Với những người yêu thích văn hóa Nhật Bản, Yosakoi không phải là một điều gì quá xa lạ. Tại Việt Nam, nhiều đội múa Yosakoi đã ra đời ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút đông đảo học sinh, sinh viên tham gia. Mặc dù vậy, không phải ai cũng biết về lịch sử của vũ điệu độc đáo đã giúp gắn kết và vực dậy tinh thần của người Nhật thời hậu chiến này.
Khởi nguồn của Yosakoi
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nền kinh tế Nhật Bản trở nên kiệt quệ. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nước này trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh đó, năm 1954, các nghệ sỹ ở tỉnh Kochi đã sáng tạo ra một vũ điệu vui nhộn dựa trên Awa Odori, một điệu múa truyền thống khởi nguồn từ tỉnh Tokushima. Đó là vũ điệu Yosakoi.
Yosakoi bắt nguồn từ khẩu ngữ “yosshakoi,” có nghĩa là “Đêm nay mời bạn đến”
Theo tiếng địa phương của vùng Tosa (ngày nay là Kochi), Yosakoi bắt nguồn từ khẩu ngữ “yosshakoi,” có nghĩa là “Đêm nay mời bạn đến.” Ngay từ khi ra đời, Yosakoi đã được đông đảo người dân đón nhận và hưởng ứng.
Lễ hội Yosakoi đầu tiên được tổ chức ở tỉnh Kochi vào năm 1954, với sự tham gia của 21 đội và khoảng 750 người. Từ Kochi, Yosakoi đã được phổ biến ra nhiều tỉnh, thành khác trên khắp đất nước Nhật Bản.
Naruko là đạo cụ không thể thiếu khi nhảy Yosakoi. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Cuộc cách mạng đầu tiên liên quan tới Yosakoi bắt đầu từ năm 1970 khi đội múa Yosakoi của Kochi được mời biểu diễn tại Nice (Pháp). Tại đây, đội đã trình diễn vũ điệu Yosakoi Naruko theo kiểu samba. Sau đó, âm nhạc và vũ đạo của vũ điệu Yosakoi đã bắt đầu thay đổi tùy thuộc vào từng đội múa và sự kiện.
Vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, các lễ hội Yosakoi bắt đầu được tổ chức trên khắp “đất nước Mặt Trời mọc,” trong đó đáng chú ý có Lễ hội Yosakoi Soran ở thành phố Sapporo thu hút hàng trăm đội với hàng chục ngàn người tham gia nhảy Yosakoi. Cho đến nay, các lễ hội Yosakoi đã được tổ chức hàng năm ở hơn 200 địa điểm trên khắp đất nước Nhật Bản.
Vũ điệu tràn đầy năng lượng
Điểm độc đáo của Yosakoi là người tham gia múa không phân biệt giới tính hay tuổi tác. Trong một đội múa, ta có thể bắt gặp những em bé hay những cụ già. Một khi đã hòa mình vào Yosakoi, tất cả đều cùng chung nụ cười và niềm vui khi nhảy. Vì vậy, không ít người cho rằng Yosakoi đã thực sự giúp vực dậy tinh thần người dân Nhật Bản và giúp họ trở nên gắn kết hơn trong thời hậu chiến.
Các vũ điệu Yosakoi thường có phần nhạc nền rất sôi động và mạnh mẽ. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Yosakoi. Nhạc nền của phần lớn các vũ điệu Yosakoi được sáng tác dựa trên bài hát gốc có tên gọi “Yosakoi Naruko Odori” của ông ông Takemasa Eisaku. Đây là bài hát kết hợp các yếu tố từ 3 bản nhạc khác mang tên “Yosakoi-bushi” (giai điệu Yosakoi), “Yocchore” (một bài hát thiếu nhi) và “Jinma-mo” (một bài dân ca tỉnh Kochi).
(Các đội Yosakoi có thể tự thiết kế trang phục theo phong cách đội và phù hợp với bài múa. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Một đội nhảy Yosakoi tại sự kiện quảng bá Yosakoi ở Tokyo. (Ảnh: Đào Thanh Tùng/Vietnam+)
Sự kiện quảng bá Yosakoi của tỉnh Kochi ở Tokyo. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Điểm độc đáo của Yosakoi là người tham gia không phân biệt giới tính. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Đi kèm với nhạc nền, Yokosai có phần vũ đạo tràn đầy sinh lực. Bên cạnh đó, Yosakoi là vũ điệu mang tính tập thể, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những người nhảy. Các động tác trong vũ điệu này thường mô phỏng hoạt động lao động và sản xuất hằng ngày như đánh cá, quăng lưới… nên hầu hết đều đơn giản, dễ học. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Yosakoi, ngày nay, các đội múa đã tự sáng tạo những bài múa với động tác khó dần và tạo ra những phong cách riêng.
Một nét hấp dẫn của Yosakoi chính là trang phục của người nhảy
Một nét hấp dẫn khác của Yosakoi chính là trang phục của người nhảy. Trước đây, trang phục của những người nhảy Yosakoi chủ yếu là yukata và happi. Yukata là trang phục truyền thống thường mặc vào mùa Hè của người Nhật, trong khi happi là y phục của người bán hàng tại các lễ hội ở Nhật. Một chiếc áo khoác happi thông thường được in hoa văn (kiểu làn sóng, hình dãy núi, mặt trời…) và đặc biệt là thường in chữ kanji (thường là chữ 祭, nghĩa là “lễ hội”) ở sau lưng và viền cổ áo.
Ngoài ra, các đội múa cũng tự thiết kế trang phục theo phong cách đội và phù hợp với bài múa, dựa trên các sự kiện lịch sử, xu thế thời trang hoặc trang phục dân tộc.
Yosakoi có phần vũ đạo tràn đầy sinh lực. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Một trong những đạo cụ không thể thiếu khi nhảy Yosakoi là Naruko – vật dụng bằng gỗ, có cán cầm với 3 thanh gỗ nhỏ gắn ở trên để khi lắc sẽ phát ra tiếng kêu. Naruko có xuất xứ từ tỉnh Kochi, vốn là dụng cụ được nông dân sử dụng để đuổi chim chóc tránh xa khỏi ruộng lúa. Ngoài Naruko, những người nhảy Yosakoi có thể sử dụng đèn lồng, quạt hay các dụng cụ khác.
Nỗ lực quảng bá Yosakoi ra khắp thế giới
Sau khi phổ biến trên khắp Nhật Bản, Yosakoi từng bước du nhập vào nhiều nước trên thế giới. Phát biểu tại sự kiện giới thiệu Yosakoi ở thủ đô Tokyo hôm 28/10, ông Masanao Ozaki, Thống đốc tỉnh Kochi, cho biết tính đến tháng 10/2019, Yosakoi đã có mặt tại 29 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Để phổ biến vũ điệu này trên khắp thế giới, Thống đốc Ozaki cho biết năm 2016, tỉnh Kochi bắt đầu công nhận các đại sứ Yosakoi chính thức ở các nước. Đây là những đội Yosakoi đã góp phần thúc đẩy và quảng bá vũ điệu Yosakoi ở nước sở tại. Cho đến nay, tỉnh đã công nhận 23 đội Yosakoi ở 19 quốc gia và vùng lãnh thổ là đại sứ Yosakoi.
Đội Yosakoi Việt Nam tham dự lễ hội Yosakoi ở Tokyo năm 2011. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Yosakoi bắt đầu du nhập vào Việt Nam từ giữa những năm 2000. Núi Trúc Sakura Yosakoi là đội múa Yosakoi đầu tiên được thành lập tại Việt Nam. Đội được thành lập vào năm 2007, trực thuộc Trung tâm tiếng Nhật Núi Trúc Sugi Ryotaro và Hội Giao lưu Văn hóa Việt Nam-Nhật Bản (VIJACA). Đây là một trong hai đội Yosakoi của Việt Nam được tỉnh Kochi công nhận là đại sứ Yosakoi.
Năm 2009, đội múa Yosakoi đầu tiên của Việt Nam đã được mời sang Nhật Bản biểu diễn tại một lễ hội Yosakoi ở thủ đô Tokyo. Hiện nay, phong trào Yosakoi đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài Naruko, những người nhảy Yosakoi có thể sử dụng đèn lồng. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Theo các chuyên gia, một trong những nguyên nhân khiến Yosakoi được du nhập và phổ biến một cách nhanh chóng vào Việt Nam và các nước khác là do vũ điệu này không những khơi dậy tinh thần đoàn kết giữa những người tham gia mà còn giúp họ có tâm lý lạc quan và tăng cường sức khỏe. Chính vì vậy, nhiều người hy vọng Yosakoi sẽ được phổ biến rộng rãi hơn nữa trên khắp thế giới.
Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN, ông Marius Dumitrescu, Tham tán Đại sứ quán Romania tại Nhật Bản, nói: “Theo tôi, chúng ta cần phổ biến rộng rãi Yosakoi ra khắp thế giới bởi vì vũ điệu này rất hấp dẫn, góp phần mang lại tinh thần hòa hợp giữa các dân tộc trên khắp thế giới. Tại Romania, chúng tôi vẫn chưa có đội múa Yosakoi nào, trong khi các nước láng giềng khác đều đã tổ chức lễ hội Yosakoi. Vì vậy, đại sứ quán chúng tôi sẽ nỗ lực quảng bá vũ điệu này tại Romania”./.
Thống đốc tỉnh Kochi nhảy Yosakoi. (Ảnh: Thanh Tùng/Vietnam+)
Con sus campos del golf de alta calidad, el paisaje hermoso y un clima favorable, Vietnam es valorada por jugadores mundiales como un destino atractivo para practicar ese deporte.
Sin embargo, pese a su potencialidad para el turismo del golf, la nación indochina todavía no ha explotado al máximo esas ventajas.
Vietnam se ha convertido en destino de amantes de golf. (Fuente: VietnamPlus)
Recientemente, en una reunión con representantes de la Administración de Turismo, el legendario golfista mundial Greg Norman (embajador de turismo vietnamita de 2018 al 2021), propuso hacer un cortometraje sobre la práctica de ese deporte en el país sudesteasiático, para promover el sector.
Turismo del golf, una “mina dorada”
Al evaluar el potencial actual del turismo de golf en Vietnam, el director de la agencia de viajes HanoiRedtours, Nguyen Cong Hoan, afirmó que “ el golf es un mercado potencial del turismo vietnamita. No como los turistas que visitan y exploran una sola vez, los golfistas vienen y regresan. Además, los jugadores tienen alta capacidad de pago para los servicios de hoteles y restaurantes de primera clase. Debemos aprovecharlo”.
En los últimos años, junto con el desarrollo de la infraestructura turística, el sistema de campos de golf en Vietnam también recibe mucha inversión. En los complejos turísticos, además de resorts de lujo, se construyen campos de golf, los cuales, según valoraron expertos, tienen alta calidad y poseen un hermoso paisaje.
Además, gracias a su clima favorable, Vietnam es apto para jugar golf durante todo el año. Especialmente, en invierno, cuando los complejos de golf en los países en el noreste de Asia y Europa se paralizan por la nieve, los campos de Vietnam siguen funcionando normalmente en el Centro y el Sur.
Un torneo de golf en Vietnam (Fuente: VietnamPlus)
En invierno, cuando los complejos de golf en los países en el noreste de Asia y Europa se paralizan por la nieve, los campos de Vietnam siguen funcionando normalmente en el Centro y el Sur.
“Si se desarrolla el turismo de golf, Vietnam atraerá un gran número de visitantes internacionales, especialmente de mercados clave como Taiwán (China), Corea del Sur, Japón, y China. En el invierno del año pasado, todos los campos de golf en el Centro y el Sur de Vietnam estuvieron llenos de visitantes, la mayoría proveniente del noreste de Asia. Los mismos suelen realizar un viaje de golf por varios países de la región”, dijo Cong Hoan.
En este contexto, para responder mejor a la demanda de visitantes interesados en ese deporte, el vicepresidente de la Asociación de Turismo de Vietnam, Vu The Binh, dio a conocer que se estableció la Asociación Vietnamita de Golf (VGA).
Su función se centra en la construcción de productos turísticos especializados en el golf, así como la organización de torneos, seminarios y ferias relacionadas con el mismo.
La cantidad de jugadores ocupa una porción significativa de los turistas internacionales a Vietnam.
“Esperamos que la Asociación de Turismo de Golf adopte medidas para convertir este tipo de actividad en un factor importante del crecimiento turístico. Sin embargo, nada es fácil. Eso dependerá de cómo lo hacemos”, expresó Binh.
Según las entidades vietnamitas de administración de campos de golf, la cantidad de jugadores ocupa una porción significativa de los turistas internacionales a Vietnam.
¿Cómo promueve el golf Vietnam?
Las potencialidades existen. El trabajo es cómo promover la imagen del golf en Vietnam de manera atractiva, para estimular la curiosidad y el deseo de exploración de los turistas extranjeros.
Hanoi planea incrementar los torneos de golf. (Fuente: VietnamPlus)
“Antes siempre nos centrábamos en la promoción de los paisajes naturales, la cultura, la historia y la gastronomía vietnamitas. Pero, recientemente, el turismo de este país hizo gran cambio, y además de mantener esas prioridades, explotamos otros tipos de actividad como el turismo MICE (de reuniones, incentivos, congresos y exposiciones) y el de golf”, indicó Cong Hoan.
Próximamente, la ciudad de Hanoi incrementará la celebración de torneos y ferias de golf con el fin de introducir la imagen del golf de Vietnam a amigos internacionales y, de este modo, contribuir al crecimiento sostenible de la industria sin humo y al aumento de los ingresos.
Por su parte, el vicepresidente de la Asociación de Turismo de Vietnam, Vu The Binh, destacó la necesidad de realizar similares actividades en el extranjero, lo que requiere de una coordinación estrecha entre los promotores del golf y las empresas que opera en el sector turístico.
Vietnam planea explotar las potencialidades del turismo del golf. (Fuente: VietnamPlus)
El subjefe de la Administración de Turismo, Ngo Hoai Chung, afirmó que su entidad se acompañará con la Asociación de Turismo de Vietnam y sus filiales, incluida la VGA, para desarrollar el sector.
“La VGA contribuye a impulsar un turismo de alta calidad. La comunidad de turismo de Vietnam siempre apoyará y será una fuerza principal en el proceso de convertir a la industria sin humo en un sector económico clave”, afirmó.
En marzo pasado, esa asociación y la Academia internacional Els Perfomance Golf (EPGA) firmaron un acuerdo de cooperación para promover ese deporte entre los jóvenes del país sudesteasiático.
EPGA, como socio de desarrollo de la VGA desde 2016, es la primera academia de golf de calidad cinco estrellas en Vietnam.
La entidad celebra mensualmente torneos de nueve hoyos, con el objetivo de presentar y aumentar las posibilidades para la práctica de este deporte entre golfistas vietnamitas.
Vụ phát hiện thi thể 39 người di cư trong chiếc xe chở container đông lạnh ở gần London (Anh) vừa qua là một vụ việc đáng báo động, lặp lại nhiều thảm kịch về nhập cư bất hợp pháp trong những năm gần đây ở châu Âu, mặc dù nhiều nước đã áp dụng các biện pháp mạnh để ngăn chặn.
Hành trình nhập cư bất hợp pháp vào châu Âu có thể coi là “hành trình sinh tử,” nơi tính mạng của những người muốn “đổi đời” luôn bị đe dọa, nguy hiểm rình rập từ mọi phía. Kể cả đặt chân được tới châu Âu, số phận của những người nhập cư bất hợp pháp cũng hết sức mù mịt.
Chùm bài “Thảm kịch từ những đường dây buôn người” của nhóm tác giả Linh Hương (phóng viên TTXVN tại Pháp) và Đình Thư (phóng viên TTXVN tại Anh) gồm 2 bài, cung cấp bức tranh tổng quan về vấn đề đang gây rúng động toàn thế giới này.
Hành trình sinh tử
Cơ quan Cảnh sát châu Âu (Europol) từ năm 2016 ước tính rằng hơn 90% người di cư, trên hành trình đi tìm “miền đất hứa”, đã ít nhất một lần sử dụng “dịch vụ” của những kẻ buôn người.
Cảnh sát Pháp cho rằng 100% người nhập cư bất hợp pháp đều thông qua các mạng lưới buôn người, được tổ chức chặt chẽ và thay đổi liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu và đối phó với các biện pháp kiểm soát của cảnh sát.
Các con đường chính để vào châu Âu hiện nay không thay đổi nhiều so với trước kia. Số người nhập cư đến bằng đường hàng không vẫn rất ít. Đại đa số tiếp cận châu Âu bằng đường bộ hoặc qua biển Địa Trung Hải, thông qua ba tuyến chính.
Tuyến đường trung tâm, nối Libya và Tunisia đến Malta và đặc biệt là Italy, hoạt động mạnh nhất vào năm 2016 và 2017. Nhưng vì hành trình dài và nguy hiểm, nên số người di cư qua ngả này ngày càng giảm, với khoảng 12.000 người trong 9 tháng đầu năm nay.
Tuyến đường phía Tây, nối Maroc và Tây Ban Nha, được sử dụng nhiều hơn: trên 17.000 người đã đến Andalusia (Tây Ban Nha) từ đầu năm. Tuyến đường phía Đông với Hy Lạp là điểm đến đầu tiên vẫn luôn đông đúc nhất, với con số 40.000 người di cư trong năm 2019.
Một chiếc xe tải di chuyển qua cảng Calais (Pháp), trong hành trình tới Anh ngày 4/8/2017. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Ngoài ra có một số ngả đường khác, đi qua Nga hoặc Ukraine để đến Trung Âu, hoặc trực tiếp Bắc Âu và Scandinavia, thường được sử dụng để đưa những người nhập cư bất hợp pháp từ các nước châu Á vào Anh. Hồi đầu năm, tòa án Anh đã kết án 7 thành viên của một băng nhóm buôn người tổng cộng hơn 30 năm tù vì tội “âm mưu đưa các công dân nước ngoài nhập cư bất hợp pháp vào Anh,” trong đó có cả người Việt Nam.
Europol chỉ ra rằng những kẻ buôn người hoạt động mạnh ở trong cũng như bên ngoài châu Âu. Sau Hy Lạp, những người di cư mơ ước đặt chân đến Đức, Thụy Điển và Anh tìm mọi cách vào Liên minh châu Âu (EU) qua ngả Croatia hoặc Bulgaria. Họ nhanh chóng rơi vào tay những đường dây chuyên tổ chức các chuyến vượt biên trái phép đi sâu vào lục địa.
Các đường dây lớn có thể huy động sự tham gia của khoảng 40.000 người, từ lái xe đến người môi giới làm giấy tờ giả hoặc những kẻ dẫn đường.
Những mạng lưới này có nhiều hình thức hoạt động. Đó có thể chỉ là cá nhân nhận tiền để đưa người qua biên giới, cho đến các hệ thống quy mô lớn và được tổ chức chặt chẽ. Các đường dây lớn có thể huy động sự tham gia của khoảng 40.000 người, từ lái xe đến người môi giới làm giấy tờ giả hoặc những kẻ dẫn đường, phần lớn cắm chốt tại Đông Âu như Bulgaria, Hungary hoặc tại Iraq.
Thời gian gần đây, Hy Lạp trở thành trung tâm làm giấy tờ giả mạo tại châu Âu. Được trang bị những máy móc và dụng cụ tân tiến nhất, các nhóm tội phạm có thể cung cấp tất cả các loại giấy tờ như chứng minh thư, hộ chiếu, giấy phép cư trú, giấy chứng nhận kết hôn, giấy công nhận quan hệ cha con, hồ sơ bệnh án, giấy bảo lãnh nơi ở và giấy chứng nhận lương. Cảnh sát Pháp và Hy Lạp mới đây đã phát hiện 500 chứng minh thư và hộ chiếu làm giả như vậy.
Đặc biệt, các đường dây đưa người di cư sang Anh từ Calais (Pháp) và các cảng biển của Bỉ và Hà Lan thực sự là một vấn đề lớn, bởi Anh được xem là “miền đất hứa” đối với nhiều người ở các nước đang phát triển có hy vọng “đổi đời.”
Một chiếc xe tải di chuyển qua trạm kiểm soát ở Calais (Pháp), trong hành trình tới Anh ngày 17/9/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Theo Chính phủ Anh, từ đầu năm tới nay, lực lượng chức năng nước này đã ngăn chặn hơn 1.000 người nhập cư bất hợp pháp. Còn số người nhập cư bất hợp pháp “thành công” thì chưa rõ. Lần cuối cùng, Chính phủ Anh cố gắng ước tính số lượng người nhập cư bất hợp pháp ở nước này là năm 2005, với con số được báo cáo là 430.000 người, song theo nhiều nhà quan sát, số thực tế cao hơn rất nhiều.
Về phía Pháp, việc tăng cường kiểm soát trong năm 2018 đã giúp cảnh sát phát hiện hơn 33.000 người trốn trong các xe tải dọc bờ biển để tìm cách nhập cư bất hợp pháp vào Anh, tăng 13% so với năm 2017. Kết quả là những kẻ đứng đầu đường dây buôn người tìm kiếm các khu vực tiếp nhận người di cư ở xa hơn và khó bị phát hiện hơn.
Về phía Pháp, việc tăng cường kiểm soát trong năm 2018 đã giúp cảnh sát phát hiện hơn 33.000 người trốn trong các xe tải dọc bờ biển để tìm cách nhập cư bất hợp pháp vào Anh.
Theo cảnh sát Pháp, thủ đoạn của những kẻ buôn người ngày càng tinh vi và liều lĩnh. Mạng lưới buôn người do các đối tượng người Albania cầm đầu thậm chí còn áp đặt luật lệ hà khắc tại một số trại người di cư và cắm chốt các địa điểm chuyển người di cư lên xe tải tại khắp miền Bắc nước Pháp. Trong khi đó, những tội phạm người Kurd tỏ ra nguy hiểm hơn cả, khi quyết tâm chiếm lấy “thị phần”, đôi khi đánh bật đối thủ người Albania với các loại vũ khí như kiếm, súng lục và dao rựa trong bãi đậu xe ở phía Bắc và phía Đông nước Pháp.
Các mạng lưới buôn người châu Âu thường hợp tác chặt chẽ với những băng nhóm tội phạm tại các quốc gia khởi hành hoặc quá cảnh. Chúng sử dụng các tuyến đường tương tự như cho các hoạt động bất hợp pháp khác. Theo Liên hợp quốc, tổ chức đưa người nhập cư bất hợp pháp đã trở thành hoạt động sinh lời nhất sau buôn bán ma túy. Europol ước tính buôn người tạo ra một “sản nghiệp” trị giá 3-6 tỷ euro/năm (3,3-6,7 tỷ USD/năm) trên lục địa.
Thủ tướng Anh Boris Johnson viết sổ tang bày tỏ niềm thương tiếc các nạn nhân thiệt mạng trong xe công-ten-nơ, tại Thurrock, phía Đông London ngày 28/10/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Số tiền khổng lồ thu được từ việc đưa người qua biên giới bất hợp pháp thúc đẩy lòng tham của những kẻ tội phạm. Việc cảnh sát gia tăng kiểm soát dọc bờ biển Manche để ngăn chặn hoạt động nhập cư bất hợp pháp vào Anh khiến cho “công việc đưa người” này trở nên phức tạp hơn, và do đó đắt hơn: từ 2.000 đến 5.000 euro mỗi người. Với số lượng 20 người di cư mỗi đêm, những kẻ buôn người có thể kiếm tới 100.000 euro trong vòng 24 giờ.
Trong các cuộc vây ráp những đối tượng buôn người tại Romania vào tháng 6 vừa qua, cảnh sát Pháp và Romania đã phát hiện trong một số ngôi nhà 500.000 euro tiền mặt. Đây có lẽ chỉ là một phần nhỏ lợi nhuận thu được từ việc đưa hơn 300 người trái phép từ Iran sang Anh, liên quan đến khoảng 60 lái xe người Romania.
Ở mỗi giai đoạn của cuộc hành trình, những kẻ buôn người gửi tin nhắn để thông báo rằng người di cư đã đi qua thành công và gia đình người đó có thể trả số tiền đã thỏa thuận. Theo Europol, toàn bộ hành trình có thể có giá từ 10.000 đến 20.000 euro (22.000-33.000 USD).
Hoạt động tội phạm này cũng ngày càng tinh vi hơn. Một số mạng lưới thậm chí còn cung cấp dịch vụ VIP “từ cửa đến cửa,” ví dụ từ Iraq đến Anh, với chỗ nằm thoải mái trong cabin xe tải và hệ thống thanh toán từ xa. Ở mỗi giai đoạn của cuộc hành trình, những kẻ buôn người gửi tin nhắn để thông báo rằng người di cư đã đi qua thành công và gia đình người đó có thể trả số tiền đã thỏa thuận. Theo Europol, toàn bộ hành trình có thể có giá từ 10.000 đến 20.000 euro (22.000-33.000 USD).
Tuy nhiên, hầu hết người di cư không thể đủ khả năng chi trả cho một dịch vụ “VIP” bất hợp pháp như vậy. Họ tìm đến các phương tiện và con đường rẻ hơn, đầy bất trắc và nguy hiểm đến tính mạng. Báo cáo thường niên năm 2018 của Europol nêu rõ, nhằm đối phó với việc cảnh sát biên giới siết chặt kiểm soát, những kẻ buôn người thường chọn nơi ẩn nấp cho người di cư trong xe tải chở hàng. Trong số 6.600 chuyến đi dọc theo tuyến đường Balkan được Europol ghi nhận năm 2018, khoảng 80% người di cư đã được vận chuyển bằng ô tô tải và container trong các khoang chứa bí mật “rủi ro cao.”
Đơn cử như hành trình của những người nhập cư bất hợp pháp vào Anh theo các đường dây buôn người. Tùy vào số tiền bỏ ra, những người này sẽ được đưa đi theo các con đường khác nhau. Những người ít tiền có thể sẽ phải mất một vài tháng, thậm chí là lâu hơn và phải sống trong điều kiện vô cùng khó khăn, nguy hiểm, luôn phải trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan quản lý các nước để di chuyển bằng đường bộ từ Nga, các nước Đông Âu qua Đức, đến Pháp hay Bỉ. Những người nhiều tiền có thể xin thị thực Schengen và bay thẳng đến Pháp, Đức hay Bỉ.
Dù đi bằng con đường nào thì cuối cùng những người muốn thực hiện “giấc mơ Anh” cũng phải trốn trên các con thuyền cao su nhỏ bé và mong manh hoặc trong các container để vượt qua eo biển Manche vào Anh bất hợp pháp.
Nhân viên pháp y thuộc Cảnh sát Anh điều tra tại hiện trường xe container chở 39 thi thể ở Khu Công nghiệp Waterglade thuộc hạt Essex, miền Đông Nam nước Anh ngày 23/10/2019. (Ảnh: THX/TTXVN)
Trong vụ 39 nạn nhân thiệt mạng vừa qua, ông Richard Burnett, Giám đốc Hiệp hội Vận tải đường bộ Anh, cho biết nhiệt độ trong các container đông lạnh tương tự như chiếc vừa bị phát hiện có thể thấp ở mức âm 25 độ C. Các đối tượng buôn người sử dụng loại container này nhằm tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng khi kiểm tra bằng máy tầm nhiệt, tầm khí CO2 hay chó nghiệp vụ.
Đây không phải thảm kịch đầu tiên của những người nhập cư bất hợp pháp vào Anh. Tháng 6/2000, nhân viên hải quan cảng Dover (Đông Nam nước Anh) phát hiện 58 người chết ngạt trong một chiếc xe container được đăng ký tại Hà Lan và đã đi phà từ cảng Zeebrugge của Bỉ.
Năm 2014, một người nhập cư Afghanistan được tìm thấy đã chết trong một container tại cảng Tilbury, Essex. Năm 2015, thi thể 2 người được tìm thấy trong một thùng gỗ ở Branston, Staffordshire. Năm 2016, một thanh niên nhập cư 18 tuổi đã bị cán chết khi đu bám dưới gầm xe tải ở Banbury, Oxfordshire. Cũng năm nay, ở Kent, một thi thể được phát hiện trên thùng một chiếc xe tải từ Pháp tới.
Tháng 8/2015, cảnh sát Áo đã phát hiện một chiếc xe tải đông lạnh bị bỏ bên cạnh đường cao tốc ở Parndorf, gần biên giới Hungary, trong đó có 71 thi thể người di cư.
Trong số 6.600 chuyến đi dọc theo tuyến đường Balkan được Europol ghi nhận năm 2018, khoảng 80% người di cư đã được vận chuyển bằng ô tô tải và container trong các khoang chứa bí mật “rủi ro cao.”
Nguy hiểm và bất trắc nơi ‘miền đất hứa’
Tại châu Âu, Vương quốc Anh là một trong những điểm đến chính của người nhập cư bất hợp pháp. Nền kinh tế lớn thứ năm thế giới với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người trên 44.000 USD/năm và mức lương tối thiểu trên 8 bảng (10,4 USD) mỗi giờ được xem là “miền đất hứa” đối với nhiều người ở các nước đang phát triển. Họ luôn “mơ đổi đời” ở nước Anh và tìm đường đến đó bằng mọi giá.
Cảnh sát Pháp bắt giữ người di cư trái phép tại cảng Calais ngày 21/2. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Có nhiều con đường nhập cư bất hợp pháp vào Anh. Nhiều người xin thị thực và nhập cảnh hợp pháp vào Anh sau đó tìm cách trốn ở lại. Tuy nhiên, với khả năng quản lý chặt chẽ, cùng sự hỗ trợ của các trang thiết bị và công nghệ hiện đại như hệ thống camera giám sát dày đặc và công nghệ nhận diện bằng trí tuệ nhân tạo, không quá khó để các cơ quan chức năng Anh tìm, bắt giữ và trục xuất người bỏ trốn trên cơ sở những dữ liệu sinh trắc học (ảnh, vân tay) đã có trong quá trình làm các thủ tục cấp thị thực và nhập cảnh.
Một số người tìm cách lợi dụng kẽ hở của luật pháp nước sở tại, tìm và thuê người đã có quốc tịch Anh thực hiện kết hôn giả để bảo lãnh nhập cư vào Anh. Tuy nhiên, những người này cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro do các cơ quan quản lý Anh thường xuyên kiểm tra, giám sát xem họ có sinh sống cùng với người có tên trong đăng ký kết hôn hay không hoặc nguy cơ bị “đối tác” đe dọa tống tiền, cưỡng ép quan hệ tình dục…
Cách phổ biến nhất là thuê các đường dây buôn người tổ chức đưa người vào Anh bất hợp pháp. Những người chọn cách này có thể sẽ mất vài tháng, thậm chí lâu hơn và phải sống trong điều kiện vô cùng khó khăn, nguy hiểm, luôn phải trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan quản lý các nước để di chuyển bằng đường bộ từ Nga, các nước Đông Âu qua Đức, đến Pháp. Từ Pháp, những người này phải trốn trong các xe tải hay các tàu thuyền để nhập cảnh bất hợp pháp vào Anh.
Theo Thẩm phán Anh Robert Winstanley, chủ tọa phiên tòa diễn ra hồi tháng 3 vừa qua xét xử một đường dây đưa các công dân nước ngoài nhập cư bất hợp pháp vào Anh, trong đó có cả người Việt Nam, các đường dây buôn người như vậy luôn “coi thường sự an toàn” của những người được đưa bất hợp pháp vào Anh. Nhiều người sẽ phải làm việc không lương trong ít nhất 2 năm để trả nợ cho những kẻ buôn người.
Cảnh sát Pháp tháo dỡ lều trại của người di cư trái phép tại cảng Calais ngày 21/2. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Calais, thành phố cảng miền Bắc nước Pháp, từ lâu đã trở thành một điểm nóng trong các hoạt động phòng chống nạn nhập cư trái phép của Pháp và Anh. Đợt giải tỏa trại tị nạn khổng lồ, nơi trú ẩn của hơn 8.000 người nhập cư bất hợp pháp tại Calais, kéo dài hơn một tuần cuối tháng 10/2016 không giải quyết được thực trạng nhức nhối này. Hàng trăm người di cư vẫn thường xuyên bám trụ tại Calais với hy vọng sẽ có cơ hội tìm được chỗ ẩn nấp bí mật trên những chuyến xe tải chở hàng từ cảng Calais vượt eo biển Manche sang Anh.
Đó là chưa kể đến một số lớn những người di cư thử vận may từ các cảng khác, như Ouistreham, Cherbourg hoặc Zeebrugge ở Bỉ, đây là cảng xuất phát của chiếc xe container đông lạnh trong đó có 39 thi thể được phát hiện ở hạt Essex (Đông Nam nước Anh) hôm 23/10 vừa qua.
Calais, thành phố cảng miền Bắc nước Pháp, từ lâu đã trở thành một điểm nóng trong các hoạt động phòng chống nạn nhập cư trái phép của Pháp và Anh.
Theo các chuyên gia về chính sách nhập cư châu Âu, vào đầu những năm 2000, lời giải thích cho câu hỏi “tại sao là nước Anh?” khá rõ ràng. Tình hình kinh tế ở Anh phát triển thuận lợi, thị trường lao động rất tự do và ít có những cuộc kiểm tra đối với nhập cư bất hợp pháp, cho nên dễ dàng tìm được một công việc nhỏ để kiếm sống.
Thậm chí người nhập cư đã có gia đình hoặc một cộng đồng chờ sẵn khi họ vượt biên thành công. Khi tin tức được lan theo con đường truyền miệng, mỗi người nhập cư sẽ tự đặt câu hỏi: “Tại sao không đến Anh khi gia đình mình, cộng đồng mình đang ở đó?”
Bên cạnh đó, khá nhiều thông tin sai lệch, tô vẽ về cuộc sống của người nhập cư bất hợp pháp ở Anh. Thực tế này tồn tại cho đến ngày nay, bất chấp chính sách ngày càng hạn chế và nạn bài ngoại tăng cao ở Anh.
Ít nhất 5 người đã thiệt mạng và 37 người bị thương khi một xe tải chở người di cư bất hợp pháp bị lật tại tỉnh Van, miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ ngày 16/5/2019. (Ảnh: TTXVN)
Hiện tượng tương tự đã xảy ra khi trại dành cho người nhập cư Calais, còn được gọi là “rừng rậm” (jungle). Năm 2014, tổ chức nhân đạo Secours catholique đã công bố báo cáo “Lời nói của những người nhập cư tại Calais,” phỏng vấn 54 người đại diện cho những cộng đồng trong “rừng rậm” về lý do di cư của họ, trong đó khá nhiều người nghĩ rằng có thể dễ dàng thực hiện “giấc mộng đổi đời” khi đặt chân được tới Anh. Secours catholique đã cung cấp cho người di cư thông tin rõ ràng và khách quan về điều kiện sống và làm việc ở Pháp và Anh để điều chỉnh một số thông tin sai lệch họ được tiếp nhận.
Việc xin tị nạn ở Anh không dễ dàng hơn các nước Liên minh châu Âu (EU) khác, chỉ khoảng 20% số người làm đơn nhận được giấy phép cư trú. Hơn nữa, họ phải đến sống ở những khu vực khó khăn, như miền Bắc nước Anh, nơi chi phí nhà ở thấp hơn. Dân chúng ở các địa phương đó cũng không sẵn lòng đón nhận sự đa dạng sắc tộc và văn hóa. Thế nhưng, những người nhập cư bất hợp pháp không nhất thiết phải trình diện chính quyền mà dựa vào cộng đồng của họ để sống.
Bị giam lỏng trong các ngôi nhà kín mít, họ phải chịu sự kiểm soát của các băng nhóm tội phạm và bị bóc lột sức lao động không khác gì nô lệ.
Tuy nhiên, kể cả khi nhập cư bất hợp pháp trót lọt vào Anh, sự nguy hiểm và bất trắc mà những người này phải đối mặt vẫn rất cao. Trái với lời đồn thổi rằng có thể làm việc ở Anh ngay cả khi không có giấy tờ, hành động này hoàn toàn bị luật pháp Anh cấm. Những người nhập cư làm việc bất hợp pháp trên lãnh thổ Anh khi bị bắt phải chịu hình phạt lên đến 6 tháng tù giam. Từ 3 năm nay, các biện pháp kiểm soát được tăng cường và các chủ doanh nghiệp được khuyến khích tố cáo những người không có giấy tờ.
Các tổ chức bảo vệ quyền của người lao động cảnh báo rằng làm việc bất hợp pháp rất nguy hiểm do sống ngoài vòng pháp luật, những người nhập cư trái phép không được bảo vệ, không thể làm việc cho các công ty có uy tín, điều đó có nghĩa họ có xu hướng bị các công ty hoặc chủ doanh nghiệp sẵn sàng vi phạm pháp luật tuyển dụng. Và những người nhập cư bất hợp pháp rất dễ bị lạm dụng, chẳng hạn như không được thanh toán tiền lương, không được hưởng các điều kiện an toàn lao động hoặc thậm chí bị tịch thu hộ chiếu.
Theo một báo cáo của Đại học Nottingham và Văn phòng ủy viên độc lập Anh về chống lại chế độ nô lệ thời hiện đại, lao động nước ngoài không có giấy tờ có thể được thuê làm việc ở các trạm rửa xe ven đường quốc lộ hoặc trong bãi đậu xe siêu thị tới 12 giờ/ngày với mức lương 44 euro.
Người di cư ở ngoài khơi bờ biển Calais, trong hành trình vượt eo biển Manche từ Pháp tới Anh, ngày 4/8/2018. (Ảnh: AFP/ TTXVN)
Đến khi ngay cả những công việc tạm thời với tiền công rẻ mạt cũng hiếm hoi do nhu cầu quá nhiều, những người nhập cư không giấy tờ phải chấp nhận làm các công việc bất hợp pháp như trồng cần sa. Bị giam lỏng trong các ngôi nhà kín mít, họ phải chịu sự kiểm soát của các băng nhóm tội phạm và bị bóc lột sức lao động không khác gì nô lệ.
Cơ quan chống các tội phạm nghiêm trọng có tổ chức của Anh (SOCA) cảnh báo những người nhập cư bất hợp pháp vào Anh có thể bị bóc lột dưới nhiều hình thức, trong đó cao nhất là bị buộc phải bán dâm (31%), cưỡng bức lao động (22%), làm người giúp việc gia đình (11%) và làm các công việc phi pháp khác (17%).
Một rủi ro khác đối với những người nhập cư làm việc không giấy phép ở Anh là phải ngồi tù giam 6 tháng. Đây bị coi là một tội hình sự, ngoài ngồi tù còn bị phạt tiền và bị tịch thu hết những lợi nhuận thu được từ các hoạt động không được phép thực hiện. Những người nhập cư bất hợp pháp cũng đối mặt với khả năng cao bị các cơ quan chức năng Anh trục xuất.
Cơ quan chống các tội phạm nghiêm trọng có tổ chức của Anh (SOCA) cảnh báo những người nhập cư bất hợp pháp vào Anh có thể bị bóc lột dưới nhiều hình thức, trong đó cao nhất là bị buộc phải bán dâm (31%), cưỡng bức lao động (22%), làm người giúp việc gia đình (11%) và làm các công việc phi pháp khác (17%).
Đạo luật di trú của Anh thông qua năm 2016 cũng tăng hình phạt đối với chủ doanh nghiệp tuyển dụng người lao động không có giấy tờ lên 5 năm tù giam, so với 2 năm trước đây, cùng một khoản tiền lớn. Cảnh sát và thanh tra lao động thường xuyên tiến hành các hoạt động kiểm tra cùng với các đội kiểm soát nhập cư.
Cuối năm 2016, Cơ quan Di trú Anh đã thực hiện chiến dịch kiểm tra gần 300 cửa hàng làm móng tay và móng chân, bắt giữ 97 người lao động bất hợp pháp, trong đó có một số người Việt Nam. Các cơ sở này đã bị phạt 20.000 bảng cho mỗi trường hợp lao động không giấy tờ.
Hướng dẫn mới nhất của Bộ Nội vụ Anh yêu cầu các chủ doanh nghiệp muốn thuê lao động quốc tịch ngoài EU phải thông báo về giấy tờ giả mạo của người lao động nhập cư cho Cơ quan Di trú Anh. Nói cách khác, chính quyền đang thúc đẩy giới chủ tố cáo những người lao động bất hợp pháp hoặc sử dụng giấy tờ giả, đổi lại chủ doanh nghiệp sẽ không bị đối mặt với các án phạt tù và tiền.
Theo báo chí Anh, thống kê vào năm 2018 cho thấy có khoảng từ 300.000 đến hơn một triệu người đang sống bất hợp pháp ở Anh. Chính quyền Anh vào tháng 3/2019 cho biết đã ra quyết định trục xuất hơn 600.000 người nhưng không thấy dấu vết họ rời đi. Tuy vậy, một số ít người di cư, do quá mệt mỏi với điều kiện sống và làm việc khắc nghiệt ở Anh, đã quyết định quay trở lại Pháp. Năm 2017, cảnh sát Pháp đã ghi nhận gần 1.000 người đã vượt qua biển Manche để đến Calais.
Người di cư tại bãi xe ở Marck, phía bắc cảng Calais, eo biển Manche, ngày 30/6/2016. (Ảnh: AFP/ TTXVN)
Sự vô cảm của những kẻ buôn người
Mai Nguyễn (Dịch từ Daily Mail)
Sau khi câu chuyện về 39 người nhập cư được tìm thấy đã chết trong chiếc container ở Vương quốc Anh, một nữ phóng viên quốc tế đã vào vai người muốn nhập cư, liên lạc với kẻ buôn người để hỏi thăm tình hình và chỉ nhận được lời đùa cợt nhạo báng “Đó (cái chết) là trò rút thăm may rủi mà thôi.”
Một kẻ buôn người đã cười nhạo số phận bi thảm của 39 người nhập cư thiệt mạng trong container chở hàng khi cho rằng “Đó là chuyện hên xui.” Kẻ buôn người ở Anh này đã đưa ra bình luận ác độc trên khi được đề nghị đưa một phóng viên cải trang vào nước Anh theo cùng tuyến đường dẫn đến thảm kịch tuần vừa rồi.
Chỉ vài giờ sau khi tin tức về phát hiện kinh hoàng trên được lên sóng, các phóng viên của tờ Daily Mail đã tìm ra một người Albania ở Anh với biệt danh “Kace Kace” đề nghị hỗ trợ đưa lậu người nhập cư vào Anh.
Tờ Mail on Sunday cho biết người này tên thật là Kastrijot Ahmati và đang sống ở Walthamstow phía tây bắc London. Anh ta khẳng định chính bản thân cũng từng ngồi trong thùng xe tải để được đưa lậu vào Anh.
Ahmati quảng cáo các dịch vụ và đăng số điện thoại di động của mình trên một trang Facebook có tên “Người Albania ở London” với hơn 16.000 người theo dõi.
Kastrijot Ahmati quảng cáo các dịch vụ buôn người của mình, số điện thoại của anh ta nằm ngay trên mạng xã hội Facebook có tên ‘Albanians ở London.’
Táo bạo đăng số điện thoại di động của mình trên Facebook, Ahmati đề nghị giúp buôn lậu người vào nước Anh với giá từ 14.000 đến 17.000 bảng Anh.
Khi được một phóng viên cải trang liên hệ, anh ta nói rằng phóng viên có thể trả 17.000 bảng Anh (khoảng gần 22.000 USD) cho việc “làm giả giấy tờ” để đi máy bay từ thủ đô Tirana của Albania tới Anh. Ngoài ra, phóng viên có thể trả 14.000 bảng Anh (khoảng 18.000 USD) để được đi lậu trong thùng xe tải từ Bỉ – đây cũng là nơi xuất phát của chiếc container chứa 39 thi thể hồi tuần trước.
Hai ngày sau phát hiện nghiệt ngã ở Khu công nghiệp Waterglade tại Grays, Essex, Ahmati nói với nữ phóng viên cải trang rằng hành trình từ Bỉ sang Anh có thể kéo dài từ 12 đến 16 tiếng, tùy thuộc vào việc “phà có bị chậm chuyến hay không.”
“Tôi cũng từng đi như vậy rồi,” anh ta nói. “Tôi đang cố tìm cho cô con đường dễ dàng nhất, cô hiểu không?”
Phóng viên nói rằng cô muốn đi cùng một người thân nữa, nhưng cô được bảo rằng họ sẽ được đưa đi lậu cùng những người nhập cư khác, nếu không băng đảng buôn người sẽ “không có lãi.”
Cô sẽ trả tiền khi đến được Anh, nhưng Ahmati yêu cầu cô cung cấp thông tin chi tiết của người bạn ở Anh sẽ bảo đảm việc thanh toán này.
Giao dịch gây sốc và nhẫn tâm với một kẻ gian lạnh lùng
Ăn mặc hợp hoàn cảnh và nhâm nhi một ly càphê Costa, Kastrijot Ahmati không hề nổi bật giữa đám đông. Nhưng cuộc điều tra của tờ Mail on Sunday sẽ vạch trần sự thật về anh ta trong một mạng lưới buôn người xấu xa kiếm lợi nhuận trên mạng sống của những người nhập cư tuyệt vọng.
Táo bạo đăng số điện thoại di động của mình trên Facebook, Ahmati đề nghị giúp buôn lậu người vào nước Anh với giá từ 14.000 đến 17.000 bảng Anh.
Trong một cuộc gọi video trên Facebook với phóng viên cải trang của chúng tôi, anh ta chẳng quan tâm đến những rủi ro chết người của việc đi lậu trong một chiếc xe tải và cười vào cái chết bi thảm của 39 người nhập cư hồi tuần qua.
Cảnh sát điều tra tại hiện trường xe container chứa 39 thi thể ở Khu công nghiệp Waterglade thuộc Grays, phía Đông London, Anh ngày 23/10/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Anh ta nói việc đi lậu bằng xe tải từ Bỉ sang Anh là an toàn và chính anh ta cũng từng đi như vậy. “Tôi cũng từng đi như vậy rồi. Tôi đi cùng nhóm người mà tôi đã nói với cô, với đồng bào của tôi.”
Khi phóng viên nói rằng cô thấy “sợ hãi” sau thảm kịch hồi tuần trước, kẻ buôn người cười khinh bỉ: “Đó là chuyện hên xui. Đó là cách tất cả chúng tôi đến đây.”
Tổng số nạn nhân đã được xác định danh tính của chế độ nô lệ hiện đại và buôn người đã tăng vọt 80% từ năm 2016 đến năm 2018, lên tới 6.993 người, theo số liệu của NCA. Các nạn nhân tới từ 130 quốc gia, trong đó có 1.625 người đến từ Albania, chiếm tỷ lệ cao nhất.
Khi phóng viên lặp lại những lo lắng của mình và nói rằng “Chúng tôi sẽ chết mất,” Ahmati chỉ cười và nói: “Tôi không biết phải nói gì nữa, tôi đang chỉ cho cô con đường nhanh nhất và ngắn nhất để đến Anh, thề có Chúa.” Sau đó, như một dấu hiệu của việc làm ăn như bình thường bất chấp thảm kịch ở Essex, anh ta bảo phóng viên hãy chuẩn bị cho chuyến đi sắp tới.
Kẻ buôn người này được cho là đến từ Has, một quận miền bắc Albania. Có hàng trăm người ở đây cũng được cho là đã rời đi để tới Anh. Không rõ anh ta đã ở Anh được bao lâu, mặc dù các bài đăng Facebook cho thấy ít nhất anh ta đã bắt đầu sống tại đây từ tháng 9/2018.
Khi được tiếp cận và đề nghị bình luận, Ahmati đã nhấc điện thoại trả lời và xác nhận anh ta vẫn đang ở Anh. Thông qua một người bạn, anh ta khẳng định mình đã “đùa” trong các tin nhắn được đăng trực tuyến và trong cuộc điện thoại. Trả lời tin nhắn WhatsApp yêu cầu anh ta giải thích các hành động của mình, anh ta đáp lại: “Tại sao?” Tài khoản Facebook “Kace Kace” của anh ta cũng bị khóa ngay sau đó.
Cuộc điều tra cho thấy Ahmati là một trong bốn kẻ sử dụng trang Facebook “Người Albania ở London” để đưa lậu người nhập cư vào Anh.
“Tôi không biết phải nói gì nữa, tôi đang chỉ cho cô con đường nhanh nhất và ngắn nhất để đến Anh, thề có Chúa.”
Năm ngoái, Cơ quan Tội phạm Quốc gia (NCA) cho biết các băng đảng người Albania hoạt động với ‘mức độ tinh vi cao’ là những kẻ phải chịu trách nhiệm chính cho sự gia tăng người nhập cư bị buôn lậu vào Anh. Tổng số nạn nhân đã được xác định danh tính của chế độ nô lệ hiện đại và buôn người đã tăng vọt 80% từ năm 2016 đến năm 2018, lên tới 6.993 người, theo số liệu của NCA. Các nạn nhân tới từ 130 quốc gia, trong đó có 1.625 người đến từ Albania, chiếm tỷ lệ cao nhất.
David Wood, cựu tổng giám đốc thực thi di trú của Bộ Nội vụ đã giải thích cách hoạt động của những kẻ buôn người như sau: “Các băng đảng buôn người thường có các đầu mối ở các quốc gia nguồn. Các nước này bao gồm Trung Quốc, Afghanistan, Iraq, châu Phi cận Sahara, tiểu lục địa Ấn Độ. Những đầu mối này sẽ tuyên truyền cho việc “đến Anh để có cuộc sống tốt đẹp hơn.”
Hồ sơ điều tra của Daily Mail, bao gồm cả hồ sơ về danh tính của Ahmati đã được giao cho cảnh sát. Một người phát ngôn của cảnh sát cho biết bất kỳ thông tin liên quan nào cũng sẽ được chuyển cho các sỹ quan điều tra.
Đặt hoa tưởng niệm các nạn nhân xấu số trong vụ xe container chở 39 thi thể tại lối vào khu công nghiệp Waterglade ở Grays, hạt Essex, Anh ngày 26/10/2019. (Ảnh: PA/TTXVN)
Tài xế chiếc xe tải chở 39 thi thể đã bị bắt và buộc tội
Trong một diễn biến khác, Maurice Robinson, tài xế 25 tuổi lái chiếc xe chở công ten nơ nói trên đã bị buộc tội ngộ sát 39 người và thông đồng buôn người.
Trong khi đó, một tài xế xe tải khác ở độ tuổi 20 cũng đã bị bắt hôm thứ Bảy tuần trước tại cảng Dublin và hiện đang bị tạm giam. Việc bắt giữ tài xế thứ hai được thực hiện sau khi có khẳng định rằng chiếc xe tải đông lạnh có thi thể người di cư có thể là một phần của một đoàn xe lớn gồm 3 xe tải chở tới 100 người.
Chiếc xe tải chở container đông lạnh trên đã rời cảng ở Bỉ từ Zeebrugge hồi trưa thứ Ba tuần trước và tới cảng Purfleet vào nửa đêm thứ Tư. Chiếc xe được cho là đã được Robinson tiếp quản vào khoảng 12 giờ 30 sáng trước khi được lái tới Khu công nghiệp Waterglade ở Grays. Khoảng 1 giờ 40 sáng, xe cứu thương và cảnh sát đã được gọi sau khi các thi thể được phát hiện bên trong xe.
Đối tượng Maurice Robinson, tài xế của chiếc xe tải bên trong phát hiện 39 thi thể tại Essex, Anh. (Ảnh: The Sun/ TTXVN)
Thomas Maher, 38 tuổi, ông chủ của một công ty vận tải ở Warrington, Cheshire và vợ Joanna Maher, 38 tuổi, đã bị tạm giam do nghi ngờ ngộ sát và âm mưu vận chuyển người sau cuộc đột kích hồi sáng sớm thứ Sáu tuần trước vào nhà của họ ở Warrington, Cheshire.
Ba chiếc ôtô với biển số cá nhân thuộc sở hữu của đôi vợ chồng này đã bị cảnh sát thu giữ sau khi cặp đôi này bị thẩm vấn. Giấy tờ cho thấy bà Maher là chủ sở hữu của chiếc xe tải Scania chở container có 39 người nhập cư thiệt mạng nói trên. Một người đàn ông 48 tuổi đến từ Bắc Ireland, người đã bị bắt tại sân bay Stansted, cũng vẫn đang bị giam giữ.
“Đến nay chúng tôi đã thu được hơn 500 vật chứng gồm cả điện thoại di động. Trong những chiếc điện thoại đó chắc chắn có dữ liệu đã được tải về.”
Cảnh sát liên bang Bỉ đang nghiên cứu các máy quay an ninh để tìm kẻ đã đưa 39 người nhập cư tới Zeebrugge. Máy quay an ninh đã 10 lần ghi lại được hình ảnh của người này tại cảng.
Cảnh sát Essex cho biết họ đang dựa vào hồ sơ nha khoa cũng như dấu vân tay và DNA lấy được để xác định danh tính của 39 nạn nhân trong chiếc xe tải. Lực lượng này cho biết mỗi nạn nhân đều mang theo một túi xách, quần áo và các vật dụng tùy thân khác. “Đến nay chúng tôi đã thu được hơn 500 vật chứng gồm cả điện thoại di động. Trong những chiếc điện thoại đó chắc chắn có dữ liệu đã được tải về.”
Trong nỗ lực thu thập thêm thông tin, Chánh thanh tra cảnh sát Martin Passmore của sở cảnh sát Essex đề nghị sẽ không bị truy tố bất kỳ bạn bè hay người thân nào của các nạn nhân ra trình diện nếu họ cũng nhập cảnh trái phép vào Anh./.
Cảnh sát phong tỏa tại hiện trường phát hiện xe tải chở 39 thi thể ở Khu công nghiệp Waterglade của thị trấn Grays, hạt Essex, cách thủ đô London 32km về phía Đông, ngày 26/10/2019. (Ảnh: PA/TTXVN)
Nhắc đến quan họ, nhiều người chỉ nghĩ đến Bắc Ninh như một chỉ dẫn địa lý. Thế nhưng, ngay bên kia bờ bắc sông Cầu, mảnh đất Việt Yên cũng được coi là một trong những cái nôi khai sinh ra những câu giao duyên đằm thắm, mặn mà.
Việt Yên cũng là huyện duy nhất của tỉnh Bắc Giang có 5 làng quan họ cổ thuộc danh sách 49 làng quan họ Kinh Bắc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh.
Bởi vậy, “làm thế nào để gìn giữ và trao truyền những câu hát quan họ giao duyên bên dòng sông Cầu cho thế hệ kế cận” vẫn luôn là câu hỏi khiến những liền anh, liền chị ở tỉnh Bắc Giang nói chung và huyện Việt Yên nói riêng trăn trở…
Hành trình “giải mã” quan họ cổ phía Bắc sông Cầu
Từ khi được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2009), quan họ cổ được chú ý hơn và có sự “trở lại” mạnh mẽ trong đời sống cộng đồng.
“Dẫu vậy, không phải ai cũng biết, hiểu về không gian sinh hoạt cùng những cách gọi, lối hát… của quan họ cổ,” bà Đàm Thị Mùi (63 tuổi, làng quan họ cổ Nội Ninh, xã Ninh Sơn, Việt Yên) bày tỏ.
Có một xứ quan họ phía Bắc sông Cầu
Ngôi đình của làng Nội Ninh (Việt Yên, Bắc Giang) một sáng mùa thu chợt huyên náo lạ thường. Từ các ngả, những liền anh, liền chị xúng xính áo tứ thân, khăn the, nón lá quai thao… xăm xăm bước về phía khoảng sân rộng. Cuộc hẹn gặp với những khách phương xa muốn tìm hiểu về quan họ khiến họ náo nức và nóng lòng hơn lúc nào hết.
Những liền anh, liền chị xúng xính áo tứ thân, khăn the, nón lá quai thao để chuẩn bị cho một buổi “chơi quan họ”.
Bỏm bẻm nhai một miếng trầu cánh phượng, liền chị Đàm Thị Ô (làng quan họ cổ Nội Ninh, xã Ninh Sơn, Việt Yên) í a ngâm một câu trong khúc Bạn đến chơi nhà. Mặc dù đã hơn 80 tuổi, nhưng giọng của lão nghệ nhân vẫn da diết, sâu lắng và còn rất… ngọt.
Dừng lại một chút, bà khẽ chép miệng bảo: “Nhiều người hay nhầm lẫn Quan họ chỉ là của riêng Bắc Ninh. Thế nhưng, thật ra, đó là di sản chung của cả hai bờ Bắc và Nam sông Cầu mới đúng.”
Theo bà Ô, hiện nay trong số 49 làng quan họ cổ đã được thống kê từ những năm 1969 – 1971 ở cả bờ bắc và bờ nam sông Cầu thì Bắc Giang có các làng quan họ cổ là Hữu Nghi, Giá Sơn, Nội Ninh, Mai Vũ (xã Ninh Sơn) và Sen Hồ (thị trấn Nếnh).
Câu lạc bộ làng quan họ cổ Nội Ninh.
Năm 2006, để lập hồ sơ trình UNESCO công nhận quan họ là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, Bộ Văn hóa Thông tin cũ (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã giao Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia phối hợp Sở Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tỉnh Bắc Giang nghiên cứu.
Khi ấy, các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu xác định, ngoài 5 làng trên, huyện Việt Yên còn có 13 làng khác hội tụ các yếu tố của một làng quan họ cổ. Ngoài ra, ở thôn Bùi Kép và Bùi Bến (cùng ở xã Yên Lư, huyện Yên Dũng) và thôn Cẩm Xuyên, xã Xuân Cẩm (huyện Hiệp Hòa) cũng phát hiện nhiều người là nghệ nhân quan họ từ lúc trẻ. Những kết quả điều tra đã khẳng định không gian quan họ bờ bắc sông Cầu rất rộng lớn, còn lưu giữ nhiều giá trị của di sản văn hóa quan họ đặc sắc của vùng Kinh Bắc.
Những lớp nghệ nhân già như bà Ô vẫn nhớ không quên những lề lối hát cổ với những cách vang, rền, nền, nảy được truyền lưu. Nó như một thứ mạch máu ngầm chảy dần dật trong họ, nối hai bờ bắc và nam của dòng sông Cầu vốn đã trầm tích cả trăm năm văn hóa quan họ vùng kinh Bắc.
Cái tình qua câu hát
“Mỗi khi khách đến chơi nhà/ Đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ Trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng…” Ngưng câu hát, bà Đàm Thị Mùi bảo rằng quan họ không chỉ là một hình thức diễn xướng dân gian (hình thức hát giao duyên giữa các liền anh trong trang phục áo the, khăn xếp và các liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bảy, đầu đội nón quai thao) mà còn thể hiện cung cách ứng xử của người Kinh Bắc.
“Từ bao đời nay, người dân nơi đây vẫn truyền nhau câu nói: ‘Trọng nhau vì nghĩa, mến nhau vì tài.’ Đó chính là cái tình của người quan họ. Cái tình ấy được nâng niu, gìn giữ, đúc kết thành lời ăn nết ở của người dân Kinh Bắc; góp phần quan trọng làm nên sức sống, sức lan tỏa của quan họ trong đời sống đương đại,” bà Mùi bày tỏ.
Người Kinh Bắc nói chung và người Việt Yên nói riêng vốn trọng chữ “tình.” Bởi vậy, mọi cử chỉ, lời nói đều rất cẩn trọng, ý nhị. Điều này được thể hiện một cách tinh tế qua từng câu hát trong tổng số hơn 200 làn điệu quan họ cổ (với hàng ngàn dị bản) đang được lưu giữ, bảo tồn trong đời sống cộng đồng.
Mạch truyện nối dài, bà Mùi bảo, các bậc cao niên trong vùng cũng không nhớ rõ tục hát quan họ có từ khi nào. Những câu chuyện, truyền thuyết về nguồn gốc, thời điểm ra đời của quan họ được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Trong số đó, giả thiết cho rằng quan họ ra đời từ tục kết chạ (kết nghĩa) giữa các làng thờ chung thành hoàng được lưu truyền phổ biến hơn cả.
Ngoài ra, các bậc cao niên cũng chỉ biết rằng, từ hàng trăm năm nay, trải qua bao biến thiên của thời cuộc, lịch sử, quan họ vẫn tồn tại, ngấm sâu trong đời sống người Kinh Bắc.
Từ hàng trăm năm nay, trải qua bao biến thiên của thời cuộc, lịch sử, quan họ vẫn tồn tại, ngấm sâu trong đời sống người Kinh Bắc.
Trong một số giai đoạn cụ thể (thập niên 1950s-1960s), do điều kiện lịch sử, nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống thu hút đông người tham gia (trong đó có quan họ) không diễn ra phổ biến, thường xuyên.
“Ấy vậy mà quan họ chưa bao giờ mất đi. Khi không có những canh hát quan họ, các anh hai, chị hai vẫn ngân vang câu hát trong lúc sản xuất, cấy cày hay mỗi khi có dịp (khách đến thăm nhà, lễ lạt, cưới hỏi…), thậm chí, những bà mẹ vẫn ru con bằng câu quan họ. Bố mẹ tôi vẫn thường kể, trong thời kỳ chiến tranh, những khi từ dưới hầm trú ẩn lên, người dân Kinh Bắc lại chỉ dạy cho nhau những làn điệu được ông cha lưu truyền lại,” ông Nguyễn Văn Đắc (làng quan họ cổ Nội Ninh, xã Ninh Sơn, Việt Yên) bồi hồi.
Ông Nguyễn Văn Đắc (làng quan họ cổ Nội Ninh, xã Ninh Sơn, Việt Yên).
Hơn 70 năm gắn bó với loại hình dân ca này, bà Đàm Thị Ô cho biết, cũng như bao liền anh, liền chị sinh ra và lớn lên ở “cái nôi” quan họ, bà được nghe những làn điệu trữ tình sâu lắng ấy từ thuở lọt lòng. Ban đầu, bà học những giọng vặt, để rồi đến năm 10 tuổi, bà đã có thể hát được nhiều câu ca cổ.
Trong ký ức của bà, những thập niên đầu thế kỷ 20, đời sống còn nhiều khó khăn. Người dân chắt chiu từng hạt gạo, củ khoai… “Thế mà, vì mê quan họ, tôi đã làm hỏng không biết bao nhiêu bữa ăn của cả gia đình. Không ít lần, khi đang nấu cơm trong bếp, nghe tiếng ông nội dạy bố những câu quan họ cổ, tôi vụt chạy lên nhà, nấp sau cánh cửa để ‘học lỏm.’ Khi trong lòng đang mừng vui khấp khởi vì mới nghe, biết thêm và nhớ mang máng được một vài câu ca thì… cả gian bếp đã khét lẹt mùi cơm, khoai cháy,” bà Ô nhớ lại.
Cách “chơi” quan họ
Quan họ cổ không dùng nhạc đệm. “Những đoạn nhấn nhá ‘í…a… ơi…’ chính là những nốt nhạc nối từ câu này sang câu kia. Lời ca quan họ không phải lời ‘chót lưỡi đầu môi’ mà là sự trải lòng của các liền anh, liền chị. Từ âm sắc giọng hát, người nghe có thể hiểu được nỗi lòng, tâm trạng… của người hát,” ông Nguyễn Văn Đắc chia sẻ.
“Chơi” quan họ mang sắc thái thanh tao, nền nã, lời ca vang ngân vừa phóng khoáng, vui thú vừa đắm đuối, nền nã.
Ngoài việc nhớ lời, người học quan họ còn phải tập lấy hơi, rèn cách luyến láy, ngân nga, sau đó mới trau chuốt theo kỹ thuật “vang, rền, nền, nảy.” Người quan họ phải biết các điệu “hừ la,” “la rằng,” “la bạn”…; tập hát cả giọng vặt, giọng kết, giọng giã, hát lề lối, hát đối, hát canh…
Các nghệ nhân quan họ ở Việt Yên cho biết, trước đây, cổ nhân không gọi là “hát quan họ” như hiện nay mà gọi là “chơi quan họ.” “Hát quan họ thì nhiều người thực hành được, nhưng ‘chơi’ quan họ cho đúng bài bản, lề lối cổ thì không phải ai cũng làm được. Bởi lẽ, ‘chơi’ quan họ mang sắc thái thanh tao, nền nã, lời ca vang ngân vừa phóng khoáng, vui thú vừa đắm đuối, nền nã,” liền chị Đàm Thị Mùi chia sẻ.
Trước đây cổ nhân không gọi là “hát quan họ” như hiện nay mà gọi là “chơi quan họ.
Cũng theo bà Mùi, cổ nhân gọi là “chơi quan họ” còn bởi trước đây các làng thường kết chạ (kết nghĩa), mời các liền anh, liền chị sang chơi, cùng thi hát đối đáp. Từng nhóm liền anh, liền chị trong các làng thường được gọi là “bọn quan họ.” Người đứng đầu mỗi “bọn quan họ” được gọi là “ông trùm” hoặc “bà trùm.”
Một canh hát quan họ cổ thường có ba chặng. Ở chặng đầu tiên, các liền anh, liền chị thường hát theo đúng niêm luật, lề lối cổ. Chặng thứ hai là chặng vặt, người hát sử dụng các làn điệu phổ biến trong đời sống sinh hoạt. Chặng thứ ba được gọi là chặng giã, đòi hỏi cách hát lưu luyến, trữ tình.
Bà Đoàn Thị Mùi (Chủ nhiệm Câu lạc bộ Quan họ Nội Ninh).
Hơn nữa, người xưa cũng không gọi là “bài” quan họ như hiện nay. Thay vào đó, người quan họ gọi là “câu.” Thông thường, mỗi liền anh, liền chị thuộc từ 50 đến 70 “câu,” mỗi nghệ nhân “nằm lòng” hàng trăm “câu” quan họ.
Một trong những không gian sinh hoạt truyền thống của quan họ cổ là “nhà chứa” (nơi truyền dạy, tiếp đón các anh hai, chị hai từ những nơi xa đến).
“Trước đây, gia đình tôi sinh sống trong một ngôi nhà có bốn gian. Bố tôi đã dành một gian để làm ‘nhà chứa’ quan họ. Ở đó luôn có tráp trầu, lọ vôi và những vật dụng khác được bày biện theo lối cổ. Bao lớp liền anh, liền chị đã tới đây để cùng học và ngân nga câu quan họ. Đặc biệt, mỗi dịp gặp gỡ, các ‘bọn quan họ’ thường tổ chức những canh hát kéo dài nhiều ngày. Từ đó, tục ‘ngủ bọn’ cũng được hình thành và lưu truyền qua nhiều đời,” bà Đàm Thị Mùi chia sẻ.
Ngày nay, những thuật ngữ như “ngủ bọn,” “bọn quan họ,” “ông trùm,” “bà trùm”… ít được sử dụng dẫu rằng chúng phản ánh vẻ đẹp đặc trưng, riêng biệt và những giá trị lâu đời của văn hoá quan họ Kinh Bắc nói chung và quan họ Việt Yên nói riêng./.
Quan họ: Sợi dây gắn kết cộng đồng
Ở quê hương Kinh Bắc nói chung và huyện Việt Yên nói riêng, quan họ tự bao đời nay đã trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng.
Ông Nguyễn Đức Hiền – Giám đốc Trung tâm Văn hóa, Thể thao huyện Việt Yên (Bắc Giang) cho biết dân ca quan họ không chỉ ăn sâu vào tâm thức, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người dân ở những làng quan họ cổ mà ở khắp các làng, xã bên bờ Bắc sông Cầu. Đặc biệt, ở các lễ hội truyền thống không thể thiếu loại hình văn hóa dân gian này.
“Nghỉ làm về hát quan họ”
Ông Nguyễn Đức Hiền cho biết, hiện nay, Bắc Giang vẫn còn lưu giữ được khoảng 200 làn điệu quan họ cổ. Bên cạnh việc sưu tầm các làn điệu, bài ca xưa cũ, những người truyền dạy quan họ cũng soạn, đặt lời mới cho phù hợp với lứa tuổi để truyền dạy các thế hệ trẻ. Tuy nhiên, tại các làng quan họ cổ như Nội Ninh (xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên), phần lớn thành viên đều học theo lời cổ.
Bà Đoàn Thị Mùi (Chủ nhiệm Câu lạc bộ Quan họ Nội Ninh) cho biết, trong khoảng một thập niên vừa qua, quan họ có sự “trở lại” và phát triển mạnh mẽ hơn trong đời sống cộng đồng. Nếu ở thời điểm năm 2000, câu lạc bộ chỉ có bảy thành viên thì đến nay, tổng số thành viên trong câu lạc bộ là khoảng 30 người, thuộc nhiều độ tuổi khác nhau (từ 8 đến 94 tuổi).
Tại làng Nội Lát (xã Yên Sơn, Việt Yên), nghệ nhân Dương Thị Oanh cũng là một người “vác tù và hàng tổng” nhiều năm trong nỗ lực giữ gìn quan họ cổ.
“Câu lạc bộ sinh hoạt định kỳ vào tối thứ Bảy, Chủ nhật hàng tuần theo hình thức người đi trước truyền dạy cho người đi sau, người thuộc nhiều, biết nhiều làn điệu truyền dạy cho người biết ít. Tất cả đều là những người ‘ăn cơm nhà vác tù và… giữ quan họ.’ Không ai nhận một đồng công xá, hỗ trợ nào. Hơn thế, nhiều liền anh, liền chị vốn thường ngày đi công tác xa nhà nhưng khi câu lạc bộ có hoạt động đều sẵn sàng xin nghỉ để về tham gia. Cũng bởi lẽ ấy, quan họ mới bám chặt, bền sâu trong đời sống người Kinh Bắc,” bà Đoàn Thị Mùi cho biết.
Để dẫn chứng, bà Mùi chỉ vào từng liền anh, liền chị đang say mê hát trong đình rồi lẩm nhẩm tính: “Sáng nay nghe có đoàn về, mấy liền anh, liền chị đang ở ngoài đồng cũng về đây hát. Có người còn bỏ cả ngày công làm nhôm kính khoảng 600.000 đồng. Mọi người ‘máu lửa’ với quan họ lắm.”
Nghe bà nói, cả chục nghệ nhân – nông dân bên bờ bắc sông Cầu cùng bật cười rôm rả.
Liền anh Nguyễn Văn Đắc khẽ vuốt lại tà áo xếp cho phẳng phiu rồi góp chuyện: “Mỗi lần có dịp được hát, được chơi, chúng tôi đều háo hức vô cùng. Dù có đang bận thế nào, tất cả cũng í ới gọi nhau để ra lập phường, lập hội cho bằng được. Nếu không hát, cả ngày chúng tôi bứt rứt không sao chịu được.”
Liền anh tóc đã hoa râm ấy thậm chí còn kể, trong làng có cụ già đang ốm nhưng nghe những câu í a văng vẳng ra từ sân đình vẫn phải bắt con cháu dìu ra nghe… cho đã.
“Quan họ như một thứ gây nghiện, gây thương nhớ cho người làng Nội Ninh chúng tôi từ bao đời rồi,” ông Đắc nhấn mạnh.
Quan họ như một thứ gây nghiện, gây thương nhớ cho người làng Nội Ninh chúng tôi từ bao đời.
Tại làng Nội Lát (xã Yên Sơn, Việt Yên), nghệ nhân Dương Thị Oanh cũng là một người “vác tù và hàng tổng” nhiều năm trong nỗ lực giữ gìn quan họ cổ. Liền chị 52 tuổi này hiện đang là chủ nhiệm Câu lạc bộ quan họ của làng. Chị bảo nếu không có đam mêm thì sẽ rất khó vượt qua được đủ thứ áp lực của cuộc sống hàng ngày.
“Công việc ở nông thôn rất nhiều, mà mình có tiếng là chủ nhiệm nhưng cũng… không có lương. Việc quy tụ các thành viên tham gia vào câu lạc bộ vì thế rất khó khăn. Nhưng rất may là quan họ đã thấm vào máu của người Việt Yên nên qua 10 năm, câu lạc bộ vẫn từng bước lớn lên từng ngày,” chị Oanh bày tỏ.
Các liền anh, liền chị đến với nhau bằng tình yêu và niềm đam mê quan họ. “Nếu không có tình yêu ấy thì chúng tôi không thể vượt qua được những áp lực, trở ngại trong cuộc sống. Tham gia câu lạc bộ quan họ đồng nghĩa với việc chúng tôi phải sắp xếp, gác lại nhiều công việc gia đình. Hơn nữa, làm công tác phong trào lại không có trợ cấp,” ông Nguyễn Đức Ước (thôn Hạ Lát, xã Yên Sơn, huyện Việt Yên) cho hay.
Quan họ vẫn đang lớn từng ngày
Để bảo tồn quan họ cổ, những liền anh, liền chị tại Việt Yên đã buộc phải trở thành những nhà… sưu tầm bất đắc dĩ.
Liền anh Nguyễn Văn Đắc trầm ngâm giải thích, đặc thù của quan họ cổ là dùng lời cũ với ngôn ngữ đặc thù mà hiện nay khá ít dùng. Do đó, chỉ những lớp nghệ nhân đi trước mới có thể nhớ và thuộc được.
Sân đình là nơi hò hẹn mỗi tuần của các liền anh liền chị làng quan họ cổ Nội Ninh.
“Các cụ ngày trước hầu như không biết chữ. Vì vậy chúng tôi buộc phải đến tận nơi, nhờ các cụ hát rồi ghi lại từng dòng,” ông Đắc kể.
Ông Đắc không nhớ được mình đã phải gõ cửa bao nhiêu nhà trong làng để… xin được nghe, được chép lại vốn cổ của cha ông. Chỉ biết, đôi bàn chân ông và nhiều liền anh, liền chị khác đã đi mòn từng ngóc ngách nhỏ của Nội Ninh và nhiều ngôi làng cổ khác của Việt Yên. Hơn 10 năm “giữ quan họ,” nhóm của ông đã ghi được gần 200 làn điệu cổ. Mỗi lần bắt gặp một câu ca cũ chưa từng biết, ông lại “mừng quýnh lên như vớ được vàng.”
Theo nghệ nhân Đàm Thị Mùi, để học một câu quan họ cổ, có khi phải mất đến 10 ngày hoặc nửa tháng mới “vỡ bài.” Và cũng sẽ phải mất chừng ấy thời gian nữa, các liền anh, liền chị mới có khả năng nằm lòng và “chơi” một cách tự tin.
May mắn cho những liền anh, liền chị như ông Đắc là trong vòng 5 năm trở lại đây, phong trào “hát chiếu”- hát đối đáp theo lối cổ giữa các câu lạc bộ, các làng đã phát triển mạnh.
“Đây là hình thức hát cổ, thường được tổ chức để thi tài giữa các làng với nhau. Các cặp từ hai làng sẽ ngồi lại, mỗi bên xướng 1 bài và đợi bên kia đáp lại,” ông Đắc giải thích.
Những nghệ nhân coi hát chiếu là đỉnh cao của quan họ khi những người tham gia buộc phải có một vốn liếng và độ hiểu biết rất dày về quan họ cổ.
Những nghệ nhân coi hát chiếu là đỉnh cao của quan họ khi những người tham gia buộc phải có một vốn liếng và độ hiểu biết rất dày về quan họ cổ. Mỗi câu hát sẽ có một vài lối đối đáp tương ứng.
“Nếu vốn của hai phương đều nhiều, có khi canh hát kéo dài qua trọn 1 ngày đêm không dứt. Nhưng nếu một bên yếu hơn thì sẽ phải chịu thua. Người thua sẽ mất ăn mất ngủ vì… buồn. Họ sẽ lại phải đi tìm nhiều câu hát hơn để chuẩn bị cho lần tỉ thí mới,” ông Đắc chậm rãi chia sẻ.
Cũng theo ‘lão nông nghệ nhân’ này, chính hình thức hát chiếu đối đáp đó đã khiến cho kho quan họ cổ mỗi ngày một dày lên. Những liền anh, liền chị buộc phải tự biến mình thành những nhà điền dã, sưu tầm và tìm tòi không ngừng nghỉ.
Bên cạnh việc lưu giữ, câu chuyện truyền lửa cho thế hệ trẻ cũng được đặc biệt lưu tâm. Điều đáng mừng là trong nhiều năm trở lại đây, các câu lạc bộ quan họ như Nội Ninh, Hạ Lát… ngày càng đón nhận thêm nhiều thành viên nhí hơn. Ở các câu lạc bộ, nếu như các bạn nhỏ thường tỏ ra thích thú mỗi khi được học một bài, làn điệu mới và thường nhớ lời rất nhanh thì những các thành viên lớn tuổi lại có thế mạnh trong việc truyền tải được “cái tình” sâu lắng của quan họ bằng chính sự trải nghiệm trong đời sống.
Người Việt Yên cũng bắt đầu quen dần với những ‘liền anh, liền chị tí hon’ xúng xính áo tứ thân, khăn xếp, nón lá… í a giã bạn mỗi tối cuối tuần.
Người Việt Yên cũng bắt đầu quen dần với những ‘liền anh, liền chị tí hon’ xúng xính áo tứ thân, khăn xếp, nón lá… í a giã bạn mỗi tối cuối tuần.
Ông Nguyễn Đại Lượng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Việt Yên cho biết, huyện cũng chủ động phối hợp với các cơ quan báo, đài tuyên truyền, quảng bá tiềm năng phát triển du lịch của huyện; xây dựng website, các tài khoản mạng xã hội giới thiệu về giá trị di tích trên địa bàn đến đông đảo người dân trong và ngoài nước biết về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của địa phương (Xây dựng chuyên mục “Việt Yên Miền Di Sản” trên Công thông tin điện tử của huyện; phối hợp với Báo Bắc Giang xây dựng chuyên trang “Việt Yên miền quan họ”).
Một trong những thành tựu nổi bật là Ủy ban Nhân dân huyện Việt Yên định kỳ hàng năm tổ chức liên hoan hát quan họ tại Lễ hội Chùa Bổ Đà. Trong giai đoạn từ năm 2000-2019, liên hoan hát quan họ của huyện đã tổ chức được 19 lần.
Đại diện Trung tâm Văn hóa, Thể thao huyện Việt Yên cho biết, địa phương đã tổ chức điều tra, ghi chép thu thanh 19 bài quan họ dị bản tại làng quan họ Trung Đồng. Đây là tư liệu đặc biệt quý cần phải lưu giữ và bảo tồn, phát huy, truyền dạy trong thời gian tới.
Ngoài ra, huyện Việt Yên đã tổ chức và triển khai Đề án “Khôi phục lối hát đối đáp quan họ” tới 100% các làng quan họ ven sông Cầu thuộc các xã Tiên Sơn, Vân Hà, Ninh Sơn, Quảng Minh, Quang Châu, Vân Trung và Thị trấn Nếnh.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cổ truyền cũng là một trong những công việc được các cấp lãnh đạo quan tâm, để tiếp tục thực hiện xây dựng mục tiêu phát triển nông thôn mới kiểu mẫu, bền vững./.
Việt Nam-Lào là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, quan hệ gắn kết anh em giữa hai dân tộc đã được hình thành, hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Trong bảy thập kỷ qua, mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, sự gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kaysone Phomvihane đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp, đã trở thành tài sản vô giá của cả hai dân tộc, là quy luật phát triển chung của hai nước trên con đường phát triển phồn vinh, để nhân dân được ấm no, hạnh phúc.
Trong thời kỳ đấu tranh chống ách thống trị và xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, hai nước đã cùng chung sức chiến đấu chống kẻ thù chung. Những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã sang Lào để cùng chiến đấu sát cánh bên lực lượng vũ trang Lào, góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến chống thực dân, đế quốc của hai nước đi đến thắng lợi vẻ vang.
Nhìn lại chặng đường hào hùng lịch sử đã qua, chúng ta có thể tự hào về quá trình hình thành và phát triển của một mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hiếm có trên thế giới. Chặng đường ấy ghi dấu sự quyết tâm, hy sinh xương máu và nghĩa tình quân dân từ chính những người con ưu tú của hai dân tộc.
Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam tại Lào (30/10/1949-30/10/2019), phóng viên TTXVN thực hiện loạt 5 bài viết: Những chặng đường hữu nghị và vinh quang.
Liên minh chiến đấu Việt-Lào:
Biểu tượng của tình đoàn kết đặc biệt
Hiền Hạnh
Tháng 8/1954, đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Tổng Chính ủy, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Bộ Tổng Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân, Đoàn trưởng Đoàn 100 chuyên gia giúp Lào đến báo cáo và chúc sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại buổi gặp mặt ý nghĩa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao quan hệ và tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Đảng, quân đội, nhân dân hai nước Việt-Lào. Người căn dặn cán bộ, đảng viên Đoàn 100: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình.”
Chủ tịch Kaysone Phomvihane cũng từng đánh giá, trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương trong sáng về tinh thần quốc tế vô sản cao cả, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài, toàn diện như Việt Nam-Lào… Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào vô cùng tự hào thấy rằng: Qua những thử thách gay go, quyết liệt trong nhiều thập kỷ, cán bộ, đảng viên, chiến sỹ và nhân dân hai nước đã thề hy sinh tất cả, kể cả hy sinh xương máu của mình vì độc lập dân tộc của hai nước.
“Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào-Việt Nam sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông.” (Chủ tịch Kaysone Phomvihane)
Con đường chung đi tới độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cùng nhau xây dựng đất nước hòa bình, thịnh vượng của Việt Nam và Lào bắt nguồn chính từ tình nghĩa sắt son trong liên minh chiến đấu, đoàn kết tương trợ lẫn nhau, như Chủ tịch Kaysone Phomvihane đã khẳng định: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào-Việt Nam sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông.”
Sự ra đời, phát triển của lực lượng Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam tại Lào
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của hai dân tộc, nhân dân hai nước Việt Nam-Lào đã có sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 2/9/1945) và Chính phủ Lào Itxala (ngày 12/10/1945) là cơ sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước Việt Nam-Lào lên tầm liên minh chiến đấu.
Ngay sau khi giành được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào-Việt(ngày 16/10/1945) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào-Việt (ngày 30/10/1945). Đó là những văn kiện chính thức đầu tiên tạo cơ sở pháp lý để hai nước Việt Nam, Lào hợp tác và đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung.
Liên quân Lào–Việt trong kháng chiến chống Pháp, năm 1950. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Từ năm 1948, lực lượng quân sự của Việt Nam tại Lào đã từng bước được tổ chức thành các đơn vị độc lập với quy mô cấp đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn. Ngày 30/10/1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định: “Các lực lượng quân sự của Việt Nam chiến đấu và công tác giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện.”
Đây là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển và trưởng thành của các lực lượng quân sự trên chiến trường Lào; khẳng định đường lối, quan điểm đúng đắn của Đảng ta trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Ngày 30/10/1949 được lấy làm Ngày truyền thống Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam tại Lào.
Tháng 4/1950, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh quyết định thống nhất các lực lượng Quân tình nguyện hoạt động trên chiến trường Bắc Lào thành ba phân khu (A, B và C), được biên chế thành các trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội.
Ngày 30/10/1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định: “Các lực lượng quân sự của Việt Nam chiến đấu và công tác giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện.”
Sau thắng lợi của chiến dịch Biên giới Thu-Đông 1950 ở Việt Nam, bước sang năm 1951, theo thỏa thuận của lãnh đạo hai nước Việt Nam-Lào, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh tiếp tục tăng cường cán bộ và bộ đội tình nguyện sang chiến trường Lào, đưa tổng quân số tăng lên khoảng 12.000 người.
Tháng 4/1951, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thống nhất các lực lượng Quân tình nguyện ở Bắc Lào và Tây Lào, thành lập Ban cán sự Đảng và Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào. Về mặt tổ chức, Quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào có 4 đoàn: 80, 81, 82 và 83 (mỗi đoàn tương đương một trung đoàn) phụ trách hoạt động giúp bạn trên một địa bàn.
Trong những năm 1954-1959, phương thức hợp tác giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Lào có sự thay đổi. Ta chủ trương chuyển từ chế độ Quân tình nguyện (trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp) sang chế độ cố vấn quân sự (từ năm 1959 gọi là Chuyên gia quân sự). Về mặt quân sự, Trung ương Đảng ta đặt chế độ cố vấn tách khỏi hệ thống Quân tình nguyện, thực hiện ở ba cấp: Bộ Quốc phòng, Trường quân chính và các đơn vị, địa phương.
Chuyên gia quân sự Việt Nam với các chiến sĩ Lào. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Từ năm 1960, khi đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng trắng trợn vào công việc nội bộ của Lào, thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt,” mối quan hệ đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào được củng cố và phát triển ngày càng sâu đậm.
Theo thỏa thuận giữa hai Đảng, hai Chính phủ, sau năm 1965, Việt Nam tiếp tục tăng cường các đơn vị tình nguyện và chuyên gia giúp bạn. Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân các bộ tộc Lào cùng các đơn vị chủ lực từ Việt Nam sang mở các chiến dịch lớn đánh bại các cuộc hành quân của địch, tiêu diệt các căn cứ phỉ ở Thượng Lào.
Năm 1969, đế quốc Mỹ thực hiện “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào, yêu cầu nhiệm vụ giúp cách mạng Lào đòi hỏi ngày càng lớn. Để đáp ứng với tình hình mới của bạn, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã chủ động chấn chỉnh tổ chức biên chế các đoàn Quân tình nguyện và Chuyên gia đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.
Sau năm 1965, Việt Nam tiếp tục tăng cường các đơn vị tình nguyện và chuyên gia giúp bạn.
Khi đế quốc Mỹ và ngụy quân liều lĩnh mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương (năm 1970), sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Việt Nam và Lào tiếp tục có bước phát triển mới.
Theo đề nghị của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng Lào, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng Việt Nam lần lượt cử các đoàn cố vấn, chuyên gia quân sự 100, 959, 463, 565 và các đoàn Quân tình nguyện 335, 316, 763, 766, 866, 968 sang chiến trường Lào, giúp bạn xây dựng lực lượng, củng cố vùng giải phóng, tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng, trường kỳ, gian khổ, hy sinh với bao nhiêu chiến dịch lớn nhỏ để đập tan mọi âm mưu, sách lược của bọn đế quốc và bè lũ tay sai.
“Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”
Với tinh thần quốc tế vô sản và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam đã có những đóng góp to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cùng với quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào giành thắng lợi hoàn toàn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945–1975).
Không chỉ giúp bạn gây dựng cơ sở chính trị; xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang và các căn cứ cách mạng, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam còn góp phần giúp bạn phát triển chiến tranh nhân dân đáp ứng yêu cầu kháng chiến; huấn luyện lực lượng vũ trang, tăng cường công tác chính trị, xây dựng Đảng; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ đủ sức đảm đương nhiệm vụ của cách mạng Lào.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau khi lực lượng kháng chiến Lào chuyển từ đô thị về các vùng nông thôn, miền núi và sang vùng biên giới Thái Lan, cơ sở chính trị quần chúng còn rất ít. Các đoàn Quân tình nguyện phải phân tán lực lượng, thành lập các đội công tác cơ sở, đội vũ trang tuyên truyền đi vào các bản mường tuyên truyền, giáo dục đường lối kháng chiến, giác ngộ và tổ chức nhân dân vào các hội Itxala.
Liên quân Lào-Việt chào cờ trước khi xuất trận (1946). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Trong điều kiện hết sức khó khăn, cán bộ, chiến sỹ Quân tình nguyên đã nêu cao ý chí quyết tâm, sẵn sàng hy sinh, thực hiện “ba cùng với dân, kiên trì bám trụ, xây dựng cơ sở cách mạng. Đặc biệt, Đoàn 83 Quân tình nguyện đã cùng với bạn tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng ở Vientiane từ không đến có, từ một vài cơ sở đầu tiên ở vùng Nặm Tòn phát triển lan rộng thành 5 khu căn cứ cách mạng liên hoàn trong lòng địch và một số cơ sở kháng chiến ở các địa phương.
Sự giúp đỡ tích cực của các đoàn Quân tình nguyện và những nỗ lực to lớn của bạn, vào thời điểm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cơ sở cách mạng và căn cứ kháng chiến, vùng giải phóng của Lào được mở rộng, trong đó có nhiều khu căn cứ kháng chiến Lào đã nối liền nhau, mở thông với các vùng căn cứ ở Tây Bắc, các vùng hậu phương của Liên khu 4, Liên khu 5 (Việt Nam), tạo thành một thế kháng chiến liên hoàn từ Bắc Lào, Trung Lào đến Hạ Lào, tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Pháp ở Lào phát triển.
Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam đã giúp bạn về quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó chú trọng xây dựng Quân đội Pathet Lào.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam đã giúp bạn về quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó chú trọng xây dựng Quân đội Pathet Lào, làm nòng cốt cho các lực lượng vũ trang và nhân dân các bộ tộc Lào kháng chiến; quan tâm, giúp đỡ xây dựng các đơn vị trung lập yêu nước cùng đoàn kết phối hợp chiến đấu với Quân đội Pathet Lào. Trong những năm 1954-1965, các Đoàn 100, 959, 463, 565 làm nhiệm vụ chuyên gia (cố vấn) quân sự đã vận dụng sáng tạo kinh nghiệm để giúp bạn xây dựng cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân phù hợp với hoàn cảnh, tình hình cách mạng Lào.
Tháng 2/1966, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam ra chỉ thị cho các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào xây dựng dân quân du kích. Chỉ thị nêu rõ “giúp bạn một cách toàn diện bao gồm cả hệ thống chỉ đạo, chỉ huy và các vấn đề về đường lối, phương châm, chế độ, chính sách thuộc dân quân du kích.”
Đây cũng là nhiệm vụ chủ yếu của các đoàn, tổ chuyên gia quân sự. Suốt những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam thường xuyên giúp bạn xây dựng các khu căn cứ, vùng giải phóng, làm chỗ dựa để tiến hành các cuộc kháng chiến lâu dài.
Quân giải phóng Nhân dân Lào tiến sát hậu cứ địch để tiêu diệt địch. (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Với phương châm giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng, tiến tới tự đảm đương nhiệm vụ, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các đoàn Quân tình nguyện Việt Nam đã sớm hỗ trợ bạn xây dựng, huấn luyện lực lượng vũ trang cách mạng chiến đấu, bảo vệ căn cứ kháng chiến. Lúc đầu, ta đưa bạn vào các đơn vị của mình để kèm cặp, dìu dắt, tổ chức các đơn vị hỗn hợp Việt-Lào, Lào-Việt, sau đó tách ra thành các đơn vị độc lập, phân công nhiệm vụ phù hợp để rèn luyện, nâng cao trách nhiệm và trình độ mọi mặt cho các đơn vị vũ trang cách mạng Lào.
Trên cơ sở lực lượng dân quân du kích và phong trào chiến tranh du kích phát triển, ta giúp bạn xây dựng, huấn luyện bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực. Nhờ vậy, đến những năm 1951-1952, cách mạng Lào đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân, gồm đại đội chủ lực của khu; đại đội bộ đội tỉnh, trung đội vũ trang huyện và dân quân du kích ở bản mường.
Các đoàn Quân tình nguyện hết sức coi trọng nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho bạn.
Cùng với việc giúp bạn xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, các đoàn Quân tình nguyện hết sức coi trọng nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho bạn. Trong kháng chiến chống Mỹ, Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam đã từng bước giúp bạn huấn luyện nâng cao trình độ quân sự với 4 kỹ thuật lớn, trong đó chú trọng kỹ thuật bắn súng và nguyên tắc vận dụng các hình thức chiến thuật đánh địch trong mọi tình huống; tích cực giúp bạn mở các lớp huấn luyện cán bộ ngắn ngày về chính trị, quân sự, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cho bạn ở từng giai đoạn cách mạng.
Sát cánh cùng chiến đấu
Trong suốt 30 năm (1945-1975), quân đội ta cùng quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào đã kề vai chiến đấu, từng bước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đặc biệt, lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam đã cùng quân và dân bạn chiến đấu bảo vệ tuyến đường vận tải chiến lược – Đường Hồ Chí Minh phía Tây Trường Sơn; xây dựng chiến trường Lào thành chiến trường phối hợp với các hướng chiến trường khác, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia.
Đầu năm 1951, Đoàn 80 Quân tình nguyện đã cùng với một số đơn vị Quân đội Lào Itxala tổ chức nhiều trận phục kích địch. Những trận đánh nhỏ lẻ bằng các hình thức tập kích, phục kích cùng những trận chống địch càn quét của Quân tình nguyện và Quân đội Lào Itxala những năm 1951-1952 và đầu năm 1953 thắng lợi đã mở ra khả năng chuyển sang đánh nhiều trận liên tiếp; đồng thời phối hợp với các đơn vị quân chủ lực Việt Nam sang mở những chiến dịch lớn.
Bộ đội Pathet Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam trực sẵn sàng chiến đấu bằng súng phòng không 14,5mm trên xa thiết giáp do bộ đội tình nguyện Việt Nam tăng cường cho chiến trường Lào (1972). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Đó là các chiến dịch Thượng Lào (13/4-18/5/1953), Trung Lào (21/12/1953-4/1954), Thượng Lào (29/1-13/2/1954), Hạ Lào-Đông Bắc Campuchia (31/1-4/1954), đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng và củng cố các vùng giải phóng ở Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn bình định của địch, âm mưu chia rẽ tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Lào – Việt Nam.
Với vai trò nòng cốt, trong kháng chiến chống Mỹ, Quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục chủ động phối hợp với lực lượng vũ trang Pathet Lào đẩy mạnh các hoạt động tác chiến ở vùng Trung và Hạ Lào, cùng thực hiện thắng lợi chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ-ngụy tại khu vực Đường 9-Nam Lào.
Chiến trường Lào trở thành chiến trường phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính, tạo nên những thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia.
Những thắng lợi về quân sự của quân và dân hai nước trong các Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (1971), Chiến dịch Cánh Đồng Chum-Mường Sủi (4/1972), Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng (11/1972)… làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành thắng lợi từng bước về quân sự, hỗ trợ cuộc đấu tranh chung của nhân dân nước bạn Lào, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt,” tiến tới đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ ở Lào; góp phần thúc đẩy tình thế, cùng với các đòn tiến công, nổi dậy của quân và dân Nam Bộ, Tây Nguyên trên chiến trường chính Việt Nam làm cho địch thất bại từng bước, tiến tới thất bại hoàn toàn.
Nhờ chuẩn bị chiến trường chu đáo, trong các chiến dịch tiến công trên chiến trường Lào những năm 1962-1972, lực lượng Quân tình nguyện, quân chủ lực của ta và bạn tham gia ngày càng lớn. Ngoài ra, hàng nghìn đội dân quân du kích và dân công đã tham gia phục vụ trên địa bàn chiến dịch. Chiến trường Lào trở thành chiến trường phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính, tạo nên những thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia.
Thực hiện nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cán bộ, chiến sỹ Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam đã chịu đựng vô vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, lập nhiều chiến công trên chiến trường Lào.
Nhiều tập thể và cá nhân thuộc Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước Lào tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý. Cán bộ, chiến sỹ Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam được nhân dân các bộ tộc Lào tin yêu, coi như con em của bộ tộc mình. Những đóng góp to lớn đó đã góp phần quan trọng trong xây dựng, củng cố vững chắc tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước và hai quân đội Việt Nam-Lào./.
Một thập kỷ làm trợ lý cho Tổng Bí thư Kaysone Phomvihane
Hiền Hạnh
“Tôi phục vụ cách mạng Lào 43 năm, trong đó có 25 năm ở trên đất Lào và 18 năm làm công tác ở các cơ quan giúp Lào tại Hà Nội. 25 năm ở Lào, tôi có 6 năm bộ đội, 19 năm làm chuyên gia, cố vấn, trong đó có 10 năm làm trợ lý Tổng Bí thư Kaysone Phomvihane”…
Một ngày cuối tháng 10, trong căn nhà giản dị của mình, cựu chuyên gia Việt Nam tại Lào Nguyễn Văn Nghiệp đã bắt đầu những chia sẻ của ông như thế. Từ đó, dòng ký ức của người cựu chuyên gia cao cấp cứ thế ùa về, nối dài như những cống hiến và hy sinh lặng thầm của cuộc đời ông và hàng vạn người con ưu tú Việt Nam cho đất nước Lào anh em.
Mối duyên với đất nước Lào
Năm 1948, theo yêu cầu của Hoàng thân Souphanouvong, Bác Hồ giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng lúc bấy giờ đại diện Trung ương Đảng, Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ, tổ chức một đơn vị quân tình nguyện sang giúp Hạ Lào. Khi đó, chàng thanh niên Nguyễn Văn Nghiệp đang theo học văn hóa tại Trường Bổ túc văn hóa của cán bộ đảng viên ở Khu 5. Đây là ngôi trường do đồng chí Phạm Văn Đồng sáng lập và là hiệu trưởng danh dự.
“Khi tôi học được năm thứ nhất thì bác Đồng đến tuyển mộ 20 cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm trong công tác đưa vào đơn vị tình nguyện đó để sang Lào. Trong số 300 học sinh, sinh viên nam nữ của trường có 50 người tình nguyện, trong đó có tôi.
Nhưng khi bác Đồng chọn 20 người thì tôi không trúng vì gầy yếu lắm, 48kg. Thế là tôi không được đi. Nhưng đến hôm chuẩn bị vào đơn vị nhận nhiệm vụ thì một trong 20 đồng chí được tuyển có mẹ ốm nặng nên đồng chí không đi, tôi xin đi thay. Từ đó tôi sang Lào, 19/8/1948.” Đơn vị của chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp cũng là đơn vị quân tình nguyện đầu tiên của Khu 5. Năm đó, ông 19 tuổi.
Mối duyên với đất nước triệu voi vẫn tiếp tục khi ông Nghiệp được cử ở lại để làm cố vấn cho Tỉnh ủy bí mật của tỉnh Champasak, hoạt động trong vùng đối phương kiểm soát cùng với hai đồng chí nữa.
Khi sang Lào, đầu tiên ông Nghiệp được phân công làm công tác cơ sở, nắm tình hình. Ở trong bộ đội 6 năm, từ năm 1948-1954, địa bàn công tác của ông chủ yếu ở tỉnh Champasak, Hạ Lào. Sau năm 1954, bộ đội Việt Nam rút về nước, Pathet Lào rút về Sầm Nưa, nhưng tại các tỉnh cách mạng Lào vẫn bố trí một Tỉnh ủy bí mật để hoạt động. Mối duyên với đất nước triệu voi vẫn tiếp tục khi ông Nghiệp được cử ở lại để làm cố vấn cho Tỉnh ủy bí mật của tỉnh Champasak, hoạt động trong vùng đối phương kiểm soát cùng với hai đồng chí nữa.
Thời kỳ là bộ đội tình nguyện, ông Nghiệp được giao phụ trách một đơn vị, vừa đánh địch vừa làm công tác xây dựng cơ sở. Lúc đầu, ở miền núi biên giới, ông và đồng đội cùng ăn, cùng ở với đồng bào dân tộc, học tiếng thiểu số, làm công tác vận động.
Chuyên gia tuyên huấn Việt Nam với cán bộ tuyên huấn Lào (1968). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
“Thời kỳ đó rất kham khổ, ăn uống thiếu thốn, thuốc men không có, sốt rét rừng… Chấy đầy người, rận khắp trong quần áo, mỗi lần thay quần áo chúng tôi phải nấu nước sôi đun lên để giặt’, ông Nghiệp nhớ lại. Một năm sau, đơn vị của ông vào sâu trong đất Lào.
Lúc bấy giờ không biết tiếng, không hiểu phong tục, không hiểu tình hình địa phương, lại ở vùng sau lưng địch, đơn vị của ông phải chia nhau thành các tổ, vừa học tiếng, học chữ Lào, vừa tìm hiểu phong tục tập quán, tình hình địa phương, sinh hoạt với dân để thực hiện ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng nói tiếng dân tộc), qua đó vận động nhân dân.
“Thời kỳ đó đói khát phải ăn củ mài, ăn sung thay cơm, sốt rét rừng rất gian khổ. Nhưng mình bám dân nên được dân tin, được bạn tin,” (cựu chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp nhớ lại)
Thời điểm đó, ông Nghiệp đã linh hoạt, sáng tạo ra phương thức vận động theo quy trình: “bắt mối,” “xâu chuỗi,” “tìm nòng cốt.” “Tức là thông qua quan hệ, nói chuyện của mình với người dân, nhận thấy ai có cảm tình với cách mạng, có thể thuyết phục được thì “bắt mối” vào người đó, rồi từ người đó tìm hiểu thêm những người tiếp theo, gọi là “xâu chuỗi.”
Qua chuỗi đó, lại chọn ra những người nòng cốt tốt nhất để tổ chức họ vào các tổ chức Itxala bí mật, từ đó phát triển, xây dựng đội ngũ rộng hơn, không chỉ đội ngũ, mà còn xây dựng các đoàn thể, xây dựng lực lượng dân quân du kích và chính quyền,” ông Nghiệp cho biết. Từ đó, ông cùng Quân tình nguyện Việt Nam xây dựng các khu du kích, khu căn cứ, cùng ăn, cùng ở với nhân dân các bộ tộc Lào, cùng nhân dân sản xuất, đánh giặc giữ làng. “Thời kỳ đó đói khát phải ăn củ mài, ăn sung thay cơm, sốt rét rừng rất gian khổ. Nhưng mình bám dân nên được dân tin, được bạn tin,” cựu chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp nhớ lại.
Vị Tổng Bí thư với tác phong bình dị, gần dân
Những năm tháng không quên trong cuộc đời cống hiến cho cách mạng Lào của cựu chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp chính là giai đoạn ông vinh dự được làm trợ lý cho Tổng Bí thư Kaysone Phomvihane. Lật giở từng trang giấy đánh máy của cuốn sổ đã sờn cũ, ông Nghiệp cho biết, trong cuốn sổ ông cầm trên tay có lưu lại bản dịch Điếu văn của Tổng Bí thư Kaysone Phomvihane khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.
Điếu văn dài 4-5 trang giấy, bên cạnh bày tỏ sự tiếc thương vô hạn, Tổng Bí thư Kaysone nói về đạo đức, tác phong tư tưởng của Bác; công lao của Bác đối với cách mạng thế giới, với cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào.
Trong đó, những nội dung đề cập tới công lao của Người đối với cách mạng Lào chiếm khoảng một nửa Điếu văn: Từ việc Bác cho ý kiến vào những vấn đề lớn của cách mạng Lào như vấn đề thành lập Đảng, thành lập lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, vấn đề cán bộ, đấu tranh để hòa hợp dân tộc…, đến những vấn đề sách lược, chiến lược.
Bí thư thứ nhất Kaysone Phomvihane thăm đơn vị quân tình nguyện Việt Nam ở Lào (1970). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Ông Nghiệp khẳng định, sinh thời, Tổng Bí thư Kaysone cực kỳ coi trong mối quan hệ Lào-Việt, thậm chí lấy tiêu chuẩn về quan hệ hai nước là một trong những tiêu chuẩn về cán bộ đảng viên của Lào. Theo đó, cán bộ, đảng viên của Lào phải coi việc gìn giữ, phát triển quan hệ Lào-Việt là một tiêu chuẩn phấn đấu.
Trong ấn tượng của ông Nghiệp và những cựu chuyên gia Việt Nam giúp việc cho Văn phòng Trung ương Đảng Lào thời kỳ đó, Tổng Bí thư Kaysone Phomvihane còn là người có tác phong quần chúng, vô cùng gần gũi với nhân dân.
Đối với cán bộ cấp dưới, Tổng Bí thư rất tin cậy, thương yêu, quan tâm đến họ từ sức khỏe tới cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt, Tổng Bí thư là người hết lòng vì công việc. Tuy gia đình ở Vientinane cách đó 6km nhưng chủ yếu Tổng Bí thư Kaysone đều ở trong Văn phòng Trung ương để tiện làm việc, cuối tuần cũng ít khi về nhà mà thường đi xuống cơ sở, chọn tới thăm một hợp tác xã, một đơn vị hay bản nào đó để xem tình hình nhân dân ở đấy có vấn đề gì; việc thực hiện đường lối, chính sách của Trung ương tại địa phương được thực hiện như thế nào… Những chuyến đi đó đều có chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp đi cùng.
Làm việc với các chuyên gia Việt Nam, có nội dung gì cần thiết, Tổng Bí thư đều mời đến để được nghe giới thiệu chi tiết.
Đối với ông Nghiệp, tác phong quần chúng của Tổng Bí thư Kaysone còn thể hiện trong quá trình làm việc, chú ý lắng nghe ý kiến của anh em chuyên gia Việt Nam, kể cả về những vấn đề quan trọng như cán bộ, nhân sự.
“Cụ sống cũng rất bình dị. Khi đi cơ sở, thăm và trò chuyện với nhân dân, được mời nước, mời trầu, cụ sẽ dùng tự nhiên, tác phong rất gần gũi quần chúng nên nhân dân rất mến.”
Tổng Bí thư Kaysone còn rất chịu khó nghiên cứu, học tập. Làm việc với các chuyên gia Việt Nam, có nội dung gì cần thiết, Tổng Bí thư đều mời đến để được nghe giới thiệu chi tiết. Khi chuẩn bị đi công tác tại Liên Xô hay những nước khác, thấy ở đâu có vấn đề cần quan tâm, Tổng Bí thư thường đề nghị với Đại sứ nước đó giúp cử cho mình các chuyên gia để giới thiệu về những vấn đề ấy…
Chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp kể: “Tổng Bí thư coi tôi như người thân cận của ông, nhưng tôi tự ý thức rằng mình không thể lợi dụng tình cảm đó để vì lợi ích riêng của mình, nên tôi hết sức tránh chuyện đó. Có những việc rất nhỏ thôi, ví dụ mỗi lần Tổng Bí thư đi công tác, đều hỏi tôi có cần gì không? Tôi đều thưa Tổng Bí thư là không có gì cần. Nhưng có lần, trước một chuyến đi Liên Xô, Tổng Bí thư nói: “Thấy cậu mùa rét mà đi lại không có áo khoác. Lần này đi Liên Xô sẽ báo anh em mua cho cậu.” Tôi rất cảm động trước sự quan tâm chân tình của ông đối với một nhân viên như mình.”
Đồng chí Kaysone Phomvihane, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào với chuyên gia Việt Nam tại Hội nghị tổng kết công tác chuyên gia 10 năm giúp cách mạng Lào (Hà Nội, 12/1974). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Sau chuyến đi đó, Tổng Bí thư Kaysone mua cho ông một chiếc áo khoác dài. “Nhưng áo dài quá, về tôi phải sửa lại, gấp gấu áo lên mặc”, ông Nghiệp cười nói. Có những lần khác, Tổng Bí thư không hỏi, nhưng đi công tác về hay có chiếc áo sơ mi tặng ông, nhiều chiếc cho đến bây giờ ông Nghiệp vẫn mặc.
Buổi chiều, Tổng Bí thư đi dạo trong khuôn viên Văn phòng và hay gọi ông đi cùng, vừa để bàn công việc, vừa hỏi thăm về gia đình… Mỗi năm trước khi ông và các chuyên gia Việt Nam về nghỉ Tết, hoặc mùa hè khi Tổng Bí thư đi nước ngoài, thường trước khi đi bao giờ Tổng Bí thư Kaysone cũng gọi các anh em trong Tổ chuyên gia Việt Nam vào dùng chung bữa cơm. Khi đi về, Tổng Bí thư có quà cho từng người, đối đãi như người thân.
“Thời gian tôi làm trợ lý có cả tổ thư ký, nhưng trong những chuyên gia Việt Nam thì tôi là người thạo tiếng nhất, một số anh em nữa giúp việc, người chuyên về kinh tế, người về đối ngoại…, nhưng tôi thì giúp chung tất cả các mảng trực tiếp cho Tổng Bí thư. Những anh em còn lại không thạo tiếng Lào, khi làm đều phải qua phiên dịch. Từng người cũng đi sâu vào từng lĩnh vực, còn tôi thì bao quát toàn diện tất cả các mảng,” ông Nghiệp cho biết.
Nhiều năm công tác trên đất bạn, chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp có mối quan hệ rộng rãi với các cán bộ Lào từ Trung ương tới cơ sở.
Trước những hội nghị quan trọng, ông Nghiệp thường được Tổng Bí thư Kaysone giao sắp xếp, hệ thống lại những vấn đề, nội dung chủ yếu, cần thiết. Khi Tổng Bí thư đi nước ngoài, chính ông cũng là người chuẩn bị cho Tổng Bí thư những thông báo tới các nước, dự kiến nội dung phóng viên nước ngoài sẽ phỏng vấn; hoặc dự kiến những vấn đề cần giải đáp tại các kỳ họp Trung ương… Mỗi khi đi thực tế tại một tỉnh, Tổng Bí thư cũng hay hỏi ý kiến đánh giá của ông về thành tích, ưu khuyết điểm của địa phương đó, cần góp ý với địa phương vấn đề gì…
Nhiều năm công tác trên đất bạn, chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp có mối quan hệ rộng rãi với các cán bộ Lào từ Trung ương tới cơ sở. Nhân dân Lào có tinh thần yêu nước, Lào còn là một dân tộc theo đạo Phật nên người dân rất có lòng nhân từ, nhân văn và chất phác.
Ông Nghiệp chia sẻ, phẩm chất này có thể thấy không chỉ ở những người dân: “Họ rất chân chất, có gì nói nấy, và khi đã có niềm tin thì họ giữ niềm tin đó rất lâu, nếu mình làm mất niềm tin đó coi như xóa đi tất cả.”
Không chỉ Tổng Bí thư Kaysone, ông Nghiệp nhận được sự tin tưởng của nhiều đồng chí là cán bộ cao cấp thời kỳ đó như Bộ trưởng Ngoại giao, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách về kinh tế kế hoạch… Nhiều vấn đề khi làm việc với Tổng Bí thư nhưng chưa có điều kiện hoặc thời gian làm việc, bàn bạc cặn kẽ, các cán bộ thường chủ động đến tìm và đề nghị ông trình bày, làm rõ thêm trước Tổng Bí thư.
3 năm cuối trong thời kỳ làm trợ lý (từ năm 1988-1991), ông kiêm Tổ trưởng chuyên gia giúp Văn phòng Trung ương Đảng Lào và Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Lào.
Chuyên gia quân sự Việt Nam huấn luyện kỹ thuật sử dụng pháo 12 nòng cho đơn vị nữ pháo binh của bộ đội Pathet Lào chống đề quốc Mỹ (1972). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Quá trình ở đất bạn, ông đi khắp cả nước Lào, đặc biệt vì làm trợ lý cho Tổng Bí thư, được Tổng Bí thư rất tin cậy, coi như cán bộ của Lào nên tận khi đã có quyết định về hưu, ông vẫn được giữ lại làm việc thêm hơn một năm. Năm 1990, ông Nghiệp nhận quyết định về hưu ở trong nước, nhưng Tổng Bí thư Kaysone có yêu cầu ông ở lại một thời gian để giúp việc triển khai Nghị quyết Đại hội của bạn. Tháng 9/1991, ông mới chính thức về nước, kết thúc hơn 25 năm công tác giúp đất nước Lào anh em.
25 năm ông xa nhà là ngần ấy năm bà Lê Thị Thu, vợ ông một mình chăm lo cho gia đình, nuôi dạy hai con. Một năm ông chỉ về thăm nhà được hai lần, căn nhà ở khu tập thể 79-81 Lý Nam Đế vắng bóng người đàn ông, mùa mưa nước ngập, mấy mẹ con lại cùng nhau xoay sở. Song cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng Lào, ông đều được bà ủng hộ, làm hậu phương để ông vững tâm công tác.
Với những đóng góp của mình, chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp đã được tặng thưởng 9 Huân chương của cả Việt Nam và Lào, trong đó có những vinh dự như Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Lao động. Đặc biệt, ông còn được Nhà nước Lào trao tặng 3 Huân chương Tự do hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng của Quân đội và Huân chương Hữu nghị./.
‘Tôi đề nghị được hy sinh’
Hiền Hạnh
Quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Lào luôn là biểu tượng của tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm cũng không thể chia cắt.
Hàng chục vạn cán bộ, chiến sỹ Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam đã không quản ngại gian khổ, chấp nhận mọi hy sinh để sát cánh cùng các lực lượng cách mạng Lào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả. Không chỉ là máu xương để lại, trong những cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, họ sẵn sàng nhường cho nhau sự sống, như những bản tráng ca vượt lên trên tất cả những điều cao đẹp.
Lời đề nghị đặc biệt
Chia sẻ ấn tượng về những tấm gương chiến đấu hy sinh của Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Trung tướng Nguyễn Tiến Long, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào, Phó Chủ tịch Hội truyền thống Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu 3 cho biết, lịch sử Quân tình nguyện Việt Nam có ghi lại một chuyến công tác và một lời đề nghị đặc biệt. Vào khoảng đầu năm 1948, một đoàn cán bộ cấp cao của cách mạng Lào đi từ Thái Lan qua Lào về Việt Nam gặp Bác Hồ.
Trong đoàn công tác có ba lãnh đạo cấp cao cùng Hoàng thân Souphanouvong và đồng chí Kaysone Phomvihane, khi đó là những cán bộ chủ chốt, cũng là những người chủ trì lãnh đạo cách mạng Lào. Ngoài ra còn có khoảng 3-4 đồng chí xứ ủy Ai Lao và 4 đảng viên của Đảng Cộng sản Miến Điện đi cùng.
Lịch sử cùng nhau đấu tranh của hai dân tộc đã có biết bao nhiêu lời đề nghị được cống hiến cho cách mạng, nhưng lời đề nghị này là vô giá và hết sức đặc biệt.
Đoàn đi từ Thái Lan vượt qua sông Mekong về đến địa phận của tỉnh Xieng Khouang thì không may gặp địch. Đoàn gồm toàn cán bộ cấp cao nên chỉ có súng ngắn, tổ bảo vệ dẫn đường lại chỉ có 4-5 người nên cuộc chiến đấu rất không cân sức. Tuy nhiên, đoàn đã khôn khéo vượt qua được vòng vây của địch và tiếp tục cuộc hành trình về phía Việt Nam. Không may trong cuộc chiến đấu bất ngờ đó, đồng chí đội trưởng đội bảo vệ đã bị thương nặng, gãy xương đùi. Núi cao nhất, vực sâu nhất còn đang chờ ở phía trước, địch nhiều nhất cũng đang chặn ở phía trước, hành trình của đoàn trở nên rất khó khăn, phải khiêng nhau và cõng nhau, mấy tiếng đồng hồ tiếp theo đi thêm không được bao nhiêu, chưa qua được tầm hỏa lực của địch.
Tới lúc dừng lại nghỉ, đoàn có rút kinh nghiệm chấn chỉnh đội hình. Đồng chí đội trưởng đội bảo vệ bị thương nặng có nói với đoàn rằng: Tôi bị thương nặng, không thể đi được, kẻ địch lại đang rình rập ở phía trước rất nguy hiểm. Nếu dùng người khiêng cáng tôi càng dễ gây nguy hiểm tính mạng cho cả đoàn. Sau khi phân tích tình hình, đồng chí có một đề nghị ngắn gọn chỉ gồm sáu chữ: “Tôi đề nghị được hy sinh.”
Bức trướng “Lào-Việt đoàn kết’ do Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Đại hội Quốc dân Lào (8/1950). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Trung tướng Nguyễn Tiến Long cho rằng, lịch sử cùng nhau đấu tranh của hai dân tộc đã có biết bao nhiêu lời đề nghị được cống hiến cho cách mạng, nhưng lời đề nghị này là vô giá và hết sức đặc biệt. Đương nhiên, cả đoàn không ai chấp nhận đề nghị của đồng chí đó, bằng mọi cách vẫn vừa khiêng cáng, vừa bảo vệ các cán bộ đi cùng đoàn. Nhưng vì đường xa, mệt mỏi, đêm đó tất cả mọi người phải dừng lại nghỉ. Và trong khi mọi người ngủ thiếp đi, đồng chí đội trưởng đội bảo vệ đã tự thực hiện đúng sáu tiếng đề nghị của mình.
“Những tấm gương chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam ở trên đất Lào có hàng chục vạn lượt. Tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào cũng thật đặc biệt, đặc biệt như những lời đề nghị của đồng chí đội trưởng đội bảo vệ ấy…” Trung tướng Nguyễn Tiến Long trầm giọng.
Lịch sử chỉ ghi lại rằng, người chiến sỹ quân tình nguyện ấy tên Phú, quê ở huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Đồng chí là người Việt Nam sống ở Lào và tham gia đội quân cách mạng quân tình nguyện, là thành viên của đường dây liên lạc cách mạng quốc tế Thái Lan-Lào-Việt Nam.
Sống trọn đời mình với rừng
Trung tá Bùi Minh Sơn sinh năm 1950, là lính Công binh của Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào từ năm 1968. Cho đến bây giờ, ký ức về năm tháng cùng sống, chiến đấu với đồng đội trong những cánh rừng Lào vẫn in đậm trong trí nhớ của người cựu Quân tình nguyện đã hơn 70 tuổi. Đang học dở lớp 10, cậu thanh niên Bùi Minh Sơn tình nguyện lên đường nhập ngũ với biết bao bỡ ngỡ.
“Tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào cũng thật đặc biệt, đặc biệt như những lời đề nghị của đồng chí đội trưởng đội bảo vệ ấy…” (Trung tướng Nguyễn Tiến Long trầm giọng.)
“Xuất thân là học sinh Hà Nội, ở nhà tôi chưa bao giờ mang cái gì nặng quá 2kg và đi bộ quá 2km, nhưng khi chân ướt chân ráo vừa khoác bộ quân phục, lập tức nhận lệnh cùng đơn vị hành quân rèn luyện từ Hà Nội lên đến Sơn La, quãng đường bấy giờ khoảng 309km. Ngoài quân trang, ba lô, đồ đạc, mỗi người chúng tôi phải vác trên vai 11kg gạo và thực phẩm là cá khô. Đi được vài ngày ăn vơi số gạo và thực phẩm đi thì xe tiếp tế lại đuổi theo dồn vào đầy đủ. Khi lên tới Sơn La, trên vai mỗi người vẫn đủ 8kg gạo, 3kg cá khô,” ông Sơn nhớ lại.
Thời gian đầu, ông được phân về Quân khu Tây Bắc, sau đó biên chế về một tiểu đoàn công binh của Quân khu. Ở Lào có hai mùa rất rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô. Địa hình của Lào chủ yếu lại là rừng núi, chỉ có một diện tích là đồng bằng.
“Mưa Lào trắng trời, từ ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần khác, tháng này sang tháng khác… Vì thế, điều kiện sinh hoạt, chiến đấu ở chiến trường cực kỳ gian khổ. Những đôi giày quân dụng rất bền, sản xuất cho người lính hành quân chiến đấu là bền nhất có thể, nhưng có những đôi chúng tôi chỉ đi một tuần đã bục, vì ngâm chân suối nước suốt ngày, chân lở loét. Cũng quãng đường ấy mùa khô chúng tôi đi mất 2 giờ đồng hồ, nhưng mùa mưa phải đi mất 5 tiếng, vì trơn, trượt ngã trên đường đèo dốc… Thậm chí có những đoạn đường vẫn đi vào mùa khô đã biến mất, trôi tuột xuống vực tự lúc nào theo những cơn mưa trắng xóa,” ông Sơn chia sẻ.
Quân Pathet Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam tiến vào giải phóng Xiengkhor, Sầm Nưa, Lào. (1950). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Chiến trường gian khổ, xa lạ, nhưng tình đồng đội đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau đã giúp những người lính vượt qua mọi khó khăn. Đồng đội ở cùng đơn vị ông Sơn có nhiều người dân tộc thiểu số đã ở rừng núi lâu ngày nên rất có kinh nghiệm, khu rừng như căn nhà của họ. Họ có thể đọc được những thông tin ở trong đó.
Nhiều khi đi hành quân xuyên rừng, chỉ cần một vệt bùn còn dính ở trên lá cây, anh em người dân tộc có thể biết được đó là con gì, đã đi qua cách đây khoảng bao lâu, nặng khoảng bao nhiêu cân, hầu như không bao giờ sai. Hoặc chỉ cần nghe tiếng tắc kè, nhìn lá cây, nhìn ụ mối, anh em có thể đoán được thời tiết trong khoảng mấy chục giờ tới sẽ như thế nào. Việc đọc thông tin ở rừng giúp ích rất nhiều cho “kỹ năng sống” của những người lính nơi rừng thiêng nước độc.
Không chỉ sát cánh cùng nhau trong cuộc sống, trong thực hiện nhiệm vụ, dưới điều kiện khó khăn, những người lính Công binh Quân tình nguyện Việt Nam người đi trước dạy người đi sau ngay tại thực địa, hướng dẫn nhau trong chính công việc hằng ngày.
“Những kiến thức, trải nghiệm ấy đến và được hình thành qua sống chết, giúp mình tồn tại để làm nhiệm vụ, chiến đấu, sống và cứu giúp người khác. Tôi vốn là dân thành phố, sống ở rừng một thời gian dài tự dưng cũng học tập các anh em người dân tộc, rồi dần dần cũng trở thành một phần của rừng núi cho đến bây giờ. Đến tuổi này tôi vẫn thích rừng núi hơn là biển cả. Về với rừng tôi cảm giác như được về nhà, không khí, hương thơm, thậm chí mùi lá mục có gì đó rất thân quen…,” ông Sơn bùi ngùi.
Không chỉ sát cánh cùng nhau trong cuộc sống, trong thực hiện nhiệm vụ, dưới điều kiện khó khăn, những người lính Công binh Quân tình nguyện Việt Nam người đi trước dạy người đi sau ngay tại thực địa, hướng dẫn nhau trong chính công việc hằng ngày, nỗ lực đảm bảo giao thông, sửa chữa đường sá, khắc phục bom mìn, vật cản…
Cán bộ Việt Nam-Lào tại công binh xưởng Hượi Khạ, Mường Xạ, Lào. (1949-1950). (Nguồn: Sách ảnh Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, NXB Thông tấn)
Năm 1970, lúc bấy giờ ông Sơn cùng đơn vị đang ở cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng. Một hôm, ông và một chiến sỹ là người dân tộc Mông được cử đi phá bom. Do bị ném ở độ cao thấp nên sau khi chạm đất, một phần của quả bom trồi hẳn lên mặt đường. Xác định là bom nổ chậm, ông Sơn cùng người Tiểu đội phó đi cùng quyết định phá. Lúc bấy giờ có hai cách: Áp thuốc nổ kích bom nổ ngay, hoặc vần quả bom xuống suối, xuống vực chờ tới lúc bom tự nổ. Phương án đánh nổ quả bom để đảm bảo an toàn nhanh chóng được ông và đồng đội lựa chọn.
Trung tá Sơn hồi tưởng: “Chúng tôi đã gói buộc xong một khối lượng thuốc nổ khoảng 3kg, tôi chuẩn bị bê thuốc nổ tiến đến để áp vào quả bom. Đây là những công việc hằng ngày, nên dù biết có nguy hiểm nhưng chúng tôi vẫn thực hiện hết sức bình thản như mọi lần. Đáng nhẽ hôm đó tôi đi. Nhưng không hiểu sao sau khi quan sát tình hình và suy nghĩ thoáng chốc, anh Tiểu đội phó lại bảo tôi để anh ấy thực hiện. Anh ôm gói thuốc nổ đi về phía quả bom, tôi ở cách đó khoảng 4-50m. Tôi ước thời gian chưa đủ đã nghe thấy tiếng nổ rất to, sau đó tôi mới chột dạ nghĩ hay bom đã nổ sớm.”
Khi chạy lên phía trước, đến nơi ông Sơn chỉ còn thấy một hố bom lớn, sâu hoắm và những mảnh quân phục rách tả tơi, vương trên mặt đất… Người đồng đội ấy đã nằm lại với rừng, vĩnh viễn không quay trở về…
Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đánh giá cao công lao to lớn, sự hy sinh cao cả của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào. (Hoàng thân Souphanouvong)
Những giọt nước mắt thầm lặng
Có những người lính của Việt Nam đã mãi mãi nằm lại, bồi đắp máu xương trên những mảnh đất Lào để mang lại tự do, hòa bình cho nhân dân hai nước; nhưng cũng có những người sau mấy chục năm đằng đẵng cuối cùng đã được quay về với quê hương, gia đình, dù rằng các anh cũng không còn nữa…
Hoàng thân Souphanouvong từng nói: Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đánh giá cao công lao to lớn, sự hy sinh cao cả của Quân tình nguyện và Chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào. Những người mẹ, người vợ Anh hùng Việt Nam đã gửi nhiều sư đoàn quân tình nguyện đến giúp Lào. Hàng chục nghìn chiến sỹ Việt Nam đã âm thầm hy sinh trên đất Lào, và những người vợ, người mẹ ấy vẫn âm thầm chịu đựng và ngày càng vun đắp tình hữu nghị đặc biệt.
Hơn 25 năm đi tìm hài cốt chồng, bà Lê Thị Nhung, vợ liệt sỹ Trần Đức Lợi không ngừng hy vọng có một ngày sẽ đưa được ông về với đất mẹ. Liệt sĩ Trần Đức Lợi quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông cùng bà Nhung xây dựng tổ ấm gia đình tại thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, thành phố Hà Nội và nhập ngũ năm 1954.
Sau khi đất nước hòa bình, ông được điều đến công tác tại đơn vị làm kinh tế Tây Bắc, rồi được cử đi học tại Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp). Năm 1965, ông tái ngũ vào Sư đoàn 316 đi chiến đấu ở chiến trường Lào, sau đó hai năm, ông Lợi đã hy sinh tại chiến trường Houaphanh.
Sau khi chồng hy sinh, bà Nhung âm thầm, tần tảo nuôi dạy hai con gái khôn lớn, trưởng thành. Năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước hòa bình, hầu hết các gia đình có người thân đi chiến đấu trên các chiến trường đã trở về quê sum họp gia đình, nhưng bà vẫn ngày đêm mong mỏi tin tức về phần mộ của chồng. Bà luôn đau đáu trăn trở, mong muốn tìm và đưa được hài cốt chồng về quê hương để nhang khói cho ông.
Lễ truy điệu và an táng 104 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện, chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào tại Nghĩa trang liệt sỹ huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Lần theo những giấy tờ còn sót lại, bà Nhung tìm Giấy báo tử ghi phiên hiệu đơn vị của chồng để làm căn cứ, sau đó đến bộ phận lưu giữ di vật liệt sỹ Phòng chính sách Sư đoàn 316 – đơn vị của ông Lợi khi chiến đấu, để hỏi thăm và xin sơ đồ mộ chí, nơi chôn cất chồng bà ở Hủa Phăn, Lào.
Từ đó, mỗi năm hai lần, bà thu xếp việc nhà, dành dụm tiền tàu xe rồi khăn gói lên đường, lặn lội đi tìm phần mộ chồng tại các nghĩa trang liệt sỹ Quân tình nguyện giúp Lào ở vùng giáp biên giới hai nước Lào-Việt Nam. Bà đã đi khắp các tỉnh Lai Châu, Sơn La… và nghĩa trang liệt sỹ các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Điện Biên, nhưng vẫn không tìm thấy phần mộ liệt sỹ của ông Lợi…
“Mặc dù các chuyến đi gian truân vất vả, nhưng tôi vẫn đi bởi linh cảm mách bảo tôi sẽ tìm thấy hài cốt của chồng,” bà Nhung chia sẻ.
Đến các nghĩa trang liệt sỹ Quân tình nguyện ở trong nước vẫn không thấy phần mộ của ông, bà quyết định làm thủ tục đi sang Lào vào năm 1999. Trên đường đi, đến cửa khẩu Na Mèo (Thanh Hóa), bà được đồn biên phòng nơi đây giúp đỡ nơi ăn ở và có cả cơm nắm để ăn trên đường đi. Đồn biên phòng còn cử người dẫn đường đưa bà qua cửa khẩu Na Mèo đến tận Mường Mọc, Sầm Nưa, nơi có nghĩa trang liệt sỹ Quân tình nguyện Việt Nam.
“Mặc dù các chuyến đi gian truân vất vả, nhưng tôi vẫn đi bởi linh cảm mách bảo tôi sẽ tìm thấy hài cốt của chồng,” bà Nhung chia sẻ.
Tại nghĩa trang này, theo sơ đồ của đơn vị thì phần mộ của liệt sỹ Trần Đức Lợi và một số phần mộ khác đã bị đào bới, chỉ còn những hố sâu có dấu vết đã cất bốc hài cốt. Chính quyền địa phương bạn Lào cho biết, các hài cốt liệt sỹ ở nghĩa trang đã được cất bốc di chuyển đi nơi khác từ năm 1986.
“Nhìn khu vực nghĩa trang hoang vắng, tôi không khỏi xúc động, rồi cầm một nắm đất ở phần mộ chồng (theo sơ đồ mộ chí của đơn vị) mà khóc tức tưởi. Tôi cầu khấn với vong linh liệt sỹ: Anh linh thiêng hãy chỉ cho em biết, anh đang nằm ở đâu? Để hằng năm em đến thắp nén hương cho anh,” bà Nhung xúc động nhớ lại. Bà từng nằm mơ thấy ông về nói: “Đừng lo, anh sẽ về với em và các con. Anh ở đây không cô đơn đâu, vì còn có đồng chí, đồng đội. Anh đang ở Lào chưa về Việt Nam. Năm 2000 anh sẽ được về cùng với đồng đội.”
Bộ đội Biên phòng khuyên bà nên về nghĩa trang liệt sỹ Tông Khao ở Điện Biên, nhưng khi tới đó bà cũng không tìm được phần mộ của liệt sỹ Trần Đức Lợi. Không nản lòng, bà đến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa nhờ cán bộ phòng chính sách tìm kiếm. Bà Nhung được một cán bộ là Trung tá Phạm Minh Thư giúp đỡ, Trung tá Thư gọi điện báo cho Đội quy tập hài cốt liệt sỹ đang làm việc ở nước bạn Lào, kiểm tra lại một lần nữa.
Theo sơ đồ mộ chí, Đội trưởng Đội quy tập hài cốt liệt sỹ Hoàng Minh Thế cùng anh em trong đội quy tập trở lại nghĩa trang đào sâu khoảng một mét thì gặp hài cốt. Phía trên hài cốt có một bi đông nước khắc tên Trần Đức Lợi, quê Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội.
Lễ truy điệu, an táng 23 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong các cuộc chiến tranh tại Lào, ngày 4/5/2018, tại Nghĩa trang liệt sỹ Đồng Tâm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. (Nguồn: TTXVN)
Theo dấu vết, đội quy tập tìm thêm được bốn hài cốt liệt sỹ khác. Đội trưởng Hoàng Minh Thế vui mừng gọi điện ngay về Ban chính sách Tỉnh đội Thanh Hóa. Trung tá Phạm Minh Thư cũng lập tức gọi điện báo cho Ủy ban Nhân dân thị trấn Trâu Quỳ biết để thông báo với gia đình bà Nhung chuẩn bị đón hài cốt liệt sỹ Lợi.
Biết tin đã tìm thấy hài cốt, mọi người trong gia đình bà Nhung vô cùng xúc động, thu xếp đến ngay nghĩa trang liệt sỹ Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa, để đón liệt sỹ Trần Đức Lợi về quê.
“Trước lúc lên đường, anh đã nói với tôi, anh nhất định sẽ về với em và các con. Hôm nay anh đã về thật rồi!”… Với người vợ liệt sỹ ấy, bà tâm niệm ông vẫn luôn bên cạnh mình, tiếp thêm sức mạnh để suốt hơn nửa cuộc đời mình, bà và những người mẹ, người vợ trên khắp đất nước này đã nén nỗi đau, thầm lặng hy sinh, dệt nên niềm tin vào cuộc sống và cả nỗi đợi chờ…/.
Nghĩa tình để lại muôn đời
Hiền Hạnh
“Tình hữu nghị Việt – Lào cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn biển cả, sáng hơn trăng rằm, ngát hương thơm hơn đóa hoa nào thơm nhất”. (Hoàng thân Souphanouvong)
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngọn lửa chiến tranh khốc liệt không thể làm lu mờ mà càng soi rõ hơn nghĩa tình trong sáng, thủy chung nhân dân các bộ tộc Lào đã dành cho cán bộ, chiến sỹ Việt Nam.
Suốt thời gian liên minh chiến đấu, nhân dân Lào đã chăm sóc, chở che cho các chiến sỹ Quân tình nguyện khi tình thế cấp bách cũng như chăm sóc lúc ốm đau, yêu thương bộ đội Việt Nam như người thân ruột thịt của mình.
Một mối quan hệ hiếm có, vững bền, được gây dựng và thử thách qua 70 năm bằng xương máu chiến sỹ và nhân dân cách mạng, xứng đáng là nghĩa tình để lại đến muôn đời.
Ba cái tên, một cuộc đời
Trước khi tình nguyện sang tham gia chiến đấu và hoạt động giúp cách mạng Lào, cựu chuyên gia Nguyễn Văn Nghiệp chưa từng nghĩ đến, cuộc đời ông sẽ có thêm nhiều người thân thiết như máu mủ, những người mẹ, người anh, người chị đã chăm sóc, bảo vệ, tặng ông những tên gọi Lào thân thương, gắn bó trong suốt 25 năm sống trên đất bạn.
Ông Nguyễn Văn Nghiệp là chuyên gia cao cấp của Việt Nam, có nhiều năm công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng Lào, là trợ lý thân cận, trực tiếp giúp việc cho Tổng Bí thư Kaysone Phomvihane trong hơn 10 năm. Chia sẻ về khoảng thời gian ở trên đất nước Triệu Voi, ông Nghiệp nhớ lại: “Người dân Lào chủ yếu theo đạo Phật nên đều có lòng bác ái, nhân từ, vị tha. Thấy bộ đội Việt Nam không biết tiếng nhưng vẫn sang làm việc, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng chiến đấu, cùng son sắt… thì người dân Lào rất thương, nên ốm đau được nhân dân Lào giúp đỡ, khó khăn được che chở, hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa, không phân biệt Lào-Việt mà đều nhận chúng tôi là con nuôi, em nuôi và đặt cho những cái tên Lào, vừa để dễ nhớ, dễ gọi, vừa thể hiện sự thân thương.”
Nhân dân Lào chào đón quân tình nguyện Việt Nam.
Tên Lào đầu tiên mà ông Nghiệp được đặt là “Khăm Xỉ.” Hoàn cảnh được đặt cái tên đó đến bây giờ đối với ông vẫn là một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời.
Trong một lần xuống thăm thủ trưởng bị ốm, đang được một gia đình người Lào chăm sóc, ông Nghiệp có gặp và trò chuyện với bà mẹ của gia đình đó. Hỏi thăm hoàn cảnh gia đình, thấy người con trai Việt Nam hiền lành, dễ mến, người mẹ Lào rất thương.
“Bà giới thiệu những người con của mình, trong đó ba người đã trưởng thành và có vợ có chồng, chỉ còn một cô con gái và một cậu con trai nhỏ hơn còn đi học. Bà ngỏ ý muốn giới thiệu tôi với cô con gái. Thời điểm đó, cô ấy đang học một lớp nữ công do một chị cán bộ nữ Việt Nam hướng dẫn. Bà nói: Con muốn gặp em thì đến đó. Sau đó, chúng tôi có gặp gỡ, cô ấy khá xinh và dễ thương, tên là Xỉ Mon. Song kỷ luật và công việc lúc đó không cho phép chúng tôi có tình cảm riêng tư.”
Hỏi thăm hoàn cảnh gia đình, thấy người con trai Việt Nam hiền lành, dễ mến, người mẹ Lào rất thương.
Không có nhân duyên cùng cô gái, nhưng người mẹ Lào vẫn rất yêu quý và nhận ông Nghiệp làm con nuôi. Bà đặt tên cho ông là Khăm Xỉ, chữ “Khăm” tức là “vàng”, chữ “Xỉ” trong tên của cô Xỉ Mon. Cái tên mang hàm ý trân trọng, coi ông quý giá như vàng, như con ruột của bà. Suốt thời gian hoạt động ở đó, ông được gia đình người mẹ Lào chăm sóc, che chở.
“Ở đó được hơn một năm thì tôi chuyển công tác vào sâu trong vùng địch hậu nhưng vẫn giữ mối liên hệ với gia đình ấy. Sau này cô con gái lấy chồng, chúng tôi vẫn đến thăm nhau mỗi khi có dịp,” ông Nghiệp chia sẻ.
Ngoài tên khai sinh và tên “Khăm Xỉ”, ông Nghiệp còn có một kỷ niệm đặc biệt gắn với một tên gọi khác trong quãng đời hoạt động cách mạng của mình. Sau này trong kháng chiến chống Mỹ, ông Nghiệp chuyển công tác qua tỉnh Champasak, hoạt động trong Tỉnh ủy bí mật, phụ trách vùng phía Tây của Champasak ở bên kia sông. Đây cũng là vùng đằng sau lưng địch nên hoạt động của ông và đồng đội luôn phải hết sức cẩn trọng.
Ông kể lại: “Phía bạn bố trí một anh cũng là đảng viên để giúp đỡ tôi, vì anh đã lấy vợ đến 5-6 năm mà chưa có con nên được tổ chức chiếu cố hoàn cảnh gia đình, không đi tập kết.”
Suốt thời gian hoạt động tại địa bàn đó, vợ chồng anh chị đã giúp đỡ ông rất nhiều: Anh làm liên lạc, dẫn đường, đưa ông đi cơ sở bất kể ngày đêm. Chị lo việc cơm nước, tiếp tế, chăm sóc khi ốm đau.
“Ngày nào ở rừng thì đêm hai anh em mắc võng nằm cùng nhau. Hôm nào mưa anh lại dẫn tôi về ở nhà anh, nhưng suốt cả đêm hai vợ chồng không ngủ, thay nhau canh gác cho tôi, đề phòng có bọn xấu đến,” ông Nghiệp kể.
Bộ đội tình nguyện Việt Nam liên hoan chia tay nhân dân các bộ tộc Lào trước khi về nước (1961).
Sau khi biết được hoàn cảnh gia đình của ông: Mồ côi cha từ lúc 8 tuổi, ở nhà chỉ còn mình mẹ già, bản thân ông đi hoạt động cách mạng nhiều năm biền biệt, anh chị liền nhận ông làm em nuôi. Người cựu chuyên gia hồi tưởng: “Hôm đó làm lễ chỉ có một con gà, nải chuối và mấy quả trứng. Chúng tôi mời tổ chức làm chứng, làm lễ buộc chỉ cổ tay. Anh nói bây giờ anh sẽ đặt cho em cái tên mới, là Khăm Chăn.” “Chăn” có ý nghĩa là mặt trăng, Khăm Chăn có ý nghĩa như “ánh sáng của Mặt Trăng.”
Hai anh chị hết lòng chăm lo cho ông trong suốt hai năm ở đó. Ông còn nhớ mãi: “Hôm tôi phải chia tay hai anh chị để về đơn vị ở bên này sông, anh chị ra tiễn và hai vợ chồng đều khóc. Sau này do công tác nên tôi không có điều kiện trở lại thăm anh chị. Hòa bình lập lại, tôi có về Champasak và ghé lại đó đi tìm thăm anh chị nhưng cả hai đều đã qua đời. Đứng trước ngôi nhà đã bị phá, chỉ còn mấy cây dừa, tôi cứ đứng dưới cây dừa khấn vong linh của hai anh chị. Tôi không ngờ ngày chia tay cũng là lần cuối chúng tôi được gặp nhau.”
Người mẹ Lào dành sữa của con cứu bệnh binh Việt Nam
Trong những năm tháng sống và chiến đấu tại Lào, những người chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã được nhân dân nước bạn đùm bọc, bảo vệ để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Rất nhiều câu chuyện cảm động trong những năm tháng ấy đã góp phần dệt nên tình đoàn kết thủy chung giữa nhân dân hai nước Việt-Lào.
Thời gian đã trôi qua rất lâu, nhưng mỗi khi nhắc đến bộ đội tình nguyện Việt Nam, mẹ Kanchia, bản Phon, huyện Lamam, tỉnh Sekong, Nam Lào, luôn dành một sự trân trọng đặc biệt. Chính mẹ là người cách đây gần 50 năm đã vượt qua những rào cản của kiêng kỵ, phong tục tập quán của dân tộc, chia sẻ dòng sữa của một người mẹ đang nuôi con của mình để cứu mạng một bộ đội tình nguyện Việt Nam bị sốt rét, kiệt sức trong những năm tháng chống Mỹ ác liệt.
Trong những năm tháng sống và chiến đấu tại Lào, những người chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã được nhân dân nước bạn đùm bọc, bảo vệ để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Bà Kanchia nguyên là giao liên đã từng chuyển lương thực cho cán bộ, Quân tình nguyện Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ xâm lược tại tỉnh Sekong. Bà từng vận động chị em phụ nữ trợ giúp các đơn vị bộ đội Việt Nam đóng quân dọc núi Trường Sơn – địa bàn qua tỉnh Sekong.
Chồng bà là một cán bộ trong đơn vị Quân đội giải phóng Lào đóng quân ở sườn phía Tây núi Trường Sơn, làm nhiệm vụ giúp Quân đội Việt Nam bảo vệ tuyến đường hành quân, vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực từ miền Bắc vào miền Nam. Sau này, chồng bà hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.
Thời điểm đó, tuyến đường cơ giới miền Trung Việt Nam bị quân đội Sài Gòn chiếm nên phía Lào để lại vùng đất dọc Trường Sơn làm con đường chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Tuyến đường này xuyên qua núi rừng, khe suối, các bản làng của Lào. Nhằm chặn tuyến đường vận tải chiến lược của Việt Nam, giặc Mỹ ngày đêm cho máy bay B52 và các loại máy bay khác bắn phá, ném bom và rải chất độc hóa học… vào nhà dân và rừng núi xung quanh khiến gia đình bà Kanchia và dân bản phải liên tục di chuyển, lẩn trốn.
Phụ nữ bản Xốp Hùm đã hiến sữa của mình liên tục trong một tháng để cứu thương binh nặng (4/1968).
Vào giữa năm 1970, gia đình bà đến ở vùng Huoi Dua trong rừng Trường Sơn, gần đó là một đơn vị quân đội Việt Nam. Một hôm, người chỉ huy tên là Khiết, thủ trưởng của đơn vị đó đến nhà ngỏ ý muốn xin sữa của bà cho một chiến sỹ trong đơn vị đang bị ốm rất nặng. Trong phong tục của người Lào, sữa mẹ chính là dòng máu và chỉ có thể chia sẻ cho con, việc cho người khác là điều kiêng kỵ. Đặc biệt với bà khi đó là một người phụ nữ trẻ, điều này còn khó khăn hơn nhiều. Tuy nhiên, bà đã nói với ông Khiết đưa anh bộ đội đến, bà sẽ chia sữa nếu anh không ngại.
Ông Khiết có nói: “Giờ anh ấy quá yếu chắc không ngại đâu, chỉ sợ không còn sữa cho cháu bú.” Bà Kanchia nói: “Không sao, tôi sẽ nấu thêm cháo cho cháu ăn.”
Tôi chỉ nghĩ rằng, anh em Việt Nam đến ở làng mình, chiến đấu cho mình, hy sinh xương máu vì mình, nếu mình không chăm sóc sẽ như thế nào, còn gì là đoàn kết nữa.”(mẹ Kanchia, bản Phon, huyện Lamam, tỉnh Sekong, Nam Lào)
Sau đó, hai chiến sỹ Quân tình nguyện Việt Nam dìu đến một anh bộ đội ốm yếu, người gầy trơ xương, tay chân run rẩy. Bà Kanchia để hai anh bộ đội dìu anh bị ốm ngồi bú bầu vú của bà. Trong khoảng 5 ngày, sức khỏe của anh đã khá hơn rõ rệt. Sau đó trong một tháng, trước khi đi làm, bà vẫn chia sữa của con để giúp anh hồi phục. Từ những giọt sữa đầy tình nghĩa đó, anh bộ đội đã dần khỏe lại. Sau này, anh đến gặp bà Kanchia cảm ơn ân nhân và xin làm con nuôi.
Bà Kanchia từng chia sẻ: “Lúc đó tôi cũng chưa từng biết đất nước Việt Nam ở chỗ nào, nhưng khi thấy anh em Việt Nam sang giúp đất nước mình, tôi thương và yêu quý, nên tôi quyết định vượt qua mọi ái ngại và cho sữa. Cũng có người hỏi tôi tại sao lại cho sữa như vậy. Tôi chỉ nghĩ rằng, anh em Việt Nam đến ở làng mình, chiến đấu cho mình, hy sinh xương máu vì mình, nếu mình không chăm sóc sẽ như thế nào, còn gì là đoàn kết nữa.”
Khi cho sữa, bà chỉ nghĩ tới bộ đội tình nguyện Việt Nam cần được cứu sống và tình đoàn kết Lào-Việt Nam: “Lúc đó, máy bay địch bắn phá liên tục, vừa cho sữa tôi phải vừa trông chừng máy bay, cho thật nhanh còn xuống hầm trú ẩn.”
Bộ đội tình nguyện Việt Nam giã gạo giúp nhân dân Lào (1953).
Bà Kanchia có 13 người con, nhưng 10 người bị chết vì bệnh tật, nghèo đói và ô nhiễm môi trường từ chất độc hóa học. Người con trai của bà Kanchia bú chung bầu sữa với anh bộ đội Việt Nam cũng đã bị ốm và qua đời. Năm 1975, đất nước Lào được giải phóng và Việt Nam cũng hoàn toàn độc lập, Quân đội Việt Nam trở về nước. Bà Kanchia cùng gia đình và dân bản xây dựng lại nhà và ổn định cuộc sống mới.
Nhường cơm sẻ áo, nhường sữa của con, thậm chí nhường cho nhau quyền được sống. Trong lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào có vô vàn những câu chuyện, hành động, nghĩa cử cao đẹp như thế.
Tri ân đối với nhân dân các bộ tộc Lào đã giúp đỡ, chở che Quân tình nguyện Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào đã phát động quyên góp trong các cấp Hội hỗ trợ bà Kanchia 400 triệu đồng xây căn nhà Hữu nghị vào dịp kỷ niệm 42 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (1/12/1975-1/1/2/2017).
Nhường cơm sẻ áo, nhường sữa của con, thậm chí nhường cho nhau quyền được sống. Trong lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào có vô vàn những câu chuyện, hành động, nghĩa cử cao đẹp như thế. Liên minh chiến đấu với tinh thần gắn bó keo sơn trong những năm tháng gian khổ nhưng đầy vinh quang ấy đã góp phần giúp nhân dân và lực lượng vũ trang hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà đỉnh cao là đại thắng mùa Xuân năm 1975 tại Việt Nam và chiến thắng ngày 2/12/1975 tại Lào./.
Củng cố và phát triển nền tảng quan hệ đặc biệt
Hiền Hạnh
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam-Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: Từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền.
Bước vào thời kỳ mới – thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước, nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước vẫn luôn nỗ lực khẳng định tình đoàn kết đặc biệt, trước sau như một, hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước.
Hợp tác đào tạo nguồn nhân lực cho Lào
Trường Hữu nghị T78 thành lập năm 1958, với 129 chiến sỹ Pathet Lào được chọn cử sang Việt Nam học văn hóa, mang phiên hiệu “T399.” Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định thành lập “Khu học xá miền núi Trung ương.” Khu học xá miền núi Trung ương đã trở thành trường đầu tiên ở Việt Nam dành cho lưu học sinh Lào học tiếng Việt và văn hóa các cấp. Đây là một quyết định đặc biệt với tầm chiến lược của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam-Lào.
Dù trải qua những tên gọi khác nhau: Khu học xá miền núi Trung ương, Trường Bổ túc văn hóa miền núi Trung ương – Mật danh T78, Trường Bổ túc văn hóa Hữu nghị hoặc Trường Hữu nghị T78 như hiện nay, nhưng ở bất cứ giai đoạn nào, trường đều có một tên gọi đặc biệt và thân mật: “Trường Lào.”
Suốt chặng đường 60 năm hoạt động, Trường Hữu nghị T78 trải qua 9 lần di chuyển, đứng chân ở 15 xã, 7 huyện, 6 tỉnh, thành phố khác nhau. Hiện cơ sở của trường đặt tại xã Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Quá trình phát triển của trường là một chặng đường dài vượt qua biết bao thử thách về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn biến động, đời sống giáo viên và học viên, học sinh khó khăn…
Học sinh Phân hiệu I trường Văn hóa miền núi trung ương năm 1960. (Nguồn: Trường Hữu Nghị T78)
Trường là nơi đầu tiên và cũng là trường cội nguồn của tất cả các trường văn hóa dành cho lưu học sinh Lào học tập tại nhiều tỉnh của Việt Nam.
Trường được giao nhiệm vụ đào tạo tiếng Việt cho các đối tượng lưu học sinh Lào; đào tạo bổ túc văn hóa cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc theo mô hình dân tộc nội trú và đào tạo trung học phổ thông cho học sinh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
Cả hai đối tượng học sinh dân tộc thiểu số Việt Nam và lưu học sinh Lào có những nét tương đồng, gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ và phong tục tập quán, thuận lợi cho việc bổ trợ, giúp đỡ nhau trong học tập, sinh hoạt.
Từ ngôi trường này, gần 30.000 lưu học sinh Lào qua các thế hệ đã trưởng thành, trở thành những cán bộ chủ chốt và đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào.
Trường còn có chức năng nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục; tham gia biên soạn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài; hỗ trợ các đơn vị giáo dục trong nước và nước ngoài trong công tác dạy học tiếng Việt; tuyển sinh và quản lý học sinh, sinh viên; phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.
Từ ngôi trường này, gần 30.000 lưu học sinh Lào qua các thế hệ đã trưởng thành, trở thành những cán bộ chủ chốt và đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào; góp phần to lớn trong sự nghiệp đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ đất nước Lào anh em.
Cũng từ đây, gần 10.000 học sinh dân tộc thiểu số ở 22 tỉnh miền núi phía Bắc nước ta đã trưởng thành, trở thành nguồn nhân lực quan trọng đóng góp cho đất nước.
Thầy giáo Lê Phú Thắng, Hiệu trưởng Trường Hữu nghị T78 cho biết trước yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo và đòi hỏi nâng cao chất lượng trong hợp tác đào tạo nguồn nhân lực của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, những năm gần đây, trường đã nỗ lực triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý, giáo dục, đào tạo. Trong đó, hoạt động tổ chức đưa lưu học sinh Lào tham gia trải nghiệm thực tế, rèn luyện kỹ năng tiếng Việt, khả năng tự học… theo chương trình Homestay được nhà trường triển khai và nhận được nhiều đánh giá cao về kết quả chuyên môn.
Chương trình Homestay được triển khai từ năm học 2014-2015, là một trong số những hoạt động có kết quả tích cực, qua đó giúp các lưu học sinh hòa nhập cộng đồng, thuận lợi trong việc tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán của người Việt Nam.
Tới nay, khoảng 600 lượt lưu học sinh đã tham gia chương trình qua các đợt với quy mô ngày càng được mở rộng trên địa bàn xã Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ.
Từ 10 hộ dân, đến nay đã có hơn 100 hộ dân tham gia đón nhận lưu học sinh Lào về sinh sống, học tập. Chương trình đã tạo được hiệu ứng tích cực trong lưu học sinh và nhân dân địa phương. Riêng năm học 2018-2019, trường tổ chức cho lưu học sinh tham gia Homestay trong 25 ngày -thời điểm diễn ra nhiều lễ hội, hoạt động liên quan đến phong tục văn hóa của người dân Việt Nam. 166 lưu học sinh tham gia chương trình, sống ở 80 gia đình trong 4 thôn.
Chương trình đã góp phần nâng cao hiệu quả trong việc rèn luyện các kỹ năng tiếng Việt của lưu học sinh Lào, phát huy khả năng tự học của lưu học sinh, đồng thời góp phần gìn giữ, vun đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào.
(Nguồn: Trường Hữu Nghị T78)
Chị Daymone Viranon hiện là nghiên cứu sinh tại Học viện Hành chính quốc gia (Hà Nội), đồng thời là chuyên gia hiệu đính tin, bài cho Báo Quân đội nhân dân Điện tử tiếng Lào; ngoài ra, chị cũng cộng tác với Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) trong hoạt động dịch thuật, biên tập.
Được cử sang Việt Nam học theo diện đào tạo cán bộ, song trước khi làm nghiên cứu sinh, chị cũng đã có một khoảng thời gian dài học tiếng Việt tại Trường Hữu nghị T78.
Đánh giá về chương trình Homestay của trường, chị Daymone cho biết, lưu học sinh Lào tham gia chương trình được trải nghiệm với những tình huống giao tiếp cụ thể.
Sự hòa nhập có tính chất toàn diện của lưu học sinh Lào với nhân dân địa phương đã góp phần củng cố, vun đắp tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt hai nước Việt Nam-Lào trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế của mỗi nước.
Việc ăn ở sinh hoạt và thường xuyên tiếp xúc với sự vật, sự việc giúp người học cải thiện kỹ năng nghe, nói, hiểu. Khi sống với nhân dân địa phương, lưu học sinh phải dùng tiếng Việt trong giao tiếp nên sẽ thúc đẩy sự chủ động, thường xuyên cố gắng tích lũy vốn từ, phát âm chính xác, đúng ngữ pháp, nói để người khác nghe, hiểu trong từng hoàn cảnh, từng trường hợp khác nhau.
Trong thời gian sinh sống tại nhà dân, vai trò chủ thể của lưu học sinh về tự học được phát huy tối đa, từ đó hình thành động cơ học tập đúng đắn hơn… Cùng sống, ăn ở với nhân dân là cơ hội thuận lợi để lưu học sinh rèn luyện khả năng tư duy, được nhân dân động viên, khích lệ, chia sẻ như người thân trong gia đình đồng thời, sự hòa nhập có tính chất toàn diện của lưu học sinh Lào trong cuộc sống, lao động, sự tương tác, giao lưu về văn hóa với nhân dân địa phương đã góp phần củng cố, vun đắp tình hữu nghị, đoàn kết đặc biệt hai nước Việt Nam-Lào trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế của mỗi nước.
Nhiều thành tựu chung trên các lĩnh vực
Không chỉ có sự gần gũi láng giềng, núi sông liền một dải, đã cùng sát cánh bên nhau trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, hai dân tộc Việt Nam-Lào trong thời bình lại cùng chung chí hướng xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 18/7/1977, tại thủ đô Vientiane, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Lào Kaysone Phomvihane ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Việt Nam-Lào. (Ảnh: Văn Bảo/TTXVN)
Ngày 18/7/1977 đánh dấu sự kiện có ý nghĩa trọng đại trong bước phát triển toàn diện của mối quan hệ hai nước Việt Nam-Lào: Hai nước đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó nhấn mạnh: “Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị không gì lay chuyển được giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào, tình đồng chí vĩ đại giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được tôi luyện trong mấy chục năm đồng cam cộng khổ, cùng chiến đấu, cùng chiến thắng kẻ thù xâm lược, cùng hợp tác và giúp đỡ nhau xây dựng đất nước là một truyền thống quý báu, một sức mạnh vô địch của hai dân tộc, hai Đảng…”
Hiệp ước đã tạo tiền đề cho sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước, thể hiện thiết thực qua sự phát triển, tăng trưởng của các lĩnh vực đa dạng.
Những năm qua, các chương trình, dự án đầu tư của Việt Nam vào Lào có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của nước bạn và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai nước ngày càng bền chặt.
Hiệp ước đã tạo tiền đề cho sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước, thể hiện thiết thực qua sự phát triển, tăng trưởng của các lĩnh vực đa dạng.
Ðến tháng 12/2018, Việt Nam có 409 dự án đầu tư sang Lào với tổng số vốn 4,1 tỷ USD; một số dự án lớn đã hoàn thành tiếp tục được khai thác, vận hành tốt, như thủy điện Xekaman 1, khách sạn Mường Thanh Vientiane, Crown Plaza; dự án của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Viettel.
Việt Nam và Lào cũng đẩy mạnh triển khai các dự án kết nối về giao thông vận tải trong khuôn khổ hợp tác song phương và tiểu vùng; tiếp tục phối hợp tìm kiếm các nguồn vốn triển khai các dự án quan trọng mang tính chiến lược, trong đó có hai dự án lớn: Tuyến đường cao tốc Hà Nội-Vientiane dài khoảng 725km; tuyến đường sắt Vũng Áng-Tân Ấp-Mụ Giạ-Thà-khẹc-Vientiane…
Trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam tiếp tục cử giáo viên sang dạy tiếng Việt cho cán bộ, học sinh, sinh viên tại 28 cơ sở giáo dục của Lào; hỗ trợ ngành giáo dục Lào xây dựng các công trình phục vụ dạy và học. Mỗi năm, Việt Nam dành cho Bạn hàng ngàn suất học bổng, liên tục có hàng chục ngàn lưu học sinh Lào học tập, sinh sống tại Việt Nam.
Ngày 22/9/2017, Thành đoàn Vientiane tổ chức cuộc giao lưu và thi tìm hiểu về “Mối quan hệ và hợp tác Lào-Việt Nam” cho học sinh các trường tiểu học và Trung học phổ thông trên địa bàn thủ đô Vientiane. (Nguồn: TTXVN)
Tiếp nối truyền thống của các thế hệ cha anh, Đoàn thanh niên và thế hệ trẻ Việt Nam-Lào luôn tích cực vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt giữa hai nước.
Tháng 5/2019, Trung ương Đoàn hai nước phối hợp tổ chức thành công tốt đẹp chương trình Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam-Lào. Đoàn đại biểu 60 thanh niên Lào do đồng chí A Lun Xay Sủn Nạ Lạt, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Lào làm trưởng đoàn đã có những ngày làm việc hiệu quả và đầy ý nghĩa tại Việt Nam.
Tại các cuộc gặp gỡ, lãnh đạo Trung ương Đoàn hai nước đã thống nhất tiếp tục phối hợp trong công tác giáo dục truyền thống; hợp tác hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn của Lào tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam; hợp tác doanh nhân trẻ; hợp tác tình nguyện vì cộng đồng; giao lưu thiếu nhi hai nước; ủng hộ và hỗ trợ các tỉnh, thành đoàn giáp biên kết nghĩa, tăng cường hợp tác trên cơ sở lợi ích thiết thực, nhu cầu chính đáng của thanh niên hai nước …
Giao lưu nhân dân góp phần phát triển tình hữu nghị
Trong bối cảnh mới, Việt Nam chủ trương xác định ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị là ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Ba trụ cột này gắn bó, tác động lẫn nhau, góp phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng, theo bà Nguyễn Phương Nga, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO), ngoại giao nhân dân chính là sợi chỉ đỏ kết nối để tình hữu nghị thủy chung son sắt, hiếm có trên thế giới giữa Lào và Việt Nam được trường tồn mãi mãi cùng cả hai dân tộc, trải qua 70 năm tiếp theo và sẽ còn nhiều năm sau nữa trong suốt quá trình phát triển và tiến bộ của hai nước.
Ngoại giao nhân dân chính là sợi chỉ đỏ kết nối để tình hữu nghị thủy chung son sắt, hiếm có trên thế giới giữa Lào và Việt Nam được trường tồn mãi mãi cùng cả hai dân tộc.
Chủ tịch VUFO cho rằng, đối với tình hữu nghị Việt-Lào, trong lịch sử, ngoại giao nhân dân chính là nền tảng sâu sắc, vững chắc đưa quan hệ hai nước phát triển, là tiền đề cho quan hệ hợp tác rất tốt đẹp về chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng. Bên cạnh đó, thời gian tới hai nước cần thúc đẩy kết nối hai nền kinh tế; kết nối về thể chế, hạ tầng giao thông, năng lượng điện, viễn thông, du lịch; tháo gỡ vướng mắc để nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, văn hóa, nhất là lĩnh vực công nghệ, để hai nước cùng phát triển những giá trị hợp tác mang lại lợi ích thiết thực, đưa mỗi nước tiến lên một cách vững mạnh.
Bên cạnh hợp tác kinh tế, bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh cần chú trọng hợp tác về giáo dục, vừa tạo nên nền tảng tri thức, vừa góp phần củng cố nền tảng hữu nghị. Hằng năm, Việt Nam đào tạo hàng vạn du học sinh cho Lào. Chất lượng đào tạo cần được nâng cao hơn nữa để những du học sinh Lào tại Việt Nam thực sự trở thành nguồn nhân lực phục vụ tốt cho công cuộc xây dựng đất nước Lào, cũng là cầu nối để củng cố tình hữu nghị gắn bó keo sơn giữa hai nước.
Chương trình Giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam-Lào năm 2012, tối 18/8/2012, tại Hà Tĩnh. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
Hai bên cần tích cực tuyên truyền về đất nước, con người, văn hóa, lịch sử … của cả Việt Nam và Lào để nhân dân hai nước cảm nhận được sâu sắc tình cảm hữu nghị truyền thống đặc biệt này.
Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình có nhiều sự biến động và thay đổi, bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh, trong công tác tuyên truyền, cần làm tốt việc dự báo những vấn đề nhạy cảm có thể phát sinh.
“Hiện nay trào lưu dân tộc chủ nghĩa trên thế giới phát triển rất mạnh. Các nước đều rất đề cao lợi ích dân tộc. Ở đây, chúng ta không những có tình cảm mà còn phải có trách nhiệm phát triển mối quan hệ này, nên việc giải tỏa những dư luận không thật, giải quyết thấu đáo tất cả những vướng mắc trong quan hệ hai nước là hết sức cần thiết và cần có thông tin rộng rãi tới tất cả các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ,” bà Nguyễn Phương Nga khẳng định.
Song song với việc tuyên truyền, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị cho rằng, cần tăng cường hơn nữa các hoạt động trao đổi văn hóa, nghệ thuật, giao lưu nhân dân, nhất là giao lưu giữa thanh niên và các doanh nghiệp hai nước; phát huy mạnh mẽ vai trò cầu nối quan trọng của Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào và Ban Liên lạc toàn quốc Quân tình nguyện và Chuyên gia Việt Nam tại Lào.
“Cần tăng cường hơn nữa các hoạt động trao đổi văn hóa, nghệ thuật, giao lưu nhân dân, nhất là giao lưu giữa thanh niên và các doanh nghiệp hai nước.” (bà Nguyễn Phương Nga, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam – VUFO)
Để củng cố mối quan hệ truyền thống, hằng năm Việt Nam tổ chức rất nhiều sự kiện, hoạt động ở cả cấp Trung ương và địa phương nhằm tăng cường tình hữu nghị Việt-Lào, từ tổ chức giao lưu, thăm hỏi đến điện mừng và các hoạt động văn hóa như thi hùng biện bằng tiếng Việt, tổ chức vẽ tranh truyền thống, các chương trình ươm mầm hữu nghị…
Theo bà Nguyễn Phương Nga, thời gian tới Việt Nam cần làm tốt hơn những chương trình này, đặc biệt nên tổ chức thêm các chương trình như: “Theo chân Chủ tịch Souphanouvong,” “Theo dấu chân của Bác Hồ”… để đưa nhân dân Lào và Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ, tìm tới các di tích lịch sử, ôn lại truyền thống của hai dân tộc, như vậy sẽ đẩy mạnh được tình hữu nghị giữa hai nước.
“Bên cạnh đó, Việt Nam cần tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động cứu trợ nhân đạo như là chúng ta đã từng làm khi có sự cố thủy điện; hoạt động tri ân như xây dựng nhà tình nghĩa cho bà mẹ Kanchia …. Như vậy chúng ta sẽ thực sự đưa những hoạt động giao lưu, đoàn kết hữu nghị đi vào thực chất và hiệu quả hơn,” để tình hữu nghị Việt-Lào – tài sản thiêng liêng vô giá sẽ không ngừng được củng cố, phát huy mạnh mẽ và được tiếp tục vun đắp trên tất cả các lĩnh vực về chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hóa…, để mãi mãi vững bền mối quan hệ gắn bó, keo sơn./.
Cuộc săn lùng kẻ cầm đầu tổ chức Nhà nước Hồi giáo Abu Bakr al-Baghdadi kéo dài nhiều năm đã đi đến hồi kết sau khi các quan chức Iraq đạt được bước đột phá vào tháng trước.
Theo Guardian, Abu Bakr al-Baghdadi không còn nơi nào để trốn khi bị một con robot áp sát và dồn vào một đường hầm không có lối thoát. Tiếng chó sủa trong bóng tối, tiếng gọi của một binh sỹ Mỹ… và sau đó là tiếng nổ long trời giết chết kẻ bị truy nã gắt gao nhất trên thế giới – cùng với 3 đứa trẻ mà có thể gã đã dùng làm lá chắn sống.
Quân đội Mỹ cuối cùng đã bắt kịp kẻ cầm đầu tổ chức Nhà nước Hồi giáo ở một ngôi làng hẻo lánh ở miền Tây Bắc Syria. Nhưng khi binh lính thuộc lực lượng đặc biệt đổ bộ ồ ạt từ trực thăng và tiếp cận ngôi nhà đá sơ sài nơi al-Baghdadi đang ẩn náu, họ vẫn không kịp ngăn gã kích nổ quả bom tự sát quấn quanh người.
Các chuyên gia pháp y đi cùng lính đặc nhiệm đã mang theo các mẫu DNA của Baghdadi cùng bộ dụng cụ để kiểm tra những gì còn lại ở hiện trường. Họ nhanh chóng so sánh mẫu DNA với những gì các binh lính thu được từ vụ nổ dưới lòng đất.
Tiếng chó sủa trong bóng tối, tiếng gọi của một binh sỹ Mỹ… và sau đó là tiếng nổ long trời giết chết kẻ bị truy nã gắt gao nhất trên thế giới.
Hai giờ sau khi cuộc đột kích bắt đầu, phe tấn công xác định được rằng họ đã tìm thấy kẻ bị truy lùng.
Một số binh lính thu nhặt các phần thi thể của Baghdadi cho vào những chiếc túi kín, một nhóm khác đưa 10 trẻ em vẫn chưa hết bàng hoàng tới nhà một người hàng xóm. Trong khi đó, những người khác nhặt nhạnh những mảnh vỡ từ ngôi nhà mà họ đã phá hủy và mang tới 8 máy bay trực thăng tấn công đang chờ.
Hình ảnh vệ tinh do Maxar Technologies ghi nhận về địa điểm được cho là nơi ẩn náu cuối cùng của trùm IS Abu Bakr al-Baghdadi (Ảnh: NYTimes)
Gần 3 giờ 30 sáng theo giờ Syria, đội trực thăng đã cất cánh để trở về Erbil – một chuyến bay kéo dài 70 phút qua vùng đất khô cằn ở Syria, nơi tổ chức mà Baghdadi cầm đầu trong suốt hơn 6 năm qua vẫn còn phủ bóng.
Trực thăng đi vào không phận Thổ Nhĩ Kỳ một đoạn, sau đó vào vùng trời Đông Bắc Syria, nơi các đối tác người Kurd của Mỹ bị buộc phải rút quân gần đây. Trực thăng tiếp tục tiến vào khu vực của người Kurd ở phía Bắc Iraq, nơi phần lớn cuộc săn lùng Baghdadi diễn ra trong một thời gian dài. Tại đó binh lính bắt đầu dỡ những chiến lợi phẩm của họ, mang tới cho Tổng thống Donald Trump một phần thưởng mà ông rất cần giành được, sau một tháng khốn khổ đối với Mỹ trên khắp Trung Đông.
Baghdadi là “phần thưởng” từng lảng tránh tất cả những kẻ săn lùng trước đó, cũng như những công nghệ tốt nhất mà các cơ quan tình báo trên thế giới có thể sử dụng. Trùm khủng bố này từ lâu đã thấu hiểu mối nguy của việc trốn chạy trong thời đại kỹ thuật số.
Nhưng cuộc săn lùng gã đã bắt đầu và kết thúc bằng việc sử dụng chiêu thức tình báo tưởng như đã lỗi thời: khai thác một người khác cũng nắm giữ bí mật.
Giữa tháng 9 năm nay, các quan chức Iraq cho biết đã xác định được một người đàn ông Syria được giao nhiệm vụ lén đưa vợ của hai anh em Baghdadi là Ahmad và Jumah tới tỉnh Idlib qua hướng Thổ Nhĩ Kỳ. Chính kẻ buôn lậu này trước đó đã giúp đưa các con của Baghdadi ra khỏi Iraq.
Cuộc săn lùng gã đã bắt đầu và kết thúc bằng việc sử dụng chiêu thức tình báo tưởng như đã lỗi thời: khai thác một người khác cũng nắm giữ bí mật.
Tình báo Iraq cho biết họ đã có thể khiến người đàn ông này và một người phụ nữ được cho là vợ ông trùm, cũng như một trong những cháu trai của Baghdadi, tiết lộ thông tin về tuyến đường mà ông ta sử dụng, cũng như điểm đến của những người đi cùng. Đó là một bước đột phá chưa từng có, và thông tin này đã sớm được chuyển tới CIA.
Đến giữa tháng 10, một kế hoạch bắt giữ hoặc tiêu diệt Baghdadi được đưa vào thực hiện. Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien cho biết vào ngày 27/10 rằng chiến dịch này được đặt theo tên của Kayla Mueller, nhằm vinh danh nhân viên cứu trợ thuộc bang Arizona đã bị Baghdadi bắt làm nô lệ và sau đó thiệt mạng ở Raqqa.
Các quan chức Iraq cho biết họ đã cung cấp thông tin cập nhật theo thời gian thực cho Washington về nhất cử nhất động của Baghdadi ở Idlib. Hoang tưởng và chậm chạp vì những vết thương chiến tranh, lại thêm bệnh tiểu đường hành hạ, nhưng trùm khủng bố 48 tuổi này đã quen với việc thay đổi địa điểm.
Trong suốt cuộc đời chạy trốn của mình, gã thường xuyên thay đổi nơi trú ẩn, từ miền Đông Syria đến miền Tây Iraq trước khi sống ổn định ở một vùng biệt lập nhỏ ở tỉnh Idlib, theo Cơ quan tình báo quốc gia Iraq.
Đó là một chuyến hành trình dài đối với một người hầu như không tin ai bên ngoài Iraq và tuyệt đối không tin ai ngoài những người thân cận với mình. Và theo các quan chức tình báo châu Âu đã theo dõi al-Baghdadi tới thị trấn Baghuz phía Đông Syria vào tháng 1, đó là một nơi trú ẩn khó lường.
Từ đầu tuần trước, các quan chức Mỹ và Iraq đã ngày càng chắc chắn rằng Baghdadi quả thực đang ở tỉnh Idlib, chuyển từ nhà này sang nhà khác ở một ngôi làng tên là Barisha, không xa biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.
Vào thời điểm này, Washington thông qua phương tiện kỹ thuật và tình báo đã biết rõ al-Baghdadi đang sống cùng ai và ở đâu.
Đó là một chuyến hành trình dài đối với một người hầu như không tin ai bên ngoài Iraq và tuyệt đối không tin ai ngoài những người thân cận với mình.
Trong số những người gã ở cùng có một nhân vật tên Abu Mohammed al-Halabi. Đây là kẻ cầm đầu một nhóm thánh chiến đối địch IS thuộc phong trào Salafi tên Hurras al-Dein. Chỉ vài tuần trước, các thành viên của Hurras al-Dein đã tập hợp và hành quyết những người chúng nghi ngờ là có cảm tình với IS. Vì thế việc trùm IS ở với al-Halabi là bất ngờ không hề nhỏ.
Theo các quan chức khu vực, ngôi nhà mà al-Halabi đang ở được xây dựng vào đầu năm ngoái bên trên một hệ thống đường hầm. Đó là nơi ẩn náu lý tưởng cho một kẻ bị truy nã và sẽ cần một lực lượng đáng gờm để tấn công nó.
“Đến chiều thứ Năm, Tổng thống và tôi được thông báo rằng hắn rất có khả năng đang ở khu nhà ở tỉnh Idlib,” Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence phát biểu trên chương trình tin tức Face the Nation của đài CBS vào Chủ nhật vừa qua.
Trong cuộc họp báo tuyên bố về cái chết của Baghdadi, Donald Trump cho biết ông đã ra lệnh tiến hành cuộc đột kích vào ngày thứ Bảy từ Washington. Ngay sau đó, các lực lượng đặc biệt đóng quân tại Erbil đã nhận lệnh đến Idlib. Đó là chiến dịch lớn nhất và nguy hiểm nhất của họ trong cuộc chiến chống IS.
Nga, lực lượng kiểm soát vùng trời Idlib, đã được thông báo về chiến dịch này, và cùng với đó là Thổ Nhĩ Kỳ. Lực lượng người Kurd ở Đông Bắc Syria cũng được thông báo ngắn gọn.
Hiện trường khu vực bị oanh kích gần làng Barisha, tỉnh Idlib, miền Tây Bắc Syria. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Các toán tấn công Mỹ đến nơi khoảng sau 1 giờ sáng và phải đối mặt với hỏa lực dồn dập từ mặt đất. Trong các cuộc đụng độ ác liệt diễn ra sau đó, ít nhất 9 thành viên IS đã thiệt mạng ngoài Baghdadi, gồm nhiều người là thành viên trong gia đình.
Chủ nhà al-Halabi nằm trong số những người thiệt mạng, cùng với đó là 2 trong số những người vợ của Baghdadi, được cho là đều đã kích hoạt bom tự sát. Thủ lĩnh IS có khả năng đã đi qua cửa sập để trốn vào hệ thống đường hầm khi bị dồn vào chân tường.
Ông Trump cho biết những người lên kế hoạch tấn công biết chính xác hệ thống đó ở đâu cũng như cách thức phá vỡ nó.
“Trong đường hầm chỉ còn có Baghdadi và hắn đã kéo theo 3 đứa con nhỏ xuống cùng,” ông cho biết. “Họ đã đi đến cái chết không thể tránh khỏi. Hắn chạy đến cuối đường hầm khi bị những chú chó của chúng tôi truy đuổi,” ông nói.
“Baghdadi đã kích nổ bom tự sát, khiến chính hắn và 3 đứa trẻ thiệt mạng. Kết quả xét nghiệm cho kết quả ngay lập tức và hoàn toàn chắc chắn rằng đó chính là hắn ta.”
Guardian đánh giá cái kết này cũng tàn khốc như 6 năm cai trị không kém phần khủng khiếp của Baghdadi.
Băng đảng buôn người, được cho là đứng sau cái chết bi thảm của 39 người châu Á nhập cư vào nước Anh, đã kiếm được hàng triệu USD từ việc buôn bán người trong suốt 20 năm tồn tại và được cầm đầu bởi một bà trùm khét tiếng người Trung Quốc.
Theo Daily Mail, bà trùm Ping đã chết trong một nhà tù ở Texas năm 2014 trong khi đang thụ án 35 năm với tội danh cầm đầu mạng lưới buôn người tinh vi nhất thế giới. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, băng đảng này đã đưa được tới 200.000 người nhập cư trái phép trót lọt.
Tại phiên tòa năm 2005 ở New York, bà trùm Ping được mô tả là một “ác quỷ” vì đã kiếm tiền bằng cách đưa nhiều thế hệ người Trung Quốc trên khắp thế giới nhập cư trái phép với mức giá 20.000 bảng Anh từ đầu những năm 1980.
Bà trùm Ping được mô tả là một “ác quỷ” vì đã kiếm tiền bằng cách đưa nhiều thế hệ người Trung Quốc nhập cư trái phép với mức giá 20.000 bảng Anh
Khoản nợ này sẽ được người nhập cư trả bằng tiền công từ những công việc tay chân họ làm ở trời Tây.
Cảnh sát cuối cùng cũng tóm được bà trùm Ping ở khu phố Tàu tại New York và đưa bà ta ra trước vành móng ngựa với tội danh buôn người. Nhưng bất chấp việc bà trùm bị bỏ tù và chết ở đó, băng Đầu rắn của bà ta vẫn hoạt động mạnh mẽ – mặc dù hiện chưa rõ kẻ cầm đầu mới là ai.
Mất đi sự lãnh đạo của Ping, băng đảng đã xuôi theo thời đại và sử dụng các ứng dụng truyền thông xã hội như MoMo – một ứng dụng tương tự như Tinder của Trung Quốc, cũng như ứng dụng nhắn tin phổ biến WeChat với lời hứa “di chuyển an toàn 100%.”
Những mẩu quảng cáo hấp dẫn như “Nhanh chóng vượt qua các cuộc kiểm tra ở biên giới! Thanh toán khi đến nơi!” được chạy đều trên các ứng dụng này.
‘Bà trùm’ Cheng Chui Ping. (Nguồn: Getty Images)
Theo truyền thông địa phương, những người mơ ước rời Trung Quốc để có một cuộc sống mới phải trả một khoản đặt cọc trực tuyến ít nhất là 5.000 nhân dân tệ trước khi bị nhồi nhét vào những con thuyền hoặc container để bắt đầu một hành trình dài, tăm tối và đầy rủi ro.
Người Trung Quốc, đặc biệt là những người có trình độ học vấn thấp, vẫn tiếp tục bị lôi kéo đến châu Âu và Bắc Mỹ bằng những lời hứa về mức thu nhập cao hơn nhiều lần so với ở quê nhà, bất chấp những rủi ro đáng kể kèm theo.
Các nạn nhân sẽ rời quê hương với hy vọng có được một cuộc sống tốt đẹp hơn ở Anh – nhưng hành trình của họ sẽ đầy khốn khổ, khi phải mất tới một tháng trốn ở thùng sau xe tải trong những điều kiện nguy hiểm và tồi tệ.
Họ đa phần đi máy bay từ Trung Quốc tới Serbia, sau đó được vận chuyển bằng đường bộ qua Hungary, Áo, Pháp tới Bỉ hoặc Hà Lan trước khi lên tàu, thuyền tới Anh.
Mike Gradwell, cựu giám đốc cảnh sát tại Lancashire, người từng tham gia điều tra thảm kịch 23 người Trung Quốc nhập cư trái phép tử vong tại vịnh Morecambe, chia sẻ với chương trình BBC Breakfast rằng 39 nạn nhân trong xe container rất có thể đã bị buôn bán bởi các băng đảng Đầu rắn.
Ông nói: “Chúng thật sự là những đại lý du lịch tội phạm. Bạn gặp một tên Đầu rắn và nói rằng mình chấp nhận bị buôn bán để có một cơ hội đổi đời và thường là bạn sẽ mang theo một số tiền rất lớn cho chúng.”
Ông nói rằng những người thân có khả năng đã liên lạc được với những người bị buôn bán, vì họ mang điện thoại theo người. Theo ông, cảnh sát có thể dựa vào điều này để xác định danh tính các nạn nhân.
Lisa Yam, một luật sư chuyên về hoạt động nhập cư của người Trung Quốc, chia sẻ với chương trình: “Chúng tôi thấy thật khó mà tin là vẫn còn nhiều người Trung Quốc lựa chọn đến Anh (theo cách như vậy).”
Hai thảm kịch trước đó tại Anh đã cung cấp những manh mối về câu chuyện buồn phía sau cái chết của những nạn nhân mới nhất.
Năm 2000, thi thể của 58 người Trung Quốc đã được tìm thấy trong một container đã niêm phong kín và không có không khí tại cảng Dover. Khám nghiệm tử thi xác nhận họ tử vong vì ngạt khí.
Perry Wacker, một tài xế xe tải người Hà Lan, đã bị bỏ tù 14 năm vì tội ngộ sát những người nhập cư – những người này đã trả cho một băng đảng tội phạm hàng ngàn bảng để được đưa lậu vào Anh. Điều tra cho thấy Wacker đã đóng một lỗ thông hơi ở bên cạnh container khi chiếc xe tải lên phà vì sợ những người bên trong bị phát giác.
23 người Trung Quốc làm nghề bắt sò đã bị chết đuối sau khi kẻ cầm đầu băng đảng nhẫn tâm bỏ rơi họ trên bãi cát nguy hiểm ở vịnh Morecambe. (Nguồn: PA)
Bốn năm sau, 23 người Trung Quốc làm nghề bắt sò đã bị chết đuối sau khi kẻ cầm đầu băng đảng nhẫn tâm bỏ rơi họ trên bãi cát nguy hiểm ở vịnh Morecambe. Lin Liang Ren, chủ lao động tại Anh của họ, đã bị phạt 14 năm tù vì tội ngộ sát theo quyết định của tòa án Preston Crown.
Hai vụ việc ở Dover và vịnh Morecambe có ít nhất một điểm chung: tỉnh Phúc Kiến. Tất cả những người thiệt mạng đều đến từ vùng đất miền đông nam Trung Quốc đối diện với đảo Đài Loan này.
Phúc Kiến cũng là “đại bản doanh” của những băng Đầu rắn khét tiếng – được cho là một nhánh của hội Tam Hoàng.
Trở lại những năm 1990, hoạt động của các băng Đầu rắn tập trung ở Hong Kong. Chúng cung cấp lao động chợ đen chủ yếu cho khu bếp của các nhà hàng thuộc sở hữu của cộng đồng người Trung Quốc lâu đời ở Hong Kong.
Trong những năm qua, Đầu rắn đã mở rộng hoạt động sang buôn bán phụ nữ trẻ. Họ thường bị bắt cóc và ép buộc tham gia đường dây bán dâm ở Anh. Một số nạn nhân, trẻ nhất là 11 tuổi, đã tới Anh mà không có hộ chiếu hay thị thực và xin được tị nạn. Một khi đã tới nơi, họ sẽ biến mất khỏi các nhà trọ hay nhà chăm sóc mà cơ quan di trú Anh chỉ định cho họ.
Phúc Kiến cũng là ‘đại bản doanh’ của những băng Đầu rắn khét tiếng. (Nguồn: Xinhua)
Thống kê của Bộ Nội vụ Anh cho thấy có 3.641 phụ nữ đã bị tạm giữ di trú trong năm 2018, trong đó có 420 người Trung Quốc.
Số liệu hằng năm mới nhất từ Cơ quan Tội phạm Quốc gia Anh (NCA) cho thấy số lượng người Trung Quốc được báo cáo tới Cơ chế Tham chiếu Quốc gia, cơ quan phụ trách đánh giá các trường hợp nô lệ thời hiện đại, đã tăng hơn 50%, từ 293 người năm 2017 lên 451 người trong năm 2018.
Từ tháng 1 đến tháng 3 năm nay, 131 nô lệ người Trung Quốc khác đã được chỉ dẫn tới đây tìm sự giúp đỡ, một nửa trong số họ được phát hiện bởi Lực lượng Biên phòng Anh hoặc các đội nhóm thực thi di trú. Nhiều nạn nhân khác được đưa tới cảnh sát ở West Midlands, Gloucestershire, Cambridgeshire và London.
Khi NCA triển khai môt chiến dịch trên toàn châu Âu nhắm vào chế độ nô lệ và buôn người hồi tháng 6, số nạn nhân người Trung Quốc được phát hiện ở Anh nhiều hơn bất kỳ quốc tịch nào khác.
Những kẻ Đầu rắn buôn người đương nhiên nhắm mục tiêu vào những người di cư vì lợi ích kinh tế
Những kẻ Đầu rắn buôn người đương nhiên nhắm mục tiêu vào những người di cư vì lợi ích kinh tế. Chúng có liên quan đến thảm kịch tại Dover, sự cố tồi tệ nhất từng xảy ra tại Anh với nhiều điểm tương đồng đến lạnh người với vụ việc mới nhất tại Khu công nghiệp Waterglade ở Grays, Essex. Những chiếc xe tải trong cả hai vụ việc đều nhập cảnh vào Anh từ Zeebrugge, Bỉ.
Tính chất tàn bạo của sự việc và sự tuyệt vọng của các nạn nhân gợi nhắc lại những phát hiện của tổ chức từ thiện Diễn đàn người Trung Quốc tại Anh.
Wang Wei, một người từng là nạn nhân bị buôn bán, đã kể lại hành trình đầy đau đớn của mình. “Chúng [băng đảng tội phạm] đưa tôi vào một container và nói sẽ đưa tôi đến một nơi an toàn. Mất tới hơn một tháng, hơn 40 ngày. Tất cả mọi hoạt động đều diễn ra ở trong container. Tôi không biết mình đang ở đâu. Tôi đoán có thể là trên biển. Tôi chỉ cảm nhận được là container được nâng lên hay hạ xuống. Chúng có cho tôi thức ăn. Tôi phải đi vệ sinh ngay bên trong container và cứ như thế suốt hơn 40 ngày. Tôi đã trả cho chúng hơn 15.000 bảng Anh”./.
Phát triển mạng lưới y tế cơ sở có thể khẳng định là yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay.
Trên toàn quốc có hơn 11.000 trạm y tế cơ sở, để thay đổi nâng cao hiệu quả của hệ thống y tế gần dân nhất này không thể một sớm một chiều…
Phóng viên báo VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng – Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính (Bộ Y tế) về vấn đề này.
Đổi mới sâu rộng mạng lưới y tế cơ sở
– Cho đến thời điểm này, bà có thể đánh giá về kết quả bước đầu đối với hoạt động các trạm y tế xã điểm được Bộ Y tế triển khai trong thời gian qua?
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng: Hiện nay, trước đòi hỏi cấp bách hiện nay là phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới, chính vì vậy ngành y tế đang triển khai một chương trình đổi mới sâu rộng mạng lưới y tế cơ sở trong toàn quốc. Đó là Đề án 2348 về “Phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, một trong những can thiệp quan trọng của ngành y tế là tiến hành thí điểm mô hình cung ứng dịch vụ mới tại 26 trạm y tế thuộc 8 tỉnh.
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng – Phó Vụ trưởng Vụ kế hoạch Tài chính (Bộ Y tế). (Ảnh: PV/Vietnam+)
Trong thời gian vừa qua, Bộ Y tế rất tích cực phối hợp với Sở Y tế 8 tỉnh để tiến hành các hoạt động chuẩn bị nhằm đưa mô hình vào vận hành thực tế. Trước hết, Bộ Y tế đã huy động các nguồn lực kỹ thuật để tiến hành khảo sát đánh giá toàn diện thực trạng tại 26 trạm y tế xã điểm.
Kết quả cho thấy, các yếu tố về hạ tầng kỹ thuật, nhân lực, quản trị của các trạm y tế còn nhiều hạn chế; năng lực và phương thức cung ứng dịch vụ y tế chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; cơ chế tài chính còn nhiều nút thắt. Đây chính là những cản trở chúng ta cần vượt qua trong quá trình triển khai mô hình cung ứng dịch vụ mới.
Đề án 2348 về “Phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, một trong những can thiệp quan trọng của ngành y tế là tiến hành thí điểm mô hình cung ứng dịch vụ mới tại 26 trạm y tế thuộc 8 tỉnh.
Tạo điều kiện thuận lợi về thanh toán bảo hiểm y tế
– Trước thực trạng trên, Bộ Y tế có những phương hướng xác định như thế nào thưa phó giáo sư?
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng: Trên cơ sở Khảo sát đánh giá thực trạng, Bộ Y tế đã khẩn trương triển khai các hoạt động tiếp theo.
Ngành y tế xây dựng Kế hoạch nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, bao gồm sửa chữa nhà trạm, bố trí công năng các khoa phòng hợp lý, đầu tư trang thiết bị y tế trong đó có một số thiết bị lần đầu tiên đưa về xã như thiết bị xét nghiệm đường máu ngay tại y tế cơ sở để nâng cao năng lực cung ứng cho trạm y tế xã.
Về nguồn nhân lực, Bộ Y tế xây dựng kế hoạch đào tạo cho cán bộ trạm y tế của 26 xã. Có hai điểm đáng lưu ý trong kế hoạch đào tạo này. Thứ nhất, chương trình đào tạo lần này không chỉ dành riêng cho đối tượng bác sỹ mà đào tạo cho toàn bộ tất cả các chức danh của trạm y tế xã. Thứ hai, lần đầu tiên bổ sung chương trình đào tạo về năng lực quản lý/quản trị cho chức danh Trưởng trạm. Trước đây vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức, trong khi mô hình cung ứng mới đòi hỏi năng lực quản lý quản trị phải được nâng cao.
Người dân đến thăm khám bệnh tại các trạm y tế cấp xã, thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bên cạnh đó, ngành y tế cập nhật, bổ sung các hướng dẫn kỹ thuật liên quan tới việc cung ứng dịch vụ y tế theo mô hình mới, như quản lý các bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế và tại cộng đồng.
Đặc biệt, Bộ Y tế và ngành y tế 8 tỉnh đang trong quá trình làm việc tích cực với cơ quan bảo hiểm y tế để tạo điều kiện thuận lợi nhất về thanh toán bảo hiểm y tế cho trạm y tế thực hiện mô hình thí điểm.
Tuy vậy, chúng ta cũng nên hiểu là chúng ta triển khai các can thiệp đổi mới trên một nền tảng hệ thống y tế xã còn tương đối thấp, do vậy quá trình chuyển đổi cần có thời gian.
Bộ Y tế và ngành y tế 8 tỉnh đang trong quá trình làm việc tích cực với cơ quan bảo hiểm y tế để tạo điều kiện thuận lợi nhất về thanh toán bảo hiểm y tế cho trạm y tế thực hiện mô hình thí điểm.
Cụ thể, chúng ta chuyển đổi trạm y tế xã từ mô hình cung ứng dịch vụ kiểu cũ chủ yếu khám chữa bệnh và hoạt động tại trạm không đảm bảo chăm sóc liên tục, lồng ghép, toàn diện, quản lý được các bệnh không lây nhiễm và bệnh mãn tính sang mô hình cung ứng dịch vụ kiểu mới, đòi hỏi phải kiên trì làm chắc từng bước, để nâng cao một cách bền vững năng lực cung ứng dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ y tế của hệ thống y tế cơ sở.
Hy vọng thời gian tới khi hạ tầng kỹ thuật được nâng cấp, năng lực chuyên môn và quản lý của đội ngũ nhân lực trạm y tế được cải thiện, các nút thắt liên quan tới thanh toán bảo hiểm y tế được tháo gỡ thì việc cung ứng dịch vụ y tế theo mô hình mới sẽ đi vào nề nếp, năng lực cung ứng dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ được cải thiện tốt hơn.
– Người dân vẫn hình dung về trạm y tế với sự đơn giản, sơ sài. Việc trang bị đầy đủ trang thiết bị, kiện toàn nhân lực là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý bệnh tật tại cộng đồng. Bà có thể cho biết là quá trình đầu tư cho các trạm y tế điểm triển khai ra sao?
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng: Đúng là hiện nay hệ thống kỹ thuật (nhà trạm, trang thiết bị, thuốc) và đội ngũ nhân lực là nền tảng hết sức quan trọng để đảm bảo năng lực cung ứng dịch vụ như chất lượng dịch vụ cung ứng của trạm y tế xã.
Bộ Y tế cùng sở y tế 8 tỉnh đang triển khai kế hoạch chi tiết với 26 trạm y tế xã điểm. Bao gồm sửa chữa cơ sở nhà trạm, bố trí phòng ốc phù hợp với công năng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân địa phương và có kế hoạch triển khai đầu tư trang thiết bị y tế cho 26 trạm y tế xã điểm.
Người dân xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội được chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh ngay tại cơ sở từ mô hình trạm y tế theo nguyên lý Y học gia đình. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bên cạnh các trang thiết bị cơ bản theo phân tuyến kỹ thuật, lần đầu tiên chúng ta cũng đưa một số thiết bị mới vào trạm y tế như thiết bị đo đường máu để quản lý các bệnh không lây nhiễm…
Ngoài ra còn có các thiết bị liên quan đến công nghệ thông tin cũng được đầu tư cung cấp để đảm bảo đủ máy tính hoạt động, thiết bị để nối mạng. Rõ ràng với việc đầu tư này, bộ mặt của trạm y tế xã điểm sẽ có nhiều thay đổi so với trước.
Tuy nhiên, tôi cũng cần phải nhắc lại một điều, đó là chức năng nhiệm vụ của trạm y tế theo phân tuyến kỹ thuật chuyên môn, dù vận hành theo mô hình cung ứng dịch vụ kiểu mới cũng không làm thay nhiệm vụ của Bệnh viện nên không cần thiết trang thiết bị kỹ thuật cao ở đấy để đảm bảo theo đúng nhiệm vụ chuyên môn.
– Thưa bà Phan Lê Thu Hằng, hiện nay Bộ Y tế đang triển khai những giải pháp gì để tăng cường năng lực cho các trạm y tế xã nói chung?
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng: Ngoài hạ tầng kỹ thuật, vấn đề kiện toàn nhân lực cũng hết sức quan trọng chúng tôi đã xây dựng kế hoạch chi tiết cho 26 trạm y tế điểm.
Bộ Y tế có đào tạo toàn bộ các chức danh của Trạm để cung ứng dịch vụ theo nguyên lý y học gia đình, đây là điểm mới so với trước.
Phát triển nhân lực y tế để đảm bảo mô hình cung ứng dịch vụ mới. Các chức danh trạm y tế đều được đào tạo theo nguyên lý y học gia đình. Bên cạnh đào tạo tăng cường phối hợp tuyến trên tuyến dưới để đảm bảo hỗ trợ thường xuyên cho trạm y tế khi cần thiết.
Hiện quá trình đào tạo đã triển khai tích cực tại 8 tỉnh. Trong đó Bộ Y tế có đào tạo toàn bộ các chức danh của Trạm để cung ứng dịch vụ theo nguyên lý y học gia đình, đây là điểm mới so với trước đặc biệt các chức danh Trạm trưởng cũng được đào tạo về quản lý quản trị vì cung ứng theo mô hình mới…
Các tỉnh cũng tiến hành các khóa đào tạo chuyên biệt cho cán bộ trạm y tế để đảm bảo cán bộ có đầy đủ chứng chỉ cần thiết vừa nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ vừa đảm bảo yêu cầu thanh toán của bảo hiểm y tế.
– Để thực hiện bất cứ việc gì chúng ta đều không thể không nhắc đến câu chuyện về tài chính? Bà có thể cho biết, về kinh phí đầu tư cho việc thực hiện các mục tiêu này có gặp khó khăn gì không?
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng: Đúng vậy, vấn đề đảm bảo tài chính đầy đủ và bền vững cho các trạm y tế xã thực hiện tốt các chức năng cung ứng dịch vụ theo nguyên lý y học gia đình có vai trò hết sức quan trọng.
Tháo gỡ các điểm nghẽn liên quan đến tài chính y tế để đảm bảo các trạm y tế có nguồn tài chính đầy đủ và bền vững để trạm y tế có thể cung ứng dịch vụ có chất lượng cho cộng đồng dân cư.
Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân tại Trạm y tế Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội. (Ảnh: Vietnam+)
Hiện nay, có một số vấn đề khó khăn liên quan đến tài chính cho trạm y tế xã hoạt động. Thứ nhất là kinh phí đầu tư cho trạm y tế với số lượng gần 12.000 trạm đòi hỏi kinh phí rất lớn.
Thứ hai, để đảm bảo kinh phí thường xuyên cho các trạm y tế hiện nay có một số địa phương chưa đảm bảo chi thường xuyên cho một số trạm y tế. Đặc biệt vẫn còn nhiều nút thắt trong thanh toán bảo hiểm y tế cho xã. Điển hình như một số loại hình dịch vụ trạm y tế chưa được thanh toán như khám sàng lọc, khám ngoại trạm, quản lý bệnh không lây nhiễm. Đây là những vấn đề cần tháo gỡ trong thời gian tới.
Để tháo gỡ các khó khăn về tài chính trên, Bộ Y tế đang vận động các nguồn lực sẵn có từ các dự án vốn vay, không hoàn lại để đầu tư cho trạm y tế vùng khó khăn.
Bên cạnh đó, Bộ Y tế phối hợp với các địa phương để các địa phương vận động nguồn kinh phí của tỉnh để đầu tư cho trạm y tế trên địa bàn.
Bộ Y tế đang vận động các nguồn lực sẵn có từ các dự án vốn vay, không hoàn lại để đầu tư cho trạm y tế vùng khó khăn.
Hiện nay Bộ Y tế cũng đang phối hợp chặt chẽ với cơ quan bảo hiểm y tế để tháo gỡ vướng mắc trong thanh toán và làm việc với bảo hiểm y tế để từng bước đưa thêm danh mục vào gói dịch vụ cơ bản do bảo hiểm y tế thanh toán.
Hy vọng với giải pháp như vậy thời gian tới những khó khăn về tài chính từng bước được giải quyết để năng lực cung ứng dịch vụ được nâng cao và chất lượng dịch vụ được cải thiện cho cộng đồng dân cư.
– Kiện toàn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho y tế cơ sở để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, cũng có không ít băn khoăn làm thế nào để việc đầu tư trang thiết bị phải đồng bộ với việc đầu tư nâng cao chất lượng về nhân lực. Bà có ý kiến như thế nào về vấn đề này?
Phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng: Việc đầu tư cho trạm y tế xã cần được tiến hành đồng bộ. Điển hình như chất lượng đội ngũ nhân lực phải được nâng cao cùng với đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất. Bởi khi cung ứng trang thiết bị cho trạm y tế xã cán bộ trạm y tế xã phải được đào tạo đầy đủ để có thể vận hành an toàn hiệu quả trang thiết bị được cung cấp.
Chẳng hạn như khi cung cấp trang thiết bị về công nghệ thông tin cho trạm y tế xã thì phải đào tạo cho cán bộ mới có thể lập được hồ sơ quản lý sức khỏe. Chúng ta phải đào tạo nhân lực hiểu về hệ thống mã định danh duy nhất, hệ thống phân loại bệnh tật mới có thể sử dụng hiệu quả trang thiết bị được cung cấp.
Khám chữa bệnh tại trạm Y tế xã Tân Hội, vùng 2 của huyện Đan Phượng (Hà Nội). (Ảnh: PV/Vietnam+)
Khi cung cấp trang thiết bị y tế khác như: các thiết bị xét nghiệm đường máu, cán bộ y tế không chỉ được tập huấn cách sử dụng an toàn, hiệu quả của trang thiết bị mà phải được đào tạo các nội dung liên quan đến chẩn đoán điều trị để ra chỉ định xét nghiệm chính xác. Khi có kết quả xét nghiệm mới ra quyết định điều trị tại chỗ, chuyển bệnh nhân hay quản lý tại chỗ làm sao cho hợp lý.
Đặc biệt, nhân viên tại các trạm y tế phải được đào tạo nâng cao năng lực quản lý quản trị, như thế mới đảm bảo hiệu quả của việc điều trị. Bởi việc cung ứng trang thiết bị mới làm số lượng tài sản tăng, quy trình chuyên môn nhiều hơn.
Xin trân trọng cảm ơn phó giáo sư Phan Lê Thu Hằng!./.
Trong bối cảnh hỗn loạn gia tăng tại Syria sau khi Thổ Nhĩ Kỳ tấn công lực lượng người Kurd ở Syria, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra lệnh rút toàn bộ binh sỹ Mỹ khỏi khu vực miền Bắc Syria.
Quyết định này của Tổng thống Mỹ Trump khiến dư luận lo ngại vấn đề Syria có thể vượt tầm kiểm soát.
Mỹ rút toàn bộ quân đội khỏi miền Bắc Syria
Sau khi tuyên bố đánh bại tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng tại Trung Đông, Mỹ đã từng bước điều chỉnh chính sách quân sự tại Syria theo hướng giảm hiện diện quân sự của Washington.
Hồi tháng 12/2018, Tổng thống Trump tuyên bố kế hoạch rút toàn bộ lực lượng Mỹ khoảng 2.000 binh sỹ tại Syria, khi khẳng định rằng Mỹ đã thất bại tại Trung Đông, nơi Washington đã chi đến 2.000 tỷ USD, 7.000 lính đặc nhiệm thiệt mạng và hơn 300.000 nạn nhân là thường dân.
Việc Mỹ rút quân khỏi Đông Bắc Syria đã mở đường cho Thổ Nhĩ Kỳ phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Syria.
Đến ngày 7/10 vừa qua, Mỹ bắt đầu rút khỏi 2 trạm quan sát tại các khu vực Tel Abyad và Ras al Ain ở Đông Bắc Syria, dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, những lực lượng Mỹ còn lại vẫn duy trì hiện diện tại khu vực này.
Việc Mỹ rút quân khỏi Đông Bắc Syria đã mở đường cho Thổ Nhĩ Kỳ phát động chiến dịch quân sự nhằm vào Syria. Bởi theo chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ, việc Mỹ rút quân khỏi Đông Bắc Syria, dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ được xem là hành động “bỏ rơi” đồng minh, đi ngược lại với những khuyến nghị của các cố vấn cấp cao của ông tại Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao Mỹ về việc duy trì sự hiện hiện của một nhóm nhỏ quân đội Mỹ tại Đông Bắc Syria nhằm tiếp tục các chiến dịch chống tổ chức khủng bố “Nhà nước Hồi giáo” (IS) tự xưng.
Lực lượng của Thổ Nhĩ Kỳ tiến về phía Manbij, Syria. (Nguồn: AP)
Từ ngày 9/10, chiến dịch quân sự mang tên “Hòa bình Mùa Xuân ở miền Bắc Syria” của Thổ Nhĩ Kỳ được tiến hành với cuộc không kích nhằm vào thị trấn Ras al-Ain. Ngay sau đó, các hoạt động tấn công trên bộ cũng được Thổ Nhĩ Kỳ triển khai. Chiến dịch này là một phần trong mục tiêu dài hạn của Ankara nhằm xóa bỏ sự hiện diện của tổ chức khủng bố IS và lực lượng người Kurd, tổ chức mà Ankara coi là khủng bố.
Hành động đưa quân vào nước láng giềng Syria mà chưa được sự cho phép của Damacus, tương tự như chiến dịch quân sự xuyên biên giới của Thổ Nhĩ Kỳ tại Syria mang tên “Lá chắn sông Euphrates” hồi năm 2016, có nguy cơ kéo theo nhiều hệ lụy nguy hiểm. Syria coi đây là hành vi xâm phạm chủ quyền, làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong quan hệ vốn đã nhiều bất đồng lâu nay giữa Ankara và Damascus.
Từ ngày 9/10, chiến dịch quân sự mang tên “Hòa bình Mùa Xuân ở miền Bắc Syria” của Thổ Nhĩ Kỳ được tiến hành.
Ngày 9/10, Damascus cũng đã tuyên bố lên án “những tuyên bố chủ chiến, những ý định thù địch … và tăng cường quân đội” của Ankara ở dọc biên giới với Syria. Tổng thống Mỹ Donald Trump sau đó cũng đe dọa thắt chặt chính sách của ông đối với Ankara khi áp dụng những biện pháp trừng phạt “hà khắc” nếu chiến dịch của Thổ Nhĩ Kỳ còn tiếp diễn.
Ngày 13/10, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper cho biết Tổng thống Trump đã ra lệnh rút toàn bộ binh sỹ Mỹ khỏi khu vực miền Bắc Syria nhằm tránh một cuộc xung đột “không thể kiểm soát” giữa các tay súng người Kurd được Mỹ ủng hộ với các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ.
Phát biểu trong chương trình “Face the Nation” của đài CBS, Bộ trưởng Esper cho biết ông đã trao đổi với Tổng thống Trump tối 12/10 về các dấu hiệu ngày càng rõ cho thấy cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu từ ngày 9/10 vừa qua đang ngày càng nguy hiểm. Ông Esper nói: “Trong 24 giờ qua, chúng tôi biết rằng họ (người Thổ Nhĩ kỳ) dường như định mở rộng cuộc tấn công hơn nữa, sâu xuống phía Nam hơn kế hoạch ban đầu, và sang phía Tây.”
Đoàn xe quân sự của Mỹ di chuyển gần thị trấn Bardarash thuộc vùng Dohuk, Iraq sau khi rút khỏi Syria, ngày 21/10/2019. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Bộ trưởng Esper không nói rõ thời điểm Mỹ rút quân, song cho biết việc này sẽ được tiến hành “an toàn và nhanh chóng nhất có thể.”
Ông cũng không nói chính xác số lượng binh sỹ Mỹ sẽ rời khu vực miền Bắc, nhưng cho biết khoảng gần 1.000 binh sỹ Mỹ đang đồn trú tại Syria. Hãng tin AP dẫn lời ông Esper cho biết thêm rằng dường như các Lực lượng Dân chủ Syria (SDF), do người Kurd đứng đầu và được Mỹ ủng hộ, đang tìm kiếm “một thỏa thuận” với quân đội Syria và Nga để khởi động đáp trả Thổ Nhĩ Kỳ.
Trong khi đó, trong một dòng trạng thái trên mạng Twitter, Tổng thống Trump viết: “Thật khôn ngoan khi binh sỹ Mỹ không can dự vào cuộc giao tranh căng thẳng dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.”
Cùng ngày, hãng tin Reuters dẫn lời hai quan chức quốc phòng Mỹ cho biết một số lượng nhỏ binh sĩ Mỹ đã rời một tiền đồn ở thị trấn Ain Issa, miền Bắc Syria, do lo ngại một cuộc tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ.
“Thật khôn ngoan khi binh sỹ Mỹ không can dự vào cuộc giao tranh căng thẳng dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.” (Tổng thống Trump)
Một quan chức Mỹ nhận định, tình hình tại Đông Bắc Syria “đang xuống cấp nhanh chóng,” khi các lực lượng ở Syria được Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ đang tiến sâu hơn vào Syria và có thể cô lập các lực lượng Mỹ trên thực địa.
Quan chức này bày tỏ lo ngại nguy cơ xảy ra một cuộc đối đầu giữa quân đội Mỹ và các lực lượng được Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ. Trước đó, một điểm đóng quân của binh lính Mỹ gần gần thị trấn Kobani ở biên giới phía Bắc Syria đã trúng pháo, chưa rõ vụ việc do bên nào gây ra.
Chỉ vài giờ sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tuyên bố bất ngờ rút toàn bộ 1.000 binh sỹ Mỹ khỏi khu vực miền Bắc Syria, truyền hình quốc gia Syria cho hay, Mỹ đã sơ tán căn cứ quân sự của Mỹ ở thành phố Jalabiya, thuộc tỉnh Raqqa của Syria.
Một quan chức Mỹ ngày 14/10 cho biết, toàn bộ binh sỹ Mỹ tại miền Bắc Syria đã được lệnh rút quân khỏi quốc gia Trung Đông này, trong bối cảnh Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành chiến dịch tấn công người Kurd tại khu vực.
Theo quan chức trên, khoảng 1.000 binh sỹ sẽ rút khỏi Syria, chỉ để lại một đội quân khoảng 150 người tại căn cứ ở Al Tanf, miền Nam nước này, một ngày sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh cho quân đội Mỹ di tản khỏi miền Bắc Syria. Quan chức khẳng định: “Chúng tôi đang thực thi mệnh lệnh.”
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tại Baghdad, Iraq ngày 23/10/2019. (Nguồn: THX/TTXVN)
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper ngày 19/10 cho hay, toàn bộ gần 1.000 lính Mỹ đang rút khỏi miền Bắc Syria dự kiến sẽ di chuyển đến phía Tây Iraq để tiếp tục chiến dịch truy quét các phiến quân thuộc tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) và “giúp bảo vệ Iraq.”
Phát biểu với các phóng viên trên hành trình tới Trung Đông, ông Esper nói: “Hoạt động rút quân của Mỹ đang nhanh chóng tiếp diễn ở khu vực Đông Bắc Syria. Kế hoạch được vạch ra hiện nay dành cho các lực lượng đó là tái bố trí ở miền Tây Iraq.”
Ngày 22/10, trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin CNN, Bộ trưởng Esper đã làm rõ hơn về kế hoạch rút quân khi cho biết các lực lượng Mỹ sẽ rút khỏi Syria theo nhiều giai đoạn, và hiện đã di chuyển từ “vùng có nguy cơ bị tấn công trực diện” tới một khu vực hành lang phía Đông Bắc Syria.
“Chúng tôi chắc chắn sẽ không xung đột với một đồng minh của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vì một khu vực biên giới mà ngay từ đầu chúng tôi không cam kết bảo vệ.” (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper)
Ông Esper cũng lưu ý rằng sau đó, quân đội Mỹ sẽ chuyển sang một giai đoạn chuyển quân khác nhằm “rút hết tất cả lực lượng” khỏi Syria. Bộ trưởng Esper nêu rõ: “Chúng tôi sẽ cho quân đội tạm thời đồn trú tại Iraq trước cho họ trở về Mỹ. Họ sẽ về nhà.”
Trước đó, hàng chục xe bọc thép của Mỹ ngày 21/10 đã tới một căn cứ tại khu vực người Kurd của Iraq.
Ông Esper nói rằng Washington phản đối hành vi xâm phạm Syria của Thổ Nhĩ Kỳ, song cho hay: “Chúng tôi chắc chắn sẽ không xung đột với một đồng minh của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vì một khu vực biên giới mà ngay từ đầu chúng tôi không cam kết bảo vệ.”
Tiềm ẩn nhiều rủi ro
Tuyên bố rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ khỏi Đông Bắc Syria của Tổng thống Trump được cho là bước đi nhằm thực hiện cam kết tranh cử của ông năm 2016, rằng sẽ đưa nước Mỹ thoát khỏi tình cảnh sa lầy trong những cuộc chiến hao người tốn của.
Tuyên bố rút quân này có thể cũng để “dọn đường” cho tiến trình tranh cử của Tổng thống Trump hướng tới cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020, đồng thời tuyên bố rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ khỏi Đông Bắc Syria cũng đánh dấu một sự thay đổi lớn trong chính sách của Washington đối với Syria, song lại gây bất đồng trên chính trường Mỹ và khiến dư luận lo ngại vấn đề Syria có thể vượt tầm kiểm soát, đặc biệt trong bối cảnh Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến hành chiến dịch tấn công người Kurd ở Syria.
Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu với báo giới tại Washington, DC ngày 10/10/2019. (Nguồn: THX/TTXVN)
Trên thực tế, sự hiện diện của quân đội Mỹ ở miền Bắc Syria lâu nay vốn được coi như “rào chắn” ngăn quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tấn công lực lượng người Kurd vốn được Mỹ hậu thuẫn, song Thổ Nhĩ Kỳ lại coi là một nhánh của đảng Công nhân người Kurd (PKK) mà Ankara liệt vào danh sách khủng bố. Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ từng nhiều lần tranh cãi về vấn đề các tay súng người Kurd.
Trước đây Washington luôn bảo vệ nhóm đối tượng này bởi Các Đơn vị bảo vệ nhân dân người Kurd (YPG) và Các lực lượng Dân chủ Syria (SDF) được coi là đối tác đáng tin cậy nhất của Mỹ trong cuộc chiến chống IS tại khu vực chiến lược Đông Bắc Syria.
Tuyên bố rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ khỏi Đông Bắc Syria của Tổng thống Trump được cho là bước đi nhằm thực hiện cam kết tranh cử của ông năm 2016.
Chính vì vậy, nhiều ý kiến lo ngại việc Mỹ rút toàn bộ quân đội trong thời điểm Thổ Nhĩ Kỳ mở chiến dịch tấn công trên bộ và trên không ở miền Bắc Syria sẽ dẫn đến những rủi ro khó lường, mà trước hết cuộc chiến chống khủng bố sẽ bị suy yếu, các lực lượng khủng bố cực đoan có cơ hội tập hợp lực lượng và IS có thể hồi sinh ở Syria.
Lực lượng người Kurd ở miền Bắc Syria, một khi đơn độc đối phó với quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, sẽ không còn rảnh tay chiến đấu chống tàn quân IS và phải thả 10.000 chiến binh IS đang bị giam giữ ở các địa điểm do người Kurd kiểm soát, đây đúng là “cơn ác mộng,” đặc biệt đối với châu Âu.
Về phía nội bộ Mỹ, nhiều nghị sỹ coi việc rút toàn bộ quân khỏi Đông Bắc Syria không chỉ là sự nhân nhượng thái quá đối với Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn đánh dấu một “bước lùi” khiến Mỹ trở nên yếu thế hơn Nga hay Iran ở khu vực Trung Đông. Giới chức quân sự Mỹ lâu nay vẫn cho rằng việc giữ lực lượng Mỹ ở Syria nói chung và miền Bắc nói riêng có thể tạo đối trọng với Thổ Nhĩ Kỳ và các đồng minh của Syria như Nga và Iran.
Khói bốc lên sau cuộc xung đột giữa các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ và lực lượng người Kurd ở thị trấn Ras al-Ain, Syria ngày 17/10/2019. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Trong con mắt các nhà phê bình ở Mỹ, quyết định rút quân của Tổng thống Donald Trump là một hành động nguy hiểm. Việc Mỹ từ bỏ sự hiện diện quân sự ở miền Đông Bắc Syria là một tín hiệu cho các đồng minh – Mỹ không đáng tin cậy. Ngay cả đồng minh thân cận của Tổng thống Donald Trump, thượng nghị sỹ Lindsey Graham cũng cho rằng hành động này là một thảm họa, và cho biết ông sẽ đưa ra chương trình nghị sự, yêu cầu Mỹ trừng phạt việc Thổ Nhĩ Kỹ xâm lược Syria và tấn công lực lượng vũ trang người Kurd.
Còn về phía Nga, Moskva đã cảnh báo chính sách của Mỹ tại Syria có thể “kích động” toàn khu vực. Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov lo ngại rằng việc Mỹ tuyên bố rút toàn bộ quân khỏi miền Đông Bắc Syria vừa đe dọa Thổ Nhĩ Kỳ vừa có thể “kích động” toàn khu vực Trung Đông. Thậm chí, giao tranh trầm trọng xảy ra ở khu vực miền Bắc Syria sẽ gây ra thêm một cuộc khủng hoảng nhân đạo tồi tệ với người dân nước này.
Việc Mỹ từ bỏ sự hiện diện quân sự ở miền Đông Bắc Syria là một tín hiệu cho các đồng minh – Mỹ không đáng tin cậy.
Điện Kremlin ngày 23/10 cho rằng Mỹ đã phản bội và bỏ rơi người Kurd ở Syria đồng thời khuyến cáo lực lượng người Kurd rút khỏi khu vực biên giới Syria theo thỏa thuận giữa Moskva và Ankara nếu không sẽ bị quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đối xử thô bạo.
Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov đưa ra phát biểu trên với các hãng tin của Nga. Ông Peskov cho rằng, dường như Mỹ đang khuyến khích người Kurd trụ lại gần biên giới Syria và chống lại quân đội Thổ Nhĩ Kỳ. Ông Peskov được dẫn lời nhấn mạnh: “Mỹ từng là đồng minh thân cận nhất của người Kurd trong những năm gần đây. Tuy nhiên cuối cùng, Mỹ lại bỏ rơi người Kurd và về cơ bản là phản bội họ. Hiện (người Mỹ) muốn bỏ người Kurd lại khu vực biên giới (với Thổ Nhĩ Kỳ) và thực ra buộc họ phải chiến đấu chống lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ.”
Khu vực biên giới Thổ Nhĩ Kỳ-Syria đang trở thành điểm nóng nhất ở khu vực Trung Đông vốn luôn bất ổn và đầy nguy cơ tiềm ẩn. Việc Mỹ rút toàn bộ quân đội cùng những động thái can thiệp quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ khiến tình hình Syria nói riêng và Trung Đông nói chung diễn biến khó lường hơn trong thời gian tới.
Một đoàn xe quân sự Mỹ dừng gần thị trấn Tel Tamr, bắc Syria, ngày 20/10/2019. (Nguồn: AP)
Trong một diễn biến mới nhất, dường như để xoa dịu những quan ngại từ nội bộ về việc tạo ra “khoảng trống” khu vực do việc rút hết binh sỹ ra khỏi Syria, ngày 24/10, các nguồn tin báo chí cho biết, Nhà Trắng đang cân nhắc các lựa chọn nhằm duy trì khoảng 500 binh lính Mỹ tại khu vực Đông Bắc Syria và điều thêm xe tăng chiến đấu để bảo vệ họ.
Theo nguồn tin trên, các quan chức quân sự đề xuất nhiều lựa chọn, theo đó sẽ điều chỉnh các mục tiêu của Mỹ nhằm tập trung bảo vệ các mỏ dầu tại Syria và dập tắt khả năng trỗi dậy của tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng.
Nhà Trắng đang cân nhắc các lựa chọn nhằm duy trì khoảng 500 binh lính Mỹ tại khu vực Đông Bắc Syria và điều thêm xe tăng chiến đấu để bảo vệ họ.
Các lựa chọn này cũng sẽ thay đổi kế hoạch rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Syria của Tổng thống Mỹ Donald Trump trước đó, cũng như có thể sẽ ảnh hưởng tới 1.000 binh lính Mỹ đã nhận được lệnh rút khỏi Syria vào đầu tháng này.
Trước đó, Tổng thống Trump thông báo, ông đồng ý duy trì 200 binh lính Mỹ tại Đông bắc Syria nhằm ngăn chặn nguy cơ các mỏ dầu rơi vào sự kiểm soát của lực lượng thánh chiến Hồi giáo./.
Người dân mừng chiến thắng sau khi quân đội Chính phủ Syria giành quyền kiểm soát thành phố Manbij. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Sách công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại bị Hội đồng thẩm định sách giáo khoa lớp 1 của Bộ Giáo dục và Đào tạo loại ngay từ vòng đầu tiên. Theo đó, bộ sách này sẽ chính thức bị dừng giảng dạy tại các nhà trường từ năm học 2020-2021, khi ngành giáo dục triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.
Sách công nghệ giáo dục hiện đang được sử dụng tại 48 tỉnh thành trên cả nước, với trên 900.000 học sinh lớp 1 theo học.
Lý do bị loại, theo Hội đồng thẩm định, bộ sách không đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới.
Sách công nghệ giáo dục hiện đang được sử dụng tại 48 tỉnh thành trên cả nước, với trên 900.000 học sinh lớp 1 theo học. Đặc biệt, đây là sự lựa chọn tự nguyện của các nhà trường, các địa phương, thay thế cho sách lớp 1 hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo vì hiệu quả tích cực mà bộ sách mang lại. Vì thế, nhiều người tỏ ra tiếc nuối.
Đơn cử như Lào Cai, tỉnh đầu tiên của cả nước đưa sách công nghệ giáo dục vào trường học (kể từ sau năm 2000, khi cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa duy nhất) nhằm cải thiện tình trạng học sinh học xong vẫn không biết đọc, viết.
“Bộ sách đã trở thành ‘chìa khóa vàng’ giúp cho Lào Cai xóa được nạn tái mù chữ, đặc biệt là sách Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục. Ở Lào Cai, nơi 70% học sinh là người dân tộc thiểu số, nếu không đọc thông viết thạo tiếng Việt thì đừng mơ chất lượng giáo dục,” nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai Trương Kim Minh nói.
Trong một buổi chiều Hà Nội mịt mù giông gió, chia sẻ với phóng viên VietnamPlus, nguyên Giám đốc Sở Đào tạo và Giáo dục Trương Kim Minh bồi hồi nhớ lại những trăn trở với bài toán xóa mù chữ cho tỉnh nghèo Lào Cai mười mấy năm về trước…
Sách công nghệ giáo dục
đã ‘cứu’ giáo dục Lào Cai thế nào?
Phạm Mai
Lào Cai năm 2003.
Phó chủ tịch tỉnh Lào Cai Sùng Chúng buồn rầu nhìn kết quả báo cáo của ngành giáo dục tỉnh. Năm 2000, Lào Cai đã đạt phổ cập giáo dục, xóa mù chữ toàn tỉnh, dù phải áp dụng tiêu chí tối thiểu, nghĩa là chỉ đạt xóa mù chữ ở mức 80% dân số với vùng đặc biệt khó khăn. Nhưng chỉ sau một vài năm, tỷ lệ mù chữ lại đang tăng lên chóng mặt. Học sinh học xong là quên, không thể đọc, viết. Bản đồ giáo dục Lào Cai lỗ chỗ những khoảng trắng.
Năm 2000, Lào Cai đã đạt phổ cập giáo dục, xóa mù chữ toàn tỉnh, dù phải áp dụng tiêu chí tối thiểu, nghĩa là chỉ đạt xóa mù chữ ở mức 80% dân số với vùng đặc biệt khó khăn.
Là người dân tộc Mông, sinh ra và lớn lên từ bản làng La Pan Tẩn (huyện Mường Khương), ông Sùng Chúng rất hiểu những khó khăn của học sinh dân tộc thiểu số khi phải học tiếng Kinh, thứ tiếng khác với tiếng mẹ đẻ vốn đã được bọn trẻ quen nghe từ thuở nằm nôi. Ông cũng thấm thía rằng nếu không học tốt tiếng Việt thì trẻ em dân tộc thiểu số sẽ khó có thể học lên các bậc học cao hơn, tiếp nhận được tri thức mới, khi mà các tài liệu, sách vở, ngôn ngữ trong nhà trường là tiếng Việt. Điều đó đồng nghĩa với việc Lào Cai sẽ rất khó có cơ hội phát triển, thoát nghèo vì tới 70% người dân là đồng bào các dân tộc ít người. Tiếng Việt chính là chiếc chìa khóa then chốt đầu tiên mở ra cánh cửa tương lai cho lũ trẻ, cho mỗi bản làng, cho cả Lào Cai.
Khi ấy, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai phụ trách lĩnh vực giáo dục tiểu học Trương Kim Minh lập tức được triệu kiến và bài toán được giao là làm thế nào để giải quyết việc tái mù chữ của học sinh.
Tiếng Việt chính là chiếc chìa khóa then chốt đầu tiên mở ra cánh cửa tương lai cho lũ trẻ, cho mỗi bản làng, cho cả Lào Cai.
“Muốn xóa mù chữ thì có ba việc phải làm: thứ nhất là phải cho trẻ con đi học mầm non để làm quen với tiếng Việt trước khi vào lớp 1; thứ hai là đưa giáo viên người Kinh lên dạy lớp 1, càng vùng núi cao cách biệt càng phải là giáo viên người Kinh; thứ ba là tỉnh phải cấp tiền cho học sinh ăn bán trú, mỗi học sinh 20.000 đồng/tháng,” Phó Giám đốc Sở Trương Kim Minh thẳng thắn kiến nghị.
Phó Chủ tịch Sùng Chúng nhăn mặt, một tỉnh nghèo miền núi như Lào Cai lấy đâu ra tiền? Ông Minh quả quyết: “Muốn xóa mù chữ thì dù ăn cháo cũng cần phải làm!”
Lào Cai bắt đầu thực hiện chiến dịch vận động trẻ 5 tuổi đến trường với nhiều giải pháp. Ở vùng thuận lợi, việc này sẽ mở rộng đến các độ tuổi thấp hơn (4, 3 tuổi). Ở khu vực khó khăn, học sinh 5 tuổi không đến trường được cả năm, thì từ sau Tết các em sẽ đến trường và có khoảng 8 tháng làm quen với tiếng Việt trước khi bắt đầu chính thức vào lớp một. Việc đưa các giáo viên người Kinh đến các điểm trường khiến giáo viên vất vả hơn nhưng cường độ tiếp xúc tiếng Việt của học sinh tăng lên.
Với mục tiêu duy nhất là giúp học sinh lớp 1 đọc thông, viết thạo, không tái mù, Lào Cai đã trở thành địa phương đầu tiên của cả nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi và là tỉnh đầu tiên thực hiện mô hình bán trú cho học sinh tiểu học.
Kinh tế eo hẹp nên tỉnh chỉ duyệt 10.000 đồng/tháng ăn bán trú. “Để hút học sinh đến trường, khoản tiền này sẽ được nhà trường giữ lại để đong gạo, không phát cho học sinh. Vào mùa giáp hạt từ tháng 2 đến tháng 4 hằng năm là thời điểm mà người dân đói ăn nhất, chúng tôi mới đem gạo nấu cơm cho các em. Học sinh ở nhà thì đói trong khi đi học lại được ăn no nên các em thích đến trường hơn. Tỷ lệ chuyên cần vì thế được đảm bảo hơn,” ông Trương Kim Minh kể.
Với mục tiêu duy nhất là giúp học sinh lớp 1 đọc thông, viết thạo, không tái mù, Lào Cai đã trở thành địa phương đầu tiên của cả nước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi và là tỉnh đầu tiên thực hiện mô hình bán trú cho học sinh tiểu học.
Nhưng, những nỗ lực ấy của tỉnh nghèo vẫn chưa giải quyết được tận cốt lõi của vấn đề, giúp Lào Cai xóa hẳn nạn tái mù chữ…
Trong khi vẫn đang loay hoay với bài toán của lãnh đạo tỉnh, năm 2006, ông Trương Kim Minh bất ngờ biết đến thông tin về đề tài cấp Bộ: “Nâng cao chất lượng dạy tiếng Việt cho học sinh các dân tộc thiểu số” của giáo sư Hồ Ngọc Đại.
Ông Trương Kim Minh.
Đúng vấn đề đau đáu, ông cẩn trọng nghiên cứu kỹ đề tài, đến tận Trung tâm Công nghệ Giáo dục ở Hà Nội của giáo sư Hồ Ngọc Đại để tìm hiểu chi tiết hơn.
“Tôi đã vô cùng sung sướng nhận ra đây là chìa khóa then chốt giải quyết bài toán giáo dục của Lào Cai. Về tỉnh, tôi lập tức báo cáo lãnh đạo địa phương đây chính là giài pháp để phổ cập tiếng Việt vững chắc, việc tái mù chữ sẽ sớm chấm dứt. Tỉnh cứ cho chủ trương, tôi chịu trách nhiệm về mặt nghiệp vụ sư phạm,” ông Trương Kim Minh xúc động kể.
“Tôi đã vô cùng sung sướng nhận ra đây là chìa khóa then chốt giải quyết bài toán giáo dục của Lào Cai.
Nói rất cứng, nhưng ông Minh bảo, thực ra trong lòng ông cũng rất lo vì rất nhiều thách thức được đặt ra khi trên cả nước lúc đó không có tỉnh nào dạy công nghệ giáo dục. Luật Giáo dục quy định toàn quốc thống nhất một sách giáo khoa. Bên cạnh đó còn rất nhiều những ý kiến trái chiều về sách công nghệ giáo dục.
Để thuyết phục lãnh đạo tỉnh, ông Minh đã mời giáo sư Hồ Ngọc Đại lên tận Lào Cai, gặp Phó chủ tịch tỉnh Sùng Chúng.
“Tôi nói cho anh Sùng Chúng hiểu về công nghệ giáo dục. Tôi hứa sẽ dạy cho con em Lào Cai đọc thông viết thạo chỉ sau một năm, nhưng tôi cũng lo ngại việc Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục quy định cả nước chỉ một bộ sách giáo khoa. Nhưng anh Sùng Chúng vẫn quyết làm. Khi đó, tôi đã rất xúc động,” giáo sư Hồ Ngọc Đại nhớ lại.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại.
Chia sẻ về quyết định đó của mình, nguyên Phó Chủ tịch, Phó Bí thư tỉnh ủy Lào Cai Sùng Chúng bảo, đó là một sự quyết liệt và mạnh dạn. “Khi đó ở Lào Cai, tỷ lệ mù chữ rất cao. Học sinh học xong lại quên rất nhanh nên tôi chỉ có một suy nghĩ là làm thế nào để học sinh không tái mù chữ. Dù chưa có địa phương nào triển khai và có lo ngại về quy định một bộ sách thống nhất, nhưng vẫn phải mạnh dạn đột phá vì con cháu mình. Tôi sẵn sàng chịu kỷ luật nếu có vấn đề gì,” ông Chúng chia sẻ.
Cũng theo ông Sùng Chúng, dù đột phá nhưng Lào Cai vẫn làm rất cẩn trọng theo lộ trình, thí điểm mất ba năm. Kết quả thí điểm cho thấy học sinh học công nghệ giáo dục xong không bị tái mù chữ như học sách hiện hành. Lào Cai đã báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo trước khi nhân rộng ra toàn tỉnh.
Bắt đầu từ năm 2006, tỉnh ủy Lào Cai đồng ý cho ngành giáo dục tỉnh thí điểm sử dụng sách công nghệ giáo dục với điều kiện phải đảm bảo tăng được tỷ lệ phổ cập tiếng Việt, tăng tỷ lệ phổ cập đúng độ tuổi và không được tái mù chữ.
Trong năm học 2006-2007, Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục được triển khai ở 8 trường, 16 lớp với gần 500 học sinh. Giáo viên được tập huấn bởi các chuyên gia của Trung tâm Công nghệ giáo dục. Mỗi năm, Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai đều đo nghiệm, đánh giá kết quả. Kết quả khảo sát năm học 2006-2007 cho thấy tỷ lệ học sinh khá, giỏi về môn tiếng Việt đều tăng mạnh so với năm học trước, tỷ lệ học sinh yếu giảm hẳn. Do vậy, các địa phương trong tỉnh đều đăng ký được dạy thí điểm công nghệ giáo dục.
“Tuy nhiên, Lào Cai vẫn quyết định phải thí điểm ở quy mô hẹp đến năm 2009 để khẳng định chất lượng giáo dục thực sự, học sinh đọc thông viết thạo, không ngọng, không tái mù chữ,” ông Minh phân tích.
Từ kết quả thực nghiệm, năm 2010, Lào Cai đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến của các giáo viên, phòng giáo dục trên toàn tỉnh về nhân rộng công nghệ giáo dục và nhận được sự đồng thuận rất lớn. Năm học 2010-2011, toàn tỉnh có 239 trường tiểu học thì có đến 235 trường tự nguyện đăng ký dạy công nghệ giáo dục.
“Tôi thấy rất vui và hạnh phúc khi sách công nghệ giáo dục đã giúp Lào Cai giải quyết bài toán phổ cập tiếng Việt cho học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số. Với việc giúp các em, đọc thông, viết thạo, không tái mù chữ, sách công nghệ giáo dục đã là chiếc chìa khóa giúp các em mở cánh cửa đầu tiên, có được công cụ quan trọng nhất cho việc học của mình sau này, đó là làm chủ tiếng Việt. Với giáo dục miền núi, đó là điều có ý nghĩa vô cùng to lớn, là thắng lợi tiên quyết cho mọi thắng lợi của giáo dục về sau,” ông Minh xúc động chia sẻ.
Với việc giúp các em, đọc thông, viết thạo, không tái mù chữ, sách công nghệ giáo dục đã là chiếc chìa khóa giúp các em mở cánh cửa đầu tiên, có được công cụ quan trọng nhất cho việc học của mình sau này, đó là làm chủ tiếng Việt. Với giáo dục miền núi, đó là điều có ý nghĩa vô cùng to lớn, là thắng lợi tiên quyết cho mọi thắng lợi của giáo dục về sau
Trước những kết quả tích cực của Lào Cai, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp đến các điểm trường để kiểm tra và kết luận thí điểm này đã cho kết quả tốt. Từ năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định đưa tài liệu công nghệ giáo dục triển khai thí điểm ở 7 tỉnh vùng khó. Từ năm 2013, Bộ bỏ chữ “thí điểm,” mở rộng công nghệ giáo dục đến các trường tiểu học trong cả nước trên tinh thần tự nguyện lựa chọn. Sau mỗi năm, các địa phương báo cáo kết quả về Bộ và tiếp tục đăng ký triển khai nếu có nhu cầu. Năm 2016, chỉ sau 3 năm, đã có 48 tỉnh thành trên cả nước dạy theo sách công nghệ giáo dục. Năm 2017, Bộ chủ trương dừng mở rộng số địa phương tham gia để chờ chương trình mới. Tuy nhiên, số trường, lớp, học sinh học theo công nghệ vẫn không ngừng tăng qua mỗi năm. Hiện cả trên 900.000 học sinh lớp 1 học theo chương trình này, chiếm trên 50% tổng số học sinh lớp 1 của cả nước.
Công nghệ hóa
để việc dạy và học tích cực không còn là thần bí
Trong hành trình suốt 40 năm của mình, sách Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục chưa khi nào thôi gây tranh cãi. “Người ta tranh cãi vì họ chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân để đọc sách mà không chịu tìm hiểu một cách thực sự,” cô Nguyễn Thị Hồng Minh, giáo viên Trường Tiểu học Công nghệ giáo dục Hà Nội chia sẻ.
Trước khi về Hà Nội, cô Minh từng có nhiều năm dạy lớp 1 tại Trường Tiểu học số 1 Minh Tân, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Cũng theo cô Hồng Minh, công nghệ giáo dục không chỉ đơn thuần là quyển sách giáo khoa mỏng dính mà cốt lõi là phương pháp dạy đặc biệt khoa học cả về nội dung kiến thức đến cách thức tổ chức dạy học.
Trò học 1, biết 10
Theo cô Hồng Minh, dạy Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục không phải là dạy học sinh từng chữ mà dạy về bản chất cấu trúc của tiếng để học sinh hiểu, từ đó các em có khả năng tự hình thành các tiếng, chữ cụ thể, gần gũi với bản thân mình.
Cụ thể, học sinh được học trước tiên về khái niệm tiếng, hiểu lời nói được ghép lại từ chuỗi nhiều tiếng. Học sinh có thể hiểu việc tách tiếng bằng cách vỗ tay, mỗi nhịp vỗ là một tiếng, hoặc mô hình hóa mỗi tiếng bằng một hình vuông, tròn, hay tam giác để học sinh thấy thú vị, dễ hình dung hơn. Có các tiếng giống nhau và khác nhau.
dạy Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục không phải là dạy học sinh từng chữ mà dạy về bản chất cấu trúc của tiếng để học sinh hiểu, từ đó các em có khả năng tự hình thành các tiếng, chữ cụ thể, gần gũi với bản thân mình.
Tiếp đó, học sinh được dạy về âm. Dựa vào cách phát âm, học sinh phân biệt được nguyên âm và phụ âm. Nguyên âm là những âm phát ra luồng hơi đi ra tự do. Phụ âm là những âm phát ra luồng hơi bị cản bởi răng, hoặc môi, hoặc lưỡi.
Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng ký hiệu để ghi lại (chữ). Chữ là vật thay thế cho âm khi viết. Trong thực tế, một âm có thể viết bằng nhiều chữ và chữ có thể có nhiều nghĩa, nên khi viết phải đúng luật chính tả. Do đó, các luật chính tả được đưa vào ngay từ lớp 1.
Một tiếng được hình thành bởi nguyên âm và phụ âm, trong đó phụ âm đứng trước, nguyên âm đứng sau ở phần vần, thêm các thanh sẽ thành các tiếng khác nhau. Ví dụ phụ âm b và nguyên âm a ghép với nhau thành tiếng “ba,” thêm các thanh khác nhau thành các tiếng khác nhau: bà, bá, bả, bạ.
“Tôi cũng rất mong được tiếp cận sách mới, chương trình mới để so sánh xem tính khoa học đến đâu, hay chỉ là phần hình thức trình bày như việc tranh có bạn trai và bạn gái để cân bằng giới tính,”
“Khi hiểu được cấu trúc này, các em hoàn toàn có thể tự ghép các phụ âm và nguyên âm khác nhau, thêm các thanh khác nhau để tự đọc được rất nhiều từ. Các em cũng sẽ không viết sai chính tả vì hiểu phụ âm đứng trước, nguyên âm đứng sau, dấu thanh được viết trên nguyên âm chính. Số lượng từ trong sách là rất ít nhưng số từ các em tự xây dựng được trên lớp học lớn hơn rất nhiều,” cô Minh chia sẻ.
Học sinh cũng sẽ được dạy về vần trong tiếng Việt với 4 kiểu vần: vần chỉ có âm chính như trong từ “la”; vần có âm đệm và âm chính như từ “loa”; vần có âm chính và âm cuối như từ “lan”; vần có âm đệm, âm chính và âm cuối như từ “loan”.
Các nguyên âm đôi iê, uô, ươ; âm đôi không có âm cuối (lia, mua, mưa), âm đôi có âm cuối (liên, muôn, mướt). Từ các mẫu vần, học sinh tự tìm ra các vần trong tiếng Việt.
Trong phần vần sẽ có các âm chính và âm đệm, học sinh được dạy phân biệt âm đệm là âm không tạo nên tiếng, âm chính là âm tạo nên tiếng.
Dấu thanh được đánh trên âm chính.
“Ví dụ hầu hết mọi người viết chữ ‘thủy’ khi đánh dấu hỏi trên âm ‘u’, học sinh lớp 1 công nghệ sẽ biết viết chính xác dấu hỏi phải đặt trên âm ‘y’. Học sinh lớp 1 học đến giữa học kỳ hai là hoàn thành xong toàn bộ kiến thức ngữ âm. Các em tự biết ghép chữ, biết đọc và biết nghe đọc viết ngay từ đầu. Do nắm chắc về khoa học nên học sinh học đến đâu chắc đến đó, không tái mù chữ,” cô Hồng Minh phân tích.
“Tôi cũng rất mong được tiếp cận sách mới, chương trình mới để so sánh xem tính khoa học đến đâu, hay chỉ là phần hình thức trình bày như việc tranh có bạn trai và bạn gái để cân bằng giới tính,” cô Minh chia sẻ.
Giáo viên không cần soạn giáo án
Chương trình Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục có rất nhiều các kiến thức khoa học cơ bản về ngữ âm là những kiến thức hoàn toàn mới với các giáo viên, vì không hề có trong tất cả các chương trình đào tạo trước đây, như việc phân biệt nguyên âm, phụ âm, cấu trúc của tiếng, phân biệt âm đệm và âm chính trong vần… Tuy nhiên, tất cả những kiến thức này đã được giáo sư Hồ Ngọc Đại trình bày trong sách Thiết kế Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục, sách thiết kế bài giảng dành cho giáo viên.
Là một giáo viên đang dạy lớp 4, 5 được chuyển xuống dạy lớp 1 công nghệ giáo dục, cô Hồng Minh đã phải dành hai tuần để đọc kỹ sách Thiết kế bài giảng này.
“Giáo sư Hồ Ngọc Đại đã soạn sách thiết kế bài giảng cho giáo viên vô cùng chi tiết. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục có 3 tập, mỗi tập rất mỏng, mỗi trang rất ít chữ, thì tương ứng với đó là ba cuốn sách thiết kế bài giảng cho giáo viên, mỗi cuốn đều dày gấp 3 lần sách giáo khoa, mỗi trang đều kín chữ. Trong đó, việc giảng dạy được chi tiết hóa thành quy trình 4 bước cụ thể cho mỗi bài: gồm phát âm; phân tích tiếng, mô hình hóa các tiếng; tìm tiếng mới; viết tiếng đó. Giáo viên chỉ cần nghiên cứu kỹ thiết kế bài giảng, thực hiện theo các bước và không cần mất thời gian để soạn giáo án,” cô Hồng Minh nói.
Giáo viên chỉ cần nghiên cứu kỹ thiết kế bài giảng, thực hiện theo các bước và không cần mất thời gian để soạn giáo án
Nói về việc thiết kế cụ thể, chặt chẽ các bước dạy cho giáo viên, giáo sư Hồ Ngọc Đại cho rằng việc dạy học phải được công nghệ hóa bởi các nhà khoa học giáo dục. Điều này sẽ hạn chế tối đa sự lệ thuộc vào trình độ, năng lực của giáo viên, nhằm đạt hiệu quả giáo dục tốt nhất cho học sinh.
Cũng theo giáo sư Hồ Ngọc Đại, việc soạn giáo án vừa khiến việc dạy học thiếu thống nhất trong phương pháp, vừa làm mất thời gian của giáo viên. “Giáo viên đã dạy học cả ngày ở trên lớp, tối về lại phải soạn giáo án thì thời gian đâu dành cho gia đình, con cái, cho bản thân? Khi đó, giáo viên sẽ không thể có hạnh phúc. Giáo viên không hạnh phúc thì học sinh cũng sẽ không hạnh phúc,” giáo sư Hồ Ngọc Đại nói.
Theo cô Nguyễn Thị Hồng Minh, khi đã nắm chắc được quy trình, giáo viên có thể linh hoạt, tùy theo trình độ đối tượng học sinh của mình để tăng hoặc giảm độ mở về kiến thức cho các em.
Phương pháp, tư duy giáo dục mới
Trong cuốn Trong cuốn sách “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản?”, tác giả, thạc sỹ Nguyễn Quốc Vương đã chia sẻ góc nhìn về giáo dục Việt Nam của nhà giáo dục học người Nhật Tanaka Yoshitaka, người đã có ba năm (2004-2007) làm việc ở Việt Nam trong vai trò cố vấn giáo dục về mối quan hệ thầy trò ở Việt Nam.
Theo đó, Tanaka Yoshitaka đã vô cùng kinh ngạc khi không khí lớp học ở Việt Nam rất trang nghiêm, học sinh ngoan ngoãn ngồi im lắng nghe giáo viên giảng bài dù bài giảng rất nhàm chán. Mỗi khi giáo viên đặt câu hỏi, học sinh giơ tay trả lời một cách nghiêm túc với cánh tay vuông góc trên mặt bàn. Điều này hoàn toàn trái ngược với không khí lớp học sôi động ở Nhật Bản, trái với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh. Và ông phát hiện ra đó là do lối giáo dục quyền lực, nơi mà học sinh rất sợ giáo viên.
Tanaka Yoshitaka khẳng định một nền giáo dục quyền lực sẽ tạo nên những giờ học căng thẳng, vô hồn, khiến học sinh mất đi niềm say mê học tập và không bao giờ sinh ra những thế hệ học sinh có tư duy độc lập, lòng dũng.
“Nhưng với công nghệ giáo dục, một không khí lớp học, phương pháp và tư duy giáo dục hoàn toàn mới,” cô Hồng Minh chia sẻ.
với công nghệ giáo dục, một không khí lớp học, phương pháp và tư duy giáo dục hoàn toàn mới
Ở đó, học sinh không phải chỉ ngồi im khoanh tay thụ động trên mặt bàn mà đọc to cùng giáo viên để học về phát âm, vỗ tay hoặc vẫy tay… theo nhịp đọc để phân tích tiếng. Theo giáo sư Hồ Ngọc Đại, với học sinh lớp 1, đi học phải vui vẻ, sôi động, học như chơi. Sự vận động đó tác động lên não, giúp học sinh có tinh thần thoải mái và tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên.
Học sinh không chỉ nghe giáo viên truyền thụ kiến thức một chiều mà háo hức say mê suy nghĩ để tìm ra tiếng mới, tri thức mới từ sự hướng dẫn của giáo viên và hào hứng khoe từ mình tìm được. Khi học một phụ âm mới, học sinh có thể tự thay các nguyên âm khác nhau và dấu thanh để được tiếng mới. Quan hệ giữa giáo viên và học sinh không phải là sự áp đặt từ trên xuống mà là mối quan hệ tương hỗ, cùng phối hợp để làm việc. Cô hướng dẫn, trò thi công để tự tìm ra tri thức. Học sinh tự tìm ra từ mới cho mình nên các em rất hào hứng và nhớ lâu hơn. Học sinh tự tin, năng động, khả năng tư duy và phản biện tốt hơn.
Trong báo cáo gửi Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tháng 9/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định: “Công nghệ giáo dục đã chắt lọc những vấn đề cơ bản nhất nhằm mang đến cho trẻ em không chỉ những kiến thức và kỹ năng cần thiết mà còn giúp trẻ lần đầu tiên đến trường được làm việc một cách khoa học, phát triển khả năng tối ưu của mỗi cá thể, phát triển năng lực làm việc trí óc, năng lực sử dụng tiếng Việt hiện đại một cách có văn hóa thông qua các hoạt động kích thích khả năng tư duy và khái quát hóa.”
“Về phương pháp dạy học, một phương pháp đặc trưng xuyên suốt quá trình dạy học theo quy trình công nghệ là phương pháp Việc Làm. Đây là phương pháp dạy học hoàn toàn mới, xây dựng trên cơ sở sự hợp tác mới giữa thầy và trò. Trong đó, thầy tổ chức việc học của học sinh (thầy không giảng, chỉ giao việc, hướng dẫn, theo dõi, điều chỉnh) thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy. Điều này thể hiện rất rõ qua toàn bộ thiết kế Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục.”
“Kỹ thuật dạy học đã được chuyển giao thành công nghệ mới. Công nghệ mới chính là quá trình có thể kiểm soát được. Quá trình này cho ra những sản phẩm đồng loạt, bảo đảm độ tin cậy một cách chắc chắn, có thể thực hiện được ở mọi nơi khác nhau bởi tính phân hoá ưu việt của chương trình và cách kiểm soát triệt để tới từng cá thể học sinh.”
Báo cáo của Vụ Giáo dục Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, gửi Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tháng 9/2018 viết:
Đối với học sinh, về kiến thức, học sinh tiếp thu kiến thức một cách vững chắc, nắm vững cấu tạo ngữ âm tiếng Việt, nắm chắc luật chính tả, đọc thông, viết thạo, phát âm chuẩn, qua thời gian nghỉ hè không quên chữ. Đặc biệt các em được rèn nền nếp học tập ngay từ những ngày đầu vào lớp 1.
Về kỹ năng, học sinh thành thạo các thao tác; hiểu và thực hiện tương đối tốt các lệnh trong quá trình học; được tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, có kĩ năng đọc và nghe – viết chính tả tốt.
Về thái độ, học sinh tích cực tham gia vào hoạt động học tạo ra sản phẩm cho chính mình, được chiếm lĩnh kiến thức thông qua Hệ thống Việc làm, các em tự làm ra sản phẩm giáo dục nên rất hứng thú trong học tập, yêu thích môn học.
Về năng lực, phẩm chất, học sinh chủ động, tự tin tham gia các hoạt động học tập, được phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của bản thân một cách nhẹ nhàng.
Đối với giáo viên,tiến trình giờ dạy diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả. Giáo viên thực hiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập của từng học sinh sau mỗi bài, sau mỗi giai đoạn, từ đó chủ động điều chỉnh được kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Công nghệ giáo dục giúp giáo viên nâng cao trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm, tiếp cận và đổi mới phương pháp dạy học một cách tích cực.
“Một chương trình, phương pháp giáo dục tích cực đã được khẳng định trên thực tế nhưng lại bị loại bỏ chỉ dựa trên bản thảo sách giáo khoa mỏng dính. Tôi thực sự vô cùng tiếc nuối,” cô Hồng Minh nói.
‘Loại sách công nghệ giáo dục
người chịu thiệt là học sinh’
“Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục là cuốn sách Tiếng Việt lớp 1 tốt nhất tôi từng biết tính đến thời điểm này. Bỏ công nghệ giáo dục, tôi thấy thật đáng tiếc, thấy thiệt thòi cho học sinh lớp 1, nhất là học sinh lớp 1 miền núi của tôi,” nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai Trương Kim Minh xúc động chia sẻ.
Dù đã về hưu, đã trở lại Thủ đô sau suốt mấy chục năm cống hiến cho giáo dục Lào Cai, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai Trương Kim Minh vẫn rất trăn trở, nặng lòng với sự nghiệp trồng người.
– Thưa ông, sách công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại đã bị Hội đồng thẩm định sách giáo khoa đánh giá không đạt. Theo đó, bộ sách sẽ chính thức dừng triển khai trong các nhà trường từ năm học tới tuy nhiên, vẫn có nhiều ý kiến cho rằng cần xem lại vấn đề này vì những hiệu quả thực tế bộ sách mang lại. Là người có nhiều năm triển khai công nghệ giáo dục ở Lào Cai, ông nghĩ sao về điều này?
Ông Trương Kim Minh: Tôi đánh giá sách Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục là tốt đối với học sinh Lào Cai, nhất là học sinh người dân tộc thiểu số, giúp các em sử dụng được tiếng Việt.
Nhờ có sách Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục, sau một thời gian kiên trì triển khai ở Lào Cai từ 2006 đến nay, chúng tôi phổ cập giáo dục tiểu học một cách vững chắc, giải quyết được vấn đề mang tính chất nan giải của một giai đoạn là tái mù chữ, giúp học sinh người dân tộc thiểu số sử dụng tiếng Việt ngày càng thành thạo hơn.
Sách giáo khoa chỉ là một phần, cốt lõi của công nghệ giáo dục là phương pháp. Trong sách Thiết kế Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục, các bước để học sinh và thầy hoạt động rất rõ ràng mạch lạc và học sinh nào cũng có thể đạt được, giáo viên dễ dàng thao tác, ngay cả những giáo viên miền núi trình độ chuyên môn khá thấp. Giáo viên không giảng giải mà chỉ hướng dẫn để học sinh tự làm việc, tự đưa ra sản phẩm tri thức mới. Lớp học không nặng nề mà sôi động, vui vẻ.
Sách giáo khoa chỉ là một phần, cốt lõi của công nghệ giáo dục là phương pháp.
Nguyên lý học đi đôi với hành, học sinh làm trung tâm… tất cả những điều chúng ta thường nói đó được hiện thực hóa một cách tự nhiên, sinh động và trở thành một cách thức có hiệu quả.
Không chỉ thiết kế dạy học chi tiết cho giáo viên, giáo sư Hồ Ngọc Đại còn viết cuốn “Kính gửi các bậc phụ huynh” để giúp phụ huynh phối hợp cùng nhà trường tốt hơn trong việc học của học sinh. Tôi chưa thấy một nhà giáo dục nào quan tâm đến vấn đề này một cách cụ thể như vậy.
Tôi thấy thật đáng tiếc vì một quyển sách tốt, học sinh học có hiệu quả lại không được sử dụng nữa.
– Nhưng hội đồng thẩm định sách giáo khoa cho rằng chính sự công thức hóa bài giảng đó đã giảm sự sáng tạo của giáo viên, thưa ông?
Ông Trương Kim Minh: Việc công nghệ hóa một hoạt động, đặc biệt là hoạt động dạy học là việc xưa nay chưa ai làm. Chúng ta quen với việc soạn giáo án của giáo viên chính là thiết kế bài giảng, nhưng mỗi người với mỗi trình độ, năng lực khác nhau soạn giáo án khác nhau, hiệu quả giáo dục vì thế khác nhau.
Với công nghệ giáo dục, thiết kế bài giảng được thực hiện chuyên nghiệp bởi các nhà khoa học giáo dục có trình độ cao. Giáo viên có vai trò là người hướng dẫn, học sinh thực thi. Cứ thông qua một loạt các bước sẽ ra được kết quả. Chúng ta sẽ thấy quá trình dạy và học, các hoạt động dạy và học sẽ tường minh hơn.
Việc công nghệ hóa một hoạt động, đặc biệt là hoạt động dạy học là việc xưa nay chưa ai làm.
Việc kiểm soát, đánh giá, đo lường kết quả giáo dục sẽ dễ dàng hơn với giáo viên và các nhà quản lý giáo dục.
Việc triển khai các bước cũng không khó, giáo viên chỉ cần nghiên cứu kỹ sách Thiết kế và Tài liệu tập huấn giáo viên, vốn đã được giáo sư Hồ Ngọc Đại viết rất chi tiết. Khi đã nhuần nhuyễn, việc dạy học của giáo viên rất nhàn.
Sự sáng tạo của giáo viên là tùy vào từng hoàn cảnh, từng đối tượng học sinh biết cách để thu hút các em vào bài học, giải quyết các tình huống sư phạm cụ thể.
– Từ thực tế ở Lào Cai, ông có thể cho biết phương pháp giáo dục được thiết kế bởi các nhà khoa học giáo dục đó đã mang lại điều gì cho giáo viên và học sinh?
Ông Trương Kim Minh: Chúng ta đang yêu cầu tư duy mới, nhất là tư duy phản biện, các kỹ năng. Học sinh học Tiếng Việt công nghệ giáo dục không chỉ viết chính tả đảm bảo, phát âm đúng mà còn biết tự học, tương tác với bạn, với thầy cô, biết sắp xếp các công việc. Các kỹ năng đó hình thành thông qua các hoạt động học trong từng hoạt động, từng buổi học, từng ngày. Đó là ưu điểm mà cách dạy và học trước đó không có được, nói một cách chính xác là không được nhanh như vậy.
Trong quá trình chỉ đạo triển khai công nghệ giáo dục ở tỉnh Lào Cai, tôi rất phấn khởi vì kết quả này.
Với giáo viên, có sự thay đổi rất lớn và căn bản đối với cách dạy. Giáo viên chấm dứt được sự giảng giải và trở thành người tổ chức hoạt động học đúng nghĩa, thành người hỗ trợ học sinh kịp thời bất kỳ lúc nào. Giáo viên không còn chỉ loanh quanh ở khu vực bảng đen, bục giảng, không còn sự mệt mỏi vì soạn giáo án, vì phải nói quá nhiều như trước. Đó là những thay đổi căn bản về mặt lao động sư phạm.
Với giáo viên, có sự thay đổi rất lớn và căn bản đối với cách dạy. Giáo viên chấm dứt được sự giảng giải và trở thành người tổ chức hoạt động học đúng nghĩa, thành người hỗ trợ học sinh kịp thời bất kỳ lúc nào.
Tất nhiên, bất cứ sự thay đổi nào cũng sẽ khó khăn khi “ngày đầu chưa quen” thì “đường cày chưa thẳng,” nhưng nếu không thay đổi thì mãi mãi lạc hậu, không thể phát triển. Khi đã quen với sự thay đổi, giáo viên sẽ hình thành tư duy tích cực, dễ dàng tiếp cận những phương pháp giáo dục mới, tiên tiến.
Số địa phương triển khai sách giáo khoa công nghệ qua các năm.
– Như vậy, theo ông, liệu chỉ dựa vào bản thảo sách giáo khoa thì đã nhìn nhận hết được giá trị của công nghệ giáo dục hay chưa?
Ông Trương Kim Minh: Thẩm định sách giáo khoa, sản phẩm để dạy học, cũng như thẩm định các tài liệu khác, nếu có kết quả của việc thực hiện các tài liệu đó trên thực tế là toàn diện hơn vì bất cứ một quyển sách nào cuối cùng đều mang ra để dạy, đi vào thực tế đời sống học đường. Cuốn sách tốt là sách được sử dụng và sử dụng có hiệu quả.
Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục được triển khai tại Lào Cai đã 13 năm và còn 47 tỉnh khác đang áp dụng tài liệu này. Tôi cho rằng nếu có khảo sát, đánh giá thực tế triển khai sử dụng sách Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục ở các địa phương này thì sẽ thêm một kênh để nhìn một cuốn sách toàn diện hơn, đánh giá nhận xét đúng hơn. Khi đó, nó không chỉ thuần túy là một tài liệu, công trình trên giấy.
– Theo Hội đồng thẩm định, nếu nói việc sách công nghệ đang sử dụng hiệu quả trong các nhà trường thì cũng giống như sách hiện hành đang được sử dụng, thưa ông?
Ông Trương Kim Minh: Chúng tôi đã sử dụng sách tiếng Việt hiện hành và từ 2006 đến nay sử dụng tài liệu Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục. Tôi khẳng định việc học Tiếng Việt lớp 1 công nghệ giáo dục ở Lào Cai hiệu quả hơn, thể hiện ở khả năng tiếng Việt của các em tốt hơn.
Không có so sánh nào bằng so sánh học sinh dân tộc thiểu số vùng cao học tiếng Việt trước đây bằng sách thông thường so với các em sử dụng công nghệ giáo dục sau này. Các em nói, đọc, viết, nghe đều tốt hơn, thời gian nhanh hơn. Trước đây học sinh học đến lớp 3 còn trầy trật, nhưng học công nghệ, các em học hết lớp 1 là yên tâm, học hết lớp 3 không còn nói giọng lơ lớ, viết đúng chính tả. Là người trăn trở với giáo dục vùng cao, tôi mừng vô cùng.
Chính vì hiệu quả nên hiện 100% trường tiểu học của Lào Cai và nhiều địa phương đã tự nguyện xin chuyển hẳn sang sử dụng tài liệu công nghệ giáo dục.
Tôi cho rằng, bản thân sách công nghệ so với sách hiện hành đã là một sự tiến bộ về học thuật, phương pháp, tư duy giáo dục.
– Sự tiến bộ đó có sự tương đồng nào với chương trình giáo dục phổ thông mới không, thưa ông?
Ông Trương Kim Minh: Phải nói tài liệu công nghệ giáo dục đã hoàn toàn tiếp cận được và thể hiện sinh động tư tưởng của đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới về phương thức, cách thức giáo dục như coi người học là trung tâm, nguyên lý học thông qua hành, hoạt động học là hoạt động quyết định quan trọng thiết yếu của quá trình giáo dục.
Tài liệu công nghệ giáo dục đã hoàn toàn tiếp cận được và thể hiện sinh động tư tưởng của đổi mới giáo dục
Trong thực tiễn tài liệu công nghệ giáo dục, học sinh học tập tích cực, phát triển được tư duy, đặc biệt là tư duy phản biện, rèn được tinh thần tự học, năng động, linh hoạt, tự chủ… Đó cũng là những phẩm chất, năng lực mà chương trình đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hướng tới.
Xét cho cùng, xưa nay, mọi đổi mới đều là thay đổi về phương thức tác động vào đối tượng sản xuất. Đổi mới giáo dục phải thay đổi mô hình trường học, trong đó có thay đổi toàn bộ và đồng bộ các yếu tố tác động trong quá trình dạy và học./.