Câu chuyện “con nhà nghèo vượt khó” không còn xa lạ với thể thao Việt Nam khi sự đầu tư cho nhiều môn thi đấu vẫn còn rất hạn chế. Bi sắt nằm trong số đó với mọi nguồn lực ít ỏi so với nhiều “anh em” khác. Bản thân môn thể thao ít người biết đến này cũng khó lòng nhận được sự quan tâm của người hâm mộ cũng như những nguồn tài trợ xã hội hóa.
Dẫu vậy, bỏ lại những khó khăn, đội tuyển bi sắt Việt Nam vẫn hướng đến việc giành huy chương ở mọi nội dung tham dự ở kỳ SEA Games 31 trên sân nhà, trong đó mục tiêu cao nhất là giành từ một đến hai huy chương vàng.
Đội tuyển bi sắt Việt Nam bắt đầu tập trung từ đầu tháng 3/2022 nhằm chuẩn bị cho SEA Games 31 tại Trung tâm huấn luyện viên Bi sắt (Hà Nội). (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Toàn đội tập với khối lượng 6 tiếng mỗi ngày, được chia đều vào hai buổi sáng và chiều. Gần ngày thi đấu, đội tuyển bi sắt sẽ có lịch tập luyện giống với khung giờ thi đấu nhằm thích nghi. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Trước khi tập luyện, toàn bộ mặt sân phải được lu cho bằng phẳng đồng thời tưới nước để đảm bảo điều kiện như đang thi đấu cho các vận động viên Việt Nam.(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đội tuyển bi sắt được dẫn dắt bởi một huấn luyện viên trưởng và hai trợ lý. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Những năm qua, đội tuyển bi sắt Việt Nam dường như gặp không có đợt tập trung đúng nghĩa nhằm trau dồi và tập luyện. Từ năm 2005 đến nay, đội tuyển cũng chỉ mới một lần được tập trung dài hạn trên 6 tháng, còn lại đều rất ngắn ngày.
Thậm chí, có lần đội chỉ được tập luyện khoảng 15 ngày trước khi tham dự giải châu Á. Những đợt tập huấn nước ngoài hay thi đấu cọ xát khu vực là điều vô cùng “xa xỉ.”
Trước thềm SEA Games 31, những khó khăn như thế vẫn tiếp tục bủa vây đội tuyển bi sắt. Kể từ thời điểm dịch COVID-19 bùng phát, toàn đội gần như không thể hội quân, tập luyện cùng nhau. Các vận động viên cũng chẳng có nhiều cơ hội thi đấu và cọ sát do các giải quốc nội liên tục bị hoãn và hủy.
Huấn luyện viên trưởng đội tuyển bi sắt, ông Đặng Xuân Vui, cho biết chưa gặp mặt đầy đủ vận động viên trong vòng hai năm qua. Vài tháng gần đây, ông mới bắt đầu huấn luyện, lên giáo án và “làm lại từ đầu” với đội tuyển.
Ông Vui cho hay: “Bi sắt Việt Nam mạnh, nhưng bây giờ gặp quá nhiều khó khăn nên chưa biết ở SEA Games thi đấu như thế nào. Hai năm rồi, đội tuyển không được tập huấn, cũng không nắm được thông tin của đối thủ. Vì ít cọ sát nên các vận động viên tiến bộ hay thụt lùi cũng không rõ.”
Đội tuyển bi sắt Việt Nam tập tham dự SEA Games 31 với 19 vận động viên, tranh tài ở 8 nội dung. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Thành viên đội tuyển bi sắt Việt Nam chủ yếu đến từ đoàn Hà Nội, Quân đội, Đồng Tháp, Trà Vinh… (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đội tuyển bi sắt ít nhận được sự quan tâm, đầu tư vì không phải môn đầu tư trọng điểm của thể thao Việt Nam. Huấn luyện viên trưởng Đặng Xuân Vui từ chối chia sẻ về những khó khăn liên quan tới tài chính. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đội tuyển bi sắt vẫn chưa nhận được trang phục, thiết bị nhằm phục vụ cho SEA Games 31. Trong ảnh, vận động viên của tuyển bi sắt sử dụng lại trang phục từ năm 2019 tại SEA Games 30. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Tại khu vực Đông Nam Á, bi sắt Thái Lan mạnh nhất với nhiều vận động viên được tập huấn, thi đấu tại các giải quốc tế. Còn lại, Việt Nam, Campuchia và Lào xếp ở nhóm hai.
Huấn luyện viên Đặng Xuân Vui cho biết vì thời điểm SEA Games 31 diễn ra trùng với giải Vô địch Thế giới bi sắt tại Đan Mạch nên Thái Lan nhiều khả năng không cử đội hình mạnh nhất sang Việt Nam. Đó là cơ hội để đội tuyển bi sắt Việt Nam dễ dàng cạnh tranh hơn huy chương vàng. Tuy nhiên, bi sắt Thái Lan cũng dự kiến thâu tóm khoảng 5 nội dung ở giải đấu sắp tới.
Tại SEA Games 31, đội tuyển bi sắt Việt Nam đặt niềm hy vọng vào hai nữ vận động viên Nguyễn Thị Thi và Nguyễn Thị Hiền. Đây là hai gương mặt quen thuộc trong một thập kỷ qua của bi sắt Việt Nam bởi môn thể thao này vốn có tuổi đời vận động viên rất cao. Những người chơi càng giàu kinh nghiệm sẽ càng chiếm được ưu thế tâm lý.
Nguyễn Thị Hiền gây ấn tượng từng giành huy chương vàng tại Đại hội Thể thao châu Á trong nhà và SEA Games năm 2009. Sau 9 năm tạm dừng thi đấu để lo công việc gia đình, bà mẹ có hai con nhỏ quyết định trở lại thi đấu ở SEA Games 31 ở tuổi 38.
Trong khi đó, Nguyễn Thị Thi cũng bước sang tuổi 30 song vẫn là trụ cột của bi sắt Việt Nam sau khi từng giành liên tiếp 2 huy chương vàng SEA Games vào năm 2015 và 2017.
Sắp tới, đội tuyển bi sắt sẽ tham dự 8 nội dung ở SEA Games 31 gồm kỹ thuật nam/nữ, đôi nam/nữ, đôi nam-nữ phối hợp, bộ ba nam, bộ ba nữ, bộ ba gồm 2 nữ-1 nam.
Vận động viên Nguyễn Thị Hiền là người đầu tiên giành huy chương vàng môn bi sắt cho Việt Nam và từng nhiều lần gây ấn tượng ở các giải đấu châu lục. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Nguyễn Thị Hiền được kỳ vọng tỏa sáng ở SEA Games 31 kể từ sau khi tạm dừng thi đấu đỉnh cao từ năm 2013. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Thị Thi hướng đến huy chương vàng ở những nội dung phối hợp đồng đội. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Dẫu vẫn biết môn bi sắt không phải môn thi đấu trọng điểm của thể thao Việt Nam, song huấn luyện viên Đặng Xuân Vui không khỏi chạnh lòng khi sự quan tâm về mặt tình cảm cũng như vật chất dành cho đội, đặc biệt khi chứng kiến nhiều đội tuyển khác được thi đấu và tập huấn tại châu Âu.
Ông Vui bộc bạch: “Khó khăn lớn nhất cho bi sắt chưa hẳn đã là kinh phí, thay vào đó là sự quan tâm. Môn này gần như không được quảng bá, truyền thông nên nhiều người ít biết đến dù từng đem về nhiều huy chương chứ ở những kỳ SEA Games trước đây. Nhưng đó là huy chương bạc và đồng. Còn với mọi người, có lẽ phải là huy chương vàng mới đáng quý và được chú trọng.”
Giống với nhiều môn thể thao khác tại Việt Nam, vận động viên bi sắt không có điều kiện phát triển kinh tế. Tất cả thành viên của đội tuyển bi sắt gần như không có thời gian làm thêm để cải thiện thu nhập và chỉ trông chờ vào chế độ cùng mức trợ cấp được quy định.
Môn bi sắt đòi hỏi vận động viên phải khéo léo, có tâm lý vững vàng và sự thông minh để đưa ra phán đoán. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Mỗi vận động viên bi sắt sở hữu một bộ bi gồm 3 viên với giá trung bình khoảng 10 triệu đồng. Mỗi năm, vận động viên phải thay bi một lần. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Bi sắt phải đảm bảo rất nhiều tiêu chuẩn mới có thể được sử dụng trong thi đấu như còn số hiệu của nhà sản xuất, không được khắc hay chạm trổ nếu chưa được cho phép. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Bi sắt có trọng lượng từ 650 đến 750 gram. Vận động viên có thể bị truất quyền thi đấu nếu sử dụng bi không đúng quy định. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Bi sắt tại Việt Nam
Môn bi sắt có xuất xứ từ châu Âu và lần đầu xuất hiện ở SEA Games 21 vào năm 2001 tại Malaysia. Bi sắt phát triển tại Việt Nam từ đầu những năm 2000, được chơi và đẩy mạnh nhờ phong trào tại miền Nam và các tỉnh miền Tây. Sau năm 2007, môn thể thao bắt được phát triển mạnh hơn ở phía Bắc và dần dần được quy hoạch và đầu tư bài bản, chuyên nghiệp hơn.
Người đầu tiên quyết định phát triển môn bi sắt là cố Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam, ông Hoàng Vĩnh Giang. Hiện tại, môn thi đấu chỉ có hai giải đấu cao nhất trong năm gồm giải vô địch quốc gia và vô địch các câu lạc bộ.
Huyện Sóc Sơn, Thường Tín (Hà Nội) được coi như “mỏ vàng” của bi sắt nhờ sở hữu nhiều tài năng sáng giá của bi sắt Việt Nam và hàng năm cũng đóng góp nhiều vận động viên trẻ giàu tiềm năng.
Minh Sơn
Tá Hiển
Những năm gần đây, Việt Nam được coi là điểm sáng nhờ sự tăng hạng vượt bậc về giá trị thương hiệu quốc gia. Năm 2021, bất chấp đại dịch bệnh COVID-19, thương hiệu quốc gia Việt Nam tiếp tục duy trì được thứ hạng 33 trong danh sách top 100 thương hiệu mạnh thế giới, tăng khoảng 21,69% so với năm 2020, từ 319 tỷ USD lên tới 388 tỷ USD.
Vị thế mới, giá trị mới
Không phải ngẫu nhiên, Brand Finance – tổ chức định giá thương hiệu quốc gia hàng đầu thế giới có trụ sở tại Anh – lại đánh giá Việt Nam rất tích cực trong xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia toàn cầu. Đó là kết quả từ những nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân nước ta trong suốt nhiều năm qua.
Những năm gần đây, Việt Nam được coi là điểm sáng nhờ sự tăng hạng vượt bậc về giá trị thương hiệu quốc gia đi cùng những kết quả về kinh tế, xã hội đã đạt được, khẳng định uy tín và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, đồng thời thể hiện sự chủ động và tầm vóc của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
Thứ hạng giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam liên tục được cải thiện trên Bảng xếp hạng thế giới và nằm trong nhóm thương hiệu mạnh nhờ những nỗ lực của Chính phủ về cải cách môi trường đầu tư kinh doanh, mở rộng quan hệ song phương, đa phương.
Theo báo cáo của Brand Finance, năm 2020 Việt Nam là một trong các quốc gia có mức tăng trưởng giá trị thương hiệu quốc gia nhanh nhất thế giới (tăng 29% so với năm 2019, lên 319 tỷ USD). Nhờ đó, giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam đã tăng 9 bậc, lên vị trí thứ 33 trong Top 100 thương hiệu quốc gia, giá trị nhất thế giới. Đây là một thành tích ấn tượng, nối dài giai đoạn 4 năm, thứ hạng giá trị thương hiệu quốc gia của nước ta liên tục được cải thiện và nằm trong nhóm thương hiệu mạnh của thế giới, nhờ những nỗ lực của Chính phủ trong cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao thành tích xuất nhập khẩu, hỗ trợ thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp.
(Nguồn: TTXVN)
Năm 2021, dù ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19, song thương hiệu quốc gia Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì được thứ hạng 33 trong danh sách top 100 thương hiệu mạnh thế giới, tăng khoảng 21,69% so với năm 2020, từ 319 tỷ USD lên tới 388 tỷ USD.
Theo Báo cáo chỉ số quyền lực mềm toàn cầu năm 2021 của Tổ chức Brand Finance, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khối ASEAN được nâng hạng so với năm 2020 trong bảng xếp hạng quyền lực mềm toàn cầu. Cụ thể, vị trí của Việt Nam cũng được cải thiện, tăng 2,5 điểm, nâng thêm 3 bậc, từ 50/60 trong năm 2020 lên 47/105 năm 2021.
Theo ông Thue Quist Thomasen, thành viên Ban điều hành Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), Việt Nam ngày càng cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, bằng giải pháp xây dựng thương hiệu quốc gia. Đây là hướng đi đúng đắn cho các quốc gia định hướng xuất khẩu, nhất là muốn chinh phục thị trường châu Âu.
Nâng tầm vị thế, “chắp cánh bay xa”
Theo ông Vũ Bá Phú – Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), trước năm 1986, thương hiệu gần như là một khái niệm “chưa tồn tại” đối với cộng đồng doanh nghiệp, hay thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới thương hiệu vẫn chưa được quan tâm do doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa, chưa có sự giao thương, xuất khẩu với các nước trên thế giới.
Phải từ năm 1995 đến nay, cùng với tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, khái niệm “thương hiệu quốc gia” bắt đầu được trao đổi, vận dụng phổ biến ở Việt Nam, trước hết trong lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu, sau đó từng bước mở rộng ra lĩnh vực văn hóa-du lịch, truyền thông và công nghệ.
Đặc biệt, từ năm 2003, khi Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) là cơ quan thường trực, phối hợp với các bộ/ngành, địa phương, doanh nghiệp triển khai Chương trình thương hiệu quốc gia Việt Nam (Vietnam Value) thì nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về phát triển thương hiệu mới có những bước biến chuyển rõ rệt. Chương trình thương hiệu quốc gia là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn và duy nhất của Chính phủ gắn với 3 giá trị: “Chất lượng-Đổi mới, sáng tạo-Năng lực tiên phong” với mục đích quảng bá hình ảnh quốc gia, thương hiệu quốc gia thông qua thương hiệu sản phẩm.
Chương trình thương hiệu quốc gia là chương trình xúc tiến thương mại đặc thù, dài hạn và duy nhất của Chính phủ gắn với 3 giá trị: “Chất lượng-Đổi mới, sáng tạo-Năng lực tiên phong”
Trong lĩnh vực du lịch, Đề án Xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch văn hóa được phê duyệt tháng 12/2020 là bước cụ thể hóa Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (phê duyệt năm 2016) và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (phê duyệt năm 2020). Trong lĩnh vực công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2019 đưa ra thông điệp “Make in Vietnam” (Làm tại Việt Nam) nhằm quảng bá thương hiệu quốc gia cho ngành công nghệ thông tin Việt Nam. Trong lĩnh vực thông tin-truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài nhằm hỗ trợ các bộ/ngành, địa phương triển khai các kế hoạch xây dựng, quảng bá thương hiệu một cách hiệu quả.
Trong lĩnh vực đối ngoại, Bộ Ngoại giao cũng đã chủ động, tích cực, hiệu quả góp phần định vị và quảng bá thương hiệu quốc gia hiểu theo nghĩa rộng và tiếp cận từ góc độ chiến lược đối ngoại phổ biến trên thế giới hiện nay. Đó là nỗ lực nghiên cứu, định vị bản sắc ngoại giao Việt Nam; phối hợp cùng các bộ, ban, ngành xây dựng các thông điệp lớn về đối ngoại trong văn kiện, chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước; Bộ Ngoại giao và hệ thống hơn 90 cơ quan đại diện ở ngoài nước đẩy mạnh triển khai các thành tố của thương hiệu quốc gia thông qua các trụ cột ngoại giao chính trị (đặc biệt là ngoại giao cấp cao), ngoại giao kinh tế (đồng hành, hỗ trợ các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp), ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại, ngoại giao công chúng (quảng bá văn hóa đất nước với các chính phủ và công chúng thế giới, chuyển tải rộng rãi thông điệp và thành tựu đối ngoại, góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín, vị thế quốc gia).
Trải qua 19 năm hình thành và phát triển, Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, thu hút được sự quan tâm của các cấp, các ngành và tạo được uy tín đối với cộng đồng doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng trong và ngoài nước. Hiện tại, Việt Nam có 124 doanh nghiệp với 283 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia.
Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia 2020. (Nguồn: TTXVN)
Các doanh nghiệp Thương hiệu quốc gia đã khẳng định vị thế hàng đầu vững chắc trong lĩnh vực hoạt động của mình, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, cả về lợi nhuận và doanh thu, giữ vững thị trường nội địa và phát triển thị trường xuất khẩu, dù gặp phải không ít khó khăn, thách thức trong thời gian qua, nhất là trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến khó lường trên toàn thế giới.
Năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa cả nước về đích với con số kỷ lục 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt trên 336 tỷ USD, tăng 19%, duy trì xuất siêu 6 năm liên tục (từ năm 2016 đến nay). Báo cáo rà soát thống kê thương mại thế giới của WTO ghi nhận, trong số 50 nước có nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới, Việt Nam có mức tăng trưởng lớn nhất khi dịch chuyển từ vị trí thứ 39 vào năm 2009 lên vị trí thứ 23 vào năm 2019 và lọt vào tốp 20 năm 2021. Đạt được những thành tựu này là do nhiều yếu tố trong đó có sự đóng góp của các sản phẩm Thương hiệu quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát ở Việt Nam, đa số các doanh nghiệp thương hiệu quốc gia đều triển khai các hoạt động chung tay cùng cộng đồng với số tiền và hiện vật quyên góp lên tới trên 80 tỷ đồng.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Chương trình, ngày 8/10/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký các Quyết định số 1320/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam từ năm 2020-2030 và Quyết định số 30/2019/QĐ-TTg ban hành Quy chế xây dựng, quản lý, thực hiện Chương trình. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển được 1.000 sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam./.
Trần Nhật Thăng vẽ tranh như chơi, cứ tưng tửng cầm cọ phóng vào mặt toan những vệt màu đầy ám thị cảm xúc để thoả mãn niềm hạnh phúc bên trong tâm hồn mình. Anh không để ý đến nội dung tạo hình hay đến hình khối, những thứ sẽ thu hút sự chiêm ngưỡng và cả tiền bạc của người đời. Để chơi mà.
*
Không mấy người biết đến Trần Nhật Thăng như một hoạ sĩ có tiếng tăm lừng lẫy, có tranh được trọng vọng trong các gallery hay các bộ sưu tập cá nhân, hoặc được niêm yết với giá bán cao ngất ngưởng… những yếu tố luôn được đem ra để đánh giá tài năng và đẳng cấp của một hoạ sĩ.
Cầm cọ vẽ đã hàng chục năm, số lượng tác phẩm xếp dài vài trăm mét, thế nhưng tranh của Trần Nhật Thăng chưa bao giờ tạo được tiếng vang bằng một họa sĩ tay ngang vừa buông bút viết thơ văn, chuyển sang vẽ vời, song ở triển lãm đầu tay, bức nào bức ấy đều đính dấu đỏ báo hiệu đã tranh đã được mua.
Trần Nhật Thăng không bao giờ gây chấn động như thế bởi anh chọn cho mình một hướng đi “hành xác” và cô độc là vẽ tranh trừu tượng. Bản thân khái niệm “tranh trừu tượng” cũng là một cái gì đấy quá trừu tượng, thế nên gây chấn động như tranh hiện thực sao được.
Cho nên, khi nói đến mảng tranh trừu tượng ở Việt Nam, Trần Nhật Thăng vẫn nổi lên như một kẻ tiên phong của giai đoạn Hậu-Đổi Mới, nhưng cái sự nổi đó cũng bởi quá ít hoạ sĩ dám đi theo con đường này.
Khả năng thụ cảm của công chúng Việt Nam với tranh trừu tượng có lẽ vẫn ở mức thấp nên họ lãnh đạm với Trần Nhật Thăng và tranh của anh. Chỉ người trong giới mới biết và dành cho anh một sự kính nể nhất định. Họ kính nể ngôn ngữ trừu tượng của anh hay nể sự dũng cảm điên rồ trong suốt hơn 20 năm qua thì chúng ta không cần biết.
Chính vì thế, nói đến anh, có lẽ nhiều người biết đến ông Thủy, bố của anh hơn (đạo diễn Trần Văn Thuỷ – NV) với những bộ phim tài liệu kinh điển như “Hà Nội trong mắt ai” hay “Chuyện tử tế”. Bước ra đời dưới cái bóng của người bố danh tiếng nhiều khi là một áp lực.
Con người còn như thế, huống hồ tác phẩm của anh ta. Có lẽ, những bức tranh được chiêm ngưỡng nhiều nhất của Trần Nhật Thăng chính là những bức bích họa vẽ xung quanh trường cấp ba Phan Đình Phùng, vốn được anh thực hiện cách đây vài năm nhằm để tri ân “lớp cũ, trường xưa”.
Nhưng Trần Nhật Thăng vẫn cứ cười hềnh hệch, vắt chân chữ ngũ, nắn lại vành mũ phớt, rút điếu thuốc lá gắn lên miệng, châm lửa kéo một hơi thật dài, rồi khoan khoái thả ra một vầng khói trắng. Đám mây bay lờ lững trong mắt nhìn hờ hững, giống như cách anh giăng màu cho thoả đam mê mà không cần biết chuyện gì sẽ đến với bức tranh của mình sau đó.
**
Vẽ tranh với Trần Nhật Thăng như là cơm ăn, nước uống và không khí để hít thở, không vẽ không chịu được. Có những lần, ngồi say sưa bên khay trà rượu, đang hăng say chém gió, anh chợt im lặng như rơi tõm vào trú xứ xa xôi, rồi bất thình lình vớ lấy tập giấy nào bất kỳ trong tầm tay để hối hả vạch nên những ký họa chân dung của người đồng ẩm và tặng luôn cho họ.
Từ góc xa quan sát, tôi thấy Trần Nhật Thăng mải miết vẽ đến cả chục bức ký họa trên tập giấy menu của nhà hàng. Tiếng chì nát trên giấy sồn sột, tiếng xé giấy soàn soạt, anh cứ mải mê vẽ, khoé miệng khẽ nhếch một nụ cười nửa vời. Hình ảnh đó khiến tôi không thể không liên tưởng đến hình ảnh mỹ nhân Bao Tự xé lụa để mua vui, không cần để ý đến thế nhân.
Họa sĩ hay những người làm nghệ thuật, thường có cái Tôi lớn. Càng những người được ca tụng nhiều, cái Tôi của họ càng lớn như thể những lời khen ngợi là nguồn dinh dưỡng nuôi nấng cho một cái Tôi phì đại. Họ thận trọng đặt bút vẽ, thận trọng giới thiệu một bức tranh, thận trọng đón nhận từng lời khen tiếng chê để sung sướng hoặc đau khổ.
Nhưng cái Tôi của Trần Nhật Thăng có vẻ miễn nhiễm với nguồn dinh dưỡng đó. Anh đưa những tờ ký hoạ cho người khác như tặng một món quà tri ngộ, như bày tỏ một tấm chân tình của mình. Tuy nhiên, anh không màng tới thái độ của người được tặng như thế nào.
Có những người đón nhận một cách trân trọng, ngắm nghía kỹ càng, khen ngợi sự nhanh, sự tinh của mắt vẽ rồi cất giữ cẩn thận. Có người hờ hững cầm, hờ hững xem rồi hững hờ thả xuống cạnh chén rượu như thể đó là một tờ giấy ăn vậy.
Song dù thế nào, Trần Nhật Thăng không bao giờ cảm thấy sung sướng hay bị tổn thương vì những điều đó. Anh cứ thản nhiên uống rượu, hút thuốc và lại vẽ trong cuộc rượu như góp một câu chuyện mua vui vậy. Làm gì cũng phải vui chứ, nhất là khi vẽ tranh và uống rượu.
Ngay cả ở những tác phẩm lớn của mình, chưa bao giờ Trần Nhật Thăng để những phản hồi nhận lại làm ảnh hưởng đến bản ngã. Người ta xem tranh của anh xong lắc đầu vì “chẳng hiểu vẽ cái gì”. Người ta đem tranh của anh treo ở nơi kém trang trọng, thậm chí là cạnh chuồng gà.
Không sao hết, mỗi bức tranh đều có số phận riêng của nó, và việc định đoạt số phận của những đứa con tinh thần này vốn dĩ không phải phận sự của anh. Hơn hết, Trần Nhật Thăng hiểu quá rõ sự vô thường trong lĩnh vực mang tính tinh thần này.
Trải qua 13 cuộc triển lãm cá nhân, tận mắt thấy sự hình thành của từng bức tranh, tận tay “mi” từng bức một cách cẩn thận, ngắm nhìn chúng rực rỡ toả sáng trên tường gallery trong thời gian hữu hạn và rồi lại chứng kiến chúng xếp thành từng đống im lặng trong bóng tối và bụi bặm, anh đã quá hiểu mọi thứ.
Anh không thể bắt người ta phải mua hết tranh của mình, phải bỏ ra rất nhiều tiền để sở hữu tranh của mình hay yêu cầu họ phải dành không gian đẹp đẽ nhất để treo tranh của mình. Trần Nhật Thăng không có tham vọng bức nhân đó.
Bức tranh chỉ là của anh khi nó còn không là gì cả, khi những trạng thái cảm xúc của anh vẫn còn bị giam giữ trong tâm trí chứ chưa được giải phóng lên toan. Còn khi bức tranh đã có hình hài vật chất, đã được định dạng bởi những đường nét và miền màu, nó biến thành hạt mưa bay giữa trời vô định. Anh nào biết được hạt nào sẽ rơi cạnh chuồng gà!
***
Thật sâu trong tâm khảm của mình, chắc chắn, Trần Nhật Thăng không thể vui khi thấy nhiều tác phẩm của mình chìm trong bóng tối. Người họa sĩ vẽ tranh là để đưa những cảm xúc cá nhân thoát thai khỏi bóng tối mơ hồ, hiện diện bằng màu sắc và hiện diện trong ánh sáng. Chúng phải được thừa nhận và đón nhận.
Song, Trần Nhật Thăng không phải tuýp người thích thể hiện, cũng như những bức tranh của anh không phải thứ mà đám đông dễ tiếp cận. Anh an nhiên với bóng tối, thậm chí cảm thấy khoái trá với sự cô độc. Anh vẫn thường nằm trong bóng tối, trên một con đèo đầy bóng tối để tận hưởng ánh sáng của những ngôi sao, thứ ánh sáng chỉ được thụ cảm nhờ bóng tối và bị triệt tiêu bởi ánh sáng.
Tranh của Trần Nhật Thăng thể hiện rất rõ điều triết lý sáng tạo cá nhân này. Chúng được vẽ bằng những đường nét tuỳ hứng của dòng cảm xúc và tư tưởng. Anh đặt cọ lên một điểm khởi đầu ngẫu hứng và để cho dòng chảy của cảm xúc và tư tưởng dẫn đường.
Vốn dĩ tư tưởng của con người không bất động mà luôn linh hoạt chuyển động như vượn chuyền cành hay mạnh mẽ phá cách như chiến mã lỏng cương. Dòng chảy tư tưởng đó sẽ khiến tay của anh miên man tuỳ ý, dừng ngắt hay chuyển hướng vô cùng, không thể nắm bắt cho đến khi ý tuyệt, tâm cạn.
Trong một lần ghé qua xưởng vẽ của Trần Nhật Thăng, tôi thấy anh đặt một giá để gươm của võ sĩ đạo Nhật Bản trước khung tranh, liền hỏi mối quan hệ giữa gươm và hội hoạ trong tâm tưởng của hoạ sĩ. Anh giải thích, ngoài việc tôn thờ tinh thần kiên cường nguyên thuỷ của võ sĩ đạo, anh muốn mọi đường đi bút của mình cũng mạnh mẽ và dứt khoát như một đường gươm.
Đó có thể là một giải thích mang tính “nguy hiểm”, theo ý kiến chủ quan của tôi, nhưng thực sự, khi xem tranh, tôi thấy mọi bức đều phảng phất “gươm ý”. Không phải những nét tung, nét hoành hay nét xiên mang “gươm ý” mà là tinh thần ào ạt, mạnh mẽ như tuốt gươm tả xung hữu đột, miên man không ngừng.
Nếu không có tinh thần đó, khó có thể giải thích tại sao Trần Nhật Thăng có những đêm “vung gươm” như mê dại để vẽ xong cả vài bức tranh có kích thước bằng cả bức tường, để rồi sáng ra mệt phờ, cả tâm, thân, ý đều cạn kiệt đến cả gần 10 năm sau, khiến nhiều người tưởng rằng sau trận “đồ sát” này thì anh sẽ thôi hẳn trừu tượng.
Nói đến chuyện Trần Nhật Thăng vẽ một vài bức tranh khổ lớn trong một đêm, nhiều người có thể cho là kiểu tranh của anh dễ vẽ bởi chúng không cầu kỳ, tinh xảo về đường nét, hình hoạ, bố cục, tạo hình. Tranh trừu tượng mà, có người bôi màu nguyên một bức, có người cầm chậu màu hắt lên toan, thế mà cũng thành tranh, bán lại đắt cả mấy chục triệu USD.
Sa vào lĩnh vực trừu tượng dễ cãi nhau như vậy lắm, bởi trừu tượng là cái gì đó chưa thể cộng cảm với tâm thế xem tranh, thưởng tranh không chỉ của người Việt Nam mà còn cả thế giới. Ngôn ngữ trừu tượng vốn dĩ là thứ có thể cảm được mà không mô tả được, mà mỗi người lại cảm theo một hướng khác nhau dù cùng xem một bức tranh.
Sự tương phản, kết hợp của đậm nhạt, sáng tối, nét vẽ, vùng màu, các mảng đối lập, tiếp biến trong tranh của Trần Nhật Thăng không phải là ngôn ngữ để đám đông thụ cảm. Bởi chúng chính là diễn biến tư tưởng, cảm xúc của anh trong quá trình “vung gươm” và để nắm bắt được thứ ngôn ngữ đó, người xem buộc phải có cùng bước sóng với họa sĩ.
Có như vậy thì mới cảm được ý đồ và ý thức sáng tác của hoạ sĩ, cùng rung cảm ở một tần số sóng tại một bức tranh. Nếu không rất dễ lâm vào cảnh “gật gù vô minh” hoặc chỉ thấy đẹp bởi màu sắc hài hoà, bắt mắt hoặc chê bai thẳng thừng “vẽ thế này thì trẻ con cũng vẽ được”.
****
Ngôn ngữ hội hoạ của Trần Nhật Thăng chọn khù khoằm như thế nên cũng dễ hiểu tại sao nhiều bức tranh của anh nằm trong bóng tối. Nhưng anh không thay đổi ngôn ngữ và bản ngã của mình, bởi Trần Nhật Thăng biết rằng, còn chấp vào bản ngã không được công nhận là còn chưa nhận thức rõ về bản thân mình.
Anh muốn người ta cảm nhận tranh của mình bằng trái tim chứ không phải cái đầu, bằng cảm xúc chứ không phải phân tích lý luận. Vẽ đối với anh là giãi bày thế giới nội tâm, đem vùng tối đặt ra ngoài vùng sáng, dùng màu sắc vật chất để diễn tả trạng thái tinh thần. Nó là một nhu cầu nội tại và là một cuộc chơi của riêng anh.
Hoàn toàn không bất ngờ khi những bức tranh của Trần Nhật Thăng chỉ bừng sáng trong giây lát triển lãm và rồi chìm đắm trong bóng tối miên viễn. Nhưng cũng không bất ngờ nếu một ngày nào đó, bước sóng của Trần Nhật Thăng bắt được vào con tim của người khác, để rồi chúng sẽ được tung hô, trọng vọng, còn ngôn ngữ của anh sẽ được mô tả là ngôn ngữ của bậc trí giả.
Nhưng dù thế nào, tranh là một cuộc chơi lớn, là một miền rong chơi bất tận của Trần Nhật Thăng. Vốn là một gã trai Hà Nội đầy những đam mê phù phiếm, Trần Nhật Thăng rất ham chơi và biến cả cuộc đời thành một thú chơi. Việc anh dùng tranh để chơi cảm xúc của mình thú vị chẳng kém chơi mô tô, chơi bật lửa, đồng hồ, kính bút hay tượng Phật.
Trong thú chơi của mình, đặc biệt là vẽ tranh, Trần Nhật Thăng chỉ cần sự cộng cảm “không thể không có” từ người vợ và ba cô con gái. Tranh của anh của anh dù được khen hay chê, dù được trưng bày hay xếp xó, ít nhất cũng tìm được sự đồng cảm từ “bốn nữ tướng” trong gia đình.
Chỉ cần thế là đủ và thừa thãi để Trần Nhật Thăng mê mải trong miền chơi của mình. Nếu không, mọi thứ sẽ biến thành địa ngục bởi không một người vợ nào có thể chấp nhận chồng “vung gươm” tốn bao tiền toan, tiền màu, tiền khung để vẽ ra những bức tranh không đem lại tiền bạc suốt mấy chục năm qua.
Ở ngưỡng “ngũ thập tri thiên mệnh”, Trần Nhật Thăng đã biết được mệnh trời hay chưa. Nhưng anh vẫn cứ chơi và chơi cho ra chơi. Lần này anh chơi “Miền Không”, cuộc triển lãm cá nhân thứ 13 trong sự nghiệp gươm đao tranh pháo với 30 bức tranh trừu tượng được anh đặt tên từ 1 đến 30.
Nói đến “Miền Không” nhiều người sẽ nghĩ rằng có liên quan đến Thiền, đến tư tưởng nhị nguyên Sắc – Không của Phật giáo. Cũng có thể là thế, nhưng cũng chẳng thể là thế. Nó chỉ là tư tưởng, là suy nghĩ của Trần Nhật Thăng, được hình thành trong một cuộc chơi như bao cuộc chơi khác.
Trong cuộc chơi này, Trần Nhật Thăng không cầu điều gì cả bởi danh tiếng và tiền bạc anh đều không có, hoặc có không nhiều. Anh cũng không quan tâm đến việc tranh có được đón nhận, được mua hay không. Những vấn đề của cuộc sống không tồn tại trong tranh của Trần Nhật Thăng. Ở đó chỉ có sự sáng tạo, thứ giúp anh luôn nổi loạn trong hiện thực và trong suốt miền chơi bất tận của mình.
Hơn 2 thập kỷ lao vào nhánh chông gai nhất của con đường hội hoạ, chịu đựng nhiều bầm dập từ cuộc đời, có lẽ Trần Nhật Thăng coi “Miền Không” như một điểm tiếp biến trong tư duy sáng tạo. Nhưng khi bước vào tuổi 50, Trần Nhật Thăng lại cho chúng ta thấy một sự bừng tỉnh trở lại với năng lượng và tinh thần tươi mới. Nó rất xứng đáng với cái tên Nhật Thăng của anh: Mặt Trời Đang Lên!
Nền văn hóa Việt Nam kết tinh từ thành quả lao động, sáng tạo, gìn giữ qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá của dân tộc ta.
Vì vậy, xây dựng, phát triển văn hóa luôn được Đảng xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là một trong những động lực để phát triển kinh tế-xã hội.
Bức tranh văn hóa Việt Nam đa sắc màu
Theo các tài liệu sử học, Việt Nam là một cộng đồng văn hoá rộng lớn hình thành khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỷ này. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 400 năm tiếp biến văn hóa Việt Nam với phương Tây dưới nhiều hình thức, nhưng văn hóa Việt Nam vẫn vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa hiện đại hóa.
Nền văn hiến kỳ vĩ của dân tộc Việt Nam được tạo nên bởi 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá.
Văn hóa Việt Nam có những nét mang tính đặc trưng phổ biển của văn hóa nói chung và có những đặc trưng riêng biệt, đặc thù. Những đặc trưng cơ bản riêng biệt này được hình thành, đúc kết, bảo lưu, phát triển từ điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị-kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Các đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam là lòng yêu nước; tinh thần dân tộc; lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã, xã hội; tính tinh tế…
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới dự ngày hội Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc năm 2022. (Ảnh: Tuấn Đức/TTXVN)
Phát biểu tại Ngày hội “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” và Lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ năm 2022 (ngày 12/2/2022), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, tất cả chúng ta dù ở đồng bằng hay miền núi, biên giới hay hải đảo, trong nước hay nước ngoài, dù khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo đều một lòng hướng về nguồn cội, quê hương, đất nước, cùng nhau nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.
Nền văn hiến kỳ vĩ của dân tộc Việt Nam được tạo nên bởi 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá của dân tộc ta.
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc mang một bản sắc riêng thể hiện qua văn hoá ẩm thực, nhà ở, phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo, tổ chức xã hội, văn học nghệ thuật, trang phục… Đó là những dấu hiệu để nhận biết nhau, giúp hiểu biết về nhau.
Trong số đó, trang phục truyền thống là một biểu trưng văn hoá phản ánh sinh động phong tục, tập quán, vẻ đẹp và bản sắc riêng của mỗi dân tộc trên mỗi vùng miền đất nước. Trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam gắn liền cùng quá trình dài lao động, sáng tạo chứa đựng những giá trị nghệ thuật, lịch sử của từng tộc người.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của Việt Nam đã vượt ra khỏi ranh giới quốc gia để trở thành di sản văn hóa chung của cả nhân loại. Trong ảnh: Đoàn nghi lễ rước kiệu dâng lễ vật tưởng nhớ các Vua Hùng. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Trong các vùng văn hóa không thể không kể đến không gian văn hoá rộng lớn trải dài khắp đất nước của những lễ hội truyền thống, được tổ chức hàng năm tại mỗi ngôi làng, nhằm tưởng nhớ tới các vị anh hùng có công với đất nước, với làng xã, biểu đạt sâu sắc tinh thần gắn kết cộng đồng, đời sống, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa của mỗi ngôi làng Việt.
Theo thống kê, nước ta có hơn 6.000 lễ hội dân gian, lưu giữ nhiều tầng lớp văn hóa tín ngưỡng, ẩn chứa hệ tư tưởng đạo lý và triết học. Trong số đó có các lễ hội tiêu biểu như Hội Gióng, Lễ hội Đống Đa, Lễ hội Cổ Loa, Hội Chùa Thầy, hội Thổi cơm thi làng Thi Cấm…
Nội dung các hội làng thường gắn với tục thờ cúng vị thành hoàng làng, quá trình thực hiện nghi lễ và các hoạt động vui chơi, giúp người dân gắn bó với nhau về tinh thần, có trách nhiệm với cộng đồng.
Nhiều lễ hội phản ánh tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước. Đồng thời phản ánh đậm nét vai trò của nhân dân – những người sáng tạo, kế thừa và trao truyền các sáng tạo văn hóa vật thể, phi vật thể, chủ nhân chân chính của loại hình di sản này.
Văn hoá soi đường: Tái hiện Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer
Văn hóa soi đường: Tuần Du lịch – Văn hóa Lai Châu 2022 tiếp tục nhiều hoạt động sôi nổi
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam bền vững
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, mỗi dân tộc là một cành trong cái cây vĩ đại mang tên Việt Nam, do đó chúng ta phải có trách nhiệm gìn giữ bằng mọi giá vẻ đẹp văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho tất cả những cành, nhánh ấy đâm chồi nảy lộc, nở hoa, kết trái (Ngày hội “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” và Lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ năm 2022).
Bởi lẽ, thông qua sự kết nối kỳ diệu của văn hóa, chúng ta mới dễ dàng có được sự gần gũi, hiểu biết và yêu thương lẫn nhau, góp phần vun đắp sức mạnh Việt Nam, giá trị Việt Nam cho hôm nay và mai sau.
Phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam
Nhận thức Đảng ta về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước đã xác định rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.”
Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời tăng cường uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế.
Văn hóa ngày càng được đề cao trong các mối quan hệ xã hội, các lĩnh vực hoạt động, xây dựng văn hoá con người ở thời kỳ mới. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Ðảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần.
Tiếp đến, Đại hội XIII của Đảng xác định “Phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam,” “Xây dựng, phát huy yếu tố văn hóa để thực sự là đột phá phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế.”
Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội Đảng, Đảng ta đề cập một cách toàn diện và sâu sắc đến lĩnh vực văn hóa, từ chủ đề Đại hội đến các quan điểm, mục tiêu, định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược.
Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là khả năng huy động, phát huy những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời tăng cường uy tín, vị thế của dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế.
Với lợi thế của một nền văn hóa có nhiều nét độc đáo, mang lại nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế, việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam là một chiến lược đúng đắn để thực hiện các mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Năm 2007, khi Giáo sư Joseph Nye, tác giả của học thuyết “Sức mạnh mềm” đến Việt Nam, đã nhận định rằng, những điểm làm nên sức hấp dẫn nhất của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay là tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc, chính sách phát triển kinh tế và nền văn hóa, trong đó văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn và có sức lôi cuốn các nước phương Tây.
Nhìn lại những thành tựu trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới, chúng ta có quyền tự hào về những đóng góp to lớn của nền văn hóa vào sự nghiệp cứu quốc và kiến quốc.
Nổi bật là nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực, các loại hình; các sản phẩm văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn và phát triển. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả, tích cực.
Phố cổ Hội An – Di sản văn hóa thế giới với hơn một nghìn di tích được gữ gần như nguyên vẹn. Những ngôi nhà cổ rêu phong với hình ảnh người phụ nữ áo dài làm những con phố cổ càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt khách du lịch trong và ngoài nước. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Phát triển toàn diện con người Việt Nam từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Các chỉ số phát triển con người Việt Nam đã có nhiều bước tiến so với khu vực và thế giới.
Năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam có tên trong số 52 nước có Chỉ số phát triển con người cao. Khoảng 50 triệu người được xóa đói giảm nghèo, giúp Việt Nam cán đích mục tiêu Thiên niên kỷ sớm hơn 10 năm so với cam kết với Liên hợp quốc. 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới…
Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (ngày 24/11/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có Bài phát biểu đề cập đến sức mạnh mềm văn hóa một cách hàm súc và gói trọn tâm huyết để xây dựng, phát triển văn hóa.
Người đứng đầu Đảng ta khẳng định “văn hóa là bản sắc của dân tộc, văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất.” Đứng trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là “nền tảng tinh thần,” “động lực phát triển,” và “soi đường cho quốc dân đi;” phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.
Theo các chuyên gia, động lực và sức mạnh nội sinh của văn hóa không phải tự dưng hay ngày một ngày hai có được mà phải được nuôi dưỡng, giáo dục, vun đắp, chăm bón từng ngày, từ những công việc nhỏ bé, bình thường đến sự trải nghiệm, từng trải được hun đúc, trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, sức mạnh mềm của đất nước được kỳ vọng sẽ có sức bật tốt để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đủ sức “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong./.
Nghi thức tắm tượng phật bằng nước ướp hương, gột rửa những điều không may mắn năm cũ để sang năm mới mọi sự được như ý trong Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer. (Ảnh: Tuấn Đức/TTXVN)
31-е Игры Юго-Восточной Азии (SEA Games 31) официально пройдут с 12 по 23 мая 2022 года в Ханое, а также в некоторых провинциях и городах, что знаменует собой веху для Вьетнама – иметь честь во второй раз быть принимающей страной.
С момента своего основания, после более чем полувекового существования, SEA Games всегда являются незаменимой духовной пищей для любителей спорта, в то же время способствуя укреплению солидарности и дружбы между странами региона.
63 года стадии становления и развития
Более полувека назад, исходя из точки зрения того, что страны Юго-Восточной Азии имеют много сходств в образе жизни, культуре, климате и человеческом телосложении, а страны имеют одинаковый базовый уровень спортивных достижений, было принято решение собраться и поддержать друг друга, чтобы регулярно и периодически организовывать совместные спортивные фестиваля соответствующего масштаба между странами.
22 мая 1958 года была создана Спортивная федерация полуострова Юго-Восточной Азии (SEAP Games Federation). В 1977 году Федерация была переименована в Спортивную федерацию Юго-Восточной Азии, а Игры на полуострове Юго-Восточной Азии (SEAP Games) были переименованы в Игры Юго-Восточной Азии (SEA Games).
Поэтому 22 мая 1958 года делегаты стран полуострова Юго-Восточной Азии, присутствовавшие на 3-х Азиатских играх в Токио, Япония, встретились и пришли к соглашению о создании собственной спортивной организации региона – Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии (SEAP Games Federation), с целью укрепления дружбы, солидарности и взаимопонимания между странами региона; постоянно повышать достижения, технику и тактику видов спорта; создавать условия для тренировок и соревнований спортсменов из стран региона, чтобы лучше участвовать в Азиатских играх и Олимпийских играх.
Национальные флаги Вьетнама и стран ЮВА наSEA Games 25.
Первое собрание Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии состоялось 5 июня 1959 года в Сантидхама-холле в Бангкоке, Таиланд, оно утвердило устав и избрало Исполнительный комитет Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии. Президент национального олимпийского комитета Таиланда Прабхас Чаруштиара был избран первым президентом Федерации, в состав которой вошли делегаты из Камбоджи, Лаоса, Малайзии, Бирмы (ныне Мьянма), Таиланда и Вьетнама.
Страны, участвующие в этом первом собрании, называются странами-основателями Федерации. Кроме этого, на первом собрании Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии логотип Федерации был утвержден в виде шести переплетенных светло-желтых кругов, представляющих шесть членов-основателей.
Делегаты стран также приняли решение проводить SEAP Games каждые 2 года в середине цикла Олимпийских и Азиатских игр. Спортивные состязания принятые Федерацией игры полуострова Юго-Восточной Азии проходят под контролем Международного олимпийского комитета (МОК) и Олимпийского совета Азии.
Совет Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии является высшим органом Федерации, имеющим полномочия решать все вопросы деятельности Федерации, такие как повестка дня Игр, время проведения Игр, регистрация участников.
Спортивная делегация Вьетнама проходит через трибуну SEA Games 25.
Каждая страна-член имеет право назначить от 1 до 3 человек в Совет Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии. Игры SEAP впервые были проведены в Бангкоке, Таиланд, с 12 по 17 декабря 1959 года с участием 527 спортсменов из Таиланда, Бирмы (ныне Мьянма), Малайзии, Камбоджи, Лаоса и Вьетнама, соревнующихся в 12 видах спорта.
В 1965 году Федерация игр полуострова Юго-Восточной Азии приняла Сингапур в состав своих членов, после того как он отделился от Федерации Малайзии и образовал независимую страну. Затем, на 8-х Играх SEAP Games, состоявшихся в 1975 году в Бангкоке, Таиланд, Федерация игр полуострова Юго-Восточной Азии рассматривала возможность принятия Индонезии и Филиппин.
Эти две страны были официально приняты в 1977 году, и в том же году Федерация игр полуострова Юго-Восточной Азии сменила название на Федерацию игр Юго-Восточной Азии, а Игры полуострова Юго-Восточной Азии были переименованы в SEA Games.
В 1979 году Бруней был принят в Федерацию SEA Games на 10-х SEA Games 10, проходивших в Джакарте, Индонезия. На 20-х SEA Games (в 1999 г.), проходивших в Брунее, Олимпийский совет Брунея предложил изменить логотип Федерации SEA Games с 6 кругов на 10 светло-желтых кругов, вложенных друг в друга.
Флаг Федерации игры Юго-Восточной Азии имеет синий фон, состоящий из пересекающихся кругов, которые символизируют мир, солидарность и дружбу между странами-членами. На SEA Games 22, проходивших в 2003 году в Ханое (Вьетнам), Восточный Тимор был последней страной, участвовавшей в SEA Games.
Премьер-министр Нгуен Суан Фук вручает кубок чемпиона Кубка ЮВА по футболу в 2018 г. (AFF Suzuki Cup 2018) сборной Вьетнама.
На SEA Games 27, проходивших в Мьянме, логотип Федерации игр Юго-Восточной Азии продолжал изменяться с 10 кругов до 11 светло-желтых кругов, прикрепленных друг к другу. С тех пор символ из 11 соединенных друг с другом светло-желтых кругов, символизирующих солидарность и любовь между народами Юго-Восточной Азии, стал официальным символом Федерации игры Юго-Восточной Азии.
Спустя 63 года со дня основания SEA Game, это мероприятие и сегодня остается главным спортивным событием региона.
Включая SEA Games 31 (в 2022 г.), Таиланд и Малайзия являются двумя странами с наибольшим количеством проведения SEA Games – 6 раз; Сингапур, Индонезия и Филиппины заняли 2-е место (принимали SEA Games 4 раза); Мьянма заняла 3-е место (принимала SEA Games 3 раза); Вьетнам – 2 раза; страны, которые когда-то организовали SEA Games, – это Бруней и Лаос.
Вьетнам – активный участник в создании и развитии спорта в Юго-Восточной Азии
Вьетнамская спортивная делегация принимает участие в Играх Юго-Восточной Азии с момента их основания. В частности, в период до 1975 года Южный Вьетнам ранее был одним из членов-основателей Федерации игр полуострова Юго-Восточной Азии и постоянно отправил спортивные делегации для участия с первых Игр (в 1959 г.) до 7-го Игр (1973 г.).
Посредством участия в спортивных мероприятиях с целью интеграции и обучения у международных друзей, Вьетнам поднялся на 4-е место в регионе и занял 1-е место на SEA Games 22 (как принимающая страна). В частности, на SEA Games 25 и 30 Вьетнам занял 2-е место в общем медальном зачете. SEA Games 31 пройдут с 12 по 23 мая 2022 года, и Вьетнаму во второй раз выпала честь быть принимающей страной.
В период после 1975 года, после воссоединения страны, переживав период ликвидации последствий войны, Вьетнам постепенно вновь влился в общую деятельность Федерации игр Юго-Восточной Азии. В 1989 году, спустя 13 лет (с SEA Games 8 в 1975 г. до SEA Games 14 в 1987 г.), вьетнамская спортивная делегация вновь вышла на региональную арену (SEA Games 15 в 1989 г.).
Следуя целям интеграции и обучения у международных друзей, вьетнамский спорт может уверенно участвовать в международных соревнованиях, особенно в некоторых боевых искусствах. Благодаря участию в Играх Юго-Восточной Азии достижения Вьетнамской спортивной делегации также постепенно улучшались.
Если на SEA Games 15 и 16 вьетнамская спортивная делегация занимала 7-е место в регионе, то на SEA Games 21вьетнамская спортивная делегация поднялась на 4-е место в регионе, а на SEA Games 22 – на 1-е место (в качестве принимающей страны). С тех пор вьетнамская спортивная делегация неизменно занимает 3-е место в общем медальном зачете. В частности, на SEA Games 25 и 30 Вьетнам занял 2-е место в общем медальном зачете.
В 2022 году Вьетнаму выпала честь во второй раз принять у себя SEA Games 31. По первоначальному плану SEA Games 31 должны были проходить с 21 ноября по 2 декабря 2021 года, но из-за влияния эпидемии COVID-19 главное спортивное событие региона было перенесено и официально состоится с 12 по 23 мая 2022 г.
До настоящего времени все приготовления в срочном порядке осуществлялись Оргкомитетом и соответствующими подразделениями для обеспечения соблюдения графика.
Под лозунгом «За укрепление Юго-Восточной Азии» Вьетнам хочет организовать успешные SEA Games 31 и направить послание правительствам и народам стран Юго-Восточной Азии о развитии, солидарности и совместном строительстве сильной АСЕАН, дальнейшем продвижением роли АСЕАН на международной арене./.
Куангнинь срочно завершает подготовительные работы к SEA Games 31Виньфук подготовлен к организации соревнований по гольфу в рамках SEA Games 31SEA Games 31: Намдинь выделил 25 млрд. донгов на ремонт стадиона ТхиенчыонгНациональный стадион Мидинь готов к SEA GAmes 31 Ханойский спортивный тренировочный и состязательный центр готов обслуживать SEA Games 31Дворец соревнований Шокшон готов к проведению SEA Games 31Ниньбинь активно готовится к SEA Game 31Дворец соревнований Жалам обеспечивает графику строительства для обслуживания SEA Games 31Стадион Виетчи готов к проведению SEA Game 31Стадион Виетчи готов к проведению SEA Game 31Теннисные корты Ханака готовы к SEA Games 31Многоцелевой спортивный зал в провинции Бакнинь готов к проведению SEA Games 31
The 31st Southeast Asian Games (SEA Games 31) will take place from May 12 to 23 in Hanoi and 11 other localities across Vietnam, marking the second time the country has hosted the regional sporting event.
For over half a century, the SEA Games have enthralled sports fans and helped promote solidarity and friendship among countries in the region.
63 years of establishment and development
More than 60 years ago, a consensus was reached that Southeast Asian nations shared many similarities in terms of lifestyles, cultures, climate and physique. They had also reached similar sporting levels and should support each other by holding a regional event.
The Southeast Asian Peninsular (SEAP) Games Federation was set up on May 22, 1958 and changed its name to the Southeast Asian Games Federation in 1977, while the SEAP Games were renamed the SEA Games.
Delegations of the Southeast Asian Peninsular attended the third Asian Games in Tokyo, Japan and agreed to set up a regional sporting organisation named the South East Asian Peninsular Games Federation (SEAP). The federation aimed to strengthen friendship, solidarity and mutual understanding among countries in the region as well as help countries improve sporting performance, techniques and strategies and create conditions for athletes to train to obtain better results at the Asian Games and Olympic Games.
The Vietnamese flag flies alongside those of other Southeast Asian nations at the 25th SEA Games (Photo: VNA)
The first ever meeting of the SEAP Games Federation was held on June 5, 1959 in Bangkok, Thailand, where a charter was adopted and an executive board elected. President of the Thailand National Olympic Committee Prabhas Charustiara was elected the first president of the federation, with members comprising delegates of Cambodia, Laos, Malaysia, Burma (now Myanmar), Thailand and Vietnam.
Also at the event, a symbol of six yellow circles linked together was chosen as its symbol, representing the six founding members.
Delegates also agreed to hold the SEAP Games biennially between the Olympic Games and Asian Games. The competitions were decided by the SEAP Games Federation under the supervision of the International Olympic Committee (IOC) and the Olympic Council of Asia.
The Vietnamese delegation at the opening ceremony of the 25th SEA Games in 2009. (Photo: VNA)
Each member country could send up to three delegates to the Council. The first SEAP Games was hosted in Bangkok, Thailand, on December 12-17 in 1959 with the participation of 527 athletes from Thailand, Burma, Malaysia, Cambodia, Laos and Vietnam competing in 12 sports.
In 1965, Singapore was admitted to the federation after it separated from Malaysia to become an independent state. At the eighth SEAP Games in 1975 in Bangkok, Thailand, the federation considered Indonesia and the Philippines’ membership.
Two years later, the two countries were admitted and the names of the federation and the event was changed to the Southeast Asian Games (SEA) Federation and SEA Games, respectively.
At the 10th SEA Games in Jakarta, Indonesia, in 1979, Brunei became a member of the SEA Games Federation. Twenty years later, at the 20th SEA Games hosted in Brunei, the country’s Olympic Council proposed to increase the number of circles in the federation’s logo from 6 to 10.
The flag of the federation has a blue background and contains connected circles, highlighting a message of peace, solidarity and friendship among member nations. At the 22nd SEA Games held in Hanoi, Vietnam, in 2003, Timor Leste competed in the event for the first time.
Then Prime Minister Nguyen Xuan Phuc presents the trophy to Vietnam at the 2018 ASEAN Football Federation (AFF) Cup. (Photo: VNA)
At the 27th SEA Games hosted by Myanmar, the number of circles on the federation’s symbol rose to 11, representing solidarity among regional people. It was made the official symbol of the federation.
Thailand and Malaysia have both hosted the most Games with six; Singapore, while Indonesia, and the Philippines have hosted four times; Myanmar three times; Vietnam twice and Brunei and Laos once.
Vietnam – an active member in developing Southeast Asian sports
Vietnam’s sports delegation has joined the Games since its inception. Before 1975, the South of Vietnam, a founding member of the SEAP Games Federation, sent athletes to the Games’ editions from the first (in 1959) to the seventh (in 1973). After the country’s reunification in 1975, Vietnam has gradually rejoined activities of the SEA Games Federation. Following a 13-year absence from the eighth to 14th edition of the Games (from 1975 to 1987), Vietnam’s sports delegation returned to the regional event at the 15th SEA Games in 1989.
From the initial target of integration and learning from international friends, Vietnamese athletes can now hold their heads high when competing at international events, especially those in martial arts. The Vietnamese delegation’s achievements have been rising in each edition of the Games.
Vietnam ranked seventh at the 15th and 16th SEA Games, then jumped to the fourth and first spot at the 21st and 22nd Games. The country was the runner-up at the 25th and 30th SEA Games.
The 31st SEA Games, slated for May 12 to 23, marks the second time that Vietnam has hosted the event.
SEA Games 31 was initially scheduled to take place from November 21 to December 2, 2021. However, it was delayed to May 12-23, 2022 due to the complicated developments of COVID-19.
The event’s slogan “For a stronger Southeast Asia” aims to convey a message of solidarity to build a thriving ASEAN Community and promote its role in the international arena./.
Quang Ninh accelerates preparations for SEA Games 31Vinh Phuc readies to host golf competitions at SEA Games 31SEA Games 31: Nam Dinh spends over 25 billion VND upgrading Thien Truong StadiumMy Dinh National Stadium readies to serve SEA Games 31Hanoi Sports Training and Competition Centre readies to host competitions of SEA Games 31Soc Son gymnasium stands ready for SEA Games 31Ninh Binh actively prepares for SEA Games 31Gia Lam gymnasium works to ensure progress to serve SEA Games 31Viet Tri Stadium in Phu Tho readies for SEA Games 31Viet Tri Stadium in Phu ThoHanaka tennis complex stands ready for the GamesMulti-purpose gymnasium in Bac Ninh readies for SEA Games 31
Les 31es Jeux sportifs d’Asie du Sud-Est (SEA Games 31), sur le thème “Pour une Asie du Sud-Est plus forte”, se dérouleront du 6 au 23 mai à Hanoï et dans 11 villes et provinces voisines, marquant la deuxième fois que le pays a l’honneur d’accueillir cet événement.
Depuis leur création, après plus d’un demi-siècle d’existence, les SEA Games sont toujours une nourriture spirituelle indispensable pour les amateurs de sport, qui contribuent en même temps à renforcer la solidarité et l’amitié entre les pays de la région.
63 ans de développement
Il y a plus d’un demi-siècle, partant du point de vue que les pays d’Asie du Sud-Est présentent de nombreuses similitudes en termes de mode de vie, de culture, de climat et de capacités physiques humaines, il fut décidé d’organiser périodiquement un festival sportif commun.
Le 22 mai 1958, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est (Fédération des jeux SEAP en abrégé) dut créée. En 1977, la Fédération fut rebaptisée Fédération des sports d’Asie du Sud-Est et les Jeux péninsulaires d’Asie du Sud-Est (SEAP Games) furent renommés Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games).
Le 22 mai 1958, les délégués des pays d’Asie du Sud-Est participant aux 3e Jeux asiatiques à Tokyo, au Japon, se réunirent et parvinrent à un accord pour créer une organisation sportive propre dans la région, la Fédération des Jeux péninsulaires d’Asie du Sud-Est (SEAP Games Federation), dans le but de renforcer l’amitié, la solidarité et la compréhension entre les pays de la région, d’améliorer constamment les réalisations, les techniques et les tactiques du sport, de créer les conditions permettant aux athlètes des pays de la région de s’entraîner et de concourir afin de mieux participer aux Jeux asiatiques et Jeux olympiques.
Le drapeau national de la délégation sportive du Vietnam flotte aux côtés des drapeaux des autres pays d’Asie du Sud-Est lors des 25e SEA Games. Photo : VNA
La première session de la SEAP eut lieu le 5 juin 1959 au Santidhama Hall de Bangkok, en Thaïlande. Elle approuva la charte et élut le comité exécutif de la SEAP. Le président du Comité national olympique de Thaïlande Prabhas Charustiara fut élu premier président de la Fédération, dont les membres comprenaient des délégués du Cambodge, du Laos, de Malaisie, de Birmanie (aujourd’hui Myanmar), de Thaïlande et du Vietnam.
Les pays participant à cette première session sont appelés les pays fondateurs de la Fédération. Également lors de la première réunion de la SEAP, le logo de la Fédération dut approuvé sous la forme de six cercles jaune clair entrelacés, représentant les six membres fondateurs.
Les délégués des pays ont également décidé d’organiser les SEAP Games tous les 2 ans au milieu du cycle des Jeux olympiques asiatiques. Les sports furent choisis par la Fédération sportive de la péninsule d’Asie du Sud-Est, sous la supervision du Comité international olympique (CIO) et du Conseil olympique d’Asie.
Le Conseil de la Fédération sportive de la péninsule d’Asie du Sud-Est est la plus haute autorité de la Fédération, ayant le pouvoir de décider de toutes les activités de la Fédération telles que l’ordre du jour des Jeux, les heures de déroulement des Jeux, les membres à inscrire aux Jeux.
Défilé de la délégation sportive du Vietnam lors de la cérémonie d’ouverture des 25e SEA Games en 2009. Photo : VNA
Chaque pays membre a le droit de nommer 1 à 3 membres au Conseil de la Fédération des Sports de la Péninsule d’Asie du Sud-Est. Les Jeux SEAP eurent lieu pour la première fois à Bangkok, en Thaïlande, du 12 au 17 décembre 1959, avec la participation de 527 athlètes de Thaïlande, de Birmanie (aujourd’hui Myanmar), de Malaisie, du Cambodge et du Laos et du Vietnam, en compétition dans 12 disciplines.
En 1965, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est admit un nouveau membre, Singapour, après sa séparation de la Fédération de Malaisie pour former un pays indépendant. Puis, lors des 8e Jeux SEAP tenus en 1975 à Bangkok, en Thaïlande, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est envisagea d’admettre l’Indonésie et les Philippines.
Ces deux pays furent officiellement admis en 1977 et la même année, la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est changea son nom en Fédération des sports d’Asie du Sud-Est et les Jeux de la péninsule d’Asie du Sud-Est (SEAP Games) furent renommés Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games).
En 1979, Brunei fut admis à la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est lors des 10e SEA Gemes qui se tinrent à Jakarta, en Indonésie. Lors des 20e Jeux d’Asie du Sud-Est en 1999 à Brunei, le Conseil olympique de Brunei proposa de modifier le logo de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est pour passer de 6 cercles à 10 cercles jaune clair attachés les uns aux autres.
Le drapeau de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est a un fond bleu, composé de cercles imbriqués, afin d’envoyer un message de paix, de solidarité et d’amitié entre les pays membres. Lors des 22e SEA Games organisés en 2003 à Hanoï (Vietnam), le Timor oriental fut le dernier pays autorisé à participer aux SEA Games.
Le Premier ministre Nguyen Xuan Phuc remet le trophée du Championnat d’Asie du Sud-Est de football – AFF Suzuki Cup 2018 à l’équipe de football du Vietnam
Lors des 27e SEA Games organisés au Myanmar, le logo de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est fut encore modifié, passant de 10 cercles entrelacés à 11. Depuis, le symbole de 11 cercles jaune clair attachés les uns aux autres symbolisant la solidarité et l’amour entre les peuples d’Asie du Sud-Est a été pris comme symbole officiel de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est.
63 ans après sa création, les Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games) sont devenus un événement sportif majeur de la région.
En incluant les 31e SEA Games tenus en 2022, la Thaïlande et la Malaisie sont les deux pays avec le plus grand nombre d’organisations des SEA Games avec 6 fois, Singapour, l’Indonésie et les Philippines sont deuxièmes avec 4 fois. Le Myanmar est troisième avec 3 fois. Le Vietnam compte 2 organisations. Les pays qui l’ont accueilli autrefois sont le Brunei et le Laos.
Vietnam – membre actif dans la construction et le développement des sports d’Asie du Sud-Est
La délégation sportive vietnamienne participe aux SEA Games depuis sa création. En particulier, dans la période précédant 1975, le Sud-Vietnam, l’un des membres fondateurs de la Fédération des sports de la péninsule d’Asie du Sud-Est, y amena continuellement des délégations sportives depuis les premiers SEA Games en 1959 jusqu’aux 7e SEA Games en 1973.
Les sportifs vietnamiens se sont actuellement hissés à la 4e place dans la région et se sont classés premiers aux 22e SEA Games (en tant que pays hôte). En particulier, pour les 25e SEA Games et les 30e SEA Games, le Vietnam s’est classé deuxième du tableau final. Les SEA Games 31 auront lieu du 12 au 23 mai 2022, marquant la deuxième fois que le Vietnam a l’honneur d’être le pays hôte.
Après la réunification du pays en 1975 et après avoir surmonté les conséquences de la guerre, le Vietnam s’est progressivement réengagé dans les activités communes de la Fédération sportive d’Asie du Sud-Est. En 1989, après 13 ans (des SEAP Games 8 en 1975 aux SEA Games 14 en 1987), la délégation sportive vietnamienne réintégra l’arène régionale (SEA Games 15 ans 1989).
Si autrefois les sportifs vietnamiens participaient dans le but de s’intégrer et d’apprendre des amis internationaux, ils peuvent désormais participer en toute confiance aux compétitions internationales, en particulier certains arts martiaux. En participant aux SEA Games, les performances de la délégation sportive du Vietnam se sont également progressivement améliorées.
Si lors des 15e et 16e SEA Games, la délégation sportive vietnamienne s’était classée 7e de la région, elle s’est hissée à la 4e place aux 21e SEA Games, et à la 1ère aux SEA Games 22 (en tant que pays hôte). Depuis, la délégation sportive vietnamienne s’est toujours maintenue à la 3e position dans le classement par médailles. En particulier, aux 25e et 30e SEA Games, le Vietnam s’est classé deuxième du tableau final.
En 2022, le Vietnam est honoré d’être le pays hôte pour la deuxième fois des 31e Jeux d’Asie du Sud-Est (SEA Games 31). Selon le plan initial, les 31e SEA Games devaient se tenir du 21 novembre au 2 décembre 2021, mais en raison de l’épidémie de COVID-19, l’événement a été reporté et aura officiellement lieu du 12 au 23 mai prochain.
Jusqu’à présent, tous les préparatifs ont été mis en œuvre par le comité d’organisation et les unités concernées pour assurer le respect du calendrier.
Avec le slogan “Pour une Asie du Sud-Est plus forte”, le Vietnam souhaite organiser avec succès ces 31èmes SEA Games et envoyer aux gouvernements et peuples des pays d’Asie du Sud-Est un message de développement, de solidarité, d’édification ensemble d’une Communauté de l’ASEAN forte, promouvant davantage le rôle du bloc sur la scène internationale./.
Quang Ninh accélère les derniers préparatifs des SEA Games 31Vinh Phuc a rempli les conditions pour l’organisation de compétitions de golf dans le cadre des SEA Games 31Nam Dinh investit plus de 25 milliards de dongs pour moderniser le stade Thien Truong au service des SEA Games 31Le stade national de My Dinh est prêt à accueillir les SEA Games 31Le Centre d’entraînement et de compétition sportive de Hanoï prêt à accueillir les 31e SEA GamesLe gymnase de Soc Son accueillera les compétitions de Vovinam aux SEA Games 31.Ninh Binh a presque achevé ses préparatifs pour l’événement sportif régional.Le gymnase Gia Lam a été rénové pour accueillir les 31e SEA GamesLe stade Viet Tri prêt pour les SEA Games 31Le stade Viet Tri prêt pour les SEA Games 31Les épreuves de tennis se dérouleront dans le Complexe de tennis de la zone urbaine et de services Hanaka, dans la ville de Tu Son (Bac Ninh)Salle de compétitions de la province de Bac Ninh
Los XXXI Juegos Deportivos del Sudeste Asiático (SEA Games 31) se llevarán a cabo oficialmente del 12 al 23 de mayo venidero en Hanoi y otras 11 localidades vietnamitas, marcando la segunda vez que Vietnam alberga el evento deportivo regional.
Más de medio siglo desde su inicio hasta la fecha, los SEA Games siempre se han considerado un alimento espiritual indispensable para los amantes del deporte, el cual contribuye a fortalecer la solidaridad y la amistad entre los países de la región.
63 años de la formación y el desarrollo de SEA Games
Hace más de medio siglo, desde el punto de vista de que los países del Sudeste Asiático tienen muchas similitudes en términos del estilo de vida, cultura, clima y física humana, es necesario reunirse y apoyarse para organizar de forma regular y periódica un evento deportivo conjunto con escala adecuada entre países.
La Federación de los Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático (SEAP Games Federation) estableció el 22 de mayo de 1958, y pasó a llamarse la Federación de los Juegos del Sudeste Asiático en 1977. Los Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático (SEAP Games) cambiaron su nombre a los Juegos Deportivos del Sudeste Asiático (SEA Games).
El 22 de mayo de 1958, los delegados de los países de la península del Sudeste Asiático, que acudieron a los terceros Juegos Asiáticos en Tokio, se reunieron y acordaron establecer la Federación de Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático (SEAP Games Federation, por sus siglas en inglés), con el fin de fortalecer la amistad, la solidaridad y el entendimiento mutuo entre los países de la región. También tiene como objetivos mejorar constantemente los logros, técnicas y tácticas de los deportes; y crear condiciones favorables para que los atletas de los países practiquen y compitan para una mejor participación en los Juegos Asiáticos y Olímpicos.
Las banderas nacionales de Vietnam y los países del Sudeste Asiático ondearon en los XXV SEA Games (Foto: VNA)
En su primera reunión, efectuada el 5 de junio de 1959 en Bangkok, la Federación de Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático aprobó los estatutos y eligió su Comité Ejecutivo. El presidente del Comité Olímpico Nacional de Tailandia, Prabhas Charustiara, fue elegido como el primer titular de la Federación mencionada, mientras que sus miembros fundadores incluyen los delegados de Camboya, Laos, Malasia, Myanmar, Tailandia y Vietnam.
También en su primera reunión, la Federación aprobó su logotipo con seis círculos de color amarillo claro entrelazados, que representan a los seis miembros fundadores.
Los delegados de los países acordaron celebrar bienalmente los SEAP Games en medio del ciclo de los Juegos Olímpicos y Asiáticos, y con las disciplinas deportivas según la decisión de dicha Federación y bajo la supervisión del Comité Olímpico Internacional (COI) y el Consejo Olímpico Asiático.
El Consejo de la Federación de los Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático es la máxima autoridad de esa organización, que traza todas las decisiones y programas del evento deportivo regional.
La delegación deportiva vietnamita desfiló frente al podio en la ceremonia de apertura de los XXV SEA Games en 2009 (Foto: VNA)
Los SEAP Games se celebraron por primera vez del 12 al 17 de diciembre de 1959 en Bangkok con la participación de 527 atletas de Tailandia, Myanmar, Malasia, Singapur, Laos y Vietnam.
En 1965, la Federación aprobó la adhesión de Singapur como su miembro, y consideró la inclusión de Indonesia y Filipinas en los octavos SEAP Games efectuados en Bangkok en 1975.
Estos países fueron formalmente admitidos en 1977, en el mismo año que la Federación cambió su nombre a la Federación de los Juegos del Sudeste Asiático, y los SEAP Games se denominaron como los Juegos del Sudeste Asiático (SEA Games).
En 1979, la Federación Deportiva del Sudeste Asiático adhirió a Brunei como su miembro en los X SEA Games, efectuados en Yakarta.
En los XX SEA Games en Brunei, el Consejo Olímpico de ese país propuso modificar el logotipo de la Federación Deportiva del Sudeste Asiático con 10 círculos de color amarillo claro unidos entre sí.
La bandera de la Federación Deportiva del Sudeste Asiático tiene un fondo azul, que consiste en círculos entrelazados para enviar un mensaje de paz, solidaridad y amistad entre los países miembros.
El primer ministro Nguyen Xuan Phuc entregó el trofeo del Campeonato de Fútbol del Sudeste Asiático 2018 (Copa AFF Suzuki) al equipo vietnamita
En los XXII SEA Games celebrados en 2003 en Hanoi, Timor Leste fue admitido para participar en el evento deportivo regional.
El símbolo de la Federación siguió modificándose de 10 a 11 círculos de color amarillo claro entrelazados en los XXVII SEA Games en Myanmar, representando la solidaridad y el apoyo mutuo entre los países.
A lo largo de la historia de 63 años de su fundación hasta la fecha, los SEA Games siempre ha considerado un acontecimiento deportivo regional.
Tailandia y Malasia constituyeron los países que albergaron más los SEA Games con seis veces, seguidas por Singapur, Indonesia y Filipinas con cuatro ediciones; Myanmar (tres), Vietnam (dos), Brunei y Laos (1).
Vietnam, miembro activo en la formación y desarrollo de los deportes del Sudeste Asiático
La delegación deportiva vietnamita asistió al evento deportivo regional desde los primeros días de su fundación. En particular, antes de 1975, Vietnam del Sur fue uno de los miembros fundadores de la Federación de Juegos Peninsulares del Sudeste Asiático, y participó continuamente en los acontecimientos deportivos regionales a partir de 1959
Con el objetivo de integrarse y aprender de los amigos internacionales, el deporte vietnamita se ha esforzado incesantemente durante los últimos años. Vietnam se ubicó en el cuatro y el primer lugar en las tablas de calificación general de los XXI y XXII SEA Games, respectivamente, y también en la segunda posición en las XXV y XXX ediciones.
Después de la reunificación del país en 1975, Vietnam volvió a participar gradualmente en las actividades comunes de la Federación Deportiva del Sudeste Asiático. En 1989, la delegación deportiva vietnamita se reintegró nuevamente a la arena regional a partir de los XVIII SEA Games en 1975, y ha obtenido los logros sobresalientes.
Este año, Vietnam albergará por segunda vez los XXXI SEA Games, previstos a efectuarse del 12 al 23 de mayo venidero.
Hasta el momento, el comité organizador y las entidades relacionadas han acelerado todos los preparativos para garantizar el cronograma del acontecimiento.
Con el lema “Por un Sudeste Asiático más fuerte”, Vietnam desea organizar con éxito los XXXI SEA Games y enviar un mensaje al Gobierno y a los pueblos de los países sobre el desarrollo, la solidaridad y la construcción de una Comunidad del bloque regional./.
Quảng Ninh “ gấp rút về đích” công tác chuẩn bị SEA Games 31Vĩnh Phúc sẵn sàng các điều kiện thi đấu cho Giải Golf- SEA Games 31SEA Games 31: Nam Định chi trên 25 tỷ đồng nâng cấp, cải tạo sân vận động Thiên TrườngSân vận động quốc gia Mỹ Đình sẵn sàng phục vụ SEA Games 31Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT Hà Nội sẵn sàng phục vụ SEA Games 31Nhà thi đấu Sóc Sơn sẵn sàng phục vụ SEA Games 31SEA Games 31: Ninh Bình tích cực chuẩn bị sẵn sàng cho SEA Game 31Nhà thi đấu Gia Lâm đảm bảo tiến độ thi công để phục vụ SEA Games 31Sân vận động Việt Trì sẵn sàng cho SEA Games 31Sân vận động Việt Trì sẵn sàng cho SEA Games 31SEA Games 31: Cụm Sân quần vợt Hanaka sẵn sàng cho tổ chức SEA Games 31Nhà thi đấu đa năng tỉnh Bắc Ninh sẵn sàng phục vụ SEA Games 31