Di chúc Bác Hồ: Di sản của cả dân tộc

Ngày 2/9/1969, từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc kết tinh những giá trị vô giá.

Di chúc là bản tổng kết cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và trong đó Người vạch ra những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

“Mấy lời để lại” – đậm tình cảm, khí phách và hoài bão

Chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của cuộc đời, ngày 10/5/1965, Bác đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu Tuyệt đối bí mật gửi lại cho mai sau.

Liền trong bốn năm 1966, 1967, 1968 và 1969, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác lại đọc tài liệu Tuyệt đối bí mật, xem xét, cân nhắc kỹ từng đoạn, từng câu, từng ý, từng lời, qua đó, thêm bớt, sửa chữa hoặc viết lại những câu, những phần cần thiết. Ngày 19/5/1969, Bác sửa lần cuối. Toàn văn Di chúc đã được công bố sau ngày Bác qua đời – ngày 2/9/1969.

Chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của cuộc đời, ngày 10/5/1965, Bác đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu Tuyệt đối bí mật gửi lại cho mai sau.

Giờ đây, mỗi khi lật giở lại những trang bản thảo, những bút tích chỉnh sửa, bổ sung của Người trong bản Di chúc thiêng liêng, dường như chúng ta vẫn thấy Người đang cẩn trọng, cân nhắc từng ý, từng việc, để cô đọng nhất những trăn trở, những điều cần phải dặn lại. Ðó là những vấn đề quan trọng, cần thiết đối với Ðảng ta, nhân dân ta, sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

Đó là những lời căn dặn thiết tha, chứa đựng biết bao tình cảm, hoài bão và khí phách. “Mấy lời để lại” của Bác chứa đựng nội dung phong phú và sâu sắc, chuyện nước nhà, chuyện thế giới, dặn dò lãnh đạo, nói với nhân dân, từ già đến trẻ, về hiện tại và tương lai, về việc chung và việc riêng… hầu như ai cũng được Bác nhớ đến và dặn dò với muôn vàn tình thương yêu.

Ảnh tư liệu.
Ảnh tư liệu.

Trong Di chúc, khát vọng và niềm tin tất thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam được khẳng định ngay từ câu mở đầu: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.”

Khẳng định nguồn sức mạnh làm nên sức mạnh của Ðảng chính là sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng, Người nhấn mạnh: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình;” đồng thời, yêu cầu “trong Ðảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình.”

Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về quản lý xã hội.

Theo Người, đó không chỉ là nhiệm vụ trọng yếu, là yêu cầu bức thiết của Ðảng cầm quyền trước mỗi bước chuyển của cách mạng, mà còn là cách tốt nhất để “củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Ðảng,” để Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về quản lý xã hội như: đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp hoàn cảnh mới; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế; chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách xã hội, công bằng xã hội…

Di chúc phác thảo những vấn đề quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đổi mới là một tất yếu để phát triển; đổi mới là một cuộc đấu tranh bền bỉ, một quá trình xây dựng gian khổ, “là một công việc cực kỳ to lớn, nặng nề và phức tạp,” là “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi.” Người yêu cầu, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Theo Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện nước ta phải đặc biệt chú trọng phát huy khả năng sáng tạo của dân, “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.”

Cốt yếu là con người và nâng cao đời sống nhân dân

Tư tưởng và mục đích cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và cuối cùng lại trở về với con người. Bởi vậy, như một lẽ tự nhiên, trong những lời để lại, Người đặc biệt quan tâm đến con người và những công việc đối với con người. Người chỉ rõ, khi đất nước đã trải qua những năm dài chiến tranh, việc hàn gắn những vết thương của thời hậu chiến là công việc rất nặng nề, phức tạp, nhưng cũng rất vẻ vang.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ phóng viên các cơ quan báo chí trong và ngoài nước tại Thủ đô Hà Nội (5/1968). (Nguồn: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ phóng viên các cơ quan báo chí trong và ngoài nước tại Thủ đô Hà Nội (5/1968). (Nguồn: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.”

Người chỉ ra những công việc đối với con người sau chiến tranh phải bằng các chính sách kinh tế-xã hội cụ thể, thiết thực.

Người căn dặn tỉ mỉ công tác thương binh liệt sỹ, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa những người có công với cách mạng, giáo dục tinh thần yêu nước, thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Đối với cán bộ, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong đã hy sinh một phần xương máu cho kháng chiến, Người nhắc nhở: “Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh.”

Tư tưởng và mục đích cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và cuối cùng lại trở về với con người.

Đối với cha mẹ, vợ con liệt sỹ “phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.”

Đối với những nạn nhân của chế độ cũ, “phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến vấn đề “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau,” coi đó là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết. Người đề nghị: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”; cần chọn một số thanh niên ưu tú, những chiến sĩ trẻ tuổi đã tham gia các lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong “cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự đóng góp to lớn của phụ nữ trong quá trình dựng nước và giữ nước cũng như trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Người yêu cầu, Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, giúp đỡ phụ nữ ngày càng thêm nhiều người phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với nông dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ, đồng bào ta nhất là nông dân luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu mọi khó khăn, gian khổ. Người “đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm nhiềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.”

Trọn vẹn cuộc đời vì nước, vì dân

Là người cả cuộc đời đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, nhưng trước lúc từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ viết về mình những dòng ít ỏi, giản dị nhưng đầy trách nhiệm với tương lai của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh bên ao cá trong Khu Phủ Chủ tịch - Ảnh: T.L 
Chủ tịch Hồ Chí Minh bên ao cá trong Khu Phủ Chủ tịch – Ảnh: T.L 

Người viết: “Về việc riêng, suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.”

Người căn dặn: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. Người yêu cầu hỏa táng thi hài để “tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng.”

“Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.”

Trước lúc từ biệt thế giới này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ viết về mình những dòng ít ỏi, giản dị nhưng đầy trách nhiệm với tương lai của dân tộc. 

“Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.”

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lời chào thân ái đến đồng bào, đồng chí và bầu bạn quốc tế: “Tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu nhi đồng quốc tế.”

Người nhắn nhủ đồng bào, đồng chí: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”

Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)
Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)

Di chúc là kết quả sự trăn trở, suy nghĩ của của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tương lai của dân tộc; là sự tổng kết và rút ra những luận điểm cô đọng, súc tích trong quá trình chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự phát triển lý luận sáng tạo, là bản phác thảo cương lĩnh xây dựng đất nước, là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

Di chúc thể hiện phẩm chất đạo đức sáng ngời, chủ nghĩa nhân đạo và nhân văn cao cả của Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh.

Với nội dung cô đọng, sâu sắc, hàm chứa tinh thần nhân văn cao cả, Di chúc là văn kiện có sức lay động sâu xa trái tim của hàng triệu triệu con người, thôi thúc hành động không chỉ đối với nhân dân ta mà đối với tất cả những ai đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hòa bình, công lý và hạnh phúc của con người.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện có giá trị vô cùng to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là tài sản văn hóa, tài sản tinh thần vô cùng quý giá của nhân dân Việt Nam./.

‘Trò chuyện’ của Hoàng Rob:

Dự án “Trò chuyện” đánh dấu sự trở lại ấn tượng của nghệ sỹ violin Hoàng Rob sau khoảng 3 năm vắng bóng trên “đường đua” nhạc Việt. Từ việc kết hợp với nhiều tên tuổi hàng đầu (Trần Thu Hà, Thu Phương, Quang Dũng, Lê Hiếu) và những giọng ca trẻ trung, tươi mới của làng nhạc hiện nay (Đức Phúc, Kiều Anh), “Trò chuyện” tiếp tục định hình phong cách, tư duy và thẩm mỹ chơi nhạc của Hoàng Rob: giao thoa giữa cổ điển và hiện đại, giữa dân gian và đương đại.

Với dự án lần này, Hoàng Rob tiếp tục hành trình đưa tiếng đàn violin đến gần người nghe đại chúng hơn bằng những giai điệu pop ballad.

Bước trưởng thành về tư duy

“Trò chuyện” không phải là cuộc đối thoại đầu tiên diễn ra trong không gian âm nhạc của Hoàng Rob. Tuy nhiên, so với những dự án trước đó như “Hừng đông,” album “Trò chuyện” cho thấy rõ bước trưởng thành của Hoàng Rob.

“Hừng đông” từng góp phần tạo nên dấu ấn của một nghệ sỹ mới, định hình cá tính của một gương mặt trẻ với những cuộc đối thoại giữa các yếu tố cũ-mới, Đông-Tây, giữa những âm thanh thô mộc và nhạc điện tử… “Trò chuyện” tiếp tục hành trình ấy nhưng có nhiều màu sắc khác biệt.

“Trò chuyện” không đơn thuần là sự nối dài cách thức làm nhạc từ “Hừng đông” (ra mắt từ ba năm về trước). Thay vào đó, album này cho thấy sự đổi mới, trưởng thành hơn trong tư duy của Hoàng Rob.

Hoàng Rob và các nghệ sỹ khách mời tham gia dự án
Hoàng Rob và các nghệ sỹ khách mời tham gia dự án “Trò chuyện.” (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)

“Sau ‘Hừng đông,’ đã có lúc tôi cảm thấy hoang mang, áp lực không biết phải làm gì tiếp theo. Trong hơn hai năm vừa qua, tôi dành nhiều thời gian nghỉ ngơi, đi du lịch để tái tạo năng lượng, thiết lập những mối quan hệ mới, gặp gỡ những người bạn mới. Khi tự cho mình thêm nhiều cơ hội để tìm hiểu cuộc sống, tôi đã nảy ra những ý tưởng mới. Chính trong khoảng thời gian này, tôi đã làm được ba album, trong đó có ‘Trò chuyện’,” Hoàng Rob chia sẻ.

“Trò chuyện” có sự khác biệt về phong cách so với những dự án trước đó của Hoàng Rob. “Tôi không muốn violin chỉ được vang lên ở những ‘tháp ngà,’ thánh đường nghệ thuật, bó mình trong những khuôn khổ, quy tắc nghiêm ngặt của nhạc cổ điển,” Hoàng Rob chia sẻ. Với tinh thần đó, Hoàng Rob đã mời sáu nghệ sỹ (cũng là sáu người “bạn nghề” có những rung cảm đặc biệt với ballad, với violin và với chính Hoàng) để cùng thực hiện những cuộc “Trò chuyện.”

Nói khác đi, nếu “Hừng đông” mang nặng tính thử nghiệm, được kết cấu chặt chẽ với một sợi dây, ý tưởng nhất quán xuyên suốt từ đầu đến cuối thì “Trò chuyện” là những cuộc đối thoại nhẹ nhàng nhưng sâu lắng giữa tiếng violin của Hoàng Rob và những giọng ca mà anh yêu mến.

“Trò chuyện” là những cuộc đối thoại nhẹ nhàng nhưng sâu lắng giữa tiếng violin của Hoàng Rob và những giọng ca mà anh yêu mến. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
“Trò chuyện” là những cuộc đối thoại nhẹ nhàng nhưng sâu lắng giữa tiếng violin của Hoàng Rob và những giọng ca mà anh yêu mến. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)

Sau “Hừng đông,” nếu khán giả mong chờ một ý tưởng mới lạ, độc đáo, khác biệt ở sản phẩm âm nhạc mới của Hoàng Rob thì “Trò chuyện” thực sự là cú “dội ngược” vào mong đợi đó. “Hừng đông” nhộn nhịp âm hưởng của đời sống phố thị, vang ngân tiếng nói của tuổi trẻ với dung lượng lớn âm thanh điện tử, bắt kịp trào lưu âm nhạc gần đây. Trong khi đó, “Trò chuyện” tràn ngập những giai điệu pop ballad trữ tình, da diết và lắng sâu.

Thế nhưng, ở một phương diện khác, khi xâu chuỗi toàn bộ sáu ca khúc trong album này, người nghe nhận thấy nhiều phá cách thú vị của Hoàng Rob, trong đó, nổi bật nhất là sự đổi mới tư duy – một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để một người hát, một người đàn trở thành nghệ sỹ đích thực, đủ nội lực để đi đường dài, dẫn hướng người nghe, định hình dòng nhạc, kiến tạo xu hướng.

“Tôi không muốn violin chỉ được vang lên ở những ‘tháp ngà,’ thánh đường nghệ thuật, bó mình trong những khuôn khổ, quy tắc nghiêm ngặt của nhạc cổ điển.”

Hoàng Rob cho thấy một sự trưởng thành trong cách làm nhạc. Nếu ở album trước, Hoàng Rob chịu sự chi phối nhiều từ êkíp sản xuất thì với “Trò chuyện,”  anh thực hiện hành trình tự “giải phóng” bản thân. Hoàng Rob tự do làm điều mình thích: chủ động chọn bài, mời nghệ sỹ hợp tác, tự định vị đối tượng khán giả muốn hướng tới và quan trọng hơn cả là chủ động tham gia sâu vào phần sản xuất.

“Với một bản thu hoàn chỉnh, chuẩn bị được mang đi in đĩa nhưng nếu khi nghe lại lần cuối, nhận thấy dù chỉ một nốt nhạc chưa ưng, Hoàng Rob vẫn yêu cầu làm lại từ đầu,” đại diện êkíp sản xuất “Trò chuyện” kể.

Chính việc được tự do thể hiện, biết rõ bản thân muốn hướng tới điều gì và thực hiện theo cách thức nào cho thấy sự trưởng thành của Hoàng Rob: từ “hiện tượng mạng” với những MV được quay ở những địa danh nổi tiếng (như Sơn Đòong), Hoàng Rob từng bước chinh phục khán giả với dự án “Hừng đông” (gồm album hòa tấu và concert vionlin đầu tiên ở Việt Nam) và album “Trò chuyện” (bình dân hóa violin, đưa violin đến gần hơn với người nghe đại chúng).

Hoàng Rob chọn hòa tấu đương đại để không ngừng mở rộng đối tượng khán giả. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
Hoàng Rob chọn hòa tấu đương đại để không ngừng mở rộng đối tượng khán giả. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)

“Bình dân hoá” violin để đến gần khán giả đại chúng

Nếu như trước đây, tiếng violin thường xuất hiện trong những màn độc tấu hay hòa tấu cùng dàn nhạc giao hưởng, hoặc làm nền, đệm cho phần trình diễn ca khúc thì ở album này, tiếng violin trực tiếp “trò chuyện,” song hành cùng tiếng hát của nghệ sỹ để kể những câu chuyện tình yêu nhiều cung bậc cảm xúc.

Chọn tinh thần ballad để “Trò chuyện,” Hoàng Rob thể hiện rõ mong muốn phổ biến hơn nữa âm nhạc của mình. “Ngay từ khi bắt đầu dự án, tôi đã xác định rõ hướng đi của mình. Ở Việt Nam, công chúng ít chú ý tới nghệ sỹ nhạc cụ. Tôi luôn muốn cây violin không chỉ xuất hiện ở những ‘tháp ngà,’ thánh đường nghệ thuật mà sẽ gần gũi hơn với khán giả đại chúng. Khán giả có thể nghe ở mọi nơi, mọi lúc,” Hoàng Rob bày tỏ.

Chọn tinh thần ballad để “Trò chuyện,” Hoàng Rob thể hiện rõ mong muốn phổ biến hơn nữa âm nhạc của mình. 

Đây cũng là lý do Hoàng Rob mời những gương mặt trẻ (như Đức Phúc, Lê Hiếu, Kiều Anh) cùng tham gia dự án “Trò chuyện” bên cạnh những diva, nghệ sỹ thành danh (Hà Trần, Thu Phương, Quang Dũng).

Nói về lý do thuyết phục những nghệ sỹ thành danh (Thu Phương, Trần Thu Hà) đồng hành trong nhiều dự án, Hoàng Rob chia sẻ: “Tôi nghĩ, nghệ sỹ luôn có điểm chung là sự nhạy cảm, hướng đến sáng tạo. Trước những cái mới, thử thách mới, ai cũng hào hứng và cảm thấy được kích hoạt. Đó là lý do giúp tôi mời được những nghệ sỹ nổi tiếng và rất đắt khách hiện nay tham gia các dự án của mình.”

Với “Ngày ấy ta gặp lại,” tiếng đàn của Hoàng Rob làm dịu bớt đi nỗi day dứt trong giọng ca của Thu Phương. Còn với “Đừng rời xa tôi,” tiếng violin của Hoàng Rob da diết như lời van vỉ, hòa quyện cùng tiếng hát của Đức Phúc khi thể hiện nỗi buồn sâu lắng. Cùng với Lê Hiếu của “Thế là thôi,” âm thanh tiếng đàn vang ngân dịu dàng, như đôi bàn tay ấm áp an ủi người buồn trước thái độ muốn buông xuôi.

Bên cạnh đó, tiếng đàn ấy cũng có đôi lúc vọt lên, xoáy sâu vào tâm trạng nhân vật, gom từng ráng chiều làm cơn bão lớn trong “Tặng” (kết hợp cùng Quang Dũng).

“Độc ẩm” như cơn hạnh ngộ đối ẩm chuếnh choáng của hai người bạn, hai nghệ sỹ: Hoàng Rob và ca nương Kiều Anh. Ở đó, tiếng đàn đối thoại với tiếng hát, làm nên một không gian lắng sâu và có phần ngột ngạt.

“Mây bay cuối trời” vẫn luôn có sức hút theo thời gian, giống như giọng ca của diva Hà Trần. Thời lượng tiếng đàn cân bằng, đồng hiện với tiếng hát. Sự khắt khe, “tính toán” chuẩn xác đến mức cầu toàn của Hoàng Rob đã biến album này một cuộc “Trò chuyện” thú vị. Giọng ca các nghệ sỹ và tiếng violin của Hoàng Rob cùng thăng hoa, tràn đầy cảm xúc, không che mờ, lấn át nhau.

Cách làm của Hoàng Rob và các cộng sự trong “Trò chuyện” tuy không thật mới nhưng rất khéo léo. Nếu Hà Trần, Quang Dũng, Thu Phương phù hợp những khán giả muốn ngược dòng thời gian thì Đức Phúc, Lê Hiếu, Kiều Anh lại phù hợp với giới trẻ hiện nay. Nếu “Độc ẩm,” “Mây bay cuối trời” dành cho những ai mê thích  dòng nhạc indie với sự pha trộn âm thanh điện tử – thô mộc thì những ca khúc còn lại (với ca từ, giai điệu dễ cảm, dễ nghe) lại phù hợp với số đông người nghe.

Nếu người nghe yêu thích lối hát hiện đại thì “Đừng rời xa tôi” hay “Độc ẩm” là lựa chọn phù hợp. Khi muốn tìm về những tình ca kiểu cũ, “Ngày ấy ta gặp lại” hay “Tặng” là lựa chọn phù hợp … Dù “Trò chuyện” chỉ có sáu bài hát (một con số khá khiêm tốn) nhưng phù hợp với nhiều phong cách, đối tượng, thế hệ người nghe.

Sau khi được vinh danh Nghệ sỹ mới của năm (Giải Âm nhạc Cống hiến năm 2017 do Báo Thể thao và Văn hóa – Thông tấn xã Việt Nam tổ chức), Hoàng Rob luôn tự nỗi lực đổi mới mình, mang đến làn gió mới cho nhạc Việt. Dám thay đổi, tiên phong khai phá những cách thức mới là sứ mệnh mà một nghệ sỹ thực thụ luôn cần thực hiện.

“Trò chuyện” tiếp tục khẳng định đối tượng khán giả mà Hoàng Rob muốn hướng tới là những người nghe trẻ (như trong dự án “Hừng đông” trước đó). Tuy nhiên, “tham vọng” của anh ngày càng lớn hơn và điều đó thể hiện rõ trong dự án “Trò chuyện.” Đó là sự dịch chuyển từ căn phòng nhỏ, từ dàn giao hưởng về chiếc máy hát, để phù hợp hơn với khán giả đại chúng.

Dám thay đổi, tiên phong khai phá những cách thức mới là sứ mệnh mà một nghệ sỹ thực thụ luôn cần thực hiện.

Hoàng Rob miệt mài trên con đường trở thành một nghệ sỹ độc lập với dấu ấn riêng: “bình dân hóa” violin bằng những sản phẩm âm nhạc hướng tới đại chúng khán giả. Nói khác đi, anh chọn hòa tấu đương đại để không ngừng mở rộng đối tượng khán giả cho mình. Trong hành trình đã qua, Hoàng Rob luôn “đi bằng hai chân”: bên cạnh những MV, sản phẩm bắt tai, bắt mắt, Hoàng Rob cũng có những cái bắt tay đa dạng, táo bạo để tạo nên những dự án phòng thu, concert vionlin bài bản, kỳ công.

Một trong những kế hoạch, mong ước của anh trong tương lai là mời được Bond (một trong những nhóm tứ tấu đàn dây thành công nhất mọi thời đại) sang Việt Nam biểu diễn trong liveshow riêng (dự kiến diễn ra vào nửa đầu năm 2020)./.

Năm 2017, Hoàng Rob được vinh danh Nghệ sỹ mới của năm - Giải Âm nhạc Cống hiến do Báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) tổ chức. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
Năm 2017, Hoàng Rob được vinh danh Nghệ sỹ mới của năm – Giải Âm nhạc Cống hiến do Báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) tổ chức. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)

LỢI NHUẬN 6 THÁNG TĂNG CAO

Điểm sáng trong công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm của các ngân hàng là lợi nhuận trước thuế tăng trưởng rất ấn tượng.

Tuy nhiên, bên cạnh những con số lãi nghìn tỷ đồng, các chuyên gia bày tỏ lo ngại khi nợ xấu đang có xu hướng gia tăng trở lại.

Đến nay, tốp 10 ngân hàng cổ phần có lợi nhuận cao nhất trong 6 tháng đầu năm 2019 đã chính thức lộ diện. Tổng lợi nhuận trước thuế của 10 nhà băng này trong nửa đầu năm 2019 đạt hơn 45.500 tỷ đồng, tăng hơn 6.500 tỷ đồng, tương đương tăng 16,7% so với cùng kỳ. Tốp 10 vẫn ghi nhận những cái tên quen thuộc như cùng kỳ năm ngoái, nhưng thứ hạng thì đã có những thay đổi đáng kể.

Tốp 10 vẫn ghi nhận những cái tên quen thuộc như cùng kỳ năm ngoái, nhưng thứ hạng thì đã có những thay đổi đáng kể

Đứng đầu danh sách, Vietcombank ghi kỷ lục mới toàn hệ thống với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 11.000 tỷ đồng, tăng 43% so với cùng kỳ năm trước. Đây là ngân hàng có những bước đi bền bỉ trong nhiều năm và bứt phá thần tốc từ năm 2017 đến nay.

Đứng vị trí thứ 2 là Techcombank với lợi nhuận trước thuế đạt 5.700 tỷ đồng, doanh thu đạt 9.100 tỷ đồng, tăng 32% và 19% so với cùng kỳ năm trước.

Điểm đặc biệt của nhà băng này trong 6 tháng qua là chi phí dự phòng giảm 77%, đồng thời tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập duy trì ở mức 35%, góp phần đem lại lợi nhuận kỷ lục.

Lợi nhuận trước thuế của tốp 10 ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2018-2019. (Đơn vị: Tỷ đồng)
Lợi nhuận trước thuế của tốp 10 ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2018-2019. (Đơn vị: Tỷ đồng)

Bên cạnh đó, thu nhập lãi thuần đạt 6.500 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập phí tăng 19% so với cùng kỳ phần lớn nhờ vào mức tăng trưởng mạnh từ lĩnh vực bảo hiểm và tư vấn trái phiếu, tăng lần lượt ở mức 34% và 82%.

Tiếp đến là VietinBank, nhưng ngân hàng này chưa cho thấy sự hồi phục khi nhận lợi nhuận trước thuế quý 2 chỉ đạt 2.182 tỷ đồng, giảm 2,5% so với cùng kỳ. Tính chung, lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 5.335 tỷ đồng.

Đáng chú ý, trong quý 2 chi phí dự phòng của nhà băng này tăng vọt 63% lên 4.236 tỷ đồng. Nguyên nhân của việc này là do nhà băng này chưa mở rộng được tín dụng bởi mấy năm nay vốn điều lệ không được tăng nên tăng trưởng tín dụng cũng bị “kìm hãm.”

Khách hàng giao dịch tại HDBank. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Khách hàng giao dịch tại HDBank. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Nhân tố mới gây bất ngờ vượt cả BIDV là MBBank. Nếu như ở cùng kỳ năm trước, MBBank còn đứng ở thứ 6 thì đến nửa đầu năm nay đã leo lên vị trí thứ 4 ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất 6 tháng đầu năm đạt 4.875 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ; tiền gửi khách hàng đạt đạt 260.089 tỷ đồng, cho vay đạt 229.125 tỷ; các chỉ tiêu ROE đạt 21,24%, thuộc tốp đầu các ngân hàng thương mại cổ phần về hiệu quả.

Để có được kết quả này là do MB đã tập trung triển khai các dự án chiến lược trọng điểm của ngân hàng đảm bảo tiến độ và hiệu quả cao, trong đó Ngân hàng Nhà nước phê duyệt áp dụng quản trị rủi ro theo Basel 2 từ 1/5; cải tiến phần mềm luân chuyển chứng từ hồ sơ (BPM) cho quy trình phát hành thẻ; dự án chuyển đổi năng lực công nghệ thông tin cùng nhiều dự án quan trọng khác…

Còn với BIDV, cùng kỳ năm ngoái, ngân hàng này đứng ở vị trí thứ 4 nhưng năm nay đã lùi xuống đứng vị trí thứ 5 với lợi nhuận trước thuế đạt 4.772 tỷ đồng, giảm 4% so với cùng kỳ. Thậm chí, trong quý 2, lợi nhuận trước thuế của BIDV chỉ đạt 2.251 tỷ đồng, giảm 9% với nguyên nhân chủ yếu là do chi phí dự phòng rủi ro tăng mạnh 38% lên 5.524 tỷ đồng.

Mặc dù giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái nhưng VPBank vẫn đứng trong tốp 5 ngân hàng với mức lợi nhuận trước thuế đạt 4.343 tỷ đồng. Nguyên nhân là do ngân hàng này không còn khoản thu nhập đột biến từ bảo hiểm.

Bốn ngân hàng cuối cùng trong tốp 10 lợi nhuận là ACB, HDBank, VIB và TPBank với thứ tự không thay đổi so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, ACB có lãi đạt 3.622 tỷ đồng, cách biệt hơn so với 3 ngân hàng còn lại.

Các chuyên gia cũng nhận định, bức tranh lợi nhuận ngân hàng có sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng. Lợi nhuận các ngân hàng tốp đầu tăng mạnh nhờ vào tín dụng và nguồn thu dịch vụ ngày càng tăng.

Điểm tạo nên lợi nhuận “thần tốc” của Vietcombank trong thời gian qua là ngân hàng này đã dịch chuyển mạnh từ bán buôn sang bán lẻ, tăng từ 45,4% cuối năm 2018 lên 48% tại 30/6, gia tăng tỷ trọng và nguồn thu dịch vụ qua mở rộng khách hàng và phát triển các sản phẩm tiện ích khác.

Lợi nhuận các ngân hàng tốp đầu tăng mạnh nhờ vào tín dụng và nguồn thu dịch vụ ngày càng tăng.

Thêm một điểm khác đáng chú ý là Vietcombank đã gia tăng dịch chuyển kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng sang các phân khúc khác có lãi biên hoặc tỷ suất sinh lời cao hơn như tăng cho vay trên thị trường 1 (khách hàng cá nhân và doanh nghiệp), đầu tư các giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng…

Chính vì vậy dư nợ tín dụng đạt 697.240 tỷ đồng, tăng 9,7% so với 2018, cao hơn nhiều so với mức 7,3% bình quân toàn hệ thống.

Còn tại Techcombank, mảng dịch vụ cũng mang lại nhiều “thành tích” cho ngân hàng này như thẻ tín dụng tăng 43% so với cùng kỳ, giao dịch qua thẻ ghi nợ cũng tăng hơn 26% về số lượng. Tổng giá trị giao dịch thanh toán thẻ Visa đạt 13.000 tỷ đồng, tăng 80% so với cùng kỳ, thẻ ghi nợ tăng trên 60%, đạt 23.000 tỷ đồng. Tăng trưởng giao dịch bình quân mỗi khách hàng tăng 56% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, ngân hàng này cũng đang cho vay mua nhà để ở theo chuỗi giá trị khoảng 62.000 tỷ đồng (tăng 1,9 lần so với năm 2016) và khoảng 10.000 tỷ đồng cho khách hàng hiện hữu vay mua nhà.

Các mảng bán lẻ đem lại doanh thu lớn cho ngân hàng.
Các mảng bán lẻ đem lại doanh thu lớn cho ngân hàng.

Ông Nguyễn Lê Quốc Anh, Tổng Giám đốc Techcombank cho biết, ngoài nhà ở, năm nay ngân hàng sẽ tiếp tục khai thác các mảng bán lẻ khác như cho vay mua ôtô, hàng không, dự kiến mang lại hiệu quả trong 1-2 năm nữa.

Hay tại SHB trong quý 2, các hoạt động kinh doanh đều tăng trưởng tốt như thu nhập lãi thuần tăng 60% đạt 1.742 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng, thu nhập lãi thuần của ngân hàng này đạt 3.153 tỷ đồng, tăng 46%.

Mức tăng trưởng này có sự đóng góp lớn của mảng cho vay cá nhân tăng tới 39,2% so với đầu năm, chiếm tới 31,16% tổng cho vay, trong khi tỷ trọng của phân khúc này này hồi đầu năm chỉ là 24,76%. Ngoài ra, lãi từ hoạt động dịch vụ tăng mạnh, gấp 4 lần cùng kỳ năm ngoái.

Tương tự tại VIB, lãnh đạo ngân hàng này cho biết nhờ có sự chuyển đổi sâu rộng trong hoạt động mà ngân hàng đã có được các kết quả đột phá khi lợi nhuận liên tục tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây.Từ một ngân hàng có cấu trúc thiên về khách hàng doanh nghiệp, thì hiện nay tỷ trọng về dư nợ của hoạt động ngân hàng bán lẻ đã chiếm phần lớn.

Từ khối kinh doanh có lợi nhuận không đáng kể, ngân hàng bán lẻ đã trở thành nơi đóng góp nguồn lợi nhuận trọng yếu cho VIB với tốc độ tăng trưởng bán lẻ cao và chất lượng. Tốc độ tăng trưởng cho vay bán lẻ 6 tháng đầu năm tăng 21%. Dư nợ cho vay ngân hàng bán lẻ chiếm 78% tổng danh mục cho vay của VIB.

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước quy định hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp, các ngân hàng thương mại sẽ đẩy mạnh mảng dịch vụ bán lẻ để bù đắp nguồn thu từ tín dụng, trong đó chú trọng đến cho vay cá nhân. Đây cũng là xu hướng chung của các ngân hàng trên thế giới, tập trung bán lẻ và cung ứng dòng vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, hệ thống ngân hàng vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện, nhất là vấn đề nợ xấu, hệ số an toàn vốn.

Vietcombank gây bất ngờ khi nợ nhóm 3 (nhóm dưới chuẩn) đến hết quý 2 năm nay bất ngờ tăng gấp gần 6 lần so với cuối năm trước. Cho dù nợ nhóm 4 và nhóm 5 có giảm nhẹ song tổng nợ xấu vẫn tăng thêm trên 900 tỷ đồng và qua đó đưa tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng từ dưới 1% lên trên 1%.

Hệ thống ngân hàng vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện, nhất là vấn đề nợ xấu, hệ số an toàn vốn

Mặc dù vậy, theo ông Nghiêm Xuân Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank, nợ xấu của ngân hàng không phải là điều đáng lo bởi hiện Vietcombank đang có tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu 6 tháng lên đến 180%, tức là 100 đồng nợ xấu thì có dự phòng tới 180 đồng.

Trong khi đó, BIDV là ngân hàng có nợ xấu nội bảng lớn, tại thời điểm 30/6 là 21.121 tỷ đồng, tăng 12,3% so với đầu năm. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh tới 46% lên 10.492 tỷ đồng và nhóm nợ này đang chiếm tới gần một nửa trong cơ cấu nợ xấu của BIDV. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng cũng từ mức 1,9% hồi đầu năm leo lên 1,98%.

Một số nhà băng khác ghi nhận các nhóm nợ có sự biến động đáng kể, chẳng hạn như LienVietPostbank tăng từ 1,41% lên 1,48%; KienlongBank từ mức dưới 1% lên 1,15%; TPBank cũng 1,12% lên 1,5%.

Điều này cũng trùng hợp với báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2012 đến cuối tháng Sáu, ước tính toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 937.500 tỷ đồng nợ xấu, trong đó riêng trong năm 2018, đã xử lý được 163.140 tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ước đến cuối tháng Sáu là 1,91%, tăng nhẹ so với mức cuối năm 2018 là 1,89%.

Về vấn đề này, đại diện Công ty cổ phần Chứng khoán VNDirect cho rằng, bên cạnh số nợ xấu tồn đọng đang được xử lý tích cực thì nợ xấu mới lại tiếp tục hình thành. Trước đây, nợ xấu trong quá khứ của các ngân hàng đến từ các khoản cho vay với mục đích đầu cơ và các hoạt động không phải ngành kinh doanh chính (như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản) và cho vay các khoản đầu tư không hiệu quả của doanh nghiệp quốc doanh. Nợ xấu mới hiện tại đến từ các khoản đầu tư của tư nhân và vay tiêu dùng của hộ gia đình và cá nhân, đặc biệt là ở các ngân hàng bán lẻ.

Do đó, nợ xấu sẽ tăng nhiều nhất ở các ngân hàng mở rộng mạnh trong mảng bán lẻ, đặc biệt là tài chính tiêu dùng, do hoạt động này rủi ro cao và tăng chậm hơn ở ngân hàng có tiêu chuẩn cho vay khắt khe hơn và việc mở rộng cho vay bán lẻ cần thận trọng hơn.

Nợ xấu sẽ tăng nhiều nhất ở các ngân hàng mở rộng mạnh trong mảng bán lẻ, đặc biệt là tài chính tiêu dùng, do hoạt động này rủi ro cao và tăng chậm hơn ở ngân hàng có tiêu chuẩn cho vay khắt khe hơn và việc mở rộng cho vay bán lẻ cần thận trọng hơn

Chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, các ngân hàng một mặt tăng trưởng tín dụng là tốt nhưng mặt khác phải quản lý rủi ro một cách chặt chẽ để trong tăng trưởng đó có được sự tăng trưởng bền vững, lợi nhuận đó là bền vững chứ không phải tức thời lúc này, nếu không trong tương lai các nhà băng sẽ phải trả giá bằng nợ xấu cao.

Một số chuyên gia khác cũng lo ngại, một phần nợ xấu của các ngân hàng 5 năm trước đã bán cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) bằng trái phiếu đặc biệt, nếu trái phiếu đáo hạn mà nợ xấu không được xử lý, nợ xấu sẽ trở lại với các ngân hàng. Tính từ thời điểm bán nợ mạnh nhất của các tổ chức tín dụng cho VAMC năm 2015 thì thời gian 5 năm đã sắp trôi qua./.

Việt Nam

Là một quốc gia ven biển, Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán rộng khoảng 1 triệu km2, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ trên tuyến đường hàng hải quốc tế, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng-an ninh và phát triển kinh tế-xã hội.

Vùng biển là cửa ngõ giao lưu giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, vấn đề bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển ở Biển Đông ngày càng trở nên cấp thiết.

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã nhấn mạnh quan điểm biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn.

TTXVN trân trọng giới thiệu chùm 5 bài viết “Vì một Việt Nam mạnh về biển, giàu từ biển.”  

Chủ quyền biển, đảo Việt Nam: Đậm trong sử liệu

Chu Thanh Vân

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, với toàn bộ phần phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông. Biển Đông là vùng biển nằm ở rìa lục địa, thuộc Thái Bình Dương, có diện tích bao phủ khoảng 3,5 triệu km2, lớn thứ tư thế giới. Người Việt Nam xưa nay vẫn thường gọi là Biển Đông bởi xuất phát từ ý nghĩa là vùng biển nằm ở phía Đông đất nước. Bờ biển Việt Nam chiếm tới 35% chu vi Biển Đông với hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, trong đó, hai quần đảo lớn và có vị trí chiến lược quan trọng nhất là Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ Mộc bản triều Nguyễn…

Lượn theo hình chữ S, phần đất liền Việt Nam giáp biển trải dài qua 28 tỉnh, thành phố, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Tính trung bình tỷ lệ diện tích theo số km bờ biển, cứ 100km2 Việt Nam có 1km bờ biển (so với trung bình thế giới là 600 km2 đất liền/1km bờ biển). Do những chấn tạo địa chất trải qua nhiều thiên niên kỷ, vùng biển Việt Nam có khoảng 4.000 hòn đảo lớn, nhỏ khác nhau, trong đó một số đảo có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước, như: Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng), Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị), Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng), Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa), Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), Phú Quý (tỉnh Bình Thuận), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang)…

Nằm ở trung tâm của Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển giao thương nhất thế giới. Từ xa xưa, các cuộc vượt biển hướng về Hoàng Sa, Trường Sa để khai thác sản vật biển, tìm kiếm kho báu do các tàu thuyền qua lại bị đắm, lưu trú lại trên các đảo như một công việc tự nhiên tất yếu bao đời nay của người Việt. Rất nhiều tư liệu, thư tịch Hán Nôm cổ của Việt Nam, Trung Quốc và tư liệu khảo sát thực địa, bản đồ phương Tây, chủ yếu của các nước Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha… đã ghi chép rất rõ về điều này.

Các học giả Việt Nam, trong đó có cả học giả người Việt ở hải ngoại, và nhiều học giả quốc tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Sử sách của Việt Nam trước đây đã nhiều lần đề cập đến các quần đảo này như một phần không thể thiếu của lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam, như Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và các bộ quốc sử, địa chí chính thống do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam địa dư chí… Đặc biệt, quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ còn được thể hiện rất rõ trong nguồn tài liệu lưu trữ gốc và các di sản tư liệu thế giới hiện đang bảo quản tại các Lưu trữ quốc gia thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước Việt Nam.

Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)
Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)

Triều đình Nguyễn đã để lại cho thế hệ mai sau nhiều tư liệu quý giá về việc mở mang bờ cõi, xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó tiêu biểu là hai khối tài liệu đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu cấp quốc tế, đó là Mộc bản và Châu bản.

Ghi chép các sự kiện lịch sử đời chúa Nguyễn từ đời chúa Nguyễn Hoàng đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần, tương đương giai đoạn 1558-1777, mặt khắc 24, quyển 10 sách “Đại Nam thực lục tiền biên” miêu tả về Hoàng Sa: “ở ngoài biển thuộc về xã Vĩnh An, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 130 bãi cát cách nhau một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa-bãi cát vàng vặn dặm. Trên bãi cát có nguồn nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, ba ba… Buổi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng ba thì đi thuyền ra, đi độ 3 ngày đêm thì đến bãi, tìm lượm hóa vật, đến tháng 8 thì về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ người thôn Tứ Chánh thuộc Bình Thuận hoặc Cảnh Dương sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn để tìm lượm hóa vật, đội này cũng do đội Hoàng Sa cai quản.”

Mộc bản triều Nguyễn khắc sách Đại Nam nhất thống chí – sách địa lý chính thức của triều Nguyễn do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm 1865 đến năm 1910 mô tả cụ thể hơn: Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi có đảo Hoàng Sa, liền cát với biển làm thành trì… Đảo Hoàng Sa ở phía Đông đảo Lý (cù lao Ré). Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ 3 đến 4 ngày đêm có thể đến nơi…

Theo Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước Đặng Thanh Tùng, đội Hoàng Sa được thành lập dưới thời các chúa Nguyễn là sự sáng tạo độc đáo của phương thức xác lập và thực thi chủ quyền của nước nhà đối với quần đảo Hoàng Sa. Hoạt động của đội Hoàng Sa đi thuyền ra Vạn lý Hoàng Sa khai thác hóa vật và sản vật, hải vật quý ngoài hải đảo về dâng nạp vào tháng 8 đã trở thành thông lệ hằng năm.

Mộc bản Triều Nguyễn được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Đà Lạt). (Ảnh: TTXVN)  
Mộc bản Triều Nguyễn được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Đà Lạt). (Ảnh: TTXVN)  

Đến thời các vua nhà Nguyễn, Nguyễn Ánh sau khi thống nhất đất nước lên ngôi vua (1802), lấy niên hiệu là Gia Long, hơn ai hết ông là người có ý thức sâu sắc về giá trị và tầm quan trọng của biển đảo, nên đã để tâm ngay đến việc tái lập đội Hoàng Sa. Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ chép: Năm Quý Hợi-Gia Long thứ 2 (1803), tháng 7 lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa.

Đặc biệt, năm 1816, vua Gia Long cho dựng mốc cắm cờ xác định chủ quyền tại Hoàng Sa. Tài liệu Châu bản đã ghi chép việc các vua nhà Nguyễn luôn quan tâm đến vấn đề xác lập và thực thi chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông, đặc biệt đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và những đảo gần đất liền như Côn Đảo, Phú Quốc… Tất cả đã được thể hiện thông qua việc nhà Nguyễn liên tục cử người ra khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ; thực hiện công tác cứu hộ đối với thuyền bè của Việt Nam cũng như thuyền bè của các nước khác gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời có những chính sách khen thưởng, xử phạt nghiêm minh đối với những người được triều đình cử đi công vụ tại Hoàng Sa. Hoàng Sa, Trường Sa là nơi hiểm yếu, nằm trên con đường giao thương trên biển, nhiều tàu thuyền nước ngoài đã bị gặp nạn.

Xuất phát từ truyền thống nhân ái của dân tộc, đồng thời thực thi trách nhiệm và nghĩa vụ của nước có chủ quyền trên biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, triều đình cũng như ngư dân vùng biển đã nhiều lần cứu hộ tàu, thuyền nước ngoài gặp nạn ở Hoàng Sa.

Mộc bản khắc sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, cho biết: “Năm Bính Thân, Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa Đông, tháng 12, thuyền buôn Anh Cát Lợi đi qua Hoàng Sa, mắc cạn, bị vỡ và đắm, hơn 90 người đi thuyền sam bản đến bờ biển Bình Định. Vua được tin, dụ cho các dinh thần lựa nơi cho họ trú ngụ, hậu cấp tiền và gạo. Lại phái thị vệ thông ngôn đến phiên dịch để gửi lời thăm hỏi, tuyên chỉ ban cấp. Bọn họ đều quỳ dài, khấu đầu không thôi.”

… đến An Nam đại quốc họa đồ

Cùng với những tư liệu lịch sử đang được lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ trong nước, nhiều bản đồ của phương Tây cũng thể hiện rõ bằng chứng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điển hình trong số đó là An Nam đại quốc họa đồ – một bản đồ về Việt Nam vào thế kỷ 19, một trong những dẫn chứng cho thấy chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Tờ bản đồ có kích thước 84x45cm, là phụ bản của cuốn Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latin-An Nam), do Oriental Lith. Press xuất bản ở Calcutta (Ấn Độ) vào năm 1838. Tác giả cuốn từ điển này là Jean Louis Taberd (1794-1840), giám mục đại diện Tông tòa ở Nam kỳ dưới triều vua Minh Mạng (1820-1841).

Năm 1838, Giám mục Jean Louis Taberd vẽ tờ bản đồ này, trên đó có hình một cụm đảo ở giữa Biển Đông, trong đó có ghi dòng chữ Latin: Paracel seu Cát Vàng, nghĩa là “Paracel hoặc là Cát Vàng.” Bản gốc của bản đồ này hiện đang lưu giữ tại Thư viện quốc gia Pháp Richelieu tại Paris.

Trong bài viết Ghi chép về địa lý Nam Kỳ in trên The Journal of the Asiatic Society of Bengal, xuất bản tại Calcutta vào năm 1837, Giám mục Jean Louis Taberd đã viết: “Chúng tôi không đi vào kê khai những hòn đảo chính yếu của xứ Cochin China Đàng Trong. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, đảo Paracel mà người Việt gọi là Cát Vàng-Hoàng Sa gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát, làm cho những người đi biển rất e ngại, đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong… Năm 1816, vua (Gia Long) đã (cho người) đến long trọng cắm cờ và chính thức tuyên bố chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn là sẽ không có một ai tìm cách tranh giành với ông.”

Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)
Một bản khắc mộc bản về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)

Dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” ghi trên An Nam đại quốc họa đồ cùng với những chú giải trong bài nghiên cứu của Giám mục Jean Louis Taberd là bằng chứng chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Trước An Nam đại quốc họa đồ, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613, thể hiện quần đảo Pracel (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.

Tập san Journal of an Embassy from the Governor-General of India to the Courts of Siam and Cochin China do John Crawfurd biên soạn, xuất bản tại London (Anh) năm 1830, có đoạn viết: Năm 1816, vua Cochin China đã chiếm một quần đảo không có người ở và hiểm trở bao gồm nhiều đá, đảo nhỏ, bãi cát… gọi là Paracel. Theo đó, nhà vua tuyên bố quần đảo này thuộc chủ quyền nước này, mà hầu như không bị tranh chấp.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi. Những nghiên cứu của bà Monique Chemillier-Gendreau, giáo sư công pháp quốc tế và khoa học chính trị-Đại học Paris VII-Denis Diderot (Pháp), nguyên Chủ tịch Hội Luật gia dân chủ Pháp cho thấy, Việt Nam có bằng chứng rõ ràng về chủ quyền đối với hai quần đảo này. Hội nghị San Francisco được tổ chức từ ngày 4-8/9/1951, để bàn về việc ký hòa ước hòa bình với Nhật Bản với sự tham dự của đại diện 51 nước. Với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, phái đoàn Quốc gia Việt Nam đại diện cho Nhà nước Việt Nam do Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu thuộc Chính phủ Bảo Đại làm trưởng đoàn đã tham gia hội nghị.

Tại Hội nghị, Thủ tướng Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao, trong đó nhấn mạnh “để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam.” Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và không gặp phải sự bảo lưu hay phản đối nào của đại diện các nước tham dự Hội nghị./.

Tấm mộc bản lớn nhất có khổ 150x30x2,5cm tại chùa Bổ Đà. (Ảnh: TTXVN)
Tấm mộc bản lớn nhất có khổ 150x30x2,5cm tại chùa Bổ Đà. (Ảnh: TTXVN)

Thượng tôn pháp luật và thiện chí hòa bình

Hồng Điệp-Thu Phương

Biển Đông luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Từ xa xưa trong lịch sử cho đến ngày nay, Việt Nam luôn kiên trì, nhất quán thực thi và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, với mong muốn duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác trên biển, vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của tất cả các bên liên quan.

Xác lập và thực thi chủ quyền trên biển một cách hòa bình

Ngay từ rất sớm, Việt Nam đã ý thức sâu sắc tầm quan trọng của biển, đảo và việc xác lập, thực thi chủ quyền đối với các vùng, đảo một cách hòa bình. Tài liệu Châu bản đã ghi chép việc các vua nhà Nguyễn luôn quan tâm đến vấn đề xác lập và thực thi chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông, đặc biệt đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và những đảo gần đất liền như Côn Đảo, Phú Quốc… thông qua việc nhà Nguyễn liên tục cử người ra khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ; thực hiện công tác cứu hộ đối với thuyền bè của Việt Nam cũng như thuyền bè của các nước khác gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa.

Ngay từ thời các chúa Nguyễn, đội Hoàng Sa được thành lập để đi ra Vạn lý Hoàng Sa khai thác hải vật quý và hoạt động này của đội Hoàng Sa đã trở thành thông lệ hàng năm. Đến thời Nguyễn Ánh, ngay sau khi thống nhất đất nước, lên ngôi vua (1802), hiệu là Gia Long, ông đã tái lập đội Hoàng Sa; năm 1816 cho dựng mốc cắm cờ xác định chủ quyền tại Hoàng Sa…

Trải qua các thời kỳ lịch sử, biển đảo luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, xác định mục tiêu đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển đảo, góp phần quan trọng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh.

Vùng Cảnh sát biển 1 phối hợp với các đơn vị liên quan kết hợp, triển khai thực hiện mô hình 'Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân' tại huyện đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
Vùng Cảnh sát biển 1 phối hợp với các đơn vị liên quan kết hợp, triển khai thực hiện mô hình ‘Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân’ tại huyện đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Việc ra đời Chiến lược biển Việt Nam là một bước tiến quan trọng, đề ra những định hướng đúng đắn, vừa giúp đất nước tranh thủ được nguồn tài nguyên để phát triển các ngành nghề kinh tế biển, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo. Nhờ có Chiến lược biển, Chính phủ và các cấp, ngành, địa phương đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình hành động, Đề án cụ thể nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên, phát triển kinh tế biển và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, tình hình khu vực và quốc tế tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp, bất đồng giữa các quốc gia ven biển gia tăng. Ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu. Phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển với bảo tồn biển trở thành xu thế chủ đạo. Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học-công nghệ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức.

Trong bối cảnh đó, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã nhất trí ban hành Nghị quyết mới về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu: “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.”

Tôn trọng luật pháp quốc tế

Biển Đông có vai trò, vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam, đồng thời liên quan lợi ích nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực. Những diễn biến tại khu vực này cũng ngày càng phức tạp, gia tăng căng thẳng.

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 34 diễn ra tại Bangkok, Thái Lan tháng 6/2019 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu quan điểm cần nhìn nhận thẳng thắn những diễn biến trên thực địa như cải tạo đất trái phép, quân sự hóa, cản trở khai thác hợp pháp tài nguyên biển, thậm chí đe dọa đến an toàn tính mạng và tài sản của ngư dân… Việt Nam luôn khuyến khích đối thoại và hợp tác, thẳng thắn và trách nhiệm trước những diễn biến có thể tác động tiêu cực đến môi trường hòa bình, an ninh và ổn định của khu vực.

Mới đây, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM-52), Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh lại lập trường nguyên tắc của ASEAN về Biển Đông và kêu gọi các bên liên quan “tăng cường lòng tin, không quân sự hóa, kiềm chế, không có hành động làm phức tạp tình hình, gia tăng căng thẳng, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982, thực hiện nghiêm túc DOC và xây dựng COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế.” Phát biểu trên của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã được nhận sự chia sẻ và ủng hộ của nhiều quốc gia trong khu vực.

Tàu Cảnh sát biển 8001 (Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3) lớn nhất Việt Nam với nhiều trang thiết bị hiện đại, hoạt động trên vùng biển Trường Sa của Việt Nam. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Tàu Cảnh sát biển 8001 (Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3) lớn nhất Việt Nam với nhiều trang thiết bị hiện đại, hoạt động trên vùng biển Trường Sa của Việt Nam. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)

Về các tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam luôn kiên trì, nhất quán giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Cùng với UNCLOS 1982, Việt Nam nghiêm túc thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nỗ lực hướng tới thông qua Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Trước những hành vi xâm phạm vùng biển Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần khẳng định: “Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”; đồng thời nêu rõ “Chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.” Với tinh thần thượng tôn pháp luật và thiện chí hòa bình, Việt Nam đề nghị các bên ở khu vực Biển Ðông cần tôn trọng chủ quyền và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của các quốc gia, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đóng góp vào hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác ở khu vực.

Nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương, châu Âu-châu Á, Trung Đông-châu Á, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa chiến lược, an ninh, giao thông, đường biển và kinh tế. Việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông là lợi ích và nghĩa vụ của Việt Nam, của tất cả các nước trong khu vực và nhiều nước khác. Bởi vậy, các quốc gia có lợi ích liên quan cần tăng cường hợp tác trên biển, góp phần xây dựng lòng tin, thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế biển trong khu vực và trên thế giới, vì lợi ích chung của các bên liên quan./.

Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Nguồn: TTXVN)
Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Nguồn: TTXVN)

UNCLOS 1982: Hiến chương xanh trên biển của loài người

Hồng Điệp-Thu Phương

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) được thông qua ngày 30/4/1982 đánh dấu kết quả 9 năm (1973-1982) đàm phán của Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 của Liên hợp quốc, nhằm xây dựng một văn kiện pháp lý quốc tế mới về biển và đại dương, phù hợp với lợi ích chung của các quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia ven biển có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, đảo, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng xây dựng Công ước Luật Biển năm 1982; luôn đề cao tôn chỉ, mục tiêu của Công ước, đồng thời có những hành động thiết thực đóng góp vào việc thực hiện Công ước.

UNCLOS 1982: Khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện

UNCLOS 1982 ra đời đánh dấu sự hình thành một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện, điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trong sử dụng, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển; đồng thời đặt ra cơ sở để xác định các vùng biển, là căn cứ cho các quốc gia xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển và tiến hành các hoạt động trên biển.

Cho biết về tiến trình Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, người đầu tiên ở châu Á dịch UNCLOS 1982 nêu rõ ngày 23/6/1994, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Qua thực tiễn vận dụng Công ước này trong thực thi các quyền và lợi ích hợp pháp ở Biển Đông, Việt Nam đã gặt hái rất nhiều thành công cả trên phương diện pháp lý cũng như trong quá trình thực thi và bảo vệ các quyền của mình.

UNCLOS 1982 được coi là một Hiến chương xanh trên biển của loài người. Đó là thành quả vĩ đại của nhân loại trong quá trình xây dựng, đưa ra các định chế, nội dung quy phạm pháp luật để điều chỉnh mọi mối quan hệ về các mặt: kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng trên các vùng biển.

Với tính chất, giá trị to lớn của UNCLOS 1982, ngay từ những ngày đầu xây dựng Công ước, Việt Nam đã có những chuyên gia, đại diện tham gia quá trình xây dựng nội dung.

Lực lượng hải quân bảo vệ quần đảo Trường Sa được trang bị phương tiện tuần tra hiện đại, luôn đề cao cảnh giác, tuần tra theo dõi, nắm chắc tình hình trên biển, dự báo đúng tình hình để có kế hoạch và chủ động ứng phó với mọi diễn biến. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Lực lượng hải quân bảo vệ quần đảo Trường Sa được trang bị phương tiện tuần tra hiện đại, luôn đề cao cảnh giác, tuần tra theo dõi, nắm chắc tình hình trên biển, dự báo đúng tình hình để có kế hoạch và chủ động ứng phó với mọi diễn biến. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Trước khi UNCLOS 1982 ra đời, Việt Nam đã tích cực vận dụng các quy định liên quan của luật pháp quốc tế để xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật trong nước về biển; và đã ban hành Tuyên bố của Chính phủ về các vùng biển Việt Nam.

Năm 1982, UNCLOS được ký kết tại Montego Bay, Jamaica. Việt Nam đã vận dụng và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng ven bờ lục địa Việt Nam. Với việc phê chuẩn tham gia Công ước ngày 23/6/1994, Việt Nam thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm một thành viên tích cực.

Để cụ thể hóa các nội dung của UNCLOS 1982, Việt Nam đã xây dựng và công bố Luật biển Việt Nam năm 2012

Đặc biệt, theo tiến sỹ Trần Công Trục, để cụ thể hóa các nội dung của UNCLOS 1982, Việt Nam đã xây dựng và công bố Luật biển Việt Nam năm 2012. Văn bản Luật trên ra đời hoàn toàn dựa vào nội dung, nguyên tắc của UNCLOS 1982, trong đó Việt Nam đã có những quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn, phù hợp với tình hình và chính sách, chiến lược biển Việt Nam.

Việc nội luật hóa UNCLOS 1982 bằng Luật Biển 2012 giúp Việt Nam có cơ sở pháp lý vững chắc trong xử lý mọi tranh chấp, hoạt động trên biển có liên quan đến các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông.

Nỗ lực thực thi UNCLOS 1982, thúc đẩy hợp tác về biển

Đánh giá những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực thi UNCLOS 1982, thúc đẩy hợp tác quốc tế về biển, tiến sỹ Phạm Lan Dung, Tổng Thư ký Hội Luật quốc tế Việt Nam (VSIL) cho biết trước hết, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982; ban hành hơn 10 luật và các văn bản dưới luật liên quan đến lĩnh vực này, đặc biệt là Luật Biển Việt Nam năm 2012 được xây dựng hài hòa với các quy định của UNCLOS 1982. Với những cố gắng này, các vùng biển của Việt Nam được xác định trong các văn bản pháp luật của quốc gia phù hợp với Công ước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi Công ước, cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam.

Cùng với đó, Việt Nam đã nỗ lực tiến hành phân định biển với các quốc gia trong khu vực dựa trên các nguyên tắc được quy định trong Công ước. Đây chính là một nội dung quan trọng của việc thực thi Công ước, góp phần tạo ra môi trường hòa bình và ổn định giữa các quốc gia, đảm bảo để các quốc gia có được các vùng biển theo quy định của Công ước và có thể tiến hành khai thác, bảo tồn tài nguyên ở các vùng biển đó.

Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 triển khai mô hình 'Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân.' (Nguồn: TTXVN)
Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 triển khai mô hình ‘Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân.’ (Nguồn: TTXVN)

Cũng theo tiến sỹ Phạm Lan Dung, Việt Nam luôn cố gắng thực hiện nghiêm túc các quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo quy định của Công ước. Năm 2009, Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa trên cơ sở khoa học và pháp lý phạm vi thềm lục địa mở rộng của Việt Nam ở Biển Đông và đệ trình lên Ủy ban Thềm lục địa Liên hợp quốc.

Việt Nam cũng đã thành lập Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn năm 1996; là thành viên của Công ước về Tìm kiếm Cứu nạn. Bên cạnh đó, Việt Nam luôn tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo Công ước. Điều đó thể hiện ở việc Việt Nam là thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương và đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương.

Việt Nam còn tích cực tham gia xây dựng nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh Hàng hải (INMARSAT), Hệ thống An toàn và Cứu nạn Hàng hải toàn cầu (GMDSS)…

Giải quyết tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế – biện pháp văn minh

Theo tiến sỹ Phạm Lan Dung, việc sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp trên biển giữa các quốc gia ở các cơ quan xét xử quốc tế được coi là một biện pháp văn minh, phù hợp với tinh thần thượng tôn pháp luật, đảm bảo cho các nước dù lớn, dù nhỏ cũng có cơ hội bình đẳng trước tòa, bình đẳng trước luật pháp quốc tế.

Tiến sỹ Phạm Lan Dung cho biết khi tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia, đàm phán là biện pháp đầu tiên mà các nước nên làm và cần phải làm theo quy định của luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Trong quá trình đàm phán và trao đổi quan điểm, bên cạnh các yếu tố từ góc độ chính trị, ngoại giao…, các nước luôn cần sử dụng đến luật pháp quốc tế như cơ sở không thể thiếu cho lập trường, quan điểm chính nghĩa của mình. Vai trò quan trọng của luật pháp quốc tế ở giai đoạn này chính là giúp cho các nước trên thế giới, giới học giả, giới truyền thông và dư luận tiến bộ của cộng đồng quốc tế có được cái nhìn khách quan, trên cơ sở của luật pháp quốc tế, về bản chất của vụ việc và có được những đánh giá đầu tiên về bên đúng, bên sai. Qua đó, dư luận tiến bộ sẽ có những tác động nhất định lên các bên, kiềm chế bên vi phạm luật, hoặc cao hơn là lên án, ngăn chặn…

Ở mức độ cao hơn, khi đàm phán, trao đổi quan điểm không có kết quả, các bên có thể quyết định sử dụng đến các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp. Đây là một trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và nhiều văn bản pháp lý quốc tế khác./.

Các chiến sỹ tân binh Tiểu đoàn 158 Hải quân luyện tập điều lệnh. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Các chiến sỹ tân binh Tiểu đoàn 158 Hải quân luyện tập điều lệnh. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)

Chinh phục khát vọng trở thành quốc gia mạnh về biển

Thu Phương

Việt Nam, dải đất hình chữ S với bờ biển trải dài khoảng 3.260km, được xếp thứ 27/157 quốc gia ven biển trên toàn thế giới. Tiềm năng kinh tế biển của Việt Nam nổi bật trên cả 5 lĩnh vực chính: tài nguyên, vận tải, khai thác và chế biến hải sản, du lịch và các khu kinh tế ven biển. Bởi vậy, Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XII đã xác định mục tiêu: “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển.” Đây cùng là khát vọng cháy bỏng của người dân Việt Nam, vươn lên trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Tiềm năng kinh tế biển nổi bật

Vùng ven bờ nước ta có tổng số 48 vũng, vịnh với tổng diện tích khoảng 4.000 km2, phân bố từ Bắc vào Nam. Trong đó, vùng Nam Trung Bộ có nhiều nhất (31 vũng, vịnh), chiếm 64,6% tổng số vũng, vịnh cả nước. Tiếp đến là vùng Bắc Bộ (7 vũng vịnh), chiếm 14,6%, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ cùng có 5 vũng, vịnh, chiếm 10,4%. Nhiều vũng, vịnh tương đối sâu và kín, thuận lợi cho việc xây dựng các cảng nước sâu và cho việc trú ngụ của tàu thuyền. Biển Đông được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới, với hơn 45% lượng vận tải thương mại đường biển toàn cầu phải đi qua.

Về nguồn lợi hải sản, Việt Nam là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển và là một trong 20 vùng biển có lợi ích kinh tế lớn nhất toàn cầu. Đến nay, vùng biển Việt Nam đã phát hiện được khoảng 12.000 loài sinh vật với trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh tế. Trữ lượng cá biển của toàn vùng khoảng 4,2 triệu tấn. Sản lượng cho phép khai thác khoảng 1,7 triệu tấn/năm. Bên cạnh đó, biển Việt Nam còn nhiều nguồn lợi hải sản khác với khoảng 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn/năm, trong đó hải sản có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có các loài có giá trị kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60.000-70.000 tấn/năm)…

Tàu vỏ sắt công suất lớn của ngư dân Quảng Nam cập cảng cá An Hòa sau chuyến biển dài ngày. (Ảnh: Hữu Trung/TTXVN)
Tàu vỏ sắt công suất lớn của ngư dân Quảng Nam cập cảng cá An Hòa sau chuyến biển dài ngày. (Ảnh: Hữu Trung/TTXVN)

Về du lịch, không những sở hữu bờ biển dài tới 3.260km, cùng hàng nghìn hòn đảo lớn, nhỏ và hàng trăm bãi tắm cát trắng trải dài từ Bắc vào Nam, Việt Nam còn có những bãi biển, vịnh đẹp nổi tiếng thế giới, như: Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng…  Vì thế, chỉ riêng 28 tỉnh, thành phố giáp biển luôn chiếm tỷ trọng trên 70% doanh thu du lịch lữ hành của cả nước.

Dầu khí là ngành kinh tế mũi nhọn, hạt nhân phát triển kinh tế ven biển, hàng năm đóng góp từ 10-13% GDP cả nước, đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước.

Theo tổng kết 10 năm (2008-2017) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của các địa phương ven biển tăng trưởng bình quân 7,5%/năm, cao hơn so với nhịp tăng trưởng chung của cả nước. Năm 2017, GRDP của các địa phương ven biển chiếm 60,5% GDP cả nước, GRDP bình quân đầu người đạt 64,9 triệu đồng, cao hơn so với mức bình quân cả nước là 53,5 triệu đồng. Trong đó, một số địa phương có mức GRDP bình quân đầu người đạt cao như Bà Rịa-Vũng Tàu (hơn 225 triệu đồng), Quảng Ninh (hơn 90 triệu đồng), Đà Nẵng (hơn 70 triệu đồng).

Đưa Việt Nam thành quốc gia biển mạnh

Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh được xác định rõ tại Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó ghi rõ: “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.”

Đề xuất giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển, phó giáo sư, tiến sỹ Vũ Sĩ Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đề cập tới vai trò của quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường biển và hải đảo. Theo ông, tài nguyên biển và hải đảo chủ yếu đang được quản lý theo ngành, lĩnh vực nên việc khai thác, sử dụng chưa dựa trên việc phân tích các chức năng của mỗi vùng biển một cách tổng thể; còn thiếu sự gắn kết, hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển trên cùng một vùng biển.

Hiện cả nước có 17 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước biển gần 845.000ha

Do đó, “phương thức quản lý tổng hợp có vai trò điều chỉnh hoạt động của con người để bảo vệ tính toàn vẹn về chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái, duy trì và cải thiện năng suất của hệ sinh thái, qua đó, bảo đảm tài nguyên biển được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, môi trường biển được bảo vệ, hài hòa được lợi ích của các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển,” phó giáo sư, tiến sỹ Vũ Sĩ Tuấn nhấn mạnh.

Với cách tiếp cận cả từ lợi thế và hạn chế của kinh tế biển, một số chuyên gia cho rằng cần xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế hướng tới nền kinh tế biển xanh, bằng cách xây dựng và thực hiện các quy định pháp luật để đảm bảo tối ưu hóa các lợi ích.

Trên thực tế, những năm gần đây, các địa phương ven biển đều tích cực thu hút đầu tư xây dựng và phát triển nhiều khu, điểm du lịch ven biển mới và hiện đại, thu hút số lượng lớn khách du lịch trong nước, quốc tế. Nhiều dự án đầu tư khu du lịch biển, đảo cao cấp, khu du lịch thể thao, giải trí ven biển có số vốn từ 500 triệu USD đến 1 tỷ USD. Hiện cả nước có 17 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước biển gần 845.000ha.

Đến cuối năm 2017, các khu kinh tế ven biển đã thu hút hơn 390 dự án đầu tư nước ngoài với tổng mức đầu tư đăng ký đạt 45,5 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 26,5 tỷ USD và 1.240 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đạt 805.000 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện đạt 323,6 nghìn tỷ đồng.

Bốc xếp hàng tại cảng Cái Lân (Quảng Ninh). (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Bốc xếp hàng tại cảng Cái Lân (Quảng Ninh). (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Một số khu kinh tế như Nghi Sơn, Vũng Áng, Chu Lai, Dung Quất… đã thu hút được những dự án đầu tư lớn, có vai trò quan trọng tăng cường năng lực sản xuất ngành công nghiệp cả nước, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy nhiều ngành khác phát triển.

Cùng với các chính sách về hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản, đóng tàu đánh bắt xa bờ, sản lượng khai thác hải sản hàng năm tăng nhanh và liên tục. Từ năm 2006 đến 2017, sản lượng tăng từ 1,8 triệu tấn lên 3,2 triệu tấn. Năm 2018, theo số liệu từ Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tổng sản lượng khai thác thủy sản đạt trên 3,59 triệu tấn, trong đó khai thác biển đạt trên 3,37 triệu tấn. 6 tháng đầu năm 2019, tổng sản lượng khai thác thủy sản đạt trên 1,88 triệu tấn (tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó khai thác biển đạt trên 1,79 triệu tấn. Đến nay, toàn quốc có gần 96,6 nghìn tàu cá có chiều dài từ 6m trở lên. Các doanh nghiệp chế biến thủy, hải sản tăng lên nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Cả nước có hơn 620 cơ sở chế biến thủy, hải sản có quy mô công nghiệp, trong đó có 415 nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào những thị trường yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm (Nhật Bản, Mỹ, EU…).

Theo mục tiêu Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XII đã đề ra, Việt Nam phấn đấu đến năm 2030, các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển chiếm 65%-70% GDP cả nước. Để hoàn thành mục tiêu đó, Nghị quyết xác định 3 khâu đột phá và 7 giải pháp chủ yếu, nhằm tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển; hoàn thiện thể chế, chính sách; phát triển khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao; tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng an ninh, thực thi pháp luật trên biển; tăng cường hợp tác quốc tế về biển; huy động các nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh…

Truyền thuyết Cha Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển đã phản ánh không gian sinh tồn của người Việt từ ngàn đời. Biển là nguồn sống của các thế hệ người Việt Nam. Với quyết tâm lớn và tầm nhìn chiến lược, sự đồng sức đồng lòng của các tầng lớp nhân dân, Việt Nam sẽ từng bước vươn lên trở thành quốc gia biển mạnh giàu, bền vững, thịnh vượng./.

Chuẩn bị vật tư, nhiên liệu cho chuyến đi biển dài ngày. (Ảnh: Hữu Trung/TTXVN)
Chuẩn bị vật tư, nhiên liệu cho chuyến đi biển dài ngày. (Ảnh: Hữu Trung/TTXVN)

Điểm tựa để ngư dân vươn khơi bám biển

Thu Phương

Liên tục trong nhiều năm qua, các lực lượng chức năng trên biển đã có nhiều chương trình hoạt động thiết thực, ý nghĩa, làm “điểm tựa” vững chắc để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển. Đó là các chương trình: “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi bám biển”; “Cảnh sát Biển đồng hành với ngư dân”; các hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển với phương châm “4 tại chỗ” (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ); hay chương trình tặng cờ Tổ quốc, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho ngư dân… của Bộ đội Biên phòng.

“Điểm tựa” vững chắc cho ngư dân

Chuẩn Đô đốc Phạm Văn Vững, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân chủng Hải quân cho biết việc triển khai Chương trình “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi bám biển” nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, vận động, hỗ trợ, giúp đỡ, bảo vệ và phát huy vai trò của ngư dân khai thác hải sản an toàn, đúng pháp luật; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là chủ trương lớn, được tiến hành thường xuyên, liên tục trong năm 2019 và những năm tiếp theo, gắn với các phong trào, cuộc vận động khác của Quân chủng và địa phương.

Chương trình tập trung vào 4 nhóm hoạt động chính gồm: tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, ý thức chấp hành pháp luật trong đánh bắt hải sản, củng cố niềm tin cho ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển; hỗ trợ, giúp đỡ, bảo vệ ngư dân khi đánh bắt hải sản trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc…

Cảnh sát biển chuyển hàng lên đảo tặng ngư dân đảo Lý Sơn. (Ảnh: TTXVN)
Cảnh sát biển chuyển hàng lên đảo tặng ngư dân đảo Lý Sơn. (Ảnh: TTXVN)

Theo Chuẩn đô đốc Phạm Văn Vững, Quân chủng đã chỉ đạo Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân phối hợp với tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu triển khai, rút kinh nghiệm trước khi triển khai đồng loạt trong toàn Quân chủng. Đồng thời, Quân chủng chỉ đạo Bộ Tư lệnh các Vùng Hải quân và Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn chủ trì phối hợp với 28 tỉnh, thành phố ven biển xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp hoạt động, cụ thể hóa 4 nội dung lớn của chương trình.

Chương trình bước đầu đã đạt những kết quả tích cực, có sức lan tỏa, được các cơ quan, ban, ngành, đơn vị, doanh nghiệp các tỉnh, thành phố ven biển đồng tình hưởng ứng. Bà con ngư dân rất phấn khởi trước việc làm thiết thực, cụ thể của Hải quân.

Các đơn vị trong Quân chủng đã ký kết chương trình phối hợp hoạt động với 24/28 tỉnh, thành phố ven biển; vận động, phối hợp ủng hộ gần 1.000 áo phao, 1.500 phao cứu sinh, 3.700 cờ Tổ quốc, khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc cho trên 1.000 lượt người; thăm, tặng quà ngư dân, hỗ trợ hàng ngàn lít dầu, tổ chức 1.500 ngày công làm sạch môi trường biển…

Đồng hành cùng ngư dân

Mô hình “Cảnh sát Biển đồng hành với ngư dân” của Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển đến nay đã triển khai được hơn hai năm tại 13 xã, huyện đảo, thuộc 11 tỉnh, thành phố ven biển. Quá trình triển khai thực hiện mô hình luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp ủy, chính quyền các địa phương, các tổ chức chính trị-xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, với tổng số tiền trên 5 tỷ đồng cùng nhiều hiện vật.

Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển đã phối hợp với Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam, các bệnh viện trong và ngoài Quân đội tổ chức khám và cấp phát thuốc miễn phí cho 1.874 lượt ngư dân; tặng 500 cuốn sổ tay hướng dẫn cấp cứu thông thường trên biển; 340 tủ thuốc quân y cho các tàu cá, hướng dẫn sơ cứu thương, cấp cứu người bị đuối nước cho 1.500 lượt ngư dân.

Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 triển khai mô hình 'Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân' tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. (Ảnh: Trần Tĩnh/TTXVN)
Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 triển khai mô hình ‘Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân’ tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. (Ảnh: Trần Tĩnh/TTXVN)

Các Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy, chính quyền địa phương các xã (huyện) đảo tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho 2.500 lượt cán bộ, ngư dân; tập huấn cho trên 800 ngư dân về công tác bảo đảm an toàn trên biển, tổ chức tuyên truyền Luật Thủy sản, Luật Cảnh sát biển…

Thông qua các hoạt động thiết thực, cụ thể, mô hình góp phần tăng cường tình đoàn kết quân-dân, giúp đỡ, hỗ trợ các gia đình chính sách, gia đình ngư dân và các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi; tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển, phát triển kinh tế gia đình, tham gia phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương, củng cố và phát huy lòng yêu nước, yêu biển, đảo quê hương, xây dựng hình ảnh đẹp của Cảnh sát biển Việt Nam.

Phương châm “4 tại chỗ”

Công tác tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn được Quân đội nhân dân Việt Nam xác định là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, đặc biệt là công tác tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn trên biển, giúp ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.

15 năm qua kể từ ngày thành lập (9/8/2004-9/8/2019), Cục Cứu hộ cứu nạn (Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam) thường xuyên tham mưu cho lãnh đạo Bộ Quốc phòng, trực tiếp chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị chuyên trách và bán chuyên trách về tìm kiếm cứu nạn thuộc các lực lượng; đã tìm kiếm cứu nạn được hàng nghìn tàu thuyền và hàng nghìn ngư dân, thuyền viên, công nhân viên… khi hoạt động trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc. Hàng trăm người đã được cứu sống kịp thời từ các đảo xa về đất liền.

Riêng năm 2018 và nửa đầu năm 2019, máy bay của Quân chủng Phòng không-Không quân, Hải quân, Binh đoàn 18 đã cấp cứu 18 người từ huyện đảo Trường Sa. Các tàu hải quân, cảnh sát biển, biên phòng đã cấp cứu hàng trăm người, trong đó có hàng chục người nước ngoài từ các vùng biển xa về đất liền.

Giữa biển khơi, ngư dân luôn cần sự hỗ trợ kịp thời của các lực lượng chức năng đang nhiệm vụ trên biển để họ an lòng vượt qua những con sóng cả

Ngoài ra, lực lượng cứu hộ cứu nạn còn tổ chức tiếp nhận, cung cấp lương thực, thực phẩm, nước ngọt, thuốc men và bố trí nơi ăn, nghỉ cho hàng nghìn ngư dân cùng hàng trăm ghe, thuyền gặp nạn trên biển, qua đó khẳng định truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, củng cố niềm tin yêu của nhân dân.

Theo Thiếu tướng Lê Mạnh Tiến, Phó Cục trưởng Cục Cứu hộ cứu nạn, đối với hoạt động tìm kiếm cứu nạn, phương châm “4 tại chỗ” (gồm lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ) luôn được áp dụng triệt để. Trên biển, lực lượng tại chỗ chính là các tàu, thuyền đang hoạt động gần khu vực bị nạn, khi nhận được tín hiệu báo nạn, hoặc thấy có người bị nạn, đều phải có trách nhiệm tham gia tìm kiếm cứu nạn. Vì vậy, tàu cá của ngư dân được xác định là lực lượng quan trọng trong “4 tại chỗ” trên biển.

Ngư dân treo cờ Tổ quốc vừa do Cảnh sát biển trao tặng. (Ảnh: TTXVN)
Ngư dân treo cờ Tổ quốc vừa do Cảnh sát biển trao tặng. (Ảnh: TTXVN)

Bên cạnh đó, cần không ngừng kiện toàn hệ thống tổ chức tìm kiếm cứu nạn từ Trung ương đến địa phương theo hướng tinh-gọn-hiệu quả; tăng cường xây dựng và huấn luyện lực lượng tìm kiếm cứu nạn trên biển, bảo đảm có chuyên môn, nghiệp vụ, đủ khả năng xử lý tình huống khi xảy ra các sự cố trên biển.

Cùng các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, cứu hộ cứu nạn, trong nhiều năm qua, Bộ đội Biên phòng luôn là một lực lượng nòng cốt trong hoạt động tìm kiếm cứu nạn; tuyên truyền chính sách, pháp luật; tích cực hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển. Một trong những hoạt động thiết thực và ý nghĩa của Bộ đội Biên phòng thời gian gần đây là việc tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân 28 tỉnh, thành phố ven biển.

Theo Trung tá Trương Lâm Tới, Trưởng ban Thanh niên Bộ đội Biên phòng, hoạt động này giúp cho ngư dân nhận thức rõ hơn về chủ quyền biển, đảo; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, tăng cường tình đoàn kết quân, dân trên địa bàn đóng quân.

Vươn khơi bám biển, làm giàu cho gia đình và đất nước, góp phần khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là hoạt động thường nhật của ngư dân. Giữa biển khơi, ngư dân luôn cần sự hỗ trợ kịp thời của các lực lượng chức năng đang nhiệm vụ trên biển để họ an lòng vượt qua những con sóng cả.

Thực tế những năm qua, hành trình của mỗi ngư dân nơi khơi xa, luôn có sự dõi theo của đất liền và các lực lượng làm nhiệm vụ trên biển. Mỗi khi không may gặp sự cố, tai nạn giữa mênh mông biển trời, mỗi khi cần hỗ trợ về hậu cần, kỹ thuật, các ngư dân luôn có được chỗ dựa vững chắc từ các lực lượng chức năng trên biển, để họ vững vàng tiếp tục vươn khơi./.

‘Mớ bòng bong đấu thầu tập trung’

Lời tòa soạn!

Trong một lần dự lễ phát động ra quân toàn quốc phong trào chống rác thải nhựa, có sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, lãnh đạo các Bộ, ban, ngành, doanh nghiệp và đông đảo người dân, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã được lãnh đạo một doanh nghiệp thu gom rác tiết lộ thông tin gây “sốc” rằng: “Khí thế như vậy nhưng sự thực là Hà Nội sắp ngập rác rồi nhà báo ạ. Chúng tôi (những doanh nghiệp lĩnh vực môi trường-PV) không kham nổi nữa, chắc phải ‘trả rác’ cho thành phố…”

Những chia sẻ của người đàn ông có khuôn mặt đầy sạm đen vì nắng gió và trĩu nặng tâm tư về rác không khỏi khiến chúng tôi ngỡ ngàng. Hóa ra, đằng sau chuyện “làm sạch thành phố” là hàng loạt “khoảng tối” của rác, mà căn nguyên sâu xa nhất có lẽ từ chính sách đấu thầu, được những người làm môi trường gọi nôm na là “ma trận đấu thầu rác!”

Từ chia sẻ của vị giám đốc nói trên, với một nỗi lo thực sự cận kề về nguy cơ ngập rác thải trong môi trường sống của Thủ đô ngàn năm văn hiến, chúng tôi đã đi sâu vào thực tế để tìm hiểu và phát hiện ra vô vàn “điều kỳ lạ” của công tác thu gom, vận chuyển rác thải trên địa bàn thành phố.

Những bài thầu “o ép” doanh nghiệp bởi một loạt quy đinh khó hiểu, từ việc lập hồ sơ mời thầu kê khai, đăng ký khối lượng không đúng thực tế; đăng ký, quyết toán cho nhà thầu chiều dài một số tuyến đường thấp hơn hàng trăm km thực tế; trong khi giá dịch vụ thu gom rác quá thấp, thu không đủ bù chi đã khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào cảnh “ôm” nợ và ngấp nghé bên bờ vực phá sản.

Điều đáng nói là, những bất cập, quy định “kỳ lạ” nêu trên đều đã được doanh nghiệp kiến nghị lên lãnh đạo các cấp quận, huyện, sở ngành và thành phố nhiều lần. Thanh tra thành phố Hà Nội cũng đã có kết luận chỉ ra những bất cập và kiến nghị điều chỉnh… Nhưng, đến nay, sau hơn 2 năm nhận gói thầu, nhiều doanh nghiệp thu gom rác, nhất là doanh nghiệp tư nhân ở các huyện ngoại thành vẫn đang mỏi mòn đợi chờ thành phố điều chỉnh đúng thực tế.

Đã có một số doanh nghiệp “quá mệt mỏi,” không thể tiếp tục chịu cảnh “áp thầu” đã phải trả lại địa bàn, giảm hạng mục không có trong gói thầu để tự “cứu” mình. Trong khi đó, để tránh ngập rác, chính quyền địa phương lại phải giao trách nhiệm cho các xã tự tổ chức thu gom rác, cũng như bỏ ra một khoản lớn tiền ngân sách để đầu tư mua sắm trang thiết bị như xe đẩy để phục vụ công tác thu gom-một công việc mà vốn dĩ khiến họ “quá đau đầu.” Nhất là khi quy định của bài thầu “có vấn đề” chưa được điều chỉnh, số lượng người thu gom rác liên tục bị cắt giảm.

Không thể phủ nhận, chủ trương đấu thầu công tác duy trì vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển rác trên địa bàn thành phố giai đoạn 2017-2020 đã góp phần cắt giảm các khâu trung gian, giảm chi phí ngân sách, nhất là xóa bỏ tình trạng lợi ích nhóm, mafia rác… Song khi đi vào thực tế, việc bài thầu đưa ra các quy định, tiêu chí sai thực tế, mang tính “áp đặt,” khiến các doanh nghiệp thua lỗ đến mức phải trả lại địa bàn, gây sự bức xúc cũng như gánh nặng giải quyến rác tồn đọng ùn ứ cho lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở và người dân đã phần nào cho thấy việc thực hiện chủ trương “làm sạch thành phố” đã và đang làm ngược với mục đích.

Đáng lo ngại hơn, trong số các nhà thầu đã trả lại các hạng mục không có trong gói thầu có cả các doanh nghiệp trực thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Môi trường Đô thị Hà Nội (Doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội). Việc doanh nghiệp Nhà nước “không thể tiếp tục gồng mình chịu lỗ” và phải trả lại địa bàn đã phần nào cho thấy sức ép “khủng khiếp” từ công tác thu gom rác ở các huyện ngoại thành. Đây cũng là lý do khiến số doanh nghiệp tư nhân làm công tác thu gom rác đang tiếp tục tuyên bố trả rác lại địa bàn đang ngày một gia tăng…

Thực trạng này thực sự nguy hiểm và không thể trì hoãn tháo gỡ, giải quyết, bởi nếu công tác thu gom rác thải không được triển khai hợp lý, chính sách và quy định bài thầu không được điều chỉnh, nguy cơ “Thủ đô ngập rác” như doanh nghiệp cảnh báo, nhất là trong bối cảnh mỗi khi bãi rác Nam Sơn “hắt xì,” cả Hà Nội lại “sổ mũi,” là thực tế nhãn tiền.

Để góp một cái nhìn toàn cảnh về câu chuyện rác thải này, Báo Điện tử VietnamPlus xin mời quý độc giả cùng phóng viên thâm nhập vào “thế giới rác thải” ở Hà Nội, để tìm hiểu về những “điểm nghẽn” bất cập trong công tác thu gom, những gói thầu “làm ngược chủ trương” xuất phát từ “ma trận” đấu thầu rác thải tập trung./.

Nhà tôi ‘ngập rác’

“Hơn hai năm qua, chúng tôi đóng tiền dịch vụ thu gom rác theo quy định, chủ trương làm sạch đường làng, ngõ xóm, đảm bảo vệ sinh môi trường của thành phố, vậy mà, hàng ngày vẫn phải mang rác đi đổ, vẫn phải ngửi mùi ô nhiễm. Dù rất bức xúc, nhiều lần kiến nghị nhưng đến nay cũng không thay đổi được gì…”

Đó là chia sẻ của bà Đỗ Thị Thử, 62 tuổi sống ở thôn Trung Oai, xã Tiên Dương, huyện Đông Anh, khi đề cập tới vấn đề rác thải tại địa phương mình.

11 giờ trưa tháng 7, trời nắng như đổ lửa, bà Thử tất tả xách tải rác từ trong ngõ nhỏ, vừa đi vừa nhặt thêm những túi rác ven đường mang tới điểm thu gom rác bên cạnh nhà văn hóa thôn Trung Oai tập kết.

“Thời gian qua, gia đình tôi đóng đầy đủ số tiền 3.000 đồng/khẩu theo quy định của thành phố để chi trả cho công tác thu gom rác, nhưng hàng ngày vẫn phải mang rác đi đổ, bởi những người công nhân thu gom rác được trả tiền, ‘ăn lương’ của dân không làm. Họ bảo là quy định công việc của họ sẽ không vào thu gom ở những ngõ xóm mà lối vào nhỏ (dưới 2m-PV),” bà Thử bức xúc.

“Cũng vì người dân trả tiền dịch vụ môi trường nhưng ngày ngày vẫn phải tự đưa rác đi đến điểm tập kết cách nhà gần 1km để đổ nên gần đây, nhiều bà con đã không đóng tiền nữa. “Việc này không phải là để chống đối, mà là để đòi quyền lợi chính đáng,” bà Thử phân bua.

Dẫn phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đi khảo sát thực tế, ông Nguyễn Đăng Truyền, Trưởng thôn Trung Oai, xã Tiên Dương khẳng định, trước năm 2017, khi chưa có chủ trương đấu thầu thu gom rác thải tập trung, công tác thu gom rác được địa phương triển khai rất hiệu quả, mỗi hộ dân đóng 4-5 nghìn đồng/tháng, nhưng tất cả hoàn toàn ủng hộ và cũng không để xảy ra ô nhiễm tồn đọng bao giờ.

Vậy nhưng, từ khi chuyển sang đấu thầu tập trung, sử dụng xe cơ giới hóa, giá dịch vụ ấn định xuống mức 3.000 đồng/nhân khẩu/tháng đối với các huyện ngoại thành, trong khi những con đường ngõ xóm bề ngang dưới 2m thì xe thu gom không vào được, nên người dân lại phải mang rác đi đổ, dẫn tới tình trạng so bì quyền lợi, gây bức xúc và không hợp tác.

Trong khi đó, về phía doanh nghiệp, do mức giá dịch vụ thu không đủ chi, nên phía Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Đông Anh đã trả lại địa bàn, chỉ làm theo diện tích km kê khai, đăng ký ban đầu. Và, việc thu gom rác trên địa bàn, lại được trả cho địa phương tự xử lý…

“Công ty, họ bảo ký nhầm gói thầu nên chỉ làm 12%, còn 88% diện tích, công việc còn lại, xã, thôn phải tự làm. Cái khó là, trước đây, thôn có 6 người thu gom rác, nhưng nay chỉ còn 2 người phụ trách tất cả việc thu gom, mà diện tích thôn tôi lại lớn nhất xã, với gần 5.000 nhân khẩu, trên tổng số 12km đường vận chuyển rác. Vì thế, việc thu gom rác vừa vất vả, lại kém hiệu quả hơn,” ông Truyền nói.

Vị trưởng thôn Trung Oai cũng cho biết, vì việc thu gom rác quá bất cập, nên có thời điểm, rác ở trên địa bàn chất cao như núi. Thậm chí, có ít nhất 2-3 lần, người dân bức xúc vì đã đóng tiền mà vẫn không có người đến thu gom, bốc mùi hôi thối, nên đã mang rác lên cổng ủy ban xã, cổng nhà trưởng thôn đổ, để phản đối…

Không chỉ người dân bức xúc, mà ngay cả những người trực tiếp đi thu gom rác cũng không hài lòng với các tiêu chí “làm sạch thành phố” hiện nay. Chị Nguyễn Thị Thoan cho biết, lương thu gom rác mỗi tháng nhận được chỉ có 6 triệu đồng, trong khi lượng rác quá lớn, địa bàn thôn lại quá rộng, mà chỉ có 2 người làm. Vì thế, nhiều hôm chị phải nhờ chồng và sử dụng xe máy, tự đổ xăng kéo xe đi khắp các ngõ mới bốc hết rác. Thậm chí, có những hôm phải làm cả đêm mới xong.

“Nhà báo hình dung xem, mỗi ngày, chúng tôi đẩy 30-40 xe rác ở các ngõ làng về điểm tập kết. Nếu không sử dụng xe máy kéo, rồi nhờ ông xã đi hỗ trợ thì bao giờ mới tải hết rác. Vất vả lắm, nhưng có ai hiểu cho đâu,” chị Thoan thở dài ngao ngán.

“Nhà báo hình dung xem, mỗi ngày, chúng tôi đẩy 30-40 xe rác ở các ngõ làng về điểm tập kết. Nếu không sử dụng xe máy kéo, rồi nhờ ông xã đi hỗ trợ thì bao giờ mới tải hết rác. Vất vả lắm, nhưng có ai hiểu cho đâu,” chị Thoan thở dài ngao ngán.

Cùng chung nhọc nhằn, cô Trần Thị Lê, người thu gom rác ở thôn Trung Oai cho biết, xe thu gom rác quá ít, một mình làm không xuể nên cô vừa phải huy động thêm nhân lực của gia đình, vừa phải tự đầu tư thêm phương tiện, là xe bò lôi để đi thu gom rác. Có những hôm phải đi từ 2 giờ sáng đến 9 giờ tối mới xong.

Đang tất bật chuyển những tải rác từ trên xe bò kéo xuống điểm tập kết, người “bạn đời” của cô Lê thở dài nói vọng: “Công việc nặng nhọc, hôi thối, lương thì chỉ có một người được nhận mà hai vợ chồng cùng làm. Cực lắm.”

“Nhiều lần con gái tôi cứ bảo, thôi mẹ nghỉ đi, đừng làm nữa. Chồng tôi cũng bảo, đi thu gom rác suốt đêm ngày, thôi nghỉ quách cho xong. Nhưng nói thật là không làm thì lấy tiền đâu chữa bệnh cho con (con gái bị bệnh thiểu năng), lấy tiền đâu lo việc cho gia đình, thôi bố con hãy cứ để mẹ làm,” cô Lê ngậm ngùi nói.

Ở góc độ chính quyền cấp cơ sở, ông Hoàng Xuân Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương thừa nhận, chính quyền xã cũng rất đau đầu, bức xúc khi phải thực hiện theo Quyết định số 54/2016/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo ông Hùng, nghịch lý là từ một chủ trương đúng với mục đích làm sạch thành phố, nhưng đề bài cho việc đấu thầu thu gom rác thải tập trung lại có quá nhiều điểm bất cập, không sát thực tế dẫn đến khi triển khai “lợi bất cập hại.” Việc kê khai khối lượng, diện tích thấp hơn nhiều so với thực tế, mức giá thu tiền dịch vụ cắt giảm ở mức tối thiểu, trong khi khối lượng công việc phải làm lại quá lớn đã khiến các địa phương phải “oằn vai gánh rác.”

“Trước đây, địa phương phụ trách, thu 4-5 nghìn đồng, dân cũng hài lòng, nhưng từ khi theo bài thầu mới và thực hiện theo Quyết định số 54 (thu 3.000 đồng/nhân khẩu/tháng) thì thực tế rất bất cập. Người dân họ bỏ tiền nên họ có quyền đòi hỏi được phục vụ, nhưng doanh nghiệp họ chỉ làm đúng nội dung, số lượng trong bài thầu là 12%, số còn lại đẩy về cho địa phương tự xử lý, nên rất khó khăn,” ông Hùng nói.

Giá dịch vụ vệ sinh môi trường tại nông thôn quy định 3.000 đồng/nhân khẩu chưa đủ cân đối kinh phí chi trả công tác duy trì vệ sinh môi trường, chưa công bằng giữa hộ ở ngõ trên 2m (đơn vị cung ứng thu gom trực tiếp) với hộ ngõ dưới 2m (hộ phải tự thu gom)

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương cũng bày tỏ sự lo lắng rằng “Đông Anh đang phấn đấu lên quận, mà công tác thu gom hiện nay còn thô sơ và có quá nhiều bất cập thế này thì không biết bao giờ mới có thể cán đích?”

Qua khảo sát một số quận, huyện của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus cũng cho thấy, giá dịch vụ vệ sinh môi trường tại nông thôn quy định 3.000 đồng/nhân khẩu chưa đủ cân đối kinh phí chi trả công tác duy trì vệ sinh môi trường, chưa công bằng giữa hộ ở ngõ trên 2m (đơn vị cung ứng thu gom trực tiếp) với hộ ngõ dưới 2m (hộ phải tự thu gom).

Thực tế trên cũng đã được Sở Xây dựng và Ủy ban Nhân dân các huyện nhận định: Mức thu giá dịch vụ vệ sinh môi trường ở các quận 6.000 đồng nhưng ở huyện chỉ 3.000 đồng/nhân khẩu, trong khi địa bàn huyện rộng, ngõ xóm dân cư cách xa nhau khiến công tác thu gom vất vả nên mức giá chênh lệch như vậy là không hợp lý./.

Nhận diện tiêu chí bài thầu ngược chủ trương

Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, năm 2016, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội thực hiện chủ trương đấu thầu công tác vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển rác thải trên toàn địa bàn giai đoạn 2017-2020, nhằm góp phần cắt giảm các khâu trung gian, giảm chi phí ngân sách, xóa bỏ tình trạng mafia rác…

Chủ trương này được triển khai theo hình thức đấu thầu tập trung, với 26 gói thầu, tuy nhiên, sau hơn 2 năm thực hiện, công tác thu gom rác-đặc biệt ở các huyện ven đô đã bộc lộ một loạt tồn tại, hạn chế xuất phát ngay từ bài thầu, với những tiêu chí xa rời thực tế.

Đầu tiên là việc lập hồ sơ khối lượng, đăng ký nhu cầu đấu thầu mua sắm tập trung của các quận, huyện, thị xã không sát thực tế, một số hạng mục thừa, một số hạng mục thiếu. Thậm chí, một số quận, huyện đăng ký nhu cầu nhầm tiêu chí các hạng mục của các tuyến đường, dẫn đến khi thực hiện đã phát sinh khối lượng rác thải.

Qua thống kê, đối soát cho thấy sự chênh lệch (thiếu hụt) khối lượng rác đăng ký dịch vụ vận chuyển ở một số đơn vị quận, huyện với thực tế là rất lớn. Cụ thể con số thiếu tại quận Hai Bà Trưng lên tới 74,156 tấn; Đống Đa, 65 tấn; Bắc Từ Liêm, 27,55 tấn; huyện Gia Lâm, 39 tấn; Hoài Đức, 20 tấn; Đan Phượng là 10,77 tấn… Đặc biệt, tại một số địa bàn như quận Nam Từ Liêm, huyện Chương Mỹ khối lượng thu gom thực tế phát sinh so với đăng ký lên tới ngoài trăm tấn…

Đối với khối lượng duy trì vệ sinh đường phố, một số chủ đầu tư thống kê chiều dài các tuyến đường có đầy đủ hạ tầng trên và dưới 7m2 không đúng thực tế, dẫn đến áp sai đơn giá, chênh lệch khối lượng và giá trị của gói thầu. Ví như, quận Ba Đình đã thống kê, quyết toán cho nhà thầu phần kinh phí duy trì một số tuyến đường không đúng thực tế với giá trị gần 668 triệu đồng.

Bất cập lớn nhất là công tác thu gom duy trì vệ sinh ngõ xóm. Thực tế, khi lập và đăng ký khối lượng duy trì, các quận, huyện đã căn cứ trên khả năng thu phí vệ sinh môi trường theo Quyết định số 54/2016/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của Ủy ban Nhân dân thành phố, tự cân đối kinh phí nên lập, đăng ký khối lượng, tần xuất thấp. Nhưng thực tế triển khai, khối lượng, tần suất lại cao hơn nhiều so với khối lượng đã đăng ký, dẫn đến phát sinh khối lượng ngoài hợp đồng.

Cụ thể như tại huyện Đông Anh, Ủy ban Nhân dân huyện đã ký hợp đồng với nhà thầu khối lượng duy trì ngõ xóm của 23 xã là 97,326km/ngày. Tuy nhiên, thực tế chiều dài ngõ xóm của 23 xã toàn huyện lại lên tới 701,309km (tăng 603,974km so với hợp đồng kinh tế đã ký), dẫn tới doanh nghiệp phải bổ sung tăng khối lượng 603,974km/ngày, tương ứng với giá trị 60,034 tỷ đồng so với hợp đồng ký kết.

Ngoài ra, nhiều đơn vị khác, chủ yếu là ở các huyện, cũng có tình trạng phải bổ sung khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm so với hợp đồng kinh tế như: Huyện Mê Linh tăng 412,25km/ngày; Mỹ Đức tăng 350,895km/ngày; Thường Tín tăng 196,39km/ngày; Hoài Đức tăng 132,285km/ngày; Chương Mỹ tăng 146,68km/ngày; Phú Xuyên tăng 296,089km/ngày.

Cụ thể như tại huyện Đông Anh, Ủy ban Nhân dân huyện đã ký hợp đồng với nhà thầu khối lượng duy trì ngõ xóm của 23 xã là 97,326km/ngày. Tuy nhiên, thực tế chiều dài ngõ xóm của 23 xã toàn huyện lại lên tới 701,309km (tăng 603,974km so với hợp đồng kinh tế đã ký).

Không chỉ chênh lệch lớn về khối lượng và chiều dài các tuyến đường, tần suất duy trì vệ sinh ngõ xóm tại các huyện cũng có bất cập lớn. Theo Quyết định số 6841/QĐ-UBND ngày 13/12/2016 của Ủy ban Nhân dân thành phố, việc vệ sinh ngõ xóm phải duy trì hàng ngày, thu hết rác trong ngày, đảm bảo ngõ, xóm sạch sẽ. Tuy nhiên, khi đăng ký, các quận, huyện lại lập hồ sơ với tần suất thấp theo dự toán kinh phí vệ sinh môi trường, trong khi thực tế triển khai phải tăng tần suất mới đảm bảo hết rác trong ngày, dẫn đến phát sinh giá ngoài hợp đồng.

Đơn cử như tại huyện Chương Mỹ, Ủy ban Nhân dân huyện đăng ký tần suất duy trì ngõ xóm là 8 ngày/lần, không đúng với Quyết định số 6841/QĐ-UBND, nên khi thực hiện phải thay đổi, phải tăng tần suất 2 lần/tuần mới đảm bảo thu hết rác trong ngày. Thậm chí, có đơn vị ký hợp đồng với nhà thầu không đúng thỏa thuận khung khi chưa có sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền.

Kết luận của Thanh tra thành phố Hà Nội công bố ngày 29/3/2019, cũng nhận định, sau khi các đơn vị gửi hồ sơ đăng ký khối lượng, Trung tâm mua sắm tài sản công-Sở Tài Chính, là đơn vị có trách nhiệm tổng hợp hồ sơ đăng ký khối lượng của các quận, huyện để làm căn cư lập hồ sơ mời thầu.

Tuy nhiên, Trung tâm mua sắm tài sản công đã tổng hợp nguyên trạng hồ sơ đăng ký của các quận, huyện nên không phát hiện ra những việc kê khai, đăng ký khối lượng, không đúng thực tế khiến việc đấu thầu rác thải tập trung lại đi ngược lại chủ trương “làm sạch thành phố” của Hà Nội và gây ra nhiều hệ lụy: Doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, chạy thoát thân, “bỏ rác” cho địa phương; địa phương bất đắc dĩ lấy ngân sách đầu tư cho việc dọn rác. Trong khi đó, dân bức xúc và rác vẫn ngập mỗi ngày một nhiều hơn.

Đông Anh là một huyện ngoại thành nằm ở phía bắc Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 15km, với tổng diện tích hơn 18.000 ha. Năm 2016, thực hiện chủ trương đấu thầu công tác vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển rác thải giai đoạn 2017-2020, huyện Đông Anh đã tổ chức đấu thầu tập trung, qua đó ký hợp đồng với nhà thầu (Công ty cổ phần Môi trường Đô thị Đông Anh) khối lượng duy trì ngõ xóm của 23 xã toàn huyện là 97,326km/ngày.

Tuy nhiên, thực tế triển khai, khối lượng, tần suất mà nhà thầu phải làm lại tăng cao so với khối lượng chủ đầu tư kê khai, đăng ký, dẫn đến phát sinh khối lượng ngoài hợp đồng. Cụ thể, chiều dài ngõ xóm của 23 xã toàn huyện Đông Anh thực tế lên tới 701,309km (tăng 603,974 km so với hợp động kinh tế), dẫn tới nhà thầu phải bổ sung tăng khối lượng 603,974km/ngày, tương ứng với giá trị 60,034 tỷ đồng.

Chính vì sự chênh lệch quá lớn về khối lượng rác thu gom và chiều dài ngõ xóm, tháng 3/2019, Công ty cổ phần Môi trường Đô thi Đông Anh đã quyết định trả lại địa bàn không có trong gói thầu, chỉ triển khai công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác thải trên địa bàn của 4 xã, trong khi bài thầu quy định là 23 xã và thị trấn.

Huyện Mê Linh tăng 412,25km/ngày; Mỹ Đức tăng 350,895km/ngày; Thường Tín tăng 196,39km/ngày; Hoài Đức tăng 132,285km/ngày; Chương Mỹ tăng 146,68km/ngày; Phú Xuyên tăng 296,089km/ngày.

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Nguyễn Tiến Đông, Giám đốc Công ty cổ phần Môi trường đô thị Đông Anh cho hay: Theo nội dung của gói thầu, doanh nghiệp thực hiện 23 xã và thị trấn trên tổng số 97km ngõ xóm, trong khi thực tế toàn huyện hơn 701km. Khối lượng lớn nên quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, nhà thầu không thể cáng đáng khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng.

“Theo yêu cầu của bài thầu thì chúng tôi chỉ thực hiện 4/23 xã đã đủ khối lượng của gói thầu là 97,236. Còn nếu làm cả 23 xã thì chỉ làm 12% công việc, nhưng sẽ không hiệu quả và thực tế nhiều nơi dân rất bức xúc, không nộp tiền. Trong quá trình thực hiện doanh nghiệp cũng đã báo cáo khó khăn cho huyện và thành phố, nhưng đến nay vẫn chưa điều chỉnh,” ông Đông thẳng thắn nói.

Ông Đông cũng cho biết, trước đây việc tổ chức thu gom ngõ xóm tự thu tự chi cho người lao động, thì có thể thu từ 5-7.000 đồng, thậm chí 10.000 đồng đối với các làng nghề để cho các bộ phận trực tiếp thu gom. Tuy nhiên, từ khi nhận gói thầu, làm theo Quyết định 54 của thành phố, chỉ còn thu có 3.000 đồng, trong khi địa bàn rộng, khối lượng thực hiện lớn nên không thể cáng đáng hết.

“Tại sao ra con số 97km (trong khi địa bàn toàn huyện là hơn 701km) là người ta dựa trên nguồn thu 3.000 đồng/khẩu, để bù đắp chia ra cái đơn giá theo km. Như vậy, với cách tính và khối lượng chênh lệch, không đúng thực tế như vậy, nên không riêng Đông Anh, mà các huyện ngoại thành đều khó khăn,” ông Đông lưu ý.

Giám đốc Công ty cổ phần Môi trường đô thi Đông Anh cũng cho biết, mặc dù công việc thu gom rác trên địa bàn chưa được như kỳ vọng, nhưng trong bối cảnh giá xăng dầu tăng, chính sách giảm chí phí, nên công ty đã phải cắt giảm lượng nhân công. Như thôn Trung Oai, xã Tiên Dương, trước đây có 5-6 người, nhưng nay chỉ có 2 người thu gom.

“Cũng vì giá chi trả dịch vụ vệ sinh môi trường thấp, trong khi khối lượng phát sinh lớn, nên từ ngày 8/3/2019, chúng tôi đã báo cáo huyện xin tổ chực thực hiện 4 xã với 97km, đúng như gói thầu. Với 19 xã còn lại, chỉ thực hiện công tác vận chuyển, chứ không thực hiện thu gom vệ sinh ngõ xóm,” ông Đông nói thêm.

Tình cảnh tương tự cũng đã xảy ra ở huyện Sóc Sơn. Tuy nhiên, liên hệ làm việc với Công ty Môi trường đô thị Sóc Sơn, lãnh đạo nhà thầu này lại từ chối chia sẻ với lý do “vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nên không tiện chia sẻ.”

Tuy nhiên, việc kinh doanh “dễ làm khó bỏ” trả lại địa bàn đến nay chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, còn doanh nghiệp tư nhân, vay tiền ngân hàng đi đầu tư phương tiện để “làm sạch thành phố,” thì vẫn phải “gồng mình” chịu lỗ gom rác để “đợi chính sách thay đổi.”

Với các doanh nghiệp này, mặc dù do bài thầu “áp” các tiêu chí sai chủ trương, lượng kê khai khối lượng và diện tích lớn hơn nhiều so với thực tế đã khiến họ thua lỗ kéo dài do thu không đủ bù chi và lâm vào cảnh nợ nần song vẫn gắng phải bám trụ vì đã lỡ… đầu tư.

Đơn cử như Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai, tham gia dự thầu và trúng thầu gói thầu số 12/VSMT: Dịch vụ công ích vệ sinh môi trường giai đoạn 2017-2020 (3 năm 10 tháng) trên địa bàn huyện Chương Mỹ. Giá trị trúng thầu là hơn 116,3 tỷ đồng theo Quyết định số 141/QĐ-TTMSTSC ngày 27/2/2017 của Giám đốc Trung tâm mua sắm tài sản công và và thông tin, tư vấn tài chính (Sở Tài chính Hà Nội).

“Nhưng khi triển khai, số lượng thực tế thì cao hơn nhiều với hạng mục đăng ký trong gói thầu khiến mức giá quy định bởi Quyết định 54 (3.000 đồng/khẩu/tháng) khiến doanh nghiệp không đủ bù cho chi phí thực hiện,” ông Nguyễn Ngọc Oanh, Giám đốc Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai chia sẻ.

Trần tình với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Oanh cho biết: Ví dụ ở hạng mục duy trì ngõ xóm, khối lượng duy trì theo hồ sơ thầu là hơn 42.592km/năm, với tổng chiều dài ngõ xóm trên 676 km. Trong khi, khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm dưới 2m trên thực tế là hơn 107.876km/năm, tổng chiều dài trên 819km. Như vậy, tổng số km duy trì ngõ xóm mà doanh nghiệp triển khai chênh tới hơn 65.284km/năm, và chiều dài tuyến tăng 143,67km, gấp tới 2,5 lần với kê khai của gói thầu.

Cũng theo gói thầu, tần suất duy trì tại 30 xã mà nhà thầu phải triển khai là 8 ngày thu gom rác 1 lần. Tuy nhiên, do lượng rác và km tuyến đường chênh quá lớn, nên trên thực tế, nhà thầu đã phải tổ chức thu gom 3 lần/tuần đối với 6 xã; 2 lần/tuần với 24 xã. Với tần suất như vậy cũng mới chỉ cơ bản đảm bảo thu gom rác chứ chưa thể thu gom rác trong các hộ dân cư hàng ngày.

Nghịch lý nhất là, theo Quyết định số 6841/QĐ-UBND ngày 13/12/2016; Quyết định số 3599/QĐ-UBND ngày 17/7/2018 về Quy trình, định mức, đơn giá lĩnh vực vệ sinh môi trường và hạng mục thu gom rác ngõ dưới 2m không được thanh toán. Nhưng, để đảm bảo chất lượng môi trường chung và sự công bằng cho người dân cùng nộp phí dịch vụ, nhà thầu vẫn phải thực hiện công tác duy trì vệ sinh.

Chưa kể, khối lượng thu gom, xúc rác tại các chợ trên địa bàn cũng không được đề cập trong các Quyết định 6842 và 3599 nói trên nên nhà thầu đang phải thực hiện thu gom, dọn dẹp một lượng lớn rác thải của 30 chợ với 64 điểm trên địa bàn huyện mà không được thanh toán.

…nhà thầu đang phải thực hiện thu gom, dọn dẹp một lượng lớn rác thải của 30 chợ với 64 điểm trên địa bàn huyện mà không được thanh toán.

“Trước đây, công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác, chúng tôi triển khai 360 ngày. Nhưng theo bài thầu thì chỉ có 8 ngày/lần. Chưa kể, số km duy trì ngõ xóm mà doanh nghiệp triển khai so với bài thầu, chênh lệch tới hơn 65.284km/năm, và chiều dài tuyến tăng 143,67km. Trong khi, cơ chế tài chính thì không điều chỉnh, mức thu phí dịch vụ theo Quyết định 54 chỉ có 3.000 đồng,” ông Oanh cho biết bây giờ nhà thầu đang phải làm không công, tự bỏ tiền trả thay dân…

“Nói theo phong cách người lính, chúng tôi gần dân, chứ không phải gần quan. Vì thế, công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác phải theo tiêu chí hiệu quả, chứ không thể chỉ làm theo gói thầu thấp hơn thực tế được,” ông Oanh chia sẻ thêm.

Chung tình cảnh phải bỏ tiền túi để trang trải cho công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác trên địa bàn hai huyện Phú Xuyên và Thanh Oai, đại diện lãnh đạo Liên danh nhà thầu Công ty cổ phần dịch vụ môi trường Thăng Long-Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Nam Thăng Long khẳng định: “Với cách làm hiện nay, nếu Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội không điều chỉnh mức giá và khối lượng các hạng mục thực hiện thì không doanh nghiệp nào có thể cáng đáng nổi.”/.

Chủ trương “làm sạch thành phố”

bên bờ… phá sản

Tình trạng các doanh nghiệp trả lại địa bàn vì “quá tải” hoặc giảm hạng mục do thua lỗ kéo dài khiến nợ chồng nợ, địa phương cũng không kham nổi do kinh phí có hạn, lượng người nhận làm ngày càng giảm trong khi lượng rác thải mỗi ngày là quá lớn đã khiến nguy cơ Hà Nội (đặc biệt là các địa bàn ven đô) ngập trong rác đang hiển hiện ngày một rõ nét. Chủ trương “làm sạch thành phố” của Hà Nội đang đứng bên bở vực phá sản nếu không được sớm điều chỉnh và tháo gỡ.

Theo phản ánh của doanh nghiệp môi trường ở các huyện ngoại thành Hà Nội, một trong những bất cập lớn nhất của bài thầu khiến phần lớn doanh nghiệp phải rơi vào cảnh “ôm nợ” là do bài thầu “áp” các tiêu chí quá bất cập, kê khai khối lượng và chiều dài các tuyến đường thấp hơn nhiều so với thực tế, trong khi mức giá dịch vụ theo Nghị định 54 quá thấp, khiến nhà thầu thu không đủ chi.

Các đơn vị, đặc biệt là khối huyện, mặc dù đã tạm ứng 50% từ ngân sách để thanh toán khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm nhưng do nguồn giá dịch vụ thu không đủ chi nên không có nguồn thanh toán cho nhà thầu.

“Bất cập này, khiến bất cứ doanh nghiệp nào khi triển khai cũng phải đau đầu, gặp khó khăn. Doanh nghiệp chúng tôi là 1 trong 5 nhà thầu mạnh nhất thành phố về năng lực tài chính và phương tiện, nhưng ngay từ đầu cũng không được tiếp cận gói thầu. Đến khi trúng thầu và triển khai thực hiện mới phát hiện ra các điểm bất cập song vẫn phải làm vì đã đầu tư lớn và chỉ có thể kiến nghị chứ không dám phản đối,” vị giám đốc Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai phân tích.

Theo chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân thành phố tại Văn bản số 6113/UBND-KT ngày 31/11/2017: Các đơn vị nhập đủ 50% dự toán kinh phí duy trì vệ sinh môi trường ngay từ đầu năm; chủ động sử dụng ngân sách địa phương để thanh toán khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm và triển khai công tác thu giá để có nguồn hoàn trả ngân sách địa phương và thanh toán phần khối lượng duy trì ngõ xóm. Tuy nhiên, các đơn vị, đặc biệt là khối huyện, mặc dù đã tạm ứng 50% từ ngân sách để thanh toán khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm nhưng do nguồn giá dịch vụ thu không đủ chi nên không có nguồn thanh toán cho nhà thầu.

Theo các doanh nghiệp môi trường ở các địa bàn này, họ chưa được chủ đầu tư thanh toán, quyết toán các khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng trong hai năm 2017 và 2018.

Đơn cử như huyện Đông Anh, năm 2018, chỉ tiêu thu giá dịch vụ vệ sinh được giao là hơn 14,3 tỷ đồng nhưng thực thế thu chỉ có hơn 11,8 tỷ đồng. Trong khi, giá trị thực tế phải thanh toán cho khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm là hơn 28 tỷ đồng (thiếu khoảng 17 tỷ đồng), những mãi vẫn chưa thanh toán cho nhà thầu.

Tình trạng này cũng đã và đang xảy ra ở nhiều đơn vị khác như các huyện Phú Xuyên, Mỹ Đức, Chương Mỹ và Mê Linh…

Ngay ở nội đô, trên địa bàn quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm… tổng kinh phí các hạng mục phát sinh của 4 gói thầu mà doanh nghiệp chưa được các chủ đầu tư thanh toán là 60,189 tỷ đồng. Chi phí phát sinh của 7 gói thầu trên địa bàn các quận Nam Từ Liêm, Hà Đông, Tây Hồ và các huyện Thanh Trì, Mê Linh, Mỹ Đức, Thạch Thất chưa được các chủ đầu tư thanh toán (đến thời điểm tháng 12/2018) là 41,6 tỷ đồng.

Tổng kinh phí các hạng mục phát sinh của gói thầu trên địa bàn huyện Đông Anh chưa được thanh toán là 71,272 tỷ đồng; tổng kinh phí các hạng mục phát sinh của gói thầu tại quận Hoàng Mai chưa được thanh toán là 10,2 tỷ đồng…

Tương tự, tổng kinh phí các hạng mục phát sinh của gói thầu trên địa bàn huyện Đông Anh chưa được thanh toán là 71,272 tỷ đồng; tổng kinh phí các hạng mục phát sinh của gói thầu tại quận Hoàng Mai chưa được thanh toán là 10,2 tỷ đồng…

Thực trạng này đã khiến doanh nghiệp phải “ôm” khoản nợ lớn, gặp khó khăn trong việc chi trả lương, chế độ cho người lao động và dẫn đến tình trạng phải trả lại địa bàn, để “tự giải thoát” mình.

Ngoài hai doanh nghiệp Nhà nước đã “bỏ rác chạy lấy thân,” một số doanh nghiệp tư nhân hiện cũng đã tuyên bố trả địa bàn, cắt giảm một số hạng mục không nêu rõ trong gói thầu, vì những khoản nợ ngân hàng lên tới hàng chục tỷ đồng thậm chí có doanh nghiệp số nợ lên tới hơn một trăm tỷ đồng.

Theo Giám đốc Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai (doanh nghiệp trúng thầu gói thầu dịch vụ công ích vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện Chương Mỹ), sau 2 năm (2017-2018) thực hiện gói thầu, chủ đầu tư chậm thanh toán nguồn kinh phí lên tới gần 18 tỷ đồng. Thực tế này đã gây khó khăn cho nhà thầu trong việc duy trì các hoạt động sản xuất, thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động, trong khi không thể chậm, nợ lương với người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội.

“Ngoài việc chủ đầu tư chậm thanh toán nguồn kinh phí, các biến động từ việc tăng giá nguyên nhiên liệu, thực tế, chúng tôi còn đang phải trả tiền lương cho người lao động trực tiếp cao hơn mức tiền lương trong đơn giá. Thực tế trên đã làm tăng chi phí sản xuất, thu không đủ bù chi, nên nhà thầu phải bỏ tiền túi để làm, dẫn tới nợ cả trăm tỷ đồng,” Giám đốc Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai nói.

Cùng chung tình cảnh “ôm nợ” vì thu không đủ bù chi, Liên danh nhà thầu Công ty cổ phần dịch vụ môi trường Thăng Long-Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Nam Thăng Long (thực hiện gói thầu ở 2 huyện Phú Xuyên và Thanh Oai) hiện cũng đang phải gồng mình bù lỗ, để chờ thành phố Hà Nội điều chỉnh đơn giá dịch vụ, cũng như điều chỉnh lại khối lượng, tiêu chí của bài thầu.

Tuy nhiên, kinh phí này chỉ đáp ứng được 23% khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm thực tế đang thực hiện, tương đương với 93/407km/ngày.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, đại diện Liên danh nhà thầu Công ty cổ phần dịch vụ môi trường Thăng Long-Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Nam Thăng Long cho biết: “Nguồn thu giá dịch vụ vệ sinh môi trường năm 2019 được Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Oai giao theo văn bản là hơn 6,7 tỷ đồng, được sử dụng cân đối chi trả cho công tác vệ sinh ngõ xóm (thu gom rác) theo Quyết định số 54 tương ứng với mức thu 3.000 đồng/khẩu.

Tuy nhiên, kinh phí này chỉ đáp ứng được 23% khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm thực tế đang thực hiện, tương đương với 93/407km/ngày. Nếu so với khối lượng chủ đầu tư kê khai, đăng ký trong gói thầu cũng chỉ đáp ứng được 44%, tương đương 93km/210km/ngày.”

“Khối lượng bài thầu và thực tế triển khai chênh lệch quá lớn-khối lượng và chiều dài các tuyến đường ngõ xóm dưới 2m trên thực tế mà doanh nghiệp đang làm lớn hơn gần 200km so với bài thầu, trong khi đơn giá, mức thu giá dịch vụ chậm điều chỉnh đã khiến thời gian qua, mỗi năm doanh nghiệp đã lỗ hơn 5 tỷ đồng,” vị đại diện Liên danh chao chát trần tình.

Thực trạng này khiến nhà thầu không thể tiếp tục nếu không sớm có thay đổi mức phí, và quyết định kể từ tháng 7/2019, sẽ tạm dừng thực hiện khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm nếu không được Ban quản lý dự án ký hợp đồng.

Quay trở lại câu chuyện trả lại địa bàn những hạng mục không có trong gói thầu, ông Nguyễn Tiến Đông, Giám đốc Công ty cổ phần Môi trường Đô thị Đông Anh, cho biết, do không kham nổi nên từ ngày 8/3/2019 đến nay, doanh nghiệp ông chỉ làm theo nội dung bài thầu. Cụ thể, Công ty cổ phần Môi trường Đô thị Đông Anh chỉ thực hiện công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác tại 4 xã và thị trấn, 19 xã còn lại đã bàn giao lại cho địa phương.

Ông Đông cũng thừa nhận khi bàn giao lại phương tiện thu gom rác cho địa phương, phần lớn số xe đẩy trước đây nhận của địa phương, nay đã bị hư hỏng hoàn toàn. “Đây toàn là xe rẻ tiền, dễ hư hỏng sau một thời gian ngắn sử dụng, nên khi bàn giao đã hỏng hết,” ông Đông nói thêm.

Trong khi doanh nghiệp kêu khó, trả lại việc vệ sinh môi trường, thu gom rác cho địa phương tự xử lý, cùng với “đống sắt vụn” xe đẩy thu gom rác được cho là “đồ rẻ tiền,” thì chính quyền các xã trên địa bàn huyện Đông Anh lại phải mang ngân sách đi mua phương tiện, cũng chính là những chiếc xe đẩy “rẻ tiền” để phục vụ thu gom rác.

Tại xã Tiên Dương, nơi Công ty cổ phần Môi trường Đô thi Đông Anh đang đặt trụ sở cùng phương tiện, đủ các loại xe, nhưng việc thu gom rác ngõ xóm lại chuyển hết cho địa phương xử lý. Từ khi nhận nhiệm vụ “dọn rác” cùng “đống sắt vụn” xe đẩy không thể sử dụng, Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương đã phải bỏ ra 100 triệu đồng để mua thêm 15 xe đẩy mới, phục vụ cho công tác thu gom rác.

Ngoài việc phải mang ngân sách đi đầu tư phương tiện thu gom rác, chính quyền xã Tiên Dương còn phải ứng tiền ngân sách để trả lương cho người thu gom rác, do từ cuối năm 2018 đến nay, chưa thu được tiền dịch vụ vệ sinh môi trường, thu gom rác từ các hộ dân. Lý do là người dân không hài lòng với quy định của bài thầu, khi những ngõ đường dưới 2m, bà con phải tự mang rác đến điểm tập kết.

Ông Trần Văn Sáng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương khẳng định, trước năm 2017, khi chưa có chủ trương đấu thầu thu gom rác tập trung, địa phương có thể thu giá dịch vụ vệ sinh môi trường 4-5.000 đồng, thậm chí 7.000 đồng. Người dân rất hài lòng vì công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác hiệu quả. Thế nhưng, từ khi thực hiện theo Nghị định 54 (thu 3.000 đồng) thì thực tế rất bất cập.

Theo ông Sáng, bất cập lớn nhất của bài thầu là những tuyến đường ngõ xóm dưới 2m không phải vào thu gom. Nghĩa là nhà thầu chỉ làm 12%. Vậy 88% khối lượng công việc và rác thải ở các ngõ xóm dưới 2m đổ đi đâu? 

Theo ông Sáng, bất cập lớn nhất của bài thầu là những tuyến đường ngõ xóm dưới 2m không phải vào thu gom. Nghĩa là nhà thầu chỉ làm 12%. Vậy 88% khối lượng công việc và rác thải ở các ngõ xóm dưới 2m đổ đi đâu? Đó là chưa kể, quy định của bài thầu mà huyện đưa ra chỉ thu gom 8 ngày/lần, trong khu thực tế phải thu gom 1 lần/ngày, mới đảm bảo thu gom hết rác và đảm bảo vệ sinh môi trường.

“Người dân họ bỏ tiền nên họ có quyền đòi hỏi được phục vụ, nhưng doanh nghiệp, họ chỉ làm đúng yêu cầu, quy định trong bài thầu là 12%, số còn lại đẩy về cho địa phương tự xử lý, nên rất bất cập, không ổn chút nào. Thực tế, quá trình thực hiện, địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, chúng tôi vẫn đang phải ứng tiền ngân sách trả lương cho những người đi thu gom rác,” ông Sáng giãi bày.

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương Hoàng Xuân Hùng thì cho biết từ lúc triển khai thực hiện công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, mặc dù chính quyền xa đã đầu tư 15 xe đẩy, nhưng vì địa bàn rộng và lượng rác rất lớn, nên những người đi thu gom đã phải tự cơi nới phương tiện, mang thêm cả xe bò kéo… để đi thu gom rác.

Việc ấn định việc thu giá 3.000 đồng/người/tháng, đã khiến thực tế công tác thu gom rác thải rất nan giải.

“Từ khi Công ty cổ phần Môi trường Đô thị Đông Anh “đá” bài thầu lại cho địa phương tổ chức thực hiện, nhất là ấn định việc thu giá 3.000 đồng/người/tháng, đã khiến thực tế công tác thu gom rác thải rất nan giải. Hiện tại, chúng tôi đang phải ứng tiền ngân sách để đầu tư phương tiện và trả lương cho người thu gom,” ông Hùng lo lắng.

Là một trong những địa phương có lượng rác thu gom hàng tháng ít nhất thành phố, nhưng công tác vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển rác tại xã Đồng Trúc, huyện Thạch Thất cũng đang gặp không ít khó khăn, do vướng mắc bởi bài thầu. Vì thế, việc duy trì vệ sinh một số tuyến đường vẫn còn những hạn chế, chưa đảm bảo.

Ông Nguyễn Đình Nghi-Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân xã Đồng Trúc cho biết, có hai vấn đề kiến nghị là, việc duy trì vệ sinh cần đảm bảo, và nhà thầu chưa đảm bảo chế độ chính sách về lương và bảo hiểm cho công nhân là người địa phương.

“Hiện tại, tình trạng nợ lương, nợ bảo hiểm đối với người lao động vẫn tồn tại. Việc này có thể sẽ ảnh hưởng đến ý thức, trách nhiệm, tính tự giác trong việc thu gom rác của người lao động. Vì thế, chúng tôi kiến nghị bài thầu cần được điều chỉnh hợp lý để giải quyết vấn đề thu gom rác trên địa bàn,” ông Trúc nói.

Chưa biết chủ đầu tư (các quận, huyện, thị xã) và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có điều chỉnh mức thu giá dịch vụ, và khối lượng, chiều dài các tuyến đường ngõ xóm dưới 2m đúng thực tế hay không, nhưng rõ ràng, việc doanh nghiệp trả địa bàn, cũng như cắt giảm các hạng mục vệ sinh môi trường ngõ xóm có thể sẽ khiến việc “làm sạch thành phố” gặp nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến môi trường dân sinh.

Lãnh đạo Ủy ban Nhân xã Đồng Trúc cho biết, với lượng rác bình quân của toàn xã 70 tấn/tháng (với 6,3km đường thu gom) thì hai bãi tập kết rác tạm thời của xã này cũng chỉ có thể cầm cự được trong vòng 1 tháng. Vì thế, nếu người dân Nam Sơn chặn bãi rác dài ngày, thì chắc chắn rác trên địa bàn cũng sẽ…quá tải.

Rõ ràng, việc doanh nghiệp trả địa bàn, cũng như cắt giảm các hạng mục vệ sinh môi trường ngõ xóm có thể sẽ khiến việc “làm sạch thành phố” gặp nhiều trở ngại, ảnh hưởng đến môi trường dân sinh. 

Cùng quan điểm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương cũng bày tỏ sự lo ngại: “Một khi lượng rác bị tồn đọng ở địa phương lại càng lớn, thì chắc chắn trong tương lai gần, không chỉ xã chúng tôi, mà cả thành phố Hà Nội sẽ ngập trong rác thải.”

“Với tình trạng thực hiện công tác vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển rác thải đang gặp nhiều khó khăn, bất cập về khối lượng và mức giá chậm được điều chỉnh, nhất là trong bối cảnh bãi rác Nam Sơn liên tiếp bị chặn, lượng rác ngày càng lớn, thì nhà thầu cũng bó tay, bất lực…,” ông Nguyễn Tiến Đông-Giám đốc Công ty cổ phần Môi trường Đô thị Đông Anh nhận định.

Còn theo Giám đốc Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai, nếu bây giờ nhà thầu không triển khai thu gom rác tại các tuyến đường ngõ xóm dưới 2m theo tiêu chí bài thầu, chắc chắn người dân sẽ biểu tình, vì họ vẫn đóng tiền dịch vụ như bao nơi khác. “Và như thế, rác thải sẽ vỡ trận. Chắc chắn vỡ trận,” vị Giám đốc khẳng định!./.

‘Ma trận’ thầu xử lý rác thải tập trung

trách nhiệm của ai?

Từ thực tế tình trạng rác thải của Hà Nội dẫn đến công tác “làm sạch thành phố” đang bị làm ngược chủ trương, nảy sinh nhiều hệ lụy gây ảnh hưởng đến mỹ quan, môi sinh của người dân Thủ đô, mà đều được chỉ đến nguyên nhân là sự bất hợp lý của bài thầu thu gom, xử lý rác thải tập trung được triển khai từ năm 2017.

Câu hỏi đặt ra là, để xảy ra “lỗ hổng” trong công tác thu gom, vận chuyển rác thải theo hình thức đấu thầu tập trung, nhất là bất cập từ việc kê khai, đăng ký khối lượng, chiều dài các tuyến đường ngõ xóm thấp hơn nhiều so với thực tế, trách nhiệm thuộc về ai? Tại sao bài thầu có nhiều “lỗi” đã được doanh nghiệp, địa phương và cả người dân đưa ra mà không được các cơ quan chức năng điều chỉnh, tháo gỡ?

Theo Kết luận thanh tra công tác thu gom, vận chuyển rác thải và duy trì vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố của Thanh tra thành phố Hà Nội, công bố trong tháng 3/2019, việc đấu thầu dịch vụ vệ sinh môi trường là phương thức triển khai từ năm 2017.

Do đó, khi thực hiện đăng ký nhu cầu đấu thầu, Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã đã thu thập thông tin, tổng hợp đăng ký nhu cầu chưa sát thực tế, một số hạng mục thừa/thiếu, dẫn đến khi thực hiện phát sinh khối lượng.

Trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế, nghiệm thu khối lượng, một số đơn vị chưa sâu sát, chưa làm hết trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát các nhà thầu trong công tác nghiệm thu khối lượng, thực hiện phương án sản xuất, dẫn đến việc vệ sinh môi trường tại một số địa bàn chưa đảm bảo yêu cầu, nhất là vào mùa mưa.

Bên cạnh đó, nhiều đơn vị chưa thực hiện tốt công tác thu giá dịch vụ, dẫn đến nguồn thu chưa được đảm bảo so với kế hoạch, ảnh hưởng đến cận đối nguồn kinh phí chi trả cho công tác duy trì vệ sinh môi trường trên địa bàn, nhất là các huyện Đan Phượng, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Chương Mỹ, Hoài Đức. Thậm chí, có đơn vị chưa thu đúng, thu đủ giá dịch vụ vệ sinh môi trường.

Kết luận của Thanh tra thành phố Hà Nội nhấn mạnh: Những tồn tại, hạn chế trên thuộc trách nhiệm của Giám đốc các Ban quản lý dự án các quận, huyện được thanh tra, là đơn vị tham mưu, giúp Ủy ban Nhân dân các quận, huyện quản lý công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn. 

Kết luận của Thanh tra thành phố Hà Nội nhấn mạnh: Những tồn tại, hạn chế trên thuộc trách nhiệm của Giám đốc các Ban quản lý dự án các quận, huyện được thanh tra, là đơn vị tham mưu, giúp Ủy ban Nhân dân các quận, huyện quản lý công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn. Trong quá trình tổng hợp nhu cầu, lập hồ sơ mời thầu, các quận, huyện, thị xã đã đăng ký nhu cầu không đúng thực tế thuộc về trách nhiệm của các sở, ngành liên quan.

Thất trách của Trung tâm mua sắm tài sản công (Sở Tài chính) là đã tổng hợp nguyên trạng nhu cầu, không thực hiện việc xác minh, kiểm tra dẫn đến không phát hiện ra những việc kê khai, đăng ký khối lượng không đúng thực tế của các đơn vị, lập báo cáo Sở Tài chính lập hồ sơ mời thầu theo đăng ký nhu cầu của các quận, huyện, thị xã, dẫn tới hồ sơ mời thầu không sát thực tế.

Tất cả những điều trên đã dẫn tới thực trạng lỗi chồng lỗi.

Trong việc xây dựng, ký thỏa thuận khung, các chủ đầu tư và nhà thầu thực hiện gói thầu dịch vụ vệ sinh môi trường theo hình thức “Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh.” Theo đó, đối với những khối lượng công việc trong bảng giá hợp đồng mà thực tế chênh lệch quá 20% khối lượng quy định ban đầu thì hai bên thỏa thuận theo nguyên tắc điều chỉnh đơn giá hợp lý, phù hợp với điều kiện thay đổi khối lượng khi thanh toán cho phần khối lượng thực hiện chênh lệch quá 20% này.

Tuy nhiên, khi Trung tâm mua sắm tài sản công ký Thỏa thuận khung với các nhà thầu và các chủ đầu tư ký với các nhà thầu đã không quy định trong các văn bản. Đến khi triển khai, thực tế đã phát sinh khối lượng bổ sung, mặc dù Ủy ban Nhân dân Thành phố đã có văn bản số 5746/UBND-KT ngày 13/11/2017, yêu cầu Sở Xây dựng và Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã “thương thảo” với nhà thầu thống nhất về khối lượng và giá trị thực tế phát sinh…Theo đó, văn bản 5746/UBND-KT này phải được quy định trong Thỏa thuận khung, trong hợp đồng kinh tế để làm căn cứ pháp lý.

Nhưng trên thực tế, văn bản 5746/UBND-KT lại chưa được Trung tâm mua sắm tài sản công điều chỉnh, bổ sung kịp thời, dẫn đến chưa có căn cứ pháp lý để các chủ đầu tư và nhà thầu thực hiện quyết toán đối với các khối lượng phát sinh vượt giá trị gói thầu, vượt 20% khối lượng hợp đồng.

“Trách nhiệm này thuộc Giám đốc Trung tâm mua sắm tài sản công,” Kết luận của Thanh tra thành phố Hà Nội nêu rõ.

Đối với Sở Xây dựng, Kết luận của Thanh tra thành phố Hà Nội chỉ ra việc cơ quan này đã chậm tham mưu cho Ủy ban Nhân dân thành phố ban hành đơn giá vệ sinh môi trường mới theo quy định; chậm hoàn thiện đề án giá dịch vụ thu gom vận chuyển rác thải trình Ủy ban Nhân dân thành phố xem xét, quyết định…

Mặt khác, Sở Xây dựng cũng chậm hướng dẫn các quận, huyện, thị xã rà soát, bổ sung nội dung điều khoản hợp đồng kinh tế để kiểm soát trách nhiệm của nhà thầu, đảm bảo đúng quy định. Theo Thanh tra thành phố, việc này cũng có một phần nguyên nhân do các quận, huyện, thị xã chậm gửi báo cáo cho Sở Xây dựng…

Ngoài ra, báo cáo của liên Sở Xây dựng-Tài chính, rà soát khối lượng bổ sung các gói thầu dịch vụ công ích vệ sinh môi trường giai đoạn 2017-2020 tại thành phố, cũng cho thấy: Qua tổng hợp giá trị bổ sung kinh phí duy trì vệ sinh môi trường của 22/26 đơn vị, số kinh phí chênh lệch phải bổ sung lên tới 591 tỷ đồng.

Dù liên sở đã báo cáo, Ủy ban Nhân dân thành phố đã chỉ đạo Thanh tra thành phố thanh tra toàn diện các gói thầu, nhưng đến tháng 4/2019, vẫn chưa được giải quyết.

Mặc dù trong bản Kết luận của Thanh tra thành phố đã gọi đích danh và chỉ ra trách nhiệm của các đơn vị liên quan gồm: các quận huyện (trong hạng mục đăng ký lập báo cáo về số lượng); Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Trung tâm mua sắm tài sản công thuộc Sở Tài chính, cũng như cả trách nhiệm của các doanh nghiệp tham gia thầu… Tuy nhiên, khi làm việc với cơ quan chức năng, trách nhiệm lại được xem như “quả bóng” chuyền từ đơn vị này sang đơn vị khác.

Đơn cử như ở huyện Thanh Oai. Trong buổi làm việc với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, sáng 9/7, ông Nguyễn Trọng Khiển-Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện thừa nhận công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác thải trên địa bàn hiện đang rất khó khăn, do địa bàn ngõ xóm rộng, trong khi tiền giá dịch vụ thấp.

Tuy nhiên, khi đề cập tới trách nhiệm của huyện trong việc kê khai, đăng ký khối lượng, chiều dài ngõ xóm trong bài thầu thấp hơn nhiều so với thực tế, ông Khiển cho rằng vấn đề này Ủy ban Nhân dân huyện đã giao Ban Quản lý Dự án huyện Thanh Oai quản lý. Vì thế, thông tin cụ thể, đơn vị này mới nắm được.

Theo chỉ dẫn của địa phương, phóng viên tiếp tục làm việc với lãnh đạo Ban Quản lý Dự án huyện Thanh Oai, nhưng đến lượt đơn vị này đá “quả bóng trách nhiệm” sang Phòng Quản lý Đô thị.

Ông Nguyễn Đăng Toàn Thắng-Phó Giám đốc Ban Quản lý Dự án giải thích rằng, Ban ông mới tiếp nhận công việc từ năm 2018, trước đó việc kê khai, đăng ký khối lượng, chiều dài các tuyến đường ngõ xóm là do Phòng quản lý Đô thị huyện triển khai từ năm 2016 và vị trưởng phòng, người được cho là trực tiếp xử lý thì đã nghỉ hưu. Với cách giải thích này, thì việc kê khai, đăng ký bài thầu sai thực tế là “câu chuyện của quá khứ,” chẳng liên quan gì đến những người đương chức!

Quay trở lại câu chuyện với Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Oai, ông Khiển lúc đầu lập luận rằng, việc nhà thầu đã nhận thầu, mà không kiểm tra đối chiếu thì là lỗi của doanh nghiệp! Nhưng sau khi được cung cấp tài liệu rằng, doanh nghiệp đã kiểm tra, thống kê lại, nhưng phần khối lượng bổ sung không được chấp thuận do chủ đầu tư đưa ra bài thầu quá gấp gáp thì Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Oai lại xuê xoa: “Lỗi do huyện cũng được, chả sao. Miễn thành phố điều chỉnh bài thầu, điều chỉnh giá dịch vụ là được!”

Sau một hồi ban chuyền lòng vòng ở các Ban cấp huyện, “quả bóng trách nhiệm” được Thanh Oai đá lên lên thành phố: Lỗi của thành phố là chậm điều chỉnh đơn giá dịch vụ,” Phó Chủ tịch huyện Thanh Oai Nguyễn Trọng Khiển nói chắc như đinh đóng cột…

Sau một hồi ban chuyền lòng vòng ở các Ban cấp huyện, “quả bóng trách nhiệm” được Thanh Oai đá lên lên thành phố: Lỗi của thành phố là chậm điều chỉnh đơn giá dịch vụ,” Phó Chủ tịch huyện Thanh Oai Nguyễn Trọng Khiển nói chắc như đinh đóng cột…

Ông Nguyễn Đăng Toàn Thắng-Phó Giám đốc Ban quản lý dự án Thanh Oai cũng nội dung này tỏ ra khéo léo hơn: “Phía địa phương chúng tôi đã có đề xuất, kiến nghị lên các sở và thành phố, nhưng đến nay vẫn chưa được điều chỉnh. Lý do có thể là do thành phố gặp khó về nguồn vốn…”

Riêng về việc kê khai, đăng ký khối lượng, chiều dài các tuyến đường ngõ xóm đưa ra trong bài thầu thấp hơn nhiều so với thực tế doanh nghiệp phải làm, theo ông Thắng lỗi không hẳn do địa phương, mà có thể là do cách tính của thành phố, cụ thể là Trung tâm mua sắm tài sản công của Sở Tài chính để tự cân đối!

Nhìn nhận từ góc độ chính quyền cấp cơ sở, ông Hoàng Xuân Hùng-Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tiên Dương, huyện Đông Anh cũng cho rằng đây là trách nhiệm chung, nhưng lỗi và trách nhiệm lớn nhất ở đây là việc “áp” bài thầu với khối lượng, chiều dài các tuyến đường ngõ xóm thấp hơn nhiều so với thực tế.

Như lời ông Hùng phân tích, thì lỗi là do bài thầu “có vấn đề,” mà bài thầu lại do chủ đầu tư là Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã kê khai, đăng ký. Như vậy, trách nhiệm chính là do chủ đầu tư. Thực tế này cũng đã được Thanh tra thành phố Hà Nội kết luận: “Khi thực hiện đăng ký nhu cầu đấu thầu, Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã đã thu thập thông tin, tổng hợp đăng ký nhu cầu chưa sát thực tế, một số hạng mục thừa/thiếu, nên khi thực hiện phát sinh khối lượng.”

Để rõ hơn về vấn đề trên, ngày 25/6, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã gửi thông tin liên hệ, đề nghị được trao đổi cụ thể với lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Đông Anh, nhằm làm rõ hơn về những vấn đề còn đang bất cập, cũng như trách nhiệm của chủ đầu tư, qua đó kiến nghị điều chỉnh. Vậy nhưng, sau hơn 3 tuần gửi thông tin, nhiều lần liên hệ trực tiếp và thông qua Văn phòng của Ủy ban Nhân dân huyện, nhưng đến nay, Báo Điện tử VietnamPlus vẫn không có được cuộc tiếp xúc nào để đem câu trả lời đến cho công luận…

Quýt, bưởi, bòng, lê, táo sai, cam chịu!

Trong khi các sở, ban, ngành, đặc biệt là chủ đầu tư các quận, huyện, thị xã đang chối bỏ trách nhiệm của mình và đổ lỗi cho nhau, thì các doanh nghiệp môi trường vẫn ngày này qua ngày khác bỏ tiền túi để “làm sạch thành phố.” Bởi, nếu họ dừng lại không làm thì không chỉ vùng ven đô ngập rác, mà rác cũng sẽ tràn vào nội đô và chẳng mấy chốc cả Hà Nội- Thủ đô ngàn năm văn hiến sẽ ngập rác?!

Lối nào cho Hà Nội

thoát khỏi “ma trận” thầu xử lý rác thải tập trung?

Rác thải từ lâu luôn là mối đe dọa khẩn cấp và tiềm tàng với Hà Nội. Một đô thị lớn với tốc độ phát triển chóng mặt, dân cư đông, vấn đề vệ sinh môi trường, thu gom, xử lý rác thải càng trở nên nan giải và bất cập, nhất là từ khi Hà Nội triển khai chủ trương đấu thầu tập trung, với các tiêu chí bài thầu gây nhiều tranh cãi.

Không chỉ khâu xử lý rác còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, mà ngay từ công tác thu gom, vận chuyển rác thải cũng đang khiến các cấp chính quyền “đau đầu,” doanh nghiệp “chịu trận,” và người dân lo lắng, nhất là mỗi khi bãi rác Nam Sơn “hắt xì” là cả Hà Nội lại “sổ mũi” vì ngập ngụa rác thải và ô nhiễm bủa vây.

Hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp vệ sinh môi trường và người dân Hà Nội đang mong mỏi thành phố có biện pháp điều chỉnh cấp bách, để “cởi trói” những khó khăn trong công tác “làm sạch thành phố” bằng cơ chế “mở cửa” chính sách…

Phát biểu tại lễ phát động ra quân toàn quốc “phong trào chống rác thải nhựa” diễn ra vào ngày 9/6, tại khu vực hồ Hoàn Kiếm, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, khẳng định cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và tốc độ đô thị hóa cao, thành phố Hà Nội đang phải đối mặt với những tác động không nhỏ do ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.

Theo đó, ông Chung cho biết, mỗi ngày, trên địa bàn thành phố phát sinh từ 5.500-6.000 tấn rác sinh hoạt, trong đó, rác thải nhựa chiếm đến 8-10%. Với đặc tính bền, khó phân hủy, các sản phẩm nhựa và túi nilon đã và đang là một thách thức đối với môi trường, gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

Trước đó, cuối năm 2018, khi làm việc với Sở Xây dựng, Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải cũng đã tỏ ra vô cùng sốt ruột với các dự án xử lý rác chậm tiến độ ở trên địa bàn, đồng thời nhấn mạnh thành phố “không còn đường lùi.”

Mới đây, báo cáo giám sát của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội công bố cuối tháng 6/2019, cũng cho thấy, tổng khối lượng rác thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình trên địa bàn thành phố hiện nay khoảng 6.500 tấn/ngày, trong đó khối lượng phát sinh trên địa bàn 12 quận và thị xã Sơn Tây khoảng 3.500 tấn/ngày; 17 huyện ngoại thành Hà Nội khoảng 3.000 tấn/ngày, cơ bản được vận chuyển để xử lý.

Tuy nhiên, rác thải trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay vẫn chủ yếu đem chôn lấp đến 89%, hầu như chưa hề có các nhà máy xử lý chất thải công nghệ cao, và đây chính là nguồn cơn của nỗi nhức đầu vì rác.

Đáng lo là, trong số 6.500 tấn rác Hà Nội thải ra mỗi ngày, thì Khu liên hợp xử lý chất thải-bãi rác lớn nhất thành phố đã phải “hứng” tới 4.500-4.700 tấn, nên chỉ cần bãi rác này “hắt xì” là cả Hà Nội lại “sổ mũi.”

Điều này thấy rõ qua ghi nhận của phóng viên vào liên tiếp trong những ngày bãi rác Nam Sơn bị “phong tỏa,” nhất là ngày 5/7, sau gần 1 tuần ùn ứ rác thải, người dân nhiều khu vực của Hà Nội đã khốn khổ vì rác bủa vây và mùi ô nhiễm.

Từ những bất cập trong công tác vệ sinh môi trường, thu gom rác, Ban Đô thị Hội đồng Nhân dân thành phố đã kiến nghị Ủy ban Nhân dân Thành phố sớm giải quyết đề nghị của các quận, huyện về giá trị bổ sung kinh phí duy trì vệ sinh môi trường do phát sinh tăng khối lượng thu gom, vận chuyển rác thải so với hồ sơ mời thầu (giai đoạn 3 năm 10 tháng) đã được liên sở báo cáo.

Đặc biệt, Ủy ban Nhân dân thành phố cần chỉ đạo các Sở Xây dựng, Tài chính, Kế hoạch và đầu tư; Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, đơn vị cung ứng dịch vụ duy trì vệ sinh môi trường khẩn trương xây dựng kế hoạch, phương án thực hiện thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trong ngày đạt 100% ở mọi khu vực.

Trên cơ sở đó, Ban Đô thị Hội đồng Nhân dân thành phố cũng yêu cầu Sở Xây dựng cần tăng giám sát nhà thầu; kịp xử lý, kiến nghị thành phố xử lý nghiêm đơn vị không đáp ứng đủ yêu cầu gói thầu, hay vi phạm.

Trong điều kiện rác thải phát sinh ngày càng nhiều, phần lớn các huyện cũng kiến nghị Ủy ban Nhân dân thành phố sớm cho phép bổ sung khối lượng thu gom rác ngõ xóm theo khối lượng thực hiện thực tế còn thiếu trong gói thầu, để đảm bảo công tác vệ sinh môi trường, thu gom, vận chuyển rác thải được triển khai đồng bộ.

Điển hình như huyện Phú Xuyên kiến nghị điều chỉnh số km vệ sinh ngõ xóm từ 235km trong gói thầu lên 536km theo nhu cầu thực tế. Đồng thời tăng khối lượng vận chuyển rác từ địa bàn huyện về khu xử lý tập trung của thành phố từ 85 tấn/ngày lên 95 tấn/ngày, đảm bảo hết lượng rác thu gom trong ngày.

Huyện Thường Tín cũng đề nghị thành phố, Sở Xây dựng Hà Nội có kế hoạch tiếp nhận rác tồn, nâng chỉ tiêu phân luồng xử lý rác của huyện lên 180 tấn/ngày.

Tương tự, huyện Chương Mỹ kiến nghị Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội điều chỉnh lượng rác phân luồng của huyện về khu xử lý từ 145 tấn/ngày lên 163 tấn/ngày, để đảm bảo rác thải không bị tồn đọng nhiều tại các điểm tập kết.

Điển hình như huyện Phú Xuyên kiến nghị điều chỉnh số km vệ sinh ngõ xóm từ 235km trong gói thầu lên 536km theo nhu cầu thực tế. Đồng thời tăng khối lượng vận chuyển rác từ địa bàn huyện về khu xử lý tập trung của thành phố từ 85 tấn/ngày lên 95 tấn/ngày.

Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân huyện Chương Mỹ cũng đề nghị Ủy ban Nhân dân thành phố sớm ban hành các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá còn thiếu trong lĩnh vực vệ sinh môi trường để làm căn cứ thực hiện. Xem xét điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải.

Về phía doanh nghiệp, trước mắt để sớm tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị trong việc triển khai thu gom rác hàng ngày, thì cần thiết Ủy ban Nhân dân thành phố cho phép áp dụng tạm thời mức thu giá dịch vụ từ 3.000/người lên 10.000 đồng/người/tháng, giúp đảm bảo nguồn cân đối thanh toán cho khối lượng duy trì vệ sinh ngõ xóm.

Trên cơ sở đó, Thanh tra thành phố Hà Nội cũng kiến nghị Ủy ban Nhân dân thành phố rà soát lại nội dung Thỏa thuận khung, Hợp đồng kinh tế của các gói thầu, nhất là những tồn tại của bài thầu, đảm bảo việc điều chỉnh giá, điều chỉnh khối lượng của hợp đồng, cũng như việc thanh quyết toán các khối lượng vệ sinh môi trường phát sinh bổ sung phải tuân thủ theo quy định của Luật Đấu thầu./.

Thiết kế mỹ thuật: Thanh Trà

Hành trình đi tìm công lý cho nạn nhân da cam

Cách đây 58 năm, quân đội Mỹ bắt đầu rải chất độc da cam/dioxin, một trong những hóa chất độc hại nhất với con người, ở Việt Nam.

Đúng 15 năm trước, các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đã đệ đơn lên tòa án Mỹ kiện các công ty hóa chất sản xuất những loại hóa chất đã được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, khởi đầu cho một tiến trình bền bỉ đòi công lý cho những người phải hứng chịu nỗi đau dai dẳng này.  

Trong 10 năm từ năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học với 61% là chất da cam/dioxin xuống gần 26.000 thôn bản với diện tích hơn 3 triệu hecta tại Việt Nam. Trong đó, 86% số diện tích bị rải chất độc 2 lần và 11% bị rải tới 10 lần. Tổng cộng có tới 366kg dioxin đã bị phun, rải trên 1/4 tổng diện tích miền Nam Việt Nam, vượt gấp 17 lần mật độ cho phép sử dụng trong nông nghiệp Mỹ.

Đúng 15 năm trước, các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đã đệ đơn lên tòa án Mỹ kiện các công ty hóa chất sản xuất những loại hóa chất đã được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã phân loại dioxin là một chất gây ung thư ở người, có thể phá hỏng các hệ thống như nội tiết, miễn dịch và thần kinh trong cơ thể. Giới khoa học khẳng định chỉ cần hòa 80 g dioxin vào hệ thống cấp nước thì có thể “giết chết” cả một thành phố với 8 triệu người.

Các nghiên cứu khoa học và thực tế đều chứng minh rằng chất da cam sử dụng trong chiến tranh Việt Nam có liên quan đến bệnh ung thư, bệnh tiểu đường và các trường hợp thai dị dạng, để lại di chứng cho thế hệ sau.

Máy bay phun rải chất dioxin trong chiến tranh Việt Nam. (Nguồn: Getty Images)
Máy bay phun rải chất dioxin trong chiến tranh Việt Nam. (Nguồn: Getty Images)

Theo Hiệp hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (VAVA), ước tính có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin. Ngoài hàng trăm nghìn người đã thiệt mạng vì phơi nhiễm độc chất đáng sợ này, con cháu của họ cũng đang phải vật lộn chống chọi với các di chứng, bệnh tật hiểm nghèo như liệt hoàn toàn hay một phần cơ thể, mù lòa, câm điếc, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, ung thư, dị dạng, dị tật bẩm sinh…

Ước tính có khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin. (Hiệp hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam)

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện ở Việt Nam có hơn 15.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai, 35.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ ba và 2.000 nạn nhân thế hệ thứ tư.

Bên cạnh việc gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người, các chất độc hóa học do đế quốc Mỹ rải xuống Việt Nam còn gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường sinh thái. Cho đến nay, ước tính có khoảng 28 địa điểm vẫn còn khả năng nhiễm dioxin, gây nguy hại đến nguồn cung cấp thực phẩm của Việt Nam và ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Gia đình ông Nguyễn Hữu Dõng, ở xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam có 7 người con bị di chứng chất độc da cam, là một trong 200 hộ gia đình đã từng bước ổn định cuộc sống từ dự án nuôi bò của Quỹ Hòa giải - Hàn gắn vết thương chiến tranh (Mỹ) do Quỹ Bảo trợ nạn nhân da cam hỗ trợ từ năm 2007 (2011). (Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN)
Gia đình ông Nguyễn Hữu Dõng, ở xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam có 7 người con bị di chứng chất độc da cam, là một trong 200 hộ gia đình đã từng bước ổn định cuộc sống từ dự án nuôi bò của Quỹ Hòa giải – Hàn gắn vết thương chiến tranh (Mỹ) do Quỹ Bảo trợ nạn nhân da cam hỗ trợ từ năm 2007 (2011). (Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN)

Không chỉ có người dân Việt Nam, mà ngay cả những binh lính Mỹ, Hàn Quốc, Australia… tham chiến cũng bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin.

Theo báo cáo của Bộ Tư lệnh các lực lượng Hải quân-Không quân Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1968-1970, ít nhất 2,6 triệu lính Mỹ bị phơi nhiễm chất độc da cam, Hàn Quốc có 100.000 trong tổng số 300.000 lính từng tham chiến ở Việt Nam là nạn nhân, trong đó 20.000 người đã chết.

Nước Mỹ sau chiến tranh còn phải đối mặt với “Hội chứng da cam” đeo đẳng toàn xã hội.

Cuối những năm 1970, các cựu binh Mỹ ở Việt Nam bị nhiễm hóa chất này đã bắt đầu khởi kiện.

Cuối những năm 1970, các cựu binh Mỹ ở Việt Nam bị nhiễm hóa chất này đã bắt đầu khởi kiện. Do Chính phủ Mỹ  sử dụng điều luật miễn trừ trách nhiệm, cho phép chính phủ không thể bị kiện, ngay cả trong trường hợp cáo buộc sơ suất, nên các vụ kiện bắt đầu chuyển hướng cáo buộc các công ty hóa chất đã sản xuất và bán chất độc da cam/dioxin cho quân đội Mỹ, phạm tội ác chiến tranh và đòi bồi thường.

Các vụ kiện trên dẫn đến một cuộc dàn xếp hồi năm 1984, theo đó các công ty hóa chất Mỹ, trong đó có Dow Chemical, Monsanto và  một số công ty khác, chấp nhận bồi thường 180 triệu USD cho các cựu binh Mỹ bị ảnh hưởng chất độc này. Năm 2003, Bộ Cựu Chiến binh cũng đã đồng ý bồi thường và Quốc hội Mỹ đã cấp 13,3 tỷ USD cho mục đích này.

Các cựu binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam tuần hành kêu gọi ủng hộ các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin của cả Mỹ và Việt Nam. (Nguồn: couragetoresist.org)
Các cựu binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam tuần hành kêu gọi ủng hộ các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin của cả Mỹ và Việt Nam. (Nguồn: couragetoresist.org)

Tuy nhiên, hành trình đòi công lý cho các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam, những người phải trực tiếp hứng chịu nỗi đau tàn khốc cả về thể xác lẫn tinh thần do chất độc này gây ra, khá gian nan.

Năm 2004, cùng với sự ra đời của VAVA, lần đầu tiên một số nạn nhân người Việt Nam đứng đơn cùng VAVA tiến hành khiếu kiện dân sự  37 công ty sản xuất hóa chất Mỹ, trong đó có Monsanto, yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Cuộc đấu tranh đòi công lý này đã nhận sự ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, song tháng 3/2009, Tòa án Tối cao Mỹ đã bác bỏ đơn kiện của các nạn nhân chất da cam/dioxin Việt Nam.

Hành trình đòi công lý cho các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam, những người phải trực tiếp hứng chịu nỗi đau tàn khốc cả về thể xác lẫn tinh thần do chất độc này gây ra, khá gian nan. 

Luật sư Mỹ Jonathan Moore, cố vấn pháp lý cho các nguyên đơn Việt Nam khi đó nói rằng quyết định “phủ nhận công lý đối với hàng triệu người Việt Nam, những người đang chịu đựng đau khổ do việc rải chất da cam có chứa dioxin khiến cho vài thế hệ nạn nhân bị đau ốm và tàn tật nặng nề, là đi ngược lại luật pháp Mỹ và quốc tế.”

Hội đồng Hòa bình Mỹ cho rằng thật bất công và tàn nhẫn khi các cựu chiến binh Mỹ bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin đã được bồi thường, nhưng các tòa án Mỹ vẫn giữ ý kiến rằng dioxin chỉ là một chất diệt cỏ và quân đội Mỹ đã “không chủ ý gây hại cho người Việt Nam.”

Từ đó tới nay, VAVA cùng các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam vẫn kiên trì mục tiêu đấu tranh đòi công lý, tiếp tục phối hợp với các luật sư quốc tế để chuẩn bị cho các hành động pháp lý khác trong thời điểm thích hợp.

Bên cạnh đó, VAVA cũng ủng hộ, hỗ trợ hoạt động đấu tranh đòi công lý của các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, như vụ bà Trần Tố Nga, sinh năm 1942, nạn nhân bị phơi nhiễm trực tiếp chất độc da cam/dioxin, khởi kiện 26 công ty hóa chất Mỹ lên tòa án Pháp tháng 5/2014. Cùng với hoạt động đấu tranh pháp lý, các phương thức đấu tranh chính trị, ngoại giao khác cũng được triển khai.

Sau 6 tháng điều tra và 2 ngày xét xử, kết thúc phiên tòa luận tội Công ty hóa chất Monsanto (Mỹ), ngày 18/4/2017, Tòa án Quốc tế tại La Haye (Hà Lan) đã ra phán quyết kết án Công ty Monsanto về tội hủy diệt môi trường, gây tác hại lâu dài tới hệ sinh thái và cuộc sống của người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Sau 6 tháng điều tra và 2 ngày xét xử, kết thúc phiên tòa luận tội Công ty hóa chất Monsanto (Mỹ), ngày 18/4/2017, Tòa án Quốc tế tại La Haye (Hà Lan) đã ra phán quyết kết án Công ty Monsanto về tội hủy diệt môi trường, gây tác hại lâu dài tới hệ sinh thái và cuộc sống của người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Trên thực tế, hành trình đòi công lý của các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam không đơn độc. Nhiều tiếng nói quốc tế, cả cá nhân lẫn các tổ chức, từ cả chính giới Mỹ, đã đồng loạt ủng hộ cuộc đấu tranh này.

Tháng 5/2009, một tòa án “lương tâm nhân dân” quốc tế được thiết lập tại Paris, kết luận Chính phủ Mỹ là thủ phạm sử dụng chất dioxin mà hậu quả của nó đối với môi trường của Việt Nam có thể coi là “hủy diệt môi trường”; các công ty hóa chất là tòng phạm của các hành động này; Chính phủ Mỹ và các công ty hóa chất phải bồi thường toàn bộ cho các nạn nhân chất độc da cam/dioxin và gia đình của họ.

Ngày 18/4/2017, Tòa án quốc tế về Monsanto tại La Haye, Hà Lan công bố kết luận rằng công ty Monsanto đã hủy diệt môi trường, gây thiệt hại cho người dân Việt Nam. Do đây là phiên tòa công dân nên kết luận chỉ là kiến nghị tham vấn, không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý.

Hành trình đòi công lý của các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam không đơn độc.

Tuy nhiên, kiến nghị tham vấn được chuyển đến Liên hợp quốc, Tòa án Hình sự quốc tế (ICC), Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc và tập đoàn Monsanto. Các nạn nhân của Monsanto có thể sử dụng các luận điểm pháp lý trong kiến nghị tham vấn để kiện Monsanto. Bản thân các nghị sĩ Mỹ cũng đã đưa ra 4 dự luật yêu cầu Chính phủ Mỹ tham gia khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam.

Tại Mỹ, năm ngoái, tòa án ở San Francisco yêu cầu Monsanto nộp phạt  250 triệu USD và bồi thường thiệt hại 39 triệu USD trong vụ người làm vườn Dewayne Johnson, bị ung thư giai đoạn cuối, kiện Monsato đã không cảnh báo nguy cơ thuốc diệt cỏ Roundup của hãng này có thể gây ung thư.

Ngày 13/5 vừa qua, bồi thẩm đoàn tại bang California đã ra phán quyết yêu cầu Monsanto bồi thường hơn 2 tỷ USD cho một cặp vợ chồng mắc ung thư vì thuốc diệt cỏ Roundup. Trước đó, Monsanto cũng bị kết tội ở Pháp trong vụ việc một nông dân ở nước này bị ngộ độc hóa chất sau khi sử dụng thuốc diệt cỏ trên.

Phán quyết của các tòa án nước ngoài là án lệ bác lại những luận điểm trước đây cho rằng chất diệt cỏ mà Monsanto sản xuất cho quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là không gây tác hại cho sức khỏe con người.

Ngày 7/11/2018, Việt Nam và Mỹ đã hoàn tất Dự án Xử lý môi trường ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng kéo dài 6 năm với kinh phí 110 triệu USD, một trong 2 điểm nóng ô nhiễm chất độc da cam/dioxin lớn nhất ở Việt Nam, sau sân bay Biên Hòa (Đồng Nai). (Ảnh: Nguyễn Sơn/TTXVN)
Ngày 7/11/2018, Việt Nam và Mỹ đã hoàn tất Dự án Xử lý môi trường ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng kéo dài 6 năm với kinh phí 110 triệu USD, một trong 2 điểm nóng ô nhiễm chất độc da cam/dioxin lớn nhất ở Việt Nam, sau sân bay Biên Hòa (Đồng Nai). (Ảnh: Nguyễn Sơn/TTXVN)

Ngoài ra, trước sức ép của công luận và tiến triển tích cực của quan hệ Việt-Mỹ, phía Mỹ đã có những đóng góp bước đầu cho việc khắc phục “nỗi đau” da cam/dioxin. Mỹ đã ký Bản ghi nhận ý định về hỗ trợ người khuyết tật tại các tỉnh bị phun rải chất độc da cam/dioxin và chính thức triển khai tẩy độc tại Sân bay Biên Hòa…

Cuộc đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam được dự báo sẽ kéo dài, bởi các công ty lớn như Monsanto luôn tìm cách trì hoãn, kéo dài và làm phức tạp vụ kiện.

Tuy nhiên, với sự ủng hộ ngày càng cao của cộng đồng quốc tế, cuộc đấu tranh sẽ tiếp tục cho đến khi công lý cho tất cả các nạn nhân chất da cam/dioxin Việt Nam và những ai là nạn nhân của chiến dịch “chiến tranh hóa học” do Chính phủ Mỹ tiến hành ở Việt Nam, được thực thi./.

ASEAN gắn kết vì một cộng đồng bền vững

Lịch sử phát triển của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong 52 năm qua (8/8/1967-8/8/2019) đã chứng minh hiệp hội có  vai trò quan trọng trong việc đưa Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, thịnh vượng và ổn định, từ một khu vực kinh tế lạc hậu trở thành một đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập toàn cầu.

ASEAN đang ngày càng khẳng định sự gắn kết chính trị, hội nhập kinh tế, chịu trách nhiệm xã hội và lấy con người làm trung tâm dựa trên các quy tắc phát triển bền vững.

Thành công quan trọng nhất của ASEAN trong suốt hơn 5 thập niên qua là đảm bảo duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Đông Nam Á, các quốc gia thành viên xây dựng được mối quan hệ hợp tác ngày càng tốt đẹp. Những khác biệt giữa các thành viên, những bất đồng hay tranh chấp nhất định đều được ngăn chặn và hóa giải trên cơ sở lợi ích chung.

Thành công quan trọng nhất của ASEAN trong suốt hơn 5 thập niên qua là đảm bảo duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Đông Nam Á.

Với nguyên tắc đề cao an ninh tập thể, việc ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống như tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, quản lý thiên tai, ma túy, dịch bệnh, các vấn đề môi trường… đã được nâng lên tầm hợp tác khu vực.

Các vấn đề an ninh phi truyền thống luôn trở thành mục tiêu then chốt trong đàm phán chính sách và hợp tác trong nhiều cơ chế của ASEAN và do ASEAN dẫn dắt như Hội nghị Bộ trưởng các vấn đề ma túy ASEAN (AMMD), Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và ADMM mở rộng, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).

Các nhà lãnh đạo ASEAN chụp ảnh chung tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 34 ở Bangkok (Thái Lan), sáng 23/6/2019. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Các nhà lãnh đạo ASEAN chụp ảnh chung tại Lễ khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 34 ở Bangkok (Thái Lan), sáng 23/6/2019. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM-52) mới đây ở Bangkok, Thái Lan, các bộ trưởng đã tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác duy trì và thúc đẩy hòa bình, ổn định khu vực, xử lý hữu hiệu các thách thức đang nổi lên, thúc đẩy an ninh bền vững trong khu vực thông qua củng cố lòng tin chiến lược và sự tin tưởng lẫn nhau giữa các nước ASEAN và các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.…

Khu vực ASEAN là  câu chuyện thành công về kinh tế ở các nước đang phát triển, hầu như tất cả các quốc gia thành viên ASEAN đều đạt mức vượt trội so với tăng trưởng toàn cầu trong một thời gian dài. ASEAN cũng được đánh giá là hội nhập khu vực thành công nhất ở các nước đang phát triển và là một mô hình của chủ nghĩa khu vực mở, đây cũng là điểm đến lớn thứ hai (chỉ đứng sau Trung Quốc) cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong thập niên qua.

Khu vực ASEAN là câu chuyện thành công về kinh tế ở các nước đang phát triển, hầu như tất cả các quốc gia thành viên ASEAN đều đạt mức vượt trội so với tăng trưởng toàn cầu.

Thế giới cũng chứng kiến ASEAN nhanh chóng trở thành một khu vực kinh tế năng động, có quy mô lớn thứ sáu trên toàn cầu với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2018 đạt gần 3.000 tỷ USD, tăng gấp 100 lần so với mức khiêm tốn chưa đầy 30 tỷ USD ban đầu. Dự báo tăng trưởng kinh tế toàn khối sẽ đạt từ 4,9–5,2% trong năm 2019.

Với đà phát triển năng động và tiềm năng lớn, dự kiến, ASEAN sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới vào năm 2050. ASEAN chính là nhân tố quan trọng tạo ra sự thay đổi lớn về sức mạnh kinh tế ở châu Á và quá trình tái tổ chức các cường quốc trong khu vực.

Trong suốt chặng đường dài từ khi thành lập đến nay, ASEAN đã luôn hướng tới sự phát triển bền vững với các tiêu chí tăng trưởng xanh và bao trùm, xác định và đáp ứng nhu cầu xã hội, tăng cường trao quyền và sự tham gia, kết nối của mọi người dân, cải thiện quản trị và củng cố các yếu tố xã hội phục vụ con người.

(Nguồn: dti.gov.ph)
(Nguồn: dti.gov.ph)

Trong bối cảnh khu vực và toàn cầu đang trải qua sự thay đổi lớn về kinh tế và địa chính trị, những thách thức mới mà ASEAN phải đối mặt trong tương lai sẽ khác nhiều so với 5 thập niên qua.

Thay đổi trong quan hệ giữa các cường quốc tại châu Á-Thái Bình Dương là nguyên nhân dẫn đến nhiều bất ổn địa-chính trị, các hình thức xung đột về tranh chấp lãnh thổ ngày càng phức tạp, cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt, trong đó Đông Nam Á là vòng trung tâm,…  làm cho môi trường an ninh khu vực đứng trước nhiều nguy cơ bất ổn, tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến ASEAN.

ASEAN luôn đặt ra mục tiêu hàng đầu về duy trì sự ổn định, an ninh khu vực, đối phó với những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống trên cơ sở tính đến lợi ích chung lớn nhất. Chính sự ổn định, hòa bình ở khu vực Đông Nam Á sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi, đưa khu vực đạt được những bước phát triển kinh tế, xã hội bền vững.

 Trong 2 thập niên tới, châu Á sẽ là trung tâm của nền kinh tế toàn cầu và ASEAN nằm ở trung tâm địa lý của khu vực thị trường phát triển nhanh nhất thế giới.

Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới diễn biến phức tạp như hiện nay, chỉ có thúc đẩy hơn nữa đoàn kết, thống nhất, phát huy tính tự lực, tự cường,  ASEAN mới có thể giữ vững được vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực mở, qua đó đảm bảo được an ninh bền vững tại khu vực để có thể cùng nhau phát triển.

Theo Viện Nghiên cứu kinh tế về ASEAN và Đông Á (ERIA), trong 2 thập niên tới, châu Á sẽ là trung tâm của nền kinh tế toàn cầu và ASEAN nằm ở trung tâm địa lý của khu vực thị trường phát triển nhanh nhất thế giới. Sự tăng trưởng thương mại của Ấn Độ và dòng đầu tư ASEAN-Trung Quốc sẽ trở thành một vòng cung vàng tiềm năng mới của sự phát triển.

Điều đó sẽ khiến ASEAN và phần còn lại của châu Á phải bảo đảm một hệ thống thương mại mở và những đường hướng phát triển phù hợp để nắm bắt những cơ hội lớn. Bên cạnh đó, sự tăng tốc về chuyển đổi kỹ thuật số và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những thay đổi đột phá về công nghệ sẽ tạo ra một cơ hội lớn cho tiến bộ kinh tế và xã hội, nhưng cũng đặt ra những rủi ro mà ASEAN sẽ phải quản lý.

Nghi lễ thượng cờ ASEAN tại CHDCND Lào. (Ảnh: Xuân Tú/TTXVN)
Nghi lễ thượng cờ ASEAN tại CHDCND Lào. (Ảnh: Xuân Tú/TTXVN)

ASEAN cũng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt vì hạn chế về năng lực công nghệ, nhân lực lành nghề và tài năng khoa học, kỹ thuật so với Trung Quốc, Ấn Độ hay Nhật Bản và các nền kinh tế tiên tiến của Đông Bắc Á. Sự bền vững của tăng trưởng ASEAN cũng sẽ chịu áp lực ngày càng tăng, các vấn đề như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng trong phát triển, nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý thiên tai… cũng gây ra nhiều tác động.

Để đối mặt với những thách thức này, ASEAN có thể hướng tới một phương thức hoạt động chủ động hơn nữa với các chiến lược rõ ràng để dự báo các lợi ích cốt lõi trên cơ sở các cấu trúc mới, qua đó hình thành các chiến lược phát triển tương ứng.

ASEAN cần có những bước đi táo bạo để bảo đảm sự tăng trưởng toàn diện và bền vững cũng như vai trò trung tâm của hiệp hội trong các vấn đề khu vực và vị thế mới trên thế giới.

Bên cạnh những thách thức tất yếu, các biến động này cũng sẽ mang lại cho ASEAN nhiều cơ hội mới để phát triển, vì vậy, ASEAN cần có những bước đi táo bạo để bảo đảm sự tăng trưởng toàn diện và bền vững cũng như vai trò trung tâm của hiệp hội trong các vấn đề khu vực và vị thế mới trên thế giới.

Cộng đồng ASEAN đang tiếp tục hướng tới một ASEAN năng động, chủ động, thích ứng và đổi mới, nắm bắt các công nghệ hiện đại và các chính sách thực tiễn tốt nhất, một ASEAN quản lý tốt, bền vững và an toàn năng lượng, tập trung vào trao quyền và tạo cơ hội hòa nhập cho mọi người… Cộng đồng cũng mong muốn được sống trong môi trường ít ô nhiễm và quản lý bền vững hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Bên cạnh đó, Cộng đồng ASEAN sẽ có tiếng nói quan trọng trên toàn cầu và là nhân tố tích cực thúc đẩy cho hòa bình, ổn định ở khu vực rộng lớn hơn. Xây dựng một ASEAN bền vững trên cả ba trụ cột  hướng tới người dân là mục tiêu hàng đầu và điều đó phụ thuộc phần lớn vào sự đoàn kết, bản lĩnh và ý chí của các nước thành viên./.

Lối mòn bế tắc trong câu chuyện bạo lực súng đạn ở Mỹ

Hai thảm họa xả súng liên tiếp xảy ra cách nhau chưa đầy 13 giờ đồng hồ trong hai ngày cuối tuần tại thành phố El Paso, bang Texas và thành phố Dayton thuộc bang Ohio của Mỹ cướp đi sinh mạng của gần 30 người và khiến hàng chục người khác bị thương, một lần nữa khiến làn sóng yêu cầu siết chặt việc sở hữu súng đạn tại nước này trỗi dậy.

Không thể phủ nhận tình trạng bạo lực súng đạn đang hoành hành tại Mỹ, song với việc Hiến pháp Mỹ cho phép người dân được sở hữu súng đạn, rõ ràng việc “đảo ngược” quy định trên là bài toán khó, bởi để vượt qua rào cản pháp lý này, bất kỳ dự luật kiểm soát súng đạn nào cũng phải được thông qua tại hạ viện và thượng viện.

Loạt vụ xả súng lần này có dấu hiệu đang bị biến thành “công cụ” để các bên chỉ trích và đổ lỗi cho nhau, trong bối cảnh vòng đua hướng tới cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 đã khởi động.

Và cũng tương tự như các vụ xả súng trước đây, trên chính trường Mỹ, cuộc tranh cãi giữa phe ủng hộ siết chặt quy định sở hữu súng đạn và phe hậu thuẫn cho quyền sở hữu súng đạn lại gay gắt thêm.

Thậm chí, loạt vụ xả súng lần này có dấu hiệu đang bị biến thành “công cụ” để các bên chỉ trích và đổ lỗi cho nhau, trong bối cảnh vòng đua hướng tới cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 đã khởi động.

Hai vụ bạo lực súng đạn mới nhất, trong đó vụ tại một siêu thị Wal-Mart ở thành phố El Paso khiến ít nhất 20 người thiệt mạng và vụ ở Dayton khiến 9 người thiệt mạng là vụ xả súng thứ 250 và 251 tại Mỹ trong 216 ngày vừa qua của năm 2019, theo số liệu của tổ chức Gun Violence Archive. Điều này đồng nghĩa với việc trung bình tại Mỹ xảy ra hơn 1 vụ bạo lực súng đạn mỗi ngày. Cũng theo tổ chức trên, trong năm nay, hơn 520 người đã thiệt mạng trong các vụ xả súng đẫm máu và ít nhất 2.000 người bị thương.

Cảnh sát gác tại hiện trường vụ xả súng ở Dayton, Ohio, Mỹ, ngày 4/8. (Nguồn: AP/TTXVN)
Cảnh sát gác tại hiện trường vụ xả súng ở Dayton, Ohio, Mỹ, ngày 4/8. (Nguồn: AP/TTXVN)

Những kết quả điều tra ban đầu đã nhắc tới tư tưởng thù hận sắc tộc và cực đoan kiểu “chủ nghĩa da trắng thượng đẳng” trong các vụ xả súng mới nhất. Sự trỗi dậy của tư tưởng “người da trắng thượng đẳng” được cho là nguyên nhân gây ra nhiều vụ bạo lực, thù hận mang tính dân tộc, tôn giáo ở Mỹ thời gian qua.

Theo trung tâm nghiên cứu New America, trong giai đoạn từ năm 2017-2018, số người thiệt mạng trong các vụ bạo lực có tư tưởng cực hữu nhiều hơn trong các vụ bạo lực do các phần tử thánh chiến tiến hành. Bên cạnh đó, thủ phạm vụ xả súng ở El Paso thể hiện sự ủng hộ đối với tay súng thực hiện vụ thảm sát nhằm vào 2 đền thờ Hồi giáo tại Christchurch, New Zealand hồi tháng 3 vừa qua, khiến 51 người thiệt mạng.

Gốc rễ của vấn nạn xả súng nằm ở chỗ chính giới Mỹ bất đồng trong việc kiểm soát súng đạn và sự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích.

Tuy nhiên, đấy mới chỉ là bề nổi tảng băng chìm, bởi gốc rễ của vấn nạn xả súng nằm ở chỗ chính giới Mỹ bất đồng trong việc kiểm soát súng đạn và sự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích. Ngay sau khi xảy ra hai vụ xả súng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã lên án hành động tấn công trên, đồng thời khẳng định thù ghét không có chỗ tại Mỹ và để ngỏ khả năng kiểm soát súng đạn.

Kể từ nhậm chức Tổng thống Mỹ cho đến nay, ông Trump đã đưa ra một số biện pháp kiểm soát súng như tăng tuổi tối thiểu được phép mua súng trường và siết chặt kiểm soát đối tượng được phép mua loại vũ khí này, hay cấm các thiết bị độ súng (bump-stocks), giúp chuyển đổi những khẩu súng bán tự động thành súng bắn nhanh như súng tự động.

Tuy nhiên, các biện pháp của ông chỉ dừng ở mức độ hạn chế, chứ chưa đủ sức răn đe hay siết chặt việc sở hữu súng. Bằng chứng là “bóng ma” bạo lực súng đạn vẫn tiếp diễn hằng ngày.

Tổng thống Mỹ Donald Trump (phải) phát biểu tại Nhà Trắng ở Washington, DC ngày 5/8/2019. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Tổng thống Mỹ Donald Trump (phải) phát biểu tại Nhà Trắng ở Washington, DC ngày 5/8/2019. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Đảng Dân chủ cũng đã nỗ lực thúc đẩy kiểm soát súng đạn kể từ khi giành quyền kiểm soát hạ viện sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ hồi tháng 11/2018. Tháng 2 vừa qua, Hạ viện Mỹ đã nhanh chóng thông qua dự luật có tên H.R.1112, theo đó kéo dài thời gian xem xét kiểm tra thông tin đối với hoạt động mua bán súng, ít nhất trong 10 ngày.

Kịch bản này đã lặp đi lặp lại rất nhiều từ các thời tổng thống Mỹ trước đó. 

Dù vậy, cho đến nay, văn bản này vẫn “nằm im” tại Thượng viện Mỹ do phe Cộng hòa kiểm soát, thậm chí nhiều nghị sỹ Cộng hòa theo đường lối bảo thủ khẳng định dự luật H.R.1112 sẽ không bao giờ vượt qua “ải” thượng viện.

Kịch bản này đã lặp đi lặp lại rất nhiều từ các thời tổng thống Mỹ trước đó.

Sau vụ thảm sát kinh hoàng tại trường tiểu học Sandy Hook ở Newtown, bang Connecticut, hồi năm 2012, khiến 26 người thiệt mạng, Tổng thống Mỹ khi đó là ông Barack Obama đã thúc đẩy dự luật kiểm tra lý lịch của người mua súng, song văn kiện này đã “chết yểu” tại thượng viện.

Giới phân tích nhận định sự chia rẽ sâu sắc giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa tạo rào cản chính trị chính giới Mỹ không thể tìm được giải pháp chung. Đặc biệt, khi cục diện lượng viện Quốc hội Mỹ đã phân chia rõ với đảng Dân chủ nắm hạ viện và đảng Cộng hòa kiểm soát thượng viện, một vấn đề gây tranh cãi như dự luật siết chặt kiểm soát súng đoạn càng khó có “lời giải.”

Súng được trưng bày tại hội nghị thường niên của NRA. (Nguồn: NBC News)
Súng được trưng bày tại hội nghị thường niên của NRA. (Nguồn: NBC News)

Bên cạnh đó, phải kể đến tác động của các nhóm lợi ích, đặc biệt là Hiệp hội súng đạn Mỹ (NRA), khiến các ý tưởng siết chặt kiểm soát súng đạn hầu như bị dập tắt. Ra đời từ năm 1871 và với 5 triệu thành viên cho đến nay, NRA được coi là tổ chức quyền lực và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, có khả năng chi phối những quyết sách nhằm kiểm soát súng đạn. Ngoài ra, lợi nhuận từ kinh doanh súng đạn là một trở ngại cho những nỗ lực hạn chế sở hữu súng.

Với doanh thu 3,5 tỷ USD mỗi năm từ việc hoạt động này, NRA sẽ không dễ dàng từ bỏ hay thu hẹp quy mô ngành kinh doanh đầy lợi nhuận này. Chính vì vậy, NRA vận động hành lang rất tích cực, lôi kéo sự ủng hộ của các nghị sĩ Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình. NRA được đánh giá như là một “thế lực chính trị” có thể tác động tới lá phiếu của cử tri trong cuộc bầu cử Mỹ năm 2020.

NRA được coi là tổ chức quyền lực và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, có khả năng chi phối những quyết sách nhằm kiểm soát súng đạn.

Vụ xả súng tại El Paso và Dayton xảy ra vào thời điểm đảng Dân chủ và Cộng hòa khởi động chiến dịch tranh cử cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, do vậy, hai vụ việc này nhanh chóng bị “chính trị hóa”. Phe Dân chủ đã tranh thủ thời cơ để chỉ trích sự thất bại của chính quyền Tổng thống Trump trong việc kiểm soát súng đạn, đặc biệt chính sách nhập cư cứng rắn của ông chủ Nhà Trắng cũng bị coi là yếu tố làm nảy sinh “tâm lý thù hận” của một bộ phận công dân. Trong khi đó, ông Trump cho rằng cần thông qua điều luật kiểm soát súng đạn chặt chẽ hơn, song phải gắn với vấn đề cải cách nhập cư. Vô hình trung, câu chuyện bạo lực súng đạn càng khoét sâu thêm sự chia rẽ nội bộ ở nước Mỹ.

Thế giới không ít lần chứng kiến chính phủ các nước siết chặt luật kiểm soát súng đạn sau các vụ xả súng như một biện pháp để “chắc chắn rằng các vụ xả súng không xảy ra một lần nữa”. Sau vụ xả súng đẫm máu ngày 15/3 tại 2 đền thờ Hồi giáo ở thành phố Christchurch (New Zealand), Thủ tướng nước này Jacinda Ardern đã thông báo chi tiết kế hoạch cải cách luật súng đạn, cấm tất cả các loại vũ khí bán tự động và súng trường tấn công.

Các trường hợp tương tự đã diễn ra ở Australia, Canada hay Anh. Tuy nhiên, các vụ xả súng đã trở thành “câu chuyện thường nhật” ở nước Mỹ, như thách thức nỗ lực nhằm ban hành một quy định kiểm soát súng đạn nghiêm ngặt hơn.

Đến bao giờ nước Mỹ có thể kiểm soát súng đạn? Đây là câu hỏi treo lơ lửng trong nhiều năm qua mà chưa có lời giải bởi còn nhiều rào cản. Có vẻ câu chuyện bạo lực súng đạn ở nước Mỹ đang bị “mắc kẹt” trong vòng xoáy của lợi ích nhóm và chia rẽ đảng phái.

Nhiều ý kiến lo ngại một khi cục diện chính trường Mỹ còn trong thế đối trọng như hiện nay, cuộc tranh cãi siết chặt sở hữu súng đạn được xới lên sau mỗi vụ xả súng, nhiều khả năng lại sa vào “lối mòn” bế tắc.

Người trẻ làm cổ phục

Một nhóm bạn trẻ đam mê cổ phong, văn hóa; vị giáo sư lịch sử đầu ngành; vị công tôn nữ hơn 90 tuổi của nhà Nguyễn đã cùng phục dựng, phỏng dựng lại những trang phục xưa của hoàng tộc và người dân Việt các triều đại. Đáng nói, liên kết giữa các mắt xích này là một thanh niên 9x: Nguyễn Đức Lộc. Cậu đã từ bỏ nghề báo để bắt đầu lập nhóm, mở công ty riêng để nghiên cứu, dệt nên những tấm áo từ quá khứ cách đây cả trăm năm.

Lộc hẹn tôi ở văn phòng công ty start-up Ỷ Vân Hiên hơn 1 năm tuổi của cậu trên đường Tam Trinh vào giờ hành chính. Công ty trẻ, nhân sự trẻ song nhịp làm việc nề nếp, chỉn chu. Các phòng nghiên cứu, phòng thiết kế đều làm việc khá lặng lẽ. Dù ngay trước buổi gặp này, họ vừa hoàn thành hai dự án có tiếng vang là cung cấp trang phục cho phim Phượng Khấu (về hoàng cung triều Nguyễn) và phỏng dựng trang phục thời Lê Trung Hưng trong hoạt cảnh tái hiện sân khấu hóa lễ ban quạt mang tên “Một thoáng Tết Đoan Dương thời Lê Trung Hưng” tại Hoàng thành Thăng Long. “Hết việc này tới việc khác luôn, công ty trẻ thỏa mãn là chết!”- Lộc phân trần.

Nguyễn Đức Lộc. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Nguyễn Đức Lộc. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Nói là thế, nhưng khi hỏi về việc phỏng dựng lại trang phục thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII- XVIII), Lộc không khỏi tự hào: Thời gian chuẩn bị chương trình là 1 tháng. Bọn mình hoàn thành 20 loại quần áo khác nhau từ vua tới các quan, lính, dân… với tổng cộng 50 loại quần áo. Chưa kể, bọn mình còn phải thuê diễn viên, rồi lo tập luyện cho chương trình.

Lễ ban quạt là nghi lễ được ghi chép trong Lịch triều hiến chương loại chí, thiên lễ nghi chí. Theo đó, vào ngày Tết Đoan Ngọ- 5/5 Âm lịch, vua sẽ ban quạt cho các quan đại thần.

Theo Giáo sư sử học Lê Văn Lan, việc ban quạt này có hai ý nghĩa. Về mặt thực dụng, cái quạt giúp con người bớt oi nóng mùa hè. Sâu xa hơn, về mặt tinh thần, đó là cách bậc quân vương liên kết với các cộng sự của mình trong triều đình qua việc thể hiện sự quan tâm.

Việc của Ỷ Vân Hiên là phục dựng trang phỏng dựng trang phục thời Lê Trung Hưng và đưa chúng đến với công chúng thông qua hoạt cảnh sân khấu. Tại đây, người ta sẽ bắt gặp trở lại nhiều trang phục chỉ có trong tư liệu như: áo của các quan Nhất, Nhị, Tam Phẩm, áo giao lĩnh (cổ chéo); áo viên lĩnh (cổ tròn) hay một số dạng áo đối khâm; các dạng áo của các lính y vệ khác như áo đa la; hay như mũ đinh tự khá phổ biến thời Lê. Những người tổ chức cũng phỏng dựng tục để tóc dài xõa từ đàn ông cho đến đàn bà, từ quan viên cho tới dân thường.

Khi được hỏi từ cơ sở nào để phỏng dựng và có sợ sai nhiều quá so với áo gấm xưa không, Lộc đáp: Nói là 1 tháng xong đó là thời gian thực hiện thôi, còn chúng tôi đã nghiên cứu từ trước rất nhiều. Sách sử mình nói rất ít về trang phục, lại ghi bằng ký tự viết nên cũng nhiều khó khăn. Lắm lúc, đội nghiên cứu lọc cả trăm trang sách ra được hai dòng có giá trị.

Cũng theo Lộc, ngoài nguồn sử liệu trong nước, các bạn trẻ còn đối chứng các sử liệu nước ngoài nói về trang phục Việt. Ví như khi phỏng dựng quần áo thời Lê Trung Hưng, qua nghiên cứu, Ỷ Vân Hiên đã phải lọc những ghi chép tỉ mỉ như: Trong Yên hành tạp lục (1713), sứ thần Triều Tiên Han Tae Dong có miêu tả sứ thần nước ta: “ Mũ Ô sa, áo cổ tròn, đai thắt, phẩm trật đại để như chế độ nước ta, duy có việc xõa tóc buông ra phía sau rồi đội mũ lên là hiếm thấy mà thôi”.

Phỏng dựng phục trang của quan thất phẩm triều Lê Trung Hưng với áo viên lĩnh đính bổ tử gà lôi, xõa tóc, đội mũ ô sa.
Phỏng dựng phục trang của quan thất phẩm triều Lê Trung Hưng với áo viên lĩnh đính bổ tử gà lôi, xõa tóc, đội mũ ô sa.

Trong Yên hành kỷ (1712), sứ thần Triều tiên Seo Ho Su cũng miêu tả:” Quan An Nam búi tóc, buông xõa phần còn lại ra sau, rồi mới đội mũ Ô Sa.”

Trong Chi Phong tiên sinh tập, sứ thần Triều Tiên Lý Toái Quang miêu tả sứ thần nước ta là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan khi đi sứ nhà Minh: “Gặp ngày triều hội vào chầu cửa khuyết thì búi tóc đội mũ, nhất nhất noi theo phục sức của thiên triều, nhưng nom sắc mặt ông có vẻ nhăn nhó khó chịu, vừa về là cởi bỏ ngay. Cả đoàn hai mươi ba người đêu xõa tóc, người cao sang thì sơn răng, kẻ hạ tiện thì mặc áo ngắn đi đất, dù vào mùa đông vẫn đi đất, không xỏ tất dài. Chừng phong tục của họ là vậy”.

Lộc nói: “Chúng tôi cũng không hoàn toàn chỉ hình dung qua sách. Chúng tôi lấy tư liệu mô tả trong sách rồi đối chiếu với các pho tượng cổ hay các tranh cổ để khớp nối. Nên tất cả những trang phục chúng tôi trình diễn là những trang phục tiệm cận nhất có thể trang phục thời Lê Trung Hưng với những tư liệu hiện còn.”

Theo chia sẻ, trang phục của các vị quan, nhóm Lộc dùng chất liệu tơ sống được đặt dệt riêng từ các làng nghề. Và riêng việc tìm được các làng nghề hiện nay có thể thực hiện tốt được yêu cầu của áo gấm cung đình xưa cũng khá khó khăn.

Nói về nhóm Lộc, Giáo sư Lê Văn Lan cho biết: “Đây là chương trình của các bạn trẻ yêu thích lịch sử văn hóa dân tộc. Nó mới mẻ, hào hứng, phấn khích chứ không bị chai sạn, khô khan. Tôi đã làm việc, trao đổi nhiều với họ và tôi thấy các bạn trẻ sẽ còn làm được nhiều hơn thế. Bởi, trữ lượng các ngày lễ rất nhiều để khai thác vận dụng. Nếu khéo léo đưa đến cho công chúng hình ảnh, phục trang từ quá khứ sẽ khiến lịch sử gần gụi, sống động hơn.

Việc phỏng dựng trang phục nhà Hậu Lê là cuộc thử sức, đào xới, dò đường mang cả cực nhọc và hoài nghi. Còn việc phục dựng trang phục nhà Nguyễn, đặc biệt là những chiếc gối dựa cung đình là sự tiếp nối thú vị của nhóm Lộc với hoàng thân nhà Nguyễn. Cuộc gặp gỡ của nhóm với công tôn nữ Trí Huệ (hay còn gọi là mệ Trí Huệ)- 97 tuổi- đã khiến mệ trở thành nghệ nhân cao tuổi nhất thực hiện và dạy những người trẻ may gối cung đình.

Mệ Trí Huệ là chắt nội của vua Minh Mạng. Bà sinh ra trong gia đình hoàng tộc song bà không may mắn được hưởng những sung túc của gia tộc. Cha bà, ông Nguyễn Phúc Hường Dẫn, là một trong những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân năm 1916 chống thực dân Pháp. Việc không thành, ông Hưỡng Dẫn bị khép vào tội chết song được vua Khải Định tha tội.

Mệ Công Tôn Nữ Trí Huệ là một trong số những nhân vật thuộc hoàng thất của triều đại cuối cùng.
Mệ Công Tôn Nữ Trí Huệ là một trong số những nhân vật thuộc hoàng thất của triều đại cuối cùng.

Công tôn nữ Trí Huệ khi ấy phải quán xuyến việc trong nhà, học may vá, bốc thuốc bắc cùng cha. Đôi lúc cung có đại yến, mệ cũng được xã miễn và được đưa vào Tử Cấm Thành tham dự. Thời gian khó khăn này giúp mệ bồi dưỡng đường kim mà sau đó, đã dệt lại được chiếc gối xếp của triều đại sau bao thăng trầm của thời cuộc.

Năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị, Đức Từ Cung (vợ vua Khải Định, mẹ vua Bảo Đại) rời cung. Mệ Trí Huệ nhận tới chăm sóc bà. Và thời này là lúc mệ Trí Huệ được Đức Từ Cung giao phó việc thuê may lại gối xếp để sinh hoạt và thờ cúng.

Chiếc gối xếp của triều đại nhà Nguyễn đã được phục dựng sau bao thăng trầm của thời cuộc.
Chiếc gối xếp của triều đại nhà Nguyễn đã được phục dựng sau bao thăng trầm của thời cuộc.

Qua thời gian, mệ tiếp tục may và truyền dạy cho con dâu, cháu chắt những vốn quý của gia tộc. Và, cuộc gặp của mệ với nhóm bạn trẻ ở Hà Nội là một cơ duyên may mắn cho nhóm Lộc, cho ước vọng lưu giữ chiếc gối của mệ và cho di sản Việt.

Mệ dạy nhóm trẻ:“Lần đầu làm có thể không được ngay gối, lại làm tiếp, lần thứ hai, thứ ba thì mọi việc đều hoàn hảo. Quan trọng là đường may phải ngay ngắn, làm người cũng thế.”

Từ đó, hình ảnh chiếc gối xếp thủ công 4 hoặc 5 lá tưởng chừng đã mai một nay đang dần xuất hiện trở lại trên các diễn đàn cổ phong cũng như sinh hoạt.

Bên cạnh đó, các loại áo nhật bình, ngũ thân, giao lĩnh nhà Nguyễn vốn ít được biết đến nay đã dần trở thành một phần của văn hóa đại chúng. Những cô gái mặc áo nhật bình đang xuất hiện nhiều hơn như một trào lưu: trên phố, trong ảnh kỷ yếu hay cả lễ ăn hỏi.

“Trào lưu tìm về cổ phục là tất yếu. Đó là lý do chúng tôi mới ra mắt hơn 1 năm song những dự án liên tiếp được triển khai. Bởi, khi thế giới càng gần nhau, xã hội thêm trù phú là lúc người ta tìm về căn cước văn hóa, lịch sử của dân tộc mình. Và lịch sử, văn hóa rất sinh động, gần gũi trang phục cha ông.”- Lộc cho biết lý do thành lập công ty.

Theo Lộc nhìn lại quá trình một năm vừa làm vừa mò mẫm, điều mà cậu và cộng sự cảm thấy hài lòng nhất là được ghi nhận. Một năm, đầu tư tiền tỉ, 15 người trẻ làm việc cần mẫn đã khiến thương hiệu xuất hiện ở gần như đa số các sự kiện quan trọng đòi hỏi cổ phục.

“Điều tôi hạnh phúc nhất là rất nhiều du học sinh Việt Nam tìm đến chúng tôi để may cổ phục.”- Lộc chia sẻ thêm- “Các trường Âu, Mỹ thường có các ngày hội văn hóa. Các bạn trẻ ở các quốc gia đều chọn trang phục truyền thống của đất nước mình. Các bạn trẻ Việt có phần hoang mang, và cảm thấy tự ái dân tộc. Nhiều người tìm đến đây một lần, sau đến ngày hội văn hóa còn đặt thuê gửi sang. Những lúc như thế làm bọn mình thêm quyết tâm phải nghiên cứu làm thêm thật nhiều trang phục cổ của gấm vóc quê hương. Người Việt phải mang trong mình sắc áo cha ông mới kiêu hãnh được”.

Nhóm cũng vui vẻ chia sẻ thêm, tới đây, trang phục do nhóm thiết kế sẽ hiện diện tại triển lãm “Việt Nam tại Châu Âu, Châu Âu trong Việt Nam: Bản sắc, xuyên quốc gia và tính di động của con người, ý tưởng và thực tiễn xuyên không gian và thời gian” tại Leiden, Hà Lan.

Nhóm chia sẻ: “Các bộ trang phục được trưng bày trong buổi triển lãm lần này bạo gồm những trang phục được sử dụng cho dân thường, quan lại và các thành viên trong hoàng thất, được may và phỏng theo kỹ thuật và quy tắc thẩm mỹ được quy định trong triều Nguyễn. Các chất liệu được sử dụng chủ yếu đến từ các làng lụa truyền thống của Việt Nam như lụa Mã Châu, lụa Vạn Phúc. Các họa tiết trên trang phục được phỏng theo từ các sản phẩm của thời Nguyễn, đảm bảo tính chính xác lịch sử và duy trì các giá trị thẩm mỹ.”

Khi được hỏi câu cuối cùng về việc có lo lắng những thị phi tranh cãi vốn là một phần trở ngại của việc thực hiện các sản phẩm lịch sử, nhất lại mang tính thương mại, Lộc đáp: “Chúng tôi không ngại tranh luận. Những sản phẩm chúng tôi làm đều có cơ sở. Câu chữ chúng tôi dùng cũng khá rõ ràng: phỏng dựng, phục dựng hay thiết kế dựa theo… Mọi thông tin đều minh bạch. Còn việc nếu có ai vẫn lấn cấn ở chi tiết này, chi tiết kia thì cũng tôi sẵn sàng lắng nghe”.

“Tôi đã từng làm tình nguyện ở nhiều dự án lịch sử, văn hóa phi lợi nhuận” – Lộc kể tiếp – “Tôi thấy cách đó cũng hay. Nhưng cá nhân tôi nhận ra rằng nếu mình muốn gắn bó, dồn hết tâm sức để đi một chặng đường dài, chúng tôi cần làm thương mại để sống được với cổ phong.”

Trong cuộc trò chuyện, Lộc không né tránh chuyện thương mại hóa sản phẩm lịch sử luôn phải đáp ứng yêu cầu chất lượng rất gắt gao từ phía người tiêu dùng và giới chuyên môn. “Đường thị phi thì vẫn phải đi, và vẫn phải có người đi mới phát triển cổ phục được.” – Lộc nói.

Sản phẩm cổ áo Nhật bình được thêu tay với kỹ thuật thêu cung đình được thực hiện bởi các nghệ nhân của làng nghề thêu truyền thống lâu đời nhất Việt Nam – Làng Quất Động.
Sản phẩm cổ áo Nhật bình được thêu tay với kỹ thuật thêu cung đình được thực hiện bởi các nghệ nhân của làng nghề thêu truyền thống lâu đời nhất Việt Nam – Làng Quất Động.

Hiểu đúng về kinh doanh hình ảnh và tên tuổi nhân vật

Kinh doanh hình ảnh và tên tuổi nhân vật là một ngành nghề không mới trên thế giới đặc biệt tại các quốc gia có nền công nghiệp giải trí phát triển.

Tuy nhiên, tại Việt Nam ngành nghề này còn chưa được định danh, danh tiếng của nhân vật nổi tiếng, bộ phim nổi tiếng chưa được khai thác bài bản để có thể mang lại các lợi thế thương mại. Điều này là bởi một phần do không có các quy định pháp luật điều chỉnh riêng biệt…

Kinh doanh hình ảnh, tên tuổi nhân vật là sự khai thác thương mại mang tính thứ cấp, được thực hiện bởi người sáng tạo (đối với nhân vật hư cấu) hoặc một cá nhân có thật (đối với người nổi tiếng).

Sở dĩ khách hàng có mong muốn mua hoặc sử dụng sản phẩm, dịch vụ, sẵn sàng trả nhiều tiền hơn giá trị thực sự cho một sản phẩm bởi nó tạo ra sự liên tưởng đến nhân vật có danh tiếng, một bộ phim hoặc sự kiện nổi tiếng, như nhân vật chuột Mickey (Walt Disney), chú ấu trùng tinh nghịch Larva (TuBa), các diễn viên được coi là “vũ trụ VTV” trong bộ phim truyền hình “Về nhà đi con” hay các cầu thủ đội tuyển quốc gia Việt Nam, đặc biệt là Nguyễn Quang Hải…

Thậm chí, các câu khẩu hiệu, câu thoại từ một bộ phim, một đoạn nhạc, hình dáng và các nét đặc trưng của nhân vật cũng có thể được sử dụng kinh doanh bằng việc in ấn chúng lên các sản phẩm để khai thác thương mại hoặc sử dụng chúng trong các hoạt động quảng cáo, tiếp thị.

Sau thành công của U23 Việt Nam tại Thường Châu, Quang Hải và các đồng đội của mình đã trở thành gương mặt đại diện cho nhiều nhãn hàng, thậm chí có đơn vị còn đăng ký nhãn hiệu với tên “Park Hang Seo.” (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Sau thành công của U23 Việt Nam tại Thường Châu, Quang Hải và các đồng đội của mình đã trở thành gương mặt đại diện cho nhiều nhãn hàng, thậm chí có đơn vị còn đăng ký nhãn hiệu với tên “Park Hang Seo.” (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Cuối năm 2017, Disney đã nộp đơn đến Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ phản đối đơn của một công dân Trung Quốc vì đã đăng ký làm nhãn hiệu câu trích dẫn nổi tiếng “You are braver than you believe, stronger than you seem, and smarter than you think” (bạn gan dạ hơn bạn tin, mạnh mẽ hơn bạn thấy và thông minh hơn bạn nghĩ) trong bộ phim Gấu Pooh do hãng này sản xuất; HBO không ngần ngại cáo buộc Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi ông đăng tải trên Twitter “sanctions are coming” (những sự trừng phạt đang đến) khiến người ta liên tưởng và gợi nhớ tới câu “winter is coming” (mùa đông đang về) trong bộ phim “Game of Thrones” đình đám của hãng này.

Các hình thức kinh doanh

Kinh doanh dựa trên nhân vật hư cấu

Hình thức này bắt nguồn từ nhân vật hoạt hình nổi tiếng, Tintin, Pinochio, Doreamon… Khi xem xét nhân vật hư cấu dưới góc độ kinh doanh thương mại, chúng ta thường quan tâm đến hình dáng, sự kết hợp màu sắc, cách phát ra âm thanh của chúng…

Các nguồn gốc chính của các nhân vật hư cấu là: từ các tác phẩm văn học như Alice (Alice in wonderland), từ các tác phẩm mỹ thuật, ví dụ như Mona-Lisa (Da Vinci), nhân vật được tạo ra vì mục đích kinh doanh, Fido-Dido (Seven-Up), Michelin (hãng lốp xe Michellin); nhân vật từ các bộ phim điện ảnh, phim bộ hoặc video, các nhân vật này khá hiệu quả để quảng bá sản phẩm, lan tỏa sự nhận biết sản phẩm nhờ chúng tiếp cận được một lượng khán giả lớn.

Nghệ sỹ ưu tú Xuân Bắc – là một diễn viên Xuân Bắc cũng mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang các chương trình truyền hình. Với lợi thế sẵn có dựa vào danh tiếng, Xuân Bắc trở thành gương mặt đại diện của một số chương trình thiện nguyện để thu hút sự tham gia của công chúng (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Nghệ sỹ ưu tú Xuân Bắc – là một diễn viên Xuân Bắc cũng mở rộng phạm vi hoạt động của mình sang các chương trình truyền hình. Với lợi thế sẵn có dựa vào danh tiếng, Xuân Bắc trở thành gương mặt đại diện của một số chương trình thiện nguyện để thu hút sự tham gia của công chúng (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Mặt khác, các tác phẩm này mang tính giải trí cao nên cũng tác động tới người xem tốt hơn, ví dụ chuột Mickey, gấu trúc Po (Kung Fu Panda), người khổng lồ xanh Shrek, người tuyết Frozen…, những nhân vật này đều rất nổi tiếng trên toàn thế giới, đặc biệt đối với thiếu nhi.

Kinh doanh danh tiếng của nhân vật thực tế

Hình thức kinh doanh này là sử dụng người nổi tiếng trong hoạt động marketing bao gồm việc sử dụng các thuộc tính quan trọng như tên, hình ảnh, giọng nói, mức độ ảnh hưởng của nhân vật trong một lĩnh vực cụ thể và các đặc điểm khác của nhân vật.

Việc liên kết người nổi tiếng với sản phẩm mang lại khá nhiều lợi ích kinh doanh và quan trọng nhất chính là sự tin tưởng từ khách hàng. Nhờ vào sự ảnh hưởng của mình nên khi một nhân vật nổi tiếng chấp nhận và tán dương một loại sản phẩm hàng hóa thì công chúng có cảm giác yên tâm hơn về chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, nhân vật nổi tiếng cho thấy họ đã sử dụng sản phẩm, đó như một kiểm định mẫu cho khách hàng lựa chọn mua. Trên thực tế, theo quan điểm thương mại, những doanh nhân tin rằng lý do chính để một người mua hàng bình dân với giả rẻ không phải bản thân hàng hóa đó mà do được cuốn hút bởi tên tuổi hay hình ảnh của những người nổi tiếng được gắn với sản phẩm.

Lý do chính để một người mua hàng bình dân với giả rẻ không phải bản thân hàng hóa đó mà do được cuốn hút bởi tên tuổi hay hình ảnh của những người nổi tiếng được gắn với sản phẩm. 

Các nhân vật thực tế thường là các ngôi sao trong lĩnh vực giải trí, thậm chí là thành viên hoàng tộc danh tiếng (như Xuân Bắc, Trấn Thành…). Sự lùm xùm giữa Trương Thế Vinh và một nhãn hàng thời trang về việc sử dụng hình ảnh của anh trong hoạt động quảng cáo gần đây là loại hình kinh doanh dạng này.

Kinh doanh hình ảnh

Kinh doanh hình ảnh là hình thức mới xuất hiện trong những năm gần đây, bao gồm việc sử dụng nhân vật phim hư cấu, nhân vật trong các kênh truyền hình mà do các diễn viên thực tế diễn xuất phục vụ cho hoạt động marketing và quảng cáo hàng hóa dịch vụ.

Trong các trường hợp đó, công chúng sẽ có chút khó khăn để phân biệt nhân vật trong phim với diễn viên đảm nhận vai diễn đó. Ví dụ như nhân vật thuyền trưởng Jack Sparrow do Johnny Depp thủ vai hay nhân vật Hannah Montana do Miley Cyrus diễn xuất, các quảng cáo có sử dụng nhân vật Phan Quân, Lương Bổng trong bộ phim Người Phán Xử… trong những trường hợp đó, công chúng rất dễ liên tưởng nhân vật yêu thích của họ với sản phẩm có hình ảnh nhân vật và đó là động lực thúc đẩy họ ra quyết định mua bởi vì sự hâm mộ dành cho nhân vật.

Công chúng rất dễ liên tưởng nhân vật yêu thích của họ với sản phẩm có hình ảnh nhân vật và đó là động lực thúc đẩy họ ra quyết định mua bởi vì sự hâm mộ dành cho nhân vật.

Kinh doanh hình ảnh, tên tuổi nhân vật thế nào là hợp pháp?

Lợi thế của tên tuổi, hình ảnh gắn với nhân vật là rất to lớn trong hoạt động kinh doanh, do vậy, nhà kinh doanh cần xác định được quyền gắn liền với nhân vật để tiến hành kinh doanh hợp pháp. Quyền đối với nhân vật hư cấu thường là quyền tài sản, bao gồm quyền sử dụng, quyền khai thác và hưởng lợi từ việc sử dụng, quyền định đoạt và quyền này thuộc về tác giả hoặc tổ chức đầu tư tạo nên tác phẩm, trừ khi quyền được bán cho người khác.

Cố nghệ sỹ Trần Lập – Rất nhiều các hãng bảo hiểm nhân thọ sử dụng trái phép hình ảnh Trần Lập để quảng cáo cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của mình nhờ vào uy tín và danh tiếng của anh (Ảnh: Bức Tường cung cấp)
Cố nghệ sỹ Trần Lập – Rất nhiều các hãng bảo hiểm nhân thọ sử dụng trái phép hình ảnh Trần Lập để quảng cáo cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của mình nhờ vào uy tín và danh tiếng của anh (Ảnh: Bức Tường cung cấp)

Đối với nhân vật người thực sự xác định phức tạp hơn, các quyền sẽ gắn liền với tên, hình ảnh hoặc hình dáng của nhân vật thường là quyền nhân thân, bao gồm quyền sử dụng các đặc điểm cá nhân và nhận lợi ích từ việc sử dụng quyền đó. Các quyền này thuộc về chính cá nhân có danh tiếng, đặc biệt là quyền nhân thân, đối với việc khai thác thương mại cá nhân có thể ủy quyền hoặc bán quyền cho một tổ chức kinh doanh.

Quyền sở hữu trí tuệ

Chế định quan trọng nhất bảo vệ cho các nhân vật được sử dụng trong hoạt động kinh doanh là quyền tác giả. Phần lớn các quốc gia quy định tên nhân vật không được bảo hộ. Tuy nhiên, hình tượng nhân vật có thể được thừa nhận nếu nhân vật được mô tả đầy đủ, chi tiết và chứa đựng những điểm khác biệt, sự nổi tiếng nhất định giúp công chúng có thể nhận ra mà vẫn tách biệt với tác phẩm gốc. Tức là nhân vật đã trở thành một “hình tượng” được bảo hộ một cách độc lập nếu chúng đạt được tiêu chuẩn về tính nguyên gốc và tính định hình theo quy định của luật bản quyền.

Diễn viên Hoàng Anh Vũ – “Về nhà đi con” đánh dấu sự trở lại của Hoàng Anh Vũ với nghệ thuật, và sau bộ phim này, Hoàng Anh Vũ cũng “đắt sô” quảng cáo và đại diện cho các nhãn hàng hơn (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Diễn viên Hoàng Anh Vũ – “Về nhà đi con” đánh dấu sự trở lại của Hoàng Anh Vũ với nghệ thuật, và sau bộ phim này, Hoàng Anh Vũ cũng “đắt sô” quảng cáo và đại diện cho các nhãn hàng hơn (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Tranh chấp về 4 nhân vật trong bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt giữa họa sỹ Lê Linh và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giáo dục và Truyền thông giải trí Phan Thị trong thời gian gần đây là một tranh chấp điển hình về hình tượng nhân vật. Việc xác định ai đúng, ai sai phụ thuộc nhiều vào việc xác định 4 nhân vật trong bộ truyện có đủ điều kiện trở thành một “tác phẩm độc lập” tách ra khỏi tác phẩm gốc hay không.

Với người thực kinh doanh danh tiếng lại có chút khác biệt. Trong nhiều trường hợp, việc bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động kinh doanh dựa trên người nổi tiếng có những sự giới hạn nhất định, vì quyền tác giả không trao cho người sở hữu các thuộc tính nổi tiếng mà chỉ trao cho người tạo ra tác phẩm mang các thuộc tính ấy. Chẳng hạn họa sỹ vẽ tranh chân dung một người nổi tiếng, quyền tác giả thuộc về họa sỹ mà không phải người nổi tiếng trong tranh.

Khi được pháp luật bảo hộ, chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền khai thác thương mại nhân vật được bảo hộ sẽ có những độc quyền trong việc kinh doanh nhân vật.

Bên cạnh quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu là những đối tượng có thể được sử dụng để bảo hộ cho việc kinh doanh hình ảnh, tên tuổi nhân vật, tuy nhiên các đối tượng này phải gắn với sản phẩm (đối với kiểu dáng công nghiệp), gắn với sản phẩm và dịch vụ (đối với nhãn hiệu) và phải được cấp đăng ký bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khi được pháp luật bảo hộ, chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền khai thác thương mại nhân vật được bảo hộ sẽ có những độc quyền trong việc kinh doanh nhân vật. Điều này có nghĩa là nếu không có sự đồng ý chủ sở hữu quyền hoặc ủy quyền của chủ sở hữu quyền, không ai được sử dụng hình ảnh nhân vật trong hoạt động kinh doanh. Sự bảo hộ có thể mở rộng đến việc sử dụng tác phẩm để truyền thông, sản xuất sản phẩm mang hình ảnh nhân vật, hoặc sử dụng cho mục đích xúc tiến thương mại.

Cạnh tranh không lành mạnh

Có nhiều sự khác nhau giữa các quyền bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với việc bảo hộ chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh. Quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ các tài sản trí tuệ được bảo hộ. Trong khi đó, bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh lại không dựa trên các vấn đề sở hữu tài sản trí tuệ mà nó được xem xét dựa trên quy định của luật pháp khác có liên quan như Luật cạnh tranh.

Theo quy định trong luật cạnh tranh các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, nếu sử dụng hình ảnh, tên tuổi nhân vật có ý định liên tưởng hoặc khai thác danh tiếng của các nhân vật là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật

Các hình thức bảo hộ khác

Nhiều quốc gia ban hành các quy định có thể ở dạng luật chung (như quy định trong bộ luật dân sự) hoặc ở dạng các đạo luật cụ thể, cho phép chủ sở hữu nhân vật hoặc đặc điểm của nhân vật nổi tiếng bảo vệ họ và nhân vật của họ trước các hành vi khai thác thương mại, quảng cáo và các hình thức sử dụng trái phép. Nhìn chung, các quyền này sẽ bổ sung cho hoạt động bảo hộ nhân vật, quyền mà vốn dĩ chỉ tồn tại trong phạm vi của luật sở hữu trí tuệ.

Hình ảnh tên tuổi, nhân vật gắn liền trong lĩnh vực giải trí. Tuy nhiên, việc kinh doanh hình ảnh tên tuổi nhân vật lại được mở rộng ra trong tất cả các lĩnh vực.

Trong đa số các trường hợp, việc sử dụng hình ảnh tên tuổi nhân vật sẽ mang lại những lợi thế thương mại nhất định cho người biết cách khai thác hợp lý và phù hợp quy định của pháp luật 

Trong đa số các trường hợp, việc sử dụng hình ảnh tên tuổi nhân vật sẽ mang lại những lợi thế thương mại nhất định cho người biết cách khai thác hợp lý và phù hợp quy định của pháp luật.

Mặc dù vậy, việc áp dụng chế định pháp luật nào khi kinh doanh ngành nghề này phải phụ thuộc vào từng trường cụ thể và đòi hỏi việc áp dụng pháp luật một cách linh hoạt phù hợp nguyên tắc pháp luật chung và thông lệ quốc tế./.