Gìn giữ, phát huy

Tranh dân gian Đông Hồ là một di sản văn hóa quý giá của dân tộc. Giữ gìn, tôn vinh, phát triển nghề làm tranh dân gian Đông Hồ hiện nay là công việc vô cùng cần thiết và cấp bách.

Điều đó sẽ không chỉ có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn, lưu giữ một loại hình di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc, còn góp phần xây dựng một sản phẩm văn hóa trở thành thương hiệu, thành công cụ quảng bá, giới thiệu về văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Tiềm năng lớn để phát triển du lịch

Với lịch sử phát triển gần 500, làng tranh Đông Hồ có những đặc trưng văn hóa làng nghề rất độc đáo, khác biệt với các làng trong vùng châu thổ Bắc Bộ, tạo nên một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể phong phú.

Cùng với những đặc điểm lợi thế về vị trí địa lý, giao thông, cảnh quan thiên nhiên, Đông Hồ có tiềm năng lớn để phát triển du lịch, đặc biệt là xây dựng các sản phẩm du lịch gắn với các di sản văn hóa làng nghề thủ công truyền thống. Nếu phát huy tốt lợi thế này, hoạt động kinh doanh du lịch của làng Đông Hồ chắc chắn sẽ có bước phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Anh Nguyễn Minh Đức, một du khách đến từ Hà Nội chia sẻ: “Tôi nghe tiếng làng tranh Đông Hồ từ lâu nên đã tham gia một tour du lịch 1 ngày tham quan làng Đông Hồ, kết hợp với tham quan di tích chùa Dâu và chùa Bút Tháp. Khi đến đây, tôi thấy hướng dẫn viên chưa giới thiệu được đầy đủ về văn hóa làng nghề, nghề làm tranh cũng như ý nghĩa của các đề tài tranh dân gian nơi đây. Tôi chủ yếu đi ngắm các sản phẩm về tranh , cũng chưa có cơ hội trải nghiệm đầy đủ về văn hóa nghề làm tranh dân gian…”

Theo đánh giá của khách du lịch cũng như một số công ty du lịch, hiện nay, sự phát triển du lịch của làng Đông Hồ chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế của làng. Các tour du lịch tham quan Đông Hồ còn có nhiều điểm hạn chế như đội ngũ hướng dẫn viên chưa đủ trình độ am hiểu để có thể giới thiệu cho khách đầy đủ về văn hóa làng nghề.

‘Phú Quý’
‘Phú Quý’

Không gian tham quan hoạt động sản xuất tranh trong làng bị hạn chế. Các điểm tham quan du lịch bị giới hạn, bởi làng Đông Hồ cũng chỉ còn 3 hộ gia đình còn sản xuất tranh… Vì thế, du khách đến tham quan thu hoạch được rất ít thông tin về văn hóa làng nghề Đông Hồ.

Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch gắn với tham quan, tìm hiểu về di sản văn hóa của Đông Hồ và vùng phụ cận trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đang thiếu các sản phẩm du lịch trọn gói. Các sản phẩm du lịch phục vụ khách du lịch còn chưa đa dạng, hấp dẫn.

Bên cạnh nỗ lực giữ nghề của các nghệ nhân, đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề, những năm qua, tỉnh Bắc Ninh cũng đã chú trọng, có nhiều chính sách hỗ trợ bảo tồn nghề làm tranh dân gian Đông Hồ.

Khách du lịch đến Đông Hồ hiện nay chủ yếu là “cưỡi ngựa xem hoa,” ít có cơ hội trải nghiệm đầy đủ về văn hóa nghề làm tranh dân gian. Các không gian trưng bày, trình diễn nghề quy mô nhỏ, thiếu tính chuyên nghiệp chưa đủ điều kiện xây dựng thành bảo tàng nghề thủ công truyền thống Đông Hồ. Các di tích, cơ sở sản xuất hộ gia đình trong làng chưa có sự gắn kết với hoạt động du lịch làng nghề.

Thời gian gần đây, tỉnh Bắc Ninh đang thực hiện dự án nhằm khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đẩy mạnh các tour du lịch cộng đồng về Thuận Thành, tuyến chùa Dâu-chùa Bút Tháp- làng tranh Đông Hồ; đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh, thành phố lân cận để đa dạng hóa lịch trình điểm đến. Tỉnh cũng tăng cường hoạt động quảng bá tranh dân gian Đông Hồ tới trường học, thị trường quốc tế…

Tuy nhiên, theo ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, để nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch cũng như phát huy giá trị di sản nghề làm tranh ở Đông Hồ có hiệu quả hơn, chính quyền, cộng đồng người dân, các doanh nghiệp cần chú ý thực hiện một số giải pháp, như tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng tour đến tham quan, tìm hiểu làng tranh Đông Hồ; nghiên cứu, sáng tạo các sản phẩm mới phục vụ đối tượng khách du lịch dựa trên phương pháp tạo hình dân gian truyền thống; tăng cường đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực tại chỗ làm công tác thuyết minh du lịch di sản nghề thủ công truyền thống Đông Hồ.

Các đơn vị cũng cần quảng bá di sản dưới nhiều hình thức khác nhau; tìm đầu ra cho sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ tranh Đông Hồ ở cả trong nước và quốc tế… Đồng thời, giải pháp có ý nghĩa sống còn đối với việc duy trì nghề tranh Đông Hồ hiện nay là tìm được đầu ra ổn định với số lượng lớn cho các sản phẩm tranh.

Bảo tồn, phát huygiá trị tranh dân gian Đông Hồ

Bên cạnh nỗ lực giữ nghề của các nghệ nhân, đẩy mạnh phát triển du lịch làng nghề, những năm qua, tỉnh Bắc Ninh cũng đã chú trọng, có nhiều chính sách hỗ trợ bảo tồn nghề làm tranh dân gian Đông Hồ.

Ông Nguyễn Văn Ảnh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh cho biết, trước nguy cơ mai một dòng tranh truyền thống, những năm qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã có nhiều hoạt động nỗ lực bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa của tranh dân gian Đông Hồ.

Cụ thể, tháng 6/2014, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt Ðề án “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tranh dân gian Ðông Hồ, huyện Thuận Thành, giai đoạn 2014-2020 và định hướng đến 2030” với tổng kinh phí gần 60 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn khác.

‘Đàn gà mẹ con’
‘Đàn gà mẹ con’

Đề án được xây dựng với mục tiêu nhằm khẳng định giá trị nổi bật của tranh dân gian Đông Hồ; xác định hiện trạng, nguy cơ mai một của dòng tranh này.

Đề án đã xây dựng một số các dự án phục hồi, phát triển tranh dân gian Đông Hồ được thực hiện từ năm 2014-2016 với kinh phí 2.1 tỷ đồng; dự án xây dựng, Trung tâm bảo tồn và phát huy giá trị tranh dân gian Đông Hồ được thực hiện từ năm 2014-2020, kinh phí thực hiện là 50 tỷ đồng; dự án xây dựng hồ sơ ứng cử Quốc gia tranh dân gian Đông Hồ trình UNESCO đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp thực hiện từ năm 2014-2016 với kinh phí 7,8 tỷ đồng.

Theo ông Nguyễn Văn Ảnh, cùng với nỗ lực của tỉnh, các đại sứ quán của Việt Nam ở nước ngoài cũng góp sức quảng bá di sản tranh dân gian Đông Hồ ra thế giới thông qua các cơ chế ngoại giao như dùng tranh dân gian Đông Hồ làm quà tặng.

Các nghệ nhân tại làng nghề cũng tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm, hỗ trợ đào tạo nghề, tạo cơ hội cho học sinh đến trải nghiệm học làm tranh… Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị di sản tranh dân gian Đông Hồ, dự báo những tác động tiêu cực, từ đó có những biện pháp, hành động kịp thời, hiệu quả ngăn chặn tác động tiêu cực gây ảnh hưởng làm mai một dòng tranh này.

Thời gian gần đây, nhiều dự án tâm huyết đưa tranh hoặc hình ảnh trong tranh Đông Hồ vào đời sống hiện đại bằng cách vẽ lại tranh, thiết kế cho phù hợp rồi in trên những sản phẩm như quà lưu niệm, áo dài, áo yếm, lịch để bàn, túi vải… Do vậy, tranh Đông Hồ cũng đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của người trẻ nhiều hơn.

Theo ông Nguyễn Văn Ảnh, những hướng đi bước đầu này đã “thổi” vào dòng tranh dân gian một luồng sống mới. Bên cạnh việc đương đại hóa, tranh Đông Hồ cũng được “hồi sinh” trong các thiết kế thời trang, thiết kế nội thất dưới bàn tay của người trẻ.

Tháng 3/2017, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt đề cương chi tiết xây dựng hồ sơ ứng cử quốc gia đề nghị UNESCO đưa nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách Di sản văn hóa vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Thời gian xây dựng hồ sơ kéo dài 3 năm, chia thành 2 giai đoạn. Từ 2017 đến tháng 12/2018 là nghiên cứu khảo sát, kiểm kê, lấy phiếu đồng thuận, xây dựng hồ sơ và nộp hồ sơ cho UNESCO đúng hạn. Cuối tháng 6/2018, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản đồng ý với đề xuất của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh về việc xây dựng hồ sơ “Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ” để đề nghị UNESCO đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Phó giáo sư, tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam cho biết, hồ sơ về nghề tranh dân gian Đông Hồ sẽ đề nghị UNESCO đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là di sản thứ 3 của Việt Nam đề nghị UNESCO đưa vào danh mục này.

Dự kiến, trong tháng 12/2019, hồ sơ sẽ trình Hội đồng Di sản quốc gia thẩm định, xét duyệt trước khi hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ.

Nếu được UNESCO công nhận,tranh Đông Hồ sẽ tìm lại được vị trí vốn có của mình và ngày càng phát triển, làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam

Nếu được UNESCO công nhận, đây sẽ là một bước đi thiết thực nhất để cứu vãn và vực dậy nghề tranh. Điều đó sẽ xác lập cơ sở pháp lý để Chính phủ, các cấp chính quyền, các cơ quan hữu quan quan tâm đầu tư bảo vệ di sản. Nó cũng tạo động lực ý thức cho cộng đồng và toàn xã hội chung tay góp sức giữ gìn di sản.

Làng tranh dân gian Đông Hồ đang đứng trước những vận hội mới. Hy vọng trong tương lai gần, cùng với sự đầu tư, vào cuộc của các cơ quan chức năng, lòng nhiệt huyết, yêu nghề của các nghệ nhân, làng tranh Đông Hồ sẽ tìm lại được vị trí vốn có của mình và ngày càng phát triển, làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam./.

Frutas de Vietnam

Vietnam planifica una serie de soluciones para cumplir el objetivo de ingresar 3,6 mil millones de dólares por las exportaciones de frutas, con vistas a convertir ese sector en rama estratégica de la agricultura nacional. 

Las frutas de Vietnam están presentes en 60 mercados extranjeros, donde alcanzan un ritmo de crecimiento anual promedio de 15 por ciento. 

La Organización de las Naciones Unidas para la Alimentación y la Agricultura (FAO) pronosticó que el mercado de frutas y verduras mundial crecerá un 2,9 por ciento en el período 2016-2021. Por lo tanto, Vietnam tiene plena posibilidad para incrementar las exportaciones de esos productos. 

Impulsar el procesamiento

Según Nguyen Lam Vien, presidente de la Junta Administrativa de la empresa vietnamita Vinamit, la mayoría de los consumidores eligen los productos procesados para ocasiones como Navidad, Año Nuevo y eventos deportivos.  

Las frutas procesadas poseen sabor peculiar son más fáciles para conservar durante un largo tiempo y resultan convenientes para las festividad, explicó, y afirmó que la creciente demanda estimuló a las empresas vietnamitas a invertir en la aplicación de tecnologías modernas de procesamiento.  

Datos del Ministerio de Agricultura y Desarrollo Rural señalan que la pitahaya representa más la mitad del valor de las exportaciones de frutas de Vietnam.  

La pitahaya de Vietnam está presente en supermercados de Australia. (Fuente: VietnamPlus)
La pitahaya de Vietnam está presente en supermercados de Australia. (Fuente: VietnamPlus)

Con una superficie de cultivo de 49 hectáreas, la mayor cifra del mundo, la también llamada “fruta del dragón” de Vietnam se exporta a 40 países, de los cuales China ocupa el 80 por ciento del total.

La pitahaya de Vietnam está presente en Australia. (Fuente: VietnamPlus)
La pitahaya de Vietnam está presente en Australia. (Fuente: VietnamPlus)

La situación obliga a Vietnam a diversificar los productos de esa fruta para que los clientes nunca se aburra del rubro.  

Al afirmar que las tecnología de procesamiento de las frutas ya son accesibles para las empresas vietnamitas, Nguyen Lam Vien precisó que Vinamit envía a los mercados extranjeros una gran variedad de pitahaya procesada y recibe la preferencia de los consumidores.

Las compañías vietnamitas también ofrecen productos procesados de otras frutas como ciruela, chirimoya, guayaba, uva, mango, plátano, durián y jaca.

Intensificar la promoción de la marca de frutas vietnamitas

Un reciente estudio estima que la demanda mundial de frutas y verduras crece cada año un 3,6 por ciento, mientras que la producción se incrementa en solo 2,6 por ciento. Por lo tanto, los productos vietnamitas tendrán plena oportunidad para conquistar el mercado global si el país adopta efectivas políticas de promoción.

El longan de Vietnam llega a Australia. (Fuente: VNA)
El longan de Vietnam llega a Australia. (Fuente: VNA)

Como parte de los esfuerzos para promocionar la imagen de frutas de Vietnam a los consumidores extranjeros, el gobierno estimuló a las empresas a colaborar con los institutos de investigación para llevar a cabo estudios sobre los valores nutritivos de cada especie y publicarlos en los medios de comunicación.

Datos científicos sirven como una base firme y persuasiva para atraer a más clientes, evaluaron expertos.

Establecer zonas de cultivo a gran escala

Nguyen Huu Hong Minh, presidenta de la Asociación de Transparencia Alimentaria, evaluó que los Tratados de Libre Comercio firmados por Vietnam facilitan el ingreso de las frutas nacionales en mercados exigentes como Europa, Estados Unidos, Japón, Corea del Sur y Australia, mediante la reducción de las barreras arancelarias.

Clasificación de mango exportable en Lai Chau. (Fuente: VNA)
Clasificación de mango exportable en Lai Chau. (Fuente: VNA)

Sin embargo, los productos vietnamitas siguen enfrentando barreras no arancelarias al entrar en esos mercados, tales como los altos estándares técnicos, recalcó.

Para cumplir con esos requisitos, los especialistas pusieron de relieve la necesidad de construir zonas de cultivo a gran escala para estandarizar todos los procesos de producción, desde el cuidado a las plantas, la cosecha, el procesamiento y la preservación de los productos.  

En la actualidad, grandes empresas como Hoang Anh Gia Lai y Lavifood invierte en el establecimiento de sus propias áreas de suministro de materias primas, con superficie de decenas de miles de hectáreas.  

Procesamiento de mango exportable.(Fuente: VNA)
Procesamiento de mango exportable.(Fuente: VNA)

Se espera que esas compañías sean los pioneros de un movimiento que cuente con la nutrida participación de la comunidad empresarial para crear zonas de cultivo de alta calidad, cuyos productos superen las barreras técnicas de los mercados exigentes.

Una actividad de promoción del longan de Hung Yen. (Fuente: VNA)
Una actividad de promoción del longan de Hung Yen. (Fuente: VNA)

Convertir las frutas en exportaciones estratégicas de Vietnam

El Ministerio de Agricultura y Desarrollo Rural de Vietnam introdujo las frutas en la lista de las nueve exportaciones principales en la visión de reestructuración agrícola.

La Cartera estimó que, desde 2015 hasta agosto pasado, la región meridional contó con una superficie de cultivo de 600 mil hectáreas y un rendimiento de 6,6 millones de toneladas, equivalente al 67 por ciento de la producción nacional.

Cosecha de mango en Dong Thap. (Fuente: VNA)
Cosecha de mango en Dong Thap. (Fuente: VNA)

El Delta del Río Mekong, en particular, registró 350 mil hectáreas, cifra que se espera suba a 680 mil hectáreas para 2030.

Dang Phuc Nguyen, secretario general de la Asociación de Frutas y Verduras de Vietnam, señaló que la mayoría de los agricultores en la región deltaica poseen pequeñas granjas, lo que obstaculiza automatización de la producción.

Además, solo el 10 por ciento del cultivo cumple con los estándares internacionales, anotó.

Procesamiento de mango exportable. (Fuente: VNA)
Procesamiento de mango exportable. (Fuente: VNA)

En ese sentido, afirmó que para convertir esa rama en pilar de la agricultura, es necesario fortalecer la conectividad entre los agricultores, las fábricas procesadoras, los exportadores y las agencias encargadas de la promoción comercial.

El fortalecimiento de las cadenas de suministro constituye factor vital para aprovechar al máximo las potencialidades, mantener la estabilidad de la demanda y la oferta, así como para mejorar la calidad y competitividad de las frutas vietnamitas, afirmaron especialistas./. 

Cultivo estandarizado de durián. (Fuente: VNA)
Cultivo estandarizado de durián. (Fuente: VNA)

Histórica plaza de Ba Dinh

El 2 de septiembre de 1945, el Presidente Ho Chi Minh proclamó, ante más de 500 mil compatriotas reunidos en la Plaza de Ba Dinh, en Hanoi, la Declaración de la Independencia de Vietnam.

Ese hito histórico marcó el fin del feudalismo y del colonialismo en el país, al tiempo que le abrió al pueblo la era de independencia y soclialismo. Por primera vez después de más de un siglo, los vietnamitas pudieron caminar con la cabeza alta, siendo los ciudadanos de un país libre e independiente.

Los vietnamitas, dentro y fuera del país, guardan en el corazón el compromiso establecido en la Declaración de la Independencia: “¡Todo el pueblo vietnamita está decidido a movilizar toda su fuerza física y mental, a sacrificar sus vidas y propiedades para salvaguardar su independencia y libertad!”.

Más de siete décadas después de ese septiembre histórico, el sol sigue brillando en la plaza de Ba Dinh. El otoño sigue trayendo a la memoria de los vietnamitas la imagen del Presidente Ho Chi Minh declarando en este mismísimo lugar, que “Vietnam tiene derecho a disfrutar de la libertad y la independencia y de hecho se ha convertido en un país libre e independiente.”  

Vietnam de hoy ya es un país diez veces más hermoso, con una posición cada vez más elevada en la arena internacional. Los vietnamitas, dentro y fuera del país, guardan en el corazón el compromiso establecido en la Declaración de la Independencia: “¡Todo el pueblo vietnamita está decidido a movilizar toda su fuerza física y mental, a sacrificar sus vidas y propiedades para salvaguardar su independencia y libertad!”.

Vietnamitas congregados en la plaza de Ba Dinh para escuchar la Declaración de la Independencia, el 2 de septiembre de 1945. (Fuente: VNA)
Vietnamitas congregados en la plaza de Ba Dinh para escuchar la Declaración de la Independencia, el 2 de septiembre de 1945. (Fuente: VNA)

Declaración de la Independencia, impulso para la lucha del pueblo vietnamita

El fotoperiodista Hua Kiem de la Agencia Vietnamita de Noticias no solo fue un corresponsal de guerra, sino también vivió y luchó como un soldado. La vida del reportero y las personas de su generación se vincularon con el destino del pueblo desde el Otoño Revolucionario de 1945.  

Marcaron su juventud los viajes, del norte al sur, de montañas a mares, por los campos de batalla y las rutas de transporte de municiones y artículos de necesidad de la retaguardia al frente. Tras el fin de la guerra, regresó a su tierra natal, con tanto el orgullo como el dolor.

El fotoperiodista Hua Kiem entrevista a pobladores de Saigón después de la victoria de la Campaña Ho Chi Minh en 1975. (Fuente: VNA)
El fotoperiodista Hua Kiem entrevista a pobladores de Saigón después de la victoria de la Campaña Ho Chi Minh en 1975. (Fuente: VNA)

“Cada vez que entraba en el campo de batalla, no pensaba en términos como “patriotismo” u “orgullo del pueblo”. Solo tenía la determinación de cumplir mi trabajo de realizar las mejores fotos. Pues tenía la responsabilidad de contar a mis compatriotas en la retaguardia y al mundo la voluntad indomable de los soldados vietnamitas y la causa justa de la lucha de nuestro pueblo,” expresó Hua Kiem.

El Presidente Ho Chi Minh proclamó, el 2 de septiembre de 1945 en la plaza Ba Dinh, la Declaración de la Inpendencia de Vietnam. (Fuente: VNA)
El Presidente Ho Chi Minh proclamó, el 2 de septiembre de 1945 en la plaza Ba Dinh, la Declaración de la Inpendencia de Vietnam. (Fuente: VNA)

“Durante la guerra, todo el mundo debíamos esforzarse para superar todas las dificultades, dejando de lado nuestras propias emociones. Pero cada vez que llegaba septiembre, escuchábamos en la radio la Declaración de la Independencia y las canciones sobre ese otoño histórico, que todos ya apredían de memoria; y mientras nuestra voz se encontraba estrangulada por la emoción, nuestro corazón se ardía como la voluntad de luchar. La Declaración de la Independencia era un impulso para que siguiéramos luchando en la ardua guerra,” recordó.

Recuerdos inolvidables

A 74 años de ese septiembre histórico, la generación que tuvo la oportunidad de vivir las primeras celebraciones del Día Nacional guarda intactos en su mente y su corazón los sentimientos sobre aquel período.

Con un album de fotos en blanco y negro en las manos, la bailarina y coreógrafa Chu Thuy Quynh no puede aguantar sus emociones.

Para la artista, el entusiamo cuando se unía a la multitud en las calles para celebrar el Día Nacional ya es un recuerdo de niñez. Ahora piensa en ese hito histórico con la responsabilidad de la adultez.

La bailarina y coreógrafa Chu Thuy Quynh (Fuente: VietnamPlus)
La bailarina y coreógrafa Chu Thuy Quynh (Fuente: VietnamPlus)

“De pequeña, siempre esperaba para celebrar el Día Nacional. Los adultos hablaban de sus recuerdos, limpiaban la casa y compartía sueños que realizarían cuando la paz se recuperara. Cada 2 de septiembre, mi familia salíamos a la calle, mezclándonos en las multitudes. Todo el mundo exponía sus mejores ropas,” contó.

Los jóvenes mantenían las sonrisas brillantes, mientras en los ojos de las madres a veces despide una mirada de nostalgia por sus hijos que combatían en el frente.

“En las celebraciones del Día Nacional, todo el mundo se acercaba. Los desconocidos se sonrían y se saludaban a otros, como si fueran amigos,” dijo.

“Ahora, para mí cada otoño es ocasión para recordarme mis responsabilidades como una ciudadana, y como una artista.”

Tras convertirse en bailarina profesional Chu Thuy Quynh ofreció actuaciones a combatientes y connacionales en numerosas actividades conmemorativas por el Día Nacional.

“El escenario en algunas veces era en la magnífica Ópera de Hanoi, en otras eran en el patio de las casas comunales, jardines e incluso aceras. En cualquier lugar, sintía feliciadad al recibir la acogida de los espectadores,” continuó la llamada “estrella de baile procedente del Oriente”.

“Ahora, para mí cada otoño es ocasión para recordarme mis responsabilidades como una ciudadana, y como una artista.”

En medio del desarrollo de la nación, la cultura y las artes también cambiaron. La mayor preocupación de Chu Thuy Quynh es cómo preservar la identidad nacional ante la entrada de los flujos culturales extranjeros, por lo cual en sus obras, la coreógrafa presta especial atención a los materiales folclóricos y la historia del pueblo.

La presidente de la Asociación de Bailarines de Vietnam afirmó que ese arte mantiene la historia como uno de los temas importantes.

El pueblo capitalino tomó la sede del gobierno lacayo del colonialismo francés en el norte, tras el mitín en la plaza de la Ópera de Hanoi el 19 de agosto de 1945. El éxito de la Revolución de Agosto dio paso a la proclamación de la independencia de Vietnam. (Fuente: VNA)
El pueblo capitalino tomó la sede del gobierno lacayo del colonialismo francés en el norte, tras el mitín en la plaza de la Ópera de Hanoi el 19 de agosto de 1945. El éxito de la Revolución de Agosto dio paso a la proclamación de la independencia de Vietnam. (Fuente: VNA)

“La gloriosa historia del pueblo constituyó la inspiración de grandiosas obras artísticas,” afirmó, y señaló la carencia de conocimientos históricos de artistas jóvenes.

Los artistas de hoy necesitan estudiar profundamente los materiales, para poder reflejar de forma exacta y vívida los acontecimientos y personajes históricos, aseguró./.

Thăng trầm làng nghề

Cũng như nhiều nghề thủ công truyền thống khác, khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, có nhiều thay đổi về nhu cầu thẩm mỹ, tranh dân gian Đông Hồ đứng trước nhiều khó khăn thách thức.

Sự xuất hiện nhiều sản phẩm mới đa dạng, phong phú, cạnh tranh quyết liệt của nhiều loại hình nghệ thuật khác trong xã hội khiến tranh dân gian Đông Hồ không còn được sử dụng nhiều, đứng trước nguy cơ mai một.

Thăng trầm cùng lịch sử

Những người già trong làng Đông Hồ kể, từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1944 là thời kỳ hưng thịnh nhất của làng tranh. Trước đây, hàng năm, từ tháng Ba đến tháng Bảy cả làng làm hàng mã, sang tháng Tám đến tháng Chạp, cả làng lại tất bật mùa tranh Tết.

Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì cả 17 dòng họ đều làm tranh, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, nhộn nhịp nhất là các phiên chợ tranh vào các ngày 6, 11, 16, 21, 26 tháng Chạp.

Trong mỗi phiên chợ, lái buôn đến lấy hàng nghìn, hàng vạn bức tranh các loại, hoặc cũng có các gia đình mua lẻ về làm tranh treo Tết để cầu mong phú quý, vinh hoa và trang hoàng nhà cửa.

Vinh hoa
Vinh hoa

Phiên chợ tranh Đông Hồ tấp nập một phần còn do có sự đổi chác giữa dân làng này với các phường buôn bán của những làng khác từ xa tới. Các lái buôn thường mang điệp, thuốc lào, nước mắm, cá khô…, đến đổi lấy tranh hoặc buôn tranh đem về địa phương mình bán.

Sau phiên chợ tranh cuối cùng vào ngày 26 tháng 12 Âm lịch, những tranh còn lại được các gia đình bọc kín đem cất chờ đến mùa tranh năm sau mang ra chợ bán. Vào ngày hội làng Hồ (rằm tháng Ba Âm lịch), người dân trong làng còn tổ chức nhiều nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ…

Từ sau năm 1945, đặc biệt là trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, cùng với nhân dân cả nước, Đông Hồ cũng rơi vào cảnh đạn bom, làng tranh bị giặc đốt phá tan hoang, các bản khắc tranh cũng bị thiêu cháy rụi.

Người dân trong làng lo chạy loạn khắp nơi, không còn mấy người làm tranh, cũng không còn người mua tranh nữa. Nghề làm tranh từ đó cũng bị gián đoạn. Hoà bình lập lại (1954), làng tranh dần nhem nhóm nhưng chưa thể khôi phục như trước.

Từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1944 là thời kỳ hưng thịnh nhất của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì cả 17 dòng họ đều làm tranh, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp. 

Năm 1967, nhận thấy dân làng có nguy cơ bỏ nghề làm tranh, chính quyền địa phương đã giao trọng trách cho nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đứng ra tập hợp 50 nghệ nhân có tâm huyết, tay nghề cao trong làng thành lập Hợp tác xã sản xuất tranh dân gian Đông Hồ.

Đây là thời kỳ tranh Đông Hồ hồi sinh, phát triển sôi động trở lại. Từ năm 1970 đến năm 1985, hàng loạt sản phẩm tranh Đông Hồ đã được xuất khẩu sang một số nước xã hội chủ nghĩa.

Chọi trâu
Chọi trâu

Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, do tác động của nền kinh tế thị trường và việc thay đổi cơ chế chính trị ở các nước Đông Âu, việc xuất khẩu tranh Đông Hồ gặp nhiều khó khăn, Hợp tác xã sản xuất tranh bị giải tán vì in tranh nhưng không có đầu ra.

Giai đoạn đất nước đổi mới bước vào nền kinh tế thị trường, thú chơi tranh dân gian Đông Hồ ngày Tết đã bị quên lãng, dẫn đến nghề tranh dần mai một vì tranh làm ra nhưng không bán được.

Hơn 90% hộ gia đình từ bỏ ván khắc, chuyển sang hoạt động nghề khác có thu nhập cao hơn như làm đồ vàng mã hoặc sản xuất, buôn bán hàng hóa khác.

Tâm huyết giữ nghề

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa kể: “Những năm 90, khi thấy nghề tranh có nguy cơ mai một, bố tôi – nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, từng là Tổ trưởng Tổ sản xuất tranh Đông Hồ rất buồn, ông luôn động viên anh em chúng tôi phải cố gắng giữ nghề. Gia đình tôi lần hồi thu gom được hơn 600 bản khắc tranh cổ quý giá từ các gia đình làm tranh của làng Đông Hồ, hy vọng có ngày làng nghề lại hồi sinh. Hàng ngày, bố tôi vừa tận tụy truyền nghề cho con cháu trong gia đình, vừa tiếp tục kiên trì sáng tạo và kế thừa di sản của ông cha, in các mẫu tranh theo đề tài dân gian truyền thống và sáng tác thêm nhiều mẫu tranh mới phù hợp với như cầu thưởng thức nghệ thuật thị trường.”

Năm 2016, nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam qua đời, nhưng với sự dạy dỗ của ông, các con cháu nội, ngoại trong gia đình đã trở thành các nghệ nhân trẻ, nắm vững mọi bí quyết của từng công đoạn tạo ra tranh Đông Hồ.

  • vnpdongho12-1573718775-42.jpg
  • vnpdongho15-1573718848-93.jpg
  • vnpdongho11-1573708807-69.jpg
  • vnpdongho9-1573708851-46.jpg
  • vnpdongho13-1573718940-72.jpg
  • vnpdongho20-1573708985-11.jpg
  • vnpdongho19-1573719013-44.jpg
  • vnpdongho8-1573719094-11.jpg

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Hoa, con trai cả của ông cùng vợ là nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh đã tiếp tục kế thừa sự nghiệp của cha, gìn giữ nối nghề, tạo lập được cơ ngơi làm tranh vững chắc.

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả con trai thứ của nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam sớm được bố dìu dắt, trở thành chủ nhân một cơ sở sản xuất tranh nổi tiếng trong làng, hàng ngày thu hút nhiều du khách trong nước và nước ngoài đến thưởng ngoạn, mua tranh.

Trăn trở với nỗi lo mai một nghề làm tranh truyền thống, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cũng giành nhiều tâm sức để gìn giữ, bảo tồn nghề làm tranh Đông Hồ. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế tâm sự, ông sinh ra, lớn lên cùng nghề làm tranh, lại may mắn được đào tạo trong môi trường nghệ thuật, nên khi thấy nghề truyền thống của cha ông có nguy cơ mai một, ông tiếc lắm.

Chính vì vậy, khi về nghỉ hưu năm 1991, ông đã bàn với gia đình thôi không làm vàng mã, quay lại làm tranh. Vậy là, trên cơ sở những bản khắc gỗ của cha ông để lại, vận động mua lại những bản khắc gỗ của các gia đình khác trong làng không dùng đến nữa, bản thân ông cũng tự tay khắc thêm nhiều bản khắc gỗ khác và in tranh bán.

Năm 2006, với tâm huyết cho sự tồn tại của một di sản văn hóa dân tộc, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, cùng con cháu mạnh dạn đầu tư xây dựng Trung tâm giao lưu văn hóa tranh dân gian Đông Hồ trên diện tích 5.000m2 ngay đầu làng Đông Hồ.

Trung tâm có các khu nhà sản xuất giấy, khu in tranh, giã điệp và khu nhà trưng bày bán cho du khách. Dưới sự quản lý và điều hành của nghệ nhân Nguyên Đăng Tâm (con trai nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế), Trung tâm giao lưu văn hóa tranh dân gian Đông Hồ đã trở thành nơi lưu trữ, trưng bày hàng nghìn bản khắc, khuôn tranh, trong đó có nhiều bản khắc gỗ quý hiếm từ cách đây gần 200 năm.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm chia sẻ, thời kỳ đầu, gia đình vừa làm tranh, vừa làm vàng mã, rồi lấy tiền bán vàng mã để “nuôi” tranh. Cứ thế, “lấy ngắn nuôi dài,” gia đình từng bước khôi phục lại nghề tranh mà cha ông để lại. Vừa làm tranh, vừa bôn ba khắp nơi tìm nơi tiêu thụ tranh.

Từ năm 1995, nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm đã đem tranh ra Hà Nội bán cho khách du lịch nước ngoài, rồi mạnh dạn thuê, mở cửa hàng tranh Đông Hồ tại 16 phố Chân Cầm (Hà Nội), sau đó nhờ bạn bè trong ngành mỹ thuật giới thiệu, quảng bá tranh trong và ngoài nước… Nhờ có sự quảng bá này, mọi người biết đến tranh Đông Hồ nhiều hơn, khách hàng tìm đến mua tranh ngày một đông, nhất là các du khách nước ngoài.

Từ tranh dân gian truyền thống, các nghệ nhân còn sáng tạo thành những bộ lịch Tết, tem thư, sách bé tập tô, tranh bưu thiếp dùng cho bạn bè trong nước và quốc tế…

Bên cạnh những bức tranh truyền thống, các nghệ nhân làng tranh Đông Hồ cũng rất năng động sáng tạo, cải tiến về mẫu mã sản phẩm để thích ứng với nhu cầu của thị trường ngày nay nhưng vẫn giữ được hồn cốt của tranh dân gian Đông Hồ.

Trước đây khổ tranh Đông Hồ truyền thống chỉ là cỡ nhỏ nhưng giờ đây, các sản phẩm tranh đa dạng về chủng loại, mẫu mã. Từ tranh dân gian truyền thống, các nghệ nhân còn sáng tạo thành những bộ lịch Tết, tem thư, sách bé tập tô, tranh bưu thiếp dùng cho bạn bè trong nước và quốc tế…

Nhờ những nỗ lực của các nghệ nhân tâm huyết với nghề, dù trải qua rất nhiều thăng trầm, dù rất khó khăn, nhưng đến nay, nghề làm tranh Đông Hồ vẫn đang được gìn giữ, bảo tồn, không bị mai một./.

Các dụng cụ làm tranh Đông Hồ. 
Các dụng cụ làm tranh Đông Hồ. 

5.000 doanh nghiệp khoa học công nghệ

Theo Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, giai đoạn 2011-2015 hình thành 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đến năm 2020, hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Để phấn đấu đạt mục tiêu, ngày 1/2/2019 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, có hiệu lực từ ngày 20/3/2019; đã có nhiều chính sách ưu đãi để thúc đẩy việc hình thành và phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khoa học công nghệ trong thời gian tới.

Mục tiêu hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Trước đó, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 04/2018/NĐ-CP ngày 10/1/2018 quy định cơ chế ưu đãi đối với Khu Công nghệ cao Đà Nẵng; Quyết định 09/2019/QĐ-TTg ngày 15/2/2019 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Khu Công nghệ cao Hòa Lạc cũng như các cơ chế, chính sách “đặc thù” để thu hút đầu tư vào Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang xem xét để ban hành Quy chế hoạt động Khu Công nghệ cao Công nghệ sinh học Đồng Nai…

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho biết đến đầu năm 2019 đã có 43 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao, 386 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ và hơn 2.000 doanh nghiệp đạt điều kiện doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, như vậy có thể chạm tới mục tiêu hình thành 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Để đạt mục tiêu hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào năm 2020 còn cả “chặng đường dài” phía trước

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào năm 2020 còn cả “chặng đường dài” phía trước, cần sự chung tay, phối hợp giữa các cấp, ngành trong ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ.

Thực tế, lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ chưa nhiều về mặt số lượng như kỳ vọng nhưng đã tác động tới phát triển kinh tế-xã hội khá rõ nét, tạo ra xu hướng phát triển khoa học và công nghệ trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế.

Ngoài ra, để hỗ trợ việc đạt mục tiêu hình thành 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã đẩy mạnh hoạt động của các Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia…

Một dây chuyền sản xuất phụ kiện điện tử, cảm biến công nghệ cao.
Một dây chuyền sản xuất phụ kiện điện tử, cảm biến công nghệ cao.

Đến nay, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia đã tiếp nhận trên 1.000 ý tưởng đổi mới công nghệ do các doanh nghiệp tại 35 tỉnh, thành phố đề xuất, tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn thiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài trợ cho doanh nghiệp… góp phần nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đến tháng 12/2018 đã hỗ trợ hơn 2.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, trong đó tập trung vào nghiên cứu cơ bản, chú trọng đầu tư hỗ trợ khoa học cơ khí trọng điểm, lĩnh vực đặc thù và lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao.

Trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc tái cấu trúc các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo giá trị gia tăng thông qua ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo… đặc biệt quan trọng. Sự chuyển dịch chính sách để khoa học và công nghệ đồng hành cùng doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi sản xuất, đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách Nhà nước dành cho khoa học và công nghệ.

Đẩy mạnh tái cấu trúc ngành khoa học và công nghệ

Thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 tại Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngành khoa học và công nghệ đặt mục tiêu đến năm 2020, khoa học và công nghệ góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10-15%; giá trị giao dịch thị trường khoa học và công nghệ tăng trung bình 15-17%; số lượng công bố giao dịch quốc tế, sáng chế đăng ký bảo hộ tăng; tăng tổng đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt trên 2% vào năm 2020; đảm bảo mức đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho khoa học và công nghệ không dưới 2% tổng chi ngân sách Nhà nước hằng năm…

Đặc biệt, đến năm 2020 cả nước hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới, 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao.

Dây chuyền sản xuất linh kiện điện tử. 
Dây chuyền sản xuất linh kiện điện tử. 

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh nhấn mạnh ngành khoa học và công nghệ đã phối hợp với các cấp, các ngành ứng dụng khoa học công nghệ, tái cấu trúc các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo chuỗi giá trị sản phẩm, tạo giá trị gia tăng… đảm bảo mục tiêu đề ra. Tính đến đầu năm 2019, cả nước đã có 50 cơ sở ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao. Việt Nam cũng được UNESCO công nhận 2 trung tâm quốc tế về Toán học và Vật lý…

Tuy nhiên, một số mục tiêu như tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị tính đến đầu năm 2019 cũng đã đạt gần 15%, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao đã có mức tăng trưởng khá, mức đầu tư cho khoa học và công nghệ cũng đã tăng hằng năm… nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra.

Ngành khoa học và công nghệ tập trung tái cấu trúc theo hướng phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng và địa phương

Vì vậy, thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc tái cấu trúc ngành khoa học và công nghệ, sắp xếp, tổ chức lại các mạng lưới, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thay đổi phương thức cấp kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập từ việc cấp theo số lượng biên chế sang hình thức tài trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước theo nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động và đóng góp của tổ chức khoa học và công nghệ theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập… đảm bảo chuyển dịch chính sách để khoa học và công nghệ đồng hành cùng doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi sản xuất, sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước dành cho khoa học và công nghệ.

Cùng với sự chuyển dịch chính sách, ngành khoa học và công nghệ tập trung tái cấu trúc theo hướng phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng và địa phương, phát triển hệ thống doanh nghiệp khoa học và công nghệ gắn với chuỗi sản xuất hàng hóa, các sản phẩm chủ lực, ưu thế từng vùng và địa phương… Đặc biệt, tập trung tái cấu trúc nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đảm bảo có năng lực thực tiễn cao, bám sát nhu cầu phát triển của địa phương, vùng cũng như quy hoạch phát triển cả nước; đẩy mạnh việc kết nối giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp, trong đó chú trọng đến doanh nghiệp có các trung tâm R&D (nghiên cứu và phát triển), để nhà khoa học là “hạt nhân” của sự phát triển, đồng thời cũng tránh tình trạng “chảy máu chất xám”./.

Dây chuyền sản xuất của Xí nghiệp Lốp Radial (Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su miền Nam) tại Bình Dương. 
Dây chuyền sản xuất của Xí nghiệp Lốp Radial (Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su miền Nam) tại Bình Dương. 

Dòng tranh dân gian tiêu biểu

Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có sông tắm mát có nghề làm tranh

Nghề làm tranh câu ca dao nhắc tới chính là làng tranh Đông Hồ, xưa có tên là làng Mái (nay thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Cho đến nay, tranh Đông Hồ là một trong những dòng tranh dân gian nổi tiếng nhất, có số lượng sản phẩm nhiều nhất của Việt Nam.

Dòng tranh mang hồn Việt

Nói về lịch sử dòng tranh Đông Hồ, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, người có công gìn giữ tranh Đông Hồ cho biết: Theo tư liệu mà các cụ để lại, nghề làm tranh Đông Hồ có từ thế kỷ 16, đến nay đã tồn tại trên 500 năm. Cho đến nay, vẫn chưa có ai nghe nói đến ông tổ làng nghề, tất cả những tinh hoa của dòng tranh dân gian này đều được lưu truyền qua bàn tay các nghệ nhân dân gian từ đời này sang đời khác, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

Trước năm 1944, dòng tranh này ở thời kỳ phát triển cực thịnh. Khi đó, cả làng Đông Hồ có 2 nghề chính là nghề vẽ tranh bán Tết và nghề làm vàng mã. Những năm trước Cách mạng tháng Tám, làng tranh Đông Hồ quanh năm tấp nập, trong làng có tới 17 dòng họ cùng nhau làm tranh. Thông thường, từ tháng giêng đến rằm tháng bảy âm lịch, cả làng làm vàng mã. Từ tháng 8 đến hết tháng 12 âm lịch, cả làng lại chuyển sang làm tranh bán Tết.

Tranh cá chép
Tranh cá chép

“Khi ấy, vui nhất là tháng 12 âm lịch, bởi trong tháng có 6 phiên chợ đặc biệt, đó là phiên chợ tranh. Phiên đầu tiên mở vào ngày mùng 1, sau đó cứ cách 6 ngày lại mở một phiên, đó là vào ngày 6, 11, 16, 21, 26 tháng Chạp, người dân khắp nơi đổ về chợ tranh để mua tranh, rồi lại đổ đi các ngả bán cho người dân mua chơi Tết. Không khí trong làng lúc nào cũng nhộn nhịp, rộn ràng, người mua, kẻ bán tấp nập” – nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế nhớ lại.

Theo giáo sư, tiến sỹ Trương Quốc Bình, Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia, tranh Đông Hồ là dòng tranh dân gian lâu đời và nổi tiếng nhất ở Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hóa của người Việt. Với sự phong phú, đa dạng cả về mẫu mã, thể loại, chủ đề, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội, từ phong tục, tập quán, sinh hoạt đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam vùng đồng bằng sông Hồng.

“Tranh Đông Hồ là dòng tranh dân gian lâu đời và nổi tiếng nhất ở Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hóa của người Việt.” (Giáo sư, tiến sỹ Trương Quốc Bình, Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia)

Trải qua hàng trăm năm hình thành, phát triển, tranh dân gian Đông Hồ trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua.

Mỗi một bức tranh Đông Hồ đều có ý nghĩa riêng, thể hiện những ước mơ, nguyện vọng của người lao động, từ những điều bình thường, giản dị tới những điều thiêng liêng, cao quý. Các bức tranh “Vinh hoa,” “Phú quý,” “Tiến tài,” “Tiến lộc,” “Gà đại cát, “”Phúc, “Thọ”... là một lời chúc năm mới tốt đẹp, phát tài, phát lộc.

Để tưởng nhớ công lao của các anh hùng dân tộc có công với nước, các nghệ nhân vẽ tranh “Hai Bà Trưng trừ giặc Hán,” “Bà Triệu đánh quân Ngô,” “An Dương Vương,” “Ngô Vương Quyền đánh Nam Hán”… Để giáo dục truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc, các nghệ nhân vẽ tranh “Hiếu học,” “Vinh quy bái tổ,” “Mục đồng đọc sách,” “Thầy đồ cóc”…

Trên phương diện xã hội, tranh dân gian Đông Hồ cũng có giá trị đấu tranh trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những bất công trong xã hội. Bức tranh “Đám cưới chuột” thể hiện sắc thái châm biếm sâu sắc đối với chú mèo là đại diện cho tầng lớp thống trị, chú chuột là hình ảnh người nông dân. Mèo gian tham, thích ăn hối lộ, chuột khôn ngoan, tinh quái, luôn cảnh giác với mèo. Tranh “Đánh ghen” với ngụ ý phê phán thói trăng hoa của các bậc nam nhi, vừa khuyên nhủ một cách kín đáo để can gián một bi kịch gia đình…

“Tứ bình,” “Tứ quý” (về bốn mùa xuân-hạ-thu-đông), “Tùng hạc” (hạc và cây tùng), “Kê cúc” (gà và hoa cúc), “Liên áp” (vịt và sen)…, hay dòng lưu giữ những nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc qua các bức vẽ phản ánh sinh động cuộc sống sinh hoạt, lễ nghi, hội hè của làng quê vùng châu thổ Bắc Bộ như “Đánh đu,” “Đánh vật,” “Rước trống,” “Múa rồng,” “Múa lân,” “Hội làn,” “Chọi trâu,” “Đấu vật”

Ván khắc, dụng cụ làm tranh Đông Hồ
Ván khắc, dụng cụ làm tranh Đông Hồ

Dòng tranh Đông Hồ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên con người Việt Nam qua các bức tranh

Bên cạnh đó, các nghệ nhân vẽ tranh Đông Hồ còn sáng tạo tác phẩm theo các bộ tranh truyện, còn gọi là “Tứ bình truyện,” có nội dung, cảm hứng lấy từ những cốt truyện thể hiện sự thủy chung, nghĩa hiệp, đạo lý tốt đẹp trong văn chương Việt Nam như “Tống Trân-Cúc Hoa,” “Lưu Bình-Dương Lễ,” “Thạch Sanh,” “Nhị Độ Mai,” “Truyện Kiều”

Những sáng tạo bám sát thời cuộc

Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, trong quá trình sáng tạo của mình, các nghệ nhân làm tranh Đông Hồ đã có những sáng tạo bám sát theo thời cuộc, gắn với những biến đổi trong đời sống xã hội. Đó là vào thời kỳ phong trào Âu hóa phát triển rầm rộ, các nghệ nhân làng tranh Đông Hồ cho ra đời nhiều bức tranh phê phán, đả kích sự lai căng, lố bịch trong xã hội thời bấy giờ.

Có thể kể đến bức tranh “Nhảy đầm” mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu Tây với hai đôi trai gái dẫn nhau nhảy valse. Hay bộ tranh đôi “Trai tứ khoái-gái bảy nghề” phê phán thói sinh hoạt đàng điếm của đám trai, gái thị thành thời thực dân Pháp, làm mất đi thuần phong mỹ tục… hay những bức tranh vẽ cảnh cày cấy, tát nước trên đồng ruộng cùng với khẩu hiệu “Canh nông vi bản,” “Tăng gia sản xuất”… Nhiều bức tranh vẽ có kèm theo những câu ca dao, tục ngữ được cải biên khắc luôn vào ván bằng chữ Quốc ngữ cho dễ thuộc dễ nhớ.

Bình dân học vụ
Bình dân học vụ

Cách mạng tháng Tám thành công, cả nước cùng chung tay khắc phục khó khăn, diệt giặt dốt, giặc đói… các nghệ nhân làm tranh Đông Hồ cũng hòa mình vào công cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Nhiều bức tranh vẽ có chủ đề về bình dân học vụ, xóa mù chữ diệt giặc dốt như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có bức tranh vẽ buổi biểu diễn văn nghệ, hai cô gái nông dân múa, có đủ dàn nhạc trống phách, phía trên có lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng búa liềm và hai câu ca dao “Cùng nhau múa hát mấy bài/Khải hoàn ngợi khúc xây đài vinh quang.”

Hiện tranh Đông Hồ đang được lập Hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp

Nhiều bức tranh Đông Hồ được các nghệ nhân vẽ để cổ động cho phong trào lao động sản xuất như “Vừa sản xuất vừa chiến đấu,” “Bảo vệ hòa bình,” “Kiến thiết quốc gia”… hay những bức tranh vẽ cảnh cày cấy, tát nước trên đồng ruộng cùng với khẩu hiệu “Canh nông vi bản,” “Tăng gia sản xuất”… Nhiều bức tranh vẽ có kèm theo những câu ca dao, tục ngữ được cải biên khắc luôn vào ván bằng chữ Quốc ngữ cho dễ thuộc dễ nhớ.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho biết, bản thân ông, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng đã sáng tạo ra khoảng hơn chục bức tranh có đề tài mới, như “Đổi công hợp tác,” “Hợp tác xã mua bán,” “Cải tiến nông cụ”… Có cả những bức tranh vẽ về thời gian chống chiến tranh phá hoại của địch như “Bác Hồ với thiếu nhi”, “Phụ nữ ba đảm đang.”

Đặc biệt, bức “Không cho chúng nó thoát”, được ông vẽ lại cảnh tượng quân, dân ta bắt giặc lái Mỹ trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom Hà Nội năm 1972, bức tranh này cũng được nhiều người nước ngoài đến hỏi mua.

Với những giá trị độc đáo, nội dung phong phú, đa dạng, mang nhiều giá trị nhân văn, dòng tranh dân gian Đông Hồ không chỉ là di sản vô cùng quý báu trong kho tàng nghệ thuật dân tộc, còn có một vị trí quan trọng trong lịch sử mỹ thuật thế giới. Bởi những giá trị đặc sắc đó, tranh Đông Hồ đã được Nhà nước đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Hiện tranh Đông Hồ đang được lập Hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp./.

(Nguồn: Vietnam+)
(Nguồn: Vietnam+)

Chính sách khoa học công nghệ

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh nhấn mạnh từ chủ trương, chính sách đến hành động của các bộ, các cấp, ngành đang có sự chuyển biến lớn, tác động mạnh đến việc phát triển khoa học công nghệ, làm động lực cho phát triển kinh tế-xã hội.

Cơ bản hoàn thiện hành lang pháp lý

Thời gian qua, hành lang pháp lý về khoa học và công nghệ cơ bản được hoàn thiện, tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ phát triển. Các lĩnh vực quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được điều chỉnh bằng văn bản luật. Hệ thống văn bản hướng dẫn triển khai cũng đã được các cấp, ngành ban hành tương đối đầy đủ.

Các văn bản từng bước khắc phục được các mâu thuẫn, chồng chéo, tạo điều kiện bình đẳng, rộng mở cho mọi thành phần phát huy sáng tạo, tham gia đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.

Tinh thần đổi mới của Nghị quyết số 20 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã được thể chế hóa kịp thời tại các văn bản Luật của Quốc hội như: Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017… và các văn bản dưới luật của Chính phủ (Nghị định 80, Nghị định 95, Nghị định 40, Nghị định 87… tạo hành lang pháp lý ngày càng thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hành lang pháp lý về khoa học và công nghệ cơ bản được hoàn thiện.
Hành lang pháp lý về khoa học và công nghệ cơ bản được hoàn thiện.

Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Đo lường, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật để trình Quốc hội thông qua…

Bên cạnh đó, để thực hiện Nghị quyết số 72/2018/QH14 ngày 12/11/2008 về phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan, Chính phủ đã xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ; được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV để phù hợp với nghĩa vụ mà Việt Nam cần thi hành ngay.

Đồng thời, Chính phủ cũng đề nghị xây dựng Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi để quy định các nội dung cam kết có hiệu lực sau 3-5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện các thủ tục gia nhập Thỏa ước La Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp, là tiền đề quan trọng để thực thi các cam kết về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA).

Chính phủ cũng ban hành nhiều quyết định nhằm tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng ban hành nhiều quyết định nhằm tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội như Quyết định số 1851/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 phê duyệt đề án “Thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt nam trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Quyết định 850/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm.”

Ngoài ra, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối xây dựng Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”; xây dựng khuôn khổ cho việc đo lường và đánh giá hiệu quả của nền kinh tế số, hoạt động của các trường đại học, viện nghiên cứu và các cơ sở có hoạt động khoa học và công nghệ; xây dựng chính sách thu hút chuyên gia giỏi, đặc biệt là cộng đồng nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài; hoàn thiện chỉ thị thúc đẩy hấp thụ, phát triển công nghệ, hoạt động đổi mới công nghệ và hoạt động đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của doanh nghiệp góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh, giai đoạn hiện nay, từ chủ trương xuyên suốt, nhất quán trong hành động của các bộ, ngành cùng với những giải pháp rõ ràng cụ thể, làm cho khoa học và công nghệ đồng hành và sát hơn với các ngành, các cấp, sát hơn với thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Cụ thể, các nghị quyết Trung ương từ tinh thần Đại hội XII đã làm rõ nội hàm khoa học công nghệ từ tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân…

Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 22/3/2018, Chính phủ đang cùng các bộ, ngành tập trung vào nhiệm vụ tăng cường, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nhất là sở hữu trí tuệ trong thời đại số, thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hình thành cơ sở dữ liệu công nghệ quốc gia, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh tại tất cả các ngành, các lĩnh vực… góp phần phát triển kinh tế-xã hội thời gian tới.

Giới thiệu mô hình nhà thông minh tại Hội nghị quốc tế thường niên Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
Giới thiệu mô hình nhà thông minh tại Hội nghị quốc tế thường niên Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương đảm bảo chi ngân sách Nhà nước hằng năm cho khoa học và công nghệ. Bên cạnh đó, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành tập trung hoàn thiện đề xuất xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về Khu công nghệ cao để làm tiêu chí xây dựng các tiêu chí cho dự án công nghệ cao, huy động được nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, xã hội để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ.

Chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2018 của Việt Nam tăng 2 bậc so với năm 2017 xếp hạng 45/126 quốc gia, nền kinh tế

Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp để cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2018 của Việt Nam tăng 2 bậc so với năm 2017 xếp hạng 45/126 quốc gia, nền kinh tế; nhóm chỉ số đầu vào về đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2018 đã tăng 6 bậc so với năm 2017.

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2019 của Việt Nam tăng 3 bậc lên vị trí 42/129 quốc gia, nền kinh tế so với năm 2018 là 45/126. Với thứ hạng này Việt Nam vươn lên thứ nhất trong nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp, thứ 3 trong ASEAN, sau Singapore và Malaysia.

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho rằng thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã từng bước phối hợp với các cấp, ngành trong ứng dụng khoa học công nghệ, thực hiện các đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ mang lại hiệu quả cao.

Để khoa học và công nghệ thực sự thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với ngành nông nghiệp từ khâu giống, vật tư, chuỗi sản xuất, ứng dụng công nghệ cao…; phối hợp với ngành giáo dục trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong các trường đại học…; phối hợp với ngành công thương thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo./.

Công ty Truyền tải điện 4 (Tổng Công ty Truyền tải Điện Quốc gia) đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ vào điều khiển các trạm biến áp, tạo nền tảng cho tự động hóa và đưa công nghệ điều khiển xa, xây dựng các trung tâm vận hành trạm không người trực...
Công ty Truyền tải điện 4 (Tổng Công ty Truyền tải Điện Quốc gia) đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ vào điều khiển các trạm biến áp, tạo nền tảng cho tự động hóa và đưa công nghệ điều khiển xa, xây dựng các trung tâm vận hành trạm không người trực…

How processing-manufacturing sector will be impacted from CPTPP

The Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) is expected to bring about opportunities to increase exports for many sector, including manufacturing-processing, experts have predicted.

However, according to the Ministry of Industry and Trade (MoIT), the deal, which took effect from January 14 this year, also goes with challenges, requiring Vietnamese firms to be carefully prepared and design long-term strategiesto enhance their competitiveness in the world market.

The signing of the CPTPP is a new step forward by Vietnam in the international economic integration process, helping the country multilateralise its economy and relations and avoid risks of dependence on several big markets.

A representative from the ministry said that in the CPTPP, commitments of opening that partners give to Vietnam is deeper and faster compared to those by Vietnam.

Specifically, they will erase tariff on about 78-95 percent of tax lines for Vietnam. For common commodities, the roadmap of tax erasing takes 5-10 years. At the end of the roadmap, 98-100 percent of the tax lines will be eliminated.

“This is the highest commitment that Vietnam has received from existing FTAs. On the other hand, Vietnam will immediately remove 65 percent of the total tax lines and 97.8 percent in the 11th years,” said the representative.

“The roadmap of tax removal will take 5-10 years, at the end of which, 98-100 percent of the total tax lines will be erased.”

Another advantage that the CPTPP gives Vietnam is the setting up of free trade relations with more partners in further distance, and the motivation for domestic firm to explore new markets.

Alongside, the structure of major exports of CPTPP members is supplementary with those of Vietnam with little competition. Therefore, the deal is expected to open up the door for many Vietnamese products in the processing-manufacturing sector such as garment, footwear, furniture and aquatic products to new markets like Canada, Mexico and Peru.

The MoIT representative held that the deal will create chances for furniture exporters to promote export as many wooden products enjoy tax exemption instead of the 6-9.5 percent previously.

Canada has agreed to immediately reduce the tax rate for the products from 7 percent to zero percent.

Notably, thanks to the CPTPP, Vietnamese firms will enjoy opportunities to penetrate deeper into the Mexican market as the country has committed to totally remove import taxes for Vietnamese wooden products within a 10-year roadmap.

Production of plastic components (Photo: VietnamPlus)
Production of plastic components (Photo: VietnamPlus)

Experts have asserted that for the garment and textile sector, when the CPTPP takes effects, Vietnamese products meeting common technical standards will enjoy the zero percent tax rate instead instead of the previous over 10 percent, and this gives Vietnam higher competitiveness in price.

This is also a motivation for both domestic and foreign investors to develop material production and support industry in Vietnam, form a more effective production chain and create a foundation for the sustainable growth of the sector.

At the same time, the CPTPP will prompt Vietnamese firms to seek more opportunities in new markets in the South American region, they held.

From the viewpoint of a business, Cao Huu Hieu, CEO of Vietnam National Textile and Garment Group (Vinatex), commented that the CPTPP will help increase investment in material production, thus forming the support industry for garment and textile sector.

“Thanks to opportunities from the deal, many foreign investors will see Vietnam as an attractive destination due to various factors such as market chances, alternative supply source strategy and production costs,” stated Hieu.

Meanwhile, Vietnam’s footwear sector is forecast to access promising lands such as Mexico and Canada which give them more chances to develop new products with higher added value.

However, it depends on the capacity of businesses in optimising the advantages to turn the chances into specific figures.

According to the MoIT, conditions for receiving tax preferences in a new generation and comprehensive FTA like the CPTPP are not simple.

Meanwhile, Vietnamese goods also face many technical barriers and strict origin requirements.

Specifically, under the CPTPP, in order to get preferences, exports of member countries must originate from countries inside the bloc. This is a difficulty for Vietnam as the country mostly imports materials from China or the Republic of Korea.

Besides, technical regulations such as packaging, labeling and chemical contents in exports are also another obstacle for Vietnamese products.

Smart production system applied in garment and textile sector (Photo: VietnamPlus)
Smart production system applied in garment and textile sector (Photo: VietnamPlus)

Meanwhile, joining the CPTPP, Vietnam will open its door to foreign goods and services, which means that domestic firms will face more competition, especially those in automobile production and assembling. Failure right in the domestic market will become a great risk.

For the garment and textile sector, the utilisation of tax advantages is not easy as the sector must satisfy strict technical and origin requirements.

A representative from the MoIT’s Industry Agency said that with the current capacity and skill level, Vietnamese firms can meet technical demands, but origin requirements remain a great obstacle because over 60 percent of material for the industry is imported from countries outside the CPTPP.

The material issue is a hard nut to crack. Although many investors are keen on the support industry for the sector, few can meet requirements in environmental protection.

Household commodity production at Xuan Hoa Company in Phuc Yen district, Vinh Phuc province (Photo: VietnamPlus)
Household commodity production at Xuan Hoa Company in Phuc Yen district, Vinh Phuc province (Photo: VietnamPlus)

For the footwear sector, Vietnamese brands are still unfamiliar to customers in promising markets such as Mexico and Canada.

In order to conquer the markets, Vietnamese products must have high quality, while exporters have to pay attention to building trademarks and confirming their unique value, said the representative.

“With the regulation of 55 percent in localisation proportion, Vietnamese firms will face many difficulties as they are largely dependent on imported materials.”

“Solutions for the problem cost time, financial resources and brainpower. Vietnamese firms should build their own plans of action to improve production capacity in order to make full use of advantages in tariff brought about by not only the CPTPP but also all other FTAs,” stated the representative./.

Production at Binh Dinh Company (Photo: VNA)
Production at Binh Dinh Company (Photo: VNA)

Ngo Thanh Van

“I also wanted to prove that anything a man can do, a woman can do too. In both life and work, I don’t like using terms ‘phai manh’ (stronger gender, or male) and ‘phai yeu’ (weaker gender, or female) because no one is weak,” says Ngo Thanh Van.

Hanoi (VNA) – Producer, actress Ngo Thanh Van (Veronica Ngo) calls herself a workaholic who wants to bring Vietnamese films to the world. Because of that, the talented actress has become a “tough chick” in the eyes of her co-workers.

“At the company or on the set, many people still call me ‘Ngo Thi Hanh’ (‘Hanh’ means to bedevil),” Van said.

Van has not only a strong passion but also great ambition for cinema with clever thinking.

That’s not the reason…

“Has the action star become… tired?”

Reporter: You said that “Hai Phuong” (Furie, directed by Le Van Kiet) will be the last action movie you starred in the leading role. Is it because you’ve got tired of fighting scenes?

Ngo Thanh Van: That’s not the reason. If I’m tired, I will take a break to recharge my battery. It’s also not because I’m afraid that my image as an action actress is becoming old and boring.

In fact, I want to focus my energy on the role of a film producer.

                  Ngo Thanh Van says “Hai Phuong” (Furie) will be the last action movie she stars in the leading role.

Ngo Thanh Van says “Hai Phuong” (Furie) will be the last action movie she stars in the leading role.

Reporter: How was the role of a producer so attractive that you decided to turn down casting invitations from Holywood projects, instead of continuing pursuing fame and career of an actress?

Ngo Thanh Van: As a producer, I can provide more support to young filmmakers. Before becoming an actress, I used to be a fashion model and a singer. After over 20 years in showbiz, I know clearly how fierce the competition in this industry is.

Success should be built by one’s ability and hard-work. But I believe if a person is given good advice and support, his/her path to success will be shorter. Talented people wouldn’t struggle to seek their way or shape their style and thus, they would get a big break more easily.

In the past, I used to be torn between “to stay” and “to leave.” Between 2006 and 2007, I had the opportunity to join some Holywood film projects. They were really good chances that enabled me to gain experiences and learn from advanced film-making technologies from foreign countries.

For each project, I had to leave Vietnam in three to six months. Foreign directors and producers were very tough with high discipline at work. They didn’t accept any neglect or lack of attention from actors. So that, if I continued to go that way and look for similar opportunities, I wouldn’t have much time for Vietnamese cinema.

Ngo Thanh Van portrays Paige Tico in the blockbuster “Star Wars: The Last Jedi” in 2017. She is among few Vietnamese actors starring in Holywood films.

Ngo Thanh Van portrays Paige Tico in the blockbuster “Star Wars: The Last Jedi” in 2017. She is among few Vietnamese actors starring in Holywood films.

I had to make my choice. So after “Crouching Tiger, Hidden Dragon: Sword of Destiny,” “Star Wars: The Last Jedi,” and “Bright,” I decided to stop and spend all my time on Vietnamese movies.

Reporter: Is it really the whole reason for your choice? Or because of another reason, like there are more opportunity for you to make changes and achieve new success in Vietnam?

Ngo Thanh Van: Yes, it is also an important reason. I don’t like to think about something in the past and assume that if I decided this way, then it would have been that way. But, obviously, if I chose to “stay,” there couldn’t be Ngo Thanh Van like today – “greedy” and also “ambitious” – in various roles – actress, director and producer.

Transforming from an actress to a director and a producer has given me many exciting experiences. I knew my greatest strength, what I want and what I need. When I first started as a director, a role often played by men, many became skeptical and even uncomfortable working with me. I have talked to them, tell them about my ideas, and sort out our issues.

I also wanted to prove that anything a man can do, a woman can do too. In both life and work, I don’t like using terms “phai manh” (stronger gender or male) and “phai yeu” (weaker gender or female) because no one is weak. Everyone has his/her own strength and energy. The only thing is how we can inspire it and let it grow.

Reporter: As an action star, how do you use your inner energy?

Ngo Thanh Van: Many people said I tortured myself but I’m happy about what I’m doing. I can’t let myself remain passive, I want to always be proactive and make the most of my energy. There were times I thought I even used more than 100 percent of my energy, like when I was filming “Hai Phuong.”

The film tells a single mom’s thrilling journey to save her daughter from a trans-border kidnapping and organ trafficking gang. It has seven major fighting scenes and many other small ones. All the scenes seem to happen in just one day but it took about six weeks on the set, about 18 hours a day.

I got hurt a lot and had to take pain relief. But I couldn’t pause the filming to take a rest because I wasn’t only the main actress but also the producer. If I did so, it would affect the entire crew. We would loose money for any day off and our budget wasn’t enough to do so.

Moreover, my principle is always setting a target higher than your capacity. I see it as a goal to achieve.

Ngo Thanh Van stars in “Co Ba Sai Gon” (The Tailor).
Ngo Thanh Van stars in “Co Ba Sai Gon” (The Tailor).

If you always want peace, you never get a big break…

Accepted to be ‘stoned’

Reporter: Is it the way you put your energy into Vietnamese cinema like you said?

Ngo Thanh Van: It’s true! I want to win back audiences for Vietnamese cinema and to show them that the Vietnamese films have their own values and Vietnamese filmmakers have their own strengths and paths. As a filmmaker, I couldn’t help feeling sad to see today audiences, particularly young people, prefer foreign movies and idolise directors, actors and characters from America or the Republic of Korea. I always dream that Vietnamese films will be able to compete at the same award categories (with foreign films), named at prestigious film festivals and internationally recognised.

“I always dream that Vietnamese films will be able to compete at the same award categories (with foreign films), named at prestigious film festivals and internationally recognised.”

Because of that, my dream is not to succeed as a director. This job is consuming too much of my time. You know, “Tam Cam: The Untold Story” took two years of my life. I want my works to be different so it takes a lot of time and effort.Moreover, I am a perfectionist so I don’t accept any mistake, even small. If I find a tiny mistake, even when it’s in the 89th minute and it’s soon to complete, “Ngo Thi Hanh” is just willing to ask her team to start over. Whereas in such period of time, I can seek funding for four other movies to be made.When we have a team of well-trained, oriented filmmakers who had the opportunity to be involved in multiple projects and access the world’s modern film-making technologies, of course, we can hope for a brighter future of the Vietnamese cinema.

“Song Lang” (The Tap Box) recreates the golden age of “Cai Luong” (reformed opera).
“Song Lang” (The Tap Box) recreates the golden age of “Cai Luong” (reformed opera).

Reporter: So, what were your strategies to create differences when promoting your films overseas?Ngo Thanh Van: To confidently step out into the world, Vietnamese cinema needs to be properly developed and first of all, it must be a competitive industry domestically. It isn’t something Ngo Thanh Van or anyone else can do alone, it requires the power of a team. Just like, we need a good team to make a good movie, we can’t just rely on one director, or one screenwriter, or one actor.For me, I always do my best and get ready to confront any challenge, even being “stoned” (bullied). If you always want peace, you never get a big break.

“If you always want peace, you never get a big break.” 

Though I grew up in Norway, my family always told me that I had to remember I’m a Vietnamese. Hence, my films always feature things showing Vietnamese identity. We have a wealth of resources (cuisine, history, traditional culture…) which can be featured on the big screen. Movie is a good channel to promote a country’s culture, nature and people.In fact, all my movies have gone this way, to some extent. “Tam Cam: The Untold Story” is based on a famous folktale that conveys profound lessons and philosophies of Vietnamese people. Meanwhile, stories about the art of “cai luong” (reformed opera) and “ao dai” (Vietnamese traditional gown) have been presented in “Song Lang” and “Co Ba Sai Gon.”

Even in action movie “Hai Phuong,” the Vietnamese culture and identity are also clearly presented on the scenes or through the costumes. It presents not only the maternal love and family ties but also a beautiful Vietnamese woman in “ba ba” (Southern traditional shirt for women) who are very brave, with fires in her eyes, when facing the kidnappers.Of course, material is not everything. But from such source of precious raw materials, we have to know how to cook and spice it up and seek support from technology. Sophistication, creativity and flexibility of a screenwriter, a director and an actor will create a touching story. But to create excellent visual effects for the film, we need the help of technology. To take a long path and go global, we have to nicely combine all the above aspects.Reporter: Taking the role as a “female general” now, what are your strategies for the future?Ngo Thanh Van: It is not good if a movie, no matter how good and beautiful it is, doesn’t have audience. I asked myself to get balanced among many factors. I still have to look towards the audience and learn what they want to see. Besides, to create differences, I want me and my team to produce trend-setting and inspiring movies.Reporter: Besides beauty, talent, bravery, toughness, determination and ambition, is there any other word to portray you?

After a stressful time at work, I’m still a woman with many feminine hobbies like shopping. Though I have quite a good physical health of an “action” actress, but sometimes, I wished to be stronger like a man so that I can do more things…It is just a wish, I still love myself at the present: strong, firm and bold at work but also flexible in daily life.Reporter: Thank you for your time!

越南是世界上率先使用第五代移动通信技术的国家之一

越通社河内——专家们认为,为了不落后于第四次技术革命,各国应努力推进现代的数字基础设施发展,其中第五代移动通信技术(5G)将对该基础设施发挥骨干作用。

5G即第五代移动通信技术,是最新一代蜂窝移动通信技术。它可能会成为互联网革命的又一重大推力,也可能开启新一次的革命,必将对我们每个人的生活产生重大的影响。5G的发展绝不仅是5G通信技术的本身,除它自身具有巨大的产业价值外,还能够带动芯片、器件、材料、软件等基础产业的快速发展,并将与互联网、物联网以及工业、交通、医疗等行业应用更加紧密融合,从而推动新一轮技术产业创新浪潮,甚至会影响社会的哲学、道德、伦理和思想、文化的发展与进步。当5G成为连接人与人、人与物、物与物的基础通信方式时,则将开启万物互联的新时代。

今年5月初越南人民军队电信集团(Viettel)开通5G网络,并成为世界上最早测试成功5G网络的国家之一,进而肯定越南已经赶上世界信息通信网络技术最发达国家的发展水平。

5月10日,越南军队电信集团实施首次5G手机电话。图自Vietnamplus

5月10日,越南军队电信集团实施首次5G手机电话。图自Vietnamplus

Viettel首次成功实现5G数据连接的结果显示,5G网络与终端设备连接速度达到1.5Gbps至1.7Gbps,远远超过4G网络的理论限制,相当于光纤网络的速度。这为实现由通信传媒部既定关于至2020年商用上述新技术的目标打下重要前提。

5G网络与终端设备连接速度达到1.5Gbps至1.7Gbps
5G网络与终端设备连接速度达到1.5Gbps至1.7Gbps

Viettel集团副总裁曹德胜表示,今年,Viettel将在河内市及胡志明市扩大5G技术测试规模,旨在收集数据,有助于越南通信传媒部从覆盖范围、容量、最大速度和与现有设备兼容性等方面全面评估5G技术。

迈向5G之路

专家评价说,越南成功实现首次5G手机通话标志着越南成为世界上最早成功测试5G网络的国家之一。这同时也是越南首次与世界同行使用最新技术应用。5G技术将为越南加大招商银子力度注入强劲动力。

与此同时,越南信息传媒部部长阮孟雄高度评价Viettel在很短的时间内已成功展开5G网络测试计划。越南信息技术部门计划将于2020年将5G全面商用。

越南军队电信集团代理主席兼总经理黎登勇强调,Viettel成功开展世界上最新的技术,使越南跻身世界上最早完成5G网络试验的国家行列,证明越南可在应用最先进技术的潮流中与世界各国并肩同行。

第五代移动通信技术的终端设备准备就绪。图自Vietnamplus
第五代移动通信技术的终端设备准备就绪。图自Vietnamplus

此前,越南信息传媒部已向越南移动通信公司MobiFone签发5G网络测试许可证。未来时间内,MobiFone将继续在河内、岘港、海防和胡志明市等城市开展5G网络测试。

如何展开?

在越南开展5G网络的目的是为通信传媒部根据覆盖区、传输率、最高传输速度、5G设备与当前基础设施对接能力等标准,对5G技术进行全面评测。基于此,越南通信传媒部制定了有关政策、划定频率、建立2020年前5G服务商业化路线图。

5G连接测试的成功,有助于越南在世界信息通信技术行业上取得长足进展,此外把Viettel暂时在与国内各家电信公司之间的激烈竞争中跻身榜首。在竞争日益激烈的背景下,VNPT及Mobifone等两家电信公司正在努力加快5G技术开展进度。作为获许于今年4月测试5G技术的第二家电信集团, Mobifone公司正在抓紧同其伙伴合作,为测试活动做好技术方面的准备工作。Mobifone公司代表表示,该公司将在河内、海防、岘港及胡志明市等四大城市开展5G测试,通过高速数据应用程序向客户提供免费5G服务。

越南是世界上率先使用第五代移动通信技术的国家之一。

越南是世界上率先使用第五代移动通信技术的国家之一。

VNPT同时完成筹备工作,向通信传媒部申请测试5G技术。此前,VNPT公司代表同Nokia集团代表签署了合作协议,旨在携手建设应用于5G移动网络的技术和解决方案研究室。在获得通信传媒部颁发的许可证之后,双方就合作进行测试。

通过促进制造业、运输、农业、能源、卫生及教育等领域实施数字化等活动,作为连接活动的基础的5G技术将有助于增加工业4.0带来的利益。因此,早日把5G在越南正式商用,这意味着各家电信公司正为工业4.0时代中的革新创新活动奠定基础,为催生经济社会新发展热潮做出贡献。通信传媒部部长阮孟雄强调,从2G到5G,我们看清从欧洲转向亚洲的技术掌握潮浪。2G诞生初期,没有任何供应商来自亚洲。但目前,大多数5G服务供应商都来自中国、韩国、日本等国家。

越南军用电子电信集团安装5G测试基站。图自Vietnamplus
越南军用电子电信集团安装5G测试基站。图自Vietnamplus

正在深广融入国际社会的越南应力争不仅为人类技术的受益者,而要成为技术的创造者,为世界信息技术业的发展做出贡献。越南已经制造出4G设备,因此应把目标锁定在于今后制造出包括5G设备在内的所有电信设备。各家电信公司要意识到自己对国家的新使命,即为实施数字化与驱动“数字越南”等事业建设信息技术-电信基础设施。(完)