Hồ sơ Paradise

Một năm sau vụ “Hồ sơ Panama,” thế giới lại chấn động bởi vụ rò rỉ “Hồ sơ Paradise” (Paradise Papers). Các tài liệu tiếp tục phanh phui các câu chuyện về những tài khoản giữ tiền của những tập đoàn lớn, những người nổi tiếng, giàu có nhất thế giới tại nước ngoài-nơi mà hầu hết Chính phủ các nước không thể “can thiệp.” Ngay lập tức, các nhân vật nổi tiếng và tập đoàn lớn đã lên tiếng phủ nhận mọi cáo buộc.

Tiết lộ gây chấn động

Ngày 5/11/2017, truyền thông nhiều nước đồng loạt đưa tin về một vụ rò rỉ hồ sơ tài chính được gọi là “Hồ sơ Paradise.” Hồ sơ tài chính này đã tiết lộ về hoạt động tài chính như các khoản đầu tư gây tranh cãi và trốn thuế của nhiều nhân vật giàu có quyền lực bậc nhất và các tập đoàn nổi tiếng trên thế giới.

Hơn 120 chính khách từ khoảng 50 quốc gia, những mạng xã hội hàng đầu như Twitter, Facebook, hay các tập đoàn đa quốc gia như Nike, Apple, Uber đều có tên trong hồ sơ Paradise.

Hãng Reuters (Anh) dẫn hồ sơ rò rỉ cho biết Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross, cũng là một tỷ phú đầu tư, nắm giữ 31% cổ phần của tập đoàn Navigator Holdings thông qua một mạng lưới đầu tư phức tạp. Theo đó, Navigator Holdings có quan hệ đối tác làm ăn với tập đoàn năng lượng Sibur của Nga.

Trong khi đó, tờ Guardian (Anh) đưa tin khu điền trang Duchy of Lancaster của Nữ hoàng Elizabeth II đã đầu tư hàng triệu bảng Anh vào một quỹ đầu tư trên Đảo Cayman. Báo trên cho biết điền trang này đã sử dụng các quỹ đầu tư tư nhân nước ngoài thường được giới đầu tư Anh sử dụng để trốn thuế.

Tỷ phú trẻ nhất nước Anh Hugh Grosvenor cũng vướng nghi án trốn thuế. Hugh Grosvenor, 26 tuổi, là con trai duy nhất của ông Gerald Cavendish Grosvenor, Công tước xứ Westminster đời thứ 7 của dòng họ Grosvenor. Hugh hiện là ông chủ Tập đoàn Grosvenor Group sở hữu khối tài sản khổng lồ.

Theo những tài liệu của công ty luật Appleby và những thông tin thu thập được từ các công ty của Anh, Tập đoàn Grosvenor Group đã quản lý không minh bạch 9,5 tỷ bảng Anh tiền thừa kế từ 7 đời của dòng họ công tước Grosvenor hồi năm 2016. Các công tước dòng họ Grosvenor là công dân Anh và phải tuân thủ quy định đóng thuế theo luật Anh. Theo đó, họ có nghĩa vụ đóng 6% tổng giá trị các tài sản nắm giữ với thời hạn 10 năm/lần. Tuy nhiên, dường như không phải toàn bộ tài sản của dòng họ Grosvenor được quản lý ở trong nước.

Tính đến năm 1999, khoảng 1/2 số cổ phần của một công ty con thuộc Tập đoàn Grosvenor Group hoạt động tại Bắc Mỹ và Australia do các công ty tại các thiên đường thuế quản lý.

Hơn 120 chính khách đến từ khoảng 50 quốc gia, những mạng xã hội hàng đầu như Twitter, Facebook, hay các tập đoàn đa quốc gia như Nike, Apple, Uber đều có tên trong hồ sơ Paradise

Hãng tin Pháp AFP đưa tin ông Stephen Bronfman, người gây quỹ và cố vấn cấp cao của Thủ tướng Canada Justin Trudeau, đã cùng cựu Thượng nghị sĩ nước này Leo Kolber chuyển khoảng 60 triệu USD tới các thiên đường trốn thuế ở nước ngoài.

Ngày 6/11, Apple là cái tên tiếp theo vướng nghi án trốn thuế trong vụ rò rỉ “Hồ sơ Paradise” khi các tiết lộ thông tin cho thấy “trái táo cắn dở” đã chuyển phần lớn tài sản có được từ hoạt động của các chi nhánh nước ngoài về một “thiên đường trốn thuế” ở quần đảo Channel thuộc Anh.

Hãng tin Pháp AFP đưa tin sau khi tuyên bố trả các khoản thuế một cách hợp lý, đế chế công nghệ này đã chuyển phần lợi nhuận hải ngoại không bị đánh thuế về Jersey, trên quần đảo Channel. Từ trước năm 2014, Apple đã đưa toàn bộ doanh thu của các chi nhánh nước ngoài (chủ yếu là châu Âu) về các chi nhánh tại Ireland để được hưởng ưu đãi thuế và giảm thiểu khoản thuế phải đóng. Chịu sức ép của Chính phủ Mỹ và các quốc gia châu Âu về cách hoạt động này, Apple đã tìm đến sự tư vấn của Appleby, công ty luật có văn phòng tại Bermuda và một số địa điểm khác, vốn đang là tâm điểm của vụ rò rỉ lần này.

Apple đã chuyển phần lớn tài sản có được từ hoạt động của các chi nhánh nước ngoài về một “thiên đường trốn thuế” ở quần đảo Channel thuộc Anh. Ảnh minh họa. (Nguồn: BBC)
Apple đã chuyển phần lớn tài sản có được từ hoạt động của các chi nhánh nước ngoài về một “thiên đường trốn thuế” ở quần đảo Channel thuộc Anh. Ảnh minh họa. (Nguồn: BBC)

Ngoài ra, “Hồ sơ Paradise” cũng tố cáo hãng sản xuất đồ thể thao nổi tiếng của Mỹ Nike đã lợi dụng kẽ hở trong luật pháp Hà Lan để giảm thiểu khoản thuế phải đóng tại châu Âu. Theo báo Le Monde của Pháp, Nike đã tập trung toàn bộ doanh thu trên thị trường châu Âu về hai công ty tại có trụ sở tại Hà Lan để tránh phải trả thuế tại tất cả quốc gia mà hãng đặt chi nhánh và bán các sản phẩm của mình. Nhờ đó, thay vì phải trả mức thuế lên đến 25% theo mức trung bình của các công ty hoạt động tại châu Âu, Nike chỉ phải chịu mức thuế 2% khi đưa về Hà Lan. Nike đã áp dụng phương thức này từ năm 2014 và sau 3 năm, hãng đã giảm được mức thuế trung bình phải trả toàn cầu từ 24% xuống 16%.

Tiếp đó, tại khu vực Nam Mỹ, ngày 7/11, báo chí Brazil đưa tin tập đoàn xây dựng hàng đầu nước này Odebrecht có liên quan tới 17 công ty có trụ sở tại các nơi được coi là “thiên đường trốn thuế”.

Bộ trưởng Kinh tế Brazil Henrique Meirelles, Bộ trưởng Nông nghiệp Brazil Blairo Maggi, Tổng thống Argentina Mauricio Macri, Bộ trưởng Tài chính Argentina Luis Caputo Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos cũng có tên trong danh sách của Hồ sơ Paradise do bị cáo buộc có liên quan tới các quỹ và các công ty bị tình nghi trốn thuế thông qua các “thiên đường trốn thuế.”

Việc công bố “Hồ sơ Paradise” diễn ra trong bối cảnh tình trạng bất bình đẳng thu nhập toàn cầu đang ngày càng gia tăng. Trong khi đó, một nghiên cứu mới đây cho thấy, giới nhà giàu, các công ty đa quốc gia lại đẩy mạnh việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, với số tiền lên tới 600 tỷ USD trong năm 2016.

Bác bỏ mọi cáo buộc

Ngay sau khi truyền thông nhiều nước đồng loạt đưa tin về vụ rò rỉ “Hồ sơ Paradise,” các nhân vật nổi tiếng và tập đoàn lớn đã lên tiếng phủ nhận mọi cáo buộc.

Trong một tuyên bố chính thức, người phát ngôn Bộ Thương mại Mỹ khẳng định ông Ross “không liên quan tới các quyết định làm ăn với Sibur của Navigator và chưa từng gặp các cổ đông của Sibur cũng như biết về quan hệ giữa 2 công ty.” Tờ New York Times (Mỹ) đăng tải tuyên bố của Sibur cho biết các đàm phán với Navigator do giới lãnh đạo điều hành của công ty tiến hành chứ không liên quan đến các cổ đông. Công ty này cũng chưa từng gặp Bộ trưởng Ross.

Trong khi đó, người phát ngôn của điền trang Duchy of Lancaster khẳng định tất cả các khoản đầu tư của điền trang này đều được kiểm toán đầy đủ và hợp pháp. Còn Nữ hoàng Elizabeth II đóng thuế từ thu nhập mà Duchy of Lancaster mang đến cho bà.

Apple cũng đã xác nhận có hoạt động chuyển phần lợi nhuận hải ngoại không bị đánh thuế về Jersey trong một thông báo trực tuyến, đồng thời khẳng định hãng vẫn tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ trả thuế và các khoản phải thanh toán cho Chính phủ Mỹ, với tổng thuế thu nhập phải nộp lên tới hơn 35 tỷ USD trong ba năm qua.

Apple giải thích phần lợi nhuận chuyển tới Jersey được thực hiện theo đúng những thay đổi phù hợp với luật thuế cải cách của Ireland ban hành năm 2015

Trong thông báo này, Apple giải thích phần lợi nhuận chuyển tới Jersey được thực hiện theo đúng những thay đổi phù hợp với luật thuế cải cách của Ireland ban hành năm 2015. Apple cũng khẳng định hãng không được hưởng lợi gì về mặt thuế quan khi thực hiện thay đổi này, đồng thời nhấn mạnh việc làm này không ảnh hưởng tới các khoản thuế phải trả cho các nước khác. Tuy nhiên, hãng không đề cập cụ thể loại thuế nào.

Về phần mình, Nike khẳng định việc giảm thiểu khoản thuế phải đóng tại châu Âu hoàn toàn dựa trên các quy định luật pháp tại Hà Lan.

Tại Nam Mỹ, các Bộ trưởng Tài chính Brazil Meirelles và Bộ trưởng Nông nghiệp Maggi, Bộ trưởng Tài chính Argentina Caputo cũng đã phủ nhận mọi cáo buộc liên quan tới các quỹ và các công ty bị tình nghi trốn thuế thông qua các “thiên đường trốn thuế”.

Còn Tổng thống Colombia Santos đã công bố công khai trên trang mạng của Phủ Tổng thống nước này, tình trạng tài chính cá nhân trong năm 2015 và 2016. Ông Santos khẳng định những khoản tiền có trong tập đoàn Global, có trụ sở tại “thiên đường trốn thuế” là những khoản đóng góp phục vụ học đại học của các con, đồng thời bác bỏ mọi cáo buộc có liên quan tới việc trốn thuế.

Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos cũng có tên trong danh sách của ‘Hồ sơ Paradise’ 
Tổng thống Colombia Juan Manuel Santos cũng có tên trong danh sách của ‘Hồ sơ Paradise’ 

Những nét chính về “Hồ sơ Paradise”

Những thông tin trên là một phần của “Hồ sơ Paradise” do Hiệp hội báo chí điều tra quốc tế (ICIJ) công bố. “Hồ sơ Paradise” gồm khoảng 13,4 triệu tài liệu văn bản bao gồm dữ liệu từ năm 1950 đến năm 2016, chủ yếu đến từ Appleby, một công ty luật có văn phòng tại Bermuda và một số địa điểm khác, chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý về tài khoản ở nước ngoài và hai công ty luật Estera và Asiaciti Trust.

“Hồ sơ Paradise” còn bao gồm nhiều thông tin từ 19 cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh tại Antigua và Barbuda, Aruba, Bahamas, Bardados, Bermuada, quần đảo Cayman, đảo Cook, Dominica, Grenada, Labuan, Lebanon, Malta, quần đảo Marshall, St Kitts and Nevis, St Lucia, St Vincent, Samoa, Trinidad và Tobago, Vanuatu. Đây là những khu vực thẩm quyền tài phán bí mật, tức là có rất ít hoặc không có trách nhiệm về thuế.

Tổng lượng dữ liệu trong vụ “Hồ sơ Paradise” lên tới 1,4 TB. Con số này ít hơn mức 2,6 TB dữ liệu của vụ “Hồ sơ Panama,” nhưng lớn hơn tất cả dữ liệu của các vụ rò rỉ thông tin khác như vụ WikiLeaks năm 2010 (1,7 GB), vụ Bí mật các tài khoản hải ngoại năm 2013 (260 GB), vụ hồ sơ thuế Luxembourg năm 2014 (4,4 GB) và vụ hồ sơ HSBC năm 2015 (3,3 GB).

Tổng lượng dữ liệu trong vụ “Hồ sơ Paradise” lên tới 1,4 TB. Con số này ít hơn mức 2,6 TB dữ liệu của vụ “Hồ sơ Panama,” nhưng lớn hơn tất cả dữ liệu của các vụ rò rỉ thông tin khác

Số tài liệu này ban đầu được báo Đức Suddeutsche Zeitung nắm được và sau đó chia sẻ với ICIJ và các đơn vị truyền thông đối tác lớn như Guardian, BBC và New York Times. Tuy nhiên, nguồn rò rỉ kho tài liệu “Hồ sơ Paradise” không được tiết lộ. “Hồ sơ Paradise” do 381 nhà báo từ 67 quốc gia phân tích.

ICIJ là một trong những cái tên đứng đằng sau vụ rò rỉ “Hồ sơ Panama” gây chấn động thế giới hồi năm 2016 khi tiết lộ những bí mật của giới nhà giàu trên toàn thế giới. Khoảng 11,5 triệu tài liệu bị rò rỉ của công ty luật Mossack Fonseca ở Panama ghi lại hoạt động của công ty trong suốt 40 năm (từ năm 1975) giúp hàng nghìn người và nhiều doanh nghiệp trốn thuế.

“Thiên đường thuế” là cách gọi về một khu vực mà mặt pháp lý mức thuế được ấn định rất thấp hoặc miễn hoàn toàn. Tài sản cuất giữ ở các “thiên đường thuế” là một vấn đề nan giải đối với các chính phủ trên thế giới trong nhiều năm trở lại đây. Giới chuyên gia cho rằng, lượng tài sản cất giữ ở nước ngoài trên thế giới hiện lên đến 10.000 tỷ USD./.

APEC

Trên chặng đường hơn 1/4 thế kỷ qua, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) luôn khẳng định vị thế là một diễn đàn đối thoại khu vực và một cơ chế hợp tác hàng đầu thế giới với những tác động và tầm ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế thế giới.

Từ 12 nền kinh tế sáng lập, tới nay, APEC đã quy tụ 21 nền kinh tế thành viên, chiếm hơn 39% dân số thế giới, gần 60% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và khoảng 50% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu.

Australia là một trong những nền kinh tế có đóng góp tích cực nhất cho APEC. Sự ra đời của APEC trên thực tế là đề xuất của Australia khi tháng 1/1989, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng thành lập một diễn đàn tư vấn kinh tế ở châu Á-Thái Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương, dẫn tới cuộc họp đầu tiên của APEC tại Canberra vào tháng 11/1989.

Tuy nhiên, thời điểm đó, APEC chỉ được tổ chức ở cấp bộ trưởng. Sau cuộc họp đầu tiên này, các nền kinh tế tham dự thống nhất tổ chức họp thường niên tại Singapore và Hàn Quốc, trước khi Mỹ khởi xướng cuộc họp cấp cao 4 năm sau đó.

Từ 12 nền kinh tế sáng lập, tới nay, APEC đã quy tụ 21 nền kinh tế thành viên, chiếm hơn 39% dân số thế giới, gần 60% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và khoảng 50% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu.

Ngoài ra, Australia cũng là quốc gia tích cực theo đuổi các hiệp định thương mại tự do trong khu vực, bao gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sau khi Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump rút khỏi đàm phán TPP, Australia tiếp tục có những động thái mạnh mẽ nhằm thúc đẩy hiệp định này.

Mỹ – nền kinh tế lớn nhất thế giới – luôn là trọng tâm của mọi hội nghị cấp cao APEC. Năm nay, thế giới chắc chắn còn quan tâm tới sự xuất hiện của Mỹ tại APEC nhiều hơn, trong bối cảnh vị Tổng thống thứ 45 của Mỹ, ông Donald Trump chủ trương duy trì bảo hộ thương mại với khẩu hiệu “Mang việc làm về cho người Mỹ.”

Tuy nhiên, giới chức Mỹ khẳng định chuyến công du đầu tiên kể từ khi nhậm chức của ông Trump tới châu Á lần này cho thấy APEC vẫn đóng vai trò rất quan trọng đối với chính sách ngoại giao của Mỹ tại khu vực, đặc biệt là sau khi Washington rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thỏa thuận vốn được nhiều người cho là “xương sống” đảm bảo cho sự hiện diện của Mỹ ở châu Á trong lĩnh vực thương mại.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang phát biểu chào mừng Hội nghị Thượng đỉnh Doanh nghiệp APEC 2017 (CEO Summit 2017). (Nguồn: TTXVN)
Chủ tịch nước Trần Đại Quang phát biểu chào mừng Hội nghị Thượng đỉnh Doanh nghiệp APEC 2017 (CEO Summit 2017). (Nguồn: TTXVN)

Trong bối cảnh sự phục hồi kinh tế còn chậm và không đồng đều, việc Mỹ mở rộng quan hệ đối tác với châu Á-Thái Bình Dương có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc Tổng thống Trump thể hiện tham gia tích cực vào APEC cũng như ASEAN qua chuyến công du lần này sẽ là cơ hội đem lại những nguồn ủng hộ lớn cho việc thúc đẩy thương mại và kinh tế của cả Mỹ và khu vực.

Trong khi đó, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Trung Quốc khẳng định “sẽ không đóng cửa với thế giới bên ngoài, thậm chí còn mở cửa rộng hơn nữa.”

Nằm ở khu vực Đông Bắc Á, Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới (khoảng 1,3 tỷ người), với mức tăng trưởng trung bình đạt 10% trong suốt 30 năm qua. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định Bắc Kinh ủng hộ tự do thương mại ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và phản đối mọi hình thức của chủ nghĩa bảo hộ. Theo ông, toàn cầu hóa là xu thế của thời đại, vì nó đáp ứng được nhu cầu tiến lên của kinh tế thế giới và cũng phục vụ cho lợi ích của tất cả các bên. Hiện nay, Trung Quốc không chỉ là nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới, mà còn là nền kinh tế mới nổi có mức tiêu dùng tăng nhanh nhất. Các sản phẩm của Trung Quốc đóng góp gần 1/4 giá trị sản xuất công nghiệp toàn cầu, khi là nước sản xuất xe hơi đứng thứ 3 trên thế giới, khoảng 90% máy tính cá nhân, 70% điện thoại di động và 80% điều hòa tiêu thụ trên thế giới được sản xuất ở các nhà máy của Trung Quốc. Trung Quốc còn là nước sản xuất nông nghiệp lớn nhất trên thế giới, đóng góp 1/5 sản lượng ngô, 1/4 sản lượng khoai và 1/2 sản lượng trứng toàn thế giới. Trong số những “ngọn cờ đầu” của APEC không thể không kể tới Nhật Bản. Dù phải tới năm 2006, APEC mới chính thức thảo luận về khái niệm Khu vực mậu dịch tự do châu Á-Thái Bình Dương, nhưng từ năm 1965, hai nhà kinh tế học Nhật Bản là Kojima Kiyoshi và Kurimoto Hiroshi đã nêu ý tưởng thành lập một “Khu vực thương mại tự do ở Thái Bình Dương.” Đây được xem là tiền đề dẫn tới việc hình thành Hội nghị thương mại và phát triển Thái Bình Dương và sau đó là Hội đồng Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương năm 1980 trước khi APEC ra đời năm 1989. Hiện Nhật Bản là quốc gia hàng đầu thế giới về khoa học và công nghệ; là nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, với GDP đạt gần 5.000 tỷ USD. Giới chức Nhật Bản khẳng định kể từ khi được thành lập vào năm 1989, APEC đã gặt hái được các thành quả lớn trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực. Trong bối cảnh môi trường kinh doanh đang thay đổi với sự xuất hiện các ngành dịch vụ, thương mại kỹ thuật số, trong khi chủ nghĩa bảo hộ đang có xu hướng gia tăng trên thế giới, APEC đóng vai trò ngày một quan trọng hơn trong việc thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho xu thế tự do hóa thương mại và đầu tư trên thế giới. Với tư cách một nền kinh tế thành viên, Nhật Bản sẽ tiếp tục đóng góp tích cực cho các cuộc thảo luận tại APEC 2017, tiếp tục ủng hộ một cách toàn diện để hội nghị tại Việt Nam thành công tốt đẹp.

Panô chào mừng Tuần lễ cấp cao APEC 2017 trên các tuyến đường tại Đà Nẵng. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)
Panô chào mừng Tuần lễ cấp cao APEC 2017 trên các tuyến đường tại Đà Nẵng. (Ảnh: Trần Lê Lâm/TTXVN)

Là 1 trong 3 thành viên trẻ nhất của APEC, Nga mới gia nhập APEC năm 1998 cùng Việt Nam và Peru, song Tổng thống Nga Vladimir Putin là vị lãnh đạo tham dự nhiều nhất các kỳ hội nghị cấp cao, với 11 lần.

Là quốc gia rộng lớn nhất, đồng thời là một trong 10 nền kinh tế lớn trên thế giới, Nga chiếm tới 13% tổng trữ lượng dầu mỏ và 34% trữ lượng khí đốt thế giới. Xuất khẩu dầu mỏ (đứng thứ 2 thế giới) và khí đốt (đứng đầu thế giới) đóng góp tới 50% ngân sách của Nga.

Kể từ năm 2014, do các lệnh trừng phạt về kinh tế từ Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) liên quan đến cuộc khủng hoảng tại Ukraine, cũng như việc giá dầu thế giới giảm mạnh, nền kinh tế Nga đã có nguy cơ rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, dưới sự chèo lái vững vàng của nhà lãnh đạo Vladimir Putin, Xứ sở Bạch Dương đã đạt được nhiều thành công trong việc duy trì ổn định kinh tế-xã hội, cũng như tiếp tục khẳng định vị thế của Nga trên trường quốc tế.

Giới chức Nga cho biết hoàn toàn ủng hộ các nội dung chủ đề ưu tiên mà Việt Nam, với tư cách là nền kinh tế Chủ tịch APEC 2017, đưa ra tại hội nghị năm nay, trong bối cảnh Nga cần đa dạng hóa hơn nữa các thỏa thuận thương mại, tìm kiếm và chiếm lĩnh thị trường.

Cũng từng 2 lần đăng cai APEC (năm 1991 và 2005), Hàn Quốc đang tiến hành các biện pháp nhằm giảm sự thống trị của các tập đoàn gia đình, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Từ một quốc gia Đông Bắc Á nghèo đói ngập chìm trong chiến tranh, Hàn Quốc đã vươn lên mạnh mẽ, phát triển vượt bậc về mọi mặt và làm nên “kỳ tích sông Hàn.”

Hiện Hàn Quốc được biết đến là một trong “bốn con hổ của châu Á,” đứng thứ 3 ở khu vực châu Á và đứng thứ 10 trên toàn thế giới. Để có được thành tựu này, Hàn Quốc đã áp dụng Chiến lược phát triển kinh tế định hướng đối ngoại, sử dụng xuất khẩu làm động lực tăng trưởng và đóng góp nhiều cho sự chuyển đổi hoàn toàn nền kinh tế của quốc gia này. Duy trì sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc là những ngành công nghiệp then chốt và đã được thế giới công nhận như: đóng tàu, bán dẫn, hàng điện tử, sản xuất ôtô, may mặc, sắt thép và các sản phẩm hóa dầu…

Chỉ là một quốc gia nhỏ bé với diện tích 719,1 km2, tuy nhiên Singapore được đánh giá là nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và mở nhất thế giới. Đảo quốc Sư tử đứng thứ 7 trong danh sách những nước ít tham nhũng, tạo thuận lợi cho kinh doanh nhất thế giới. Đây cũng được chọn là nơi đặt trụ sở của APEC.

Ngoài những thành tựu nổi bật như ổn định nền kinh tế Singapore vượt qua các cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 hay định hướng phong trào khởi nghiệp, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long còn được nhiều người biết đến với tư tưởng ủng hộ toàn cầu hóa và tự do thương mại. Ông coi đây là cơ hội để tăng trưởng toàn diện, tạo thêm việc làm cũng như tăng cao thu nhập cho người dân. Ông cho rằng quá trình toàn cầu hóa có thể gia tăng tác dụng nhiều hơn nếu các quốc gia hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thương mại điện tử và dịch vụ.

 
 

Việt Nam chính thức gia nhập APEC vào năm 1998 và đã trở thành một thành viên tích cực với nhiều đóng góp thiết thực cho APEC.

Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tích vượt bậc sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, trở thành một trong những nước có mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người nhanh nhất thế giới, trung bình 6.4%/năm trong những năm 2000.

Trong báo cáo mới nhất, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, mặc dù môi trường toàn cầu còn nhiều bất ổn, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì sức bật tốt.

Việt Nam chính thức gia nhập APEC vào năm 1998 và đã trở thành một thành viên tích cực với nhiều đóng góp thiết thực cho APEC

Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự gắn bó giữa Việt Nam với APEC, trong suốt gần 20 năm qua, Việt Nam đã luôn nỗ lực đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào các quan tâm chung của Diễn đàn. Bước vào giai đoạn mới, với việc lần thứ hai đăng cai tổ chức Năm APEC, Việt Nam mong muốn tiếp tục khẳng định chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong bài viết “APEC Việt Nam 2017 – Vun đắp tương lai chung trong một thế giới đang chuyển đổi,” Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang đã nhấn mạnh “Trong một thế giới toàn cầu hóa đầy biến động và một châu Á–Thái Bình Dương phát triển năng động, APEC đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi cũng như phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức mới. Trên cương vị chủ nhà APEC 2017, Việt Nam có trọng trách cùng các thành viên biến các quyết tâm của các nhà lãnh đạo APEC thành những kết quả cụ thể, đưa APEC đến gần hơn với người dân và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược về một cộng đồng châu Á–Thái Bình Dương phát triển bền vững và bao trùm trong thế kỷ 21”./.

Việt Nam-Chile

Thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1971, Việt Nam và Chile luôn phát huy truyền thống quan hệ hữu nghị, đoàn kết ngay trong thời khắc khó khăn nhất. Trong công cuộc xây dựng và phát triển ngày nay, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Chile ngày càng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực.

Luôn ủng hộ nhau trong lịch sử

Việt Nam và Chile tuy cách xa nhau về địa lý nhưng có mối quan hệ truyền thống rất tốt đẹp. Với nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Thượng viện Chile Salvador Allende được biết đến như một biểu tượng của phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông cũng là người bạn, người đồng chí thủy chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1969, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam đang bước vào giai đoạn quyết liệt, trên cương vị Chủ tịch Thượng viện, vị lãnh đạo cấp cao đầu tiên của Chile đã vượt Thái Bình Dương sang thăm Việt Nam, mang đến cho nhân dân Việt Nam tình cảm đoàn kết, sự động viện và ủng hộ quý báu của nhân dân Chile.

Bên cạnh sự ủng hộ, tình đoàn kết của Chile đối với Việt Nam trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập, lịch sử quan hệ Việt Nam-Chile một lần nữa ghi dấu ấn vào tháng 9/1969, khi Tổng thống Chile lúc bấy giờ Salvador Allende thực hiện chuyến thăm tới Việt Nam, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng cho mối quan hệ đoàn kết và hợp tác hai bên, đưa đất nước Chile anh em trở thành quốc gia Nam Mỹ đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 25/3/1971. Đó chính là di sản vô giá mà hai nhà lãnh đạo đã để lại cho hai nước, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Chile. Đặc biệt, tháng 5/2007, Việt Nam và Chile đã xác lập quan hệ Đối tác toàn diện.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang gặp Tổng thống ChileMichelle Bachelet ngày 19/11/2016 trong khuôn khổ các hoạt động của Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 24 tại Peru. (Ảnh: TTXVN phát)
Chủ tịch nước Trần Đại Quang gặp Tổng thống ChileMichelle Bachelet ngày 19/11/2016 trong khuôn khổ các hoạt động của Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 24 tại Peru. (Ảnh: TTXVN phát)

Quan hệ chính trị-ngoại giao gắn bó và tin cậy

Quan hệ chính trị-ngoại giao giữa Việt Nam và Chile ngày càng gắn bó và tin cậy, thể hiện qua các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương. Trong những năm qua, lãnh đạo cấp cao và lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương hai nước thường xuyên thực hiện các chuyến thăm lẫn nhau nhằm thảo luận và hoạch định phương hướng hợp tác.

Qua các chuyến thăm, các lãnh đạo cấp cao Chile đều thể hiện sự coi trọng và mong muốn phát triển quan hệ nhiều mặt với Việt Nam, khẳng định coi Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chính sách hướng sang Đông Nam Á của Chile, sẵn sàng làm cửa ngõ để hàng hóa Việt Nam đi vào thị trường khu vực.

Việt Nam cũng luôn coi trọng quan hệ hợp tác với Chile và sẵn sàng hợp tác với Chile trong các lĩnh vực mà hai bên có thế mạnh. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố sẵn sàng làm cầu nối để Chile phát triển hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á.

Về các cơ chế hợp tác, Việt Nam và Chile duy trì thường xuyên và hiệu quả cơ chế Tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao (gần đây nhất là phiên họp Tham khảo chính trị lần thứ 5 giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và Bộ Ngoại giao Chile tại Hà Nội vào tháng 10/2016) và cơ chế Hội đồng Thương mại tự do giữa hai nước.

Hai bên duy trì phối hợp và hợp tác tốt tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, trong đó Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Diễn đàn Đông Á-Mỹ Latinh (FEALAC)… Chile đã ủng hộ Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, ứng cử vào Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) (tháng 10-1997), hợp tác và hỗ trợ Việt Nam đăng cai tổ chức năm APEC 2006.

Việt Nam ủng hộ Chile vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2010. Hai bên cam kết đổi phiếu ứng cử vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (Việt Nam nhiệm kỳ 2020-2021, Chile nhiệm kỳ 2014-2015, ECOSOC (cùng nhiệm kỳ 2016-2018).

Năm 2016, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Chile phối hợp với Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Chile.

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc tin tưởng quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Chile ngày càng phát triển mạnh mẽ vì lợi ích hai nước, đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở hai khu vực và trên thế giới.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Chile Sebastian Piñera Echenique ký Tuyên bố chung Việt Nam-Chile ngày 22/3/2012. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Chile Sebastian Piñera Echenique ký Tuyên bố chung Việt Nam-Chile ngày 22/3/2012. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Hợp tác kinh tế phát triển mạnh mẽ

Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Chile ngày càng phát triển mạnh mẽ. Là một thị trường với hơn 17,7 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người 24.100 USD/năm, Chile không chỉ là một thị trường nhập khẩu lớn các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam mà còn là cầu nối để hàng hóa Việt Nam đến với cả khu vực Mỹ Latinh rộng lớn. Trong khi đó, Việt Nam là đối tác quan trọng của Chile ở khu vực Đông Nam Á.

Chile là một trong những quốc gia đầu tiên công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Hai bên đã ký Hiệp định Thương mại tự do (FTA) bên lề Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Hawai, Mỹ tháng 11/2011. Ngày 1/12014, FTA Việt Nam-Chile đã chính thức có hiệu lực, đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong hợp tác thương mại giữa hai nước. Hai bên cũng đã tổ chức các phiên họp lần I và lần II Hội đồng Thương mại tự do Việt Nam-Chile.

Trong khuôn khổ Hiệp định TPP mà hai nước đều là thành viên, Việt Nam và Chile sẽ có nhiều cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, năng lượng, nông nghiệp, khoáng sản, viễn thông…

Theo thống kê, hợp tác thương mại Việt Nam-Chile tăng từ 170 triệu USD năm 2005 lên 1,4 tỷ USD năm 2016. Trong 9 tháng năm 2017, trao đổi thương mại song phương đạt 955,7 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất 752,17 triệu USD, chủ yếu là hàng công nghiệp nhẹ như giày dép, sản phẩm dệt may, hàng thủy sản, sản phẩm từ sắt thép, sản phẩm và linh kiện điện tử, xi măng, cà phê, gạo… và nhập 203,52 triệu USD từ Chile, chủ yếu là các nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu như đồng, gỗ thông, bột giấy, bột cá làm thức ăn gia súc, rượu vang…

Đặc biệt, trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà hai nước đều là thành viên, Việt Nam và Chile sẽ có nhiều cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, năng lượng, nông nghiệp, khoáng sản, viễn thông… cũng như khai phá các lĩnh vực hợp tác mới như quốc phòng , chống biến đổi khí hậu và thiên tai.

Về đầu tư, một số nhà đầu tư hàng đầu Chile đang thăm dò khả năng đầu tư tại Việt Nam.

Hợp tác văn hóa-giáo dục-du lịch đạt kết quả thực chất

Nhiều nội dung hợp tác về văn hóa, giáo dục-đào tạo, du lịch đã được hai bên triển khai và đạt kết quả thực chất như dự án đào tạo cán bộ Chính phủ Việt Nam tại Học viện Ngoại giao Chile, giao lưu văn hóa thông qua các kỳ Festival Huế.

Với đà phát triển thuận lợi cùng với sự nỗ lực chung của cả hai bên, chắc chắn mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam-Chile sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ vì lợi ích của hai nước, đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở hai khu vực và trên thế giới./.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc và Thứ trưởng Ngoại giao Chile Edgardo Riveros Marin ký Hiệp định Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông giữa Việt Nam và Chile ngày 17/10/2016. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc và Thứ trưởng Ngoại giao Chile Edgardo Riveros Marin ký Hiệp định Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông giữa Việt Nam và Chile ngày 17/10/2016. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Bão số 12

Theo Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, tính đến 15 giờ 30 phút, ngày 6/11, bão số 12 đã làm 46 người chết (Quảng Ngãi 3, Bình Định 3, Khánh Hòa 27, Lâm Đồng 3, Kon Tum 1, Đắk Lắk 1 và 8 người do sự cố tàu vận tải) và 15 người mất tích (Quảng Ngãi 1, Bình Định 3, Phú Yên 1, Khánh Hòa 5 và 5 người do sự cố tàu vận tải).

Do ảnh hưởng cơn bão số 12, đã có 61 thôn thuộc 21 xã ở tỉnh Phú Yên bị ngập lụt, gây nhiều thiệt hại. (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Cảnh ngập lụt ở Phú Yên. (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Nhiều khu dân cư thuộc địa bàn các huyện Phú Hòa, Đông Hòa, Tuy An, Đồng Xuân… (Phú Yên) bị ngập. (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Cột điện bị gãy đổ do bão tại địa bàn thành phố Tuy Hòa. (Ảnh: Thế Lập/ TTXVN)

Từ ngày 4-6/11, triều cường xuất hiện tại vùng biển xã An Phú (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) đã làm sập nhiều đoạn tuyến kè biển với tổng chiều dài 500 mét và đang uy hiếp hàng chục nhà dân. Lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã huy động 50 cán bộ, chiến sỹ giúp dân đắp các bao cát dọc bờ biển nhằm giảm thiểu thiệt hại. (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Do ảnh hưởng cơn bão số 12, 104 tàu thuyền của ngư dân các huyện Đông Hòa, Tuy An và thị xã Sông Cầu (Phú Yên) bị chìm. (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Ngay sau khi bão tan, lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã phối hợp chính quyền địa phương khẩn trương cứu hộ, cứu nạn, giúp bà con ngư dân khắc phục hậu quả thiên tai. (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Tàu cá PY99777TS của ngư dân Phú Yên bị sóng đánh dạt vào bờ biển thành phố Quy Nhơn. (Ảnh: Phạm Kha/TTXVN)

Do ảnh hưởng không khí lạnh kết hợp hoàn lưu bão số 12, những ngày qua tại Thừa Thiên-Huế đã có mưa kéo dài trên diện rộng khiến mực nước trên sông Bồ vượt mức báo động 3. Nước lũ dâng cao, chảy xiết, khiến hàng trăm tấn cá nuôi lồng trên sông Bồ, đoạn qua địa bàn huyện Quảng Điền (Thừa Thiên-Huế) bị chết, ước tính thiệt hại hàng chục tỷ đồng. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Toàn tỉnh Thừa Thiên-Huế hiện có trên 17.000 hộ bị ngập lụt từ 0,2–0,8m, giao thông ách tắc hoàn toàn, gây khó khăn nghiệm trọng cho đi lại và sinh hoạt của người dân. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Chiều 6/11, mực nước trên các ở tỉnh Thừa Thiên-Huế vẫn trên mức báo động 3. Hiện trên địa bàn tỉnh cảnh báo cấp độ rủi ro thiên tai vẫn ở cấp 3, các vùng thấp trũng của huyện Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc, thành phố Huế vẫn ngập sâu, có khả năng kéo dài nhiều ngày. Toàn tỉnh hiện có trên 17.000 hộ bị ngập lụt từ 0,2 – 0,8m, giao thông ách tắc hoàn toàn, gây khó khăn nghiệm trọng cho đi lại và sinh hoạt của người dân. (Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN)

Người dân huyện M’Drắk, Đắk Lắk dọn dẹp cây cối tại ngầm tràn. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Trong 2 ngày 4-5/11, do ảnh hưởng bão số 12, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã có mưa to đến rất to làm một số tuyến đường, diện tích hoa màu và nhà ở của các hộ dân vùng trũng bị ngập chìm trong nước từ 0,3–2m, trong đó, huyện Hải Lăng là địa phương chịu nhiều thiệt hại nhất trong đợt nưa bão này. (Ảnh: Trịnh Bang Nhiệm/TTXVN)

Lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy và tìm kiếm cứu nạn công an Quảng Nam di dời người dân ra khỏi vùng ngập lụt. (Ảnh: Nguyễn Sơn/TTXVN)

Lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy và tìm kiếm cứu nạn công an Quảng Nam di dời người dân ra khỏi vùng ngập lụt. (Ảnh: Nguyễn Sơn/TTXVN)

Ngày 5/11, mực nước lũ trên các sông tại tỉnh Quảng Nam tiếp tục dâng nhanh, ở các huyện như Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn, thành phố Hội An đang bị chia cắt. Nước lũ đã tràn vào hàng chục ngàn ngôi nhà của người dân. Chính quyền các địa phương đang khẩn trương chủ động triển khai các kế hoạch ứng phó với lũ lụt trên địa bàn.

Người dân Hội An di chuyển trên phố bằng thuyền. (Ảnh: Nguyễn Sơn-TTXVN)

Nhiều ngôi nhà của người dân trên địa bàn huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) chìm sâu trong nước. (Ảnh Đinh Văn Nhiều/TTXVN)

Nhiều ngôi nhà của người dân trên địa bàn huyện Hòa Vang (Đà Nẵng) chìm sâu trong nước. (Ảnh: Đinh Văn Nhiều/TTXVN)

Chiều 6/11, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến khắc phục hậu quả cho các tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề của bão số 12. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng kiểm tra hiện trường khu vực thi công Kè xóm Rớ thuộc phường Phú Đông (thành phố Tuy Hòa, Phú Yên). (Ảnh: Thế Lập/TTXVN)

Việt Nam hướng tới chiến lược phát triển bền vững

Bằng việc lồng ghép các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào chương trình, kế hoạch, chính sách ở các cấp, các ngành, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc thực hiện các MDG. Cùng với phát triển kinh tế, Việt Nam đặc biệt chú ý và phân bổ nguồn lực cho giảm nghèo và phát triển xã hội.

Hoàn thành tốt các mục tiêu thiên nhiên kỷ

Tháng 9-2000 đánh dấu thời khắc lịch sử tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ, 189 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc ký Tuyên bố Thiên niên kỷ thể hiện cam kết về một sự hợp tác toàn cầu mới về xóa nghèo đói, phát triển và bảo vệ môi trường.

Một năm sau, lộ trình của Liên hợp quốc đề ra kế hoạch thực hiện Tuyên bố Thiên niên kỷ đã chính thức xác lập 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ với hạn thực hiện là đến hết năm 2015, bao gồm: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói; Phổ cập giáo dục tiểu học; Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; Giảm tử vong ở trẻ em; Tăng cường sức khỏe bà mẹ; Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các dịch bệnh nguy hiểm khác; Đảm bảo bền vững về môi trường; Thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì phát triển.

Kể từ khi ký Tuyên bố Thiên niên kỷ, Việt Nam đã quyết tâm thực hiện những cam kết trên. Trong suốt những năm qua, Việt Nam đã coi các MDG là một ưu tiên quan trọng của quốc gia. Nước ta đã phản ánh tinh thần MDG trong các cam kết quốc tế, các văn bản pháp luật và chính sách quan trọng của đất nước. Việt Nam đã coi trọng công tác tuyên truyền, quảng bá, kết hợp đào tạo kiến thức lập kế hoạch có lồng ghép và phân tích kết quả MDG; Việt Nam đã quốc gia hóa thành công các MDG thành các mục tiêu phát triển quốc gia dựa trên đặc điểm và điều kiện cụ thể của đất nước, tạo điều kiện tập trung được nguồn lực nhằm giải quyết hiệu quả các mục tiêu về giảm nghèo, giáo dục, y tế…

Bằng việc lồng ghép các MDG vào chương trình, kế hoạch, chính sách ở các cấp, các ngành, Việt Nam đã thực hiện tốt việc đưa những cam kết quốc tế như MDG vào quá trình vận hành thực tế của quốc gia; đồng thời, xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể gắn với việc bố trí ngân sách phù hợp để đạt được kết quả cao. Sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong việc triển khai thực hiện các MDG cũng là một trong những yếu tố góp phần đem lại những kết quả tích cực. Chính vì vậy, Việt Nam đã hoàn thành cơ bản 8 Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.

Dấu ấn nổi bật trong xóa đói giảm nghèo và phổ cập tiểu học

Việt Nam là một trong các quốc gia thành công về giảm nghèo và đã đạt MDG về giảm nghèo trước thời hạn. Quá trình giảm nghèo ấn tượng trên là kết quả của tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, tự do hóa thương mại và các chính sách giảm nghèo nhắm trực tiếp vào các nhóm yếu thế.

Trong thời gian từ 1993-2008, tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu giảm từ 58,1% xuống 14,5%. Trong giai đoạn tiếp theo, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia 2011-2015 đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn 7,0% năm 2015 (năm cuối của việc thực hiện MDG). Mức sống chung của người dân được nâng cao, tỷ lệ thiếu đói đã giảm mạnh (7,5 triệu người đã thát khỏi tình trạng đói trong giai đoạn 2008-2013) và tình trạng thiếu đói kinh niên đã được xóa bỏ ở hầu hết các tỉnh, thành phố, khoảng cách nghèo cũng đã được cải thiện. Đến năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giảm còn 5,8% theo chuẩn nghèo quốc gia (10% theo chuẩn nghèo đa chiều).

Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học theo chuẩn quốc gia năm 2014. Tính đến cuối năm 2016, cả nước có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó có 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; Chất lượng giáo dục tiểu học được cải thiện qua các năm.

Cô trò Trường Tiểu học Trưng Trắc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Cô trò Trường Tiểu học Trưng Trắc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)

Trong suốt những thập kỷ vừa qua, Chính phủ Việt Nam cũng đã chứng tỏ cam kết và đạt được thành công trong việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục quốc gia, giúp tăng cường chất lượng dạy và học cũng như cải thiện cơ sở vật chất nhà trường và môi trường học tập.

Điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới

Việt Nam đã thành công ấn tượng với việc đạt được tất cả các chỉ tiêu của mục tiêu bình đẳng giới. Đây là mục tiêu được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các MDG.

Về giáo dục, đến 2014, không còn có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ biết đọc, biết viết và tỷ lệ nhập học ở tất cả các cấp học giữa nam và nữ. Phụ nữ cũng chứng tỏ vai trò ngày càng tăng trong giáo dục. Tỷ lệ giảng viên nam và giảng viên nữ tại các trường đại học và cao đẳng hiện nay tương đương nhau, trong khi vào đầu những năm 2000 giảng viên nam vẫn còn chiếm đại đa số.

Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII (2016-2021) đạt 26,8%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới 

Về việc làm, sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phi nông nghiệp đã tăng mạnh, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIII (2016-2021) đạt 26,8%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới.

Tăng cường sức khỏe bà mẹ, giảm trẻ em tử vong

MDG này hướng tới giảm 2/3 số lượng trẻ em tử vong trong vòng 24 năm (1990-2014). Các số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam đã giảm đáng kể tỷ lệ trẻ em trong 15 năm đầu thực hiện. Cụ thể, trong giai đoạn 1990-2004, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm một nửa và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh giảm nhanh hơn 2,5 lần.

Các kết quả tích cực của chương trình tiêm chủng mở rộng và các chính sách bảo vệ sức khỏe phụ nữ đã đóng góp đáng kể vào tiến bộ này. Tuy nhiên, tiến độ cải thiện các chỉ số này đã chậm lại trong thời gian sau đó và chỉ tiêu về tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi năm 2015 chỉ đạt mức tiệm cận mục tiêu.

Các cán bộ y tế khám chữa bệnh và cấp thuốc cho người dân huyện Trạm Tấu. (Ảnh: TTXVN)
Các cán bộ y tế khám chữa bệnh và cấp thuốc cho người dân huyện Trạm Tấu. (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam đã giảm tỷ số tử vong bà mẹ xuống sát với mục tiêu vào năm 2015, đây là một bước tiến bộ đáng kể. Sức khỏe sinh sản của bà mẹ đã được quan tâm đặc biệt, tỷ lệ tránh thai đạt 75,7% trên toàn quốc, tỷ lệ sinh sản vị thành niên giảm xuống còn 45 ca trên 1.000 phụ nữ vào năm 2014. Đa số phụ nữ trong thời kỳ thai sản được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc tiền sản.

Mặc dù vậy, ở một số vùng nơi người dân tộc thiểu số sinh sống và các điều kiện kinh tế – xã hội còn kém phát triển như vùng trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, kiến thức về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục trong thanh thiếu niên còn hạn chế.

Kết quả đáng khích lệ trong phòng chống HIV/AIDS, sốt rét

Việt Nam đã đạt được các kết quả đáng khích lệ trong việc ngăn chặn HIV/AIDS; Việt Nam đã được giảm tỷ lệ nhiễm HIV thấp hơn mục tiêu chiến lược 0,3% dân số vào năm 2014. Số lượng và chất lượng các dịch vụ điều trị, chăm sóc và hỗ trợ về HIV/AIDS đã được cải thiện.

Việt Nam đã đạt được mục tiêu kiểm soát sốt rét từ năm 2011 với tỷ lệ các ca tử vong liên quan đến sốt rét chỉ ở mức 0,01 trên 100.000 người trong năm 2012.

Việt Nam cũng đã vượt mục tiêu toàn cầu về kiểm soát bệnh lao khi giảm thành công trên 60% số lượng các ca mắc mới và tử vong so với năm 1990.

Đảm bảo phát triển bền vững môi trường

Nhận thức được vai trò của môi trường là một trong các yếu tố chính của phát triển bền vững, Việt Nam đã không ngừng đưa các nguyên tắc bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, cũng như tôn trọng các cam kết quốc tế. Các kết quả về tăng cường tiếp cận nước sạch, điều kiện vệ sinh cơ bản và nơi ở an toàn là đáng khích lệ, tập trung ở phần đông dân số và các nhóm yếu thế.

Việt Nam cũng đã có các nỗ lực ấn tượng để hoàn thành trách nhiệm trong việc kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính (GHG) và các chất gây hại tầng ôzôn (ODS), và tăng các bể các-bon tự nhiên qua các chương trình trồng rừng.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong việc xây dựng mối quan hệ toàn cầu vì phát triển. Hiện Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 185 nước trên tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 224 thị trường tại tất cả các châu lục; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong ASEAN và nhiều cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc.

Chú trọng thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững

Kết thúc chương trình Mục tiêu thiên niên kỷ, Việt Nam vẫn tiếp tục tập trung nỗ lực duy trì và nâng cao các kết quả đạt được, đồng thời tiến tới một mô hình tăng trưởng bền vững. Vì sự phát triển con người gắn với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam tiếp tục huy động những nguồn lực nhằm đem lại những thành công hơn nữa về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo; tập trung nhiều hơn vào khía cạnh tăng năng suất và đổi mới cùng với các công cụ chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện và công bằng.

Việt Nam đã nỗ lực để hoàn thành trách nhiệm trong việc kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính (GHG) và các chất gây hại tầng ôzôn (ODS), và tăng các bể các-bon tự nhiên qua các chương trình trồng rừng

Hiện nay, Việt Nam luôn xem phát triển bền vững là mục tiêu chung trong chiến lược phát triển của quốc gia và cam kết thực hiện thành công Mục tiêu phát triển bền vững (SDG). Những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội sau hơn 3 thập niên đổi mới, trong đó có việc thực hiện thành công nhiều mục tiêu thiên niên kỷ, tạo nền tảng vững chắc cho việc hiện thực hóa 17 mục tiêu SDG của thế giới như: xóa đói giảm nghèo; đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng; đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh; giáo dục chất lượng, mở rộng và công bằng; đạt được bình đẳng giới; quản lỹ bền vững nguồn nước; tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn; xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc; giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia; xây dựng các đôi thị và khu dân cư; đảm bảo mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững; chống biến đổi khí hậu; bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương – biển; tái tạo và sử dụng bền vững các hệ sinh thái; thúc đẩy xã hội hòa bình và rộng mở; thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu.

Tuy nhiên, việc thực hiện SDG tại Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức đáng kể, trong đó có việc thiếu nguồn lực tài chính do luồng vốn ODA (hỗ trợ phát triển chính thức) sụt giảm và những hạn chế trong việc giám sát và đánh giá khả năng, nhất là các số liệu thống kê. Ở cấp độ toàn cầu, để thực thi thành công Chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030, cần phải duy trì hòa bình và an ninh dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, tăng cường hợp tác phát triển giữa các quốc gia, củng cố quan hệ đối tác toàn cầu, thúc đẩy hợp tác phát triển, hòa bình và thịnh vượng giữa các quốc gia trong khu vực, huy động và chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ và tài chính./.

Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam

Kể từ khi nước ta giành được độc lập, trong suốt 72 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, tạo dựng nên nền tảng vững chắc cho một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà ở đó các quyền tự do cơ bản của người dân được bảo vệ và không ngừng phát triển.

Tôn trọng, đảm bảo quyền con người

Một trong những thành tựu lớn nhất của lịch sử nhân loại là cuộc đấu tranh của các dân tộc chống lại áp bức, bất công và phấn đấu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, mà ở đó con người được giải phóng và được hưởng mọi quyền tự do cơ bản. Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam bằng cuộc đấu tranh giành độc lập đã đóng góp vào giá trị chung đó của nhân loại.

Và cũng từ cội nguồn truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời cũng là nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam – từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất, nên từ những văn kiện đầu tiên, Đảng xác định rõ mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng là bảo đảm quyền con người cho người dân Việt Nam.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta thông qua tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, đã vạch ra đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng người lao động, giải phóng xã hội, để người cày có ruộng, người dân được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền.

Đồng thời, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có ý nghĩa then chốt đối với việc bảo đảm và phát triển quyền con người. Ngay trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập – cũng đã khẳng định việc đảm bảo các quyền tự do cơ bản của người dân là một trong những nguyên tắc cao nhất chỉ đạo các hoạt động của Nhà nước Việt Nam. Và mới chỉ gồm 70 điều, nhưng Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã dành 18 điều cho việc quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Kể từ đó đến nay, Việt Nam đã có 5 lần sửa đổi Hiến pháp; trong đó, quyền con người ngày càng được quy định toàn diện, đầy đủ hơn.

Trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập – đã khẳng định việc đảm bảo các quyền tự do cơ bản của người dân là một trong những nguyên tắc cao nhất chỉ đạo các hoạt động của Nhà nước Việt Nam  

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng nhiều luật để đảm bảo toàn diện việc thực hiện các quyền con người. Đặc biệt, trong quá trình xây dựng, các dự thảo văn bản luật và dưới luật đều được giới thiệu công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để tham khảo ý kiến rộng rãi của nhân dân.

Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã gia nhập hầu hết các điều ước nhân quyền quốc tế chủ chốt, trong đó có “Công ước về Quyền dân sự, chính trị “, “Công ước về Quyền Kinh tế, xã hội, văn hóa”; “Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc “Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”, là nước thứ hai trên thế giới và nước châu Á đầu tiên tham gia “Công ước Quyền trẻ em”, “Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật”; đồng thời phê chuẩn 17 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế. Và những cam kết của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế đã được phản ánh trong các văn bản pháp luật trong nước.

Hệ thống thiết chế về quyền con người được xây dựng và không ngừng hoàn thiện, bảo đảm các chính sách của Nhà nước được triển khai một cách hiệu quả trên thực tế. Quyền con người được bảo đảm bởi các cơ quan trong hệ thống hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Đồng thời, nhân dân cũng có thể tham gia đóng góp ý kiến thông qua các cơ chế dân cử cấp địa phương, các quy trình khiếu nại, tố cáo, thanh tra, khiếu kiện… theo tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.”

Tặng áo ấm cho trẻ em vùng cao Điện Biên. (Nguồn: TTXVN)
Tặng áo ấm cho trẻ em vùng cao Điện Biên. (Nguồn: TTXVN)

Không ngừng thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

Chính từ chính sách nhất quán, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về đảm bảo quyền con người và sự tham gia của toàn dân, cuộc sống và quyền của người dân đã được đảm bảo ngày càng đầy đủ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hó, chính trị, dân sự. Những thay đổi tích cực này đã diễn ra ngay trong những năm tháng kháng chiến và càng thể hiện rõ nét hơn trong 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới.

Trong những năm qua Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thắng lợi nhiều chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Nhờ đó, trong giai đoạn 30 năm kể từ khi thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng trung bình tương đối cao. Theo số liệu Các chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm trong giai đoạn này của Việt Nam là 6,51%, cao hơn đáng kể so với các nước kém phát triển (4,49%), các nước có thu nhập thấp (3,76%), các nước có thu nhập trung bình thấp (4,75%) và của thế giới (2,83%) trong cùng giai đoạn.

Đời sống của người dân được bảo đảm, một bộ phận được nâng cao. Theo đánh giá của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là một trong những nước đạt được thành tích nổi bật trong việc giảm số người bị đói từ 46,9% (32,16 triệu người) giai đoạn 1990-1992 xuống còn 9% (8,01 triệu người) trong giai đoạn 2010-2012 và đến năm 2016 chỉ còn 5,22%. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, đường giao thông, nước sạch…) và hạ tầng xã hội (y tế, trường học, điểm bưu điện…) nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp tục cải thiện đáng kể: 96% số xã đặc biệt khó khăn có đường ôtô đến trung tâm xã; 100% số huyện và 95% số xã đã có điện; 100% số xã có trường tiểu học, trường mẫu giáo; 100% số huyện có trường trung học phổ thông, 100% số huyện có trung tâm y tế và bác sĩ, cán bộ y tế. Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số được chú ý bảo tồn và ngày càng được sử dụng phổ biến hơn.

Đảng và Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm tới các nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và người có HIV/AIDS. Với mỗi nhóm đối tượng, Nhà nước đều có các cơ chế, chính sách và ưu tiên cụ thể nhằm bảo vệ, hỗ trợ, tạo cơ hội cho từng nhóm phát triển, hòa nhập cộng đồng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật.

Tỷ lệ nữ và người dân tộc thiểu số của Quốc hội Việt Nam so với nhiều quốc gia ở khu vực thuộc vào loại cao. Lần đầu tiên Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ

Các quyền dân sự, chính trị luôn được bảo đảm, thể hiện rõ trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV. Tỷ lệ cử tri đã bỏ phiếu đạt 99,35%. Về cơ cấu đại biểu, có 86 đại biểu là người dân tộc thiểu số, phụ nữ là 133 người, người ngoài Đảng là 21 người… Tỷ lệ nữ và người dân tộc thiểu số của Quốc hội Việt Nam so với nhiều quốc gia ở khu vực thuộc vào loại cao. Lần đầu tiên Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ.

Thông tin đại chúng phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, của nhân dân; là công cụ quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân và trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đến nay Việt Nam đã có 858 cơ quan báo chí in; 105 cơ quan báo điện tử; 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Hiện nay, không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam đều có đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn, báo chí lớn như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg. Qua internet, người dân Việt Nam cũng có thể tiếp cận tin tức, bài vở của các cơ quan thông tấn, báo chí như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, The Economist, Financial Times…

Nhiều chuyên gia đánh giá Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet hàng đầu khu vực, đặc biệt là mạng Facebook. Theo cơ quan thống kê của mạng Facebook, hiện tại Việt Nam có 35 triệu người, bằng gần 1/3 dân số sở hữu tài khoản Facebook, trong đó, 21 triệu người truy cập hằng ngày thông qua thiết bị di động. Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet lớn thứ 3 tại khu vực Đông Nam Á.

Với chính sách của Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phát huy các giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, cuộc sống tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam hiện nay rất sôi động, phong phú với trên 20 triệu tín đồ của các tôn giáo khác nhau, bao gồm các tôn giáo lớn trên thế giới là: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo. Các sinh hoạt tôn giáo, các ngày lễ lớn của nhiều tôn giáo được tổ chức trọng thể với hàng trăm nghìn tín đồ tham gia. Các cơ sở thờ tự liên tục được cải tạo hoặc xây mới. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc nhà tu hành được duy trì và mở rộng.

Đại lễ Phật đản–Phật lịch 2561 tại Thừa Thiên-Huế năm 2017. (Nguồn: TTXVN)
Đại lễ Phật đản–Phật lịch 2561 tại Thừa Thiên-Huế năm 2017. (Nguồn: TTXVN)

Đóng góp tích cực của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

Nhìn lại quá khứ, ngày 12-11-2013 (theo giờ Mỹ), với 184 phiếu thuận trên tổng số 192 phiếu bầu, Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền là thành công to lớn của công tác đối ngoại của Ðảng và Nhà nước ta, phản ánh vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế. Thành công này không đến một cách ngẫu nhiên, nó thể hiện thế và lực của đất nước đang ngày một vững chắc hơn, là sự tiếp nối của những thành công của Việt Nam trong ASEAN, APEC, ASEM, của việc cộng đồng quốc tế ủng hộ Việt Nam đăng cai tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 2016, Ðại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới năm 2015 và hiện nay là Hội nghị cấp cao APEC năm 2017.

Là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam đã thể hiện sự nghiêm túc và có trách nhiệm trong việc tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, xây dựng và thương lượng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng nhân quyền, đóng góp vào việc đảm bảo các giá trị chung về quyền con người.

Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều tiếng nói đề cao quan điểm, lập trường, chính sách, luật pháp, chia sẻ các kinh nghiệm thành công của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, đặc biệt về xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường vai trò của Quốc hội, cải cách tư pháp; chia sẻ thực tế tôn trọng và bảo đảm các quyền con người về kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự, chính trị tại Việt Nam, kết quả tích cực về xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, an sinh xã hội, thực hiện tốt các Mục tiêu Thiên niên kỷ về Phát triển, qua đó góp phần phản bác các thông tin sai lệch về tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam.

Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền là thành công to lớn của công tác đối ngoại của Ðảng và Nhà nước Việt Nam, phản ánh vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế

Những đóng góp của Việt Nam luôn trên tinh thần xây dựng và có trách nhiệm vào các vấn đề nhân quyền mà cộng đồng quốc tế quan tâm; tích cực thúc đẩy đối thoại, hợp tác quốc tế và việc tiếp cận các vấn đề nhân quyền một cách cân bằng, tổng thể và toàn diện; đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế khác của Liên hợp quốc về nhân quyền.

Có thể nói, những thành tựu trong công cuộc bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa bản chất ưu việt, tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa với truyền thống nhân đạo, nhân văn của dân tộc Việt Nam, giữa chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam luôn đặt con người là trọng tâm trong sự phát triển đất nước, với nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong việc thúc đẩy thực hiện quyền con người.

Mặc dù hiện nay, trên thế giới còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quyền con người và thậm chí một số thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, song những thành công mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong những năm qua là bằng chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này./.

Một khóa họp của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc có sự tham gia của đoàn Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)
Một khóa họp của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc có sự tham gia của đoàn Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)

Việt Nam-Canada

Việt Nam và Canada tuy cách xa về địa lý nhưng mối quan hệ giữa hai nước luôn dựa trên các giá trị chung về hòa bình, hợp tác và hữu nghị. Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/8/1973.

Qua chặng đường 44 năm, hai nước đã cùng nhau xây dựng mối quan hệ đối tác toàn diện, ổn định, lâu dài và ngày càng phát triển.

Thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Canada

Tuy cách xa về địa lý nhưng mối quan hệ Việt Nam-Canada dựa trên các giá trị chung về hòa bình, hợp tác và hữu nghị. Trong suốt hơn 4 thập kỷ qua, mối quan hệ giữa hai nước đã được củng cố và phát triển tốt đẹp, đem lại lợi ích nhiều mặt, thiết thực và cùng có lợi cho cả hai nước.

Quan hệ chính trị-ngoại giao không ngừng được củng cố và tăng cường, đánh dấu bằng các chuyến thăm của Lãnh đạo cấp cao, lãnh đạo Chính phủ, Quốc hội và nhiều bộ, ngành, đối tác, tổ chức đoàn thể, quần chúng hai nước. Các cuộc tiếp xúc cấp cao và khuôn khổ đối tác toàn diện vừa thể hiện sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, vừa giúp đưa quan hệ giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.

Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, hai bên tích cực phối hợp trong các lĩnh vực: giải trừ quân bị, an ninh khu vực, thương mại quốc tế, trao đổi phiếu bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Cùng với sự phát triển không ngừng của quan hệ chính trị-ngoại giao, quan hệ kinh tế-thương mại giữa hai nước cũng tăng lên đáng kể. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong khối ASEAN (thị trường ưu tiên của Chương trình Hành động Thị trường Toàn cầu Canada). Năm 2016, kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước đạt 4,1 tỷ USD. Tính đến hết quý II-2017, kim ngạch thương mại song phương đạt 2,3 tỷ USD (cao nhất trong ASEAN). Hai nước đặt mục tiêu đạt mức 10 tỷ USD trong 10 năm tới.

Thành phố Hồ Chí Minh ký thỏa thuận hợp tác với Chính quyền Thành phố Toronto, Canada tháng 10/2017. (Nguồn: TTXVN)
Thành phố Hồ Chí Minh ký thỏa thuận hợp tác với Chính quyền Thành phố Toronto, Canada tháng 10/2017. (Nguồn: TTXVN)

Về đầu tư, Canada hiện có 149 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký là 5,28 tỷ USD, đứng thứ 14/112 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Nổi bật trong số các dự án đầu tư này là: Dự án khu du lịch Hồ Tràm ở Bà Rịa-Vũng Tàu (4,2 tỷ USD); Dự án xây bệnh viện ở Hải Dương (220 triệu USD); Dự án công ty trách nhiệm hữu hạn Năng lượng gió tại Ninh Thuận (74,4 triệu USD); Công ty Bảo hiểm Manulife (50 triệu USD)…

Hợp tác về viện trợ phát triển (ODA) cũng là điểm sáng và là nét đặc thù trong quan hệ Việt Nam-Canada. Tổng giá trị ODA Canada dành cho Việt Nam từ năm 1990 đến nay là hơn 800 triệu USD. Năm 2009, Canada đưa Việt Nam vào danh sách 20 nước ưu tiên nhận viện trợ và hiện vẫn duy trì Việt Nam trong danh sách này. Hiện tổng giá trị các dự án ODA của Canada còn hiệu lực với Việt Nam là hơn 60 triệu CAD.

Về giáo dục-đào tạo, số du học sinh Việt Nam tại Canada đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua, đưa Việt nam trở thành nước lớn nhất trong số các nước ASEAN có du học sinh tại Canada. Hiện Việt Nam đang hợp tác chặt chẽ với các tổ chức giáo dục CBIE, MYTACS và Đại học McGill của Canada trong lĩnh vực đào tạo Pháp ngữ, công nghệ.

Hiện có khoảng 250.000 người Việt Nam sinh sống tại Canada. Vị thế của cộng đồng người Việt trong xã hội Canada ngày càng tăng cả trên lĩnh vực chính trị và kinh tế-xã hội

Hiện có khoảng 250.000 người Việt Nam sinh sống tại Canada. Vị thế của cộng đồng người Việt trong xã hội Canada ngày càng tăng cả trên lĩnh vực chính trị và kinh tế-xã hội. Ngày càng có nhiều tổ chức, hội, nhóm, cá nhân người gốc Việt ủng hộ đất nước, giúp đỡ Cơ quan đại diện của ta. Trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc song phương ở các cấp, lãnh đạo Việt Nam đề nghị Canada quan tâm hỗ trợ để cộng đồng người Việt hội nhập với xã hội sở tại, đóng góp cho quan hệ hai nước.

Năm 2018 được xem là một dấu mốc quan trọng trong việc nâng tầm quan hệ Việt Nam-Canada với việc hai nước kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Với những nỗ lực của chính phủ và nhân dân hai nước, chắc chắn trong thời gian tới, mối quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Canada sẽ ngày càng đơm hoa kết trái, xứng đáng với mong muốn của nhân dân hai nước và với tầm quan trọng của Việt Nam và Canada trong một khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang phát triển sôi động.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Bộ trưởng Bộ Thương mại Quốc tế Canada Fran Cois-Philippe Champagne nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam tháng 5/2017. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)
Chủ tịch nước Trần Đại Quang tiếp Bộ trưởng Bộ Thương mại Quốc tế Canada Fran Cois-Philippe Champagne nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam tháng 5/2017. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)

Trong hai ngày 8-9/11, Thủ tướng Canada Justin Trudeau sẽ thăm chính thức Việt Nam trước khi tham dự các hoạt động trong Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) 2017.  

Nhận định về chuyến thăm của Thủ tướng Trudeau, cựu Đại sứ Canada tại Việt Nam David Devine cho rằng đây sẽ là dấu ấn mở ra nhiều cơ hội hợp tác và tạo khuôn khổ quan hệ song phương ổn định hướng tới kỷ niệm 45 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm sau.

Về triển vọng mở rộng hợp tác song phương trong thời gian tới, cựu Đại sứ Devine cho rằng bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giáo dục và nông nghiệp, Canada và Việt Nam có thể xem xét thúc đẩy hợp tác công nghệ cao để giúp tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế Việt Nam. Bước đầu, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được giúp nâng cao năng lực sản xuất linh kiện cho các sản phẩm công nghệ hiện đại, thay vì chỉ chú trọng lắp ráp sản phẩm từ linh kiện nhập khẩu như hiện nay.

Bên cạnh đó, hợp tác về đổi mới sáng tạo cũng có thể là một hướng đi tốt, nhất là trong bối cảnh thế giới đang cần tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để ứng phó với những thách thức chung như về biến đổi khí hậu.

Ông khẳng định “Việt Nam hoàn toàn có cơ hội hợp tác với Canada trong những lĩnh vực này” và Việt Nam cần tranh thủ nắm bắt thời cơ thúc đẩy quan hệ song phương khi chính Canada cũng đang đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa các thị trường thương mại và đầu tư với tầm nhìn hướng tới APEC và ASEAN, hai tổ chức Việt Nam đều đang là thành viên tích cực.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Canada – Đất nước với nền văn hóa nhiều màu sắc

Là quốc gia lớn thứ hai trên thế giới về diện tích với 9.984.670 km2, nằm trải dài từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương, Canada – đất nước của những cây phong lá đỏ không chỉ nổi tiếng về cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, cùng hàng ngàn công trình kiến trúc và bảo tàng nghệ thuật trên khắp đất nước, mà còn nổi tiếng là đất nước có nền văn hóa đa sắc tộc và đa sắc thái đến từ khắp các quốc gia trên thế giới.

Cùng với đó, sự phong phú về địa lý đã tạo cho đất nước Canada nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú không nơi nào có được như Thác Niagara hùng vĩ, bờ biển British Columbia tuyệt đẹp, bầu trời bao la của vùng bình nguyên, dãy núi tuyết Kananaskis, những cánh đồng hoa hướng dương ở Saskatchewan…

Canada hiện là một trong những quốc gia giàu nhất trên thế giới, có nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới. Nước này cũng là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).

Canada hiện là một trong những quốc gia giàu nhất trên thế giới, có nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới

Canada có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú trải dài trên khắp lãnh thổ. Các ngành kinh tế quan trọng của Canada là khai thác dầu khí, gỗ, khoáng sản, ngành công nghiệp ôtô-xe máy… Thị trường xuất khẩu hàng đầu của Canada là Hoa Kỳ.

Hiện chính phủ của Thủ tướng Justin Trudeau triển khai chính sách đối nội với khẩu hiệu “thay đổi thật sự”, tiến hành nhiều chính sách cải cách kinh tế-xã hội để vực dậy nền kinh tế, thúc đẩy đồng thuận và hài hòa phúc lợi của các tầng lớp, sắc tộc trong xã hội, đẩy mạnh công khai minh bạch trong quản lý và điều hành chính phủ…, bước đầu đem lại một số kết quả tích cực, mức độ tín nhiệm cao.

Năm 2016, GDP của Canada đạt mức 1.592 tỷ USD, tăng 1,03% so với 1% của năm 2015. Theo dự báo của quỹ tiền tệ quốc tế IMF, năm 2017, nền kinh tế Canada có nhiều dấu hiệu khả quan nhờ sự giảm giá của đồng nội tệ và chính sách tài khóa, tiền tệ phù hợp./.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

[Nguồn: Bộ Ngoại giao, TTXVN]

100 năm Cách mạng tháng Mười

Hôm 30/10, tại cuộc họp của Hội đồng Phát triển xã hội dân sự và quyền con người, Tổng thống Nga Vladimir Putin chỉ ra rằng sự kiện 100 năm Cách mạng Tháng Mười sẽ được xã hội Nga đón nhận như biểu tượng của việc vượt qua chia rẽ trong xã hội.

Nhân dịp lễ kỷ niệm trọng đại này, VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu bài viết của chuyên gia Nguyễn Đăng Phát, nguyên Trưởng cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Liên bang Nga trong nhiều năm, hiện là Tổng biên tập Tạp chí Bạch Dương, thuộc Hội Hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga, về tầm quan trọng của lễ kỷ niệm này đối với nước Nga.

Tại Liên bang Nga từ năm 2015 đã bắt đầu diễn ra các hoạt động hướng đến mốc lịch sử 100 năm Cách mạng Tháng Mười. Cho dù trong xã hội, giữa các lực lượng chính trị và trong giới khoa học nước này vẫn còn những đánh giá khác nhau nhưng có hai vấn đề được nhìn nhận thống nhất: cách mạng Nga vĩ đại vì đã làm biến đổi đất nước, tác động đến toàn thế giới; và nước Nga ngày nay cần ra sức củng cố sự hòa hợp, đồng thuận để tăng cường sức mạnh dân tộc, bảo đảm cho quốc gia vững bước đi trên con đường phát triển.

Những hoạt động nhân 100 năm cách mạng năm 1917 được tổ chức rất quy mô, sâu rộng nhưng không “hoành tráng” mang tính chất hội lễ. Suốt năm 2017 có hơn 100 hoạt động lớn ở cấp trung ương và hơn một nghìn hoạt động ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Hầu hết đây là những hội nghị khoa học, hội thảo, tọa đàm, triển lãm tài liệu lưu trữ, giới thiệu sách, báo, phim ảnh… nhằm làm sáng tỏ hơn nữa nguyên nhân, diễn biến, kết quả, bài học của những sự kiện năm 1917, những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử 100 năm của nước Nga như sự ra đời, tồn tại và sụp đổ Liên bang Xô-viết, chiến thắng trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại…

Tăng cường hòa hợp xã hội

Trong xã hội Nga có những tâm trạng khác nhau, thậm chí là hoàn toàn đối nghịch nhau xung quanh dịp tròn mốc 100 năm cách mạng. Trước thực trạng đó, các nhà lãnh đạo Nga tìm cách để những hoạt động kỷ niệm hướng vào việc củng cố hòa hợp, đoàn kết thống nhất dân tộc.

Tổng thống Nga Vladimir Putin luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của Cách mạng tháng Mười trong việc định hình sự phát triển của nước Nga hiện đại (Nguồn: AFP/TTXVN)
Tổng thống Nga Vladimir Putin luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của Cách mạng tháng Mười trong việc định hình sự phát triển của nước Nga hiện đại (Nguồn: AFP/TTXVN)

Tại cuộc họp Hội đồng phát triển xã hội dân sự và quyền con người ngày 30/10/2017, Tổng thống Vladimir Putin bày tỏ hy vọng dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười được người dân Nga coi như một “biểu tượng về việc khắc phục sự chia rẽ” trong xã hội.

Trước đó, trong Thông điệp liên bang ngày 1/12/2016, Tổng thống V. Putin nhấn mạnh: “Năm 2017 là tròn 100 năm Cách mạng Tháng Hai và Cách mạng Tháng Mười. Đây là dịp quan trọng để một lần nữa nhìn nhận lại nguyên nhân và bản chất của cách mạng ở nước Nga. Không riêng các nhà sử học, các nhà khoa học mà toàn xã hội Nga cũng cần sự phân tích khách quan, thẳng thắn và sâu sắc về những sự kiện đó”.

“Cách mạng năm 1917 đã là lịch sử chung của toàn thể nước Nga,” “những bài học lịch sử rất cần trước hết để hòa giải, để củng cố đồng thuận xã hội” – Tổng thống Nga Vladimir Putin

Nhà lãnh đạo Nga khẳng định “cách mạng năm 1917 đã là lịch sử chung” của toàn thể nước Nga, “những bài học lịch sử rất cần trước hết để hòa giải, để củng cố đồng thuận xã hội”. Ông cho rằng “không thể chấp nhận để tình trạng chia rẽ, hận thù, oán giận và sự khốc liệt của quá khứ kéo dài đến tận ngày nay khi chúng ta là một dân tộc thống nhất, Tổ quốc của chúng ta chỉ có một là nước Nga”.

Khái niệm “chính thống”

Tại Nga hiện đã sử dụng một khái niệm chính thức về các sự kiện lịch sử cách đây một Thế kỷ – đó là “cách mạng năm 1917 ở Nga”. Giải thích “quan điểm chính thống” này, Tiến sĩ khoa học S. Naryshkin, Chủ tịch Hội sử học Nga, Giám đốc Cơ quan tình báo đối ngoại, nguyên Chủ tịch Đuma quốc gia Nga, cho biết: giới sử học Nga coi “cách mạng năm 1917 ở Nga” là một tiến trình bao gồm nhiều sự kiện, từ cuộc cách mạng Tháng Hai làm sụp đổ chế độ quân chủ Nga đến cuộc cách mạng Tháng Mười đưa những người bônsêvích lên cầm quyền cho đến thời điểm kết thúc cuộc nội chiến.

Ông S. Naryshkin cho rằng “những giá trị về đoàn kết thống nhất, đồng thuận công dân, không để xã hội bị chia rẽ đến mức cực đoan dẫn tới nội chiến là bài học cơ bản của cách mạng”. Tại hội nghị bàn tròn với chủ đề “100 năm cuộc Cách mạng Nga vĩ đại: hiểu đúng để tăng cường đoàn kết” do Bộ Văn hóa Nga phối hợp Viện Hàn lâm khoa học, một số hội khoa học và nhà trường ở Nga tổ chức, Bộ trưởng Văn hóa Nga V. Medinski nêu rõ: “Cách mạng Nga vĩ đại năm 1917 mãi mãi là một trong những sự kiện quan trọng nhất Thế kỷ 20”. Ông cho rằng việc còn có những ý kiến khác nhau trong giới khoa học về sự kiện Cách mạng Tháng Mười “là hoàn toàn bình thường” nhưng đó chỉ là lý do để cùng nhau đối thoại làm rõ mọi vấn đề chứ không phải là cái cớ dẫn tới xung đột.

Kỷ niệm đúng tầm

Nhiều lực lượng chính trị, nhiều tầng lớp trong xã hội Nga, nhiều cá nhân không chia sẻ “quan điểm chính thống” về các sự kiện năm 1917 như đề cập ở trên. Cách thức và mức độ tổ chức kỷ niệm 100 năm Cách mạng ở Nga như hiện nay không giành được sự đồng tình của họ.

Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRF) là những người bày tỏ thái độ mạnh mẽ, rõ ràng nhất. Trong một phiên họp của Hội sử học Nga chuẩn bị cho “các hoạt động nhân 100 năm”, Phó Chủ tịch Trung ương KPRF D. Novikov tuyên bố: “Những tài liệu chính thức hiện nay sử dụng khải niệm “100 năm Cách mạng ở Nga”, nhưng chúng tôi đề nghị tách bạch hai cuộc cách mạng – Cách mạng Tháng Hai và Cách mạng Tháng Mười”.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin (Comsomol Lenin), lực lượng kế cận của Đảng Cộng sản Nga, kỷ niệm 99 năm thành lập, mở màn cho các hoạt động kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười. Trong ảnh là Chủ tịch Đảng Cộng sản LB Nga, chủ tịch phái Đảng Cộng sản trong Đuma quốc gia Nga Gennady Ziuganov dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng tới dự và phát biểu chào mừng.  (Ảnh: Tâm Hằng/Phóng viên TTXVN tại Liên bang Nga).
Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin (Comsomol Lenin), lực lượng kế cận của Đảng Cộng sản Nga, kỷ niệm 99 năm thành lập, mở màn cho các hoạt động kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười. Trong ảnh là Chủ tịch Đảng Cộng sản LB Nga, chủ tịch phái Đảng Cộng sản trong Đuma quốc gia Nga Gennady Ziuganov dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng tới dự và phát biểu chào mừng.  (Ảnh: Tâm Hằng/Phóng viên TTXVN tại Liên bang Nga).

Ông D. Novikov cho biết KPRF có rất nhiều hoạt động trong năm 2017 với cao trào là những ngày đầu tháng 11. Đó là cuộc gặp quốc tế lần thứ 19 các Đảng Cộng sản và Công nhân; Diễn đàn quốc tế các lực lượng cánh tả “Tháng Mười 1917 – bước đột phá lên chủ nghĩa xã hội”; mít-tinh trọng thể kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại tại Moskva và Saint Peterburg; các cuộc biểu tình, tuần hành ở nhiều thành phố, địa phương kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, tôn vinh quân đội và hải quân Xô-viết, vinh danh Chiến thắng trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại; hội thảo về bài học của Cách mạng Tháng Mười, về di sản lý luận của Lênin, về kinh tế Nga v.v…

Ngày 22/10/2016 Trung ương Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRF) ra lời kêu gọi nêu bật ý nghĩa vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười, khẳng định quyết tâm của Đảng tiếp tục đấu tranh vì những lý tưởng Tháng Mười.

Nhận xét về các hoạt động nhân 100 năm Cách mạng ở Nga, nhà báo, nhà nghiên cứu chính trị Vitaly Tretyakov, là người đã từng làm việc tại hãng thông tấn “Novosti” của Liên Xô, Tổng biên tập ở các thời kỳ khác nhau của những tờ báo và tạp chí uy tín ở Nga như “Tin tức Moskva”, “Báo Độc lập”, “Giai cấp chính trị”…, cho rằng cần tổ chức kỷ niệm 100 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại một cách rộng rãi, sâu sắc. Ông đưa ra một số lập luận để “trao đổi” với những người còn “phân vân” về chuyện này.

Cách mạng Tháng Mười là một trong những sự kiện vĩ đại bậc nhất của Thế kỷ 20 có ảnh hưởng đến toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới, đến vận mệnh của nhiều nước và nhiều dân tộc.

Theo ông, cách mạng Tháng Mười là một trong những sự kiện vĩ đại bậc nhất của Thế kỷ 20 có ảnh hưởng đến toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới, đến vận mệnh của nhiều nước và nhiều dân tộc. Riêng với lịch sử Nga (từ đế chế Nga đến Liên bang Nga ngày nay) thì đây là sự kiện lớn nhất trong Thế kỷ 20, hơn nữa, hai sự kiện tầm cỡ khác là Chiến thắng trong Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại và sự tan rã Liên Xô đều trực tiếp liên quan Tháng Mười 1917.

Năm 1941, trong cuộc diễu binh mưng Cách mạng tháng Mười, nhiều đơn vị Hồng quân Liên Xô từ Quảng trường Đỏ tiến thẳng ra chiến trường trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, đánh bại chủ nghĩa phát xít. Trong ảnh: Binh sĩ Nga trong trang phục của Hồng quân tham gia mít tinh kỷ niệm cuộc diễu binh lịch sử trên Quảng trường Đỏ ở Moskva ngày 7/11/2015 (Nguồn: AFP/TTXVN)
Năm 1941, trong cuộc diễu binh mưng Cách mạng tháng Mười, nhiều đơn vị Hồng quân Liên Xô từ Quảng trường Đỏ tiến thẳng ra chiến trường trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, đánh bại chủ nghĩa phát xít. Trong ảnh: Binh sĩ Nga trong trang phục của Hồng quân tham gia mít tinh kỷ niệm cuộc diễu binh lịch sử trên Quảng trường Đỏ ở Moskva ngày 7/11/2015 (Nguồn: AFP/TTXVN)

Vitaly Tretyakov cũng cho rằng chính nhờ thành quả của Cách mạng Tháng Mười (những người bônsêvích lên nắm quyền) mà nước Nga, dưới tên gọi Liên Xô, đã trở thành một trong hai siêu cường thế giới, trở nên hùng mạnh và giành được ảnh hưởng to lớn nhất trong toàn bộ lịch sử của mình; những người bônsêvích đã thống nhất một đất nước trên thực tế đã tan rã sau cuộc Cách mạng Tháng Hai. Không loại trừ khả năng nếu họ không lên nắm quyền thì không thể có nước Nga với tên gọi và trong những đường biên giới hiện nay.

Dưới sự lãnh đạo của Chính phủ bônsêvích (Cộng sản), Liên Xô đã giành chiến thắng trong Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, giữ được sự toàn vẹn và nền độc lập của đất nước, của dân tộc, xóa bỏ nguy cơ hiện hữu đe dọa sự tồn vong của quốc gia. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và những người bônsêvích lên cầm quyền, trên lãnh thổ đế chế Nga trước đây đã thành lập Liên Xô, theo Vitaly Tretyakov, đây là liên minh châu Âu (Đông Âu) đầu tiên trong lịch sử châu Âu, còn Liên minh châu Âu (Tây Âu) hiện nay chỉ là thực thể thứ hai sau Liên Xô, ra đời chậm hơn liên minh đầu tiên gần nửa Thế kỷ.

Liên Xô là liên minh châu Âu (Đông Âu) đầu tiên trong lịch sử châu Âu, còn Liên minh châu Âu (Tây Âu) hiện nay chỉ là thực thể thứ hai sau Liên Xô, ra đời chậm hơn liên minh đầu tiên gần nửa Thế kỷ. 

Từ những lập luận đó, Vitaly Tretyakov cho rằng, thứ nhất, thật xấu hổ nếu phớt lờ sự kiện lịch sử tầm cỡ như vậy trên quê hương Cách mạng vào năm tròn một Thế kỷ của nó, điều đó sẽ rất nguy hại về chính trị, bởi vì tất cả những gì mà người Nga không nói về Tháng Mười năm 1917 thì người khác sẽ nói, mà lại nói đổi trắng thay đen và sẽ tìm cách biến dịp kỷ niệm thành một “phiên tòa” phán xử nước Nga và lịch sử Nga. Thứ hai, cần tổ chức kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười như một ngày lễ nhà nước.

Thứ ba, nếu chỉ phó mặc các nhà sử học là không sáng suốt và không công bằng. Thứ tư, trong các cuộc thảo luận nhân kỷ niệm 100 năm Tháng Mười 1917 cần có sự tham gia của chính khách hàng đầu của nước Nga, kể cả Tổng thống V. Putin, và của các nhà tư tưởng chính trị chủ chốt ở Nga. Thứ năm, các thiết chế nhà nước cao nhất, cụ thể là Tổng thống và Quốc hội liên bang, cần thông qua một văn kiện đưa Cách mạng Tháng mười vĩ đại trở lại danh sách những sự kiện lớn nhất trong lịch sử nước Nga và lịch sử thế giới với những ghi nhận chính thức, đặc biệt là lại quy định ngày 7 tháng 11 là ngày lễ nhà nước.

Ông Vitaly Tretyakov nhấn mạnh, nhiều vấn đề liên quan nguyên nhân, ảnh hưởng, bài học của Cách mạng Tháng Mười cần được tiếp tục nghiên cứu một cách thấu đáo, nhưng trước hết, 100 năm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại phải được kỷ niệm một cách xứng tầm ở cấp nhà nước Nga.

Quan điểm của ông Vitaly Tretyakov được nhiều người Nga chia sẻ.

Dấu ấn Việt Nam trong hoạt động kỷ niệm tại Nga

Cái tên Việt Nam được nhắc đến khá nhiều, với cách tiếp cận tích cực, trong nhiều hoạt động nhân 100 năm cách mạng ở Nga. Tại nhiều cuộc hội nghị, hội thảo các đại diện cánh tả Nga và nhiều nhà hoạt động chính trị, nhà khoa học Nga đã nêu Việt Nam như một trường hợp điển hình về ảnh hưởng tốt đẹp của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1977 và sự phát triển của Liên Xô trong gần bảy thập niên đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; về mối quan hệ hữu nghị, hợp tác bền chặt giữa Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay với Việt Nam.

Hoạt động nghệ thuật kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)
Hoạt động nghệ thuật kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)

Đặc biệt, ngày 10/11/2017 sắp tới tại Moskva sẽ khai mạc triển lãm “Cách mạng năm 1917 ở Nga và cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Chiến tranh và hòa bình trên bán đảo Đông Dương nửa đầu những năm 1950”. Cuộc triển lãm giới thiệu mối quan hệ giữa hai nước, từ thắng lợi của cách mạng Tháng Mười năm 1917 và những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa các nhà cách mạng Việt Nam với các nhà chính trị Nga và Liên Xô đến giữa những năm 40 – 50 của Thế kỷ 20, khi cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công.

Những hiện vật, tài liệu trưng bày tại triển lãm góp phần làm sáng rõ sự liên hệ giữa các sự kiện cách mạng ở Nga với phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương; nêu bật mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, Nga trên tất cả các lĩnh vực.

Cục Văn thư – lưu trữ thuộc Bộ Nội vụ Việt Nam cũng tham gia cuộc triển lãm này trong sự phối hợp với Cơ quan Lưu trữ liên bang và một số đối tác khác của LB Nga. Nhiều hoạt động khác tại Liên bang Nga trong dịp kỷ niệm 100 năm cách mạng Tháng Mười đã và sẽ có sự tham gia thiết thực của các đại biểu Việt Nam.

Hoạt động nghệ thuật kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)
Hoạt động nghệ thuật kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)

Chủ nghĩa dân tộc Catalonia

Căng thẳng gia tăng giữa chủ nghĩa dân tộc Catalonia và nhà nước Tây Ban Nha giống như một cuộc chạm trán giữa một lực không thể ngăn cản và một vật không thể lay chuyển. Xung đột sắp diễn ra đã tạm thời được đẩy lùi bởi quyết định của Thủ hiến Catalonia Carles Puigdemont tạm ngừng tuyên bố độc lập theo sau cuộc trưng cầu ý dân ngày 1/10, trong đó đa số đã bỏ phiếu ủng hộ tách khỏi Tây Ban Nha (Chính phủ Tây Ban Nha tuyên bố cuộc trưng cầu ý dân này là bất hợp pháp). Tờ Ara của phe ly khai đã dự báo nền độc lập sắp tới là “một bước nhảy dần dần” vào bóng tối, một nhận định rõ ràng không có sự mỉa mai nào.Khó có thể dự báo điều gì sẽ xuất hiện từ cuộc khủng hoảng hiện nay. Xét tới sự không nhân nhượng về chính trị của Chính phủ Tây Ban Nha, và mong muốn của nhiều doanh nghiệp có trụ sở tại Catalonia muốn ở lại Tây Ban Nha, Chính quyền Catalonia có thể không có khả năng hiện thực hóa cam kết của họ là thiết lập một nhà nước-quốc gia độc lập.Nhưng đồng thời, phản ứng mạnh tay của Madrid đối với cuộc trưng cầu ý dân đã dẫn tới việc nhà nước Tây Ban Nha đánh mất tính hợp pháp trong lòng rất nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, người dân Catalonia. Sự chia rẽ bên trong và giữa xã hội Catalonia và xã hội Tây Ban Nha đã được nới rộng.

Cuộc khủng hoảng này là cuộc đối đầu mới nhất trong một loạt cuộc đối đầu giữa Tây Ban Nha và Catalonia bắt nguồn từ cách đây ít nhất 300 năm.

Nó có sự tương đồng với cuộc xung đột diễn ra không liên tục và đôi khi bạo lực giữa Tây Ban Nha và phe dân tộc chủ nghĩa ly khai từ xứ Basque, vốn cũng bị nhà nước Tây Ban Nha cấm tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân về nền độc lập vào năm 2008. Nhưng tại sao chỉ riêng Tây Ban Nha mới chứng kiến sự phát triển của các chủ nghĩa dân tộc khu vực mạnh mẽ như vậy?

Các quả bom của Tây Ban Nha

Câu chuyện kể về sự đàn áp Catalonia dưới bàn tay của Madrid bắt nguồn từ nhiều thế kỷ trước. Sự kiện mang tính biểu tượng trong câu chuyện này là thất bại của Catalonia dưới tay các vị vua nhà Bourbon trong cuộc Chiến tranh kế vị Tây Ban Nha. Khi đó là một bộ phận của Vương triều Aragon, Catalonia đã ủng hộ triều đình Habsburg chống lại nhà Bourbon. Sự kiện nhà Bourbon chiếm được Barcelona năm 1714 đã dẫn tới việc áp đặt quyền kiểm soát của trung ương và việc Catalonia đánh mất quyền tự trị.

Bức tranh mô tả cuộc vây hãm chiếm Barcelona tháng 9/1714 của liên quân Pháp-Tây Ban Nha thuộc nhà Bourbon. (Nguồn: barcelonas.com)
Bức tranh mô tả cuộc vây hãm chiếm Barcelona tháng 9/1714 của liên quân Pháp-Tây Ban Nha thuộc nhà Bourbon. (Nguồn: barcelonas.com)

Thế nhưng tuyên bố ngầm rằng có một bản sắc Catalonia bị đàn áp trong nhiều thế kỷ che đậy các câu hỏi về tầng lớp xã hội cũng như nhiều hình thái khác nhau của chủ nghĩa dân tộc Catalonia trong những năm qua, từ chủ nghĩa liên bang tới sự khẳng định rằng Catalonia là một mô hình thay thế cho một Tây Ban Nha suy tàn. (Joan Maragall, nhà văn và nhà ái quốc Catalonia vào cuối thế kỷ 19, đã gọi Catalonia là “Tây Ban Nha đích thực”).

Thay vì vậy, nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc hiện đại Catalonia nằm ở lịch sử kinh tế thời hiện đại của Tây Ban Nha. Như tại nhiều quốc gia ở Trung Âu, Đông Âu và Nam Âu, tiến trình hiện đại hóa kinh tế và xã hội tại Tây Ban Nha diễn ra chậm chạp và không đồng đều. Các khu vực đầu tiên của Tây Ban Nha bắt đầu hiện đại hóa vào đầu thế kỷ 19 là xứ Basque và Catalonia, 2 khu vực ngoại vi có ngôn ngữ, văn hóa và bản sắc khác biệt rõ rệt so với các vùng còn lại của Tây Ban Nha.

Không giống như Pháp, nơi một nhà nước trung ương hùng mạnh đã có thể sử dụng chiến tranh và giáo dục để biến sự đa dạng về sắc tộc và ngôn ngữ thành một bản sắc quốc gia chung, nhà nước yếu ớt của Tây Ban Nha không thể dễ dàng khẳng định tính hợp pháp hay bảo đảm sự gắn kết trong toàn xã hội. Thay vào đó, các nhà cai trị tại Madrid đã dựa vào một liên minh với các giới tinh hoa ở khu vực ngoại vi để thực thi thẩm quyền.

Quan hệ đối tác đó đã bắt đầu tan vỡ tại Catalonia sau cái gọi là Thảm họa năm 1898, khi Tây Ban Nha bị buộc phải nhượng lại các thuộc địa hải ngoại cuối cùng và quan trọng nhất của nước này – bao gồm Cuba, Philippines và Puerto Rico – cho Mỹ.

Sự kiện nhà Bourbon chiếm được Barcelona năm 1714 đã dẫn tới việc áp đặt quyền kiểm soát của trung ương và việc Catalonia đánh mất quyền tự trị.

Giới tinh hoa kinh tế của Catalonia, cụ thể là các ông trùm ngành dệt, đã hưởng lợi rất lớn từ hàng xuất khẩu sang các thuộc địa. Sau khi Tây Ban Nha đánh mất các thuộc địa này, họ bị một tầng lớp trung lưu chuyên nghiệp mới nổi vượt qua, những người mất kiên nhẫn với tình trạng lạc hậu của Tây Ban Nha khi so sánh với Catalonia và hăng hái muốn thiết lập quyền tự trị, nếu không muốn nói là nền độc lập, cho khu vực.

Quyền tự trị cuối cùng được đưa ra đàm phán vào năm 1932 dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, theo sau một chế độ độc tài quân sự trong những năm 1920 mà xuất hiện một phần để đập tan chủ nghĩa ly khai Catalonia. Cuộc đảo chính quân sự năm 1936, mà đã dẫn tới cuộc Nội chiến Tây Ban Nha và sự kiện các lực lượng dân tộc chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Tướng Francisco Franco lật đổ nền cộng hòa, cũng một phần được thúc đẩy bởi mong muốn của phe Franco khôi phục một nhà nước nhất thể và áp đặt một bản sắc quốc gia duy nhất bằng vũ lực.

Thế kỷ 20 đã chứng kiến sự phát triển hơn nữa của những vấn đề gây chia rẽ này. Trong những năm đầu dưới sự cai trị độc tài của Franco, nhà nước Tây Ban Nha đã giáng cái không khác gì một cuộc diệt chủng về văn hóa vào Catalonia, phá hủy các thể chế và đoàn thể có liên hệ tới bản sắc Catalonia và đẩy ngôn ngữ Catalonia vào phạm vi cá nhân. Sự đàn áp của Madrid đối với nền dân chủ và sự phản kháng trong thời kỳ này vẫn là điểm tham chiếu quan trọng nhất đối với chủ nghĩa dân tộc Catalonia hiện nay. Đối với nhiều người dân Catalonia lớn tuổi hơn, hành vi bạo lực của cảnh sát Tây Ban Nha trong cuộc trưng cầu ý dân gần đây – tấn công cử tri bằng dùi cui và đạn cao su – đã gợi lại các hồi ức mãnh liệt về sự đàn áp thời Franco.

Những thất vọng về nền dân chủ

Sự chuyển tiếp của Tây Ban Nha từ nền độc tài sang nền dân chủ vào giữa những năm 1970 ban đầu được dánh dấu bởi các cuộc phản kháng lan rộng trong xã hội chống lại nền độc tài, trong đó đòi hỏi về các quyền của Catalonia đã đóng một vai trò quan trọng. Thế nhưng các điều kiện để dân chủ hóa đã phản ánh thực tế rằng vào thời điểm đó, phe cải cách bên trong chế độ độc tài vẫn kiểm soát các cơ cấu của quyền lực nhà nước. Vì thế, thỏa thuận mà là kết quả của quá trình chuyển tiếp này đã không đáp ứng được các khát vọng của phe dân tộc chủ nghĩa Catalonia và Basque, cũng như các yêu cầu về chính trị và xã hội của các phong trào phản kháng cơ sở.

Dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, Tây Ban Nha đã trao quyền tự trị cho các khu vực có sự khác biệt rõ ràng về văn hóa như xứ Basque, Catalonia và Galicia. Thay vì chỉ khôi phục quyền tự trị này, bản hiến pháp dân chủ mới năm 1978 đã làm giảm tầm quan trọng của nó bằng cách trao quyền tự trị cho tất cả các khu vực, một vài trong số đó không có bản sắc hay văn hóa riêng. Phe dân tộc chủ nghĩa Catalonia đã có thêm một nỗi bất bình để so sánh: Các đặc quyền được trao cho xứ Basque và Navarre vào thời Trung Cổ, chẳng hạn quyền thu 100% thuế, được phục hồi tại các vùng đó nhưng lại không được trao cho Catalonia.

Năm 2006, một chiến dịch vận động trong dân chúng để cải thiện các điều khoản trong Quy chế tự trị năm 1979 của Catalonia đã dẫn tới một quy chế mới, được Quốc hội Tây Ban Nha và một cuộc trưng cầu ý dân tại Catalonia thông qua. Điều đáng kể là Catalonia đã được nhắc đến như là một “quốc gia” trong phần mở đầu. Quy chế mới cũng mở rộng các đặc quyền của Catalonia về các mặt như thuế khóa, sự độc lập của bộ máy tư pháp và việc ngôn ngữ Catalonia chính thức được sử dụng.

Thủ tướng Tây Ban Nha hiện nay, Mariano Rajoy, khi đó là lãnh đạo đảng trung hữu Nhân dân, đã phản đối quy chế mới và chuyển nó lên Tòa án hiến pháp. Tòa án ra phán quyết vào năm 2010 rằng một số phần trong quy chế là vi hiến, trong đó có việc mở rộng các quyền tài chính của Catalonia và việc coi vùng này là một quốc gia.

Lá cờ Tây Ban Nha và Catalonia treo trên đỉnh tòa nhà chính quyền Catalonia ở thủ phủ Barcelona, ngày 28/10/2017. (Nguồn: AFP)
Lá cờ Tây Ban Nha và Catalonia treo trên đỉnh tòa nhà chính quyền Catalonia ở thủ phủ Barcelona, ngày 28/10/2017. (Nguồn: AFP)

Sự trỗi dậy của phe dân túy

Hơn bất cứ sự kiện nào khác, phán quyết năm 2010 là một bước ngoặt trong chiến lược của phe dân tộc chủ nghĩa tự do của Catalonia. Dưới thời Thủ hiến Artur Mas (2010-2015), chính sách của họ tìm kiếm quyền tự trị lớn hơn dưới sự bảo hộ của nhà nước Tây Ban Nha đã nhường chỗ cho sự ủng hộ rõ ràng đối với nền độc lập. Sự thay đổi này trong chiến lược là một sự cắt đứt hoàn toàn khỏi truyền thống của giới tinh hoa bảo thủ Catalonia, những người đã dựa vào nhà nước Tây Ban Nha trong quá khứ để bảo vệ lợi nhuận, luật pháp và trật tự.

Sự trỗi dậy của cả các phong trào xã hội lẫn dân tộc chủ nghĩa, bắt đầu từ năm 2010 và thách thức khối cử tri của đảng liên minh của Mas, đã khích lệ hơn nữa sự thay đổi này trong chiến lược.

Một chủ nghĩa dân tộc dân túy mới và mãnh liệt tại Catalonia đã xuất hiện trong các phong trào này. Được thúc đẩy bởi các nhà tổ chức bình thường và các thể chế theo chủ nghĩa dân tộc, chẳng hạn như Omnium Cultural và Assemblea Nacional Catalana (chủ tịch của 2 thể chế này đã bị tống giam vào ngày 16/10 với cáo buộc xúi giục nổi loạn), chủ nghĩa dân tộc mới này đã có thể huy động hàng trăm nghìn người Catalonia thông qua việc sử dụng sáng tạo truyền thông xã hội và sự dàn dựng giàu sức tưởng tượng các cuộc biểu tình đại chúng, chẳng hạn như Via Catalana vào ngày 11/9/2013 – một chuỗi người ủng hộ độc lập xếp thành hàng kéo dài 250 dặm từ đầu này tới đầu kia của Catalonia.

Nó cũng đã thành công trong việc làm chệch hướng và truyền tải một số nỗi bất bình của người dân – từ các vấn đề kinh tế-xã hội như chính sách thắt lưng buộc bụng và tình trạng thất nghiệp tới các vấn đề đạo đức như nạn tham nhũng – vào một câu chuyện kể về tình trạng là nạn nhân dưới bàn tay của giới quyền uy Tây Ban Nha tại Madrid, một vấn đề chỉ có thể được giải quyết thông qua nền độc lập.

Dự án độc lập hiện nay đem lại hy vọng hay ảo tượng về một quốc gia mới được giải thoát khỏi chính sách thắt lưng buộc bụng, tham nhũng và cái mà phe dân tộc chủ nghĩa Catalonia coi là sự đóng góp quá mức của Catalonia đối với phần còn lại của Tây Ban Nha dưới hình thức thuế khóa và các khoản tiền chuyển cho các khu vực ít giàu có hơn.

Tuy nhiên, câu chuyện kể này phớt lờ sự dính líu của giới tinh hoa Catalonia vào các bê bối tham nhũng, cũng như thành tích của phe dân tộc chủ nghĩa Catalonia trong chính phủ khi thay mặt giới tinh hoa kinh tế của cả Tây Ban Nha lẫn Catalonia thực thi các chính sách thắt lưng buộc bụng không được lòng dân. Trong luận bàn về chủ nghĩa dân tộc Catalonia, nền chính trị bản sắc đã vượt qua nền chính trị tầng lớp.

Đã đến lúc thay đổi?

Có một vài vấn đề khác đối với dự án độc lập. Một vấn đề là các cuộc thăm dò đều bộc lộ một sự chia rẽ sâu sắc trong người dân Catalonia về viễn cảnh độc lập.

Theo một cuộc thăm dò vào tháng 6 do cơ quan Centre d’Estudis d’Opinio của Chính quyền Catalonia thực hiện, 41,1% số người được hỏi nói rằng họ muốn Catalonia là một nhà nước độc lập và 49,4% cho biết họ không muốn điều này. Các lý do phản đối nền độc lập bao gồm từ các lo ngại về an ninh kinh tế tới sức mạnh của bản sắc kép Tây Ban Nha-Catalonia tại các khu vực thành thị của Catalonia, nhờ vào làn sóng di cư tới vùng này từ các khu vực khác của Tây Ban Nha trong thời kỳ Franco nắm quyền.

Một vấn đề khác là các đảng phái chính trị chủ đạo của Tây Ban Nha không ủng hộ quyền tự quyết của Catalonia, ngoại trừ đảng dân túy cánh tả Podemos và các đồng minh của đảng này tại Catalonia, chẳng hạn như Catalonia en Comu (một trong các lãnh đạo của đảng này, Ada Colau, là thị trưởng Barcelona), vốn vận động ủng hộ quyền tự quyết nhưng phản đối nền độc lập.

Một thách thức khác là không có một lộ trình rõ ràng và mạch lạc tới nền độc lập, do những khác biệt về ý thức hệ bên trong liên minh cầm quyền của vùng, vốn bao gồm phe trung tả và trung hữu ủng hộ độc lập và dựa vào đảng Candidatura d’Unitat Popular, một đảng nhỏ theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa, chống chủ nghĩa tư bản và phản đối giới tinh hoa chính trị Catalonia, để có được đa số trong quốc hội.

Các cuộc thăm dò đều bộc lộ một sự chia rẽ sâu sắc trong người dân Catalonia về viễn cảnh độc lập. 

Cuối cùng, các nhà lãnh đạo châu Âu đã thể hiện rõ rằng một Catalonia độc lập sẽ ở bên ngoài EU và cần phải xin gia nhập làm thành viên, mà việc này sẽ phụ thuộc vào sự chấp thuận của tất cả các nước thành viên – trong đó có Tây Ban Nha. Tư cách là một bộ phận của châu Âu đã luôn đóng một vai trò quan trọng trong bản sắc Catalonia. Thế nhưng các nước châu Âu, vốn cảnh giác trước chủ nghĩa dân tộc tại các vùng lãnh thổ trong một quốc gia trên khắp châu lục, không khuyến khích nền độc lập của Catalonia.

Các đề xuất hiện nay cho một lối thoát khỏi thế bế tắc giữa Tây Ban Nha và Catalonia bao gồm đối thoại và hòa giải. Vấn đề là không có sự nhất trí chung về bản chất của vấn đề. Madrid chỉ cởi mở với các cuộc đối thoại về phạm vi của quyền tự trị, trong khi Chính quyền Catalonia lại chỉ chú trọng vào nền độc lập. Hòa giải không thể nào lấp đầy hố sâu ngăn cách này, và Madrid cũng sẽ không chấp nhận sự phân xử của một quốc gia châu Âu đơn lẻ (bản thân Ủy ban châu Âu đã loại bỏ khả năng đứng ra hòa giải) và càng không chấp nhận một ủy ban quốc tế gồm các nhân vật nổi tiếng.

Các ranh giới xung đột giữa Chính quyền Catalonia và Chính quyền Tây Ban Nha đã được vạch ra; với Catalonia có xu hướng hiện thực hóa một tuyên bố độc lập đơn phương, theo sau là các cuộc bầu cử lập hiến, và Tây Ban Nha xem xét một sự can thiệp vào việc điều hành Catalonia theo Điều 155 của hiến pháp nước này – một hành động sẽ kích động bất ổn xã hội lan rộng.

Điều nên rõ ràng là có vài triệu công dân tại Catalonia đang không hài lòng về mối quan hệ của họ với Tây Ban Nha. Một giải pháp lâu dài, nhưng chắc chắn không phải là cuối cùng, cho vấn đề này sẽ bao gồm việc sửa đổi hiến pháp để cho phép quyền tự quyết và cải cách cho phù hợp với các bản sắc và liên kết đang thay đổi. Nếu chúng ta tin vào các cuộc thăm dò ý kiến, nếu quyền này được thực thi một vài tháng trước đó, thì đa số cử tri Catalonia sẽ chọn ở lại Tây Ban Nha./.

Việt Nam

Ngày 29/12/1987, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo ra một kênh mới huy động vốn đầu tư quốc tế để phát triển kinh tế-xã hội của nước ta. Sau 30 năm “đón” vốn FDI, nước ta đã thu hút 24.397 dự án FDI (còn hiệu lực) với tổng số vốn đăng ký 312,91 tỷ USD, trong đó tổng số vốn thực hiện đạt khoảng 169,05 tỷ USD.

Những hành động kịp thời từ Đảng, Chính phủ

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng của Việt Nam. Không chỉ có nhiều lợi thế và môi trường đầu tư hấp dẫn, Việt Nam đã viết tiếp câu chuyện thành công trong thu hút FDI bằng cam kết mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, coi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế, đồng thời xem FDI là một nhân tố quyết định để tái cơ cấu nền kinh tế và tăng sức cạnh tranh quốc gia.

Hơn 30 năm qua, Đảng, Nhà nước ta nỗ lực đổi mới, triển khai lộ trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó có quyết tâm quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính phủ Việt Nam cam kết và hành động nhằm tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi và bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như không ngừng cải thiện khuôn khổ luật pháp và thể chế phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư.

Một trong những hành động gần nhất thể hiện quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam là ngày 2/2/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020. Trước đó, ngày 22/11/2016, Quốc hội ban hành Luật sử đổi, bổ sung phụ lục 4 Luật Đầu tư (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017); ngày 16/5/2016, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Ngoài ra, Dự án Cơ chế kết nối một cửa quốc gia gồm 10 cơ quan Bộ kết nối với 31 thủ tục, trên 90.000 bộ hồ sơ và 60.000 doanh nghiệp tham gia đã thể hiện sự nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành, phấn đấu đạt được mục tiêu ngang bằng 4 nước hàng đầu trong ASEAN. Với quyết tâm cao từ Chính phủ, sự nỗ lực vào cuộc của các Bộ, ngành, địa phương, hàng nghìn thủ tục hành chính; hàng nghìn điều kiện kinh doanh, giấy phép con quy định tại các thông tư đã được bãi bỏ… tạo lập niềm tin cho khu vực doanh nghiệp.

Hàng nghìn thủ tục hành chính, hàng nghìn điều kiện kinh doanh, giấy phép con quy định tại các thông tư đã được bãi bỏ…

Đặc biệt, Chính phủ Việt Nam ưu tiên hướng vào nguồn vốn FDI “chất lượng cao”, cụ thể là các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; dứt khoát từ chối những dự án có công nghệ lạc hậu, nguy cơ gây ô nhiễm…

Thời gian tới, công tác xúc tiến đầu tư sẽ được nâng lên một bước, tinh lọc hơn; tập trung vào các tập đoàn đa quốc gia và có sức lan tỏa rộng để kết hợp với mục tiêu thu hút vốn gắn liền với sự hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, nhất là vấn đề chuyển giao, ứng dụng công nghệ mới…

Ngoài ra, nước ta còn tận dụng triệt để những ưu thế để thu hút FDI. Đó là chính trị và xã hội ổn định; nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, lực lượng lao động trẻ và có tri thức; Tiềm năng thị trường với sự tăng trưởng của người tiêu dùng có thu nhập trung bình và thị trường đầy hứa hẹn cho sự phát triển công nghệ cao; Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước phát triển; Nhiều dự án cơ sở hạ tầng đang được xây dựng như năng lượng, điện, đường xá góp phần hoàn thiện hơn điều kiện vật chất, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư.

Với những đổi mới trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Việt Nam đã trở thành miền đất hấp dẫn đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Công nhân tại xưởng sản xuất trong khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh: Thái Hùng/TTXVN)
Công nhân tại xưởng sản xuất trong khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh: Thái Hùng/TTXVN)

FDI – một đòn bẩy tăng trưởng kinh tế

30 năm là thời gian đủ dài để khẳng định, chủ trương của Đảng, Nhà nước và Chính phủ mở cửa để hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có thu hút vốn đầu tư nước ngoài là đúng đắn và kịp thời.

Nhìn lại hành trình thu hút FDI của Việt Nam, có thể thấy, nếu như 3 năm đầu 1988-1990 là thời gian khởi động của dòng chảy FDI vào Việt Nam, thì bắt đầu từ năm 1991 đến nay, khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài đã trở thành động lực tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp ngày càng nhiều vào giá trị sản lượng công nghiệp, dịch vụ, xuất nhập khẩu, thu ngân sách nhà nước và tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo Tổng cục Thống kê, nếu như năm 1992 khu vực FDI chỉ đóng góp 2% vào GDP Việt Nam, thì đến năm 2016 là con số này đã là 20%.

Trong 26 năm, từ năm 1991 đến năm 2016, Việt Nam đã thu hút được 151,39 tỷ USD vốn FDI thực hiện. Tính bình quân, mỗi năm giai đoạn 1991-2000 giải ngân đạt 1,95 tỷ USD, 10 năm tiếp theo đạt 5,85 tỷ USD, 6 năm 2011-2016 là 12,24 tỷ USD, bằng 6,2 lần của giai đoạn 1991-2000 và 2,09 lần của giai đoạn 2001-2010.

Đặc biệt, giai đoạn 2011-2016 có thêm nhiều dự án quy mô lớn, với vốn đầu tư từ 1 tỷ USD trở lên, đưa Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất một số sản phẩm công nghệ cao của thế giới, như điện thoại di động, máy tính bảng, hàng điện tử… Một số dự án đầu tư FDI có quy mô lớn như: Dự án nhà máy điện BOT Nghi Sơn 2, công suất 1.200MW, với tổng vốn đầu tư 2,793 tỷ USD; Dự án Samsung Display tại Bắc Ninh với quyết định tăng vốn thêm 2,5 tỷ USD…

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/10/2017, cả nước có 24.397 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 312,91 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 169,05 tỷ USD.

Tính đến tháng 10/2017 đã có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Nhật Bản và Singapore. Đầu tư nước ngoài đã có mặt ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI với 43,3 tỷ USD (chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư), kế tiếp là Bình Dương, Hà Nội, Đồng Nai…

Một điểm sáng rất đáng ghi nhận là, khu vực FDI thời gian qua đã đóng góp lớn cho phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, thực sự được coi là “động lực tăng trưởng của Việt Nam trong hơn 30 năm đổi mới”. Khối doanh nghiệp FDI đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta.

Năm 2016, khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trong đó dầu khí, điện tử, linh kiện điện tử, thiết bị di động, thức ăn gia súc, đồ uống… có tỷ trọng cao hơn nhiều. Khu vực này năm 2016 cũng đã đóng góp trên 72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó chủ lực là các mặt hàng chế biến, chế tạo, có giá trị gia tăng cao. Nhờ vậy, khu vực FDI không những bù đắp được nhập siêu của doanh nghiệp trong nước mà còn tạo ra xuất siêu gần 3 tỷ USD, đóng góp khoảng 20% thu nội địa và 20% GDP.

Đối với những địa phương thu hút được nhiều dự án FDI như Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa (ở miền Bắc); Bình Dương, Đồng Nai (ở miền Nam) thì đóng góp của khu vực FDI còn lớn hơn, góp phần làm thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế của từng tỉnh, thành phố, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước phát triển có hiệu quả cao, người dân trong vùng trở nên giàu có hơn các địa phương lân cận. Điển hình là Bắc Ninh, nhờ thu hút có hiệu quả FDI mà chỉ trong vòng 5 năm gần đây đã biến đổi cơ bản, từ tỉnh nông nghiệp trở thành tỉnh công nghiệp, hiện nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 8%, công nghiệp và dịch vụ chiếm 82% cơ cấu kinh tế.

Công nhân Công ty TNHH sợi dệt nhuộm YULUN (vốn đầu tư của Trung Quốc) hoạt động  tại Khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, Nam Định. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Công nhân Công ty TNHH sợi dệt nhuộm YULUN (vốn đầu tư của Trung Quốc) hoạt động tại Khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, Nam Định. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư

Sở dĩ có được những kết quả trên, trước hết là do Việt Nam được đánh giá là quốc gia có môi trường đầu tư ổn định. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng liên tục cao trong suốt hơn 20 năm qua, là một trong số rất ít các quốc gia trên thế giới duy trì tăng trưởng kinh tế dương liên tục. Đặc biệt sau khi nền kinh tế toàn cầu chịu tác động của khủng hoảng, Việt Nam vẫn là một trong 15 quốc gia được đánh giá cao về môi trường đầu tư ổn định.

Ta có thể lấy ví dụ về mức độ tín nhiệm của các nhà đầu tư Nhật Bản về môi trường đầu tư ở Việt Nam. Ngày 14/2/2017, Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đã công bố kết quả “Khảo sát thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam” năm 2016. Theo đó, 66,6% doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh và tiếp tục coi Việt Nam là địa điểm đầu tư quan trọng. Trong đó, 88% doanh nghiệp cho biết lý do mở rộng sản xuất kinh doanh tại Việt Nam là “tăng doanh thu”. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, 63% doanh nghiệp mở rộng hoạt động vì “khả năng tăng trưởng và tiềm năng cao”. Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp trả lời “có lãi” chiếm 62,8% (tăng 4 điểm % so với năm trước 2015).

Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2017-2018 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố ngày 27/9/2017, Việt Nam đã tăng lên hạng 55 trong tổng số 137 nền kinh tế, tăng 5 bậc so với năm ngoái và 20 bậc so với cách đây 5 năm. Còn theo Báo cáo Chỉ số thuận lợi kinh doanh của Ngân hàng Thế giới công bố vào ngày 31/10/2017, môi trường kinh doanh của Việt Nam được ghi nhận là có sự cải thiện mạnh mẽ nhất từ năm 2007 đến nay, tăng 14 bậc, từ vị trí 82/190 năm 2016 lên 68/190.

Môi trường kinh doanh của Việt Nam được ghi nhận là có sự cải thiện mạnh mẽ nhất từ năm 2007 đến nay, tăng 14 bậc, từ vị trí 82/190 năm 2016 lên 68/190.

Hiện cả nước có gần 600.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Riêng năm 2016, lần đầu tiên, số doanh nghiệp thành lập mới tại Việt Nam đạt con số kỷ lục với hơn 110.000 doanh nghiệp. Đây là tín hiệu đáng mừng thể hiện chủ trương cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp của Chính phủ. Việt Nam phấn đấu đến năm 2020, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp, với yêu cầu là không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp cũng phải được cải thiện mạnh mẽ.

Ngoài ra, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, cụ thể là việc Việt Nam đang tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Có thể thấy, các nhà đầu tư từ châu Á chiếm ưu thế trong các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) tại Việt Nam là do tác động trực tiếp của các FTA này. Đặc biệt, việc đăng cai tổ chức Năm APEC Việt Nam 2017 cũng là một cơ hội lớn, nếu biết tận dụng tốt sẽ thu hút mạnh mẽ đầu tư vào Việt Nam.

Đánh giá về triển vọng môi trường đầu tư của Việt Nam, ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhận định, Việt Nam đã có những bước đi vững vàng, đã nỗ lực thay đổi chính sách, tạo môi trường đầu tư lành mạnh và đã có những vùng kinh tế phát triển bền vững. Việt Nam cũng có sự định hướng rõ ràng và quan trọng trong việc phát triển kinh tế, đã chú trọng vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn FDI để từ đó có sự thay đổi đáng kinh ngạc. Điều này khẳng định vị thế của Việt Nam trên thương trường. Ông Sebastian Eckardt nhấn mạnh với chính sách này, Việt Nam sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài hiện tại và trong những năm tới.

Với kế hoạch hành động cụ thể và những cam kết thay đổi mạnh mẽ từ Chính phủ, Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời là nơi có môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng đối với các nhà đầu tư trong nước./.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)