên kia, cực kỳ kích động, và nói rằng thằng bé đã chết. Và tôi không thể tin được vào điều đó.”
Clapton nói rằng ông cảm thấy “ớn lạnh sống lưng” và “tắt máy ngay lập tức” sau khi nghe tin. Và vẫn không thể tin được vào chuyện đã xảy ra, Clapton đã vội vã chạy từ khách sạn đến tòa chung cư, nơi ông nhìn thấy “xe cứu hỏa và xe cấp cứu” đang đỗ bên ngoài. Khi bước chân vào căn hộ đầy những người đến từ dịch vụ ứng cứu khẩn cấp, Clapton nhớ lại rằng lúc đó ông cảm thấy như cảnh tượng đó không liên quan gì đến mình. “Tôi cảm giác như mình đã bước vào cuộc sống của một người khác. Và đến giờ tôi vẫn cảm thấy như vậy,” Clapton nói với Lawley.
Tang lễ của Conor được tổ chức 2 ngày trước sinh nhật lần thứ 46 của nghệ sỹ.
Conor là “mỏ neo” níu giữ Clapton ở lại cuộc đời
Clapton mô tả mối quan hệ của mình với Conor là mối quan hệ gần gũi nhất mà ông có được cho đến thời điểm đó trong cuộc đời mình, và ông cho rằng con trai mình là một trong những lý do khiến ông tỉnh táo trở lại.
Vào cuối những năm 1970, Eric Clapton đã bỏ heroin nhưng lại sử dụng rất nhiều loại chất gây nghiện khác nhau, bao gồm cocaine và rượu. Và chỉ khi Conor chào đời vào năm 1986, ông mới có động lực để trở lại cuộc sống lành mạnh.
“Tôi đã thực sự làm điều đó vì Conor bởi tôi nghĩ bất kể tôi là một kẻ như thế nào, tôi cũng không thể ở bên thằng bé trong tình trạng như vậy,” Clapton viết trong cuốn hồi ký “Clapton: The Autobiography” năm 2007. “Tôi không thể chịu đựng được ý nghĩ rằng khi thằng bé hình dung về tôi, thì đó lại là hình ảnh về một người cha tồi tệ.”
Ba năm sau khi Conor qua đời, Clapton cho biết thay vì quay trở lại lối sống cũ, bi kịch này đã tiếp thêm sức mạnh để ông tiếp tục thực hiện lời hứa của mình với Conor và tiếp tục sống một cuộc đời lành mạnh hơn. Để đối mặt với nỗi đau buồn vô hạn đó, ông đã dành nhiều tháng sau cái chết của Conor để bay qua bay lại giữa Anh và Antigua, tham dự các buổi trò chuyện về vấn đề an toàn cho trẻ nhỏ tại các nhà cao tầng, tìm kiếm niềm an ủi trong cây đàn guitar và sáng tác âm nhạc.
Hai ca khúc được sáng tác trong thời kỳ này được lấy cảm hứng trực tiếp từ những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời ông. “Circus Left Town” kể về kỷ niệm hai cha con đi xem xiếc vào đêm trước khi Conor qua đời. “Tears in Heaven” thậm chí còn giàu cảm xúc hơn, với câu hỏi khắc khoải rằng liệu chúng ta có gặp lại những người thân yêu đã qua đời trước mình hay không.
Vào thời điểm đó, Eric Clapton đang làm về âm nhạc cho bộ phim “Rush” năm 1991, cùng sáng tác với người viết lời Will Jennings. Và ông ngỏ ý muốn Jennings viết tiếp phần lời cho “Tears in Heaven.” Jennings đã cố gắng tìm cách từ chối, nhưng không thể.
Vào thời điểm đó, Jennings đã là một nhạc sỹ xuất sắc. Đối với ông, câu đầu tiên của bài hát là quan trọng nhất, và Eric đã hoàn thành câu đầu tiên. Điều này giúp ông dễ dàng điền vào các dòng còn lại.
Jennings cho biết trên Songfacts: “Eric đã viết câu đầu tiên của bài hát, với tôi đó đã là toàn bộ bài hát, nhưng anh ấy vẫn muốn tôi viết phần còn lại. Tôi nói với anh ấy rằng đó là việc cá nhân của anh ấy, và anh ấy nên tự viết mọi thứ.”
Còn đối với Clapton, ca khúc đó dựa trên một thứ gần như là bản năng thuần túy. “Tôi đã sử dụng âm nhạc trong tiềm thức như thể một tác nhân để chữa bệnh, và thật tuyệt vời là nó đã phát huy tác dụng,” ông cho biết trên ABC News nhiều năm sau đó.
Trong các cuộc phỏng vấn, Eric Clapton cho biết ý tưởng về bài hát đã xuất hiện trong đầu ông từ rất lâu trước đó, nhưng ông ấy không tài nào khiến cho nó trở nên hiện hữu cho đến khi thảm kịch xảy ra. Đó là câu hỏi mà Clapton đã tự đặt ra rất lâu trước đó, khi ông nội của ông qua đời, rằng “liệu chúng ta có thực sự gặp lại nhau hay không?”
Ban đầu, ông không định phổ biến ca khúc này trước công chúng, tuy nhiên, sau đó đạo diễn của “Rush” đã thuyết phục ông phát hành ca khúc này, bởi ông cho rằng bài hát sẽ giúp những người gặp hoàn cảnh tương tự có thể vượt qua nỗi đau, giống như chính Eric Clapton.
“Tears in Heaven” không phải là một ca khúc vui vẻ, và “Rush” nhanh chóng mờ nhạt tại các rạp chiếu phim, nhưng bài hát sau đó đã trở thành một bản hit quốc tế và là đĩa đơn bán chạy nhất của Clapton tại Mỹ.
Sau đó, Clapton cũng đưa “Tears in Heaven” vào album “Unplugged” phát hành năm 1992 của mình. Dù xuất phát từ cảm xúc riêng của một người cha mất con, niềm hy vọng và nỗi đau tưởng chừng không thể chịu đựng được từ ca khúc đã chạm đến trái tim của hàng triệu người nghe.
Khởi đầu cho một mối quan hệ mới
Bi kịch của Conor đã thúc đẩy Clapton đến với Ruth Kelly Clapton. Cô bé sinh trước Conor 1 năm, là con của Clapton và Yvonne Kelly, một giám đốc phòng thu tại Mahattan. Đề nghị được gần gũi hơn với con gái của Kelly trong khoảng thời gian Conor qua đời đã được chấp nhận, và sau nhiều lần tiếp xúc, cả hai đã xây dựng được một mối quan hệ thân thiết.
Clapton đã viết trong hồi ký của mình: “Thật tuyệt vời khi lại được ở bên một đứa trẻ – một đứa con của tôi.”
Clapton nhớ lại: “Nhìn lại những năm tháng đó, tôi nhận ra ảnh hưởng sâu sắc của con bé đối với hạnh phúc của mình. Sự hiện diện của con bé trong cuộc sống của tôi là điều rất quan trọng khiến tôi hồi phục trở lại sau mất mát. Con bé khiến tôi nhận thấy mình vẫn còn điều thực sự cần quan tâm trong cuộc đời, và khiến tôi trở lại thành một con người bình thường một lần nữa.”
Vượt qua nỗi đau
Năm 2004, Eric Clapton tuyên bố sẽ ngừng biểu diễn “Tears In Heaven” bởi: “Tôi không còn thấy mất mát nữa, trong khi đó là cảm xúc cốt yếu để hát được tốt ca khúc này. Những xúc cảm khi viết nên ca khúc ấy đã mất hết trong tôi rồi và thật sự, tôi không muốn chúng trở lại.”
“Cuộc sống tôi giờ đã khác. Ca khúc ấy hay cả chuyện quá khứ cần được yên nghỉ và nếu được, tôi sẽ giới thiệu chúng theo một cách mới,” Eric cho biết thêm.
Đến năm 2013, Eric quyết định đưa ca khúc này trở lại lần đầu tiên trong tour diễn vòng quanh thế giới kỷ niệm 50 năm sự nghiệp.
Eric cũng từng trả lời trên ABC News rằng bất chấp thảm kịch, ông cũng thấy hài lòng vì đã góp phần nâng cao nhận thức về sự an toàn của trẻ em sau cái chết của Conor. Sau vụ tai nạn này, chính quyền thành phố New York đã phải xem xét lại về luật quy định việc lắp lưới bảo vệ an toàn tại chung cư và các tòa nhà cao tầng.
Ông đã từng khuyến cáo mọi người: “Hãy sử dụng lưới cửa sổ và cổng an toàn trên cầu thang. Đây là một điều rất dễ dàng và nó có thể giúp ngăn chặn một thảm kịch khủng khiếp. Hãy tin tôi. Tôi biết rõ điều này”./.
Khoảng cách kỹ thuật số là một vấn đề lớn trên toàn cầu. Ngay cả ở các quốc gia giàu có, các gia đình cũng buộc phải thỏa hiệp, thậm chí là nhịn ăn để đảm bảo con cái của họ có được kết nối Internet cần thiết cho việc học tập từ xa.
Trong thời gian nước Anh tiến hành phong tỏa xã hội để phòng dịch COVID-19 chị Michelle (31 tuổi, ở North Lanarkshire, Scotland), đã phải đối mặt với sự lựa chọn mang nhiều day rứt liên quan đến băng thông internet để phục vụ cho việc học của con cái.
Michelle (tên nhân vật đã được thay đổi) cùng với người bạn đời và cô con gái 13 tuổi đã trở thành những người vô gia cư kể từ tháng 2 năm ngoái. Họ sống tại một nơi ở tạm thời, và Michelle chu cấp cho gia đình bằng công việc dọn dẹp.
“Chúng tôi phải vật lộn với các hóa đơn Internet – không phải lúc nào chúng tôi cũng có thể chi trả cho chi phí kết nối dữ liệu trên điện thoại di động của con gái,” Michelle nói trong một cuộc phỏng vấn. “Hiện tại, con bé đang làm bài tập ở trường thông qua kết nối dữ liệu trên điện thoại di động.”
Đôi khi, bạn bè của cô bé chụp ảnh bài tập ở trường và gửi kèm theo để cô bé có thể chép lại.
Michelle đã khiếu nại với nhà cung cấp băng thông rộng của gia đình, Virgin Media, về việc phục hồi kết nối Internet, nhưng không nhận được phản hồi. Công ty cũng không chịu hủy hợp đồng để họ có thể chuyển sang sử dụng một nhà cung cấp khác có giá rẻ hơn, theo lời Michelle. (Một người phát ngôn của Virgin Media cho biết công ty đang kiểm chứng lại sự việc này).
Nguồn: EU4Digital
Và gia đình Michelle không phải là những người duy nhất. Theo Helen Milner, Giám đốc điều hành của tổ chức từ thiện hòa nhập kỹ thuật số Good Things Foundation, một số gia đình ở Anh đã phải cắt giảm chi tiêu cho ăn uống mỗi tháng để trả tiền cho kết nối băng thông rộng.
“Sự bất bình đẳng như vậy không nên tồn tại ở một quốc gia phát triển và giàu có như đất nước chúng ta, đặc biệt là khi chúng ta có thể làm được điều gì đó để giải quyết,” Milner nói.
Đại dịch COVID-19 đã phơi bày những sự bất bình đẳng xã hội trước đây không được để ý tại Anh, bao gồm thực tế rằng khoảng cách kỹ thuật số là một vấn đề có thực đang tồn tại ở quốc gia này. Khi kết nối Internet trở thành một cứu cánh quan trọng cho công việc, giáo dục, đặt đồ ăn và nói chuyện với bác sỹ, rõ ràng là có một bộ phận dân số không nhỏ đang bị bỏ lại phía sau.
Khi bàn về kết nối băng thông rộng – cả tốc độ lẫn sự phổ biến của kết nối cáp quang, Vương quốc Anh đang bị tụt lại phía sau.
Và tác động của nó thật sự tàn khốc, đặc biệt là đối với trẻ em trên khắp đất nước vốn đã phải sống trong cảnh nghèo đói. Khi các trường học phải đóng cửa trên toàn quốc, như tình hình đã diễn ra trong hai tháng vừa qua ở Vương quốc Anh, những sự bất bình đẳng mà trẻ em thuộc nhóm này vốn đã phải trải qua hàng ngày càng trở nên trầm trọng hơn khi các em không tiếp cận được với Internet và các thiết bị, dẫn đến việc bị loại khỏi các hoạt động giáo dục mà các em được hưởng.
Một báo cáo do Quỹ đổi mới Nesta của Vương quốc Anh công bố vào tháng 12 cho biết sự nghèo đói dữ liệu là một vấn đề phổ biến tại các nhóm yếu thế. Cơ quan quản lý viễn thông Ofcom cho biết 2% hộ gia đình có trẻ em ở Anh không tiếp cận được với Internet, 4% chỉ có kết nối dữ liệu di động và 9% không có máy tính xách tay, máy tính để bàn hoặc máy tính bảng ở nhà.
Nhiều gia đình trên khắp đất nước đã cảm thấy được sức ép về mặt tài chính của đại dịch từ năm ngoái, với gần 1/5 số hộ gia đình, tổng cộng là 4,7 triệu người, phải vật lộn để thanh toán hóa đơn dữ liệu di động hoặc kết nối băng thông rộng.
Khi bàn về kết nối băng thông rộng – cả tốc độ lẫn sự phổ biến của kết nối cáp quang, Vương quốc Anh đang bị tụt lại phía sau. Theo Ofcom, chưa tới 1/5 số hộ gia đình ở Anh được tiếp cận kết nối cáp quang đầy đủ, thể hiện bước trượt dài của quốc gia này xuống gần chót danh sách 37 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế trong lĩnh vực phủ sóng cáp quang.
Nhiều trẻ em đang buộc phải làm bài tập ở trường trên điện thoại di động. (Nguồn: Getty)
Quỹ World Wide Web của Tim Berners-Lee và công ty con của nó là Liên minh Internet giá cả phải chăng (A4AI) từ lâu đã vận động thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số trên toàn cầu và biến khả năng tiếp cận Internet thành quyền con người phổ quát. Các cuộc thảo luận thường là về các giải pháp cho các quốc gia có thu nhập thấp hơn. Nhưng điều đó đã thay đổi đáng kể trong năm qua, theo Eleanor Sarpong, Phó Giám đốc A4AI và Trưởng nhóm Chính sách.
“Đây là lĩnh vực mà tôi nghĩ rằng có rất nhiều điều cần học hỏi từ các nước đang phát triển,” Sarpong chia sẻ. “Những gì đang xảy ra là rất nhiều quốc gia phương Tây đang gặp khó khăn vì trong quá khứ, họ chỉ giả định là họ ổn.”
Phơi bày vấn đề nghèo đói dữ liệu của Vương quốc Anh
Darren Jones là thành viên Quốc hội của Bristol North West, một khu vực bầu cử ở miền nam nước Anh. Trong một cuộc phỏng vấn, ông mô tả rằng khu vực bầu cử của mình bao gồm một số cộng đồng nghèo nhất với kết quả giáo dục thấp nhất nằm cạnh một trong những vùng ngoại ô giàu có và có trình độ học vấn cao nhất trong cả nước. Đối với những người sống ở các khu vực nghèo hơn, nghèo đói kỹ thuật số từ lâu đã là một vấn đề, nhưng trước COVID-19, nó “là một sự bất tiện hơn là một rào cản tuyệt đối để tiếp cận các dịch vụ,” Jones nói.
Jones đã thảo luận về cách các trường tư trong khu vực của mình hoạt động trên Google Classroom vào thời điểm bắt đầu phong tỏa và học sinh ngay lập tức có thể truy cập vào các nội dung cần thiết để tiếp tục học. “Họ có thể đã trang bị máy tính xách tay và iPad và băng thông rộng tốt cho mọi học sinh, và vì vậy họ có thể ứng phó”, ông nói.
Trong khi đó, một số trường công lập ở khu vực bầu cử của ông lại đang gặp khó khăn. Nhiều gia đình không có máy tính xách tay, Wi-Fi hoặc cả hai. Rõ ràng là trẻ em không được tương tác với giáo viên của chúng, và điều này khiến Jones, người trước đây từng là chủ tịch hội đồng quản trị của một trường học cảm thấy lo lắng vì ông biết rằng sự mất kết nối như vậy có thể gây hại như thế nào.
“Chỉ một ngày không bắt kịp chương trình học cũng có tác động quan trọng đáng kể đến khả năng tiến bộ và tiếp thu của trẻ,” ông nói. “Và do đó, rất đáng để suy nghĩ về việc các em đã bỏ lỡ bao nhiêu thời gian và những hậu quả lâu dài đối với sự nghiệp của các em cũng như đối với nền kinh tế của chúng ta.”
Nguồn: Twitter
Một số sáng kiến đã được Bộ Giáo dục, các mạng di động và các nhà cung cấp băng thông rộng đưa ra trong năm qua để đảm bảo trẻ em có thể truy cập Internet. Hầu như tất cả các mạng di động của Vương quốc Anh đều cho phép trẻ em yêu cầu tăng mức trợ cấp dữ liệu di động, miễn là các em đáp ứng các tiêu chí nhất định, bao gồm cả việc không có khả năng truy cập băng thông rộng cố định ở nhà. Các nhà cung cấp Internet cũng đã không thu phí một loạt các tài nguyên giáo dục để đảm bảo trẻ em, bất kể hoàn cảnh gia đình, được truy cập dữ liệu không giới hạn.
“Chỉ một ngày không bắt kịp chương trình học cũng có tác động quan trọng đáng kể đến khả năng tiến bộ và tiếp thu của trẻ.”
Một chương trình khác cho phép các cơ quan quản lý giáo dục địa phương đăng ký một bộ định tuyến 4G cho học sinh. Bộ Giáo dục cũng đã phân phát máy tính xách tay và máy tính bảng cho trẻ em không có thiết bị di động để học tập.
Nhưng đã có nhiều vấn đề nảy sinh với sáng kiến này. Các nhà giáo dục đã báo cáo sự chậm trễ trong việc phân bổ các thiết bị, khi các yêu cầu từ các trường học không được đáp ứng và việc phân bổ bị cắt giảm vào phút cuối. Vào tháng 1, BBC đưa tin rằng một trường học ở miền bắc nước Anh đã phát hiện ra phần mềm độc hại trên các thiết bị do chính phủ cấp cho học sinh.
Ngoài ra còn có bằng chứng ở phạm vi rộng hơn cho thấy rằng mặc dù đã áp dụng tất cả các biện pháp, một số học sinh vẫn bị bỏ lại phía sau. Tháng trước, tổ chức từ thiện Social Mobility Foundation đã công bố một cuộc khảo sát với 863 thanh thiếu niên, hơn 40% trong số đó nói rằng họ không được tiếp cận kết nối băng thông rộng đáng tin cậy. Hơn một phần ba số người được hỏi cũng cho biết họ chưa được trường học liên hệ để tìm hiểu nhu cầu công nghệ của mình.
Ashley Brown, một giáo viên khoa học máy tính từ Midlands, nói rằng trường học nơi anh công tác, đặt tại một khu vực thu nhập thấp, đã cố gắng nhanh chóng sử dụng Microsoft Teams để giảng dạy, nhưng một cuộc tranh giành máy tính xách tay đã xảy ra vì có quá nhiều học sinh không sở hữu thiết bị này.
Nhà trường đã cấp phát một số máy tính xách tay, nhưng không có danh sách đầy đủ những học sinh cần chúng. “Sẽ có một số học sinh hoàn toàn chưa từng có máy tính xách tay,” Brown nói. Và chắc chắn các em sẽ bị bỏ lọt khỏi danh sách.”
Con gái Michelle rơi vào trường hợp này. Michelle cho biết bản thân cảm thấy quá “hổ thẹn và xấu hổ” khi nói chuyện với nhà trường về việc cấp thêm thiết bị, mặc dù gia đình cũng đang tự xoay sở để mua một chiếc máy tính bảng cho con gái.
Nguồn: Brooking.edu
Theo Brown, con gái của Michelle không phải là học sinh duy nhất học bài chủ yếu trên điện thoại. Tại một trong những lớp học của Brown, có hai học sinh dùng chung máy tính xách tay với cha mẹ của mình, những người sử dụng chúng cho công việc. Là một giáo viên, điều đó có nghĩa là phải “thực sự linh hoạt” cả về thời điểm và hình thức nộp bài. Anh cho biết, một số học sinh sẽ gửi ảnh chụp các bài làm viết tay của mình.
Tại trường của Brown và nhiều trường khác, những học sinh dễ bị tổn thương nhất – tức những em được xác định là hoàn toàn không có khả năng tiếp cận Internet hoặc các thiết bị công nghệ, cùng các vấn đề khác – được phép tiếp tục đến trường cùng với con cái của những người công tác trong các ngành dịch vụ thiết yếu.
“Sẽ có một số học sinh hoàn toàn chưa từng có máy tính xách tay, và chắc chắn các em sẽ bị bỏ lọt khỏi danh sách.”
Điều này không khả thi đối với con gái của Michelle, vì bạn đời của Michelle bị suy giảm miễn dịch và việc đi học có nghĩa là hàng ngày phải hòa mình với con cái của các nhân viên y tế trực tiếp điều trị bệnh nhân COVID. Đó là một rủi ro mà họ không thể chấp nhận.
“Tôi không biết những người khác đang xoay sở như thế nào. Loại virus này chắc chắn đã làm gia tăng khoảng cách đói nghèo,” Michelle chia sẻ.
Biểu giá xã hội
Vấn đề nghèo đói dữ liệu ở trẻ em đã trở thành một chủ đề quan tâm chính của các chính trị gia khi các trường học đóng cửa vào tháng 3 năm ngoái. Sau kỳ nghỉ hè, trẻ em trở lại trường học toàn thời gian vào tháng 9, đẩy vấn đề này chìm xuống trong chương trình nghị sự chính trị. Nhưng cuộc tranh luận đã được khơi lại khi các trường học lại đóng cửa vào đầu năm 2021, sau sự bùng nổ của biến thể COVID từ Vương quốc Anh.
Vào cuối tháng Một, Jones, người từng là luật sư của BT, đã giới thiệu Dự luật Truy cập Internet của mình tại Quốc hội. Dự luật kêu gọi một nghĩa vụ dịch vụ chung, buộc các nhà cung cấp dịch vụ Internet và nhà mạng di động đưa ra một “biểu giá xã hội” chi phí thấp để giúp các gia đình khó khăn truy cập Internet mà không gây tốn kém (mặc dù vẫn chưa có thông tin chính xác chi phí sẽ là bao nhiêu).
Jones nói trong bài phát biểu giới thiệu dự luật: “Ước tính có tới 2 triệu trẻ em ở nước ta không có khả năng truy cập Internet mà chúng cần để học ở nhà. Và trong khi các giải pháp tạm thời được hoan nghênh và đóng vai trò quan trọng trong thời gian phong tỏa, việc tăng dữ liệu di động và quyền truy cập miễn phí vào một số trang web giáo dục nhất định sẽ không phải là giải pháp lâu dài mà chúng ta cần để giải quyết tình trạng nghèo đói kỹ thuật số ở đất nước chúng ta.”
Sarpong cho biết, nếu Vương quốc Anh muốn có bằng chứng cho thấy một ý tưởng như vậy có thể thực hiện được, thì nước này chỉ cần nhìn vào Ecuador, quốc gia đã áp dụng biểu giá xã hội của riêng mình vào năm 2018. Với hơn 1 triệu gia đình Ecuador sống dưới mức nghèo, 1GB dữ liệu có thể tiêu tốn tới 22% thu nhập hàng tháng của họ. Mặc dù nhiều gia đình sở hữu điện thoại di động, họ lại không thể trả thêm chi phí cho việc kết nối di động thực sự.
Cơ quan giám sát viễn thông của Ecuador đã lập ra một biểu giá xã hội gắn với hệ thống phúc lợi xã hội của đất nước, giúp giảm chi phí dữ liệu từ 10 cent/megabyte xuống 1 cent/megabyte cho khoảng 900.000 người. “Điều quan trọng là, nó đã được thực hiện ở đâu đó và đang hoạt động rất tốt,” Sarpong nói.
Dự luật của Jones nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của nhiều bên, bao gồm cả các cựu bộ trưởng phụ trách kỹ thuật số, văn hóa, truyền thông và thể thao của đảng Bảo thủ. “Tất cả đều đồng ý rất nhanh chóng, bởi vì tôi nghĩ rằng mọi người đều cho đó là một ý kiến hay,” Jones nói.
Nhưng Sarpong lo ngại rằng một sản phẩm kém chất lượng có thể được cung cấp cho trẻ em từ các hộ gia đình có thu nhập thấp, dẫn đến việc sân chơi này không thực sự được công bằng. Điều này đúng với cả chất lượng kết nối và thiết bị các em đang sử dụng. Đối với A4AI, có khả năng truy cập là chưa đủ – khả năng truy cập có ý nghĩa mới là điều quan trọng nhất.
“Chúng tôi cũng không muốn có khoảng cách giữa sự trải nghiệm của các em,” Sarpong nói.
Nguồn: NewAmerica
Chất lượng truy cập Internet là một vấn đề mà Jones đang thảo luận với nhóm nghị sỹ thuộc tất cả các đảng mà ông thành lập để nghiên cứu tình trạng nghèo đói dữ liệu. Gói BT Basic (dịch vụ giá rẻ của BT dành cho các hộ gia đình có thu nhập thấp) chỉ có tốc độ tải xuống là 10Mbps và tốc độ tải lên là 1Mbps, phù hợp cho việc duyệt Internet thông thường, và chỉ như vậy. Liên quan tới biểu giá xã hội, Jones không muốn mọi người gặp phải những rắc rối về tốc độ truy cập hay không có đủ dung lượng để kết nối.
Theo Brown, sáng kiến chung giữa chính phủ và các nhà mạng tại Vương quốc Anh nhằm tăng trợ cấp dữ liệu cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn là rất hữu ích.
Brown cũng cho biết mình đã chứng kiến một sự chênh lệch rất lớn về chất lượng truy cập. “Chúng ta có những đứa trẻ có Internet, hay nói đúng hơn là có Internet với tốc độ cực thấp – vậy nên, đúng là chúng có khả năng truy cập, nhưng lại không có cách nào để duy trì việc truy cập thường xuyên hay có kết nối Internet đáng tin cậy,” anh nói. Điều này trở thành một vấn đề lớn hơn khi có nhiều trẻ em đồng thời truy cập vào các phòng học trên Microsoft Teams.
Sáng kiến chung giữa chính phủ và các nhà mạng tại Vương quốc Anh nhằm tăng trợ cấp dữ liệu cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn là rất hữu ích.
Một vấn đề khác theo Jones là xác định những đối tượng đủ điều kiện để hưởng biểu giá xã hội. Lý tưởng nhất, Jones muốn đây là một biểu giá mở cho tất cả mọi người cùng hưởng, nhưng đến cuối cùng, ông cho rằng lựa chọn tốt nhất là gắn tính đủ điều kiện với những bữa ăn miễn phí ở trường. Ông cũng quyết tâm giảm số lượng các điều kiện mà mọi người cần đáp ứng để được xác nhận, điều mà ông mô tả hiện đang là một quy trình quan liêu và phức tạp.
Các nhà cung cấp dịch vụ Internet tại Vương quốc Anh cũng ủng hộ phong trào này và đang hợp tác với Jones để xây dựng biểu giá xã hội và giải quyết các vấn đề về truy cập. Trong một cuộc phỏng vấn, Mat Sears, Giám đốc các vấn đề về doanh nghiệp của BT cho biết công ty “hoàn toàn ủng hộ” và công nhận tầm quan trọng của sáng kiến này với các gia đình có thu nhập thấp. Hiện tại, BT đang làm mới gói BT Basic của mình để cải thiện tốc độ, có thể tăng lên tới 4 lần, theo lời Sears.
Tuy nhiên, vẫn sẽ có những người thậm chí không thể chi trả theo biểu giá xã hội, và tổ chức Good Things Foundation của Milner đang nỗ lực tìm những giải pháp hoàn toàn miễn phí cho những người có thu nhập rất thấp như vậy. Tổ chức này đã lập một phòng nghiên cứu nghèo đói dữ liệu, với hy vọng trò chuyện với những người không thể chi trả để tiếp cận Internet và xây dựng các giải pháp cho họ. Một ví dụ mà Milner đưa ra là người dân ở Australia đang quyên góp phần dữ liệu mà họ không sử dụng đến vào cuối mỗi tháng.
Cung cấp dữ liệu còn thừa cho một tổ chức từ thiện để phân phối chúng đến những trẻ em có nhu cầu “thực sự giống như một giải pháp hoàn hảo,” bà nói.
Phía sau đại dịch
Trẻ em ở Vương quốc Anh cuối cùng cũng bắt đầu trở lại trường học hồi cuối tuần trước, sau khi quốc gia này mở cửa trở lại. Nhưng điều đó không có nghĩa là sự nghèo đói dữ liệu, hay nói rộng hơn là sự nghèo đói ở trẻ em tại Vương quốc Anh sẽ đột nhiên biến mất.
Nó cũng không thể lập tức chìm xuống trong chương trình nghị sự chính trị, nhờ dự luật của Jones cùng sự nỗ lực của nhóm quốc hội các đảng, nhưng những người ủng hộ cũng hy vọng rằng nó sẽ luôn là ưu tiên lâu dài của chính phủ.
“Lý do chúng tôi cần một giải pháp dài hạn cho vấn đề này là vì học trực tuyến sẽ không chỉ là một giải pháp tạm thời, nhất là với lượng kiến thức mà trẻ em phải bắt kịp,” ông nói.
Ông nói thêm, từ quan điểm rộng hơn, việc số hóa các dịch vụ công thực sự cần phải đi kèm với nghĩa vụ dịch vụ phổ quát để tránh việc người dân bị bỏ lại phía sau. Nghĩa vụ dịch vụ phổ quát đó đã tồn tại khi nói tới băng thông rộng, nhưng chính phủ vẫn chưa mở rộng nó tới truy cập Internet trên di động.
Chuyển các dịch vụ công lên trực tuyến là một xu hướng nổi bật trong năm qua và đặc biệt đáng chú ý trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Milner cũng lo lắng rằng xu hướng này có thể khiến những người vốn đã không được tiếp cận với công nghệ kỹ thuật số bị bỏ lại xa hơn nếu họ không được cung cấp bất kỳ giải pháp nào để tiếp cận các dịch vụ đó – một điều mà bà tin là sẽ “không hợp lý về mặt kinh tế.”
“Những dịch vụ kỹ thuật số đó đã được đầu tư,” bà nói. “Giúp mọi người có khả năng tiếp cận tốt hơn và các kỹ năng tốt hơn sẽ là điều tốt cho sự thịnh vượng.”
Có bằng chứng thuyết phục cho thấy rằng việc xóa bỏ nghèo đói kỹ thuật số tại Vương quốc Anh sẽ tác động tích cực tới tổng sản phẩm quốc nội của đất nước. Một báo cáo năm 2018 của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh đã kết luận rằng giá trị ròng của việc đầu tư vào xóa bỏ khoảng cách kỹ thuật số đối với nền kinh tế Vương quốc Anh tính tới năm 2028 sẽ là 21.9 tỷ Bảng (khoảng 30.5 tỷ USD).
Trẻ em ở Vương quốc Anh cuối cùng cũng bắt đầu trở lại trường học hồi cuối tuần trước. (Nguồn: Sky)
Milner nói rằng đây là thời điểm tốt để chính phủ, cùng với các doanh nghiệp, đặt mục tiêu xóa bỏ khoảng cách kỹ thuật số tại Vương quốc Anh trong 5 năm tới. Để đạt được mục tiêu đó, cần một chiến lược phối hợp và tư duy dài hạn về vấn đề ít được chú ý trong năm vừa qua, khi các nhà chính trị còn bận bịu giải quyết đại dịch.
Đứng trước một tương lai ngày càng mang tính kỹ thuật số, chính phủ Vương quốc Anh sẽ phải chấp nhận những thay đổi về cách thức làm việc và học tập mà đại dịch đã gây ra, cũng như sẽ phải điều chỉnh lại tư duy của mình theo đó nếu muốn đạt được mục tiêu đã nêu là “nâng cấp”, để các cá nhân và thậm chí là cả các khu vực địa lý không bị bỏ lại phía sau.
“Đến mùa hè, những đứa trẻ đó vẫn sẽ sống trong những gia đình có thu nhập thấp. Chúng sẽ có máy tính bảng hoặc máy tính xách tay để làm bài tập ở trường, nhưng thực tế chúng sẽ không có kết nối Internet với giá phải chăng.”
Các bằng chứng cho thấy rằng việc không bảo đảm kết nối tại các khu vực như vậy có thể dẫn đến sự thất bại trong tương lai, theo Mathew Lawrence, nhà sáng lập kiêm giám đốc của viện nghiên cứu Common Wealth. “Có sự chênh lệch thực sự rõ rệt về mối tương quan giàu nghèo tại một khu vực khi xét về việc ai có khả năng tiếp cận Internet chất lượng và đáng tin cậy,” ông nói.
Nhưng giữa những người đang phấn đấu vì mục tiêu đó, có một sự lạc quan rằng khoảng cách kỹ thuật số không phải là một vấn đề khó nhằn với Vương quốc Anh. Họ biết cách giải quyết nó, và với sự sẵn sàng cũng như cam kết đúng đắn từ giới chính trị và giới kinh doanh, họ cảm thấy rằng họ sẽ làm được điều đó. Nhiều giải pháp sẽ không làm tăng chi phí, và bất kỳ khoản tiền nào được bỏ ra dường như cũng mang lại lợi tức đầu tư hấp dẫn (15 bảng cho mỗi 1 bảng chi ra, hoặc khoảng 21 bảng cho mỗi 1.40 bảng được chi, theo báo cáo của CEBR).
Milner ca ngợi sự sẵn sàng của chính phủ và các nhà mạng trong việc cung cấp dữ liệu và thiết bị miễn phí để giải quyết cuộc khủng hoảng khi nó xảy ra, nhưng bà cũng bày tỏ sự lo ngại về việc liệu như vậy là đủ để tạo ra sự thay đổi lâu dài. “Đến mùa hè, những đứa trẻ đó vẫn sẽ sống trong những gia đình có thu nhập thấp. Chúng sẽ có máy tính bảng hoặc máy tính xách tay để làm bài tập ở trường, nhưng thực tế chúng sẽ không có kết nối Internet với giá phải chăng,” bà nhận định.
Bất chấp những thách thức, Michelle vẫn thấy may mắn vì con gái mình vẫn vui vẻ, yêu thích việc học, hoàn thành bài tập mà không gặp bất kỳ rắc rối nào và không cảm thấy bản thân bị tụt lại phía sau – mối lo lớn nhất của Michelle.
Khi gia đình bị cắt Internet, Michelle đã giao bài tập cho con gái dựa trên tiến độ học trên lớp. Và họ đã mua các bộ phim tài liệu từ các cửa hàng từ thiện cũng như tải các podcast xuống cho con gái nghe trong khi Michelle đi làm.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều áp lực cá nhân đến từ sự lo lắng cho việc học hành của con cái. “Về mặt cảm xúc, tôi cảm thấy như mình đang thất bại,” Michelle nói. “Tôi phải làm việc để chu cấp cho gia đình, tôi phải giúp con gái qua điện thoại khi con bé không biết làm bài, hay vào buổi tối khi tôi về nhà… Mỗi lần nhìn con, tôi đều muốn khóc. Tôi muốn con tôi được an toàn, nhưng tôi cũng muốn nó có một cơ hội trong tương lai.”
Tôi đến thăm nghệ sỹ nhân dân Hoàng Cúc khi ngày Quốc tế Phụ nữ đang tới gần. Ngôi nhà ấm cúng thoang thoảng hương hoa. Biết bà yêu hoa nên khoảng một tuần trước ngày 8/3, bạn bè, người thân đã gửi hoa tặng bà. Thấp thoáng sau cành hoa lan, tán bạch đào là những bức chân dung thời thanh xuân của mỹ nhân màn ảnh Việt thế kỷ 20.
Con tằm rút ruột nhả tơ
Nghệ sỹ nhân dân (NSND) Hoàng Cúc sinh năm 1957 tại Hưng Yên. Từ khi còn nhỏ, cô bé Hoàng Cúc đã ham đọc sách. Mười ba tuổi Hoàng Cúc đã đọc những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới như “Chiến tranh và hòa bình,” “Sông Đông êm đềm.” Tình yêu với nghệ thuật và tâm hồn giàu xúc cảm ngày một lớn dần lên.
Nghệ sỹ nhân dân (NSND) Hoàng Cúc thời trẻ. (Ảnh nhân vật cung cấp)
Học hết phổ thông, nghệ sỹ Hoàng Cúc thi vào trường nhạc (Học viện Âm nhạc Việt Nam ngày nay) sau đó có hai năm công tác tại đoàn nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang. Dù chuyên môn là thanh nhạc nhưng nghệ sỹ Hoàng Cúc đã được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau như hát đơn ca, song ca, đồng ca, rồi lại còn diễn kịch. Cô gái tuổi ngoài đôi mươi, đa tài và xinh đẹp lúc ấy được ty văn hóa cho lựa chọn đi học tiếp thanh nhạc hay chuyển sang kịch nói.
Sinh ra trong một gia đình không có truyền thống nghệ thuật nên khả năng thanh nhạc và diễn xuất của nghệ sỹ Hoàng Cúc hoàn toàn là do trời phú. Bà đã quyết định chọn học tiếp 4 năm nữa để trở thành một diễn viên kịch chuyên nghiệp. Quyết định đó đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà sau này, để sân khấu và màn ảnh Việt Nam có một mỹ nhân với đôi mắt biết nói và khả năng diễn xuất tuyệt vời.
Sân khấu và màn ảnh Việt Nam đã có thêm một mỹ nhân với đôi mắt biết nói và khả năng diễn xuất tuyệt vời.
Học xong, bà xin về Đoàn kịch Hà Nội (nay là Nhà hát kịch Hà Nội) bởi bà mê mẩn vở “Âm mưu và tình yêu” của đoàn này. Những vai diễn của các nghệ sỹ Thanh Tú, Đam Ca, Trần Vân đã khiến bà mơ ước một ngày cũng được tỏa sáng trên sân khấu như vậy.
Vai diễn đầu tiên đến với bà cũng rất tình cờ. Đó là vai chính trong vở kịch “Người đàn bà sau tấm cửa sổ xanh” (kịch bản của Liên Xô) ra mắt năm 1984.
Hôm đó, trong buổi thử vai của các nghệ sỹ, bà đã xin đạo diễn Tạ Xuyên cho diễn thử, và rồi thật bất ngờ, đạo diễn thấy bà diễn rất hay nên đã chọn luôn vào vai chính, cùng với các nghệ sỹ Hoàng Dũng, Minh Vượng, Minh Trang…
Trong 30 năm công tác tại Nhà hát Kịch Hà Nội bà đã có những vai diễn để đời trong các vở kịch như “Người đàn bà sau tấm cửa sổ xanh,” “Thầy khóa làng tôi,” “Mắt phố”…
Khi nhớ lại những ngày cống hiến cho sân khấu kịch Hà Nội, ánh mắt bà ánh lên những tia rạng rỡ.
“Tôi với Hoàng Dũng, Minh Vượng… rất thân nhau. Ngày ấy, chúng tôi cứ diễn hết mình, mang hết ruột gan, tâm tư ra mà diễn, như con tằm rút ruột nhả tơ. Cứ nghe thấy cấp trên nói ‘mai dựng vở mới đấy nhé’ là sung sướng, háo hức vô cùng. Khi nào xem bảng phân vai mà thấy không có tên mình thì buồn lắm,” bà trầm ngâm hồi tưởng lại.
Nghệ sỹ nhân dân Hoàng Cúc hoá thân vào một vai diễn. (Ảnh nhân vật cung cấp)
Thời kỳ mới về Đoàn kịch Hà Nội, bà chỉ nặng có 46kg. Ngược dòng hoài niệm, bà bảo thời bao cấp làm nhiều quá mà không có cái ăn nên không mấy ai béo cả.
Buổi sáng nghệ sỹ Hoàng Cúc lên đoàn tập vở, buổi trưa chạy rất nhanh đến đài truyền hình để ghi hình những vở kịch thu tiếng trực tiếp, buổi tối lại đi diễn trên sân khấu cho khán giả xem.
“Người nghệ sỹ nghèo đến độ một đêm diễn không đủ tiền ăn một bát phở. Có những vở mình tôi nhận cả 4 vai như ‘Em đẹp dần lên trong mắt anh.’ Nhiều khi diễn xong tôi không thở nổi nữa,” bà chia sẻ.
“Những người ở Đoàn kịch Hà Nội thời bấy giờ thường phải tìm việc làm thêm mới đủ sống, anh Hoàng Dũng đi bán quần áo trẻ con ở phố Hàng Đường, chị Minh Vượng đi bán giày dép, chị Kim Xuyến mở tiệm áo cưới. Tôi cũng tập toẹ mở tiệm áo cưới. Nhưng không biết có phải vì người ta thương không mà tiệm khá đông khách. Sau một năm, tôi có tiền mua được một chiếc xe Dream Thái,” bà nhớ lại.
Khi tạm lo đủ cho gia đình, người nghệ sỹ mới yên tâm cháy hết mình cho nghệ thuật.
“Ngày ấy nghèo nhưng vui. Cuộc sống thời ấy khiến con người ta cứ trong veo và hồn nhiên, chỉ biết tận hiến cho nghệ thuật thôi, không mưu cầu hay toan tính điều gì. May mắn và tài sản lớn nhất của chúng tôi lúc đó là tuổi trẻ, có sức khỏe nên không ngại gian khổ, chỉ cần sống được với đam mê là say sưa cống hiến. Ngoài diễn kịch ra tôi còn nhận được nhiều lời mời đi làm phim nhựa. Chất nghệ thuật và cái màu điện ảnh trong phim nhựa đẹp vô cùng nên tôi thích đi đóng phim lắm,” bà kể.
“Mẹ chồng quốc dân” trong phim và ngoài đời
Sau 10 năm vắng bóng trên màn ảnh và sân khấu, nghệ sỹ Hoàng Cúc đã trở lại và gây tiếng vang với vai bà mẹ chồng trong phim “Hoa hồng trên ngực trái” phát sóng năm 2019-2020.
Bà vào vai bà Hồng, mẹ chồng của Khuê (Hồng Diễm). Thấu hiểu được những hy sinh thầm lặng của Khuê dành cho gia đình, bà luôn luôn quan tâm và động viên cô hết lòng. Khi Thái, con trai bà, có nhân tình, về nhà hắt hủi vợ, bà Hồng luôn ở bên bảo vệ và che chở cho Khuê.
Nghệ sỹ Hoàng Cúc và dàn diễn viên phim Hoa hồng trên ngực trái. (Ảnh nhân vật cung cấp)
“Khi bộ phim lên sóng, tôi ra đường được mọi người yêu mến lắm, từ trẻ đến già, không chỉ các bà mẹ mà cả những cô gái trẻ đều yêu vai diễn đó, các cháu bé gặp ngoài đường đều xin chụp ảnh với bà,” nghệ sỹ Hoàng Cúc nói.
Trong phim, bà Hồng là người mẹ chồng hết lòng thương con dâu thì ở đời thực, diễn viên Hoàng Cúc cũng vậy. Giám đốc Trung tâm Sản xuất phim truyền hình (Đài Truyền hình Việt Nam) Đỗ Thanh Hải cũng từng chia sẻ rằng anh mời nghệ sỹ Hoàng Cúc vào vai này vì bà quá yêu con dâu.
“Tình cảm với con dâu ở ngoài đời giúp tôi nhập vai tốt. Có những phân cảnh, tôi nghĩ nếu rơi vào mình, tôi cũng xử lý tương tự bà Hồng,” nghệ sỹ chia sẻ.
Con dâu của bà là nghệ sỹ Thùy Linh, hiện công tác ở Nhà hát Kịch Hà Nội. Lúc con trai duy nhất của bà giới thiệu người yêu, nghệ sỹ vẫn đang là phó giám đốc nhà hát. Bà chỉ hỏi thăm mọi người trong đoàn xem cô gái có “ngoan” không, bởi đối với bà, “ngoan” là quan trọng nhất.
“Trong cuộc sống, để có thể thương yêu nhau thì không phải là sự ngẫu nhiên mà cần có sự vun đắp. Tôi tin rằng những người làm cha mẹ lúc nào cũng muốn thu vén, chăm sóc cho các con, muốn một gia đình êm ấm thuận hòa. Thường thì vai trò chủ yếu trong mối quan hệ này là mẹ chồng,” bà nói.
Xuất phát từ tình yêu thương chân thành và sự hy sinh, bà hết lòng chăm sóc con cháu. May mắn khi bà có điều kiện cả về kinh tế và sức khỏe để hỗ trợ các con.
“Các con gọi tôi là bà mẹ quốc dân. Khi con dâu sinh con, tôi chăm cả mẹ, cả con. Buổi sáng đưa cháu ra phơi nắng, cho cháu ăn bột. Cảm thấy lúc nào cũng đắm đuối vì con, cháu. Cháu quấn và yêu bà, suốt ngày gọi mẹ Cúc,” bà kể.
“Các con gọi tôi là bà mẹ quốc dân”
NSND Hoàng Cúc bảo bà hạnh phúc vì có con dâu cùng là nghệ sỹ làm việc trong nhà hát. Bà kể, lần con dâu tham gia liên hoan sân khấu trẻ, bà hướng dẫn con vai diễn trong vở “Em đẹp dần lên trong mắt anh” mà trước kia bà từng ghi dấu ấn. Hai mẹ con cùng tập đến nỗi Thùy Linh đổ bệnh, thế nhưng mẹ chồng thì vẫn hừng hực khí thế, động viên con dâu.
“Tôi thương lắm, bởi lúc sinh con xong thì gần như là con dâu tôi không đi diễn được. Tôi khuyến khích con đi làm chứ không thì phí. May mắn là hai mẹ con đồng cảm trong cuộc sống cũng như công việc,” bà tâm sự rằng hai mẹ con như hai người bạn tri kỷ.
(Ảnh nhân vật cung cấp)
Thùy Linh bận rộn nhưng luôn thích ở gần, nấu ăn và chăm sóc mẹ chồng, nhất là thời gian bà lâm trọng bệnh. Nghệ sỹ Hoàng Cúc cũng nhờ con dạy cách sử dụng smartphone.
“Phụ nữ bây giờ không thể vừa đi làm, vừa chăm sóc gia đình chồng, nuôi dạy con cái mà ngày vẫn ba bữa chu toàn. Đàn bà tề gia nội trợ thì làm sao có thời gian cống hiến cho sự phát triển của xã hội. Nội trợ có phải là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá phẩm chất của người phụ nữ nữa đâu,” nghệ sỹ nói.
Bao nhiêu nước mắt đều dành để khóc cho nhân vật
NSND Hoàng Cúc chia sẻ rằng trên sân khấu, phim ảnh, bà đã khóc rất nhiều cho nhân vật của mình rồi, nên ngoài đời bà rất ít khóc. Thậm chí, có những lúc bà ốm nặng tới mức sợ không qua khỏi, người thân trong nhà nhìn bà chết lặng nhưng bà nhìn họ, vẫn nở nụ cười.
Năm 2010, bà đưa con dâu đi khám sức khỏe để chuẩn bị mang thai, sẵn tiện kiểm tra sức khỏe của mình. Bất ngờ, bác sỹ kết luận bà bị ung thư gần đến giai đoạn ba. Lúc nhận thông báo, bà cười, bảo với các con nhẹ nhàng: “Mẹ bị ung thư rồi.” Ngày hôm sau, bà hẹn đi ăn với các bạn bè ở nhà hát, nghệ sỹ dặn con dâu không được nói bệnh tình.
“Đi ăn, nói chuyện, uống bia thoải mái rồi mai vào viện, coi như là định mệnh,” bà nói.
(Ảnh nhân vật cung cấp)
Nghệ sỹ Hoàng Cúc nói điều khó khăn nhất khi chữa trị ung thư là phải vượt qua chính mình. Nhiều người không chịu được đau đớn trong quá trình hóa trị và chấp chận cái chết nhưng bà thì không. Tóc rụng nhiều theo từng mảng, nghệ sỹ chủ động gọi thợ đến cạo đầu. Có người tò mò hỏi thăm, bà còn đùa là xuống tóc để nhập thất, đi tu. Những lần hóa, xạ trị khiến bà kiệt sức. Sợ các con đau lòng, bà đóng cửa phòng, lấy đá lạnh ấn lên đầu giữa ngày đông dù buốt lên tận óc.
“Chạy hoá trị đến mũi thứ sáu, tôi sụp đổ hoàn toàn. Lúc đó chỉ có cảm giác trận chiến của mình sắp kết thúc. Nhưng rồi lại nghĩ, mình phải tiếp tục cố gắng trong trận chiến này. Muốn thắng được phải hiểu rõ căn bệnh của mình và tôi lao vào đọc rất nhiều tài liệu về bệnh ung thư,” bà nói.
“Người ta bảo phải ‘lắng nghe cơ thể mình’ nhưng tôi đã có một thời gian quá dài không để ý tới sức khoẻ. Đi diễn, cả ngày trời quên không ăn. Nửa đêm về vẫn lao vào tắm. Quá nhiều nguyên nhân dẫn đến bị bệnh, trong đó có nguyên nhân là do thiếu hiểu biết. Chính những điều đó đã hun đúc nên sự trải nghiệm và tìm hiểu để mình rèn luyện sự mạnh mẽ,” bà nói.
Thời điểm bị bệnh, bà hay đi xoa bóp, bấm huyệt ở các cơ sở của người khiếm thị. Tiếp xúc với họ, bà thấy mình học được nhiều thứ. Họ không nhìn thấy nhưng họ hiểu biết và sống lạc quan. Chính những người đó đã khiến bà thay đổi rất nhiều về nhận thức.
Bao nhiêu đau đớn bà gửi hết vào thơ một cách nhẹ nhàng:
“…Vết thương hàn năm ngón trái đè lên
Năm ngón phải sưng vù cong câu hỏi
Biết trên đời hoa nở trái mùa không?…”
Để rồi ở ngoài đời thực, bà cắn răng chịu đựng, không than vãn với ai, thậm chí còn động viên ngược lại người thân.
“Trong một cuốn tiểu thuyết tôi từng đọc có câu ‘trông chết cười ngạo nghễ,’ cho nên tôi xem cái chết không có gì đáng sợ. Cứ sống vui hôm nay đi, chuyện ngày mai tính sau. Ngày nào mình còn cảm thấy vẫn vui được thì cứ vui,” NSND Hoàng Cúc trải lòng.
Ngay sau khi bộ phim “Hoa hồng trên ngực trái” kết thúc, bà phải vào viện cấp cứu do ruột thừa có vấn đề và có khối u trong bàng quang. Ngay lập tức, bà phải thực hiện hai ca mổ nội soi. Hiện nay thì bệnh ung thư của bà không di căn nữa. Nghệ sỹ lạc quan khẳng định rằng bà đang rất khỏe.
Cứ sống vui hôm nay đi, chuyện ngày mai tính sau. Ngày nào mình còn cảm thấy vẫn vui được thì cứ vui
“Trong cuộc sống có nhiều bi kịch xảy đến với rất nhiều người, trong nhiều hoàn cảnh nên tôi nghĩ điều quan trọng nhất là chiến thắng bản thân mình. Ở tuổi này tôi cũng xác định là ‘sinh lão bệnh tử,’ cái chết cũng là một điều hiển nhiên, nhẹ nhàng. Tôi đã chiến đấu với ung thư 10 năm. Những gì có thể làm cho mình, cho con thì tôi cũng đã làm hết rồi,” bà tâm sự.
An yên tuổi xế chiều
Chia sẻ về cuộc sống hôn nhân lần thứ hai, nữ nghệ sỹ rưng rưng những niềm hạnh phúc. Chồng của nghệ sỹ Hoàng Cúc hiện nay là một người bạn lâu năm. Ông là người mang đến cho bà rất nhiều cảm xúc khiến bà luôn cảm thấy yên bình.
“Phụ nữ ít khi muốn đi bước nữa lắm, phải là người tri kỷ với mình, rất đồng cảm và trân trọng nhau thì mới có thể có được hạnh phúc tuổi xế chiều. Mọi thứ đến có lẽ bởi duyên phận,” bà trải lòng.
Nghệ sỹ nhân dân Hoàng Cúc. (Ảnh nhân vật cung cấp)
Nghệ sỹ chia sẻ bí quyết gìn giữ hạnh phúc là “phu thê phải tương kính như tân,” phải tôn trọng nhau và dành cho nhau sự tự do về không gian, thời gian và cả cảm xúc. Với chồng mình, bà nhận xét ông là người tốt, giàu đức hy sinh và trân trọng gia đình.
“Nhiều cặp vợ chồng khi chưa quen hơi bén tiếng thì còn giữ gìn hình ảnh. Lấy nhau về rồi lại trở nên xấu xí trong mắt nhau. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên có ý thức giữ gìn hình ảnh đẹp trong mắt bạn đời. Tôi không bao giờ cẩu thả được trong mọi việc. Khi bày mâm cơm, một đĩa rau hay một đĩa thịt cũng phải được chăm chút về hình thức thì ăn mới thấy ngon miệng,” bà chia sẻ lời khuyên.
Hàng ngày, bà vẫn ngồi thiền, tập yoga và duy trì thói quen ăn uống lành mạnh để giữ gìn sức khỏe. Nghệ sỹ cũng có nhiều thú vui như làm thơ, viết truyện ngắn, chụp ảnh, đi du lịch, làm từ thiện và chăm sóc con cháu. Bà bật mí rằng sắp tới bà sẽ có những tác phẩm được đăng báo. Những vần thơ đầy tính chiêm nghiệm được hun đúc từ một cuộc đời nhiều thăng hoa và khổ đau:
Khi câu chuyện “chủ nghĩa dân tộc vắcxin” vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi gay gắt thì gần đây việc phát hành “hộ chiếu vắcxin,” một dạng giấy thông hành điện tử cho phép những người đã được tiêm vắcxin được tự do đi lại, tiếp tục nổi lên thành chủ đề nóng và có khả năng gây thêm chia rẽ giữa các nước giàu và các nước nghèo.
Một số quốc gia ủng hộ ý tưởng này, coi đây là lối thoát cho ngành du lịch và hàng không đang gặp khó khăn, một số quốc gia khác lại bày tỏ nghi ngại bởi đến nay mới chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân số thế giới được chủng ngừa.
Không ít nhà phân tích lo ngại nếu hộ chiếu vắcxin sớm được phát hành, các nước giàu lại là các nước chiếm ưu thế hơn trong việc mở cửa trở lại nền kinh tế; trong khi đó, các nước nghèo vẫn đang phải “vật lộn” để có được nguồn cung vắcxin do bất bình đẳng trong cơ chế phân phối và sẽ ngày càng bị tụt lại phía sau.
Tính đến ngày 2/3, Israel, UAE, Anh, Mỹ và EU dẫn đầu thế giới về tỷ lệ tiêm chủng vắcxin ngừa COVID-19 cho người dân.
Theo dữ liệu thống kê của ourworldindata, tính đến ngày 2/3, Israel, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Anh, Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) đang dẫn đầu thế giới về tỷ lệ tiêm chủng cho người dân, đặc biệt Israel có tỷ lệ 96/100 (số người được tiêm/100 người).
Tổng thống Mỹ Joe Biden tự tin tuyên bố rằng nước này sẽ hoàn thành chương trình tiêm chủng cho toàn bộ người trưởng thành vào tháng 5 tới. Điều này phơi bày thực tế rằng những nước có tốc độ tiêm chủng vắcxin COVID-19 cao đều là những quốc gia phát triển.
Trước đó, tổ chức phân tích Economist Intelligence Unit (EIU) cũng công bố kết quả nghiên cứu cho biết, các nước như Anh, Mỹ, Israel và các quốc gia thành viên EU sẽ đạt được “độ bao phủ tiêm ngừa diện rộng” và hoàn thành tiêm chủng cho hầu hết dân số vào cuối năm 2021; nhóm các nước phát triển còn lại theo sau sẽ đạt mục tiêu tiêm phòng vào năm 2022.
Nhân viên y tế tiêm vắcxin phòng COVID-19 cho người dân tại Gwangju, Hàn Quốc, ngày 26/2/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)
Thậm chí, EIU cũng đưa ra cảnh báo rằng 84 quốc gia nghèo nhất thế giới sẽ không có đủ vắcxin COVID-19 cho đến năm 2023 và vấn đề thiếu hụt vắcxin sẽ kéo dài trong nửa đầu của thập niên này.
Bà Agathe Demarais, Trưởng bộ phận phân tích của EIU, nhận định việc tiêm chủng vắcxin sẽ định hình bức tranh chính trị và kinh tế toàn cầu, du lịch và gần như tất cả mọi thứ.
Cuộc đua giành nguồn cung vắcxin bắt đầu nóng lên từ tháng 1 năm nay, sau khi vắcxin Oxford/Astra Zeneca được phê duyệt. Tâm điểm đầu tiên là căng thẳng giữa EU và Anh, khi Ủy ban châu Âu (EC) ra quyết định sử dụng các biện pháp khẩn cấp trong thỏa thuận Brexit để hạn chế xuất khẩu vắcxin qua biên giới Cộng hòa Ireland sang Anh.
Mặc dù quyết định sau đó đã nhanh chóng được thu hồi do gặp phản ứng dữ dội từ Anh, Ireland và Bắc Ireland, bởi các bên lo ngại đe dọa đến Nghị định thư Bắc Ireland mà EU và Anh ký kết để giải quyết vấn đề thuế quan hậu Brexit, song cũng cho thấy thực trạng cạnh tranh “không khoan nhượng” trong cuộc đua giành nguồn cung vắcxin ngay cả với các nước giàu.
‘Việc tiêm chủng vắcxin sẽ định hình bức tranh chính trị và kinh tế toàn cầu, du lịch và gần như tất cả mọi thứ’ (Bà Agathe Demarais, Trưởng bộ phận phân tích của EIU)
Theo diễn biến mới nhất, ngày 4/3, Italy cho biết nước này đã chặn một lô 250.000 liều vắcxin COVID-19 Oxford/AstraZeneca xuất sang cho Australia. Đây là lần can thiệp đầu tiên kể từ khi EU đưa ra các quy định mới quản lý việc vận chuyển vắcxin bên ngoài khối. Động thái này của Italy được giới phân tích cho rằng sẽ tiếp tục làm thổi bùng lên căng thẳng toàn cầu về vấn đề mua sắm vắcxin.
Vấn đề ngoại giao vắcxin giữa phương Tây với Nga và Trung Quốc cũng được châm ngòi khi Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, trước thềm Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến Nhóm các nước công nghiệp hàng đầu thế giới (G7), đã kêu gọi các nước phương Tây nên nhanh chóng dành ra tối đa 5% lượng vắcxin mua được để chia sẻ cho châu Phi, trong khi Nga và Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng tại khu vực này thông qua các hợp đồng cung cấp vắcxin.
Tuy nhiên, đề xuất của Tổng thống Macron đã bị Mỹ và Anh từ chối với lập luận rằng sẽ san sẻ vắcxin cho các nước đang phát triển sau khi hoàn thành chương trình tiêm chủng trong nước.
Ngay tại châu Âu, thất bại của EC trong chiến lược mua vắcxin ngừa COVID-19 cho công dân châu Âu cũng đã dẫn đến cuộc “nổi loạn” của một số nước thành viên. Mới đây, Cộng hòa Séc và Slovakia đã theo chân Hungary tìm kiếm đến nguồn cung vắcxin từ Nga và Trung Quốc.
Nhân viên y tế chuẩn bị tiêm vắcxin ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 của hãng Sinovac tại một địa điểm tiêm chủng ở Sao Paulo, Brazil, ngày 2/3/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)
Tổng thống Cộng hòa Séc Milos Zeman cho biết ông đã đề nghị Nga cung cấp vắcxin Sputinik V ngừa COVID-19 vì không thể chờ vắcxin do EU cung cấp, đồng thời sẽ cân nhắc sử dụng cả vắcxin của Trung Quốc.
Trong khi đó, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ ngày 24/2, sáng kiến phân phối vắcxin COVID-19 toàn cầu COVAX của Liên hợp quốc mới bắt đầu phân phối những lô vắcxin đầu tiên tới các nước đang phát triển, trong đó Ghana là quốc gia đầu tiên tiếp nhận lô 600.000 liều vắcxin theo cơ chế này.
Dự kiến đến cuối tháng 5, sẽ có 237 triệu liều vắcxin được phân phối tới 142 nước tham gia chương trình này. Điều này mở ra niềm hy vọng cho các nước phát triển, nhưng với nguồn cung vắcxin còn hạn chế, trong khi phải đảm bảo phân phối công bằng cho rất nhiều nước, các nước đang phát triển sẽ vẫn bị tụt xa trong chương trình tiêm chủng và vẫn phải duy trì các biện pháp đối phó với dịch bệnh trong thời gian dài.
Trong bối cảnh như vậy, việc đi đầu trong tốc độ tiêm chủng sẽ cho phép các nước phát triển triển khai ý tưởng hộ chiếu vắcxin, với mục đích cấp phép cho những người đã được tiêm chủng có thể di chuyển giữa các nước, kích cầu du lịch, phục hồi lại ngành hàng không và giúp sớm mở cửa trở lại nền kinh tế nhanh nhất có thể.
Nhiều ý kiến cho rằng hộ chiếu vắcxin làm hiện lên viễn cảnh một thế giới bị phân chia bởi khoảng cách giàu nghèo.
Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen đã thông báo EU đang chuẩn bị cho việc áp dụng “Thẻ xanh kỹ thuật số” để nối lại các hoạt động di chuyển quốc tế vào mùa Hè này.
Bà Ursula cho biết EU sẽ ưu tiên mở cửa du lịch trong phạm vi EU trước tiên, theo đó người châu Âu có thể đặt phòng khách sạn và khu nghỉ dưỡng trước các quốc gia khác.
Israel, Australia cũng đã thực hiện chương trình hộ chiếu vắcxin nội địa, chỉ cho phép những ai đã tiêm vắcxin mới được tiếp cận các phòng tập thể dục, các buổi hòa nhạc và các địa điểm công cộng khác. Thái Lan đang cân nhắc việc thực hiện một hệ thống hộ chiếu vắcxin nhằm khởi động ngành du lịch trong năm nay.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng hộ chiếu vắcxin làm hiện lên viễn cảnh một thế giới bị phân chia bởi khoảng cách giàu nghèo, bộc lộ rõ sự bất bình đẳng trong phân phối vắcxin toàn cầu cũng như tạo ra các vấn đề về chính trị, đạo đức đáng lo ngại.
Vắcxin Sputinik V ngừa COVID-19 của Nga. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Chủ tịch Hiệp hội Tiêm chủng Tây Ban Nha (AEV), Amos Garcia, đã kiên quyết phản đối “hộ chiếu vắcxin” của châu Âu, coi việc cấp đặc quyền đi lại cho những người được tiêm chủng có thể làm gia tăng “khoảng cách xã hội” giữa các nước giàu và nghèo, không chỉ ở châu Âu mà còn trên toàn thế giới bởi vắcxin hiện đang được phân phối chủ yếu cho các nước giàu.
Ngoài ra, câu hỏi về việc liệu hộ chiếu vắcxin của Nga và Trung Quốc có được các nước phương Tây chấp nhận hay không cũng chưa có lời đáp.
Tiến sỹ Clare Wenham, trợ lý giáo sư về chính sách y tế toàn cầu tại Trường Kinh tế London, cho rằng: “Từ góc độ đạo đức, hộ chiếu vắcxin là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Bạn sẽ tạo ra một hệ thống hai cấp và lịch sử cho thấy rằng khi bạn tạo ra sự chia rẽ trong xã hội, điều đó sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn dân sự. Đó là sự phân biệt chủng tộc.”
WHO đến nay vẫn chưa ủng hộ ý tưởng sử dụng “hộ chiếu vắcxin” để thúc đẩy hoạt động đi lại. WHO cho rằng hiện chưa phải là thời điểm để sử dụng hộ chiếu vắcxin bởi vẫn còn nhiều ẩn số liên quan đến hiệu quả của tiêm chủng trong việc ngăn ngừa COVID-19, trong khi nguồn cung cấp vắcxin vẫn còn hạn chế.
Giới chuyên gia hiện kêu gọi các chính phủ hãy chờ đợi để có thể cùng nhau đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế đồng nhất cho hộ chiếu vắcxin trước khi phát hành, bởi các tiêu chuẩn không đồng đều có thể dẫn đến những nguy cơ hoặc bị biến thành trò chơi địa chính trị.
Giáo sư Melinda Mills, thuộc Trung tâm Khoa học nhân khẩu học Leverhulme tại Cao đẳng Nuffield, Đại học Oxford cho rằng các nước sẽ cần các tiêu chuẩn toàn cầu chung như Chứng chỉ tiêm chủng thông minh của WHO và đây sẽ là giải pháp hợp pháp cho vấn đề này./.
Nhân viên y tế tiêm vắcxin phòng COVID-19 cho người dân tại Accra, Ghana, ngày 2/3/2021. (Ảnh: THX/TTXVN)
Alors que tout le pays se bat pour contenir l’épidémie de COVID-19, dans les laboratoires, les scientifiques travaillent jour et nuit pour trouver un vaccin.
En 2020, un groupe de recherche de la société de production de vaccins et de produits biologiques VABIOTECH était au Royaume-Uni pour travailler sur les vaccins contre la rage et la grippe, lorsque le plan de recherche sur le vaccin contre le COVID-19 lui est arrivé.
Le chercheur Mac Van Trong, membre du groupe de recherche de VABIOTECH à l’Université de Bristol, a raconté : “La plus grande difficulté intervint lorsque l’Europe fut bloquée, toutes les activités de recherche durent alors être interrompues. L’équipe de recherche profita de chaque minute, de chaque heure, n’eut aucun jour de repos, ne dormit même que quelques heures chaque jour, pour terminer le plan. Car si les échantillons n’avaient pu être transférés à temps au Vietnam, les résultats de près de deux mois de recherche auraient été vains”.
Des chercheurs de VABIOTECH effectuent des recherches. Photo: VNA
Des chercheurs au laboratoire. Photo: VNA
Ensuite, le groupe dut rester au Royaume-Uni pour profiter au maximum du temps pour mener le travail dans les meilleures conditions possibles. Ils choisirent le dernier vol commercial pour rentrer au Vietnam. Après 14 jours de quarantaine, les chercheurs reprirent le travail de toute urgence. Grâce à cela, à peine un mois plus tard, un vaccin candidat fut lancé pour des essais précliniques sur l’animal.
“La plus grande difficulté pourla recherche sur les vaccins est l’approvisionnement en matières premières, qui demeurent très limitées car le Vietnam doit en importer. La production à l’étranger est également perturbée et le transport est très difficile”, a déclaré le docteur Do Tuan Dat, président de VABIOTECH.
Pour fabriquer des vaccins, les chercheurs doivent surmonter de nombreuses difficultés. Photo: VNA
La Compagnie de biotechnologies pharmaceutiques NANOGEN est également l’une des unités qui ont commencé les recherches sur un vaccin anti-COVID-19 dès le début de l’épidémie, en janvier 2020.
Selon son directeur général Ho Nhan, le 15 mai 2020, NANOGEN a été chargée par le ministère des Sciences et Technologies de rechercher un processus de production d’un vaccin.
En juin 2020, la société est déjà parvenue à créer un produit pour des tests sur l’animal. Son vaccin Nano Covax a officiellement été testé le 17 décembre sur trois volontaires.
Le vice-Premier ministre Vu Duc Dam encourage les volontaires et le personnel de l’Académie de médecine militaire durant la deuxième phase d’essai du vaccin Nano Covax sur humain. Photo: VNA
Le 26 février 2021, l’Institut militaire de recherche médicale et pharmaceutique de l’Académie de la médecine militaire a commencé la deuxième phase d’essai clinique du Nano Covax développé par NANOGEN.
Pendant la première phase d’essais cliniques sur l’humain, la vaccination a été effectuée sur 60 volontaires avec trois doses différentes. L’efficacité est allée jusqu’à 90%. Ces réalisations, obtenues en un an seulement, illustrent les efforts remarquables d’une entreprise privée qui a reçu une tâche de recherche importante assignée par l’État.
Présentation du vaccin anti-COVID-19 Nano Covax. Photo: VNA
Présentation du vaccin anti-COVID-19 Nano Covax. Photo: VNA
Présentation du vaccin anti-COVID-19 Nano Covax. Photo: VNA
Présentation du vaccin anti-COVID-19 Nano Covax. Photo: VNA
Expliquant la raison de cette rapidité, le Dr Do Minh Si, directeur pour Recherche et Développement de NANOGEN, a déclaré que la société maîtrisait la technologie depuis 10 ans. Par conséquent, elle n’a besoin que de 5-6 mois pour être en mesure de produire un vaccin candidat.
En plus de la course contre la montre, les chercheurs doivent également faire face à un autre défi majeur qui est l’évolution continue du virus.
Avec le vaccin Nano Covax de NANOGEN, les chercheurs vietnamiens ont montré leurs efforts inlassables de se rapprocher de leurs homologues dans des pays développés.
En raison des ressources limitées, les chercheurs vietnamiens ont rencontré plusieurs difficultés. Par exemple, le Vietnam ne disposait pas d’un laboratoire suffisamment grand pour effectuer des tests sur des singes et rats, alors qu’il était incapable d’envoyer des échantillons à l’essai aux laboratoires étrangers dans le contexte de distanciation sociale.
Les scientifiques de NANOGEN ont surmonté ce défi en se coordonnant avec l’Institut national d’hygiène et d’épidémiologie pour utiliser la salle de biosécurité comme lieu de culture virale et d’effectuer des tests sur des hamsters, conformément aux conditions du laboratoire.
“D’autres pays ont consenti d’énormes investissements dans la recherche de vaccins sans savoir si les résultats de ces essais seront couronnés de succès ou non. Le Vietnam, avec des conditions limitées, ne peut pas faire un investissement aussi risqué”, a indiqué le président de VABIOTECH, Do Tuan Dat.
“Le Vietnam ne songe pas à devenir le leader mondial dans la production de vaccins, mais souhaite toujours se rapprocher d’autres pays et prendre une longueur d’avance en prenant un raccourci”, a-t-il déclaré.
Une fois qu’un vaccin sera trouvé, une nouvelle question se posera au sujet de la production, car elle nécessitera un investissement énorme, afin de répondre aux critères de rapidité et d’efficacité.
“La préparation du personnel et du matériel pour une production la plus rapide possible a été mise en place depuis le processus de recherche”, a partagé le président de VABIOTECH.
Selon des experts, la rapidité du Vietnam dans la recherche d’un vaccin contre le COVID-19 n’est pas surprenante car le pays a déjà des expériences dans la recherche et la production de vaccins. Le Vietnam est capable de produire lui-même 10 des 11 vaccins du Programme national de vaccination élargi.
Un volontaire s’inscrit pour les essais du vaccin Nano Covax. Photo: VNA
Actuellement, le Vietnam compte quatre fabricants qui recherchent des vaccins contre le COVID-19 suivant différentes directions technologiques, à savoir VABIOTECH, IVAC, NANOGEN et POLYVAC. Des experts estiment que les technologies utilisées sont toutes modernes et que le rythme de travail des quatre fabricants sont conformes aux plans proposés. La plupart des vaccins candidats développés au Vietnam s’avèrent sûrs et efficaces, et même face à de nouveaux variants. Cependant, une surveillance et une évaluation à long terme sont toujours nécessaires.
Pham Van Tac, chef du Département des technologies scientifiques et de la formation du ministère de la Santé, a déclaré que la recherche de mesures antiépidémiques était un objectif clé du Vietnam ainsi que d’autres pays du monde entier. En plus de ses réalisations dans le contrôle de l’épidémie, le Vietnam est fier d’être l’un des rares pays au monde à avoir progressé dans la recherche et le développement de vaccins./.
Une experte de VABIOTECH teste la quantité de protéine dans le vaccin anti-COVID-19. Photo: VNA
While Vietnam as a whole is exerting every effort to contain the spread of COVID-19, scientists have been racing against time to develop vaccines – a weapon that will help humankind fight the deadly pandemic and considered the most effective course of action in the long run.
The Institute of Biomedicine and Pharmacy and the Military Medical University rolled out the second phase of human clinical trials of the homegrown Nano Covax vaccine on February 26, developed by the Nanogen Pharmaceutical Biotechnology JSC.
A year ago, news of a development plan for a COVID-19 vaccine came as a surprise for researchers at the Company for Vaccine and Biological Production No 1 (VABIOTECH) under the Ministry of Health. At that time, they were in the UK studying and working with partners on influenza and rabies vaccines.
Vietnam recorded its first COVID-19 case in January 2020. VABIOTECH researchers at the time decided to join hands with their counterparts at the University of Bristol in the UK on COVID-19 vaccine studies based on viral vector technology.
It was an audacious decision, as the world had only started to contemplate COVID-19 vaccine research and no one could foretell a pandemic was on the way.
The virus then quickly spread around the UK, forcing the country to introduce social distancing measures. The research group therefore had to carry out its work in a prompt manner and all outcomes were transferred to Vietnam immediately.
VABIOTECH researchers are exerting every effort to develop COVID-19 vaccine.
Mac Van Trong, one of two researchers from VABIOTECH in the research group, said some members forgot to eat and sleep during those early days, in the hope of creating a complete product quickly. Their greatest challenge was when Europe entered lockdown, triggering a halt to all research activities.
As they had predicted such an eventuality, the group members strived to make the most of their time to meet the schedule.
“We were under huge pressure, because if samples could not be sent to Vietnam on time, our two months of research would be for nothing,” Trong said.
The group had to take full advantage of the remainder of their stay in the UK, maximising their research time in favourable conditions. They returned home just in the nick of time, on the last commercial flight before Vietnam suspended international air routes last March.
After spending two weeks in quarantine, the researchers then doubled their productivity.
Vaccine researchers in the laboratory.
At that time, VABIOTECH’s laboratory had become a “quarantine site serving research” for those returning from the UK. Just one month later, a candidate vaccine was introduced and ready for pre-clinical tests on animals.
“Animal testing at that time was the decisive factor in foreign labs evaluating our working method,” said VABIOTECH President Dr Do Tuan Dat. “Nobody at that time understood the technology we had chosen.”
Not only conducting research but also “finding a way out”, VABIOTECH’s scientists continually faced difficulties posed by the pandemic.
“The biggest problem was social distancing,” Dat said. “The supply of materials for vaccine research remained limited because Vietnam must import everything. Other countries suspended production, while transportation was challenging. The research group strived to find the quickest way to be self-sufficient in materials.” The math was about finding an effective vaccine that could be produced quickly and massively under relatively new technology.
To successfully create a vaccine, researchers have to conquer many challenges.
As one of the units studying COVID-19 vaccines from the onset, when the coronavirus SARS-CoV-2 first appeared in Wuhan, China in January and began spreading to other countries, the Nanogen company kept close track of all relevant information and developments.
General Director of Nanogen Ho Nhan said on May 15, 2020 that the company had been assigned by the Ministry of Science and Technology to study a COVID-19 vaccine.
Later, in June, Nanogen tested the vaccine on animals and it was proven to be safe. Its Nano Covax vaccine was then approved by the Research Ethics Committee and used in human clinical trials, with the first three shots conducted on December 17.
Deputy Prime Minister Vu Duc Dam visits and encourages volunteers and officers at the Military Medical University during the second phase of human trials (Photo: VNA)
With the efforts of researchers, Nano Covax has led the other COVID-19 vaccines being produced at home. Some 120 shots of varying quantities have been given to 60 volunteers, with efficiency of around 90 percent.
Introduction on Nano Covax vaccine (Photo: VNA)
Recruiting volunteers for vaccine trials. The first volunteer received the first shot in the first phase of vaccine trials on December 17 (Photo: VNA)
A volunteer receives the first shot of Nano Covax. Intervals between the two shots will be 28 days. Conditions of volunteers will be thoroughly monitored within 56 days and until the sixth month after the first injection (Photo: VNA)
Employees at Company for Vaccine and Biological Production No 1 (VABIOTECH) examine proteins in COVID-19 vaccine.
Nanogen’s Director of Research and Development Dr Do Minh Si said the company has mastered the technology for a decade, so it only took 5-6 months to produce a candidate vaccine for pre-clinical and clinical studies.
He added that the biggest difficulty faced by scientists has been time and the continual change of the virus.
Vietnamese scientists study homegrown vaccines amid formidable difficulties
Vietnamese scientists made constant efforts to develop a COVID-19 vaccine despite a wide range of formidable challenges.
Laboratories in Vietnam were not large enough to test COVID-19 vaccines on monkeys and mice, while sending vaccines to foreign laboratories was impossible. Nanogen’s scientists then decided to use the National Institute of Hygiene and Epidemiology’s biosafety lab to culture the coronavirus and test vaccines on hamsters, after determining that the lab was fit for the purpose.
“Many countries spent large sums on vaccine development even though they weren’t sure about the testing results,” Dat said. “It was too risky for Vietnam to try it that way.”
“We have never thought about being a leader in the race for a COVID-19 vaccine, but we are trying to do so and eagerly anticipate the vaccine’s success.”
Mass production is another challenge, because of the large costs involved, while inoculation must be carried out in an effective and quick fashion.
“Even as the vaccine was being developed, we considered the preparation of warehousing, human resources, and production facilities,” Dat said.
Experts have said it came as no surprise when Vietnam was successful in studying COVID-19 vaccines because it had considerable experience in vaccine study and production.
Vietnam is one of 40 countries around the world to have begun human trials of a COVID-19 vaccine, after successfully producing coronavirus test kits early.
The country also has several other COVID-19 candidate vaccines under development: IVAC by the Institute of Vaccines and Medical Biologicals, VABIOTECH by the company of the same name, and POLYVAC by the Centre for Research and Production of Vaccines and Biologicals.
Volunteers register for screening and injection during second phase of Nano Covax’s trials (Photo: VNA)
State-of-the-art technologies have been applied in vaccine development. Most made-in-Vietnam vaccines are likely to be effective against the COVID-19 variants, though further evaluation will take time.
According to the head of the Ministry of Health’s Administration of Science, Technology and Training, Pham Van Tac, Vietnam has made a name for itself on the global COVID-19 prevention map.
Along with its achievements in controlling the pandemic, it is proud to be among only a few countries to have taken a giant leap forward in COVID-19 vaccine development./.
Employees at Company for Vaccine and Biological Production No 1 (VABIOTECH) examine proteins in COVID-19 vaccine (Photo: VNA)
Cuando todo Vietnam se apresura a contener la propagación de la pandemia de COVID-19, los científicos corren día y noche para encontrar una vacuna contra la enfermedad, un “arma” para ayudar a la humanidad a combatir ese mal y también la más duradera y eficiente medida antiepidémica.
El 26 de febrero de 2021, el Instituto deBiomedicina y Farmacia Militar, de la Universidad de Medicina Militar de Vietnam, llevó a cabo la segunda fase del ensayo clínico en humanos de la vacuna Nano Covax, desarrollada por la empresa Nanogen.
El plan de estudiar la vacuna contra el COVID-19 vino por sorpresa al grupo de expertos de la empresa VABIOTECH, del Ministerio de Salud, hace un año, cuando se estalló la epidemia. En ese momento, los científicos se encontraban en el Reino Unido para trabajar sobre diferentes tipos de vacunas contra la rabia y la gripe. En enero de 2020, Vietnam registró los primeros casos confirmados del coronavirus. Ante esa situación, los investigadores de VABIOTECH decidieron cambiar de dirección para cooperar con sus colegas de la Universidad británica de Bristol en el desarrollo de un medicamento contra el COVID-19, basado en la tecnología de vector viral. Se trata de una decisión audaz porque en ese momento, el mundo apenas pensaba en el estudio de la vacuna contra el COVID-19 y nadie esperaba que el fenómeno se convirtiera en una pandemia. Posteriormente, el Reino Unido registró fuertes brotes de la infección y tuvo que aplicar las medidas de distanciamiento social. El equipo de investigación se vio obligado a acelerar sus estudios, antes de regresar a Vietnam.
Los expertos de VABIOTECH se esfuerzan por desarrollar la vacuna contra el COVID-19 (Foto: VNA)
Mac Van Trong, uno de los dos expertos de VABIOTECH en la Universidad de Bristol, repasó las arduas jornadas de trabajo de su equipo con la aspiración de desarrollar un producto completo, y dijo: “La mayor dificultad fue cuando Europa aplicó las restricciones y todas las actividades de investigación tuvieron que detenerse. Nuestro equipo aprovechó cada minuto y cada hora, y no descansamos hasta completar el plan trazado”. El grupo aprovechó al máximo su tiempo en el país europeo para realizar los estudios. Esperaron hasta el momento del cierre de la vía aérea a fines de marzo de 2020 para elegir el último vuelo comercial de regreso a la Patria. Tras cumplir 14 días de cuarentena, los investigadores volvieron de forma urgente a sus trabajos para compensar el tiempo perdido, con una intensidad casi el doble de una jornada laboral regular.
Los expertos realizan los análisis en el laboratorio (Foto: VNA)
El laboratorio de VABIOTECH se convirtió en ese periodo en una “habitación de cuarentena para los estudios” de los científicos que regresaban del Reino Unido. Gracias a esa medida, solo un mes después, se completó el desarrollo de una vacuna candidata, que se sometió a las pruebas preclínicas en animales.
“Los ensayos en animales constituyeron una base decisiva para evaluar los resultados que los expertos adquirieron en los laboratorios extranjeros”, reveló Do Tuan Dat, presidente de VABIOTECH. Los científicos de VABIOTECH enfrentaron numerosos desafíos causados por la pandemia, señaló. “La mayor dificultad para los investigadores radica en el distanciamiento social. El suministro de materias primas para desarrollo de las vacunas enfrenta limitaciones porque Vietnam todavía depende de las importaciones, mientras que otros países también sufren del paro de las actividades de producción y transporte”, dijo Tuan Dat, al agregar que su personal siempre busca las soluciones para obtener los recursos de manera proactiva.
El problema de los científicos es desarrollar una vacuna efectiva, que se pueda producir con rapidez y a gran escala, mientras que la tecnología es todavía bastante nueva para ellos, señaló.
Los científicos vietnamitas desafían numerosos desafíos en el desarrollo de la vacuna contra el COVID-19 (Foto:VNA)
Por otro lado, la empresa Nanogen también se encuentra entre las unidades que comenzó a investigar la vacuna contra el COVID-19 desde los primeros días de la aparición del virus SARS-CoV-2 en la ciudad china de Wuhan. Los expertos de la firma siguieron de cerca la evolución e información relacionada con la nueva cepa del coronavirus. Ho Nhan, director general de Nanogen, subrayó que el 15 de mayo del año pasado, el Ministerio de Ciencia y Tecnología asignó a su empresa la tarea de analizar el proceso de fabricación de la vacuna contra el COVID-19, y solo una semana después, el proyecto fue aprobado.
Para junio de 2020, Nanogen presentó una vacuna para las pruebas en animales que fue evaluada como segura. La vacuna Nano Covax también fue aprobada por el Consejo Nacional de Ética y entró oficialmente en la primera fase de ensayos clínicos en humanos el 17 de diciembre de 2020.
El viceprimer ministro Vu Duc Dam visita y alienta a los voluntarios y al personal de la Universidad de Medicina Militar en la segunda fase de ensayos clínicos de la vacuna Nano Covax contra el COVID-19 (Foto: VNA)
Con el esfuerzo de los expertos, Nano Covax figura en el top de las vacunas contra el COVID-19 desarrolladas en el país. Hasta la fecha, se completó la primera fase de ensayo clínico del anticuerpo, en la que 60 voluntarios recibieron 120 inyecciones con tres dosis diferentes. Su nivel de efectividad alcanzó el 90 por ciento.
Presentación de la vacuna Nano Covax (Foto: VNA)
El 17 de diciembre pasado se realizó la primera inyección a los voluntarios de la primera fase de ensayos clínicos de la vacuna Nano Covax contra el COVID-19 (Foto: VNA)
Las inyecciones se realizan con un intervalo de 28 días. El estudio de cada voluntario comprende 56 días y el monitoreo al respecto se prolongará por seis meses a partir de la primera inyección (Foto: VNA)
Científicos de VABIOTECH en el laboratorio (Foto: VNA)
Do Minh Si, director de investigación y desarrollo de Nanogen, destacó que la compañía cuenta con 10 años de experiencia en el estudio de vacunas, por lo que solo necesita entre cinco y seis meses para desarrollar un producto candidato para los ensayos preclínicos y clínicos.
Según el experto, el mayor desafío para los científicos es la cuestión del tiempo, además de la constante evolución del virus SARS-CoV-2.
Con la vacuna de Nanogen, los expertos vietnamitas demostraron una vez más la inteligencia del país indochino en la arena internacional. Sin embargo, los investigadores enfrentaron algunas dificultades relacionadas con los procedimientos administrativos. Además, cabe destacar también que Vietnam no posee un laboratorio lo suficientemente grande para probar las vacunas en monos y ratas, y tampoco puede enviar muestras a laboratorios en el extranjero a causa de las políticas de restricción debido a la epidemia. En consecuencia, Nanogen coordinó con el Instituto Nacional de Higiene y Epidemiología para aprovechar una sala de bioseguridad para cultivar el virus y realizar pruebas en hámsteres, de acuerdo con las condiciones del laboratorio. Según Do Tuan Dat, los países que estudian la vacuna contra el COVID-19 aceptan destinar una gran inversión, independientemente de los resultados de la investigación, sin embargo, en el caso de Vietnam, con sus condiciones limitadas, no se puede arriesgar una suma de capital tan grande”.
“Cuando desarrollamos la vacuna con pocos recursos, no nos atrevemos a pensar en tomar la iniciativa, pero siempre tratamos de garantizar el acceso a diferentes tecnologías”, dijo.
La producción también enfrentará dificultades, puesto que ese proceso se asocia con una gran inversión, y requiere de la rapidez y eficiencia, continuó, al agregar que, “cuando hacemos una investigación, tenemos que preparar las fábricas, el personal y las instalaciones para poder comenzar la producción lo antes posible”.
Según los expertos, el hecho de que Vietnam haya podido desarrollar las vacunas contra el COVID-19 durante un corto período de tiempo no constituye una sorpresa, puesto que el país posee mucha experiencia en la investigación y producción de vacunas. El país indochino produjo por sí solo numerosas vacunas bajo el Programa Ampliado de Inmunización, lo que constituye una base para la fabricación rápida y efectiva del medicamento contra el coronavirus.
Voluntarios se registran a la segunda fase de ensayos clínicos de la vacuna Nano Covax contra el COVID-19 (Foto: VNA)
Actualmente, cuatro fabricantes vietnamitas se empeñan en estudiar las vacunas contra el COVID-19 con diferentes direcciones tecnológicas. Los expertos evaluaron que pese a la diferencia, esas tecnologías son todas avanzadas y el progreso de la investigación corre al tiempo con el plan propuesto. La mayoría de los productos hechos en Vietnam es capaz de responder a las nuevas cepas del virus, aunque todavía requieren de monitoreo y evaluación.
Pham Van Tac, director del Departamento de Ciencia, Tecnología y Capacitación, del Ministerio de Salud, enfatizó que Vietnam ha puesto su nombre en el mapa mundial en la lucha contra la pandemia. El control y la prevención contra el COVID-19 se han convertido en una meta para la nación del Sudeste Asiático y el orbe. Además, Vietnam se enorgullece de ser una de las pocas naciones en alcanzar avances en el desarrollo de la vacuna contra ese mal./.
Científicos de VABIOTECH en el laboratorio (Foto: VNA)
В то время, когда вся страна направлена на ликвидацию эпидемии COVID-19, в лабораториях ученые днем и ночью участвуют в другой гонке – гонке за вакциной – “оружия”, которое поможет людям победить эпидемию и одновременно являясь наиболее эффективным и долгосрочным средством защиты здоровья.
26 февраля 2021 года Военный медицинский и фармацевтический научно-исследовательский институт и Военная медицинская академия провели вторую фазу клинических испытаний вакцины против COVID-19 Nano Covax, разработанной компанией Nanogen.
Год назад в самом начале вспышки эпидемии COVID-19 план исследования вакцины против COVID-19 был неожиданностью для ученых компании VABIOTECH Министерства здравоохранения. В то время ученые были в Великобритании, работая с партнерами над вакцинами против бешенства и гриппа.
В январе 2020 года во Вьетнаме были зарегистрированы первые случаи заболевания COVID-19. Ученые VABIOTECH решили сразу переключались на сотрудничество с учеными из Бристольского университета (Великобритания) для исследования вакцины от COVID-19 на основе вирусной векторной технологии.
Это было довольно смелым решением, поскольку в то время в мире никто не ожидал, что эта болезнь перерастет в пандемию, а создание вакцины против COVID-19 только было в виде идеи. После этого в самой Великобритании произошла такая сильная вспышка пандемии, что был применен режим социального дистанцирования. Поэтому исследовательской группе пришлось очень быстро выполнить свою работу, а все результаты работы срочно передать во Вьетнам.
Ученые компании VABIOTECH в лаболатории вакцины против COVID-19.
Магистр Мак Ван Чонг, один из двух исследователей VABIOTECH в исследовательской группе Бристольского университета, сказал: “Это были те дни, когда исследовательская группа стремилась получить законченный продукт. Самая большая трудность возникла, когда Европа была заблокирована и все исследовательские работы пришлось приостановить. Предвидя эту ситуацию, группа использовала каждую минуту, каждый час, забыла про выходные, спала по несколько часов в день, чтобы выполнить план. Мы оказались под большим давлением, проводя исследования в Великобритании, потому что, если нам не удастся вовремя перевезти образцы во Вьетнам, то результаты исследований за почти 2 месяца будут напрасными”.
Затем группе пришлось остаться в Англии, чтобы максимально использовать время для исследований в лучших условиях. В конце марта 2020 года они выбрали последний коммерческий рейс, чтобы успеть вернуться домой до полного всемирного закрытия авиаперелетов. Отбыв 14 дней карантина на Родине, исследователи срочно вернулись к работе, удвоив свой темп.
Исследователи вакцины в лаболатории.
Лаборатория VABIOTECH в то время стала “карантинным помещением для исследований” и ученых, вернувшихся из Великобритании. Благодаря этому всего через месяц вакцина-кандидат была завершена и была запущена для доклинических испытаний на животных.
“Испытания на животных в то время были решающей основой для оценки работы группы. В то время все факторы были совершенно новыми, и никто не понимал выбранную нами технологию”, – сказал доктор До Туан Дат, президент VABIOTECH.
Ученые VABIOTECH также столкнулись со многими проблемами, вызванными эпидемией COVID-19.
“Самая большая трудность для исследователей – это режим социального дистанцирования. Поставки материалов для исследований вакцин были ограничены из-за сложностей в импорте, а также приостановлении производства и поставок. Исследовательская группа должна найти самый быстрый способ импорта”, – сказал Дат. Несмотря на то, что технология была довольно новая, перед учеными была поставлена задача разработать эффективную вакцину, и чтобы ее производство отвечало требованиям по времени и количеству.
Ученые VABIOTECH также столкнулись со многими проблемами, вызванными эпидемией COVID-19.
Другое подразделение, которое начало исследование вакцин против COVID-19 с января 2020 года, когда вирус SARS-CoV-2 с Ухана (Китай) распространился на весь мир – компания Nanogen. Ее генеральный директор Хо Ньян, сказал, что 15 мая 2020 года Министерство науки и технологий поручило компании Nanogen исследовать процесс производства вакцины для профилактики COVID-19, а всего через неделю проект был официально утвержден и возложен на предприятие для реализации.
К июню 2020 года Nanogen выпустила продукт для тестирования на животных, который был признан безопасным. Одновременно с этим, вакцина Nano Covax была одобрена Национальным советом по этике и 17 декабря 2020 года официально готова для испытания на людях.
Заместитель премьер-министра Ву Дык Дам посетил добровольцев и работников военной медицинской академии во второй фазе испытания вакцитны против COVID-19 на людях. (Фото: ВИА)
Вакцина Nano Covax усилиями исследователей заняла первое место в списке вакцин против COVID-19 в стране. К настоящему времени вакцина завершила первую фазу клинических испытаний на людях. 120 инъекций были сделаны 60 добровольцам, а эффективность защиты достигла 90%. Такой результат и всего за год стал возможным благодаря огромным усилиям частного предприятия по выполнению важных исследовательских задач, поставленных государством.
Презентация вакцины NANO COVAX против COVID-19. (Фото: ВИА)
Идет набор добровольцев для участия в испытании вакцины, первая фаза которого началась 17 декабря. (Фото: ВИА)
Первая инъекция вакцины против COVID-19 Nano Covax добровольцам во Вьетнаме. Интервал между 2 инъекциями – 28 дней. За добровольцами наблюдают в течение 56 дней для оценки эффективности, медицинское наблюдение за ними проводится в течение 6 месяцев с момента первой инъекции. (Фото: ВИА)
Работники компании по производству вакцин и биологических продуктов № 1(VABIOTECH) проверил количественный белок в вакцине COVID-19. (Фото: ВИА)
Доктор До Минь Ши, директор по исследованиям и развитию компании Nanogen, сказал, что, молниеносная скорость в разработке вакцины обеспечена уровнем освоения технологии. Но, по его словам, самая большая проблема для исследователей – это вопрос времени и постоянная мутация вируса SARS-CoV-2.
Разработав вакцину против COVID-19 вьетнамские ученые доказали, что научное развитие Вьетнама не уступает мировому уровню.
Однако исследователи также столкнулись с некоторыми проблемами в рамках процедуры испытаний вакцины, кроме того, Вьетнам не имел достаточно большой лаборатории для тестирования вакцин на обезьянах и крысах, а отправлять образцы в зарубежные лаборатории во время дистанцирования было нельзя. Ученые Nanogen сотрудничали с Национальным институтом гигиены и эпидемиологии, чтобы воспользоваться его биобезопасной лабораторией для выращивания вируса и проведения испытания на хомяках. Г-н Дат сказал: “В рамках исследований многие страны вкладывали огромные средства, независимо от конечного результата. Однако из-за ограниченных средств Вьетнам не мог рисковать большой суммой денег”.
Производство вакцины также было связано с трудностями, поскольку необходимы огромные инвестиции в кротчайшие сроки и с высокой эффективностью.
“Во время исследований вакцины мы должны были подумать и о подготовке последующих этапов ее производства”, – добавил Дат.
По мнению экспертов, тот факт, что Вьетнам смог быстро изучить и разработать вакцины против COVID-19 в течение короткого времени, неудивителен, поскольку страна имеет большой опыт в исследованиях и производстве вакцин. Вьетнам уже самостоятельно производит много вакцин в рамках расширенной программы иммунизации населения, и это является основой для быстрого и эффективного производства вакцины против пандемии COVID-19.
В настоящее время во Вьетнаме четыре производителя исследуют вакцины против COVID-19 в различных технологических направлениях. Эксперты оценили, что технологии хоть и разные, но они все продвинутые, и исследования идут в соответствии с предложенным планом. Большинство продуктов, исследуемых и производимых во Вьетнаме, способны реагировать на штаммы вируса.
По словам Фам Ван Така, директора Департамента науки, технологий и обучения Министерства здравоохранения, Вьетнам вписал свое имя в мировую работу по предотвращению эпидемии COVID-19. Профилактика эпидемий и борьба с ними стали целями Вьетнама, а также других стран мира. Наряду с успехами в борьбе с распространением эпидемии Вьетнам гордится тем, что является одной из немногих стран в мире, добившихся прогресса в разработке профилактических вакцин против COVID-19./.
Сотрудники компании по производству вакцин и биологических продуктов № 1(VABIOTECH) проверил количественный белок в вакцине COVID-19. (Фото: ВИА)