Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trên tổng dân số tăng lên với tốc độ nhanh chóng, từ 8,1% (năm 1999) lên 8,6% (2009) và hiện nay là khoảng 12%, tương đương khoảng 11,9 triệu người.
Tốc độ già hóa dân số của Việt Nam được các nhà khoa học trong nước và quốc tế dự báo thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Theo đó, Việt Nam chỉ mất khoảng 20-22 năm để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già.
Việt Nam chỉ mất khoảng 20-22 năm để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già.
Tỷ lệ dân số cao tuổi càng lớn, gánh nặng bệnh tật và tử vong, nhất là với các bệnh không lây nhiễm, càng lớn, điều này đặt ra những vấn đề cần giải quyết để bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chăm sóc người cao tuổi còn nhiều thách thức
Công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Trong tổng số hơn 11,9 triệu người cao tuổi hiện nay còn một bộ phận không nhỏ có cuộc sống khó khăn do không có tích lũy cho tuổi già; một bộ phận vẫn phải tự mưu sinh kiếm sống; một số chưa được tư vấn chăm sóc sức khỏe; một số ít chưa được người thân quan tâm; một số người cô đơn, không nơi nương tựa. Đặc biệt, người cao tuổi có ít cơ hội được tập huấn, đào tạo nghề; gặp khó khăn trong việc vay vốn để phát triển sản xuất-kinh doanh vươn lên thoát nghèo.
Các đối tượng người cao tuổi được chăm sóc, phục hồi chức năng cả về sức khỏe và tinh thần. (Ảnh: Trung Kiên/TTXVN)
Việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chất lượng chăm sóc sức khỏe, khả năng chi trả của người cao tuổi cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế. Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng nhưng mạng lưới y tế cho người cao tuổi vẫn chưa được phát triển, nhân viên y tế phục vụ tại cộng đồng còn thiếu; kỹ năng phát hiện, điều trị và chăm sóc người cao tuổi còn hạn chế.
Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông-Giáo dục (Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình) Mai Xuân Phương cho rẳng hệ thống an sinh xã hội hiện nay của Việt Nam chủ yếu là dành cho trẻ em nhưng trẻ em thì càng ngày càng ít, số lượng người cao tuổi lại gia tăng nhanh chóng. Đơn cử như trong việc chăm sóc sức khỏe, trẻ em có rất nhiều bệnh viện nhi nhưng cả nước chỉ có mỗi một Bệnh viện Lão khoa Trung ương, chưa có bệnh viện lão khoa khu vực.
Trẻ em có rất nhiều bệnh viện nhi nhưng cả nước chỉ có mỗi một Bệnh viện Lão khoa Trung ương, chưa có bệnh viện lão khoa khu vực.
Tính đến cuối năm 2016, cả nước chỉ có 50 Khoa Lão khoa tại các bệnh viện tỉnh và trung ương; 302 phòng khám lão khoa trong tổng số hơn 800 bệnh viện trong cả nước. Hệ thống bệnh viện và khoa lão ít, không được trải rộng khiến người cao tuổi khó tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc mất thời gian chờ đợi để được khám, chữa bệnh.
Tình trạng đa bệnh tật ở người cao tuổi gia tăng nhanh chóng, đòi hỏi các nhân viên y tế phải được đào tạo và đào tạo lại về những bệnh lý hay gặp ở người già (đau mạn tính, suy giảm chức năng, bệnh lý tâm thần, bệnh tim mạch, đái tháo đường…).
Với xu hướng gia đình có ít con, các gia đình phải thuê dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại nhà và bệnh viện nhưng hiện nay mạng lưới nhân viên chăm sóc có chất lượng chưa được phát triển.
Tình trạng đa bệnh tật ở người cao tuổi gia tăng nhanh chóng, đòi hỏi các nhân viên y tế phải được đào tạo và đào tạo lại. (Ảnh: Trung Kiên/TTXVN)
Các gia đình phải thuê những người chăm sóc không được đào tạo, chất lượng thấp, chi phí cao. Bên cạnh đó, chi phí trung bình để chăm sóc sức khỏe cho một người cao tuổi rất cao, trong khi thu nhập trung bình của người cao tuổi thấp hoặc không có, điều này dẫn đến gánh nặng lớn về nguồn lực chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.
Vấn đề già hóa dân số không được lồng ghép một cách có hệ thống trong chương trình nông thôn mới, dù thực tế có tới 65% người cao tuổi đang sống ở khu vực nông thôn.
Việc tạo môi trường thân thiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thể chất và xã hội của người cao tuổi cũng chưa được đảm bảo như: nhiều đơn vị (đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân) chưa thực hiện quy định “giảm giá vé khi tham gia giao thông công cộng, tham gia các hoạt động văn hóa, sự kiện thể thao và để đi đến các địa điểm công cộng” cho người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi; vấn đề già hóa dân số không được lồng ghép một cách có hệ thống trong chương trình nông thôn mới, dù thực tế có tới 65% người cao tuổi đang sống ở khu vực nông thôn…
Đảm bảo cho người cao tuổi hòa nhập xã hội
Để đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi trong xu hướng già hóa dân số, các nhà nghiên cứu cho rằng cần nâng cao nhận thức về những thách thức của già hóa dân số và đời sống của người cao tuổi đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách và cộng đồng.
Nhà nước cần giải quyết đồng bộ các chính sách tăng trưởng, phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội nhằm đảm bảo và cải thiện thu nhập của người cao tuổi có được từ lao động và hưu trí như khuyến khích người cao tuổi tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao; trợ cấp xã hội cho nhóm người cao tuổi dễ tổn thương theo hướng mở rộng; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của các nhóm dân số; đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe và nâng cao nhận thức, ý thức về sức khỏe cho mọi lứa tuổi để chuẩn bị cho một tuổi già khỏe mạnh, tránh bệnh tật.
Người cao tuổi đăng ký thẻ xe buýt miễn phí tại điểm bán vé xe buýt tại số 1 Kim Mã, Hà Nội. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Ngoài ra, Nhà nước cần phát triển mạnh mẽ hệ thống các trung tâm bảo trợ xã hội và các trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi; tạo điều kiện hỗ trợ cho các trung tâm bảo trợ xã hội và các trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi do tư nhân cung cấp; xây dựng hệ thống bệnh viện và tổ chức nghiên cứu lão khoa trên phạm vi cả nước; xây dựng và củng cố mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, đặc biệt là mạng lưới kiểm soát các bệnh mạn tính.
Vấn đề môi trường sống thân thiện, đi lại thuận lợi cho người cao tuổi ở cả đô thị, nông thôn cũng cần đươc quan tâm bằng cách đầu tư xây dựng công viên, vườn cây, sân chơi cho nhà chung cư cao tầng, nhà văn hóa làng để người cao tuổi gặp nhau và giao lưu với thế hệ trẻ; thiết kế các làn đường đặc biệt và các phương tiện thuận tiện; đảm bảo đường, lối đi và tiện ích công cộng dễ sử dụng và an toàn…
Nhà nước cần nhanh chóng có hướng tiếp cận toàn diện để thích ứng và đáp ứng nhu cầu của toàn bộ dân số, chuẩn bị cho một xã hội già trong tương lai.
Già hóa dân số là xu hướng tất yếu của sự phát triển đối với một quốc gia. Tiến trình già hóa dân số có tác động tới tất cả các khía cạnh của xã hội, các thành phần kinh tế và các nhóm dân số trẻ tuổi hơn. Do đó, Nhà nước cần nhanh chóng có hướng tiếp cận toàn diện để thích ứng và đáp ứng nhu cầu của toàn bộ dân số, chuẩn bị cho một xã hội già trong tương lai.
Việc xây dựng các chính sách liên quan cần xuất phát từ cách nhìn nhận người cao tuổi là một nguồn lực cho phát triển chứ không phải là những người thụ hưởng các dịch vụ xã hội một cách thụ động. Trong đó, phải đặt trọng tâm vào việc giúp người cao tuổi có một tuổi già vui vẻ, hạnh phúc./.
Thời gian qua, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, sự khai thác tài nguyên nước và cát quá mức, cùng với sự tác động của con người đang khiến Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có tình trạng sạt lở bờ sông, xói mòn bờ biển.
Hiện tượng này đang diễn ra ngày càng phức tạp và gia tăng cả về phạm vi và mức độ nghiêm trọng, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản người dân, ảnh hưởng đến sản xuất, cơ sở hạ tầng vùng ven biển, ven sông cũng như làm suy thoái rừng ngập mặn ven biển…
Ghi nhận từ thực tế ở một số địa phương bị ảnh hưởng nghiêm trọng của hiện tượng này, phóng viên TTXVN thực hiện loạt 5 bài viết phản ánh những vấn đề liên quan đến tình trạng sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển mà các tỉnh, thành ở Đồng bằng sông Cửu Long đang phải gánh chịu cùng với những hệ lụy, nguyên nhân và các giải pháp cấp bách, lâu dài.
‘Hà bá’ rình rập cả vùng
Đối với bao thế hệ người dân gắn bó với vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long, có lẽ chưa bao giờ có tình trạng bất an, lo sợ như lúc này, khi tính mạng cũng như tài sản, nhà cửa có thể bị “hà bá” nuốt chửng bất cứ lúc nào. Cùng với đó, lãnh đạo Trung ương, chính quyền địa phương cũng đang tích cực chỉ đạo, tìm giải pháp ứng phó hiệu quả nhằm hạn chế thiệt hại do sạt lở gây ra.
Nhà cửa, đất đai “rủ nhau” trôi sông
Thời gian qua, trên địa bàn các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tình hình sạt lở đất bờ sông, bờ biển có diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng, không ngừng mở rộng quy mô và cường độ, cuốn theo bao nhiêu đất đai, nhà cửa, tài sản của người dân, uy hiếp trực tiếp đến nhiều công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện lưới…
Từ đầu năm 2019 đến nay, trên địa bàn tỉnh An Giang liên tục xảy ra các vụ sạt lở đất bờ sông, kênh rạch, đẩy hàng trăm gia đình phải tháo dỡ nhà cửa “chạy” sạt lở. Sông Vàm Cái Hố (nhánh trái của sông Hậu) đoạn chảy qua ấp An Thị, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xưa vốn hiền hòa nay bỗng nhiên trở mình hung dữ, kéo đất đai, nhà cửa của hàng chục hộ dân trôi tuột xuống sông.
Đứng bần thần trước căn nhà khóa trái cửa ở phía trong khu vực được cảnh báo sạt lở nguy hiểm, ông Ngô Văn Khâu ở ấp An Thị, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới (An Giang) lau vội những giọt nước mắt trên gương mặt đen sạm. Nơi đây, chỉ hơn 2 tuần trước, gia đình ông Khâu còn sum vầy trong căn nhà của mình – căn nhà mà ông và cả gia đình đã gom góp bao nhiêu năm mới cất xong. Chỉ chớp mắt, cả nhà phải dắt nhau đi qua nhà người thân xin ở nhờ vì nhà có nguy cơ sạt lở bất cứ lúc nào.
Sông Vàm Cái Hố (nhánh trái của sông Hậu) xưa vốn hiền hòa nay bỗng nhiên trở mình hung dữ, kéo đất đai, nhà cửa của hàng chục hộ dân trôi tuột xuống sông
Ông Khâu cho biết: “Gia đình tôi ở đây gần 60 năm rồi nhưng đây là lần đầu tôi thấy cảnh sạt lở nguy hiểm như thế này.” Nhà ông nằm cách bờ sông hơn 30m nhưng hiện tường và nền nhà đã xuất hiện nhiều vết rạn nứt lớn hơn ngón tay cái nên cả nhà không ai dám ở hay ngủ lại mà phải qua tá túc nhà người thân.
“Năm 2017, thấy cảnh tượng sạt lở khủng khiếp ở Vàm Nao rồi nên giờ chính quyền cảnh báo là bà con di dời ngay, không ai dám mạo hiểm với với ‘thủy thần,” chỉ cần một vạt đất lở ùm xuống sông là có thể nhấn chìm người và nhà cửa,” ông Khâu tâm sự.
Trước đó, vào ngày 9 và 19/7, tại khu vực ấp An Thị, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã xảy ra hai vụ sạt lở đất bờ sông Vàm Cái Hố (nhánh trái của sông Hậu) với tổng chiều dài hơn 160m, đe dọa 64 hộ dân, trong đó có 27 hộ dân có nhà cặp ven sông Vàm Cái Hố phải di dời khẩn cấp.
Tương tự, tại tỉnh Kiên Giang, tình trạng sạt lở đất, xói lở bờ biển cũng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân sinh sống quanh khu vực này.
Nhiều đoạn đê ven biển Kiên Giang bị sạt lở nghiêm trọng. (Ảnh: TTXVN)
Ông Thái Văn Bích, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vân Khánh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang cho biết thời gian gần đây, tình hình sạt lở bờ biển khu vực Vàm Kim Quy rất nghiêm trọng, sóng đánh vỡ đứt đoạn đê quốc phòng, tác động trực tiếp đến đời sống, sản xuất của hơn 20 hộ dân tại đây. Do tình trạng sạt lở đang diễn biến phức tạp, xã đã vận động, di dời các hộ dân trong vùng nguy hiểm đến ở tạm nhà người thân để đảm bảo an toàn. Ngoài ra, hàng trăm hộ dân đang sinh sống trên tuyến đê biển này cũng bị ảnh hưởng, bất lợi. Dự báo khi vào cao điểm của mùa mưa bão, tình hình sạt lở diễn biến rất khó lường. Khó khăn hiện nay của xã là không có đất để di dời các hộ dân ra khỏi khu vực nguy hiểm.
Tại hiện trường, một số nhà của các hộ dân đã bị sụp lở xuống biển và hiện còn một số hộ nền nhà trong tình trạng sạt lở nhưng chưa di dời. Bà con cất nhà sàn bằng gỗ, cách bờ 20-50m và đường dẫn từ bờ ra nhà bằng cầu cây gỗ tạm rất nguy hiểm trong mùa mưa bão đang tới.
Ông Trương Quốc Thắng, ấp Kim Quy, xã Vân Khánh lo ngại bởi mỗi khi trời mưa lớn, giông gió, sóng to nổi lên, bà con ở đây rất sợ nhưng bây giờ không biết di dời đi đâu, không đất đai sản xuất, không tiền bạc.
“Mỗi khi trời mưa lớn, giông gió, sóng to nổi lên, bà con ở đây rất sợ nhưng bây giờ không biết di dời đi đâu, không đất đai sản xuất, không tiền bạc”
“Nhà tôi hồi đó cất cách biển hơn 200m nhưng hiện nay đã lở đến chân nền nhà. Nếu tình trạng sạt lở tiếp tục diễn biến nghiêm trọng thì nguy cơ nhà đổ sụp xuống biển khó tránh khỏi, nhất là vào cao điểm của mùa mưa bão,” ông Trương Quốc Thắng chia sẻ.
Để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của người dân khu vực bị ảnh hưởng, cơ quan chức năng các địa phương đã liên tục đưa ra những cảnh báo, tổ chức di dời các hộ dân ra khỏi khu vực ảnh hưởng. Thế nhưng, rất nhiều người dân vì kế sinh nhai đã bất chấp nguy hiểm, bám trụ lại nơi ở cũ, chấp nhận đối mặt với nguy hiểm rình rập hàng ngày.
Bà Nguyễn Thị Hầu (sinh năm 1953), một trong 27 hộ dân trong vùng cảnh báo sạt lở nguy hiểm phải di dời khẩn cấp ở ấp An Thị, xã An Thạnh Trung (An Giang) thở dài nói: “Nhà ven sông thì luôn sống trong nỗi lo sợ sạt lở, biết vậy mà không tránh được vì nghèo, vì đây là quê hương với mồ mả ông, bà, tổ tiên nên không bỏ đi đâu được.”
Sinh sống lâu năm ở khu vực sông Vàm Cái Hố, ông Trần Văn Căn (sinh năm 1954) cho biết ngày trước, nếu có sạt lở thì cũng chỉ sạt vài mỏm đất nhỏ nằm phía ngoài mép sông thôi nhưng lần này, sạt lở ăn sâu vào cả mấy chục mét, vết nứt chạy dài cả trăm mét; đất ven sông cứ sụp ầm ầm xuống sông.
“Sạt lở đất xảy ra nhanh như chớp nhưng dư âm của nó thì dai dẳng cứ như nhát dao cứa vào da thịt những người dân vùng sạt lở,” ông Căn chia sẻ.
Những điểm “nóng”
Trước diễn biến phức tạp của hiện tượng này, nhất là các tháng 9 và 10 hằng năm được xem là cao điểm của tình trạng sạt lở đất của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, từ đầu tháng 9/2019 đến nay, các địa phương trong vùng như An Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Long An… đã phải ban hành các quyết định về tình huống khẩn cấp sạt lở bờ biển, bờ sông trên địa bàn.
Cụ thể, tại tỉnh Cà Mau, khu vực bị sạt sở cần áp dụng tình huống khẩn cấp để xử lý gồm gần 25km cửa biển, bờ biển và hơn 1,5km bờ sông, trong đó một số khu vực đặc biệt nguy hiểm như xói lở khu vực cửa biển Vàm Xoáy (xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển) với chiều dài 4,5km; khu vực xói lở cửa biển Rạch Gốc (thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển), với chiều dài 1,5km; sạt lở tại khu vực bờ kè khu dân cư trị trấn Năm Căn…
Các khu vực sạt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khu dân cư sinh sống tập trung, trụ sở các cơ quan làm việc của các địa phương, trường học, trạm y tế, Quốc lộ 1 (đường Hồ Chí Minh).
Ông Nguyễn Tiến Hải – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau yêu cầu Ủy ban Nhân dân các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển, Đầm Dơi vận động nhân dân di dời tài sản ra khỏi khu vực sạt lở và khu vực có nguy cơ sạt lở nguy hiểm; thông báo, cắm biển cảnh báo, rào chắn không cho phương tiện có tải trọng lớn, người không có trách nhiệm vào khu vực sạt lở; bố trí lực lượng trực canh theo dõi chặt chẽ diễn biến sạt lở.
Sạt lở trên đoạn kênh Rạch Vọp, tại khu vực chợ Cầu Lộ, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng làm toàn bộ 7 căn nhà bán kiên cố ven sông bị nhấn chìm. (Ảnh: TTXVN)
Tại Sóc Trăng, Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng đã có các quyết định công bố tình huống khẩn cấp sạt lở bờ sông, bờ biển nguy hiểm trên địa bàn. Sóc Trăng có 7 đoạn sạt lở nguy hiểm trên địa bàn 7 huyện, thị, thành phố, trong đó huyện Mỹ Xuyên có đoạn bờ kênh Thạnh Mỹ thuộc ấp Hòa Tần, xã Ngọc Tố; huyện Long Phú có đoạn sạt lở bờ sông Rạch Mọp, rạch Mương Điều, rạch Củi, xã Song Phụng; sông Saintard, xã Long Đức; rạch Mây Hắt, xã Phú Hữu; rạch Vàm Thép, rạch Mây Hắt thuộc xã Hậu Thạnh.
Tỉnh Bến Tre có 4 khu vực bờ sông, bờ biển với chiều dài gần 7km bị sạt lở cần khẩn cấp xử lý. Đó là xói lở bờ biển khu vực Cồn Ngoài, xã Bảo Thuận (huyện Ba Tri) chiều dài 1,2km; xói lở bờ biển khu vực Cồn Lợi, xã Thạnh Hải (huyện Thạnh Phú) chiều dài 1,5km; xói lở bờ biển khu vực xã Thừa Đức (huyện Bình Đại) chiều dài 3km; sạt lở bờ sông Bến Tre khu vực xã Nhơn Thạnh (thành phố Bến Tre) với chiều dài 1,2km.
Theo các cơ quan chức năng tỉnh Bến Tre, hiện toàn tỉnh có 112 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng chiều dài 138km, trong đó sạt lở bờ biển có 8 điểm, tổng chiều dài khoảng 19km. Dù tỉnh Bến Tre đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp cấp bách để xử lý sạt lở nhưng do sự tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thay đổi dòng chảy, tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển tiếp diễn gây ảnh hưởng đến sản xuất, nơi ở của người dân.
Trước diễn biến phức tạp của tình trạng sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long, thời gian qua, các bộ, ngành Trung ương đã tổ chức nhiều đoàn kiểm tra tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển.
Gần đây nhất, ngày 23/9, Văn phòng Chính phủ đã có công văn truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Tiếp theo đoàn kiểm tra liên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trưởng đoàn cùng với lãnh đạo các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ và lãnh đạo địa phương khẩn trương kiểm tra đánh giá về tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển, công tác khắc phục và bảo đảm an toàn tính mạng, ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân tại các khu vực bị sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, trên cơ sở kết quả kiểm tra và các nghiên cứu đánh giá về thực trạng, nguyên nhân, dự báo nguy cơ sạt lở (đã và đang được thực hiện), các địa phương, ngành chức năng đề xuất giải pháp trước mắt và lâu dài để xử lý, khắc phục tình trạng sạt lở ven sông, ven biển nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, ổn định đời sống và sản xuất của người dân./.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thị sát điểm sạt lở tại xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Sạt lở từ sông ra biển
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có 564 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 834km. Cụ thể, sạt lở bờ sông 512 điểm với tổng chiều dài khoảng 566km, trong đó chủ yếu diễn ra dọc theo sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và các nhánh chính của hệ thống kênh, rạch; sạt lở bờ biển 52 điểm với tổng chiều dài 268km.
Ngày càng phức tạp, nghiêm trọng
Trong số các điểm sạt lở nêu trên, theo tiêu chí về phân loại sạt lở bờ sông, bờ biển quy định tại Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 4/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ, hiện có 57 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm (sạt lở gây nguy hiểm trực tiếp đến khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng), tổng chiều dài 170km, bao gồm bờ sông 39 điểm với tổng chiều dài 85km, bờ biển 18 điểm với tổng chiều dài 85km.
Ông Tô Hoàng Môn – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang cho biết từ đầu năm 2019 đến nay, trên địa bàn tỉnh An Giang đã xảy ra 17 vụ sạt lở, chủ yếu trên sông Hậu và kênh xáng Tân An.
Từ đầu năm 2019 đến nay, trên địa bàn tỉnh An Giang đã xảy ra 17 vụ sạt lở, chủ yếu trên sông Hậu và kênh xáng Tân An
Qua khảo sát, toàn tỉnh có 52 đoạn sạt lở, trong đó 6 đoạn đặc biệt nguy hiểm, 32 đoạn nguy hiểm…; có 21.000 hộ nằm trong trong vùng sạt lở mức độ nguy hiểm tới trung bình. Vừa qua, tỉnh đã đề xuất với Chính phủ hỗ trợ xây dựng 7 khu dân cư để di dời cho các hộ dân nằm trong diện đặc biệt nguy hiểm.
“Hiện đang bước vào mùa mưa, cộng với tình hình lũ về muộn, thiếu phù sa bồi đắp cho nên đất ven sông bị ‘hổng chân’ dẫn đến nguy cơ sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao… tăng cao,” ông Tô Hoàng Môn lo ngại.
Trong khi đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang cũng cho biết tại nhiều bờ sông thuộc các huyện An Biên, An Minh, Hòn Đất, Giồng Riềng, U Minh Thượng, Châu Thành, Giang Thành và thành phố Rạch Giá, hiện tượng sạt lở, nguy cơ sạt lở rất đáng lo ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến công trình và cuộc sống của người dân.
Nhiều đoạn đê ven biển Kiên Giang bị sạt lở nghiêm trọng. (Ảnh: TTXVN)
Theo thống kê ban đầu, tổng chiều dài sạt lở bờ sông gần 200km, trong đó khoảng 25km sạt lở hết sức nguy hiểm và con số này đang tiếp tục tăng lên do chưa có những giải pháp ngăn chặn, khắc phục.
Theo thống kê của các cơ quan chức năng thành phố Cần Thơ, hiện tại trên toàn thành phố có khoảng 200 điểm sạt lở, trong đó 50 điểm có nguy cơ cao, đặc biệt nguy hiểm và nguy hiểm. Diễn biến của sạt lở bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố Cần Thơ ngày một nghiêm trọng và phức tạp, tăng cả về cường độ và số lượng.
Theo Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ, các điểm sạt lở thuộc các đoạn sông, kênh, rạch chảy qua các khu vực đông dân cư, các kênh rạch có mật độ giao thông thủy lớn, những đoạn sông uốn khúc, các cửa phân lưu, nơi giao thoa giữa dòng chảy sông và dòng triều… gây thiệt hại lớn về sinh mạng, mất đất, nhà cửa, tài sản, cơ sở hạ tầng xây dựng hai bên bờ sông, kênh, rạch. Một số vụ sạt lở lớn như tại khu vực đang thi công bờ kè chống sạt lở sông Ô Môn khu vực vàm Thới An; sạt lở trên kênh Cái Sắn dọc tuyến Quốc lộ 80 qua địa bàn xã Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh Thạnh, nhấn chìm bốn căn nhà của người dân…
Cùng với sạt lở bờ sông trong nội địa, các tỉnh vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang bị tổn thương nghiêm trọng do hiện tượng xói lở bờ biển gây ra, hàng chục km đê biển ngày đêm bị uy hiếp và những vạt rừng phòng hộ ven biển cũng bị cuốn phăng.
Cùng với sạt lở bờ sông trong nội địa, các tỉnh vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long cũng đang bị tổn thương nghiêm trọng do hiện tượng xói lở bờ biển
Điển hình như tỉnh Cà Mau có 3 mặt giáp biển, kéo dài từ biển Đông sang biển Tây với bờ biển dài 254km, phần lớn diện tích của tỉnh thuộc vùng đất ngập nước ven biển, có nhiều cửa sông, cửa biển (tổng chiều dài trên 8.000km, có 87 cửa sông thông ra biển) nên bị ảnh hưởng nặng nề trước tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, việc bảo vệ sản xuất, cung cấp nước ngọt, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn, tốn kém.
Chỉ tính riêng khu vực cửa biển Vàm Xoáy, huyện Ngọc Hiển, trung bình mỗi năm đai rừng phòng hộ mất từ 80-100m.
Với đường bờ biển dài khoảng 200km, tỉnh Kiên Giang đang phải gánh chịu ảnh hưởng trực tiếp do biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đặc biệt là vấn đề sạt lở bờ biển ngày càng khó lường, nghiêm trọng. Tác động của sóng biển đã làm cho một số đoạn bờ biển xảy ra hiện tượng xói lở với tổng chiều dài hơn 86km, tập trung trên địa bàn 4 huyện là An Minh, An Biên, Hòn Đất và Kiên Lương, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất của người dân. Trong số đó, hơn 30km xói lở đặc biệt nguy hiểm, trên 11km xói lở nguy hiểm.
Theo dõi diễn biến của hiện tượng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết từ năm 2010 tới nay, sạt lở diễn biến ngày càng phức tạp, gia tăng cả về phạm vi và mức độ nghiêm trọng, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng ngập mặn ven biển.
Những hệ lụy nhãn tiền
Tình trạng sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển ở nhiều tỉnh thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, lâu dài đến môi trường tự nhiên và sinh kế của người dân trong khu vực.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình mỗi năm, xói lở đã làm mất khoảng 300ha đất, rừng ngập mặn ven biển. Tình hình sạt lở không những diễn ra trong mùa mưa mà còn xuất hiện cả mùa khô; ở các tuyến sông chính cho đến các hệ thống kênh, rạch với mức độ ngày càng nhiều và nguy hiểm, điểm nguy hiểm nhất thuộc tỉnh Cà Mau với tổng chiều dài 14km.
Từ xã Gành Hào (huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu), dải bờ biển dài 200km qua Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang cũng bị sạt lở nghiêm trọng.
Theo ghi nhận của tỉnh Kiên Giang, từ năm 2009 đến nay, bãi bồi ven biển không ổn định và thay đổi theo từng năm hiện tượng bồi, lở bờ biển theo mùa, theo điều kiện thời tiết cũng như dòng chảy các kênh thoát lũ ra biển. Dù có những đoạn được bồi đắp nhưng vẫn không đáng kể, tình hình xói lở vẫn nhiều hơn là bồi tụ. Bờ biển bị sạt lở nghiêm trọng đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của khoảng 250 hộ dân. Diện tích bãi bồi bị sạt lở trong 10 năm qua khoảng 500ha, chiều rộng bị sạt lở, mất đi đai rừng ven biển từ 60-300m.
Ghi nhận thực tế tại khu vực bờ biển Tiểu Dừa giáp tỉnh Cà Mau thuộc ấp Cây Gõ, xã Vân Khánh Tây, huyện An Minh (Kiên Giang) cho thấy rừng phòng hộ ven biển gần như bị xóa sổ do sạt lở, sóng biển đánh trực tiếp vào tận chân đê quốc phòng, uy hiếp nhà ở của dân.
Đoạn sạt lở có chiều dài gần 30m, ăn sâu vào đất liền hơn 3,5m thuộc ấp Thới Mỹ 2, xã Vĩnh Thới, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Ảnh: Chương Đài/TTXVN)
Bà Trần Thị Lắm, một người sinh sống tại đây cho biết: “Hàng chục công đất rừng của tôi bây giờ không còn, sóng biển cuốn trôi hết. Ngôi nhà tôi đang ở có thể bị đổ sập bất cứ lúc nào khi xuất hiện sóng to, gió lớn.” Nhiều hộ dân khác ở đây cũng lâm vào tình cảnh tương tự như bà Lắm.
Tại xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang có đoạn bờ biển hơn 8km, trong đó nhiều điểm bị sạt lở, xói lở nghiêm trọng, đặc biệt nguy hiểm với chiều dài khoảng 4km. Những nơi sạt lở, xói lở nghiêm trọng gần như không còn rừng phòng hộ chắn sóng, bảo vệ.
Ông Đặng Thanh Hải, ấp Bình Hòa, xã Bình Giang, huyện Hòn Đất cho biết khoảng 4-5 năm trở lại đây xói lở nghiêm trọng, biển ăn sâu vào bờ, mất rừng, mất đất sản xuất nhưng không có cách gì khắc phục, ngăn chặn xói lở. Không những mất đất sản xuất, người dân sinh sống ven biển gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản bấp bênh, kém hiệu quả, mất mùa.
Ông Mai Anh Nhịn – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang, cho biết do ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng, sự xâm thực của biển trong thời gian gần đây nên xói lở ngày càng tăng mạnh hơn, diễn biến phức tạp, khó lường, mức độ rất nguy hiểm. Nếu không có các giải pháp kịp thời và tích cực để phòng, chống xói lở bờ biển thì các tác động xấu sẽ ngày càng ảnh hưởng trực tiếp, nguy hiểm đến đời sống người dân và các công trình trong khu vực, đặc biệt là đe dọa đến an toàn đê biển trên địa bàn huyện An Minh, An Biên, Hòn Đất và Kiên Lương.
Đầu tháng 8/2019, hơn 1/2 mặt đường nhựa Quốc lộ 91 với chiều dài 85m bị sụp hoàn toàn xuống sông Hậu
Sạt lở bờ sông, xói mòn bờ biển đã gây thiệt hại, uy hiếp trực tiếp đến nhiều công trình, hạ tầng giao thông trong khu vực. Đầu tháng 8/2019, tuyến Quốc lộ 91 đoạn qua ấp Bình Tân, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang bị sạt lở nghiêm trọng, hơn 1/2 mặt đường nhựa Quốc lộ 91 với chiều dài 85m bị sụp hoàn toàn xuống sông Hậu; sạt lở tiếp tục đe dọa đến 26 hộ dân, trong đó 15 hộ dân phải di dời khẩn cấp. Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang phải ban bố tình huống khẩn cấp nguy cơ sạt lở nghiêm trọng Quốc lộ 91 đoạn xã xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú.
Theo nhận định của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, trên đoạn cửa biển Vàm Xoáy tình hình sạt lở diễn biến phức tạp, đai rừng phòng hộ trung bình mỗi năm mất từ 80-100m, một số vị trí sạt lở đã khoét sâu vào bờ.
Theo thống kê, trong 10 năm qua, diện tích rừng của khu vực này đã mất khoảng 300ha. Hiện nay tình trạng sạt lở tại khu vực trên diễn biến đặc biệt nguy hiểm, nhất là vào cao điểm của mùa mưa bão, gây nguy hiểm trực tiếp đến khu dân cư tập trung tại khu vực xã Đất Mũi, trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Đất Mũi, Đồn Biên phòng Đất Mũi; có nguy cơ ảnh hưởng đến hệ thống điện cao và trung thế, trạm y tế, trường học trong khu vực…
Ghi nhận tại các địa phương bị ảnh hưởng của sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển, cho thấy khoảng 3 năm trở lại đây, tình trạng xói lở bờ biển có nhiều đoạn càng đi sâu vào đất liền, sóng biển đã cuốn đi nhiều dãy rừng ngập mặn đang xanh tốt. Song song với đó, hệ quả của hiện tượng này đã làm ảnh hưởng rất lớn cuộc sống của hàng chục nghìn hộ dân trong khu vực cũng như tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của nhân dân. Đáng chú ý, hiện tượng này chưa có dấu hiệu dừng lại và đang lan rộng ra với quy mô ngày càng lớn./.
Tình trạng sạt lở bờ sông ven thị trấn Năm Căn đang trong tình trạng đặc biệt nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến đời sống của người dân trong khu vực. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
Vì đâu đất cứ ‘trôi sông, đổ biển?’
Kết quả khảo sát của các cơ quan chuyên môn và một số nghiên cứu khác đã sơ bộ nhận định nguyên nhân gây ra sạt lở bờ sông, bờ biển ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó đáng chú ý, ngoài các yếu tố tự nhiên, các nguyên nhân xuất phát từ yếu tố chủ quan, sự tác động của con người cũng góp phần thúc đẩy quá trình sạt lở đất diễn ra nhanh và nghiêm trọng hơn.
“Nước đói” cát và phù sa
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, tình trạng khai thác cát vượt quá khối lượng cho phép, khai thác không theo đúng quy hoạch đang diễn ra phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân nhiều xã ven sông. Lượng cát khai thác vượt quá lượng cát từ thượng nguồn chuyển về sẽ gây ra hiện tượng xói lòng sông hoặc lở bờ, hay cả hai hiện tượng xảy ra cùng lúc.
Hoạt động khai thác cát, kể cả được cấp phép và khai thác trái phép trên tuyến sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên… đã bào mòn lòng sông. Đi qua nhiều con sông lớn trong khu vực, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng chục, thậm chí hàng trăm máy hút cát với công suất lớn hoạt động ngày đêm.
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng 40 vị trí khai thác cát trong vùng, trong đó gồm 12 vị trí dọc sông Mekong, với tổng lượng khai thác khoảng 10 triệu tấn.
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long, cho biết Đồng bằng sông Cửu Long là do phù sa, cát sông Mekong miệt mài bồi đắp. Quá trình bồi đắp đó có lở có bồi nhưng bồi luôn nhiều hơn lở. Tuy nhiên, từ năm 1992 trở lại đây, sạt lở ngày càng gia tăng, bồi đắp ngày càng giảm. Nguyên nhân chính của việc sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long là sự mất cân bằng trên toàn hệ thống sông Mekong, tức là sự thiếu cát và phù sa.
Phân tích cụ thể hơn về thực trạng này, thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện cho biết điều này là do các đập thủy điện chặn cát và việc khai thác cát trên sông Mekong ở tất cả các quốc gia từ Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Sạt lở đe dọa đến nhiều công trình ven cửa biển Vàm Xoáy, xã Đất Mũi (Ngọc Hiển, Cà Mau). (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
Theo số liệu của Ủy hội Mekong quốc tế, so sánh giữa năm 1992 và 2014, tải lượng phù sa mịn của sông Mekong đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm xuống còn 85 triệu tấn/năm. Sau này, nếu có thêm 11 đập dòng chính ở Lào và Campuchia thì tải lượng phù sa mịn sẽ giảm còn 42 triệu tấn/năm. Về cát, sau này nếu có thêm 11 đập dòng chính ở Lào và Campuchia thì 100% cát sẽ bị chặn lại, tức là sẽ không còn một hạt cát, viên sỏi nào về Đồng bằng sông Cửu Long nữa.
Một nguyên nhân khác cũng được nhắc đến trong thời gian qua là việc phát triển các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong tác động đến môi trường tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long, hệ quả tác động diễn ra nhanh chóng và phức tạp. Các đập thượng nguồn giữ lại bùn cát nên dòng chảy hạ lưu “bị đói” bùn cát, để cân bằng năng lượng dư thừa, dòng nước buộc phải bào xói bờ.
Thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết theo “Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong,” do tác động của các công trình thủy điện của Trung Quốc, tổng lượng phù sa bùn cát hàng năm từ Trung Quốc về tới Tân Châu, Châu Đốc (vị trí sông Mekong chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long) giảm từ 73 triệu tấn xuống còn 42 triệu tấn, trong đó lượng phù sa lơ lửng chỉ còn khoảng 30 triệu tấn/năm (giảm 35%), lượng bùn cát đáy chỉ còn khoảng 12 triệu tấn/năm (giảm 54%).
Khi dòng nước bị thiếu phù sa sẽ nhẹ hơn, chảy mạnh hơn, khoa học gọi là ‘nước đói,’ có khuynh hướng ăn vào bờ và đáy sông để tự bù đắp, tự cân bằng động lực
Nếu tính thêm tác động của bậc thang 11 công trình thủy điện dòng chính ở hạ lưu sông Mekong và của các công trình thủy điện dòng nhánh sông Mekong hiện có thì tổng lượng phù sa bùn cát hàng năm tại Tân Châu và Châu Đốc giảm còn khoảng 15 triệu tấn (giảm 80%).
“Khi dòng nước bị thiếu phù sa sẽ nhẹ hơn, chảy mạnh hơn, khoa học gọi là ‘nước đói,’ có khuynh hướng ăn vào bờ và đáy sông để tự bù đắp, tự cân bằng động lực. Khi khai thác cát làm cho đáy sông sâu hơn thì bờ sông sẽ sụp đổ. Nếu chúng ta quan sát các vụ sạt lở bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thấy các vụ sạt lở có một đặc điểm chung. Đó là trước khi sạt lở khoảng 1-2 ngày, thường có một vết nứt cách bờ sông khoảng 5m, chạy dài 80-100m. Sau đó, toàn bộ đoạn bờ sông bị nứt bị trượt đổ ụp xuống sông. Điều này chứng tỏ sạt lở là do đất bị mất chân bên dưới, phần đất ở trên trượt cả khối xuống,” chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện phân tích.
Trong bối cảnh thiếu hụt cát và phù sa thì tại mỗi điểm sạt lở lại có thêm đặc điểm dễ bị tổn thương riêng.
Theo thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện, tại điểm sạt lở ở Quốc lộ 91 vừa qua, đoạn sông có chiều ngang hẹp hơn đoạn phía trên, do đó để cân bằng năng lượng, dòng chảy buộc phải chảy nhanh hơn, đào sâu đáy sông hoặc ăn vào bờ. Tại đoạn sông cong, dòng chảy từ trên xuống có quán tính đi thẳng nhưng buộc phải đổi hướng nên lực ly tâm làm đường tim sông (đường sâu nhất) không đi giữa sông mà dịch vào gần bờ bên lõm.
‘Dấu ấn’ của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cùng với việc tăng tần suất và cường độ của bão và áp thấp nhiệt đới về phía Nam dẫn đến tăng năng lượng sóng, tác động đến bờ và gây ra xói lở, nước dâng trong bão cũng làm xói lở bờ trở nên nghiêm trọng hơn.
Ông Lê Văn Sử – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, cho biết tỉnh Cà Mau chịu ảnh hưởng nặng nề từ tác động cực đoan của biến đổi khí hậu, diễn biến phức tạp của bão, áp thấp nhiệt đới, lốc xoáy, nước biển dâng, hạn hán…, từ đó gây ra tình trạng sạt lở ven sông, xói lở ven biển, xâm nhập mặn sâu vào nội địa… ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của nhân dân.
Hiện trường vụ sạt lở đất làm hư hỏng nhà trên tuyến sông Cà Mau-Bạc Liêu. (Ảnh: Huỳnh Sử/TTXVN)
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các nguyên nhân dẫn đến sạt lở đất xảy ra thường xuyên ảnh hưởng của lũ lớn, hạn hán làm gia tăng sạt lở. Lũ cao, nước chảy xiết gây sạt lở lấn vào đất liền gia tăng. Sự chênh lệch mực nước lớn hơn trước đây giữa mùa lũ và mùa kiệt cũng là tác nhân làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông.
Phân tích cụ thể hơn, thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện cho rằng sạt lở bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long thường xảy ra vào đầu mùa lũ vì dòng chảy bắt đầu mạnh ăn đứt chân bên dưới và mực nước còn thấp không đỡ được trọng lực khối bờ sông bên trên. Sạt lở theo quy luật thường xảy ra ở các đoạn sông cong, cửa phân lưu, nhập lưu, các cửa sông phân lạch – nơi dòng chảy không ổn định, vận tốc dòng chảy lớn hơn sức chịu của bùn cát lòng sông.
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng phù sa non trẻ, có kết cấu địa tầng yếu, nhất là kết cấu địa chất khối mặt nền. Tầng đất mặt là đất sét xám pha nhiều chất mùn hữu cơ nên có độ kết dính thấp, dễ bị xâm thực và bào mòn nhanh, kết hợp với tác động do sóng nước, dòng chảy, biên độ chênh lệch của đỉnh triều.
Việc gia tăng sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long là tất yếu nếu con người cứ tiếp tục khai thác cát tràn lan, không có giải pháp phù hợp
Thêm vào đó, đặc điểm địa hình trũng thấp với độ cao trung bình từ 1-1,2m nên khu vực này dễ bị xâm thực, nhất là khi triều cường, mưa lớn và dao động mực nước trong sông, do đó dễ gây ra tình trạng sạt lở.
Theo các chuyên gia địa chất, khi nền đất bị sụt lún, lớp đất mặt vốn có độ cố kết thấp sẽ bị ép xuống, tiếp xúc với dòng chảy sông ngòi và dòng biển. Kết quả là quá trình xói lở, trượt đất trở nên dễ dàng hơn và có xu hướng xảy ra theo hiệu ứng “domino,” một khu vực bị sạt lở, nước sẽ mau chóng tràn ngấm vào vùng lân cận và tiếp tục tạo ra các hố sạt lở tiếp theo.
Trong bối cảnh thiếu cát và phù sa cùng với sự tác động nhanh, mạnh hơn của biến đổi khí hậu, việc gia tăng sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long là tất yếu nếu con người cứ tiếp tục khai thác cát tràn lan, không có giải pháp phù hợp. Bài toán hiện nay là so sánh và đánh đổi: đánh đổi giữa lợi nhuận khai thác cát và tổn thất do sạt lở cùng với chi phí ứng phó; đánh đổi giữa bờ này và bờ kia, bên nào cần bảo vệ hơn; so sánh chi phí giữa phương án bảo vệ và phương án rút lui, tái định cư, làm đường tránh./.
Sạt lở nghiêm trọng trên tuyến đường Quốc lộ 91 đoạn đi qua xã Bình Mỹ, An Giang. (Ảnh: TTXVN)
Khi các địa phương chưa ‘bắt đúng bệnh,’ ‘bốc đúng thuốc’
Sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra trên diện rộng và ngày càng nghiêm trọng. Nhằm hạn chế và khắc phục sự cố, Chính phủ, các bộ ngành liên quan đã quan tâm, triển khai nhiều giải pháp, công trình phòng chống; các địa phương thường xuyên quan trắc để cảnh báo, di dời dân, tài sản… Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng một số địa phương chưa “bắt đúng bệnh” và “bốc đúng thuốc,” dẫn đến công tác khắc phục chưa mang lại hiệu quả, gây lãng phí.
Thừa “chống,” thiếu “phòng”
Trước tình trạng sạt lở ven biển, ven sông ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, khó lường, các địa phương trong khu vực cũng đã chủ động triển khai các hoạt động nhằm ứng phó, trong đó, đã tập trung nguồn lực triển khai các dự án cấp bách ứng phó với sạt lở bờ sông, bờ biển như xây kè chống sạt lở kiên cố ở các điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm; kè phá sóng và trồng rừng phòng hộ chắn sóng để phòng chống sạt lở; di dời, ổn định sinh kế người dân vùng bị sạt lở, sụt lún.
Tỉnh Cà Mau đã áp dụng cả giải pháp công trình và phi công trình, qua đó đã xử lý khắc phục sạt lở nhiều vị trí xung yếu với chiều dài gần 29km; các đoạn kè gây bồi tạo bãi đã tạo được bãi bồi ven biển phía bên trong kè, khôi phục hàng trăm ha rừng phòng hộ ven biển. Tuy nhiên, việc xác định nguyên nhân, cơ chế gây ra sạt lở để có biện pháp xử lý phù hợp, hiệu quả chưa được làm rõ. Một số giải pháp công trình gây bồi tạo bãi có hiệu quả nhưng suất đầu tư còn rất cao, bình quân 20 tỷ đồng/km, vượt quá khả năng cân đối ngân sách của tỉnh.
Để ngăn ngừa sạt lở, các địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đầu tư xây dựng, gia cố các vị trí sạt lở bằng các giải pháp dân gian, truyền thống như cừ dừa, cừ bạch đàn, cừ tràm kết hợp rọ đá… tại các khu vực nông thôn, khu vực không tập trung đông dân cư. Đồng thời, các địa phương tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cộng đồng trong phòng chống sạt lở bờ sông, không xây cất nhà cửa lấn chiếm lòng sông, không khai thác đất, cát ven sông.
Tỉnh Cà Mau đã áp dụng cả giải pháp công trình và phi công trình, qua đó đã xử lý khắc phục sạt lở nhiều vị trí xung yếu với chiều dài gần 29km
Năm 2017, trước tình trạng sạt lở vàm Kim Quy, huyện An Minh, Kiên Giang đã gia cố bằng cừ tràm, cừ dừa và đắp đất để hạn chế, ngăn sạt lở. Tuy nhiên, giải pháp tạm thời này không mang lại hiệu quả trước sự tác động của sóng biển và tiếp tục sạt lở nghiêm trọng như hiện nay.
Ông Nguyễn Huỳnh Trung, Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Thủy lợi Kiên Giang cho biết trên đoạn đê biển Kim Quy-Tiểu Dừa, các cơ quan chức năng đã tiến hành cắm 20 biển báo tại các điểm sạt lở nguy hiểm và có nhiều người dân thường xuyên hoạt động; tiến hành hộ đê khẩn cấp các điểm sạt lở nghiêm trọng, nguy hiểm.
Nhằm ứng phó với tình trạng sạt lở đất trên địa bàn, theo ông Mai Anh Nhịn, tỉnh tiếp tục nâng cao công tác cảnh báo, dự báo sạt lở vùng nguy hiểm để chủ động ứng phó hạn chế thấp nhất thiệt hại người và tài sản của nhân dân. Tỉnh đã hoàn thành tuyến đê biển với 30/51 cống; trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển từ Bình Sơn đến Bình Giang (Hòn Đất) và xã Nam Thái (An Biên); khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống xói lở bờ biển và hỗ trợ nuôi trồng thủy sản ở huyện An Minh, An Biên…
Để giải quyết vấn đề này, thành phố Cần Thơ đã triển khai nhiều dự án có quy mô từ nhỏ đến lớn, từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Điển hình là các công trình kè sông Cần Thơ, kè chống sạt lở sông Ô Môn, bờ kè Xóm Chài, phường Hưng Phú.
Công trình chống sạt lở cho khu vực chợ Đất Mũi đã bị sạt lở. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
Cùng lúc đó, tại các địa phương cũng triển khai các dự án kè bờ sông khác như Kè chống sạt lở chợ Rạch Cam (quận Bình Thủy); kè chống sạt lở, chống xâm nhập mặn, ứng phó biến đổi khí hậu khu vực rạch Cái Sơn (quận Bình Thủy, Ninh Kiều); kè sông Bò Ót (quận Thốt Nốt); kè chống sạt lở bờ sông kênh Thốt Nốt (quận Thốt Nốt)…
Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các địa phương triển khai một số hoạt động nhằm xử lý sạt lở cấp bách bờ sông, bờ biển như điều tra, đánh giá, đề xuất giải pháp bảo vệ, củng cố, nâng cấp đê biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đẩy mạnh trồng rừng ngập mặn, ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về phòng chống xói lở bờ biển; hướng dẫn về giải pháp kỹ thuật phòng chống sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng thời, Bộ hướng dẫn, đôn đốc các tỉnh cắm 357 biển cảnh báo những khu vực sạt lở bờ sông, bờ biển; nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới để giảm sóng, gây bồi trong xử lý xói lở bờ biển như áp dụng cấu kiện bê tông cốt phi kim, khối bêtông trụ rỗng…
Ghi nhận tại các địa phương các giải pháp công trình và phi công trình hiện nay chưa đạt hiệu quả, một phần là do hoạt động khai thác cát dọc các sông chính diễn ra phức tạp, khó kiểm soát, các chế tài đối với các hoạt động khai thác cát trái phép còn có kẽ hở, chưa đủ răn đe. Cùng với đó, hệ thống đê biển và hệ thống giao thông bộ, giao thông thủy thiếu đồng bộ, tính kết nối thấp. Triều cường, thiên tai đã làm ngập, sụt lún nhiều tuyến đường giao thông, nhất là các huyện ven biển, làm phát sinh nhu cầu vốn sửa chữa, nâng cấp rất lớn.
Nan giải bài toán “vốn”
Công tác phòng chống sạt lở bờ sông, xói mòn bờ biển thời gian qua đã được Chính phủ, các bộ ngành và địa phương quan tâm, ban hành nhiều chính sách cũng như đầu tư các dự án, công trình phòng chống sạt lở đất, nhất là Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017. Tuy nhiên, việc xử lý các điểm sạt lở cấp bách chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước, chưa có cơ chế hiệu quả huy động được nguồn vốn tư nhân, xã hội hóa dẫn đến nhiều khu vực sạt lở chưa được đầu tư xử lý triệt để hoặc chưa được đầu tư.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 2010 đến 2020, Bộ đã bố trí và có kế hoạch bố trí từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 là 8.707 tỷ đồng cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long xử lý sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển với 169 công trình. Vốn ngân sách Trung ương là 7.928 tỷ đồng với 155 công trình; vốn ODA, Chương trình SP-RCC là 779 tỷ đồng với 14 công trình.
hà của người dân ven cửa biển Vàm Xoáy đang trong tình trạng bị đe dọa nghiêm trọng vì sạt lở. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã hỗ trợ 1.500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2018 cho 29 dự án xử lý cấp bách sạt lở bờ sông, bờ biển thuộc 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai các hoạt động xử lý sạt lở cấp bách bờ sông, bờ biển, hướng dẫn thực hiện các giải pháp kỹ thuật, xử lý khẩn cấp những đoạn sụt lún, sạt lở trọng điểm; chỉ đạo cắm biển cảnh báo, xây dựng bản đồ sạt lở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bố trí ngân sách xây dựng công trình phòng chống sạt lở, ưu tiên 36 dự án xử lý cấp bách với tổng kinh phí là 2.500 tỷ đồng.
Theo ông Mai Anh Nhịn – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang, thời gian qua, dù được Trung ương hỗ trợ, nỗ lực của địa phương trong việc phòng chống, ngăn chặn sạt lở, nhiều dự án, công trình được triển khai thực hiện, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng các công trình phòng chống sạt lở bờ biển còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế cấp bách đã và đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, phức tạp.
“Việc đầu tư xây dựng các công trình ngăn chặn, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển, đê biển vượt khả năng của địa phương,” ông Mai Anh Nhịn cho biết.
Liên quan đến vấn đề vốn đầu tư, theo lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, hiện nhiều khu vực bờ sông, bờ biển bị sạt lở nghiêm trọng nhưng thiếu vốn đầu tư khắc phục, di dời dân. Một số cơ chế, chính sách không còn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, chậm được tháo gỡ.
Tương tự, thành phố Cần Thơ kiến nghị Trung ương hỗ trợ kinh phí đầu tư một số công trình thủy lợi, kè chống sạt lở bờ sông và các dự án trọng điểm của thành phố. Cụ thể, Dự án kè chống sạt lở sông Ô Môn-khu vực Thới Lợi, phường Thới An, Quận Ô Môn (phía bờ phải); Dự án kè chống sạt lở sông Ô Môn (đoạn từ cầu Ô Môn đến vàm Ba Rích); Dự án Cụm dân cư tập trung Phước Thới nhằm bố trí di dời ổn định các hộ dân trong vùng thiên tai. Tổng kinh phí các dự án này gần 500 tỷ đồng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết sẽ nghiên cứu hỗ trợ 7.078 tỷ đồng để tiếp tục xử lý 46 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm
Để bảo vệ bờ biển, củng cố hệ thống đê biển, phòng chống sói lở bờ biển; tập trung đầu tư xử lý ngay những đoạn xói lở, sạt lở bờ sông, bờ biển nghiêm trọng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết sẽ nghiên cứu hỗ trợ 7.078 tỷ đồng để tiếp tục xử lý 46 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm.
Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư các dự án nhiều, số vốn đầu tư rất lớn, vẫn còn nhiều công trình đã triển khai, đã bố trí vốn lại thực hiện rất chậm. Ví dụ như dự án đầu tư nâng cấp đê biển từ Mũi Nai (Kiên Giang) có tổng vốn 2.083 tỷ đồng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gần như còn ở điểm xuất phát. Trong khi đó, tình trạng sạt lở tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp, nạn sạt lở có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Rừng phòng hộ ven biển ngày càng mất đi chức năng phòng hộ, bảo vệ bờ biển trước diễn biến ngày càng khó lường của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Đề cập đến việc triển khai các công trình, dự án phòng chống sạt lở trong khu vực tại hội nghị Phòng chống thiên tai khu vực miền Nam năm 2019 tổ chức ở Cà Mau vừa qua, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý: “Các địa phương phải đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định bố trí vốn; củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, cầu, cống, đập ngăn mặn, đê bao chống ngập và kênh trục thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long, qua đó, xác định các trọng điểm để sẵn sàng ứng phó khi tình huống xảy ra”./.
Sạt lở nghiêm trọng tuyến đường trên Quốc lộ 91 đoạn đi qua xã Bình Mỹ, An Giang. (Ảnh: TTXVN)
Khắc chế và thích ứng
Diễn biến của tình trạng sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển tại các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có chiều hướng phức tạp, nghiêm trọng hơn. Để từng bước hạn chế tình trạng này, bên cạnh các giải pháp xử lý tình huống, cần phải có những giải pháp căn cơ, bài bản hơn, trong đó các địa phương cần chú trọng đến việc xử lý triệt để tình trạng khai thác cát trái phép, nâng cao hiệu quả các công trình, dự án đầu tư, trồng rừng cũng như nâng cao công tác dự báo, xây dựng quy hoạch, di dời dân cư ra khỏi khu vực nguy hiểm.
Bố trí lại dân cư
Cùng với đầu tư các giải pháp công trình nhằm ứng phó với các điểm sạt lở cấp bách và triển khai đồng thời biện pháp ứng phó bền vững, dài hạn, vấn đề di dân, tái định cư cho người dân khỏi các vùng sạt lở và có nguy cơ sạt lở là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Để chủ động ứng phó với sạt lở đất bờ sông, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Trần An Thư cho rằng người dân cần thay đổi tập quán sinh sống ven sông hoặc kênh rạch, để hạn chế tải trọng đường bờ, tránh nguy cơ sạt lở. Các địa phương cũng cần quy hoạch lại dân cư, sắp xếp di dời dân vùng cảnh báo sạt lở vào các khu dân cư mới ở những vị trí có nền đất ổn định để tránh sạt lở; quản lý chặt các hoạt động xây dựng của người dân sống ven sông, kênh rạch, các hoạt động giao thông thủy bộ…
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương cần chủ động di dân, sơ tán dân ra khỏi khu vực sạt lở thông qua các dự án thuộc Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ và Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di dân tự do, khu rừng đặc dụng; tuyên truyền pháp luật, ngăn chặn xây dựng nhà ở, công trình ở bờ sông, lòng sông, ven biển.
Một vụ sạt lở bờ sông Hậu. (Nguồn: TTXVN)
Các địa phương cũng cần quản lý chặt chẽ việc xây dựng nhà ở, công trình ven sông, kênh rạch theo đúng quy định về hành lang bảo vệ nguồn nước và phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi; tiếp tục bố trí, sắp xếp di dời dân ra khỏi hành lang và phạm vi bảo vệ bờ sông, kênh, rạch; ưu tiên những nơi có nguy cơ cao về sạt lở, quản lý tổng hợp vùng bờ theo hình thức xã hội hoá, gắn trách nhiệm trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ngập mặn.
Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, Chính phủ nên khởi động lại và đầu tư nhiều hơn cho Chương trình bố trí dân cư vùng thiên tai… theo Quyết định số 1776 của Thủ tướng Chính phủ; các dự án vay vốn ưu đãi ODA cần tập trung hỗ trợ nhiều hơn cho chuyển đổi, đảm bảo sinh kế người dân sau tái định cư.
Ông Ousamane Dione – Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đánh giá để sống chung tích cực với nước, cần phải giải quyết các vấn đề về lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn và xem xét lại các kế hoạch đê bao, kè và cống để tạo dòng chảy tự nhiên và chức năng của vùng lũ. Sống chung với nước cần có các giải pháp khác như sản xuất lúa gạo bền vững, chuyển đổi hệ thống sản xuất và quản lý hiệu quả rủi ro về lũ lụt, hạn hán, xói lở bờ sông và bờ biển, ô nhiễm nước và khai thác tài sản tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo các chuyên gia, vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long cần bố trí lại dân cư, chuyển từ bố trí dân cư theo tuyến kênh, rạch sang bố trí theo cụm, có tính đến việc dịch chuyển các cụm dân cư ven biển vào phía trong để phòng tránh thiên tai.
Nghiên cứu quy luật, tăng cường dự báo
Để có thể khắc chế hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển trước mắt cũng như lâu dài, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng cần nghiên cứu xác định quy luật biến đổi lòng sông và các quy luật tác động đến sự ổn định của lòng, bờ, bãi sông; quan trắc, giám sát diễn biến dòng chảy, bồi lắng, sạt, lở bờ sông, bờ biển; đồng thời khoanh định các khu vực cấm, tạm thời cấm khai thác cát, sỏi trên sông để phòng, chống sạt lở bờ sông.
Mặt khác, các cơ quan chức năng cần giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác cát, chỉ cấp phép khai thác cát với khối lượng hợp lý đảm bảo sự cân bằng tương đối trên cả tuyến sông; có chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hoạt động khai thác cát trái phép và làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành.
Từ thực tế tại địa phương, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang Trần An Thư cho biết Ủy ban Nhân dân tỉnh đã yêu cầu các cơ quan chức năng triển khai nhanh dự án nghiên cứu địa hình, thủy văn 3 sông chính trên địa bàn tỉnh là sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao, từ đó làm cơ sở đánh giá sạt lở và quy hoạch lại hoạt động khai thác cát sông; tăng cường giám sát, đánh giá tác động các dự án nạo vét thông luồng, điều chỉnh bố trí lại hoạt động khai thác cát khi có kết quả nghiên cứu dự án 3 sông chính.
Dưới góc độ quy hoạch, cần triển khai lập các quy hoạch phòng chống thiên tai, thủy lợi; quy hoạch tỉnh; các quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành liên quan, trong đó thể hiện đầy đủ nội dung (hợp phần) chỉnh trị sông làm cơ sở để xác định giải pháp tổng thể, bao gồm công trình và phi công trình đảm bảo ổn định biền vững trước mắt cũng như lâu dài.
Sạt lở tuyến đê từ Vàm Đá Bạc đến Vàm Kinh Mới, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. (Ảnh: TTXVN)
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra sạt lở nhiều nơi, chi phí khắc phục sạt lở, đặc biệt là sạt lở ven biển rất lớn. Vì vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu xác định chính xác nguyên nhân, cơ chế gây sạt lở… để từ đó xác định các giải pháp công trình, phi công trình cho phù hợp với nguồn lực đầu tư. Ngoài ra, cần có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư tham gia bảo vệ bờ biển thông qua việc đầu tư các dự án phát triển kinh tế-xã hội vùng bị sạt lở.
Chia sẻ tại Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng Sáu vừa qua, ông Ousamane Dione cho rằng cần có các biện pháp can thiệp có sự phối hợp để khôi phục trầm tích ở Đồng bằng sông Cửu Long và giảm tốc độ sụt lún đất đang diễn ra với tỷ lệ từ 2-5cm mỗi năm và giải quyết vấn đề xói lở bờ sông, bờ biển. Để làm được điều này, cần áp dụng những biện pháp và công nghệ sáng tạo để quản lý và giám sát tốt hơn hoạt động khai thác nước ngầm, bao gồm giá nước và ngăn chặn khai thác cát trái phép.
“Chính phủ Việt Nam cần tích cực tham gia vào các mối quan hệ ngoại giao xuyên biên giới về nước để giảm mất mát trầm tích và chất dinh dưỡng ở đồng bằng này. Các giải pháp và đầu tư sáng tạo có thể bao gồm từ việc tăng khả năng giữ nước đến sử dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên như bảo vệ và phục hồi các vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn,” ông Ousamane Dione khuyến nghị.
Các chuyên gia môi trường cho rằng cần triển khai điều tra, đánh giá địa động lực hiện đại để hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng ở Đồng bằng sông Cửu Long
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, các địa phương cần tập trung đầu tư và phát triển hạ tầng, bảo vệ bờ biển, củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, phòng chống xói lở bờ biển; tập trung đầu tư xử lý ngay những đoạn xói lở, sạt lở bờ sông, bờ biển nghiêm trọng.
Cụ thể, đầu tư, nâng cấp hệ thống đê biển kết hợp với xây dựng hệ thống cầu, cống, đập ngăn mặn, đê bao chống ngập và kênh trục thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng Đề án phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển; xây dựng thí điểm công trình thân thiện với môi trường, giá thành thấp, vật liệu địa phương để chống sạt lở bờ biển, phát triển vùng bãi kết hợp với bảo vệ môi trường một số khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Đối với giải pháp kỹ thuật, các chuyên gia môi trường cho rằng cần triển khai điều tra, đánh giá địa động lực hiện đại để hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng ở Đồng bằng sông Cửu Long; khảo sát, đánh giá về sụt lún đất ở Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu sụt lún đất ở bán đảo Cà Mau; nghiên cứu khảo sát, đánh giá một số nguyên nhân sạt lở bờ sông, bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất các giải pháp phòng chống sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt đối với các điểm sạt lở cấp bách, nguy hiểm.
Trong bối cảnh của hiện trạng sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, phương hướng ứng phó cần thiết là phải đánh giá đồng bộ các nguyên nhân, đồng thời có các cơ chế huy động nguồn lực xã hội để ứng phó hiệu quả. Việc đầu tư xây dựng, duy tu, bảo vệ vùng ven sông, ven biển cần gắn kết với phát triển sinh kế cho cộng đồng.
Mặt khác, các địa phương phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ cũng như mở rộng hợp tác quốc tế để ứng phó, nghiên cứu ứng dụng các giải pháp chỉnh trị sông và tái tạo bờ biển một cách phù hợp ở Đồng bằng sông Cửu Long./.
Điểm sạt lở trên kênh 28 thuộc xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, Tiền Giang. (Ảnh: Minh Trí/TTXVN)
Sau thời gian dài chờ đợi, nước lũ đã về, tràn vào các cánh đồng ở nhiều địa phương miền Tây Nam Bộ. Hàng nghìn người dân vùng lũ lại được tất bật mưu sinh cùng con nước.
Thế nhưng, hiện tại thì mực nước lũ về rất nhỏ, kéo theo đó là các sản vật mùa lũ như tôm, cá, hẹ nước, bông điên điển… cũng ít đi khiến việc khai thác của người dân không được thuận lợi.
Bên cạnh đó, dự báo nước lũ về nhỏ, lượng nước ít dẫn đến nguy cơ xâm nhập mặn sớm ở nhiều địa phương cùng những diễn biến bất thường của thời tiết sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân ở vùng sông nước này.
Để góp một cái nhìn toàn cảnh về mùa lũ năm 2019 ở Đồng bằng sông Cửu Long, Báo Điện tử VietnamPlus xin mời quý độc giả xem loạt bài viết của các phóng viên cơ quan thường trú TTXVN tại khu vực này./.
Khó khăn khi con nước về ít
Từ đầu tháng 9, nước từ thượng nguồn sông Cửu Long đổ về chảy vào các kênh rạch, tràn vào những cánh đồng. Mặc dù vẫn còn ở mức thấp so với nhiều năm trước, những khi con nước tràn về mang theo phù sa và tôm cá cùng các loài sản vật thiên nhiên cũng là lúc người dân tất bật mưu sinh với hy vọng có thêm nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống.
Tất bật mưu sinh
Sau thời gian dài chờ đợi, con nước đỏ màu phù sa đã chạy vào các dòng kênh, tràn vào các cánh đồng. Đến các xã vùng thượng nguồn sông Cửu Long ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, dễ dàng nhìn thấy hình ảnh con nước nhảy bờ tràn vào các cánh đồng đã thu hoạch. Cùng với đó là cảnh người dân tất bật mưu sinh, khai thác các nguồn lợi thiên nhiên trong mùa lũ.
“Cứ nghĩ năm nay lũ không về, người dân sống bằng nghề giăng lưới, thả câu mất kế sinh nhai. Nhưng may thay, lũ cũng về, dù tôm cá thu hoạch chẳng được bao nhiêu.”
Mới hơn 4 giờ sáng, trong cái lạnh hanh hao của buổi sớm mai nơi đầu nguồn biên giới, vợ chồng anh Nguyễn Văn Vĩnh, ở xã Phú Hữu (An Phú, An Giang) đã giong thuyền ra cánh đồng trước nhà thả câu, giăng lưới. Với hơn 900m lưới, mỗi ngày cũng giúp gia đình anh Vĩnh kiếm thêm thu nhập từ 200.000đ-300.000đ/ngày.
“Cứ nghĩ năm nay lũ không về, người dân sống bằng nghề giăng lưới, thả câu mất kế sinh nhai. Nhưng may thay, lũ cũng về, dù tôm cá thu hoạch chẳng được bao nhiêu nhưng cũng đỡ hơn là không có việc làm. Hy vọng một vài ngày nữa nước sẽ lớn hơn, cá tôm sẽ về nhiều hơn.” – anh Vĩnh chia sẻ.
Còn đối với vợ chồng anh Đặng Văn Đức, xã Thường Thới Hậu A (Hồng Ngự, Đồng Tháp), nghề đặt dớn bắt cá mang lại cho họ nguồn thu nhập kha khá trong mùa nước nổi. Vui mừng đón những mẻ cá đầu tiên, anh Đức cho biết sống trong vùng rốn lũ, mỗi năm khi con nước về, người dân ở đây tận dùng các ngư cụ như lưới, dớn, lợp, lờ, .. khai thác sản vật từ lũ.
Người dân xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Hưng, Long An thu hoạch cá trên sông. (Ảnh: Bùi Giang/TTXVN)
Công việc tuy vất vả, thường bắt đầu từ đêm khuya cho đến rạng sáng nhưng đổi lại có thêm ít thu nhập giữa những tháng nông nhàn. Mỗi đêm đánh cá, người dân có thể kiếm khoảng chục kg cá đặc sản như cá linh, cá heo hay vài chục ký cá mồi (loài cá tạp dùng làm thức ăn chăn nuôi), bán ra cũng được vài trăm ngàn.
“Dù nước nhỏ hơn những năm trước, cá cũng ít đi nhưng có còn hơn không. Đặt lợp mỗi đêm cũng kiếm thêm ít thu nhập trang trải cuộc sống.”
Dạt qua các cánh đồng rộng lớn ở vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An, không khí mưu sinh cùng con nước diễn ra khá rộn rã. Người đặt dớn, đặt lợp, người giăng lưới thả câu, ai ai cũng tranh thủ con nước để kiếm thêm thu nhập nhằm cải thiện cuộc sống. Cảm tưởng như họ đang khá vội vã trong nỗi lo con nước về nhỏ, sẽ nhanh rút đi và nguồn lợi thủy sản cũng rút theo.
Anh Lâm Văn Đẳng (ngụ xã Vĩnh Đại, Tân Hưng, Long An), cho biết: “Đợi mãi thì nước cũng về, mấy trăm chiếc lợp xếp đống ở góc nhà nay cũng có chỗ đặt. Dù nước nhỏ hơn những năm trước, cá cũng ít đi nhưng có còn hơn không. Đặt lợp mỗi đêm cũng kiếm thêm ít thu nhập trang trải cuộc sống.”
Cá tôm ít dần
Dù con nước về đã phần nào đáp ứng sự mong đợi của hàng ngàn người dân bao năm mưu sinh trong mùa lũ, nhưng nước về nhỏ, tài nguyên theo đó cũng ít dần đã làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của họ.
Theo kinh nghiệm của người dân vùng lũ, cứ vào độ tháng 4 (âm lịch) là bà con đã lo chuẩn bị ngư cụ, phương tiện khai thác thủy sản để chờ nước lũ về. Nhưng năm nay lũ về muộn, những ngư cụ như lợp, dớn, lưới… chuẩn bị xong lại được đem xếp vào góc nhà chờ đợi con nước. Mãi đến đầu tháng 8, nước lũ mới đổ về, các loại ngư cụ được ra “nằm đồng” những cá tôm thu về chẳng được bao nhiêu do lũ nhỏ.
Cá linh noi – đặc sản mùa nước nổi. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN)
Anh Nguyễn Văn Vĩnh (An Phú, An Giang) cho biết, với tình hình nước về muộn và thấp như hiện nay thì lượng cá tôm sẽ ít hơn so với các năm trước, nhất là cá linh một sản phẩm đặc trưng của mùa nước nổi. “Năm vừa rồi, vào tháng này nước sâu ngập đầu người luôn, tôm, cá rất nhiều; năm nay nước ít, sâu nhất chừng 7-8 tấc nước (70-80cm), nên tôm, cá cũng ít theo” – anh Vĩnh nói.
Gắn bó với nghề đặt lợp cua đồng hơn chục năm nay, chưa bao giờ anh giờ anh Lê Văn Lành, ở xã Vĩnh Hội Đông (huyện An Phú, tỉnh An Giang) thấy một mùa lũ “dị thường” như hiện nay.
“Chờ nước lũ về từ mấy tháng nhưng nay lũ về muộn hơn mọi năm và hiện nước đang thấp nên đặt cua cũng không được bao nhiêu; tôm, cua càng ngày càng ít, chắc phải chuyển đổi nghề khác mới sống nổi” – anh Lành than thở.
Người đánh bắt thất thu kéo théo người làm nghề sản xuất như cụ cũng bị ảnh hưởng. Tại xóm chuyên sản xuất lợp cá linh ở Cồn Cóc (xã Phước Hưng, An Phú, An Giang) không khí khá đìu hiu. Những năm trước đây, cứ mùa lũ về là cả Cồn Cóc nhộn nhịp hẳn lên, nhà nhà làm lợp, người người làm lợp. Cái nghề này đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi ở địa phương, giúp họ có thêm thu nhập. Năm nay, lũ về muộn, người đặt mua lợp không nhiều nên cả Cồn Cóc chỉ còn lại vài nhà làm.
“Chờ nước lũ về từ mấy tháng nhưng nay lũ về muộn hơn mọi năm và hiện nước đang thấp nên đặt cua cũng không được bao nhiêu; tôm, cua càng ngày càng ít, chắc phải chuyển đổi nghề khác mới sống nổi”
Ông Nguyễn Minh Hương, một hộ làm lợp cá linh lâu năm ở Cồn Cóc cho biết, khoảng chục năm trước thấy mà ham, mỗi năm làm mấy chục ngàn cái lợp, giao khắp các tỉnh, thành phố, có lúc bán sang tận Campuchia, lúc đó, cả xóm làm nhộn nhịp ngày đêm mới kịp giao hàng. Mấy năm nay lũ nhỏ và cá cũng ít dần nên người ta cũng bỏ nghề đặt lợp cá linh, ít người đặ mua lợp nên trong xóm chỉ còn vài nhà duy trì nghề.
Cũng như An Giang, nhiều người dân vốn quen nghề mưu sinh mùa lũ ở Long An cũng phải chịu cảnh khó khăn khi con nước ngày về càng ít, nguồn lợi thủy sản cũng vơi dần. Nhiều người phải bỏ xứ đi nơi khác làm ăn để kiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống vốn đã khá eo hẹp. Người ở lại vẫn bám lấy con nước nhưng thu nhập ngày càng thấp dần do tài nguyên đang ít đi.
Anh Trần Văn Nghĩa (xã Vĩnh Đại, Tân Hưng, Long An) cho biết: “Những năm lũ về lớn, ba cha con tui đặt cả ngàn cái lợp thì mỗi ngày thu về cả triệu đồng. Mỗi mùa nước kiếm thêm vài chục triệu, cuộc sống cải thiện được phần nào. Nhưng năm nay lũ về muộn, đợi mãi không được nên hai thằng con trai phải đi nơi khác kiếm việc làm.”
Không dữ dội như ở miền Trung, miền Bắc, lũ ở miền Tây hiền hòa mang theo phù sa bồi tụ cho ruộng đồng và tôm cá cho người dân. Khi lũ về lớn, con nước dâng cao thì cá tôm, sản vật cũng nhiều. Trái lại, khi lũ nhỏ, nguồn lợi thủy sản vơi dần ảnh hưởng đến sinh kế của hàng nghìn người dân vùng sông nước. Năm nay, dự báo lũ sẽ về rất nhỏ, cùng với đó là nỗi lo âu của những người bao năm sống chung với lũ.
Sau một buổi băng đồng, vợ chồng anh Nguyễn Minh Ngà (Cồn Cóc, xã Phước Hưng, huyện đầu nguồn An Phú) cũng chỉ bắt được không đầy 0,5kg cá linh non, không bằng 1/10 so với mùa lũ năm trước. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN)
Mở đồng đón phù sa
Dù nước lũ tràn về muộn và thấp hơn so với các năm trước, nhưng các tỉnh miền Tây Nam Bộ cũng khai thác được phần nào để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Hiện tại, nhiều tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Long An… đang triển khai kế hoạch ứng phó với lũ, bảo đảm sản xuất, đồng thời tiến hành xả đồng đón lũ nhằm bồi tụ thêm phù sa, cải tạo đất và vệ sinh đồng ruộng.
Không chủ quan với diễn biến bất thường
Tại tỉnh Đồng Tháp, phần lớn các diện tích lúa cơ bản đã thu hoạch xong, lũ về muộn nên không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, trên địa bàn có nhiều diện tích bãi bồi, vùng không có đê bao đang được người dân tận dụng để canh tác hoa màu. Các diện tích này có nguy cơ bị đe dọa bởi nước lũ.
Nhiều tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Long An… đang triển khai kế hoạch ứng phó với lũ, bảo đảm sản xuất, đồng thời tiến hành xả đồng đón lũ nhằm bồi tụ thêm phù sa, cải tạo đất và vệ sinh đồng ruộng.
Trên địa bàn huyện Hồng Ngự , tỉnh Đồng Tháp, có khoảng 280 ha đất bãi bồi nằm ven sông Tiền, tập trung ở thị trấn Thường Thới Tiền, Thường Phước 2, Long Khánh A, Long Khánh B, Phú Thuận B. Đây là khu vực không được khuyến khích sản xuất trong mùa lũ, do thường xuyên bị ngập khi triều cường bắt đầu dâng. Tuy vậy, nhiều người dân vẫn đang tận dụng để trồng các loại hoa màu. Nước dâng lên, đã khiến cho các diện tích này bị thiệt hại.
Ông Phạm Văn Đảo, ngụ ở thị trấn Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) cho hay, những tưởng năm nay không nước, nên bà con có đất ven sông tranh thủ trồng các loại hoa màu ngắn ngày như đu đủ, ớt,… Tuy nhiên, khi cây bắt đầu ra trái, nước tràn về, các hộ dân cũng tranh thủ thu hoạch chạy lũ để kịp vớt vát được số vốn đã bỏ ra. Riêng ông Đảo, 1ha trồng đu đủ bị ngập nước xem như mất trắng vì trái quá non, thương lái không mua.
Thu hoạch xoài cát chu rải vụ ở thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp). (Ảnh: Nguyễn Văn Trí/TTXVN)
Trước tình hình này, ngành chức năng khuyến cáo người dân không chủ quan với diễn biến của lũ, tranh thủ thu hoạch các diện tích bị mực nước đe dọa, đối với các diện tích còn lại cần ngưng ngay việc gieo trồng để giảm thiểu thiệt hại.
Tại tỉnh Long An, ngành nông nghiệp giảm kế hoạch sản xuất lúa vụ Thu Đông xuống chỉ còn 38.000ha. Việc sản xuất, chỉ thực hiện tại những khu vực có đê bao kiên cố nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do lũ gây ra.
Hiện tại, phần diện tích lúa Thu Đông đang vào thời kỳ trổ chín, một số địa phương đã bắt đầu thu hoạch. Do đó, để bảo vệ và thu hoạch tốt các diện tích lúa Thu Đông 2019, ngành nông nghiệp yêu cầu các địa phương hướng dẫn nông dân thăm đồng thường xuyên; có kế hoạch kiểm tra, giám sát, gia cố đê bao, theo dõi tình hình nguồn nước cung cấp cho sản xuất; kịp thời khắc phục ngập úng cục bộ và chủ động chuẩn bị phương tiện, máy móc để thu hoạch lúa kịp thời.
Ngành chức năng khuyến cáo người dân không chủ quan với diễn biến của lũ, tranh thủ thu hoạch các diện tích bị mực nước đe dọa
Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long An, Nguyễn Thanh Truyền, ngành nông nghiệp khuyến cáo nông dân gieo sạ lúa vụ Thu Đông ở các khu vực có đê bao vững chắc an toàn, tránh bị ảnh hưởng của lũ. Những diện tích còn lại thì tận dụng nước về nhiều để khuyến khích nông dân xả lũ, lấy phù sa bồi đắp đồng ruộng, diệt mầm bệnh, cải tạo đất.
Các địa phương cần chủ động xây dựng phương án đón lũ, kịp thời phát hiện, xử lý ngay từ đầu những hư hỏng của hệ thống đê bao, bờ bao, cống dưới đê, đặc biệt là các tuyến đê bao vùng thượng nguồn; chủ động tiêu úng bảo đảm an toàn nhằm giảm thiểu thiệt hại và phát huy tối đa lợi thế từ lũ, nhất là trong nuôi trồng thủy sản và bảo vệ tốt những diện tích lúa Thu Đông đang trong giai đoạn thu hoạch.
Phát huy tối đa lợi thế từ lũ
Dù lũ về muộn, những nhiều địa phương ở vùng Tây Nam bộ đang tranh thủ để mở đồng xả lũ nhằm thau chua rửa phèn, giúp cho đất có thời gian nghỉ ngơi và bồi tụ thêm phù sa. Nhiều người dân ở vùng lũ cũng chủ động ngưng sản xuất nhằm tránh thiệt hại và tạo điều kiện cho đất đai được nghỉ ngơi.
Anh Phan Thanh Điền, ngụ xã Tân Thành, Tân Thạnh ( Long An), cho biết: “Rút kinh nghiệm từ các vụ lúa trước, vụ này, nông dân chủ động thực hiện các biện pháp tiêu thoát nước cho ruộng lúa trong giai đoạn lúa chín chuẩn bị thu hoạch, hạn chế tình trạng nền đất ruộng bị lún và sình lầy, tạo thuận lợi đưa máy gặt đập liên hợp và máy kéo lúa vào thu hoạch lúa. Năm nay, nước lũ về khá muộn. Do đó, ngay sau khi thu hoạch lúa Hè Thu, tôi không gieo sạ vụ 3 mà dọn cỏ, xử lý rơm rạ và xới đất rồi mở bờ bao cho nước lũ vào ruộng để bồi đắp phù sa cho đất, giúp vụ sản xuất lúa tới đây trúng mùa.”
Ông Trần Văn Ba, ngụ xã Phú Thành, huyện Phú Tân (An Giang), chia sẻ: “Tôi rất đồng tình với chủ trương xả lũ và thực hiện kế hoạch sản xuất “2 năm, 5 vụ” của huyện. Bởi vì thời gian qua, sản xuất kéo dài khiến đất đai cằn cỗi, bạc màu, nông dân buộc lòng bón phân, thuốc hóa học nhiều để “ép” cây lúa đạt năng suất. Việc làm này kéo dài, làm ảnh hưởng đến vấn đề môi trường rất lớn, liên đới tác hại cả sức khỏe con người. Năm nay, tuy nước lũ về muộn nhưng bà con vẫn thống nhất xã lũ để tẩy rửa đồng ruộng, cải tạo môi trường đất, hạn chế sâu bệnh, bồi tụ thêm phù sa,… cho những vụ sản xuất kế tiếp đạt năng suất cao hơn.”
Theo ngành nông nghiệp các tỉnh trong khu vực, các địa phương tổ chức thực hiện việc xả lũ đảm bảo an toàn, không ảnh hưởng đến vườn cây ăn trái, hoa màu của người dân; đồng thời chủ động triển khai các giải pháp ứng phó với lũ cao, mưa lớn bảo vệ sản xuất như: kiểm tra, tu sửa các điểm đê xung yếu, các công trình cống, bọng, trạm bơm điện bị hư hỏng, rò rỉ, tu sửa máy bơm sẵn sàng tiêu úng và xây dựng phương án chủ động đối phó với tình huống thời tiết bất thường xảy ra.
Người dân huyện Hồng Ngự mở cống xả lũ đón phù sa cho 90 nghìn ha đất lúa. (Ảnh: Chương Đài/TTXVN)
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn lấy ý kiến người dân về kế hoạch xả lũ, công khai thời gian xả lũ từng ô bao, tuyên truyền rộng rãi về thời gian và mực nước xả lũ để tránh xung đột về lợi ích tại những ô đê bao có sự hiện diện cùng lúc của lúa, hoa màu, cây ăn trái…
Ông Nguyễn Phước Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp cho biết, việc xả lũ lấy phù sa được đa số người dân thống nhất cao. Thời gian xả lũ tương đối dài, các diện tích ngập sâu giúp cung cấp phù sa, cải tạo đất, tiêu diệt mầm bệnh, giúp cây lúa phát triển tốt, giảm chi phí cải tạo đất.
Trong điều kiện đê bao chắc chắn, các địa phương vẫn có thể tiến hành xả lũ có kiểm soát nhằm lấy phù sa, tiêu diệt mầm bệnh, hạt cỏ dại lưu tồn trong đất. Tuy nhiên cần kiểm tra, rà soát các ô bao có kế hoạch xả lũ, xác định thời điểm xả lũ trên địa bàn, chủ động triển khai các giải pháp để tiến hành xả lũ đảm bảo an toàn sản xuất../.
Phòng, chống xâm nhập mặn
Sau thời gian dài chờ đợi, nước lũ đổ về mang theo phù sa và tôm cá đã phần nào khiến người dân miền Tây Nam Bộ vui mừng. Tuy nhiên, một dự báo đầy khó khăn được cơ quan chức năng đưa ra là lũ về rất nhỏ, nguy cơ xâm nhập mặn sớm đe dọa sản xuất của vựa lúa lớn nhất cả nước, ảnh hưởng đến sinh kế của hàng nghìn hộ dân.
Nếu như những năm trước đây, thời điểm này đã vào giữa mùa lũ, nhưng hiện tại nước lũ chỉ mới đổ về và mực nước đang ở rất thấp. Trên các cánh đồng vùng lũ ở Đồng Tháp, Long An… dù nước đã tràn vào nhưng bằng mắt thường vẫn có thể quan sát thấy những bờ ruộng cỏ mọc. Những ngày tới, chưa có tín hiệu cho thấy mực nước sẽ tăng lên.
Việc nước đổ về thấp không chỉ kéo theo nguồn lợi thủy sản ít đi mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với việc sản xuất, sinh kế của người dân.
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu về môi trường Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, năm nay thời tiết diễn biến phức tạp, lượng mưa ở thượng nguồn thấp khiến sông Mekong có mực nước thấp, kéo theo đó là lượng nước đổ về sông Cửu Long ít, lũ về nhỏ.
Việc nước đổ về thấp không chỉ kéo theo nguồn lợi thủy sản ít đi mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với việc sản xuất, sinh kế của người dân.
Điều đáng lo ngại là nếu lượng mưa ít và lũ về nhỏ thì nguy cơ xâm nhập mặn sẽ gia tăng, ảnh hưởng sinh hoạt và sản xuất của người dân. Đồng thời, lượng phù sa đổ về cũng ít đi, không đủ bồi tụ cho ruộng đồng.
Cùng quan điểm đó, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam nhận định, năm 2019, lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ rất nhỏ. Cơ quan này nhận định nguồn nước mùa khô 2019-2020 sẽ ít thuận lợi, nguy cơ xâm nhập mặt sớm và hạn hán thiếu nước có thể xả ra. Mặn sẽ xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng 1-2 tháng. Đến khoảng tháng 12/2019, mặn có khả năng ảnh hưởng các cống lấy nước phạm vi cách biển đến 30-35km. Sang tháng 1 và 2/2020, ranh mặn 4g/l có khả năng lấn sâu vào nội địa từ 45-55 km tùy từng vị trí cửa sông.
Cống ngăn mặn ven biển huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang giúp nhà nông có nước ngọt sản xuất nông nghiệp. (Ảnh: Lê Sen/TTXVN)
Cơ quan này khuyến cáo các địa phương chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh, các địa phương cần theo dõi chặt chẽ thông tin dự báo khí tượng, thủy văn, xâm nhập mặn do các cơ quan chuyên ngành khí tượng, thủy văn và các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cung cấp.
Các tỉnh, thành phố trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần chủ động hơn việc sử dụng nguồn nước không nên để quá phụ thuộc nguồn nước từ thượng nguồn.
Bên cạnh đó, các địa phương cũng cần chủ động xây dựng kế hoạch phòng, chống xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020; trong đó, xác định khả năng bị ảnh hưởng từng vùng, khu vực để có giải pháp cụ thể, bảo đảm giảm thiểu ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Các địa phương bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý, bảo đảm xuống giống sớm vụ Đông Xuân 2019-2020 trong tháng 10/2019 ở các vùng ven biển nhằm hạn chế ảnh hưởng của xâm nhập mặn; ưu tiên sử dụng các giống lúa thơm, chất lượng cao, ngắn ngày, nhóm giống chịu mặn, cùng thời gian sinh trưởng để thuận tiện cho việc cung cấp nước tưới, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả đồng thời, tăng cường thực hiện các giải pháp thủy lợi như nạo vét kênh rạch, đắp đập tạm, lắp đặt trạm bơm dã chiến, tranh thủ vận hành công trình thủy lợi lấy nước, trữ nước để sử dụng khi xâm nhập mặn lên cao, nguồn nước bị thiếu hụt….
Triển khai nạo vét kênh mương nội đồng bằng nguồn vốn thủy lợi phí tại xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Theo ông Nguyễn Thanh Truyền, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long An, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn chỉ đạo các địa phương chuẩn bị phương án đối phó với các diễn biến xấu của thời tiết, đặc biệt là nguy cơ xâm nhập mặn sớm. Tỉnh đang xây dựng kế hoạch phòng, chống xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020; tiến hành xác định khả năng bị ảnh hưởng từng vùng, khu vực để có giải pháp cụ thể, cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Về biện pháp lâu dài ứng phó với tình hình mực nước sông Mekong nói riêng và biến đổi khí hậu nói chung, thạc sỹ Kỷ Quang Vinh, chuyên gia nghiên cứu môi trường Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, các tỉnh, thành phố trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần chủ động hơn việc sử dụng nguồn nước không nên để quá phụ thuộc nguồn nước từ thượng nguồn. Điều này cần có một hệ thống công trình và phi công trình đề chống lũ, chống hạn hán và xâm nhập mặn; đồng thời, bảo đảm nguồn nước sạch cho các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cơ bản của người dân chứ không phải chỉ là những khuyến cáo nên trồng gì, nuôi gì như chính sách hiện nay./.
Trong hai nhiệm kỳ làm Tổng thống của mình, cựu Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến thăm Việt Nam hai lần, đó là vào năm 1997 và 2004.
Những chuyến thăm của ông góp phần dệt nên mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp Việt-Pháp và để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng người dân Việt Nam.
Luôn mong muốn củng cố và tăng cường tình hữu nghị Pháp-Việt
Lần thứ nhất, ông J. Chirac đến thăm Việt Nam trên cương vị Tổng thống Pháp vào năm 1997 khi ông tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần 7 được tổ chức tại Hà Nội.
Hai dân tộc đã dệt nên những sợi dây liên kết bền vững. Những sợi dây liên kết đó tồn tại bất chấp những đối đầu và sự xa cách về địa lý giữa hai nước. (Tổng thống Pháp J. Chirac, năm 1997)
Bài phát biểu của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại buổi chiêu đãi Tổng thống Pháp J. Chirac, có đoạn: quan hệ Việt Nam và Pháp là quan hệ giữa hai nước từng gắn bó bởi nhiều liên hệ trong hàng chục thập kỷ, từng được thử thách với những thăng trầm lịch sử. Chuyến thăm Việt Nam của ngài Tổng thống Pháp là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, mang đến cho nhân dân chúng tôi những tình cảm hữu nghị của nhân dân Pháp, một dân tộc được cả loài người biết đến với những truyền thống văn hóa lâu đời và một nền văn minh huy hoàng.
Chủ tịch nước Trần Đức Lương đón Tổng thống Pháp Jacques Chirac thăm chính thức Việt Nam và dự Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội, từ ngày 12-16/11/1997. (Ảnh: Cao Phong/TTXVN)
Trong Diễn văn đáp từ, Tổng thống Pháp J. Chirac nhắc lại:“Người Việt Nam và người Pháp đã gặp nhau từ rất lâu. Ngay từ thế kỷ thứ XVII, các nhà thông thái Pháp đã tìm hiểu về nền văn minh cổ xưa và ngôn ngữ của Việt Nam. Kể từ đó, hai dân tộc đã dệt nên những sợi dây liên kết bền vững. Những sợi dây liên kết đó tồn tại bất chấp những đối đầu và sự xa cách về địa lý giữa hai nước… Đặc biệt, chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Francois Mitterrand (năm 1993) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho mối quan hệ của hai nước… Từ đó, trên tất cả các lĩnh vực, các mối quan hệ giữa chúng ta đã không ngừng được củng cố và mở rộng.”
Tổng thống Pháp J. Chirac khẳng định, Nhà nước, nhân dân Pháp và bản thân ông cũng mong muốn củng cố và tăng cường tình hữu nghị và các mối quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam…
Trước đó, tại buổi tiếp của Tổng Bí thư Đỗ Mười, Tổng thống Pháp J. Chirac khẳng định, Nhà nước, nhân dân Pháp và bản thân ông cũng mong muốn củng cố và tăng cường tình hữu nghị và các mối quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam…
Trong chuyến thăm này, Tổng thống J. Chirac đã cùng Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cắt băng khánh thành Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại Hà Nội. Đây là công trình nhận được sự giúp đỡ của nước Cộng hòa Pháp (thông qua Bảo tàng con người) về các phương tiện vật chất, kỹ thuật, cũng như kinh nghiệm trong việc tổ chức trưng bày và hoạt động của bảng tàng.
Tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam
Lần thứ hai, ông J. Chirac thăm chính thức Việt Nam và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Á-Âu lần thứ 5 (ASEM 5) vào năm 2004. Ông đánh giá cao đường lối phát triển của Việt Nam, bày tỏ sự ấn tượng trước những tiến bộ vượt bậc mà Việt Nam đã gặt hái được trong một thời gian rất ngắn.
Ông cho rằng, công cuộc cải cách hành chính, chính sách mở cửa đã tạo điều kiện phát huy các nguồn lực tiềm năng của Việt Nam; và Pháp hoàn toàn tin tưởng vào khả năng thành công của Việt Nam trong giai đoạn mới, vào khả năng hòa nhập của Việt Nam, vào xu thế các trào lưu thế giới nhưng vẫn giữa nguyên vẹn bản sắc của mình.
Ngày 7/10/2004, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đến thăm và nói chuyện với học sinh, sinh viên biết tiếng Pháp tại Trung tâm Văn hóa Pháp ở Hà Nội, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần thứ hai và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Á-Âu lần thứ 5 (ASEM 5). (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)
Là đối tác hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư, hỗ trợ phát triển, Pháp luôn mong muốn góp phần mình vào quá trình phát triển của Việt Nam trong các lĩnh vực như: hạ tầng cơ sở, phương tiện giao thông, bưu chính viễn thông, quy hoạch đô thị, công nghiệp, dịch vụ… Tổng thống J. Chirac nhấn mạnh, vượt qua gánh nặng của quá khứ, Việt Nam và Pháp hoàn toàn có quyền gửi tới thế giới một thông điệp hòa bình, hợp tác và bác ái.
Trong chuyến thăm này, Tổng thống J. Chirac và Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã chứng kiến lễ ký 8 văn kiện quan trọng trong số gần 20 văn kiện hợp tác.
Cũng trong dịp này, Tổng thống J. Chirac đã tới thăm khu khai quật Hoàng thành Thăng Long.
Vượt qua gánh nặng của quá khứ, Việt Nam và Pháp hoàn toàn có quyền gửi tới thế giới một thông điệp hòa bình, hợp tác và bác ái. (Tổng thống J. Chirac)
“Tuyệt đẹp, tôi chưa từng nghĩ các nghệ nhân Việt Nam xưa lại có thể tạo ra những thứ đẹp dường này,” ông Chirac đã liên tục nói như vậy khi nhìn ngắm những nhóm đồ cổ thời Lý, thời Lê, những hình đầu rồng, đầu phượng, hình chim uyên ương trên mái cung điện làm bằng đất nung… như khám phá ra một điều gì rất thú vị…
Ông cũng lưu lại cảm nghĩ của mình trong cuốn sổ lưu niệm của khu trưng bày: “Tôi xin gửi tới Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và những chuyên gia Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) lời cảm ơn về một công việc có tính lịch sử và rất đáng chiêm ngưỡng đã làm ở đây, và mong muốn của tôi là tiếp tục tôn vinh giá trị của di tích này. Nó rất cần thiết cho lịch sử Việt Nam và làm vinh dự cho nhân loại.”
Dù rất bận với nhiều chương trình, song Tổng thống Chirac vẫn không quên dành thời gian trò chuyện với các sinh viên – “tương lai của đất nước” – như lời ông nói. Với các sinh viên Việt Nam, buổi nói chuyện với Tổng thống Chirac đã để lại ấn tượng đặc biệt.
Tổng thống Pháp Jacques Chirac xem các hiện vật vừa được khai quật tại Hoàng thành Thăng Long, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Á-Âu lần thứ 5 (ASEM 5), tháng 10/2004. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Ông kể rằng, trong chuyến thăm lần trước tới Việt Nam, ông đã được nghe một bài hát, có câu: “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người.” Ông rất ấn tượng với câu nói đó và nhấn mạnh, nó khiến ông suy nghĩ rằng mỗi người chúng ta đều đại diện cho một lịch sử, một nền văn hóa. Sự tôn trọng và hiểu biết văn hóa của mình là yếu tố căn bản đảm bảo cho sự cân bằng trong tính cách của mỗi cá nhân và đảm bảo sự cân bằng trong sự phát triển của cả đất nước.
Theo Tổng thống Chirac, bản sắc Việt Nam là mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước và xã hội, giữa giới trí thức và nông dân, giữa văn hóa chính thống và văn hóa dân gian dựa trên nền tảng gìn giữ giá trị truyền thống, đồng thời mở cửa ra thế giới bên ngoài. Ông nhấn mạnh: “Nguyên lý vận động này tạo nên nét độc đáo của nền văn minh Việt Nam. Đó cũng là thế mạnh cần thiết để Việt Nam tự khẳng định mình trong thế giới hiện đại…”
Khẳng định Pháp luôn sát cánh với Việt Nam
Trong chuyến thăm Pháp của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vào năm 2005, Tổng thống Chirac khẳng định: “Tôi muốn khẳng định lại với ngài rằng Pháp luôn sát cánh với Việt Nam và tiếp tục giúp Việt Nam hiện đại hóa các thể chế kinh tế, chính trị và xã hội.”
“Pháp luôn sát cánh với Việt Nam và tiếp tục giúp Việt Nam hiện đại hóa các thể chế kinh tế, chính trị và xã hội.” (Tổng thống Chirac)
Năm 2006, Đại sứ Pháp tại Việt Nam Jean Francois Blarel trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Việt Nam nói rằng Pháp và Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ hợp tác lâu dài, tạo nền tảng cho mối quan hệ đối tác bền vững mà Tổng thống Pháp Jacque Chirac mô tả là “mang tính lịch sử và hình mẫu” trên nền tảng những giá trị chung mà hai bên chia sẻ.
Có một điều đặc biệt trong mối nhân duyên với Việt Nam là vợ chồng cựu Tổng thống Jacques Chirac có một cô con gái nuôi người Việt Nam tên là Anh Đào.
Tình cờ gặp tại sân bay Charles De Gaulle năm 1979, Anh Đào đã được ông bà Jacques Chirac, khi đó là Thị trưởng Paris đưa về Tòa thị chính Paris ở cùng họ trong 2 năm, sống như một thành viên trong gia đình. Bà Anh Đào năm nay 62 tuổi.
Nhìn lại lịch sử, có thể khẳng định, tình cảm và sự ủng hộ của ông Jacques Chirac đã góp phần đưa quan hệ Việt Nam và Pháp trở thành đối tác chiến lược vào năm 2013 và ngày càng phát triển mạnh mẽ./.
Trong những ngày qua, chỉ số ô nhiễm không khí ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tăng cao, trở thành vấn đề nóng được nhiều người dân quan tâm.
Các chuyên gia y tế khuyến cáo, người dân cần chủ động tìm hiểu và có những biện pháp phòng tránh để giảm thiểu tác hại đến sức khỏe.
Chỉ số ô nhiễm không khí tăng cao
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ô nhiễm không khí gây ra 7 triệu ca tử vong sớm mỗi năm. Số liệu thống kê của Liên hợp quốc cũng cho thấy, mỗi giờ có khoảng 800 ca tử vong do ô nhiễm không khí, trung bình 13 người tử vong mỗi phút, gấp ba lần số tử vong vì sốt rét, bệnh lao và AIDS mỗi năm. Cũng theo WHO, Việt Nam có 34.232 người tử vong sớm có liên quan đến ô nhiễm không khí.
Cụ thể, chỉ số chất lượng không khí (AQI – ứng dụng Air Quality Index đo chỉ số ô nhiễm không khí và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe của con người) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh những ngày gần đây tăng khá cao, dao động từ 100 đến 200. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc 30 vị trí môi trường trong tháng 9-2019 cho thấy có sự gia tăng đột biến của các chất ô nhiễm như bụi lơ lửng, NO2, SO2, CO… trong các ngày 18 đến 20/9/2019.
Chỉ số chất lượng không khí tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh những ngày gần đây tăng khá cao, dao động từ 100 đến 200
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đô thị hóa, dân số tăng nhanh, nhất là mật độ xây dựng, lượng phương tiện giao thông tăng đột biến. Về nguồn gây ô nhiễm không khí, chủ yếu từ các nguồn tại chỗ, như hoạt động giao thông, xây dựng, sản xuất công nghiệp, đốt rơm rạ, đốt rác và một số nguồn vận chuyển từ xa. Ô nhiễm không khí ở Hà Nội thường tăng cao vào giờ cao điểm, từ 60% đến 70% bụi mịn do ôtô, xe máy thải ra.
Theo ông Doãn Ngọc Hải, Viện trưởng Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường (Bộ Y tế), không khí ô nhiễm sẽ làm ảnh hưởng đến các cơ quan tiếp xúc như mắt, cơ quan hô hấp, da…Qua việc tiếp xúc với chất ô nhiễm, sẽ làm thấm nhiễm vào trong máu, vào các cơ quan cơ thể, gây ra những bệnh lâu dài.
Phố Mễ Trì chìm trong bầu không khí đặc quánh như sương vào sáng ngày 15/9. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Ô nhiễm không khí không những ảnh hưởng tới sức khỏe con người mà còn tác động tới quá trình điều trị của các bệnh nhân, khiến bệnh tình nặng hơn, kéo dài thời gian điều trị.
Vẫn theo ông Hải, ô nhiễm không khí là tình trạng các chất lạ xuất hiện trong không khí. Nhưng hiện nay, mọi người mới chỉ quan tâm phần vật lý, tức là kích thước hạt bị ảnh hưởng trong không khí, nhưng tính chất của ô nhiễm không khí hoàn toàn khác nhau.
Ở miền núi hay có những màn sương, chất lượng không khí không tốt nhưng không ảnh hưởng sức khỏe. Trong khi đó, ở những khu công nghiệp, màn sương bụi hoàn toàn khác, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe.
Mọi người mới chỉ quan tâm phần vật lý, tức là kích thước hạt bị ảnh hưởng trong không khí, nhưng tính chất của ô nhiễm không khí hoàn toàn khác nhau.
Ở môi trường bệnh viện cũng mang tính chất hoàn toàn khác, vì phải xem trong hạt bụi có vấn đề vi sinh không. Vì thế, phải kiểm soát hạt bụi mang chất ô nhiễm nào mới có sự lo lắng và tìm giải pháp phù hợp.
Ông Đỗ Mạnh Cường, Phó trưởng Phòng Quản lý sức khỏe môi trường và hoá chất, Cục Quản lý Môi trường Y tế cho biết, trung bình mỗi người cần 10.000 lít không khí để thở mỗi ngày. Do đó khi chất lượng không khí không bảo đảm có thể gây hàng loạt bệnh tật về đường hô hấp, tim, ung thư…
Tuy nhiên, không phải ai cũng mắc bệnh khi sống trong môi trường bị ô nhiễm vì mỗi người có hệ miễn dịch, chức năng đào thải của cơ thể. Trong những ngày không khí bị ô nhiễm, những người mắc bệnh phổi mạn tính, hen suyễn và các bệnh phổi khác sẽ có nguy cơ cao hơn. Đáng lưu ý, đối tượng trẻ nhỏ thường có sức đề kháng kém. Khi hít phải các chất bụi, hoặc khói trong không khí sẽ dễ bị tổn thương niêm mạc và mắc các bệnh viêm nhiễm ở đường hô hấp.
Tăng cường các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí
Để hạn chế sự gia tăng ô nhiễm không khí, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch Hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
Kế hoạch đề ra mục tiêu tổng quát là hướng tới tăng cường công tác quản lý chất lượng không khí thông qua kiểm soát nguồn phát sinh khí thải; giám sát chất lượng không khí xung quanh nhằm cải thiện chất lượng môi trường không khí và bảo đảm sức khỏe cộng đồng.
Cảnh khói bụi trên đường ở Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)
Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng Kế hoạch kiểm soát ô nhiễm không khí; đồng thời, hoàn thiện các văn bản pháp luật. Đặc biệt, Bộ đã tăng cường các nguồn lực tài chính, đa dạng hóa các nguồn đầu tư, tăng cường kinh phí cho quản lý môi trường không khí. Bên cạnh đó, đẩy mạnh hoạt động quan trắc, kiểm kê khí thải, kiểm soát môi trường không khí tại các đô thị và các khu công nghiệp…
Hiện tại, thành phố Hà Nội đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giảm ô nhiễm môi trường không khí. Điển hình là Dự án đầu tư hệ thống mạng quan trắc môi trường trên địa bàn đến năm 2020, với quy mô 20 trạm quan trắc không khí.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch Hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
Dự kiến đến năm 2030, toàn thành phố có 50 trạm quan trắc. Ðây là một trong những nỗ lực góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu đầy đủ, toàn diện và liên tục, là cơ sở khoa học đánh giá chính xác thực trạng chất lượng môi trường không khí của Hà Nội đồng thời, là cơ sở để các cơ quan quản lý môi trường hoạch định và đề xuất các chính sách cải thiện chất lượng môi trường sống của người dân.
Để quản lý, kiểm soát chất lượng không khí đạt hiệu quả, các chuyên gia cho biết, thời gian tới, Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan, chính quyền địa phương cần tiếp tục rà soát, ban hành, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, pháp luật, nhất là xây dựng quy định đối với môi trường không khí.
Tăng cường kiểm soát, hạn chế các nguồn gây ô nhiễm bụi trên địa bàn như các công trình xây dựng; tăng mật độ cây xanh trong đô thị, mở rộng công viên; tăng cường phương tiện giao thông công cộng như: xe buýt, xe điện trên cao, xe điện ngầm và hình thức giao thông không gây ô nhiễm… Cùng với đó, cần tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chất lượng môi trường không khí đối với sức khỏe đến cộng đồng.
Chủ động phòng tránh
Để phòng ngừa các bệnh lý cũng như tác hại do ô nhiễm không khí gây ra, các chuyên gia y tế khuyến cáo, cần phải nắm được thông tin về mức an toàn trong không khí để có kế hoạch phòng vệ cho bản thân. Trong những ngày ô nhiễm không khí nguy hại, người dân đặc biệt trẻ em và phụ nữ có thai, người lớn tuổi, hạn chế ra đường hay tham gia các hoạt động ngoài trời.
Nếu có nhu cầu ra ngoài cần đeo khẩu trang để ngăn ngừa khói bụi trong không khí. Các chuyên gia lưu ý, khẩu trang thông thường như khẩu trang vải, khẩu trang y tế không thể lọc được bụi mịn mà chỉ hạn chế 30%-40% lượng bụi. Để ngăn được bụi mịn, cần sử dụng khẩu trang chuyên dụng như N95 hoặc N99.
Trường hợp chỉ có khẩu trang y tế, người dân cần lồng hai chiếc vào nhau hoặc lót kèm khăn giấy bên trong để ngăn bụi. Khi về nhà, cũng nên rửa mặt, rửa mũi để giảm thời gian hạt bụi tiếp xúc trên đường hô hấp và trên da. Đồng thời, người dân nhớ nhỏ mắt, mũi bằng nước muối sinh lý, hạn chế phơi thực phẩm, áo quần, hạn chế sử dụng nước mưa…
Riêng với môi trường bệnh viện, ngoài tính chất gây ảnh hưởng đến sức khỏe, ô nhiễm còn là việc lan truyền những mầm bệnh. Vì thế, trong bệnh viện khi có tình trạng ô nhiễm không khí thì các bệnh viện cần phải có kế hoạch riêng, phòng ngừa sự lan truyền của bệnh tật thông qua không khí./.
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ngày càng nghiêm trọng.
Mới đây, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 8566/VPCP-NN về việc kiểm tra khắc phục sạt lở và ứng phó nguy cơ hạn hán, thiếu nước ở khu vực này.
Sạt lở tiếp tục đe dọa đến tính mạng và tài sản người dân
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất rộng lớn với mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc. Khu vực này rất có lợi thế về phát triển nông nghiệp và trên thực tế Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam.
Hàng năm, Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% các loại trái cây, 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu của cả nước.
Tình trạng sạt lở xảy ra ở toàn bộ 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, tình hình sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển tại khu vực này đã diễn ra với xu hướng ngày càng tăng, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân cũng như sự phát triển của kinh tế-xã hội của cả khu vực.
Tình trạng sạt lở xảy ra ở toàn bộ 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là ở An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang.
Nhà dân bị nhấn chìm xuống sông Rạch Vọp, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. (Ảnh: Trung Hiếu/TTXVN)
Theo thống kê, đến năm 2018, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có 562 vị trí bờ sông, bờ biển bị sạt lở, với tổng chiều dài 786km, trong đó có 42 vị trí sạt lở đặc biệt nguy hiểm với chiều dài 149km. Tình hình sạt lở không những diễn ra vào mùa mưa, mà còn xuất hiện cả mùa khô và diễn ra ở các tuyến sông chính, cho đến các hệ thống kênh, rạch với mức độ ngày càng nhiều và nguy hiểm.
Trong những tháng qua, nhiều địa phương đã phải công bố tình trạng khẩn cấp về sạt lở. Cụ thể, tỉnh Long An vừa công bố tình trạng khẩn cấp khu vực sạt lở bờ sông Cần Giuộc, với tổng chiều dài khoảng 2,4km; tại Cà Mau, hơn 37km cửa biển, bờ biển bị sạt lở tập trung chủ yếu ở các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Năm Căn gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khu dân cư, đường Hồ Chí Minh và đai rừng phòng hộ; tại tỉnh Tiền Giang, có thêm 4 điểm “nóng” vừa công bố tình trạng khẩn cấp sạt lở gồm bờ sông Bảo Định (thành phố Mỹ Tho), đê biển Gò Công và khu dân cư ấp Đèn Đỏ (huyện Gò Công Đông), bờ sông Tiền (huyện Cai Lậy)…
Tình hình sạt lở không những diễn ra vào mùa mưa, mà còn xuất hiện cả mùa khô và diễn ra ở các tuyến sông chính, cho đến các hệ thống kênh, rạch với mức độ ngày càng nhiều và nguy hiểm.
Nhiều nguyên nhân dẫn sạt lở đã được chỉ ra. Trong đó, nghiêm trọng nhất là tác động từ các hồ chứa thượng nguồn đã và đang làm gia tăng các biến động bùn cát trên các tuyến sông và vùng ven biển, gây mất ổn định lòng, bờ sông và xâm thực bờ biển.
Tình trạng khai thác cát quá mức trên các tuyến sông, ven biển đi kèm với gia tăng các phương tiện vận tải thủy cũng làm trầm trọng hơn quá trình cạn kiệt bùn cát và gia tăng nguy cơ sạt lở. Bên cạnh đó là sự phát triển nhanh chóng của vùng kéo theo nhu cầu về nhà ở, nước sạch.
Nhiều hộ “liều mình” cất nhà trên sông rạch làm tăng tải trọng bờ sông, tình trạng hút nước ngầm diễn ra phổ biến gây sụt lún, làm tăng nguy cơ sạt lở… Ngoài ra, những tác động từ thời tiết bất thường do biến đổi khí hậu và nước biển dâng cũng là mối đe dọa tăng khả năng gây xói lở bờ biển, vùng cửa sông ven biển và suy thoái rừng ngập mặn ven biển.
Khẩn trương ứng phó
Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ (ban hành ngày 17/11/2017) về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long đã xác định, phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của vùng trong những năm tới.
Hiện thực hóa chủ trương này, năm 2018, ngoài việc bố trí ngân sách theo kế hoạch hằng năm để các địa phương xây dựng công trình phòng chống sạt lở, Chính phủ đã hỗ trợ 1.500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương để xử lý 29 điểm cấp bách sạt lở bở sông, bờ biển thuộc 13 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long.
Đoạn Quốc lộ 91 qua địa bàn ấp Bình Tân, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, An Giang bị sạt lở từ ngày 1/8 hiện đang có dấu hiệu sạt lở tiếp, nguy cơ sập hoàn toàn. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN)
Hiện tại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ tiếp tục hỗ trợ xử lý sạt lở 1.000 tỷ đồng từ nguồn vốn dự phòng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và 36 triệu USD từ dự án WB, ADB…
Ngoài ra, 35 dự án xử lý sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển cũng đang được thực hiện với sự phối hợp của các tổ chức quốc tế hỗ trợ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, 24 dự án xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển và trồng rừng ngập mặn cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long với số vốn 1.635 tỷ đồng đã được đưa vào đề xuất điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ tiếp tục hỗ trợ xử lý sạt lở 1.000 tỷ đồng từ nguồn vốn dự phòng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020
Mới đây, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 8566/VPCP-NN về việc kiểm tra khắc phục sạt lở và ứng phó nguy cơ hạn hán, thiếu nước ở khu vực này. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu các Bộ, địa phương khẩn trương kiểm tra đánh giá về tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển, đề xuất giải pháp trước mắt và lâu dài để xử lý, khắc phục tình trạng sạt lở ven sông, ven biển nhằm bảo đảm an toàn tính mạng, ổn định đời sống và sản xuất của người dân; đồng thời có phương án chỉ đạo sản xuất vụ Đông Xuân 2019-2020 nhằm chủ động ứng phó nguy cơ hạn hán, thiếu nước có thể xảy ra tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo các chuyên gia, việc cần làm lúc này là các địa phương và cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần chủ động trong công tác đánh giá tổng thể, rà soát, khảo sát lại các điểm sạt lở ở địa phương để có mức độ cảnh báo và ứng phó kịp thời. Đẩy mạnh công tác dự báo để người dân chủ động ứng phó, kiên quyết xử lý, ngăn chặn các công trình vi phạm, lấn chiếm lòng sông…
Nhà của người dân ven cửa biển Vàm Xoáy (Cà Mau) đang trong tình trạng bị đe dọa nghiêm trọng vì sạt lở. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
Thời gian vừa qua, nhiều cán bộ, đảng viên (đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược) thiếu gương mẫu, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng (tháng 1/2016) đến nay, có hơn 70 đảng viên cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật. Trong khi đó, cán bộ và công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng.
“Thực tế đó đặt ra nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay là huấn luyện, đào tạo cán bộ, đồng thời siết chặt quy trình lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ. Đây cũng là một trong những khâu trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói khác di, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần bắt đầu từ chính công tác cán bộ,” ông Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương Đảng) nhìn nhận.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay là huấn luyện, đào tạo cán bộ, đồng thời siết chặt quy trình lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ.
Lời Bác dặn trước lúc đi xa
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém.” Bác chỉ rõ: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.”
Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu với người cán bộ là vừa phải có đức vừa phải có tài, trong đó, đức là gốc. Trong Di chúc, Người chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng đoàn đại biểu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam trong vườn xoài ở Phủ Chủ tịch, ngày 15/11/1965. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Ông Mai Văn Chính – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương khẳng định, trong 50 năm qua, thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng luôn coi trọng bồi dưỡng lý luận chính trị, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ. Trong công tác cán bộ, việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài.
Cương lĩnh và các nghị quyết của Đảng cũng đã xác định: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.” Hơn nữa, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng (năm 2017), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định: “Công tác cán bộ qua thực tiễn ngày càng thấy quan trọng, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc của mọi công việc, then chốt của then chốt.”
Trong công tác cán bộ, việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài.
Nhìn lại quá trình hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (số 03-NQ/HNTW, ngày 18/6/1997), ông Mai Văn Chính cho rằng, đội ngũ cán bộ đã có sự trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, từng bước đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
“Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng và thực hiện hiệu quả, gắn với quy hoạch và bố trí, sử dụng cán bộ, cơ bản khắc phục được việc ‘bổ nhiệm trước, đào tạo sau. Cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi từ cấp huyện trở lên có trình độ đại học về chuyên môn, nghiệp vụ và có trình độ cao cấp về lý luận,” Phó Trưởng Ban tổ chức Trung ương nhấn mạnh.
Ông Mai Văn Chính khẳng định, Đảng luôn coi trọng bồi dưỡng lý luận chính trị, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ. (Ảnh: TTXVN)
Tuy nhiên, đến nay, một số nội dung trong Chiến lược cán bộ không còn phù hợp, cần được điều chỉnh, bổ sung và phát triển để đáp ứng tình hình mới. Ví dụ, trình độ đại học của đội ngũ cán bộ đã vượt xa chỉ tiêu 4% so với dân số mà Chiến lược đã đặt ra; Chiến lược cán bộ mới chỉ tập trung đến nâng cao trình độ, chưa quan tâm đến giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống; vấn đề kiểm soát quyền lực và chống chạy chức, chạy quyền chưa được đặt ra…
Mặt khác, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cũng chỉ rõ, đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập: công tác cán bộ chậm đổi mới, dẫn đến tình trạng tư duy nhiệm kỳ, bổ nhiệm “đúng quy trình” nhưng không đúng người, đúng việc, thiếu liên thông giữa các cấp, các ngành… vẫn xảy ra; số lượng cán bộ đông nhưng cơ cấu không hợp lý, chất lượng không đồng đều. Điển hình như, với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chuyên ngành kinh tế, luật chiếm 60,49%, trong khi đó, chuyên ngành khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế chỉ có 16,56%, chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước chỉ chiếm 8,36%…
Số lượng cán bộ quản lý ở trung ương và địa phương.
“Đặc biệt đáng lưu ý, một bộ phận không nhỏ cán bộ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa.’ Tình trạng chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm ‘thần tốc’ diễn ra ở nhiều nơi,” ông Mai Văn Chính chỉ rõ.
Theo báo cáo tổng hợp điều tra dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương) về những vấn đề bức xúc nhất trong năm 2017, có 37% tổng số ý kiến được hỏi cho rằng, một trong những vấn đề bức xúc nhất là sự cửa quyền, sách nhiễu của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan công quyền (tang 3% so với năm 2016). Ngoài ra, có 63% số ý kiến cho rằng nạn tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm vẫn diễn ra nặng nề (tăng 15% so với năm 2016)…
Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh, những khuyết điểm, yếu kém nêu trên nếu không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời sẽ làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Bước đột phá trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Trong những năm gần đây, Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, lãng phí; tập trung theo dõi, chỉ đạo xử lý nghiêm minh với nguyên tắc: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai.”
“Điều đó để thấy quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, sự thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự vững mạnh, uy tín của Đảng và nguyện vọng của nhân dân. Dù mất mát nhiều cán bộ nhưng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực là việc bắt buộc phải thực hiện để làm trong sạch Đảng,” ông Nguyễn Đức Hà nhấn mạnh.
Từ đầu năm 2019 tới nay, nhiều vụ án được mở rộng điều tra, chứng minh làm rõ bản chất chiếm đoạt, tham nhũng; khởi tố thêm nhiều bị can, trong đó có nhiều trường hợp là cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý.
Trong những năm gần đây, Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, lãng phí; tập trung theo dõi, chỉ đạo xử lý nghiêm minh với nguyên tắc: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai.”
Cụ thể, các cơ quan chức năng đã kết thúc xác minh, giải quyết 24 vụ việc, mở rộng điều tra, khởi tố mới 5 vụ án, phục hồi điều tra 4 vụ án, khởi tố thêm 26 bị can; kết thúc điều tra 3 vụ/19 bị can, ban hành cáo trạng truy tố 6 vụ/27 bị can, xét xử sơ thẩm 9 vụ/21 bị cáo, xét xử phúc thẩm 10 vụ/149 bị cáo.
Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm 2019, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật đối với 123 tổ chức đảng và 7.923 đảng viên vi phạm, trong đó có 256 đảng viên bị kỷ luật do có hành vi tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 21 trường hợp so với cùng kỳ năm 2018).
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp mặt thân mật các đại biểu dự Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sỹ thi đua ngành Nông nghiệp và Đổi công toàn quốc tại Hà Nội, ngày 23/5/1957. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đáng chú ý, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã làm rõ nhiều sai phạm đặc biệt nghiêm trọng xảy ra ở nhiều bộ, ngành và địa phương, quyết định thi hành kỷ luật và đề nghị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật kịp thời, nghiêm minh đối với một tổ chức đảng (ngày 16/7/2019, Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật Ban cán sự đảng Bộ Giao thông Vận tải nhiệm kỳ 2011-2016 bằng hình thức cảnh cáo) và 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (cả đương chức và đã nghỉ hưu).
Trong số 13 đảng viên nói trên, có một đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ (ông Vũ Văn Ninh); hai đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Quân ủy Trung ương (Thượng tướng Nguyễn Văn Hiến – nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân và Phó Đô đốc Nguyễn Văn Tình – nguyên Chính ủy Quân chủng Hải quân).
“Có thể nói, chưa có thời gian nào, nhiều cán bộ (cả đương chức và nguyên chức) bị xử lý kỷ luật như thời gian vừa qua. Đây là bước đột phá trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy nhà nước và của toàn hệ thống chính trị, góp phần quan trọng củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng,” ông Nguyễn Đức Hà khẳng định.
Toàn cảnh Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10, Khóa XII. (Ảnh: TTXVN)
Nhân sự cấp chiến lược: Kiên quyết không để lọt người không xứng đáng
Xuất phát từ thực tế trên, ông Nguyễn Đức Hà cho rằng, một trong những vấn đề cấp bách hàng đầu hiện nay là đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm nhiệm vụ để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.
Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tha hóa về đạo đức lối sống là điều kiện cho quá trình “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sự tha hóa về đạo đức của cán bộ được coi là một trong những “nguồn cơn” của tệ tham nhũng, tiêu cực. Bởi vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là huấn luyện, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Năm 2019 là năm khởi đầu của quá trình chuẩn bị tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược tiếp tục được coi là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thận trọng, thường xuyên, có hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.
Số lượng cán bộ quản lý cấp chiến lược phân bổ theo địa phương và độ tuổi.
Theo ông Nguyễn Đức Hà, từ thực tế (thời gian qua có nhiều cán bộ cấp chiến lược đã thiếu gương mẫu, vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước), Trung ương sẽ đặc biệt chú trọng tới công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Cụ thể, tinh thần chỉ đạo của Trung ương lần này là: “Tiến hành công tác nhân sự từng bước, từng việc một cách thận trọng với quy trình chặt chẽ, chắc chắn, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng vào Ban chấp hành Trung ương.”
Trên phạm vi cả nước hiện nay, có khoảng 600 cán bộ cấp chiến lược (các chức danh cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). “Số lượng này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số hơn 5 triệu đảng viên hay 100 triệu dân của cả nước. Tuy nhiên, đây lại là đội ngũ cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, là linh hồn và hạt nhân của Đảng, có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của Đảng, đất nước, dân tộc,” ông Hà nói.
Bên cạnh đó, nhằm đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm nhiệm vụ, Đảng đã đưa ra những yêu cầu đối với cán bộ trong thời kỳ mới; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, Đảng viên (đặc biệt là người đứng đầu); những tiêu chí mới trong việc đánh giá cán bộ, hoàn thiện quy trình bổ nhiệm…
Vấn đề nêu gương hiện nay không chỉ là trách nhiệm, nhiệm vụ của đảng viên mà giờ còn là phương thức lãnh đạo của Đảng.
Ông Mai Văn Chính khẳng định các quy trình trong công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ và dân chủ hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Trong đó, công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bầu cử, bổ nhiệm, luân chuyển có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng mở rộng dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chính xác, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Điều này thể hiện rõ qua việc sửa đổi, bổ sung quy trình bổ nhiệm cán bộ theo 5 bước nhằm khắc phục những lỗ hổng trong công tác bổ nhiệm cán bộ (theo quy trình 3 bước) trước đây; nâng cao trách nhiệm của cấp uỷ, Ban Thường vụ trong việc bổ nhiệm cán bộ, giúp ban chấp hành, ban thường vụ xem xét nguyện vọng, tín nhiệm một cách kỹ lưỡng.
Bên cạnh đó, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cũng cho biết, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ, công tác đánh giá cán bộ đã, đang và sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng: xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, đánh giá bằng sản phẩm cụ thể thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương.
Năm 2019 có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi toàn bộ Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020. (Ảnh: TTXVN)
Ngoài ra, vấn đề nêu gương hiện nay không chỉ là trách nhiệm, nhiệm vụ của đảng viên mà giờ còn là phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc gương mẫu của đảng viên trong các cơ quan, trong các tổ chức xã hội.
Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và thống nhất cao việc ban hành Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng” tại Hội nghị Trung ương 8 (Khóa XII).
“Quy định mới do Ban chấp hành Trung ương ban hành có tính pháp lý cao hơn, hiệu lực mạnh hơn, tập trung trước hết vào các đồng chí lãnh đạo cấp cao, các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Theo tôi, đây là biện pháp rất quyết liệt, mạnh mẽ. Bởi lẽ, quy định này thực chất là là một cam kết chính trị của Ban chấp hành Trung ương trước toàn Đảng, toàn dân. Đó cũng là sự cam kết của Ban chấp hành Trung ương đối với chính mình bởi Ban chấp hành Trung ương vừa là người ban hành và vừa là người thực hiện. Cam kết của Ban chấp hành Trung ương được công bố công khai trên các phương tiện đại chúng để toàn Đảng, toàn dân theo dõi giám sát,” ông Nguyễn Đức Hà nhận định./.
Loạt bài “50 năm Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chỉnh đốn Đảng để củng cố niềm tin của nhân dân”:
В 2019 году во Вьетнаме будет разработана национальная стратегия цифровой трансформации, направленная на развитие цифровой экономики и цифрового общества. Цифровая трансформация будет революционной трансформацией, в корне меняющей облик страны.
Это также новая задачи, возможности и вызовы для Вьетнама в эпоху цифровых технологий, но это также пробуждает силы развивать информационные технологии, чтобы способствовать цифровой трансформации Вьетнама.
В рамках вопроса о цифровой трансформации мы хотели бы представить серию статей «Цифровая трансформация для построения могущественного Вьетнама», состоящую из 3 статей, в которой четко анализируются возможности, проблемы и основы взгляды на цифровую трансформацию, а также правильное направление для успешного цифрового преобразования.
Цифровая трансформация – возможности и проблемы
VietnamPlus
Цифровая трансформация происходит в совсременном мире с высокой скоростью, затрагивет многие сферы и отношения в глобальной экономике и открывает большие возможности для повышения конкурентоспособности бизнеса.
Согласно исследованию, проведенному Microsoft в 2017 году в Азиатско-Тихоокеанском регионе, цифровая трансформация привела к увеличению ВВП примерно на 6% в 2017 году, ожидается, что за 2019 год это увеличение составит 25%, а с 2021 года – 60%.
Hạt nhân của công cuộc chuyển đổi số
VietnamPlus
Chuyển đổi số là sự chuyển dịch mang tính chất cách mạng và sẽ làm thay đổi diện mạo của Việt Nam.
Tại Diễn đàn cấp cao Công nghệ thông tin-Truyền thông Việt Nam 2019, với chủ đề “Chuyển đổi số vì một Việt Nam hùng cường,” Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định: “Các doanh nghiệp công nghệ thông tin, doanh nghiệp số sẽ là hạt nhân của quá trình chuyển đổi số.”
Do vậy, mục tiêu của Việt Nam là phải phát triển được 100.000 doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các doanh nghiệp này sẽ tập trung làm tư vấn công nghệ, chuyển giao công nghệ, triển khai ứng dụng công nghệ vào mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển số của toàn Việt Nam.
Liên minh xây dựng quốc gia số
Hướng đến mục tiêu đưa Việt Nam chuyển đổi số thành công, tháng 8/2019, Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam đã chính thức ra đời. Ở giai đoạn đầu tiên, Liên minh chuyển đổi số quốc gia là sự cam kết bắt tay đầu tư hạ tầng và platforms chuyển đổi số (nền tảng công nghệ số có sẵn) của 8 doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghệ thông (Viettel, VNPT, FPT, MoibiFone, CMC, BKAV, VNG và MISA).
“Các doanh nghiệp công nghệ thông tin, doanh nghiệp số sẽ là hạt nhân của quá trình chuyển đổi số.” (Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng)
Chủ tịch Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam Lê Đăng Dũng cho biết: Liên minh Chuyển đổi số ra đời bước đầu dựa trên cơ sở tập hợp của những doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam có sứ mệnh truyền cảm hứng trong toàn thể xã hội về chuyển đổi số.
Các doanh nghiệp “anh cả” này sẽ chủ động thực hiện chuyển đổi số và tạo ra nền tảng, hạ tầng, dịch vụ, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam và toàn xã hội cùng tham gia vào công cuộc chuyển đổi số. Sau đó, Liên minh sẽ mở rộng để các doanh nghiệp có đủ năng lực cùng góp sức vào công cuộc chuyển đổi số của Việt Nam.
Mục tiêu của Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam là hợp tác, đồng hành cùng Chính phủ, các bộ, ngành, doanh nghiệp thúc đẩy nhanh, mạnh, hiệu quả quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam.
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cùng lãnh đạo các doanh nghiệp công nghệ thông tin lớn tại lễ ra mắt Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam. (Nguồn: mic.gov.vn)
Ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, có 3 nguyên tắc quan trọng để các doanh nghiệp tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Đầu tiên là đảm bảo tính tương thích liên thông, bởi vì khi chuyển đổi số, Việt Nam sẽ xây dựng rất nhiều nền tảng số, hệ thống thông tin và việc chia sẻ dữ liệu là yêu cầu tất yếu. Nguyên tắc thứ hai là mặc định số.
Để chuyển đổi số thành công, cần sự quyết tâm của Chính phủ, sự định hướng của Bộ Thông tin và Truyền thông, sự ủng hộ của các doanh nghiệp công nghệ thông tin.
Tức là mỗi cơ quan, mỗi doanh nghiệp luôn luôn phải đặt ra cho mình câu hỏi tại sao hoạt động này chưa được số hóa bởi số hóa cần áp dụng cho toàn bộ quá trình chứ không phải từng công đoạn. Nguyên tắc thứ ba là phải đảm bảo an toàn an ninh mạng liên thông, bởi khi kết nối rồi, một đơn vị mất an toàn an ninh sẽ dễ dàng lây lan sang các đơn vị khác.
Để chuyển đổi số thành công, cần sự quyết tâm của Chính phủ, sự định hướng của Bộ Thông tin và Truyền thông, sự ủng hộ của các doanh nghiệp công nghệ thông tin. Các đơn vị gia nhập Liên minh chuyển đổi số Việt Nam cam kết chung tay giải quyết các vấn đề hiện có, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực để cùng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số thành công ở từng đơn vị và lan rộng toàn xã hội.
Phát triển nền tảng công nghệ
Năm 2019, Việt Nam tuyên bố chiến lược về chuyển đổi số quốc gia để tiến tới một nền kinh tế số, xã hội số. Theo đó, xây dựng các yếu tố nền tảng công nghệ số (platform) là cốt lõi để công cuộc chuyển đổi số thành công. Trong Liên minh chuyển đổi số Việt Nam, các doanh nghiệp công nghệ thông tin cần phải đi đầu, tập trung đầu tư hạ tầng, công nghệ và xây dựng platform để cung cấp cho doanh nghiệp khi tiến hành chuyển đổi số.
Đại biểu tham quan khu trưng bày các sản phẩm công nghệ tại Hội thảo Ứng dụng công nghệ thông tin trong kỷ nguyên số do VNPT tổ chức tại Quảng Ninh, ngày 6/9/2019. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Hiện nay, Tập đoàn FPT đặt mục tiêu giảm 30-50% thời gian triển khai dự án chuyển đổi số cho tổ chức, doanh nghiệp bằng nền tảng và sản phẩm số toàn diện. FPT cũng dự định sẽ đào tạo 50.000 kỹ sư công nghệ chất lượng cao và chuyển giao phương pháp luận số hóa.
Sau 3 năm nỗ lực thực hiện chuyển đổi số, ông Nguyễn Văn Khoa, Tổng Giám đốc Tập đoàn FPT đã chia sẻ các doanh nghiệp cần tập trung xây dựng phương pháp luận đặc thù. Khi có được phương pháp luận rồi các đơn vị bắt đầu đầu tư xây dựng các nền tảng thiết yếu để phục vụ quá trình chuyển đổi. Cuối cùng là tập trung tìm kiếm, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số để thực hiện thành công việc chuyển đổi số.
Tập trung đầu tư hạ tầng, công nghệ và xây dựng platform để cung cấp cho doanh nghiệp khi tiến hành chuyển đổi số.
Hiện nay, việc cung cấp hạ tầng và nền tảng công nghệ đã được nhiều doanh nghiệp trong Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam đầu tư và vận hành, nhưng quan trọng hơn là cần sự kết nối đồng bộ giữa các hạ tầng, nền tảng công nghệ này.
Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch Tập đoàn CMC nhấn mạnh các công ty công nghệ thông tin cung cấp dịch vụ nền tảng cần tạo ra các sản phẩm giúp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nhanh chóng tiếp cận thành quả của nền kinh tế số với mức chi phí nhỏ nhất, thời gian ngắn nhất và mức độ an toàn cao nhất. Ngoài ra, các đơn vị cần đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số bằng việc xây dựng nền tảng cho từng ngành, từng lĩnh vực. Chuyển đổi số muốn thành công ở quy mô rộng là phải tạo nên nền tảng mà bất cứ đối tượng nào cũng có thể sử dụng, kết nối một cách dễ dàng.
Ông Nguyễn Đình Tuấn, Hội đồng Thành viên Tổng Công ty Viễn thông Mobifone cho biết để thành công, các đơn vị cần cung cấp một nền tảng cho tất cả người sử dụng. Các nhà mạng cung cấp hạ tầng về kết nối, doanh nghiệp sẽ tiếp tục cung cấp các dịch vụ khác, chuyển từ dịch vụ kết nối viễn thông sang kết nối với các thiết bị, dịch vụ công nghệ thông tin như kết nối hệ thống chính phủ điện tử, kết nối với các dịch vụ khác về an ninh, năng lượng, chăm sóc y tế tại gia đình doanh nghiệp…”
Sản phẩm VNPT Check (Truy xuất nguồn gốc của sản phẩm) do VNPT phát triển. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Ông Ngô Diên Hy, Tổng Giám đốc Công ty Công nghệ thông tin VNPT chia sẻ VNPT thực hiện việc chuyển đổi từ nhà mạng viễn thông truyền thống sang nhà cung cấp dịch vụ số từ năm 2014. Đến nay, ngoài việc cung cấp hạ tầng viễn thông, VNPT sẽ đi theo hướng là cung cấp hệ sinh thái. Những hệ sinh thái thiết yếu cần được đầu tư như giáo dục, y tế, du lịch nông nghiệp, tài nguyên môi trường…
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết trong quá trình chuyển đổi số, Việt Nam sẽ tập trung vào phát triển 4 loại doanh nghiệp công nghệ thông tin.
Thứ nhất là doanh nghiệp công nghệ lớn (khoảng 10-20 doanh nghiệp) là các doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, thị trường và nhân lực.
Thứ hai là các doanh nghiệp công nghệ đã có từ 10-20 năm kinh nghiệm, đang chủ yếu làm gia công thì nay sẽ chuyển sang làm sản phẩm, tập trung làm các nền tảng (platform) chuyển đổi số.
Trong quá trình chuyển đổi số, Việt Nam sẽ tập trung vào phát triển 4 loại doanh nghiệp công nghệ thông tin.
Tiếp đến là các doanh nghiệp công nghệ mới khởi nghiệp, làm tư vấn công nghệ, chuyển giao công nghệ, mang công nghệ số áp dụng vào mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Cuối cùng là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới đột phá.
Để có được thứ hạng cao trên thế giới, mục tiêu là nhóm 50 vào năm 2025 và nhóm 30 vào năm 2030, quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam cần tập trung vào 5 yếu tố nền tảng gồm rhể chế, hạ tầng, an ninh mạng, nền tảng số có sẵn và đào tạo nhân lực. Áp dụng nền tảng số có sẵn là cách nhanh nhất để chuyển đổi số ở Việt Nam được triển khai toàn xã hội và xã hội trở thành xã hội số với các kết nối số.
Với sự quyết tâm của chính phủ, sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp công nghệ thông tin và sự đồng thuận của người dân, hy vọng trong tương lai, Việt Nam sẽ xây dựng được một nền tảng số có thể kết nối hàng triệu người, hàng ngàn doanh nghiệp, cùng chia sẻ thông tin, lợi thế, thúc đẩy mọi yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội cùng phát triển trong môi trường số./.
Chìa khóa phát triển kinh tế số
VietnamPlus
Thúc đẩy xây dựng nền kinh tế số là một trong những trọng tâm của Chính phủ Việt Nam nhằm đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng.
Việt Nam cần tận dụng tốt nhất cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để phát triển bứt phá, xây dựng xã hội số, phát triển mạnh kinh tế số, đưa đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2045.
Chuyển đổi số sẽ đem lại khoảng 1,1% tăng trưởng GDP mỗi năm cho Việt Nam. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chuyển đổi số mạnh mẽ hơn nữa bởi chuyển đổi số chính là chìa khóa để xây dựng kinh tế số.
Tăng năng suất lao động và doanh thu
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 đạt khoảng 102 triệu đồng/lao động (tăng 5,93% so với năm 2017). Tính chung giai đoạn 10 năm (từ năm 2007-2016), Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN (tăng bình quân hơn 4%/năm).
Tuy nhiên, năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia và 36,5% của Thái Lan. Với sự phát triển nhanh chóng của quá trình chuyển đổi số, Việt Nam đang có cơ hội để vươn lên và nâng cao hơn nữa năng suất lao động.
Nhờ chuyển đổi số, năng suất lao động của Việt Nam đã tăng lên 8-10% (vượt qua mức 5-6%).
Ba yếu tố góp phần tăng năng suất lao động gồm đầu tư trang thiết bị máy móc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất, nhân lực vốn có và thay đổi phương thức sản xuất. Quá trình chuyển đổi số là sự chuyển đổi phương thức sản xuất truyền thống sang phương thức sản xuất số với sự ứng dụng công nghệ số, mối quan hệ số… để tạo ra chuỗi giá trị lớn hơn cho sản xuất. Nhờ chuyển đổi số, năng suất lao động của Việt Nam đã tăng lên 8-10% (vượt qua mức 5-6%).
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định cần sử dụng công nghệ nhiều hơn, nhất là công nghệ mới, công nghệ số để giải quyết các bài toán của mọi ngành nhằm nâng cao nâng suất lao động.
Mọi thao tác thiết bị bên ngoài trạm biến áp 500kV Thạnh Mỹ đều được tự động hóa. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
Ông Lim Choon Teck, Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghệ HP Việt Nam dự đoán đến năm 2030, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đóng góp 62,1 tỷ USD vào GDP Việt Nam, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ước đạt 16%.
Nghiên cứu của Microsoft vào năm 2017 cho biết, tác động của chuyển đổi số tới tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam vào khoảng 15%, đến năm 2020 con số này dự kiến là 21%.
Theo kết quả điều tra của Công ty Tư vấn McKinsey (được thực hiện tại 2.000 doanh nghiệp trên thế giới), với nỗ lực chuyển đổi số, một doanh nghiệp điển hình có thể tăng doanh số thêm 11,2%, tăng lợi nhuận trước thuế và lãi đạt trên 7%. Rõ ràng chuyển đổi số mang lại những thay đổi to lớn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đóng góp 62,1 tỷ USD vào GDP Việt Nam, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ước đạt 16%.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB Bank) là một trong những đơn vị, doanh nghiệp bắt kịp xu thế chuyển đổi số, áp dụng công nghệ mới trong hệ thống quản lý, phục vụ khách hàng, chuyển đổi hoạt động quản trị ngân hàng theo các thông lệ quốc tế.
Ông Lê Xuân Vũ, Giám đốc Khối khách hàng cá nhân chia sẻ sau khi áp dụng chuyển đổi số, lượng khách hàng dùng kênh chuyển đổi số toàn diện của ngân hàng tăng gần 2 triệu, lượng giao dịch mỗi năm tăng gấp 5 lần so với năm trước. Đặc biệt, 6 tháng đầu năm 2019, mô hình chuyển đổi số đã tạo ra doanh thu gần 300 tỷ đồng cho MB Bank, tăng nhiều lần so với những năm trước đây.”
Chuyển đổi số giúp tăng hiệu quả vận hành trong sản xuất, dịch vụ thương mại và dịch vụ công, giúp minh bạch hơn trong mọi lĩnh vực.
Phó giáo sư, tiến sỹ Vũ Minh Khương, Đại học quốc gia Singapore chia sẻ các doanh nghiệp Việt Nam cần nhìn ra cơ hội kết nối toàn cầu, từ đó có phương án đầu tư sản xuất các sản phẩm theo thế mạnh riêng. Các doanh nghiệp chuyển đổi số lưu ý tiếp cận với khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất, số hóa các sản phẩm và dịch vụ của mình, gắn kết với các sản phẩm truyền thống hiện tại, tự động hóa quy trình sản xuất hiệu quả. Số hóa về mặt tư duy để có cái nhìn tổng thể quá trình kinh doanh nhằm đem lại hiệu quả sản xuất ngày càng cao và sự phát triển doanh thu mạnh hơn.
Thử nghiệm để phát triển
Để kinh tế số thực sự phát triển mạnh tại Việt Nam cần sự dẫn dắt của Chính phủ và một chiến lược quốc gia về chuyển đổi số, kinh tế số. Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Thông tin và truyền thông xây dựng Đề án Chuyển đổi số quốc gia trình Thủ tướng trong năm 2019.
Đề án cần xác định rõ ai phải làm gì, trong bao lâu và bằng cách nào để đẩy nhanh quá trình số hóa, chuyển đổi số trên cả nước trên phạm vi cả nước trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Đề án cần chỉ ra nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế số.
Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Thông tin và truyền thông xây dựng Đề án Chuyển đổi số quốc gia trình Thủ tướng trong năm 2019.
Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, trong việc xây dựng nền kinh tế số, nhiều nước trên thế giới đang áp dụng cách tiếp cận “sandbox.” Sandbox được hiểu là khung pháp lý thử nghiệm trong một khoảng thời gian giới hạn để các mô hình công nghệ mới có thể hoạt động, được bảo vệ và phát triển.
Áp dụng sandbox đối với những cái mới khi không biết quản lý cái mới thế nào thì cho cái mới được phát triển trong một không gian, thời gian nhất định. Khi đó, các vấn đề của cái mới sẽ được bộc lộ một cách rõ ràng, từ đó cơ quan quản lý hình thành chính sách, quy định quản lý phù hợp cho những vấn đề mới chưa có tiền lệ.
Theo khảo sát của Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA), 3 lĩnh vực có thể chuyển đổi số nhanh nhất tại Việt Nam gồm: Công nghệ thông tin với mức độ sẵn sàng lên đến 77,3%. Tiếp đến là lĩnh vực tài chính, ngân hàng (69,3%) và thương mại điện tử (65,5%). Để phát triển kinh tế số, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tập trung đầu tư phát triển Fintech (Financial technology: công nghệ trong tài chính).
Hệ thống các công ty, thương hiệu Fintech ở Việt Nam.
Từ năm 2008 đến nay, Fintech phát triển nhanh và mạnh mẽ, làm thay đổi sâu sắc phương thức, mô hình kinh doanh, cũng như tác động đến hành vi của các chủ thể tham gia thị trường (khách hàng, các nhà cung ứng dịch vụ khách hàng, các công ty cung cấp các dịch vụ bổ trợ, các cơ quan quản lý nhà nước liên quan).
Ông Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia cho biết, đối với việc phát triển Fintech, nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng đã có những chính sách cụ thể, riêng biệt để thúc đẩy hình thái này nhằm tạo bước tăng trưởng đột phá. Việt Nam có tiềm năng phát triển Fintech rất lớn. Số lượng các công ty Fintech tăng nhanh chóng và trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Các công ty, doanh nghiệp công nghệ lớn như FPT, Viettel, VNPT quan tâm, hỗ trợ đầu tư cho hoạt động khởi nghiệp. Dự báo giá trị giao dịch của thị trường Fintech Việt Nam sẽ tăng lên mức 7,8 tỷ USD vào năm 2020.
Khi góp ý cho Đề án Chuyển đổi số quốc gia, các chuyên gia công nghệ cho rằng, khung pháp lý thử nghiệm Sandbox phải được triển khai thử nghiệm thành công trong quá trình xây dựng Đề án chuyển đổi số để có thể đem đến những lợi ích thiết thực cho người dân trong nền kinh tế số.
Dự báo giá trị giao dịch của thị trường Fintech Việt Nam sẽ tăng lên mức 7,8 tỷ USD vào năm 2020.
Không chỉ tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam, khung pháp lý thử nghiệm Sandbox trong một thời gian giới hạn, còn giúp các doanh nghiệp Fintech nói riêng, các doanh nghiệp khởi nghiệp nói chung có thể yên tâm thử nghiệm nhiều công nghệ mới, góp phần phát triển nền kinh tế số.
Chủ tịch Ngân hàng LienVietPostBank Nguyễn Đình Thắng khẳng định: Để thúc đẩy nhanh chuyển đổi số với tài chính, ngân hàng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành ngay khung pháp lý về chuyển đổi số riêng với ngân hàng số, ví điện tử, cổng thanh toán số… Để làm được việc đó, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần cho phép các ngân hàng được thử nghiệm Sandbox.
Các đại biểu tham quan, tìm hiểu Trung tâm và các gian hàng demo trong ngày ra mắt Trung tâm Đổi Mới Sáng Tạo về Internet vạn vật tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội), tháng 4/2019. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Kinh tế số là một xu thế toàn cầu của thời đại công nghệ 4.0, là cơ hội và cũng là thách thức của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới. Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã chia sẻ Việt Nam sẽ tạo ra điều kiện để nhân tài toàn cầu hội tụ, cho phép thử nghiệm các công nghệ, mô hình kinh doanh mới, với cách tiếp cận sandbox, cái gì chưa biết quản lý thế nào thì sẽ cho phép thử nghiệm trong một không gian và thời gian giới hạn.
Những “đặc khu công nghệ,” “đặc khu đổi mới sáng tạo” với nội hàm là nơi thử nghiệm những cơ chế vượt trội dành cho doanh nghiệp công nghệ, có thể được Chính phủ xem xét.
Kỷ nguyên số sẽ kéo dài trong nhiều thập kỷ và Việt Nam muốn phát triển kinh tế số thì cần phải đầu tư để chuyển đổi, mà sự chuyển đổi lớn nhất là chuyển đổi số để xây dựng kinh tế số, xã hội số giúp Việt Nam vươn tầm với các quốc gia công nghệ phát triển trong khu vực và trên thế giới./.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử vô giá tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam, phương hướng phát triển của dân tộc. Bên cạnh đó, bản Di chúc cũng thể hiện cô đọng tư tưởng, nhân cách, bản lĩnh của một vị Lãnh tụ, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.
Theo giáo sư-tiến sỹ Hoàng Chí Bảo (nguyên Uỷ viên Hội đồng lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), tuy bản Di chúc chỉ có dung lượng hơn 1.000 từ nhưng đã kết tinh những giá trị lịch sử, văn hóa, tư tưởng; trong đó, mỗi câu chữ, mỗi đoạn văn đều là kết quả của quá trình suy ngẫm, chắt lọc, thể hiện phong cách, tư tưởng, tình cảm, trí tuệ của Người.
Năm 2019 đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện Di chúc của Người. Trong thời gian qua, các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, ráo riết, đạt được những kết quả cụ thể, rõ rệt. Điều này góp phần quan trọng vào việc khẳng định tầm vóc tư tưởng, tầm nhìn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Đặc biệt, trong quá trình chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, những yêu cầu về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Bác chỉ ra trong bản Di chúc lịch sử một lần nữa phát huy giá trị to lớn, mang đến những bài học sâu sắc.
Trong thời gian qua, các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, ráo riết, đạt được những kết quả cụ thể, rõ rệt.
Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.”
Thực hiện lời căn dặn của Người trước lúc đi xa, trong suốt 50 năm qua, Đảng đã không ngừng xây dựng, chỉnh đốn cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; để lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi to lớn trong giai đoạn lịch sử mới.
Năm 2019 đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất
Trước lúc đi xa, Người đặc biệt nhấn mạnh, vấn đề đầu tiên là, sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đảng phải tiến hành ngay việc chỉnh đốn Đảng.
Theo giáo sư-tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, điều này thể hiện tầm nhìn xa cũng như tầm vóc tư tưởng của Bác. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử đã cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết định mọi thành công, thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tình hình mới, nhiệm vụ mới sẽ đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới: sự lãnh đạo của Đảng phải ngang tầm nhiệm vụ; cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm, tinh thần gương mẫu…
Bởi vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang hàm nghĩa sâu xa, toàn diện trên các mặt: tư tưởng, đạo đức, tổ chức, phương pháp, phong cách…
Ông Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương Đảng) trong buổi trao đổi với phóng viên VietnamPlus. (Ảnh: Minh Hiếu/Vietnam+)
Có cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương Đảng) phân tích: Đảng ta là đảng cầm quyền duy nhất. Việc này có nhiều thuận lợi (trong việc tập hợp lực lượng, thống nhất ý chí, nguyện vọng của nhân dân…) nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ: dễ dẫn tới chủ quan, thỏa mãn, không có sự cạnh tranh vai trò lãnh đạo nên không nhìn thấy những khuyết điểm của mình…
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ cho Đảng trong những giai đoạn lịch sử cam go nhất. Bởi vậy, Người hiểu rõ những mặt mạnh cũng như những tồn tại, khuyết điểm của các tổ chức Đảng cũng như của cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cũng đã cho thấy, Đảng cũng có những sai lầm và Đảng cũng phải tiến hành nhiều cuộc chỉnh đốn Đảng, kiểm điểm, phê bình, tự phê bình để khắc phục những hạn chế.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục, bao gồm nhiều việc và phải được tiến hành trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.
“Người nhắc nhở việc chỉnh đốn Đảng phải thực hiện ngay sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bởi Người lo sợ rằng, chúng ta sẽ say sưa với chiến thắng, ngủ quên bên vòng nguyệt quế. Nếu Đảng không thống nhất, đoàn kết, trong sạch, vững mạnh thì không đủ sức để lãnh đạo cách mạng đi lên,” ông Nguyễn Đức Hà phân tích.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục, bao gồm nhiều việc và phải được tiến hành trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.
Những nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Bác đề cập trong Di chúc bao gồm: tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng; phát huy dân chủ trong Đảng, tự phê bình và phê bình thường xuyên và nghiêm túc; coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, kiên quyết đấu tranh đẩy lùi những tiêu cực. Trong đó, việc tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng được coi là nguyên tắc cơ bản trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Giáo sư-tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho biết, lúc sinh thời và trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đoàn kết là nguồn gốc sức mạnh của Đảng. “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình,” trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Việc làm cấp bách để củng cố và lấy lại niềm tin của nhân dân
Ông Nguyễn Đức Hà khẳng định, thực hiện lời căn dặn của Bác, Đảng luôn quan tâm, chăm lo đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng diễn ra thường xuyên. “Xây dựng” và “chỉnh đốn” là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau: trong “xây dựng” có “chỉnh đốn,” trong “chỉnh đốn” có “xây dựng.”
Trong bối cảnh hiện nay, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng thể hiện rõ giá trị, có ý nghĩa thời sự to lớn.
Việc đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành một trong những yêu cầu bức thiết hiện nay để củng cố, lấy lại niềm tin của nhân dân.
Năm 2019 là năm thứ tư của nhiệm kỳ 5 năm, có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi toàn bộ Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020.
Ngoài ra, đây cũng là năm khởi đầu của quá trình chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Toàn Đảng, toàn dân đang tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều này cũng thể hiện sự tiếp thu, tiếp nối xuyên suốt tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc.
Năm 2019 là năm thứ tư của nhiệm kỳ 5 năm, có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi toàn bộ Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020. (Ảnh: TTXVN)
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII (tháng 1/2016) đến nay, hơn 70 cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật. Những cán bộ này bị kỷ luật, chủ yếu do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; ban hành chủ trương, nghị quyết về đầu tư; góp vốn, chỉ định thầu, cổ phần hóa; thiếu trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát; tham nhũng, lợi ích nhóm; vụ lợi, không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, sử dụng bằng cấp không đúng quy định, thiếu trung thực.
Bởi vậy, theo ông Nguyễn Đức Hà, việc đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành một trong những yêu cầu bức thiết hiện nay để củng cố, lấy lại niềm tin của nhân dân.
Những nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được cụ thể hóa theo các nội dung: ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp (nhất là cấp chiến lược) đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương… Điều đó đã tạo sinh khí và sức mạnh mới trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị mang tầm chiến lược tổng thể.
Tại Phiên họp thứ 16 của Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng (ngày 26/7 tại Hà Nội), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đánh giá, trong sáu tháng đầu năm 2019, công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được duy trì, đẩy mạnh theo hướng có chiều sâu, đạt kết quả toàn diện, đồng bộ, rõ nét hơn.
Cơ quan chức năng đã xét xử kịp thời, nghiêm minh bốn đại án mà dư luận xã hội đặc biệt quan tâm: vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Vinashin; vụ án “Sử dụng mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; tổ chức đánh bạc; đánh bạc…” xảy ra ở Phú Thọ và một số địa phương; vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DAB); vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Đà Nẵng và một số tỉnh, thành phố.
Quan điểm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ này là: Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; kết hợp nhuần nhuyễn giữa “xây” và “chống;” trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.
Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng đã mở rộng điều tra, làm rõ hành vi đưa, nhận hối lộ trong vụ án xảy ra tại Tổng Công ty Viễn thông Mobifone, các vụ án liên quan đến Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”), Đinh Ngọc Hệ (Út “trọc”), khởi tố điều tra vụ án xảy ra tại dự án cải tạo và mở rộng sản xuất giai đoạn 2 – Công ty Gang thép Thái Nguyên…
Hiện nay, Đảng đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII), nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Ông Nguyễn Đức Hà cho biết, quan điểm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ này là: Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; kết hợp nhuần nhuyễn giữa “xây” và “chống;” trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách./.
Loạt bài “50 năm Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chỉnh đốn Đảng để củng cố niềm tin của nhân dân”:
Với mục tiêu xuất khẩu 3,6 tỷ USD trong năm 2019, ngành sản xuất và xuất khẩu trái cây của Việt Nam đã đặt ra nhiều nhiệm vụ như xây dựng vùng nguyên liệu trái cây có chất lượng ổn định, phục vụ cho hoạt động chế biến và xuất khẩu, mở rộng thị trường trái cây Việt, tăng khả năng cạnh tranh cho trái cây Việt Nam trên thị trường thế giới lẫn thị trường nội địa…
Các nhiệm vụ này đều nhằm thúc đẩy ngành hàng trái cây Việt Nam trở thành một trong những ngành hàng chiến lược của nền nông nghiệp.
Trái cây Việt Nam hiện đã có mặt ở 60 quốc gia trên thế giới, mức tăng trưởng bình quân là 15%/năm. Để có thể giữ được mức tăng trưởng này, toàn ngành đã đặt mục tiêu xuất khẩu sản phẩm trái cây đa dạng, thay vì chỉ xuất khẩu trái cây tươi, thời gian bảo quản ngắn như hiện nay.
Áp dụng công nghệ chế biến sâu
Theo kết quả khảo sát người tiêu dùng nội địa và người tiêu dùng nước ngoài, nhiều ý kiến cho rằng trái cây tươi có vị tươi ngon, nhưng trái cây chế biến cũng có hương vị riêng, có thể sử dụng lâu hơn, bảo quản đơn giản và phù hợp với những sự kiện lễ tết, ngày hội lớn…
Ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Vinamit cho biết trong những dịp lễ Giáng sinh, dịp Tết Nguyên đán, những ngày hội thể thao thế giới và khu vực châu Á, hầu hết người tiêu dùng đều lựa chọn sản phẩm trái cây chế biến để sử dụng. Đây chính là lý do và cũng là động lực để ngành trái cây tiếp tục đầu tư công nghệ chế biến sâu các sản phẩm trái cây Việt Nam.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong số các loại trái cây xuất khẩu ra thị trường thế giới, thanh long chiếm hơn 50% giá trị xuất khẩu. Mặc dù cây thanh long được trồng ở 20 quốc gia trên thế giới nhưng Việt Nam vẫn chiếm diện tích cao nhất, đạt 49.000ha. Thanh long Việt Nam hiện đã có mặt tại 40 quốc gia khắp các châu lục, riêng thị trường Trung Quốc chiếm 80% sản lượng xuất khẩu tươi. Khi Việt Nam có một loại trái cây chiếm số lượng lớn như vậy, bài toán đặt ra là làm sao để không bị rơi vào “ngõ cụt” khi chỉ đi vào một thị trường với số lượng lớn.
Một vườn Thanh long ruột đỏ. (Nguồn: TTXVN)
Ông Nguyễn Lâm Viên cho rằng hiện công nghệ chế biến trái thanh long nói riêng và các loại trái cây nói chung không còn là vấn đề khó đối với các doanh nghiệp đầu tư chế biến trái cây. Công ty Vinamit đã thực hiện chế biến đa dạng các sản phẩm từ trái thanh long như thanh long sấy lạnh, sấy dẻo, sấy chân không, sữa chua sấy thanh long… Hầu hết các sản phẩm chế biến này đều thuận lợi khi ra thị trường thế giới và được người tiêu dùng ưa chuộng, lựa chọn trong tiêu dùng hằng ngày.
Ngoài sản phẩm thanh long chế biến đa dạng, các loại trái cây khác cũng đã được các doanh nghiệp đưa vào chế biến sâu như sấy dẻo, sấy muối ớt, sấy lạnh đối với các loại trái cây như: mận, mãng cầu, nho, ổi, xoài, chuối, mít, sầu riêng, khoai môn…
Đồng thời, các loại trái cây này cũng được chế biến thành các loại nước trái cây để phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng. Bằng cách chế biến này, nguồn nguyên liệu trái cây của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và nguồn nguyên liệu trái cây cả nước nói chung có thể được tiêu thụ tốt khi vào chính vụ, không rơi vào cảnh được mùa, mất giá như trước đây.
Tăng cường quảng bá hình ảnh
Theo đánh giá của các chuyên gia, trái cây Việt Nam đã có mặt ở 60 thị trường trên thế giới nhưng việc được cấp phép nhập khẩu chỉ mới là giai đoạn đầu của mục tiêu phát triển ngành. Bởi lẽ, dù được cấp phép nhập khẩu nhưng nếu không có hoạt động quảng bá hình ảnh, xúc tiến thương mại các sản phẩm đến người tiêu dùng thì lượng tiêu thụ vẫn không được như mong muốn.
Đơn cử, trái cây Mỹ tiến vào các thị trường khác, trong đó có Việt Nam, đều được người tiêu dùng lựa chọn và tiêu thụ rất tốt. Khâu quảng bá hình ảnh, chất lượng gây ấn tượng sâu sắc đối với người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới. Ví dụ riêng với trái việt quất, các nhà khoa học và doanh nghiệp xuất khẩu trái cây Mỹ đã thực hiện đến 42 nghiên cứu khoa học về lợi ích cho sức khỏe khi dùng loại trái này.
Trong số các loại trái cây xuất khẩu ra thị trường thế giới, thanh long chiếm hơn 50% giá trị xuất khẩu
Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trái cây Việt Nam cũng phải thừa nhận cách làm này vừa thu hút thị hiếu người tiêu dùng, vừa giúp nâng giá trị sản phẩm. Trong khi đó, hiện Việt Nam cũng đã xuất khẩu được các loại trái cây tươi sang Mỹ như thanh long, vải, xoài… nhưng lại thiếu các công trình nghiên cứu về tác dụng bổ dưỡng của các loại trái này. Như vậy có thể thấy, khi chưa có những nghiên cứu khoa học đi kèm, khâu quảng bá hình ảnh trái cây Việt Nam còn vướng mắc chưa thể tháo gỡ.
Theo Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), trong giai đoạn 2016-2021, thị trường rau củ quả của thế giới có tốc độ tăng trưởng gần 2,9%. Đồng thời, dân số thế giới tăng thêm 2,5 tỷ người trong giai đoạn 2011-2020. Do đó, nhu cầu tiêu thụ rau quả, trái cây còn tiếp tục tăng trưởng.
Nhãn tươi Việt Nam có mặt tại thị trường Australia. (Nguồn: TTXVN)
Trên thị trường thế giới, thị trường rau quả chiếm hơn 59% trong nhóm thực phẩm tươi sống toàn cầu. Nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới tăng 3,6%/năm trong khi khả năng tăng trưởng sản xuất chỉ 2,6% năm… Chính vì vậy, ngành chế biến, xuất khẩu trái cây Việt Nam còn nhiều cơ hội để phát triển ra thị trường thế giới nếu được quảng bá hình ảnh và xúc tiến thương mại tốt.
Đại diện Cục chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng sự tăng trưởng của tiêu dùng thế giới sẽ tạo điều kiện để trái cây Việt Nam tăng trưởng.
Ngành chế biến, xuất khẩu trái cây Việt Nam còn nhiều cơ hội để phát triển ra thị trường thế giới nếu được quảng bá hình ảnh và xúc tiến thương mại tốt
Vì vậy, ngoài việc tăng cường đầu tư đổi mới thiết bị chế biến sâu trái cây như quả đông lạnh, đóng hộp, chiên sấy, nước quả tự nhiên, nước quả cô đặc, đông lạnh…, các địa phương sản xuất trái cây khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học có những bài nghiên cứu các thành phần có trong từng loại trái cây, công dụng của các thành phần này đối với sức khỏe con người, thực hiện công bố các bài nghiên cứu trên các phương tiện truyền thông. Đây là cơ sở thuyết phục nhất để làm nền tảng cho quảng bá hình ảnh trái cây Việt Nam tại thị trường nội địa, lẫn thị trường nước ngoài.
Khi càng có nhiều bài nghiên cứu công bố tác dụng tích cực của các loại trái cây Việt Nam đối với sức khỏe, việc mở rộng thêm thị trường mới cho trái cây Việt Nam sẽ không còn khó khăn./.
(Nguồn: TTXVN)
Xây dựng vùng nguyên liệu vững chắc
Khi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực, ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành chế biến, xuất khẩu trái cây nói riêng sẽ gặp thế cạnh tranh lớn từ các quốc gia khác trên thế giới. Do đó, vấn đề đặt ra là ngành trái cây Việt Nam phải có một nền tảng vững chắc để thúc đẩy toàn ngành giữ vị thế xuất khẩu như hiện nay. Cụ thể, việc xây dựng vùng nguyên liệu tập trung sẽ giúp cho khâu thu mua, chế biến, xuất khẩu đạt hiệu quả cao hơn.
Còn nhiều trở lực
Bà Nguyễn Hữu Hồng Minh, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT) đánh giá các FTA có hiệu lực sẽ mang lại cho ngành nông nghiệp Việt Nam nhiều lợi ích. Cụ thể, các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam thuận lợi đi vào các thị trường “khó tính” như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia… với thuế nhập khẩu giảm dần từ 10% về 0% theo từng giai đoạn.
Tuy nhiên, các FTA cũng có mặt trái cho nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Đó là các sản phẩm nông nghiệp của nước ngoài cũng thuận lợi đi vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu bằng 0%. Trong khi đó, Việt Nam chưa có một hàng rào kỹ thuật vững chắc để sàng lọc sản phẩm. Hầu như tất cả sản phẩm của các quốc gia thuộc hiệu lực của FTA đều có thể tiến vào thị trường Việt Nam một cách dễ dàng.
Tổ chức Horticulture Innovation Australia (Tổ chức Đổi mới trồng trọt Australia) thống kê tính đến tháng 9/2019, Australia đã xuất khẩu sang Việt Nam khoảng 4.000 tấn cam Navel. Ngoài cam, Australia còn xuất sang Việt Nam 2 loại cherry và quýt.
Người dân tại xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, Sơn La phân loại xoài để xuất khẩu. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
Không riêng trái cây Australia, trái cây của Mỹ cũng bắt đầu đổ vào thị trường Việt Nam và có mặt ở nhiều phân khúc. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng năm 2019, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 188 triệu USD trị giá các loại rau củ, trái cây từ Mỹ như cherry, lê, nho, táo, việt quất… Ngoài ra, Việt Nam còn nhập từ các quốc gia khác như Thái Lan, Trung Quốc, tăng từ 40-50% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong khi trái cây từ nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam dễ dàng thì trái cây đi vào các thị trường khác lại vướng nhiều quy định ngặt nghèo.
Để vào được thị trường Australia và Nhật Bản, trái cây Việt Nam phải chiếu xạ để loại trừ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chất nguy hại. Thế nhưng, hiện nay Việt Nam chỉ mới có 1 nhà máy chiếu xạ cho trái cây tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, để xuất khẩu sang các thị trường khó tính này, trái cây Việt phải đi hết một vòng Việt Nam mới có thể đặt “chân” ra nước ngoài.
Trong khi trái cây từ nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam dễ dàng thì trái cây đi vào các thị trường khác lại vướng nhiều quy định ngặt nghèo
“Còn tại những thị trường khó tính, nội tại vốn đã có hàng rào kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm kiểm soát lượng hàng hóa từ quốc gia khác tiến vào thị trường này. Do đó, dù FTA có hiệu lực thì chính họ cũng đã có phương tiện để bảo hộ nền sản xuất trong nước và thị trường nội địa. Đơn cử, trái chuối Fhola muốn vào với thị trường Nhật Bản phải đáp ứng được 145 tiêu chí về dư lượng chất bảo vệ thực vật, còn đối với gạo phải là 270 tiêu chí,” Chủ tịch AFT, bà Nguyễn Hữu Hồng Minh cho biết.
Tạo vùng nguyên liệu chất lượng
Trước những yêu cầu khắt khe của thị trường khó tính, bắt buộc người sản xuất trong nước phải tuân theo các tiêu chí an toàn, vệ sinh thực phẩm do khách hàng quốc tế đưa ra. Thế nhưng, tỷ lệ những người sản xuất theo chất lượng quốc tế hiện còn rất thấp. Thậm chí, có nhiều hợp tác xã, người sản xuất trái cây Việt Nam nỗ lực đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất, nhưng vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong đáp ứng các tiêu chí chất lượng này.
Đơn cử như mặt hàng xoài vốn được thị trường Hàn Quốc ưa chuộng, nhưng để đưa được trái xoài sang Xứ sở Kim chi, người sản xuất phải trải qua khâu chăm sóc kỳ công.
Theo ông Võ Việt Hưng, Giám đốc Hợp tác xã xoài Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Hợp tác xã xoài Mỹ Xương có liên kết sản xuất cung ứng trái xoài tươi cho doanh nghiệp xuất khẩu xoài đi thị trường Hàn Quốc. Để trái xoài có thể đến với người Hàn Quốc thật không dễ dàng. Trái xoài Cát Chu vốn có vỏ dày, độ ngọt vừa phải, thời gian bảo quản dài hơn trái xoài cát Hòa Lộc, nhưng trong lúc chăm sóc, nếu bao trái không cẩn thận, chỉ cần có một vết đen trên cuống xoài thì doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không lựa chọn. Những sản phẩm mất nhiều công chăm sóc này chỉ có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa với giá thấp hơn, vì mẫu mã không đẹp mắt, dù chất lượng không đổi.
Dây chuyền chế biến xoài xuất khẩu của Công ty Cổ phần Nafoods miền Nam. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Riêng mặt hàng chuối Fhola và trái thanh long, việc thâm nhập thị trường Nhật Bản cũng không đơn giản.
Ông Nguyễn Đình Mười, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Vina T&T cho biết, trái thanh long muốn vào Nhật Bản cần sục qua nước muối để loại bỏ những dư lượng bảo vệ thực vật, không được sử dụng các công nghệ xử lý, chiếu xạ khác. Công nghệ này xem ra đơn giản nhưng không thể giữ được trái thanh long tươi lâu trong thời gian nửa tháng để đến được thị trường Nhật Bản. Chuối Fhola cũng được áp dụng cách sơ chế bảo quản này và phải đáp ứng hơn 140 tiêu chí về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Trước những yêu cầu về sơ chế, bảo quản đối với trái cây xuất khẩu sang các thị trường khó tính, ông Nguyễn Đình Mười cho rằng doanh nghiệp phải trực tiếp đầu tư vào các vùng nguyên liệu, nâng cao kỹ thuật sản xuất và chăm sóc vườn cây cho người sản xuất để tạo ra sản phẩm thật chất lượng, lúc đó mới có hy vọng áp dụng những yêu cầu về bảo quản trái cây của thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia… Đây là việc làm tưởng đơn giản mà lại quá khó khăn đối với sản phẩm trái cây tươi.
Hiện nay, cả nước có không nhiều doanh nghiệp lớn sẵn sàng đầu tư vào vùng nguyên liệu trái cây chất lượng, phục vụ cho xuất khẩu và chế biến trong nước. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp đi đầu như Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai, với tổng diện tích vùng nguyên liệu trái cây là 30.000ha, Công ty cổ phần Lavifood với tổng diện tích vùng nguyên liệu trái cây là 10.000ha, trong tương lai sẽ mở rộng lên 30.000ha.
Từ những doanh nghiệp đi đầu, ngành trái cây Việt Nam có thể xây dựng được vùng nguyên liệu chất lượng, vượt qua những rào cản về yêu cầu bảo quản trái cây của thị trường khó tính, đáp ứng các tiêu chí xuất khẩu hiện nay./.
Nhãn lồng Hưng Yên. (Nguồn: TTXVN)
Giải pháp phát triển trái cây thành ngành hàng chiến lược
Càng vươn ra thị trường thế giới, hợp tác thương mại với nhiều quốc gia khác, ngành sản xuất và xuất khẩu trái cây Việt càng đòi hỏi một chiến lược phát triển bền vững, một quy chuẩn chất lượng để vừa có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, vừa giữ vững vị trí tại thị trường nội địa.
Phát triển thành ngành hàng chiến lược
Trong định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trái cây được coi là một trong 9 ngành hàng chủ lực bên cạnh các ngành hàng thủy sản, lúa gạo, hạt điều, chế biến và xuất khẩu gỗ, đồ gỗ, cà phê, cao su, tiêu. Ngành hàng trái cây là một trong 3 thế mạnh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cũng là xu hướng chuyển đổi diện tích sản xuất của khu vực này.
Theo thống kê của Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giai đoạn từ 2015 đến tháng 8/2019, diện tích cây ăn trái của khu vực phía Nam đạt khoảng 600.000ha. Tổng sản lượng đạt 6,6 triệu tấn, chiếm 67% sản lượng trái cây của cả nước, trong đó có 14 loại cây ăn trái có diện tích trồng hơn 10.000ha như xoài, chuối, thanh long, sầu riêng, cam, bưởi, nhãn, dứa, chôm chôm, mít, bơ, mãng cầu…
Riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích sản xuất cây ăn trái đạt 350.000ha. Theo kế hoạch, diện tích cây ăn trái của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 sẽ tăng thêm 330.000ha, đạt 680.000ha.
Để có thể phát triển diện tích sản xuất này, Cục Trồng trọt cũng đã có kế hoạch phối hợp với ngành nông nghiệp các địa phương, Trung tâm khuyến nông các tỉnh thúc đẩy cải tạo các vườn tạp trái cây, dừa, đa dạng hóa hệ thống canh tác cây ăn trái, kết hợp trồng xen các loại cây ăn trái khác dưới tán như xoài xen xây cảnh, dừa xen ca cao…
Là địa phương điển hình trong phát triển ngành hàng trái cây, tỉnh Đồng Tháp đã có những giải pháp cụ thể trong việc thúc đẩy ngành hàng này.
Thu hoạch xoài cát chu rải vụ ở thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp). (Ảnh: Nguyễn Văn Trí/TTXVN)
Ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho biết tại Đồng Tháp, chuỗi giá trị các ngành hàng chủ lực như trái cây đã được hình thành và phát huy hiệu quả.
Cụ thể, năm 2018, giá trị sản xuất ngành hàng xoài Đồng Tháp ước đạt 1.630 tỷ đồng, tăng 65 tỷ đồng so với năm 2017. Đồng Tháp đã thực hiện liên kết tiêu thụ trong nước được 1.559 tấn xoài, xuất khẩu 74 tấn. Ngoài ra, tỉnh Đồng Tháp còn xây dựng thương hiệu và thúc đẩy phát triển trái quýt hồng Lai Vung, nhãn Ido Châu Thành…
Để xúc tiến quá trình này, tỉnh Đồng Tháp cũng đã tạo điều kiện cho các nhóm nông dân sản xuất cùng ngành hình thành nên các hội quán. Đây là tiền đề hình thành nên các hợp tác xã, tạo nền tảng cho mối liên kết chuỗi giá trị sau này.
Ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết để có thể chủ động thích ứng với những thay đổi của thị trường và điều kiện tự nhiên, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch dựa trên các biến động về nguồn nước, tính thích nghi về đất đai, phát triển bền vững thành 3 vùng. Đó là vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển, xoay trục chiến lược của ngành nông nghiệp thành thủy sản, trái cây và cuối cùng là lúa gạo.
Lô nhãn chín muộn được đưa vào chiếu xạ trước khi lên đường xuất sang Australia. (Ảnh: TTXVN)
Đẩy mạnh liên kết chuỗi
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội rau quả Việt Nam, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất cây ăn trái nhỏ lẻ, phân tán, gây khó khăn trong việc cơ giới hóa. Đồng thời, trái cây phục vụ cho chế biến, xuất khẩu, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu sang thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng do thị trường đặt ra như GlobalGAP… Tuy nhiên, diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế lại khiếm tốn, khoảng 10% diện tích của toàn vùng.
Hơn nữa, tiêu chí sản xuất khắt khe nhưng kênh kết nối giữa các đơn vị sản xuất trái cây theo tiêu chuẩn GlobalGAP với doanh nghiệp chế biến các sản phẩm đạt tiêu chuẩn này lại lỏng lẻo, chưa gặp nhau để có thể thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ. Số còn lại chạy theo số lượng, sản xuất dễ dãi nên khó thực hiện liên kết để cung ứng cho chế biến và xuất khẩu.
Do đó, ông Đặng Phúc Nguyên nhấn mạnh ngành trái cây muốn trở thành một ngành hàng chủ lực thì các kênh phải “gặp nhau” mới phát huy thế mạnh của từng bên. Trái cây chất lượng phát huy được giá trị, sản phẩm chất lượng tìm được doanh nghiệp phù hợp để thẳng bước ra thị trường, thay vì những hàng hóa chất lượng và doanh nghiệp đang cần lại “đi trên hai đường thẳng song song” như hiện nay.
Thêm vào đó, hiện nay cả nước có 150 nhà máy chế biến trái cây, trong đó, có 18 nhà máy chế biến sâu. Tuy nhiên, số lượng nhà máy có công suất lớn lại không nhiều. Dù vậy, sản lượng trái cây của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng chưa đáp ứng được hết công suất hoạt động của các nhà máy này.
Dây chuyền chế biến, sơ chế hoa quả xuất khẩu của Công ty Cổ phần Nafoods miền Nam. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện chỉ có 30% sản lượng trái cây được đưa vào chế biến, xuất khẩu, số còn lại chủ yếu xuất khẩu tươi và tiêu thụ trong nước. Khi được tiêu thụ tươi, thời gian bảo quản trái cây ngắn, làm tỷ lệ hao hụt cao và giảm giá trị mặt hàng.
Theo ông Nguyễn Như Hiến, Trưởng Phòng cây lâu năm, Văn phòng Cục trồng trọt phía Nam, ngành sản xuất và chế biến trái cây phải tổ chức lại sản xuất và liên kết, các doanh nghiệp cũng cần đổi mới công nghệ chế biến. Như vậy, mới phát huy hết hiệu quả của từng khâu như sản xuất giống, sản xuất trái cây tươi, chế biến và tiêu thụ.
Đó là chưa kể đến khâu xây dựng thương hiệu cho từng khâu và mở rộng thị trường cho các sản phẩm của ngành trái cây. Ngành nông nghiệp cũng đặt mục tiêu cho trái cây Việt Nam đến năm 2030 là tổ chức lại sản xuất 100% diện tích trái cây thành những vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn các quốc gia khó tính yêu cầu, truy xuất nguồn gốc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Đồng thời, bộ phận xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường trong nước có sự phối hợp chặt chẽ với tham tán thương mại các nước để tìm hiểu lịch thời vụ tại các nước sở tại. Từ đó, người sản xuất trong nước có thêm thông tin để điều chỉnh thời vụ sản xuất bằng giải pháp rải vụ, tránh sản xuất trùng lịch thời vụ của các nước, gây ra tình trạng thừa hàng, khó tiêu thụ, khó xuất khẩu.
Khi những mắt xích trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ trái cây được thực hiện tốt từng khâu, mối liên kết chuỗi hình thành và phát triển chặt chẽ, ngành hàng trái cây Việt Nam mới đi vào sản xuất và tiêu thụ ổn định, người sản xuất cũng có động lực đưa ngành trái cây đi lên./.
Vườn sầu riêng được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP. (Nguồn: TTXVN)