Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản

Di sản là báu vật mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước, là kết tinh lao động sáng tạo mà ông cha ta từ đời này qua đời khác đã dày công tạo dựng. 

Với sự phong phú và giàu bản sắc, di sản văn hóa đã góp phần quan trọng vào việc giáo dục lịch sử, vun đắp truyền thống tốt đẹp của dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới.

Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là sự nghiệp của quần chúng và cộng đồng.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững

Di sản là báu vật mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước, là kết tinh lao động sáng tạo mà ông cha ta từ đời này qua đời khác đã dày công tạo dựng.

Vì vậy, việc bảo tồn các di sản, di tích là việc làm quan trọng và vô cùng cần thiết trong công cuộc kiến thiết nước nhà. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, hệ thống pháp luật qua các thời kỳ đều đề cập đến yêu cầu bảo vệ, giữ gìn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, di sản văn hóa, nghệ thuật, danh lam thắng cảnh đất nước.

Ngày 23/11/1945, chỉ hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, dù còn bộn bề các công việc cấp bách cần giải quyết, nhưng với tầm nhìn minh triết của một vĩ nhân – danh nhân văn hóa kiệt suất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SLvề bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam. Sắc lệnh xác định việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam.

Nghi lễ Rước kiệu của các phường, thị trấn trong lễ hội đền Hùng. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Nghi lễ Rước kiệu của các phường, thị trấn trong lễ hội đền Hùng. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)

Điều 4 của Sắc lệnh nêu rõ: Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu, hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử.

Với ý nghĩa lịch sử to lớn của Sắc lệnh này, ngày 24/2/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23/11 hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hóa, động viên và thu hút mọi tầng lớp xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Trước đó, năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) cũng đã đề ra nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Năm 2001, Luật Di sản văn hóa ra đời và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 – điều chỉnh cả di sản văn hóa vật thể và di sản văn hoá phi vật thể. Ngày 21/9/2017, Chính phủ ban hành Nghi định số 109/2017/NĐ-CP Quy định về bảo vệ và quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới có ý nghĩa đối với cộng đồng xã hội và quốc tế…

Ngày 24/2/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/QĐ-TTg lấy ngày 23/11 hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam nhằm phát huy truyền thống và ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực di sản văn hóa.

Đặc biệt, để ghi nhận những đóng góp xuất sắc của các nghệ nhân trong việc truyền dạy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014 Quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân,” “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể.

Cùng với xây dựng hành lang pháp lý, trong giai đoạn 2011-2018, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa và Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa, Chính phủ đã hỗ trợ trực tiếp trên 1.560 tỷ đồng cho các địa phương trên cả nước để chống xuống cấp và tu bổ di tích.

Công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích đã đạt được những hiệu quả tích cực, đã huy động được nguồn vốn không nhỏ từ các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp, cộng đồng và nguồn vốn viện trợ của UNESCO, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ cho bảo vệ, tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích. Theo số liệu thống kê từ các địa phương, giai đoạn từ năm 2011-2018, nguồn xã hội hóa cho tu bổ, tôn tạo di tích lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Các liền chị say sưa biểu diễn trống quân Bùi Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh: Diệp Trương/TTXVN)
Các liền chị say sưa biểu diễn trống quân Bùi Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh: Diệp Trương/TTXVN)

Bên cạnh việc bảo vệ, tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích, trong thời gian qua, các di sản văn hóa phi vật thể cũng được sưu tầm nghiên cứu, phục dựng, trao truyền và tổ chức trình diễn, trực tiếp nâng cao đời sống văn hóa ở cơ sở và phát triển kinh tế-xã hội cộng đồng cư dân tại địa phương. Ngoài ra, năm 2015, Chủ tịch nước đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú cho 600 cá nhân và truy tặng 17 cá nhân, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn bền vững các di sản văn hóa phi vật thể của đất nước…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã làm được,công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc vẫn còn những hạn chế, như việc triển khai quy hoạch di tích ở nhiều địa phương chưa kịp thời; công tác bảo vệ di sản nhiều nơi còn chưa tốt, nhiều di sản còn bị xâm hại. Việc tu bổ, tôn tạo, nâng cấp nhiều di sản theo kiểu “hiện đại hóa,” “hào nhoáng” đã làm mất đi nét chân thực, tính độc đáo vốn có của di sản.

Bên cạnh những kết quả đã làm được,công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc vẫn còn những hạn chế, như việc triển khai quy hoạch di tích ở nhiều địa phương chưa kịp thời; công tác bảo vệ di sản nhiều nơi còn chưa tốt, nhiều di sản còn bị xâm hại.

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ nghệ nhân triển khai còn chậm; chưa quan tâm đúng mức nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật, chưa có giải pháp toàn diện phát huy giá trị di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

Thực tế trên đòi hỏi phải có những giải pháp hiệu quả hơn nữa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Đây không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là sự nghiệp của quần chúng và cộng đồng. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò tạo ra khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách; còn nhân dân đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ, gìn giữ, lưu truyền và phát huy giá trị di sản.

Kết tinh trí tuệ, tình cảm, truyền thống của dân tộc

Di sản văn hóa Việt Nam là kết tinh trí tuệ, tình cảm, truyền thống của dân tộc qua các thế hệ. Mặc dù phải trải qua biết bao biến cố của lịch sử, bị mất mát, hủy hoại bởi chiến tranh và điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng kho tàng di sản văn hóa của dân tộc ta vẫn vô cùng phong phú và đa dạng.

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hiện nay, cả nước có khoảng 40.000 di tích được kiểm kê. Trong đó, hiện đã có gần 10.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, thành phố; 3.463 di tích cấp quốc gia; 95 di tích quốc gia đặc biệt. UNESCO đã ghi danh 8 di sản của Việt Nam vào Danh mục Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

Các bản khắc tư liệu Mộc bản triều Nguyễn tại chùa Bổ Đà (Bắc Giang). (Nguồn: TTXVN)
Các bản khắc tư liệu Mộc bản triều Nguyễn tại chùa Bổ Đà (Bắc Giang). (Nguồn: TTXVN)

Ngoài ra, theo Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO, Việt Nam đã có 7 Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, trong đó có 3 Di sản tư liệu thế giới và 4 Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Từ năm 2012 đến nay, qua 6 đợt xét chọn, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định công nhận 142 bảo vật quốc gia…

Cùng với hệ thống di tích, hệ thống bảo tàng ở Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể trên nhiều mặt. Hệ thống bảo tàng đã được phát triển từ một vài bảo tàng xây dựng từ thời Pháp thuộc thành một hệ thống gồm 161 bảo tàng (với 125 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập).

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, các bảo tàng đã sưu tầm, lưu giữ, từng bước phát huy giá trị được hơn 3 triệu tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập hiện vật quý hiếm và 142 bảo vật quốc gia có giá trị cao đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận, góp phần quan trọng giới thiệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam tới đông đảo công chúng.

Việt Nam đã có 7 Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, trong đó có 3 Di sản tư liệu thế giới và 4 Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Những năm qua, các di sản văn hóa được nhận diện giá trị, bảo tồn và phát huy, đã góp phần quan trọng vào việc giáo dục lịch sử, vun đắp truyền thống tốt đẹp của dân tộc; góp phần xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia, truyền bá các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ quan trọng của di sản văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua hoạt động du lịch, giao lưu văn hóa và hợp tác phát triển kinh tế-xã hội bền vững.

Di sản văn hóa ở Việt Nam đã và đang thể hiện ngày càng rõ hơn vai trò quan trọng trong việc giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, hình thành nên nguồn nhân lực đóng góp trực tiếp, quyết định vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Du khách trải nghiệm làm hương tại làng nghề Thủy Xuân, Huế. (Ảnh: Nhật Anh/TTXVN)
Du khách trải nghiệm làm hương tại làng nghề Thủy Xuân, Huế. (Ảnh: Nhật Anh/TTXVN)

Trên phương diện kinh tế-xã hội, nhiều di sản văn hóa đã trở thành những sản phẩm văn hóa-du lịch hoàn chỉnh, vừa là động lực vừa là mục tiêu cho sự phát triển ngành kinh tế mũi nhọn du lịch, đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương nơi có di sản, mang tới cho cộng đồng và địa phương những lợi ích thiết thực và bền vững.

Nhiều di sản văn hóa đã trở thành những sản phẩm văn hóa-du lịch hoàn chỉnh, vừa là động lực vừa là mục tiêu cho sự phát triển ngành kinh tế mũi nhọn du lịch

Theo thống kê, khách du lịch trong nước và quốc tế tới tham quan các khu di sản ở Việt Nam tăng mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt là các khu di sản như vịnh Hạ Long, quần thể di tích Cố đô Huế, quần thể danh thắng Tràng An, phố cổ Hội An, chùa Hương, Văn Miếu-Quốc Tử Giám, khu di tích và danh thắng Yên Tử, khu di tích và danh thắng Núi Sam, Địa đạo Củ Chi…

Nhiều di sản văn hóa phi vật thể đã trở thành những điểm nhấn thu hút du khách, tạo nên thương hiệu riêng của các địa phương có di sản…/.

Thương hiệu xe hơi Việt đầu tiên:

Mới đây chiếc xe hơi mang thương hiệu Việt Nam đầu tiên, VinFast, đã thu hút sự chú ý của công chúng tại triển lãm Paris Motor năm 2018.

Nhân dịp này, trang tin NHK World-Japan đã có bài viết nhận định về thương hiệu ôtô “Make in Vietnam” với tiêu đề: “Fast and serious: Vietnam’s first national car brand” (Thương hiệu ôtô quốc gia đầu tiên của Việt Nam: Nhanh chóng và Nghiêm túc).

Theo NHK, chiếc ôtô của VinFast thu hút sự quan tâm tại Paris Motor không chỉ ở thiết kế bắt mắt mà nó còn gây ngạc nhiên với nhiều người về một nhà sản xuất ôtô mới đến từ một quốc gia đang phát triển, cố gắng vươn mình ra thế giới trong lúc ngành công nghiệp ôtô toàn cầu có sự thay đổi căn bản và cạnh tranh khốc liệt.

Thành lập thương hiệu

Bài viết của NHK đã mô tả về quá trình hình thành thương hiệu ôtô VinFast thuộc tập đoàn Vingroup.

Chiếc ôtô của VinFast thu hút sự quan tâm tại Paris Motor không chỉ ở thiết kế bắt mắt mà nó còn gây ngạc nhiên với nhiều người về một nhà sản xuất ôtô mới đến từ một quốc gia đang phát triển, cố gắng vươn mình ra thế giới. 

“Vào tháng 6, những người mua háo hức tại Hà Nội đã được nhận những chiếc xe đầu tiên được sản xuất bởi thương hiệu ôtô Việt, VinFast. Vào cuối tuần, công ty này cung cấp cho mọi người cơ hội lái thử một chiếc xe mang nhãn hiệu đầu tiên được phát triển và lắp ráp ngay tại quê hương.

VinFast đã hoàn thành một nhà máy vào năm 2017 tại thành phố cảng Hải Phòng, cách Hà Nội khoảng hai giờ lái xe, chỉ một năm rưỡi sau khi công ty này được thành lập bởi Vingroup, một trong những tập đoàn lớn nhất của Việt Nam.

Các hệ thống sản xuất của nhà máy được điều khiển bởi trí tuệ nhân tạo và công ty hy vọng cơ sở này sẽ sản xuất 250.000 xe mỗi năm.”

Dây chuyền công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới kiểm tra chất lượng ôtô trước khi xuất xưởng. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
Dây chuyền công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới kiểm tra chất lượng ôtô trước khi xuất xưởng. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Ông Võ Quang Huệ – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Vingroup và cũng phụ trách VinFast, cho biết công ty đang hình thành nền tảng cho một ngành công nghiệp ôtô tại Việt Nam và mục tiêu là xuất khẩu thương hiệu này ra thế giới.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tham dự lễ khai trương nhà máy của VinFast và ca ngợi đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chuyên gia của công ty là những người yêu nước. Chính phủ hy vọng một ngành công nghiệp ôtô tích hợp sẽ tạo ra một số lượng lớn việc làm và thiết lập một chuỗi cung ứng mang lại nhiều kỹ năng tiên tiến hơn cho người lao động.

VinFast đang hình thành nền tảng cho một ngành công nghiệp ôtô tại Việt Nam và mục tiêu là xuất khẩu thương hiệu này ra thế giới.

Với quy mô công suất của VinFast đạt đến 500.000 chiếc/năm bao gồm ôtô, xe máy điện, Thủ tướng phân tích, giả sử sản lượng tiêu thụ đạt được công suất này thì doanh thu của VinGroup sẽ tăng thêm cả trăm ngàn tỷ đồng. Chính vì vậy, sự thành công của Vinfast có ý nghĩa đặc biệt không chỉ đối với VinGroup, mà cả đối với kinh tế Việt Nam và ngành công nghiệp ôtô, xe máy Việt Nam.

Trên tinh thần đó, Thủ tướng lưu ý VinFast, VinGroup cần ý thức hơn nữa về trách nhiệm lớn lao của mình, có những chiến thuật hợp lý, thận trọng, kiểm soát hiệu quả các rủi ro kinh doanh. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển của VinFast mà cả với nền kinh tế Việt Nam.

Hỗ trợ chuỗi cung ứng địa phương

Theo NHK, VinFast đã đầu tư rất nhiều vào các đối tác địa phương. Công ty đã hợp tác với An Phát, một nhà sản xuất sản phẩm nhựa, để thành lập một công ty chung – Công ty trách nhiệm hữu hạn linh kiện nhựa ôtô VinFast-An Phát, sản xuất vỏ pin và các bộ phận nhựa khác cho xe hơi.

Nhà sản xuất ôtô Việt đã hợp tác với Bộ Công nghiệp-Thương mại Đức thành lập một trường đào tạo tại Việt Nam. Hai trăm thực tập sinh đang theo học để trở thành kỹ sư cơ khí và cơ điện tử với sự hướng dẫn từ các chuyên gia hàng đầu trong ngành công nghiệp ôtô.

Lắp ráp nội thất cho ôtô, là một trong những công đoạn kết hợp giữa sức người và máy móc hiện đại. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
Lắp ráp nội thất cho ôtô, là một trong những công đoạn kết hợp giữa sức người và máy móc hiện đại. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

“Do Tu Hai, một thực tập sinh 19 tuổi, đã phải trải qua một kỳ thi khó khăn để được vào trường. Cậu ấy đến từ một thị trấn nhỏ gần Hải Phòng. Hai nhận được tiền lương hàng tháng trong quá trình đào tạo và được đảm bảo một công việc tại nhà máy VinFast hoặc các nhà máy khác sau khi tốt nghiệp.” – bài viết của NHK viết về một thực tập sinh của VinFast.

Con đường dài phía trước

VinFast đang đi đúng hướng trên con đường trở thành một thương hiệu ôtô Việt đủ sức cạnh tranh quốc tế , tuy nhiên, theo NHK, “việc tạo ra một chiếc xe thương hiệu quốc gia đi kèm với một số thách thức lớn. Việt Nam còn một chặng đường dài để thiết lập một hệ thống cung ứng phụ tùng.”

Hiện số lượng kỹ sư cao cấp người Việt làm việc tại nhà máy của VinFast vẫn còn hạn chế. Công ty đã tuyển dụng nhân viên từ 22 quốc gia trên toàn thế giới.

Việc tạo ra một chiếc xe thương hiệu quốc gia đi kèm với một số thách thức lớn. Việt Nam còn một chặng đường dài để thiết lập một hệ thống cung ứng phụ tùng.

Kazuo Ishikawa, một chuyên gia trong ngành và giáo sư tại Đại học Senshu, nói với NHK rằng có rất ít động lực để xây dựng một ngành công nghiệp xe hơi tại Việt Nam bởi đã có những công ty ở Thái Lan, Indonesia và Malaysia, trong khi thuế quan với ôtô ở thị trường ASEAN hiện bằng 0.

Nhìn xa hơn

Nhưng Vingroup lại nghĩ khác. Công ty này cho rằng các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia ngoài ASEAN là một động lực cho các nhà sản xuất ôtô toàn cầu. Theo các thỏa thuận như vậy, các công ty sẽ có thể sản xuất ôtô tại Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài với mức thuế thấp hơn.

Ôtô Vinfast chuẩn bị tung ra thị trường. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
Ôtô Vinfast chuẩn bị tung ra thị trường. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Hoạt động kinh doanh của VinFast đang ở vạch xuất phát, trong thời điểm số người tại Việt Nam có thể mua xe đang tăng tốc nhanh chóng. Nhưng vẫn còn phải xem có bao nhiêu người mua có cơ hội sở hữu một chiếc ôtô thương hiệu Việt Nam.

VinFast cũng đang tìm kiếm các cơ hội kinh doanh ngoài ngành công nghiệp xe hơi.

Theo công ty này, các công nghệ được phát triển trong nhà máy ôtô có thể được áp dụng cho lĩnh vực y tế và các lĩnh vực khác. Công ty cũng cho biết lĩnh vực cạnh tranh chính của hãng này sẽ là trong thị trường xe điện. Chiếc xe điện đầu tiên của VinFast sẽ lăn bánh trên đường vào năm 2020.

Với 21 tháng xây dựng và hoàn thiện, Nhà máy ôtô VinFast đã đạt kỷ lục thế giới về tiến độ đồng thời đưa công nghiệp ôtô Việt tiến lên bước mới: tự chủ sản xuất và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu dưới thương hiệu Việt – VinFast.Nhà máy sản xuất ôtô VinFast là hạng mục quan trọng nhất của Tổ hợp sản xuất ôtô và xe máy điện VinFast, được khởi công vào ngày 2/9/2017.Được xây dựng trên diện tích hơn 500.000m2 trong tổng số 335ha của toàn tổ hợp, đáp ứng xu thế công nghệ 4.0, Nhà máy sản xuất ôtô VinFast đạt quy mô và độ hiện đại hàng đầu thế giới.Công suất thiết kế giai đoạn 1 là 250.000 xe/năm, giai đoạn 2 là 500.000 xe/năm, tốc độ sản xuất 38 xe/giờ.VinFast cũng là nhà máy ôtô đầu tiên tại Việt Nam sở hữu chu trình sản xuất hoàn thiện, đồng bộ và tự động hóa cao hàng đầu quốc tế với 6 nhà xưởng gồm: xưởng dập, xưởng hàn thân vỏ, xưởng sơn, xưởng động cơ, xưởng phụ trợ và xưởng lắp ráp.

Vietnam takes actions to raise awareness towards no plastic waste

Vietnam has joined global and regional cooperative mechanisms to battle plastic waste – a big headache for the whole world. However, every effort must begin with raising public awareness of plastic footprint. Young generation should be in shape to combat plastic waste As plastic items can take hundreds or even thousands of years to decompose in landfills, it is a must now to shape up the habit “saying no to plastic waste” for all people, particularly the youths. Therefore, the education sector should be the first to impart the idea to young people. Recently, Nguyet Linh, a 5th-grade student at Marie Curie primary school in Hanoi, sent a letter via email to the principals of 40 primary and secondary schools in Hanoi, asking them to consider the environmental impacts of releasing balloons into the sky on the occasion of new school year. Her small idea actually has great significance.

“Saying no to plastic waste campaign should get cracking from the education sector”

Stopping the tradition of releasing balloons into the sky on the opening day of the school year may be giving up a joyful ritual for young students, but it opens the door for a larger dream to protect the life of all creatures on the planet in the face of the urgent issue of plastic pollution.

Balloons are a serious threat to wildlife simply because they are colouful and bright, so wildlife might mistake them for food, and the strings can wrap around their bodies and make it difficult for them to swim or breathe.

Although Nguyet Linh’s initiative is a small actior, it can count big in the fight against waste pollution (Photo: VNA)
Although Nguyet Linh’s initiative is a small actior, it can count big in the fight against waste pollution (Photo: VNA)

Vietnam had more than 23 million students during the 2018-2019 academic year, with primary students accounting for 8.3 million. The number of students is believed to increase in the 2019-2020 school year.

The amount of plastic garbage will be reduced significantly if schools make change in their regulations on schoolbook wrapping and school supplies.

As requested by parents, several schools have decided that using plastic covers for notebooks and books are not compulsory. However, many schools are reluctant to change their mind.

Nguyen Hoang Hoa, a parent in Thanh Xuan district, said: “Instead of covering books with plastic films or using plastic book baskets to make the classroom look neat and tidy, we should teach our kids how to keep the class clean. Although the plastic items are durable, they will be discharged into the environment sooner or later.”

Worrying that “the earth is becoming a plastic planet”, Hoa called other parents to join hands to raise their voice against use of plastic items at schools, as a measure to reduce plastic waste generation.

The amount of plastic garbage will be reduced significantly if schools make change in their regulations on schoolbook wrapping and school supplies.

Ha Thi Toan, a teacher in Cau Giay district, shared the same viewpoint, saying besides a waste of money, book covers are contributing to kill the environment. As the new school year is near, the education sector should add more environmental protection rules, and organise activities to promote the “saying no to plastic waste” at all schools. Plastic limiting movement must be expanded Plastic items are generally cheap and convenient; however, they have created critical impacts on human health and the environment. According to the Ministry of Natural Resources and Environment, Vietnam discards around 2 million tonnes of plastic waste into the environment each year. In June 2019, Prime Minister Nguyen Xuan Phuc launched a national campaign on plastic waste prevention, particularly single use goods. He emphasised the need to take practical and concrete measures to control and reduce plastic waste.

As many as 13 million tonnes of plastic trash are discharged into oceans each year, which has left negative impacts on the living environment, people’s health and sustainable development of each nation, said PM Phuc. Therefore, he asked competent ministries, agencies, sectors and localities to outline programmes and plans on phasing out the use of plastic products and work to realise the target of not using single-use plastic products in urban markets, convenience stores and supermarkets by 2021, and nationwide by 2025. The Government leader particularly mentioned the role of the press in raising public awareness of the issue, saying the communication work should focus on typical programmes and models that contribute to plastic waste reduction such as Green Sunday project in Thua Thien-Hue, “Say no to plastic waste in Hoi An-Cu Lao Cham”, and using natural wrapping in several supermarkets, among others.

Prime Minister Nguyen Xuan Phuc and participants join a walking event to call for the community to act against plastic waste (Photo: VNA)
Prime Minister Nguyen Xuan Phuc and participants join a walking event to call for the community to act against plastic waste (Photo: VNA)

In response to the Government leader’s call, the Ministry of Natural Resources and Environment use stainless steel water bottles instead of plastic ones at its conferences. Besides, a campaign called “Act to reduce plastic waste pollution” was launched, urging each staff to mobilise their family members to say no to plastic products.

Meanwhile, the Ministry of Health, in collaboration with the United Nations Development Programme (UNDP), organised a national teleconference on August 16 on the deployment of measures to minimise the use of plastic waste in the health sector. Minister of Health Nguyen Thi Kim Tien asked health facilities nationwide to work to raise awareness and change the habit of using plastic bags and disposable plastic products by health workers, patients and their caretakers. Furthermore, the facilities are required to design goals, plans and roadmaps for the reduction of plastic waste, and practice the sorting of plastic waste for disposal and recycling. They are also advised to conduct research and apply measures to minimise plastic waste in the health sector and arrange forces to implement the plans.

According to the Ministry of Natural Resources and Environment, Vietnam discharges around 2 million tonnes of plastic waste into the environment each year.

Many supermarket chains in Vietnam such as Coop.mart and Big C are moving to go green by replacing plastic packaging with natural materials such as banana leaves in an effort to reduce plastic waste. Nine major multinationals and local giants have joined hands to create a Packaging Recycling Alliance (PRO), aiming at 100 percent recycling of packaging materials by 2030. The non-profit voluntary organization also aims to boost the recycling infrastructure in the country, according to an agreement signed in June. The founding members of PRO Vietnam are TH Group which runs the popular TH True Milk brand, Coca-Cola Vietnam, Friesland Campina Vietnam, La Vie, Nestle, Nutifood, Suntory PepsiCo Vietnam, Tetra Pak and Universal Robina Corporation. Thirty more corporates are expected to join recycling programmes by the end of 2019. The alliance will promote the collection and recycling of packaging among members by increasing recycling rates and minimising the amount of used packaging dumped into the environment.

In addition, several Vietnamese airlines such as Vietjet and Bamboo have already outlined plans to use environmentally-friendly products on their flights.

Co.opmart supermarket chain has encouraged its customers to use fabric bags instead of plastic ones since 2011 (Photo: VNA)
Co.opmart supermarket chain has encouraged its customers to use fabric bags instead of plastic ones since 2011 (Photo: VNA)

Furthermore, a wide range of campaigns have been organised nationwide to protect the environment. Some examples are “Green Sunday” and “Saying no to plastic bag and single-used plastic products” campaigns in the central province of Thua Thien Hue. Many organisations and private companies nationwide encourage people to exchange plastic bottle for trees, or some coffee shops stop serving customers with plastic straws, among others.

More legal frameworks needed

Currently, there is neither regulation detailing the management, collection and treatment of plastic waste, nor specific policies to encourage local firms to invest in technologies or move to produce compostable goods rather than plastic items.

In a bid to fight against plastic waste, priority should be given to reduce the production of plastic goods.

Many people believe that it is crucial to enhance communication work, encourage campaigns and good practices against plastic waste, promote initiatives to change consumers’ habit, and honour valuable models and initiatives.

Eco Refill shop in Hanoi sells eco-friendly products (Photo: VNA).
Eco Refill shop in Hanoi sells eco-friendly products (Photo: VNA).

The State should have suitable policies and strategies defining the production and use of compostable products, as well as support businesses to join trade promotion event to popularise their environmentally-friendly products, and control waste, among others.

The State should have suitable policies and strategies defining the production and use of compostable products, as well as support businesses to join trade promotion event to popularise their environmentally-friendly products, and control waste, among others. Competent authorities must impose stiffer penalties for any one illegally discharging waste into the environment. Particularly, corporate’s responsibility for recycling and treating waste from their products must be legalised.

Changing the habit of using plastic products and single-use items will help build a green Vietnam and green Earth./.

Человек, положивший начало вьетнамской шелковой росписи 

Нгуен Фан Тьань – талантливый художник, скончавшийся 35 лет назад, 21 ноября 1984 года. Он также был первым, кто создал основу вьетнамской живописи за рубежом. Сам он построил фундамент и оставил прочную основу для формирования и развития современной вьетнамской шелковой росписи.

Нгуен Фан Тьань – человек, положивший начало вьетнамской шелковой росписи

21 ноября исполняется 35 лет со дня смерти Нгуен Фан Тьань, талантливого вьетнамского художника, создателя оригинальной и современной техники живописи на шелке.

Нгуен Фан Тьань заложил основы школы вьетнамской живописи и оказал огромное влияние на формирование и развитие современной вьетнамской росписи по шелку как вида национального искусства. Благодаря этому художнику, вьетнамские картины на шелке обрели широкую известность не только на его родине, но и за рубежом. Даже сейчас, произведения Нгуен Фан Тьань по-прежнему популярны и востребованы на престижных международных выставках.

Нгуен Фан Тьань – художник, создавший технику вьетнамской живописи на шелке, насыщенную своеобразным сельским колоритом

Художник Нгуен Фан Тьань родился 21 июля 1892 года в бедной конфуцианской семье в деревне Тяньбат в провинции Хатинь.

С самого раннего возраста Нгуен Фан Тьань изучал китайский язык и каллиграфию. Он был одаренным ребенком и учился у хорошего местного учителя-художника. Мальчик Нгуен Фан Тьань рисовал картины по сюжетам китайских историй или народных картин и продавал их на сельском рынке, помогая своей матери воспитывать детей.

Жизнь в бедной деревне и трудности, перенесенные в детстве, не заставили Нгуен Фан Тьань отказаться от мечты, а наоборот, сформировали в его сознании творческое видение, которое впоследствии он запечатлел во всех своих произведениях.

В 1922 году он приехал в Хюэ учиться и работать. Поэтический Хюэ постепенно раскрывал душу молодого художника и давал ему вдохновение. Позже Нгуен Фан Тьань решил поступить в Колледж изобразительных искусств Индокитая – теперь это Вьетнамский университет изобразительных искусств. В 1925 году Нгуен Фан Тьань стал единственным из более чем 100 кандидатов из центральной части Вьетнама, сдавшим государственный экзамен и поступившим в университет. Молодой художник около трех лет изучал техники масляной живописи в университете, а уже на четвертом курсе попробовал рисовать акварелью на шелке. В это же время Индокитайское почтовое отделение объявило конкурс на создание эскизов почтовой марки на тему “Рисовые поля”. Нгуен Фан Тьань принял участие в конкурсе и выиграл приз.

“Шествие”, шелк.
“Шествие”, шелк.

Критики французской живописи восторженно писали: “Произведения Нгуен Фан Тьань основаны на тонком наблюдении сцен повседневной жизни людей и в его творчестве они имеют уникальную ценность”.   

В 1931 году французский художник и основатель школы изящных искусств Индокитая Виктор Тардье привез на выставку первые четыре картины Нгуен Фан Тьань на шелке: “Игра О Ан Куан”, “Выход на поле”, “Девочка, моющая овощи” и “Ребенок, кормящий птиц”. Талант художника и его произведения сразу же поразили всех искусствоведов Европы. Так впервые европейцы узнали о вьетнамской живописи на шелке. Критики французской живописи восторженно писали: “Произведения Нгуен Фан Тьань основаны на тонком наблюдении сцен повседневной жизни людей и в его творчестве они имеют уникальную ценность”.

Благодаря Нгуен Фан Тьань изменился стигматизированный взгляд французов на изобразительное искусство Вьетнама. Своими картинами Нгуен Фан Тьань занял место одного из самых успешных художников по шелковой росписи Вьетнама.

“Продавец риса”, шелк.
“Продавец риса”, шелк.

Критики французской живописи восторженно писали: “Произведения Нгуен Фан Тьань основаны на тонком наблюдении сцен повседневной жизни людей и в его творчестве они имеют уникальную ценность”.

Эти картины были признаны шедеврами живописи XX века. Произведения Нгуен Фан Тьань служат прекрасным примером жанра картин на шелке.

В статье, опубликованной в журнале L’Illustration (27 июня 1931 г.), художник Жан Галлотти написал: “гармония композиции, иногда очарование лиц – это всегда отличительная черта Дальнего Востока…”

“Сельская продавшица”, написанная художником в честь своей жены.
“Сельская продавшица”, написанная художником в честь своей жены.

Действительно, шедевр “Игра О Ан Куан” с размерами 63×85 см, поражает своим прохладным, гладким материалом, элегантностью и гармонией цветов.

Нгуен Фан Тьань – художник, который соединил западное изобразительное искусство с восточной росписью по шелку

Люди знали о картинах на шелке из китайской и японской живописи задолго до Нгуен Фан Тьань. Такие картины считались предметами роскоши и демонстрировали богатство их владельцев.

Только благодаря Нгуен Фан Тьань искусство росписи по шелку получило новый облик и стало более доступно. Он создал совершенно новый вид искусства на шелковом материале. Таким образом, шелковая роспись и картины на шелке стали отличительной чертой изобразительного искусства   Вьетнама и творчества самого Нгуен Фан Тьань.

Нгуен Фан Тьань - человек, положивший начало вьетнамской шелковой росписи
Нгуен Фан Тьань – человек, положивший начало вьетнамской шелковой росписи

Он считается тем, кто объединил западное изобразительное искусство с восточной живописью на шелке. В его картинах есть черты европейского изобразительного искусства, но в основном там присутствуют характерные черты восточной живописи.

Картины Нгуен Фан Тьань завораживают своей полнотой и достоверностью сюжетов, он уделял большое внимание тому, чтобы смягчить очертания фигур на плоском фоне и создать высокий уровень обобщения

Художник рисовал мужчин, женщин и детей, которые собирали дрова, ловили крабов, мыли рис и овощи, кормили птиц, пахали, сажали, занимались сельским хозяйством, играли в o an quan… он рисовал разных персонажей и героями его картин были простые крестьяне.

Нгуен Фан Тьань любил цвета вьетнамской деревни, в том числе коричневый, черный, белый как цвет куриного яйца, серый, красный…, и он очень умно изменил цвета так, чтобы они казались движущимися между объектами и фоном, разделенными тонкими и мягкими мазками.

С середины 1950-х по 1970-е годы Нгуен Фан Тьань непрерывно рисовал и количество его картин резко увеличилось. В его картинах появилось больше персонажей, цвета стали ярче, появились ярко-зеленый, синий и пурпурный цвета.

Крестьянине в его картинах изображаются по-новому, с новым мировоззрением и яркими идеалами, построенными на принципах социалистического реализма. Его более поздние работы, такие как “Яркий лунный свет”, “Слабый лунный свет”, “Возвращение с работы вечером на умывание детей”, “После службы”, “Чаша воды на перемене”, “Плетение бамбуковой корзины” и “Ужин после победы”, весьма привлекательны по содержанию и оформлению.

Нгуен Фан Тьань с его шедевр “О Ан Куан”.
Нгуен Фан Тьань с его шедевр “О Ан Куан”.

С 1973 года Нгуен Фан Тьань сосредоточился на своих шедеврах: “Моющаяся Тьен Зунг”, “Тьен Зунг и Чы Донг Ты” и т.п. Это шикарные картины на шелке, демонстрирующие физическую красоту женщины с ее теплотой души и общительностью.

Образ девственной Тьен Зунг на его картинах изображен в знакомых коричневых тонах. Благодаря серии картин жены Тьен Зунг, творчество Нгуен Фан Тьань стало гордостью вьетнамского искусства.

Нгуен Фан Тьань – художник-поэт

Нгуен Фан Тьань – не только художник, но и поэт, и каллиграфист, обучающийся с детства. Это достаточно легко объяснить, так как во всех картинах Нгуен Фан Тьань в углу есть красивые надписи в стиле Тхао.

Поэзия, живопись и каллиграфия у него присутствуют всегда, дополняя друг друга в каждой его картине. В картинах Нгуен Фан Тьань картинка описывает сюжет, а стихи повествуют о самом авторе. Иногда стихи на картинах Нгуен Фан Тьань имеют собственную ценность, даже если они не связаны с содержанием самих картин.

“Ребенок, кормящий птиц”. 
“Ребенок, кормящий птиц”. 

Поэзия, живопись и каллиграфия у него присутствуют всегда, дополняя друг друга в каждой его картине. В картинах Нгуен Фан Тьань картинка описывает сюжет, а стихи повествуют о самом авторе. Иногда стихи на картинах Нгуен Фан Тьань имеют собственную ценность, даже если они не связаны с содержанием самих картин.

Это также является одной из причин того, что в настоящее время, когда появляются много поддельных картин, то среди очень известных и популярных картин Нгуен Фан Тьань, все еще очень мало подделок. Все дело в том, что авторам фальшивок очень трудно подражать этому художнику. Исходя из этого, его считают совершенно особенным феноменом современной вьетнамской живописи. Всеобщее признание Нгуен Фан Тьань заслужил с приглашением преподавать живопись в художественной школе Быой и Ханойском университете изящных искусств, и тем самым он внес неоценимый вклад в подготовку многих поколений вьетнамских художников.

Талантливый художник Нгуен Фан Тьань умер 35 лет назад, 22 ноября 1984 года.

За всю свою жизнь художник Нгуен Фан Тьань создал огромное количество шедевров с предполагаемым количеством работ более 170. Он уверенно держит рекорд по количеству картин, выставленных в Музее изобразительных искусств Вьетнама.

По мнению писателя Фан Кам Тхыонг, среди вьетнамских художников первого поколения, Нгуен Фан Тьань – единственный человек, который профессионально занимался росписью по шелку и имел свой неповторимый стиль.

За большой и новаторский вклад в историю вьетнамского искусства, в 1996 году он был удостоен премии Хо Ши Мина в области литературы и искусства./.

Bộ trưởng Y tế

“Ngành y tế có giai đoạn tôi cảm giác như một mớ bòng bong. Đó là việc như thiết lập đường dây nóng, thay đổi giá dịch vụ y tế, tự chủ bệnh viện đến vạch chỉ kẻ dẫn bệnh nhân hay việc kỷ luật cán bộ, loa gọi người bệnh…

Nhiệm vụ nhiều, mong muốn cao, thời gian ngắn, nguồn lực có hạn, sức con người hạn chế là vấn đề tôi luôn lo lắng…”

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trải lòng về những tâm tư mà bà trăn trở trong 8 năm nắm giữ cương vị tư lệnh ngành.

Đụng chạm nhiều vấn đề “nóng”

Ngành y tế vốn được coi là lĩnh vực “nóng,” bởi nó tác động trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của mọi người dân. Vì vậy, ngay từ khi nhận nhiệm vụ, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhận được nhiều lời phàn nàn nhất về chất lượng dịch vụ mà đáng chú ý là tình trạng bệnh viện quá tải, chất lượng khám chữa bệnh chưa tốt, cơ sở hạ tầng xuống cấp…

Nhiều người sẽ biết tới nữ bộ trưởng duy nhất trong Chính phủ qua những phát ngôn “ấn tượng,” song có thể ít biết bà là một trong những tư lệnh ngành chăm đi thị sát thực tế, từ những điểm nóng quá tải bệnh viện tại các thành phố hay những vùng xa xôi hẻo lánh.

Trong chuyến đi kiểm tra đột xuất tại nhiều bệnh viện, chứng kiến cảnh tượng bệnh nhân giữa thủ đô đi khám bệnh không có quạt, điều hòa trong tiết trời 36, 37 độ C dưới mái tôn nắng nóng, bà Tiến đã phải thốt lên: “Người bệnh khi đi khám bệnh đã bệnh, thêm nắng nóng không quạt điều hòa thì càng mệt hơn. Vì vậy, các bệnh viện phải bố trí thêm quạt, điều hòa ở các khu vực ngồi chờ cho bệnh nhân.”

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trải nghiệm xếp số, làm thủ tục khi khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trải nghiệm xếp số, làm thủ tục khi khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cũng thẳng thắn, quyết liệt phê phán: “Hiện nay bộ mặt khoa khám bệnh của một vài bệnh viện Trung ương hay một số bệnh viện tỉnh trông không bằng bệnh viện huyện. Có nhiều khoa khám bệnh hiện nay tồi tàn, để bệnh nhân phải chen chúc. Trong phòng bệnh nhìn thấy một hai người nằm ghép đã khổ rồi. Nhìn ra phòng khám bên ngoài thấy nhếch nhác, trên thì mái tôn, chen nhau chỗ vào, nóng bức chật chội chờ đến lượt. Những người già gặp cảnh ngộ trên rất tội nghiệp!”

Bà Tiến từng chia sẻ: “Bệnh nhân đông, việc lấy số cho các bệnh nhân gặp rất nhiều khó khăn. Có lần tôi đến một bệnh viện chứng kiến mọi người lấy số chờ khám tôi mới bất ngờ là có người được đánh số tới tận vài nghìn. Nếu thế bao giờ mới tới lượt khám? Đấy là bất cập. Chúng ta cần phải khắc phục ngay, không thể để tình trạng này kéo dài như thế được.”

“Có lần tôi đến một bệnh viện chứng kiến mọi người lấy số chờ khám tôi mới bất ngờ là có người được đánh số tới tận vài nghìn. Nếu thế bao giờ mới tới lượt khám? Đấy là bất cập. Chúng ta cần phải khắc phục ngay, không thể để tình trạng này kéo dài như thế được.”

Cũng có chuyến công tác lên các vùng cao như Chương trình khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho hơn 600 người dân tại huyện đặc biệt khó khăn của tình Điện Biên, đích thân Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã vượt quãng đường hơn 600 km đường núi lên Trung tâm y tế huyện Mường Nhé để chỉ đạo thực hiện. Bộ trưởng cũng yêu cầu công tác y tế tại địa phương cần tập trung thêm đơn vị hồi sức sơ sinh, tăng cường hoạt động cô đỡ thôn bản, thường xuyên cử bác sỹ về hỗ trợ tại các trạm y tế ở xa, công tác đảm bảo vệ sinh môi trường sống, phòng bệnh…

Chính những lần đi thực tế đó, với những gì chứng kiến và còn tồn tại ở các cơ sở y tế khiến bộ trưởng Tiến trăn trở phải có những hành động quyết liệt để tháo gỡ những nút thắt này.

Tư lệnh ngành y tế khảo sát sự hài lòng của người dân trong một lần đi thực tế cơ sở. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Tư lệnh ngành y tế khảo sát sự hài lòng của người dân trong một lần đi thực tế cơ sở. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Việc yêu cầu các bệnh viện phải đổi mới toàn diện bộ mặt bệnh viện đầu tiên là khoa khám bệnh, là thái độ phục vụ của đội ngũ y bác sỹ và nhân viên y tế để nâng cao chất lượng khám bệnh chính là xuất phát từ thực tế này.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh ở các khoa khám bệnh thì yêu cầu tất cả các bệnh viện phải có bảng niêm yết giá các dịch vụ y tế, công khai giá dịch vụ và thay đổi chất lượng để giảm tình trạng nằm ghép giường bệnh. Chính vì vậy, Bộ quyết tâm đổi mới tình trạng nhếch nhác ở các bệnh viện, nhất là tại các khoa khám bệnh để người dân giảm bớt sự chờ đợi và chen chúc.

Có thể nhắc đến phát ngôn rất “trực diện” của Bộ trưởng Y tế khi đó: “Nhà vệ sinh bẩn tức là giám đốc (bệnh viện) bẩn, trưởng khoa bẩn!”. Vì vậy, các giám đốc bệnh viện cần nhanh chóng có một sự thay đổi, để người dân không còn “hãi hùng” khi vào nhà vệ sinh bệnh viện.

Khu vực nhà vệ sinh phục vụ bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Nam Cu Ba Đồng Hới. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Khu vực nhà vệ sinh phục vụ bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Nam Cu Ba Đồng Hới. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

“Cái được nhất là thay đổi thái độ phục vụ bệnh nhân”

Được và chưa được thì cần phải có quá trình nhìn nhận và tổng kết, song có một thực tế là trong 8 năm bà Tiến giữ vai trò Bộ trưởng, ngành y tế đã có sự thay đổi đáng ghi nhận. Bộ mặt các bệnh viện được thay đổi với những biển báo chỉ dẫn khoa phòng, có đường dây nóng phản ánh thông tin, thái độ phục vụ của nhân viên y tế thay đổi, tỷ lệ bệnh nhân nằm ghép giảm.

Các lĩnh vực hoạt động của ngành y tế đều có sự đổi mới căn bản, nhất là về tổ chức hệ thống, tài chính y tế, khoa học công nghệ và thông tin y tế cũng như các lĩnh vực hoạt động chuyên môn, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển.

Chính vì vậy, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới đánh giá là điểm sáng về thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế.

Bộ mặt các bệnh viện được thay đổi với những biển báo chỉ dẫn khoa phòng, có đường dây nóng phản ánh thông tin, thái độ phục vụ của nhân viên y tế thay đổi, tỷ lệ bệnh nhân nằm ghép giảm.

Chia sẻ về điều hài lòng nhất trong thời gian là tư lệnh ngành y tế, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho hay sau gần 2 nhiệm kỳ giữ chức vụ Bộ trưởng điều bà cảm thấy “được” nhất đó là việc thay đổi thái độ phục vụ của cán bộ y tế đối với bệnh nhân. Ngày 4/6/2015, Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định số 2151/QĐ-BYT về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, phong cách phục vụ người bệnh của cán bộ y tế, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người bệnh.

Nhân viên y tế chăm sóc,khám tận tình cho bệnh nhân. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Nhân viên y tế chăm sóc,khám tận tình cho bệnh nhân. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Sau một thời gian triển khai, nhân viên y tế được học kỹ năng giao tiếp, ứng xử các tình huống khi tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đồng thời quán triệt tư tưởng, thay đổi từ thái độ “ban ơn” sang thái độ “khách hàng là thượng đế”, chào đón bệnh nhân bằng nụ cười, đến chào hỏi, về cảm ơn.

Bên cạnh đó, ngành y tế đã và đang triển khai hàng loạt hoạt động để đổi mới đào tạo và quản trị nhân lực bệnh viện, xây dựng bệnh viện xanh – sạch – đẹp, bộ mặt bệnh viện rõ ràng là có những thay đổi đáng kể.

Kết quả đánh giá cho thấy bảo hiểm y tế đã lo cho cả người nghèo, người khó khăn thể hiện chính sách mua 100% mệnh giá bảo hiểm y tế cho người nghèo và 70% cho người cận nghèo.

Kết quả đánh giá cho thấy bảo hiểm y tế đã lo cho cả người nghèo, người khó khăn thể hiện chính sách mua 100% mệnh giá bảo hiểm y tế cho người nghèo và 70% cho người cận nghèo.

Cũng trong thời gian bà Nguyễn Thị Kim Tiến đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Y tế đã trình Thủ tướng ký Đề án giảm tải bệnh viện vào năm 2013. Trong 5 năm qua, cả nước đã có 23 bệnh viện hạt nhân và và 138 bệnh viện vệ tinh (tuyến tỉnh, huyện). Đã có 2.000 kỹ thuật được chuyển giao cho bệnh viện vệ tinh tuyến dưới với 10 chuyên khoa (ung bướu, ngoại chấn thương, tim mạch, sản, nhi, nội tiết, thần kinh, huyết học lâm sàng, hồi sức cấp cứu, chống độc). Nhờ chuyển giao kỹ thuật thành công, 85% bệnh viện vệ tinh có xu hướng chuyển tuyến giảm. Nhiều chuyên khoa chỉ còn 1-2% chuyển tuyến.

Đổi mới hệ thống y tế cơ sở là một mục tiêu lớn ngành y tế đang triển khai. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Đổi mới hệ thống y tế cơ sở là một mục tiêu lớn ngành y tế đang triển khai. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

“Áy náy vì tạo áp lực cho anh em nhiều quá”

Khi được hỏi vì sao Bộ trưởng quyết tâm thực hiện những thay đổi trong công tác khám chữa bệnh? Bộ trưởng Tiến tâm sự: “Bất kỳ một công việc nào khi bắt đầu thay đổi cũng gặp nhiều chướng ngại, vất vả. Tuy nhiên, khi mình muốn có động lực làm việc thì phải đặt mình vào vị trí của người đó, mình mới thấy thấu khổ của dịch vụ mình chưa đạt được, để người bệnh bớt khổ. Tôi cũng xác định, nếu mình quyết tâm thì mình phải cố gắng.”

“Tôi nghĩ điều để lại nhất mình phải làm được cái gì, ít ra phải có sản phẩm gì để cho người dân và cho xã hội. Muốn vậy phải siêng nhặt chặt bị, như các bác sỹ, nhân viên y tế lấy cần cù bù thông minh. Hơn hết là trước một sự thay đổi cần phải có thời gian, luôn đặt niềm tin và nỗ lực hết sức, nhưng mà cũng phải có một chiến lược bài bản.”

“Để có được kết quả như ngày hôm nay, khi mới thay đổi, anh em toàn ngành bị áp lực công việc  rất kinh khủng. Nhiều lúc tôi rất áy náy vì tạo áp lực cho anh em nhiều quá, bởi phải thay đổi nhiều quá.”

Để làm được những điều đó, bà đã áp dụng khoa học quản lý để có hệ thống cấu trúc từng bước giải quyết sực việc nào trước, sự việc nào sau, học tập kinh nghiệm của nước ngoài để rút ngắn con đường. Bởi, bà muốn phải có những sản phẩm dù bé nhỏ nhưng có ích, không buông trôi.

Nữ Bộ trưởng cũng trải lòng: “Khi mới thay đổi, anh em toàn ngành từ các bệnh viện đến sở y tế và trạm y tế, bị áp lực công việc rất kinh khủng. Nhiều lúc tôi cũng thấy áy náy vì tạo áp lực cho anh em nhiều quá, bởi phải thay đổi nhiều quá. Nhưng đến lúc có kết quả thì giám đốc sở hay giám đốc các bệnh viện tỉnh, huyện đầu rất phấn khởi”.

Bác sỹ khám bệnh cho người dân tại Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Bác sỹ khám bệnh cho người dân tại Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Trong năm 2019, Tạp chí Forbes Việt Nam chính thức công bố Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến là 1 trong 50 phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Y tế lọt top 9 nữ chính trị gia có ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam 2019.

Vẫn còn trăn trở “không để ai lại phía sau”

Tạm gác lại những thành tựu đã đạt được, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết điều bà vẫn day dứt, trăn trở nhất khi rời vai trò tư lệnh ngành đó là làm sao đẩy mạnh y tế cơ sở để chăm sóc cho người khỏe có thể làm tốt hơn. Do vậy, ngành y tế đang tập trung làm tốt hơn y tế cơ sở và chăm sóc cho người dân: “Chính phủ quan điểm không để lại ai phía sau, người nghèo cũng được chữa bệnh”.

Theo Bộ trưởng Tiến, số người bị bệnh chỉ chiếm 5-10% dân số, còn lại chúng ta cần chăm sóc, dự phòng, phát hiện bệnh sớm và lối sống phòng bệnh, nhất là các bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thu, cái đó phải gắn với y tế cơ sở, tiến tới y tế toàn dân – là mơ ước của Liên hợp quốc và y tế thế giới.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết điều bà vẫn day dứt, trăn trở nhất khi rời vai trò tư lệnh ngành đó là làm sao đẩy mạnh y tế cơ sở để chăm sóc cho người khỏe có thể làm tốt hơn.

Nhìn nhận về những kết quả mà Bộ trưởng Y tế đã làm được, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Bùi Sỹ Lợi cho biết: Có thể nói, trong hơn 4 năm vừa qua, tư lệnh ngành y tế đã có sự thay đổi về chỉ đạo chuyên môn đưa lại được những kết quả quan trọng. Vẫn còn có những tồn tại, tuy nhiên thành tựu là cơ bản.

Theo ông Bùi Sỹ Lợi, trong nhiệm kỳ của mình, Bộ trưởng Bộ Y tế đã tập trung thay đổi nhận thức và y đức của ngành y tế, với quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm để phục vụ.

Bên cạnh đó, vị tư lệnh ngành cũng chú trọng phát triển chăm sóc sức khỏe ban đầu, tập trung chỉ đạo tuyến y tế cơ sở, y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu cấp xã, huyện, từ đó giảm tải được tuyến y tế trung ương, tuyến trên đưa về tuyến dưới.

“Với 4 thành tựu như vậy, chúng ta thấy rằng Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã đem lại được sự hài lòng của người dân đối với bộ trưởng, ít có tiếng kêu ca phàn nàn,” ông Bùi Sỹ Lợi khẳng định.

Về nguồn nhân lực, Bộ trưởng Tiến đã triển khai đưa bác sỹ trẻ xuống cơ sở, đào tạo chuyển công nghệ từ tuyến huyện về tuyến xã, chăm lo phát triển nguồn nhân lực sâu sát với ngành.

“Với 4 thành tựu như vậy, chúng ta thấy rằng Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã đem lại được sự hài lòng của người dân đối với bộ trưởng, ít có tiếng kêu ca phàn nàn, còn nhưng ít và có thể nói, các đại biểu quốc hội không chỉ mình tôi mà nhiều đại biểu quốc hội người dân đánh giá Bộ trưởng Bộ Y tế đã có những đóng góp hết sức mình cho nhiệm kỳ quốc hội khoá 14 – nhiệm kỳ của Chính phủ,” ông Bùi Sỹ Lợi khẳng định.

Nhìn lại toàn bộ gần 2 nhiệm kỳ giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Y tế – một ngành luôn được coi là nóng khi liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân, bà Nguyễn Thị Kim Tiến đã từng phải đón nhận không ít “búa rìu” từ dư luận. Trên cương vị người đứng đầu ngành y tế, bà đã nỗ lực không ngừng đổi mới để biến những “ác cảm” của bệnh nhân về xếp hàng khám chữa bệnh, về nhà vệ sinh bệnh viện… trong công tác khám chữa bệnh thành thiện cảm. Đó cũng là một dấu ấn rất riêng trong nhiệm kỳ làm tư lệnh ngành y tế của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến./.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến sinh ngày: 01/8/1959

– Quê quán: Xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh

– Học hàm, học vị: Phó Giáo sư, Tiến sỹ Y khoa

– Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Khóa X, Ủy viên Trung ương Đảng Khóa XI

– Đại biểu Quốc hội Khóa XII, XIII

01/2002 – 01/2007: Phó giáo sư (năm 2002); Viện trưởng Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên ban chấp hành Đảng ủy Viện, Ủy viên ban chấp hành Đảng bộ khối cơ sở Bộ Y tế…

4/2006 – 02/2011: Ủy viên dự khuyết ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X.

02/2007 – 8/2011: Thứ trưởng Bộ Y tế, Đại biểu quốc hội khóa XII.

Từ 5/2010 – nay: Bí thư Đảng ủy Cơ quan Bộ y tế.

01/2011 – 01/2016: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI.

5/2011 – 5/2016: Đại biểu quốc hội khóa XIII.

Từ 8/2011: Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế.

Đầu tháng 7/2019, bà Nguyễn Thị Kim Tiến nhận Quyết định của Bộ Chính trị bổ nhiệm làm Trưởng Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương./.

Trong những chuyến công tác, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến thường dành một tình cảm đặc biệt với các bệnh nhân nhi. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Trong những chuyến công tác, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến thường dành một tình cảm đặc biệt với các bệnh nhân nhi. (Ảnh: PV/Vietnam+)

当代艺术潮流中的越安古官贺

越通社河内——提到官贺,人们通常只会想起北宁省官贺。但是,在球江北岸的北江省越安也被视为官贺的摇篮。

越安同时也是北江省被联合国教科文组织推崇的49个京北官贺村的5个古村之一的唯一一个县。因此,“如何保护与弘扬京北官贺价值”一直是越安县乃至北江省官贺艺人十分关心的问题。

官贺民歌俱乐部。图自Vietnamplus
官贺民歌俱乐部。图自Vietnamplus

2009年,越南官贺民歌被联合国教科文组织列入《人类非物质文化遗产代表做名录》。10年来,官贺民歌的摇篮北宁省和北江省一向狠抓落实对联合国教科文组织关于保护官贺民歌的承诺。

在京北地区文化特色浓郁的北江和北宁两省,一代代官贺歌手已经和正在守护古官贺宝库,并在现代生活中可持续保护这项遗产。

今天,官贺也有了新的活力,融入到了“时代的呼吸”中。官贺人的情谊犹如北宁省的特色为人所熟知。但最值得珍惜的还是社会对这门艺术的价值认识日益深刻。这得益于官贺歌手和全社会的热忱与心血。他们日日夜夜传授官贺,而研究专家、搜集者也为官贺的生存与发展贡献了力量。

北江省越安县宁山乡友疑村有个官贺俱乐部,20年来一直开展活动。图自Vietnamplus
北江省越安县宁山乡友疑村有个官贺俱乐部,20年来一直开展活动。图自Vietnamplus

北江省越安县宁山乡友疑村有个官贺俱乐部,20年来一直开展活动。俱乐部成员大部分是65至80岁的老年人。平日,他们是农民、小商贩或退休老师,但一旦穿上官贺传统服装、戴上斗笠、亮起嗓子,他们就成了优雅的歌手,忘记了生活的忙碌。

今年80岁的阮氏莫和阮氏训姐妹分享说:“小时候跟着姐姐们一起唱,那时候还没成为一种活动,现在退休了才参加俱乐部。古官贺比较难唱,但涵义深刻”。

俱乐部主任陈文体也表示,他妻子是官贺民歌艺术家阮氏寅,同其它艺术家开了个官贺培训班,向所有年龄的官贺迷尤其是儿童传授。在友疑村,许多孩子还没认字就已会唱几句官贺,一些家庭三、四代都唱,青少年则练就了更专业的演唱技能。

陈文体说:“我村少年儿童很感兴趣,接受得很快,听几次就可以唱了。年轻人也要经常锻炼、学习,以后传授给子孙后代”。

友疑村官贺俱乐部还与其它村举行交流活动,多名艺术家还把官贺带到了国外。男女老幼在村亭里、榕树下一起放声歌唱。

不仅在友疑村,官贺民歌还在北江和北宁省其它17个村庄流传。据北江省文化部门的消息,目前共有10名优秀官贺艺术家获得表彰,而在默默传承家乡民歌的艺术家还有数百名。

官贺民歌还在北江和北宁省其它17个村庄流传。图自Vietnamplus
官贺民歌还在北江和北宁省其它17个村庄流传。图自Vietnamplus

京北之地积淀着千年的文化底蕴。在这块人杰地灵的土地上,孕育出许多门类的民歌如:官贺的产生源自“结义”这习俗,这是越南先民的一种习俗。通过这习俗,两个邻近的村子互相结义为兄弟村,世代相传,有福同享有难同当,分忧享乐,互相帮助。每年,两村村民聚在村亭祠联欢。其中常举办唱祝歌、对歌、交缘歌。这种唱法统称唱官贺。在发展、弘扬的过程中,村民创作出许多抒情的调子,其带有深刻的民间性。形式上,传统的唱官贺是没有乐器辅陪的。人们可以对唱:一对男方与一对女方对唱。也可以男队的一方女队的一方一起合唱。过去的官贺本没有观众。演出者也是欣赏者,特别是欣赏唱友的那份“情”。因此,唱官贺有独特的唱方面的技术要求;与唱官贺友相处的规则。歌词要含蓄,服装有一定的规定要清雅。这就形成了官贺民歌的文化本色及特征之处。随着历史长河的推进,至19世纪京北地区的官贺渐变形,正式名称定为官贺民歌。

与其诸多要素如:官贺在共同体文化、社会生活中经常出现。得到越南北宁、北江两省共同体保存,一代传承一代,地方的文化特色并广泛传播成为特殊的文化空间,官贺资料得到联合国教科文组织专门机构对文化价值给予高度的评价。特别是对社会习惯、表演艺术、唱腔艺术文化及应对风格、服饰等给予高的评价。

2009年9月30日,在联合国教科文组织非物质文化遗产保护委员会第四次会议上(2009年9月28日至10月2日)官贺民歌荣获公认为人类非物质文化遗产。

官贺民歌荣获人类非物质文化遗产称号。图自Vietnamplus
官贺民歌荣获人类非物质文化遗产称号。图自Vietnamplus

越安古官贺民歌艺人透露,以前,古人不称“唱官贺”,而称作“玩官贺”。他们认为, “唱官贺”是很多人可以做到的,但真正地“玩官贺”不是谁都能做到。

北江省越安县文化体育中心经理阮德贤表示,官贺民歌不仅已深深地植根在人们的意识中,并成为球江北岸各乡村人民不可或缺的精神食物。特别的是,京北之地各传统节日都不能缺少这种民间文化类型。(完)

Chuyện về những giáo viên nơi đất khó Púng Bửa

Điểm trường Púng Bửa thuộc Trường Mầm non xã Na Ư (xã Na Ư, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) nằm ở bản Púng Bửa, cách trung tâm xã hơn 9km. Đây là bản xa nhất và thuộc diện khó khăn nhất trong 6 bản của xã.

Lọt thỏm giữa tứ bề là đồi và núi đá sừng sững, giao thông chia cắt, cách trở, điều kiện tự nhiên bất lợi nhưng hơn 10 năm qua, các thầy cô giáo ở điểm trường đã vượt qua mọi khó khăn để ươm mầm con chữ nơi vùng đất quanh năm đầy mây mù, nắng gió.

Na Ư là xã biên giới phía Tây Nam, một trong 25 xã của huyện Điện Biên. Toàn xã có 6 bản, hơn 320 hộ, với hơn 1.600 nhân khẩu. Để đến được trung tâm xã Na Ư phải ngược dốc Na Hai, đèo Tây Trang bằng Quốc lộ 279 với nhiều dốc cao, hủm sâu, vượt qua dãy núi Ca Hâu quanh co, hiểm trở trong mịt mù sương lạnh.

Để đến được trung tâm xã Na Ư phải ngược dốc Na Hai, đèo Tây Trang bằng Quốc lộ 279 với nhiều dốc cao, hủm sâu, vượt qua dãy núi Ca Hâu quanh co, hiểm trở trong mịt mù sương lạnh.

Nếu không có con đường độc đạo dài 9,3km vắt vẻo lưng chừng núi lắm vực sâu, quanh co, cỏ tranh mọc ngổn ngang trên mặt đường, khó ai tin được trong thung lũng tứ bề là đá này lại có người dân sinh sống. Trên hành trình ấy, để “củng cố” lại tinh thần, chúng tôi phải 3 lần dừng chân lấy sức.

Vượt cây cầu gỗ cuối cùng bắc qua con suối, chúng tôi đặt chân vào bản Púng Bửa – nơi có 24 hộ dân của cộng đồng Mông sinh sống. Dưới chân núi phía bên kia, ngăn cách với dòng suối cạn là cộng đồng người Mông bản Na Côm (xã Hẹ Muông).

Điểm trường bản Púng Bửa có 29 cháu, độ tuổi từ 1 đến 5, đều là con em đồng bào Mông của hai bản Púng Bửa và Na Côm theo học. Cô Lường Thị Thu (sinh năm 1985) và cô Quàng Thị Phương (sinh 1996) đảm nhiệm việc dạy dỗ, chăm sóc các cháu.

Cô Phương rửa mặt cho từng em học sinh. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)
Cô Phương rửa mặt cho từng em học sinh. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)

Hơn 10 năm công tác trong nghề, cô giáo Lường Thị Thu đã từng “cắm” ở những địa bàn rất khó khăn, gian khổ của các bản vùng cao như Háng Sua, Tao La, xã Tà Dình (huyện Điện Biên Đông). Mỗi vùng đất với đặc thù miền núi, vùng sâu, vùng xa nên có những khó khăn, trở ngại riêng nhưng khi quay trở lại Na Ư, vào Púng Bửa, mọi khó khăn mới rõ ràng nhất.

Theo cô Thu và cô Phương, khó khăn lớn nhất đối với giáo viên ở điểm trường là bất đồng ngôn ngữ với học sinh người Mông. Để truyền tải được kiến thức đến học sinh, các cô phải tự học và sử dụng thành thạo tiếng Mông.

Điểm trường bản Púng Bửa có 29 cháu, độ tuổi từ 1 đến 5, đều là con em đồng bào Mông của hai bản Púng Bửa và Na Côm theo học.

Phương pháp tương tác với học trò theo kiểu “song ngữ” tiếng Việt – tiếng Mông sẽ giúp các cháu mau thuộc bài, nắm được kỹ năng thực hành. Đến nay, các cô đã sử dụng thành thạo tiếng Mông để giao tiếp cùng người dân trong bản và tương tác với học sinh.

Hai cô giáo bắt đầu một ngày mới bằng việc dọn dẹp khuôn viên trường, lau chùi bàn ghế, quét dọn phòng học, đón học sinh vào lớp, dạy múa, hát, dạy các cháu tập thể dục, cho các cháu ăn, giặt giũ quần áo cho học sinh…

Được tận mắt chứng kiến các cô chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho học sinh, tận dụng giờ nghỉ trưa để chăm sóc vườn hoa, tạo cảnh quan khuôn viên trường, trồng rau xanh để cải thiện bữa ăn, chúng tôi càng cảm nhận hết sự tận tụy với nghề, tình yêu thương mà các cô dành cho con trẻ.

Các cô tận tình bón ăn cho các em nhỏ. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)
Các cô tận tình bón ăn cho các em nhỏ. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)

Hai cô giáo chia sẻ, khó khăn dễ thấy nhất ở địa bàn này là điện lưới chưa có, phải dùng nước suối theo ống dẫn chảy về để sinh hoạt (chỉ đủ dùng ít tháng, các tháng mùa khô, hai cô và người dân phải dùng nước ngoài suối); đường giao thông hiểm trở, ngày nắng bụi mù, ngày mưa trơn trượt…

Đặc biệt, khí hậu ở khu vực này rất khắc nghiệt, mùa khô nóng bức, khô rát, có cảm giác như gió Lào lúc nào cũng càn quét qua thung lũng. Mùa lạnh, nhiệt độ giảm sâu đến tê cóng chân tay.

Từ sáng sớm tinh mơ, các cô đã phải thức giấc để trông giữ học sinh cho phụ huynh lên nương, khi bóng đêm nhá nhem phủ lên bản làng, phụ huynh mới về bản đến điểm trường đón các cháu.

Cô Lường Thị Thu cho hay, tấm biển quy định thời gian đón, trả trẻ theo hai mùa trong năm được treo ở ngoài cổng trường nhưng thực tế, tập quán sinh hoạt, phương thức lao động của người dân địa phương đòi hỏi cô và đồng nghiệp phải “phá vỡ” quy định ấy để có lợi cho người dân.

Từ sáng sớm tinh mơ, các cô đã phải thức giấc để trông giữ học sinh cho phụ huynh lên nương, khi bóng đêm nhá nhem phủ lên bản làng, phụ huynh mới về bản đến điểm trường đón các cháu. Chính vì vậy, ngày nào, các cô cũng phải tăng giờ làm, nhịp sống sinh hoạt, nghỉ ngơi thay đổi cho phù hợp.

Nhà và gia đình các cô giáo ở huyện Điện Biên, cách điểm trường gần 50km. Chỉ cuối tuần, các cô mới về với gia đình. Ngày Chủ Nhật, các cô sẽ mua sắm đủ lương thực, nhu yếu phẩm phục vụ việc nấu ăn cho học sinh và đồ dùng sinh hoạt cá nhân cần thiết để chiều cùng ngày lại vất vả vượt hành trình gian nan trở lại điểm trường. Trong những lần về nhà như thế, hai cô tranh thủ đi đến các gia đình nơi mình sinh sống để vận động mọi người ủng hộ quần áo, nguồn thực phẩm, cá khô mang vào cho học sinh.

Cô giáo nấu ăn trưa cho các em học sinh. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)
Cô giáo nấu ăn trưa cho các em học sinh. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)

Cô Lường Thị Thu nói vui, “ở Púng Bửa, ban ngày, tuy vất vả nhưng hai chị em chúng tôi muốn ngày cứ dài hơn, thời gian chậm lại, còn đêm trôi đi thật nhanh để trời mau sáng.”

Bởi theo hai cô, ban đêm, thung lũng Púng Bửa thật vắng và buồn. Khi Mặt Trời lặn, sự tĩnh lặng của núi rừng mau chóng bao phủ điểm trường, bản làng. Chút ánh sáng đèn điện yếu ớt, vàng vọt chạy bằng tuabin đặt dưới suối từ một vài gia đình hắt ra nhưng cũng mau chóng tắt đi.

Để có nguồn sáng làm việc ban đêm, hai cô phải dùng ánh sáng từ những chiếc điện thoại cá nhân. Khi nào điện thoại hết pin, hai cô sạc bằng những cục pin dự phòng được sạc đầy mỗi khi về với gia đình. Tuy nhiên, nguồn điện năng này chỉ đủ cung cấp cho các cô những ngày đầu tuần, còn lại hai cô phải thắp nến.

“Ở Púng Bửa, ban ngày, tuy vất vả nhưng hai chị em chúng tôi muốn ngày cứ dài hơn, thời gian chậm lại, còn đêm trôi đi thật nhanh để trời mau sáng.” (Cô Lường Thị Thu)

Những ngày các cô ở điểm trường, việc trao đổi với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, người thân đều nhờ vào điện thoại. Tuy nhiên, điểm trường Púng Bửa chỉ có vị trí “bắt” được sóng điện thoại: cửa sổ khu nhà gỗ và  cửa sổ ngôi nhà xây dựng.

Phát hiện ra hai địa điểm này có sóng điện thoại cũng là nhờ cô Lường Thị Thu đã mất nhiều ngày dò tìm từ thời điểm mới vào Púng Bửa công tác. Hằng ngày, hai cô đều để điện thoại ở những vị trí này để có thể nhận biết có người gọi điện và gọi được cho mình.

Cô Quàng Thị Phương vào điểm bản Púng Bửa công tác từ tháng 2/2018, qua thời gian công tác, những khó khăn, vất vả ở đây cô đã “nếm đủ.” Cô Lường Thị Thu có thâm niên lâu hơn, đây là năm thứ 3 cô “cắm bản” ở địa bàn. Điều đáng trân trọng là trong hoàn cảnh khó khăn, hai cô luôn đoàn kết, thương yêu, hỗ trợ nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ, được đồng nghiệp trong trường quý mến, người dân ở hai bản Na Côm, Púng Bửa tin yêu, coi như người con của bản.

Cô Thu chăm sóc học sinh như con em của mình. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)
Cô Thu chăm sóc học sinh như con em của mình. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)

Niềm vui lớn nhất mà hai cô coi như động lực để yêu nghề, phấn đấu công tác là cứ mỗi chiều Chủ Nhật, khi trở lại điểm trường, học sinh đã chờ sẵn nơi gần cây cầu bắc qua suối cạn đầu bản để đón các cô.

“Khi các cháu chạy lại, reo vang “cô Thu, cô Phương đến rồi,” chúng tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Thế mới hiểu được rằng, thời gian xa nhau, học trò nhớ mình nhiều,” cô Lường Thị Thu chia sẻ.

Chia tay các cô khi Mặt Trời gác núi, ánh nắng cuối ngày le lói trên đỉnh Ca Hâu, đọng lại trong chúng tôi là câu nói mà cô Thu chia sẻ: “Vì thấu hiểu, cảm thông với những vất vả của người dân ở đất khó Púng Bửa, Na Côm, chúng tôi coi học trò nơi đây như con em của mình nên vào dịp nghỉ Hè phải xa điểm trường, chúng tôi lại nhớ các cháu, nhớ bà con, rồi lại gọi điện vào bản hỏi thăm mọi người. Được nghe giọng học trò của mình qua điện thoại, chúng tôi phần nào vơi đi nỗi nhớ”./.

“Khi các cháu chạy lại, reo vang “cô Thu, cô Phương đến rồi,” chúng tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Thế mới hiểu được rằng, thời gian xa nhau, học trò nhớ mình nhiều,” (Cô Lường Thị Thu)

Bữa ăn của học sinh mẫu giáo điểm trường Púng Bửa. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)
Bữa ăn của học sinh mẫu giáo điểm trường Púng Bửa. (Ảnh: Phan Tuấn Anh/TTXVN)

‘Không để phòng truyền thông mang tính hình thức ở y tế tuyến xã’

Hàng chục trẻ và phụ huynh ngồi tại hành lang của trạm y tế xã chờ cho trẻ tiêm chủng hay tại phòng lưu lại bệnh nhân 30 phút sau tiêm nhưng không có tivi để xem.

Ngược lại, phòng truyền thông được lập ra trong trạm y tế xã với tivi, tài liệu không ai xem, đa phần được sử dụng để giao ban. Đó là những tồn tại mang tình hình thức, cần khắc phục để đưa ra khu vực phục vụ người dân cần xem nhất là khu chờ khám bệnh.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhấn mạnh như vậy khi đi thực tế y tế cơ sở tuyến xã tại tỉnh Quảng Ninh.

Truyền thông phải thực tế

Trong hai ngày 24-25/7, Bộ trưởng Bộ Y tế đã đi thăm, kiểm tra thực tế về công tác y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, Trạm Y tế xã Đoàn Kết (huyện Vân Đồn), Trung tâm y tế huyện Vân Đồn.

Trong sáng 25/7, tại Trạm Y tế xã Đoàn Kết, gần 70 trẻ được gia đình đưa đi tiêm chủng vắcxin phòng dịch bệnh. Phụ huynh và trẻ nhỏ ngồi chờ khám, chờ tiêm tại hành lang của trạm y tế.

Người dân và trẻ nhỏ chờ tiêm chủng cho trẻ tại Trung tâm y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Người dân và trẻ nhỏ chờ tiêm chủng cho trẻ tại Trung tâm y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Bác sỹ Bùi Thị Hằng – Trạm trưởng Trạm Y tế xã Đoàn Kết cho hay, mỗi ngày tại trạm có từ 20-25 bệnh nhân tới khám bệnh. Trong đợt tiêm chủng có khoảng 70 bé tới tiêm/ngày, có khoảng 5-7 ca khám về sản khoa/tháng.

Qua kiểm tra, Bộ trưởng Bộ Y tế ghi nhận và biểu dương Trạm Y tế xã Đoàn Kết (huyện Vân Đồn) đã có những sáng tạo như thay đổi cách thức ở sổ ghi chép, in các thông tin khám chữa bệnh trên excel rõ ràng và khoa học.

Bộ trưởng Bộ Y tế cho hay, qua thăm và kiểm tra tại trạm y tế cho thấy, tại trạm không có phòng chờ cho trẻ khi tới khám, tiêm chủng, khiến phụ huynh và trẻ nhỏ ngồi chờ ngoài hành lang la liệt, trời nắng nóng hay lạnh ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của trẻ.

Bộ trưởng Bộ Y tế cho hay, qua công tác thăm và kiểm tra tại trạm y tế cho thấy, tại trạm y tế xã không có phòng chờ cho trẻ khi tới khám, tiêm chủng, khiến phụ huynh và trẻ nhỏ ngồi chờ ngoài hành lang la liệt, trời nắng nóng hay lạnh ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của trẻ. Phòng theo dõi sau tiêm cho trẻ rất chật, trong khi đó, phòng phục vụ sinh sản ít khi sử dụng lại rất rộng và đóng cửa thường xuyên. Đây là những bất cập cần khắc phục, bởi 3 ngày mới có một người đến khám về sinh sản, trong khi phòng khám đa khoa bình thường có từ 20-25 người tới khám/ngày và phòng tiêm chủng bé và chật hẹp.

Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ ra những bất cập tại trạm y tế xã cần được khắc phục, phòng không khám cần chú ý bố trí lại thành không gian ngồi chờ khám cho bệnh nhân thoải mái.

Bộ trưởng Bộ Y tế kiểm tra công tác tiêm chủng tại Trạm y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Bộ trưởng Bộ Y tế kiểm tra công tác tiêm chủng tại Trạm y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Bộ trưởng Bộ Y tế đề nghị lãnh đạo Trạm Y tế xã Đoàn Kết cần linh hoạt bố trí phòng ốc cho hợp lý, phòng tiêm, khám cho trẻ cần được thay đổi rộng hơn. Những ngày đông bệnh nhân tới khám và tiêm chủng cần thay đổi công năng của các phòng sao cho hợp lý.

Bác sỹ Bùi Thị Hằng – Trạm trưởng Trạm Y tế xã Đoàn Kết cho hay, hiện nay một bệnh nhân đến khám tại trạm y tế xã chỉ được thanh toán một lần khám từ 50-70.000 đồng, chi phí rất khiêm tốn nên không đủ để kê đơn thuốc cho người bệnh. Vì vậy, bác sỹ Hằng kiến nghị cơ chế tăng chi tiền thanh toán khám chữa bệnh tại trạm y tế xã.

“Lập ra một phòng truyền thông mang tính hình thức như hiện nay có tivi mà không ai xem, có tài liệu nhưng không ai đọc. Các trạm y tế xã cần sáng tạo và có sự điều chỉnh kịp thời,” Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh.

Kiểm tra Phòng truyền thông tại Trạm y tế xã Đoàn Kết, Bộ trưởng Bộ Y tế cho hay: “Phòng truyền thông được bố trí vẫn mang tính hình thức. Trong phòng truyền thông có tivi, tài liệu nhưng không ai xem, không ai đọc, bởi người bệnh hay phụ huynh đưa trẻ đi khám bệnh, đi tiêm họ đều ngồi ngoài hành lang chờ hay tại phòng tiêm, phòng chờ sau tiêm.”

Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ rõ, tivi hay màn hình chiếu truyền thông cần được chuyển ra những vị trí như người dân và trẻ tới khám bệnh ngồi chờ khám để xem hay tại các phòng chờ sau tiêm, có như vậy, công tác truyền thông mới đi vào hiệu quả thực sự.

“Lập ra một phòng truyền thông mang tính hình thức như hiện nay có tivi mà không ai xem, có tài liệu nhưng không ai đọc. Vì vậy, các trạm y tế xã cần sáng tạo và có sự điều chỉnh kịp thời, không nên thiết kế một phòng truyền thông như vậy mà cần đưa ra truyền thông bên ngoài tại khu vực người bệnh ngồi chờ,” Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh.

Tiêm chủng cho trẻ nhỏ tại Trạm Y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Tiêm chủng cho trẻ nhỏ tại Trạm Y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Xây dựng chính sách đặc thù với y tế cơ sở

Chiều 27/7, Bộ trưởng Bộ Y tế có buổi làm việc với Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, công tác y tế cơ sở…

Tại buổi làm việc bà Vũ Thị Thu Thủy – Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh cho hay, trong năm 2018 và 6 tháng năm 2019, trên địa bàn, không xảy ra dịch bệnh lớn, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm đông người mắc và dịch bệnh qua thực phẩm; công tác khám cữa bệnh, các chương trình mục tiêu về y tế được thực hiện, đảm bảo tiến độ kế hoạch; tăng cường tự chủ về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập…

Kết quả một số chỉ tiêu cơ bản về y tế và sức khỏe năm 2018 đã tiệm cận mục tiêu Nghị quyết Trung ương 6 đề ra đến năm 2020: Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,2% (trong khi kế hoạch đặt ra là 93,16%); Tỷ số giường bệnh đạt 56,42/10.000 dân (đạt kế hoạch: 56,42/10.000 dân); đạt 14,7 bác sỹ/10.000 dân (kế hoạch đặt ra 14,5/10.000 dân); Tỷ lệ đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã là 100%; Tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý đạt 100%.

Người dân chờ khám bệnh tại Trạm y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Người dân chờ khám bệnh tại Trạm y tế xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Bà Thuỷ nhấn mạnh, về công tác nhân lực y tế, nhất là y tế cơ sở hiện nay ở một số đơn vị thiếu, yếu. Ngành y tế Quảng Ninh rất khó thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng về công tác tại các trung tâm y tế và trạm y tế; cơ chế, chính sách cho đối tượng lao động hợp đồng còn bất cập (đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, phụ cấp…); chưa có khung chương trình đào tạo phù hợp cho từng tuyến cơ sở y tế.

Bà Thủy nhấn mạnh, về công tác nhân lực y tế, nhất là y tế cơ sở hiện nay ở một số đơn vị thiếu, yếu. Ngành y tế Quảng Ninh rất khó thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng về công tác tại các trung tâm y tế và trạm y tế.

Chính vì vậy, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đề nghị Bộ Y tế nghiên cứu đề xuất xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cho từng loại hình cơ sở y tế (theo tuyến); đặc biệt là có khung đào tạo đặc thù cho y tế cơ sở sát với yêu cầu thực tế để vừa đảm bảo có nhân lực làm việc, vừa ổn định được đội ngũ; xây dựng chính sách đặc thù đối với y tế cơ sở, nhất là đội ngũ cán bộ y tế tuyến xã (trong tuyển dụng, đãi ngộ và cơ hội phát triển) để có thể thu hút, ổn định nhân lực cho y tế cơ sở phát triển bền vững.

Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho hay, những năm qua, ngành y tế Quảng Ninh đã có nhiều đổi mới trong công tác y tế, đã hình thành nhiều khu khám chữa bệnh thực hiện được các kỹ thuật cao, phát triển nhiều dịch vụ hay xây dựng khu công nghiệp y dược công nghệ cao tại huyện Vân Đồn… Bên cạnh những thành tựu về kinh tế đứng trong số top đầu của cả nước, ngành y tế Quảng Ninh cần đổi mới đột phá để phát triển, tuy nhiên cần tránh việc thị trường hoá quá trong công tác y tế.

Về vấn đề khó khăn nguồn nhân lực tại y tế tuyến cơ sở, người đứng đầu ngành y tế cho hay: “Để giải quyết đề nghị của sở y tế về vấn đề nhân lực khó khăn tại y tế tuyến cơ sở, tỉnh Quảng Ninh cần làm đề án phát triển nhân lực chất lượng cao, đề xuất để Bộ Y tế cử bác sỹ khá giỏi của Dự án đưa bác sỹ trẻ tình nguyện về xã khó khăn, về 62 huyện nghèo để hỗ trợ. Bên cạnh đó, tỉnh cần kết hợp mô hình nhà trường và bệnh viện. Luân chuyển cán bộn từ tuyến trên về tuyến dưới 1 tuần, 2 tuần 1 lần về công tác tại các trạm y tế xã.”

Trong công tác cơ chế tài chính, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, Bộ Y tế cũng đang đề xuất với Chính phủ về việc điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế với các mức đóng khác nhau, để đảm bảo đủ chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế và nguồn thu cho các cơ sở y tế…/.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh tại Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Ứng dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh tại Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

对塑料垃圾说不 从意识的源头开始

塑料垃圾的处理正在成为最为棘手的全球性问题之一。与世界各国一道,越南正在积极努力参与全球和地区各项合作机制,旨在有效解决塑料垃圾问题。

但是为了让“对塑料垃圾说不”运动能够深入到社会方方面面,需要从每个人意识的源头开始。因此“对塑料垃圾说不”内容应被列入教育部门的教育课程。

2018-2019学年,越南全国共有2300多万名学生和大学生,其中小学生数量高达830万名。越南教育规模不断扩大,2019-2020学年的学生数量也不断增加。如果有关学习文具用品的规定有所改变,塑料排放量将会大大减少。

新学年已临近,教育部门应取消有关使用塑料制品的规定,将“对塑料垃圾说不”列入教育课程内容,同时举行具有切实意义的竞赛运动,进而形成学生中在保护环境和减少塑料垃圾的意识。

塑料袋的创造给人类带来了很大的便利,但是越来越多的人不懂得如何有效的环保使用,招致了塑料袋污染的全球化。

越南自然资源与环境部的统计数据显示,每年,越南向环境排放约200万吨塑料垃圾。越南政府总理阮春福2019年6月已发动全国反塑料垃圾运动,其中减少一次性塑料制品,同时鼓励各部委行业率先响应“对塑料垃圾说不”运动。

消费者使用环保袋。图自越通社
消费者使用环保袋。图自越通社

阮春福总理强调,塑料垃圾已成为全球性的问题,每年人类所排放的垃圾塑料覆盖面积大约地球表面积的四倍,其中1300万吨塑料垃圾流入海洋并漂浮在海面上。塑料垃圾正对生态系统、生活环境、人类健康和每个国家的发展产生消极影响。越南已积极提出一系列倡议和参与全球合作机制,同世界各国携手努力解决塑料垃圾问题。

阮春福总理认为,部分企业和居民仍不意识到塑料垃圾的危害,生活中仍拥有使用塑料袋的习惯,因此,从现在起,我们应采取切合实际和具体的行动来抑制和阻止塑料垃圾的排放,让越南人和子孙后代能生活在健康、安全和可持续的环境里。

阮春福总理表示,需以高度决心来同步和有效展开各项防止、处理和减少塑料垃圾污染的任务和措施。力争到2021年各城市的商店、集市和超市不使用一次性塑料产品,到2025年全国不使用一次性塑料产品。

政府总理阮春福参加步行活动呼吁全社会携手防止塑料垃圾污染。越通社记者统一 摄
政府总理阮春福参加步行活动呼吁全社会携手防止塑料垃圾污染。越通社记者统一 摄

阮春福总理要求各中央部门、地方、越南祖国阵线和各成员组织更加关注指导展开反塑料垃圾活动。每个机关和单位应制定具体反塑料垃圾的计划。每个党员、干部、公务员、职员,尤其是各级党委、政府和各机关单位领导需率先与一次性塑料产品和塑料袋说不。

阮春福总理同时要求加大宣传力度,经常发起关于反塑料垃圾的运动和活动,评选和表彰先进个人、集体、好模式和好做法等。

阮春福总理指出,政府呼吁企业界提高社会责任,共同携手反塑料垃圾,积极参加塑料垃圾分类和回收再利用工作。各所大学院校推动研究工作,发展环境友好型材料来代替一次性塑料产品。

竹制吸管。图自越通社
竹制吸管。图自越通社

国际自然及自然资源保护联盟驻胡志明市机构项目总监阮秋庄表示,2016年塑料生产业形成的二氧化碳排放量达20亿吨,相当于全球每年二氧化碳排放量的6%,在现有废弃物处理方式继续维持下去的情况下,二氧化碳排放量将于2030年增加两倍。混有塑料垃圾的有机垃圾在缺乏空气的条件下分解时在垃圾场闷烧并形成二恶英和呋喃等有害气体,塑料垃圾在野外被燃烧或在1000度以下的条件下燃烧也会产生大量二恶英和呋喃等气体,这些气体对人类和动植物都会产生极大的影响。

塑料垃圾被排放到环境时将会形成微塑料、微塑料碎片、微塑料薄膜,这些微塑料将排放到河流和大海,使溪水、河流、大海、地下水的水质和大气遭到严重污染。每年,海洋的塑料垃圾污染造成全球5000亿至2.5万亿美元的经济损失,相当于每年每人312美元的经济损失。

越南自然资源与环境部环境总局废弃物管理司代表阮成蓝表示,该部门正推动政府总理关于批准近期至2025年远期至2050年固体废弃物综合管理的国家战略计划调整方案的决定落实到位,其中明确了各项具体目标,即所有特级城市和一级城市均设有符合于家庭垃圾分类条件的固体废弃物回收再利用的设施:剩下的85%城市拥有符合于家庭垃圾分类条件的固体废弃物回收再利用工程项目;加强垃圾回收再利用能力和垃圾发电能力;在超市、商业中心全部使用环保袋等。

环境友好型产品展位。图自Vietnamplus
环境友好型产品展位。图自Vietnamplus

越南自然资源与环境部将同有关部门和地方严格管理塑料垃圾进口问题,坚决杜绝从国外进口的塑料垃圾渗透到不具备技术能力和环保条件的手工艺村作坊。特别是,该部门将严格管理塑料回收再利用手工艺村,最大限度地杜绝来历不明的塑料垃圾在手工艺村的使用和生产,要求有关部门严格查处塑料垃圾非法入境越南的问题。同时,越南自然资源与环境部将制定相关政策和战略规划,将目前的简陋生产技术的塑料生产和加工作坊搬迁至各工业区,提升其技术水平和生产水平,最大限度地减少并将于2026年开始全面彻底终止生产、进口和销售普通塑料袋。(完)

Bệnh viện tuyến tỉnh liệu có ‘tham bát bỏ mâm’?

Liệu bệnh viện tuyến tỉnh có “tham bát bỏ mâm” hay không khi chỉ mới tập trung khám chữa bệnh bảo hiểm y tế thông thường mà chưa thật sự tập trung phát triển chuyên môn sâu, cao, khiến bệnh nhân vượt tuyến lên Trung ương khám, thậm chí ra nước ngoài?

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhấn mạnh như vậy khi cùng đoàn công tác của Bộ Y tế đến thăm và làm việc về công tác y tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

Cải tiến mái tôn khu người bệnh chờ khám

Trong buổi đi thực tế, khảo sát và làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, bác sỹ Phạm Văn Hiệp – Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho hay, bệnh viện đã thực hiện được 84% các kỹ thuật theo phân tuyến, thực hiện nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, thu hút được người bệnh. Trung bình một ngày bệnh viện đón tiếp khám bệnh cho 900-1.000 người và hàng ngày có từ 1.000-1.100 người bệnh điều trị nội trú, có ngày lên tới 1.300 người bệnh điều trị nội trú.

“Dù đã phát triển nhiều kỹ thuật nhưng bệnh viện chưa thu hút được lượng bệnh nhân là người có điều kiện kinh tế đến điều trị,” Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho biết.

“Bệnh viện cần phát triển chuyên môn cao, đặc biệt các bệnh về tim mạch, ung thư, chấn thương chỉnh hình… để thu hút bệnh nhân ở lại Ninh Bình, thậm chí các tỉnh khác, đến khám, điều trị, tránh tình trạng “tham bát bỏ mâm.”

Trước vấn đề trên, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, bệnh viện cần phát triển chuyên môn cao, đặc biệt các bệnh về tim mạch, ung thư, chấn thương chỉnh hình… để thu hút bệnh nhân ở lại Ninh Bình, thậm chí các tỉnh khác, đến khám, điều trị, tránh tình trạng “tham bát bỏ mâm.”

Trực tiếp tới khu Khám bệnh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, Bộ trưởng ghi nhận không ít phản ánh của bệnh nhân về việc phải chờ đợi lâu khi đi khám bệnh. Người đứng đầu ngành y tế đề nghị bệnh viện cần sớm có những cải tiến hợp lý hơn để người bệnh tránh phải chờ đợi quá lâu.

Bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình chia sẻ về việc phải chờ đợi lâu khi đi khám bệnh. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình chia sẻ về việc phải chờ đợi lâu khi đi khám bệnh. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Tại buổi thăm, kiểm tra Trung tâm Y tế Thành phố Tam Điệp, Ninh Bình, Bộ trưởng Bộ Y tế đích thân “đóng vai” người bệnh tới khám và được tổ đón tiếp, hướng dẫn cách lấy số thứ tự điện tử (bằng cách bấm số), nghe gọi tên mời vào khám theo ô đã được thông báo.

Trải nghiệm trong vai trò của người bệnh đi khám giữa tiết trời nắng nóng và oi bức,người đứng đầu ngành y tế đã có trải nghiệm thực tế cho thấy, cơ sở vật chất tại khu khám bệnh Trung tâm Y tế Thành phố Tam Điệp chưa hợp lý. Khu người dân ngồi chờ làm thủ tục khám chữa bệnh mái tôn rất nóng khiến người bệnh chưa thoải mái, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ. Do vậy, Bộ trưởng Bộ Y tế đề nghị cơ sở này cùng các đơn vị liên quan nghiên cứu đầu tư nguồn lực, cải tiến khu khám bệnh, bỏ mái tôn để “giảm nhiệt” khi người bệnh ngồi chờ đợi nhằm đáp ứng sự hài lòng của bệnh nhân.

Bộ trưởng Bộ Y tế đề nghị các đơn vị liên quan nghiên cứu đầu tư nguồn lực, cải tiến khu khám bệnh, bỏ mái tôn để “giảm nhiệt” khi người bệnh ngồi chờ đợi nhằm đáp ứng sự hài lòng của bệnh nhân.

Chưa cân đối được quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

Chiều 8/7, Đoàn công tác đã làm việc với Uỷ ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Nghị quyết số 21 – NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới; triển khai thực hiện chương trình sức khỏe Việt Nam.

Tại buổi làm việc, ông Tống Quang Thìn – Phó Chủ tịch thường trực tỉnh Ninh Bình cho hay, trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019 không có dịch bệnh lớn xảy ra, đa số các bệnh truyền nhiễm (22/28) bệnh không ghi nhận hoặc có số trường hợp mắc bệnh giảm so với năm 2017 và cùng kỳ năm 2018.

Bộ trưởng Bộ Y tế đích thân “đóng vai” người bệnh tới khám và được  tổ đón tiếp, hướng dẫn cách lấy số thứ tự điện tử. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bộ trưởng Bộ Y tế đích thân “đóng vai” người bệnh tới khám và được tổ đón tiếp, hướng dẫn cách lấy số thứ tự điện tử. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trên địa bàn toàn tỉnh đã triển khai thực hiện tốt công tác tiêm chủng mở rộng, với tỷ lệ tiêm đầy đủ trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019 đạt trên 98%, đảm bảo an toàn, không để xảy ra tai biến nặng sau tiêm chủng. Tỉnh đã triển khai thực hiện báo cáo trên phần mềm hệ thống quản lý tiêm chủng quốc gia từ tuyến xã.

Về công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, năm 2018, tỷ lệ sàng lọc sơ sinh tại tỉnh Ninh Bình đạt 54%, trong 6 tháng đầu năm 2019 đã sàng lọc sơ sinh cho gần 4.000 trẻ sơ sinh, đạt hơn 87%. Đối với các dự án, hoạt động khác thuộc Chương trình mục tiêu y tế – dân số được triển khai theo kế hoạch, kết quả thực hiện đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ta trong 6 tháng đầu năm 2019.

Bác sỹ khám nội soi tai mũi họng cho người dân. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Bác sỹ khám nội soi tai mũi họng cho người dân. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Đến nay, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đạt hơn 91%.

Ông Thìn cho hay: “Một số bệnh viện tuyến tỉnh chưa phát triển được nhiều kỹ thuật mang tính đột phá, chưa tương xứng với thế mạnh. Đáng lưu ý, toàn ngành y tế của tỉnh hiện chưa cân đối được quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.”

Nói về những khó khăn, tồn tại trong công tác y tế, ông Thìn cho hay: “Một số bệnh viện tuyến tỉnh chưa phát triển được nhiều kỹ thuật mang tính đột phá, chưa tương xứng với thế mạnh về cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị hiện có. Đáng lưu ý, toàn ngành y tế của tỉnh hiện chưa cân đối được quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.”

Đáng lưu ý, trong cơ chế chính sách vẫn còn nhiều hạn chế như Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế sửa đổi theo hướng mở rộng quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, bên cạnh đó giá dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế điều chỉnh theo hướng tính đúng tính đủ các yếu tố cấu thành. Tuy nhiên, mức đóng bảo hiểm y tế không thay đổi gây khó khăn cho việc cân đối chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Việc giao dự toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế năm 2019 chưa phù hợp với hướng dẫn tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP gây khó khăn cho địa phương trong tổ chức thực hiện.

Tại Trạm y tế xã Yên Sơn – nơi mỗi ngày khám khoảng 30-40 bệnh nhân. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Tại Trạm y tế xã Yên Sơn – nơi mỗi ngày khám khoảng 30-40 bệnh nhân. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Chính vì vậy, Phó Chủ tịch thường trực tỉnh Ninh Bình Tống Quang Thìn đề nghị, để nâng cao công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh, đề xuất điều chỉnh tăng mức đóng bảo hiểm y tế để đảm bảo chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Bên cạnh đó, Bộ Y tế tham mưu Chính phủ ban hành nghị định quy định cơ chế sử dụng ngân sách theo lộ trình tính giá dịch vụ y tế, giảm chi cho các bệnh viện, bổ sung cho y tế dự phòng, y tế cơ sở, an toàn thực phẩm…

Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đánh giá cao các kết quả ngành y tế tỉnh Ninh Bình đã đạt được trong thời gian qua, công tác khám chữa bệnh có nhiều chuyển biến rõ rệt, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân.

Thời gian tới sẽ tăng cường điều động, cử bác sỹ tuyến trên về tuyến dưới nhiều hơn, để người dân dễ dàng tiếp cận y tế chất lượng cao, tiết kiệm chi phí cho người dân

Ghi nhận một số đề xuất, kiến nghị của tỉnh về vấn đề nhân lực, tài chính, đầu tư cơ sở hạ tầng…, Bộ trưởng Bộ Y tế đề nghị tỉnh cần thực hiện tốt đề án phát triển nhân lực, có sự luân chuyển cán bộ hợp lý nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn cho mạng lưới y tế cơ sở, góp phần giảm tình trạng quá tải cho bệnh viện tuyến trên.

Qua thăm hỏi, khảo sát những tâm tư, mong muốn chính đáng của người dân tại Trạm y tế xã Yên Sơn, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết thời gian tới sẽ tăng cường điều động, cử các bác sỹ tuyến trên về tuyến dưới nhiều hơn, để người dân dễ dàng tiếp cận y tế chất lượng cao, phát hiện sớm các bệnh tật để tăng hiệu quả điều trị, tiết kiệm chi phí cho người dân./.

Người dân chờ khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Người dân chờ khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: PV/Vietnam+)