trường tồn

Lời tòa soạn

Trường Sa vùng đất thiêng liêng giữa biển trời mãi vững bền, mãi là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam
Trường Sa vùng đất thiêng liêng giữa biển trời mãi vững bền, mãi là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam

Trường Sa, vùng đất thiêng liêng giữa biển trời không chỉ là nơi đồn trú, bảo vệ hải phần của người lính biển qua hàng thế kỷ, mà đó còn là quê hương, nơi có bao em nhỏ cất tiếng khóc chào đời, nơi tình yêu lớn lên bằng niềm tự hào dân tộc Việt Nam.

Đầu tháng 5/2019, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam) cùng gần 200 đại biểu đến từ các cơ quan Trung ương và nhiều địa phương trên cả nước đã có chuyến hải trình vượt trùng khơi nối đất liền với đảo xa để thăm và động viên quân, dân huyện đảo Trường Sa và nhà giàn DK1 – những người đang ngày đêm vững chắc tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đến với Trường Sa, ít ai ngờ rằng, nơi đây mỗi năm có tới 131 ngày bão và mỗi tháng có từ 13 – 20 ngày gió mạnh. Nhưng dẫu có sóng to, gió lớn đến nhường nào thì sức sống vẫn luôn căng đầy ở nơi đầu sóng.

Từ đầu tới cuối hải trình đến với biển đảo Trường Sa, đâu đâu cũng hiện hữu hình ảnh kiên cường, hiên ngang của những cây phong ba, bão tố, bàng vuông… bất chấp sự hà khắc của thời tiết vẫn xanh tươi, vươn mình trong nắng gió mặn mòi. Đó cũng chính là hình ảnh biểu trưng cho những người lính đảo kiên cường bám trụ nơi đầu sóng để thực hiện ý nguyện cao cả, thiêng liêng “giữ yên biển đảo quê hương.”

Giữa trùng khơi của biển, hải trình đến với Trường Sa như vẫn còn in dấu cha ông từ thuở xa xưa đi mở mang bờ cõi, in dấu những con tàu với những chiến sỹ hải quân nhân dân anh hùng đi giải phóng quần đảo thân yêu, in dấu những người con đất Việt trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ biển đảo quê hương mình.

Bởi thế, trong cuộc sống thường nhật trên đảo, cán bộ, chiến sỹ Trường Sa không chỉ có lòng quả cảm kiên trung, vững vàng trong mọi thử thách trước giông bão, chủ động tăng gia sản xuất để cải thiện cuộc sống mà còn phải xác định nhiệm vụ cao cả bảo vệ chủ quyền, cảnh giác trước mọi diễn biến trên vùng biển đảo, trước mọi âm mưu của các thế lực thù địch. Trên dưới một lòng, giữ niềm tin tuyệt đối nơi hậu phương, sự khát khao cống hiến, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc.

Để hôm nay, Trường Sa căng đầy sức sống…!

Từ đầu tới cuối hải trình đến với biển đảo Trường Sa, đâu đâu cũng hiện ra một màu xanh biếc. Đó là xanh của sức sống, của niềm tin và hy vọng! (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Từ đầu tới cuối hải trình đến với biển đảo Trường Sa, đâu đâu cũng hiện ra một màu xanh biếc. Đó là xanh của sức sống, của niềm tin và hy vọng! (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Rau vẫn xanh, hoa vẫn nở…

trên đá giữa muôn trùng sóng nước

Không còn là những hòn đảo “cô đơn” giữa trùng khơi bởi sự khô khốc, nắng lửa mặn mòi; không phô trương “hoành tráng” như những hòn đảo nhân tạo “mọc lên” ở phía ngoài lãnh hải. Huyện đảo Trường Sa giờ đây đã trở thành điểm đến mong đợi nhất của mỗi người con đất Việt, được chạm vào “da thịt” của Tổ quốc mình.

Trên khắp đảo nổi, đảo chìm, từng đàn gà vịt kiếm ăn bên bờ biển, những vườn rau xanh mướt, đàn cá bơi tung tăng bên cầu cảng, những dãy cây bàng vuông, phong ba, bão táp cổ thụ ngát hương hoa tạo thành những “dải đê xanh” chắn sóng. Tất cả những hình ảnh bình yên ấy nhìn chẳng khắc gì bức tranh thôn quê đầy sức sống ở đất liền.

Cảng Cam Ranh một chiều đầu tháng 5, nắng pha lê trong vắt rải đều lên khắp mặt vịnh. Đúng 17 giờ, sau mấy hồi còi, tàu kiểm ngư KN 491 rẽ sóng vươn khơi chở gần 200 thành viên đoàn công tác số 9 đến với các đảo, điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1, để được thấy, chạm vào một phần “da thịt” của Tổ quốc mình.

Sau 36 giờ lênh đênh giữa biển cả bao la, vượt qua gần 300 hải lý, hầu hết mọi người đều cảm giác chống chếnh vì lần đầu trải qua một hành trình dài trên biển. Vậy nhưng, khi vừa thấy những khối nhà bê tông của đảo Đá Lớn (điểm đến đầu tiên của hải trình) hiện lên sừng sững giữa biển xanh bao la, vườn rau xanh ngát, lá cờ đỏ sao vàng hiên ngang tung bay giữa nắng gió mặn mòi, ai ai cũng vỡ òa hạnh phúc.

Đặt chân lên đảo, hình ảnh đầu tiên là cột mốc chủ quyền và người chiến sỹ hải quân rắn rỏi bồng súng đứng gác trang nghiêm. Xung quanh đảo là mênh mông biển nước. Doanh trại của các chiến sỹ chỉ là ngôi nhà được xây dựng trên nền đá san hô ngập nước, không sân, không vườn mhưng nhờ tình yêu và lòng quyết tâm của những người lính đảo mà nơi đâu cũng thấy rõ sự sống bất diệt. Trên đảo, các chiến sỹ vẫn tăng gia sản xuất, nuôi lợn gà. Rau vẫn xanh và hoa vẫn nở trên đá giữa muôn trùng sóng nước.

Nếu như trong đất liền, trồng rau là chuyện quá đỗi bình thường thì ở giữa biển cả mênh mông, nước ngọt “quý như vàng” thì việc có những vườn rau xanh tốt tươi quanh năm trên đảo quả thật là chuyện phi thường.
Nếu như trong đất liền, trồng rau là chuyện quá đỗi bình thường thì ở giữa biển cả mênh mông, nước ngọt “quý như vàng” thì việc có những vườn rau xanh tốt tươi quanh năm trên đảo quả thật là chuyện phi thường.

Những khối nhà bê tông của đảo Đá Lớn (điểm đến đầu tiên của hải trình) hiện lên sừng sững giữa biển xanh bao la, vườn rau xanh ngát, lá cờ đỏ sao vàng hiên ngang tung bay giữa nắng gió mặn mòi

Trong điều kiện xa đất liền, còn đó bao khó khăn, gian lao, những hy sinh mà ở đất liền khó có thể hình dung đầy đủ, thì ở nơi đây, những người lính Trường Sa quyết không đầu hàng sự khắc nghiệt. Hàng ngày, ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, họ tận dụng từng khoảng trống, chắt chiu giọt nước ngọt, dành thời gian chăm trồng các loại rau xanh (như rau muống, mồng tơi, bầu đất, cải), nuôi gia cầm, gia súc, đánh bắt cá, tự túc một phần thực phẩm tươi sống.

Một chiến sỹ bảo rằng, để đỡ nhớ nhà, nhiều người còn mang theo cả những giống cây quen thuộc của từng vùng quê ra trồng. Mỗi mầm cây sống là một niềm vui lớn, hy vọng cho đảo thêm xanh.

Nếu như trong đất liền, trồng rau là chuyện quá đỗi bình thường thì ở giữa biển cả mênh mông chỉ có cát biển, nắng, gió và san hô, nước ngọt “quý như vàng” thì việc có những vườn rau xanh tốt tươi quanh năm trên đảo (nhất là ở những đảo chìm) quả thật là chuyện phi thường.

Thực tế, để có được màu xanh của rau tươi trên đảo chỉ có cát và san hô, cách trồng rau cũng mang đặc trưng riêng khác nhau tùy theo yếu tố “chìm,” “nổi” của từng đảo. Nếu như ở các đảo nổi Trường Sa Ðông, An Bang, rau được trồng trong những khu vườn nhỏ và phải được chăm sóc tỉ mỉ, che chắn cẩn thật để tránh gió, bão, sóng biển cùng hơi nước mặn thổi vào thì tại các đảo chìm Thuyền Chài, Đá Lát, Đá Tây, Đá Đông,… muốn có rau xanh, lính đảo lại phải trồng ở trong từng khay nhựa và chậu đá, đặt ở trong phòng và trên nóc nhà.

Trong điều kiện ở đảo gặp nhiều khó khăn, việc trồng rau được chăm sóc cực kỳ công phu.
Trong điều kiện ở đảo gặp nhiều khó khăn, việc trồng rau được chăm sóc cực kỳ công phu.

Theo anh Nguyễn Hồng Tiến, Chính trị viên đảo An Bang, trong điều kiện ở đảo gặp nhiều khó khăn, việc trồng rau phải được chăm sóc cực kỳ công phu vì đất, phân vi sinh, giống cây, rau được chở ra từ đất liền ra. Nước ngọt trên đảo rất hiếm, nước mưa hứng được dự trữ trong các bể, thùng phuy để dành cho ăn uống…

Vượt qua khó khăn, những người lính Trường Sa trên đảo An Bang đã nghĩ cách tái sử dụng lại nước ngọt để tưới rau. Không những vậy, để rau luôn tươi xanh, họ phải thường xuyên theo dõi khí hậu thời tiết trên biển, khi nào có gió mùa thì tổ chức che chắn, hết gió lại mang ra phơi nắng cho rau có đủ lượng ánh sáng mặt trời, để lá to mà không bị hư hỏng.

Để đỡ nhớ nhà, nhiều người còn mang theo cả những giống cây quen thuộc của từng vùng quê ra trồng. Mỗi mầm cây sống là một niềm vui lớn, hy vọng cho đảo thêm xanh.

“Ở Trường Sa quanh năm nắng chói chang, thế nhưng lại là nơi trồng rau xanh rất tốt, có những chiếc lá mồng tơi còn to bằng bàn tay. Chỉ tính riêng năm 2018, đảo đã thu hoạch được hơn 6 tấn rau xanh, qua đó đảm bảo bộ đội trên đảo luôn được ăn rau xanh 3 bữa mỗi ngày,” anh Nguyễn Hồng Tiến phấn khởi nói.

Đó cũng là lý do mà sau khi nghe báo cáo của đảo An Bang, ông Nguyễn Khắc Hà, Vụ trưởng Vụ Thi đua-Khen thưởng các Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương (Ban Thi đua khen thưởng Trung ương) đã khẳng định “đây là kết quả mà một số vùng trong đất liền phải học tập.”

Ông Hà cũng cho rằng việc thi đua khen thưởng tại đảo An Bang rất thiết thực. Đơn cử như việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tại đảo có những hành động rất thiết thực như thi đua trồng rau, nuôi lợn, chăn gà và cho những kết quả ý nghĩa. Ở đây có thể thấy một điều rất rõ, các chiến sỹ rất lạc quan, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, của Quân chủng, xứng danh bộ đội cụ Hồ-Chiến sỹ Trường Sa.

Để có được màu xanh của rau tươi trên đảo chỉ có cát và san hô, cách trồng rau cũng mang đặc trưng riêng khác nhau tùy theo yếu tố “chìm,” “nổi” của từng đảo.
Để có được màu xanh của rau tươi trên đảo chỉ có cát và san hô, cách trồng rau cũng mang đặc trưng riêng khác nhau tùy theo yếu tố “chìm,” “nổi” của từng đảo.

Trong suốt hải trình gần 9 ngày đến với Trường Sa, đi qua 10 điểm đảo và Nhà giàn DK1 (Phúc Tần) ở thềm lục địa phía Nam, ấn tượng để lại sâu sắc nhất với người viết là đảo Trường Sa lớn, nơi được xem là “thủ đô” của quần đảo. Nơi đây, màu xanh của cây lá, đặc biệt là những hàng cây bàng vuông trĩu quả bao trùm khắp mọi nơi của đảo như một bức tranh tuyệt đẹp với màu quê hương giữa bốn bề nước biếc.

Ngay khi tàu cập cảng “thủ đô Trường Sa,” đoàn công tác đã được cán bộ, chiến sỹ cùng nhân dân, đặc biệt là các cháu nhỏ hân hoan ra chào đón, cờ đỏ sao vàng phấp phới trong tay. Trường Sa cũng là điểm dừng chân lâu nhất, do đó ngoài thời gian gặp gỡ và tặng qùa cho các cán bộ chiến sỹ, nói chuyện với các hộ gia đình, thăm trường học, chúng tôi còn có thời gian dạo quanh đảo, thăm những vườn rau xanh, đi dưới những dãy cây bằng vuông xanh ngút ngàn. Đây là loại bàng có quả hình vuông 4 cạnh, khi chín quả bàng vuông có màu tím.

Hiện nay, cây bàng vuông có ở nhiều đảo nổi của quần đảo Trường Sa. Trong đó, nhiều cây bàng vuông ở Trường Sa đã được Hội đồng Cây di sản Việt Nam (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam) công nhận là cây di sản với 8 nhánh. Có một điều lý thú khác của những loại cây này là mặc dù sống trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng luôn trổ hoa và tỏa hương dịu nhẹ về đêm như một đặc ân của thiên nhiên ban tặng cho vùng biển, đảo Trường Sa thân yêu.

Hàng ngày, ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, các chiến sỹ còn chắt chiu từng giọt nước ngọt để chăm trồng các loại rau xanh, qua đó đảm bảo bộ đội trên đảo luôn được ăn rau xanh 3 bữa mỗi ngày.
Hàng ngày, ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, các chiến sỹ còn chắt chiu từng giọt nước ngọt để chăm trồng các loại rau xanh, qua đó đảm bảo bộ đội trên đảo luôn được ăn rau xanh 3 bữa mỗi ngày.

Đặt chân lên đảo, chạm vào “da thịt” Trường Sa mới thấy, nếu như ở đất liền, không khí mát mẻ của những cơn mưa bất chợt trút xuống giữa mùa hè oi bức, thì giữa biển trời Trường Sa, chỉ là nắng gắt và gió biển mặn chát. Chính vì thế, việc trồng “dải đê xanh” ngăn gió biển, tạo bóng mát luôn được các đảo quan tâm. Nhiều đảo còn lấy chỉ tiêu trồng cây xanh hàng năm để đưa vào công tác thi đua.

Ngoài “cây đặc sản” là cây bàng vuông, phong ba, bão táp, ở trên đảo còn có những loại cây được mang từ đất liền ra trồng như cây me, xoài, mít, chanh, ổi, đủ đủ, mù u và dừa. Trong đó, đặc biệt ấn tượng là cây mù u đã trở thành cây di sản với tuổi đời hơn 125 năm.

Chạm vào “da thịt” Trường Sa mới thấy, nếu như ở đất liền, không khí mát mẻ của những cơn mưa bất chợt trút xuống giữa mùa hè oi bức, thì giữa biển trời Trường Sa, chỉ là nắng gắt và gió biển mặn chát. 

Giữa cái nắng khắc nghiệt của Trường Sa, màu xanh của những luống rau đã góp phần làm mát dịu không khí oi nồng của biển đảo. Ngoài vườn rau muống, mùng tơi, rau cải tốt tươi thì những vườn rau ở đảo Trường Sa lớn còn có cả rau thơm, tỏi, hành, đinh lăng, ớt cay và một số loại rau củ quả khác.

Chỉ tay vào rặng tre xanh tốt, Phó Chỉ huy trưởng đảo Trường Sa Ðinh Trọng Thắm bảo rằng, mới đầu ở đây chỉ có vài cây tre do chiến sỹ mang từ đất liền ra trồng. Sau đó, tre đã được nhân rộng dần ra thành từng bụi lớn ở nhiều góc của đảo. Những bụi tre được trồng ở đây không chỉ tạo bóng mát, lấy lá cho bò ăn, thân tre dùng để đan lát, măng tre thêm nguồn thực phẩm để cải thiện bữa ăn hằng ngày../.

Giữa cái nắng khắc nghiệt của Trường Sa, màu xanh của những luống rau đã góp phần làm mát dịu không khí oi nồng của biển đảo.
Giữa cái nắng khắc nghiệt của Trường Sa, màu xanh của những luống rau đã góp phần làm mát dịu không khí oi nồng của biển đảo.

‘Bầu sữa quý’

giữa trùng khơi giúp Trường Sa ‘thay da đổi thịt’

Không chỉ có hồ, bể tích trữ nước mưa, hệ thống máy lọc nước biển thành nước ngọt, một số đảo lớn ở quần đảo Trường Sa còn khơi được những giếng nước trong veo, thân thuộc như những giếng làng quê đầy sức sống ở đất liền…

Không phải thời kỳ đầu những người lính hải quân Lữ đoàn 125 ra giải phóng Trường Sa mới “khát” nước ngọt, mà ngay cả bây giờ, nước ngọt vẫn là “hàng hiếm.” Không chỉ đảo chìm, mà ngay cả đảo nổi như Trường Sa lớn, Nam Yết, Song Tử Tây, nước ngọt cũng hạn chế vào mỗi mùa khô.

Trong bối cảnh điều kiện thời tiết khắc nghiệt, những người lính trường sa trên các điểm đảo và các nhà giàn luôn phải chắt chiu từng giọt nước ngọt. Dẫu vậy, nguồn nước tại “quần đảo bão tố” này vẫn luôn đảm bảo cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, và công việc tăng gia sản xuất hàng ngày.

Chia sẻ về cách sử dụng nước tiết kiệm trên, Đại úy Hoàng Thế Anh, Chính trị viên đảo Thuyền Chài B chia sẻ: “Vào mùa khô, mỗi chiến sỹ chỉ có 12 lít/ngày cho mọi sinh hoạt, từ đánh răng, rửa mặt, đến tắm, giặt. Vì thế, khi nấu cơm, các chiến sỹ thường rửa rau, củ, quả bằng nước biển rồi sau cùng mới dùng nước ngọt để tráng. Nước tráng này được dùng để vo gạo, nước vo gạo lại dùng để tưới rau.”

Trong bối cảnh điều kiện thời tiết khắc nghiệt, những người lính trường sa trên các điểm đảo và các nhà giàn luôn phải chắt chiu từng giọt nước ngọt.
Trong bối cảnh điều kiện thời tiết khắc nghiệt, những người lính trường sa trên các điểm đảo và các nhà giàn luôn phải chắt chiu từng giọt nước ngọt.

Với quy trình sử dụng nước “3 trong 1” trên, nguồn nước ngọt trên đảo Thuyền Chài B không những được tận dụng tối đa, mà còn giúp rau xanh phát triển tốt tươi.

Cũng như đảo Thuyền Chài B, tại các đảo chìm khác như Tốc Tan C, Đá Tây A hay Đá Lớn B,… nguồn nước ngọt từ nước mưa, nước lợ lọc từ nước biển cũng được các cán bộ, chiến sỹ khai thác, đảm bảo không thiếu nước. Chỉ cần nhìn vào những “vườn rau thanh niên,” những góc sân đầy màu xanh của cây lá, cũng dễ dàng hình dung các chiến sỹ đã tận dụng và sử dụng nước ngọt hiệu quả thế nào.

Thượng tá Lương Quốc Anh, Phó tham mưu trưởng, Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân cho biết, trước đây, khi chưa có hệ thống máy lọc nước ngọt và bể chứa nước mưa, lượng nước ngọt trên đảo rất hiếm, chủ yếu được cung cấp từ đất liền và từ nước mưa. Thế nên các đảo phải dùng mọi cách để thu nhận và dự trữ nước mưa. Mùa nắng gắt, bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ chỉ được sử dụng khoảng 6 lít/ngày.

Tuy nhiên, từ năm 2014, nguồn nước ngọt trên các điểm đảo và nhà giàn đã dần được cải thiện. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngoài hệ thống bể chứa nước dự trữ, một số đảo còn được trang bị hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt. Thiết bị này được đầu tư lắp đặt và đưa vào sử dụng khá hiệu quả. Từ nguồn nước đầu vào (nước biển) và đầu ra (nước ngọt) đều được kiểm tra, giám sát chặt chẽ.

Hiện nay, mỗi giờ, thiết bị lọc nước biển trên có thể lọc được trên dưới 50 lít nước ngọt, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và phục vụ nhu cầu tưới tiêu, tăng gia sản xuất ở trên đảo. Quan trọng hơn là, việc cải thiện nguồn nước này đã giúp cán bộ, chiến sỹ yên tâm công tác, chủ động hoàn thành nhiệm vụ của bản thân và của đảo.

Mùa nắng gắt, bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ chỉ được sử dụng khoảng 6 lít/ngày.
Mùa nắng gắt, bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ chỉ được sử dụng khoảng 6 lít/ngày.

Đơn cử như tại đảo Sinh Tồn Đông, nếu như trước đây, thiếu nước ngọt là chuyện xảy ra thường xuyên “như cơm bữa,” thì nay với sự chung tay của đất liền, máy lọc nước biển thành nước ngọt được vận chuyển ra lắp đặt, đã đáp ứng đủ nguồn nước ngọt phục vụ nhu cầu sử dụng của cán bộ, chiến sỹ trên đảo.

Nhờ có nước ngọt, cây cối, rau xanh trên đảo cũng phát triển tốt tươi hơn. Minh chứng là, chỉ trong năm 2018, đảo Sinh Tồn Đông đã sản xuất được hơn 6 tấn rau xanh các loại, đảm bảo tiêu chuẩn rau ăn 3 bữa cho các cán bộ, chiến sỹ trên đảo. Đồng thời đảm bảo nguồn nước để nuôi lợn, chăn gà vịt, tăng gia sản xuất.

Đến nay, máy lọc nước biển thành nước ngọt đã được lắp đặt ở hầu hết các điểm đảo. Nước sạch sau khi được sử dụng sẽ thẩm thấu vào đất tạo nguồn nước ngầm, giúp cho cây cối trên đảo phát triển tốt tươi, tạo nên màu xanh giữa lòng biển khơi. Nhờ nguồn nước ngọt này, các đảo còn có điều kiện hỗ trợ nước cho các tàu bè và ngư dân đánh bắt cá trên quần đảo Trường Sa mỗi khi thiếu nước…

Đảo Sinh Tồn Đông đã sản xuất được hơn 6 tấn rau xanh các loại, đảm bảo tiêu chuẩn rau ăn 3 bữa cho các cán bộ, chiến sỹ trên đảo. Đồng thời đảm bảo nguồn nước để nuôi lợn, chăn gà vịt, tăng gia sản xuất.

Trong đoàn công tác số 9 ra thăm quần đảo Trường Sa lần này, có một người lính đặc biệt. Ông từng là Phó Chỉ huy trưởng rồi Chỉ huy trưởng đảo Đá Nam. 25 năm trước, ông chia tay Trường Sa về đất liền sau 2 năm công tác. Người lính ấy hiện là Đại tá Dương Minh Hiền, Phó chỉ huy trưởng, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.

Trở về đất liền, ông Hiền vẫn luôn mong muốn được trở lại thăm Trường Sa, nơi ông xem như ngôi nhà thứ 2. Nhớ lại năm tháng ở trên đảo, ông Hiền chia sẻ: “Tôi nhớ như in cơn bão quét qua đảo năm 1992, toàn bộ nước ngọt bị cuốn đi. Để có nước sinh hoạt, chúng tôi tự chế bình chưng cất nước biển với một nồi quân y, một chiếc vòi của mặt nạ phòng chống độc và một can nhựa lớn. Nhờ vậy mà chúng tôi đã bám biển cho đến khi được hỗ trợ từ đơn vị.”

Nhấp ngụm nước lọc ngay trên đảo Thuyền Chài B, một trong những đảo chìm ở quần đảo Trường Sa, Chỉ huy trưởng đảo Đá Nam năm xưa nở nụ cười giòn tan: “Giờ thì các đảo, kể cả đổi nổi, đảo chìm đã không còn phải lo xa nước ngọt nữa rồi. Không những thế, các đảo còn hỗ trợ được nước ngọt cho ngư dân trên biển.”

Dẫu điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nguồn nước tại các điểm đảo Trường Sa vẫn luôn đảm bảo cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, và công việc tăng gia sản xuất hàng ngày.
Dẫu điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nguồn nước tại các điểm đảo Trường Sa vẫn luôn đảm bảo cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, và công việc tăng gia sản xuất hàng ngày.

Không chỉ xây dựng những bể chứa nước dung tích lớn để thu giữ nước mưa, lắp đặt máy lọc nước biển thành nước ngọt, một số đảo ở quần đảo Trường Sa còn khơi được những giếng nước bình dị, thân thuộc như ở đất liền, đảm bảo nguồn nước ngọt phục vụ đời sống sinh hoạt và tăng gia sản xuất của quân, dân trên đảo.

Dạo bước theo các con đường dưới những tán lá bàng vuông, phong ba, bão tố quanh đảo Trường Sa lớn trong một buổi chiều nắng biển mặn mòi, những vị khách từ đất liền lần đầu ra thăm không khỏi khỏi ngỡ ngàng trước cảnh lũ trẻ nô đùa trong những chậu nước trong veo vừa múc từ giếng lên tắm gội… Dân đảo lấy nước tưới từ giếng những luống rau tốt tươi trong vườn nhà.

Câu chuyện đào giếng khơi dòng ở đảo Trường Sa lớn vào năm 1988 được ông Nguyễn Viết Nhất kể lại với phóng viên báo chí chẳng khác gì “thước phim lịch sử” tái hiện những ngày tháng khó khăn. Hồi đó, ông Nhất mang quân hàm Trung úy, Phó đại đội trưởng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 881, Trung đoàn 131 Công binh Hải quân. Ông vừa là cán bộ quản lý, vừa trực tiếp tham gia đào giếng tại đảo.

Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngoài hệ thống bể chứa nước dự trữ, một số đảo còn được trang bị hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt.
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, ngoài hệ thống bể chứa nước dự trữ, một số đảo còn được trang bị hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt.

“Trường Sa hồi đó thiếu thốn đủ bề. Để sinh tồn, những người lính công binh Hải quân quanh năm phải vật lộn với nắng gió, cấp bách xây đảo. Nước ngọt được chở từ đất liền ra chủ yếu để xây dựng công trình. Còn anh em chúng tôi, mỗi tuần tắm một lần, mỗi người mỗi ngày một lít nước cho mọi sinh hoạt,” ông Nhất nhớ lại.

Cứ thiếu nước thế này sẽ không ổn. Vậy lấy đâu ra nước ngọt cho sinh hoạt bây giờ? Có nên đào giếng không? Liệu đào rồi, nước giếng sẽ mặn hay ngọt khi quanh đảo đâu đâu cũng mặn chát? Mà không thử sao biết có hay không. Cứ đào cái đã!

Nói là làm. Những ngày sau đó, ông Nhất cùng đồng đội ban ngày làm nhiệm vụ, đêm xuống lại tranh thủ đào xuyên qua những lớp đá cứng trong điều kiện thiếu thốn tưởng như khó có thể vượt qua. Quyết không bỏ cuộc, sau một thời gian dùng búa chim bổ xuống mặt đảo, dòng nước đầu tiên cũng được khơi nguồn.

Đầu tháng 2/1988, những người lính đảo vỡ òa hạnh phúc khi nhìn thấy trong lòng giếng có nước, cách mặt đảo 3 mét. Họ vừa vỗ tay vừa đồng thanh hô “có nước ngọt rồi, có nước ngọt rồi.” Một số chiến sỹ chạy về doanh trại lấy xô nhôm, buộc dây thừng thả xuống múc nước…

Nhưng điều kỳ diệu đã không xảy ra. Nỗi buồn lộ rõ trên khuôn mặt của những chàng lính trẻ khi biết đó là nước lợ, không thể nào uống được.

“Không uống được thì để dùng xây đảo. Nghĩ vậy, ngày hôm sau, chúng tôi múc nước giếng lên trộn hồ, nhưng vì nước lợ nên hồ trộn không nhuyễn. Khi xây thử nghiệm, tường vẫn đứng vững, nhưng hôm sau thì ngả màu trắng và bong từng lớp hồ do muối mặn,” ông Nhất thẫn thờ nói.

Biết không thể xây công trình, từ đó chiến sỹ trên đảo đã sử dụng nước giếng để tắm giặt, tưới cây. Sau những giờ thao luyện, họ lại ra giếng dội nước lên người. Chính những xô nước lợ ấy đã giúp họ yên tâm bám đảo, bảo vệ chủ quyền biển đảo Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.

Sau những giờ thao luyện, họ lại ra giếng dội nước lên người. Chính những xô nước lợ ấy đã giúp họ yên tâm bám đảo, bảo vệ chủ quyền biển đảo Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.

“Bạn thử nghĩ xem, nếu không có nước giếng này, trong khi hơn nửa năm rồi trời không đổ một cơn mưa thì nơi đây cây cối có thể tốt tươi được thế này không. Nói điều này để thấy, giếng nước đã góp phần tăng thêm ‘sức sống’ cho cây lá, cũng như làm mát dịu hơn cho đảo,” Phó Chỉ huy trưởng đảo Trường Sa Ðinh Trọng Thắm chia sẻ.

Theo lời ông Thắm, đối với người dân và cán bộ, chiến sỹ trên đảo, giếng nước ngọt giống như một bầu sữa quý giá giữa trùng khơi. Trong điều kiện nguồn nước gặp nhiều khó khăn, chính nước giếng này đã góp phần “nuôi lớn” những hàng cây bàng vuông, phong ba, bão táp và nhiều loại cây ăn trái được mang từ đất liền ra chăm sóc.

Nhờ có nguồn nước tưới cây, từ năm 2018 đến nay, đảo Trường Sa lớn đã trồng thêm được 1.547 cây bóng mát; rau muống biển phủ xanh 107.000m2 đất trống…

Hiện nay, toàn quần đảo Trường Sa có 3 đảo lớn là Song Tử Tây, Nam Yết, Trường Sa lớn có giếng. Những giếng nước được khơi dòng gần 30 năm trước đến nay đã được cải thiện, giúp những hàng cây trải dài khắp các đảo lớn, đảo nhỏ ở Trường Sa có một màu xanh đầy sức sống như những làng quê ở đất liền.

“Ở đây nước ngọt luôn là thứ hàng hiếm, cần nhất. Không thể tưởng tượng được cuộc sống của người dân và cán bộ, chiến sỹ trên đảo sẽ như thế nào nếu không có giếng nước ngọt này,” chị Nguyễn Thị Phương Dung, một hộ dân ở trên đảo Trường Sa lớn, ưu ái dành chữ “nước ngọt” cho giếng nước lợ đào giữa trùng khơi.

Nhờ có nguồn nước tưới cây, từ năm 2018 đến nay, đảo Trường Sa lớn đã trồng thêm được 1.547 cây bóng mát; rau muống biển phủ xanh 107.000m2 đất trống.
Nhờ có nguồn nước tưới cây, từ năm 2018 đến nay, đảo Trường Sa lớn đã trồng thêm được 1.547 cây bóng mát; rau muống biển phủ xanh 107.000m2 đất trống.

Thắp sáng ‘quần đảo bão tố’

bằng năng lượng sạch

Ít ai biết rằng, để có những “vườn rau thanh niên,” từng khối nước ngọt hay những hàng cây bàng vuông, phong ba xanh tốt tươi trên khắp “quần đảo bão tố,” một phần là nhờ có mạng lưới điện dùng để vận hành hệ thống máy lọc nước biển thành nước ngọt, giúp quân và dân trên đảo sử dụng vào hoạt động tăng gia sản xuất, tưới tiêu, tô thêm màu xanh, sức sống cho biển đảo Trường Sa thân yêu.

Đến nay, giữa trùng khơi, điện mặt trời và điện gió đã thắp sáng 33 điểm đảo và Nhà giàn ở quần đảo Trường Sa, qua đó cung cấp tới 90% nhu cầu sử dụng điện cho hoạt động an ninh quốc phòng và sinh hoạt trên vùng biển, đảo quê hương.

Trường Sa mùa biển lặng, bầu trời xanh vời vợi. Biển thân thiện đến lạ kỳ. Bao quanh là bãi cát trắng dài mềm mại nối với biển khơi xanh thẳm. Nơi đây, quanh năm nắng gió thất thường với vô số những điều kỳ thú. Nhưng chính sự hoang sơ của tự nhiên như năng lượng gió, bức xạ mặt trời là điều kiện lý tưởng để nơi đây đầu tư hệ thống năng lượng sạch quy mô, đồng bộ.

Ngay khi bước lên đảo Trường Sa lớn, người viết vô cùng ấn tượng trước những hàng cột quạt gió cao ngạo nghễ quay tít. Đâu đâu trên những mái nhà ngói đỏ cũng được phủ thêm một màu xanh bóng nhoáng của tấm pin mặt trời để khai thác tối đa nguồn năng lượng sạch từ Mẹ thiên nhiên.

Chia sẻ về việc khai thác và sử dụng nguồn điện sạch trên đảo, Thượng tá Đinh Trọng Thắm, Phó Chỉ huy trưởng đảo Trường Sa lớn cho biết, những năm trước đây, nguồn điện ở Trường Sa là bài toán nan giải.

Cột quạt gió khai thác nguồn năng lượng sạch từ Mẹ thiên nhiên.
Cột quạt gió khai thác nguồn năng lượng sạch từ Mẹ thiên nhiên.

Toàn đảo hiện có hàng chục tua-bin năng lượng gió và hàng trăm tấm pin năng lượng mặt trời, trung bình mỗi giờ gom được hơn 130 KW điện. Nhờ đó, sau 10 năm kể từ khi lắp hệ thống điện, Trường Sa lớn luôn rực sáng ánh đèn.

“Những năm đầu mới giải phóng, điện trên đảo chỉ đủ để sử dụng trong khoảng thời gian từ 1-2 tiếng đồng hồ. Phần lớn nguồn điện này được mang từ đất liền ra bằng những bình ắc-quy tích trữ điện hay phát bằng máy nổ chạy dầu diesel nên vừa tốn kém vừa ô nhiễm,” Thượng tá Thắm chia sẻ.

Nhấp ngụm trà đặc quánh vừa pha mời khách, Phó Chỉ huy trưởng đảo Trường Sa lớn nở nụ cười giòn tan nói: “Giờ thì đảo gần như được cấp điện 24/24 giờ từ nguồn năng lượng gió và mặt trời. Đảo được thắp sáng mỗi đêm, các chiến sỹ được xem thời sự, được nghe đài đều đặn. Điện được sử dụng cho mọi sinh hoạt hàng ngày. Nhiều sinh hoạt tập thể của người dân, cán bộ chiến sỹ, cũng như công tác khám chữa bệnh, dạy học trên đảo đã thuận tiện hơn rất nhiều.”

Theo lời Thượng tá Thắm, sở dĩ nguồn điện sạch trên đảo hiện đã được sử dụng 24/24 giờ là bởi toàn đảo hiện có hàng chục tua-bin năng lượng gió và hàng trăm tấm pin năng lượng mặt trời, trung bình mỗi giờ gom được hơn 130 KW điện. Nhờ đó, sau 10 năm kể từ khi lắp hệ thống điện, Trường Sa lớn luôn rực sáng ánh đèn.

Là cư dân trên đảo Trường Sa lớn, anh Lâm Ngọc Huynh chia sẻ, từ ngày ra sinh sống tại đảo, gia đình anh luôn được bảo đảm đầy đủ nguồn điện thắp sáng và sinh hoạt hàng ngày. Các cháu có đèn để học, được xem tivi, tham gia các hoạt động cộng đồng vào các buổi tối để chia sẻ, gắn bó nghĩa tình quân, dân.

Trên khắp các đảo, những cột quạt gió gắn tua-bin năng lượng cùng tấm pin mặt trời được lắp đặt kiên cố.
Trên khắp các đảo, những cột quạt gió gắn tua-bin năng lượng cùng tấm pin mặt trời được lắp đặt kiên cố.

Đảo được thắp sáng mỗi đêm, các chiến sỹ được xem thời sự, được nghe đài đều đặn. Điện được sử dụng cho mọi sinh hoạt hàng ngày…”

“Sau nhiều năm gắn bó, tôi thấy cuộc sống ở đây cơ bản đầy đủ, không khác ở đất liền nhiều. Cũng nhờ sự quan tâm, hỗ trợ đầy đủ về đời sống vật chất lẫn tinh thần của đất liền và cán bộ chiến sỹ ở nơi đầu sóng ngọn gió này đã giúp người dân chúng tôi vững tin và sống có trách nhiệm hơn,” anh Huynh phấn khởi nói.

Không chỉ đảo nổi mới không còn “lo xa” nguồn điện, mà hầu hết các đảo chìm, nhất là đảo nhỏ, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa hình khó khăn như Thuyền Chài B, Tốc Tan C, Đá Lớn B… hệ thống năng lượng sạch cũng được khai thác hiệu quả. Trên khắp các đảo, những cột quạt gió gắn tua-bin năng lượng cùng tấm pin mặt trời được lắp đặt kiên cố, phủ kín trên từng mái nhà, doanh trại của bộ đội.

Ấn tượng nhất là đảo Đá Lớn B. Trên đảo có hệ thống tua-bin gió hiện đại, cao hàng chục mét, cánh quạt dài đến vài mét, sơn màu trắng rất bắt mắt. Các tua-bin được bố trí xây dựng xung quanh doanh trại đón gió nhiều hướng để biến thành điện năng. Trên mái nhà, những tấm pin mặt trời cũng được lắp đặt kiên cố kết nối với “trạm năng lượng” để tạo thành lưới điện chung cung cấp cho đảo.

Theo Thượng úy Hoàng Văn Cảnh, Chỉ huy trưởng điểm B đảo Đá Lớn, trước đây, khi chưa có hệ thống điện sạch từ năng lượng gió và pin mặt trời, cuộc sống, sinh hoạt của anh em chiến sỹ trên đảo rất vất vả, vừa thiếu điện lại thiếu nước. Cán bộ, chiến sỹ luôn được quán triệt phải sử dụng tiết kiệm. Điện thì chủ yếu sử dụng máy nổ nhưng rất hạn chế, vì thế các hoạt động trên đảo bị ảnh hưởng rất lớn.

Đến nay, hầu hết các đảo đã được cấp điện 24/24 giờ từ nguồn năng lượng gió và mặt trời.
Đến nay, hầu hết các đảo đã được cấp điện 24/24 giờ từ nguồn năng lượng gió và mặt trời.

“Nhờ có hệ thống điện khai thác từ nguồn năng lượng sạch và ăng ten tiếp sóng truyền hình, các chiến sỹ đã được theo dõi và cổ vũ trận thi đấu của đội tuyển U23 Việt Nam, cùng hòa chung niềm vui chiến thắng và lòng tự hào dân tộc với cả nước.”

Tuy nhiên, những năm gần đây, từ khi chủ động được nguồn điện sạch khai thác ngay ở trên đảo, cuộc sống của cán bộ, chiến sỹ đã được cải thiện rõ rệt. Bộ đội được xem tivi, nghe nhạc. Ban đêm, khi trời không có gió, vẫn có quạt điện để quạt mát nhờ các bình ắc-quy tích điện ban ngày. Ngoài ra, nguồn điện này còn giúp máy lọc nước biển thành nước ngọt để cung cấp nước sinh hoạt cho cho đảo.

Nhớ lại thời điểm giải bóng đá vô địch U23 châu Á năm ngoái, Thượng úy Cảnh chia sẻ: “Nhờ có hệ thống điện khai thác từ nguồn năng lượng sạch và ăng ten tiếp sóng truyền hình, các chiến sỹ đã được theo dõi và cổ vũ trận thi đấu của đội tuyển U23 Việt Nam, cùng hòa chung niềm vui chiến thắng và lòng tự hào dân tộc với cả nước.”

Chỉ huy trưởng điểm B đảo Đá Lớn cũng lưu ý, tuy các bình ắc-quy dùng để tích trữ điện có tuổi thọ trung bình chỉ khoảng gần 4 năm nhưng do thường xuyên được quan tâm bảo dưỡng, thay mới nên việc cung ứng điện không gặp trục trặc gì. Vào mùa không có gió thì điện hạn chế hơn nhưng riêng việc cấp điện cho các phụ tải liên quan đến máy móc, thiết bị cần thiết phải vận hành thì luôn được đáp ứng.

Trường Sa giờ đây đã thực sự “thay da đổi thịt,” là “quần đảo ánh sáng” được tạo ra từ nguồn năng lượng sạch bằng tua-bin gió và pin mặt trời.

Vậy nhưng, đi dưới những hàng quạt gió cao ngạo nghễ quay tít, những mái nhà phủ kín tấm pin mặt trời trong xanh như màu đại dương ấy, là những trăn trở, những nỗ lực không ngừng nghỉ của những “người lính” làm nhiệm vụ bảo dưỡng thiết bị. Ngay cả trong mùa mưa bão, họ cũng luôn phải có mặt để khắc phục sự cố, đảm bảo các điểm đảo không bị “tắt” nguồn sáng, ảnh hưởng đến nhiệm vụ.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus trong hải trình ra thăm Trường Sa, anh Đinh Trịnh Hoài Trung, nhân viên văn phòng Công ty điện lực Ninh Thuận (Tổng công ty điện lực miền Nam), cho biết anh được phân công ra Trường Sa để làm nhiệm vụ quản lý hệ thống, cũng như triển khai kiểm tra, sửa chữa mạng lưới điện trên các điểm đảo và nhà giàn sau khi điện mặt trời, điện gió được vận hành.

Để kịp thời khắc phục hệ thống lưới điện trên toàn quần đảo, mỗi năm chúng tôi phải luân phiên thay nhau đi 2-3 lần quanh các điểm đảo và nhà giàn, mỗi lần đi mất vài ba tháng. Dịp đầu năm, biển lặng nên anh em đi các điểm đảo bảo dưỡng, sửa chữa khá thuận lợi. Tuy nhiên, vào mùa mưa bão thì việc đi lại rất khó khăn.

Tại đảo An Bang, đâu đâu trên những mái nhà ngói đỏ cũng được phủ thêm một màu xanh bóng nhoáng của tấm pin mặt trời để khai thác tối đa nguồn năng lượng sạch.
Tại đảo An Bang, đâu đâu trên những mái nhà ngói đỏ cũng được phủ thêm một màu xanh bóng nhoáng của tấm pin mặt trời để khai thác tối đa nguồn năng lượng sạch.

Mỗi khi hệ thống lưới điện trên các điểm đảo gặp sự cố, họ vẫn phải thay nhau đi tới để khắc phục, đảm bảo “ánh sáng” trên các đảo không bị giãn đoạn kéo dài.

“Thông thường, vào mùa mưa bão, hệ thống lưới điện trên các đảo bị trục trặc nhiều hơn. Nếu ở đất liền, khi xảy ra sự cố, việc khắc phục sẽ không quá khó khăn. Nhưng ở giữa trùng khơi này, để khắc phục là cả vấn đề lớn bởi việc di chuyển bằng tàu thuyền khi sóng to, gió lớn gặp rất nhiều trở ngại,” anh Trung chia sẻ.

Nhưng không vì thế mà những “người lính ánh sáng” như anh Trung chùn bước trước gian khó. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện thời tiết khắc nghiệt đến đâu, mỗi khi hệ thống lưới điện trên các điểm đảo gặp sự cố, họ vẫn phải thay nhau đi tới để khắc phục, đảm bảo “ánh sáng” trên các đảo không bị giãn đoạn kéo dài, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động quan trọng trên đảo.

Sự hỗ trợ từ đất liền là rất quan trọng. Tuy nhiên, không phải lúc nào lưới điện trên các điểm đảo gặp sự cố, những người làm công tác bảo trì, khắc phục lưới điện từ đất liền cũng có mặt kịp thời để khắc phục. Trong hoàn cảnh đó, cán bộ, chiến sỹ trên các điểm đảo và nhà giàn cũng thành… thợ điện.

Nguồn năng lượng điện mặt trời, điện gió cơ bản đảm bảo đủ dùng cho các hoạt động sinh hoạt tại đảo Phan Vinh B.
Nguồn năng lượng điện mặt trời, điện gió cơ bản đảm bảo đủ dùng cho các hoạt động sinh hoạt tại đảo Phan Vinh B.

Theo Đại úy Hoàng Thế Anh, Chính trị viên đảo Thuyền Chài B, thời gian qua, nguồn năng lượng điện mặt trời, điện gió cơ bản đảm bảo đủ dùng cho các hoạt động sinh hoạt tại đảo, nhất là vận hành máy lọc nước biển thành nước ngọt. Tuy nhiên, mùa mưa bão, thi thoảng hệ thống điện sạch này cũng gặp sự cố, bị hư hỏng.

“Những lúc như vậy, trong khi chờ sự hộ trợ từ đất liền, anh em chiến sỹ trên đảo cũng phải chủ động sửa chữa, khắc phục sự cố, đảm bảo nguồn điện không bị giãn đoạn kéo dài,” Chính trị viên đảo Thuyền Chài B chia sẻ.

Đã nhiều lần dẫn đầu các đoàn công tác ra thăm và làm việc tại Trường Sa nhưng trong chuyến thăm gần đây nhất tháng 5/2019, Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải Quân vẫn không khỏi xúc động khi tận mắt chứng kiến những đổi thay trên các điểm đảo nơi đầu sóng ngọn gió hôm nay.

Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện cho biết, bắt đầu ra Trường Sa từ năm 1994, mỗi lần ra lại thấy ở đây có nhiều thay đổi. Đặc biệt, thời gian qua, việc đảm bảo nguồn điện sạch cho quần đảo và nhà giàn đã được đất liền quan tâm đầu tư, lắp đặt trang thiết bị điện gió và pin mặt trời. Nhờ đó, nguồn điện đã được phủ khắp các đảo.

Tuy nhiên, điều kiện thời tiết ở Trường Sa rất khắc nghiệt, phức tạp, nên việc hỏng hỏng thiết bị là bình thường. Khi ấy, lực lượng của Tập đoàn Điện lực và lực lượng kỹ thuật của Quân chủng Hải quân theo khả năng, điều kiện cũng đã triển khai sửa chữa, khắc phục.

“Cho tới nay, nguồn điện sạch đảm bảo tương đối tốt cho người dân và cán bộ chiến sỹ trên các đảo và nhà giàn. Mong rằng thời gian tới sẽ có thêm những công nghệ tốt hơn để chống đỡ được điều kiện, khí hậu ở ngoài trùng khơi này, góp phần đảm bảo bền vững nguồn điện,” Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện nhấn mạnh./.

Cho tới nay, nguồn điện sạch đảm bảo tương đối tốt cho người dân và cán bộ chiến sỹ trên các đảo và nhà giàn.

Trường Sa giờ đây đã thực sự “thay da đổi thịt,” là “quần đảo ánh sáng” được tạo ra từ nguồn năng lượng sạch bằng tua-bin gió và pin mặt trời.
Trường Sa giờ đây đã thực sự “thay da đổi thịt,” là “quần đảo ánh sáng” được tạo ra từ nguồn năng lượng sạch bằng tua-bin gió và pin mặt trời.

‘Cổ tích’ có thật

về phát triển ‘nông nghiệp tự túc’ trên đảo Trường Sa

Vườn rau thanh niên tại đảo An Bang, năm 2018 đã thu được hơn 6 tấn rau các loại. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Vườn rau thanh niên tại đảo An Bang, năm 2018 đã thu được hơn 6 tấn rau các loại. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Mỗi năm thu được hơn 6 tấn rau các loại; khu chăn nuôi với hàng chục con lợn; những đàn gà, vịt như “cố máy” đẻ trứng sạch tung tăng bên bờ biển… là những điển hình tăng gia sản xuất cho thấy khả năng hậu cần tại chỗ của cán bộ, chiến sỹ trên các điểm đảo Trường Sa.

14 giờ chiều, nắng vàng phủ khắp đảo Sinh Tồn Đông, hòn đảo xinh đẹp như một dải lụa giữa trùng khơi. Nếu như ở nhiều đảo khác, màu xanh cây lá chỉ của bàng vuông, phong ba, bão táp thì ở Sinh Tồn Đông, bước chân lên đảo, chúng tôi như cảm giác lạc vào một khu sinh thái với bạt ngàn cây cảnh, những vườn rau xanh mướt.

Sinh Tồn Đông còn được những người lính nơi đây gọi là đảo hoa với những hàng hoa giấy đủ màu sắc đỏ, tím, vàng…

Theo lời kể của các chiến sỹ, hoa giấy được mang từ đất liền ra trồng từng luống như hàng rào che chắn, khi hoa nở tạo thành những dải tím hồng, gợi nhớ hình bóng quê hương. Dưới bầu trời trong xanh, hoa giấy càng tôn thêm vẻ đẹp cho đảo.

Bên cạnh việc tạo cảnh quan, hơi thở cho đảo, rau xanh là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong đời sống của các cán bộ, chiến sỹ. Nhờ có nước ngọt, mái che và sự chăm chỉ của người lính, nên xung quanh đảo đâu đâu cũng hiện hữu màu xanh của rau muống, mồng tơi, rau cải.

Sinh Tồn Đông được các chiến sỹ gọi là đảo hoa với những hàng cây đủ sắc đỏ, tím, vàng…
Sinh Tồn Đông được các chiến sỹ gọi là đảo hoa với những hàng cây đủ sắc đỏ, tím, vàng…

14 giờ chiều, nắng vàng phủ khắp đảo Sinh Tồn Đông, hòn đảo xinh đẹp như một dải lụa giữa trùng khơi.

Dẫn chúng tôi ra thăm vườn rau thanh niên, vườn rau hậu cần, chiến sỹ Nguyễn Văn Trung chia sẻ, ngoài nhiệm vụ huấn luyện, canh gác, việc trồng rau, tăng gia sản xuất vừa là nhiệm vụ để cải thiện đời sống trên đảo, vừa là niềm yêu thích của các chiến sỹ nơi đây. Chính vì vậy, các anh luôn nâng niu từng luống rau, từng chậu hoa, cây cảnh để cho đảo thêm xanh và đầy sức sống.

Điều ấn tượng là, không chỉ trồng được hoa và rau xanh giữa trùng khơi, một số đảo còn sản xuất được khối lượng rau “khổng lồ,” khiến những vị khách từ đất liền lần đầu ra Trường Sa không khỏi giật mình, thậm chí ngỡ như “chuyện cổ tích.”

Đơn cử như các đảo Trường Sa Đông, An Bang, dù diện tích đất hạn hẹp, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nước ngọt hạn chế, nhưng trong năm 2018, các đảo đã thu được hơn 6 tấn rau, đảm bảo chế độ rau xanh 3 bữa/ngày cho cán bộ, chiến sỹ.

Để có được thành tích trên, theo chàng lính trẻ Võ Ngọc Anh Thao (sinh năm 1999, quê ở Bà Rịa Vũng Tàu), hàng ngày sau những giờ huấn luyện, các chiến sỹ lại thay nhau ra vườn rà từng luống rau… bắt sâu, rồi tận dụng nước tắm, giặt đem tưới. Nhờ đó, những luống rau ngày thêm xanh và phát triển tốt tươi.

Có chứng kiến cái nắng, cái gió của Trường Sa, tận mắt nhìn các chiến sỹ cần mẫn bắt sâu thay vì dùng thuốc phun thuốc, chắt chiu từng ca nước tưới vào những khay, thùng composite trồng rau được phủ kín xung quanh bằng những tấm bạt nylon để tránh sóng gió, mới thấy hết ý nghĩa của số lượng rau thu được.

Không chỉ có rau xanh, trên đảo Thuyền Chài, các chiến sỹ còn trồng cả lan, hoa giấy.
Không chỉ có rau xanh, trên đảo Thuyền Chài, các chiến sỹ còn trồng cả lan, hoa giấy.

Không chỉ trồng được hoa và rau xanh giữa trùng khơi, một số đảo còn sản xuất được khối lượng rau “khổng lồ,” khiến những vị khách từ đất liền lần đầu ra Trường Sa không khỏi giật mình, thậm chí ngỡ như “chuyện cổ tích.”

Đó cũng là lý do mà sau khi nghe báo cáo của đảo An Bang, ông Nguyễn Khắc Hà, Vụ trưởng Vụ Thi đua-Khen thưởng các Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương (Ban Thi đua khen thưởng Trung ương) đã đề nghị đoàn công tác dành những chàng vỗ tay cho nỗ lực của đảo. Bởi theo ông Hà “đây là kết quả nghe như chuyện cổ tích nhưng có thật, mà một số vùng đất liền cần phải học tập.”

Thực tế, để có được màu rau xanh trên đảo, cách trồng rau cũng phụ thuộc vào yếu tố “chìm,” “nổi” của từng đảo. Nếu như ở các đảo nổi, rau được trồng trong những khu vườn, được che chắn cẩn thận thì tại các đảo chìm Thuyền Chài, Đá Lát, Đá Tây, Đá Đông,… muốn có rau xanh, lính đảo lại phải trồng ở trong từng khay nhựa và chậu đá, đặt ở ngay trong phòng và trên nóc nhà.

Trước đây, việc trồng rau xanh ở Trường Sa trải qua không ít gian nan nhưng gần đây, được sự chi viện từ đất liền, những hạt giống rau tốt nhất và phù hợp với thời tiết ở đảo, các thùng composite, khay nhựa đã được chuyển ra. Điều này giúp các chiến sỹ rất nhiều trong khâu ươm giống và chăm sóc để có những vườn rau xanh mát, những vườn cây ăn quả như đu đủ, dưa, mía, chuối… cho chất lượng và năng suất cao.

Khu tăng gia tập trung tại đảo An Bang.
Khu tăng gia tập trung tại đảo An Bang.

Không chỉ trồng rau xanh, chăm cây cảnh để tạo cảnh quan giữa trùng khơi, cán bộ, chiến sỹ trên quần đảo Trường Sa còn tích cực triển khai những mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm hiệu quả, góp phần cải thiện bữa ăn, đảm bảo sức khỏe và góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Nhờ đó, sức sống ở Trường Sa không chỉ dừng lại ở màu xanh cỏ cây, hoa lá mà còn có cả sự hiện diện của những đàn lợn, gà, vịt to béo đến ngỡ ngàng.

Chính trị viên đảo An Bang Nguyễn Hồng Tiến cho biết, để công tác chăn nuôi phát triển, thời gian qua, đảo luôn coi trọng việc thuần chủng các giống lợn thích nghi với điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt trên đảo; tận dụng nguồn thức ăn dư thừa; tăng cường che chắn, củng cố hệ thống chuồng trại. Thời kỳ lợn sinh sản, tổ chăn nuôi thường xuyên lập kế hoạch phòng, chống dịch bệnh theo mùa vụ.

Nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng, gia súc, gia cầm trên đảo phát triển rất tốt, nhiều con lợn có trọng lượng hơn 120kg.
Nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng, gia súc, gia cầm trên đảo phát triển rất tốt, nhiều con lợn có trọng lượng hơn 120kg.

Tổng đàn gia súc, gia cầm trên đảo An Bang có trên một trăm con. Nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng, gia súc, gia cầm trên đảo phát triển rất tốt, trong đó, nhiều con lợn có trọng lượng lên tới hơn 120kg.

Chỉ từ vài con lợn giống từ đất liền đưa ra, nay đã hình thành đàn với đủ các loại lợn thịt, lợn nái, lợn giống. Do tự nhân giống nên cả đàn lợn đã thích nghi được với thời tiết thay đổi liên tục ở trên đảo.

Hiện nay, tổng đàn gia súc, gia cầm trên đảo An Bang có trên một trăm con. Nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng, gia súc, gia cầm trên đảo phát triển rất tốt, trong đó, nhiều con lợn có trọng lượng lên tới hơn 120kg.

Câu chuyện lợn nặng tới hơn 120kg được nuôi bằng rau xanh và cơm thừa ở giữa trùng khơi, mới đầu nghe có vẻ hơi khó tin, nhưng khi ra thăm đảo, tận mắt chứng kiến những đàn heo béo nịch mới thấy được sự kỳ công, vất vả của những cán bộ, chiến sỹ ở nơi đầu sóng ngón gió, chăm lo đời sống cho đảo.

Ở đảo An Bang, lợn, gà, vịt được đưa vào khu chăn nuôi tập trung. Trong đó, lợn chiếm phần lớn diện tích. Tại đây, lợn được chia thành từng chuồng khác nhau, từ lợn con, lợn nái, lợn sinh sản… Phía ngoài cửa chuồng có gắn biển tên từng loại lợn và cân nặng. Trong đó, chuồng lợn nái lớn nhất với cân nặng 120-160kg/con.

Gà, vịt được nuôi phổ biến tại các điểm đảo.
Gà, vịt được nuôi phổ biến tại các điểm đảo.

Không chỉ tăng gia sản xuất hiệu quả, góp phần cải thiện từng bữa ăn cho cán bộ, chiến sỹ, nhiều đảo ở Trường Sa còn hỗ trợ được cho ngư dân ở trên biển. Đơn cử như đảo Sinh Tồn Đông, nhờ tích cực, chủ động tăng gia sản xuất, chăn nuôi, đánh bắt hải sản, năm 2018, bình quân giá trị tăng gia sản xuất đạt 1,355 triệu đồng/người (vượt chỉ tiêu 0,37%). Ngoài đảm bảo đúng đủ tiêu chuẩn cho bộ đội, đảo còn cấp nước ngọt và ủng hộ rau xanh cho ngư dân đánh bắt hải trên ngư trường.

Tại đảo chìm Đá Đông C, dù địa hình khó khăn, “ngôi nhà” của bộ đội nhỏ nhoi giữa mênh mông biển nước, song cán bộ chiến sỹ trên đảo vẫn có cách chăn nuôi riêng để cải thiện từng bữa ăn. Những con vịt nhà được đưa ra đảo khi mới được 1 tháng tuổi bơi tung tăng giữa biển khơi được ‘huấn luyện’ để thích nghi với thời tiết.

Riêng đàn lợn được đảo ưu tiên ở một góc kín gió và thường xuyên được vệ sinh sạch sẽ. Vào mùa biển động, các chiến sỹ sẵn sàng di chuyển lợn lên tận phòng ngủ để tránh sóng và nước biển tràn lên…

 Các thế hệ người Việt tiếp nối nhau sinh ra, lớn lên, là minh chứng cho sự trường tồn trên quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đảo trưởng đảo Đá Đông C Trịnh Thế Hải cho biết, ở đây, mọi người đều tham gia chăn nuôi. Cứ làm rồi thành quen. Cũng bởi thế nên giờ đây, ai cũng có “kinh nghiệm đầy mình” về phương pháp chăn nuôi lợn, chó và các loại gia cầm.

Từ việc chủ động chăn nuôi, trồng trọt nhằm củng cố chất lượng các bữa ăn trong điều kiện khá khó khăn cho thấy tính sáng tạo và năng động của các chiến sỹ hải quân Trường Sa. Với tinh thần đoàn kết, đồng lòng, những người lính Cụ Hồ đã và đang chinh phục, vượt qua thử thách trong cuộc sống, trong lao động và chiến đấu.

Hơn tất cả, việc tăng gia, trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản để đảm bảo đời sống của quân, dân trên đảo như là sự khẳng định ý chí, khao khát tự vươn lên vượt qua những khó khăn, thách thức. Các thế hệ người Việt tiếp nối nhau sinh ra, lớn lên, là minh chứng cho sự trường tồn trên quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc../.

Ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, bảo vệ biển đảo quê hương, cán bộ chiến sỹ Trường Sa còn giành thời gian tăng gia sản xuất, để đảm bảo duy trì nguồn thực phẩm sạch mỗi ngày.
Ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, bảo vệ biển đảo quê hương, cán bộ chiến sỹ Trường Sa còn giành thời gian tăng gia sản xuất, để đảm bảo duy trì nguồn thực phẩm sạch mỗi ngày.

‘Chở’ Luật… ra khơi

giúp ngư dân vững tin bám biển

Nắng tháng 5 cháy rát, trời xanh ngăn ngắt, lộng gió mang theo hơi muối mặn mòi. Trong cái nắng ấy, cán bộ chiến sỹ Trường Sa vẫn tập trung huấn luyện, canh giữ biển đảo, tích cực tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống. Các anh còn là cầu nối “chở” Luật ra khơi để truyên truyền, giúp ngư dân đánh bắt cá giữa ngư trường hiểu và chấp hành nghiêm túc các quy định của Luật pháp trong nước và quốc tế.

Nhờ đó, ngư dân đã vững tin vươn khơi, bám biển, đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự, an toàn trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Một sáng mùa hè ở đảo chìm Thuyền Chài B, trời xanh ngăn ngắt, những chiếc tàu của bà con ngư dân dập dềnh neo đậu xung quanh đảo sau một đêm trắng quần thảo đánh bắt cá giữa ngư trường. Từ xa xa, cờ đỏ sao vàng trên nóc tàu bay phấp phới, tiếng hò reo của ngư dân vang lên khi thấy đoàn công tác từ đất liền ra thăm Trường Sa.

Vậy là, sau hải trình 5 ngày trên biển, chúng tôi đã thấy bóng dáng những ngư dân giữa trùng khơi. Tới gần, từng cánh tay giơ lên vẫy chào, những lời hỏi thăm vọng sang khiến từng thành viên đoàn công tác đều thấy vui, tự hào. Đó là ngư trường, là lãnh hải của Tổ quốc.

Sau cuộc gặp chớp nhoáng với tàu cá của ngư dân tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi được xuồng KN 491 chở vào thăm đảo. Báo cáo với đoàn công tác, Đại úy Trần Văn Lãm, Chỉ huy trưởng điểm B đảo Thuyền Chài cho biết, mặc dù điểm đảo đóng quan xa đất liền, điều kiện khí hậu thủy văn khắc nghiệt, nhưng cán bộ chiến sỹ trên đảo luôn quán triệt tốt mọi nhiệm vụ, trên dưới một lòng, giữ gìn biển đảo.

Sau thời gian thao luyện, các chiến sỹ lại tranh thủ đọc sách, tạp chí để nắm thông tin.
Sau thời gian thao luyện, các chiến sỹ lại tranh thủ đọc sách, tạp chí để nắm thông tin.

Mặc dù điểm đảo đóng quan xa đất liền, điều kiện khí hậu thủy văn khắc nghiệt, nhưng cán bộ chiến sỹ trên đảo luôn quán triệt tốt mọi nhiệm vụ, trên dưới một lòng, giữ gìn biển đảo.

Không chỉ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, cán bộ chiến sỹ đảo Thuyền Chài B còn thực hiện có hiệu quả và chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận, tích cực giúp đỡ ngư dân ra khai thác thủy hải sản ở khu vực đảo. Khám, tư vấn và cấp, phát thuốc cho ngư dân các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, Bình Thuận, Quảng Ngãi.

“Trong quá trình tiếp xúc cũng như mỗi lần ngư dân vào xin thuốc, chúng tôi lại tổ chức phổ biến, truyên truyền cho ngư dân nắm được tình hình khu vực và các quy định trong khai thác hải sản như: Không đánh bắt cá bằng hình thức đánh thuốc nổ, không khai thác ngoài phạm vi lãnh hải, không gây xung đột với tàu cá của các nước láng giềng,” Đại úy Lãm nhấn mạnh.

Ngoài ra, cán bộ, chiến sỹ đảo Thuyền Chài B cũng luôn coi việc đồng hành, giúp đỡ và làm điểm tựa cho bà con ngư dân là trách nhiệm, nghĩa vụ trong làm kinh tế biển, xây dựng nền quốc phòng an ninh trên biển. Với vai trò là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, trong những năm qua, đảo luôn đồng hành cùng ngư dân, bảo vệ môi trường hòa bình trên biển.

Gần 30 năm công tác trong Hải quân nhân dân Việt Nam, trong đó có hơn một thập kỷ chỉ huy ở nhiều điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Thượng tá Đinh Trọng Thắm-Phó Chỉ huy trưởng đảo Trường Sa lớn khẳng định ngoài các nhiệm vụ chính ở đảo, những năm qua, cán bộ chiến sĩ trên đảo luôn đẩy mạnh tuyên truyền bà con ngư dân về vị trí vai trò của biển, những pháp lý căn bản về đánh bắt hải sản hợp pháp; hỗ trợ kịp thời cho bà con ngư dân trong suốt hành trình ra khơi.

Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải Quân thăm hỏi, động viên, chỉ đạo cán bộ, chiến sỹ Trường Sa trên dưới một lòng, nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ vững chắc biển đảo quê hương.
Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải Quân thăm hỏi, động viên, chỉ đạo cán bộ, chiến sỹ Trường Sa trên dưới một lòng, nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ vững chắc biển đảo quê hương.

Tự hào là người lính Hải quân đang làm nhiệm vụ ở đảo Trường Sa lớn-“thủ đô” của quần đảo Trường Sa, Trung úy Trần Đình Điệp khẳng định biển đảo là một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc.

“Đảo cũng thực hiện tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, cấp cứu, sửa chữa máy móc, ngư cụ cho ngư dân khi có sự cố; bảo vệ tính mạng, tài sản cho bà con ngư dân. Mục tiêu chung là nâng cao chất lượng hiệu quả, vận động hỗ trợ bà con ngư dân khai thác thủy hải sản an toàn, đúng pháp luật; gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo,” Thượng tá Thắm nói.

Tự hào là người lính Hải quân đang làm nhiệm vụ ở đảo Trường Sa lớn-“thủ đô” của quần đảo Trường Sa, Trung úy Trần Đình Điệp khẳng định biển đảo là một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc. Vì thế, tuyên truyền về biển đảo theo chủ trưởng của Đảng và Nhà nước là vấn đề luôn cần phải đẩy mạnh.

Theo Trung úy Điệp, việc tuyên truyền ở đây không chỉ góp phần giúp ngư dân đánh bắt ở trên biển hiểu và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Luật pháp, mà còn để ngư dân yên tâm là bên cạnh luôn có lực lượng hải quân, biên phòng, cảnh sát biển cùng các lực lượng sẵn sàng hỗ trợ ngư dân khi công tác đánh bắt cá gặp khó khăn, cũng như gặp sự cố ở trên vùng biển của mình.

“Với tinh thần đó, thời gian qua, chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với ngư dân để tuyên truyền, cũng như phát tờ rơi phổ biến các quy định của Luật Biển cho ngư dân đánh bắt thủy hải sản ở xung quanh đảo, để họ hiểu và thực hiện đúng chủ trương, không để sự cố đáng tiếc xảy ra,” anh Điệp nói thêm.

‘Tuyên truyền về biển đảo theo chủ trưởng của Đảng và Nhà nước là vấn đề luôn cần phải đẩy mạnh.’

Lực lượng quân y ở đảo cũng đã hỗ trợ nước ngọt, tổ chức khám chữa bệnh, tiến hành cấp cứu và đảm bảo tốt việc cấp phát thuốc. Qua đó thắt chặt hơn tình đoàn kết của cán chiến sỹ và nhân dân trên đảo, trên biển để người dân yên tâm vươn khơi bám biển và thực hiện chiến lược biển Việt Nam.

Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải Đảo Việt Nam Tạ Đình Thi tặng quà cho cán bộ, chiến sỹ đảo Sinh Tồn Đông. Trong đó có những cuốn sách, tạp chí phổ biến về luật biển.  
Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải Đảo Việt Nam Tạ Đình Thi tặng quà cho cán bộ, chiến sỹ đảo Sinh Tồn Đông. Trong đó có những cuốn sách, tạp chí phổ biến về luật biển.  

Từ bao đời nay, hành trình vươn khơi của ngư dân không chỉ là bám kế sinh nhai, mà đó còn là hành trình đánh dấu chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Những đoàn thuyền cắm lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa biển khơi là những “cột mốc sống,” ngư dân trên thuyền là những người giữ cột mốc bền bỉ, kiên cường.

Đặc biệt, với tinh thần “Quyết tâm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn”; “Mỗi ngư dân là một chiến sỹ, mỗi con tàu là một cột mốc bảo vệ biển đảo”… cùng với sự hỗ trợ của các lực lượng làm nhiệm vụ trên các vùng biển, đảo, nhà giàn, bà con ngư dân đã thực sự yên tâm ra khơi bám biển, đánh bắt thủy hải sản, phát triển kinh tế…

“Quyết tâm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn”; “Mỗi ngư dân là một chiến sĩ, mỗi con tàu là một cột mốc bảo vệ biển đảo”

Ngư dân Nguyễn Văn Toàn quê ở Bình Định đã đánh bắt cá ở ngư trường Trường Sa gần chục năm nay cho biết, đánh bắt cá ngoài khơi xa thiếu thốn đủ bề, nhưng nhờ được các đảo hỗ trợ nước ngọt, thuốc men, hỗ trợ khi tàu bị trục trặc gặp sự cố hư hỏng, nên bà con rất vui mừng. Cũng nhờ các cán bộ, chiến sỹ trên đảo nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện nên ngư dân yên tâm bám biển.

“Thời gian qua, mặc dù chúng tôi gặp nhiều khó khăn trong việc đánh bắt, đã có những chiếc tàu của ngư dân hư hại ngoài các ngư trường xa bờ, nhưng điều đó không làm chúng tôi sợ hãi mà bỏ ngư trường truyền thống của mình, là vùng biển, đảo mà ông cha ta từ ngàn xưa để lại,” ông Toàn chia sẻ.

Do điều kiện thời tiết bất lợi, việc tiếp cận được đảo An Bang rất khó khăn, đoàn công tác không thể đến đảo bằng xuồng máy mà phải dùng xuồng kéo, với sự hỗ trợ của các cán bộ, chiến sỹ.
Do điều kiện thời tiết bất lợi, việc tiếp cận được đảo An Bang rất khó khăn, đoàn công tác không thể đến đảo bằng xuồng máy mà phải dùng xuồng kéo, với sự hỗ trợ của các cán bộ, chiến sỹ.

Chứng kiến sự đổi thay qua từng năm ở Trường Sa, Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải quân cho biết, từ năm 2006 đến nay, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Quân chủng Hải quân đã ký kết tuyên truyền biển đảo với 63 tỉnh thành và 15 cơ quan Trung ương. Qua chương trình ký kết, việc tuyên truyền biển đảo đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy chính quyền, cơ quan đoàn thể và nhân dân cả nước về vị trí, vai trò của biển đảo.

Đồng thời, qua phối hợp tuyên truyền về biển đảo, các cấp ủy chính quyền, cơ quan đoàn thể… cũng đã đóng góp cho Quân chủng Hải quân xây dựng các công trình thiết yếu ở trên đảo, chia sẻ, động viên quân và dân trên các điểm đảo và nhà giàn đang ngày đêm canh giữ, bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Hành trình vươn khơi của ngư dân không chỉ là bám kế sinh nhai, mà đó còn là hành trình đánh dấu chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 

“Mỗi năm ra các điểm đảo ở quần đảo Trường Sa đều thấy sự thay đổi rất nhiều từ điều kiện sinh hoạt đến khả năng kháng lực của các lực lượng trên đảo. Qua phối hợp tuyên truyền biển đảo, nhân dân cả nước cũng hiểu thêm về chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Quân chủng Hải quân. Chính công tác giáo dục, tuyên truyền, sự quan tâm của cả nước, chế độ chính sách cải thiện… nên các lực lượng, chiến sỹ trên đảo rất yên tâm, xây dựng được bản lĩnh tư tưởng vững vàng, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo, xử lý các tình huống trên biển, các trang thiết bị sẵn sàng chiến đấu,” vị Thiếu tướng Hải quân nói.

Tàu đánh cá của ngư dân dập dềnh neo đậu xung quanh đảo Thuyền Chài B sau một đêm trắng quần thảo đánh bắt cá giữa ngư trường.
Tàu đánh cá của ngư dân dập dềnh neo đậu xung quanh đảo Thuyền Chài B sau một đêm trắng quần thảo đánh bắt cá giữa ngư trường.

Về công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Biển cho ngư dân trên biển, Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện khẳng định đây là trách nhiệm chung, vì thế cấp ủy chính quyền các địa phương, các lực lượng biển, hải quân, biên phòng cần có trách nhiệm phối hợp tuyên truyền cho ngư dân, để bà con ngư dân chấp hành pháp luật, không khai thác vượt quá giới hạn không vi phạm lãnh hải của các nước trong khu vực.

“Riêng với lực lượng Hải quân, theo điều kiện của mình cũng đã in, cấp phát tờ rơi, tuyên truyền cho ngư dân. Vừa qua, Quân chủng Hải quân cũng đã có chương trình phối hợp để ngư dân ra khơi có trách nhiệm, chấp hành Luật Biển, cũng như yên tâm bám biển trong quá trình đánh bắt cá trên ngư trường,” Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện nói thêm.

“Đã có những chiếc tàu của ngư dân hư hại ngoài các ngư trường xa bờ, nhưng điều đó không làm chúng tôi sợ hãi mà bỏ ngư trường truyền thống của mình, là vùng biển, đảo mà ông cha ta từ ngàn xưa để lại.

Chia sẻ với phóng viên VietnamPlus trong chuyến ra thăm Trường Sa, ông Phạm Ngọc Cảnh-Phó Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu (Nghệ An), cho rằng hành trình vươn khơi của ngư dân không chỉ là bám kế sinh nhai, mà đó còn là hành trình đánh dấu chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Vì thế, với lợi thế ven biển, địa phương luôn tạo điều kiện cho ngư dân ra khơi làm nghề đánh cá, phát triển kinh tế địa phương.

“Tuy nhiên, để ngư dân ra khơi an toàn và có trách nhiệm, chúng tôi cũng tuyên truyền, gắn trách nhiệm cho ngư dân như thành lập các tổ dân quân tự vệ trên biển…,” ông Cảnh nhấn mạnh./.

Quyết tâm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn.
Quyết tâm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn.

Hậu phương

‘tiếp lửa’ thương yêu cho lính đảo Trường Sa

Với chiến sỹ Trường Sa, có một hậu phương thấu hiểu, đặc biệt là từ người vợ ở quê nhà, luôn là nguồn động viên lớn, là động lực “tiếp lửa” để họ yên tâm công tác, coi “đảo là nhà, biển cả là quê hương,” ngày đêm bám biển bảo vệ Tổ quốc.

Trong những ngày thăm Trường Sa, những câu chuyện bình dị của người lính đảo về hậu phương quê nhà khiến đoàn công tác với gần 200 thành viên không khỏi xúc động.

Câu chuyện của Đại úy Trịnh Thế Hải (sinh năm 1991), Đảo trưởng đảo Đá Đông C là minh chứng cho thấy những thiệt thòi, nhưng luôn tự hào của người vợ hậu phương. Năm 2018, trong một lần về phép, Hải quen với người vợ hiện tại qua mạng xã hội Zalo, sau đó một thời gian ngắn, hai gia đình quyết định tổ chức đám cưới.

Với cán bộ, chiến sỹ Trường Sa thì “đảo là nhà, biển cả là quê hương.” 
Với cán bộ, chiến sỹ Trường Sa thì “đảo là nhà, biển cả là quê hương.” 

“Trước khi cưới và ra đảo, em đã làm tư tưởng với cô ấy. Em bảo: anh là chiến sĩ Trường Sa, công tác ở ngoài đảo xa, nếu em chấp nhận thì mình cưới nhau chứ 10 ngày nữa anh phải đi rồi. Thấy cô ấy gật đầu, thế là hai gia đình tổ chức cưới. Trước lúc đi, cô ấy bảo anh cứ yên tâm công tác, em và gia đình rất tự hào về anh. Nghe vợ nhắn nhủ vậy, bản thân cũng yên tâm hơn,” Đại úy Hải chia sẻ.

Làm nhiệm vụ ở đảo xa, nên Tết đầu tiên khi mới cưới vợ, Hải cũng không thể ở nhà, nhưng qua điện thoại, vợ và người thân gia đình vẫn luôn động viên chàng chiến sĩ trẻ cố gắng, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đến nay, chiến sỹ Trịnh Thế Hải đã trải qua 3 năm ăn Tết ở trên đảo và trải qua 2 lần làm đảo trưởng.

Trước lúc đi, cô ấy bảo anh cứ yên tâm công tác, em và gia đình rất tự hào về anh. Nghe vợ nhắn nhủ vậy, bản thân cũng yên tâm hơn

“Cứ mỗi lần được nghỉ phép về đất liền, nhiều khi nằm ngủ cũng mơ thấy đảo. Lần đầu tiên ra đảo, em thấy biển đảo đẹp lung linh như thiên đường, không nơi nào thiêng liêng và nhiều kỷ niệm như ở đảo. Cũng vì thế nên em luôn muốn gắn bó với biển đảo của Tổ quốc, quê hương,” Đại úy Trịnh Thế Hải nói thêm.

Giây phút đùa giỡn với chú “khuyển” của chàng lính trẻ. Những chú khuyển ở các đảo được huấn luyện từ nhỏ, nên luôn đề cao cảnh giác. Khi có người lạ, những chú khuyển sẽ đi theo sau.
Giây phút đùa giỡn với chú “khuyển” của chàng lính trẻ. Những chú khuyển ở các đảo được huấn luyện từ nhỏ, nên luôn đề cao cảnh giác. Khi có người lạ, những chú khuyển sẽ đi theo sau.

Trong chuyến hải trình ra thăm Trường Sa lần này, câu chuyện để lại nhiều ấn tượng nhất là bài văn viết về người bố lính đảo (trung úy Trần Đình Điệp) của con gái Trần Lê Ngọc Ánh. Trong thời gian 4 năm gắn bó với Trường Sa, người lính quê xứ Nghệ phải xa gia đình nhỏ của mình, nhưng nhờ sự quan tâm, động viên của vợ và con gái, nên lúc nào anh cũng tươi vui, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

“Năm 2008, tôi nhận nhiệm vụ tại đảo An Bang. Mới ra được khoảng 1 tháng thì vợ sinh con đầu lòng ở quê nhà. Lúc được về phép, con gái đã 14 tháng. Lần đầu gặp cha, nghe mẹ nói ‘bố Điệp kìa,’ con gái liền đưa tay cho tôi bế. Cử chỉ của con khiến tôi lặng người. Sau đó, hai bố con cứ ôm nhau quấn quýt,” anh Điệp nhớ lại.

Hướng ánh mắt về phía những đứa trẻ đang vui đùa trên đảo, anh Điệp nở nụ cười kể: “Hồi con gái học lớp 2, cô giáo ra đề bài viết về một kỷ niệm đáng nhớ nhất với người thân trong gia đình. Con đã kể lần tôi về thăm nhà. Nội dung con viết ‘hôm ấy, bố về không báo trước, lặng lẽ đứng đón con ở cổng trường. Lúc tan học, bình thường mẹ đón, nay thấy bố từ xa, con gọi lớn tên bố rồi lao tới ôm chồm lấy người lính đảo của mình’!”

Câu chuyện về người bố lính đảo Trường Sa được con gái Trần Lê Ngọc Ánh đưa vào bài tập làm văn khiến cô giáo và cả lớp bùi ngùi, xúc động.

Anh Điệp chia sẻ: “Dù tôi thường xuyên công tác ở đảo xa, ít thời gian ở cạnh con gái nhưng hễ ai nhắc, cháu đều tự hào kể về tôi, kể về công việc bố đang làm và về Trường Sa. Mỗi lần gọi về nhà, có chuyện gì vui cháu cũng kể, rồi còn động viên bố yên tâm công tác.”

Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải Quân hỏi thăm, động viên các bộ chiến sỹ và người dân Đảo Trường Sa lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+) 
Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện, Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải Quân hỏi thăm, động viên các bộ chiến sỹ và người dân Đảo Trường Sa lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+) 

Là người có gần 30 năm công tác trong Hải quân nhân dân Việt Nam, trong đó có hơn một thập kỷ canh giữ nhiều đảo điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Thượng tá Đinh Trọng Thắm-Đảo trưởng đảo Trường Sa lớn, cho biết từ ngày ra đảo đến nay, thời gian ở bên vợ con rất ít. Cũng bởi nhiều năm xa gia đình, nên mỗi lần nhắc đến vợ, ông Thắm lại trầm ngâm trước những hy sinh của người bạn đời.

“Thời gian ở đảo, cả hai lần vợ sinh con, tôi đều không ở bên cạnh. Đứa đầu lòng, khi tôi đi, vợ mang bầu, đến lúc về phép thì con đã hơn 5 tháng tuổi. Thời điểm vợ sinh đứa thứ 2, theo lịch tôi được về nhưng cùng lúc trong đơn vị có người gia đình có việc rất hệ trọng, nên tôi nhường cơ hội đoàn tụ ấy cho đồng đội. Đến khi về thăm, con đã hơn 1 tuổi rồi,” Thượng tá Thắm nhớ lại.

Dù ít khi về thăm nhà, nhưng với Thượng tá Thắm, xa cách cũng là cơ hội để chứng minh tình cảm vợ chồng và những cuộc gặp trên đảo thêm phần lãng mạn.

“Chuyến đi ấy cũng là dịp cô ấy biết về nơi tôi làm việc, về những vất vả và cả niềm tự hào khi có chồng công tác ở Trường Sa.”

“Năm 2011, khi tôi ở đảo Sinh Tồn Đông thì nhận tin vợ cùng đoàn thân nhân ra thăm. Sau nhiều ngày ngóng chờ, đến lúc gặp nhau, hai vợ chồng ôm chặt, không nói nên lời. Chuyến đi ấy cũng là dịp cô ấy biết về nơi tôi làm việc, về những vất vả và cả niềm tự hào khi có chồng công tác ở Trường Sa,” ông Thắm nhớ lại.

Đồng chí Lê Hồng Vinh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An (bên trái ảnh) thăm hỏi, động viên các chiến sỹ là người con xứ Nghệ đang công tác tại đảo Đá Tây A.(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Đồng chí Lê Hồng Vinh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An (bên trái ảnh) thăm hỏi, động viên các chiến sỹ là người con xứ Nghệ đang công tác tại đảo Đá Tây A.(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Thời gian ở đảo Đá Nam, hai vợ chồng tôi đã viết gửi rất nhiều thư cho nhau. Mỗi bức thư, là cả nỗi nhớ, cũng là sự động viên để tôi hoàn thành nhiệm vụ. Cũng nhờ đó, chúng tôi đến với nhau.”

Trong hải trình đến thăm các điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa lần này còn có một người lính đặc biệt, ông lấy được vợ nhờ những bức thư lãng mạn gửi về từ biển đảo Trường Sa. Ông từng là phó chỉ huy trưởng rồi chỉ huy trưởng đảo Đá Nam. 25 năm trước, ông chia tay Trường Sa về đất liền sau 2 năm công tác. Đó là Đại tá Dương Minh Hiền, Phó chỉ huy trưởng, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.

Trong câu chuyện với phóng viên VietnamPlus, ông Hiền cho biết từ ngày xa đảo, ông vẫn luôn mong muốn được trở lại thăm Trường Sa-nơi ông từng gắn bó và có nhiều kỷ niệm về tình yêu.

“Thời gian ở đảo Đá Nam, hai vợ chồng tôi đã viết gửi rất nhiều thư cho nhau. Mỗi bức thư, là cả nỗi nhớ, cũng là sự động viên để tôi hoàn thành nhiệm vụ. Cũng nhờ đó, chúng tôi đến với nhau,” ông Hiền chia sẻ.

Đại tá Dương Minh Hiền, Phó chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An (thứ 2 bên trái) chụp ảnh kỷ niệm trở lại Trường Sa cùng các thành viên đoàn công tác. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Đại tá Dương Minh Hiền, Phó chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An (thứ 2 bên trái) chụp ảnh kỷ niệm trở lại Trường Sa cùng các thành viên đoàn công tác. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Sau 2 năm gắn bó với Trường Sa, đến tháng 12/1993, chàng lính đảo Dương Nam Hiền lên tàu trở về đất liền nhận nhiệm vụ mới. Dành tình cảm sâu nặng với biển đảo Trường Sa thân yêu, ông Hiền đã đặt tên con trai đầu lòng là Dương Nam Khánh. Tên cậu con trai cũng là địa danh của hòn đảo Đá Nam, tỉnh Khánh Hòa, nơi ông từng xem như ngôi nhà thứ 2 gắn với tuổi trẻ của mình.

Cũng tại trung tâm của Trường Sa, bên cạnh hoạt động thăm hỏi, tặng quà, động viên các cán bộ chiến sỹ và nhân dân trên đảo, đoàn công tác tỉnh Nghệ An (1 trong 17 đơn vị thành viên của Đoàn công tác số 9) đã tổ chức buổi gặp mặt đồng hương những người con xứ Nghệ ở trên đảo. Rất nhiều chiến sỹ đến từ các huyện trên địa bàn tỉnh như Đô Lương, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Tân Kỳ, Nghi Lộc… khi biết tin đã tới tham dự.

Tại buổi gặp, thay mặt Đoàn đại biểu tỉnh Nghệ An, đồng chí Lê Hồng Vinh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh chia sẻ: “Xưa nay chúng ta vẫn thường nói ở đâu gian khó, ở đó có dân Nghệ An. Chúng tôi thực sự rất tự hào khi trên đảo có nhiều chiến sỹ, là người xứ Nghệ đến vậy. Qua đây, tôi cũng đề nghị và mong các đồng chí nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là người chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ, người con xứ Nghệ.”

Đáp lại tình cảm, sự tin yêu từ quê nhà, cán bộ, chiến sỹ, nhân dân người Nghệ An tại Trường Sa khẳng định sẽ luôn phát huy truyền thống quê hương, nỗ lực, cố gắng, vượt qua “bão táp, phong ba” hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.

Nhiều đại biểu trong đoàn công tác đã không kìm nổi nước mắt khi gặp các chiến sỹ còn rất trẻ đang ngày đêm vững tay súng nơi đầu sóng ngọn gió ở đảo xa. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Nhiều đại biểu trong đoàn công tác đã không kìm nổi nước mắt khi gặp các chiến sỹ còn rất trẻ đang ngày đêm vững tay súng nơi đầu sóng ngọn gió ở đảo xa. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Kỳ diệu sức sống Trường Sa

giữa biển trời Tổ quốc

Trường Sa, vùng đất thiêng liêng giữa biển trời, không chỉ là nơi đồn trú, bảo vệ hải phần của người lính biển qua hàng thế kỷ, mà đó còn là quê hương, nơi có bao em nhỏ cất tiếng khóc chào đời, nơi tình yêu lớn lên bằng niềm tự hào dân tộc.

Đến với Trường Sa, ít ai ngờ rằng, nơi đây mỗi năm có tới 131 ngày bão, mỗi tháng có 13-20 ngày gió mạnh. Nhưng dẫu có sóng to, gió lớn đến nhường nào thì sức sống vẫn luôn căng đầy ở nơi đầu sóng.

Dù thiên tai khắc nghiệt, nhưng trên các đảo, cán bộ chiến sỹ vẫn tăng gia sản xuất, nuôi lợn gà. Rau vẫn xanh và hoa vẫn nở giữa muôn trùng sóng nước. (Video: Hùng Võ/Vietnam+)

Trên khắp đảo nổi, đảo chìm của quần đảo Trường Sa hôm nay, đâu đâu cũng hiện ra một màu xanh biếc. Đó là xanh của sức sống, của niềm tin và hy vọng.

Dưới những tán bàng vuông, cây phong ba, bão táp, người dân ngồi chuyện trò rôm rả, những vườn rau xanh mướt, từng đàn lợn, gà say sưa giấc ngủ. Tất cả những hình ảnh bình yên ấy nhìn chẳng khắc gì bức tranh thôn quê đầy sức sống.

Dù gian khổ, thiên tai khắc nghiệt, nhưng sức sống ở Trường Sa ngày càng mãnh liệt, và cùng chung nhịp đập của triệu triệu trái tim hướng tới biển đảo thân yêu.

Dù gian khổ, thiên tai khắc nghiệt, nhưng sức sống ở Trường Sa ngày càng mãnh liệt, và cùng chung nhịp đập của triệu triệu trái tim hướng tới biển đảo thân yêu.

Hàng ngày, ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, người lính hải quân còn tăng gia sản xuất, chắt chiu giọt nước ngọt, dành thời gian chăm trồng các loại rau xanh, nuôi gia cầm, gia súc, đánh bắt cá, tự túc một phần thực phẩm tươi sống.

Hàng ngày, ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, người lính hải quân còn giành thời gian trồng rau xanh, tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống.
Hàng ngày, ngoài nhiệm vụ canh giữ vùng trời, vùng biển, người lính hải quân còn giành thời gian trồng rau xanh, tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống.

Nếu như trong đất liền, trồng rau là chuyện quá đỗi bình thường thì ở giữa biển cả mênh mông chỉ có cát biển, nắng, gió và san hô, nước ngọt “quý như vàng” thì việc có những vườn rau xanh tốt tươi quanh năm trên đảo (nhất là ở những đảo chìm) quả thật là chuyện phi thường.

Thực tế, để có được màu xanh của rau tươi trên đảo, cách trồng rau cũng mang đặc trưng riêng khác nhau tùy theo yếu tố “chìm,” “nổi” của từng đảo.

Nếu như ở các đảo nổi Trường Sa lớn, An Bang, rau được trồng trong những khu vườn nhỏ, thì tại các đảo chìm như Thuyền Chài, Đá Lát, Đá Đông,… những người lính đảo lại phải trồng ở trong từng khay nhựa và chậu đá, đặt ở trong phòng và trên nóc nhà.

Dưới những tán bàng vuông, cây phong ba, bão táp, người dân ngồi chuyện trò rôm rả, những vườn rau xanh mướt, từng đàn lợn, gà say sưa giấc ngủ. Tất cả những hình ảnh bình yên ấy nhìn chẳng khắc gì bức tranh thôn quê đầy sức sống.

Ấy vậy mà có những đảo như An Bang, Sinh Tồn Đông, mỗi năm vẫn thu hoạch được hơn 6 tấn rau xanh các loại, qua đó đảm bảo bộ đội trên đảo luôn được ăn rau xanh 3 bữa mỗi ngày.

Dẫu có sóng to, gió lớn đến nhường nào thì sức sống vẫn luôn căng đầy ở nơi đầu sóng.
Dẫu có sóng to, gió lớn đến nhường nào thì sức sống vẫn luôn căng đầy ở nơi đầu sóng.

Không chỉ trồng rau xanh, chăm cây cảnh để tạo cảnh quan giữa trùng khơi, cán bộ, chiến sỹ trên quần đảo Trường Sa còn tích cực triển khai những mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm hiệu quả, góp phần cải thiện bữa ăn, đảm bảo sức khỏe và góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Nhờ đó, sức sống ở Trường Sa không chỉ dừng lại ở màu xanh cỏ cây, hoa lá mà còn có cả sự hiện diện của những đàn lợn, gà, vịt to béo đến ngỡ ngàng.

Nhìn từ trên cao, các đảo nổi ở Trường Sa đẹp như một thành phố du lịch với những ngôi nhà ngói đỏ, mái xanh bóng nhoáng bởi tấm pin mặt trời, những hàng cây bàng vuông, phong ba, bão tố xanh mướt, cùng hàng quạt gió cao ngạo nghễ quay tít.

Nhìn từ trên cao, các đảo nổi ở Trường Sa đẹp như một thành phố du lịch với những ngôi nhà ngói đỏ, mái xanh bóng nhoáng bởi tấm pin mặt trời, những hàng cây bàng vuông, phong ba, bão tố xanh mướt, cùng hàng quạt gió cao ngạo nghễ quay tít.

Bao quanh là bãi cát trắng dài mềm mại nối với biển khơi xanh thẳm. Nơi đây, quanh năm nắng gió thất thường với vô số những điều kỳ thú. Nhưng chính sự hoang dại của tự nhiên như năng lượng gió, bức xạ mặt trời là điều kiện lý tưởng để nơi đây đầu tư hệ thống năng lượng sạch quy mô, đồng bộ.

Đến nay, giữa trùng khơi, điện mặt trời và điện gió đã thắp sáng 33 điểm đảo và Nhà giàn ở quần đảo Trường Sa, qua đó cung cấp tới 90% nhu cầu sử dụng điện cho hoạt động an ninh quốc phòng và sinh hoạt trên vùng biển, đảo quê hương../.

Trường Sa, vùng đất thiêng liêng giữa biển trời, không chỉ là nơi đồn trú, bảo vệ hải phần của người lính biển qua hàng thế kỷ, mà đó còn là quê hương, nơi có bao em nhỏ cất tiếng khóc chào đời.
Trường Sa, vùng đất thiêng liêng giữa biển trời, không chỉ là nơi đồn trú, bảo vệ hải phần của người lính biển qua hàng thế kỷ, mà đó còn là quê hương, nơi có bao em nhỏ cất tiếng khóc chào đời.

Những món quà bất ngờ

từ đất liền gửi tới Trường Sa

Trong chuyến thăm Trường Sa, bên cạnh những món quà vật chất còn có những món quà tinh thần mà người lính đảo giữ gìn như “bảo vật.” Đó là những lời ca, vần thơ chất chứa tình cảm của những người con đất Việt với biển đảo quê hương, tri ân những người lính ngày đêm canh giữ biển trời của Tổ quốc…

Với tình cảm tha thiết của một người con đất liền đã từng ra thăm biển đảo Trường Sa, thông qua thành viên đoàn công tác, nhà báo-nhà thơ Đoàn Ngọc Thu-Phó Tổng Biên tập Báo Điện tử VietnamPlus đã “gói tình cảm” gửi tới các chiến sỹ Trường Sa vào bài thơ “Vọng Vườn Châu” được nhạc sĩ Thanh Phương phối khí và ca sĩ Tùng Dương thể hiện.

Lời bài thơ được Nhà thơ Đoàn Ngọc Thu sáng tác ngay trên chuyến hải trình ra thăm biển đảo Trường Sa trong năm 2016. Khi chị đăng bài thơ lên báo, nhạc sĩ Trần Anh Linh đã phổ nhạc và sau đó được ca sĩ Tùng Dương thể hiện bằng chất giọng nồng cháy, khắc khoải, mang đến cho người nghe nhạc những sắc thái mới.

Bài thơ “Vọng Vườn Châu” được nhà thơ, nhà báo Đoàn Ngọc Thu sáng tác ngay trên chuyến hải trình ra thăm biển đảo Trường Sa trong năm 2016.

Khi lời bài thơ được phát bằng điện thoại ở trên các điểm đảo, cán bộ, chiến sỹ đang công tác tại Trường Sa đã không khỏi xúc động và càng thêm tin yêu trước tình cảm của đất liền gửi gắm tới biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Thông qua lời bài thơ “Vọng Vườn Châu,” nhà thơ Đoàn Ngọc Thu muốn nhắn nhủ với các cán bộ, chiến sỹ nơi đầu sóng ngọn gió rằng “đất liền luôn hướng tới Trường Sa, luôn quan tâm và biết ơn các chiến sỹ đang làm nhiệm vụ giữa biển trời, đang ngày đêm bảo vệ ‘máu thịt’ của Tổ quốc, quê hương mình.”

Giữa biển trời thiêng liêng của Tổ quốc, những bông hoa cúc vàng cùng hơn 200 con hạc trắng do tự tay các thành viên đoàn công tác gấp đã được thả xuống biển khơi, gửi gắm lòng biết ơn vô hạn với những anh hùng liệt sỹ đã hiến dâng xương máu, tính mạng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo đất nước.

Điều tiếc nuối nhất của đoàn trong chuyến ra Trường Sa lần này là không lên được Nhà giàn DK1 Phúc Tần. Nhìn từ xa, trên nhà giàn lấp ló các cán bộ, chiến sĩ dõi mắt về phía tàu mà cả đoàn ai cũng ứa lệ. Qua bộ đàm tại phòng điều hành của tàu, các thành viên đoàn công tác đã hát tặng các anh mà không cầm được nước mắt.

Trong số đó, ấn tượng trong tôi là bài Ca cổ “Tâm Sự Trường Sa” của tác giả Trần Việt Trường-Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ.

Chia sẻ với phóng viên VietnamPlus ngay trên boong tàu, tác giả Trần Việt Trường cho biết, bài ca cổ này được sáng tác từ tháng 4/2018 trong lần đầu tiên ông ra thăm Trường Sa. Tuy nhiên, lần đó bài ca cổ chưa hoàn chỉnh và cũng chưa có nghệ sĩ thể hiện.

Sau lần đi đó, tác giả bài ca cổ “Tâm Sự Trường Sa” luôn trăn trở về mong muốn được trở lại Trường Sa để hoàn thành bài ca cổ được sáng tác bằng cả trái tim hướng về biển đảo của mình.

“May mắn đã đến. Và lần này, ngay sau khi có mặt tại điểm đảo đầu tiên của hải trình, tôi đã hoàn thành bài ca cổ và chuyển lời tới nghệ sỹ Hồng Thuỷ luyện giọng. Cuối cùng, trong buổi giao lưu văn nghệ đầu tiên trên tàu KN-491, tôi và nghệ sĩ Hồng Thuỷ đã có thể hiện bài ca cổ cho cả đoàn cùng nghe,” ông Trường chia sẻ.

Bài ca cổ sâu lắng được thể hiện ngay trên tàu, vang vọng giữa biển đảo Trường Sa, khiến gần 200 thành viên đoàn công tác có mặt ở trên tàu rơi nước mắt. Hai tiếng Trường Sa qua lời vọng cổ càng thêm gần với đất liền.

Được tác giả Trần Việt Trường lựa chọn thể hiện bài vọng cổ “Tâm sự Trường Sa” trong một hải trình đặc biệt, nghệ sĩ Hồng Thuỷ đã không giấu nổi xúc động: “Đó là bài vọng cổ ý nghĩa nhất mà tôi đã từng thể hiện. Có hai lý do khiến tôi không kìm được nước mắt, thứ nhất là thể hiện ở giữa biển đảo Trường Sa thân yêu, nơi mà mới nhắc tới đã thấy tự hào. Thứ hai là thể hiện trong sự tiếc nuối, xúc động khi Nhà giàn ở trước mắt mà không thể đặt chân lên, khiến tất cả các thành viên đoàn công tác ở trên tàu chỉ biết vẫy tay và rơi lệ.”

Nghệ sĩ Hồng Thuỷ thể hiện bài vọng cổ “Tâm sự Trường Sa” gửi tặng cán bộ, chiến sỹ Nhà giàn DK1 Phúc Tần thông qua bộ đàm trên Tàu kiểm ngư KN-491. (Video: Hùng Võ/Vietnam+)

Ngoài bài thơ “Vọng Vườn Châu,” nhà thơ Đoàn Ngọc Thu còn gửi tới các chiến sỹ Trường Sa bài thơ “Đồng hồ cát” bằng ngôn từ lãng mạn, nhưng cũng mang nặng tâm tình, những nỗi nhớ dịch chuyển theo năm tháng của người lính đảo.

Bài thơ này được sáng tác trong chuyến đi ngang qua roi cát gần đảo Song Tử Tây. Các chiến sỹ đã kể cho nữ nhà thơ về sự dung tưởng của họ, nỗi nhớ nhung đất liền qua hình thù doi cát, được biến chuyển theo khí hậu nhiệt đới hai mùa của Quần đảo Trường Sa: Gió mùa Đông Nam thổi qua Trường Sa từ tháng Ba đến tháng Tư, trong khi gió mùa Tây Nam thổi từ tháng Năm đến tháng Mười Một, chị đã viết nên bài thơ này và đọc cho lính đảo nghe. Khi ấy, nhiều người đã không nén được xúc động:

Những nhớ thương dồn thành từng doi cát

Theo mùa gió thổi

Ngược Tây sang Đông

Dịch chuyển

chiếc đồng hồ cát

Đong thời gian

Nhớ thương dồn thành doi cát

Chạy vòng quanh

Hồn san hô bọt sóng

Kết thành

Trái tim biển

Giữa trùng khơi đập nhịp

Hòa hơi thở đất liền

Xoay hoàng hôn về phía bình minh

Đồng hồ cát

Đong thời gian…

Đồng chí Lê Hồng Vinh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An (bên phải ảnh), Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ Trần Việt Trường (chính giữa) và bà Hoàng Thị Hiền-Chủ tịch Công đoàn Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam thắp hương tại Đài liệt sỹ trên Đảo Trường Sa lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Đồng chí Lê Hồng Vinh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An (bên phải ảnh), Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ Trần Việt Trường (chính giữa) và bà Hoàng Thị Hiền-Chủ tịch Công đoàn Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam thắp hương tại Đài liệt sỹ trên Đảo Trường Sa lớn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trong khi đó, tâm sự trước lúc trở về đất liền, bà Hoàng Thị Hiền-Chủ tịch Công đoàn Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chia sẻ: Khi đi thăm và được chứng kiến cuộc sống của những cán bộ, chiến sĩ trên các điểm đảo, nhà giàn với muôn vàn khắc nghiệt, hiểm nguy mới càng thấy trân trọng ý nghĩa cuộc sống trong đất liền. Ta tự hỏi để có được vinh quang này là biết bao người đã ngã xuống hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc, vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng để tô thắm lá cờ Tổ quốc Việt Nam…

Với những tâm tình đó, bà Hiền đã sáng tác bài thơ “Nhớ Trường Sa”:

“Tàu đã đi rồi sao em còn đứng lặng

Biết yêu biển thật nhiều hay muôn thuở vắng anh

Tiếng còi tàu hay tiếng lòng em nức nở

Ôi xuôi ngược dòng đời mới gặp đã chia xa.”

Cảm xúc ấy tiếp tục được bà Hiền gửi gắm vào bài thơ “Thương lắm Phúc Tần” với lời thơ xao xuyến:

“Phúc Tần ơi, thương lắm Phúc Tần ơi!

Chỉ xải tay thôi mà chẳng kịp nữa rồi

Cơn sóng to, gió nhấn chìm tất cả

Bao say mê, háo hức, đợi chờ

Cuộc chia ly chẳng ai có thể ngờ

Nỗi đớn đau đặt tên thành khoảnh khắc

Nỗi đớn đau đặt tên thành hy vọng

Hẹn gặp lại nhé Phúc Tần ơi!”

Các thành viên đoàn công tác dự lễ tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh tại vùng biển Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Các thành viên đoàn công tác dự lễ tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh tại vùng biển Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.

Trên Nhà giàn giữa mênh mông sóng vỗ/Anh muốn nghe câu hát của quê nhà…”

Trong giây phút xúc động chia tay Nhà giàn, chị Hồ Thanh Thủy, công tác tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng đã kịp tâm sự vào bài thơ “Gửi anh người chiến sĩ Nhà giàn”:

“Em vẫn biết nơi đại dương sâu thẳm

Đã có anh giữ Cột mốc chủ quyền

Cho đất nước này mãi được bình yên

Thềm lục địa chính là nhà ta đó

Trên Nhà giàn giữa mênh mông sóng vỗ

Anh muốn nghe câu hát của quê nhà…

Dành trọn tâm tình cho biển đảo Trường Sa, Đại tá Lê Khắc Thuyết-Phó Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An cũng gửi tới cán bộ chiến sỹ Trường Sa bài thơ “Cảm nhận Trường Sa” được ông sáng tác ngay trên boong tàu trước lúc chia tay nhà giàn trở về đất liền:

“Bình minh ngắm cảnh Trường Sa

Hải quân canh giữ ngôi nhà Biển Đông

Trường Sa truyền thống anh hùng

Chống quân xâm lược bạo hung bá quyền

Trường Sa biển đảo thiêng liêng

Nhấn chìm bè lũ bá quyền xâm lăng…

Những bài thơ, bản nhạc chất chứa tình cảm của những người con đất liền ấy được nhiều chiến sỹ Trường Sa ghi chép vào cuốn sổ tay của họ. Tôi nhớ mãi lời của một lính đảo: “Ở đảo dù thiếu thốn, nhưng với sự quan tâm từ đất liền, đặc biệt là những món quà tinh thần đã giúp người lính luôn vững vàng trước sóng to, gió cả, chắc tay súng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc”./.

Theo mỗi nhịp sóng, bóng Nhà giàn DK1 Phúc Tần nhỏ dần rồi mất hút giữa biển cả bao la, nhưng trong mỗi chúng tôi niềm tin cứ lớn dần lên vì ở nơi đó – giữa Trường Sa thân yêu, và cả vùng biển thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc – luôn có các anh, những người lính đảo anh dũng, kiên cường, bất khuất.
Theo mỗi nhịp sóng, bóng Nhà giàn DK1 Phúc Tần nhỏ dần rồi mất hút giữa biển cả bao la, nhưng trong mỗi chúng tôi niềm tin cứ lớn dần lên vì ở nơi đó – giữa Trường Sa thân yêu, và cả vùng biển thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc – luôn có các anh, những người lính đảo anh dũng, kiên cường, bất khuất.

Hiên ngang Trường Sa!

Trong những ngày có mặt giữa bao la biển trời để tới Trường Sa, phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đã được tận mắt chứng kiến sức sống mãnh liệt, tình cảm quân dân thắm thiết nơi đầu sóng ngọn gió.

Khác với những tưởng tượng ban đầu là quần đảo chỉ có san hô, cát sỏi, nắng và gió, Trường Sa bây giờ hiên ngang, bề thế giữa trùng khơi.

Những đảo chìm năm nào, nay đã được xây dựng kiên cố. Các đảo nổi không khác gì những làng quê yên bình với những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi, mái chùa cong vút, từng hàng quạt gió cao ngạo nghễ, giếng nước, vườn rau xanh, những đàn bò, lợn, gà vịt… dưới những gốc cây bàng vuông, phong ba cổ thụ xanh mát.

Ở nơi ấy, những người dân trên đảo Trường Sa lớn giản dị, nước da sạm đen vì nắng gió, ngồi quây quần giữa sân nhà uống nước, cười nói rôm rả. Những đứa trẻ mới lớn rong chơi trên con đường rợp bóng mát cây xanh hay trong những bộ đồng phục học sinh tung tăng chạy về nhà sau buổi tan trường.

Hoàng hôn xuống, biển bỗng bình yên với những đàn cá chuồn thi nhau bay lướt sóng. Trong màn đêm, từng giàn khoan sừng sững hiên ngang, thắp sáng “ngọn lửa vĩnh cửu” giữa biển trời. Những chiếc tàu đánh bắt cá của ngư dân sáng lung linh như những ‘ngôi nhà di động.’

Nghi lễ chào cờ với “10 lời thề” thể hiện ý chí quật cường, niềm kiêu hãnh của Trường Sa, tình yêu với Tổ quốc và tiếng hát quốc ca hào hùng cất vang xua tan cái nóng trên đảo. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Nghi lễ chào cờ với “10 lời thề” thể hiện ý chí quật cường, niềm kiêu hãnh của Trường Sa, tình yêu với Tổ quốc và tiếng hát quốc ca hào hùng cất vang xua tan cái nóng trên đảo. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Hiên ngang như những hàng cây phong ba, bão tố kiên cường trên đảo để bảo vệ và giữ gìn vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Những ngày có mặt ở Trường Sa, được gặp gỡ cán bộ chiến sỹ, những người lính hải quân, chứng kiến những buổi thao luyện diễu binh, nói chuyện với người dân trên đảo, chúng tôi cảm nhận rằng họ đều có chung tinh thần lạc quan, trên dưới một lòng, bằng nghị lực phi thường để chống lại giặc ngoại xâm, chống lại sự hà khắc của thiên nhiên. Hiên ngang như những hàng cây phong ba, bão tố kiên cường trên đảo để bảo vệ và giữ gìn vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong hải trình gần 9 ngày đến thăm Trường Sa, đi qua 10 điểm đảo và nhà giàn DK1 Phúc Tần ở thềm lục địa phía Nam, chúng tôi, gần 200 thành viên đoàn công tác số 9 đã trải qua rất nhiều cung bậc cảm xúc. Vui có, tiếc nuối có. Nhưng đọng lại trong tâm trí mỗi người là niềm tự hào và lòng tự tôn dân tộc.

Điều tiếc nuối nhất của đoàn trong chuyến ra Trường Sa lần này là không lên được Nhà giàn DK1 Phúc Tần. Theo kế hoạch, cả đoàn đã chuẩn bị sẵn sàng, chờ xuồng được thả, gọi tên là bước xuống. Nhưng đến phút chót vì sóng to đã khiến chuyến thăm không thành. Đoàn công tác đành phải gửi “lời chúc qua loa, tặng quà qua dây.”

Qua hệ thống bộ đàm tại phòng điều hành của tàu, các thành viên đoàn công tác, giọng Nam, giọng Bắc, giọng Trung đã hát tặng các anh mà không cầm được nước mắt. Còn phía đầu dây bên kia, trân quý tình cảm từ đất liền, các anh gửi lời cảm ơn, hứa tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với thanh âm cứng cỏi, bản lĩnh.

Tại đảo Trường Sa, nơi được xem là “thủ phủ” của quần đảo, ngay khi tàu cập cảng, đoàn công tác đã được cán bộ, chiến sỹ cùng nhân dân, đặc biệt là các cháu nhỏ hân hoan ra chào đón. Tại đây, đoàn đã đến thắp hương tại Đài liệt sỹ, thăm Nhà tưởng niệm Bác Hồ, chùa Trường Sa; thăm hỏi cán bộ chiến sỹ và các hộ dân sinh sống trên đảo.
Tại đảo Trường Sa, nơi được xem là “thủ phủ” của quần đảo, ngay khi tàu cập cảng, đoàn công tác đã được cán bộ, chiến sỹ cùng nhân dân, đặc biệt là các cháu nhỏ hân hoan ra chào đón. Tại đây, đoàn đã đến thắp hương tại Đài liệt sỹ, thăm Nhà tưởng niệm Bác Hồ, chùa Trường Sa; thăm hỏi cán bộ chiến sỹ và các hộ dân sinh sống trên đảo.

Tàu khuất dần, vẫn trông thấy các chiến sĩ Nhà giàn vẫy chào, trên tay họ, lá cờ đỏ Tổ quốc tung bay khẳng định chủ quyền!

Trước khi kéo ba hồi còi tạm biệt, tàu KN491 đã chạy vòng quanh Nhà giàn để hát vang những bài ca và gửi gắm tình yêu của đất liền tới những người lính biển.

Và trong mỗi chúng tôi niềm tin cứ lớn dần lên vì ở nơi đó, giữa Trường Sa thân yêu, và cả vùng biển thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc luôn có các anh, những người lính đảo anh dũng, kiên cường, bất khuất.

Đúng như lời tổng kết sau chuyến hải trình gần 9 ngày đêm trên biển đảo của Chuẩn đô đốc Phạm Văn Luyện-Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân, Trưởng đoàn công tác “khi đi mang theo tình cảm, khi về trọn niềm tin yêu.”

Còn với những vị khách từ đất liền, những ngày lênh đênh trên biển không Wifi, không Facebook, Zalo với muôn thứ giải trí của thời đại công nghệ số, nhưng chúng tôi đã có được một khoảng thời gian đầy ý nghĩa, một trải nghiệm quý giá. Đó là được nhìn thấy, cảm nhận rõ hơn về những người con của Tổ quốc đang ngày đêm canh giữ bình yên cho biển đảo quê hương.

Chia tay đảo Trường Sa, con tàu KN 491 không biết bao lần gióng lên tiếng còi xuất phát nhưng đành phải nén lại bởi lời thề của các chiến sỹ hải quân cứ văng vẳng bên tai: “Trường Sa vì Tổ quốc”. “Trường Sa vì Tổ quốc!” và những tiếng hô vang của các đại biểu trên tàu “Tất cả vì Trường sa thân yêu”… lưu luyến tâm trạng của người đi, người ở.

Trước lúc kết thúc hải trình, tàu KN 491 đã chở đoàn công tác tới thăm Nhà giàn DK1. Chúng tôi càng khâm phục các chiến sỹ nơi đây vì Nhà giàn nằm giữa biển, cao chênh vênh. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Trước lúc kết thúc hải trình, tàu KN 491 đã chở đoàn công tác tới thăm Nhà giàn DK1. Chúng tôi càng khâm phục các chiến sỹ nơi đây vì Nhà giàn nằm giữa biển, cao chênh vênh. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chuyến hải trình hơn 1.000 hải lý khép lại, nhưng đã thắp sáng niềm tự hào, tự tôn dân tộc, mở ra bao hoài bão cháy bỏng, thôi thúc mỗi người sống và làm việc có ý nghĩa hơn vì Tổ quốc, cho Tổ quốc…

Trở về đất liền đã nhiều ngày, nhưng với người viết, cảm xúc về Trường Sa vẫn vẹn nguyên như lời Bác Hồ vang vọng: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó…” Trong giấc mơ, tôi vẫn thấy sóng, gió, biển, đảo và hình ảnh những chiến sĩ hải quân và ngư dân nơi đảo xa.

Những hình ảnh ấy sẽ còn đọng mãi trong tôi và theo tôi đi suốt cuộc đời. Thế hệ trẻ chúng tôi có niềm tin vững vàng hơn vào những người lính đang ngày đêm vững chắc tay súng để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó…” – lời Bác Hồ vang vọng.

Xin được kết thúc loạt bài viết bằng “10 lời thề” thể hiện ý chí quật cường, niềm kiêu hãnh của cán bộ chiến sỹ Trường Sa.

Họ đã dành trọn tình yêu và dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, những người lính đảo vẫn trên dưới một lòng bám trụ, và gìn giữ từng tấc đất, hòn đảo, biển trời của Tổ quốc:

1. Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Xin thề!

2. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác. Xin thề!

3. Không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Xin thề!

4. Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, triệt để chấp hành điều lệnh, điều lệ, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy, xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Xin thề!

5. Nêu cao tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, làm tròn nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước. Xin thề!

6. Luôn luôn cảnh giác, tuyệt đối giữ bí mật quân sự và bí mật quốc gia. Nếu bị quân địch bắt, dù phải chịu cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, không bao giờ phản bội xưng khai. Xin thề!

7. Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí. Xin thề!

8. Ra sức giữ gìn vũ khí trang bị, quyết không để hư hỏng hoặc rơi vào tay quân thù. Luôn nêu cao tinh thần bảo vệ của công, không tham ô, lãng phí. Xin thề!

9. Khi tiếp xúc với nhân dân làm đúng ba điều nên kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; và ba điều răn không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân. Để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí. Xin thề!

10. Giữ vững phẩm chất tốt đẹp và truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội nhân dân, luôn tự phê bình và phê bình, không làm điều gì hại tới danh dự của quân đội và quốc thể nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xin thề!./.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, những người lính đảo vẫn trên dưới một lòng bám trụ, và gìn giữ từng tấc đất, hòn đảo, biển trời của Tổ quốc.
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, những người lính đảo vẫn trên dưới một lòng bám trụ, và gìn giữ từng tấc đất, hòn đảo, biển trời của Tổ quốc.

Thiết kế : Thanh Trà – Hùng Võ

Vì sao Facebook

Tháng 5/2019, một tờ báo điện tử có lượng truy cập thuộc hàng lớn nhất Việt Nam đã quyết định đóng fanpage trên Facebook, chấp nhận mất một nguồn traffic đáng kể. Không chỉ trang mạng này, nhiều tờ báo khác, cả Việt Nam lẫn quốc tế, cũng không còn mặn mà với nền tảng mạng xã hội lớn nhất thế giới.

Từng được coi là phương tiện chuyển tải thông tin hữu hiệu trong thời đại mà truyền thông xã hội lên ngôi, song Facebook đang ngày càng đánh mất niềm tin của cộng đồng báo giới, và từ cả chính phủ của nhiều quốc gia.

Làn sóng di cư khỏi Facebook

Tháng 4/2016, tại Hội nghị Publish Asia tổ chức ở Manila (Philippines), có sự tham dự của đại diện Thông tấn xã Việt Nam, diễn giả Asha Phillips – sáng lập trang chuyên về theo dõi tin tức trên mạng xã hội Crowdynews – đã đưa ra một thông tin khiến nhiều người hào hứng: Lần đầu tiên, lượng người đọc (tại Mỹ) tin tức qua mạng xã hội đã vượt công cụ tìm kiếm. Như thế, có thể coi là trên lĩnh vực chuyển tải thông tin, Facebook đã chiến thắng Google.

Cũng ở hội nghị này, một đại diện của trang Buzz Feed đang nổi đình đám ở thời điểm đó đã lên chia sẻ cách thức tạo thông tin lan tỏa mạnh (viral) trên mạng xã hội, coi đó như hướng đi chủ đạo của báo chí trong kỷ nguyên mà truyền thông xã hội lên ngôi.

Lúc đó, tờ báo nào chưa lập fanpage, chưa chú trọng đưa nội dung lên Facebook sẽ bị coi như chậm chân, cầm chắc thất bại trong việc tranh giành độc giả.

Liệu sẽ có trào lưu
Liệu sẽ có trào lưu “di cư” khỏi Facebook?

Nhận định ấy cũng trùng với thời điểm Facebook bắt đầu triển khai Instant Article (IA), nền tảng đọc báo nhanh có lúc được coi như công cụ dẫn dắt xu thế. Tưởng như, đó sẽ là một cuộc hôn phối ngọt ngào, bởi Facebook không chỉ đem lại lượng độc giả lớn, mà còn cả doanh thu cho báo chí trong thời buổi khó khăn.

Song, niềm vui ngắn chẳng tày gang.

Chỉ đến tháng 1/2018, theo Business Insider, trong số 72 cơ quan báo chí đầu tiên được Facebook mở tính năng xuất bản trên IA thì chỉ còn lại 38 tờ báo còn tiếp tục gắn bó với nền tảng này. Ở Việt Nam, không có con số chính xác, nhưng nhiều tờ báo lớn cũng rút khỏi Facebook. Không chỉ dừng sử dụng IA mà còn đóng cửa, hoặc hạn chế đưa bài lên fanpage.

Trong số 72 cơ quan báo chí đầu tiên được Facebook mở tính năng xuất bản trên IA thì chỉ còn lại 38 tờ báo còn tiếp tục gắn bó với nền tảng này.

Theo Digiday, có nhiều lý do để các tờ báo đưa ra quyết định như vậy, liên quan đến chiến lược phát triển, doanh thu thấp hơn dự kiến, hay thậm chí cả lý do chính trị (thiếu công cụ lọc bình luận như YouTube). Song tựu chung lại, thì Facebook đã không tạo ra một sân chơi bình đẳng như họ từng hứa hẹn, như nhận xét của một đồng nghiệp làm báo online kỳ cựu.

Theo lời người đồng nghiệp này thì tờ báo của anh đã tốn khá nhiều chi phí cho Facebook để phát triển fanpage, tăng lượt tương tác, lượt người đọc. Tuy nhiên, ngay cả khi chấp nhận mất tiền thì trang báo của anh vẫn ì ạch, bởi mạng xã hội này liên tục thay đổi thuật toán, thậm chí là hàng tuần, khiến việc nắm bắt xu thế, phát triển bạn đọc gặp nhiều khó khăn.

Bản thân Facebook cũng không giấu diếm việc họ quay lưng với báo chí, như thế họ muốn vùi dập tất cả để trở thành tờ báo quyền trên môi trường mạng. Trong một bài viết đăng trên mục Blog vào tháng 1/2018, nhà sáng lập đồng thời là CEO của Facebook Mark Zuckerberg nói rằng mạng xã hội này sẽ chỉnh sửa lại News Feed, ưu tiên các nội dung chia sẻ của bạn bè, đồng thời giảm thời lượng xuất hiện của các nhà xuất bản tin tức.

Vụ bê bối liên quan đến công ty Cambridge Analytica đã để lộ ra nhiều điểm yếu chí tử của Facebook (Nguồn: Getty)
Vụ bê bối liên quan đến công ty Cambridge Analytica đã để lộ ra nhiều điểm yếu chí tử của Facebook (Nguồn: Getty)

Nhưng sự thật có phải như vậy? Anh bạn đồng nghiệp của người viết lấy một ví dụ cụ thể, dù cố gắng liên tục tương tác với các fanpage của nhiều tờ báo, cả trong lẫn ngoài nước để nắm bắt thông tin, nhưng News Feed của anh vẫn thường hiển thị chủ yếu là thông tin của các tài khoản bán hàng. Và đương nhiên, những tài khoản bán hàng này thường xuyên chạy quảng cáo trên Facebook! Nghĩa là Facebook ruồng rẫy báo chí, nhưng cũng chẳng ưu tiên cho chúng ta chia sẻ tâm tư, mà họ chỉ nhăm nhăm kiếm tiền.

Sau vụ bê bối thu thập dữ liệu người dùng của Facebook và công ty tư vấn chính trị Cambridge Analytica, nhà bình luận xã hội uy tín người Anh Piers Morgan công khai gọi Zuckerberg là “kẻ tham lam.” Dường như Zuckerberg quá coi trọng việc tăng lợi nhuận hơn là duy trì tinh thần của một sân chơi tinh khôi như khi khởi nghiệp tại ký túc xá của trường Đại học Harvard.

Dường như Zuckerberg quá coi trọng việc tăng lợi nhuận hơn là duy trì tinh thần của một sân chơi tinh khôi như khi khởi nghiệp tại ký túc xá của trường Đại học Harvard. 

Trong khi đó, trang Chartbeat đưa ra một thống kê đáng chú ý: Trong sự cố sập mạng lịch sử kéo dài 45 phút của Facebook hôm 3/8/2018, lượng người đọc trực tiếp tại các trang tin tức tăng lên 11%, thậm chí là 22% với phiên bản mobile.

Những số liệu mới nhất cũng cho thấy, sau khi bị Facebook vượt mặt vào một thời điểm của năm 2016, Google đã giành lại ngôi vị số 1 trong cuộc cạnh tranh về phân phối tin tức (và cả quảng cáo) với đối thủ không đội trời chung trong lĩnh vực công nghệ. Nghĩa là lượng người đọc tin tức từ công cụ tìm kiếm của Google đã cao hơn lượng người đọc qua nền tảng mạng xã hội. Thêm một lý do để báo chí nói lời chia tay Facebook.

“Mark ạ, mọi người đột nhiên không còn tin cậu nữa”, nhà bình luận Morgan nhận xét, trong khi hashtag #deletefacebook lọt vào “top trending” trên Twitter.

Nhưng đó cũng chưa phải là điều tệ hại nhất của Facebook.

Khi Facebook thành cái nôi của tin giả

Ở trên, chúng ta đã nhắc đến vụ bê bối Cambridge Analytica, khi Facebook cho phép không chỉ một, mà nhiều công ty khác lén thu thập dữ liệu người dùng, vi phạm những điều luật về bảo vệ nhân thân của nhiều quốc gia. Nhưng nghiêm trọng hơn là dữ liệu bị đánh cắp đã trở thành công cụ chính trị được sử dụng nhằm làm sai lệch nhận thức của các cử tri trong các cuộc bầu cử, từ Mỹ cho tới nhiều quốc gia châu Âu.

Gần đây nhất, tháng 8/2018, mạng xã hội lớn nhất thế giới còn thừa nhận lén tiếp cận nội dung hội thoại của người dùng ứng dụng Messenger.

Mark Zuckerberg phải ra điều trần trước một ủy ban thuộc Quốc hội Mỹ vào tháng 4/2018 do bê bối thu thập dữ liệu người dùng (Nguồn: Getty)
Mark Zuckerberg phải ra điều trần trước một ủy ban thuộc Quốc hội Mỹ vào tháng 4/2018 do bê bối thu thập dữ liệu người dùng (Nguồn: Getty)

Giữa các bê bối ấy là những lần ông chủ Zuckerberg cùng dàn lãnh đạo Facebook phải ra điều trần trước quốc hội Mỹ, hay bị nhiều chính phủ khắp thế giới trừng phạt, hoặc hạn chế dịch vụ vì phát tán fake-news (tin giả), trốn thuế v.v…

Cho dù liên tục cam kết, hay đưa ra những công cụ để ngăn chặn tin giả, song những nỗ lực của Facebook vẫn như muối bỏ bể. Nói chính xác hơn, tin giả được phát tán như virus là do chính cơ chế của Facebook.

Trên tờ Chicago Tribune, nhà phân tích Christoph Aymanns cho rằng các công ty truyền thông xã hội lớn có thể chống lại tin tức giả bằng cách ngăn các nhà quảng cáo nhắm đến người dùng trên cơ sở quan điểm chính trị, hoặc thậm chí bằng cách đình chỉ tất cả quảng cáo chính trị trong các chiến dịch bầu cử. Nhưng điều này có thể là không thể, do tầm quan trọng của việc quảng cáo như vậy đối với doanh thu của mạng xã hội này.

Năm 2018 là năm bê bối của Facebook, vậy mà họ vẫn lãi kỷ lục với doanh thu riêng quý 4 là 16,9 tỷ USD. 

Năm 2018 là năm bê bối của Facebook, vậy mà họ vẫn lãi kỷ lục với doanh thu riêng quý 4 là 16,9 tỷ USD. Trong số này, hẳn có phần đáng kể từ thị trường Việt Nam, nơi ước tính có khoảng hơn 60 triệu tài khoản Facebook!

Vậy nhưng, những nỗ lực ngăn chặn tin giả của mạng xã hội này lại quá hời hợt. Phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 15/8, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, tỷ lệ đáp ứng của Facebook trước yêu cầu ngăn chặn “thông tin xấu độc” chỉ là từ 70-75%, thấp hơn nhiều so với Google (85%).

Tin tức giả liên quan đến vụ bé trai tử vong trên xe buýt của trường Gateway, được đăng trên một trang báo phát hành qua nền tảng Instant Article của Facebook. 
Tin tức giả liên quan đến vụ bé trai tử vong trên xe buýt của trường Gateway, được đăng trên một trang báo phát hành qua nền tảng Instant Article của Facebook. 

Chỉ bằng cảm quan thông thường, người dùng Facebook cũng dễ dàng nhận thấy quá nhiều lỗ hổng của Facebook trong việc ngăn chặn tin giả. Nếu như trước đây, ngay cả các báo lớn cũng phải chờ đợi để Facebook phê duyệt sử dụng Instant Article thì giờ đây, bất kỳ một trang mạng nào, thậm chí là blog cá nhân, cũng có thể đăng ký dịch vụ này, gây ra sự ngộ nhận cho người đọc.

Trong các vụ việc thu hút sự chú ý của dư luận gần đây, từ vụ tàu Hải Dương 008 của Trung Quốc đến các vụ học sinh tử vong trên xe đưa đón của trường Gateway, người dùng Facebook dễ dàng bắt gặp nhan nhản trang Instant Article giả mạo báo chính thống đăng tải thông tin bịa đặt, nhẹ thì nhằm câu view, qua đó lấy tiền quảng cáo, nặng thì nhằm bôi nhọ chính quyền, kích động dư luận.

Tất cả đều bị Facebook làm ngơ, nhằm tối ưu hóa mục đích kiếm tiền của mạng xã hội này.

Điều đáng nói hơn nữa là trong kỷ nguyên của Big Data (dữ liệu lớn) như hiện nay, không một cơ quan nào của chúng ta nắm giữ nhiều dữ liệu của người dùng Việt Nam như Facebook. “Bây giờ những thông tin mà họ thu thập được thì mới dùng để quảng cáo nhưng trong trường hợp đặc biệt dùng sẽ vào việc khác và có thể nguy hiểm đến an ninh”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cảnh báo.

Nếu như trước đây, ngay cả các báo lớn cũng phải chờ đợi để Facebook phê duyệt sử dụng Instant Article thì giờ đây, bất kỳ một trang mạng nào, thậm chí là blog cá nhân, cũng có thể đăng ký dịch vụ này, gây ra sự ngộ nhận cho người đọc.

Điều đó cho thấy, việc quản lý Facebook, hay thậm chí là thay thế nó bằng một mạng xã hội của Việt Nam là điều hoàn toàn nghiêm túc. Dĩ nhiên, Việt Nam cần tuân thủ các cam kết quốc tế, song chúng ta cũng không thể làm ngơ khi chủ quyền trên không gian mạng bị xâm phạm, hoặc bị thế lực bên ngoài điều khiển.

Và đó sẽ là một câu chuyện dài, cần sự chung tay của nhiều bộ, ban ngành, trong đó có cả những người làm truyền thông như chúng ta!

Mạng xã hội Lotus do công ty VCCorp phát triển sẽ chính thức ra mắt vào tháng 9/2019.
Mạng xã hội Lotus do công ty VCCorp phát triển sẽ chính thức ra mắt vào tháng 9/2019.

Xóa đói giảm nghèo:

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ vào ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 vấn đề cấp bách, trong đó cứu đói là một trong sáu nhiệm vụ hàng đầu. Người đã nhiều lần nhấn mạnh nhiệm vụ của Nhà nước là phải chăm lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở và được học hành.

Người nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, măc đủ.”

Thực hiện lời căn dặn của Người, giảm nghèo luôn được Đảng và Nhà nước xác định vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu để phát triển bền vững. Giảm nghèo vì thế đã trở thành một chủ trương lớn, một chương trình của quốc gia, giàu tính nhân văn, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong suốt 74 năm qua.

Thành tựu ấn tượng

Trong ba thập kỷ vừa qua, xoá đói giảm nghèo luôn là lĩnh vực đạt được nhiều thành công ấn tượng trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Cùng với phát triển kinh tế cao là hàng loạt các chính sách giảm nghèo được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp với nguồn kinh phí huy động từ Chính phủ, cộng đồng và các tổ chức xã hội quốc tế đã cải thiện đáng kể diện mạo nghèo đói ở tất cả các vùng miền trong cả nước.

Quyết tâm vươn lên thoát khỏi đói nghèo không chỉ là ý chí của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương mà đã trở thành suy nghĩ của từng hộ nghèo. Tỷ lệ nghèo trên đầu người (tính theo chi tiêu thu nhập) đã giảm mạnh từ 57% năm 1990 xuống còn 13,5% năm 2014.

Niềm vui được mùa của người trồng lúa. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)
Niềm vui được mùa của người trồng lúa. (Ảnh: Duy Khương/TTXVN)

Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về  về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015).

Nói về thành tựu giảm nghèo của Việt Nam, ông Ngô Trường Thi, Chánh văn phòng giảm nghèo (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) cho biết, mặc dù trong năm 2018 cũng như ba năm trở lại đây Việt Nam đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và thách thức, về cả về kinh tế, xã hội, thiên tai lũ lụt nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ và sự nỗ lực của toàn xã hội, kết quả giảm nghèo tiếp tục giữ vững.

Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo, về đích trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015).

Theo ông Ngô Trường Thi, trong hai năm 2016, 2017, tỷ lệ nghèo bình quân của cả nước đã giảm 1,8%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra từ 1-1,5%. Năm 2018, tốc độ giảm nghèo của Việt Nam được kiểm soát, đặc biệt, đời sống người dân được ổn định, cơ sở hạ tầng tại vùng sâu, vùng xa, vùng cao đã được cải thiện. Thành tựu giảm nghèo đã góp phần trong việc phát triển bền vững của đất nước.

“Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang ngày càng phát triển, nếu không có chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội, thì chắc chắn những đối tượng người nghèo sẽ tụt hậu, hoảng cách chênh lệch giàu, nghèo sẽ ngày càng lớn và tăng áp lực cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước,” ông Ngô Trường Thi khẳng định.

Hàng nghìn hộ sản xuất kinh doanh ở các xã thuộc vùng khó khăn có điều kiện phát triển kinh tế từ nguồn vay vốn tín dụng cho hộ nghèo, cận nghèo. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Hàng nghìn hộ sản xuất kinh doanh ở các xã thuộc vùng khó khăn có điều kiện phát triển kinh tế từ nguồn vay vốn tín dụng cho hộ nghèo, cận nghèo. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Ông Võ Văn Bảy, Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Điều phối Chương trình 135, (Ủy ban Dân tộc) cho biết, trong những năm qua, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự quan tâm của Đảng, Quốc hội và đặc biệt sự ủng hộ của người dân nên công tác giảm nghèo đạt được nhiều thành tựu.

Có rất nhiều điểm sáng, Chương trình 30a có 64 huyện nghèo thì có đến 8 huyện thoát nghèo, 14 huyện hưởng cơ chế chính sách được thoát nghèo. Bộ mặt nông thôn, sinh kế của người dân nơi đây đã được cải thiện…

Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam nhận định, các chính sách kinh tế và xã hội của Việt Nam đã giúp đạt được những kết quả to lớn trong mục tiêu giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo của các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm xuống là kết quả rất đáng khích lệ, trong giai đoạn 2014-2016, tỷ lệ nghèo của nhóm này đã giảm tới 13%, giảm mạnh nhất trong một thập niên vừa qua. Những nỗ lực tập trung vào việc tăng cường thu nhập cho các dân tộc thiểu số có thể gia tăng cơ hội cho những nhóm người này và giảm sự bất bình đẳng kéo dài.

Giảm nghèo đa chiều để phát triển bền vững

Từ thực tế chất lượng cuộc sống của con người liên quan đến nhiều khía cạnh khác ngoài thu nhập, năm 2014, Quốc hội đã quyết định việc giao Chính phủ xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để thực hiện từ năm 2016.

Việt Nam đã trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh. 

Năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, đánh dấu bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi của Việt Nam từ đo lường nghèo theo thu nhập sang đo lường đa chiều.  Theo đó, xác định chuẩn nghèo mới thay thế cho chuẩn nghèo cũ với các tiêu chí thoát nghèo cao hơn. Chuẩn nghèo xác định theo 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.

Những chỉ tiêu này xác định mục tiêu giảm nghèo một cách bền vững bởi nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển.

Việt Nam đã trở thành một trong số những nước đi đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh. Trong Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội (2016-2020), Việt Nam đã đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân cả nước là 1%-1,5%/năm và riêng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm.

Việc sử dụng chuẩn nghèo quốc gia không những là cần thiết cho việc xây dựng các chính sách, chương trình giảm nghèo và cho công tác giám sát nghèo ở Việt Nam mà còn giúp Việt Nam theo dõi tiến độ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDG).

Không bằng lòng với những kết quả đã đạt được, Đảng, Quốc hội và Nhà nước quyết định thay đổi chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững hơn. Việc hoạch định các chính sách về xóa đói, giảm nghèo cũng đã có những thay đổi rất căn bản để phù hợp với những yêu cầu mới.

Để nâng cao hiệu quả của chính sách, Quốc hội và Chính phủ đã gộp tất cả các chương trình xóa đói, giảm nghèo lại thành một chương trình là “Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020”. Trong đó bao gồm 5 dự án thành phần là: Chương trình 30a (giảm nghèo nhanh và bền vững cho các huyện nghèo); Chương trình 135 (Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi); Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135; Truyền thông và giảm nghèo về thông tin; Nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá thực hiện chương trình.

Trồng cây sa nhân đang là hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp của nông dân vùng cao trên địa bàn tỉnh Điện Biên. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)
Trồng cây sa nhân đang là hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp của nông dân vùng cao trên địa bàn tỉnh Điện Biên. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 diễn ra trong bối cảnh mới gắn liền với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội (2016-2020), đây là giai đoạn cuối nhằm thực hiện hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm.

Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước nhưng nguồn lực của Chương trình ưu tiên đầu tư cho các địa bàn nghèo và khó khăn  để giảm sự cách biệt giữa các vùng miền. Tổng kinh phí thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2016-2020 là 48.397 tỷ đồng, trong đó 95,7% huy động từ ngân sách Nhà nước.

Cả nước hiện có 64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo; 310 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; 2.331 xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, xã an toàn khu và 3.509 thôn, bản đặc biệt khó khăn được đầu tư, hỗ trợ theo các cơ chế, chính sách của Chương trình 135 theo Quyết định 551/QĐ-TTg ngày 4/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Tăng trưởng mang tính bao trùm

Trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam thực hiện hàng loạt các chương trình, chính sách nhằm hướng tới giảm nghèo đa chiều một cách bền vững. Mặc dù mới chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, hệ thống chính sách giảm nghèo ở Việt Nam được đánh giá là có tính chất toàn diện, tiếp cận đa chiều và đã bao phủ hầu hết các nhu cầu, thiếu hụt của người nghèo, gồm hệ thống chính sách giảm nghèo chung, các chính sách giảm nghèo đặc thù.

Đặc biệt, hầu hết các chính sách trong giai đoạn 2016-2020 không phải là chính sách mới mà đã được duy trì từ giai đoạn trước, với những điều chỉnh phù hợp. Cùng với tăng trưởng kinh tế mang tính bao trùm, những chương trình, chính sách này đã góp phần giúp Việt Nam giảm nghèo ấn tượng.

Việc đạt được những kết quả giảm nghèo ấn tượng là nhờ tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam trong ba thập niên vừa qua được đánh giá là mang tính bao trùm, đại đa số người dân được tham gia vào tăng trưởng và hưởng lợi từ quá trình này.

Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam cho hay, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói giảm nghèo trong vài thập kỷ vừa qua.

Bà Caitlin Wiesen cũng đánh giá rất cao nỗ lực của Việt Nam trong sử dụng phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói và giúp Việt Nam xóa đói giảm nghèo một cách toàn diện hơn và ở nhiều khía cạnh hơn không chỉ cải thiện thu nhập.

Việc đạt được những kết quả giảm nghèo ấn tượng là nhờ tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam trong ba thập niên vừa qua được đánh giá là mang tính bao trùm, đại đa số người dân được tham gia vào tăng trưởng và hưởng lợi từ quá trình này.

Một quốc gia nếu không giải quyết dứt điểm xóa đói giảm nghèo thì sẽ ẩn chứa nguy cơ phát triển không bền vững, thậm chí dẫn đến những hậu quả bất ổn định kinh tế-xã hội. Trong giai đoạn tới, để duy trì được các kết quả về giảm nghèo và kiềm chế sự gia tăng của bất bình đẳng, các chuyên gia khuyến nghị Việt Nam cần tiếp tục củng cố bốn trụ cột chính, gồm: Tạo việc làm có năng suất nhằm tăng thu nhập bền vững cho mọi người lao động; mở rộng diện bao phủ hướng tới phổ cập hóa các dịch vụ xã hội cơ bản; củng cố hệ thống an sinh xã hội cho các nhóm yếu thế để đảm bảo không có ai bị bỏ lại phía sau; lấy sự khác biệt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và địa lý giữa các nhóm dân tộc thiểu số làm trọng tâm để nghiên cứu, đề xuất chính sách phù hợp, hiệu quả./.

Sau hơn 30 năm đổi mới, từ chỗ là nước thiếu gạo, phải nhập khẩu, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. (Ảnh: TTXVN)
Sau hơn 30 năm đổi mới, từ chỗ là nước thiếu gạo, phải nhập khẩu, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. (Ảnh: TTXVN)

День Независимости:

«Ветер развевал флаг на башне/Ветер пробудил здесь много новых источников жизни …» (текст песни «Солнечная площадь Бадинь»- музыкант Буй Конг Ки, поэт Ву Хоанг Дык)

Прислушиваясь к этим героическим текстам, вьетнамцы, где бы они ни жили на своей земле или за границей, молчат, вспоминая о революционной осени. Прошло более семи десятилетий, но народ помнит до сих пор как прошел долгий путь боли, потерь, но также славы и гордости.


Ради сегодняшнего мира, ушедшие поколения принесли много жертв. Наряду с национальной гордостью и стремлением к миру, День Независимости также является моментом, когда мы должны продолжать задумываться о происходящих переменах в стране.

Đông đảo nhân dân tập trung tại quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. (Ảnh: TTXVN)
Đông đảo nhân dân tập trung tại quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

Точка опоры для следующего шага

Фотограф г-н Хыа Кием – преподаватель культуры Главного управления военной политики. В 1965 году его отправили в класс для подготовки военных и фотокорреспондентов ВИА для фронта в Южном Вьетнаме. После этого он стал главным в группе военных фотографов (фотоагентство при ВИА).

«…по случаю Дня Независимости мы все слышали слова песни «Солнечная площадь Бадинь» и голос дядя Хо, зачитавшего «Декларацию Независимости»… по радио. Чувства того времени было трудно передать – одновременно это было очень душевно и ощущался жестокий бойцовский дух. Это была духовная точка опоры для нас, чтобы почувствовать уверенность в жестокой битве с неожиданными и непредсказуемыми событиями»

Сложно описать все чувства и тот боевой дух, который мы испытавали, когда мы слушали песню «Солнечная площадь Бадинь» и речь Дяди Хо, посвященную Декларации независимости. Это была духовная точка опоры для нас, чтобы почувствовать уверенность в предстоящей жестокой битве.

Во время войны Хыа Кием был не только военным корреспондентом, но и солдатом – он жил и сражался как солдат. Судьба выдающегося фотографа и его поколения была неразделима связана с судьбой нации с момента революции в 1945 году.

Корреспондент ВИА Хыа Кием берет интервью с населением Сайгона для статьи об окончательной победе в 1975 году. (Фото: ВИА)
Корреспондент ВИА Хыа Кием берет интервью с населением Сайгона для статьи об окончательной победе в 1975 году. (Фото: ВИА)

В те годы он отправлялся на юг и на север, ходил в лес, а затем к морю, цепляясь за горячие точки, такие как «линия огня» Виньлинь («линия огня» – Дорога 20, соединяющая Донгчыонгшон и Тайчыонгшон, тропы Хо Ши Мина – совокупность важных стратегических точек водных и транспортных путей, использовавшихся для снабжения и переброски подкрепления). Вернувшись с войны, он нес с собой свою гордость и боль.

«В тот период, каждый раз, когда я бросался на поле битвы, я не думал о таких понятиях, как «патриотизм» или «национальная гордость». У меня была только одна мысль и миссия – лучшие фотографии. Я несу ответственность за разъяснение, четкую передачу праведного характера борьбы нашего народа и армии населению в тылу и всему остальному миру», – вспоминает г-н Хыа Кием.

Воспоминания возвращаются назад, как кадры замедленной съемки, развернутой перед полевым корреспондентом в прошлом. Под градом пуль и взрывами каждый день получали ранения и гибли люди. Все мысли о смерти, праздновании Нового года и Дне независимости, исчезали среди звуков выстрелов, взрывах бомб и стонах раненых…

«Во время войны мы должны сражаться! Однако, по случаю Дня независимости мы все слышали слова песни «Солнечная площадь Бадинь» и голос дядя Хо, читавшего «Декларацию независимости»… по радио. Чувства того времени было трудно передать – одновременно это было очень душевно и ощущался жестокий бойцовский дух. Это была духовная точка опоры для нас, чтобы почувствовать уверенность в жестокой битве с неожиданными и непредсказуемыми событиями», – вспоминает бывший корреспондент ВИА.    

2 сентября 1945 года на исторической площади Бадинь Президент Хо Ши Мин зачитал Декларацию независимости, в результате которой родилась Демократическая Республика Вьетнам. (Фото: ВИА)

2 сентября 1945 года на исторической площади Бадинь Президент Хо Ши Мин зачитал Декларацию независимости, в результате которой родилась Демократическая Республика Вьетнам. (Фото: ВИА)

«Ветер развевал флаг. Ветер поднялся, и появилось много новых источников жизни …» Бывший военный корреспондент пел «Солнечная площадь Бадинь».

Это одна из немногих редких песен, воссоздающих атмосферу исторической площади Бадинь 2 сентября 1945 года. Лирика процитировала близкую и дорогую сердцу цитату дяди Хо – прежде чем он прочитал «Декларацию независимости» и создал Демократическую Республику Вьетнам, он спросил: «Соотечественники! Слышите ли вы меня? Ясно ли я говорю?».

«Солнечная площадь Бадинь» с быстрыми и медленными ритмами была наполнено эмоциями, вспыхнувшими в священный момент национальной истории. Эта песная отразила все: и сцену войны и мира, радость победы и боль от потерь.

Событие на площади Бадинь 2 сентября 1945 года затронула миллионы вьетнамских сердец.

Опыт не забыть

Прошло 74 года, но группа везучих людей, присутствующих при этом историческом событии, все еще испытывает сильные эмоции. Просматривая черно-белые фотографии, окрашенные временем, у народной артистки Чу Тхюи Кунь до сих пор дрожат руки.

Кунь прошла долгий путь и пережила множество событий в жизни. Новое и радостное ощущение, когда она впервые погрузилась в эту атмосферу, чтобы отпраздновать День независимости, теперь передалось в более глубокое осознание всей важности исторического события.

Cảm thức về Tết Độc lập của nghệ sỹ nhân dân Chu Thúy Quỳnh không còn nằm ở phần nổi với sự háo hức, hồ hởi mà dần lắng sâu, chuyển thành những trăn trở, suy tư. (Ảnh: Vietnam+)  
Cảm thức về Tết Độc lập của nghệ sỹ nhân dân Chu Thúy Quỳnh không còn nằm ở phần nổi với sự háo hức, hồ hởi mà dần lắng sâu, chuyển thành những trăn trở, suy tư. (Ảnh: Vietnam+)  

«Когда я была ребенком, каждый год перед Днем независимости я чувствовала себя очень нервным и взволнованным. Взрослые рассказывали о прошлом, убирали в доме, говорили друг другу о желаниях, которые сбудутся, когда наступит мир… Затем, 2 сентября, моя семья ходила в город и мы одевали свою лучшую одежду, чтобы присоединиться к всеобщей атмосфере праздника», – рассказала народная артистка Чу Тхюи Кунь.В этот день обычные улыбки на устах молодых людей становились ярче. Там был взгляд старых матерей с заботливыми глазами, вспоминая своих детей, все еще находящихся на фронте. «Кажется, что во время Дня Независимости люди становились ближе. Те, кто даже не был знаком, тепло махали рукой друг другу», – вспоминает артистка.

«Для меня каждое празднование Дня Независимости является напоминанием о гражданской ответственности».

Позже, когда она был принята в Центральный народный танцевальный ансамбль, благодаря своему таланту и стала профессиональным танцором, у народной артистки Чу Тхюи Кунь появилось много возможностей выступать перед солдатами и своими коллегами во время празднования Дня Независимости.

Как гласит история, ветеран из деревни сказал: «Теперь для меня каждый случай празднования Дня независимости – это напоминание о гражданской ответственности».

Хо Ши Мин зачитал декларацию независимости 2 сентября 1945 года на плозади Бадинь, Ханой

Со временем, по мере развития страны, культурная и творческая жизнь также изменилась. В условиях глобализвации, перед наплывом импортируемой культуры извне, необходимо сохранить национальную идентичность – вот, что больше всего беспокоит народную артистку Чу Тхюи Куня. Поэтому в своих произведениях хореограф Чу Тхюи Кунь часто обращает внимание на народное творчество.

Председатель Вьетнамской ассоциации танцоров сказал, что в этой области искусства историческая тема всегда рассматривалась как одна из центральных и важных тем в создании произведений.

«Героическая и революционная история нашей нации создала много великих произведений. Есть много композиций, которые ставились и исполнялись прямо на поле битвы. Например, танец «Познакомься с пушкой» родился в 1965 году на поле битвы в районе военного округа номер 4, когда мы услышали истории о том, как три солдата (артиллерист, партизанка и моряк) стреляли вместе, стараясь сбить самолет», – делится воспоминаниями артистка Чу Тхюи Кунь, вспоминая юные годы.

19 августа 1945 года, после митинга на площади Большого театра, народ Ханоя совершил штурм и взятие резиденции Полномочного Индокитая. Победа августовской Революции открыла новую веху во Вьетнаме - веха народной власти над страной и над собственной судьбой.  (Фото из архива ВИА)
19 августа 1945 года, после митинга на площади Большого театра, народ Ханоя совершил штурм и взятие резиденции Полномочного Индокитая. Победа августовской Революции открыла новую веху во Вьетнаме – веха народной власти над страной и над собственной судьбой.  (Фото из архива ВИА)

В настоящее время знания и понимание истории некоторых молодых хореографов и артистов ограничены. Поэтому, «когда они используют тему истории в своих произведениях, они собирают и ищут материал. Однако из-за того, что артисты не успевают глубоко задуматься над материалом, некоторые работы не достаточно глубоко освещают проблемы./.

‘Bức tranh’ kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu suy giảm, “bức tranh kinh tế” Việt Nam tiếp tục ghi nhận những chuyển biến tích cực.

Những điểm sáng của nền kinh tế có thể nhìn từ các con số đạt được, như tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu hàng hóa trong tám tháng đạt 336,56 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu 169,98 tỷ USD và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Đáng chú ý, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 13,9% và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 4,6%. Thêm vào đó, tỷ trọng khu vực kinh tế trong nước duy trì xu hướng đi lên, chiếm 30,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi ở cùng kỳ năm ngoái là 28,8%.

Trong tám tháng ước tính đã xuất siêu 3,4 tỷ USD, kết quả này là nhờ đóng góp của nhóm hàng điện thoại và linh kiện với kim ngạch xuất khẩu hơn 33 tỷ USD, chiếm 19,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.

Tám tháng, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 13,9% và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 4,6%. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)
Tám tháng, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 13,9% và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 4,6%. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)

Chủ động vượt qua những “bất ổn” từ bên ngoài

Trong khi kinh tế thế giới có xu hướng giảm tốc với các yếu tố rủi ro và thách thức gia tăng, sự căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn khiến thương mại và đầu tư toàn cầu đi xuống với niềm tin kinh doanh toàn cầu giảm sút.

Trước đó, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nêu rõ, kinh tế thế giới rơi vào thời kỳ bất trắc với khoảng 70% các nền kinh tế (trong đó hầu hết nước phát triển) phải đối mặt với khả năng tăng trưởng chậm lại. Theo đó, các nước trong khu vực cần có những chính sách thận trọng và nhanh chóng để có thể định hướng nền kinh tế vượt qua các cơn “gió xoáy.”

Các nước trong khu vực cần có những chính sách thận trọng và nhanh chóng để có thể định hướng nền kinh tế vượt qua các cơn “gió xoáy”.

Giám đốc phụ trách khu vực châu Á-Thái Bình Dương của IMF, ông  Changyong Rhee, cảnh báo chính sách kinh tế khó đoán định có thể tạo ra  mối đe dọa mới với tốc độ tăng trưởng, tại Hội nghị mùa Xuân–IMF, ngày  12/4. (Ảnh: TTXVN)
Giám đốc phụ trách khu vực châu Á-Thái Bình Dương của IMF, ông Changyong Rhee, cảnh báo chính sách kinh tế khó đoán định có thể tạo ra mối đe dọa mới với tốc độ tăng trưởng, tại Hội nghị mùa Xuân–IMF, ngày 12/4. (Ảnh: TTXVN)

Trong tình hình đó, Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2019 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019 và Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 1/4/2019 về các giải pháp tập trung tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm mục tiêu đề ra.

Kết quả sau nửa chặng đường của năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) ghi nhận mức tăng 6,76%, mặc dù thấp hơn so với mức tăng 6 tháng đầu năm 2018 song con số này cao hơn so với đà tăng của giai đoạn năm 2011-2017.

Ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng ban Nghiên cứu tổng hợp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định, kết quả này không cách xa mục tiêu tăng trưởng cả năm 2019 (từ 6,8% đến 7,0%).

“Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà mở rộng tăng trưởng, tuy nhiên tăng trưởng GDP tiềm năng vẫn giữ xu hướng giảm, phản ánh lo ngại về chất lượng tăng trưởng chưa được củng cố, đặc biệt khi Việt Nam lưu tâm hơn đến ứng phó với tác động bất lợi từ môi trường kinh tế bên ngoài,” ông Dương nói.

Báo cáo bán thường niên của Ngân hàng Thế giới về tình hình kinh tế Việt Nam cũng chỉ ra, trong nền kinh tế nội địa, ngành dịch vụ ghi nhận kết quả kinh doanh tốt với nhu cầu tiêu dùng trong nước tiếp tục đi lên. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ trên GDP giảm từ mức đỉnh 63,7% năm 2016 xuống còn khoảng 58,4% năm 2018. Mặc dù có những dấu hiệu cho thấy tăng trưởng chững lại theo chu kỳ song triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn tích cực.

Theo Tổng cục trưởng Nguyễn Bích Lâm: “Điều này định tính kịp thời và hiệu quả của các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được Chính phủ về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đồng thời cho thấy sự nỗ lực của các ngành, các địa phương trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2019.”

Tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu hàng hóa trong tám tháng đạt 336,56 tỷ USD. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)
Tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu hàng hóa trong tám tháng đạt 336,56 tỷ USD. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)

Niềm tin về triển vọng kinh doanh

Sang những tháng tiếp theo, tình hình sản xuất kinh, doanh trong nước tiếp tục có được những kết quả khả quan. Cụ thể, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tám tháng có mức tăng khá và đạt 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,6% đồng thời ngành khai khoáng tăng nhẹ nhờ khai thác than tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô và sản xuất, phân phối điện luôn bảo đảm cung cấp đủ cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng trong xã hội.

Niềm tin kinh doanh tiếp tục tăng lên, báo cáo của Tổng cục thống kê cho biết, tổng số đơn vị đăng ký thành lập mới và hoạt động trở lại đã đạt gần 116.000 doanh nghiệp trong tám tháng qua và tăng 7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước gần 2/3 chặng đường của năm có các dấu hiệu tích cực khi đạt tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch năm cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước trong tám tháng thực hiện là 189.200 tỷ đồng, bằng 53,1% kế hoạch năm và tăng 3,8% (so với cùng kỳ năm 2018 là 51,8% và tăng 10,4%).

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tám tháng có mức tăng khá và đạt 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,6% đồng thời ngành khai khoáng tăng nhẹ nhờ khai thác than tăng cao.

Theo ông Dương, sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp với những đánh giá tương đối tích cực góp phần khắc họa nên những gam màu sáng trong “bức tranh” của nền kinh tế. Và, điều này xuất phát từ những cải thiện về môi trường đầu tư và kinh doanh, những kỳ vọng về việc Việt Nam đi vào thực hiện Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cũng như chuẩn bị thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam–EU (EVFTA).

Tiến gần hơn với mục tiêu tăng trưởng của năm

Bằng những phương pháp phân tích kỹ thuật, nhóm chuyên gia của CIEM cập nhật dự báo, tăng trưởng kinh tế năm 2019 có thể đạt mức 6,82% và tăng trưởng xuất khẩu cả năm ở mức 8,02%, thặng dư thương mại ở mức 0,8 tỷ USD và lạm phát bình quân năm 2019 đạt 3,38%.

“Chứng kiến bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có không ít bất định, kể cả thách thức không nhỏ đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Công tác điều hành chính sách, cải cách kinh tế của Việt Nam đem lại những điểm sáng, qua đó đóng góp vào những kết quả ít nhiều tích cực về tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô.

Vị thế quốc gia ít nhiều được cải thiện và Việt Nam vẫn giữ được cái nhìn nghiêm túc về thực trạng kinh tế-xã hội của đất nước. Chính phủ, các bộ, ngành đã thường xuyên theo dõi, đánh giá và dự báo tình hình thế giới và trong nước, qua đó cập nhật và hoàn thiện các kịch bản điều hành trong nước. So với giai đoạn 2008-2009, Việt Nam đã có thêm kinh nghiệm và bình tĩnh hơn trong việc ứng phó với tác động bất lợi từ những diễn biến kinh tế thế giới. Quan trọng hơn, các yêu cầu cải cách môi trường kinh doanh vẫn được lưu tâm, thúc đẩy song song với quá trình ứng phó với bất định của môi trường kinh tế thế giới,” báo cáo của CIEM chỉ ra.

Theo người đứng đầu ngành Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, quý 3 có tính chất quyết định trong việc thực hiện với mục tiêu tăng trưởng ít nhất đạt 6,91%. Do đó, các bộ, ngành, địa phương sẽ phải tập trung cao độ và triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm củng cố niềm tin và sự an tâm của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong sản xuất, kinh doanh.

“Nếu không có yếu tố bất thường tác động đến tăng trưởng cộng với sự nỗ lực triển khai các giải pháp đã được đề ra của Chính phủ, dự báo tăng trưởng GDP năm 2019 có thể đạt mục tiêu 6,8%,” Bộ trưởng lạc quan đưa ra nhận định.

Với cái nhìn khách quan, ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đưa ra quan điểm khá thận trọng, tình trạng bất định toàn cầu tăng lên khi căng thẳng thương mại tái leo thang và những biến động tài chính cũng phức tạp hơn. Những rủi ro còn phức tạp hơn khi kết hợp với những nguy cơ dễ tổn thương từ trong nước, bao gồm sự chậm trễ trong quá trình củng cố tình hình tài khóa, cải cách doanh nghiệp Nhà nước và khu vực ngân hàng. Điều này gây ảnh hưởng đến cảm nhận của nhà đầu tư và viễn cảnh tăng trưởng.

“Vì vậy, Việt Nam phải tiếp tục tăng cường chiều sâu cải cách cơ cấu, nâng cao năng lực. Thêm vào đó, Việt Nam cần chuẩn bị điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô trong trường hợp rủi ro nêu trên trở thành hiện thực, dẫn đến suy giảm sâu hơn so với dự kiến,” theo ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam./.

World Bank đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2019 sẽ giảm còn 6,6%, chỉ số lạm phát duy trì dưới chỉ tiêu lạm phát chính thức là 4%. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
World Bank đưa ra dự báo tăng trưởng GDP năm 2019 sẽ giảm còn 6,6%, chỉ số lạm phát duy trì dưới chỉ tiêu lạm phát chính thức là 4%. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Đi tìm…

Trong thời đại mà thuốc bảo vệ thực vật trở thành thứ công cụ lao động không thể thiếu của người nông dân, còn kè bêtông là phương án đầu tiên xuất hiện trong mọi trường hợp sạt lở, vẫn có những cá nhân tin vào sức mạnh của tự nhiên, cho rằng tự nhiên có thể làm được điều gì đó lớn lao hơn chức năng làm giá thể cho sự sống của con người.

Cỏ giữ đất

Khu vườn, nơi chúng tôi đang đứng, không dùng bất kỳ một giọt thuốc trừ sâu hay một hạt phân bón hóa học nào suốt 11 năm qua. Dọc đường đi vào vườn, những trảng sài đất, cỏ lạc nở hoa vàng rực rỡ. Trên các luống rau, các loại mùng tơi, chân vịt, muống cạn… mọc chen với cỏ. Và khắp trong không gian, bướm, sâu, châu chấu… cùng muôn loài côn trùng không rõ tên liên tục vận động. Nếu một người nông dân “kiểu mẫu” của thời hiện đại đứng đây, hẳn người đó sẽ kêu lên: “Vườn gì mà tốt như rừng thế này, cả năm không chăm bón hay sao?.”

Thực tế là người chủ khu vườn – chị Nguyễn Thị Phương Liên – đã mất hơn một thập kỷ chỉ để chăm sóc cho nó “tốt như rừng.”

“Hơn 10 năm trước đây, khi chúng tôi thuê lại mảnh đất này, nó rất cằn cỗi và bạc màu, bởi người chủ trước đã khai thác đến cạn kiệt lớp đất mặt để đóng gạch. Khắp nơi trong vườn là lớp đất sét cứng đanh, khô khốc… Bởi vậy, việc cần làm đầu tiên là phải cải tạo đất,” chị Liên nhớ lại. Và sử dụng cỏ là một trong những cách được chị Liên ưu tiên để tăng độ phì nhiêu cho mảnh đất này.

Trong nông nghiệp hiện đại, cỏ dại gắn liền với những định kiến tiêu cực: hút hết chất dinh dưỡng của cây, làm cây không lớn được và thậm chí có thể gây ra dịch bệnh. Bởi thế, khi gõ từ khóa “cỏ dại” trên Google, kết quả trả về hầu hết là cách diệt và phòng trừ cỏ. Tại trang cung cấp tri thức mở Wikipedia, “cỏ dại” còn được định nghĩa là “một loài thực vật ở sai vị trí.”

Nhưng loài thực vật sai vị trí ấy lại có vẻ khá thoải mái tìm chỗ đứng giữa khu vườn rộng 2,2 hécta bên bãi bồi sông Hồng này. Những người nông dân ở Trang trại hữu cơ Tuệ Viên (Cự Khối, Long Biên, Hà Nội) chỉ nhổ bớt cỏ khi nó phát triển quá mạnh, nhằm duy trì một trạng thái cân bằng cho vườn cây chứ chưa bao giờ phải dốc sức diệt cỏ dại.

Và kể cả khi bị nhổ đi, những ngọn cỏ dại vẫn luôn có ích khi được đem ủ hoai làm phân bón cho cây.

Chị Phương – người hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi thăm vườn, nhoẻn miệng cười: “Cỏ không tranh hết dinh dưỡng của cây đâu.”

Với những người làm nông nghiệp hữu cơ, cỏ mang nhiều giá trị với đời sống sinh vật. Trước hết, nó tạo thành một lớp bao bọc đất đai, giữ nước không bị bay hơi nhanh chóng sau mưa. Thứ hai, sự có mặt của cỏ góp phần tạo nên sự đa dạng trong thảm thực vật của khu vườn. Với cỏ lạc, bộ rễ chùm của nó còn là môi trường để vi sinh vật phát triển mạnh mẽ. Đó là lý do khi cầm trên tay một nắm đất của Tuệ Viên, bạn sẽ thấy khắp nơi là những lỗ nhỏ li ti. Chúng do các loài sinh vật sống trong đất tạo ra. Đó chính là những “công nhân không đòi trả lương” cần mẫn làm cho đất tơi xốp cả ngày lẫn đêm.

Làm nông nghiệp hữu cơ không đơn giản chỉ là chuyện gieo hạt mầm xuống và tuyệt giao với mọi loại thuốc trừ sâu, phân bón hóa học. Chị Liên cùng cộng sự đã mất 4 năm miệt mài mang từng xe bã dược liệu về bón cho vườn tược. Rồi trồng cây, rồi ủ phân xanh… tạo môi trường cho các loài sinh vật phát triển trở lại. Có sinh vật thì mới có mỡ màu. Sinh vật chính là mỡ màu của đất. Và đương nhiên, 4 năm đó là 4 năm không lợi nhuận, không nguồn thu. Chị vẫn phải duy trì công việc ở công ty cũ bên cạnh việc săn sóc khu vườn rộng.

“Ban đầu, tôi sang Israel để học về nông nghiệp công nghệ cao. Dự án đã được xin vốn hết rồi. Thế nhưng trong quá trình học, tôi phát hiện ra thầy dạy mình tuy là chuyên gia về công nghệ cao nhưng gia đình thầy vẫn duy trì một vườn rau hữu cơ qua nhiều thế hệ. Tôi liền xin chuyển sang học nông nghiệp hữu cơ,” chị Liên nhớ lại.

Nhưng đó không phải là một quyết định dễ dàng. Từ bỏ nông nghiệp công nghệ cao nghĩa là gì? Là không có vốn, là phải làm lại từ đầu, là đi một con đường mù mờ và không rõ lối.

Ngày đó, những khái niệm như “organic,” “hữu cơ”… chưa trở thành trào lưu. “Một lần vào trang trại bò sữa để học tập, tôi được chứng kiến toàn bộ quy trình sản xuất. Sau khi bò cái sinh con, lập tức nhân viên trang trại sẽ tách con ra để phân loại. Nếu là bò con cái, chúng phải tách mẹ khi còn đỏ hỏn và được bơm đủ loại dinh dưỡng để kích thích sữa ra dồi dào,” chị Liên nhớ lại.

“Tôi nghĩ đến mình cũng là một bà mẹ…” – chị nghẹn ngào nhận ra mặt trái của kinh doanh: tất cả cứ mải miết chạy theo doanh thu mà không bao giờ tính toán đến sự sống chết của những sinh vật khác. Thế là không phân vân gì nữa, chị bỏ vị trí lãnh đạo cấp cao tại một tập đoàn xây dựng, bỏ công trường, bỏ cả những chuyến đi trong Nam ngoài Bắc để về vườn theo đúng nghĩa đen.

11 năm trôi qua, từ mảnh đất cằn cỗi và bạc màu, giờ đây khu nông trang hơn 2 hécta của chị Liên đã trở thành một thế giới sinh vật đúng nghĩa. “Chúng tôi đi theo hướng phát triển vườn rừng, nghĩa là đa tầng tán và đa dạng các loài sinh vật.” Tất cả nương tựa vào nhau mà sống, bao gồm cả con người.

“Có nhiều cách để chúng tôi chống lại sâu bệnh mà không dùng đến thuốc. Ví dụ như trồng các loài cây để xua đuổi hoặc dẫn dụ sâu bệnh rồi xử lý tập trung, như các cây tía tô, hương nhu, râm bụt… Hay trên một vùng trồng rau, dinh dưỡng sẽ được tập trung cho 1, 2 luống để thu hút sâu bệnh, sâu chỉ tấn công ở đó, hạn chế lan sang các luống khác. Đây được gọi là luống hy sinh. Hoặc tiến hành trồng xen canh, khiến các loài sâu bệnh khi tấn công sẽ dễ bị xác định nhầm nguồn thức ăn hoặc không thể tấn công ồ ạt, giúp cho lượng cây bị sâu bệnh hại giảm đi đáng kể. Và trên tất cả, đất khỏe thì cây cũng sẽ khỏe hơn nhiều,” chị Phương, người cộng sự thân thiết của chị Liên vừa đi vừa giảng giải cho chúng tôi nghe cách họ sản xuất nông nghiệp mà không dùng đến thuốc bảo vệ thực vật.

Và thực ra, những chai, những gói thuốc bảo vệ thực vật ấy có “bảo vệ” được cỏ cây không? Không. Chúng diệt nhiều hơn nuôi. Những sinh vật có lợi cho đất và cây dần biến mất. Nguồn dinh dưỡng tự nhiên không còn, cây cỏ đành lệ thuộc triền miên vào nguồn cung nhân tạo như con nghiện cần thuốc để sống.

“Trước đây, cây cối sẽ phải phát triển rất mạnh bộ rễ để có thể cắm sâu qua những tầng đất hút chất dinh dưỡng. Quá trình đó vừa giúp cây khỏe mạnh thêm, chống chịu được gió bão hay sâu bệnh, vừa giúp phát triển hệ vi sinh trong đất. Nhưng nay, cây thụ động chờ “thức ăn” vì có con người bón cho thường xuyên. Chúng không phát triển bộ rễ theo chiều sâu nữa mà chỉ phát triển theo chiều ngang. Bởi vậy sức chống chịu thiên tai không còn được như xưa, cây cũng mất dần khả năng giữ đất và nước. Các tầng đất dưới thì vắng bóng vi sinh vật, chúng dần keo cứng lại và kiệt quệ về dinh dưỡng. Đất bạc màu từ đó mà lan rộng ra.”

Lời giải thích cặn kẽ và đầy đủ ấy như rút ra từ một cuốn sách chuyên khảo khoa học. Nhưng ở đây, nó lại xuất phát từ một cựu doanh nhân có cả tuổi trẻ gắn bó trên những công trường xây dựng. Bằng con mắt hệ thống, chị Liên xác nhận mối liên quan chặt chẽ giữa sinh thái với tất cả những vấn đề nóng bỏng của đời sống, bao gồm sinh kế bền vững, xóa đói giảm nghèo, biến đổi khí hậu…

Trồng một khu vườn rừng, ở đó có chỗ cho cỏ mọc, ong bay hay giun đất phát triển không chỉ có ý nghĩa về an toàn sức khỏe với con người, mà còn đóng góp vào những mục tiêu xa hơn như giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học.

Theo báo cáo vào năm 2007 của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc, “nông nghiệp truyền thống, cùng với sự phá rừng và đốt nương rẫy đã đóng góp 30% lượng thải CO2 và 90% NO2 vào không khí. Thế giới chuyển sang nông nghiệp hữu cơ vừa có thể giải quyết được nạn đói, vừa ngăn chặn được sự biến đổi khí hậu.” Thế giới từng đặt tên cho làn sóng cơ giới hóa nông nghiệp là “cách mạng xanh.” Nhưng giờ là lúc để nhìn nhận lại rằng: chúng không xanh một chút nào!

Cỏ giữ làng

Đi dọc thôn Triêm Tây bây giờ, không khó để bắt gặp những ngôi nhà đang được sơn sửa, cất nóc hay thậm chí là xây mới hoàn toàn. Một cuộc sống sung túc và trù phú đang mở ra với người dân ngôi làng nhỏ bên bờ Thu Bồn. Ít ai biết rằng, chỉ chục năm trước đây, mảnh đất này từng trơ trọi sau những mùa lũ dữ. 2/3 diện tích đất đai đã chìm xuống lòng sông.

Ban đầu cả làng có khoảng 500 hộ, còn trong những thời điểm ngặt nghèo nhất, cả thôn chỉ còn trên trăm hộ dân. Người ta bỏ nhà bỏ cửa mà đi. Đến khi bờ kè được xây dựng rồi, vẫn chưa nhiều người dám trở về.

Được nghe, được thấy câu chuyện đáng buồn ấy, Vũ Mỹ Hạnh (32 tuổi, người Hà Nội) đã canh cánh nỗi trăn trở: “Ngay từ thuở sơ khai, con người đã tìm đến những bãi bồi để sinh cơ lập nghiệp. Triêm Tây cũng là một bãi bồi như thế, chứng tỏ nó vốn rất an toàn. Nhưng đến một thời điểm, con người phải đối mặt với vận động của dòng nước lớn hơn mức mà họ có khả năng chống chọi, họ không biết làm gì và nhiều người đã phải ra đi.” Vậy có cách nào không để đưa những người dân ấy trở về nơi đã từng là máu thịt?

Nhằm tìm kiếm câu trả lời xác đáng, cô cựu sinh viên Đại học Ngoại thương bỏ công việc đáng mơ ước ở thành phố, bỏ cả đô thị phồn hoa phía sau lưng, khoác balô lên đường, đến với Triêm Tây.

“Đất lành chim đậu,” con người cũng thế, chỉ có thể tính chuyện lâu dài trên những vùng đất hiền hòa và bình yên. Muốn mời gọi người về, vùng đất ấy phải cho thấy nó có đủ khả năng an cư lập nghiệp. Vậy là Hạnh cùng kiến trúc sư-tiến sỹ Ngô Anh Đào và các cộng sự đã quyết định chính họ sẽ ở lại đây, minh chứng cho người dân thấy nơi này đã đủ bình yên để có thể trở về.

Trang trại An Nhiên đã được lập lên bằng quyết tâm ấy, ngay ở vị trí “tiền tuyến” của làng. Ngoài cùng, một hệ thống kè sinh thái được dựng lên nhờ 3 lớp cây: sậy, bần chua ở lớp ngoài cùng – loài cây tiên phong chịu được ngập mặn; lớp thứ hai trồng cỏ búa – loại cây có rễ khỏe, cắm sâu vào lòng đất, có tác dụng giữ đất; và lớp trên cùng trồng phi lao – loại cây hợp với đất cát, làm bức tường chắn gió. Ở chân mỗi lớp lại được cắm cọc tre dài 3 đến 4 mét giống như chiếc khóa sinh học giúp bảo vệ từng loài cây. Chúng như một cánh cung ôm lấy cả ngôi làng. Tiếp đến là những cụm tre nối tiếp với vườn rừng. Cuối cùng là nhà ở và khu xưởng. Dưới nắng Hè, những mái nhà ánh lên màu vàng óng của tre và gỗ, trông xinh xắn như vừa bước ra từ một câu chuyện cổ.

“Trước mình chưa ai làm. Và câu chuyện phục hồi đất đai căng thẳng hơn rất là nhiều,” Hạnh nói. “Căng thẳng” ở đây là lấy sức người để cải tạo lại những thành tố của tự nhiên vốn đã trở nên kiệt quệ và trần trụi. “Trồng một cái cây không phải là chuyện đào cái hố rồi đặt cái cây. Trồng một cái cây cũng phải tính toán xem trồng ở đâu, trồng vào lúc nào khi cả năm cứ lụt rồi hạn, đất đai bị hoang hóa quá nhiều.”

Thách thức nhân lên gấp bội mỗi khi Triêm Tây phải đối mặt với lũ dữ. Liên tiếp trong 3 năm 2015, 2016, 2017, Triêm Tây hứng chịu những đợt lũ lớn, mưa bão trái mùa. Thậm chí năm 2017, mực nước lũ còn suýt “phá kỷ lục” trong lịch sử, ngang tới ngực một người trưởng thành. Vườn cây xác xơ. Bờ kè với những mầm xanh còn non nớt tưởng như không còn lại gì.

Nhưng “căng thẳng” không đồng nghĩa với đối đầu. Nhóm của Hạnh vẫn tin rằng lời giải cho bài toán của tự nhiên vẫn còn nằm ở phía tương lai, cứ đi rồi sẽ đến: “Sau mỗi trận lụt, thay vì tuyệt vọng, chán nản, thay vì mình cứ cương quyết đi theo cái mình muốn ở trong đầu, thì mình nhìn xem nước lụt hoặc những diễn biến của tự nhiên để lại cho mình cái gì.

Thiết kế tiếp theo sẽ dựa trên cái để lại đấy. Tức là mình nương tựa vào tự nhiên, chứ không cố thủ với những cái mình nghĩ từ đầu.”

Một ví dụ điển hình là hạt giống trong vườn An Nhiên không bao giờ được thu hết, sẽ luôn có một phần ở lại, tự rụng, tự phân tán khắp nơi để nảy lên những chồi non mới. Hạnh gọi đó là cách để thiên nhiên tự làm công việc của mình. Con người tôn trọng “việc làm” ấy của tự nhiên thì cũng giúp chính bản thân mình tiết kiệm công sức và thời gian lao động. Mà tiết kiệm sức người thì “chính là tiết kiệm rất nhiều tài nguyên.”

Sau 4 năm miệt mài học hỏi, Hạnh cùng những người đồng hành đã có một khu vườn sinh thái đúng nghĩa. Cây cối lên xanh, xóa nhòa màu bạc trắng của đất cát. Hạnh bảo: “Chúng tôi là những người đầu tiên trồng cây thân gỗ, cây lâu năm ở đây. Trước người dân không tin là có thể trồng được.” Tầng cao có mít, xoan, tre, bời lời…; tầng thấp có đinh lăng, đậu săng, actiso, các loại rau ăn… Mỗi loài có một chức năng riêng, gắn bó khăng khít như những một đứa con trong cùng một gia đình. Sự bình yên của An Nhiên dường như đã khiến giấc mơ “hình thành nên một hệ sinh thái tự nhiên trù phú và đủ khỏe để bảo vệ dân làng ở phía trong” của Hạnh hiện thực hóa được nhiều phần.

“Không có các bờ kè sinh thái và vườn tre như vậy, chắc giờ chúng ta khó ngồi được đây mà nói chuyện với nhau,” ông Võ Đang Sự, trưởng thôn Triêm Tây khẳng định. Là người đứng đầu thôn nhưng ông luôn nhắc đến những công trình sinh thái tại An Nhiên bằng sự biết ơn vô hạn.

Còn ông Phạm Văn Được, người làng Triêm Tây thì vẫn nhớ: “Hồi xưa đất xói lở ghê lắm, người dân đi hết trơn. Sau khi có những dự án như của Hạnh, người dân mới an tâm mà trở về. Có những hộ đi miết 5, 6 năm rồi, lại phấn khởi về dựng nhà, dựng cửa. Nói chung được ở trên quê hương thì ai cũng vui.”

Là người từng học về kinh tế, Hạnh giữ một tư duy khác biệt rằng môi trường và thiên nhiên không phải hai thái cực đối nghịch. “Các bạn làm môi trường thường có một thái độ tương đối tiêu cực khi nói về kinh tế, nhưng một trong những bài học kinh tế đầu tiên được dạy trong trường đại học là giới hạn của nguồn lực. Hiểu được điều đó thì sẽ thấy mọi thứ không hề đối nhau,” Hạnh nói.

Xuyên suốt những câu chuyện kể của Hạnh và chị Liên là hành trình họ giao tiếp với tự nhiên, học tự nhiên cách nương tựa vào nhau mà sống. Như Hạnh nói: “Sau mỗi mùa lũ, những thứ còn lại trở thành đầu vào cho một chu trình mới để mình tiếp tục quan sát và thích ứng với tự nhiên.” Còn với chị Liên, “những ngày làm biếng là những ngày ở vườn.”

Trồng rau, nhặt cỏ, ủ phân không còn vất vả nữa mà trở thành thứ niềm vui dung dị làm con người ta hạnh phúc suốt cả ngày dài. Hóa ra, thiên nhiên còn biết bao thứ phúc lợi diệu kỳ khác mà con người vẫn chưa chịu trân quý và tận hưởng hết.

Thời gian này, Tuệ Viên đang trong quá trình chuyển giao. Rồi đây, nó sẽ trở thành một khu nghiên cứu hoàn chỉnh – nơi những mô hình nông nghiệp hữu cơ được đưa vào thử nghiệm và kiểm chứng trước khi đem áp dụng nhiều nơi.

Sau Triêm Tây, trang trại An Nhiên sẽ phối hợp với Ủy ban Nhân dân thành phố Hội An tiếp tục xây dựng kè sinh thái ở xã Cẩm Kim. Theo kế hoạch, nơi ấy sẽ có Bảo tàng Tre, có vườn cây trái…, là nơi những đàn chim có thể trở về./.

“Những lợi ích lớn nhất của nông nghiệp hữu cơ là: 

1. Không lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. 2. Dựa vào những nguồn lợi sẵn có của địa phương mà giảm thiểu sức ép nông nghiệp sinh thái và hiệu quả chi phí.

Nông nghiệp hữu cơ giảm các tác động tới môi trường, giúp cân bằng sinh thái; không phá rừng, không bón phân hóa học, không sử dụng thuốc diệt cỏ vì thế có thể phủ xanh đất trống đồi trọc, giúp giảm xói mòn, chống biến đổi khí hậu… Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có giá trị dinh dưỡng cao. Vì thế, chỉ cần ăn một lượng nhỏ đã đủ cung cấp cho con người, ví dụ ăn 1 bát cơm gạo hữu cơ đã thấy no, trong khi đó ăn 2-3 bát cơm gạo canh tác thông thường mới no.

Vì cây trồng hữu cơ có giá trị kinh tế cao, nên tập trung phát triển những cây trồng đặc sản, cây trồng bản địa (vì có khả năng thích ứng với từng vùng khí hậu, ít sâu bệnh), cây trồng có giá trị kinh tế cao.

Hiện nay, Việt Nam có 58.018ha đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ, chiếm 0.5% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (theo số liệu của FiBL and IFOAM, 2019). Vì thế, còn rất nhiều cơ hội để tăng diện tích sản xuất hữu cơ ở Việt Nam trong tương lai.” 

(Tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Dinh thuộc Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam).

 

ĐỌC DI CHÚC BÁC HỒ

Trong 50 năm qua, thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng luôn coi trọng bồi dưỡng lý luận chính trị, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ. 

Năm 2019 đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.”

Trong 50 năm qua, thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng luôn coi trọng bồi dưỡng lý luận chính trị, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ. “Cán bộ là gốc của mọi việc,” “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém.” Lời căn dặn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị sau 50 năm và đặc biệt có ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh các địa phương đang ráo riết chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Nhân dịp này, đồng chí Mai Văn Chính – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng đã dành cho Báo Điện tử VietnamPlus cuộc phỏng vấn xung quanh vấn đề thực hiện Di chúc Bác Hồ trong công tác cán bộ, về những đổi mới trong công tác cán bộ, quy hoạch cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược cho nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng.

Ông Mai Văn Chính - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (Ảnh: TTXVN)
Ông Mai Văn Chính – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (Ảnh: TTXVN)

– Thưa đồng chí, trong những năm qua, Đảng ta đã kế thừa và phát huy những quan điểm, nội dung trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ như thế nào?

Đồng chí Mai Văn Chính: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém.”

Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò lãnh đạo cách mạng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và rộng hơn là đối với toàn bộ sự nghiệp Đổi mới.

Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong nhiều văn kiện. Đặt trong bối cảnh hiện nay, khi người đứng đầu cấp ủy ở một số nơi nhận thức còn giản đơn, chưa thật sự chăm lo, quan tâm sâu sắc, chưa đầu tư đúng tầm mức cho xây dựng đội ngũ cán bộ, thậm chí có cả biểu hiện “khoán trắng” cho cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ… thì tính thời sự của vấn đề càng trở nên cấp thiết hơn.

Đảng đặt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là một trọng tâm rất quan trọng trong công tác cán bộ, là vấn đề hệ trọng của Đảng, quyết định đến thành bại của sự nghiệp cách mạng, sự tồn vong của chế độ.

Thực tế cho thấy, trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh như nhau nhưng kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị khác nhau là do chất lượng đội ngũ cán bộ. Từ bài học xương máu về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô, sự tan rã của Liên bang Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cho thấy, nguyên nhân cơ bản là do sai lầm về đường lối và việc bố trí không đúng cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Bởi vậy, trên cơ sở kế thừa và phát huy những quan điểm, nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Đảng ta đặt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là một trọng tâm rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là vấn đề hệ trọng của Đảng, quyết định đến thành bại của sự nghiệp cách mạng, sự tồn vong của chế độ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951). (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với đại biểu dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951). (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Đảng ta luôn quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ; xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó, tiêu chuẩn là chính; giữa “xây” và “chống,” trong đó “xây” là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa “đức” và “tài,” trong đó, đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Xây dựng đội ngũ cán bộ được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà nòng cốt là các cơ quan tham mưu của Đảng, nhất là cơ quan tổ chức, cán bộ. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thận trọng, thường xuyên, có hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hiện đang diễn ra sự chuyển giao giữa lớp cán bộ được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được Đảng, Nhà nước đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa với lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước khác nhau.    

– Như đồng chí vừa phân tích, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ở mọi thời kỳ. Vậy, trong thời đại 4.0, đội ngũ cán bộ có đặc điểm gì giống và khác đối với đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cách đây 20 năm? Việc xây dựng đội ngũ cán bộ cần thay đổi như thế nào trong thời đại mới?

Đồng chí Mai Văn Chính: Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức lớn. Đó là sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và biến đổi khí hậu toàn cầu… Hiện đang diễn ra sự chuyển giao giữa lớp cán bộ được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được Đảng, Nhà nước đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa với lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước khác nhau.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém.” (Ảnh tư liệu: TTXVN)
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém.” (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Từ Đại hội XIII tới sẽ là lớp cán bộ lớn lên trong hòa bình, trưởng thành trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, số cán bộ có trình độ, ngoại ngữ, am hiểu về công nghệ thông tin tăng lên rõ rệt. Riêng trong 5 năm, từ 2009 đến 2014, số người có trình độ đại học và trên đại học tăng gần 2 lần, từ 4,4% lên 7,3%. Tuy nhiên, không ít cán bộ trẻ lại thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Điều đó đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán cán bộ.

Do đó, Đảng ta xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng, cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết không để lọt vào đội ngũ lãnh đạo, quản lý những người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa,” quan liêu, tham nhũng.

Đảng xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng, cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc. 

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp cần phải bám sát vào Nghị quyết của Đảng, trong đó có tiêu chí về độ tuổi.

Đối với lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: từ 20-25% dưới 40 tuổi; từ 60-70% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương: từ 15-20% cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh dưới 40 tuổi, từ 30-40% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; từ 20-25% cán bộ lãnh đạo chủ chốt và ủy viên ban thường vụ cấp ủy, cấp huyện dưới 40 tuổi. Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hóa về lý luận, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng công tác.

Đối với cán bộ cấp chiến lược: phải thực sự tiêu biểu về lập trường tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ 50-60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế: hiểu biết rộng, sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ, sử dụng thành thạo máy tính, có kỹ năng đối ngoại, am hiểu luật pháp quốc tế, có khả năng làm việc độc lập, làm việc nhóm… Đây là tinh hoa của đất nước, hội tụ cả “đức” và “tài,” dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; có khả năng lôi cuốn, tập hợp lực lượng, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị nhằm đạt mục tiêu chung…

Bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10, Khóa XII. (Ảnh: TTXVN)
Bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10, Khóa XII. (Ảnh: TTXVN)

– Xin đồng chí cho biết một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác cán bộ để chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng?

Đồng chí Mai Văn Chính: Từ nay đến hết nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, nhiệm vụ về công tác cán bộ còn hết sức nặng nề, nhiều việc phải làm, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, rà soát kỹ càng, bổ sung, hoàn thiện, nâng cao chất lượng quy hoạch cấp ủy làm cơ sở cho xây dựng phương án nhân sự đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Rà soát kỹ càng, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc vấn đề chính trị của cán bộ; kết hợp hài hòa giữa chuẩn bị nhân sự tại chỗ với điều động, luân chuyển, bố trí cán bộ, bảo đảm cán bộ có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ, đủ thời gian rèn luyện và thử thách qua thực tiễn gắn với việc thực hiện chủ trương bí thư cấp tỉnh, cấp huyên không là người địa phương; thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ gắn với công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Trong năm 2019, Bộ Chính trị đã phê duyệt quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, nhiệm kỳ 2021-2026. Điểm mới trong công tác quy hoạch lần này là việc triển khai sớm hơn so với những nhiệm kỳ trước nên có điều kiện sàng lọc kỹ lưỡng, bảo đảm chặt chẽ, khách quan, công khai, minh bạch, không để lọt vào quy hoạch những người không đủ tiêu chuẩn.

Lần này, việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII nhiệm kỳ 2021-2026 chỉ quy hoạch cho một nhiệm kỳ duy nhất. Cách làm như vậy sẽ bảo đảm tập trung hơn trong lựa chọn cán bộ tài năng, đức độ, tránh dàn trải, đông về số lượng nhưng không đảm bảo về chất lượng. Sau quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương sẽ triển khai công tác quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh chủ chốt của Đảng, Nhà nước. Việc quy hoạch cán bộ cấp chiến lược là một bước chuẩn bị quan trọng, là cơ sở cho công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa tới.

Việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Khóa XIII nhiệm kỳ 2021-2026 chỉ quy hoạch cho một nhiệm kỳ duy nhất. Cách làm như vậy sẽ bảo đảm tập trung hơn trong lựa chọn cán bộ tài năng, đức độ, tránh dàn trải, đông về số lượng nhưng không đảm bảo về chất lượng. 

Hai là, xây dựng hoàn thiện các văn kiện liên quan đến công tác nhân sự đại hội, nhất là phương hướng nhân sự đại hội sát với tình hình thực tế. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định, quy chế về công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra, bảo đảm sự đồng bộ, liên thông, thống nhất giữa các quy định của Đảng và Nhà nước; ban hành hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; nghiên cứu việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng (nếu có).

Ông Mai Văn Chính khẳng định, hiện đang diễn ra sự chuyển giao giữa lớp cán bộ được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được Đảng, Nhà nước đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa với lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước khác nhau. (Ảnh: TTXVN)
Ông Mai Văn Chính khẳng định, hiện đang diễn ra sự chuyển giao giữa lớp cán bộ được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được Đảng, Nhà nước đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa với lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước khác nhau. (Ảnh: TTXVN)

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới phù hợp với từng nhóm đối tượng để nâng cao trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực thực tiễn, kỹ năng lãnh đạo, điều hành và xử lý hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra. Tổ chức các lớp cán bộ nguồn trong quy hoạch ở các cấp để bổ sung, nâng cao kiến thức, hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo, quản lý cần thiết, phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm chuẩn bị tốt nguồn nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc.

Các lớp bồi dưỡng trong chương trình Bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương nhiệm kỳ XIII của Đảng đang được triển khai. Học viên là những đồng chí được duyệt quy hoạch ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII); quy hoạch chức danh cấp trưởng các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị-xã hội ở Trung ương, giai đoạn 2020-2025; quy hoạch chức danh bí thư các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương giai đoạn 2021-2026. Đây là bước đột phá trong công tác cán bộ, nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và hệ thống chính trị trong thời kỳ mới.

Bốn là, ban thường vụ cấp ủy từng cấp căn cứ tình hình cụ thể sử dụng các cơ quan chuyên môn một cách phù hợp để tiến hành khảo sát, đánh giá chính xác nhân sự theo phân cấp, chủ động chuẩn bị nhân sự đại hội. Tăng cường trách nhiệm, tính chủ động, tích cực của các cơ quan có thẩm quyền trong đánh giá cán bộ; đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Việc chuẩn bị nhân sự cấp ủy phải trên cơ sở quy hoạch, tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị và khả năng đáp ứng của cán bộ. Đồng thời, cần chú trọng phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có đức, có tài, có uy tín, có triển vọng. Trong công tác nhân sự, phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa việc nâng cao chất lượng cấp ủy với bảo đảm cơ cấu ba độ tuổi, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Công tác nhân sự phải tiến hành từng bước, từng việc, chắc chắn, thận trọng, chặt chẽ, đúng quy trình, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch nhưng phải thật sự đúng người, đúng việc.

Năm 2019 là năm thứ tư của nhiệm kỳ 5 năm, có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi toàn bộ Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020. (Ảnh: TTXVN)
Năm 2019 là năm thứ tư của nhiệm kỳ 5 năm, có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi toàn bộ Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020. (Ảnh: TTXVN)

– Thực tế từ công tác nhân sự nhiệm kỳ XII vừa qua cho thấy, việc quy hoạch cán bộ chiến lược đã để lọt nhiều cán bộ không đủ phẩm chất đạo đức, năng lực. Nhiều vụ việc sai phạm nghiêm trọng của cán bộ, đảng viên lại được phát hiện qua nhân dân và báo chí. Đồng chí suy nghĩ như thế nào về điều này, cần làm gì để tăng cường hơn nữa hiệu quả thực hiện các quy định về đánh giá cán bộ, chế độ kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên… để tình trạng trên không xảy ra tại nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIII?

Có cán bộ có khuyết điểm nhưng không được phát hiện, vẫn được đánh giá tốt để quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm ở chức vụ cao hơn. Đó chính là biểu hiện của việc nể nang, né tránh trong công tác đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát.

Đồng chí Mai Văn Chính: Thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực chủ yếu là do nhân dân, báo chí phát hiện. Việc tự phát hiện, phát giác tiêu cực, đấu tranh với tham nhũng trong nội bộ đơn vị, tổ chức còn hết sức hạn chế. Thực tế cho thấy, hầu như có rất ít cán bộ lãnh đạo, quản lý được đánh giá ở mức hoàn thành và không hoàn thành nhiệm vụ. Thậm chí, có cán bộ có khuyết điểm nhưng không được phát hiện, vẫn được đánh giá tốt để quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn. Đó chính là biểu hiện của việc nể nang, né tránh trong công tác đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát.

Thời gian tới, sẽ tập trung khắc phục những hạn chế này, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa, xử lý sai phạm và thẩm tra, xác minh, làm rõ thông tin, dư luận liên quan đến cán bộ. Tùy từng trường hợp, cấp có thẩm quyền có thể sẽ lập tổ khảo sát xuống phỏng vấn, trao đổi riêng với những người làm việc, công tác với ứng viên, cả ở cơ quan, cấp trên, cấp dưới, ngang cấp và cả hàng xóm nơi cư trú. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, nghiêm cấm mọi biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tìm cách nâng người này, hạ người kia, gây nghi ngờ, làm mất đoàn kết nội bộ. Tiến hành rà soát, bổ sung đầy đủ thông tin, nắm chắc cán bộ; đối với những đảng viên có vấn đề về chính trị phải được cấp có thẩm quyền thẩm tra, kết luận trước khi giới thiệu bầu vào cấp ủy.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10, Khóa XII. (Ảnh: TTXVN)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10, Khóa XII. (Ảnh: TTXVN)

– Nỗ lực quyết liệt của Đảng trong cuộc chiến chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí thời gian vừa qua đã mang lại nhiều kết quả tích cực, được nhân dân tin tưởng, đánh giá cao; tuy nhiên, nhiều cán bộ cao cấp bị xử lý đã để lại những “khoảng trống” trong đội ngũ cán bộ. Ý kiến của đồng chí về vấn đề này như thế nào?

Đồng chí Mai Văn Chính: Có thể nói, công tác đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí thời gian vừa qua đã có sự tham gia tích cực của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán; được triển khai quyết liệt, đồng bộ với nhiều biện pháp và đã mang lại những kết quả tích cực, nhiều vụ án lớn đã được đưa ra xét xử, không có vùng cấm, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực để tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng và tính tôn nghiêm của pháp luật Nhà nước.

Làm trong sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là để tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Việc xử lý kỷ luật đối với những cán bộ lãnh đạo, quản lý vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước là hết sức đau lòng. Tuy nhiên, đây là việc làm rất cần thiết để góp phần chỉnh đốn Đảng.

Loại bỏ những người không đủ năng lực, uy tín, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa,” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ra khỏi bộ máy lãnh đạo, quản lý không hề tạo “khoảng trống” trong đội ngũ cán bộ bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên đều có đức, có tài, có lập trường tư tưởng vững vàng, luôn phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Chỉ có một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, biến chất. Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII của Đảng.

Làm trong sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là để tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

– Xin chân thành cảm ơn đồng chí./.

Music project further strengthens bonds among Vietnamese, Japanese

Vietnamese singer Pham Hai Trieu has been living in Japan for nearly 20 years before he freshly decided to launch his first community music project titled “The reason I come to this life”, hoping to convey beautiful messages to Vietnamese and Japanese people.

The song, “Inochi No Riyuu” in Japanese, has become popular in the land of rising sun as it carries lively messages about life, family, friendship and love.

Covered by American singer Christ Hart, the song is favoured by Japanese language learners and cultural lovers.

Trieu said he really loves his brainchild which prompts him to translate the original into Vietnamese to spread happiness and kindness.

“Honestly, I’d never done a music project for this purpose before. But now, with the support of the Overseas Vietnamese Association in Japan, I have completed it for the first time. I’m very happy.

“Music knows no border, so I hope it can bring people closer together. I hope people can come together with affection and care like in the lyrics of the song.”

Pham Hai Trieu in Hoi An ancient city of central Quang Nam province for the shooting of the music video (Photo courtesy of Pham Hai Trieu)
Pham Hai Trieu in Hoi An ancient city of central Quang Nam province for the shooting of the music video (Photo courtesy of Pham Hai Trieu)

Trieu said his video was filmed in Tokyo and Osaka – where there is a large community of overseas Vietnamese – as well as Hanoi, Ho Chi Minh City and Hue – popular destinations in Vietnam.

Sharing his memories when making the video, Trieu said the best thing he received was the absolute support from all those involved. “Everyone was very enthusiastic, and it really moved me.”

Trieu expressed special acknowledgement to others without whose help, he said, he could not have finished the project, and added: “I hope more people will support the Overseas Vietnamese Association in Japan to run useful activities for the community.”

About his intentions to further strengthen the bonds among the Vietnamese community in Japan, Trieu said he wants to do more with the association.

“Apart from my ability to use music and language, I don’t think I have many others. So I will continue to do things in my strength.”Trieu said he finds many children are good at singing, but unfortunately there are not many professional programmes to help them progress.“I want to attract musically-gifted children to music charitable activities to raise money for support of those from difficult backgrounds.”The singer has been interested in the Japanese culture since he was a child. He found his personality matches Japanese culture, a factor that has a role to play in his becoming a well-known singer of Vietnamese-Japanese bilingual songs. Besides performing in events related to Vietnam and Japan, he often joins shows with Japanese musicians.

Music brings people together

There are many ways to connect people but music is one of the most powerful to increase spiritual connections between individuals, said Tran Ngoc Phuc, Chairman of the Overseas Vietnamese Association in Japan, who was in Trieu’s video alongside his wife.

Tran Ngoc Phuc and his wife in the music video, with the Tokyo Tower in the background (Screenshot Photo)
Tran Ngoc Phuc and his wife in the music video, with the Tokyo Tower in the background (Screenshot Photo)

“For students who are studying abroad, music is really an effective medicine to help cure their homesickness.” Phuc said he and Trieu had met quite often before but had not had deep conversations. “However, after this project, we have become closer and want to use music to bring people closer together.”

He described the video as a big “surprise” for him because it was launched on August 24, right after his return to Japan from a working trip to Vietnam.

“I really want to thank my staff at the association. They knew I was busy, but still encouraged me to join the video with my wife.

“At first, it was very difficult for me to persuade my wife to lip-sync because she did not want to appear in public. She just wanted to support me behind the scenes in whatever I do.

“However, after watching the video, we found it so beautiful. We really love it!”

Mika Kondo, who teaches Vietnamese at Osaka University, said she has come to love Trieu’s soft signing voice and often makes his songs part of her Vietnamese classes.

Mika Kondo (L) and Professor Masaaki Shimizu, head of the Vietnamese Department at Osaka University, take part in the music video (Photo from Pham Hai Trieu's Facebook)
Mika Kondo (L) and Professor Masaaki Shimizu, head of the Vietnamese Department at Osaka University, take part in the music video (Photo from Pham Hai Trieu’s Facebook)

The teacher recalled the surprise when she first learned about the project, and said she could not believe she would appear in the video.

Along with “The reason I come to this life”, other songs by Trieu will encourage more Vietnamese to learn Japanese and vice versa, she said, expressing her belief that foreign language learners will contribute to promoting mutual understanding and creating more wonderful stories for the Vietnam – Japan relations.

“This song carries a message about the importance of life and human connection.

“Sorrowful incidents happen in our modern society because people may take those things for granted. Therefore, I believe the reintroduction of this song holds a significant meaning.”

“I hope people, either from Vietnam, Japan or anywhere else in the world, will watch this video to enjoy the melody and reflect on the meaning of the lyrics.”

Nguyen Duc, known as a symbol of Vietnam’s medical success and Vietnam – Japan cooperation, is another person appearing in Trieu’s music video.

 Nguyen Duc, known as a symbol of Vietnam’s medical success and Vietnam – Japan cooperation, poses for the music video (Screenshot Photo)
 Nguyen Duc, known as a symbol of Vietnam’s medical success and Vietnam – Japan cooperation, poses for the music video (Screenshot Photo)

He said it is hard to describe his feelings and he was moved to tears when he saw the completed version.

“The message of the song is like a miracle to me, which implies a heartfelt message about peace and development of the Vietnam – Japan relationship.

“I want to thank Trieu for his efforts as the song helps me look at life in a positive way and keep going forward.

“I believe that it will also motivate people who share similar circumstances with me,” said Duc, who was successfully separated from his conjoined twin Nguyen Viet with medical help from Japanese experts in 1988.

Tran Phuong Lien, a Japanese language teacher, shared her thought with her students about the meaningful words of the song’s Japanese version during their lessons.

They were overjoyed when learning Trieu’s idea of the Vietnamese version and its video, believing it will provide a chance for them to practice Japanese.

“Taking part in the video along with many people learning the language in the country as well as the Vietnamese community in Japan would make them proud and boost their learning spirit.”

“I recognised many familiar faces in the video and believe that many souls are connected through each sentence of the song,” Lien said.

“The Vietnamese lyrics by Trieu breathes new life into the song and connect people in all walks of life to receive support, gain strength and offer help to others.”

The reason I come to this life 

More than 100 Vietnamese and Japanese people were brought together in Trieu’s music video. Each individual appearing in Trieu’s video has their own reason to come to this life.

Tran Ngoc Phuc, Chairman of the Overseas Vietnamese Association in Japan (Photo courtesy of Tran Ngoc Phuc)
Tran Ngoc Phuc, Chairman of the Overseas Vietnamese Association in Japan (Photo courtesy of Tran Ngoc Phuc)

The 71-year-old Phuc, who has spent two-thirds of his life in Japan, said that before taking the position of Chairman of the Overseas Vietnamese Association in Japan in 2017, he did not want to communicate with the Vietnamese community because he was burying his head into research.

He said he could not use Vietnamese fluently because he has to use Japanese for most of his daily life contacts, which has made him familiar with the way of thinking of Japanese people.

Phuc added that some people told him he has forgotten his mother tongue and his grandchildren could not speak Vietnamese.

“However, I think everything lies in our heart and the important thing is that we still turn our hearts to the homeland and want to preserve our culture.”

After two years as the head of the association, Phuc said he has come back to the Vietnamese community and talked with youngsters.

“Hai Trieu at first did not know I was Vietnamese. He thought I was a Japanese person speaking Vietnamese.”

For the Vietnamese who are coming to Japan in an increasing number to study or work, Phuc said: “To gain a high position in Japan is very difficult. The most fundamental factor for people to succeed in Japan is securing public trust.”

He encouraged youngsters who study abroad to learn about the culture and morals of the host society rather than just focusing on academic matters. “The application of theory into reality is very important as it makes you become a more complete person,” Phuc said.

Japanese photographer falls in love with Vietnam

Freelance journalist Yasufumi Murayama (Photo courtesy of Murayama)
Freelance journalist Yasufumi Murayama (Photo courtesy of Murayama)

Murayama is known as a man with a great love to Vietnam. The journalist said he first came to Vietnam in September 1998 with his teacher to attend a photo exhibition at the War Remnants Museum in Ho Chi Minh City.

“After that, I became passionate about Vietnam, and wanted to come back to Vietnam more frequently.

“Vietnam has changed, but I can’t believe that such changes have occurred so quickly, which, of course, has both good and bad sides.”

Following the changes in Vietnam over the past 20 years, Murayama said Vietnamese people are, too, gradually changing along with the time.

“I have recorded these changes with my camera.

“Previously when my mother fell ill because of a brain haemorrhage, she told me that I was living recklessly but my Vietnamese friends were still waiting for me. She said she could not live longer, so in this life, I should dedicate my whole heart to Vietnamese friends.

This time, though it is just the 50th time and the 22nd year I’ve come to Vietnam, for me Vietnam is like my second home. I will do all my best to contribute to Vietnam.”

Vietnam as a lover

After more than two decades exposed to Vietnamese culture, Murayama said he realised that “I have fallen in love with Vietnam.”

“Some people might not understand me when I say that. Honestly, I have been ‘cheated’ in Vietnam, yet still I find Vietnamese people innocent, kind and generous.

“For me, Vietnam is like my lover. But if you love someone just for her beauty or money, that love will end soon. I have yet to know what I love Vietnam for, so I have come to Vietnam many times to seek the answer.

Murayama stressed that apart from Vietnam, he just loves his wife. “I met Vietnam before my wife, so my wife understands my love for Vietnam. She often jokes that it’s better that I love Vietnam rather than have a relationship with another woman.”

Recalling his trip to Vietnam’s Hoang Sa (Paracel) archipelago in July 2014, which he labeled “unforgettable”, Murayama said he had an opportunity to embark on a Vietnamese patrol boat bound for the islands.

He said Vietnamese soldiers were very kind and brave.“The image of Vietnamese soldiers protecting their country’s sovereignty is very beautiful in my eyes. I enjoyed meals with them and we talked about family and love.”

Japanese teacher loves Vietnamese “ao dai”

Vietnamese language teacher Mika Kondo in Vietnamese ao dai (Photo courtesy of Kondo) 
Vietnamese language teacher Mika Kondo in Vietnamese ao dai (Photo courtesy of Kondo) 

As a primary school student, Mika Kondo saw some girls in ao dai (Vietnam’s traditional dress) on TV.

“That image left a deep impression on me and strongly influenced my decision to study Vietnamese at university.”

Afterward, the Vietnamese language lecturer of Japan’s Osaka University said she was able to meet Vietnamese friends and enjoy the country’s cuisine.

“Eventually, my attachment to Vietnam became my passion.”

Kondo has come to Vietnam nearly 10 times, the first in February 2006. She said she had travelled to many places from the north to the south of the country, naming the localities of Cao Bang, Sa Pa (Lao Cai), Thai Nguyen, Bac Giang, Hanoi, Hai Phong, Hue, Da Nang, Quang Binh, Nha Trang (Khanh Hoa), Ho Chi Minh City, Binh Duong, Ben Tre, Tay Ninh and My Tho (Tien Giang).

“I don’t like any particular place because they all have their own interesting things.

“But my most impressive trip was in 2010 to the southern province of Ben Tre, the hometown of writer Truong Vinh Ky, whose works I used as references for my graduation essay and master’s thesis. I was impressed by the beautiful scenery and hospitability of the people of the land of coconuts.

“My most recent visit to Vietnam was in Ho Chi Minh City in February this year. It was a short working trip. I visited some voluntary education agencies in the city and asked them to exchange with Vietnamese children in Japan to create a fun learning environment.”

Kondo said that besides teaching Vietnamese for students at Osaka University, she is also teaching the language for Vietnamese children born and raised in Japan.

She said with the help of science and technology, nowadays artificial intelligence can translate one language into others with high accuracy. “However, only humans are capable of using languages to express and understand human feelings.”

Kondo said what she loves most about Vietnamese people is they are compassionate and forgiving.

Japan as second home

Nguyen Duc (Photo courtesy of Nguyen Duc)
Nguyen Duc (Photo courtesy of Nguyen Duc)

In 1988, Vietnam’s first surgery to separate a pair of conjoined twins took place in Ho Chi Minh City with the support of Japanese experts and medical technology.

After the 17-hour surgery, the older brother Nguyen Viet suffered a brain damage while his younger brother Nguyen Duc gradually recovered. Viet passed away in 2007 due to pneumonia and kidney failure.

Living with one leg and organs he once shared with his brother, Duc managed to overcome his challenges and earned a job at the Ho Chi Minh City-based Tu Du Hospital. He currently resides in the city with his wife and twin children.

Duc said he considers Japan his second home.

“Japan is not only a beautiful country but also a nation of great culture. I love the working style of Japanese people.

“I fell in love with Japan at first sight and since I received medical treatment in Kobe for one year and six months.

“That moment is still fresh in my mind and I always consider it the best memory in my life though I have travelled to Japan 49 times.

“As a member of the Vietnam-Japan Friendship Association – Ho Chi Minh City chapter, I’ve always tried my best to promote relations between Vietnam and Japan, from culture and external affairs to economy.”

With his non-profit organisation which was established in 2012, Duc has organised various events to foster bilateral people-to-people exchanges.

“I’m nurturing a lot of plans to foster the bilateral relations because I want to repay the kindness and support of the people who gave me the second life.”

Japanese-language teacher on wheelchair

Tran Phuong Lien and her students in Pham Hai Trieu's video (Screenshot Photo)
Tran Phuong Lien and her students in Pham Hai Trieu’s video (Screenshot Photo)

“My love for Japan is strengthened thanks to a song which made me understand the heart of Japanese people. They condemned meaningless wars and gave us great support in difficult times,” said Lien.

The teacher cited the story of Phan Boi Chau, a Vietnamese nationalist figure and pioneer of the Dong Du movement in early 20th century that encouraged young Vietnamese to go east to study and seek ways to save the nation.

Chau has received whole-hearted support from Japanese doctor Sakitaro Asaba and people in Fukuroi of Shizuoka prefecture.

“I am deeply in love with Japan from just a song, and after taking part in various activities over time, I am referred to as a bridge linking Vietnamese-Japan culture exchanges and serves as a member of the Vietnam-Japan Friendship Association – Thua Thien-Hue chapter,” the teacher added.

Lien’s Japanese language class opened in 1996 and has gradually attracted more students.

In addition, many Japanese who travel to Vietnam to live and do business come to her class to learn Vietnamese as well as the culture of Hue, the capital of the last feudal dynasty in Vietnam, and Vietnam as a whole.Lien said she often reminds her students that when we truly love our country, our homeland, every song, every landscape, every dish, the sentiments we harbour will inspire our international and Japanese friends.

Trust key to connecting Vietnamese,Japanese peoples

Tran Ngoc Phuc said he believes trust will be the key to connecting Vietnamese and Japanese people.

“When we have trust, we will feel secure to come together. In the other way, if we lose people’s trust, it would be difficult to get back.

“As Chairman of the association, I should be a community-oriented person first and put aside my individual benefits so as to gain the trust of people.”

Sharing the association’s future activities to connect Vietnamese people in Japan, Phuc said he wants to work with mass media to create a television channel for Vietnamese in Japan.

“In Shinjuku, some people open Vietnamese classes. I find this very interesting. But it is a geographical matter that not all people can come to the classes.

“So I think the idea of creating a Vietnamese television channel is the best to teach Vietnamese language and promote Vietnamese culture for the next generations.”

Pham Hai Trieu shares similar goals, and bringing together more than 100 Vietnamese and Japanese people in his music video was a way to bring the two communities together.

“Through my music video, I want to build a strong Vietnamese community in Japan,” Trieu said.-VNA

(Infographic VNA)
(Infographic VNA)

74 năm

Tròn 74 năm trước, vào chiều 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cuộc Tổng khởi nghĩa 19/8 và Quốc khánh 2/9 đã để lại cho chúng ta nhiều bài học thành công quý giá, trong đó có bài học lớn về chính sách dân tộc sáng suốt, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân nhờ tìm ra được “mẫu số chung” về lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội.

Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam

Áp dụng một chính sách dân tộc đúng đắn trong mối quan hệ đan chéo giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp để cuối cùng hướng đúng dòng chảy của khát vọng độc lập, tự do của mọi người dân Việt Nam là một trong những tiền đề quan trọng để cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và khai sinh nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó cũng là bài học mà sau 74 năm vẫn còn nguyên giá trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lượt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2012, t.7 tr. 38).

“Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam” với lòng yêu nước thương nòi có những nét riêng so với các dân tộc khác, do quá trình hình thành dân tộc, do đặc điểm văn hóa, tập tính, cách giáo dục trong gia đình và trong cộng đồng, do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử mà cụ thể là truyền thống chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm…

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: ‘Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.’ Đó cũng là tư tưởng bất hủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra với cả thế giới ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: ‘Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.’ Đó cũng là tư tưởng bất hủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra với cả thế giới ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Từ năm 1945 đến nay, cách mạng Việt Nam đã đi từ thử thách này đến thử thách khác, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác – đuổi phátxít Nhật, chống thực dân Pháp, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào,” thống nhất đất nước và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên mỗi chặng đường của cách mạng Việt Nam, Đảng ta có những sách lược, chiến lược khác nhau phù hợp với bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ cụ thể. Song xuyên suốt các chặng đường đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc.

Tư tưởng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành trong giai đoạn Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp, vì vậy nội dung chủ chốt của vấn đề dân tộc ở Việt Nam là độc lập, tự do. Nhiệm vụ trước mắt vào thời điểm đó của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc, thực dân chứ chưa phải là cuộc cách mạng dân chủ như ở nhiều nước không phải là thuộc địa. Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta được đặt sau cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phátxít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!… Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

Hơn một năm sau, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”

Tiếp đó, ngày 17/7/1966, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào tham chiến trực tiếp trên chiến trường miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: .”.. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do.”

Một đặc điểm nổi bật trong tư tưởng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mối quan hệ gắn chặt làm một của hai vấn đề là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Một đặc điểm nổi bật trong tư tưởng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mối quan hệ gắn chặt làm một của hai vấn đề là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước

Năm 1887, nhằm thi hành chính sách chia để trị, thực dân Pháp lập ra “Liên bang Đông Dương” thuộc Pháp, gồm năm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cao Miên) do một viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án thực dân Pháp về việc chia cắt đất nước Việt Nam: “Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.”

Gần một năm sau, trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ (tháng 6/1946), Hồ Chí Minh khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”

Chân lý này đã được ghi trong Khoản 1, Điều 5, Hiến pháp năm 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.”

Mẫu số chung về lợi ích của các tầng lớp nhân dân

Sự thành công của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9 và những thắng lợi kế tiếp sau đó của cách mạng Việt Nam là dựa trên nền tảng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, vượt qua những mâu thuẫn giai cấp để chống lại kẻ thù chung của dân tộc.

Để tập hợp các tầng lớp xã hội đang có mâu thuẫn với nhau về quyền lợi thì Đảng ta và Bác Hồ đã tìm ra được “mẫu số chung” về lợi ích của toàn dân tộc, tức giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc một cách khoa học, biện chứng và phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Đó chính là bài học về phương pháp cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra kẻ thù chung của mọi tầng lớp người Việt Nam, dù là “dân cày, dân buôn, nhà tư sản, công nhân” – đó là giặc ngoại xâm, cụ thể là thực dân Pháp.

Bản Tuyên ngôn độc lập viết: “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.”

Từng câu chữ của Bác rất khúc chiết, nêu bật chiến tuyến giữa “ta” (người Việt) – “dân ta, các nhà tư sản ta, công nhân ta” và “chúng” (thực dân Pháp).

Bác viết: “… Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.”

Để có được nền độc lập cho nước nhà vào ngày 2/9/1945 thì trước đó, vào ngày 19/5/1941, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Đây là liên minh chính trị do Bác Hồ làm Chủ tịch với mục đích công khai là “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật-Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

Tiếp đó, ngày 6/6/1941, Bác Hồ gửi thư thư kêu gọi các bậc phụ huynh, các hiền nhân chí sỹ, các bậc phú hào yêu nước, các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương đoàn kết lại để đánh đổ bọn đế quốc và tay sai: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Cách mạng là việc chung của toàn thể nhân dân. Sự nghiệp chống đế quốc, tay sai giành độc lập, tự do là nhiệm vụ của toàn dân tộc. Chuẩn bị lực lượng và lực lượng vũ trang, đặc biệt là đội quân chính trị quần chúng có ý nghĩa rất cơ bản. Nhiệm vụ đánh Pháp-Nhật không phải là nhiệm vụ riêng của thợ thuyền và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của cả dân tộc không phân biệt giai cấp.”

Ngày 19/8/1945, cả Thủ đô ngập tràn cờ đỏ sao vàng. Hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội dự cuộc míttinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng, hưởng ứng cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. (Ảnh Tư liệu TTXVN)
Ngày 19/8/1945, cả Thủ đô ngập tràn cờ đỏ sao vàng. Hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội dự cuộc míttinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng, hưởng ứng cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. (Ảnh Tư liệu TTXVN)

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận rằng các vị kỳ hào, địa chủ, tư sản… trước hết là những người Việt Nam trong thân phận của người dân mất nước, trong họ tiềm tàng năng lực chống thực dân, đế quốc, có thể tập hợp họ vào một tổ chức cứu quốc cùng với nông dân, thợ thuyền. Dù các vị này thuộc giai tầng trên (nhưng không phải là những kẻ thống trị) thì ý nghĩa của từ “đồng bào” vẫn lớn hơn hết thảy.

Phó giáo sư, tiến sỹ sử học Vũ Quang Hiển (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) viết: “Nhờ có sự đổi mới về tư duy, chính trị, tổ chức mà đến giữa tháng 8/1945, cao trào kháng Nhật dưới ngọn cờ của Hồ Chí Minh, Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã tạo dựng được đội quân chính trị quần chúng hùng hậu, có tính chất dân tộc rộng rãi, sẵn sàng và quyết tâm khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Vì vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám có ưu điểm lớn so với các cuộc cách mạng nhiều nước trên thế giới. Đó là cuộc cách mạng tập hợp được tuyệt đại bộ phận nhân dân cả nước, diễn ra nhanh chóng và ít đổ máu.”

“Mẫu số” trong trang sử mới

Sau 74 năm, đặc biệt là sau 33 năm đổi mới, đất nước Việt Nam bước sang một trang sử mới với những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế-xã hội và vị thế trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay đã xuất hiện những thách thức không thể xem nhẹ đối với nền tảng đại đoàn kết toàn dân, làm suy giảm sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Đó là nguy cơ “diễn biến hòa bình,” “tự diễn biến,” sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân và nhóm lợi ích cũng như thái độ thờ ơ chính trị, vô cảm đối với những giá trị thiêng liêng nhất của dân tộc. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh việc kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, khoét sâu các mâu thuẫn xã hội, kích động tụ tập đông người bất hợp pháp, bạo loạn, làm mất ổn định chính trị-xã hội.

Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải đưa ra những nghị quyết, chính sách mới trong việc tập hợp mọi tầng lớp nhân dân vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước để củng cố vững chắc niềm tin của các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân vào con đường cách mạng đã chọn.

74 năm đã qua, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 'Không có gì quý hơn độc lập, tự do' vẫn luôn ngời sáng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất, bảo vệ và thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
74 năm đã qua, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘Không có gì quý hơn độc lập, tự do’ vẫn luôn ngời sáng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất, bảo vệ và thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)

Bên cạnh việc ban hành những quyết sách mang tính vĩ mô thì Đảng và chính quyền cần phải xác định được “mẫu số chung mới” về lợi ích giữa các giai cấp, dân tộc, lực lượng xã hội, các thành phần kinh tế trong giai đoạn hiện nay.

Theo Tổng cục Thống kê, Việt Nam hiện nay có gần 20 triệu nông dân, 11 triệu công nhân, 4,9 triệu trí thức, 2,4 triệu công chức, viên chức, 2 triệu doanh nhân (hoạt động trong hơn 346.000 doanh nghiệp), hơn 13 triệu người thuộc các dân tộc thiểu số, khoảng 24 triệu người theo đạo… Bên cạnh đó là 4,5 triệu người Việt đang sinh sống tại 109 quốc gia trên thế giới.

Các giai cấp, tầng lớp, nhóm dân cư ở nước ta đang trong quá trình phân hóa, sự khác biệt về mức thu nhập và hưởng thụ ngày càng lớn. Sự chênh lệch giàu nghèo giãn rộng giữa các giai tầng, nhóm dân cư, vùng miền đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền tảng đại đoàn kết dân tộc.

Thực tiễn cách mạng từ năm 1945 đến nay cho thấy sự đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội

Thực tiễn cách mạng từ năm 1945 đến nay cho thấy sự đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Điều quan trọng hiện nay là phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều sống trong môi trường an toàn, an ninh và được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới. Cụ thể, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, dân tộc, lực lượng xã hội, các thành phần kinh tế, nhóm dân cư…

Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia-dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.”

Kỷ niệm 74 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là dịp thích hợp để chúng ta ôn lại và suy ngẫm sâu hơn về bài học lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút từ hiện thực đấu tranh cách mạng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”./.

74 năm đã qua, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 'Không có gì quý hơn độc lập, tự do' vẫn luôn ngời sáng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất, bảo vệ và thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)
74 năm đã qua, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám, chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘Không có gì quý hơn độc lập, tự do’ vẫn luôn ngời sáng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất, bảo vệ và thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)

Nói không với rác thải nhựa

Rác thải nhựa đang là vấn đề nhức nhối mang tính toàn cầu. Cùng chung nỗ lực của các nước trên thế giới, Việt Nam đã và đang tích cực hành động mạnh mẽ, đề xuất các sáng kiến và tham gia các cơ chế hợp tác toàn cầu, khu vực để giải quyết vấn đề rác thải nhựa, đặc biệt trong bối cảnh tác động, ảnh hưởng của rác thải nhựa ngày càng gia tăng.

Nhưng để “Nói không với rác thải nhựa” lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng và mang lại hiệu quả cao nhất, phải bắt đầu từ ý thức của mỗi người dân.

Hình thành ý thức cho thế hệ trẻ

Với việc hàng trăm, hàng nghìn năm rác thải nhựa mới có thể phân hủy, ngay từ bây giờ phải hình thành ý thức, thói quen “Nói không với rác thải nhựa” với mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội. Đặc biệt là tác động mạnh mẽ tới các thế hệ trẻ. Bởi vậy, “nói không với rác thải nhựa” nên bắt đầu từ ngành giáo dục.

Sự việc bé Nguyệt Linh, một học sinh lớp năm đã gửi thư tới 40 hiệu trưởng với đề nghị không thả bóng bay dịp khai giảng để bảo vệ môi trường trước nạn ô nhiễm nhựa là một sáng kiến nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn. Nhờ vậy, nhiều trường đã cam kết không thả bóng bay cũng như giảm sử dụng các sản phẩm nhựa.

 “Nói không với rác thải nhựa” nên bắt đầu từ ngành giáo dục.

Năm học 2018-2019, cả nước trên 23 triệu học sinh, trong đó cấp tiểu học chiếm nhiều nhất trên 8,3 triệu học sinh. Với quy mô giáo dục tăng, số lượng học sinh năm học 2019-2020 cũng tăng theo. Nếu những quy định về sách vở, đồ dùng học tập thay đổi, lượng nhựa, nylon sẽ được giảm thiểu rất nhiều.

Một trong những quy định đã tồn tại nhiều năm là bọc sách, vở cho toàn bộ sách, vở cho năm học mới. Ngày trước, học sinh bọc sách, vở bằng báo cũ. Nhà nào có “điều kiện,” sách vở được bọc họa báo với nhiều hình ảnh in màu, bắt mắt rất đẹp. Song bọc báo cũ cũng rất nguy hiểm vì báo cũ chứa nhiều chì không tốt cho sức khỏe.

Sự việc bé Nguyệt Linh, một học sinh lớp năm đã gửi thư tới 40 hiệu trưởng với đề nghị không thả bóng bay dịp khai giảng để bảo vệ môi trường trước nạn ô nhiễm nhựa là một sáng kiến nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn. (Nguồn: TTXVN).
Sự việc bé Nguyệt Linh, một học sinh lớp năm đã gửi thư tới 40 hiệu trưởng với đề nghị không thả bóng bay dịp khai giảng để bảo vệ môi trường trước nạn ô nhiễm nhựa là một sáng kiến nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn. (Nguồn: TTXVN).

Với sự tiện lợi của nhựa, bọc sách vở bằng bao nhựa nylon với chi phí hiệu quả, dễ sử dụng và thuận tiện cho lưu trữ được sử dụng cho học sinh. Nếu mỗi học sinh phải bọc sách, vở bằng bao nylon, lượng nylon thải ra là quá lớn, chưa kể các loại kẹp file bằng nhựa dùng đựng bài của cô và trò…

Tháng 8/2019, học sinh nhiều trường đã tựu trường sớm, một số phụ huynh lên tiếng và nhiều trường đã không bắt buộc học sinh dùng nylon bọc sách, vở. Tuy vậy, vẫn có những trường hợp còn e dè, ngại lên tiếng vì đó là quy định của trường. Trước thềm năm học mới, một cô giáo chủ nhiệm sang trường mới còn có ý tưởng mua thêm mỗi học sinh 2 rổ nhựa (giống với trường cũ) để sách vở tiếng Anh và tiếng Việt dưới ngăn bàn vì sợ các con tiểu học chưa gọn gàng, sẽ mất thời gian sắp xếp, nhặt đồ nếu rơi khỏi ngăn bàn.

Nếu những quy định về sách vở, đồ dùng học tập thay đổi, lượng nhựa, nylon sẽ được giảm thiểu rất nhiều.

Điều đáng mừng là ý tưởng này đã gặp phải nhiều ý kiến không đồng tình. Chị Nguyễn Hoàng Hoa (Thanh Xuân) cho rằng: “Thay vì những ý tưởng như bọc sách, vở bằng nylon cho đẹp, mua thêm rổ nhựa, chúng ta nên tập trung rèn ý thức gọn gàng, ngăn nắp cho các con. Mỗi một túi nhựa hay túi nylon cũng tăng thêm đồ nhựa. Dù đồ nhựa này bền nhưng tương lai lại tăng thêm rác thải nhựa.”

Phụ huynh này lo lắng “hành tinh nhựa gần thành hiện thực rồi” và kêu gọi các phụ huynh khác cùng vào cuộc nêu ý kiến để hủy bỏ các quy định liên quan đến tăng thêm đồ nhựa, nylon trong trường học.

Đồng tình với ý kiến này, cô giáo Hà Thị Toan (Cầu Giấy) chia sẻ hiện nay, kỹ thuật in ấn tiên tiến, bìa sách, vở màu sắc đẹp, rất bắt mắt, giờ bọc lại sẽ che mất, vừa thêm chi phí không cần thiết vừa ảnh hưởng đến môi trường nếu dùng bìa nylon.

Năm học mới cận kề, ngành giáo dục nên hủy bỏ những quy định liên quan đến các sản phẩm nhựa và nylon, đưa nội dung bảo vệ môi trường nói chung, nói không với sản phẩm nhựa nói riêng vào chương trình học, tổ chức các phong trào thi đua với ý nghĩa thiết thực, tạo thành ý thức cho mỗi học sinh – tương lai của đất nước ngay từ nhỏ.

Lan tỏa phong trào

Sự ra đời của các sản phẩm từ nhựa và nylon mang lại các tiện ích nhưng nó cũng chính là tác nhân gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm Việt Nam phát thải khoảng 2 triệu tấn rác thải nhựa.

Tháng 6/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phát động phong trào chống rác thải nhựa trên phạm vi toàn quốc, trong đó giảm sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần. Hưởng ứng phong trào, nhiều bộ, ngành, đơn vị tiên phong “nói không với rác thải nhựa.”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tham gia đi bộ kêu gọi cộng đồng hành động chống rác thải nhựa. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tham gia đi bộ kêu gọi cộng đồng hành động chống rác thải nhựa. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã sử dụng bình nước kim loại thay thế cho chai nước nhựa dùng một lần tại nhiều hội nghị, hội thảo. Bộ phát động phong trào thi đua “Hành động để giảm thiểu ô nhiễm nhựa và nylon” kêu gọi mỗi cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hãy hành động và vận động gia đình, người thân cùng thực hiện “Nói không với sản phẩm nhựa và túi nylon sử dụng một lần.”

Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành y tế với 63 điểm cầu tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó yêu cầu các cơ sở y tế phải xây dựng kế hoạch, mục tiêu, lộ trình giảm thiểu chất thải nhựa từ hoạt động chuyên môn y tế, từ sinh hoạt thường ngày của người bệnh, người nhà bệnh nhân, nhân viên y tế; thực hiện phân loại triệt để chất thải nhựa, nylon khó phân hủy để thu gom, tái chế đúng quy định; tiến tới chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng vật liệu nhựa dùng một lần có thể thay thế và nylon khó phân hủy trong đơn vị.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm Việt Nam phát thải khoảng 2 triệu tấn rác thải nhựa.

Các doanh nghiệp như Co.op mart Việt Nam, Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, siêu thị Big C Đà Nẵng, Big C Hà Nội… đã sử dụng phương pháp bọc hàng hóa, sản phẩm bằng lá chuối thay thế dần túi nylon.

Liên minh tái chế bao bì Việt Nam gồm 9 doanh nghiệp lớn như TH Group, Coca-Cola, La Vie, Nestle, Nutifood… đã được thành lập vào tháng 6/2019 và đến cuối năm 2019 sẽ có thêm 30 doanh nghiệp lớn tham gia vào các chương trình tái chế rác thải nhựa. Các hãng Hàng không Vietjet, Bamboo sẽ đặt trọng tâm về kế hoạch sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường trên các chuyến bay.

Hệ thống siêu thị Co.opmart hướng người dân sử dụng các sản phẩm thay thế cho nylon bằng túi giấy và túi môi trường do đơn vị sản xuất. Việc này đã được triển khai từ năm 2011. (Nguồn: TTXVN)
Hệ thống siêu thị Co.opmart hướng người dân sử dụng các sản phẩm thay thế cho nylon bằng túi giấy và túi môi trường do đơn vị sản xuất. Việc này đã được triển khai từ năm 2011. (Nguồn: TTXVN)

Tỉnh Thừa Thiên-Huế đã chủ động, sáng tạo, hành động mạnh mẽ để thúc đẩy phong trào bảo vệ môi trường trên địa bàn với những mô hình sáng tạo “Ngày Chủ Nhật xanh,” “Nói không với túi nylon và sản phẩm nhựa sử dụng một lần,” “Nhặt một cọng rác bạn đã làm Huế sạch hơn”…

Nhiều tổ chức, đơn vị tư nhân trên cả nước đã đứng ra vận động người dân mang đổi vỏ chai nhựa để lấy cây xanh. Một số cửa hàng nước giải khát không phục ống hút nhựa đi kèm, dùng cốc sử dụng nhiều lần…

Phong trào chống rác thải nhựa với những hành động “Thử thách dọn rác,” “Thử thách thay đổi” lan truyền mạnh mẽ trên khắp các vùng miền đất nước mang những giá trị, thông điệp thiết thực về bảo vệ, cải thiện, làm sạch môi trường. Cuộc thi “Thử thách dọn rác” góp phần thay đổi thói quen, nâng cao nhận thức, góp phần bảo vệ môi trường sống.

Tiến tới luật hóa nghĩa vụ

Hiện chất thải nhựa mới chỉ được quy định chung trong nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế chứ chưa có quy định riêng, hướng dẫn cụ thể về việc quản lý, thu gom và xử lý, vẫn chưa có cơ chế chính sách cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ, hay ưu đãi về vay vốn, về thuế… để doanh nghiệp chuyển đổi từ sản xuất sản phẩm nhựa sang các sản phẩm dễ phân hủy… Do đó, nhằm hạn chế rác thải nhựa, giải pháp đầu tiên cần hạn chế các sản phẩm làm từ đồ nhựa.

Nhằm hạn chế rác thải nhựa, giải pháp đầu tiên cần hạn chế các sản phẩm làm từ đồ nhựa.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng cần thiết phải tuyên truyền sâu rộng, khuyến khích các phong trào, mô hình, các hoạt động về chống rác thải nhựa; đề xuất các sáng kiến nhằm thay đổi thói quen sử dụng, giảm thiểu, phân loại, tái sử dụng, tái chế rác thải nhựa; tăng cường khuyến khích người dân sử dụng bao bì, túi đựng nhiều lần và thân thiện môi trường; kịp thời biểu dương, tôn vinh khen thưởng các điển hình tiên tiến, mô hình hay, sáng kiến có giá trị.

Cửa hàng Eco Refill (Hà Nội) chuyên bán hàng tái chế và các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế cho vật dụng nhựa. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)
Cửa hàng Eco Refill (Hà Nội) chuyên bán hàng tái chế và các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế cho vật dụng nhựa. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)

Cùng với các biện pháp nâng cao ý thức, Nhà nước cần thêm các chính sách, chiến lược cụ thể về vấn đề sản xuất và sử dụng sản phẩm dễ tiêu hủy. Đồng thời, có những chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với doanh nghiệp sản xuất cũng như doanh nghiệp phân phối; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến thương mại để quảng bá sản phẩm thân thiện với môi trường; kiểm soát chất thải…

Cơ quan chức năng nên nhân rộng các mô hình phạt xả rác bằng camera tạo ý thức tốt trong bảo vệ môi trường. Đặc biệt là cần tiến tới luật hóa nghĩa vụ của các doanh nghiệp trong việc thu hồi, tái chế hoặc xử lý chất thải của các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất.

Mỗi người dân hãy thay đổi hành vi, thói quen tiêu dùng sản phẩm nhựa khó phân hủy, sử dụng một lần, hình thành ý thức nói không với sản phẩm nhựa, túi nylon, ngay hôm nay và ngay bây giờ vì một Việt Nam xanh, vì Trái Đất xanh./.