Tiếp bước Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, Thủ tướng nước này Edouard Philippe đã có chuyến thăm kéo dài 3 ngày tới Trung Quốc.
Trong vòng chưa đầy 6 tháng, Trung Quốc lần lượt tiếp đón hai nhà lãnh đạo cao nhất của Pháp, chưa kể chuyến công du mới đây của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tới Paris, điều thường chỉ hay xảy ra giữa hai đồng minh gần gũi.
Nếu nhìn vào những chuyển động ngoại giao giữa Trung Quốc và Pháp gần đây, không khó để rút ra kết luận quan hệ giữa hai cường quốc cùng là ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã được nâng lên một tầm mức mới. Những diễn biến quốc tế gần đây, nhất là những quyết định mang tính chất đơn phương của Mỹ, đã có ảnh hưởng sâu sắc tới lợi ích của cả Paris và Bắc Kinh. Trong đó phải kể tới việc Washington khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, áp mức thuế cao lên các sản phẩm nhôm và thép nhập khẩu, cùng hàng chục sản phẩm từ Trung Quốc và đe dọa đánh thuế lên ôtô từ châu Âu.
Pháp và Trung Quốc dường như đang cố gắng phối hợp tìm kiếm giải pháp đối phó với sự xáo trộn ghê gớm trong hệ thống quốc tế
Không đơn giản là gây thiệt hại lớn về tài chính, những bước đi của Mỹ đã làm lung lay hệ thống thương mại toàn cầu mà cả Trung Quốc và Pháp, rộng hơn là EU, đang hưởng lợi lâu nay.
Thời gian qua, Trung Quốc và Pháp không chỉ thể hiện lập trường giống nhau đối với toàn cầu hóa, chống chủ nghĩa bảo hộ, mà dường như đang cố gắng phối hợp với nhau tìm kiếm giải pháp đối phó với sự xáo trộn ghê gớm trong hệ thống quốc tế. Việc hai nước liên tục trao đổi các chuyến thăm cấp cao nằm trong logic này. Thực tế, không phải chỉ khi ông Emmanuel Macron lên nắm quyền, Paris và Bắc Kinh mới xích lại gần nhau.
Trước đó, nhà lãnh đạo Pháp François Hollande đã chủ động cải thiện quan hệ với Trung Quốc sau những năm sóng gió trong nhiệm kỳ của người tiền nhiệm Nicolas Sarkozy. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron chọn Trung Quốc là điểm đến cho chuyến công du đầu tiên của ông tới châu Á, không chỉ vì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, mà Bắc Kinh còn được xem là một đối tác thích hợp và tương xứng đối với một nước Pháp đang có tham vọng đóng vai trò lớn hơn trên trường quốc tế.
Tăng cường quan hệ với Trung Quốc cũng là lựa chọn tất yếu của Paris khi Pháp tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nơi Pháp có rất nhiều lợi ích chiến lược an ninh và kinh tế.
(Nguồn: CNBC)
Việc Bắc Kinh trải thảm đỏ đón tiếp các nhà lãnh đạo Pháp, một trong những thành viên chủ chốt của EU, còn thể hiện những tính toán khác. Đó là tranh thủ thể hiện vai trò là cường quốc có trách nhiệm trong bối cảnh nước Mỹ dưới sự cầm quyền của Tổng thống Donald Trump đã có những bước đi ngược lại với những thông lệ ngoại giao quốc tế. Bắc Kinh hy vọng thắt chặt quan hệ với EU, nhất là Pháp, từ đó tạo ra đối trọng nặng ký để gây áp lực ngược trở lại Mỹ.
Để bày tỏ thiện chí cân bằng cán cân mậu dịch với Pháp, trong chuyến thăm của Thủ tướng Edouard Philippe, phía Trung Quốc đã thực hiện nhiều động thái có thể coi là nhượng bộ có ý nghĩa. Đáng chú ý là quyết định dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu thịt bò Pháp áp đặt từ năm 2001 đến nay sau dịch bò điên, ký kết khoảng 18 hợp đồng kinh tế, đẩy nhanh tiến độ đàm phán tiến tới hoàn tất thương vụ đặt mua 184 máy bay Airbus, đã được khởi sự sau chuyến công du của Tổng thống Macron tới Bắc Kinh hồi đầu năm, hay thỏa thuận hợp đồng nghiên cứu dự án xây dựng một nhà máy tái chế chất thải hạt nhân tại Trung Quốc.
Trong chuyến thăm của Thủ tướng Edouard Philippe, phía Trung Quốc đã thực hiện nhiều động thái có thể coi là nhượng bộ có ý nghĩa
Tuy vậy, thành công của chiến lược này chưa chắc chắn, ngược lại, Bắc Kinh có thể còn phải chịu thêm sức ép lớn hơn. Thực tế nhiều năm nay, EU cùng với Mỹ liên tục đòi Trung Quốc phải mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận nhiều lĩnh vực từ trước đến nay vẫn bị hạn chế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các công ty phương Tây, dỡ bỏ nhiều quy định liên quan đến thị trường và có biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề thâm hụt thương mại khổng lồ, trong đó phương Tây chịu thiệt.
Trước sức ép lớn, tại Diễn đàn Bác Ngao tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố về “một giai đoạn mở cửa mới” tại Trung Quốc, cam kết giảm bớt bớt thủ tục và dỡ bỏ một số kiểm soát công ty nước ngoài. Nhưng chừng đó chưa chắc đã đủ và EU có thể đòi Trung Quốc nhượng bộ hơn.
Ngoài những hình ảnh ngoại giao thân thiện, cho đến nay chưa thấy tiến triển đáng kể của sự phối hợp giữa Trung Quốc và Pháp, rộng hơn là với EU, chống lại xu thế bảo hệ mậu dịch. Ngược lại, bất chấp mâu thuẫn gay gắt với Mỹ, ngày 1/6 vừa qua, EU vẫn quyết định kiện Trung Quốc ra Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với lý do “gây phương hại quyền sở hữu trí tuệ của các công ty châu Âu.” Bước đi này được cho là phối hợp chặt chẽ với Washington, vốn trước đó vài ngày cũng có hành động tương tự.
Pháp và Trung Quốc đẩy nhanh tiến độ đàm phán tiến tới hoàn tất thương vụ đặt mua 184 máy bay Airbus. (Nguồn: Defence.pk)
Không chỉ trên lĩnh vực kinh tế-thương mại, giữa Trung Quốc và Pháp còn nhiều bất đồng lớn khác chưa dễ vượt qua. Bắc Kinh không hài lòng với việc Paris vẫn từ chối ủng hộ sáng kiến “Vành đai và con đường,” dự án khổng lồ được cho là nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng địa chính trị của Trung Quốc ra thế giới.
Tại Bắc Kinh, Thủ tướng Pháp vẫn nhắc lại lập trường đã được Tổng thống Macron khẳng định trong chuyến thăm gần đây, rằng đây là “dự án tốt” và Pháp sẵn sàng đồng hành, nhưng với điều kiện nó phải “minh bạch” để các doanh nghiệp Pháp có thể tham gia. Các nước lớn ở châu Âu lâu nay lo ngại việc Trung Quốc đầu tư ồ ạt vào châu Âu, nhất là mua lại một số tài sản quan trọng tại Đông và Trung Âu, qua đó có khả năng can dự chính sách của một số nước thành viên và gây chia rẽ nội bộ EU. Thái độ thận trọng của Paris có lẽ là nhằm xây dựng một cách tiếp cận chung của cả EU đối với dự án của Trung Quốc.
Xét trên bình diện an ninh, quan điểm của Pháp và Trung Quốc cũng có nhiều điểm khác biệt lớn. Là cường quốc có diện tích lãnh hải lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ, có lợi ích lớn và trực tiếp trong không gian Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Pháp có một số lãnh thổ hải ngoại và căn cứ quân sự trong khu vực.
Nhìn rộng bức tranh toàn cảnh, khó có thể đánh giá rằng quan hệ Pháp-Trung sẽ bước sang một trang mới
Trong bối cảnh Trung Quốc đơn phương tăng cường các hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông, Pháp là một trong những nước châu Âu liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) trên các diễn đàn quốc tế quan trọng.
Từ nhiều năm nay, Hải quân Pháp thường xuyên tiến hành các sứ mạng tự do lưu thông hàng hải và hàng không trong Thái Bình Dương, đặc biệt ở Biển Đông. Thông qua việc mở rộng hợp tác quân sự trong khu vực, như với Australia và Ấn Độ, Pháp đang từng bước hiện thực hóa chính sách đưa Paris trở thành một phần trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm duy trì thế cân bằng chiến lược cần thiết giữa các cường quốc trong khu vực.
Việc trao đổi chuyến thăm của quan chức và lãnh đạo cấp cao Pháp-Trung gần đây với tần suất dày hơn là tín hiệu cho thấy cả hai nước coi trọng hợp tác với nhau để cùng tìm ra lời giải cho các thách thức chung. Điều này phù hợp với phương châm đối ngoại thực dụng của cả hai, đó là cố gắng hợp tác trong những lĩnh vực có thể, đồng thời tiếp tục đấu tranh để bảo vệ lợi ích riêng. Do đó, nhìn rộng bức tranh toàn cảnh, khó có thể đánh giá rằng quan hệ Pháp-Trung sẽ bước sang một trang mới, song hai bên chắc chắn sẽ duy trì bầu không khí hợp tác để mang lại cơ hội cho cả hai./.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron duyệt đội danh dự tại Bắc Kinh, Trung Quốc tháng 1/2018. (Nguồn: Getty Images)
Cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang nhen nhóm bùng lên và lan rộng, dự báo sẽ có nhiều tác động tới bức tranh thương mại và kinh tế toàn cầu.
Với Việt Nam, cả Mỹ và Trung Quốc đều là những thị trường xuất nhập khẩu chủ lực cũng được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc chiến thương mại này trong tương lai.
Xung quanh vấn đề trên, chuyên gia kinh tế Phạm Tất Thắng, nghiên cứu viên cao cấp Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương đã đưa ra một số bình luận và phân tích những mặt tích cực và tiêu cực có thể tác động tới nền kinh tế trong nước khi cuộc chiến tranh thương mại này lan rộng và kéo dài.
Không còn là “đòn gió”?
– Ông đánh giá như thế nào về tác động của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đối với kinh tế toàn cầu?
Chuyên gia Phạm Tất Thắng: Trong thương mại toàn cầu chúng ta thấy đang có 2 xu thế. Một xu thế là mở cửa là tự do theo tư tưởng của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và mấy năm gần đây lại trỗi lên tư tưởng mới là đóng cửa (bảo hộ mậu dịch). Việc này biểu hiện bằng nhiều hình thái khác nhau và chiến tranh thương mại cũng là một trong những biểu hiện của tư tưởng đóng cửa như vậy.
Thời gian gần đây nổi lên một hiện tượng đáng suy nghĩ đó là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung là hai nền kinh tế lớn nhất toàn cầu. Lúc đầu người ta cũng dự đoán cả hai bên chỉ “đánh đòn gió” mà thôi, vì trên thực tế nếu thực sự xảy ra chẳng bên nào có lợi cả.
Chuyên gia Phạm Tất Thắng.
Tuy vậy, sau nhiều đồn đoán thì gần đây điều đó đã thực sự xảy ra và biểu hiện là cả hai bên đều tìm những biện pháp trừng phạt lẫn nhau, đánh thuế nhau. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới thương mại toàn cầu và làm cho tăng trưởng của kinh tế toàn cầu giảm sút. Tất nhiên, việc làm này cũng khiến cho nhu cầu của thị trường cũng sẽ bị suy giảm theo và thực tế này không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi hai quốc gia Mỹ-Trung mà còn lan rộng tới các nền kinh tế khác trong đó Việt Nam cũng không thể đứng ngoài được.
– Chúng ta đang xuất siêu sang Mỹ và nhập siêu lớn từ Trung Quốc, vậy ông dự đoán những tác động của cuộc chiến tranh thương mại này tới Việt Nam?
Chuyên gia Phạm Tất Thắng: Theo phân tích của tôi, cuộc chiến tranh thương mại này nó sẽ có những ảnh hưởng rất lớn đối với thương mại của Việt Nam. Chúng ta đang nhập siêu từ Trung Quốc và từ trước đến nay hàng của Trung Quốc được xuất khẩu nhiều sang thị trường Mỹ. Nếu bây giờ hàng Trung Quốc bị đánh thuế cao ở thị trường này thì một lượng lớn năng lực sản xuất và sản phẩm đã sản xuất ra của Trung Quốc sẽ không tìm được đường sang Mỹ nữa thì dĩ nhiên họ sẽ tìm cách đưa sang thị trường khác, trong đó có thị trường của chúng ta. Như vậy việc này sẽ đặt ra điều bất lợi cho chúng ta đó là làm cho xuất siêu của Trung Quốc vào thị trường Việt Nam có nguy cơ bị tăng lên.
Xuất khẩu gạo. (Nguồn: TTXVN)
Biểu hiện thứ hai nữa là khi hàng Trung Quốc ở thị trường Mỹ bị đánh thuế và năng lực cạnh tranh của hàng Trung Quốc sẽ bị suy giảm tại thị trường này thì lại là một cơ hội cho tất cả các sản phẩm khác ngoài Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ trong đó có Việt Nam, nhưng dĩ nhiên cần phải xem những mặt hàng cụ thể gì.
Ví dụ, Mỹ đánh thuế cao mặt hàng sắt thép của Trung Quốc thì mặt hàng sắt thép của chúng ta có vào được thị trường Mỹ không và liệu có tận dụng được cơ hội này để tiêu thụ tại thị trường Mỹ hay không thì phải xem xét ở những mặt hàng cụ thể.
Như vậy, có thể thấy, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung vừa là yếu tố bất lợi đối với nền kinh tế của Việt Nam những cũng mở ra điều kiện mà nếu chúng ta biết tận dụng thì sẽ đem lại cái lợi cho Việt Nam.
Nguy cơ “núp bóng” hàng Việt?
– Gần đây một số doanh nghiệp sản xuất thép tại Mỹ đã nộp yêu cầu điều tra, áp dụng biện pháp chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp tới Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đối với sản phẩm thép chống ăn mòn nhập khẩu từ Việt Nam do nghi ngờ lẩn tránh thuế từ Đài Loan và Hàn Quốc, vậy việc này có tác động như thế nào trong bối cảnh cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, thưa ông?
Những con số đáng chú ý về thương mại Mỹ-Trung Quốc. (Nguồn: AFP/Vietnam+)
Chuyên gia Phạm Tất Thắng: Hiện tượng và dư luận thép của Trung Quốc núp bóng Việt Nam đã có từ lâu đặc biệt khi Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được hoàn tất đàm phán với hy vọng hàng hóa của Việt Nam vào được thị trường Mỹ, thì đây cũng là giai đoạn nở rộ việc các nhà đầu tư của Trung Quốc muốn đầu tư vào Việt Nam để được mang “Made in Việt Nam”. Dĩ nhiên, hiệp định TPP không trở thành hiện thực và đây cũng là bước hụt cho các nhà đầu tư Trung Quốc.
Dù vậy, khi chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc-Mỹ nổ ra thì hiện tượng mang danh hàng Việt Nam sẽ lại càng có điều kiện và dễ xảy ra vì vậy chúng ta nên cảnh giác hiện tượng này. Tôi phải nhấn mạnh, nếu chúng ta để hiện tượng này xảy ra sẽ có hai hậu quả tai hại, thứ nhất đó là chúng ta xuất khẩu vào thị trường Mỹ nhưng đem lại lợi ích cho các thương nhân Trung Quốc. Thứ hai, nếu phía Mỹ phát hiện ra thì sẽ trừng phạt những mặt hàng khác và doanh nghiệp khác của Việt Nam. Như vậy sẽ khiến chúng ta thiệt đơn thiệt kép, điểu đó đòi hỏi các địa phương, cơ quan chức năng của Việt Nam cần tăng cường kiểm tra để không xảy ra hiện tượng này.
– Theo ông ngoài xuất nhập khẩu thì còn lĩnh vực nào của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung?
Chuyên gia Phạm Tất Thắng: Ngoài xuất nhập khẩu thì lĩnh vực đầu tư cũng bị ảnh hưởng. Từ trước đến nay việc đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam rất lớn, chỉ sau mỗi Hàn Quốc.
Thực tế, cuộc chiến tranh thương mại nếu xảy ra, các nhà kinh doanh của Trung Quốc sẽ tìm cách đầu tư vào Việt Nam để có được xuất xứ của Việt Nam để hưởng lợi.
Không bị lôi cuốn vào tầm ảnh hưởng xấu của cuộc chiến
– Vậy, Việt Nam cần có giải pháp gì để giảm thiểu những tác động xấu từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, thưa ông?
Chuyên gia Phạm Tất Thắng: Như tôi đã nói, cuộc chiến tranh thương mại nếu không được kiểm soát mà ngày càng phát triển sẽ ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của toàn cầu. Điều đó cũng dẫn tới nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của thế giới suy giảm, lúc đó sẽ ảnh hưởng tới hoạt động thương mại và đầu tư của chúng ta.
Cảng Hải Phòng đón mã hàng đầu năm mới 2018. (Nguồn: TTXVN)
Do vậy, chúng ta phải có giải pháp để giữ được thị trường truyền thống của mình, đặc biệt là thị trường châu Âu, thị trường Đông Âu là những thị trường vẫn còn có điều kiện phát triển.
Quan trọng hơn, chúng ta cần có giải pháp để không bị lôi cuốn vào tầm ảnh hưởng xấu của cuộc chiến tranh thương mại này mà cần tìm mọi cách đưa được hàng hóa của Việt Nam vào thị trường Mỹ bởi khi hàng của Trung Quốc kém cạnh tranh ở thị trường này sẽ mở ra một khả năng cho tất cả hàng hóa của các quốc gia khác trong đó có Việt Nam.
Tiếp đến, chúng ta cần đề phòng một luồng hàng hóa không xuất khẩu được của Trung Quốc vào thị trường Mỹ mà sẽ tìm cách tiêu thụ tại Việt Nam cũng như các nguồn vốn của Trung Quốc đổ vào Việt Nam, vì vậy chúng ta cần có sự lựa chọn và tỉnh táo trong những khía cạnh này.
– Trong bối cảnh hiện nay, theo ông các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ tạo được những cú hích như thế nào đối với sự pháp triển của Việt Nam?
Chuyên gia Phạm Tất Thắng: Dù không có cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung thì tất cả các hiệp định thương mại mà Việt Nam ký kết đều mở ra các cơ hội cho Việt Nam. Ví dụ hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) đã giúp chúng ta cũng đưa được hàng hóa vào thị trường khó tính này. Hay hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU) bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, đây là thị trường vô cùng lớn và phù hợp với các sản phẩm có của Việt Nam giúp chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu…
Nói tóm lại, với các hiệp định thương mại tự do đã và sắp ký kết đang mở ra cho Việt Nam nhiều hội rất tốt, nhất là CPTPP sẽ giúp chúng ta đưa được hàng hóa vào thị trường các nước châu Á Thái Bình Dương đặc biệt là tiếp nhận được nhiều công nghệ hiện đại nhất là công nghệ 4.0 của các nước này để nâng cao năng lực cạnh tranh của chúng ta lên.
– Xin cảm ơn ông./.
Hoạt động vận chuyển hàng hóa tại Tân Cảng Sài Gòn. (Nguồn: TTXVN)
The Asia-Europe Meeting (ASEM) Conference on Climate Action to Achieving the Sustainable Development Goals – Ways Forward on June 18-20 in Can Tho city is one of the most important inter-regional events on climate change hosted by Vietnam. It is also the first ASEM initiative in its third decade of cooperation on climate change response toward sustainability.
It is an initiative of Vietnam which was approved at the 13th ASEM Ministerial Meeting last November in Myanmar and won support and sponsorship from many countries, , including Australia, Denmark, Myanmar, Finland, the Netherlands and Italy.
The event’s four plenary meetings focused on discussions on development in the context of climate change, building capacity to adapt to climate change, actions in response to climate change which feature the role of relevant parties, and shaping the future which promotes Asia-Europe climate partnership for sustainable development.Attending the event were nearly 200 delegates from 53 ASEM members, leaders of ministries, sectors and 13 Mekong Delta localities in Vietnam.In his opening remarks, Deputy Minister of Natural Resources and Environment Le Cong Thanh said that Vietnam is assessed as one of the countries hardest hit by climate change with the Mekong Delta region one of the three deltas in the world most vulnerable to sea level rise.Climate change’s impacts on Vietnam are serious, posing a threat to the achievement of poverty reduction target, millennium development goals and sustainable growth of the country.
Therefore, hosting this year’s conference will create an opportunity for Mekong Delta localities to connect with each other and expand cooperation with the world’s leading experts on climate change, and gain access to ASEM members’ assistance for climate change adaptation programmes, Thanh stated.
Deputy Foreign Minister Bui Thanh Son noted the conference took place when the world is exerting efforts to respond to climate change. This is a chance for Vietnam to speed up action to put the Paris Agreement on Climate Change in Agenda 2020 and Agenda 2030 on Climate Change, and join international efforts to respond to climate change.
At the conference, Deputy Prime Minister and Foreign Minister Pham Binh Minh stressed the need for the conference to develop a comprehensive approach for common understanding and action on doubling efforts for climate change response towards sustainable development.
ASEM’s cooperation initiatives and projects on sustainable water management, disaster risk reduction, energy, food safety, gender equality and poverty reduction need to be connected more closely to put forth comprehensive solutions to sustainable development.
“At the national level, climate action should be included in the national strategy for sustainable, balanced, equitable and innovative development,” Deputy Prime Minister and Foreign Minister Pham Binh Minh.
Developed members of ASEM should provide specific financial support for developing members vulnerable to climate change, he emphasised, adding that it is necessary to promote multi-stakeholder partnerships for climate action for sustainable development.
He also stressed the importance of establishing a network of information sharing between policymakers, researchers, businesses, localities and other stakeholders in this field.
The Deputy PM continued by saying that Vietnam highly values the strategic partnerships on climate change and the effective cooperation and assistance programmes on financing and technology transfer that many ASEM members have extended for Vietnam.
These programmes have effectively assisted the nation in sustainable water resources management, enhancement of climate change monitoring and adaptation capacity, response to sea level rise and widespread saline intrusion in the Lower Mekong River Basin. These have also improved Vietnam’s capacity to contribute to the joint endeavours by the international community, he added.
Concluding the conference, ASEM members agreed that climate change response should be studied and evaluated as part of the sustainable development strategy, as well as in efforts to alleviate poverty; ensure food safety, energy security and water security; and build resilient communities, thus creating new momentum for sustainable and inclusive development for all citizens.
Overview of ASEM (Infographic: VNA)
They reached consensus on promoting joint actions in ASEM, particularly accelerating ASEM’s contributions to the global efforts in realising the 2030 Agenda for Sustainable Development and Paris Agreement on Climate Change.
They said that the agreements help tackle core issues of development, create a driving force for economic shake-up, transform into a green economy model with low emission, and enhance resilient capacity of citizens, community and nations.
Also, they were unanimous in supporting developing members to cope with formidable climate change challenges through financial assistance, transfer of green and clean technology, and ASEM cooperation in reducing plastic garbage discharged into oceans.
The participants at the conference consented to endorse regional and sub-regional cooperation mechanisms, including the Mekong-Danube cooperation initiative.
Many ASEM members lauded Vietnam’s efforts and agreed to back Vietnam, particularly 13 cities and provinces in the Mekong Delta region, to adapt to climate change for sustainable development.
Belgian Embassy and the Ministry of Agriculture will work together to bring Belgian agribusinesses to Vietnam in the time ahead to meet with local firms, take trips to farm product processing plants and learn first-hand about agricultural potentials of each locality to come up with proper cooperation plans, said Ambassador of Belgium to Vietnam Jeganne Roccas at the exhibition on “Climate change-Challenges and opportunities for Asia-Europe cooperation”
The Australian Department of Foreign Affairs and Trade is coordinating with the Department of Agriculture and Water Resources to develop a strategy for cooperation with Vietnam from 2018 – 2028, aiming to support Vietnam in agricultural research and development, said Andrea Faulkner, Assistant Secretary at the Australian Department of Foreign Affairs and Trade, at the exhibition on “Climate change-Challenges and opportunities for Asia-Europe cooperation”.
According to Nguyen Minh Hang, Deputy Director-General of the Department of Multilateral Economic Cooperation under the Ministry of Foreign Affairs, and head of the Vietnamese ASEM SOM, the conference helped improve practicability of ASEM cooperation mechanism and affirm ASEM’s contributions to global efforts for sustainable development.
Especially, it asserted Vietnam’s global integration policy and its roles and contributions to ASEM as one of the founding members of the forum, she noticed.
She added that recommendations adopted at the conference will form ASEM’s cooperative orientations to combat climate change.
European countries implement climate change projects in Mekong Delta
The European Union (EU) and European countries have been carrying out a number of climate change adaptation and sustainable development projects in the Mekong Delta of Vietnam.
The biggest partners and donors are the EU, Germany, France, Denmark, Sweden, Hungary and Romania, according to the Foreign Ministry’s information released at the ASEM Conference on Climate Action to Achieving the Sustainable Development Goals – Ways Forward in Can Tho city.
Specifically, the EU implemented a project building a sustainable tra fish (pangasius) supply chain from April 2013 to March 2017 with total investment of 1.9 million EUR (2.2 million USD) and another conducting scientific studies on climate change and coastal erosion in Quang Nam, Ca Mau, and Tien Giang provinces in 2016-2017 worth 1 million EUR (1.15 million USD).
Tra fish farming in Vietnam (Photo: VNA)
The EU also carried out a 108-million-EUR Energy Sector Policy Support Programme to increase access to sustainable energy in rural, mountainous, sea and island areas in Bac Lieu, An Giang, and Can Tho.
In Ca Mau, the German and Australian Governments co-financed 68.39 billion VND (2.9 million USD) in official development assistance (ODA) for a project under the Integrated Coastal Management and Climate Change and Coastal Ecosystems Programme (ICM/CCEP) and authorised the German development cooperation agency (GIZ) to implement.
The German Government also funded Ca Mau one million EUR to implement a project on restoration of mangroves through sustainable shrimp farming and emission reduction.
Ca Mau province is also making preparations to carry out a project combining coastal protection and mangrove forest land restoration using loans of about 331 billion VND (14.5 million USD) from the German development bank KfW.
A mangrove forest in Vietnam (Photo: VNA)
In Soc Trang province, the German Government is carrying out the second phase of the project on natural resources management in coastal areas from September 2014 to August 2018.
Germany also provided a non-refundable aid package of 5.1 million EUR (5.9 million USD) for Bac Lieu province to conduct two projects on the sustainable management of coastal ecosystems, second phase from 2015 to 2018, and on climate change adaptation through promoting biodiversity.
Meanwhile, the French Government offered 52.35 million EUR (60.6 million USD) in loans, including one million EUR in non-refundable aid, for the implementation of a project enhancing climate change resilience for areas prone to extreme climate patterns and rising sea level in Can Tho city along with Ninh Binh northern province and the central province of Ha Tinh.
Planting mangrove trees to cope with climate change (Photo: VNA)
The Danish Government supported Mekong Delta provinces to cope with environmental changes through the national target programme on climate change in 2009-2015.
Denmark has become the biggest donor with around 40 million USD in assisting the Mekong Delta, especially Ben Tre province, in piloting measures to prevent saltwater intrusion prevention and climate change adaptation models such as building flood-proof houses, irrigation networks, salt-to-fresh water treatment factories, and automatic rain gauging stations, contributing to the improvement of the natural disaster warning system.
The European country also spent over 4.3 million DKK (668,091 USD) to provide water by renewable energy in 2012-2014 for rural areas in the Mekong Delta’s provinces.
Clean water for local use (Illustrative image: VNA)
From 2011, the Danish Government has supported Vietnam’s Ministry of Agriculture and Rural Development to implement a project assisting the agricultural sector, including the improvement of post-harvest services for households in the Mekong Delta, which increased the proportion of dried rice to 31 percent of total output from 13 percent in the previous time.
In An Giang province, the Swedish Government implemented a project enhancing local capacity and building a scheme for the development of rice husk-fuelled thermal power plants in combination with rice milling plants in 2014-2015 with a budget of nearly 345,000 EUR (399,506 USD), including nearly 105,000 EUR (121,588 USD) in local corresponding capital.
The Romanian Government carried out a project piloting the establishment of a biodiversity conservation site for sustainable eco-tourism development in Ba Tri district of Ben Tre province.
Hi-tech application – solution to climate change adaptation
Vietnam has been promoting the application of high technologies in agriculture production as part of efforts to adapt to climate change and strive towards sustainable agriculture development.
Vietnam is working to encourage investment in hi-tech farming (Infographic: VNA)
Dr. Tang The Cuong, Director of the Department of Climate Change under the Ministry of Natural Resources and Environment stressed at the ASEM Conference on Climate Action to Achieving the Sustainable Development Goals – Ways Forward in Can Tho city that Vietnam considers climate change response as a vital task as it is one of the countries hardest hit by climate change.
The Vietnamese Government has taken drastic actions in restructuring its economy, especially agricultural restructuring, in order to cope with climate change, with the most effective solution being hi-tech application.
In recent years, many technological solutions have been used in agriculture production in Vietnam, bringing effective results, Cuong said, citing as examples the production of safe vegetables in line with VietGAP standards, water-saving irrigation, hydroponic vegetable production, irradiation technology for preserving fruits, and super-intensive Tra fish farming.
Sharing Cuong’s opinion, Dr. Jan Verhagen from the Wageningen University and Research Centre of the Netherlands said his country adopted a strategy to invest in agriculture production and restructuring over the last two decades, aiming to increase productivity while reducing raw materials.
To realise the goal, the Dutch Government gave priority to improving soil quality, building canal systems and promoting mechanization, he said, noting that thanks to the investment, the Netherlands has become the second biggest exporter of agricultural products in the world despite its small area and high population density.
ASEM member economies should consider technology as a solid and decisive factor for the development of regional agriculture amid the unpredictable climate change, he suggested.
Participants at the conference said it is necessary to have regional-level cooperation projects among ASEM member countries in investing resources, transferring technique-experience, and training human resources, in order to help developing countries apply technology more effectively.
Inside a high-tech farm in Vietnam (Source: VNA)
Sein Htoon Linn from Myanmar’s Ministry of Natural Resources and Environment Conversation said his country is willing to share solutions to adapting to natural disasters, which are applied effectively for its agriculture sector.
Meanwhile, Andrea Faulkner, Assistant Secretary at the Australian Department of Foreign Affairs and Trade, said her country hopes to transfer its technology in agriculture, which used dedicated remote sensing satellites to record data of soil quality, humidity, air and atmospheric pressure, helping with the analysis of changes of crops and water quality.
Recorded data will be publicised on the Internet, enabling farmers to closely monitor the development of crop, pest and other threats, thus taking appropriate interventions in right places and time, she said.
The smart cultivation model has helped Australian farmers save fuel, seeds, fertilizers, plant protection products and water, bringing high efficiency and sustainability, she noted.
Participants also said that development economies need to have incentive policies for enterprises joining hi-tech agriculture, especially private firms as they are playing a key role in investing in sustainable agriculture development and climate change adaptation.
Solutions to sea level rise in Vietnam
A series of solutions to adapting to sea level rise caused by climate change have been taken in Vietnam, as the phenomenon is posing grave challenges to the ecosystem, biodiversity and natural resources as well as human life.
Many researches have affirmed that the sea level is rising in the century with the main cause of climate change.
With over 3,260 kilometers of coastline stretching from the north to the south, and about 50 percent of the population living in lowland areas, Vietnam is considered one of the most vulnerable and being negatively impacted by sea level rise.
Sea level rise impacts on Vietnam’s agriculture (Infographic: VNA)
In 2007, the World Bank estimated that a one-meter rise in sea level could affect 10 percent of Vietnam’s population, with a GDP loss of about 10 percent; and a three-meter rise in sea level can directly impact about 25 percent of the country’s population, causing a GDP loss of 25 percent.
It can be seen that consequences of climate change and sea level rise for Vietnam are serious, including a visible risk for poverty reduction targets, and negative impacts on the realization of millennium and sustainable development goals.
As the country cannot avoid sea level rise impacts, scientists have selected adaptation solutions to the problem, focusing on physical interventions; technical solutions for infrastructure construction such as sea dykes, embankments, dams to prevent salty water, or canals to control flood.
Building sea dyke in Vietnam (Photo: VNA)
Ecosystem-based adaptation measures, such as strengthening the planting of coastal protection forests and mangroves, and increasing investments in wetlands and replenishment of land for beaches are applied.
Improving infrastructure facilities and changing farming habits are other solutions. These are made through adjusting management policies and changing standards related to construction, land use and environmental protection, towards minimizing vulnerability and increasing adaptability of the community in the context of climate change and sea level rise.
The last solution to the issue is resettlement and displacement of houses and infrastructure facilities out of areas with high risks of submergence.
Experts said that impacts caused by sea level rise should be considered as an important indicator for the process of policymaking, thus strengthening the adaptability of each locality and the country in general amidst the increasingly complicated climate change and sea level rise.
Government issues resolution on climate change adaptation
The Government has issued Resolution 76/NQ-CP on natural disaster prevention and climate change adaptation.
Its specific goal by 2025 is reducing 30 percent of human losses caused by natural disasters with similar intensity and scale to those occurring in 2015-2020.
Authorities at all levels, organisations, and households across the country will receive full information on natural calamities, while training courses will be opened for natural disaster prevention forces to provide them with necessary skills.
Vietnam’s efforts to cope with natural disasters (Infographic: VNA)
According to the resolution, among the general solutions to natural disaster prevention are improving the resilience of infrastructure, reinforcing and upgrading the river and sea dyke systems as well as water reservoirs and storm shelters, and improving water drainage.
At the same time, flooding prevention projects in big cities like Hanoi and Ho Chi Minh City will be implemented effectively, in addition to the national target programme on climate change adaptation and green growth.
Investment should be poured into modernisation of natural disaster forecasting and monitoring systems in concentrated residential areas and key socio-economic regions.
The resolution also specifies key measures for each region. In the northern and north-central mountainous regions, it is necessary to identify high risk areas of landslides and flash floods to take prompt prevention measures to mitigate human losses and ensure sustainable livelihoods for locals.
The northern and north-central delta regions should ensure safety of dykes and strictly manage the flood prevention, dyke construction and land use planning schemes.
The northern and central coastal regions will focus on raising the capacity to cope with floods and typhoons and building integrated flood management plans for river basins.
The Central Highlands region will build water supply and storage facilities to serve local daily activities and strengthen supervision of water resources and effective operation of irrigation systems for fresh water reserves, while promoting the use of advanced irrigation solutions to saving water for rice and terrestrial crops.
The Mekong Delta is recommended to implement effectively the Government’s Resolution No.120/NQ-CP dated November 17, 2017 on sustainable and climate-resilient development of the region.
Flood destroys a fish farm in Tam Duong district, Lai Chau. As of 17:00 on June 25, the death toll in flood and landslides rose to 14 in the northern mountainous provinces of Ha Giang and Lai Chau, according to the Central Steering Committee for Natural Disaster Prevention and Control. (Photo: VNA)
Vietnam is one of the five countries hardest hit by natural disasters. Over the past two decades, natural disasters left over 400 people dead and missing each year, caused economic losses equal to about 1-1.5 percent of GDP, and affected people’s living environment and conditions, as well as socio-economic activities and sustainable development of the country./.
La France considère l’Asie du Sud-Est comme un marché potentiel et l’ASEAN et comme un partenaire économique important de sa politique en Asie.
La France cultive en effet de bonnes relations avec l’ASEAN et avec tous ses membres, et ce dans tous les domaines, de la politique à l’économie en passant par la culture et l’éducation.
Ces dernières années, les dirigeants de la France ont reconnu l’importance du marché de l’ASEAN. Avec sa population de plus de 600 millions de personnes (environ 9% de la population mondiale), l’ASEAN est un grand marché avec une croissance de 5 à 7%/an.
L’ambassadeur de France auprès de l’ASEAN, Jean-Charles Berthonnet a présenté en septembre dernier à Jakarta, ses lettres de créance à Lim Jock Hoi, secrétaire général de l’ASEAN. Photo: asean.org
La naissance de la Communauté économique de l’ASEAN est un grand pas pour accroître l’attractivité de la région. Le processus d’intégration de l’ASEAN a favorisé l’ouverture et le libre-échange, offrant ainsi aux investisseurs et aux entreprises étrangères une alternative nouvelle et innovante aux grands marchés comme la Chine ou l’Inde
En outre, la partie française a également noté que les entreprises européennes sont bien accueillies dans la région depuis le retrait des États-Unis de l’accord de partenariat transpacifique. C’est une attention et un axe stratégique pour le développement des entreprises françaises, dont beaucoup d’activités visent à stimuler la promotion de la technologie et des produits français dans les pays d’Asie du Sud-Est.
Le séminaire, intitulé “ASEAN – un marché majeur pour l’économie créative” s’est tenu à Paris le week-end dernier par le Sénat français en coopération avec Business France, l’agence gouvernementale chargée de la promotion du commerce extérieur a été une de ces activités.
Le secrétaire général de l’ASEAN, Lim Jock Hoi. Photo: asean.org
Selon les données du Trésor français, l’ASEAN est le deuxième partenaire commercial de l’Asie, avec un chiffre d’affaires bilatéral de 31 milliards d’euros en 2017, en hausse de 5,9% par rapport à l’année précédente. Les exportations françaises ont légèrement augmenté pour atteindre 3,7%, tandis que les importations ont fortement augmenté pour atteindre 8,1%. En particulier, la part de marché de la France dans la région était d’environ 1,6%. Bien que ce taux ne soit pas élevé, il reste presque stable en 10 ans. C’est une tendance relativement positive par rapport aux autres marchés où la part de marché de la France a tendance à diminuer.
Les exportations françaises vers la Thaïlande ont augmenté de 33%, la Malaisie de 23%, Singapour de 10%, le Vietnam de 7,9%, le Myanmar de 5,1%. Ces données montrent que les produits originaires de la France sont bien accueillis sur les principaux marchés.
L’ambassadeur de France au Vietnam, Bertrand Lortholary : “L’ASEAN est un marché potentiel pour l’investissement français.”
L’investissement français en Asie du Sud-Est est assez important. En 2017, l’investissement direct de la France dans l’ASEAN atteignait environ 16 milliards d’euros, le troisième en importance, après les investissements français en Chine et au Japon.
L’ambassadeur de France au Vietnam, Bertrand Lortholary, a déclaré que l’ASEAN est un marché potentiel pour l’investissement français, dont le Vietnam peut être considéré comme un bon exemple car environ 60% des exportations vietnamiennes sont des produits d’entreprises à capitaux étrangers.
Au Vietnam, les entreprises françaises ont gagné une certaine position avec environ 300 projets en opération. De plus, de nombreuses autres entreprises explorent activement les opportunités d’investissement. “La France peut gagner une bonne position dans cette région en mutation rapide”, a-t-il déclaré.
Le 31e Sommet de l’ASEAN qui a eu lieu dans la capitale philippine Manille,s’est concentré au maintien de la paix, de la stabilité et à l’intensification de la coopération régionale. Photo: AFP/VNA
Jacky Deromedi, présidente de l’Assemblée parlementaire France-Asie du Sud-Est et coprésident de l’atelier, a déclaré que les entreprises françaises sont les bienvenues dans la région. Elle encourage les entreprises françaises à venir dans cette zone car «l’Asie du Sud-Est présente tous les avantages. C’est une région de décollage économique fort, un marché potentiellement énorme».
Selon l’ambassadeur de Singapour en France, Zainal Arif Mantaha, la progression régulière de la classe moyenne, qui devrait quadrupler d’ici 2030, offre de belles opportunités aux entreprises françaises dans les domaines tels que les services, l’industrie de l’aviation, les produits de luxe ou l’industrie alimentaire. L’ASEAN est prête pour de nouvelles opportunités, en particulier dans l’économie créative et l’économie numérique.
Joffrey Célestin-Urbain prononce son discours enthousiaste sur l’avenir prometteur des entreprises tant vietnamiennes que françaises après l’EVFTA, lors d’un colloque en décembre dernier à Asia Center à Paris.Photo: Asia Center
Joffrey Célestin-Urbain, sous-directeur des relations économiques bilatérales chez Direction générale du Trésor français, a déclaré que les infrastructures ou le changement climatique étaient des domaines d’investissement où la France avait un aussi avantage majeur dans la région.
En Asie du Sud-Est, le besoin de construction des infrastructures est énorme. La Banque asiatique de développement estime que la région a besoin d’environ 3.150 milliards de dollars d’investissements dans ce secteur entre 2016 et 2030, soit environ 200 milliards de dollars par an, soit environ 5% du PIB de la région.
Quatre pays de la région sont parmi les pays les plus vulnérables au changement climatique. Ces prochaines années, ils devront investir environ 200 milliards de dollars pour s’adapter au changement climatique.
Cependant, selon Joffrey Célestin-Urbain, l’ASEAN est également confrontée à de grands défis. Dans le contexte où le monde est dans une période complexe caractérisée par de nombreuses inquiétudes quant à l’avenir du commerce international, l’ASEAN est considérée par le milieu d’affaires français comme très ouverte au commerce international.
L’intégration économique croissante de l’Asie du Sud-Est et les perspectives d’investissement et de commerce entre la France et l’ASEAN en général et les membres de l’ASEAN en particulier contribuent au dynamisme économique de la France. – VNA
Nhường cho học trò từ manh áo mặc, đôi dép đi, sửa cho trò từng câu từng chữ, dạy trò từ tri thức, phương pháp nghiên cứu khoa học, đến nhân cách làm người, những câu chuyện về nhà giáo nhân dân, nhà sử học bậc nhất Việt Nam Phan Huy Lê cứ nối dài mãi theo miền ký ức, trong niềm tiếc thương vô hạn của giáo sư Nguyễn Quang Ngọc, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong câu chuyện với phóng viên VietnamPlus, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc chia sẻ, ông rất tự hào khi được làm học trò của thầy Phan Huy Lê suốt 50 năm qua.
Ánh mắt xa xăm như nhìn về hoài niệm, ngoài kia là ánh sáng đèn đường buổi đêm vàng nhạt hắt hiu như lòng người buồn trĩu, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc kể cho tôi nghe những kỷ niệm về người Thầy mình vô cùng yêu kính mà như kể cho chính ông để vơi đi nỗi nhớ:
“Tôi là học trò của thầy Lê tính đến bây giờ là đúng 50 năm, bắt đầu từ năm 1969, khi tôi là cậu sinh viên đại học. Thầy Lê là người trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ, dìu dắt, rồi giữ tôi lại làm trợ lý cho Thầy, hướng dẫn từ cử nhân lên đến tiến sỹ, sau này là lên phó giáo sư, giáo sư. Phải nói cả cuộc đời và sự nghiệp của mình tôi được Thầy nâng đỡ, tạo điều kiện, dạy cho đến ngày hôm nay, đến lúc thầy nhắm mắt.
Thầy rất bình dị, đôn hậu, tận tình và ân nghĩa, dạy học trò đến tận ngọn nguồn bằng cả bầu nhiệt huyết. Khóa luận tốt nghiệp đại học của tôi, tôi còn giữ đến tận bây giờ, bởi ở đó, Thầy chữa cho tôi từng câu, từng chữ, cẩn thận, chi tiết vô cùng. Thỉnh thoảng, tôi vẫn mang ra cho học trò xem. Những điều Thầy dạy, chúng tôi cũng học theo, rồi đem ra dạy học trò mình, nhưng tất nhiên không làm được như Thầy.
Một người đứng đầu ngành sử nói riêng và ngành khoa học xã hội nói chung, nhưng là một nhà sư phạm tuyệt vời, vị tha, nhân ái, hết lòng vì lớp kế cận. Chúng tôi là những người may mắn vì đã được là học trò của thầy Lê.
Thầy là người nghiêm khắc nhưng rất tế nhị và bao dung trong ứng xử rất với học trò. Chúng tôi khi đó tuổi còn trẻ, không tránh khỏi mắc lỗi, bồng bột, Thầy nhắc nhở nghiêm khắc, nhưng sau đó luôn cười hiền hậu. Tôi chỉ duy nhất một lần chứng kiến Thầy đuổi sinh viên ra ngoài lớp. Đó là lần Thầy đang say sưa giảng bài thì thấy một sinh viên cứ lúi húi đọc tiểu thuyết. Phải nói thời chúng tôi đi học sách ít lắm. Vì thế, có sách hay là chuyền tay nhau đọc, mỗi người một tiếng thôi. Thầy lên lớp thầy rất nhiệt tình, dốc hết bầu nhiệt huyết, nên khi phát thầy phát hiện ra, thầy rất bực mình và đuổi ra ngoài.
Giáo sư Phan Huy Lê cùng các chuyên gia khảo sát tại di tích Hoàng Thành Thăng Long. (Ảnh: Đinh Thuận/TTXVN)
Nhưng sau khi cậu sinh viên xin lỗi thì Thầy lại vỗ vai, cho vào học và nhắc lần sau không được như thế nữa.
Lần đầu tiên tôi đứng lớp, Thầy cho cả bộ môn đến dự, tôi rất căng thẳng khi thấy tất cả các thầy cô ngồi bên dưới. Tôi giảng xong, Thầy họp bộ môn lại, yêu cầu tất cả mọi người cho ý kiến đóng góp về bài giảng.
Tôi nhớ mãi lần đó, Thầy bảo: “Cậu giảng thì được nhưng cậu trình bày trên bảng như thế thì không ai chấp nhận được. Cái bảng phải kẻ đôi ra, một bên ghi các đề mục chính, để học sinh thấy được lớp lang của bài giảng, một bên là phần thêm những từ, chữ, nội dung bổ trợ kèm trong bài giảng, bên đó thậm chí viết chồng lên cũng không sao.” Những điều đó tôi vẫn ghi nhớ và áp dụng đến bây giờ.
Thầy là người rất thương học sinh. Thời bao cấp khó khăn thiếu thốn đủ thứ, mua gì cũng phải có tem phiếu, chia nhau từ gói mì chính, từ tấm áo, manh quần. Thầy luôn bảo cán bộ trẻ cần phải ăn mặc chỉn chu, nên thường nhường hết cho chúng tôi. Có đôi dép nhựa Thầy cũng nhường.
Những bài học thầy Lê dạy cho chúng tôi không phải chỉ trên sách vở, mà ngay trong công việc hàng ngày. Đó là một người rất kỳ lạ, kỳ lạ vì ông là ở ông luôn toát lên nhân cách một nhà sử học. Ông luôn nói, nhà sử học phải đi đến tận cùng sự thật, đến tận nơi, nhìn tận mắt, chứ không chỉ ngồi đút chân gầm bàn mà viết.
Một lần gần đây, chúng tôi tổ chức một hội thảo về lịch sử ở Phú Yên. Lãnh đạo tỉnh muốn mời Thầy đi thăm một số danh lam của tỉnh, nhưng Thầy bảo chỉ có một chỗ Thầy muốn đi lắm, không đi không được: “Ở Việt Nam cứ nói mãi đến Thủy Xá-Hỏa Xá nhưng mình chưa đến bao giờ, cho mình đi đến đó”.
Đường đến Thủy Xá-Hỏa Xá phải xuyên vào rừng sâu, điều kiện khó vô cùng, trong khi Thầy đã ngoài 80 tuổi, nên tôi có ý can ngăn, nhưng thầy vẫn quyết đi. Đi đến Hỏa Xá chỉ còn là khu nghĩa địa, khu rừng cấm của tộc người Jrai, thế mà cụ mê mẩn chui vào trong rừng ma. Trời thì nóng, muỗi nhiều kinh khủng, đến tôi còn ngại, thế nhưng ông cụ sử học cứ mò mẫm nghiên cứu, mê mải đến mức tôi kéo đi cũng không đi. Mọi người thì mệt, nhưng dường như Thầy không hề thấy mệt.
Sau một hồi, Thầy ra vỗ vai tôi, bảo: “Làm nghiên cứu lịch sử phải đi như thế viết sử mới thật được. Mình hơn 80 rồi, chắc không đi được lần thứ hai, nhưng cậu thì nên cố gắng đi lần nữa”. Tôi vừa thở dốc vừa đáp: “Thôi em cũng sắp về hưu rồi, chắc em không đi được lần nữa đâu, để em sẽ bảo học trò của em đi.” Thầy nghe và cười hể hả.
Viết sử là phải đi, đó cũng là lý do để dù đã bước vào tuổi bát tuần rồi mà Thầy vẫn hăng hái dẫn đầu các đoàn khảo sát thực địa từ Thăng Long, Sơn La, Thái Nguyên, Tây Đô, Lam Sơn, Lũng Nhai, qua Triệu Phong, Ái Tử, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc…, cho đến Mô Xoài, Bến Nghé, Đồng Nai, Óc Eo, Gò Tháp và ra đến Trường Sa.
Cách đây khoảng hơn một tháng, lúc Thầy chuẩn bị đi Trường Sa, tôi cũng ngại cho thầy, vì thầy cao tuổi. Chưa từng có ai ra Trường Sa khi đã 84 tuổi như Thầy. Thầy rất nghiêm nghị nói : “Làm sử đất nước mình thì không thể không ra Trường Sa cậu ạ. Ra để viết sử cho đúng, viết sử cho thật.”
Cho đến tận khi Thầy gần mất, tôi vẫn luôn được Thầy dạy dỗ như vậy, đã làm sử là phải đi đến tận cùng sự thật, đi đến tận nơi, nhìn tận mắt, thì mới có thể hiểu đúng được lịch sử.
Thầy đặc biệt quan tâm đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Đó cũng là lý do từ năm 1992, Thầy đã là người gợi ý tôi chủ nhiệm đề tài lịch sử về chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa, Hoàng Sa, dù khi ấy, vấn đề biển đảo vẫn chưa được đề cập nhiều như bây giờ. Đó là mẫn cảm lịch sử của một nhà lịch sử tâm huyết, tài năng.
Thầy Lê có lẽ là một trong số không nhiều những giáo sư cao tuổi nhưng vẫn sử dụng thành thục những công nghệ tin học hiện đại vào trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy. Ông lướt Macbook, dùng Power Point… Tôi biết nhiều người ở tuổi ông không biết dùng máy tính và Internet.
Đó là một người không ngừng học hỏi, không ngại tiếp cận những cái mới và luôn cập nhật công nghệ hiện đại.
Tôi nhớ khoảng năm 1989, Thầy đi nước ngoài về và bảo: “Họ có cái máy gì lạ lắm, đánh máy chữ xong lại xóa đi được,” rồi Thầy bắt đầu tìm hiểu và có thể nói Thầy là một trong những người tiên phong ở Việt Nam biết về thiết bị mới này. Năm 1990, tôi có dịp sang Hà Lan và biết đó là máy tính, khi đó máy tính còn rất đơn sơ và cồng kềnh.
Đã có nhiều tác phẩm viết về giáo sư Phan Huy Lê. (Ảnh: Bích Hà/TTXVN)
Đầu những năm 90, Thầy hợp tác với Australia và phía bạn trang bị cho trường Đại học Quốc gia một phòng máy tính có kết nối Internet. Đây gần như là phòng máy tính kết nối Internet đầu tiên của Việt Nam.
Khi Thầy cử tôi đi học về máy tính và Internet ở nước ngoài, tôi đã tự hứa với mình phải nỗ lực học tập, vì thầy mình nhiều tuổi như vậy vẫn nỗ lực học công nghệ mới thì mình không thể không cố gắng. Tôi sử dụng được máy tính, các công nghệ hiện đại, đó cũng là học từ Thầy. Thầy luôn luôn là một tấm gương lớn về mọi phương diện như vậy.
Có lẽ vì luôn luôn tiếp cận những cái mới nên suốt hơn nửa thế kỷ, Thầy luôn là nhà sử học, nhà khoa học xã hội nhân văn hàng đầu Việt Nam, dẫn dắt nền sử học Việt Nam trong chặng đường 60 năm qua.
Thầy trở thành một trong những nhà sử học hàng đầu cả nước từ khi còn rất trẻ, chưa đầy 30 tuổi. Tầm của một người đứng đầu đã hình thành từ rất sớm, nhưng giữ được lâu như vậy trong khi nền sử học luôn luôn thay đổi, với nhiều sự tác động của xã hội, thì đó là điều rất đặc biệt. Đó là vì Thầy đã không ngừng nghiên cứu khoa học và liên tục cập nhật tri thức mới. Với hàng trăm công trình khoa học, có thể hình dung toàn bộ trước tác của Giáo sư Phan Huy Lê được chia ra thành 7 lĩnh vực khác nhau. Thật hiếm có một học giả có khối lượng các công trình nghiên cứu đồ sộ và đạt đến đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực chuyên môn như thế.
Khi Thầy 80 tuổi, tôi cùng một giáo sư người Nhật Bản và một giáo sư người Pháp soạn một cuốn sách về Thầy. Chúng tôi trao đổi, thảo luận và thống nhất dùng tên sách là “Nhân cách sử học”. Đó cũng là điều nổi bật nhất trong con người và sự nghiệp của giáo sư Phan Huy Lê, một nhân cách sử học cao cả, mẫu mực, điển hình mà không phải một người có sự nghiệp lớn nào cũng có nhân cách lớn như thế. Nhân cách lớn làm nên sự nghiệp lớn, sự nghiệp lớn càng được nâng đỡ bởi nhân cách lớn.
Khi đặt vấn đề xây dựng bộ Quốc sử Việt Nam với 30 tập, không có giáo sư Phan Huy Lê thì không thể làm được bộ sử đồ sộ ấy, nên dù Thầy đã ngoài 80 tuổi, chúng tôi vẫn ra sức vận động Thầy đứng ra dẫn dắt, làm tổng chỉ huy. Thầy đã nhận lời với trách nhiệm lớn lao của một nhà sử học với đất nước. Dường như biết trước thời gian cho mình không còn nhiều, cụ đã dốc sức làm việc. Chưa bao giờ tôi làm các công trình, dự án với cụ mà cụ lại đôn đốc, thúc giục liên tục như vậy.
Bây giờ, khi Thầy đã ra đi, tuy bộ sử vẫn chưa hoàn thành, nhưng về cơ bản đã có bản thảo, Thầy cũng đã có những chuẩn bị và chỉ đạo. Chúng tôi sẽ cố gắng làm theo các chỉ đạo đó, chắc một, hai năm nữa thì sẽ hoàn thành.
Là người đi theo Thầy từ lúc còn rất nhiều khó khăn, tôi càng hiểu ở Thầy là một tấm gương lớn, một nhà sử học chân chính, một người thầy tuyệt vời. Tên ông đã trở thành niềm kiêu hãnh của biết bao thế hệ học trò, của đồng nghiệp trong nước và quốc tế.”
Vietnam, uno de los países más vulnerables al cambio climático
Cambio climático genera varias afectacciones graves en Vietnam
Se prevé que Vietnam sea uno de los cinco países en desarrollo más afectados por el cambio climático. Si la temperatura en la Tierra subiera en un grado y el nivel del mar ascendiera en un metro, el país indochino sufrirá numerosos impactos negativos de este proceso
– El pronóstico metodológico será más difícil debido a su carácter extraodinario.
– La subida del nivel del mar reducirá la superficie de la tierra en 12,2 por ciento y afectará a la residencia de unos 17 millones de habitantes.
La subida del nivel del mar reducirá la superficie de la tierra en 12,2 por ciento y afectará a la residencia de unos 17 millones de habitantes.
– Mayor cantidad de enormes huracanes.
– La subida de la temperatura y el altibajo de la precipitación generará grandes afectaciones a la producción agrícola y los recursos hídricos. Una gran parte de los deltas del río Mekong y del río Hong, y las regiones costeras centrales de Vietnam serán inundado.
De acuerdo con el director de la Agencia alemana de Cooperación Internacional en Vietnam, Jasper Abramowski, la sequía, la elevación del nivel del mar, el incremento de la precipitación y el número de huracanes, generan inmensas pérdidas socioeconómicas. Se estima que el Producto Interno Bruto del país sudesteasiático se disminuya anualmente en uno o dos por ciento por esta causa, y esta cifra tiende a aumentarse en el futuro. Al mismo tiempo, Vietnam también enfrenta varios desafíos provocados por la emisión de gases de efecto invernadero.
Sequía en campos de arroz en la provincia centrovietnamita de Binh Thuan.
Por otro lado, se registra en la actualidad una tendencia alcista de la contaminación ambiental, lo que conduce a una disminución grave de la superficie de bosques naturales, la polución de los recursos hídricos y el empeoramiento de la calidad atmosférica en las urbes centrales como Hanoi o Ciudad Ho Chi Minh.
Can Tho, en foco de atención de ASEM sobre cooperación en respuesta al cambio climático
Esta semana representantes de 53 economías miembros de la Reunión Asia-Europa (ASEM) se reunieron en la ciudad surevietnamita de Can Tho, uno de los centros económicos del Delta del Río Mekong, para intercambiar criterios acerca de los desafíos del desarrollo en medio del cambio climático y la ejecución de operaciones coordinadas en respuesta a ese fenómeno, que permitan dar cumplimiento a los Objetivos del Desarrollo Sostenible.
Tras 20 años, la ASEM se convirtió en el mayor mecanismo de diálogo entre los dos continentes.
Al intervenir en la cita, el vicepremier y canciller de Vietnam, Pham Binh Minh, exhortó a los países desarrollados a desplegar asistencia financiera a los miembros en vía de desarrollo, los que enfrentan, dijo, los grandes y nocivos impactos del cambio climático, a fin de impulsar la asociación multilateral para lograr el desarrollo sostenible.
Binh Minh también destacó la necesidad de fomentar la cooperación del ASEM para encarar esos cambios producidos por el proceso conocido como efecto invernadero, que provoca el llamado calentamiento global.
Abogó por una estrecha colaboración del bloque a fin de buscar alternativas para el tratamiento de los recursos hídricos, los asuntos relacionados con la energía, higiene de alimentos, igualdad de género y reducción de la pobreza, para lograr el desarrollo sostenible.
Un delegado participante en la Conferencia.
La reunión constituyó un foro para que los especialistas presentaran sus opiniones sobre el tema.
Jan Verhagen, experto del Centro de investigación Wageningen en Países Bajos, presentó la política de su país de invertir en la recuperación de terrenos y la automatización del cultivo.
También propuso que las economías miembros de la ASEM consideren que la aplicación de las nuevas técnicas es esencial para el desarrollo de la agricultura en momentos en que el cambio climático evoluciona de manera impredecible.
Esa propuesta fue aplaudida por los miembros, quienes a la vez señalaron los desafíos actuales como las brechas de desarrollo entre los países y la escasez de recursos humanos calificados.
Filip Kusmierski, experto del Ministerio de Medio Ambiente de Polonia, presentó el proyecto del gobierno polaco y sus socios para recolectar, analizar y utilizar datos del sector energético al servicio de la adopción de las decisiones y la asistencia a los planes de acción para el crecimiento verde.
Por su parte, Diji Chandrasekharan Behr, especialista del Banco Mundial, sugirió aplicar las tecnologías de la información en la evaluación de la degradación del terreno, para adoptar medidas dedicadas a garantizar el uso eficiente y sostenible de esos recursos.
Mientras, Robbert Moree, consejero del Ministerio de Infraestructura y Gestión de Agua de Países Bajos, compartió el modelo de utilizar arena natural para fortalecer la costa.
Plantación de manglares en el Delta del río Mekong.
El país europeo presentará, añadió, soluciones y tecnologías de respuesta al aumento del nivel del mar a ciudades deltaicas en el mundo, entre ellas Can Tho de Vietnam.
A su vez, Christian BrixMoller, encargado de negocios en la embajada de Dinamarca en el país indochino, subrayó la importancia de promover la propaganda sobre la necesidad del ahorro de energía.
Se habló también de la capacitación de recursos humanos para hacer frente a las variaciones del clima generadas por la acción del Hombre y sobre el impulso de la asociación Asia-Europa por el desarrollo sostenible.
Los asistentes coincidieron en la necesidad de promover proyectos interregionales destinados a impulsar la transferencia de tecnología y garantizar los recursos financieros y humanos para la investigación y la aplicación de técnicas modernas en los países en vías de desarrollo.
También manifestaron la disposición de compartir experiencias y los modelos aplicados con éxito en sus respectivas naciones y patentizaron su apoyo a los mecanismos de colaboración subregional y regional, incluida la cooperación Mekong- Danubio.
Acordaron que el eje de las acciones de ASEM será la Agenda 2030 por el desarrollo sostenible y el Acuerdo de París sobre el cambio climático, ya que esos pactos tienen una dimensión global y contribuyen a impulsar el avance de la economía verde y de baja emisión de gases contaminantes.
Asistencia de comunidad internacional a Vietnam: De compromiso a acciones
Una construcción hidráulica en Vietnam.
En el marco de la conferencia, la Unión Europea (UE) financia centenares de proyectos en respuesta al cambio climático en Vietnam, destinados la mayoría al desarrollo sostenible en el Delta del río Mekong.
La UE ha financiado dos proyectos en esta región deltaica, a saber, la construcción de una cadena de suministro sostenible del pescado Tra (Pangasius), valorada en cerca de dos millones de euros, y un estudio sobre el cambio climático y la erosión de la costa marítima por un capital de un millón de euros.
Además, el bloque europeo ofreció unos 108 millones de euros para el programa de asistencia al desarrollo energético en las zonas rurales, montañosas e isleñas vietnamitas.
Bosques de manglares en el Delta del río Mekong.
En la provincia sureña de Ca Mau, los gobiernos de Alemania y Australia destinaron casi dos mil 600 millones de dólares para la ejecución de un proyecto relacionado con la protección de las costas marítimas y los manglares.
Alemania también patrocinó un millón de euros para el plan de recuperación de manglares mediante el modelo de cultivo de camarones sostenible y la reducción de residuos.
Mientras tanto, las provincias de Soc Trang y Bac Lieu recibieron asistencias financieras estimadas en millones de euros por parte de Berlín para el mejoramiento de la capacidad administrativa de los recursos naturales en las zonas costeras y el impulso de la diversidad biológica en la localidad.
El gobierno francés ofreció por su parte un préstamo prioritario de más de 52 millones de euros a las provincias de Can Tho, Ninh Binh y Ha Tinh para desplegar las medidas necesarias en respuesta al cambio climático y los fenómenos naturales extremos.
Para prevenir la salinización en el Delta del río Mekong, sobre todo en la provincia de Ben Tre, Dinamarca invirtió unos 34 millones de dólares para la construcción de refugios, ante el riesgo de tormentas e inundaciones; el sistema hidráulico, el transporte, las fábricas de conversión del agua salada en potable y las estaciones de pluviómetros, entre otros.
La región cuenta con varias plantas de energía solar financiadas por gobiernos europeos.
El gobierno dinamarqués también subvencionó millones de euros para instalar 33 plantas de suministro de agua por energía solar en las zonas rurales en la parte deltaica del río Mekong en Vietnam y apoyar al Ministerio de Agricultura y Desarrollo Rural del país indochino a ejecutar el Programa de Asistencia Agrícola.
Asimismo, en la provincia de An Giang, Suecia implementó el proyecto “Mejorar la capacidad y elaborar la estrategia de desarrollo de las plantas electrónicas de cáscaras y fábricas de molino de arroz”, valorado en cerca de 345 mil euros, mientras que Rumanía efectuó el plan piloto de la construcción de una zona de conservación biológica y desarrollo ecoturístico sostenible.
Vietnam, comprometido con desarrollo sostenible
El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, y otros líderes participantes en la Cumbre G7 en Canadá.
Primer Ministro Nguyen Xuan Phuc: Vietnam no apostó el medio ambiente al crecimiento económico
En diferentes ocasiones, el gobierno vietnamita ha reiterado que su país no apuesta alcanzar un alto ritmo de crecimiento económico a cualquier costo.
En la actualidad, Vietnam promueve el desarrollo de la energía limpia y renovable, el crecimiento verde y el desarrollo sostenible, y combate resueltamente la descarga de desechos que provoca la contaminación al entorno marino.
Recientemente, en el discurso en la Cumbre ampliada del G7, efectuado en Canadá, el primer ministro vietnamita, Nguyen Xuan Phuc, propuso una iniciativa de crear un foro ampliado de cooperación entre el grupo de países más industrializados y las naciones costeras para enfrentar el cambio climático, la subida del nivel del mar y la protección de ecosistemas marinos y fomentar la colaboración, intercambio de experiencias, transferencia de tecnología y movilización de recursos destinados a estas labores.
El premier Nguyen Xuan Phuc y el presidente de Francia, Emmanuel Macron.
El jefe del gobierno vietnamita reiteró los compromisos de Hanoi de cumplir seriamente la reducción de emisiones según el Acuerdo de París COP21, al tiempo que pidió a los países del G7 y la comunidad internacional continuar apoyando y fortaleciendo la cooperación con el país asiático para mejorar la capacidad de monitoreo y adaptación al cambio climático, la subida del nivel de mar y la intrusión de salinidad, así como la gestión y el uso sostenible de los recursos hídricos en la cuenca baja del Mekong.
En este contexto, Vietnam inauguró el 19 de junio último la sexta Asamblea del Fondo Global para el Medio Ambiente (GEF 6, en inglés) y reuniones conexas en la ciudad centrovietnamita de Da Nang, con la participación de representantes de 183 países miembros.
El evento, de una semana de duración, atraerá la participación de unos mil 500 delegados, incluidos primeros ministros, titulares a cargo del medio ambiente y altos funcionarios; líderes de los organismos de las Naciones Unidas, organizaciones socioeconómicas y empresas.
Vietnam pretende promover en la cita la creación de un Mecanismo Global sobre la reducción de residuos plásticos hacia el objetivo de océanos verdes y limpios, sin residuos plásticos.
Chuyến công du lần thứ ba trong hơn hai tháng của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un với điểm đến duy nhất là Trung Quốc, cùng 3 cuộc gặp thượng đỉnh Trung-Triều liên tiếp, có thể coi là minh chứng rõ ràng về quan hệ nồng ấm trở lại giữa hai nước, đồng thời cho thấy vai trò của Bắc Kinh với tư cách là một nhân tố chủ chốt trong các chuyển động địa-chính trị trên bán đảo Triều Tiên.
Nếu như hai chuyến thăm trước của ông Kim Jong-un, diễn ra trước thềm các cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều và Mỹ-Triều, được ví như buổi “tham vấn đồng minh,” thì chuyến thăm lần thứ ba, chỉ một tuần sau cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều lịch sử ở Singapore ngày 12/6, có thể hiểu là để Bình Nhưỡng thông báo kết quả đạt được cho quốc gia mà nước này coi là đồng minh chủ chốt, cũng là đối tác kinh tế lớn nhất. Điều này một lần nữa khẳng định tầm ảnh hưởng không thể phủ nhận của Trung Quốc trong “bức tranh” địa chính trị trên bán đảo Triều Tiên cũng như trong khu vực Đông Bắc Á.
Ngày 20/6, Hãng Thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) xác nhận nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un thăm Trung Quốc đã có cuộc hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thảo luận về các nỗ lực chung đối với việc phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên. (Nguồn:TTXVN)
Chuyến thăm lần thứ ba của ông Kim Jong-un nhằm tái đảm bảo với Bắc Kinh rằng Bình Nhưỡng sẽ không bỏ qua những lợi ích của Trung Quốc khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên có những bước đi ngoại giao chưa từng thấy.
Vài năm trước, quan hệ Trung-Triều đã trải qua giai đoạn mất lòng tin. Việc Triều Tiên dưới sự điều hành của nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong-un liên tiếp thử hạt nhân và tên lửa, dường như đã làm Bắc Kinh “phật lòng,” thậm chí Trung Quốc coi hành động của Triều Tiên là một sự khiêu khích.
Trong khi Bắc Kinh đang muốn thúc đẩy một môi trường bên ngoài ổn định để tập trung giải quyết các thách thức kinh tế trong nước, việc Triều Tiên liên tiếp thử hạt nhân và tên lửa đã dẫn tới Mỹ tăng hiện diện quân sự, tăng cường phòng thủ tên lửa và hợp tác quân sự với các đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc, đặt ra thách thức lớn đối với an ninh của Trung Quốc.
Trong cục diện chiến lược khu vực Đông Bắc Á và bán đảo Triều Tiên, rõ ràng quan hệ đồng minh Trung-Triều vẫn mang tính ràng buộc nhất định và cả hai “cần tới nhau”.
Quan hệ song phương càng “lạnh nhạt” hơn sau khi Trung Quốc ủng hộ các lệnh trừng phạt quốc tế nhằm vào Triều Tiên. Tuy nhiên, trong cục diện chiến lược khu vực Đông Bắc Á và bán đảo Triều Tiên, rõ ràng quan hệ đồng minh Trung-Triều vẫn mang tính ràng buộc nhất định và cả hai “cần tới nhau.”
Bằng cách khẳng định “mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác chiến lược” sâu rộng với Bắc Kinh trong chuyến thăm lần này, nhà lãnh đạo Triều Tiên rõ ràng đã “bắn một mũi tên trúng nhiều đích.’ Trên bàn đàm phán hạt nhân, nếu được Trung Quốc ủng hộ, Triều Tiên sẽ như được tiếp thêm sức mạnh.
Trên thực tế, Triều Tiên lâu nay vẫn dựa vào mối liên minh với Trung Quốc để vượt qua những giai đoạn khắc nghiệt do lệnh trừng phạt của Mỹ. Không chỉ ủng hộ về mặt chính trị, quan hệ ngoại thương của Triều Tiên hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc.
Chuyến công du lần thứ ba trong hơn hai tháng của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un với điểm đến duy nhất là Trung Quốc. (Nguồn: TTXVN)
Ngay cả giờ đây, khi vị thế và hình ảnh của Bình Nhưỡng đã được cải thiện đáng kể sau những diễn biến tích cực trên bán đảo Triều Tiên, thì quốc gia Đông Bắc Á này vẫn cần sự hậu thuẫn của Trung Quốc, đặc biệt trong việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt, cũng như thiết lập một chiến lược tổng thể để có thể đưa lộ trình thực hiện những cam kết về hạt nhân theo đúng tính toán của Bình Nhưỡng.
Cả Triều Tiên và Trung Quốc đều không muốn quân đội Mỹ hiện diện trên bán đảo Triều Tiên và điều này khiến cả hai phải phối hợp chặt chẽ trong lộ trình phi hạt nhân hóa sắp tới.
Việc liên tiếp gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng phát đi tín hiệu rằng Triều Tiên muốn tìm kiếm sự cân bằng trong quan hệ với Washington, vốn đang có cơ hội được cải thiện sau “cú hích” là cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều, và với Bắc Kinh, đồng minh thân cận với Triều Tiên. Khi tạo một thế cân bằng trong quan hệ với hai nước lớn này, Triều Tiên sẽ được hưởng lợi nhiều nhất.
Về phần mình, Bắc Kinh tất nhiên tận dụng cơ hội bước ngoặt này để xích lại gần hơn với Bình Nhưỡng sau thời gian dài lạnh nhạt. Ngoài những lợi ích về kinh tế và an ninh không thể phủ nhận khi một bán đảo Triều Tiên hòa bình, Bắc Kinh còn có lợi ích chính trị lớn nếu “chìa tay” cho Bình Nhưỡng.
Với vai trò một cường quốc, Trung Quốc chắc chắn không để mình bị gạt ra ngoài lề một tiến trình ngoại giao có thể tái định hình tương quan địa-chính trị khu vực. Nhất là khi Trung Quốc từ lâu vẫn coi mình là một phần quan trọng trong bất cứ giải pháp nào cho vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Sự chuyển hướng trong quan hệ Bắc Kinh–Bình Nhưỡng cũng thể hiện vai trò của Trung Quốc trong khu vực Đông Bắc Á, như một đối tác có trách nhiệm và có ảnh hưởng.
Có lẽ không quá khi nói rằng tiến trình phi hạt nhân hóa Triều Tiên đang đi theo một lộ trình mà Trung Quốc mong muốn.
Thêm vào đó, trong bối cảnh căng thẳng với Mỹ về một loạt vấn đề nhạy cảm tiếp tục gia tăng, quan hệ gần gũi với Triều Tiên, thậm chí ở mức có thể chi phối đối với Bình Nhưỡng, sẽ trở thành “át chủ bài” mặc cả của Bắc Kinh trong các cuộc đàm phán tương lai với Washington.
Tuy nhiên, phải nói thấy rõ rằng Trung Quốc không phải là nhân tố mới trên bàn đàm phán hạt nhân Triều Tiên. Ngoài yếu tố do lịch sử để lại khiến Trung Quốc là thành viên vòng đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, sau khi vòng đàm phán này bị đổ vỡ, Bắc Kinh vẫn nắm thế chủ động, tích cực đưa ra các sáng kiến, tăng cường ảnh hưởng và đóng một vai trò lớn.
Khi bán đảo Triều Tiên cận kề “miệng hố chiến tranh” bởi những màn “khẩu chiến” giữa lãnh đạo Mỹ-Triều, Trung Quốc đã đề xuất cơ chế “đóng băng kép,” theo đó Triều Tiên ngừng thử tên lửa và hạt nhân còn Mỹ và Hàn Quốc ngừng các cuộc tập trận chung để thúc đẩy bầu không khí hòa dịu cho các cuộc đàm phán. Có thể thấy, với tiềm lực, vị trí địa lý và những ràng buộc lịch sử, Trung Quốc luôn có một vai trò nhất định nào đó tại Triều Tiên, và Bắc Kinh luôn nắm bắt thời cơ để khẳng định vai trò này.
Với tiềm lực, vị trí địa lý và những ràng buộc lịch sử, Trung Quốc luôn có một vai trò nhất định nào đó tại Triều Tiên. (Nguồn: TTXVN)
Có lẽ không quá khi nói rằng tiến trình phi hạt nhân hóa Triều Tiên đang đi theo một lộ trình mà Trung Quốc mong muốn. Sau khi Bình Nhưỡng tuyên bố ngừng thử hạt nhân, phá bỏ bãi thử Punggye-ri…, Hàn Quốc và Mỹ đã thông báo ngừng cuộc tập trận chung thường niên quy mô lớn “Người bảo vệ tự do Ulchi” trong năm nay; Seoul cũng mới thông báo ngừng vô thời hạn cuộc tập trận giả định Taegeuk… Các diễn biến này có thể xem là sự hiện thực hóa đề xuất về cơ chế “đóng băng kép” mà Trung Quốc đưa ra.
Việc phía Mỹ đưa ra ý tưởng thay thế hiệp định đình chiến hiện nay giữa hai miền Triều Tiên thành một hiệp định hòa bình để đổi lấy Triều Tiên phi hạt nhân hóa hoàn toàn, cũng nằm trong logic đề xuất của Trung Quốc về việc theo đuổi song song phi hạt nhân hóa và đàm phán một cơ chế hòa bình cho bán đảo Triều Tiên. Có thể thấy, dù không hiện diện trên các bàn đàm phán hạt nhân gần đây, nhưng Bắc Kinh rõ ràng là “chất xúc tác” mạnh cho làn sóng ngoại giao ngoạn mục này, nếu không muốn nói là ở vị trí trọng tâm trong bức tranh địa-chính trị Đông Bắc Á.
Chắc chắn rằng vấn đề gai góc và dai dẳng mang tên hạt nhân Triều Tiên sẽ không thể được giải quyết nếu thiếu sự góp sức của Trung Quốc, bởi căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên kể từ sau cuộc chiến tranh 1950-1953 không chỉ là câu chuyện giữa Mỹ với Triều Tiên, hay Hàn–Triều–Mỹ, mà liên quan đến nhiều bên.
Các cuộc gặp song phương giữa Mỹ với Triều Tiên, hay giữa hai miền Triều Tiên, dù đạt nhiều thỏa thuận, vẫn là bước tái khởi động cho một chu kỳ ngoại giao tích cực mới với sự tham gia của nhiều bên có lợi ích liên quan. Đây sẽ là cơ chế hiệu quả để giải quyết dứt điểm vấn đề hạt nhân ở Đông Bắc Á, từ đó hướng tới một nền hòa bình lâu dài và vững chắc trên bán đảo Triều Tiên./.
Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un nâng ly chúc mừng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh, Trung Quốc hôm 19/6/2018. (Nguồn: AP)
Cứ vào cuối tuần, Nguyễn Dạ Quyên và Julien Brun lại “xách máy ảnh lên và đi,” rong ruổi khắp các vùng miền trên dải đất hình chữ S. Cứ như vậy, sau khoảng 6 năm, hai “kẻ ngoại đạo” ấy đã trình làng dự án “Pot-Au-Phở.”
“Pot-Au-Phở” tập hợp những bức ảnh lấy cảm hứng từ cuộc sống thường nhật ở Việt Nam và “bật mí” về mối liên hệ độc đáo trong ngôn ngữ Việt-Pháp. Triển lãm ảnh “Pot-Au-Phở” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng Tư, tháng Năm vừa qua đã gây được tiếng vang lớn, cho thấy một hướng tiếp cận khác lạ cùng cách thể hiện ấn tượng về sự giao thoa về văn hóa, lịch sử Việt Nam-Pháp.
Không dừng lại ở đó, trong tháng Sáu và tháng Bảy, hai tác giả (Nguyễn Dạ Quyên – Việt Nam và Julien Brun – Pháp) tiếp tục đưa “Pot-Au-Phở” sang Paris (Pháp) để kể câu chuyện về những điểm kết nối thú vị trong ngôn ngữ giữa hai nước.
Nhan đề ‘Pot-Au-Phở’ được ghép bởi từ ‘Pot-au-feu’ (món súp bò hầm) của Pháp và ‘phở’ của Việt Nam, thể hiện nét giao thoa văn hóa Việt-Pháp, hay dấu ấn từ gốc Pháp trong tiếng Việt,” Dạ Quyên chia sẻ.
Từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều vào tiếng Việt. Sự ảnh hưởng này xuất phát từ việc tiếng Pháp được sử dụng nhiều trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và việc giảng dạy ở nhà trường cũng như trong các loại sách/báo ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 19-đầu thế kỷ 20.
Ảnh hưởng này kéo theo sự xuất hiện của nhiều từ gốc Pháp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong khoa học-kỹ thuật. Khi được đưa vào tiếng Việt, những từ này được Việt hóa về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi âm hoặc giảm bớt âm tiết). Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng được tạo ra ngày càng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong việc diễn đạt các khái niệm mới trong xã hội hiện đại.
–Dự án “Pot-Au-Phở” thể hiện một cách tiếp cận, một hướng đi rất khác của chị và người cộng sự Julien Brun trong việc thể hiện nét giao thoa văn hóa, ngôn ngữ giữa Việt Nam-Pháp. Ý tưởng ấy đến với chị như thế nào?
Nguyễn Dạ Quyên: Ý tưởng đó đến một cách khá ngẫu nhiên. Tôi và anh Julien Brun kết bạn với nhau từ khoảng năm 2011. Tôi không thành thạo tiếng Pháp và ngược lại, vốn tiếng Việt của Julien Brun cũng không đủ để chúng tôi có thể nói chuyện. Hàng ngày, chúng tôi dùng tiếng Anh để trao đổi công việc, trò chuyện…
Vô tình, trong một cuộc trò chuyện, tôi có nhắc đến từ “phéc-mơ-tuya” – từ dùng để chỉ một loại dụng cụ khá phổ biến để cài/ghép hai mép vải với nhau – một chiếc khuy kéo, thường có ở các loại quần, áo, túi xách
Julien nghe thấy và bảo, từ ấy nghe quen quen, giống với một từ trong tiếng Pháp. Tôi giải thích rằng, đúng là từ đó có gốc tiếng Pháp (fermeture), “phéc-mơ-tuya” là phiên âm tiếng Việt. Thực tế là, trong tiếng Việt có khá nhiều từ là “từ mượn,” từ có gốc tiếng Pháp như vậy (ví dụ: từ “pa-tê” có gốc tiếng Pháp là “pâté” hay từ “xà bông” được mượn từ từ “savon”…).
Các tác giả không đặt tên cụ thể cho từng bức ảnh (theo kiểu áp đặt ấn tượng chủ quan vào đó); để khán giả đoán xem bức ảnh muốn đề cập đến từ nào. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
Người bạn Pháp của tôi cảm thấy vô cùng thích thú về sự giao thoa này. Khi nói chuyện với Julien, chính bản thân tôi cũng thấy phấn khích và ngày càng tò mò, muốn biết nhiều hơn về vấn đề đó.
Thêm vào đó, thời kỳ ấy, chúng tôi cũng có chung sở thích đi du lịch, khám phá đó đây và chụp ảnh. Thế rồi, chúng tôi nghĩ, “tại sao không kết hợp việc đi chơi và tìm lại, thể hiện sự giao thoa ngôn ngữ, văn hóa ấy qua chính những bức ảnh mình chụp như cách vừa được chơi, trải nghiệm vừa được học?”. Vậy là chúng tôi khoác balô, xách máy ảnh lên và đi…
–Hành trình ấy của chị kéo dài bao lâu?
Nguyễn Dạ Quyên: Chúng tôi đã dành ra khoảng 6 năm cho dự án này và vẫn chưa dừng lại. Tất nhiên, trong khoảng thời gian đó, không phải ngày nào chúng tôi cũng đi và chụp. Chúng tôi thường đi, trải nghiệm, tìm hiểu và chụp ảnh vào những ngày cuối tuần, dịp nghỉ lễ…
Chúng tôi đã đặt chân tới nhiều vùng miền trên cả nước và như khán giả đã thấy, những tác phẩm thuộc dự án “Pot-Au-Phở” được chụp ở nhiều địa điểm từ Bắc vào Nam như: Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Nha Trang, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp… Có những nơi, chúng tôi phải trở đi trở lại nhiều lần để có được những bức ảnh như ý.
Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng được tạo ra ngày càng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong việc diễn đạt các khái niệm mới trong xã hội hiện đại. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
Tất cả các bức ảnh đều là ảnh đen trắng, chỉ có chi tiết, vật dụng (liên quan đến từ có gốc tiếng Pháp) được giữ màu nguyên bản. Chúng tôi không đặt tên cụ thể cho từng bức ảnh (theo kiểu áp đặt ấn tượng chủ quan vào đó); để khán giả đoán xem bức ảnh muốn đề cập đến từ nào.
Khi mới bắt đầu, chúng tôi không hề nghĩ đến việc, có một ngày, những bức ảnh ấy sẽ được mang ra triển lãm; mà chỉ đơn thuần coi đó là một ý tưởng, dự án cá nhân, để khám phá giới hạn của bản thân, xem mình sẽ làm được gì.
Sau một thời gian, bạn bè tới chơi, nhìn thấy tập ảnh và tỏ ra rất thích thú (đặc biệt là những người bạn Pháp). Họ khuyến khích chúng tôi tiếp tục sáng tác thêm nhiều tác phẩm như vậy và nên giới thiệu rộng rãi tới công chúng.
Mặt khác, tôi cũng tự hỏi, liệu trong tiếng Việt có tất cả bao nhiêu từ như vậy? Tôi tìm hiểu trên mạng Internet và nhiều nguồn khác nhưng không có một thống kê cụ thể nào về số lượng từ hỗn chủng này. Vậy là, vào các buổi tối, sau giờ làm việc, tôi lại lật giở Từ điển tiếng Việt và tự thống kê. Kết quả, tôi tìm được khoảng 500 từ như vậy. Tuy nhiên, sau khi “Pot-Au-Phở” ra mắt công chúng, nhiều khán giả (đặc biệt là các bậc cao niên) đã cung cấp thêm nhiều từ khác.
“Pot-Au-Phở” tập hợp những bức ảnh lấy cảm hứng từ cuộc sống thường nhật ở Việt Nam và “bật mí” về mối liên hệ độc đáo trong ngôn ngữ Việt-Pháp. (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
–Chị có kỷ niệm đặc biệt nào trong quá trình thực hiện dự án “Pot-Au-Phở” không?
Nguyễn Dạ Quyên: “Pot-Au-Phở” có một bức ảnh chụp những người đàn ông đi tập bộ thể dục trên đường Trần Phú (Nha Trang) vào buổi chiều cuối năm – 31/12/2011. Khi triển lãm diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều khán giả đã ồ lên thích thú và họ chia sẻ với tôi rằng, khung cảnh ấy khiến họ liên tưởng đến cuộc sống yên bình, thư thả ở vùng Nîmes miền Nam nước Pháp. Điều ấy cũng khiến tôi cảm thấy rất thú vị, giống như việc mình chạm được đến cảm xúc và tạo được sự đồng cảm với khán giả.
Bên cạnh đó, có một câu chuyện khác cũng khiến tôi rất xúc động. Tại cuộc triển lãm đầu tiên tại không gian TOONG Minh Khai (số 126 Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Hồ Chí Minh), sau ngày khai mạc 7/4, một bạn tên là Linh Đan nhắn tin cho tôi, hỏi về một bức hình.
Nhân vật trong bức hình là cha của bạn Linh Đan. Búc ảnh đó chụp cuối năm 2011. Nhân vật trong bức hình qua đời vào giữa năm 2012 do bệnh hiểm nghèo. Gia đình không có nhiều ảnh tư liệu nên muốn xin bức hình ấy làm kỷ niệm. Tôi coi đó như một mối duyên trong cuộc sống bộn bề âu lo này.
–Theo như chia sẻ của chị, mọi việc xung quanh “Pot-Au-Phở” đều đến với chị một cách tình cờ. Vậy chị có định nối dài hành trình của “Pot-Au-Phở” để khám phá thêm những bất ngờ trong cuộc sống không?
Nguyễn Dạ Quyên: Chắc chắn là có rồi! Bởi càng khám phá, đào sâu vào chủ đề này, tôi lại càng cảm thấy thú vị.
Thực tế, “Pot-Au-Phở” vẫn đang tiếp tục hành trình triển lãm sau phản hồi tích cực của cộng đồng Pháp-Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngay tại thời điểm này, một vài tác phẩm thuộc dự án “Pot-Au-Phở” đang góp mặt ở triển lãm nhóm tại Foyer Vietnam Paris trong khuôn khổ lễ hội “ICI Vietnam 2018” (diễn ra từ ngày 9/6-15/7 tại Pháp).
Từ triển lãm này, các bạn trẻ chia sẻ rằng, họ thấy tự tin và hứng thú hơn với việc học tiếng Pháp. Còn với những khán giả trung niên hoặc cao tuổi, “Pot-Au-Phở” gợi lại những ký ức tuổi thơ với những hình ảnh về búp-bê, cà-mên (một loại vật dụng bằng kim loại có nắp đậy và quai xách, dùng để đựng thức ăn – giống như cặp lồng).
–Dạ Quyên tự bỏ thời gian, công sức và tiền bạc để theo đuổi “Pot-Au-Phở.” Nhiều bạn bè cũng bảo chị “khùng.” Vậy, đã có khi nào chị cảm thấy mệt, chán nản và muốn dừng lại chưa?
Nguyễn Dạ Quyên: Hiện tại, tôi chưa nghĩ đến chuyện dừng lại. Mỗi người có lựa chọn riêng cho cuộc sống của mình.
Bên cạnh công việc chính của dân văn phòng, tôi còn tham gia điều phối sân chơi “Everyone Is An Artist Vietnam” từ năm 2012. Đó là nơi tôi góp phần giúp các bạn trẻ có tiềm năng và nhu cầu chia sẻ sáng tác của mình kết nối với nhau.
–Thời gian trước, tên Dạ Quyên gắn với những triển lãm tranh. Giờ đây, cái tên ấy lại đi liền với dự án nhiếp ảnh. Lý do nào khiến chị rẽ ngang như vậy?
Nguyễn Dạ Quyên: Hiện nay, nghệ sỹ đương đại khá đa năng. Họ thường không chỉ sử dụng một công cụ duy nhất hay một phương pháp độc nhất để sáng tác. Tôi quan niệm, nghệ sỹ luôn cần làm mới chính mình và không được ngại thử thách ở những đề tài, thể loại mới. Chính những thử thách ấy sẽ giúp chúng ta khám phá giới hạn, tiềm năng của chính mình.
Dù ở lĩnh vực, thể loại và đề tài nào, tôi vẫn nhất quán với quan điểm rằng: Với nghệ thuật, không có gì là không thể cũng như không có một nguyên tắc cứng nhắc và không có chuyện đúng-sai. Nếu tồn tại vấn đề thì đó chỉ đơn giản là, giữa người giám tuyển và người sáng tác chưa tìm được tiếng nói chung nên tác phẩm chưa thể được trưng bày.
–Chị không xuất thân trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Xuất phát điểm của chị cũng không phải là những ngôi trường đào tạo nghệ thuật chuyên nghiệp ở Việt Nam. Vậy, khi theo đuổi con đường này, chị có thấy mình liều không?
Nguyễn Dạ Quyên: Tôi tin rằng, mỗi con người đều là một nhân tố bí ẩn, tiềm tàng những khả năng riêng liên quan đến nghệ thuật. nếu được tạo điều kiện tiếp xúc với nghệ thuật và được khuyến khích tích cực, mỗi người đều có thể trở thành nghệ sĩ theo kiểu mới.
Tôi tự học và sáng tác từ năm 2010. Việc học và sáng tác này thường diễn ra vào cuối tuần. Khi còn trong độ tuổi cắp sách tới trường, cũng như nhiều bạn bè cùng trang lứa, tôi chọn “học ra một cái nghề” để không thất nghiệp. Lúc ấy, tôi nghĩ là không ai có thể giàu hay kiếm được tiền từ nghệ thuật. Cuộc sống của nghệ sỹ thường bấp bênh.
Thế nhưng, thực tế lại không phải như vậy. Khi trưởng thành, tôi thấy thành công trong công việc không thật sự mang lại cho mình một cảm giác trọn vẹn. Tôi vẫn luôn cảm thấy cuộc sống của mình thiếu một điều gì đó. Rất may, thời điểm đó, tôi được gia đình khuyến khích học vẽ và rồi, con đường sáng tác của mình bắt đầu.
–Chị dung hòa bằng cách nào giữa lý trí của một người phụ nữ hiện đại (với những áp lực về công việc, gia đình) với phần lãng đãng, mơ màng của con người nghệ sỹ? Nếu đặt lên cân, phần nào sẽ nặng hơn trong con người Dạ Quyên?
Nguyễn Dạ Quyên: Trong cuộc sống, mỗi người cần rất nhiều thứ để cảm thấy trọn vẹn. Tôi cho rằng, trong hai vế bạn đưa ra, không nhất thiết là phải chọn một vế theo kiểu ‘ông Trời không cho ai tất cả, được cái nọ sẽ mất cái kia.’ Ngược lại, tôi nghĩ, nếu thực sự muốn và biết khéo léo sắp xếp thì sẽ có được cả hai điều trên cùng một lúc.
Tôi cân bằng được công việc thường nhật và việc sáng tác; kết hợp song song công việc văn phòng và sáng tác tranh, ảnh. Nói cách khác, tôi chọn hướng đi: lao động, làm chủ kinh tế, độc lập trong cuộc sống để rồi có khả năng tự chi trả, đầu tư cho sáng tác.
Tất nhiên, dù kết hợp song song nhưng chắc chắn có lúc, phần này sẽ trỗi dậy, lấn át phần kia bởi trong cuộc sống, không có gì là không thể, chỉ là thời điểm, địa điểm có phù hợp hay không.
Những tác phẩm thuộc dự án “Pot-Au-Phở” được chụp ở nhiều địa điểm từ Bắc vào Nam như: Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Nha Trang, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp… (Ảnh: Nghệ sỹ cung cấp)
–Trân trọng cảm ơn chị với những chia sẻ thú vị./.
Nguyễn Dạ Quyên sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại cuộc thi “Sáng tạo châu Á” được tổ chức lần đầu tiên vào 2014, Nguyễn Dạ Quyên được trao hai giải thưởng. Cuộc thi được tổ chức với mục tiêu tìm kiếm, hỗ trợ phát triển lĩnh vực sáng tạo và nghệ thuật tại châu Á. Ban giám khảo cuộc thi gồm những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật đến từ các quốc gia: Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Indonesia…
Trước “Pot-Au-Phở,” Nguyễn Dạ Quyên từng có nhiều triển lãm được tổ chức ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Tokyo, Osaka (Nhật Bản), Bangkok (Thái Lan)…
Tác giả Julien Brun đã sống, làm việc và sáng tác ở Việt Nam được 13 năm. Ông từng là Phó chủ tịch Hiệp hội thương mại Pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Julien Brun đến với nhiếp ảnh từ năm 10 tuổi. “Pot-Au-Phở” là triển lãm đầu tiên của Julien Brun tại Việt Nam.
Cái thời tôi còn nhỏ, mà không, có lẽ đến khi đã đi làm báo nhiều năm, tới tận thời điểm đầu thế kỷ 21 này, có những cụm từ cho thấy báo chí đồng nghĩa với sự chuẩn mực và chính xác. “Báo đăng tin rồi đó” – ai mà nói thế thì nhiều người hoặc là tin luôn, hoặc chạy đi mua báo. “Dám cãi đài hả” – đài nói rồi thì quá chuẩn, có thông tin đúng thì mới dám so sánh lời mình với chương trình trên đài phát thanh, truyền hình chứ. Tất nhiên không phải lúc nào thông tin trên báo đài cũng chính xác 100%, nhưng quan niệm chung thời đó là như thế.
Gần đây chúng ta thường nói nhiều đến chuyện báo chí cần phải giành lại niềm tin của công chúng. Chẳng cứ ở Việt Nam mà trong nhiều nghiên cứu trên thế giới, các chuyên gia luôn khẳng định rằng, giành lại niềm tin của công chúng chính là điều kiện tiên quyết giúp cho báo chí có thể tồn tại. Việc này còn khó hơn trong thế giới kỹ thuật số, khi mà sự trung thành của độc giả có thể dễ dàng trôi qua sau một cái nháy mắt.
Giành lại niềm tin của công chúng chính là điều kiện tiên quyết giúp cho báo chí có thể tồn tại
Tạp chí Forbes Magazine mới đây đăng tải một khảo sát năm 2018 của Gallup theo đó dân Mỹ tin tưởng các thủ thư, binh sỹ, giáo viên phổ thông và bác sỹ hơn là những người trong giới truyền thông. Tương tự, mức độ tin tưởng của công chúng Australia đối với các y tá, bác sỹ, giáo viên, chánh án và các nhà khoa học cao hơn rất nhiều so với các nhà báo. Tại Việt Nam, nhà báo còn nhiều lúc còn bị gắn với những từ không mấy thân thiện – tất nhiên vì nhiều lẽ, nhưng một nguyên nhân quan trọng là sự sa sút về chất lượng nội dung trên báo chí khiến độc giả phải lên tiếng bỉ bôi về chuyện “câu view” hoặc tin sai sự thật.
Ở không ít quốc gia, trên thang đánh giá về độ tin cậy, nhà báo xếp ở thứ hạng cực kỳ thấp, cùng ngang hàng với các nhân viên bán hàng, luật sư, người môi giới bất động sản, bán xe cũ và một số đối tượng vốn luôn bị coi là thiếu thành thật. Thực sự không rõ điều này có ý nghĩa gì? Không lẽ công chúng nghĩ rằng các nhà báo quả là những người không thành thực? Hay họ cho rằng các nhà báo có định kiến, không minh bạch trong quá trình tác nghiệp?
Ảnh minh họa. (Nguồn: Star-navigation.com)
Một số khảo sát chỉ ra rằng việc thiếu niềm tin liên quan đến bản chất thích giật gân của tin tức, vì thế công chúng cảm thấy thông tin bị thổi phồng quá đáng hoặc bị ít nhiều bóp méo để thu hút sự quan tâm. Cũng có những đánh giá gần đây về các nghề nghiệp được tin cậy, thì nhiều người quan niệm rằng báo chí thời nay không phấn đấu để phụng sự cộng đồng, cả các nhà báo lẫn cơ quan mà họ làm việc đang vì những lợi ích riêng. Còn cả tỷ thứ lý do khác, cộng thêm câu chuyện fake news và cái gọi là “hậu sự thực” trong thời gian qua, khiến công chúng thay đổi suy nghĩ với báo chí.
Giáo sư Jane Suiter, Giám đốc Viện Tương lai Báo chí và Truyền thông thuộc Đại học Dublin nhận định, niềm tin của công chúng đối với “các thể chế chính trị cũ” cũng như báo chí đang liên tục suy giảm, thậm chí tới mức nhiều người gần như không tin vào báo chí nữa. Môi trường mới, trong đó mọi người được khuyến khích tương tác và chia sẻ, đã không còn ưu tiên sự thật mà chú trọng vào những liên kết mang tính cảm xúc với nội dung. Vì thế, cơ sở của môi trường mới hậu sự thực là thứ hạng chứ không phải sự thật. “Công bằng và cân bằng đâu có giúp tăng thứ hạng,” ông nói. “Bây giờ sự thực chỉ đơn giản là một điều khẳng định.”
Việc thiếu niềm tin liên quan đến bản chất thích giật gân của tin tức, công chúng cảm thấy thông tin bị thổi phồng quá đáng hoặc bị ít nhiều bóp méo
Tại Diễn đàn Knight Media gần đây, có ý kiến rằng dường như có mối liên hệ giữa niềm tin và những nghề nghiệp thường được coi là “không vì bản thân”: mọi người tin tưởng vào những người làm những nghề nghiệp mà họ cho rằng chẳng thu được điều gì cho cá nhân họ, ví như các thủ thư, y tá và các binh sỹ chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Chẳng hạn các y tá, dù được trả lương khá thấp so với nhiều công việc khác, nhưng họ vẫn giúp đỡ những người bệnh đau yếu, làm việc suốt đêm ngày, chăm sóc và an ủi người khác, chỉ cho đi chứ chẳng nhận gì lại.
Các cơ quan báo chí và các nhà báo thì không dễ thuyết phục rằng nghề của họ là không vì bản thân, cho dù nghề báo cũng chẳng được lương bổng cao, đầy bấp bênh và thực sự là hầu hết các nhà báo luôn có tinh thần phục vụ cộng đồng, hướng tới một xã hội tốt đẹp. Nhiều lúc hoạt động của nhà báo bị cho là vì lợi ích của bản thân – chẳng hạn các phóng viên “om tin” để chỉ riêng họ có được bài phóng sự; không đưa tin tiêu cực về doanh nghiệp này hay lĩnh vực nọ vì sợ ảnh hưởng đến nguồn thu quảng cáo của báo; hoặc tạo quan hệ thân thiết với ai đó thì chẳng qua là để moi tin thường xuyên mà thôi.
Ảnh minh họa. (Nguồn: NuAxis Innovations)
Theo báo cáo Edelman Trust Barometer năm 2018, có đến 66% những người được hỏi ý kiến cho rằng các cơ quan báo chí hiện nay tập trung thu hút số lượng lớn độc giả-khán thính giả hơn là việc đưa tin tức, và 65% nói báo chí sẵn sàng đánh đổi tính chính xác để chạy đua ra tin trước. Một nửa những người tham gia khảo sát cho hay họ tương tác với báo chí chính thống dưới một lần mỗi tuần và có đến 25% khẳng định không đọc báo nghe đài hay xem TV nữa vì quá thất vọng.
Trước đây, nhiều người có quan điểm là lên mạng xã hội thì tin gì cũng biết, họ nói không cần báo chí nữa. Oái oăm là mạng xã hội giờ đây tràn lan tin giả, và chính những người phụ thuộc các nền tảng đó để tìm kiếm thông tin thì dễ dính fake news nhất.
Cũng theo báo cáo kể trên của Edelman Trust Barometer, niềm tin đối với truyền thông xã hội trong năm 2018 tụt thê thảm còn 51% so với 53% của năm 2017 và 54% của năm 2016. Trong khi đó, theo báo cáo mới nhất của Viện nghiên cứu Reuters về bức tranh tin tức kỹ thuật số toàn cầu năm 2018, số người coi Facebook là nguồn tra cứu tin tức giảm ở gần như tất cả các quốc gia. Tiêu thụ tin tức qua Facebook giảm tới 9 điểm phần trăm ở Mỹ mà riêng ở các nhóm người trẻ thì tới 20 điểm. Tại vùng đô thị của Brazil mức giảm lên tới 52%, tương đương với giảm 17 điểm từ 2016. Chỉ vài nước có tỷ lệ này tăng lên như Malaysia và Cộng hòa Séc mà thôi.
Thật may là niềm tin đối với báo chí, tuy suy giảm nhưng theo các nghiên cứu thì đều cao hơn so với mạng xã hội
Thật may là niềm tin đối với báo chí, tuy suy giảm nhưng theo các nghiên cứu thì đều cao hơn so với mạng xã hội và thậm chí có chiều hướng tăng lên một chút. Báo cáo của Edelman cho thấy năm 2018, mức độ tin cậy với báo chí đã tăng lên 59% từ mức 54% của năm 2017. Đây là kết quả rất khả quan vì vào năm 2015, báo chí chính thống còn thua cả mạng xã hội về niềm tin của công chúng. Trong báo cáo của Reuters, mức tin tưởng vào báo chí là 44%, khá cao so với máy tìm kiếm (34%) và vượt trội so với mạng xã hội (23%).
Vậy ngoài sự trung thực, tính chân thực và đạo đức nghề nghiệp là thước đo về sự tin cậy đối với báo chí – điều mà các nhà báo luôn phải hướng tới, liệu còn có những cách nào khác để tạo dựng niềm tin trong lòng độc giả?
Chẳng hạn khi độc giả thích tương tác với một cơ quan báo chí bằng cách trao đổi với các phóng viên, nhiệt tình góp ý hoặc bình luận, thậm chí muốn ghé thăm tòa soạn thì chính là một hình thức bày tỏ sự tin cậy. Nên khả năng tiếp cận cơ quan báo chí là vô cùng ý nghĩa.
Ảnh minh họa. (Nguồn: Shaw Academy)
Có một câu chuyện thú vị ở Australia, kể rằng công chúng rất tin tưởng các đài phát thanh địa phương vì họ cảm thấy các phát thanh viên và các nhà sản xuất chương trình “giống như những người bình thường chúng tôi vậy.” Thính giả nói giọng đọc của các phát thanh viên giống như ai đó trong gia đình, hoặc “nghe đài mà cứ như nghe người bạn mình đang trò chuyện.” Điều quan trọng ở đây là việc xóa nhòa ranh giới giữa thính giả và nhà báo, và chứng tỏ nhà báo nên kết nối chặt chẽ hơn với độc giả-khán thính giả của mình, hãy trở thành “một người trong cộng đồng” chứ không phải là nguồn thông tin xa cách và chỉ phục vụ lợi ích của tờ báo.
Và có lẽ, trong môi trường kỹ thuật số hiện nay, nơi đa phần thông tin là miễn phí, thì việc hỗ trợ tài chính cho báo chí (thông qua việc trả phí đọc nội dung, trở thành thành viên, hoặc thậm chí theo cách cổ điển là mua báo in) chính là một chỉ dấu về sự tin tưởng. Độc giả không đời nào trả tiền mua tin mà họ không cho là tin cậy, trung thực, có phải vậy không nhỉ? Và họ sẽ chẳng mất công móc hầu bao tìm kiếm sự thực nếu mọi thông tin miễn phí đều chính xác.
Để giành lại niềm tin thì báo chí không chỉ đơn giản hô khẩu hiệu “chúng tôi vì độc giả”
Thực ra việc tạo sự thân thiện với cộng đồng như kể trên là cách mà nhiều doanh nghiệp đang thực hiện: họ hỗ trợ những hoạt động của dân cư, tổ chức các chuyến thăm nhà máy, hỗ trợ đào tạo nghề, vv… Nhiều câu lạc bộ thể thao cũng gắn bó với địa phương bằng các phương thức tương tự, đến tận các trường tiểu học trong vùng để giao lưu với trẻ em, cấp các khoản học bổng hoặc có những giờ lao động công ích. Trong khi đó, các cơ quan báo chí lại đi từ nơi gần gũi ấm cúng mà độc giả gửi gắm niềm tin bằng những lá thư tay của một thời, sang một vị trí đầy xa cách. Đó là chưa kể những trường hợp (cũng không phải cá biệt) mà doanh nghiệp thấy khiếp sợ khi nhà báo gõ cửa gạ quảng cáo, hăm dọa bằng những bài viết với cái vỏ chống tiêu cực, người dân cũng mệt mỏi với những phóng viên soi mói từng chuyện làm sai để đổi lấy phong bì.
Rõ ràng, để giành lại niềm tin thì báo chí không chỉ đơn giản hô khẩu hiệu “chúng tôi vì độc giả.” Hãy thay đổi bản thân mình để cộng đồng thực sự thấy tin tưởng, hãy tôn trọng độc giả, khán thính giả chứ đừng có thái độ ban phát kiến thức. Hãy thể hiện trách nhiệm của báo chí bằng những bài viết chuyên nghiệp và chất lượng cao, thực sự góp phần giúp cho xã hội tốt đẹp hơn chứ không phải để tăng doanh thu quảng cáo cho tòa soạn./.
“Hồi đó mới vào nghề báo được khoảng 2-3 năm. Có những thời điểm tôi bị nhiều đối tượng đe dọa, gây sức ép quá dẫn đến mất ngủ, phải uống thuốc an thần cả tuần.”
Có những lúc, trước mặt là những chồng tài liệu xếp tầng tầng lớp lớp, nghiên cứu tài liệu có khi mất cả tuần, thậm chí là hàng tháng trời.
Có khi, để hiểu một vấn đề và đi sâu vào nó, chịphải nghiền ngẫm cả chồng tài liệu hàng tháng trời, mày mò nghiên cứu xem sai ở đâu, bản chất của sự việc thực chất là gì để thông tin một cách đầy đủ và khách quan nhất.
Nhà báo Liên Liên – Ban Thời sự, Đài truyền hình Việt Nam (VTV) chia sẻ những tâm sự về hơn 11 năm gắn bó với nghề báo, cũng là ngần ấy thời gian chị gắn bó, sống cùng và thực hiện với niềm đam mê là các tác phẩm báo chí điều tra.
Kỷ niệm về cơn lũ “khủng khiếp”
Một nữ nhà báo nhỏ nhắn, luôn nở nụ cười và với một chất giọng khan khàn, đanh thép rất riêng. Chỉ nghe giọng của chị trên sóng truyền hình thôi là có thể nhận ra được Liên Liên, nhận ra đó là một nữ phóng viên xông xáo của Ban Thời sự trên mọi “mặt trận.”
Đến thời điểm này, nhà báo Liên Liên đã công tác ở Đài Truyền hình Việt Nam được hơn 11 năm, lĩnh vực chính mà chị theo dõi vẫn là những vấn đề điều tra, thời sự nóng; bên cạnh đó chị cũng đồng hành đưa thêm các thông tin về thiên tai bão lũ trong khoảng 6-7 năm nay.
Năm 2017 với nhà báo Liên Liên lại là một năm đáng nhớ khi chị và những người đồng nghiệp đã có mặt tại xã Nậm Păm, huyện Mường La, tỉnh Sơn La để ghi nhận hiện trường sau cơn lũ quét kinh hoàng xảy ra vào những ngày đầu tháng 8/2017.
Vào thời điểm đó, chị cùng với 3 người đồng nghiệp khác đã có 3 ngày tác nghiệp dọc theo con suối Nậm Păm, nơi được coi là “rốn lũ” tại Sơn La. Xã Nậm Păm có địa hình phức tạp, người dân sống rải rác, cộng thêm với mưa lớn nên ê-kíp gặp không ít khó khăn để tiếp cận.
Nhà báo Liên Liên trong một lần tác nghiệp về mưa lũ. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
“Đó là một chuyến đi tác nghiệp rất đáng nhớ trong thời kỳ làm báo đến thời điểm này của tôi. Sau cơn lũ, hiện trường để lại rất tan hoang. Lúc đó tôi và các đồng nghiệp đã có cơ hội được chứng kiến những hình ảnh mà cho tới thời điểm này khi nhớ lại, chỉ có thể dùng hai từ ‘khủng khiếp’ để hình dung,” nữ nhà báo nhớ lại.
Phóng viên Liên Liên cho biết, toàn xã Nậm Păm có 11 bản nhưng có tới 8 bản bị quét sạch. Để tới được những khu vực này, cách duy nhất là đi bộ, chị và những người đồng nghiệp, cùng các lực lượng chức năng đi bộ từ 7 giờ sáng đến 4 giờ chiều vào vũng lũ để đưa tin về.
Điều sợ hãi, ám ảnh nhấttrong chuyến đi ấy với Liên Liên là chị đã bị nước lũ cuốn đi vài mét.
Ngay khi người phía sau vừa thả tay ra, thì nước lũ mạnh đã hất văng người tôi ra giữa dòng và xiết tôi theo.
“Sự cố xảy ra trong con suối suối Nậm Păm, khi vào đến gần tới bản xa nhất, lúc đó nước lũ vẫn còn, khi qua suối tôicũng thấy khá an tâm. Đoàn có 3-4 người giúp đỡ lại có cả lực lượng bộ đội chuyên nghiệp, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ không an toàn, song khi người phía sau vừa thả tay ra, thì bên kia nước lũ mạnh hất người tôi văng ra và ngã xuống, dòng nước xiết đã cuốn tôi đi. Lúc đó, tôi cũng giật mình, hoảng hốt và cả các thành viên trong đoàn đều bất ngờ vì tình huống đó. Có thể là do cơ thể phụ nữ nhẹ, đàn ông nặng thì bị xô đi, phụ nữ nhẹ khi thả ra thì bị hắt đi luôn và bị ngã,” Liên Liên kể lại kỷ niệm nguy hiểm nhất trong chuyến tác nghiệp.
Liên Liên cho hay, sự cố đó xảy ra trên chặng đi, lúc về, để đảm bảo an toàn tuyệt đối, lực lượng bộ đội đã mở đường khác, hơi dốc và nguy hiểm vì còn mưa. Lúc đi thì trời oi nóng, lúc về mưa tầm tã. Ban đầu đi dốc từ trên cao xuống hun hút¸ về sau dòng nước giảm, đoàn phải gọi cứu trợ từ phía dưới lên. Đến 4 giờ chiều đoàn cũng đã về được tới nơi.
“Với tôi, đe dọa thì nhiều lắm”
Nhắc tới Liên Liên, tên tuổi của chị đã gắn liền và được nhớ tới các phóng sự điều tra như: tác phẩm thâm nhập điểm đen pha chế xăng dầu trái phép, đường dây mua bán văn bằng đại học giả, tín dụng đen, chênh lệch giá thuốc bảo hiểm, loạt bài về nhũng nhiễu thủ tục hành chính người dân… Các tác phẩm của chị có sức ảnh hưởng và lan tỏa lớn. Nhiều tác phẩm đã đạt giải vàng trong Liên hoan Truyền hình Toàn quốc.
Để có được một Liên Liên vững vàng, đanh thép như ngày hôm nay, chị đã phải nỗ lực cố gắng, “tôi luyện” qua nhiều thử thách và thực tiễn khác nhau. Chị nhớ lại, những ngày đầu chập chững bước vào nghề báo, chương trình Chính sách kinh tế và cuộc sống là nơi gắn bó với chị đầu tiên.
Hiện trường sau lũ tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La năm 2017. (Ảnh: TTXVN/Vietnam+)
“Đây là chương trình bắt nguồn từ những câu chuyện của cuộc sống, những vướng mắc từ cuộc sống của người dân, phản biện chính sách từ thực tiễn cuộc sống để cơ quan nhà nước và các cơ quan nghiên cứu có thể thấy được thực trạng và đưa ra những giải pháp tốt hơn. Chính vì những câu chuyện của người dân như vậy, nên khi làm về bất cứ vấn đề gì tôirất hay đặt ra các câu hỏi và tận cùng phải lý giải được những câu hỏi,” nhà báo Liên Liên nhớ lại.
Với nhà báo Liên Liên, các đề tài về điều tra không chuyên về lĩnh vực nào. Vì vậy, trước mỗi một sự việc, một sự phản ánh do bạn đọc cung cấp hay tự mình phát hiện ra, chị đều phải đọc, nghiên cứu kỹ lưỡng tài liệu, nghiên cứu hồ sơ, để làm sao mỗi tác phẩm đều có tính pháp lý vững.
Làm về những vấn đề nóng, tôi bị đe dọa nhiều lắm. Hết dọa giết tôi, họ lại dọa giết tới người thân. Tôi cứ làm đề tài gì động chạm là lại bị đe dọa.
Chị Liên Liên cho biết: “Làm về những vấn đề nóng, tôi bị đe dọa nhiều lắm. Hết dọa giết tôi, họ lại dọa giết tới người thân. Tôi cứ làm đề tài gì động chạm là lại bị đe dọa. Thời gian đầu mới vào nghề được 2-3 năm, tôi chưa có va vấp nhiều, khi bị dọa nạt, gây sức ép, áp lực, tôi rất căng thẳng. Có những thời điểm tôi bị nhiều đối tượng gây sức ép nên bị mất ngủ, phải uống thuốc an thần cả tuần.”
Nhà báo Liên Liên chia sẻ, một trong những tiêu chí, yêu cầu đặt ra khi chị đi làm phóng sự điều tra là việc luôn luôn tính toán tính pháp lý đầy đủ, chặt chẽ. Mỗi một câu chữ chị viết ra đều phải đáp ứng được các câu hỏi: “Có bằng chứng không? Ai sẽ kiện mình?” Vì vậy, chị luôn phải cân nhắc từng câu chữ một để an toàn và tác phẩm của chị luôn đảm bảo tính pháp lý.
Những đêm thức trắng
Nhà báo Liên Liên chia sẻ, với nghề báo đôi lúc gặp nhiều rủi ro, thử thách sự kiên trì rất nhiều. Chị kể khi thực hiện phóng sự về sang chiết gas trái phép ở Bình Dương. Đó là một cơ sở sang chiết gas lậu đã 4 lần bị cơ quan chức năng xử lý, hết làm ngày họ lại chuyển sang làm đêm.
Đó là một kỷ niệm rất đáng nhớ, khi đoàn của chị đã phải thức trắng hai đêm. Khi đi vào khoảng 9 -10 giờ đêm thì mọi người đều hào hứng, tràn đầy sinh lực. Tuy nhiên, ngồi chờ từ đó đến 3, 4 giờ sáng mới thử độ kiên nhẫn của cả đoàn. Bởi chờ 5-6 giờ đồng hồ buổi đêm ai cũng buồn ngủ, thậm chí ngủ gật. Khi đó, cả đoàn chỉ biết nhắc nhau người này ngủ lát rồi đổi sang người kia theo dõi tiếp mà vẫn không yên tâm.
“Đêm đầu tiên đợi đến 2 giờ sáng nhưng họ không làm, tới 3 giờ họ cũng không làm. Lúc đó, mìnhnghĩ chắc bị lộ thông tin rồi. Nhưng kiên trì chờ đến gần 4 giờ sáng họ mới làm,” nhà báo Liên Liên nhớ lại.
Nhà báo Liên Liên trong khi tác nghiệp đưa tin tại Hòa Bình. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Khi đó, cả đoàn mới bắt đầu quay, quay xong về kiểm tra thì không có hình nào cả, tối mù mịt, sự phối hợp của cả êkíp dường như chưa được chặt chẽ, kíp hôm đó có 3 người, nhờ thêm một số người quen hỗ trợ cùng là khỏang là 6-7 người. Hôm đó, công sức bỏ ra lớn nhưng không thu lại được gì, mọi người chỉ biết an ủi nhau tối hôm sau lại tiếp tục.
Đêm thứ hai, đoàn đợi đến 3 giờ sáng họ mới làm. Do không yên tâm nên hôm đó tôi đích thân quay hình, chế thêm các phương tiện kỹ thuật đảm bảo để làm sao mình tác nghiệp tốt hơn, quay được, ghi hình chuẩn. Vì đối tượng rất tinh vi, nên mọi người đều phải leo trèo, chia nhiều vị trí khác nhau.”
Sau khi chương trình phát sóng, mọi nỗ lực của cả đoàn dường như đã được đền đáp khi tỉnh xử lý quyết liệt, xóa hẳn điểm sang chiết gas trái phép trên.
Làm báo điều tra là lĩnh vực khó nhất và luôn đồng hành với nhiều nguy hiểm. Nhà báo Liên Liên tâm niệm: Để làm lĩnh vực điều tra sẽ mất rất nhiều thời gian, áp lực; chưa nói là có những khó khăn mặc dù có cơ quan hay người thân chia sẻ ủng hộ nhưng họ không hẳn có thể là điểm tựa giúp mình có thể làm mãi được nếu như không phải là đam mê của chính mình.
Nhà báo Liên Liên tâm niệm: Phóng viên làm trong lĩnh vực điều tra sẽ mất rất nhiều thời gian, gặp nhiều áp lực và khó khăn. Mặc dù luôn có cơ quan hay người thân chia sẻ, ủng hộ nhưng nếu không có đam mê sẽ không theo đuổi đến cùng được.
Với chị, khi thực hiện những tác phẩm báo chí điều tra nếu không có niềm đam mê thì chắc chắn không thể làm được tới tận cùng của sự việc, còn khi làm nếu có động cơ thì chắc chắn không ai chấp nhận, ủng hộ.
Nghề báo và những tác phẩm báo chí điều tra đến với nữ nhà báo Liên Liên như một cơ duyên để chị gắn bó và đồng hành trong quá khứ, ở hiện tại. Mỗi tác phẩm điều tra của chị khi hoàn thành và lên sóng vì mục đích cho sự công bằng, tốt đẹp của xã hội tiếp tục là động lực để chị đồng hành, sống và tồn tại với nghề báo./.