BREXIT

Cuộc bỏ phiếu ở Anh vào năm 2016 về việc rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) là một sự kiện gây chấn động. Người dân Anh đã phớt lờ lời khuyên của các nhà lãnh đạo mọi đảng phái chính trị lớn của họ và hầu hết các chuyên gia.

George Osborne, Bộ trưởng Tài chính Anh, nói với các cử tri rằng việc rời khỏi EU sẽ tàn phá nền kinh tế Anh. Tổng thống Mỹ Barack Obama từng cảnh báo rằng việc này sẽ làm giảm ảnh hưởng của Anh trên trường quốc tế. Các thị trường tài chính, nhiều tổ chức thăm dò ý kiến và các học giả chính trị đều dự đoán rằng các cử tri sẽ để tâm đến lời khuyên của giới tinh hoa. Tuy nhiên, họ đã quyết định không làm vậy khi khởi động một tiến trình chắc chắn sẽ biến đổi đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước.

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi cuộc trưng cầu dân ý đã dẫn tới sự xuất hiện ồ ạt các cuốn sách tìm cách giải thích, hoặc ít nhất là mô tả, điều đã xảy ra. Nhịp độ xuất bản học thuật đồng nghĩa với việc hầu hết các cuốn đã xuất hiện là những mô tả chóng vánh và thô thiển của các nhà báo hoặc các chính trị gia và các cố vấn của họ. Trong số này có 2 cuốn nổi bật: “Giải phóng những con quỷ dữ” của Craig Oliver, người từng giữ chức giám đốc truyền thông của Thủ tướng David Cameron, và “Chiến tranh toàn lực” của nhà báo Tim Shipman.

Hai cuốn sách này kể lại câu chuyện về Brexit theo các cách khác nhau. Oliver đã rút ra nhiều điều từ nhật ký của ông để mô tả một phần phe Ở lại, trong khi Shipman kể lại lịch sử trọn vẹn của toàn bộ chiến dịch này. Nhưng cả 2 đều là lịch sử của giới tinh hoa, tập trung vào lời nói và hành động của các nhà lãnh đạo chính trị thay vì chi tiết về các hoạt động trên thực địa hay lý do giải thích tại sao hơn 33 triệu người lại bỏ phiếu như họ đã làm.

Các hoạt động của giới tinh hoa dĩ nhiên là quan trọng. Êkíp của Cameron đã mắc những sai lầm to lớn về chính sách nhập cư, việc truyền đạt thông điệp và quyết định ngay từ đầu tổ chức cuộc trưng cầu dân ý. Tuy vậy, vì cả Oliver và Shipman đều tập trung vào giới tinh hoa và trong một giai đoạn tương đối ngắn, về cơ bản từ đầu năm 2016 đến cuộc bỏ phiếu ngày 23/6, họ phần lớn phớt lờ những xu hướng dài hạn hơn đã tạo nên cuộc bỏ phiếu rời khỏi EU: sự mất lòng tin ngày càng gia tăng vào các chính trị gia và chuyên gia, tình hình thê thảm do chính sách thắt lưng buộc bụng về kinh tế nhiều năm và một bộ máy chính trị hội tụ ở trung ương.

Cách thua cuộc trong một cuộc trưng cầu dân ý

Nhiều năm trước cuộc trưng cầu dân ý, êkíp của ông Cameron đã mắc một loạt sai lầm khiến sự nghiệp của họ, cũng như chiến dịch Ở lại chính thức sau đó, bị sụp đổ. Sai lầm nghiêm trọng nhất liên quan đến việc nhập cư. Trước cuộc bầu cử năm 2010, ông Cameron đã hứa hẹn giảm tổng số người nhập cư hàng năm vào Anh từ hơn 200.000 người xuống “hàng chục nghìn người”.

Tuy nhiên, quy tắc về quyền tự do đi lại của EU khiến cho lời hứa này không thể thực hiện được. Nhưng tại đại hội đảng Bảo thủ vào tháng 10/2014, ông Cameron đã đẩy mạnh cam kết. Ông tuyên bố: “Nước Anh, tôi biết các bạn muốn việc này được thu xếp, nên tôi sẽ tới Brussels, tôi sẽ không chấp nhận câu trả lời ‘không’, và khi nói đến vấn đề tự do đi lại, tôi sẽ có được điều mà nước Anh cần.” Bằng cách ám chỉ rằng việc kiểm soát sự di cư từ EU là khả thi, ông Cameron đã tạo ra những kỳ vọng mà ông không thể đáp ứng. Tới tháng 2/2016, nỗ lực của ông nhằm đàm phán lại vấn đề nhập cư với EU đã biến thành một thảm họa chính trị.

Mặc dù ông đã giành được khả năng giới hạn quyền tiếp cận một số phúc lợi đối với người di cư EU trong 4 năm đầu tiên sau khi họ tới Anh, thỏa thuận này còn xa mới đạt tới các yêu cầu của những người hoài nghi châu Âu. Trên thực tế, ông đã chấp nhận câu trả lời “không.” Shipman, người rõ ràng đã nói chuyện một cách chi tiết với hầu hết những người quan trọng, giải thích chiến dịch Ra đi đã nhận ra tầm quan trọng của vấn đề nhập cư ngay từ đầu như thế nào. Sau khi các số liệu chính thức được công bố vào cuối tháng 5 cho thấy số người nhập cư thuần đã gia tăng trong năm trước đó, chiến dịch Ra đi đã nhắm mục tiêu vào vấn đề này một cách không khoan nhượng. Phe Ở lại đã phải vật lộn để đáp trả.

Shipman cũng cho thấy khuynh hướng của ông Cameron đặt số phận của đảng Bảo thủ lên trên số phận của đất nước đã dẫn ông tới nhiều sai lầm ngớ ngẩn như thế nào, đầu tiên là quyết định ngay từ đầu tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý.

Năm 2013, áp lực không ngừng từ những nghị sỹ cấp thấp thuộc đảng Bảo thủ, cùng với nỗi lo sợ đánh mất cử tri vào tay đảng Độc lập Vương quốc Anh, hay còn gọi là UKIP, một đảng hoài nghi châu Âu và bài nhập cư, đã đẩy Cameron đến chỗ hứa hẹn bổ sung một cuộc trưng cầu dân ý vào cương lĩnh tiếp theo của đảng Bảo thủ. Làm như vậy dĩ nhiên giúp ông lật ngược thế bất lợi và chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2015, nhưng cuối cùng, nó đã chứng tỏ là một động thái thiển cận.

Trong phần lớn chiến dịch, ông Cameron và Osborne từ chối tấn công trực diện 2 nhân vật ủng hộ Brexit hàng đầu trong đảng Bảo thủ là Michael Gove và Boris Johnson

Việc Oliver, một người trung thành với ông Cameron, không mấy sẵn sàng thừa nhận rằng sự đoàn kết của đảng xếp trên lợi ích quốc gia là điều dễ hiểu. Nhưng ông đem lại một sự hiểu biết sâu sắc về cách thức thủ tướng và êkíp của ông tiếp cận vấn đề này khi ông lập luận rằng nếu không có lời hứa hẹn về một cuộc trưng cầu dân ý, “đảng Bảo thủ, và do vậy là đất nước, sẽ trở nên hầu như không thể điều hành được.” Việc Oliver tin rằng chỉ có đảng Bảo thủ mới điều hành được nước Anh cũng có nghĩa là đối với ông, các lợi ích của đảng và của đất nước là như nhau.

Như Shipman đã mô tả chi tiết, trong suốt chiến dịch này, mong muốn của Cameron duy trì sự đoàn kết của đảng Bảo thủ mang tính quyết định trong việc hình thành các chiến thuật của ông. Khi đối mặt với các đối thủ ưa kích động các cuộc chiến trong nội bộ đảng Bảo thủ, phố Downing đã lưỡng lự trong việc đáp trả. Trong phần lớn chiến dịch, ông Cameron và Osborne từ chối tấn công trực diện 2 nhân vật ủng hộ Brexit hàng đầu trong đảng Bảo thủ là Michael Gove và Boris Johnson. Một ví dụ là việc chiến dịch Ở lại đã thiết kế một tấm áp phích với ý định bôi nhọ phe Ra đi là “cùng một giuộc” với chủ nghĩa cực đoan bằng việc trưng ra hình ảnh Johnson trong túi ngực của Nigel Farage, nhà lãnh đạo UKIP.

Cuối cùng, êkíp của ông Cameron đã rút bỏ tấm áp phích về Johnson và Farage do lo sợ rằng nó sẽ gây khó khăn hơn cho việc hòa giải hậu trưng cầu dân ý trong đảng Bảo thủ. Sau cuộc bỏ phiếu, Matthew Elliot, người đứng đầu chiến dịch Ra đi, đã bày tỏ với tờ Financial Times sự ngạc nhiên trước quyết định này. Ông cho rằng việc liên hệ những người đào ngũ cấp cao trong đảng Tory (đảng Bảo thủ – ND) với UKIP như “những kẻ cánh hữu gàn dở và điên rồ” sẽ là “chí tử” đối với những hy vọng của phe Ra đi.

(Nguồn: BBC)
(Nguồn: BBC)

Như cuốn “Chiến tranh toàn lực” giải thích, Công đảng cũng đang tự chia rẽ vì vấn đề EU. Cuộc trưng cầu dân ý diễn ra ngay khi bộ máy ủng hộ EU của Công đảng đang ở thế bất lợi. Năm 2015, đảng đã bầu Jeremy Corbyn từ phe cực tả lên làm lãnh đạo, người từng bỏ phiếu ủng hộ rời khỏi Cộng đồng kinh tế châu Âu (nguyên mẫu đầu tiên của EU) trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1975 và đã phản đối nhiều hiệp ước EU với tư cách một nghị sỹ Quốc hội.

Trước thềm cuộc trưng cầu dân ý, Corbyn ủng hộ việc ở lại EU, nhưng Shipman đưa ra chi tiết rất tỉ mỉ về việc êkíp của ông đã miễn cưỡng đến mức nào trong việc hợp tác với chiến dịch Ở lại chính thức. Shipman trích lời Alan Johnson, một nghị sỹ Công đảng và lãnh đạo nhóm ủng hộ Ở lại trong đảng của ông: “Các cố vấn của Jeremy… hoàn toàn muốn rời khỏi EU. Họ có thể là các nhà lãnh đạo Công đảng, nhưng họ có xăm hình búa liềm ở đâu đó”.

Không có bản mô tả nào về chiến dịch là hoàn chỉnh nếu không xem xét đến các phương tiện truyền thông. Oliver làm tốt nhất ở điểm này, đặc biệt là khi nói tới BBC. Trước khi tham gia chính phủ, ông từng giữ một số vai trò trong tập đoàn này, trong đó có nhiệm vụ biên tập viên của chương trình thời sự quan trọng nhất vào 6 giờ chiều và 10 giờ tối. Theo lưu ý của ông, tập đoàn này tự đặt mình vào hoàn cảnh khó khăn khi cố gắng tỏ ra cân bằng.

Đứng trước các tuyên bố cạnh tranh lẫn nhau, BBC thường không đặt câu hỏi về giá trị của tuyên bố này hay tuyên bố khác, mà cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách đơn giản là cho 2 bên thời lượng phát sóng ngang nhau

Đứng trước các tuyên bố cạnh tranh lẫn nhau, BBC thường không đặt câu hỏi về giá trị của tuyên bố này hay tuyên bố khác, mà cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách đơn giản là cho 2 bên thời lượng phát sóng ngang nhau. Chẳng hạn, mặc dù số lượng áp đảo các chuyên gia giữ vững ý kiến rằng rời khỏi EU sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế Anh, nhưng như thường lệ, BBC đặt một trong số ít nhà kinh tế ủng hộ Brexit bên cạnh một tiếng nói ủng hộ Ở lại mà không đề cập đến việc các nhà kinh tế ủng hộ Ở lại rõ ràng vượt trội.

Như Oliver kể, mặc dù phe Ở lại đã tìm cách gây được sức ép để BBC phản ánh ý kiến chuyên gia một cách chính xác hơn trên các chương trình phát thanh và truyền hình quan trọng nhất của họ, nhưng họ đạt được ít thành công hơn trong việc định hình những hoạt động đưa tin khác của tập đoàn này.

Điều này khiến họ tổn hại nghiêm trọng vì mặc dù phần lớn giới quyền uy nước Anh nghe một vài chương trình phát thanh truyền hình chủ yếu – chương trình Today trên BBC Radio 4 và Newsnight trên BBC Two – nhưng đa phần công chúng không làm vậy. Và các phương tiện truyền thông phổ biến nhất, chẳng hạn như các chương trình ca nhạc (mà trong đó cũng có các bản tin và các cuộc tranh luận về các vấn đề thời sự) và trang mạng BBC, thường được xem xét ít kỹ lưỡng hơn nhiều về mặt biên tập so với các chương trình chính của BBC.

Tuy nhiên, cuối cùng, dù có những sự sẩy chân của Công đảng và giới truyền thông, kết quả trưng cầu dân ý chủ yếu bắt nguồn từ thất bại của chính quyền đảng Bảo thủ. Kêu gọi một cuộc trưng cầu dân ý không cần thiết, họ đã hiểu lầm chính người dân của mình và thua cuộc dù đã lập luận rằng thất bại sẽ gây ra những hậu quả thảm khốc.

(Nguồn: AFP)
(Nguồn: AFP)

Trễ hẹn từ lâu

Trong phần giới thiệu của mình, Shipman thừa nhận rằng mối quan hệ trước đây với EU có thể “quan trọng hơn những gì đã xảy ra trong chiến dịch vận động cho cuộc trưng cầu trong việc xác định kết quả”. Ông đã đúng. Chủ nghĩa hoài nghi châu Âu ở Anh đã được hình thành từ lâu. Hạt giống của chiến dịch Ra đi đã được gieo trong các cuộc chiến cay đắng trong Quốc hội vào đầu những năm 1990, khi một nhóm nghị sỹ Bảo thủ hoài nghi châu Âu nổi dậy chống lại chính phủ của chính họ về việc thông qua Hiệp ước Maastricht thành lập nên EU. Cuộc chiến xoay quanh hiệp ước này cũng dẫn tới việc thành lập UKIP, được hình thành từ một nhóm thuộc chiến dịch bài Maastricht.

Tuy nhiên, cuộc bỏ phiếu Brexit không chỉ phản ánh chủ nghĩa hoài nghi châu Âu đang sôi sục. Nó còn là kết quả của sự chán ghét ngày càng tăng dành cho các chính trị gia, các chuyên gia và hệ thống kinh tế Anh. Trong những năm trước cuộc bầu cử, nước này đã chứng kiến một sự sụt giảm liên tục lòng tin vào các chính trị gia. Người ta lan truyền nhận thức rằng chính trị không đưa ra câu trả lời nào cả. Cả Công đảng lẫn đảng Bảo thủ đều tin vào những ý tưởng như nhau: tư duy kinh tế tân tự do và một nghị trình văn hóa tự do xã hội. Chẳng hạn, chính một liên minh do đảng Bảo thủ dẫn dắt đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới vào năm 2014. Và do đó công chúng ngày càng coi các chính trị gia đều giống nhau.

Chính quyền Cameron đã làm trầm trọng thêm sự mất lòng tin và thờ ơ đang gia tăng này. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, chính quyền đã theo đuổi các chính sách thắt lưng buộc bụng đánh vào tầng lớp khó khăn nhất trong xã hội một cách không tương xứng. Và ngay cả khi tăng trưởng GDP hồi phục, hầu hết mọi người hầu như không nhận thấy lợi ích gì. Chẳng hạn, tiền lương thực tế đã giảm hơn 10% từ năm 2007 đến năm 2015.

Cả hai cuốn sách đều không nắm bắt được phần lớn bối cảnh này. Nhưng sự vắng mặt của nó trong mô tả của Oliver – từ “thắt lưng buộc bụng” không hề xuất hiện – đặc biệt gây khó chịu. Xét cho cùng, chính phủ mà Oliver đã làm việc cho từ năm 2011 đóng một vai trò cốt yếu trong việc xa lánh những người đi bỏ phiếu nhằm cho bộ máy chính trị “một vố đau.”

Trong chiến dịch trưng cầu dân ý, các xu hướng này đã kết hợp để vận động một vài nhóm khác nhau ủng hộ Brexit. Gần 3 triệu người không bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 2015 đã đi bỏ phiếu trong năm 2016. Những người tán thành với các giá trị xã hội mang tính bảo thủ có khả năng bỏ phiếu Ra đi cao hơn nhiều. Phe này thu được kết quả tốt ở các vùng của nước Anh mà ở đó việc làm khó kiếm, dễ mất và trả công tồi; nhà ở hợp túi tiền thì khan hiếm; và các cấp giáo dục được xếp hạng thấp hơn nhiều so với ở London.

Ở những nơi này, người dân không còn tin vào những gì các chuyên gia hay các chính trị gia nói về nền kinh tế, và hoài nghi sâu sắc những người cho rằng nguyên trạng là lựa chọn an toàn hơn. Shipman trích dẫn một nguồn tin thuộc chiến dịch của Công đảng, người đã nói với ông rằng vấn đề của việc chiến dịch Ở lại tập trung vào những mối nguy hiểm kinh tế trên lý thuyết của Brexit là việc các cử tri Công đảng nghèo hơn ở miền Đông Bắc và Tây Bắc vốn đã cảm thấy nền kinh tế không phù hợp với họ.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Hậu quả

Bất chấp vai trò chủ chốt của kinh tế trong chiến dịch Brexit, các tác động trực tiếp của nó lại mang tính chính trị. Buổi sáng sau cuộc bầu cử, ông Cameron đã từ chức. (Tờ The Sun trích dẫn lời ông bày tỏ mong muốn tránh phải đưa Brexit vào vận hành. Ông hỏi các phụ tá khi nói chuyện riêng: “Tại sao tôi lại phải làm những việc khó khăn cho người khác, chỉ để đặt mọi thứ lên một chiếc đĩa rồi đem dâng cho họ?”) Ông không chỉ để lại cho người kế nhiệm mình, Theresa May, một loạt cuộc đàm phán có thể là gây thách thức nhất mà Anh từng thực hiện trong thời bình, mà còn không để lại kế hoạch nào cho tình huống bất ngờ (rõ ràng việc lên kế hoạch như vậy trước cuộc bầu cử sẽ khiến mọi chuyện trông có vẻ tồi tệ).

Kết quả là, dưới thời bà May, bộ máy công vụ đã dành phần lớn năm 2016 để phân tích cách thức Brexit tác động tới Anh và họ nên tiếp cận các cuộc đàm phán với EU như thế nào trước khi đất nước rời khỏi liên minh vào ngày 29/3/2019. Chậm mà chắc, lập trường của bà May đã kết tinh. Theo quan điểm của bà, việc tôn trọng kết quả trưng cầu dân ý đồng nghĩa với cái gọi là Brexit cứng. Hàm ý của nó là đưa đất nước ra khỏi thị trường chung và liên minh thuế quan của EU, những điều mà cùng với nhau bao hàm các quy tắc và tiêu chuẩn quy chế chung cũng như việc không có các cuộc kiểm tra hải quan nội bộ, khiến thị trường trên khắp EU giống như thị trường của một quốc gia đơn lẻ. Nhưng một Brexit cứng không phải là cách duy nhất để diễn giải kết quả trưng cầu dân ý. Chẳng hạn, một cách khác là “lựa chọn của Na Uy” mà theo đó Anh sẽ ở lại thị trường chung ngay cả sau khi rời khỏi EU.

Dù chính phủ quyết định thông qua kiểu Brexit nào, Anh dường như sẽ có vài năm hỗn loạn. Ngay lúc này, các dấu hiệu cảnh báo về kinh tế đã xuất hiện rõ ràng. Lạm phát đang trên đà tăng, một phần bởi đồng bảng Anh giảm giá ngay sau cuộc trưng cầu dân ý. Niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng đã giảm sút. Và mọi việc có khả năng trở nên tồi tệ hơn trước khi trở nên tốt hơn.

Các nhà kinh tế dự đoán rằng một Brexit cứng sẽ dẫn tới sự sụt giảm 40% trong thương mại với EU, đối tác thương mại lớn nhất của Anh. Nền kinh tế Anh sẽ phải thích nghi khi một số ngành xuất khẩu suy giảm và các công ty, đặc biệt là trong ngành chế tạo và dịch vụ, xem xét việc di chuyển tới các quốc gia thuộc thị trường chung và liên minh thuế quan của EU. Sự thích nghi này có thể sẽ tỏ ra là một tiến trình chậm chạm và đau đớn.

Nhà nước Anh cũng sẽ phải thay đổi để đối phó với Brexit. Họ sẽ phải tổ chức các dàn xếp hải quan mới, ban hành những quy chế và chính sách mới ở các lĩnh vực như nông nghiệp và nhập cư, và thiết lập các cơ quan quản lý mới để thay thế các cơ quan của EU. Trong vài năm tới, khó mà mường tượng được ngoài việc thực hiện Brexit, chính phủ có thể làm được nhiều việc khác bằng cách nào.

Dĩ nhiên, cách tiếp cận của chính phủ đối với Brexit có thể thay đổi. Nước Anh ổn định, thực dụng của thời xưa không còn nữa. Chính trị đã trở nên kích động và không đoán trước được. Bà May đang đứng đầu một chính phủ thiểu số. Các bộ trưởng cãi nhau công khai. Các công chức cấp cao tiết lộ nhiều câu chuyện gây tổn hại tới các “sếp” chính trị của họ cho báo giới.

Ngày càng có nhiều người dường như coi sự bất ổn này là một dấu hiệu cho thấy kết quả của cuộc trưng cầu dân ý có thể bị lật lại. Nhưng khó mà mường tượng được điều đó có thể xảy ra như thế nào. Đảng Bảo thủ (với ngoại lệ là một vài người thân châu Âu ngoan cố) đã cam kết sẽ tiến hành Brexit. Và ban lãnh đạo hiện tại của Công đảng, vốn chưa bao giờ đặc biệt thiết tha với tư cách thành viên EU, đã quyết định duy trì lập trường mơ hồ trong vấn đề đã giúp họ có được kết quả vượt mong đợi trong cuộc bầu cử vừa qua.

Tuy nhiên, những người mà sự kiêu ngạo và sự sẵn sàng đặt đảng phái lên trên đất nước của họ đã đưa nước Anh vào tình thế này đều đang phát đạt. Ông Cameron đã tham gia các cuộc diễn thuyết quốc tế, và giữa những chuyến đi, ông viết hồi ký trong một khu vườn thiết kế tiêu tốn của ông 25.000 bảng Anh. Osborne, kiến trúc sư của chính sách thắt lưng buộc bụng mà đã bần cùng hóa nhiều người và khiến họ cảm thấy chán nản, đã được thuê làm biên tập viên của tờ London Evening Standard có sức ảnh hưởng lớn, dù ông hoàn toàn không có kinh nghiệm làm báo.

Còn về bản thân Oliver, ông đã được phong tước hiệp sĩ vì những thành tựu của mình và hiện kiếm sống bằng công việc tại một công ty tư vấn cấp cao chuyên đưa ra lời khuyên về Brexit. Ông kết thúc cuốn sách của mình bằng một lời cầu xin thay mặt cho thủ trưởng cũ: “Tôi hy vọng lịch sử sẽ tử tế với ông”. Hầu như chẳng có lý do nào để lịch sử nên như vậy cả./.

Du lịch Việt Nam

Du lịch hiện đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp hiệu quả cho công cuộc dựng xây đất nước, góp phần quảng bá hình ảnh và khẳng định vị thế của đất nước trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới.

Đất nước của miền di tích, danh thắng

Việt Nam là đất nước có tiềm năng lớn về du lịch. Ngoài những di sản thế giới như: Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Tràng An, thành nhà Hồ, Hoàng Thành Thăng Long…, Việt Nam còn thu hút khách du lịch nước ngoài với hàng loạt địa điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền Tổ quốc. Đó là các hệ sinh thái biển (Phú Quốc – Kiên Giang, Nha Trang – Khánh Hòa, Mũi Né – Bình Thuận, Đà Nẵng…), hệ sinh thái sông hồ (Khoang Xanh Suối Tiên, Ao Vua…), hệ sinh thái rừng (vườn quốc gia Ba Bể, Bái Tử Long, Ba Vì, Cát Bà…) hay hệ sinh thái hang động (Tam Cốc Bích Động, Tràng An…).

Đặc biệt, với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú. Trong số 40.000 di tích lịch sử trên khắp miền đất nước, có khoảng 3.000 di tích đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng. Có thể kể đến một số di tích nổi bật như: Cố đô Hoa Lư, Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Đền Hùng, Dinh Độc Lập…

Thêm vào đó, những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị của Việt Nam cũng là yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch. Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông ra đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và hàng không. Đây là tiền đề rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế.

Những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị của Việt Nam là yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch

Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có du lịch phát triển. Đặc biệt, việc Việt Nam đang tham gia ngày càng nhiều vào các tổ chức quốc tế, các hiệp định thương mại song phương và đa phương cũng là một yếu tố thuận lợi phát triển ngành công nghiệp “không khói.”

Tạo lực cho ngành công nghiệp “không khói”

Nhận thức được tiềm năng du lịch to lớn, nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã thông qua nhiều chủ chương, chính sách, chiến lược nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch như: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, Chương trình hành động quốc gia về du lịch, Luật Du lịch…

Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch cũng được thành lập. Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có Ban Chỉ đạo phát triển du lịch địa phương. Cùng với đó, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến du lịch như Pháp lệnh xuất, nhập cảnh, cư trú, đi lại cho người Việt Nam, cho người nước ngoài và các văn bản liên quan khác được bổ sung; thủ tục hải quan được cải tiến thuận tiện hơn.

Cảnh non nước hữu tình trên Vịnh Hạ Long. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Cảnh non nước hữu tình trên Vịnh Hạ Long. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Việc miễn visa cho công dân các nước cũng là giải pháp chủ động, tích cực để thu hút khách và các nhà đầu tư. Đến nay, du khách của 22 quốc gia đã được miễn visa khi đến Việt Nam.

Đặc biệt, ngày 16-1-2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhằm đưa Việt Nam vào nhóm nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu.

Đảm bảo phục vụ hàng chục triệu du khách mỗi năm

Từ năm 2006 đến nay, lĩnh vực du lịch thu hút khoảng 10 tỷ USD FDI và khoảng 300.000 tỷ đồng đầu tư trong nước, trong đó có hơn 6.100 tỷ đồng vốn đầu tư nhà nước cho hạ tầng du lịch, tập trung vào những vùng tiềm năng, những khu, điểm du lịch quốc gia…

Cùng với việc huy động vốn, ngành đã tranh thủ được nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ tài trợ cho phát triển du lịch về quy hoạch, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hành chính, xây dựng văn bản quy phạm phát luật du lịch.

Ngành cũng chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch. Đến nay, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình, nâng cao về chất lượng. Nếu như năm 1990, cả nước chỉ có khoảng 350 cơ sở lưu trú du lịch với 16.700 buồng thì đến thì đến năm 2016, con số này đã đạt 21.000 cơ sở (gần 800 cơ sở lưu trú du lịch 3-5 sao) với 421.000 buồng. Hàng loạt cơ sở lưu trú du lịch với quy mô và chất lượng mang tầm cỡ quốc tế được đầu tư, khai thác. Ngoài hai loại hình chủ yếu là khách sạn và nhà nghỉ du lịch, còn hình thành thêm các loại hình lưu trú khác như: khách sạn nghỉ dưỡng (resort), căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay), tàu thủy lưu trú du lịch, làng du lịch…

Phương tiện vận chuyển khách du lịch phát triển đa dạng cả đường ôtô, đường sắt, đường thuỷ và dần được hiện đại hóa. Nhiều tuyến du lịch đường biển, đường sông như Hải Phòng-Quảng Ninh, Hải Phòng-Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh-Vũng Tàu, Cần Thơ… đã sử dụng tàu công suất lớn, trang thiết bị hiện đại. Một số khu du lịch nghỉ dưỡng, sân golf, công viên chuyên đề và cơ sở giải trí được đưa vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu của du khách và nhân dân…

Vẻ đẹp kỳ vĩ của động Thiên Đường. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Vẻ đẹp kỳ vĩ của động Thiên Đường. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Về sản phẩm du lịch, ngành du lịch Việt Nam đã chú trọng xây dựng phát triển nhiều tuyến du lịch mới cả đường bộ, đường sông, đường biển, nối các điểm du lịch, khu du lịch ở miền núi, cao nguyên, đồng bằng, vùng ven biển và hải đảo. Hình thành các loại hình du lịch mới, đặc thù như đi bộ, leo núi, lặn biển, hang động, du lịch đường bộ xuyên Việt bằng xe đạp, mô tô, caravan, du lịch đồng quê, về cội nguồn…

Việc hoàn thiện thể chế và chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch đã có tác động tích cực thúc đẩy lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh. Đến nay, cả 6 thành phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước; 100% vốn nước ngoài) đều tham gia vào hoạt động du lịch. Tính đến năm 2016, cả nước có 1.600 doanh nghiệp lữ hành quốc tế; hơn 10.000 doanh nghiệp lữ hành nội địa. Ngoài ra, còn có hàng nghìn hộ tư nhân kinh doanh du lịch hoạt động ở hầu hết các địa phương trong cả nước.

Ngành du lịch chú trọng xây dựng phát triển nhiều tuyến du lịch mới cả đường bộ, đường sông, đường biển, nối các điểm du lịch, khu du lịch ở miền núi, cao nguyên, đồng bằng, vùng ven biển và hải đảo.  

Đội ngũ cán bộ, quản lý, tổ chức, hướng dẫn viên du lịch năng động, chuyên nghiệp được hình thành, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ lao động ngành du lịch. Nếu như năm 1990 toàn ngành mới có hơn 17.000 lao động trực tiếp, thì đến nay đã có 555.000 lao động trực tiếp (bao gồm cả hướng dẫn viên du lịch) và trên 1,2 triệu lao động gián tiếp, chiếm khoảng 2,5% lao động cả nước. Chất lượng lao động du lịch ngày càng nâng cao. Số lượng lao động được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ ngày càng tăng.

Dấu ấn tăng trưởng hàng năm trên 10%

Nhờ kết hợp tiềm năng sẵn có với việc chủ động đầu tư phát triển, du lịch Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Trong 15 năm qua, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, tăng trưởng khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm.

Nếu lấy dấu mốc lần đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam 1990 với 250.000 lượt khách quốc tế, 1 triệu lượt khách du lịch nội địa thì đến năm 2016 lượng khách quốc tế đã đạt hơn 10 triệu lượt, khách du lịch nội địa đạt hơn 62 triệu lượt. Doanh thu từ du lịch cũng tăng từ 1.350 tỷ đồng năm 1990 lên hơn 400 nghìn tỷ đồng năm 2016, tạo trên 1,7 triệu việc làm cho xã hội, đóng góp trực tiếp 6,8% GDP.

Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam cũng tăng lên. Theo bảng xếp hạng Chỉ số năng lực canh tranh ngành lữ hành và du lịch (TTCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năm 2017, du lịch Việt Nam xếp thứ 67/136 quốc gia, tăng 8 bậc so với lần xếp hạng trước vào năm 2015.

Không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển của ngành Du lịch còn đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ. Có thể đễ dàng nhận thấy, ở đâu du lịch phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Điển hình như ở: Sa Pa (Lào Cai), Hạ Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Hội An (Quảng Nam), Nha Trang (Khánh Hòa), Mũi Né (Phan Thiết)…

Du khách tham quan Phố cổ Hội An bằng xích lô. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Du khách tham quan Phố cổ Hội An bằng xích lô. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)

Sự lớn mạnh của du lịch Việt Nam còn thể hiện ở kết quả đánh giá của các tổ chức nổi tiếng trên thế giới chuyên về lĩnh vực du lịch. Điển hình như Việt Nam được xếp vị trí thứ 3 trong top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới năm 2014 do Tạp chí Forbes (Mỹ) bình chọn; Vịnh Hạ Long được trang web BuzzFeed của Mỹ bình chọn là 1 trong 25 địa danh có vẻ đẹp khó tin nhất trên thế giới; Hà Nội được TripAdvisor bình chọn là 1 trong 10 thành phố thu hút khách du lịch hàng đầu trên thế giới năm 2014; được Mastercard bình chọn là một trong 10 thành phố tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới năm 2017…

Nâng tầm cho ngành Du lịch Việt Nam

Du lịch Việt Nam đặt mục tiêu, đến năm 2020, thu hút 17-20 triệu khách du lịch quốc tế, 82 triệu khách du lịch nội địa; đóng góp 10% GDP; tổng thu từ khách du lịch đạt 35 tỷ USD; tạo ra 4 triệu việc làm.

Để du lịch Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả, thời gian tới, du lịch Việt Nam trước hết cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa như gia nhập WTO, Cộng đồng kinh tế ASEAN, đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do… ngành du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ, thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều vô cùng quan trọng. Theo đó, cần nghiên cứu xu hướng nhu cầu của du khách để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp ứng đúng nguyện vọng và mang đến sự hài lòng cho du khách. Trong đó, cần chú trọng phát triển sản phẩm du lịch địa phương. Cùng với đó là nâng cao chất lượng dịch vụ các khu, tuyến, điểm du lịch đã khai thác. Khai thác những lợi thế khác biệt để tạo nên những sản phẩm du lịch đặc thù, từ đó hình thành các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng có tính hấp dẫn và cạnh tranh cao.

Đi đôi với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến và liên kết du lịch. Cụ thể, cần tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến, tạo ra các sản phẩm du lịch phù hợp với nhiều phân khúc thị trường du lịch; lựa chọn, tham gia có chọn lọc vào các hoạt động, sự kiện du lịch; xây dựng những sản phẩm du lịch mới, tăng cường xây dựng những tour, tuyến du lịch liên vùng nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch; phối kết hợp các hoạt động du lịch giữa các tỉnh trong vùng với các địa phương khác để du lịch thực sự trở thành một hoạt động thông suốt, có tính cạnh tranh cao hơn. Ngoài ra, cần quan tâm hơn nữa vào đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch; đồng thời, chú trọng bảo vệ môi trường trong khi khai thác, phát triển du lịch./.

Chuyện cổ tích thực về một ngày đi khắp thế gian

Tiếng huyên náo của lễ hội Nhật Bản, khung cảnh uy nghi giữa buổi lễ thiết triều trong Tử Cấm Thành, đền đài theo phong cách La Mã ẩn hiện giữa những triền đồi thơ mộng, hay sự huyền bí của cuộc tế lễ của người Inca cổ đại tận vùng Trung Mỹ xa xôi…

Một ngày đi khắp thế gian? Đã bao giờ, bạn tự hỏi mình như vậy. Đi để trải nghiệm cảnh sắc và con người, hít hà không khí thiên nhiên tự do, tận thấy những kỳ quan ở các vùng đất xa lắc mà đôi khi, cả đời người chưa chắc đã đặt chân tới.

Chiêm ngưỡng và trải nghiệm đó là cả một giấc mơ. Nếu đã ước mơ, tại sao lại phải “hà tiện” với nó?

Những công trình kiến trúc La Mã cổ đại như ẩn hiện trên từng triền đồi ở công viên chủ đề Window on China. (Ảnh: Trần Long/Vietnam+)
Những công trình kiến trúc La Mã cổ đại như ẩn hiện trên từng triền đồi ở công viên chủ đề Window on China. (Ảnh: Trần Long/Vietnam+)

Công viên chủ đề Vương quốc tí hon (Window on China Theme Park) được biết đến như là điểm đáng “chiêm bái” đầu tiên trong số toàn bộ các khu du lịch hấp dẫn ở Đài Loan. Nếu là một dân đam mê mô hình thu nhỏ thứ thiệt, hay từng đổ tiền vào thú chơi đẳng cấp “roombox” (nhà mô hình thu nhỏ), bạn sẽ bị chinh phục hoàn toàn khi lạc vào khu rừng cổ tích này. Có thể tưởng tượng, Vương quốc tí hon này là một khu phức hợp những kỳ quan kiến trúc nổi tiếng nhất thế giới, với hàng loạt cơ sở vui chơi-giải trí, các show diễn Biến Diện (đổi mặt nạ trong tích tắc) đặc sắc Trung Hoa. Window on China Theme Park hoàn toàn thích hợp cho các kỳ nghỉ hè, các chuyến đi gia đình hoặc chụp ảnh nghệ thuật.

Nằm ở phía Bắc đảo Đài Loan, Khu vui chơi chủ đề Vương quốc tí hon có địa chỉ số 199 đường Khang Hợp, thôn Tùng Bách, xã Tân Phong, huyện Tân Trúc, thành phố Đào Viên, cách Đài Bắc khoảng 2 giờ xe buýt hoặc taxi về phía Tây.

Từ tháp nghiêng Pisa, hay Vạn lý Trường thành, đài tế lễ của người Inca, hay quần thể tác phẩm điêu khắc 4 vị Tổng thống Hoa Kỳ (George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln) được trên núi Rushmore (bang South Dakota-Hoa Kỳ), Window on China là công viên chủ đề đầu tiên ở châu Á phục dựng những kỳ quan kiến trúc-điêu khắc tuyệt tác thu nhỏ của thế giới.

Khung cảnh một buổi thiết triều uy nghi trong Tử cấm thành (Bắc Kinh). (Ảnh: Trần Long/Vietnam+)
Khung cảnh một buổi thiết triều uy nghi trong Tử cấm thành (Bắc Kinh). (Ảnh: Trần Long/Vietnam+)

Theo nhiều chuyên gia ngành giải trí, Window on China vẫn được coi là công viên chủ đề lâu đời nhất Đài Loan. Chủ tịch kiêm sáng lập viên, ông Chu Chung Hồng cho biết, ý tưởng ra đời Vương quốc tí hon của ông xuất phát từ sau một chuyến đi Hà Lan, khi ông quyết định mở một công viên tương tự trên quê hương mình.

Ở thời điểm năm 1984, công viên mới chỉ có những mô hình kỳ quan thu nhỏ theo tỷ lệ 1/25, nhưng sau đó, các khu vui chơi giải trí và công viên nước được mở ra bên cạnh nhằm với mục tiêu là hướng vào các khách hàng giới trẻ, đặc biệt là lứa tuổi thiếu nhi ở Đài Loan.

Toàn bộ các công trình tại đây đều được xây dựng với những đường nét khéo léo và tinh tế đến độ hoàn hảo, khiến những du khách khó tính nhất cũng phải mê mẩn. Công viên này có hơn 20 khu vui chơi trong nhà và ngoài trời, được thiết kế đặc biệt cho các gia đình ở mọi lứa tuổi.

Dạo chơi trên du thuyền cổ vòng quanh Công viên chủ đề Vương quốc tí hon. 

Vương quốc tí hon có thể xem là một trong những công viên chủ đề thuộc hàng “anh cả” tại Đài Loan, được chính thức mở cửa năm 1984, gồm 3 khu chính là Thế giới thu nhỏ (Mini World), Công viên nước (Water Park) và Công viên giải trí (Amusement Park).

Khu Mini World được chia thành các chủ đề thu nhỏ, gồm: Đài Loan, Trung Hoa, châu Á, châu Âu và châu Mỹ, nơi các du khách có thể tìm thấy những mô hình kỳ quan kiến trúc-điêu khắc của từng quốc gia và khu vực.

Tại chủ đề Đài Loan, người ta có thể được chiêm ngưỡng 10 công trình tiêu biểu, trong đó có Đài tưởng niệm Tưởng Giới Thạch, Pháo đài San Domingo; với Trung Hoa thu nhỏ, tiêu biểu là các kỳ quan Cố cung, Vạn lý Trường thành, Tô Châu Lâm Viên… ; chủ đề châu Âu, du khách sẽ tận thấy tháp nghiêng Pisa (Italy), Nhà hát Opera Garnier Paris, Nhà thờ Đức bà (Pháp)…; muốn tìm hình bóng văn hóa Nhật Bản, bạn sẽ được chiêm ngưỡng lâu đài Osaka, Chùa Todaiji cổ kính nhất Nhật Bản…; với châu Mỹ, những công trình tuyệt đẹp gồm Tượng đài Washington, Tượng Nữ thần Tự do…

Không gian tĩnh lặng, tưởng chừng nghe được tiếng lá rơi. Nhắm mắt lại, ở cái thôn Tùng Bách xứ Đài, Giấc mơ đi khắp thế gian của bạn, có khi không thể chỉ một ngày, vì trí tưởng tượng của bạn khi đứng đây, cứ thả hồn, bay mãi./.

Công trình kiến trúc nổi tiếng của Hoa Kỳ thu nhỏ. (Ảnh: Trần Long/Vietnam+)
Công trình kiến trúc nổi tiếng của Hoa Kỳ thu nhỏ. (Ảnh: Trần Long/Vietnam+)

Trung Quốc trước ngưỡng cửa thời đại mới

Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đại hội đã đề ra đường hướng cũng như lộ trình cụ thể cho những quy hoạch chiến lược trong vòng 30 năm tới của Trung Quốc. Sự ra đời của “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới” là điểm nhấn và kết quả nổi bật của Đại hội. Việc triển khai cụ thể Tư tưởng Tập Cận Bình sẽ trả lời một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề cơ bản như mục tiêu mới, sứ mệnh mới cũng như mâu thuẫn mới mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải đối mặt.

Có thể nói Tư tưởng Tập Cận Bình là sự phát triển vượt bậc của việc Trung Quốc hóa chủ nghĩa Marx cũng như hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Đây là sự khái quát mới nhất và là thành quả mới nhất về sáng tạo lý luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc kể từ Đại hội XVIII.

Khái niệm “thời đại mới” trong Tư tưởng Tập Cận Bình là giai đoạn đưa Trung Quốc hùng mạnh trở lại và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản là lãnh đạo chính trị tối cao tại Trung Quốc; là lực lượng nòng cốt lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, xây dựng và cải cách của Trung Quốc. Trong khi đó, quần chúng nhân dân là trung tâm, là cội nguồn sức mạnh để thực hiện công cuộc đó. Tư tưởng Tập Cận Bình cũng nhấn mạnh quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Quân Giải phóng nhân dân (PLA) và các lực lượng vũ trang khác.

Trung Quốc sẽ hướng tới thực hiện “hai mục tiêu 100 năm” để kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2021 và 100 năm thành lập nước CHND Trung Hoa vào năm 2049. Trên cơ sở xây dựng thành công xã hội khá giả toàn diện vào năm 2020, Trung Quốc sẽ thực hiện hai giai đoạn 15 năm (2035 và 2050) để xây dựng Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa hiện đại giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp.

Dư luận nhiều nước nhìn chung đánh giá cao tính ưu việt của mô hình chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng như thừa nhận vai trò lãnh đạo duy nhất hiệu quả của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây là động lực giúp các nước thêm tin tưởng hơn vào tính hiệu quả của mô hình kết hợp giữa kiểm soát chính trị chặt chẽ với duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và sáng tạo công nghệ.

Có thể nói đặc điểm nổi bật nhất trong quá trình phát triển của Trung Quốc trong 5 năm qua chính là đi sâu cải cách toàn diện. Tuy nhiên, quá trình cải cách của Trung Quốc vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn như sự phát triển không đồng đều, không hài hòa, không bền vững; cuộc chiến chống tham nhũng còn nhiều cam go; nhiều vấn đề liên quan tới lợi ích thiết thân của người dân như ô nhiễm môi trường, tình trạng bất bình đẳng và khoảng cách giàu – nghèo gia tăng, nợ công cao,… vẫn chưa được giải quyết. Chính vì thế, tín hiệu mạnh mẽ từ Đại hội XIX là trong những năm tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục đi sâu cải cách toàn diện, từ chính trị, kinh tế cho tới đối ngoại.

Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (giữa, phía trước) tại phiên bế mạc Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 24/10. (Nguồn: THX/TTXVN)
Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (giữa, phía trước) tại phiên bế mạc Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 24/10. (Nguồn: THX/TTXVN)

Nghị quyết Đại hội XIX nêu rõ Đảng Cộng sản Trung Quốc cần nỗ lực toàn diện nhằm đảm bảo việc duy trì cuộc chiến chống tham nhũng, từng được coi là mối đe dọa lớn nhất mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải đối mặt. Cuộc chiến mạnh mẽ chống tham nhũng do Tổng Bí thư Tập Cận Bình phát động trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm qua đã mang lại kết quả rõ rệt, làm gia tăng uy tín của đảng và củng cố niềm tin của nhân dân. Vì thế, việc kiên trì nỗ lực chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy chính trị sẽ tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời gian tới.

Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang có xu hướng lan rộng, việc thiết lập cơ chế thương mại đa phương gặp nhiều khó khăn, xu thế toàn cầu hóa kinh tế gặp những trở ngại nhất định, Trung Quốc chủ trương tiếp tục mở cửa về kinh tế, nỗ lực tham gia công việc quản trị kinh tế toàn cầu thông qua  các cơ chế đa phương cũng như sáng kiến khu vực và quốc tế như Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), Diễn đàn kinh tế thế giới Davos, Ngân hàng cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB),… Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phục hồi khó khăn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế Trung Quốc vẫn đạt mức tăng trưởng ổn định trung bình 6,9%/năm và dự kiến đạt 6,8% cả năm 2017, vẫn được coi là động lực của sự tăng trưởng kinh tế thế giới.

Việc kiên trì nỗ lực chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy chính trị sẽ tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời gian tới

Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình, chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã chấm dứt chính sách “giấu mình chờ thời” mà ngày càng trở nên chủ động hơn. Bắc Kinh cho rằng vào thời điểm hiện tại, họ đã có đủ tiềm lực kinh tế để thúc đẩy một chính sách đối ngoại tham vọng hơn nhằm hiện thực hóa “giấc mơ Trung Quốc,” phục hưng dân tộc Trung Hoa. Trung Quốc đã phát động nhiều sáng kiến tại châu Á-Thái Bình Dương và đã gia tăng ảnh hưởng tại một số khu vực, trong đó có châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh.

Trung Quốc cũng đã đưa ra một số khái niệm về chính sách đối ngoại mới như sáng kiến “Vành đai và con đường” hay “Cộng đồng chung vận mệnh,” “Quan hệ quốc tế kiểu mới”, và đang quảng bá những khái niệm này nhằm khẳng định đó là những khái niệm có thể chi phối khu vực và quốc tế.

Sáng kiến “Vành đai và con đường,” do Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra năm 2013, có thể coi là một bước tiếp nối của chính sách “đi ra ngoài” được triển khai vào giai đoạn cuối thập niên 90 với mục tiêu quốc tế hóa các doanh nghiệp Trung Quốc và là một dấu hiệu nữa của xu hướng tập trung phát triển kinh tế trong nước nhằm định hình vị thế quốc tế của Trung Quốc. Trong thời gian tới, sáng kiến “Vành đai và con đường” sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ và là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đang đứng trước không ít thách thức trong việc giải quyết một số vấn đề khu vực và toàn cầu như chương trình tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên, căng thẳng ở biên giới Trung Quốc – Ấn Độ, những tranh chấp ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, việc xử lý mối quan hệ phức tạp Trung – Mỹ vốn được coi là trục quan hệ chính trên bàn cờ chính trị quốc tế,… Ngoài ra, Trung Quốc cũng cần phải thể hiện rõ hơn trách nhiệm của một nước lớn trong các vấn đề khu vực và toàn cầu, chẳng hạn như tiến trình tự do hóa thương mại, biến đổi khí hậu,… nhất là trong bối cảnh Mỹ không còn “mặn mà” với những vấn đề này kể từ khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền.

Với những đường hướng được đưa ra tại Đại hội XIX, Đảng Cộng sản Trung Quốc, với Tổng Bí thư Tập Cận Bình là hạt nhân lãnh đạo, sẽ đưa Trung Quốc bước vào một thời đại mới với những mục tiêu mới và sách lược mới nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa và tươi đẹp; đóng góp lớn hơn vào hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới./.

Cách mạng Tháng Mười Nga mãi mãi đi cùng năm tháng

Nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917-7/11/2017), phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Văn Linh, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã có bài viết: “Cách mạng Tháng Mười Nga với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.”

Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này.

Cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga nổ ra thắng lợi, đánh dấu bước đột phá vĩ đại mở đầu thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và sự ra đời Nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đầu tiên trên thế giới đã trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với hàng ngàn triệu người thuộc các dân tộc bị áp bức nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, thực dân vùng lên đấu tranh tự giải phóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, làm thức tỉnh hàng chục triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa thế.”

Lãnh tụ V. I. Lenin từ Phần Lan bí mật trở về nước trực tiếp lãnh đạo thành công Cách mạng tháng Mười Nga. (Nguồn: History Conflicts) 
Lãnh tụ V. I. Lenin từ Phần Lan bí mật trở về nước trực tiếp lãnh đạo thành công Cách mạng tháng Mười Nga. (Nguồn: History Conflicts) 

Đem lại quyền làm chủ cho nhân dân lao động

100 năm đã trôi qua, Cách mạng Tháng Mười vẫn là một trong những sự kiện lớn nhất trong lịch sử cận đại, một cuộc cách mạng xóa bỏ chế độ người bóc lột người, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân lao động và hòa bình cho các dân tộc trên thế giới.

V.I.Lenin từng nhận định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu “một sự nghiệp mới mẻ,” “Sự nghiệp sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”; “chúng ta (những người cách mạng) tự hào là đã có hân hạnh được bắt đầu việc xây dựng Nhà nước XôViết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản và ở khắp nơi đều đang tiến tới một cuộc đời mới, tới chỗ chiến thắng giai cấp tư sản, tới chỗ thành lập chuyên chính vô sản, tới chỗ giải phóng nhân loại khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc.”

Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thủ tiêu mọi hình thức bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, mở đường thắng lợi cho cuộc đấu tranh cách mạng gắn giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, là bằng chứng về sự thắng lợi của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cách mạng Tháng Mười đã minh chứng vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong việc liên minh, tự giải phóng mình khỏi áp bức, bóc lột.

Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, là bằng chứng về sự thắng lợi của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. 

Giai cấp công nhân là lực lượng sản xuất tiến bộ, gắn với sự phát triển của sản xuất công nghiệp. Điểm chung nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là lực lượng đông đảo trong xã hội, đều bị bóc lột nặng nề, đều có mục đích và nguyện vọng chống áp bức bóc lột, nếu có được tổ chức, tập hợp lại thì sẽ tạo ra được sức mạnh chưa từng có để chống lại giai cấp bóc lột, đưa địa vị của mình trở thành người làm chủ xã hội.

Cách mạng Tháng Mười thành công đã đập tan bộ máy Nhà nước cũ, tiêu diệt triệt để bộ máy Nhà nước của giai cấp bóc lột và thay vào đó một Nhà nước kiểu mới, chính quyền của các XôViết, coi như là một trong những hình thức chuyên chính vô sản. Cách mạng Tháng Mười đã thủ tiêu quyền tư hữu tư liệu sản xuất chủ yếu. Ruộng đất, công xưởng, nhà máy, đường sắt, ngân hàng, phương tiện giao thông trên biển, tất cả những thứ đó thuộc quyền sở hữu của nhân dân. Nông dân được chia ruộng mà không phải trả tiền và không phải đóng địa tô cho địa chủ, hoặc những món tiền khác có quan hệ với việc mua ruộng đất.

Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến nước Nga Sa Hoàng lạc hậu thành một siêu cường đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa, một thời kỳ dài trong lịch sử là chỗ dựa cho hàng trăm dân tộc đứng lên chống lại ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, bảo vệ hòa bình thế giới. Có thể nói, nếu không có Cách mạng Tháng Mười, nhân loại không thể sống trong kỷ nguyên độc lập, tự do. Ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại, những quyền dân sinh, dân chủ, quyền con người… mà nhân dân lao động có được cũng nhờ ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

(Nguồn: Vietnam+)
(Nguồn: Vietnam+)

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người.”

Người cũng chỉ rõ những bài học “hết sức quý báu” đó là: Cần có sự lãnh đạo sáng suốt của một chính đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân; phải thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. V.I.Lenin cũng đ­ưa ra một cách khá hoàn chỉnh hệ thống các nguyên tắc về bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản; nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; sự thống nhất ý chí và hành động của đội ngũ đảng viên; giữ gìn và bảo vệ kỷ luật Đảng; sự gắn bó máu thịt giữa đảng với quần chúng… Những nội dung cơ bản nêu trên đ­ược V.I.Lê-nin trực tiếp áp dụng, bổ sung và phát triển trong quá trình xây dựng, rèn luyện Đảng Công nhân dân chủ – xã hội Nga và trong điều kiện Đảng ấy trở thành Đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Mười.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã cho thấy vai trò của một chính đảng được trang bị bởi một học thuyết khoa học và cách mạng. Đảng Cộng sản có khả năng lãnh đạo liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Nga, như giữa giai cấp công nhân Nga với bần nông; tập hợp thành một làn sóng cách mạng duy nhất tất cả các phong trào cách mạng có những bản sắc khác nhau như phong trào dân chủ để đấu tranh cho hòa bình, phong trào dân chủ của nông dân để giành lại ruộng đất từ tay bọn chúa đất, phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức và phong trào xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản để thiết lập chuyên chính vô sản.

Đi theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lenin và Đảng Bolshevik Nga đã lãnh đạo tài tình giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga lật đổ chế độ tư bản, bọn áp bức bóc lột, giành chính quyền, đưa nước Nga chậm phát triển thành Liên bang Xô Viết hùng cường, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong một thời kỳ dài phát triển mạnh mẽ về kinh tế, quốc phòng, an ninh và giáo dục,… là trụ cột và lực lượng chủ yếu đập tan chủ nghĩa phátxít Đức trong đại chiến thế giới thứ hai, cứu nhân loại khỏi họa phátxít; ngăn chặn có hiệu quả âm mưu gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, giữ vững hòa bình và ổn định tình hình chính trị thế giới trong gần nửa thế kỷ, sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Binh sỹ Nga trong trang phục của Hồng quân tham gia míttinh kỷ niệm cuộc diễu binh lịch sử trên Quảng trường Đỏ ở Moskva ngày 7/11/2015. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Binh sỹ Nga trong trang phục của Hồng quân tham gia míttinh kỷ niệm cuộc diễu binh lịch sử trên Quảng trường Đỏ ở Moskva ngày 7/11/2015. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Cách mạng Tháng Mười Nga mãi mãi đi cùng năm tháng

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi có sức lôi cuốn, cổ vũ, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức, chậm phát triển đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và định hướng phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội. Từ sau Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, chủ nghĩa xã hội được biết đến không chỉ là một học thuyết mà còn là một chế độ xã hội mới tốt đẹp. Nó trở thành tấm gương để các dân tộc bị áp bức noi theo.

Nước Nga Xô Viết và sau này là Liên Xô chỉ 20 năm sau Cách mạng Tháng Mười, đã từ một nước tư bản phát triển trung bình trở thành cường quốc đứng hàng đầu thế giới; xác lập một kiểu tổ chức xã hội mang lại cho quần chúng lao động nhiều quyền lợi. Sức sống, triển vọng và xu thế phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực chính là sự khẳng định, tôn vinh những chân giá trị của Cách mạng Tháng Mười. Trong nhiều thập niên, Liên Xô từng là chỗ dựa vững chắc cho các phong trào cách mạng trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống họa phátxít, vì hòa bình, dân chủ, chủ nghĩa xã hội và tiến bộ xã hội.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi còn chỉ ra những khả năng mới về sự phát triển không ngừng của cách mạng ở các nước thuộc địa, các dân tộc chậm phát triển tự quyết định con đường đi lên gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Theo chỉ dẫn của V.I. Lenin, Quốc tế Cộng sản “phải xác định và chứng minh trên lý luận cho một nguyên tắc là: với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô Viết, qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.”

Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. (Hồ Chí Minh)

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười làm cơ sở, tiền đề để giai cấp công nhân, nhân dân lao động các nước trên thế giới đấu tranh để tự giải phóng mình ra khỏi áp bức, bóc lột. Đánh giá ảnh hưởng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng. Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.”

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, các dân tộc bị áp bức trên thế giới đã vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa để xây dựng đất nước. Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc (năm 1945), thắng lợi thuộc về các lực lượng dân chủ, cách mạng thế giới bước vào một thời kỳ phát triển mới. Phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn kết chặt chẽ với phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội và tiến bộ xã hội, làm nên sức mạnh to lớn của ba dòng thác cách mạng trên thế giới trong nhiều thập niên qua.

Các chiến sỹ Hồng quân Liên Xô vui mừng với chiến thắng tại Berlin, sào huyệt cuối cùng của phátxít Đức trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Các chiến sỹ Hồng quân Liên Xô vui mừng với chiến thắng tại Berlin, sào huyệt cuối cùng của phátxít Đức trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Chủ nghĩa xã hội hiện thực từ thắng lợi ở một nước đã phát triển thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa xã hội là xu thế phát triển tất yếu của thời đại, nhưng với hình thức và bước đi rất khác nhau như chỉ dẫn của V.I. Lenin: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội. Đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ…”

Lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và “sự phát triển rút ngắn” của học thuyết Mác đã được Đảng Bolshevik và V.I. Lenin sáng tạo, thể nghiệm thành công qua Chính sách kinh tế mới (NEP) trong những năm đầu thập niên 20, thế kỷ XX, qua đó, cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho các nước chậm phát triển quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội với những bước “quá độ dần dần”; biết “lợi dụng chủ nghĩa tư bản” để xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tri thức, xu hướng toàn cầu hóa, giai cấp tư sản tận dụng sự phát triển đó để nâng cao năng suất lao động, phân hóa giai cấp công nhân thành các tầng lớp “công nhân cổ xanh”, “công nhân cổ trắng,”… có mức sống chênh lệch nhau ngày càng lớn. Bộ phận công nhân có thu nhập cao dễ thỏa hiệp với giới chủ, giảm nhiệt tình đấu tranh cách mạng và giai cấp tư sản vẫn tồn tại trên cơ sở chiếm đoạt giá trị thặng dư. Điều đó chứng thực quan điểm của C. Mác rằng xác thịt của tư bản có thể thay đổi nhưng bản chất bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản thì không hề thay đổi. Chừng nào xã hội còn áp bức, bóc lột, bất công, chừng đó nhân loại còn phải tiếp tục đấu tranh cho một xã hội tự do, dân chủ, không còn áp bức, bóc lột, bất công.

Cách mạng là sáng tạo. Chủ nghĩa Marx-Lenin xa lạ với những lý thuyết xơ cứng, giáo điều, thoát ly cuộc sống. Theo chỉ dẫn của V.I. Lenin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đó xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống.” Để lý luận cách mạng được vận dụng thắng lợi vào cuộc sống trong thời đại hiện nay, nhất thiết phát huy tinh thần nỗ lực, sáng tạo cách mạng của khối quần chúng đông đảo, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga mãi mãi đi cùng năm tháng, cổ vũ cho tinh thần đấu tranh không mệt mỏi để xây dựng một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa./.

Người dân Nga tham gia tuần hành kỷ niệm Cách mạng tháng 10 ở Moskva ngày 7/11/2015. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Người dân Nga tham gia tuần hành kỷ niệm Cách mạng tháng 10 ở Moskva ngày 7/11/2015. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Những hệ lụy

Tổng thống Mỹ Donald Trump sắp công bố quyết định ai sẽ là người đứng đầu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nhiệm kỳ tới. Việc Fed do những người thân tín của ông Trump chi phối có thể đặt ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế lên trên những mục tiêu khác. Tuy nhiên, hiện nay, Fed có được sự tín nhiệm quốc tế chính là vì định chế này giữ thái độ độc lập đối với bất kỳ vấn đề chính trị nào. Do đó, chưa rõ quyết định về nhân sự của ông Trump sẽ ảnh hưởng thế nào tới uy tín của Fed.

Ông Eswar Prasad, Giáo sư Đại học Cornell và là giảng viên cao cấp thuộc Viện Brookings, đã đưa ra những dự đoán về quyết định sắp tới của Tổng thống Mỹ.

Bản dịch bài viết được đăng tải độc quyền trên VietnamPlus, thông qua dự án Project Syndicate.

Trong nỗ lực tìm cách đại tu các chính sách thuế khóa, thương mại và nhập cư, Tổng thống Donald Trump đã dành nhiều thời gian suy ngẫm về một loạt quyết định mà chúng thậm chí có thể có nhiều hậu quả đối với nền kinh tế Mỹ. Với việc Phó Chủ tịch Fed Stanley Fischer nghỉ hưu trong tháng này, ba trong số bảy ghế của Hội đồng Thống đốc Fed giờ đây bị bỏ trống. Và đến tháng 2/2018, nhiệm kỳ đầu của Chủ tịch Fed Janet Yellen cũng sẽ kết thúc, đem lại cho Trump một cơ hội có một không hai để gắn tên tuổi của ông lên thể chế này.

Những nhân vật được Trump bổ nhiệm vào những vị trí này và cách thức ông lựa chọn họ, có thể có tác động lâu dài không chỉ đối với Fed, mà còn cả đối với nền kinh tế Mỹ và vị trí trung tâm của nó trong hệ thống tài chính toàn cầu.

Sự tín nhiệm mà Fed có được đã được tạo dựng và hình thành một cách có phương pháp và hết sức khó khăn trong suốt tiến trình kéo dài nhiều thập kỷ qua. Một ví dụ nổi bật của điều này là việc cựu Chủ tịch Fed Paul Volcker quyết định, vào đầu những năm 1980, nâng lãi suất và chấp nhận một mức gia tăng tỷ lệ thất nghiệp tạm thời. Nếu khi đó Volcker không hành động, nước Mỹ có khả năng đã phải gánh chịu một tình trạng lạm phát theo đường xoắn ốc. Hành động của Volcker đã tạo ra một cơn đau ngắn hạn nhưng đồng thời nó cũng giúp củng cố hơn nữa mức độ tín nhiệm lâu dài của Fed.

Chủ tịch FED đương nhiệm Janet Yellen. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Chủ tịch FED đương nhiệm Janet Yellen. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Lạm phát được thúc đẩy bởi nhiều nhân tố mà Fed không thể kiểm soát, bao gồm năng suất, giá cả ở nước ngoài, và mức thâm hụt của chính phủ. Tuy nhiên, những kỳ vọng về tương lai cũng đóng một vai trò chủ chốt. Khi công ty và người lao động cho rằng Fed không cam kết với với kiềm chế lạm phát, lạm phát sẽ có khuynh hướng tăng lên.

Điều này cũng đúng với giảm phát. Thoạt nhìn, giá cả đối với hàng hóa và dịch vụ giảm xuống có vẻ giống như một điều gì đó thật tốt lành. Tuy nhiên, giảm phát có thể đem lại nhiều tai hại. Khi giá cả được hy vọng sẽ giảm xuống, người tiêu dùng sẽ dừng mua sắm, các doanh nghiệp sẽ trì hoãn các khoản đầu tư. Những quyết định như thế này khi đó có thể tạo ra một cái vòng luẩn quẩn, theo đó nhu cầu giảm xuống sẽ dẫn tới công ăn việc làm, tăng trưởng, và giá cả đều giảm theo, tạo ra tình trạng nhu cầu sẽ tiếp tục giảm sâu hơn nữa.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhiều quốc gia đã phải đối mặt với ‘bóng ma’ giảm phát. Tuy nhiên, nhờ Fed, Mỹ đã tránh được cả giảm phát lẫn lạm phát khốc liệt, và đã phục hồi nhanh hơn phần lớn các nền kinh tế tiên tiến khác. Fed đã tìm được cách tránh được giảm phát ở Mỹ bằng cách nới lỏng mạnh mẽ chính sách tiền tệ.

Vào thời điểm đó, nhiều nhà kinh tế lo ngại rằng việc nhanh chóng mở rộng nguồn cung tiền tệ và tăng mạnh khoản nợ của chính phủ sẽ có tác dụng đổ thêm dầu vào lạm phát và làm suy yếu đồng đôla. Tuy nhiên, những lo ngại này đã tỏ ra không có cơ sở, và một lần nữa uy tín của Fed lại được củng cố thêm.

Sự tín nhiệm của Fed chính là cơ sở cho sự thống trị của đồng đôla Mỹ trong nền tài chính thế giới.

Sự tín nhiệm của Fed chính là cơ sở cho sự thống trị của đồng đôla Mỹ trong nền tài chính thế giới. Khoảng 2/3 dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương toàn cầu – hay có thể nói là tiền để dành của các ngân hàng này – là được đầu tư vào đồng đôla.

Và các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các ngân hàng trung ương, hiện nắm hơn 6.000 tỷ USD công trái của chính phủ Mỹ, tăng so với khoảng 3.000 tỷ USD cách đây một thập kỷ. Địa vị của đồng đôla như đồng tiền dự trữ chính toàn cầu đã giúp giữ cho lãi suất ở Mỹ luôn ở mức thấp, từ đó làm giảm chi phí vay mượn cho người tiêu dùng Mỹ cũng như chính phủ Mỹ.

Sự độc lập của Fed, cùng với hệ thống kiểm soát và cân bằng được thể chế hóa của Mỹ cũng như việc nước này triệt để tuân thủ sự cai trị của pháp luật, là điều chủ chốt cho việc duy trì lòng tin của nhà đầu tư vào đồng đôla. Tuy nhiên, chính quyền Trump đang làm suy yếu sự kiểm soát và cân bằng giữa hai ngành hành pháp và lập pháp trong chính quyền, và việc ông có thái độ không quan tâm đến sự cai trị của pháp luật có thể đặt ra một thách thức trực tiếp đối với ngành tư pháp. Trong những hoàn cảnh như thế này, bất cứ hành động nào gây phương hại cho sự độc lập của Fed đều có thể làm tổn hại nghiêm trọng khuôn khổ thể chế mà sức mạnh kinh tế của Mỹ dựa trên đó.

Người dân mua sắm hàng hóa tại cửa hàng ở San Rafael, California, Mỹ. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Người dân mua sắm hàng hóa tại cửa hàng ở San Rafael, California, Mỹ. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Fed hiện có được sự tín nhiệm quốc tế chính là vì nó giữ thái độ độc lập đối với bất kỳ vấn đề chính trị nào. Tuy nhiên, Fed cũng có tính hợp pháp của nó, do nó có trách nhiệm đối với chính phủ cũng như đối với dân chúng. Trách nhiệm đó là, hay ít nhất cũng nên là, dựa trên những mục tiêu kinh tế đã được thiết lập từ trước – tức là, tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp thấp – chứ không phải dựa trên những ý thích chính trị thất thường của bất kỳ ai đó đang nắm quyền lực ở thời điểm nào đó.

Đánh giá từ góc nhìn này, rất có khả năng là Trump sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho uy tín của Fed. Ông dường như chỉ cần bổ nhiệm những người trung thành về chính trị thay vì bổ nhiệm những nhà kỹ trị tốt nhất có thể có được; hay bổ nhiệm những nhà kỹ trị có năng lực mà ông lôi kéo để bày tỏ sự trung thành cá nhân đối với bản thân ông, thay vì trung thành với sứ mệnh của họ với tư cách là các thống đốc của Fed.

Nếu Trump tìm cách ép Fed phải làm công việc phục vụ chương trình nghị sự chính trị của ông, ông có thể gây ra những thiệt hại không thể đền bù được

Một Fed được chi phối bởi những người thân tín của Trump có thể đặt ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế lên trên những mục tiêu khác, như duy trì sự ổn định về tài chính và lạm phát thấp chẳng hạn. Tuy nhiên, trong khi đường hướng này có thể giúp cho tăng trưởng GDP trong một thời gian ngắn, thì nó sẽ làm hại cho tăng trưởng về lâu dài, bằng việc đổ thêm dầu vào lạm phát và sự mất ổn định trên thị trường tài chính.

Một nguy cơ khác là Trump sẽ đạt được điều mong muốn của ông về một đồng đôla yếu – một cách vĩnh viễn. Thậm chí, chỉ cần khả năng một sự tin cậy giảm bớt đối với đồng đôla, cùng với lạm phát tăng lên, là có thể đẩy lãi suất tăng lên, dẫn tới thâm hụt ngân sách lớn hơn, tăng trưởng giảm xuống, và một vòng xoắn lạm phát.

Nếu Trump tìm cách ép Fed phải làm công việc phục vụ chương trình nghị sự chính trị của ông, ông có thể gây ra những thiệt hại không thể đền bù được đối với một thể chế mà nó có chức năng đảm bảo sự ổn định tài chính, lạm phát thấp và ổn định, và tăng trưởng bền vững.

Thay vì tìm cách để “Nước Mỹ trên hết,” ông có thể sẽ làm hại địa vị của đồng đôla với tư cách là đồng tiền dự trữ chi phối toàn cầu, dọn đường cho các đồng tiền khác nhảy vào thế chỗ của nó trên các thị trường tài chính toàn cầu./.

(Nguồn: AFP/TTXVN)
(Nguồn: AFP/TTXVN)

Người dịch: Nguyễn Văn Lập

Cách mạng Tháng Mười Nga

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử nhân loại – thời kỳ quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến phong trào cách mạng trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản

Ngày 7/11/1917, tại nước Nga, dưới sự lãnh đạo thiên tài của V.I. Lenin và Đảng Bolshevik, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã đứng lên lật đổ chế độ Sa hoàng, lập nên nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, mở đầu thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại.

Đánh giá sự kiện lịch sử trọng đại này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: “Giống như Mặt Trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” (Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 12, tr.300).

Lực lượng cách mạng tràn vào Cung điện Mùa Đông, ngày 25/10 theo lịch cũ của Nga, tức ngày 7/11 theo lịch hiện đại.
Lực lượng cách mạng tràn vào Cung điện Mùa Đông, ngày 25/10 theo lịch cũ của Nga, tức ngày 7/11 theo lịch hiện đại.

Thật vậy, Cách mạng Tháng Mười thực hiện sứ mệnh giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi áp bức bóc lột, đưa họ từ thân phận người nô lệ làm thuê lên địa vị người chủ chân chính của xã hội. Cách mạng Tháng Mười đem lại nhà máy cho công nhân, ruộng đất cho nông dân, hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, tự do, hạnh phúc cho mọi người.

Dưới ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống trên thế giới. Phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho tiến bộ hòa bình được thức tỉnh, cổ vũ và trở thành những làn sóng to lớn trong thế kỷ XX.

Tại Việt Nam, khi nhân dân Nga tiến hành cách mạng vô sản thành công, nhân dân Việt Nam vẫn đang chìm trong đêm dài nô lệ. Mặc dù không ngừng vươn lên đấu tranh chống đế quốc và tay sai, song các phong trào yêu nước theo đường lối phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam lúc này đều thất bại vì không đáp ứng được nguyện vọng của đa số quần chúng nhân dân lao động. Giữa lúc đó, người anh hùng Nguyễn Ái Quốc, sau hơn 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã đến với ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người viết: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lenin” (Sđd, tập 2, tr. 280).

Tháng 7/1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lenin, Nguyễn Ái Quốc sớm nắm bắt được cốt lõi trong tư tưởng của V.I.Lenin: vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại. Luận cương đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, giải đáp cho Người về con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào Việt Nam mà Người đang kỳ công tìm kiếm.

Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, tháng 12 năm 1920. (Ảnh tư liệu TTXVN)
Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, tháng 12 năm 1920. (Ảnh tư liệu TTXVN)

Người viết: “Luận cương của Lenin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” (Sđd tập 12, tr. 300).

Người đã đưa ra những nhận xét rất sâu sắc, toàn diện về Cách mạng Tháng Mười Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới” (Sđd, tập 2, tr. 280).

Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đi đến chân lý về con đường giải phóng của Việt Nam. Người khẳng định rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế thời đại.

“Giống như Mặt Trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất” (Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc)

Dưới ngọn cờ độc lập, tự do của Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam; từng bước giải quyết một cách hợp lý giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một nhà nước kiểu mới được tổ chức trên cơ sở chọn lọc những yếu tố tích cực của mô hình tổ chức nhà nước Xôviết và các nhà nước khác, có những sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, đã đồng hành cùng nhân dân vững vàng bước vào cuộc trường chinh và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp xâm lược sau chín năm trường kỳ (1946-1954).

Miền Bắc được giải phóng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam trong hành trình tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sau 21 năm trường kỳ kháng chiến (1954-1975), cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy gian khó của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi hoàn toàn; cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, đúng như V.I. Lenin khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều đi đến xã hội xã hội chủ nghĩa, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ.”

Những giá trị được kiểm định qua thực tiễn

“Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người” (Sđd, tập 12, tr. 303).

Thực tế đã chứng minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng chủ nghĩa Marx-Lenin; những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng vượt qua nhiều khó khăn, liên tục giành được những thắng lợi to lớn.

Sách “Đường kách mệnh” được công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Sách “Đường kách mệnh” được công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bài học đầu tiên và quan trọng nhất là “Cần có sự lãnh đạo của đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân” (Sđd, tập 12, tr. 303).

Nhận thức về vấn đề này, ngay từ tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước hết phải có đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với vô sản giai cấp và bị áp bức dân tộc mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” (Sđd, tập 2, tr. 267, 268).

Trong tác phẩm “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho dân tộc”, Người chỉ rõ thêm: “chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công” (Sđd, tập 12, tr. 303). Và sự thật cách mạng Việt Nam đã chứng minh một cách rõ nét cho chân lý ấy.

Bài học thứ hai phải kể đến là “Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng” (Sđd, tập 12, tr. 303).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cáh mạng dân tộc, dân chủ tiến lên CNXH” (Sđd, tập 12, tr. 303, 304). Vận dụng sáng tạo bài học này vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công trong việc đề ra chiến lược, sách lược đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Trong khối đại đoàn kết đó, một mặt tập hợp được tất cả lực lượng yêu nước trong xã hội; mặt khác, giữ vững được bản chất giai cấp công nhân trong liên minh.

Bài học thứ ba là “Dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền” (Sđd, tập 12, tr. 304).

Quán triệt quan điểm của Lenin và bài học cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng ta đã sử dụng các hình thức đấu tranh cách mạng tùy theo tình hình cụ thể của phong trào, đặc biệt là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài, gian khổ và anh dũng để đánh thắng quân xâm lược.

Bài học thứ tư là, “Không ngừng tăng cường và củng cố nền chuyên chính vô sản” (Sđd, tập 12, tr. 304).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Sau khi đã giành được chính quyền, thì nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tăng cường nền chuyên chính vô sản để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng, triệt để xóa bỏ chế độ người bóc lột người” (Sđd, tập 12, tr. 304). Bài học này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức đầy đủ và vận dụng thành công vào cách mạng Việt Nam, Cụ thể, công tác xây dựng và củng cố chính quyền, xây dựng và củng cố Đảng luôn được Người quan tâm và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo.

Bài học thứ năm là “Tinh thần cách mạng triệt để” (Sđd, tập 12, tr. 304).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần “luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh đến cùng vì độc lập dân tộc vì CNXH” (Sđd, tập 12, tr. 304).

Vận dụng bài học này vào Việt Nam, Người khẳng định: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập”; “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “chúng ta quyết không sợ…Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Và dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã đấu tranh kiên cường, anh dũng, đem hết quyết tâm, công sức và cả tính mạng để giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước.

Bốn chiến sỹ binh đoàn Hương Giang tiến vào cắm cờ trên nóc Phủ Tống thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975. (Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN)
Bốn chiến sỹ binh đoàn Hương Giang tiến vào cắm cờ trên nóc Phủ Tống thống Nguỵ quyền Sài Gòn trưa 30/4/1975. (Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN)

Bài học thứ sáu là “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản” (Sđd, tập 12, tr. 304). Người chỉ rõ: “… trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của của cách mạng vô sản, trong phạm vi toàn thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc phát triển thành cách mạng XHCN thì mới giành thắng lợi hoàn toàn” (Sđd, tập 12, tr. 304).

Lịch sử chứng minh nhận định trên của người là hoàn toàn đúng đắn. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã có ảnh hưởng rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam, nói riêng và cách mạng thế giới, nói chung. Bài học này cũng được chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách khá nhuần nhuyễn vào cách mạng Việt Nam. Trong quá trình tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng XHCN, một mặt chúng ta tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, mặt khác chúng ta cũng thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế với các nước anh em (Lào, Campuchia, Trung Quốc…) và thế giới.

Có thể nói, thành công của Cách mạng Tháng Mười có ảnh hưởng trực tiếp, nhiều mặt đến việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ; đến sự nghiệp giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Cùng với những bài học và kinh nghiệm quý báu cho cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười đã đem đến người bạn chí tình sát cánh cùng Việt Nam, chính là Liên bang Xô Viết, trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và công cuộc xây dựng, phát triển đi lên CNXH sau này./.

Vận hội lớn của đất nước sau 32 năm đổi mới

Sau 32 năm đất nước đổi mới, thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định. Tầm vóc và ý nghĩa cách mạng sâu sắc của công cuộc đổi mới ở Việt Nam thể hiện ở việc chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Thành tựu đổi mới từ kết hợp nội lực và ngoại lực

Thực tiễn 32 năm đổi mới (bắt đầu từ Đại hội VI năm 1986), với 7 kỳ Đại hội, hai lần ban hành Cương lĩnh và 2 bản Hiến pháp mới, nhận thức của Đảng ta về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước đã có những bước tiến lớn; tiếp tục vận dụng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế. Công cuộc đổi mới đã tạo ra bầu không khí dân chủ và cởi mở trong xã hội, đã thiết lập được các cơ chế và chính sách để thực hiện quyền dân chủ của nhân dân.

Tận dụng lợi thế của một nước đi sau trong tiến trình toàn cầu hóa và vị thế địa-kinh tế nhờ nằm ở trung tâm một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, Việt Nam đã tích cực và chủ động hội nhập quốc tế để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy nguồn lực bên trong, đồng thời huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia, phấn đấu để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa theo hướng hiện đại thay vì thực hiện tuần tự con đường công nghiệp hóa như nhiều nước đã đi qua.

Hơn ba thập kỷ năm đổi mới, kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Việt Nam đã dần hình thành đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, vận hành cơ bản thông suốt, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế.

Thị trường hàng hóa, dịch vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện về quy mô, cơ cấu hàng hóa-thị trường trong và ngoài nước, kết cấu hạ tầng thương mại, dịch vụ, cơ chế quản lý, mức độ cạnh tranh. Tăng trưởng kinh tế đã cơ bản gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

An sinh xã hội cơ bản được đảm bảo, đặc biệt là trong vấn đề giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội, chính sách bảo hiểm y tế toàn dân tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa, y tế và giáo dục.

Nếu như giai đoạn đầu đổi mới (từ năm 1986-1990) tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%, thì 25 năm sau đó (1991-2016) nền kinh tế Việt Nam đã đạt bước tiến vượt bậc với những con số tăng trưởng rất ấn tượng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991-2016 trung bình gần 7%/năm, trong đó có 3 năm trên 7%, 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9% (năm cao nhất là 9,45%). Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước từ 5.156,4 triệu USD (năm 1991) lên gần 333,06 tỷ USD (năm 2016). Xuất khẩu càphê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới.

Tính đến ngày 20/4/2017, cả nước đã có 612.000 doanh nghiệp đang hoạt động, khoảng 20.000 doanh nghiệp FDI, trong đó có nhiều tập đoàn lớn. Nhiều thương hiệu lớn của Việt Nam đã khẳng định vị thế trên thị trường thế giới như: Vinamilk, Viettel, Vingroud, Sabeco, FPT, Masan Consumer, Vietnam Airlines, Hòa Phát, Petrolimex…

Từ một nước nông nghiệp thuộc nhóm nghèo của thế giới, với mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người chỉ đạt 188 USD (năm 1991), Việt Nam đã gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2011 và đến năm 2016, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.215 USD, gấp 11,78 lần so với năm 1991. Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt bước chuyển biến ấn tượng, tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế tại Việt Nam giảm mạnh và liên tục, từ 58,1% năm 1993 xuống 28,9% năm 2002, 14,2% năm 2010 và dự kiến còn 6,9% vào cuối năm 2017. Lạm phát đã được kiềm chế từ 774,7% năm 1986 xuống còn 12% (năm 1995) và từ đó đến nay lạm phát chỉ còn một con số.

Những con số thống kê đã nêu bật thành tựu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, làm cho tiềm lực kinh tế của đất nước tăng lên gấp nhiều lần.

Người đi bộ trên quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)  
Người đi bộ trên quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)  

Hành trình vươn ra “biển lớn”

Ngay từ Đại hội Đảng VI (năm 1986), Đảng đã chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đến tháng 5/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới. Liên tiếp các kỳ Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI, Đảng ta tiếp tục chủ trương mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.

Tại Đại hội Đảng XII, Đảng ta chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các mối quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Có thể khẳng định trong chính sách đối ngoại, chủ trương và định hướng lớn của Đảng và Nhà nước ta là đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại. Đảng ta bắt đầu từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn” và hiện nay “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế. Từ “phá thế bị bao vây, cấm vận” tiến đến “hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới” và tiếp theo là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” một cách toàn diện.

Cầu Nhật Tân - một trong ba cây cầu có số nhịp dây văng lớn nhất thế giới. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Cầu Nhật Tân – một trong ba cây cầu có số nhịp dây văng lớn nhất thế giới. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Qua 32 năm thực hiện đường lối đổi mới, với những thành tựu đạt được trong hoạt động đối ngoại, Việt Nam đã giành những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, quan hệ quốc tế có những thay đổi sâu sắc.

Những dấu mốc đáng nhớ của các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam hơn ba thập kỷ qua có thể kể đến như việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), với Hoa Kỳ (năm 1995), trở thành thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995; gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) năm 1998; trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, ký Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA) năm 2015…

Quá trình đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việt Nam đã tăng cường hợp tác và đối thoại chiến lược với nhiều đối tác; nâng cấp quan hệ song phương với một số quốc gia thành đối tác chiến lược và đối tác hợp tác toàn diện; đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn.

Việt Nam đã chủ động tham gia tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là Liên hợp quốc, trong xây dựng Cộng đồng ASEAN và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO; kiên trì cùng ASEAN thúc đẩy thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).

Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 185 nước trong tổng số 193 nước của Liên hợp quốc; thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả các châu lục

Tại các diễn đàn như ASEM, APEC, Liên hợp quốc, Việt Nam đều có tiếng nói, đề xuất sáng kiến, được các nước tôn trọng. Việt Nam cũng đã được bầu vào nhiều vị trí quan trọng như: Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2010); thành viên Hội đồng Kinh tế Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) (nhiệm kỳ 1998-2000, 2016-2018); thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 1978-1983, 2001-2005, 2009-2013 và 2015-2019; Tổng Thư ký ASEAN (nhiệm kỳ 2013-2017)…

Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ với 185 nước trong tổng số 193 nước của Liên hợp quốc; thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả các châu lục; tham gia vào 70 tổ chức quốc tế, khu vực; hợp tác nhiều mặt với các nước tạo sự tin cậy, tranh thủ được nguồn lực để phát triển đất nước, sự ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè quốc tế trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước…

Đặc biệt, công tác kiều bào của Việt Nam trong 32 năm qua đã có nhiều thành tựu lớn. Nghị quyết 36 ra đời đã gắn kết cộng đồng kiều bào với cộng đồng trong nước, khẳng định quan điểm của Nhà nước Việt Nam coi kiều bào là một bộ phận không thể tách rời, tranh thủ được sự ủng hộ của kiểu bào đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tràng Dương/TTXVN)
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Tràng Dương/TTXVN)

Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới

Những thành tựu 32 năm qua đã tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII (năm 2016) nêu rõ: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.”

Hiện tại và tương lai, Việt Nam tiếp tục phấn đấu quyết liệt hơn, phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Nước ta tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động tham gia vào nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị và hệ thống sản xuất toàn cầu, cải thiện vị thế và sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp và từng ngành kinh tế của nước ta trên thị trường thế giới; đồng thời, chủ động phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế với nền kinh tế đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Những năm tới cũng là thời kỳ Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầng mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Việt Nam tiếp tục tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong một thế giới nhiều biến động, để đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ, phát triển sáng tạo, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Tựu trung lại, thành tựu của Việt Nam trong 32 năm qua cùng với việc lần thứ hai được đăng cai tổ chức Năm APEC 2017 đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Đường lối đó đã góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội; chuyển tới bạn bè năm châu về hình ảnh một dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, đổi mới, năng động, tích cực phấn đấu vì hòa bình, tiến bộ xã hội và những giá trị chung của nhân loại./.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Ngôi sao sáng chỉ đường đi tới cuộc cách mạng xã hội

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp nhân loại bước sang trang mới. Thế giới không còn là độc tôn của chủ nghĩa tư bản. Một thời kỳ lịch sử đã được mở ra: nhiều quốc gia bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, quá độ lên chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu cao cả là độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Và tác giả tinh thần, lãnh tụ của các cao trào cách mạng đó chính là V.I. Lenin – người con ưu tú của dân tộc Nga, nhà tư tưởng vĩ đại, nhà chính trị kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Lãnh tụ vĩ đại

V.I. Lenin, tên thật là Vladimir Ilits Ulianov, sinh ngày 22/4/1870, ở Simbirsk (nay là Ulianovsk), trong một gia đình nhà giáo tiến bộ. Ngay khi còn ít tuổi, qua gia đình và người thân, Lenin đã tiếp thu được những tư tưởng tiến bộ, căm ghét chế độ độc tài Nga hoàng.

Năm 18 tuổi, Người nghiên cứu những tác phẩm của Karl Marx, Friedrich Engels, Georghi Valentinovitr Plekhanov và bắt đầu tham gia cách mạng, tuyên truyền tư tưởng Marxism.

Lenin xuất hiện tại Quảng trường Đỏ trong lễ tuần hành của các công dân nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười ngày 7/11/1919. (Nguồn: RIA Novosti)
Lenin xuất hiện tại Quảng trường Đỏ trong lễ tuần hành của các công dân nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười ngày 7/11/1919. (Nguồn: RIA Novosti)

Năm 1891, ông tốt nghiệp ngành Luật, trường Đại học Petersburg và từ năm 1893, trở thành người lãnh đạo nhóm Marxism ở Saint Petersburg. Năm 1894, Lenin vào Đảng Xã hội Dân chủ Nga. Từ đấy, ông là một trong những nhà tổ chức và lãnh đạo cách mạng Nga.

Thực tiễn hoạt động cách mạng của Lenin vô cùng phong phú. Ông là người đầu tiên đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Marx vào thực tiễn nước Nga; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga – tiền thân của Đảng Cộng sản Bolshevik Nga, một đảng vô sản kiểu mới đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, và thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết; là người đã làm chủ nghĩa Marx từ lý luận trở thành hiện thực.

Sau Cách mạng Tháng Mười, Lenin đã lãnh đạo những người Bolshevik và nhân dân lao động Nga đấu tranh thắng lợi chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ thành công sự tồn tại của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Lenin là tổng công trình sư đầu tiên của những phương hướng, kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết, trong đó đặc biệt là chính sách kinh tế mới (NEP).

Lenin là người tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản, thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tập hợp mọi lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Ông đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Marx vào giải quyết mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản.

Đồng thời, ông đã phát triển vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Marx thành vấn đề dân tộc và thuộc địa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa; đề ra những nguyên tắc có tính cương lĩnh của giai cấp vô sản về vấn đề dân tộc; coi phong trào giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi cũng như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn.

Người dân Nga tới viếng Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ ở thủ đô Moskva. (Nguồn: TTXVN)
Người dân Nga tới viếng Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ ở thủ đô Moskva. (Nguồn: TTXVN)

Khẩu hiệu của Marx “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” đã được Lenin phát triển thành “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”.

Dưới ngọn cờ của Lenin, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phátxít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã.

Tên tuổi của Lenin đã gắn liền với những cải biến cách mạng vĩ đại nhất trong xã hội loài người từ đầu thế kỷ XX đến nay. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lenin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Marx. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sỹ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lenin đã nhiều lần bị bắt, bị tù đầy, bị trục xuất ra nước ngoài, bị mưu sát, nhưng ông luôn là tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng kiên trung, về ý chí quyết tâm giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, về phẩm chất đạo đức cách mạng cao cả, về lối sống giản dị, trong sáng, gần gũi nhân dân.

Lenin mất ngày 21/1/1924, tại làng Gorki, Moskva. Thi hài của Người được đặt tại lăng ở Quảng trường Đỏ. Lenin được tạp chí Time (Mỹ) bình chọn là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX.

Giương cao ảnh vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản Vladimir Lenin trong một cuộc tuần hành kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Giương cao ảnh vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản Vladimir Lenin trong một cuộc tuần hành kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Những giá trị sống mãi

Lenin là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới; người bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Marx trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa; người sáng lập Nhà nước Xôviết – Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới và lãnh đạo nhân dân Liên Xô bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Lenin đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc. Di sản Lenin để lại cho nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn hoạt động cách mạng và tư tưởng lý luận.

Về di sản tư tưởng lý luận, Lenin là người đã kế tục, bảo vệ và phát triển một cách xuất sắc, toàn diện chủ nghĩa Marx cả triết học, kinh tế chính trị học Marxism và chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện mới.

Người đã phê phán một cách khoa học, thuyết phục những quan điểm tư tưởng, trào lưu lý luận sai lầm, như phái “dân túy” Nga, phái “Marxism hợp pháp,” khuynh hướng “tả” khuynh, “hữu” khuynh trong phong trào công nhân, chủ nghĩa cơ hội, xét lại… để bảo vệ chủ nghĩa Marx; đồng thời bổ sung, phát triển nhiều luận điểm cụ thể của chủ nghĩa Marx cho phù hợp với điều kiện thực tiễn cũng như sự phát triển của khoa học đương thời…

Nhiều vấn đề ở thời đại của Karl Marx và Friedrich Engels, thực tiễn lịch sử chưa đặt ra, nhưng được đặt ra trong thời đại mới đã được Lenin tìm ra câu trả lời đúng đắn, phát triển hết sức sáng tạo chủ nghĩa Marx… Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ của cuộc đấu tranh cách mạng, trước sau như một, ông luôn xuất phát từ linh hồn sống, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Marx và từ thực tiễn đấu tranh cách mạng để bổ sung, phát triển chủ nghĩa Marx.

“Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội” (Hồ Chí Minh)

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, chủ nghĩa Marx-Lenin nói chung, tư tưởng lý luận của Lenin nói riêng đã và đang bị các thế lực thù địch điên cuồng chống phá bằng nhiều thủ đoạn. Nhưng chính sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch càng chứng tỏ tinh thần khoa học, cách mạng và sức sống trường tồn của tư tưởng Lenin.

Dù hiện nay trên thế giới, sau sự tan rã ở Liên Xô và các nước Đông Âu, một số người tỏ ra hoang mang, dao động, thậm chí từ bỏ hệ thống lý luận cách mạng của chủ nghĩa Marx-Lenin, nhưng tinh thần khoa học, tính cách mạng, sức sống của chủ nghĩa Marx-Lenin vẫn còn mãi trong trái tim, khối óc của hàng triệu, hàng triệu người trên toàn thế giới.

Điều khẳng định của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc năm 1927: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lenin” ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bằng thực tiễn đấu tranh cách mạng của mình, những người cộng sản Việt Nam khẳng định rằng, những vấn đề cơ bản nhất trong học thuyết của Lenin là không gì bác bỏ được, vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và cách mạng trong thời đại ngày nay.

Lenin đã đi xa nhưng cuộc đời hoạt động cách mạng của ông vẫn là tấm gương sáng ngời để những người cộng sản chân chính trên toàn thế giới phấn đấu học tập, noi theo; tư tưởng, lý luận của ông vẫn sống mãi cùng thời gian, là ngọn cờ cách mạng soi sáng con đường giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các dân tộc trên toàn thế giới.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội”./.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Khẳng định vị thế của Việt Nam trong APEC

Năm 2017, Việt Nam vinh dự lần thứ hai đảm nhận vai trò chủ nhà Năm APEC 2017. Với vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, cùng với chủ trương của Ðảng và Nhà nước về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, Việt Nam sẽ tiếp tục sát cánh cùng các nền kinh tế thành viên đóng góp vào thành công chung của Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 25, vì một khu vực châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho mọi người dân.

13 đối tác APEC có quan hệ chiến lược, toàn diện với Việt Nam

Đánh giá đúng tầm quan trọng của APEC đối với sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực nói chung và của Việt Nam nói riêng, phù hợp với đường lối hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, ngày 15/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập APEC.

Tiếp đó, theo yêu cầu của APEC, tháng 8/1996, Việt Nam đã gửi cho APEC “Bản ghi nhớ hệ thống chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam.”

Đến ngày 14/11/1998, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao-Kinh tế, APEC đã tuyên bố kết nạp Việt Nam, Nga và Peru. Việc trở thành thành viên chính thức của APEC là một bước đi sâu hơn vào con đường hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, góp phần mở rộng kinh tế đối ngoại, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện điện hóa đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Thông qua hợp tác APEC, Việt Nam đã mở rộng thị trường, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch, khoa học công nghệ; tranh thủ sự hỗ trợ của các nền kinh tế thành viên trong những vấn đề nước ta quan tâm (gia nhập WTO, thu hẹp khoảng cách phát triển, kể cả về công nghệ thông tin).

Sau 19 năm tham gia, APEC đã mang lại nhiều tác động tích cực đối với tăng trưởng, phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện.

Cũng thông qua APEC, Việt Nam đưa ra một thông điệp mạnh mẽ đối với cộng đồng doanh nghiệp thế giới về chính sách thông thoáng đối với thương mại, đầu tư, góp phần đẩy mạnh hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp APEC, tăng thêm lòng tin và khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp APEC kinh doanh, đầu tư vào Việt Nam; tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác song phương với các nền kinh tế thành viên, đặc biệt là với các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản; Góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các trung tâm chính trị – kinh tế lớn trên thế giới.

Sau 19 năm tham gia, APEC đã mang lại nhiều tác động tích cực đối với tăng trưởng, phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó có thể kể đến việc góp phần nâng cao nội lực của đất nước.

Hiện nay, các nền kinh tế thành viên APEC chiếm tới 78% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam, 75% thương mại hàng hóa, 79% khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, khoảng 80% du học sinh Việt Nam đang học tập tại các nền kinh tế thành viên APEC, có 13 thành viên APEC hiện là các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam.

Một số nền kinh tế thành viên APEC đang dần trở thành đối tác chiến lược trong kế hoạch phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư của Việt Nam. Đã có 7 nền kinh tế thành viên APEC hiện nằm trong top 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam bao gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong (Trung Quốc), Malaysia và Singapore.

Trung tâm Báo chí Quốc tế phục vụ Tuần lễ Cấp cao APEC 2017. (Ảnh: TTXVN)
Trung tâm Báo chí Quốc tế phục vụ Tuần lễ Cấp cao APEC 2017. (Ảnh: TTXVN)

Phát huy vai trò chủ động, tích cực trong APEC

Là thành viên chủ động, tích cực, Việt Nam đã tạo dựng được vai trò và hình ảnh tốt trong khu vực APEC nói riêng và trên thế giới nói chung, được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Việt Nam đã thật sự tạo ấn tượng mạnh mẽ và hoàn thành tốt đẹp vai trò chủ nhà của APEC trong năm 2006, trong đó nổi bật là Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội, một trong những hội nghị được đánh giá có ý nghĩa bản lề, đưa ra những định hướng hợp tác dài hạn cho APEC.

Điểm nhấn của Năm APEC 2006 là đã thông qua Tuyên bố Hà Nội và Kế hoạch hành động Hà Nội nhằm thực hiện Lộ trình Busan, hướng đến mục tiêu Bogor là thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2020.

Việt Nam cũng đã đóng góp vào xây dựng các nội dung hợp tác, các chiến lược và kế hoạch hành động của APEC trong tất cả các lĩnh vực, thực hiện nghiệm túc các cam kết của APEC. Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ 6 về Phát triển nguồn nhân lực năm 2014; chủ trì đề xuất và triển khai trên 100 dự án thuộc nhiều lĩnh vực (thương mại, đầu tư, đối phó với tình trạng khẩn cấp, y tế, chống chủ nghĩa khủng bố….); chủ nhà năm APEC 2017.

Việt Nam đã đóng góp vào xây dựng các nội dung hợp tác, các chiến lược và kế hoạch hành động của APEC trong tất cả các lĩnh vực, thực hiện nghiệm túc các cam kết của APEC.

Đặc biệt, Việt Nam còn đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong APEC như: Phó Chủ tịch Ủy ban Thương mại và Đầu tư (năm 2006); Chủ tịch Nhóm công tác doanh nghiệp vừa và nhỏ (năm 2006); Chủ tịch Ủy ban quản lý ngân sách (năm 2007); Phó Chủ tịch Nhóm công tác Y tế (nhiệm kỳ 2009-2010); Chủ tịch Nhóm công tác về đối phó với tình trạng khẩn cấp (nhiệm kỳ 2012-2013).

Tại các diễn đàn, Việt Nam có tiếng nói độc lập và thuyết phục, góp phần giải tỏa mâu thuẫn giữa các nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực nhạy cảm. Qua đó, Việt Nam giành được thiện cảm và củng cố quan hệ với các nền kinh tế hàng đầu khu vực. Việt Nam là một trong ba thành viên tham gia thử nghiệm Quy tắc Ứng xử Doanh nghiệp với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khuôn khổ hợp tác chống tham nhũng, tham gia thử nghiệm Kế hoạch phục hồi thương mại trong trường hợp khủng bố tấn công.

Gần đây, Việt Nam cũng tiếp tục tham gia thúc đẩy các lĩnh vực ưu tiên của APEC phù hợp với lợi ích và quan tâm của Việt Nam như liên kết kinh tế, an ninh lương thực, ứng phó với thiên tai, quản lý nguồn nước, bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên biển. Điều này đã góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam trong APEC.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

APEC 2017 – tầm nhìn và vị thế mới của Việt Nam

Ngày 8/10/2013, Tuyên bố của Hội nghị Cấp cao APEC 21 đã nhấn mạnh các thành viên APEC nhất trí ủng hộ Việt Nam đăng cai Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 25 vào năm 2017. Đây là lần thứ 2 Việt Nam vinh dự nhận trọng trách đăng cai các hoạt động APEC kể từ năm 2006. Đây cũng sẽ là đóng góp thiết thực nữa của Việt Nam nhằm góp phần duy trì vai trò và vị thế của APEC, xây dựng một châu Á-Thái Bình Dương của thế kỷ 21 tự cường, năng động và thịnh vượng – động lực của tăng trưởng toàn cầu.

Việc tổ chức thành công hội nghị APEC 2017 được kỳ vọng sẽ không chỉ đem lại cho Việt Nam những đánh giá cao trong công tác tổ chức, mà còn thể hiện vai trò người dẫn đường của Việt Nam.

Với trách nhiệm của chủ nhà, Việt Nam đã sớm xác định chủ đề lớn của Năm APEC 2017 là: “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung.” Với nghị sự ưu tiên bao trùm này, Chủ tịch APEC 2017 đề ra 4 ưu tiên bao gồm: 1 – Thúc vực sâu rộng; 2 – Đẩy mạnh liên kết kinh tế khu vực sâu rộng; 3 – Nâng cao năng lực cạnh tranh, sáng tạo của các các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs) trong kỷ nguyên số; 4 – Tăng cường an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là những nội dung đáp ứng được quan tâm và lợi ích của các nền kinh tế thành viên, phù hợp với xu thế chung trong hợp tác quốc tế, đồng thời cũng phản ánh rõ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Việc tổ chức thành công hội nghị APEC 2017 được kỳ vọng sẽ không chỉ đem lại cho Việt Nam những đánh giá cao trong công tác tổ chức, mà còn thể hiện vai trò người dẫn đường của Việt Nam.

Việc xác định đúng chủ đề, ưu tiên và các hướng hợp tác của APEC 2017 thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Việt Nam. Trước hết, đó là tầm nhìn về một châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và phát triển năng động, tiếp tục là đầu tàu của tăng trưởng và liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tiếp theo là giải quyết thêm bài toán hoàn tất các mục tiêu Bogor về tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2020.

Ngoài ra, năm 2017 còn được kỳ vọng sẽ tiếp tục khẳng định vai trò của APEC là diễn đàn khởi xướng ý tưởng, định hướng và điều phối liên kết kinh tế, qua đó thúc đẩy xây dựng một cấu trúc khu vực bền vững, minh bạch, có khả năng thích ứng cao, bảo đảm tính bổ trợ, hài hòa của các cơ chế đa tầng nấc.

APEC 2017 cũng là thời điểm quan trọng để định hình Tầm nhìn của APEC sau năm 2020, xác định rõ các mục tiêu, hướng đi dài hạn và các trụ cột hợp tác cho Diễn đàn trong 10-15 năm tới. Do vậy, tổ chức Năm APEC Việt Nam 2017 thành công tốt đẹp sẽ góp phần phục vụ thiết thực các lợi ích phát triển của Việt Nam, đồng thời khẳng định tầm nhìn và vị thế mới của đất nước trong một thế giới toàn cầu rộng lớn./.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)