Các phe phái ở Liên minh châu Âu (EU) đang tiếp tục cuộc mặc cả chính trị để có thể đạt được kết quả cuối cùng tại hội nghị thượng đỉnh bất thường của khối sẽ diễn ra vào ngày cuối cùng của tháng Sáu, tức là ngay trước khi Nghị viện châu Âu (EP) nhiệm kỳ mới nhóm họp lần đầu tiên.
Quyết định triệu tập hội nghị thượng đỉnh bất thường vào ngày 30/6 là lựa chọn bắt buộc khi lãnh đạo 28 nước EU đã không thể nhất trí để hoàn thiện danh sách ứng cử viên cho chức chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) trong hội nghị thượng đỉnh mùa Hè vừa diễn ra tại Brussels (Bỉ) từ ngày 20-21/6.
Cục diện chính trị tại châu Âu đã xáo trộn đáng kể sau cuộc bầu cử EP hồi tháng Năm vừa qua, cán cân quyền lực thay đổi phản ánh sự phân rã và mâu thuẫn trong nội bộ EU. Thực tế này phần nào chi phối hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của EU sau cuộc bầu cử EP. Một loạt vấn đề nóng và hệ trọng như chuẩn bị nhân sự cấp cao, mục tiêu về khí hậu đến năm 2050, ngân sách Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), ngân sách dài hạn chưa tìm được giải pháp… đè nặng chương trình nghị sự của hội nghị.
Lại một cuộc thảo luận dài xuyên đêm 20/6 cho tới rạng sáng 21/6, nhưng cuối cùng các lãnh đạo EU đã không thể đi đến thống nhất để đưa ra được một danh sách ứng cử viên cho các vị trí hàng đầu của EU, trước hết là chức chủ tịch EC. Sự bất đồng giữa hai trung tâm quyền lực Đức và Pháp cộng thêm sự phân tán lực lượng tại EP làm câu chuyện nhân sự cấp cao vốn nhạy cảm và khó khăn lại đang trở nên bế tắc hơn bao giờ hết.
Toàn cảnh Hội nghị thượng đỉnh Liên minh châu Âu (EU) ở Brussels, Bỉ ngày 20/6/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Ngay từ ngày 28/5, hai ngày sau khi có kết quả bầu cử EP, Thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và các nhà lãnh đạo phe xã hội đã tỏ rõ quan điểm của mình: bà Merkel bảo vệ vị trí lãnh đạo cho ông Manfred Weber người Đức, ứng cử viên của nhóm đảng Nhân dân châu Âu (EPP), trong khi các lãnh đạo đảng xã hội ủng hộ Phó chủ tịch EC người Hà Lan Frans Timmermans.
Còn Tổng thống Pháp, dù không nêu một cái tên cụ thể, nhưng cũng đã ám chỉ bà Margrethe Vestager của Đan Mạch và nhà đàm phán chính Brexit của EU, ông Michel Barnier người Pháp, sẽ là các ứng cử viên phù hợp.
Sự phân tán lực lượng trong EP cũng làm phức tạp thêm việc lựa chọn một cái tên khả dĩ cho chức chủ tịch EC. Đảng EPP vẫn giữ được vị trí đầu tại EP nhiệm kỳ tới với 182 ghế, nhưng không còn khả năng áp đặt ý chí của mình trong việc « tìm kiếm vị trí hàng đầu” của EU như trước kia. Giờ còn phải tính tới ý kiến của đảng Dân chủ Xã hội (153 ghế) và nhóm đảng Tự do, với 108 đại biểu, trong đó có 21 người thuộc đảng của ông Macron.
Sau cuộc thương lượng đêm 20/6, cả 3 ứng cử viên hàng đầu là Manfred Weber, Frans Timmermans và Margrethe Vestager đều không nhận được sự ủng hộ tại Hội đồng châu Âu và cả EP, nơi họ phải có được đa số nhất trí nếu muốn giành chiến thắng.
Tại EU, các quyết định quan trọng thường đặc biệt khó thực hiện và thường phải cần ít nhất 3 lần họp thượng đỉnh mới có thể ra được kết quả
Tại Brussels, các quyết định quan trọng thường đặc biệt khó thực hiện và thường phải cần ít nhất 3 lần họp thượng đỉnh mới có thể ra được kết quả. Rõ ràng, việc chỉ định các vị trí cao nhất trong EU – chủ tịch EC, chủ tịch Hội đồng châu Âu, chủ tịch EP, Ủy viên EU phụ trách chính sách an ninh và đối ngoại và thậm chí cả vị trí lãnh đạo Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) – cũng khó tránh được quy luật này.
Sau 2 hội nghị thượng đỉnh EU bàn về nhân sự cấp cao chưa đạt kết quả, cuộc họp thứ ba vì thế sẽ diễn ra tối 30/6, chỉ hơn một ngày trước thời điểm diễn ra phiên họp toàn thể đầu tiên của EP – ngày 2/7.
Nhiều khả năng các cuộc đàm phán về nhân sự cấp cao của EU có thể được tiếp tục ngay bên lề Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) ở Nhật Bản từ 28-29/6, nơi 6 nhà lãnh đạo quốc gia hàng đầu EU sẽ cùng góp mặt.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron (phải) và Thủ tướng Đức Angela Merkel (trái, phía trước) trước Hội nghị thượng đỉnh EU ở Brussels, Bỉ ngày 20/6/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Các nhà lãnh đạo EU hiện chỉ còn 8 ngày ngắn ngủi để đưa ra một danh sách gồm 4 hoặc 5 ứng cử viên nhằm đảm bảo chắc chắn có được đa số phiếu bầu tại Strasbourg. Để được bổ nhiệm, một ứng cử viên phải nhận được tối thiểu 21 trong số 28 lãnh đạo các nước thành viên EU chấp nhận, và đạt số phiếu ủng hộ của ít nhất 376 nghị sỹ tại EP (trong số 751 nghị sỹ).
Về lý thuyết, cuộc đàm phán đêm 20/6 đã loại bỏ 3 cái tên trước đó được coi là sáng giá cho chức chủ tịch EC, tuy nhiên hiện chưa thể biết liệu những nhân vật này có thể vẫn giữ một vị trí khác trong EU hay không.
Nhiều cái tên mới được nhắc đến cho vị trí chủ tịch EC, như Tổng thống Croatia Kolinda Grabar-Kitarovic hay Thủ tướng nước này Andrej Plenkovic, Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel và cả Thủ tướng Bỉ Charles Michel, thậm chí cả Chủ tịch Hội đồng châu Âu đương nhiệm Donald Tusk – dù bản thân ông đã lên tiếng phủ nhận. Điều này cho thấy cuộc đua kịch tính chắc chắn sẽ diễn ra cùng với các cuộc mặc cả căng thẳng.
Cũng tại hội nghị thượng đỉnh mùa Hè này, cuộc chiến chống biến đổi khí hậu một lần nữa lại chứng kiến sự rạn nứt Đông-Tây ngay trong nội bộ EU. Ba Lan, được Hungary, Cộng hòa Séc và Estonia hậu thuẫn, đã phản đối mục tiêu tham vọng của EU giảm lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính về mức 0% vào năm 2050. Các nước Đông Âu muốn nắm rõ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh sẽ được tài trợ ra sao và nó có được ngân sách EU hỗ trợ hay không. Lãnh đạo Ba Lan cho biết nước này chưa thể đồng ý một khi chưa biết về cơ chế bồi thường.
Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel (trái) và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker trước Hội nghị thượng đỉnh EU ở Brussels, Bỉ ngày 20/6/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Nhiều nhận định cho rằng EU sẽ chỉ đạt được thống nhất về mục tiêu khí hậu tại hội nghị thượng đỉnh tháng 12, thời điểm đã có sự rõ ràng hơn trong vấn đề đàm phán về ngân sách dài hạn 2021-2027, với cam kết gia tăng gói ngân sách hỗ trợ các hành động làm giảm bớt những mặt trái của quá trình chuyển đổi sinh thái đối với những khu vực phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch. Điều này đặt EU vào tình thế khó khi liên minh này đang là một thực thể gây ô nhiễm lớn thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Mỹ, và có nguy cơ không đạt được cam kết chung tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu của Liên hợp quốc, nhóm họp ngày 23/9 tới.
Liên quan vấn đề cải cách Eurozone, EU đã kêu gọi 19 quốc gia thành viên Eurozone nhanh chóng tìm ra cách tài trợ cho ngân sách Eurozone, được xem là để ổn định nền kinh tế và củng cố vị thế đồng euro. Tuy nhiên, hiện các nước vẫn chưa đưa ra được một kế hoạch rõ ràng liên quan tới ngân sách của khối. Sự bất đồng còn nằm ở chỗ số tiền này – cũng chính là một phần của ngân sách chung – sẽ được lấy từ đâu, cụ thể là nguồn thuế hay đóng góp trực tiếp của các quốc gia thành viên.
Việc giải quyết những căng thẳng liên quan tới ngân sách Eurozone được nhận định là một cuộc chiến dài hơi
Việc giải quyết những căng thẳng liên quan tới ngân sách Eurozone được nhận định là một cuộc chiến dài hơi. Cuộc thảo luận vấn đề quan trọng này diễn ra từ hơn một năm qua, nhưng hiện đang bị đình trệ vì “sự thiếu nhiệt tình” của Đức và sự phản đối có hệ thống của “Liên minh Hanseatic” do Hà Lan dẫn đầu.
Pháp và một số nước Nam Âu muốn một ngân sách quy mô lớn hơn, mà nguồn tài trợ là các sắc thuế đặc thù, đủ khả năng trợ giúp các nền kinh tế trong trường hợp bị ảnh hưởng bởi một cú sốc bất ngờ. Trong khi đó, Hà Lan và các đồng minh Bắc Âu chỉ muốn một ngân sách hạn chế và được tài trợ từ nguồn mà EU hiện có, sẽ được sử dụng để đầu tư hoặc hỗ trợ cải cách cơ cấu.
Ở thời điểm hiện tại, dường như EU đang bị chia rẽ và phân hóa sâu sắc về hầu hết các vấn đề hệ trọng đối với vận mệnh và tương lai của khối. Lãnh đạo các nước EU buộc phải thống nhất được danh sách các ứng cử viên tiếp quản những vị trí lãnh đạo chủ chốt trong thời gian chỉ còn được tính bằng tuần. Các vấn đề ngổn ngang còn lại chỉ thực sự được giải quyết sau khi vị trí nhân sự cấp cao cho nhiệm kỳ mới của EU đã ngã ngũ./.
Biểu tượng đồng Euro tại Frankfurt, Đức. (Ảnh: THX/TTXVN)
2018 was a successfulyear for the Vietnamese economywith budget collection topping 1.4 quadrillion VND (60.2 billion USD), exceeding expectations by more than 100 trillion VND. In the first days of 2019, Minister of Finance Dinh Tien Dung spoke to the media on major achievements throughout the year.
Along with socio-economic success, the financial-budget work also saw comprehensive results, said the minister.
State budget collection and spending as well as public finance work in 2018 showed positive outcomes, completing targets set in Politburo Resolution 07/NQ-TW.
In 2018, State budget collection surpassed the estimate by 7.8 percent, with the central budget exceeding the target by 4.3 percent, and local budget 12.5 percent higher than the goal.
The localisation rate in State budget collection reached 80.6 percent, he noted.
Budget spending structure was transformed positively, with more than 27 percent spent for development investment, higher than the target for 2016-2020 at 25-26 percent. Regular spending fell to 62 percent of the total.
In 2018, State budget collection surpassed the estimate by 7.8 percent, with the central budget exceeding the target by 4.3 percent, and local budget reaching 12.5 percent higher than the goal. (Photo: VNA)
State budget overspending in 2018 was under 3.6 percent of GDP, while public debt accounted for about 61 percent of GDP. Public debt management showed progress, easing the impact of risks, said the minister.
At the same time, in 2018, the Ministry of Finance deployed administrative reform measures and re-organised its personnel system.
So far, online tax declaration has been launched in all the 63 cities and provinces, which has been used by 99.92 percent of the businesses. Alongside, 98.41 percent of the total enterprises registered to pay tax online, while 93.14 percent of the total dossiers for tax refund were processed online.
“Last year, the ministry completed all the 85 administrative tasks it planned, deleting 18 among the 166 reviewed procedures, and simplifying 111 out of 139 others. The ministry also cut and simplified 117 out of the 190 business and investment conditions under its management.”
Also in 2018, the ministry implemented 98,660 inspections, proposing the financial settlement of more than 23.14 trillion VND, including 17.94 trillion VND reclaimed to the state budget.
However, the minister also admitted several shortcomings and weaknesses that need tackling, including slow disbursement, equitisation and divestment in State-owned enterprises as well as economic reform and public investment.
Foreign debts remained high at about 49.7 percent of GDP, he noted, adding that the observation of financial rules was poor in some agencies, leading to losses.
Minister Dung said budget collection in three economic sectors saw good growth from 2017, with 4 percent in the State-owned sector, 8.8 percent in the FDI sector and 15.8 percent in the private sector.
However, collection in all the three sectors failed to meet the target. The minister attributed the situation to difficulties facing production and business activities for some areas and sectors, along with natural disasters’ impact. The economic restructuring and slow settlement of bad debts also put pressureon budget collection, he added.
Finance Minister Dinh Tien Dung (Photo: VNA)
In the near future, the ministry will continue implementing Resolution 51/NQ/VP to reform budget collection resources, striving to complete the domestic collection goal in 2016-2020 at about 85 percent of the total State budget collection, he stated.
Regarding the pressure of original debt payment, which is estimated at 197 trillion VND in 2019, to the State budget, Minister Dung said in 2013-2015, the Vietnamese economy was affected by the global financial crisis. Therefore, the country mobilised a great deal of resources from loans with terms ranging from 3-5 years.
This has led to rapidly rising demand in original debt payment in recent years. The payment was 144 trillion VND in 2017, and 146.77 trillion VND in 2018. The figure in 2019 is estimated at 181.97 trillion VND, and 197 trillion VND if the payments of localities are included.
However, authorised agencies have reformed the structure of public debt in terms, interest rates as well as domestic and foreign loans. Specifically, the average the Government bond term was set at 3.9 years in 2011, 12.74 years in 2017, and 12.89 years in 2019. Therefore, the average loans’ term for Government bond was 1.84 years in 2011, 6.7 years in 2017, and 6.69 years as of the end of September 2018.
Although the payment of original debts is not calculated in the State budget balance, the payment of due debts has been implemented fully and in a timely manner, thus not increasing the ratio of Government’s debts, ensuring national financial safety, said the official.
He said that in the future, the scale of original debt payment will continue to increase.
On measures to minimise State budget waste due to the low rate of disbursement of capital construction investment, Minister Dung said that as of December 15, 2018, more than 242.38 trillion VND was disbursed through the State Treasury, reaching 61.8 percent of the capital plan of 2018. By January 31, 2019, the figure was estimated at 313.87 trillion VND, 80 percent of 2018’s plan.
The disbursement of capital construction capital was lower than the yearly plan set by the Government, he noted.
In 2018, the Government bonds allocated to ministries, sectors and localities were mostly for newly-launched projects, which were approved in October 2017 and on the stage of technical design for tendering. Therefore, the disbursement of the Government bond capital was mostly implemented in late 2018. The disbursement rate as of December 15, 2019 reached only 31 percent, much lower than that in the same period in 2017 at 61 percent, thus leading to the low average rate, he explained.
Obstacles during compensation for ground clearance also affected the progress of the projects as well as disbursement speed, the official said, adding that the restructuring and completion of organisations of project management boards also slowed the process.
The disbursement of capital construction capital in 2018 was lower than the yearly plan set by the Government (Photo: VNA)
Problems in policies and mechanisms also affected the progress of public investment capital, he said.
The Ministry of Finance has proposed the Government direct the ministries, sectors and localities to focus on dealing with issues related to mechanisms and policies by revising the Law on Construction, the Law on Investment, the Land Law and other guiding documents.
For ODA projects, the ministry suggested speeding up disbursement progress, while adjusting the capital plan to suit the development of the projects.
The ministry also urged other ministries, sectors and localities to direct investors to focus on accelerating the progress of projects’ implementation and making prompt payment for completed items at the State Treasury, stated the minister.-VNA
Forty years after the victory of the southwest border defence war and the joint victory over the genocidal Khmer Rouge regime together with the Cambodian army, we met with people who held guns to protect the southwestern border of the country and liberate the Cambodian people to learn about the “Buddha’s army” in the past.
MUST-FIGHT WAR
In 1978 when Le Thanh Hieu and Xuan Tung were 18 years old, they joined the army and fought on the southwestern battlefield. Hieu was from Regiment 209, Division 7, Corps 4, while Tung was from Regiment 2, Division 9.
Xuan Tung from Regiment 2, Division 9
Tung said at first he intended to go south to work. While witnessing the border hostilities, he thought it was just a simple border conflict. However, when he read about the massacre committed by the Khmer Rouge in Tan Bien in the southwestern province of Tay Ninh, even children killed, Tung and his comrades knew they would have to join a fierce battle.
Thanh Hieu from Regiment 209, Division 7, Corps 4
According to Hieu, the early days of the defence of the southwestern border were hard. “I fought on the border for four months. In these months, we only sought to protect the territory and negotiate peace with the Khmer Rouge. This work had been carried out long before. We had come out of long battles, and we didn’t want to lose anymore.”
However, it was a must-fight war because the enemy did not allow us to choose. Hieu and Tung’s Corps 4 and other units participating in the battle had been assigned by history to liberate the Cambodian people from the Khmer Rouge.
They went through uninhabited villages and cities. And they had to face one of the most evil enemies in human history. “I still remember saving the corpses of the battalion. When we arrived, we caught the sight of the martyrs who had their faces shattered with infantry shovels. We could not recognise anyone. There were also prisoners who were beheaded or brutally executed. A lot of barbarism that I couldn’t comprehend,” Tung said.
Photo VNA
The Khmer Rouge never kept prisoners. They used brutal torture and murder when capturing Cambodian soldiers and people who did not support them. Therefore, Tung and his comrades always brought grenades along so that they would not “die twice”. This meant that when they died, they would not allow the Khmer Rouge to “execute” their bodies again. The grenades were ready to explode in case they were wounded. Tung and his comrades always carried the grenades when fighting the Khmer Rouge. In 1983 when Tung was ordered to return from military service, he defused the grenade when reaching the border of his home country.
In addition, Vietnamese soldiers had to fight in the strange terrain of the neighbouring country. It was not mentioned that soldiers from northern Vietnam were completely unfamiliar with the climate in Cambodia.
“In the north there are four seasons, travelling to the south then to Cambodia there are only rainy and dry seasons,” Hieu said, adding that it was extremely difficult to fight in the rainy season. “We had to face the water and face the enemy at the same time.”
They went through uninhabited villages and cities. And they had to face with one of the most evil enemies in human history. (Photo VNA)
In the dry season, water was a big issue, according to veterans. Many people died of thirst. Everything changed when Hue’s battalion captured a group of Khmer Rouge prisoners. When caught, their heads were wet with water, not sweat. At that time, the battalion let them be thirty like Vietnamese soldiers. Then our soldiers pretend to let them escape. The scouts followed them and discovered where they got the water.
“In the war of the liberation of the Cambodian people, we experienced a special psychology, which was fighting for other people,” Hieu said.
“In the national defence war, we fought to protect our country, our parents, brothers and sisters and fellow citizens. Now we sacrificed our lives to save another nation. But we never hesitated and did not tolerate the Khmer Rouge. Looking deeply into the eyes of Cambodians, I thought about my relatives.”
According to Tung, Pol Pot protected his power by driving people along his army’s withdrawal. They might lose land but they needed the people to serve the war. And they were ready to shoot the old and weak who could not keep up with them. Wherever Vietnamese soldiers liberated the land, people ran towards the Vietnamese soldiers to return to their homeland.
Tung said: “I still remember the battle at Mount Aoral in Pursat province. When Pol Pot troops were repulsed, we found starving people in the mountains and forests. We gave rice to them and led them to the big road to return home. I was obsessed with the image of an arm that had been dried in the pocket of a person in the group of hungry people.”
According to veterans, they marched through the “dead fields” and desolated villages. Hieu’s military unit planted rice in abandoned fields for self-supply. For many months, they cultivated rice. However, for fear of being misunderstood, Hieu’s group distributed the rice to Cambodian people.
“The sentiment between Vietnamese soldiers and Cambodian people in the liberated areas was very clear. There were times when we were offered chickens by locals but looking at their misery, we did not accept anything. We returned the chickens and told them to keep them for breeding. Looking at the devastation scenes of Cambodia at that time, I thought the cattle and poultry in this country were not much left.”
Cambodian people helped Vietnamese soldiers build barracks. They invited the soldiers to dring palm juice. In return, soldiers shared their limited rations with hungry people.
Hieu said once at night there was an old man in the barracks. He looked emaciated. He said the Khmer Rouge had exhausted the Cambodian people. They were so hungry that they had to find palm fruit to eat, tut the Khmer Rouge killed those who ate palm because they supposed that all things in Cambodia belonged to Ankar, said Hieu, tears filling his eyes. The image of the old man in the flickering light was imprinted in our mind.
Cambodian people welcome Vietnamese volunteer soldiers (Photo VNA)
On the night of January 7, 1979, the day that the “Buddha’s army” and Cambodian army liberated the capital of Phnom Penh, Hieu said his first impression was the empty city. He said it felt like standing in a dead city, not a capital of a country. Ruined landscape, bodies in many places. The city was miserably dark that night with only Vietnamese soldiers. Late at night, he saw a house with a balcony showing a lot like the Hanoi sidewalk. He lied down and took a nap until morning. He later learned it was the famous Orussey market of Phnom Penh.
According to veterans, after fighting in Phnom Penh and other places, they came back to the capital and witnessed quick changes. Lights brightened up many places, ice flakes were sold on the streets, while the riel money was widely circulated.
Both Hieu and Tung were discharged in 1983. After defusing the grenade, the first thing Tung did was eat ‘hu tieu’ (noodles served hot with other ingredients) and drink coffee. The feeling of returning home after many years of fighting was so special. The Vietnamese scene, noodles and coffee were so familiar. He had two bowls of “hu tieu”, then drank four cups of coffee. The eating and drinking were right in the border province of Tay Ninh, as Hieu could not wait any longer until he reached Ho Chi Minh city.
The sentiment of Cambodian people given to Buddha’s soldiers (Photo VNA)
Hieu had missed the mother tongue. Coming back home, he was touched to hear the Vietnamese language in daily life.
Four decades have passed by, the devastated Orussey market where Hieu slept through the first night of the Phnom Penh liberation day has now become a famous tourist destination. He is now able to enjoy a cup of coffee on Hanoi’s streets and tell war stories.
He said he still remembers a fierce battle in Pursat province on April 17, 1979 when he and his comrades were near death because of a surprise attack.
Story of southwestern soldiers
“Story of southwestern soldiers” memoir
Luckier than other soldiers, Tung returned home with good health. The old war veteran started writing a 300-page memoir about the years of fighting in the K (Canbodia) battlefield with the title “Stories of southwestern soldiers”.
The memoir is considered an epic and military history of the revolutionary army.-VNA
The healthcare sector closed the year 2018 with remarkable achievements, with various adjustments made to medical service prices improving public healthcare.
Minister of Health Nguyen Thi Kim Tien granted an interview to Vietnam News Agency’s reporter on the issue. Financial autonomy in state-owned hospitals has raised considerable concern from society. Can you explain the Ministry of Health (MoH)’s policies to ensure the benefits of both medical institutions and patients? As we know, the autonomy mechanism has promoted state-owned hospitals’ motivation and creativity in their organisation and effective use of human resources and finances, contributing to improving the quality of healthcare services. The hospitals will be able to mobilise non-state capital to develop infrastructure and equipment, and reduce state budget spending. However, autonomy has shown several limitations, including assigning more subclinical services, lengthening the time of hospitalisation, saving human resources and reducing costs to enhance the difference of budget collection and spending.
Autonomy has shown several limitations, including assigning more subclinical services, lengthening the time of hospitalisation, saving human resources and reducing costs to enhance the difference of budget collection and spending
Therefore, the MoH is building solutions to enhance autonomy mechanism in state-owned hospitals. Which measures will be carried out in the near future? The ministry has classified autonomous hospitals into four groups: those that have stable, sufficient revenue to cover expenditures and have some left to invest in facilities, equipment and human resources; those that can handle expenditures only; those whose revenues can partly cover expenses, and; finally, those that are entirely dependent on the State budget. The first group use non-state capital to make investments or they receive state money for investment but since they become autonomous, they have to invest on their own, except in special cases.
Minister of Health Nguyen Thi Kim Tien (Photo: VietnamPlus)
In addition, the ministry has built a complete legal corridor, which attaches the responsibility of heads of the hospitals in managing assets, finance and human resources. Autonomy handover must be in accordance with the hospitals’ financial capability. If a hospital has strong financial power, it will be more autonomous in organisational structure and finance. Autonomous units must be able to ensure regular spending and investment, and they must have a management board to decide important issues of the hospitals. The ministry is targeting autonomous medical units who are able to build and issue healthcare service price mechanisms coupled with an evaluation system of hospital quality. Any hospital that receives a good rating for its service quality will get a higher price coefficient, and vice versa.
The ministry is targeting autonomous medical units who are able to build and issue healthcare service price mechanisms coupled with an evaluation system of hospital quality. Any hospital that receives a good rating for its service quality will get a higher price coefficient, and vice versa.
Many people are raising a lot of questions related to the differences in service prices at state-owned hospitals. When will the MoH issue a circular stipulating ceiling prices for medical services in all state-owned hospitals?
A circular giving detailed instructions for the building of prices for healthcare services is being developed by the MoH. It will stipulate principles for calculating prices, which cover costs and rational accumulation for re-investment. Heads of hospitals are responsible for developing and determining the prices of healthcare services and price listing in line with regulations. Regarding clinics that use state-invested infrastructure and equipment, hospital leaders are allowed to decide levels of collection, below the maximum prices issued by the MoH. The circular will be issued and put into effect in early 2019.
Photo: Medical examination for mountainous locals in Muong Te district, Lai Chau province (Photo: VietnamPlus).
Could you please explain the MoH’s policies to handle issues related to payments in accordance with the healthcare insurance payment norms to ensure the benefits of patients while lessening pressure on hospitals?
The health sector is the pioneer in shifting to fee-for-service mechanism, and it is working for a common price mechanism for all hospitals. There are several challenges ahead to deal with as there are some hospitals with costs higher than common norms while many have costs below the standard band.
The MoH has made adjustments to economic and technical standards and prices of several technical services, making them suitable with actual costs. Under the Prime Minister’s guidance, the MoH is working with the Ministry of Finance and the Vietnam Social Security to reach agreement on instructions for healthcare insurance payment, assuring the benefits of patients, the Vietnam Social Security and hospitals while complying with legal regulations on service prices and facilitating conditions for hospitals’ development. What is the focus of the health sector in 2019?
This year, the sector will implement programmes to improve the efficiency of the clinics’ operation and public health. It will work to prevent disease outbreaks, carry out target programmes on health and population, control the differences in sex ratio at birth, and promote healthcare services for the elderly, among others. The sector will also continue to complete medical service prices, enhance autonomy and promote decentralisation. The move aims to expand healthcare insurance coverage, bolster public-private cooperation in the sector and help private healthcare to develop.
The sector will also continue to complete medical service prices, enhance autonomy and promote decentralisation. The move aims to expand healthcare insurance coverage, bolster public-private cooperation in the sector and help private healthcare to develop.
The MoH is moving to improve healthcare services for local people (Photo: VietnamPlus)
Trải qua hơn 5 thế kỷ xây dựng và phát triển, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã phát triển thành một tổ chức quy mô với nội dung hợp tác ngày càng sâu rộng, gặt hái nhiều thành công, mở ra vận hội mới trong lịch sử khu vực Đông Nam Á. Và trong quá trình ấy có dấu ấn đậm nét của Việt Nam.
Sự phát triển của ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967, đến nay đã có đủ 10 nước Đông Nam Á là thành viên, bao gồm: Indonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore, Malaysia, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia.
Kể từ khi ra đời, dù còn có sự khác biệt về tôn giáo, về trình độ phát triển, về cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin… song 10 nước ASEAN đã coi nhau như anh em một nhà, để hỗ trợ, giúp đỡ và cùng nhau phát triển về mọi mặt. Và nền tảng cho các thành tựu trong hơn 5 thập kỷ qua chính là những cơ chế hợp tác nội khối của ASEAN được triển khai thông qua các hiệp ước, diễn đàn, hội nghị, dự án, chương trình phát triển, việc xây dựng Khu vực tự do thương mại ASEAN và các hoạt động văn hóa thể thao khu vực.
Các nhà lãnh đạo ASEAN đã từng bước xây dựng và vận dụng những cơ chế này nhằm đảm bảo các mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và tiến bộ xã hội của các nước thành viên; xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình ổn định, có nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển.
Nghi thức thượng cờ ASEAN tại Trụ sở Bộ Ngoại giao nhân kỷ niệm 51 năm thành lập ASEAN (8/8/1967-8/8/2018). (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Về chính trị-an ninh, trong những thập kỷ qua, trật tự khu vực tương đối ổn định nhờ các cơ chế hợp tác an ninh, đối thoại, các nguyên tắc của Phương cách ASEAN: Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Về kinh tế, năm 2018, GDP của ASEAN đạt gần 3.000 tỷ USD, là nền kinh tế tăng trưởng nhanh, có quy mô lớn thứ 6 trên toàn cầu. ASEAN đã ký kết 6 Hiệp định thương mại tự do với 7 đối tác thương mại hàng đầu trên thế giới.
Về văn hóa-xã hội, giá trị và bản sắc chung của khu vực đã được xây dựng thông qua các hoạt động hợp tác ASEAN trong lĩnh vực văn hóa-xã hội, qua đó đã từng bước tăng cường hiểu biết và tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Đông Nam Á, giữa các nước trong khu vực với các nước ngoài khu vực. Nhờ các hoạt động giao lưu thể thao, kết nối văn hóa, giáo dục, các giá trị và bản sắc chung của khu vực đã được củng cố và ý thức cộng đồng của các nước ASEAN đã được tăng cường. Nhân quyền và các quyền tự do cơ bản được thúc đẩy và bảo vệ.
Dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của ASEAN là sự hình thành Cộng đồng ASEAN vào ngày 31/12/2015 với 3 trụ cột gồm Chính trị-An ninh (APSC), Kinh tế (AEC) và Văn hóa-Xã hội (ASCC)
Một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của ASEAN là sự hình thành Cộng đồng ASEAN vào ngày 31/12/2015 với 3 trụ cột gồm Chính trị-An ninh (APSC), Kinh tế (AEC) và Văn hóa-Xã hội (ASCC). Đây là một dấu mốc quan trọng, nâng hợp tác ASEAN lên một tầm cao mới và đòi hỏi các quốc gia thành viên phải nỗ lực hơn nữa để xây dựng một cộng đồng trong đó hơn 630 triệu người trong Đông Nam Á được sống trong môi trường hòa bình, hữu nghị, các dân tộc đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau và được hỗ trợ phát triển đồng đều.
Hướng tới Tầm nhìn ASEAN 2025, ASEAN đã đặt ra ba kế hoạch tổng thể của các trụ cột, làm kim chỉ nam cho hoạt động của các cơ quan chuyên ngành của từng trụ cột đến năm 2025.
Hội nghị quan chức Quốc phòng cấp cao ASEAN mở rộng (ADSOM+) năm 2019 diễn ra ngày 4/4/2019 tại Phetchaburi, Vương quốc Thái Lan. (Ảnh: Sơn Nam/TTXVN)
Trong khuôn khổ xây dựng APSC tới năm 2025, ASEAN tiếp tục ưu tiên đẩy mạnh đối thoại và hợp tác vì hoà bình, ổn định ở khu vực, thúc đẩy xây dựng lòng tin, xử lý hữu hiệu những thách thức nảy sinh cũng như góp phần giảm căng thẳng tại một số điểm nóng khu vực.
Về AEC, mục tiêu là tạo ra một nền kinh tế ASEAN hội nhập sâu và gắn kết cao, nhằm hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế cao bền vững và khả năng phục hồi ngay cả khi đối mặt với các cú sốc kinh tế toàn cầu và các biến động bất thường. Về ASCC, hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN lấy nhân dân làm trung tâm, đùm bọc, tương thân tương ái, vượt qua những khó khăn và thách thức của quá trình toàn cầu hóa, với mục tiêu quan trọng nhất của ASCC là thúc đẩy tiến bộ xã hội và xây dựng bản sắc chung.
Đến nay, ASEAN đã bước vào giai đoạn giữa kỳ triển khai Tầm nhìn ASEAN, với kết quả đáng khích lệ: đang triển khai 258/290 dòng hành động trong Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị-An ninh; 154/157 ưu tiên của Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Kinh tế; đã thực hiện 954 hành động của 109 biện pháp chiến lược của Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Văn hóa-Xã hội.
Có thể khẳng định sự phát triển và hợp tác vững chắc của ASEAN đã góp phần không nhỏ vào thành tựu chung của thế giới trong thiên niên kỷ mới nói chung, nâng cao vị thế của các nước ASEAN trên trường quốc tế nói riêng, cũng như tạo tiền đề cho các khu vực khác đẩy mạnh hợp tác. Đến nay đã có 91 quốc gia cử Đại sứ về ASEAN, 37 quốc gia tham gia Hiệp ước Hợp tác và Thân thiện khu vực Đông Nam Á (TAC). Các kỳ Hội nghị cấp cao ASEAN hàng năm đã trở thành sự kiện quốc tế quan trọng.
ASEAN đã khẳng định vai trò chủ đạo trong việc xác định các ưu tiên, chương trình nghị sự, định hướng phát triển của các tiến trình hợp tác. Đồng thời, ASEAN thể hiện vai trò dẫn dắt, định hướng, điều hòa các lợi ích khác biệt của các nước, nhất là các nước lớn, phù hợp với đặc thù, ưu tiên và lợi ích của ASEAN.
Dấu ấn Việt Nam trong ASEAN
Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Đây là một dấu mốc lớn đánh dấu quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam cũng như tiến trình hợp tác, liên kết của cả khu vực.
Là thành viên có dân số lớn thứ 3 và diện tích đứng thứ 4 trong ASEAN, với vị trí địa chiến lược và kinh tế quan trọng ở Đông Nam Á, Việt Nam có vai trò quan trọng trong ASEAN và được các nước thành viên khác đặt nhiều kỳ vọng.
Và thực tế đã chứng minh, 24 năm tham gia ASEAN, dù là thành viên đến sau, trình độ phát triển còn khoảng cách với nhiều nước, nhưng Việt Nam luôn thể hiện thiện chí và nỗ lực, nhiệt huyết và trách nhiệm, đóng góp không nhỏ vào thành tựu chung của ASEAN.
Đại diện thường trực các nước ASEAN chụp ảnh chung tại phiên họp của Ủy ban các đại diện thường trực tại ASEAN (CPR) ngày 20/6/2019. (Nguồn: TTXVN)
Theo Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng, có thể nhóm những đóng góp của Việt Nam cho sự phát triển và lớn mạnh của ASEAN thành hai nhóm: các đóng góp theo cơ chế luân phiên và các đóng góp do Việt Nam chủ động đề xuất và được ASEAN thống nhất.
Đối với nhóm thứ nhất, Việt Nam đã có Năm Chủ tịch ASEAN 2010 thành công trong tất cả các lĩnh vực, được các nước thành viên và đối tác đánh giá cao; các nhiệm kỳ điều phối quan hệ đối tác thành công với các đối tác lớn và quan trọng của ASEAN như Trung Quốc, EU, Ấn Độ và vừa nhận vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN-Nhật Bản giai đoạn 2018-2021 với nhiều kỳ vọng. Ở nhóm thứ hai, Việt Nam đã chủ động đi đầu trong các nội dung có lợi thế và kinh nghiệm như hợp tác viễn thông, nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển…
Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đã tham gia tích cực và đẩy mạnh liên kết kinh tế nội khối, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, thông qua hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN (ATISA), xây dựng lộ trình cho cắt giảm hàng rào phi thuế quan và thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện (RCEP). Đặc biệt, Việt Nam đã chủ động nhận vị trí Chủ tọa Nhóm Đầu tư trong đàm phán, hay Chủ tọa Nhóm Dịch vụ trong đàm phán FTA ASEAN-Nhật Bản và đang thể hiện tốt vị trị của mình.
Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều bất ổn, trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến an ninh và ổn định ở Đông Nam Á, Việt Nam luôn khẳng định tiếng nói của tinh thần đoàn kết, thống nhất và nâng cao ý thức trách nhiệm chung nhằm ứng phó hiệu quả với các nguy cơ đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định của khu vực.
Việt Nam là một trong hai nước có tỷ lệ thực hiện cao nhất các biện pháp ưu tiên trong Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Đặc biệt, từ khi Cộng đồng ASEAN hình thành cuối năm 2015, Việt Nam đã và đang cùng các thành viên ASEAN tích cực triển khai xây dựng Cộng đồng, thực hiện nghiêm túc các cam kết và đề xuất sáng kiến trong nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý, Việt Nam là một trong hai nước có tỷ lệ thực hiện cao nhất các biện pháp ưu tiên trong Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã ủng hộ và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên nhằm đạt được các ưu tiên đề ra năm 2019, đồng thời tiếp tục tập trung nguồn lực triển khai các Kế hoạch xây dựng Cộng đồng trên cả 3 trụ cột.
Tới đây, Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2020. Phát biểu tại lễ ra mắt mắt Ủy ban quốc gia ASEAN 2020 (tháng 12-2018), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, Việt Nam luôn xác định ASEAN là ưu tiên hàng đầu, là “hòn đá tảng” trong ngoại giao đa phương. Việt Nam mong muốn tiếp tục đóng góp thực chất hơn nữa vào tiến trình xây dựng và phát triển Cộng đồng ASEAN đoàn kết, có vai trò trung tâm ở khu vực, hướng tới một ASEAN hài hòa, gắn kết, bản sắc, có khả năng thích ứng cao, ngày càng phát triển thịnh vượng, có vai trò và trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề toàn cầu./.
Cờ các quốc gia thành viên ASEAN luôn tung bay tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Sau hơn 20 năm Internet có mặt (từ tháng 11/1997), với hơn 60 triệu người dùng, Việt Nam đứng thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng Internet, là 1 trong 10 quốc gia có lượng người dùng Facebook và YouTube cao nhất thế giới. Điều đó cho thấy sự cởi mở, năng động của Việt Nam trong tiến trình hội nhập cùng thế giới số.
Tuy nhiên, bên cạnh việc khai thác và phát huy những đặc tính ưu việt của truyền thông xã hội, Việt Nam đồng thời cũng đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực, khó kiểm soát từ dạng thức truyền thông mới này. Việc giành lại niềm tin của công chúng được coi là vấn đề “sống còn” với báo chí chính thống hiện nay.
“Cơn bão” tin giả
Ông Hồ Quang Lợi – Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhà báo Việt Nam cho rằng, hiện nay, truyền thông xã hội là một trong những cách thức truyền thông mới đang được các tòa soạn (cả ở Việt Nam và trên thế giới) đề cập đến khá nhiều. Nói khác đi, mạng xã hội đang được coi là một cách thức để báo chí thiết lập các mối quan hệ với công chúng, tạo ra cách thức giao tiếp và đối thoại đa chiều giữa tòa soạn, nhà báo và người đọc. Nhiều cơ quan báo chí cũng tham gia vào mạng xã hội (Facebook, Zalo, YouTube…), chủ động cung cấp các ứng dụng, cập nhật các bài báo của mình nhằm thu hút độc giả, gia tăng lượng tương tác.
Có thể nói, việc sử dụng các mạng xã hội giúp báo chí quảng bá được hình ảnh, giới thiệu thông tin đến với hàng triệu người sử dụng mạng Internet… Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra không ít thách thức với người làm báo và các cơ quan báo chí.
Một trong những thách thức, mối quan ngại lớn nhất với báo chí hiện nay là vấn nạn “tin giả.” Tin giả xuất hiện ở mọi lĩnh vực và với những mức độ nguy hại khác nhau. Đó có thể là những thông tin được “khoác những chiếc áo hiền lành” như bài học về tình cảm gia đình, bí quyết chăm sóc bản thân hoặc những thông tin bịa đặt, lợi dụng hình ảnh, sức ảnh hưởng của người nổi tiếng để quảng cáo không đúng sự thật. Nguy hại hơn, đó có thể là những thông tin đưa ra dựa trên những cứ liệu không chính xác nhằm mục đích bôi nhọ, hạ uy tín của cá nhân, tổ chức…
Một trong những thách thức lớn với báo chí hiện nay là vấn nạn “tin giả.” (Nguồn: Theos Think Tank)
Việc phát tán, lan truyền tin giả (mà đôi khi chính các cơ quan báo chí chính thống cũng góp phần do chưa xác minh kỹ nguồn tin) đã tác động tiêu cực tới chất lượng thông tin báo chí, đời sống xã hội và làm giảm, thậm chí gây mất niềm tin của bạn đọc đối với báo chí chính thống.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành OANA lần thứ 44 (diễn ra từ ngày 18-20/4 tại Hà Nội do TTXVN đăng cai với chủ đề “Vì một nền báo chí chuyên nghiệp và sáng tạo”), nhà báo Lê Quốc Minh – Phó Tổng Giám đốc TTXVN cho biết: Lòng tin của công chúng đối với các cơ quan báo chí và truyền thông nói chung đang suy giảm ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Báo cáo chỉ số lòng tin Edelman năm 2018 và 2019 cho biết, 73% số người được hỏi trên toàn cầu lo ngại về việc tin giả hoặc những thông tin sai sự thật bị lợi dụng như một thứ vũ khí; 59% số người được hỏi nói rằng ngày càng khó xác định liệu thông tin có phải do một cơ quan báo chí có uy tín đưa ra hay không.
Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội đang cuốn báo chí vào cuộc chạy đua về tốc độ mà đôi lúc quên đi những yêu cầu cốt lõi là thẩm định thông tin đồng thời đảm bảo tính công bằng và cân bằng của tin tức.
Với 61 triệu người dùng Facebook (chiếm khoảng 63,5% tổng dân số của cả nước), Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về tỷ lệ dân số dùng mạng xã hội này. Bởi vậy, Việt Nam cũng không nằm ngoài “cơn bão” tin giả. Một trong những ví dụ về vấn nạn tin giả trên truyền thông chính thống là: Vụ bê bối nước mắm nhiễm chất độc arsen đã khiến 50 cơ quan báo chí Việt Nam bị phạt.
Cụ thể, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinatas) đã đứng sau một nghiên cứu cáo buộc rằng 67% sản phẩm nước mắm được sản xuất theo cách thức truyền thống chứa hàm lượng arsen vượt mức quy định. Tin này được đăng trên nhiều tờ báo in, báo điện tử và cả trên các kênh truyền hình, đã khiến người tiêu dùng lo sợ và tẩy chay sản phẩm đã được sử dụng qua nhiều thế hệ.
Phó Tổng Giám đốc TTXVN Lê Quốc Minh nhấn mạnh, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội đang báo chí vào cuộc chạy đua về tốc độ mà đôi lúc quên đi những yêu cầu cốt lõi là thẩm định thông tin đồng thời đảm bảo tính công bằng và cân bằng của tin tức.
Lý giải về tốc độ phát triển nhanh chóng của tin giả, nhiều ý kiến cho rằng, vấn đề này một phần xuất phát xu hướng ưu tiên những thông tin mang tính “giật gân,” “câu view” của các báo và các nền tảng mạng xã hội.
(Ảnh minh họa: Minh Sơn/Vietnam+)
Áp dụng công cụ và cơ chế kiểm chứng thông tin mới
Từ đó, vấn đề đặt ra với người làm báo hiện nay là cần kiểm chứng, thẩm định, phân tích, chọn lọc và giải thích thông tin, đồng thời giúp công chúng tìm được những thông tin hữu ích.
Trong khuôn khổ Hội nghị Ban Chấp hành OANA lần thứ 44, bà Lee Dong Min – đại diện Hãng thông tấn Yonhap cho biết, các phương tiện truyền thông của Hàn Quốc đang đẩy mạnh các cơ chế kiểm chứng thông tin. Hiện nay, việc kiểm chứng thông tin hiện trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của giới truyền thông Hàn Quốc. Các đài phát thanh, truyền hình đều có các nhóm riêng thực hiện nhiệm vụ trên, trong khi các tờ báo cũng tham gia kiểm chứng thông tin khi nảy sinh vấn đề.
Phóng viên ảnh tác nghiệp. (Ảnh minh họa: Minh Sơn/Vietnam+)
Yonhap đã thành lập một ủy ban kiểm chứng thông tin và duy trì hoạt động của nhóm này một cách thường xuyên nhằm góp phần vào vòng phản hồi trên thị trường truyền thông trong nước cũng như cung cấp những thông tin nhanh chóng, chính xác và mang tính cân bằng. Nhóm này được thành lập vào tháng 4/2018 và trở thành một bộ phận của phòng tin tức.
Các phóng viên nước ngoài và tất cả các nhà báo có thể gắn cụm từ “kiểm chứng sự thật” vào các bài báo khi họ gặp phải những vấn đề cần sự tách biệt rõ ràng giữa sự thật và không đúng sự thật. Mục đích là nhằm không giới hạn việc kiểm chứng thông tin ở những lĩnh vực hay vấn đề nhất định nào.
Trong hành trình lấy lại niềm tin của công chúng, nhiều cơ quan báo chí đang đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm báo chí chất lượng cao, từ các bài Mega Story đến các bài phân tích chuyên sâu, từ các sản phẩm thực tế ảo tới những ứng dụng tin nhắn có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI) để tương tác với độc giả…
Tại Việt Nam, từ cuối năm 2018, Hội Nhà báo Việt Nam đã công bố 10 quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (có hiệu lực từ 1/1/2019). Bộ quy tắc đã quy định rất rõ những điều (việc) người làm báo Việt Nam không được làm khi tham gia mạng xã hội như: Vi phạm các quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng, các quy định về bảo vệ bí mật thông tin riêng, thông tin cá nhân của công dân và các quy định khác của pháp luật; Thông tin vụ việc chưa được kiểm chứng, gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế-xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc người thi hành công vụ; gây tổn hại về thể chất, danh dự, nhân phẩm của công dân…
Theo tiến sỹ Trần Bá Dung (Trưởng Ban Nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam), bộ quy tắc là cơ sở để xem xét, xử lý những hành vi vi phạm đạo đức của người làm báo khi tham gia mạng xã hội, góp phần quan trọng trong công tác giữ gìn, bảo vệ đạo đức nghề nghiệp, uy tín của người làm báo Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam xem các ấn phẩm của TTXVN tại gian trưng bày của TTXVN trong khuôn khổ Hội báo 2019. (Ảnh: TTXVN)
Ở một góc độ khác, nội dung bài viết “Truyền thông xã hội đối với ổn định chính trị, xã hội ở Việt Nam” của ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương (đăng tải trên Báo Điện tử VietnamPlus ngày 17/6) khẳng định, một trong những yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý là khẩn trương thể chế hóa, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý trong thực tiễn; tích cực xây dựng khung khổ pháp luật khoa học, tiến bộ để truyền thông xã hội hoạt động, phát triển lành mạnh, đúng hướng.
“Thời gian qua, những thay đổi chóng mặt về thuật toán của các nền tảng công nghệ ‘làm khó’ cả về nhận thức và hành động khiến các cơ quan chức năng vốn đã chậm trễ, hạn chế trong quản lý không gian mạng lại càng lúng túng, bất cập, chưa theo kịp trong việc hoạch định chính sách, pháp luật đối với truyền thông xã hội. Để quản lý tốt, cần nhanh chóng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật với các điều khoản cụ thể, rõ ràng, sát thực, phù hợp, theo kịp tốc độ biến động của truyền thông xã hội… thay vì chỉ dừng ở quy tắc điều chỉnh mang tính khuyến nghị đạo đức và văn hóa. Bởi lẽ, khi các ràng buộc pháp lý không cụ thể, rõ ràng và đủ mạnh thì các quy tắc đạo đức, văn hóa cũng rất khó để đi vào cuộc sống,” ông Võ Văn Thưởng nhấn mạnh.
Phó Tổng giám đốc TTXVN Lê Quốc Minh trình bày tham luận “Giành lại niềm tin cho các dòng thông tin chủ lưu, báo chí chính thống” trong khuôn khổ Hội nghị Ban Chấp hành OANA lần thứ 44 do TTXVN tổ chức. (Ảnh: TTXVN)
Trong hành trình lấy lại niềm tin của công chúng, nhiều cơ quan báo chí đang đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm báo chí chất lượng cao, từ các bài Mega Story đến các bài phân tích chuyên sâu, từ các sản phẩm thực tế ảo tới những ứng dụng tin nhắn có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI) để tương tác với độc giả…
Ông Lê Quốc Minh cho biết, trong khi tiếp tục sản xuất các tin, bài được kiểm chứng bằng nhiều ngôn ngữ, TTXVN đang chú trọng hơn đến các bài phân tích chuyên sâu, thể loại báo chí giải pháp và báo chí xây dựng mà chỉ những nhà báo, cây viết chuyên nghiệp mới có thể làm được.
Báo Điện tử VietnamPlus là một trong những đơn vị tiên phong trong việc áp dụng nhiều công cụ, cách thức đổi mới trong quy trình tác nghiệp để cải thiện chất lượng tin bài và giúp độc giả tránh tin giả./.
Mặc dù ra đời muộn hơn hầu hết các trang báo điện tử hiện nay nhưng VietnamPlus đã nhanh chóng đạt đến vị trí dẫn đầu trong số các website thông tin chính thống tại Việt Nam và liên tục duy trì vị thế này trong hơn 10 năm qua.
VietnamPlus đã sớm kết hợp nội dung và công nghệ, để cho ra đời nhiều sản phẩm báo chí mới, đi tiên phong, thậm chí là sản phẩm duy nhất tại Việt Nam như RapNews (sản xuất các bản tin bằng nhạc Rap), News Game (cập nhật tin tức thông qua trò chơi tương tác), đồ họa và đồ họa tương tác, ảnh và video 360 độ, Mega Story (tích hợp thông tin dạng text, ảnh, video clip, đồ họa trong cùng một sản phẩm), báo chí dữ liệu…
VietnamPlus cũng là cơ quan báo chí đầu tiên ở Việt Nam chính thức áp dụng hình thức đọc báo điện tử thu phí từ tháng 6/2018.
Trong năm 2018, VietnamPlus quyết định đầu tư vào những tuyến bài dài, công phu không phải để hoài niệm, mà nhằm bắt kịp xu thế nổi bật của dòng báo chí chính thống trên thế giới, nhằm phục hưng giá trị của nội dung (content) khi mà người đọc dần cảm thấy chán ngán với những dòng tít “câu view.” Điều này thể hiện rõ qua “Ký sự đường sắt: Chuyện ghi dọc đường hỏa xa Nam Bắc” Tuyến bài được thực hiện ròng rã trong suốt nửa năm (trên năm chuyến tàu Bắc-Nam xuôi- ngược) với sự tham dự của các phóng viên viết, ảnh, quay phim, flycam…
Đặc biệt, toàn bộ phần nội dung được truyền tải bằng một cách thức rất mới mẻ khi kết hợp rất nhiều hiệu ứng về hình ảnh, âm thanh, đồ hoạ… khiến cho việc thưởng thức của bạn đọc không bị nhàm chán.
Chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới thủ đô Bình Nhưỡng trong hai ngày 20-21/6 theo lời mời của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có ý nghĩa đặc biệt đối với quan hệ hai nước cũng như tiến trình giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Đây không chỉ là chuyến công du đầu tiên của ông Tập Cận Bình tới Triều Tiên, mà còn là chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo cấp cao nhất Trung Quốc tới quốc gia láng giềng Đông Bắc Á trong vòng 14 năm trở lại đây.
Việc nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un thăm Trung Quốc 4 trong vòng 1 năm qua cho thấy Bình Nhưỡng hết sức coi trọng mối quan hệ với Trung Quốc. Trong khi đó, chuyến thăm lần này của ông Tập Cận Bình tới Bình Nhưỡng được cho là “hợp tình, hợp lý” và đúng với nghi lễ ngoại giao, đồng thời được truyền thông trong và ngoài Trung Quốc khẳng định là minh chứng rõ ràng về quan hệ nồng ấm trở lại giữa hai nước, qua đó cho thấy vai trò của Bắc Kinh với tư cách là một nhân tố chủ chốt trong các chuyển động địa-chính trị trên Bán đảo Triều Tiên nói riêng và khu vực Đông Bắc Á nói chung.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo cấp cao nhất Trung Quốc tới quốc gia láng giềng Đông Bắc Á trong vòng 14 năm trở lại đây.
Chọn đúng dịp hai nước kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao để tổ chức chuyến thăm, Trung Quốc muốn nhấn mạnh với Triều Tiên về mối quan hệ hữu nghị truyền thống gần gũi đã tồn tại suốt 7 thập niên giữa hai nước. Trong những năm gần đây, hai nước đã tích cực hợp tác để cải thiện quan hệ song phương, vốn bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi Bắc Kinh ủng hộ các lệnh trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với Bình Nhưỡng liên quan các hoạt động hạt nhân của nước này.
Quan hệ hợp tác kinh tế Triều-Trung trở nên mật thiết hơn sau loạt chuyến công du của nhà lãnh đạo Triều Tiên tới Trung Quốc. Giao dịch thương mại hai nước đã xuất hiện điểm sáng trong tháng 3/2019 khi tăng tới 38,1%, hồi phục trở lại mức đạt được vào 6 tháng cuối năm 2018.
Khu vực biên giới Trung Quốc-Triều Tiên. (Nguồn: Getty Images)
Xuất khẩu của Triều Tiên sang Trung Quốc trong tháng 3 đã đạt 16,56 triệu USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi đó nhập khẩu từ Trung Quốc cũng tăng 38,5%, đạt 197,9 triệu USD. Đây là mức tăng ấn tượng nếu so với năm 2018, khi nhập khẩu từ Triều Tiên vào Trung Quốc giảm 88%, xuống còn 1,42 tỷ Nhân dân tệ (209 triệu USD), xuất khẩu của Trung Quốc sang Triều Tiên giảm 33% xuống còn 14,67 tỷ Nhân dân tệ (2,2 tỷ USD).
Cùng với kết quả kinh tế tích cực, chuyến thăm của nhà lãnh đạo Trung Quốc tới Triều Tiên thể hiện mối quan hệ bền chặt giữa hai nước, và quan trọng hơn, phát đi thông điệp rằng Trung Quốc vẫn là đồng minh quan trọng của Triều Tiên. Ngay trước thềm chuyến thăm, Chủ tịch Trung Quốc cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ với Triều Tiên nhằm thúc đẩy các cuộc đàm phán hiện đang đình trệ giữa Bình Nhưỡng và Washington. Đây được xem là một động thái công khai nữa minh chứng cho mối quan hệ song phương thân thiện và gần gũi của hai quốc gia.
Chuyến thăm của nhà lãnh đạo Trung Quốc tới Triều Tiên thể hiện mối quan hệ bền chặt giữa hai nước, và quan trọng hơn, phát đi thông điệp rằng Trung Quốc vẫn là đồng minh quan trọng của Triều Tiên.
Chủ tịch Tập Cận Bình nêu rõ: “Chúng tôi sẽ tích cực đóng góp cho sự hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng trong khu vực bằng cách tăng cường liên lạc và phối hợp với Triều Tiên, cũng như các bên liên quan khác, nhằm đạt được tiến bộ trong các cuộc đàm phán về tình hình bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc bày tỏ sự ủng hộ đối với Triều Tiên trong việc tiếp cận đúng đắn các giải pháp chính trị liên quan bán đảo Triều Tiên.
Trong bối cảnh đàm phán hạt nhân Mỹ-Triều đang lâm vào bế tắc do cách tiếp cận khác nhau của hai bên trong vấn đề phi hạt nhân hóa, tuyên bố của nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể coi như sự ủng hộ về chính trị đối với Triều Tiên. Ông Tập Cận Bình có thể tận dụng chuyến thăm Triều Tiên lần này để củng cố quan hệ với đồng minh địa-chính trị quan trọng, đồng thời gia tăng ảnh hưởng với Triều Tiên.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đón tiếp Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un, trong chuyến thăm Trung Quốc năm 2018. (Nguồn: Getty Images)
Bên cạnh đó, chuyến đi Triều Tiên là một phần chiến lược tăng cường ngoại giao láng giềng của Trung Quốc, qua đó Bắc Kinh muốn khẳng định rằng vai trò của Trung Quốc không thể bị bỏ qua, cho dù là ở Đông Bắc Á hay sự kiện đa quốc gia như G20. Với tư cách là cường quốc ở Đông Bắc Á, Trung Quốc đã là một bên tham gia vòng đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và đương nhiên Bắc Kinh không muốn bị “gạt ra bên lề” trong tiến trình giải quyết vấn đề này.
Năm 2017, khi mâu thuẫn Mỹ-Triều leo thang tột độ, Trung Quốc cùng với Nga đã đề xuất cơ chế “cùng dừng” để hạ nhiệt căng thẳng, đó là Triều Tiên ngừng các vụ thử hạt nhân-tên lửa, trong khi Mỹ và Hàn Quốc ngừng các cuộc tập trận chung trên bán đảo Triều Tiên. Do đó, các nhà phân tích Trung Quốc lạc quan nhận định rằng chuyến thăm này có thể giúp nối lại đàm phán phi hạt nhân giữa Tổng thống Trump và nhà lãnh đạo Kim Jong-un.
Trung Quốc đã là một bên tham gia vòng đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và đương nhiên Bắc Kinh không muốn bị “gạt ra bên lề” trong tiến trình giải quyết vấn đề này.
Đặc biệt, kế hoạch chuyến thăm được công khai ngay sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố nhận được một bức thư rất “tuyệt vời” và “ấm áp” từ nhà lãnh đạo Kim Jong-un, tuyên bố dường như ngụ ý về khả năng giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Các chuyên gia cho rằng Trung Quốc cũng muốn chuyển một thông điệp tới Mỹ về “vai trò không thể thiếu” của Bắc Kinh trong các vấn đề ở Đông Bắc Á, đặc biệt là vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
Hiện căng thẳng của Bắc Kinh với Washington đang leo thang xung quanh các vấn đề thương mại, công nghệ và nhiều mặt trận khác, hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Mỹ có thể gặp nhau bên lề hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) tại Nhật Bản cuối tuần này. Bắc Kinh được cho đang tìm cách “đảo ngược” những quyết định của Tổng thống Mỹ nhằm vào Trung Quốc, như tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc hay trừng phạt tập đoàn công nghệ Huawei.
Yếu tố Triều Tiên có thể được Trung Quốc coi như “quân át chủ bài” trên bàn thương lượng với Mỹ. (Nguồn: AFP)
Tổng thống Trump, trong tiến trình tranh cử nhiệm kỳ hai, có thể tận dụng vấn đề Triều Tiên như một thành tích đối ngoại bởi ông đã tạo được dấu ấn với hai cuộc gặp thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Triều Tiên, điều không người tiền nhiệm nào của ông làm được. Tuy nhiên, thế bế tắc hiện nay trong đàm phán hạt nhân phần nào tác động và đương nhiên ông Trump muốn thúc đẩy tiến trình phi hạt nhân hóa Triều Tiên. Bởi vậy mà yếu tố Triều Tiên có thể được Trung Quốc coi như “quân át chủ bài” trên bàn thương lượng với Mỹ.
Xét cho cùng, Trung Quốc và Mỹ có những mục tiêu tương đối nhất quán đối với quá trình phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, bởi bất ổn và căng thẳng tại khu vực này không có lợi cho cả hai bên. Hiện vẫn còn không gian để Trung Quốc và Mỹ hợp tác nhằm duy trì hòa bình trên bán đảo, cho dù hai bên vẫn còn những khác biệt trong việc thực thi phi hạt nhân hóa và trong việc phán đoán tình hình ở Đông Bắc Á.
Yếu tố Triều Tiên có thể được Trung Quốc coi như “quân át chủ bài” trên bàn thương lượng với Mỹ.
Nếu Trung Quốc phát huy được vai trò cũng như ảnh hưởng đặc thù của mình trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên, điều này sẽ giúp gia tăng hiểu biết chiến lược giữa lãnh đạo hai nước Mỹ-Trung, đồng thời chứng tỏ Bắc Kinh là đối tác quan trọng của Washington trong việc giải quyết vấn đề an ninh khu vực.
Đối với Bình Nhưỡng, chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng sẽ là một dấu mốc nữa trong hoạt động ngoại giao của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un sau chuyến thăm của ông tới Nga và gặp Tổng thống nước chủ nhà Vladimir Putin. Từ khi cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều tại Hà Nội tháng 2/2019 kết thúc mà không đạt được thỏa thuận cụ thể, nhà lãnh đạo Triều Tiên được cho đang tìm kiếm sự ủng hộ của các đồng minh chủ chốt như Nga hay Trung Quốc trong các vấn đề phi hạt nhân hóa. Quan điểm mà Trung Quốc thể hiện trong vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên tỏ ra phù hợp với lợi ích của Bình Nhưỡng.
Hơn thế nữa, xây dựng quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc sẽ giúp Triều Tiên duy trì được thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với các quốc gia láng giềng Đông Bắc Á vốn là đồng minh chủ chốt của Mỹ, như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Đặc biệt, Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất, chiếm 90% ngoại thương của Triều Tiên, và cũng là nguồn viện trợ trực tiếp hàng đầu của Bình Nhưỡng.
Có thể nói, trước khi diễn ra Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Osaka, chuyến thăm của ông Tập Cận Bình tới Triều Tiên sẽ tạo điều kiện để hai nước tiến hành trao đổi chiến lược hữu hiệu hơn, phối hợp điều phối hành động trong những vấn đề hạt nhân chung lợi ích.
Cho dù tính toán của hai bên không hoàn toàn giống nhau, song cuộc gặp cấp cao Trung–Triều lần này có thể tạo lực đẩy để các bên liên quan trên bàn đàm phán hạt nhân tìm cách thoát khỏi tình thế bế tắc hiện nay./.
30 năm trong hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh gắn bó với Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN).
“TTXVN đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành từ những năm tháng làm phóng viên chiến tranh trên các mặt trận, chiến trường trong Nam, ngoài Bắc. Những giờ phút huy hoàng của lịch sử dân tộc mà tôi may mắn được chứng kiến với tư cách là phóng viên TTXVN đã làm nên giá trị các tác phẩm báo chí và văn chương của tôi. TTXVN cũng là nơi đã cho tôi những kinh nghiệm làm báo sâu sắc, đồng thời rèn luyện bản lĩnh để tôi có thể vững vàng vượt qua mọi thử thách trong cuộc đời làm báo nhiều vinh quang nhưng cũng không ít sóng gió, thăng trầm của mình.”
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh – người từng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, có mặt chứng kiến và viết bài tường thuật đầu tiên của giới báo chí Việt Nam về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập đã chia sẻ với phóng viên VietnamPlus ngay trước thềm kỷ niệm 94 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2019).
Nhà báo Đào Tùng – Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã (giữa) tiễn hai nhà báo Trần Mai Hạnh (bên phải) và Văn Bảo tại cửa rừng Tây Ninh sáng sớm 29/4/1975 lên đường tiến về Sài Gòn. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
THỜI HOA LỬA
– Đầu tiên, xin được chúc mừng những thành công ấn tượng trong cuộc đời làm báo, viết văn của ông. Ông có thể chia sẻ đôi lời về các tác phẩm đã ra mắt bạn đọc thời gian qua?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Kể từ năm 2014 tới nay, tôi có bốn tác phẩm ra mắt bạn đọc, đều do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật ấn hành, bao gồm: “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75,” “Lời tựa một tình yêu,” “Thời tôi sống,” “Viết và Đối thoại.”
Trong đó, “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” đã giành được Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2014), Giải thưởng Văn học ASEAN (năm 2015), được tái bản lần thứ tư và được dịch sang tiếng Anh để giới thiệu với bạn đọc thế giới, được dịch sang tiếng Lào và trở thành sách của Nhà nước Việt Nam trao tặng nước bạn Lào.
– Mới đây, ông giới thiệu tới độc giả cuốn “Viết và Đối thoại” với gần 900 trang sách. Tôi hình dung như đó là cuốn nhật ký bằng các tác phẩm báo chí và cả văn học về hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút của ông. Nguyên do gì, ở thời điểm này, ông lại cho ra đời một cuốn sách khá đồ sộ như vậy, thưa tác giả Trần Mai Hạnh?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Hơn nửa thế kỷ qua (kể từ tháng 9/1965 – thời điểm tôi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, về làm phóng viên TTXVN), tôi đã mải miết sống và viết, viết báo và cả viết văn. Nhưng rồi, tôi chợt nhận thấy chặng đường phía trước của mình không còn nhiều thời gian nữa. Đã đến lúc tôi cần nhìn lại những năm tháng làm báo, viết văn đó. Đây cũng chính là căn nguyên để tôi cho ra đời hai tác phẩm gần đây nhất là “Thời tôi sống” và “Viết và Đối thoại.”
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh và cuốn sách mới xuất bản – tác phẩm “Viết và Đối thoại.” (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
Nếu “Thời tôi sống” là những trang nhật ký văn chương gần như tự truyện về những năm tháng chiến tranh đã đi qua cuộc đời tôi thì “Viết và Đối thoại” có thể xem là nhật ký bằng các tác phẩm báo chí về cuộc đời làm báo nhiều sóng gió, thăng trầm của tôi. Đó là lát cắt những khoảnh khắc cuộc sống đọng lại trong cuộc đời làm báo của tôi từ những năm tháng chiến tranh ác liệt, ngày hoà bình đầu tiên, những năm dài vật lộn với khó khăn, thiếu thốn thời bao cấp bị bao vây cấm vận đến những năm đất nước tiến hành công cuộc Đổi mới, mở cửa và hội nhập.
– Cảm xúc của ông như thế nào mỗi khi nhớ lại 10 năm làm phóng viên chiến tranh của TTXVN tại các chiến trường trong Nam, ngoài Bắc?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Đó là những năm tháng gian khổ, ác liệt tới tận cùng nhưng rất đáng tự hào. Tôi đã sống, chiến đấu như một người lính để viết về người lính, viết về cuộc chiến đấu.
“Có thể nói, tôi đã trải qua mọi cung bậc cảm xúc của chiến tranh.”
Trong hai năm (1968-1969), tôi làm phóng viên biệt phái của TTXVN tại chiến trường Quảng Đà ác liệt, đội mưa bom bão đạn, trong đó, có lần chiến đấu trong vòng vây dày đặc của hàng ngàn quân Mỹ, ngụy và chư hầu, đêm ngày đối mặt với hiểm nguy, cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào… Có thể nói, tôi đã trải qua mọi cung bậc cảm xúc của chiến tranh.
Khi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, dọc đường tiến quân suốt từ Huế tới Sài Gòn, cùng với không khí chiến thắng tôi cũng được tận mắt chứng kiến bao câu chuyện đau thương của con người. Những xác chết chưa phân hủy hết nằm la liệt khắp các ngả đường chiến dịch. Bị kẻ thù kích động “ở lại sẽ bị Việt cộng tắm máu,” dân chúng hoảng sợ kéo nhau di tản. Có bà mẹ ôm xác con, chạy bộ di tản theo Quân đoàn 2 của nguỵ từ Pleiku xuống Tuy Hoà. Suốt ba ngày đêm, người mẹ ấy cứ ôm xác con tím ngắt chạy vì không tìm được chỗ chôn…
Nhà văn Trần Mai Hạnh phát biểu tại Lễ trao Giải thưởng Văn học ASEAN 2015 tại Thủ đô Bangkok, Thái Lan (tháng 12/2015). (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Đấy cũng là đồng bào mình chứ ai! Mình có nên viết về những điều đó bằng sự lạnh lùng, hả hê của người thắng trận không, hay nên viết với tinh thần nhân văn trước thân phận của con người trong chiến tranh? Tôi đã chọn cách thứ hai với ngòi bút điềm tĩnh, khách quan và cách nhìn thấu đáo, cảm thông, nhân văn với cả số phận những người thuộc phía bên kia.
Tôi hiểu rằng, dù dữ dội và đau đớn đến đâu, cuộc chiến tranh nào rồi cũng qua đi. Những năm tháng khổ đau, máu và nước mắt của bất cứ bên tham chiến nào cũng không bao giờ bị lãng quên và tất yếu trở thành một phần của lịch sử. Chính suy nghĩ như vậy đã cứu sống cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75” của tôi, mang tới những Giải thưởng Văn học danh giá ở trong nước và khu vực Đông Nam Á (ASEAN) trong sự chào đón của độc giả, kể cả độc giả nước ngoài với tác phẩm.
NGƯỜI ĐẢNG VIÊN NƠI CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG ĐÀ
– Kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời cầm bút của ông là gì, thưa nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Kỷ niệm sâu sắc nhất chính là ngày tôi được kết nạp Đảng ở chiến trường Quảng Đà. Sau trận chiến đấu kéo dài 21 ngày trong vòng vây của gần 7.000 quân Mỹ, ngụy và chư hầu, tôi là một trong số chưa đầy 10 người của Tiểu đoàn 3 anh hùng sống sót và thoát khỏi vòng vây.
Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng từ chiến trường của đảng viên dự bị Trần Mai Hạnh do Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà ký ngày 6/12/1969. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
Với xác nhận của Đảng ủy Tiểu đoàn 3 và Quận đội Quận 2-Đà Nẵng, nơi được cử tới công tác, tôi được xét và quyết định kết nạp Đảng ngày 23/5/1969 tại Chi bộ Đảng Tổ phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại Mặt trận Quảng Đà. Cùng kết nạp với tôi là anh Lương Thế Trung – phóng viên ảnh của tổ phóng viên. Được trở thành đảng viên luôn niềm khát khao phấn đấu của thế hệ chúng tôi. Điều đó đến trong một thời khắc thật thiêng liêng, xúc động…
Những tháng ngày ở ranh giới mong manh của sự sống-cái chết ấy đã cho tôi cái nhìn sâu đến tận cùng sự tàn khốc của chiến tranh và khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc.
Khi là nhà báo chiến trường, tôi không chỉ tường thuật những trận đánh, viết về chiến công, tấm gương điển hình tiên tiến mà còn cố gắng ghi chép, chắt lọc những câu chuyện về cảnh ngộ, số phận, cách hành xử cùng những suy tư của con người trong chiến tranh. Đó là nguồn tư liệu phong phú, quan trọng để tôi viết nên những tác phẩm báo chí, văn chương sau này.
Tôi biết ơn những năm tháng làm phóng viên chiến trường của TTXVN bởi quãng thời gian ấy đã cho tôi những trải nghiệm quý giá để trưởng thành, yêu, tin và vững bước trên con đường đã chọn.
Thời gian là phóng viên chiến trường đã hun đúc trong tôi ý niệm: trước những thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, ta không thể chỉ trông đợi vào sự may rủi, không thể đòi hỏi sự dễ dàng như mua vé lên tàu là có thể đến được bến bờ của hạnh phúc. Thay vào đó, ta phải chiến đấu để giành lấy sự sống, vinh quang. Tuổi trẻ không được phép buông xuôi, nghĩ đến cái chết mà chỉ được quyền nghĩ đến sự sống!
Nhà báo Trần Mai Hạnh tại Dinh Độc Lập sáng 7/5/1975, sau Lễ mít tinh ra mắt Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn-Gia Định. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
DANH XƯNG VIỆT NAM THÔNG TẤN XÃ TRONG GIỜ PHÚT LỊCH SỬ
– Ông có thể chia sẻ đôi lời về danh xưng “Việt Nam Thông tấn xã” (VNTTX) trong bài tường thuật về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập của ông?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Một trong những niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời làm báo của tôi là được chứng kiến và viết bài tường thuật đầu tiên của giới báo chí Việt Nam về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập. Những năm qua, trong nhiều bài viết, nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, tôi đã kể về những gì đã diễn ra xung quanh bài tường thuật này. Nay xin phép không nhắc lại!
Đây là lần đầu tiên danh xưng “Việt Nam Thông tấn xã” được xướng lên một cách chính thức tại miền Nam.
Về danh xưng “Việt Nam Thông tấn xã” trong bài tường thuật của tôi thì như thế này: Trước 30/4/1975, các bản tin và bài viết của phóng viên Thông tấn xã Giải phóng và phóng viên Việt Nam Thông tấn xã biệt phái tại chiến trường miền Nam gửi ra Tổng xã Việt Nam Thông tấn xã ở Hà Nội để phát báo trong nước và quốc tế đều ghi nguồn thông tin (cơ quan phát tin) là TTXGP (Thông tấn xã giải phóng).
Tuy nhiên, với bài tường thuật do tôi viết thì một ngoại lệ đã xảy ra. Số là, trưa 30/4/1975, tôi bám theo các lữ đoàn xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập. Bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng”tôi viết ngay trong chiều tối 30/4/1975 được điện từ Sài Gòn về trụ sở TTXGP trên rừng Tây Ninh, để từ đó dùng điện đài công suất lớn hơn điện chuyển tiếp về Tổng xã tại Hà Nội. Dưới bài viết, theo thông lệ, tôi chỉ ghi hai chữ “Mai Hạnh” – tên người viết.
Ảnh chụp Bản tin Đấu tranh Thống nhất sáng 1/5/1975 đăng bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng” phát báo đêm 30/4/1975 của nhà báo Trần Mai Hạnh. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
Buổi chiều tối hôm đó, tại căn cứ TTXGP trên rừng Tây Ninh, Tổng Biên tập Đào Tùng đã đón đợi và trực tiếp duyệt bài của tôi. Ông đã quyết định ghi đầy đủ họ tên của tôi là “Bài của Trần Mai Hạnh, phóng viên VNTTX tại Sài Gòn” rồi yêu cầu điện về Hà Nội.
Bài “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng” đăng trên Bản tin Đấu tranh Thống Nhất phát báo đêm 30/4/1975, đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam trưa 1/5/1975, sau đó được đặt lại tít là “Tiến vào Phủ Tổng thống ngụy” đăng trên Báo Nhân Dân ngày 2/5/1975. Tất cả đều ghi rõ tên tôi và danh xưng như vậy: “Bài của Trần Mai Hạnh, phóng viên VNTTX tại Sài Gòn.”
“Trong sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ngày 30/4/1975, bên cạnh các tin, bài, ảnh của TTXGP nhất thiết phải có sự hiện diện của VNTTX mà những năm chiến tranh do điều kiện đặc biệt ta chưa công bố.”
Đây là lần đầu tiên danh xưng “Việt Nam Thông tấn xã” được xướng lên tại các chiến trường miền Nam.
Giải thích về việc này, mấy hôm sau gặp lại tôi ở Sài Gòn, ông Đào Tùng, Tổng Biên tập VNTTX, Trưởng Đoàn cán bộ, phóng viên đặc biệt của VNTTX tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh mà tôi được chọn là một thành viên, đã nói với tôi giọng rất ân tình. Đại ý rằng, VNTTX và TTXGP tuy hai mà một, tuy một mà hai. Trong sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc hôm nay, bên cạnh các tin, bài, ảnh của TTXGP nhất thiết phải có sự hiện diện của VNTTX mà những năm chiến tranh do điều kiện đặc biệt ta chưa công bố. Vì vậy khi duyệt bài tường thuật của Mai Hạnh điện về từ Sài Gòn, tôi đã ghi rõ: “Bài của Trần Mai Hạnh, phóng viên VNTTX tại Sài Gòn.”
Ông vỗ vai tôi thân mật và nói tiếp: “Ghi tên Trần Mai Hạnh ngay trên đầu bài tường thuật cũng có nghĩa rằng tác giả phải chịu trách nhiệm với lịch sử về những điều mình viết ra.”
Phóng viên Trần Mai Hạnh (đeo kính) cùng các đồng nghiệp Thông tấn xã Giải phóng trước cửa ngõ Sài Gòn sáng sớm 30/4/1975. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
-“Viết và Đối thoại” dày gần 900 trang với trên 100 tác phẩm (cả báo chí và văn chương), được chia ra 3 phần: “Báo chí,” “Phát biểu – Tham luận – Đối thoại,” “Tác phẩm và Dư luận.” Tuy nhiên, trong “Viết và Đối thoại” lại có duy nhất một bài chưa đăng báo nhưng được đưa vào cuốn sách. Đó là bài “Đảng trong trái tim nhà báo chiến trường Trần Mai Hạnh.” Ông có thể chia sẻ với độc giả kỹ hơn về trường hợp riêng biệt này không, thưa tác giả?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Nhân dịp Xuân Kỷ Hợi 2019 và chào mừng kỷ niệm 89 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2019), thực hiện kế hoạch của toà soạn, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận (Hội Nhà báo Việt Nam) có gặp gỡ tôi để viết bài “Đảng trong trái tim nhà báo chiến trường Trần Mai Hạnh.”
“Chính niềm tin với lý tưởng cao đẹp đã giúp tôi đứng vững trước những thử thách của cuộc sống và “trò đùa” của số phận để có được những thành công trong cuộc đời làm báo nhiều sóng gió, thăng trầm và không ít nỗi niềm của mình.”
Bài báo hoàn thành đúng lúc bản thảo cuốn “Viết và Đối thoại” của tôi được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật chấp thuận xuất bản. Vì vậy, được sự đồng ý của tác giả, tôi đã giữ bản thảo này lại để công bố cùng bài “Thời gian như không lùi xa” ghi lại cuộc phỏng vấn nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015) của phóng viên Tuần báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) đối với tôi và em ruột tôi (nhà báo Trần Mai Hưởng, cùng là phóng viên VNTTX, cùng được cử tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng may mắn được chứng kiến viết bài tường thuật và chụp những bức ảnh đầu tiên về giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 tại Dinh Độc lập). Sau này, một người trở thành Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, một người trở thành Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.
Tôi chọn đăng hai bài báo này trong “Viết và Đối thoại” là để thưa với bạn đọc rằng, chính niềm tin với lý tưởng cao đẹp đã giúp tôi đứng vững trước những thử thách của cuộc sống và “trò đùa” của số phận để có được những thành công trong cuộc đời làm báo nhiều sóng gió, thăng trầm và không ít nỗi niềm của mình.
Giấy công tác đặc biệt do Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn-Gia Định cấp cho phóng viên Trần Mai Hạnh sáng 1/5/1975. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
– Hiện nay, điều gì khiến ông suy nghĩ, trăn trở nhất mỗi khi đặt bút, thưa nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh?
Nhà báo-nhà văn Trần Mai Hạnh: Dù viết văn, viết báo hay viết bất cứ nội dung gì, điều tôi quan tâm nhất và luôn coi là tiêu chí hàng đầu, đó chính là sự thật. Sự thật phải được tôn trọng tuyệt đối. Người viết phải nói rõ sự thật, nói đúng bản chất sự thật.
Sự thật không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người. Thời gian trôi qua, cuộc sống biến thiên, xã hội biến động, lịch sử lùi xa nhưng cuối cùng không gì có thể thay đổi được sự thật. Những tác phẩm báo chí, văn chương tôi viết đều cố gắng xuất phát từ bệ đỡ của sự thật và bệ đỡ của lịch sử.
Tuy nhiên, cùng với việc tôn trọng sự thật, tôi cho rằng, người cầm bút hãy viết bằng cái nhìn nhân văn, hướng đến việc góp phần xây dựng, làm cho xã hội, cuộc sống tốt đẹp hơn. Biết bao vấn đề đang hàng ngày hàng giờ đặt ra trong cuộc sống của chúng ta.
“Cùng với việc tôn trọng sự thật, tôi cho rằng, người cầm bút hãy viết bằng cái nhìn nhân văn, hướng đến việc góp phần xây dựng, làm cho xã hội, cuộc sống tốt đẹp hơn.”
Vì vậy, dù là tác phẩm văn chương hay báo chí thì xét đến cùng cũng đều hướng đến phục vụ cuộc sống con người – cuộc sống vật chất cũng như đời sống tâm hồn. Do đó, mỗi tác phẩm đều cần cố gắng truyền đi những thông điệp tốt đẹp, giàu tính chiến đấu cũng như tinh thần dựng xây cuộc sống, đồng thời cần nêu lên được những giải pháp, tìm được lối ra cho những vấn đề tồn tại. Thời kỳ của những bài viết, tác phẩm chỉ đơn thuần mang tính minh họa đã xa rồi.
– Trân trọng cảm ơn ông./.
Xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là nhà báo lỗi lạc của nền báo chí ấy. Sự nghiệp báo chí của Người đã góp phần làm nên diện mạo báo chí cách mạng Việt Nam trong một thời kỳ oanh liệt và hào hùng của dân tộc. Đến nay, những lời dạy của Người về báo chí vẫn là tài sản quý đối sự nghiệp báo chí cách mạng nước nhà.
Người sáng lập và xây dựng nền báo chí cách mạng nước nhà
Là người am hiểu tinh hoa văn hóa đông tây, kim cổ và sớm tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã thấy rõ sức mạnh to lớn, diệu kỳ của báo chí trong sự nghiệp cách mạng, trong đời sống xã hội và trong việc nâng cao dân đức, dân trí.
Đặc biệt, từ thực tiễn hoạt động sinh động của cách mạng Việt Nam, Người am hiểu sâu sắc hoạt động báo chí, coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng. Do đó, ngày 21/6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập và cho xuất bản số đầu tiên tờ Thanh Niên, mở đầu cho dòng báo chí cách mạng Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết khoảng 2.000 bài báo, sử dụng hơn 50 bút danh
Và chính Người, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đã viết khoảng 2.000 bài báo, sử dụng hơn 50 bút danh đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng, của đời sống xã hội, để lại cho dân tộc một di sản báo chí vô cùng quý báu.
Cuộc đời làm báo 60 năm của Hồ Chí Minh được đánh dấu bởi bài báo đầu tiên “Vấn đề bản xứ” đăng trên tờ L’Humanitê ngày 2/8/1919, và khép lại với bài báo cuối cùng “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/6/1969. Không những để lại hàng nghìn bài báo với đủ thể loại, mà Bác còn là người sáng lập, tổ chức, điều hành hoạt động, biên tập, trình bày hàng chục tờ báo cách mạng qua những thời kỳ khác nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò nữ phóng viên Tuệ Oanh của Việt Nam Thông tấn xã về cách viết tin trong dịp đưa tin cuộc bầu cử Quốc hội khóa III (1964). (Ảnh: TTXVN)
“Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo”
Không chỉ là người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam, là tác giả của một khối lượng không nhỏ các bài báo, đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Bác còn có những lời chỉ dạy sâu sắc về người làm báo.
Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của người làm báo: “Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi. Nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể viết những bức tối hậu thư.” Vì vậy, đối với người làm báo, đạo đức và năng lực là yêu cầu không thể thiếu để báo chí xứng đáng với vai trò vị trí quan trọng trong công cuộc cách mạng chung của đất nước.
Vững vàng về phẩm chất chính trị
Yêu cầu đầu tiên đối với người làm báo là phải vững vàng về phẩm chất chính trị. Bác căn dặn “tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.”
Bác đã cụ thể hóa phẩm chất chính trị của một nhà báo phải được thể hiện từ việc xác định đối tượng phục vụ và nhiệm vụ của báo chí là: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên báo chí phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.”
Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. (Ảnh: TTXVN)
Tu dưỡng đạo đức cách mạng
“Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đạo đức đó là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.” Bác cũng yêu cầu cán bộ báo chí phải biết tự phê bình và phê bình. Bác coi đó “là vũ khí cần thiết và sắc bén nó giúp cho chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm.” Đối với nhà báo cách mạng “viết cũng như mọi việc khác, phải có chí, chớ giấu dốt, nhờ tự phê bình và phê bình mới tiến bộ” và phải “Phê bình với một tinh thần thành khẩn, xây dựng “trị bệnh cứu người.”
Trách nhiệm với nghề
Bác viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, vì độc lập, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới.”
Nhà báo chân chính với tinh thần trách nhiệm trước xã hội, trước nhân dân biết hòa mình trong niềm vui, nỗi lo lắng trước khó khăn của đất nước, đồng thời luôn luôn tìm thấy trong thực tiễn sinh động của sự nghiệp vinh quang xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nguồn đề tài vô tận để sáng tạo nên những tác phẩm báo chí có chất lượng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển ngày càng tốt đẹp hơn.
Theo Bác, không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn, nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy.
Việc phê phán cái xấu, cái sai, cái lạc hậu cũng phải góp phần mang tới công chúng niềm tin ở sự thật, sự nghiêm minh của pháp luật, tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vào những truyền thống tốt đẹp, những giá trị nhân văn của dân tộc ta.
Bác nhấn mạnh viết để nêu cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn, nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy.
Không ngừng học hỏi, nâng cao năng lực
Bác cũng đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với nhà báo. Bác yêu cầu: “Muốn viết báo thì cần: 1. Gần gũi quần chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực. 2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người. 3. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba, bốn lần, sửa chữa lại cẩn thận. Tốt hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi cho những câu nào, chữ nào họ không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu. 4. Luôn cố gắng học hỏi, luôn cầu tiến bộ.” Và “muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ.”
Sáng 18/6/2019, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm và tặng quà cho Nhà báo Nguyễn Trọng Xuất nhân dịp ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Không ngừng nâng cao hiệu quả công tác báo chí
Thực hiện lời dạy của Bác, báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng phát triển và trưởng thành. Hiện cả nước có 1 hãng thông tấn quốc gia, 844 cơ quan báo chí in, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, 5 đơn vị hoạt động truyền hình… với những phương tiện làm việc và kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, với đội ngũ khoảng 1,8 vạn nhà báo chuyên nghiệp và hàng triệu người viết báo nghiệp dư; trong đó có nhiều nhà báo có tên tuổi.
Các giải báo chí địa phương và giải báo chí quốc gia hằng năm phản ánh những tiến bộ, thành quả ngày càng lớn của báo chí cách mạng Việt Nam.
Báo chí cách mạng Việt Nam đã thực hiện tốt sứ mệnh vẻ vang của mình trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc và ngày nay đang phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, có uy tín cao đối với báo chí thế giới; thật sự là một lực lượng quan trọng tham gia quản lý đất nước, phản biện xã hội, ổn định tình hình an ninh chính trị, đưa đất nước ngày càng phát triển.
Việc mỗi nhà báo thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, học tập những quan điểm, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là thiết thực góp phần trau dồi bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình./.
Phóng viên ảnh Thông tấn xã Việt Nam tác nghiệp dưới trời mưa tại Giải bóng đá AFF Suzuki Cup ở Phuket, Thái Lan năm 2009. (Ảnh: TTXVN)
Durante 30 años de creación y desarrollo, el grupo de telecomunicación Viettel, ha pasado por una serie de hitos iniciales y récord en ese sector para convertirse en una compañía prestigiosa en Vietnam y también alcanzar una fuerte influencia en el ámbito internacional. Tras tres décadas, hoy día, Viettel está creando una nueva realidad para sí misma, así como para la telecomunicación, la tecnología y la industria nacional.
SERVICIO DE TELÉFONOS MÓVILES A TODA LA POBLACIÓN
“La gente de Viettel tenía misión que duraban hasta 10 días, en la que cada día tuvo que viajar hasta 500 kilómetros para llevar cada chip, cada tarjeta a todas las provincias de Vietnam. Los pequeños esfuerzos de cada persona de Viettel en aquel entonces hicieron la gran fortaleza y el punto de auge para nuestro grupo en los primeros días, en los que ofrecíamos los servicios de teléfonos móviles”, recoró Nguyen Viet Dung, director de Estrategia de Negocios de Viettel.
A finales de la década de 90 del pasado siglo, el servicio de teléfono móvil en Vietnam era un lujo. El costo de cada teléfono con un chip equivalente a la mitad del precio de una motocicleta. Para poder conectarse, las personas tienen que gastar dos cientos dólares para suscribir, además de las costosas tarifas de conexión. Los extranjeros que vinieron a Vietnam se quejaron también del costo de estos servicios.
Mai Liem Truc, una de las máximas autoridades en el sector de correos y telecomunicaciones en ese momento, recordó que recibió continuamente las quejas de empresarios y especialistas extranjeras sobre los costos de las telecomunicaciones en Vietnam. Más tarde, puso sus expectativas en una “conexión móvil más fácil y más barata” cuando firmó la licencia de operación de Viettel, lo que permite que esta unidad se despliegue completamente en todos los tipos de negocios de servicio de correos y telecomunicaciones en 1998.
Muchas personas cuestionaron la firma de esa licencia, debido a que Viettel era una nueva empresa que no tenía experiencias en ese sector. Su éxito en ese momento fue solo la instalación de la red óptica 1A con tecnología de transceptor en la misma fabricada por ese grupo. La compañía no ha ingresado realmente en los negocios de telecomunicaciones, aunque la tecnología de transceptor en la misma fibra que ellos mismos desarrollaron fue considerada como una prueba de sus capacidades técnicas en ese momento.
Cuando autorizó ese código para Viettel, lo que marcó el inicio de los servicios de teléfonos móviles en Vietnam, Mai Liem Truc se sintió muy confiado de sus éxitos.
“El objetivo es evitar el monopolio del comercio de telecomunicación en el país”, dijo Mai Liem Truc.
En 2000, Viettel lanzó sus servicios de teléfonos con el número inicial 178 en VoIP, marcando el punto de inflexión de la industria de telecomunicaciones de Vietnam. El costo de servicio de teléfonos fijos se ha vuelto mucho más barato que antes. El éxito de 178 no solo trae los éxitos iniciales para Viettel, sino también marcó un verdadero impulso en la competitividad en el mercado de la telecomunicación en Vietnam.
En 2003, con la inversión y operación de un servicio satelital internacional para conectar al mundo, la capacidad de conexión internacional IXP de Viettel se elevó a 45 Mbps. Para 2005, la red de Internet de Viettel se expandió en todo el país. En septiembre de 2003, el grupo comenzó a prestar servicios de telefonía fija en Hanoi y en Ciudad Ho Chi Minh, y luego se expandió a otras provincias del país.
El 15 de octubre de 2004, Viettel lanzó oficialmente la red móvil, con el número inicial 098. En menos de un año, Viettel alcanzó el hito de un millón de suscriptores, con una tasa de crecimiento que otras redes móviles tardaron más de 10 años en llegar anteriormente. La fundación de su filial Viettel Mobile con muchos descuentos y promociones ha creado el boom de los servicios móviles en Vietnam.
La inauguración del muy conocido paquete El tomate de Viettel marcó otra fase de su desarrollo. El crecimiento de sus servicios móviles se duplicó en comparación con el año anterior. Como subdirector de Viettel Mobile y jefe de Estrategia de Viettel en ese momento, Nguyen Viet Dung aseguró que se trata de un importante éxito.
Tras una década, en 2010, Viettel superó al Grupo de Correos y Telecomunicación de Vietnam (VNPT) en términos de ingreso, suscriptores y participación en el mercado para convertirse en el operador de redes número uno en el país. En este momento, Viettel es el primer operador en probar el servicio 5G en Vietnam, con unos 70 millones de suscriptores móviles nacionales y 10 mercados internacionales en tres continentes.
NÚMERO UNO EN VIETNAM Y EN LA LISTA DE LOS 15 DEL MUNDO
“Cuando llamé a Nguyen Manh Hung, me dijo que Viettel es el líder de los servicios de telecomunicación en Vietnam, pero no es nada en comparación con las compañías del mundo. Debemos colocar a Viettel en la lista de los 15 o 20 del mundo”, recuerda Mai Liem Truc, ex viceministro de Correos y Telecomunicación de Vietnam.
En 2006, Viettel comenzó a pensar en extender sus servicios en el extranjero. Se estableció la Junta de Inversión Extranjera, con el objetivo inicial de ofrecer sus servicios en países vecinos que son Camboya y Laos. En 2009, Metfone se unió oficialmente a la red de telecomunicación en Camboya, al mismo tiempo Viettel se convirtió en el primer operador en mercado vietnamita en términos de suscriptores y ganancias. Este es también el primer año en el que una empresa de telecomunicación vietnamita tiene su propia red en el mercado internacional. En la memoria de Mai Liem Truc, la llamada en 2009 con Nguyen Manh Hung, entonces subdirector general de Viettel y actual Ministro de Información y Comunicación, trajo muchas emociones. La llamada conectada entre Vietnam y Camboya mostró la determinación del liderazgo de Viettel sobre su futuro en ese momento. “Cuando conecté desde Vietnam a Nguyen Manh Hung quien estaba en Camboya, me dijo que Viettel es el líder de los servicios de telecomunicación en Vietnam, pero no es nada en comparación con las compañías del mundo. Debemos colocar a Viettel en la lista de los 15 o 20 del mundo”, recuerda Mai Liem Truc, ex viceministro de Correos y Telecomunicación de Vietnam, quien añadió que se sintió su aspiración y la amplia visión de Viettel. Con las experiencias obtenidas en el mercado de Vietnam, Metfone, el servicio de Viettel en Camboya logró rápidamente un gran éxito. Desde los logros en Camboya, unos 30 técnicos y trabajadores de Viettel continúan siendo enviados a Laos para implementar el proyecto similar con la marca comercial Unitel. Desde 2009 hasta 2018, Viettel expandió continuamente su mercado internacional con el despliegue de operaciones en Asia, África y América Latina. En la actualidad, 10 empresas con marcas de Viettel operan en tres continentes. En cinco mercados, las filiales de Viettel ocupan el primer lugar en cuanto a la participación de mercado como en la captación de usuarios, ingresos y ganancias. Estos mercados son Camboya, Laos, Burundi, Timor Oriental y Mozambique. Perú es primer mercado internacional de Viettel con un mayor nivel de desarrollo económico que Vietnam. El producto interno bruto per cápita de Perú es tres veces más alto que el país indochino. En ese mercado, los negocios de Viettel son más rentables entre otros mercados foráneos. Mientras tanto, Myanmar, décimo mercado extranjero de Viettel, también un mercado con el crecimiento récord de este grupo. Solo después de ocho meses de operación en Myanmar, Viettel atrajo más de 5,4 millones de suscriptores, alcanzando la tercera posición en sus mayores mercados internacionales.
El éxito de Viettel en el extranjero crea una nueva realidad de la inversión de Vietnam. El país ahora no solo está esperando a que los socios extranjeros inviertan capital en la telecomunicación y la tecnología informática, sino que también posean grandes empresas, capaces de invertir en el mundo y ascender a la posición número uno en varios países. Viettel no solo estableció sus éxitos propios sino que también puso la posición de Vietnam en el escenario internacional. Mai Liem Truc contó que durante su visita a Tanzania para asistir a la inauguración de servicios de internet de Viettel, le informaron que desde que este grupo se presencia en el país africano, la posición de Vietnam ha sido diferente. Actualmente, Viettel se ha clasificado entre las 15 compañías de telecomunicación más grandes del mundo en términos de suscriptores.
NUEVA MISIÓN DE VIETTEL
“Lo primero en lo que Viettel tiene que pensar es que no se llama como un operador de telecomunicación sino un proveedor de servicios digitales. Esa es el objetivo de este año 2019”, dijo Le Dang Dung, presidente interino de Viettel.
Con la transformación digital, Viettel implementó la virtualización de todos los dispositivos de red centrales y la tecnología de control de red mediante software basado en nuevas plataformas tecnológicas como BigData, AI, VR; estableció un sistema de negocios para convertirse en un proveedor de servicios digitales. Con su filial en el extranjero, Metfone tiene la tarea de ser pionero en Camboya en la aplicación de la tecnología avanzada en los servicios de telecomunicación que incluyen el 5G, la inteligencia artificial, realidad virtual y los marcodatos.
Desde 2009 hasta 2018, Viettel expandió continuamente su mercado internacional con el despliegue de operaciones desde Asia a África y América Latina.
También Viettel está decidida fabricar equipos de alta tecnología y crear productos “Hecho por Vietnam”, en lugar de “Hecho en Vietnam”. Después de 10 años de despliegue, Viettel ha dominado y producido casi todos los sistemas de redes de telecomunicación central, como el sistema de facturación en tiempo real (OCS), el sistema de mensajería, la estación de transmisión BTS 4G y el estudio para poder fabricar equipos de transmisión 5G. Viettel se convirtió en uno de los cinco principales fabricantes de equipos de telecomunicaciones más importantes del mundo y entre las 50 marcas conocidas del planeta. Además de ser una compañía de telecomunicación, Viettel también completó con éxito la tarea de producir equipos de alta tecnología, como sistemas de control del espacio aéreo, estaciones de radar y máquinas de comunicación para aviones no tripulados. Vietnam se convirtió en el noveno país del mundo capaz de producir estos equipos. Los resultados comerciales en la fabricación de productos de alta tecnología también evidencian el éxito de crear productos “Hecho por Viettel”. Entre 2017-2018, los ingresos totales de Viettel del sector de investigación y producción superaron los 756 millones de dólares y las ganancias alcanzaron 228 millones de dólares. Y el 10 de mayo pasado, Viettel implementó con éxito la primera llamada 5G, llevando el nombre de Vietnam a la lista de los primeros países de prueba este servicio en el mundo, cumpliendo su misión de llevar al país al mismo ritmo del desarrollo de la tecnología del mundo. -VNA
Viettel se convirtió en uno de los cinco principales fabricantes de equipos de telecomunicaciones más importantes del mundo y entre las 50 marcas conocidas del planeta.