新冠疫情成改变银行交易习惯之因素

新冠肺炎疫情爆发对包括越南在内的全球经济造成严重影响。但从其他角度来看,新冠肺炎疫情被视为促进银行系统数字化转型进程的“杠杆”,其中,“线下”转向“线上”交易习惯日益明显。

因此,部分商业银行利用该趋势对银行服务进行投资,保障客户可以定期不间断进行交易。

在疫情扩散蔓延的背景下,避免接触已成为一种必要,促使改变许多人对网上购物和电子支付习惯的看法和选择。

明清女士作为租客,经常忙于工作,回家很晚,所以 她经常在外就餐。然而,自从疫情爆发以来,她决定通过在线购物应用程序订购食物和饮料。

明清说,“订购和付款都使用手机支付,所以我很少使用现金。 此外,我还通过电子银行应用程序向房东转账,以尽量减少从现金和其他人感染病毒的风险。”

河内市春罗坊居民阮文雄也是一个网购狂,他表示,他家在很久以前购买东西时就开始避免使用现金,他家公寓楼下就有一家 Vinmart + 超市,所以他们夫妻俩只会刷卡支付。其他商品就在 Tiki 和 Shopee 等平台上在线订购,并通过银行账户支付。

阮文雄说,“我发现网上购物既方便又节约时间,而且有很多促销活动,有些商品价格比实体店价格低三成。 我们不喜欢某件商品时,还可以更换。 我家坚决不再使用现金了,除非是迫不得已。”

据Visa考察数据,数字银行正受到众多越南消费者的支持,达77%,31%消费者使用数字银行服务。消费者使用上述服务的动力来自于其便捷性,消费者可以随时进行交易,而不必去银行。 其中,越南消费者最喜欢账单支付服务(达72%),其次是给家人和朋友转账(达67%)。

Visa(越南和老挝)公司经理邓雪蓉表示,“考察结果显示,越南用户越来越愿意信任他们信任的知名企业提供的新支付服务。 除了这些支付方式的安全性和保密性之外,它还因其增强对个人理财与监控的能力而受到赞赏。”

据Visa考察结果,越来越多的人对市场新支付方式感兴趣。生物识别支付(例如指纹扫描、语音/面部识别或视网膜扫描)受到特别关注。高达 83% 的国内消费者目前都已了解这些支付方式,并且大多数消费者对体验这种支付方式感兴趣。 数字卡也逐渐受到62% 的消费者的认可,高达 77% 的消费者将在未来的交易中使用它们。

邓雪蓉表示,新冠肺炎疫情有力地促进使用无现金支付方式支付小额费用。不难看出,上述趋势对于年轻用户的潜力是巨大的。 其中,Z 世代消费者是社交电商的核心消费力量,85% 的受访者已经了解社交网,68% 的受访者目前在首次购物之前使用社交媒体查看至少三个与产品相关的评论。

据国家银行的统计数据,截止9月,银行间电子支付系统交易总量和价值分别增长1.88%和42.58%。电子清算和金融交易交换系统数量和价值与2020年同期相比分别增长96.63%和133.11%。

多年来,通过电子渠道的支付活动增长强劲,通过移动支付的交易量年均增长 50%-80%。 通过互联网支付的数量年均增长 35%-40%。 个人和组织通过电子支付渠道使用无现金支付方式的比例达到40%。

值得注意的是,目前,银行和支付中介已经推出了银行卡、二维码、电子钱包等多种新型现代支付服务。

可以肯定的是,随着众多数字化转型项目的启动、手机银行应用程序、自动银行系统的使用,也为企业提供跨平台在线支付方案,当前,银行数字化转型的速度正在强劲增长。

为了跟上发展速度,同时提升用户的体验,北亚商业股份银行(BAC A BANK)也不断更新产品和服务功能,为交易客户提供更顺畅、更便捷的服务。 这不仅是北亚商业股份银行在新冠肺炎疫情爆发时的“一步”,而且也是一项长期的战略。

北亚银行领导表示,数字银行发展计划是该银行至2030年发展战略的一部分。该银行推出了电子银行服务升级项目,既实现了实用功能多样化的目标,又优化了客户体验。结果显示,2021年第三季度,北亚银行向个人客户推出了升级版的网上银行和手机银行。

在升级版中,北亚银行的网上银行和手机银行拥有统一的界面,为客户在电脑(PC/笔记本电脑)和手机等电子工具上提供科学体验。 同时,用户还可以更换头像和壁纸,选择自己喜欢的实用功能,以快速访问,按自己常用需求主动设置主页。

北亚银行的电子银行应用程序不仅具有出色的智能界面设计,而且还集成了一系列功能,可帮助客户进行多种交易,“涵盖”大部分最基本的服务,从支付电费、水费、电视费和电信费等费用到慈善汇款,通过身份证明转账,充值数据卡和二维码支付等。 每一个交易都使用现代认证方法Smart OTP进行密保。

值得一提的是,新版本允许客户使用自己注册的电子银行服务电话号码或指纹或人脸识别方式登录,其安全性和准确性高。北亚银行手机银行应用程序有展示余额变动通知和银行其他通知的功能,客户可以随时随地更新有关交易、账户和促销活动的信息。 直接从主页查询账户信息,使用二维码加密收款账户或查询交易历史等功能得到简化,整个过程只需几次“点按”。

此外,通过此次升级,转换为BAC A BANK手机银行新版也十分简单与快捷,客户只需在Google Play或Apple Store更新应用程序,登录并按照屏幕上的操作指示重新激活Smart OTP后就可以充分体验新功能和实用程序,满足客户个人理财和交易的所有需求。

北亚银行领导表示,“我们希望这些变化将满足客户在使用 BAC A BANK 的网上银行渠道时的需求,特别是在加强社交距离措施的时期中。”

在本次升级中,北亚银行向个人客户提供新的体验,客户可以通过直观的图表和每种账户类型的详细信息表轻松地管理其财务状况。

北亚银行领导表示,对客户而言,需要清晰地分开管理账户,以便于掌握账户情况,特别是保障所有年龄段的用户都易于理解与查看。因此,北亚银行设计了一个饼图,使用不同的颜色将支付账户信息和储蓄账户信息分开,显示清晰,当客户选择对应饼图时即可显示账户信息。支付账户和储蓄账户的余额也显示为所有账户的总余额,当客户选择其要查找的账户时,将显示每个账户的详细余额。

客户可以通过每个支付账户立即实现相关的交易,例如从该账户进行转账,或者支付账单,或者便于向合作伙伴发送信息。

北亚银行领导强调,“有了储蓄账户,客户不仅可以查询相关信息,还可以办理开户业务或进行存折存取款。 这些功能的集成是对客户使用银行服务行程进行详细和细致研究过程取得的结果,旨在向客户提供最便捷的体验,最大限度地减少客户的操作步骤和时间。”

可以看出,特别是在疫情期间,电子商务交易的增加给消费者带来了许多好处,例如满足了客户和家人的消费需求,同时确保安全、方便、快捷等因素。

特别是,在社交距离时期,远程交易和在线支付真正占据了宝座,既可以确保防疫安全,又可以轻松地购买食品、生活用品、家用电器、电子产品、技术等,并支付电费、水费和电信费等费用。目前,北亚银行还在实行优惠的收费标准,许多费用都可以减免,例如免费注册、免费维护服务、 免费并降低银行间转账汇款费用,并承诺在市场上保持极具竞争力的费用。

除了基础设施、系统和安全投资,确保客户交易安全,北亚银行还提供比当前各家银行更高的交易限额。具体的是,银行内部转账限额为每天15亿越盾并每次不超过8亿越盾;跨银行转账限额为每天15亿美元,每次不超过5亿越盾;七天24小时快速转账限额达每天20亿越盾,并每次不超过5亿越盾;汇款和付款交易达每天1亿越盾,每次不超过5000万越盾。

除了对所有客户的固定限额外,北亚银行还针对有特殊需求并按照银行标准属于优先对象的客户提供更高的限额。

北亚银行一名长期顾客陈玉兰分享说,北亚银行的应用软件已帮助她减少金融交易时间,手续便捷和简单。

陈玉兰说,“此前,我去购物时习惯使用现金支付,但最近因担心疫情,我已转向网上购物,用网上银行(ebank)付款,送货上门。在超市和购物中心购物时我转账或使用非接触卡(contactless),最大限度减少现金接触。只要一台手机,我可以容易检查账户信息,转账和安全地进行网上存款。另外,此前,到水电费缴纳期限时我需来到缴费点缴纳水电费,想充值就要到杂货店购买充值卡,但目前只要通过银行应用软件,各问题在2分钟内就能解决“。

河内市二征夫人郡居民陈垂杨女士表示,她十年来就使用北亚银行支付账户,觉得较为便利。 特别的是,自这家银行正式升级电子银行服务软件,推出Internet Banking & Mobile Banking新版本后,觉得更具有科学性和更适合。

陈垂杨分享说,打开北亚银行Internet Banking应用主页时,我们就看到需使用的功能,较为便利。此外,银行还推出许多舒适的体验,如保存经常使用的账号和提示已使用的账号。基于此,我们不需要记住接收者的实名,而只要找店铺名称或昵称,这就是这家银行的新亮点”。

陈垂杨还说,因经常在网上购物,所以转账后她可直接把付款收据截图通过脸书、Viber和Zalo等账号分享给店主而不需要找下票据然而寄给他们。

据北亚银行的统计数据显示,自年初截至2021年7月底,这家银行的电子银行交易量同比增长了200%。为了鼓励顾客转向线上交易形式,北亚银行一直不断升级线上银行应用,性能优化和绝对安全的功能。

陈垂杨分享说,“特别的是,北亚银行免去银行转账手续费,因此我不怕进行多次数十万越盾的小额转账。此外,通过余额变动提示短信,让我们可以管理自己账号里的资金”。

北亚银行领导表示,在数字化交易渠道宣传普及的同时,各种诈骗形式也变得更加复杂,旨在骗取顾客的电子银行账号从而占有财产。然而,北亚银行已采用最先进技术来升级和更新系统,最大限度向顾客提供最安全放心的服务。北亚银行已开展网络链接、地址、静态密码、Smart OTP(升级版)等安全部署,只要顾客按照各正式提示短信对诈骗形式保持警惕。

北亚银行还经常通过email、手机短信或和大众媒体对顾客提供关于骗取和侵犯银行账户手段的相关信息;不断通知或提醒顾客注意做好保密关于用户名、静态密码、智能一次性密码(Smart OTP)等保密工作,以确保交易安全。

一名网购狂分享,在我们可容易通过银行部分数字应用来支付各种服务和购物的费用时,很少人想使用传统的支付方式。另外,在服务费下降时,顾客将会选择线上或线下交易哪个对他们更有好处。无现金支付快速增加和银行就拥有发展其数字化渠道的更多机会。(完)

一名网购狂分享,在我们可容易通过银行部分数字应用来支付各种服务和购物的费用时,很少人想使用传统的支付方式。另外,在服务费下降时,顾客将会选择线上或线下交易哪个对他们更有好处。无现金支付快速增加和银行就拥有发展其数字化渠道的更多机会。

Câu chuyện “con nhà nghèo vượt khó” không còn xa lạ với thể thao Việt Nam khi sự đầu tư cho nhiều môn thi đấu vẫn còn rất hạn chế. Bi sắt nằm trong số đó với mọi nguồn lực ít ỏi so với nhiều “anh em” khác. Bản thân môn thể thao ít người biết đến này cũng khó lòng nhận được sự quan tâm của người hâm mộ cũng như những nguồn tài trợ xã hội hóa.

Dẫu vậy, bỏ lại những khó khăn, đội tuyển bi sắt Việt Nam vẫn hướng đến việc giành huy chương ở mọi nội dung tham dự ở kỳ SEA Games 31 trên sân nhà, trong đó mục tiêu cao nhất là giành từ một đến hai huy chương vàng.

Đội tuyển bi sắt Việt Nam bắt đầu tập trung từ đầu tháng 3/2022 nhằm chuẩn bị cho SEA Games 31 tại Trung tâm huấn luyện viên Bi sắt (Hà Nội). (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Toàn đội tập với khối lượng 6 tiếng mỗi ngày, được chia đều vào hai buổi sáng và chiều. Gần ngày thi đấu, đội tuyển bi sắt sẽ có lịch tập luyện giống với khung giờ thi đấu nhằm thích nghi. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Trước khi tập luyện, toàn bộ mặt sân phải được lu cho bằng phẳng đồng thời tưới nước để đảm bảo điều kiện như đang thi đấu cho các vận động viên Việt Nam. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đội tuyển bi sắt được dẫn dắt bởi một huấn luyện viên trưởng và hai trợ lý. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Những năm qua, đội tuyển bi sắt Việt Nam dường như gặp không có đợt tập trung đúng nghĩa nhằm trau dồi và tập luyện. Từ năm 2005 đến nay, đội tuyển cũng chỉ mới một lần được tập trung dài hạn trên 6 tháng, còn lại đều rất ngắn ngày.

Thậm chí, có lần đội chỉ được tập luyện khoảng 15 ngày trước khi tham dự giải châu Á. Những đợt tập huấn nước ngoài hay thi đấu cọ xát khu vực là điều vô cùng “xa xỉ.”

Trước thềm SEA Games 31, những khó khăn như thế vẫn tiếp tục bủa vây đội tuyển bi sắt. Kể từ thời điểm dịch COVID-19 bùng phát, toàn đội gần như không thể hội quân, tập luyện cùng nhau. Các vận động viên cũng chẳng có nhiều cơ hội thi đấu và cọ sát do các giải quốc nội liên tục bị hoãn và hủy.

Huấn luyện viên trưởng đội tuyển bi sắt, ông Đặng Xuân Vui, cho biết chưa gặp mặt đầy đủ vận động viên trong vòng hai năm qua. Vài tháng gần đây, ông mới bắt đầu huấn luyện, lên giáo án và “làm lại từ đầu” với đội tuyển.

Ông Vui cho hay: “Bi sắt Việt Nam mạnh, nhưng bây giờ gặp quá nhiều khó khăn nên chưa biết ở SEA Games thi đấu như thế nào. Hai năm rồi, đội tuyển không được tập huấn, cũng không nắm được thông tin của đối thủ. Vì ít cọ sát nên các vận động viên tiến bộ hay thụt lùi cũng không rõ.”

Đội tuyển bi sắt Việt Nam tập tham dự SEA Games 31 với 19 vận động viên, tranh tài ở 8 nội dung. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Thành viên đội tuyển bi sắt Việt Nam chủ yếu đến từ đoàn Hà Nội, Quân đội, Đồng Tháp, Trà Vinh… (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đội tuyển bi sắt ít nhận được sự quan tâm, đầu tư vì không phải môn đầu tư trọng điểm của thể thao Việt Nam. Huấn luyện viên trưởng Đặng Xuân Vui từ chối chia sẻ về những khó khăn liên quan tới tài chính. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đội tuyển bi sắt vẫn chưa nhận được trang phục, thiết bị nhằm phục vụ cho SEA Games 31. Trong ảnh, vận động viên của tuyển bi sắt sử dụng lại trang phục từ năm 2019 tại SEA Games 30. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Tại khu vực Đông Nam Á, bi sắt Thái Lan mạnh nhất với nhiều vận động viên được tập huấn, thi đấu tại các giải quốc tế. Còn lại, Việt Nam, Campuchia và Lào xếp ở nhóm hai.

Huấn luyện viên Đặng Xuân Vui cho biết vì thời điểm SEA Games 31 diễn ra trùng với giải Vô địch Thế giới bi sắt tại Đan Mạch nên Thái Lan nhiều khả năng không cử đội hình mạnh nhất sang Việt Nam. Đó là cơ hội để đội tuyển bi sắt Việt Nam dễ dàng cạnh tranh hơn huy chương vàng. Tuy nhiên, bi sắt Thái Lan cũng dự kiến thâu tóm khoảng 5 nội dung ở giải đấu sắp tới.

Tại SEA Games 31, đội tuyển bi sắt Việt Nam đặt niềm hy vọng vào hai nữ vận động viên Nguyễn Thị Thi và Nguyễn Thị Hiền. Đây là hai gương mặt quen thuộc trong một thập kỷ qua của bi sắt Việt Nam bởi môn thể thao này vốn có tuổi đời vận động viên rất cao. Những người chơi càng giàu kinh nghiệm sẽ càng chiếm được ưu thế tâm lý.

Nguyễn Thị Hiền gây ấn tượng từng giành huy chương vàng tại Đại hội Thể thao châu Á trong nhà và SEA Games năm 2009. Sau 9 năm tạm dừng thi đấu để lo công việc gia đình, bà mẹ có hai con nhỏ quyết định trở lại thi đấu ở SEA Games 31 ở tuổi 38.

Trong khi đó, Nguyễn Thị Thi cũng bước sang tuổi 30 song vẫn là trụ cột của bi sắt Việt Nam sau khi từng giành liên tiếp 2 huy chương vàng SEA Games vào năm 2015 và 2017.

Sắp tới, đội tuyển bi sắt sẽ tham dự 8 nội dung ở SEA Games 31 gồm kỹ thuật nam/nữ, đôi nam/nữ, đôi nam-nữ phối hợp, bộ ba nam, bộ ba nữ, bộ ba gồm 2 nữ-1 nam.

Vận động viên Nguyễn Thị Hiền là người đầu tiên giành huy chương vàng môn bi sắt cho Việt Nam và từng nhiều lần gây ấn tượng ở các giải đấu châu lục. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Nguyễn Thị Hiền được kỳ vọng tỏa sáng ở SEA Games 31 kể từ sau khi tạm dừng thi đấu đỉnh cao từ năm 2013. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Thị Thi hướng đến huy chương vàng ở những nội dung phối hợp đồng đội. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Dẫu vẫn biết môn bi sắt không phải môn thi đấu trọng điểm của thể thao Việt Nam, song huấn luyện viên Đặng Xuân Vui không khỏi chạnh lòng khi sự quan tâm về mặt tình cảm cũng như vật chất dành cho đội, đặc biệt khi chứng kiến nhiều đội tuyển khác được thi đấu và tập huấn tại châu Âu.

Ông Vui bộc bạch: “Khó khăn lớn nhất cho bi sắt chưa hẳn đã là kinh phí, thay vào đó là sự quan tâm. Môn này gần như không được quảng bá, truyền thông nên nhiều người ít biết đến dù từng đem về nhiều huy chương chứ ở những kỳ SEA Games trước đây. Nhưng đó là huy chương bạc và đồng. Còn với mọi người, có lẽ phải là huy chương vàng mới đáng quý và được chú trọng.”

Giống với nhiều môn thể thao khác tại Việt Nam, vận động viên bi sắt không có điều kiện phát triển kinh tế. Tất cả thành viên của đội tuyển bi sắt gần như không có thời gian làm thêm để cải thiện thu nhập và chỉ trông chờ vào chế độ cùng mức trợ cấp được quy định.

Môn bi sắt đòi hỏi vận động viên phải khéo léo, có tâm lý vững vàng và sự thông minh để đưa ra phán đoán. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Mỗi vận động viên bi sắt sở hữu một bộ bi gồm 3 viên với giá trung bình khoảng 10 triệu đồng. Mỗi năm, vận động viên phải thay bi một lần. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Bi sắt phải đảm bảo rất nhiều tiêu chuẩn mới có thể được sử dụng trong thi đấu như còn số hiệu của nhà sản xuất, không được khắc hay chạm trổ nếu chưa được cho phép. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Bi sắt có trọng lượng từ 650 đến 750 gram. Vận động viên có thể bị truất quyền thi đấu nếu sử dụng bi không đúng quy định. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Bi sắt tại Việt Nam

Môn bi sắt có xuất xứ từ châu Âu và lần đầu xuất hiện ở SEA Games 21 vào năm 2001 tại Malaysia. Bi sắt phát triển tại Việt Nam từ đầu những năm 2000, được chơi và đẩy mạnh nhờ phong trào tại miền Nam và các tỉnh miền Tây. Sau năm 2007, môn thể thao bắt được phát triển mạnh hơn ở phía Bắc và dần dần được quy hoạch và đầu tư bài bản, chuyên nghiệp hơn.

Người đầu tiên quyết định phát triển môn bi sắt là cố Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam, ông Hoàng Vĩnh Giang. Hiện tại, môn thi đấu chỉ có hai giải đấu cao nhất trong năm gồm giải vô địch quốc gia và vô địch các câu lạc bộ.

Huyện Sóc Sơn, Thường Tín (Hà Nội) được coi như “mỏ vàng” của bi sắt nhờ sở hữu nhiều tài năng sáng giá của bi sắt Việt Nam và hàng năm cũng đóng góp nhiều vận động viên trẻ giàu tiềm năng.

Minh Sơn
Minh Sơn
Tá Hiển
Tá Hiển

Những năm gần đây, Việt Nam được coi là điểm sáng nhờ sự tăng hạng vượt bậc về giá trị thương hiệu quốc gia. Năm 2021, bất chấp đại dịch bệnh COVID-19, thương hiệu quốc gia Việt Nam tiếp tục duy trì được thứ hạng 33 trong danh sách top 100 thương hiệu mạnh thế giới, tăng khoảng 21,69% so với năm 2020, từ 319 tỷ USD lên tới 388 tỷ USD.

Vị thế mới, giá trị mới

Không phải ngẫu nhiên, Brand Finance – tổ chức định giá thương hiệu quốc gia hàng đầu thế giới có trụ sở tại Anh – lại đánh giá Việt Nam rất tích cực trong xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia toàn cầu. Đó là kết quả từ những nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân nước ta trong suốt nhiều năm qua.

Những năm gần đây, Việt Nam được coi là điểm sáng nhờ sự tăng hạng vượt bậc về giá trị thương hiệu quốc gia đi cùng những kết quả về kinh tế, xã hội đã đạt được, khẳng định uy tín và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, đồng thời thể hiện sự chủ động và tầm vóc của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Thứ hạng giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam liên tục được cải thiện trên Bảng xếp hạng thế giới và nằm trong nhóm thương hiệu mạnh nhờ những nỗ lực của Chính phủ về cải cách môi trường đầu tư kinh doanh, mở rộng quan hệ song phương, đa phương.

Theo báo cáo của Brand Finance, năm 2020 Việt Nam là một trong các quốc gia có mức tăng trưởng giá trị thương hiệu quốc gia nhanh nhất thế giới (tăng 29% so với năm 2019, lên 319 tỷ USD). Nhờ đó, giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam đã tăng 9 bậc, lên vị trí thứ 33 trong Top 100 thương hiệu quốc gia, giá trị nhất thế giới. Đây là một thành tích ấn tượng, nối dài giai đoạn 4 năm, thứ hạng giá trị thương hiệu quốc gia của nước ta liên tục được cải thiện và nằm trong nhóm thương hiệu mạnh của thế giới, nhờ những nỗ lực của Chính phủ trong cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao thành tích xuất nhập khẩu, hỗ trợ thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp.

(Nguồn: TTXVN)

Năm 2021, dù ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19, song thương hiệu quốc gia Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì được thứ hạng 33 trong danh sách top 100 thương hiệu mạnh thế giới, tăng khoảng 21,69% so với năm 2020, từ 319 tỷ USD lên tới 388 tỷ USD.

Theo Báo cáo chỉ số quyền lực mềm toàn cầu năm 2021 của Tổ chức Brand Finance, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng so với năm 2020 trong bảng xếp hạng quyền lực mềm toàn cầu. Cụ thể, vị trí của Việt Nam cũng được cải thiện, tăng 2,5 điểm, nâng thêm 3 bậc, từ 50/60 trong năm 2020 lên 47/105 năm 2021.

Theo ông Thue Quist Thomasen, thành viên Ban điều hành Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), Việt Nam ngày càng cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, bằng giải pháp xây dựng thương hiệu quốc gia. Đây là hướng đi đúng đắn cho các quốc gia định hướng xuất khẩu, nhất là muốn chinh phục thị trường châu Âu.

Nâng tầm vị thế, “chắp cánh bay xa”

Theo ông Vũ Bá Phú – Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), trước năm 1986, thương hiệu gần như là một khái niệm “chưa tồn tại” đối với cộng đồng doanh nghiệp, hay thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới thương hiệu vẫn chưa được quan tâm do doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa, chưa có sự giao thương, xuất khẩu với các nước trên thế giới.

Phải từ năm 1995 đến nay, cùng với tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, khái niệm “thương hiệu quốc gia” bắt đầu được trao đổi, vận dụng phổ biến ở Việt Nam, trước hết trong lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu, sau đó từng bước mở rộng ra lĩnh vực văn hóa-du lịch, truyền thông và công nghệ.

Đặc biệt, từ năm 2003, khi Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) là cơ quan thường trực, phối hợp với các bộ/ngành, địa phương, doanh nghiệp triển khai Chương trình thương hiệu quốc gia Việt Nam (Vietnam Value) thì nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về phát triển thương hiệu mới có những bước biến chuyển rõ rệt. Chương trình thương hiệu quốc gia là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn và duy nhất của Chính phủ gắn với 3 giá trị: “Chất lượng-Đổi mới, sáng tạo-Năng lực tiên phong” với mục đích quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu quốc gia thông qua thương hiệu sản phẩm.

Chương trình thương hiệu quốc gia là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn và duy nhất của Chính phủ gắn với 3 giá trị: “Chất lượng-Đổi mới, sáng tạo-Năng lực tiên phong”

Trong lĩnh vực du lịch, Đề án Xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa được phê duyệt tháng 12/2020 là bước cụ thể hóa Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (phê duyệt năm 2016) và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (phê duyệt năm 2020). Trong lĩnh vực công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2019 đưa ra thông điệp “Make in Vietnam” (Làm tại Việt Nam) nhằm quảng bá thương hiệu quốc gia cho ngành công nghệ thông tin Việt Nam. Trong lĩnh vực thông tin-truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài nhằm hỗ trợ các bộ/ngành, địa phương triển khai các kế hoạch xây dựng, quảng bá thương hiệu một cách hiệu quả.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Bộ Ngoại giao cũng đã chủ động, tích cực, hiệu quả góp phần định vị và quảng bá thương hiệu quốc gia hiểu theo nghĩa rộng và tiếp cận từ góc độ chiến lược đối ngoại phổ biến trên thế giới hiện nay. Đó là nỗ lực nghiên cứu, định vị bản sắc ngoại giao Việt Nam; phối hợp cùng các bộ, ban, ngành xây dựng các thông điệp lớn về đối ngoại trong văn kiện, chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước; Bộ Ngoại giao và hệ thống hơn 90 cơ quan đại diện ở ngoài nước đẩy mạnh triển khai các thành tố của thương hiệu quốc gia thông qua các trụ cột ngoại giao chính trị (đặc biệt là ngoại giao cấp cao), ngoại giao kinh tế (đồng hành, hỗ trợ các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp), ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại, ngoại giao công chúng (quảng bá văn hóa đất nước với các chính phủ và công chúng thế giới, chuyển tải rộng rãi thông điệp và thành tựu đối ngoại, góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế quốc gia).

Trải qua 19 năm hình thành và phát triển, Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, thu hút được sự quan tâm của các cấp, các ngành và tạo được uy tín đối với cộng đồng doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng trong và ngoài nước. Hiện tại, Việt Nam có 124 doanh nghiệp với 283 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia.

Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia 2020. (Nguồn: TTXVN)

Các doanh nghiệp Thương hiệu quốc gia đã khẳng định vị thế hàng đầu vững chắc trong lĩnh vực hoạt động của mình, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, cả về lợi nhuận và doanh thu, giữ vững thị trường nội địa và phát triển thị trường xuất khẩu, dù gặp phải không ít khó khăn, thách thức trong thời gian qua, nhất là trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến khó lường trên toàn thế giới.

Năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cả nước về đích với con số kỷ lục 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt trên 336 tỷ USD, tăng 19%, duy trì xuất siêu 6 năm liên tục (từ năm 2016 đến nay). Báo cáo rà soát thống kê thương mại thế giới của WTO ghi nhận, trong số 50 nước có nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới, Việt Nam có mức tăng trưởng lớn nhất khi dịch chuyển từ vị trí thứ 39 vào năm 2009 lên vị trí thứ 23 vào năm 2019 và lọt vào tốp 20 năm 2021. Đạt được những thành tựu này là do nhiều yếu tố trong đó có sự đóng góp của các sản phẩm Thương hiệu quốc gia.

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát ở Việt Nam, đa số các doanh nghiệp thương hiệu quốc gia đều triển khai các hoạt động chung tay cùng cộng đồng với số tiền và hiện vật quyên góp lên tới trên 80 tỷ đồng.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Chương trình, ngày 8/10/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký các Quyết định số 1320/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam từ năm 2020-2030 và Quyết định số 30/2019/QĐ-TTg ban hành Quy chế xây dựng, quản lý, thực hiện Chương trình. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển được 1.000 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam./.

Trần Nhật Thăng vẽ tranh như chơi, cứ tưng tửng cầm cọ phóng vào mặt toan những vệt màu đầy ám thị cảm xúc để thoả mãn niềm hạnh phúc bên trong tâm hồn mình. Anh không để ý đến nội dung tạo hình hay đến hình khối, những thứ sẽ thu hút sự chiêm ngưỡng và cả tiền bạc của người đời. Để chơi mà.

*

Không mấy người biết đến Trần Nhật Thăng như một hoạ sĩ có tiếng tăm lừng lẫy, có tranh được trọng vọng trong các gallery hay các bộ sưu tập cá nhân, hoặc được niêm yết với giá bán cao ngất ngưởng… những yếu tố luôn được đem ra để đánh giá tài năng và đẳng cấp của một hoạ sĩ.

Cầm cọ vẽ đã hàng chục năm, số lượng tác phẩm xếp dài vài trăm mét, thế nhưng tranh của Trần Nhật Thăng chưa bao giờ tạo được tiếng vang bằng một họa sĩ tay ngang vừa buông bút viết thơ văn, chuyển sang vẽ vời, song ở triển lãm đầu tay, bức nào bức ấy đều đính dấu đỏ báo hiệu đã tranh đã được mua.

Trần Nhật Thăng không bao giờ gây chấn động như thế bởi anh chọn cho mình một hướng đi “hành xác” và cô độc là vẽ tranh trừu tượng. Bản thân khái niệm “tranh trừu tượng” cũng là một cái gì đấy quá trừu tượng, thế nên gây chấn động như tranh hiện thực sao được.

Cho nên, khi nói đến mảng tranh trừu tượng ở Việt Nam, Trần Nhật Thăng vẫn nổi lên như một kẻ tiên phong của giai đoạn Hậu-Đổi Mới, nhưng cái sự nổi đó cũng bởi quá ít hoạ sĩ dám đi theo con đường này.

Khả năng thụ cảm của công chúng Việt Nam với tranh trừu tượng có lẽ vẫn ở mức thấp nên họ lãnh đạm với Trần Nhật Thăng và tranh của anh. Chỉ người trong giới mới biết và dành cho anh một sự kính nể nhất định. Họ kính nể ngôn ngữ trừu tượng của anh hay nể sự dũng cảm điên rồ trong suốt hơn 20 năm qua thì chúng ta không cần biết.  

Chính vì thế, nói đến anh, có lẽ nhiều người biết đến ông Thủy, bố của anh hơn (đạo diễn Trần Văn Thuỷ – NV) với những bộ phim tài liệu kinh điển như “Hà Nội trong mắt ai” hay “Chuyện tử tế”. Bước ra đời dưới cái bóng của người bố danh tiếng nhiều khi là một áp lực.

Con người còn như thế, huống hồ tác phẩm của anh ta. Có lẽ, những bức tranh được chiêm ngưỡng nhiều nhất của Trần Nhật Thăng chính là những bức bích họa vẽ xung quanh trường cấp ba Phan Đình Phùng, vốn được anh thực hiện cách đây vài năm nhằm để tri ân “lớp cũ, trường xưa”.

Nhưng Trần Nhật Thăng vẫn cứ cười hềnh hệch, vắt chân chữ ngũ, nắn lại vành mũ phớt, rút điếu thuốc lá gắn lên miệng, châm lửa kéo một hơi thật dài, rồi khoan khoái thả ra một vầng khói trắng. Đám mây bay lờ lững trong mắt nhìn hờ hững, giống như cách anh giăng màu cho thoả đam mê mà không cần biết chuyện gì sẽ đến với bức tranh của mình sau đó.

**

Vẽ tranh với Trần Nhật Thăng như là cơm ăn, nước uống và không khí để hít thở, không vẽ không chịu được. Có những lần, ngồi say sưa bên khay trà rượu, đang hăng say chém gió, anh chợt im lặng như rơi tõm vào trú xứ xa xôi, rồi bất thình lình vớ lấy tập giấy nào bất kỳ trong tầm tay để hối hả vạch nên những ký họa chân dung của người đồng ẩm và tặng luôn cho họ.

Từ góc xa quan sát, tôi thấy Trần Nhật Thăng mải miết vẽ đến cả chục bức ký họa trên tập giấy menu của nhà hàng. Tiếng chì nát trên giấy sồn sột, tiếng xé giấy soàn soạt, anh cứ mải mê vẽ, khoé miệng khẽ nhếch một nụ cười nửa vời. Hình ảnh đó khiến tôi không thể không liên tưởng đến hình ảnh mỹ nhân Bao Tự xé lụa để mua vui, không cần để ý đến thế nhân.

Họa sĩ hay những người làm nghệ thuật, thường có cái Tôi lớn. Càng những người được ca tụng nhiều, cái Tôi của họ càng lớn như thể những lời khen ngợi là nguồn dinh dưỡng nuôi nấng cho một cái Tôi phì đại. Họ thận trọng đặt bút vẽ, thận trọng giới thiệu một bức tranh, thận trọng đón nhận từng lời khen tiếng chê để sung sướng hoặc đau khổ.

Nhưng cái Tôi của Trần Nhật Thăng có vẻ miễn nhiễm với nguồn dinh dưỡng đó. Anh đưa những tờ ký hoạ cho người khác như tặng một món quà tri ngộ, như bày tỏ một tấm chân tình của mình. Tuy nhiên, anh không màng tới thái độ của người được tặng như thế nào.

Có những người đón nhận một cách trân trọng, ngắm nghía kỹ càng, khen ngợi sự nhanh, sự tinh của mắt vẽ rồi cất giữ cẩn thận. Có người hờ hững cầm, hờ hững xem rồi hững hờ thả xuống cạnh chén rượu như thể đó là một tờ giấy ăn vậy.  

Song dù thế nào, Trần Nhật Thăng không bao giờ cảm thấy sung sướng hay bị tổn thương vì những điều đó. Anh cứ thản nhiên uống rượu, hút thuốc và lại vẽ trong cuộc rượu như góp một câu chuyện mua vui vậy. Làm gì cũng phải vui chứ, nhất là khi vẽ tranh và uống rượu.

Ngay cả ở những tác phẩm lớn của mình, chưa bao giờ Trần Nhật Thăng để những phản hồi nhận lại làm ảnh hưởng đến bản ngã. Người ta xem tranh của anh xong lắc đầu vì “chẳng hiểu vẽ cái gì”. Người ta đem tranh của anh treo ở nơi kém trang trọng, thậm chí là cạnh chuồng gà.

Không sao hết, mỗi bức tranh đều có số phận riêng của nó, và việc định đoạt số phận của những đứa con tinh thần này vốn dĩ không phải phận sự của anh. Hơn hết, Trần Nhật Thăng hiểu quá rõ sự vô thường trong lĩnh vực mang tính tinh thần này.

Trải qua 13 cuộc triển lãm cá nhân, tận mắt thấy sự hình thành của từng bức tranh, tận tay “mi” từng bức một cách cẩn thận, ngắm nhìn chúng rực rỡ toả sáng trên tường gallery trong thời gian hữu hạn và rồi lại chứng kiến chúng xếp thành từng đống im lặng trong bóng tối và bụi bặm, anh đã quá hiểu mọi thứ.

Anh không thể bắt người ta phải mua hết tranh của mình, phải bỏ ra rất nhiều tiền để sở hữu tranh của mình hay yêu cầu họ phải dành không gian đẹp đẽ nhất để treo tranh của mình. Trần Nhật Thăng không có tham vọng bức nhân đó.

Bức tranh chỉ là của anh khi nó còn không là gì cả, khi những trạng thái cảm xúc của anh vẫn còn bị giam giữ trong tâm trí chứ chưa được giải phóng lên toan. Còn khi bức tranh đã có hình hài vật chất, đã được định dạng bởi những đường nét và miền màu, nó biến thành hạt mưa bay giữa trời vô định. Anh nào biết được hạt nào sẽ rơi cạnh chuồng gà!

***

Thật sâu trong tâm khảm của mình, chắc chắn, Trần Nhật Thăng không thể vui khi thấy nhiều tác phẩm của mình chìm trong bóng tối. Người họa sĩ vẽ tranh là để đưa những cảm xúc cá nhân thoát thai khỏi bóng tối mơ hồ, hiện diện bằng màu sắc và hiện diện trong ánh sáng. Chúng phải được thừa nhận và đón nhận.

Song, Trần Nhật Thăng không phải tuýp người thích thể hiện, cũng như những bức tranh của anh không phải thứ mà đám đông dễ tiếp cận. Anh an nhiên với bóng tối, thậm chí cảm thấy khoái trá với sự cô độc. Anh vẫn thường nằm trong bóng tối, trên một con đèo đầy bóng tối để tận hưởng ánh sáng của những ngôi sao, thứ ánh sáng chỉ được thụ cảm nhờ bóng tối và bị triệt tiêu bởi ánh sáng.

Tranh của Trần Nhật Thăng thể hiện rất rõ điều triết lý sáng tạo cá nhân này. Chúng được vẽ bằng những đường nét tuỳ hứng của dòng cảm xúc và tư tưởng. Anh đặt cọ lên một điểm khởi đầu ngẫu hứng và để cho dòng chảy của cảm xúc và tư tưởng dẫn đường.

Vốn dĩ tư tưởng của con người không bất động mà luôn linh hoạt chuyển động như vượn chuyền cành hay mạnh mẽ phá cách như chiến mã lỏng cương. Dòng chảy tư tưởng đó sẽ khiến tay của anh miên man tuỳ ý, dừng ngắt hay chuyển hướng vô cùng, không thể nắm bắt cho đến khi ý tuyệt, tâm cạn.

Trong một lần ghé qua xưởng vẽ của Trần Nhật Thăng, tôi thấy anh đặt một giá để gươm của võ sĩ đạo Nhật Bản trước khung tranh, liền hỏi mối quan hệ giữa gươm và hội hoạ trong tâm tưởng của hoạ sĩ. Anh giải thích, ngoài việc tôn thờ tinh thần kiên cường nguyên thuỷ của võ sĩ đạo, anh muốn mọi đường đi bút của mình cũng mạnh mẽ và dứt khoát như một đường gươm.

Đó có thể là một giải thích mang tính “nguy hiểm”, theo ý kiến chủ quan của tôi, nhưng thực sự, khi xem tranh, tôi thấy mọi bức đều phảng phất “gươm ý”. Không phải những nét tung, nét hoành hay nét xiên mang “gươm ý” mà là tinh thần ào ạt, mạnh mẽ như tuốt gươm tả xung hữu đột, miên man không ngừng.

Nếu không có tinh thần đó, khó có thể giải thích tại sao Trần Nhật Thăng có những đêm “vung gươm” như mê dại để vẽ xong cả vài bức tranh có kích thước bằng cả bức tường, để rồi sáng ra mệt phờ, cả tâm, thân, ý đều cạn kiệt đến cả gần 10 năm sau, khiến nhiều người tưởng rằng sau trận “đồ sát” này thì anh sẽ thôi hẳn trừu tượng.

Nói đến chuyện Trần Nhật Thăng vẽ một vài bức tranh khổ lớn trong một đêm, nhiều người có thể cho là kiểu tranh của anh dễ vẽ bởi chúng không cầu kỳ, tinh xảo về đường nét, hình hoạ, bố cục, tạo hình. Tranh trừu tượng mà, có người bôi màu nguyên một bức, có người cầm chậu màu hắt lên toan, thế mà cũng thành tranh, bán lại đắt cả mấy chục triệu USD.

Sa vào lĩnh vực trừu tượng dễ cãi nhau như vậy lắm, bởi trừu tượng là cái gì đó chưa thể cộng cảm với tâm thế xem tranh, thưởng tranh không chỉ của người Việt Nam mà còn cả thế giới. Ngôn ngữ trừu tượng vốn dĩ là thứ có thể cảm được mà không mô tả được, mà mỗi người lại cảm theo một hướng khác nhau dù cùng xem một bức tranh.

Sự tương phản, kết hợp của đậm nhạt, sáng tối, nét vẽ, vùng màu, các mảng đối lập, tiếp biến trong tranh của Trần Nhật Thăng không phải là ngôn ngữ để đám đông thụ cảm. Bởi chúng chính là diễn biến tư tưởng, cảm xúc của anh trong quá trình “vung gươm” và để nắm bắt được thứ ngôn ngữ đó, người xem buộc phải có cùng bước sóng với họa sĩ.

Có như vậy thì mới cảm được ý đồ và ý thức sáng tác của hoạ sĩ, cùng rung cảm ở một tần số sóng tại một bức tranh. Nếu không rất dễ lâm vào cảnh “gật gù vô minh” hoặc chỉ thấy đẹp bởi màu sắc hài hoà, bắt mắt hoặc chê bai thẳng thừng “vẽ thế này thì trẻ con cũng vẽ được”.

****

Ngôn ngữ hội hoạ của Trần Nhật Thăng chọn khù khoằm như thế nên cũng dễ hiểu tại sao nhiều bức tranh của anh nằm trong bóng tối. Nhưng anh không thay đổi ngôn ngữ và bản ngã của mình, bởi Trần Nhật Thăng biết rằng, còn chấp vào bản ngã không được công nhận là còn chưa nhận thức rõ về bản thân mình.

Anh muốn người ta cảm nhận tranh của mình bằng trái tim chứ không phải cái đầu, bằng cảm xúc chứ không phải phân tích lý luận. Vẽ đối với anh là giãi bày thế giới nội tâm, đem vùng tối đặt ra ngoài vùng sáng, dùng màu sắc vật chất để diễn tả trạng thái tinh thần. Nó là một nhu cầu nội tại và là một cuộc chơi của riêng anh.

Hoàn toàn không bất ngờ khi những bức tranh của Trần Nhật Thăng chỉ bừng sáng trong giây lát triển lãm và rồi chìm đắm trong bóng tối miên viễn. Nhưng cũng không bất ngờ nếu một ngày nào đó, bước sóng của Trần Nhật Thăng bắt được vào con tim của người khác, để rồi chúng sẽ được tung hô, trọng vọng, còn ngôn ngữ của anh sẽ được mô tả là ngôn ngữ của bậc trí giả.

Nhưng dù thế nào, tranh là một cuộc chơi lớn, là một miền rong chơi bất tận của Trần Nhật Thăng. Vốn là một gã trai Hà Nội đầy những đam mê phù phiếm, Trần Nhật Thăng rất ham chơi và biến cả cuộc đời thành một thú chơi. Việc anh dùng tranh để chơi cảm xúc của mình thú vị chẳng kém chơi mô tô, chơi bật lửa, đồng hồ, kính bút hay tượng Phật.

Trong thú chơi của mình, đặc biệt là vẽ tranh, Trần Nhật Thăng chỉ cần sự cộng cảm “không thể không có” từ người vợ và ba cô con gái. Tranh của anh của anh dù được khen hay chê, dù được trưng bày hay xếp xó, ít nhất cũng tìm được sự đồng cảm từ “bốn nữ tướng” trong gia đình.

Chỉ cần thế là đủ và thừa thãi để Trần Nhật Thăng mê mải trong miền chơi của mình. Nếu không, mọi thứ sẽ biến thành địa ngục bởi không một người vợ nào có thể chấp nhận chồng “vung gươm” tốn bao tiền toan, tiền màu, tiền khung để vẽ ra những bức tranh không đem lại tiền bạc suốt mấy chục năm qua.

Ở ngưỡng “ngũ thập tri thiên mệnh”, Trần Nhật Thăng đã biết được mệnh trời hay chưa. Nhưng anh vẫn cứ chơi và chơi cho ra chơi. Lần này anh chơi “Miền Không”, cuộc triển lãm cá nhân thứ 13 trong sự nghiệp gươm đao tranh pháo với 30 bức tranh trừu tượng được anh đặt tên từ 1 đến 30.

Nói đến “Miền Không” nhiều người sẽ nghĩ rằng có liên quan đến Thiền, đến tư tưởng nhị nguyên Sắc – Không của Phật giáo. Cũng có thể là thế, nhưng cũng chẳng thể là thế. Nó chỉ là tư tưởng, là suy nghĩ của Trần Nhật Thăng, được hình thành trong một cuộc chơi như bao cuộc chơi khác.

Trong cuộc chơi này, Trần Nhật Thăng không cầu điều gì cả bởi danh tiếng và tiền bạc anh đều không có, hoặc có không nhiều. Anh cũng không quan tâm đến việc tranh có được đón nhận, được mua hay không. Những vấn đề của cuộc sống không tồn tại trong tranh của Trần Nhật Thăng. Ở đó chỉ có sự sáng tạo, thứ giúp anh luôn nổi loạn trong hiện thực và trong suốt miền chơi bất tận của mình.

Hơn 2 thập kỷ lao vào nhánh chông gai nhất của con đường hội hoạ, chịu đựng nhiều bầm dập từ cuộc đời, có lẽ Trần Nhật Thăng coi “Miền Không” như một điểm tiếp biến trong tư duy sáng tạo. Nhưng khi bước vào tuổi 50, Trần Nhật Thăng lại cho chúng ta thấy một sự bừng tỉnh trở lại với năng lượng và tinh thần tươi mới. Nó rất xứng đáng với cái tên Nhật Thăng của anh: Mặt Trời Đang Lên!

Tác giả: <strong>TUỆ LAM</strong>
Tác giả: TUỆ LAM

Phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam

Nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ thành quả lao động, sáng tạo, gìn giữ qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá của dân tộc ta.

Vì vậy, xây dựng, phát triển văn hóa luôn được Đảng xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là một trong những động lực để phát triển kinh tế-xã hội.

Bức tranh văn hóa Việt Nam đa sắc màu

Theo các tài liệu sử học, Việt Nam là một cộng đồng văn hoá rộng lớn hình thành khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỷ này. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 400 năm tiếp biến văn hóa Việt Nam với phương Tây dưới nhiều hình thức, nhưng văn hóa Việt Nam vẫn vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa hiện đại hóa.

Nền văn hiến kỳ vĩ của dân tộc Việt Nam được tạo nên bởi 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá.

Văn hóa Việt Nam có những nét mang tính đặc trưng phổ biển của văn hóa nói chung và có những đặc trưng riêng biệt, đặc thù. Những đặc trưng cơ bản riêng biệt này được hình thành, đúc kết, bảo lưu, phát triển từ điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị-kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Các đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam là lòng yêu nước; tinh thần dân tộc; lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã, xã hội; tính tinh tế…

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới dự ngày hội Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc năm 2022. (Ảnh: Tuấn Đức/TTXVN)

Phát biểu tại Ngày hội “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” và Lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ năm 2022 (ngày 12/2/2022), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, tất cả chúng ta dù ở đồng bằng hay miền núi, biên giới hay hải đảo, trong nước hay nước ngoài, dù khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo đều một lòng hướng về nguồn cội, quê hương, đất nước, cùng nhau nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.

Nền văn hiến kỳ vĩ của dân tộc Việt Nam được tạo nên bởi 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá của dân tộc ta.

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc mang một bản sắc riêng thể hiện qua văn hoá ẩm thực, nhà ở, phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo, tổ chức xã hội, văn học nghệ thuật, trang phục… Đó là những dấu hiệu để nhận biết nhau, giúp hiểu biết về nhau.

Trong số đó, trang phục truyền thống là một biểu trưng văn hoá phản ánh sinh động phong tục, tập quán, vẻ đẹp và bản sắc riêng của mỗi dân tộc trên mỗi vùng miền đất nước. Trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam gắn liền cùng quá trình dài lao động, sáng tạo chứa đựng những giá trị nghệ thuật, lịch sử của từng tộc người.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của Việt Nam đã vượt ra khỏi ranh giới quốc gia để trở thành di sản văn hóa chung của cả nhân loại. Trong ảnh: Đoàn nghi lễ rước kiệu dâng lễ vật tưởng nhớ các Vua Hùng. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Trong các vùng văn hóa không thể không kể đến không gian văn hoá rộng lớn trải dài khắp đất nước của những lễ hội truyền thống, được tổ chức hàng năm tại mỗi ngôi làng, nhằm tưởng nhớ tới các vị anh hùng có công với đất nước, với làng xã, biểu đạt sâu sắc tinh thần gắn kết cộng đồng, đời sống, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa của mỗi ngôi làng Việt.

Theo thống kê, nước ta có hơn 6.000 lễ hội dân gian, lưu giữ nhiều tầng lớp văn hóa tín ngưỡng, ẩn chứa hệ tư tưởng đạo lý và triết học. Trong số đó có các lễ hội tiêu biểu như Hội Gióng, Lễ hội Đống Đa, Lễ hội Cổ Loa, Hội Chùa Thầy, hội Thổi cơm thi làng Thi Cấm…

Nội dung các hội làng thường gắn với tục thờ cúng vị thành hoàng làng, quá trình thực hiện nghi lễ và các hoạt động vui chơi, giúp người dân gắn bó với nhau về tinh thần, có trách nhiệm với cộng đồng.

Nhiều lễ hội phản ánh tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước. Đồng thời phản ánh đậm nét vai trò của nhân dân – những người sáng tạo, kế thừa và trao truyền các sáng tạo văn hóa vật thể, phi vật thể, chủ nhân chân chính của loại hình di sản này.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, mỗi dân tộc là một cành trong cái cây vĩ đại mang tên Việt Nam, do đó chúng ta phải có trách nhiệm gìn giữ bằng mọi giá vẻ đẹp văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho tất cả những cành, nhánh ấy đâm chồi nảy lộc, nở hoa, kết trái (Ngày hội “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” và Lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ năm 2022).

Bởi lẽ, thông qua sự kết nối kỳ diệu của văn hóa, chúng ta mới dễ dàng có được sự gần gũi, hiểu biết và yêu thương lẫn nhau, góp phần vun đắp sức mạnh Việt Nam, giá trị Việt Nam cho hôm nay và mai sau.

Phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam

Nhận thức Đảng ta về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước đã xác định rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.”

Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời tăng cường uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế.

Văn hóa ngày càng được đề cao trong các mối quan hệ xã hội, các lĩnh vực hoạt động, xây dựng văn hoá con người ở thời kỳ mới. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Ðảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần.

Tiếp đến, Đại hội XIII của Đảng xác định “Phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam,” “Xây dựng, phát huy yếu tố văn hóa để thực sự là đột phá phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế.”

Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội Đảng, Đảng ta đề cập một cách toàn diện và sâu sắc đến lĩnh vực văn hóa, từ chủ đề Đại hội đến các quan điểm, mục tiêu, định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược.

Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời tăng cường uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế.

Với lợi thế của một nền văn hóa có nhiều nét độc đáo, mang lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế, việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là một chiến lược đúng đắn để thực hiện các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Năm 2007, khi Giáo sư Joseph Nye, tác giả của học thuyết “Sức mạnh mềm” đến Việt Nam, đã nhận định rằng, những điểm làm nên sức hấp dẫn nhất của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay là tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa, trong đó văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn và có sức lôi cuốn các nước phương Tây.

Nhìn lại những thành tựu trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới, chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp to lớn của nền văn hóa vào sự nghiệp cứu quốc và kiến quốc.

Nổi bật là nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực, các loại hình; các sản phẩm văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát triển. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực.

Phố cổ Hội An – Di sản văn hóa thế giới với hơn một nghìn di tích được gữ gần như nguyên vẹn. Những ngôi nhà cổ rêu phong với hình ảnh người phụ nữ áo dài làm những con phố cổ càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt khách du lịch trong và ngoài nước. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Phát triển toàn diện con người Việt Nam từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Các chỉ số phát triển con người Việt Nam đã có nhiều bước tiến so với khu vực và thế giới.

Năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam có tên trong số 52 nước có Chỉ số phát triển con người cao. Khoảng 50 triệu người được xóa đói giảm nghèo, giúp Việt Nam cán đích mục tiêu Thiên niên kỷ sớm hơn 10 năm so với cam kết với Liên hợp quốc. 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới…

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (ngày 24/11/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có Bài phát biểu đề cập đến sức mạnh mềm văn hóa một cách hàm súc và gói trọn tâm huyết để xây dựng, phát triển văn hóa.

Người đứng đầu Đảng ta khẳng định “văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất.” Đứng trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần,” “động lực phát triển,” và “soi đường cho quốc dân đi;” phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

Theo các chuyên gia, động lực và sức mạnh nội sinh của văn hóa không phải tự dưng hay ngày một ngày hai có được mà phải được nuôi dưỡng, giáo dục, vun đắp, chăm bón từng ngày, từ những công việc nhỏ bé, bình thường đến sự trải nghiệm, từng trải được hun đúc, trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, sức mạnh mềm của đất nước được kỳ vọng sẽ có sức bật tốt để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đủ sức “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong./.

Nghi thức tắm tượng phật bằng nước ướp hương, gột rửa những điều không may mắn năm cũ để sang năm mới mọi sự được như ý trong Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer. (Ảnh: Tuấn Đức/TTXVN)

九龙江三角洲提升交通基础设施建设水平 为经济社会发展注入动力

作为一个总面积4.04万平方公里的大型经济区的九龙江三角洲在农业发展和招商引资方面具有巨大优势。然而,从长远来看,交通基础设施未能满足实际要求并正成为阻碍区域内各地充分发挥竞争优势的“瓶颈”。

专家们对九龙江三角洲经济,特别是农业生产的发展潜力做出评价时强调,该地区的农业产值占全国总值的约40%,水稻产量占54%以上,大米出口量占90%,水产品产量占65%,水果产量占70%。

对九龙江三角洲地区各地方吸引投资优势进行分析时,越南贸易和工业联合会芹苴市分会会长阮芳蓝先生认为,该地区的优势在很大程度上取决于自然条件和地理位置。九龙江三角洲面积大,河流沟渠纵横交错,两侧临海。该地区在大米、水产品、蔬菜、旅游和能源产业等领域发展优势巨大。这是一个农水产品资源丰富的地区,从招商引资的角度来看,其对工业基础设施的发展具有极大的优势。

此外,九龙江三角洲营商环境较为便利且不断得到改善。近年来该地区省级竞争能力指数(PCI)持续领先全国已充分体现出这一点。

然而,阮芳蓝认为,九龙江三角洲目前面临的主要挑战之一正是基础设施。阮芳蓝指出,该地区的物流产业目前面临冷链技术投资有限、海港和河港基础设施规模偏小、质量较低等重大困难。物流基础设施仍缺乏联通性,物流服务套餐供应商少之又少。交通基础设施支撑力不足使得物流成本仍很高,产品竞争力下降。

越南水产加工和出口协会(VASEP)秘书长张廷槐透露,目前,九龙江三角洲地区85%的出口商品要经过巴地头顿省、胡志明市的港口;其余15%通过公路运往中部和北部地区的边境口岸。因此,虽然九龙江三角洲的海港和物流服务潜力巨大,但还不足以满足该地区主力商品的生产活动和销售需求。

越南政府总理日前批准的《近期2021-2030年、远期展望2050年的九龙江三角洲地区规划》中明确指出,2050年,九龙江三角洲将成为全国范围内发展水平较高的地区,同时是宜居的地方,也是备受游客和投资者欢迎的目的地。

关于基础设施发展,规划中建议,发展多式联运、区域间和国际互联互通的交通基础设施,其中着力发挥内河航运优势。到2030年,出资新建并对约830公里的高速公路、约4000公里的国道、4个航空港、13个海港、11个客运港口群和13个内河货运港口群进行升级改造。

在海港系统方面,到2030年,满足货物吞吐量6400~8000万吨的需求。在航空方面,富牌国际机场负责为国内外游客服务,芹苴国际机场是该地区航空物流发展的中心。

集中投资发展内河航道基础设施,发挥现有优势,提高集装箱航运市场份额;13个货运港口群年货物总吞吐量超过5300万吨;11个客运港口群年游客总吞吐量达约3100万人次/年。

逐步实现基础设施,特别是交通基础设施发展任务目标,今年3月底,迪苗(Rạch Miễu) 二桥已正式动工兴建。该桥跨越潜江,双向6车道,设计时速80公里,满足60号国道上日益增长的交通需求。该桥投运之后将助力缓解交通拥堵现象,节省交通工具成本等。

与此同时,九龙江三角洲各省市还着力加快各重点交通工程的实施进度,为经济社会发展注入动力等。(完)

杨玉叶
杨玉叶
祥安
祥安

Путь становления и развития SEA Games и вклад Вьетнама

31-е Игры Юго-Восточной Азии (SEA Games 31) официально пройдут с 12 по 23 мая 2022 года в Ханое, а также в некоторых провинциях и городах, что знаменует собой веху для Вьетнама – иметь честь во второй раз быть принимающей страной.

С момента своего основания, после более чем полувекового существования, SEA Games всегда являются незаменимой духовной пищей для любителей спорта, в то же время способствуя укреплению солидарности и дружбы между странами региона.

63 года стадии становления и развития

Более полувека назад, исходя из точки зрения того, что страны Юго-Восточной Азии имеют много сходств в образе жизни, культуре, климате и человеческом телосложении, а страны имеют одинаковый базовый уровень спортивных достижений, было принято решение собраться и поддержать друг друга, чтобы регулярно и периодически организовывать совместные спортивные фестиваля соответствующего масштаба между странами.

22 мая 1958 года была создана Спортивная федерация полуострова Юго-Восточной Азии (SEAP Games Federation). В 1977 году Федерация была переименована в Спортивную федерацию Юго-Восточной Азии, а Игры на полуострове Юго-Восточной Азии (SEAP Games) были переименованы в Игры Юго-Восточной Азии (SEA Games).

Поэтому 22 мая 1958 года делегаты стран полуострова Юго-Восточной Азии, присутствовавшие на 3-х Азиатских играх в Токио, Япония, встретились и пришли к соглашению о создании собственной спортивной организации региона – Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии (SEAP Games Federation), с целью укрепления дружбы, солидарности и взаимопонимания между странами региона; постоянно повышать достижения, технику и тактику видов спорта; создавать условия для тренировок и соревнований спортсменов из стран региона, чтобы лучше участвовать в Азиатских играх и Олимпийских играх.

Национальные флаги Вьетнама и стран ЮВА на SEA Games 25.

Первое собрание Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии состоялось 5 июня 1959 года в Сантидхама-холле в Бангкоке, Таиланд, оно утвердило устав и избрало Исполнительный комитет Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии. Президент национального олимпийского комитета Таиланда Прабхас Чаруштиара был избран первым президентом Федерации, в состав которой вошли делегаты из Камбоджи, Лаоса, Малайзии, Бирмы (ныне Мьянма), Таиланда и Вьетнама.

Страны, участвующие в этом первом собрании, называются странами-основателями Федерации. Кроме этого, на первом собрании Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии логотип Федерации был утвержден в виде шести переплетенных светло-желтых кругов, представляющих шесть членов-основателей.

Делегаты стран также приняли решение проводить SEAP Games каждые 2 года в середине цикла Олимпийских и Азиатских игр. Спортивные состязания принятые Федерацией игры полуострова Юго-Восточной Азии проходят под контролем Международного олимпийского комитета (МОК) и Олимпийского совета Азии.

Совет Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии является высшим органом Федерации, имеющим полномочия решать все вопросы деятельности Федерации, такие как повестка дня Игр, время проведения Игр, регистрация участников.

Спортивная делегация Вьетнама проходит через трибуну SEA Games 25.

Каждая страна-член имеет право назначить от 1 до 3 человек в Совет Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии. Игры SEAP впервые были проведены в Бангкоке, Таиланд, с 12 по 17 декабря 1959 года с участием 527 спортсменов из Таиланда, Бирмы (ныне Мьянма), Малайзии, Камбоджи, Лаоса и Вьетнама, соревнующихся в 12 видах спорта.

В 1965 году Федерация игр полуострова Юго-Восточной Азии приняла Сингапур в состав своих членов, после того как он отделился от Федерации Малайзии и образовал независимую страну. Затем, на 8-х Играх SEAP Games, состоявшихся в 1975 году в Бангкоке, Таиланд, Федерация игр полуострова Юго-Восточной Азии рассматривала возможность принятия Индонезии и Филиппин.

Эти две страны были официально приняты в 1977 году, и в том же году Федерация игр полуострова Юго-Восточной Азии сменила название на Федерацию игр Юго-Восточной Азии, а Игры полуострова Юго-Восточной Азии были переименованы в SEA Games.

В 1979 году Бруней был принят в Федерацию SEA Games на 10-х SEA Games 10, проходивших в Джакарте, Индонезия. На 20-х SEA Games (в 1999 г.), проходивших в Брунее, Олимпийский совет Брунея предложил изменить логотип Федерации SEA Games с 6 кругов на 10 светло-желтых кругов, вложенных друг в друга.

Флаг Федерации игры Юго-Восточной Азии имеет синий фон, состоящий из пересекающихся кругов, которые символизируют мир, солидарность и дружбу между странами-членами. На SEA Games 22, проходивших в 2003 году в Ханое (Вьетнам), Восточный Тимор был последней страной, участвовавшей в SEA Games.

Премьер-министр Нгуен Суан Фук вручает кубок чемпиона Кубка ЮВА по футболу в 2018 г. (AFF Suzuki Cup 2018) сборной Вьетнама.

На SEA Games 27, проходивших в Мьянме, логотип Федерации игр Юго-Восточной Азии продолжал изменяться с 10 кругов до 11 светло-желтых кругов, прикрепленных друг к другу. С тех пор символ из 11 соединенных друг с другом светло-желтых кругов, символизирующих солидарность и любовь между народами Юго-Восточной Азии, стал официальным символом Федерации игры Юго-Восточной Азии.

Спустя 63 года со дня основания SEA Game, это мероприятие и сегодня остается главным спортивным событием региона.

Включая SEA Games 31 (в 2022 г.), Таиланд и Малайзия являются двумя странами с наибольшим количеством проведения SEA Games – 6 раз; Сингапур, Индонезия и Филиппины заняли 2-е место (принимали SEA Games 4 раза); Мьянма заняла 3-е место (принимала SEA Games 3 раза); Вьетнам – 2 раза; страны, которые когда-то организовали SEA Games, – это Бруней и Лаос.

Вьетнам – активный участник в создании и развитии спорта в Юго-Восточной Азии

Вьетнамская спортивная делегация принимает участие в Играх Юго-Восточной Азии с момента их основания. В частности, в период до 1975 года Южный Вьетнам ранее был одним из членов-основателей Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии и постоянно отправил спортивные делегации для участия с первых Игр (в 1959 г.) до 7-го Игр (1973 г.).

Посредством участия в спортивных мероприятиях с целью интеграции и обучения у международных друзей, Вьетнам поднялся на 4-е место в регионе и занял 1-е место на SEA Games 22 (как принимающая страна). В частности, на SEA Games 25 и 30 Вьетнам занял 2-е место в общем медальном зачете. SEA Games 31 пройдут с 12 по 23 мая 2022 года, и Вьетнаму во второй раз выпала честь быть принимающей страной.

В период после 1975 года, после воссоединения страны, переживав период ликвидации последствий войны, Вьетнам постепенно вновь влился в общую деятельность Федерации игр Юго-Восточной Азии. В 1989 году, спустя 13 лет (с SEA Games 8 в 1975 г. до SEA Games 14 в 1987 г.), вьетнамская спортивная делегация вновь вышла на региональную арену (SEA Games 15 в 1989 г.).

Следуя целям интеграции и обучения у международных друзей, вьетнамский спорт может уверенно участвовать в международных соревнованиях, особенно в некоторых боевых искусствах. Благодаря участию в Играх Юго-Восточной Азии достижения Вьетнамской спортивной делегации также постепенно улучшались.

Если на SEA Games 15 и 16 вьетнамская спортивная делегация занимала 7-е место в регионе, то на SEA Games 21вьетнамская спортивная делегация поднялась на 4-е место в регионе, а на SEA Games 22 – на 1-е место (в качестве принимающей страны). С тех пор вьетнамская спортивная делегация неизменно занимает 3-е место в общем медальном зачете. В частности, на SEA Games 25 и 30 Вьетнам занял 2-е место в общем медальном зачете.

В 2022 году Вьетнаму выпала честь во второй раз принять у себя SEA Games 31. По первоначальному плану SEA Games 31 должны были проходить с 21 ноября по 2 декабря 2021 года, но из-за влияния эпидемии COVID-19 главное спортивное событие региона было перенесено и официально состоится с 12 по 23 мая 2022 г.

До настоящего времени все приготовления в срочном порядке осуществлялись Оргкомитетом и соответствующими подразделениями для обеспечения соблюдения графика.

Под лозунгом «За укрепление Юго-Восточной Азии» Вьетнам хочет организовать успешные SEA Games 31 и направить послание правительствам и народам стран Юго-Восточной Азии о развитии, солидарности и совместном строительстве сильной АСЕАН, дальнейшем продвижением роли АСЕАН на международной арене./.

https://ru.vietnamplus.vn/premerministr-sea-games-31-eto-sea-games-edinstva-splochennosti-vpechatlenii-i-bezopasnosti-33490.vnp

https://ru.vietnamplus.vn/debyutnyi-klip-na-ofitsialnuyu-pesnyu-sea-games-31-33486.vnp

https://ru.vietnamplus.vn/zritelyam-na-igrah-sea-games-31-ne-nuzhno-sdavat-testy-na-covid19-33470.vnp

https://ru.vietnamplus.vn/volontery-gotovy-k-sea-games-31-33451.vnp

https://ru.vietnamplus.vn/okolo-400-delegatov-posetyat-tseremoniyu-podnyatiya-flaga-sea-games-31-33412.vnp

https://ru.vietnamplus.vn/karnaval-halong2022-v-tsentre-vnimaniya-sea-games-31-33410.vnp

SEA Games’ development and Vietnam’s contributions

The 31st Southeast Asian Games (SEA Games 31) will take place from May 12 to 23 in Hanoi and 11 other localities across Vietnam, marking the second time the country has hosted the regional sporting event.

For over half a century, the SEA Games have enthralled sports fans and helped promote solidarity and friendship among countries in the region.

63 years of establishment and development

More than 60 years ago, a consensus was reached that Southeast Asian nations shared many similarities in terms of lifestyles, cultures, climate and physique. They had also reached similar sporting levels and should support each other by holding a regional event.

The Southeast Asian Peninsular (SEAP) Games Federation was set up on May 22, 1958 and changed its name to the Southeast Asian Games Federation in 1977, while the SEAP Games were renamed the SEA Games.

Delegations of the Southeast Asian Peninsular attended the third Asian Games in Tokyo, Japan and agreed to set up a regional sporting organisation named the South East Asian Peninsular Games Federation (SEAP). The federation aimed to strengthen friendship, solidarity and mutual understanding among countries in the region as well as help countries improve sporting performance, techniques and strategies and create conditions for athletes to train to obtain better results at the Asian Games and Olympic Games.

The Vietnamese flag flies alongside those of other Southeast Asian nations at the 25th SEA Games (Photo: VNA)

The first ever meeting of the SEAP Games Federation was held on June 5, 1959 in Bangkok, Thailand, where a charter was adopted and an executive board elected. President of the Thailand National Olympic Committee Prabhas Charustiara was elected the first president of the federation, with members comprising delegates of Cambodia, Laos, Malaysia, Burma (now Myanmar), Thailand and Vietnam.

Also at the event, a symbol of six yellow circles linked together was chosen as its symbol, representing the six founding members.

Delegates also agreed to hold the SEAP Games biennially between the Olympic Games and Asian Games. The competitions were decided by the SEAP Games Federation under the supervision of the International Olympic Committee (IOC) and the Olympic Council of Asia.

The Vietnamese delegation at the opening ceremony of the 25th SEA Games in 2009. (Photo: VNA)

Each member country could send up to three delegates to the Council. The first SEAP Games was hosted in Bangkok, Thailand, on December 12-17 in 1959 with the participation of 527 athletes from Thailand, Burma, Malaysia, Cambodia, Laos and Vietnam competing in 12 sports.

In 1965, Singapore was admitted to the federation after it separated from Malaysia to become an independent state. At the eighth SEAP Games in 1975 in Bangkok, Thailand, the federation considered Indonesia and the Philippines’ membership.

Two years later, the two countries were admitted and the names of the federation and the event was changed to the Southeast Asian Games (SEA) Federation and SEA Games, respectively.

At the 10th SEA Games in Jakarta, Indonesia, in 1979, Brunei became a member of the SEA Games Federation. Twenty years later, at the 20th SEA Games hosted in Brunei, the country’s Olympic Council proposed to increase the number of circles in the federation’s logo from 6 to 10.

The flag of the federation has a blue background and contains connected circles, highlighting a message of peace, solidarity and friendship among member nations. At the 22nd SEA Games held in Hanoi, Vietnam, in 2003, Timor Leste competed in the event for the first time.

Then Prime Minister Nguyen Xuan Phuc presents the trophy to Vietnam at the 2018 ASEAN Football Federation (AFF) Cup. (Photo: VNA)

At the 27th SEA Games hosted by Myanmar, the number of circles on the federation’s symbol rose to 11, representing solidarity among regional people. It was made the official symbol of the federation.

Thailand and Malaysia have both hosted the most Games with six; Singapore, while Indonesia, and the Philippines have hosted four times; Myanmar three times; Vietnam twice and Brunei and Laos once.

Vietnam – an active member in developing Southeast Asian sports

Vietnam’s sports delegation has joined the Games since its inception. Before 1975, the South of Vietnam, a founding member of the SEAP Games Federation, sent athletes to the Games’ editions from the first (in 1959) to the seventh (in 1973). After the country’s reunification in 1975, Vietnam has gradually rejoined activities of the SEA Games Federation. Following a 13-year absence from the eighth to 14th edition of the Games (from 1975 to 1987), Vietnam’s sports delegation returned to the regional event at the 15th SEA Games in 1989.

From the initial target of integration and learning from international friends, Vietnamese athletes can now hold their heads high when competing at international events, especially those in martial arts. The Vietnamese delegation’s achievements have been rising in each edition of the Games.

Vietnam ranked seventh at the 15th and 16th SEA Games, then jumped to the fourth and first spot at the 21st and 22nd Games. The country was the runner-up at the 25th and 30th SEA Games.

The 31st SEA Games, slated for May 12 to 23, marks the second time that Vietnam has hosted the event.

SEA Games 31 was initially scheduled to take place from November 21 to December 2, 2021. However, it was delayed to May 12-23, 2022 due to the complicated developments of COVID-19.

The event’s slogan “For a stronger Southeast Asia” aims to convey a message of solidarity to build a thriving ASEAN Community and promote its role in the international arena./.

Les 31es Jeux sportifs d’Asie du Sud-Est (SEA Games 31), sur le thème “Pour une Asie du Sud-Est plus forte”, se dérouleront du 6 au 23 mai à Hanoï et dans 11 villes et provinces voisines,  marquant la deuxième fois que le pays a l’honneur d’accueillir cet événement.

Depuis leur création, après plus d’un demi-siècle d’existence, les SEA Games sont toujours  une nourriture spirituelle indispensable pour les amateurs de sport, qui contribuent en même temps à renforcer la solidarité et l’amitié entre les pays de la région.

63 ans de développement

Il y a plus d’un demi-siècle, partant du point de vue que les pays d’Asie du Sud-Est présentent de nombreuses similitudes en termes de mode de vie, de culture, de climat et de capacités physiques humaines, il fut décidé d’organiser  périodiquement un festival sportif commun.

Le 22 mai 1958, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est (Fédération des jeux SEAP en abrégé) dut créée. En 1977, la Fédération fut rebaptisée Fédération des sports d’Asie du Sud-Est et les Jeux péninsulaires d’Asie du Sud-Est (SEAP Games) furent renommés Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games).

Le 22 mai 1958, les délégués des pays  d’Asie du Sud-Est participant aux 3e Jeux asiatiques à Tokyo, au Japon, se réunirent et  parvinrent à un accord pour créer une organisation sportive propre dans la région, la Fédération des Jeux péninsulaires d’Asie du Sud-Est (SEAP Games Federation), dans le but de renforcer l’amitié, la solidarité et la compréhension entre les pays de la région, d’améliorer constamment les réalisations, les techniques et les tactiques du sport, de créer les conditions permettant aux athlètes des pays de la région de s’entraîner et de concourir afin de mieux participer aux Jeux asiatiques et  Jeux olympiques.

Le drapeau national de la délégation sportive du Vietnam flotte aux côtés des drapeaux des autres pays d’Asie du Sud-Est lors des 25e SEA Games. Photo : VNA

La première session de la SEAP eut lieu le 5 juin 1959 au Santidhama Hall de Bangkok, en Thaïlande. Elle approuva la charte et élut le comité exécutif de la SEAP. Le président du Comité national olympique de Thaïlande Prabhas Charustiara fut élu premier président de la Fédération, dont les membres comprenaient des délégués du Cambodge, du Laos, de Malaisie, de Birmanie (aujourd’hui Myanmar), de Thaïlande et du Vietnam.

Les pays participant à cette première session sont appelés les pays fondateurs de la Fédération. Également lors de la première réunion de la SEAP, le logo de la Fédération dut approuvé sous la forme de six cercles jaune clair entrelacés, représentant les six membres fondateurs.

Les délégués des pays ont également décidé d’organiser les SEAP Games tous les 2 ans au milieu du cycle des Jeux olympiques asiatiques. Les sports furent choisis par la Fédération sportive de la péninsule d’Asie du Sud-Est, sous la supervision du Comité international olympique (CIO) et du Conseil olympique d’Asie.

Le Conseil de la Fédération sportive de la péninsule d’Asie du Sud-Est est la plus haute autorité de la Fédération, ayant le pouvoir de décider de toutes les activités de la Fédération telles que l’ordre du jour des Jeux, les heures de déroulement des Jeux, les membres à inscrire aux Jeux.

Défilé de la délégation sportive du Vietnam lors de la cérémonie d’ouverture des 25e SEA Games en 2009. Photo : VNA

Chaque pays membre a le droit de nommer 1 à 3 membres au Conseil de la Fédération des Sports de la Péninsule d’Asie du Sud-Est. Les Jeux SEAP eurent lieu pour la première fois à Bangkok, en Thaïlande, du 12 au 17 décembre 1959, avec la participation de 527 athlètes de Thaïlande, de Birmanie (aujourd’hui Myanmar), de Malaisie, du Cambodge et du Laos et du Vietnam, en compétition dans 12 disciplines.

En 1965, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est  admit un nouveau membre, Singapour, après sa séparation  de la Fédération de Malaisie pour former un pays indépendant. Puis, lors des 8e Jeux SEAP tenus en 1975 à Bangkok, en Thaïlande, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est   envisagea d’admettre l’Indonésie et les Philippines.

Ces deux pays furent officiellement admis en 1977 et la même année, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est   changea son nom en Fédération des sports d’Asie du Sud-Est et les Jeux de la péninsule d’Asie du Sud-Est (SEAP Games) furent renommés Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games).

En 1979, Brunei fut admis à la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est lors des 10e SEA Gemes qui se tinrent à Jakarta, en Indonésie. Lors des 20e Jeux d’Asie du Sud-Est en 1999 à Brunei, le Conseil olympique de Brunei  proposa de modifier le logo de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est pour passer de 6 cercles à 10 cercles jaune clair attachés les uns aux autres.

Le drapeau de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est a un fond bleu, composé de cercles imbriqués, afin d’envoyer un message de paix, de solidarité et d’amitié entre les pays membres. Lors des 22e SEA Games organisés en 2003 à Hanoï (Vietnam), le Timor oriental fut le dernier pays autorisé à participer aux SEA Games.

Le Premier ministre Nguyen Xuan Phuc remet le trophée du Championnat d’Asie du Sud-Est de football – AFF Suzuki Cup 2018 à l’équipe de football du Vietnam

Lors des 27e SEA Games organisés au Myanmar, le logo de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est fut encore modifié, passant de 10 cercles entrelacés à 11. Depuis, le symbole de 11 cercles jaune clair attachés les uns aux autres symbolisant la solidarité et l’amour entre les peuples d’Asie du Sud-Est a été pris comme symbole officiel de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est.

63 ans après sa création, les Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games) sont devenus  un événement sportif majeur de la région.

En incluant les 31e SEA Games tenus en 2022, la Thaïlande et la Malaisie sont les deux pays avec le plus grand nombre d’organisations des SEA Games avec 6 fois, Singapour, l’Indonésie et les Philippines sont deuxièmes avec 4 fois. Le Myanmar est  troisième avec 3 fois. Le Vietnam compte 2 organisations. Les pays qui l’ont accueilli autrefois sont le Brunei et le Laos.

Vietnam – membre actif dans la construction et le développement des sports d’Asie du Sud-Est

La délégation sportive vietnamienne participe aux SEA Games depuis sa création. En particulier, dans la période précédant 1975, le Sud-Vietnam, l’un des membres fondateurs de la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est, y amena continuellement  des délégations sportives depuis les premiers SEA Games en 1959 jusqu’aux 7e SEA Games en 1973.

Les sportifs vietnamiens se sont actuellement hissés à la 4e place dans la région et se sont classés premiers aux 22e SEA Games (en tant que pays hôte). En particulier, pour les 25e SEA Games et les 30e SEA Games, le Vietnam s’est classé deuxième du tableau final. Les SEA Games 31 auront lieu du 12 au 23 mai 2022, marquant la deuxième fois que le Vietnam a l’honneur d’être le pays hôte.

Après la réunification du pays en 1975 et après avoir surmonté les conséquences de la guerre, le Vietnam s’est progressivement réengagé dans les activités communes de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est. En 1989, après 13 ans (des SEAP Games 8 en 1975 aux SEA Games 14 en 1987), la délégation sportive vietnamienne réintégra l’arène régionale (SEA Games 15 ans 1989).

Si autrefois  les sportifs vietnamiens participaient dans le but de s’intégrer et d’apprendre des amis internationaux, ils peuvent désormais participer en toute confiance aux compétitions internationales, en particulier certains arts martiaux.  En participant aux SEA Games, les performances de la délégation sportive du Vietnam se sont également progressivement améliorées.

Si lors des 15e et 16e SEA Games, la délégation sportive vietnamienne s’était classée 7e de la région, elle s’est hissée à la 4e place aux 21e SEA Games,  et à la 1ère aux SEA Games 22 (en tant que pays hôte). Depuis, la délégation sportive vietnamienne s’est toujours maintenue à la 3e position dans le classement par médailles. En particulier, aux 25e et 30e SEA Games, le Vietnam s’est classé deuxième du tableau final.

En 2022, le Vietnam est honoré d’être le pays hôte pour la deuxième fois des 31e Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games 31). Selon le plan initial, les 31e SEA Games devaient se tenir  du 21 novembre au 2 décembre 2021, mais en raison de  l’épidémie de COVID-19, l’événement a été reporté et aura officiellement lieu du 12 au 23 mai prochain.

Jusqu’à présent, tous les préparatifs ont été mis en œuvre  par le comité d’organisation et les unités concernées pour assurer le respect du calendrier.

Avec le slogan “Pour une Asie du Sud-Est plus forte”, le Vietnam souhaite organiser avec succès ces 31èmes SEA Games et envoyer  aux gouvernements et peuples des pays d’Asie du Sud-Est un message de développement, de solidarité, d’édification ensemble d’une Communauté de l’ASEAN forte, promouvant davantage le rôle du bloc sur la scène internationale./.

Mirada retrospectiva al proceso del desarrollo de SEA Games y contribuciones de Vietnam 

Los XXXI Juegos Deportivos del Sudeste Asiático (SEA Games 31) se llevarán a cabo oficialmente del 12 al 23 de mayo venidero en Hanoi y otras 11 localidades vietnamitas, marcando la segunda vez que Vietnam alberga el evento deportivo regional. 

Más de medio siglo desde su inicio hasta la fecha, los SEA Games siempre se han considerado un alimento espiritual indispensable para los amantes del deporte, el cual contribuye a fortalecer la solidaridad y la amistad entre los países de la región.

63 años de la formación y el desarrollo de SEA Games

Hace más de medio siglo, desde el punto de vista de que los países del Sudeste Asiático tienen muchas similitudes en términos del estilo de vida, cultura, clima y física humana, es necesario reunirse y apoyarse para organizar de forma regular y periódica un evento deportivo conjunto con escala adecuada entre países.

La Federación de los Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático (SEAP Games Federation) estableció el 22 de mayo de 1958, y pasó a llamarse la Federación de los Juegos del Sudeste Asiático en 1977. Los Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático (SEAP Games) cambiaron su nombre a los Juegos Deportivos del Sudeste Asiático (SEA Games).

El 22 de mayo de 1958, los delegados de los países de la península del Sudeste Asiático, que acudieron a los terceros Juegos Asiáticos en Tokio, se reunieron y acordaron establecer la Federación de Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático (SEAP Games Federation, por sus siglas en inglés), con el fin de fortalecer la amistad, la solidaridad y el entendimiento mutuo entre los países de la región. También tiene como objetivos mejorar constantemente los logros, técnicas y tácticas de los deportes; y crear condiciones favorables para que los atletas de los países practiquen y compitan para una mejor participación en los Juegos Asiáticos y Olímpicos.

Las banderas nacionales de Vietnam y los países del Sudeste Asiático ondearon en los XXV SEA Games (Foto: VNA)

En su primera reunión, efectuada el 5 de junio de 1959 en Bangkok, la Federación de Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático aprobó los estatutos y eligió su Comité Ejecutivo. El presidente del Comité Olímpico Nacional de Tailandia, Prabhas Charustiara, fue elegido como el primer titular de la Federación mencionada, mientras que sus miembros fundadores incluyen los delegados de Camboya, Laos, Malasia, Myanmar, Tailandia y Vietnam.

También en su primera reunión,  la Federación aprobó su logotipo con seis círculos de color amarillo claro entrelazados, que representan a los seis miembros fundadores.

Los delegados de los países acordaron celebrar bienalmente los SEAP Games en medio del ciclo de los Juegos Olímpicos y Asiáticos, y con las disciplinas deportivas según la decisión de dicha Federación y bajo la supervisión del Comité Olímpico Internacional (COI) y el Consejo Olímpico Asiático. 

El Consejo de la Federación de los Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático es la máxima autoridad de esa organización, que traza todas las decisiones y programas del evento deportivo regional. 

La delegación deportiva vietnamita desfiló frente al podio en la ceremonia de apertura de los XXV SEA Games en 2009 (Foto: VNA)

Los SEAP Games se celebraron por primera vez del 12 al 17 de diciembre de 1959 en Bangkok con la participación de 527 atletas de Tailandia, Myanmar, Malasia, Singapur, Laos y Vietnam. 

En 1965, la Federación aprobó la adhesión de Singapur como su miembro, y consideró la inclusión de Indonesia y Filipinas en los octavos SEAP Games efectuados en Bangkok en 1975. 

Estos países fueron formalmente admitidos en 1977, en el mismo año que la Federación cambió su nombre a la Federación de los Juegos del Sudeste Asiático, y los SEAP Games se denominaron como los Juegos del Sudeste Asiático (SEA Games).

En 1979, la Federación Deportiva del Sudeste Asiático adhirió a Brunei como su miembro en los X SEA Games, efectuados en Yakarta. 

En los XX SEA Games en Brunei, el Consejo Olímpico de ese país propuso modificar el logotipo de la Federación Deportiva del Sudeste Asiático con 10 círculos de color amarillo claro unidos entre sí.

La bandera de la Federación Deportiva del Sudeste Asiático tiene un fondo azul, que consiste en círculos entrelazados para enviar un mensaje de paz, solidaridad y amistad entre los países miembros.

El primer ministro Nguyen Xuan Phuc entregó el trofeo del Campeonato de Fútbol del Sudeste Asiático 2018 (Copa AFF Suzuki) al equipo vietnamita

En los XXII SEA Games celebrados en 2003 en Hanoi, Timor Leste fue admitido para participar en el evento deportivo regional. 

El símbolo de la Federación siguió modificándose de 10 a 11 círculos de color amarillo claro entrelazados en los XXVII SEA Games en Myanmar, representando la solidaridad y el apoyo mutuo entre los países.

A lo largo de la historia de 63 años de su fundación hasta la fecha, los SEA Games siempre ha considerado un acontecimiento deportivo regional. 

Tailandia y Malasia constituyeron los países que albergaron más los SEA Games con seis veces, seguidas por Singapur, Indonesia y Filipinas con cuatro ediciones; Myanmar (tres), Vietnam (dos), Brunei y Laos (1).

Vietnam, miembro activo en la formación y desarrollo de los deportes del Sudeste Asiático

La delegación deportiva vietnamita asistió al evento deportivo regional desde los primeros días de su fundación. En particular, antes de 1975, Vietnam del Sur fue uno de los miembros fundadores de la Federación de Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático, y participó continuamente en los acontecimientos deportivos regionales a partir de 1959

Con el objetivo de integrarse y aprender de los amigos internacionales, el deporte vietnamita se ha esforzado incesantemente durante los últimos años. Vietnam se ubicó en el cuatro y el primer lugar en las tablas de calificación general de los XXI y XXII SEA Games, respectivamente, y también en la segunda posición en las XXV y XXX ediciones. 

Después de la reunificación del país en 1975, Vietnam volvió a participar gradualmente en las actividades comunes de la Federación Deportiva del Sudeste Asiático. En 1989, la delegación deportiva vietnamita se reintegró nuevamente a la arena regional a partir de los XVIII SEA Games en 1975, y ha obtenido los logros sobresalientes. 

Este año, Vietnam albergará por segunda vez los XXXI SEA Games, previstos a efectuarse del 12 al 23 de mayo venidero. 

Hasta el momento, el comité organizador y las entidades relacionadas han acelerado todos los preparativos para garantizar el cronograma del acontecimiento.

Con el lema “Por un Sudeste Asiático más fuerte”, Vietnam desea organizar con éxito los XXXI SEA Games y enviar un mensaje al Gobierno y a los pueblos de los países sobre el desarrollo, la solidaridad y la construcción de una Comunidad del bloque regional./.