Số lượng, tần suất và khả năng sát thương của các vụ tấn công khủng bố trong năm 2019 đã giảm đáng kể trên toàn thế giới so với đỉnh điểm năm 2014.
Tuy nhiên, “bộ mặt” khủng bố đã mang nhiều đặc điểm mới: thay đổi địa bàn hoạt động, thay đổi phương thức tuyển dụng các tay súng, cũng như phương tiện và cách thức thực hiện các vụ tấn công.
Ngoài ra, một số thay đổi trong chính sách của các chính phủ trong năm qua đặt ra những nguy cơ trỗi dậy và lan rộng của các tay súng thánh chiến trong năm 2020.
Khủng bố cực hữu leo thang
Theo Chỉ số khủng bố toàn cầu (GTI) năm 2019, do Viện nghiên cứu kinh tế và hòa bình (IEP) công bố cuối tháng 11, số vụ tấn công khủng bố và mức độ thương vong đã giảm đáng kể, nằm trong xu hướng giảm chung từ năm 2015 đến nay.
Trong năm 2019, đã xảy ra 780 vụ tấn công, làm 3.488 người thiệt mạng. Con số này trong năm 2017 là 10.900 vụ tấn công và 26.445 người thiệt mạng và trong năm 2014 là 17.000 vụ làm 45.000 người thiệt mạng.
Dù khủng bố vẫn diễn ra trên diện rộng về địa lý, song hầu hết tập trung ở Trung Đông, Bắc Phi, Tây Phi và Nam Á, do một số ít các nhóm thánh chiến thực hiện (như tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, Boko Haram, Taliban, al-Shabaab) và chủ yếu ảnh hưởng đến cộng đồng người Hồi giáo.
Khủng bố Hồi giáo đã giảm đáng kể, nhưng châu Âu, đặc biệt là Mỹ, đang chứng kiến sự gia tăng nguy hiểm của khủng bố cực hữu – chủ nghĩa thượng đẳng da trắng.
Châu Âu, đặc biệt là Mỹ, đang chứng kiến sự gia tăng nguy hiểm của khủng bố cực hữu – chủ nghĩa thượng đẳng da trắng.
Các vụ tấn công nhằm vào những người không phải da trắng, không theo Cơ đốc giáo và chủ yếu là người Hồi giáo nhập cư, đã xảy ra ở nhiều nơi: Người Hồi giáo là mục tiêu tấn công chủ yếu ở châu Âu và Bắc Mỹ, trong khi các nhóm thiểu số thường bị tấn công tại Mỹ Latinh.
Vụ tấn công của các đối tượng cực hữu vào hai đền thờ ở Christchurch (New Zealand) tháng 3/2019 làm hơn 50 người thiệt mạng là bằng chứng cho thấy chủ nghĩa khủng bố đang “nhiễm” sang cả các nước bấy lâu nay hầu như không có khủng bố, hậu quả của tư tưởng cực hữu.
Tưởng niệm các nạn nhân trong vụ xả súng tại Christchurch, New Zealand, ngày 20/3/2019. (Ảnh: THX/TTXVN)
Truyền thông xã hội, công nghệ: Tác động xấu…
Một điểm mới cần ghi nhận là cách thức tấn công của các phần tử khủng bố đang thay đổi và ngày càng thích nghi với bối cảnh mới. Trong năm qua, nhiều vụ tấn công dù không được lên kế hoạch bài bản nhưng đã gây thương vong lớn hơn.
Trong khi các vũ khí nóng, dao và nhiều vũ khí khác vẫn được các phần tử khủng bố sử dụng nhiều, ôtô, xe tải và thậm chí cả máy bay không người lái đã bắt đầu trở thành phương tiện tấn công phổ biến hơn.
Mục tiêu tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng giao thông như các sân bay và ga tàu điện ngầm, nơi có đông người hơn và vì vậy gây thương vong lớn hơn.
Đáng chú ý là năm 2019, truyền thông xã hội đã vô tình tạo điều kiện cho các nhóm khủng bố tuyển dụng thành viên và tuyên truyền tư tưởng cực đoan tàn bạo.
Một thực tế mới là các nhóm khủng bố có tổ chức cao nhất và các tay súng hành động đơn độc đều rất thạo kỹ thuật số.
Một số nhóm và cá nhân đã đăng tải những “tuyên ngôn” của mình trên mạng, trong khi các tay súng khác sử dụng mạng xã hội để truyền trực tiếp toàn bộ hành động tấn công của mình.
Mục đích là phóng đại thương vong, gây chia rẽ các cộng đồng, gia tăng sự mất lòng tin, và tất nhiên là tạo cảm hứng cho những tay súng khác, cũng như gây ra những phản ứng thái quá của các chính phủ.
Khi thế giới đang tập trung quá nhiều vào IS và Al-Qaeda, cũng xuất hiện lo ngại rằng nhiều nhóm cực đoan bạo lực đang “nằm ngoài tầm ngắm” nhờ hoạt động “âm thầm” trên các mạng xã hội.
Nguy hiểm hơn, khi bị chặn trên các mạng phổ biến, các nhóm khủng bố có thể nhanh chóng đăng lại nội dung khủng bố lên các nền tảng khác như jusstpaste.it, hay senvid.com và archive.org, đặt ra thách thức không nhỏ đối với các chính phủ và công ty kỹ thuật số.
Các thách thức khác bao gồm các nền tảng được mã hóa như Telegram và WhatsApp, và các hệ kỹ thuật số khó kiểm soát hơn như Darknet.
Khi thế giới đang tập trung quá nhiều vào IS và Al-Qaeda, cũng xuất hiện lo ngại rằng nhiều nhóm cực đoan bạo lực đang “nằm ngoài tầm ngắm” nhờ hoạt động “âm thầm” trên các mạng xã hội.
Những thay đổi trong hoạt động khủng bố toàn cầu năm vừa qua có thể được giải thích một phần là do sự đầu tư lớn vào hoạt động chống khủng bố. Việc hoạch định chính sách và hoạt động tình báo đã góp phần phá vỡ nhiều mạng lưới và âm mưu khủng bố tại Bắc Mỹ và Tây Âu.
Các thách thức khác bao gồm các nền tảng được mã hóa như Telegram và WhatsApp, và các hệ kỹ thuật số khó kiểm soát hơn như Darknet. (Nguồn: Getty)
… và tích cực
Liên hợp quốc và nhiều chính phủ đã tăng cường nỗ lực, như lập Diễn đàn Internet toàn cầu về chống khủng bố (GIFCT) và các sáng kiến chống khủng bố của hơn 100 doanh nghiệp công nghệ.
Facebook đã sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để nhận dạng/dỡ bỏ những bức ảnh hoặc video có nội dung khủng bố, còn Youtube cho biết 98% trong số hàng nghìn video mà họ đã dỡ bỏ được xác định bằng thuật toán học máy.
Twitter cũng đã hủy ít nhất 1 triệu tài khoản từ năm 2015 đến nay vì thúc đẩy chủ nghĩa khủng bố. Trong khi đó, 9 công ty công nghệ lớn đã áp dụng thuật toán chuỗi để theo dấu vết của khủng bố thông qua nỗ lực tập thể được biết đến với cái tên GIFCT.
Nhưng ngược lại, sự thay đổi chính sách của các chính phủ đôi khi cũng đặt ra nguy cơ mới. Đó là trường hợp chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump bất ngờ quyết định rút quân khỏi miền Bắc Syria, mở đường cho chiến dịch tấn công của Thổ Nhĩ Kỳ, làm dấy lên mối lo ngại về một “khoảng trống an ninh” ở Đông Bắc Syria có thể giúp IS tái sinh.
Lệnh rút quân của Tổng thống Trump được đưa ra chỉ chưa đầy một tháng sau khi thủ lĩnh IS phát một đoạn băng kêu gọi tấn công các nhà tù để giải cứu các chiến binh IS. Ngay sau đó, các báo cáo về việc những kẻ khủng bố trốn thoát khỏi nhà tù đã xuất hiện.
“Con sói đơn độc” – Sự hồi sinh của IS
Các chuyên gia về khủng bố cảnh báo Đông Nam Á sẽ phải đối mặt với sự hồi sinh của IS và các cuộc tấn công khủng bố theo kiểu “con sói đơn độc.” Điển hình như sự việc hàng trăm tù nhân người Indonesia và Malaysia có quan hệ với IS trốn khỏi một trại giam của người Kurd ở vùng Đông Bắc Syria trở về quê hương, trong khi chính phủ các nước này chưa có kế hoạch đối phó.
Mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố sinh học cũng đang lớn dần khi các tay súng khủng bố sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới
Gần đây, cũng xuất hiện ngày càng nhiều báo cáo về các hoạt động khủng bố tại Nam Á và Đông Nam Á, nhất là tại Ấn Độ, Myanmar, Philippines, Sri Lanka và Thái Lan.
Nhóm Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro (MILF) tại Philippines, nhóm Jemaah Islamiya (JI) tại Indonesia, và các chi nhánh của IS tại Myanmar và Thái Lan đang nổi lên.
Vụ tấn công kinh hoàng tại Sri Lanka trong năm 2019 đã cho thấy rõ khả năng vươn dài “chân rết” của IS và các nhóm khủng bố khác ra toàn thế giới.
Lực lượng an ninh Sri Lanka điều tra tại hiện trường vụ nổ ở nhà thờ St. Anthony, Colombo. (Ảnh: AFP/ TTXVN)
Năm 2020: Dự báo sự bùng nổ của vũ khí sinh học
Năm 2020, thế giới dự báo còn đối mặt nguy cơ nhiều tay súng nước ngoài và những kẻ truyền bá chủ nghĩa khủng bố, phải ngồi tù trong 10-20 năm qua, sẽ mãn hạn tù và sớm được trả tự do, đặc biệt tại châu Âu.
Ngoài ra, mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố sinh học cũng đang lớn dần khi các tay súng khủng bố sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới, điển hình là các loại vũ khí hóa học và sinh học.
Giữa tháng 10/2019, cảnh sát Indonesia đã phát hiện một nhóm thuộc tổ chức khủng bố JAD (nhóm thân IS lớn nhất tại nước này) âm mưu tiến hành một cuộc tấn công liều chết bằng bom chứa chất độc abrin tại Cirebon, Tây Java.
Nhóm này đã từng tấn công một bốt cảnh sát và một đền thờ ở Cirebon. Cảnh sát đã thu giữ 310g hạt cây tương tư (rosary pea) vốn là nguyên liệu chính để làm ra abrin.
Đây là quả bom tự chế đầu tiên ở Indonesia sử dụng một chất sinh học trong thành phần. Tuy nhiên, đây là âm mưu khủng bố thứ hai trong vòng 8 năm qua sử dụng các chất sinh học.
Tám năm sau sự kiện trùm mạng lưới khủng bố quốc tế Al Qaeda, Ossama Bin Laden bị tiêu diệt, năm 2019 thế giới đã chứng kiến thêm một dấu mốc mới là vụ tiêu diệt thủ lĩnh IS Abu Bakr al-Baghdadi.
Tuy nhiên, việc tiêu diệt cá nhân các trùm khủng bố rốt cuộc chỉ gây ra một bước lùi tạm thời của các nhóm thánh chiến.
Cũng giống như al-Qaeda, tổ chức IS vẫn tồn tại và vẫn là một mối đe dọa treo lơ lửng. Một thế giới bình yên chỉ trở thành hiện thực khi mọi nguyên nhân gốc rễ khiến hệ tư tưởng khủng bố cực đoan lan rộng, được nhổ tận gốc.
Cuộc đột kích tiêu diệt thủ lĩnh IS Abu Bakr al-Baghdadi của lực lượng đặc nhiệm Mỹ tại Syria ngày 26/10/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Thực trạng doanh nghiệp phá sản, giải thể, chủ bỏ trốn nợ bảo hiểm xã hội diễn ra ngày càng nhiều trong những năm gần đây. Trong khi những doanh nghiệp này đã không còn hoạt động, hàng trăm nghìn người lao động vẫn mắc kẹt với những khoản tiền nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội, không được giải quyết các chính sách, khó khăn khi khoanh nợ, chốt sổ bảo hiểm xã hội để đi làm việc tại doanh nghiệp khác.
Phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội về biện pháp xử lý thực trạng này.
– Xin ông lý giải những nguyên nhân tại sao đến nay vẫn chưa thể xử lý tình trạng nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp phá sản, giải thể, chủ bỏ trốn?
Ông Bùi Sỹ Lợi: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Trước tiên, đối với trường hợp doanh nghiệp phá sản, quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp quá phức tạp, kéo dài. Luật Phá sản chưa có quy định về thủ tục giải quyết án phá sản trong trường hợp vắng mặt người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, do đó còn khó khăn khi xử lý.
Đối với doanh nghiệp có chủ bỏ trốn thì Luật Doanh nghiệp lại chưa có quy định về vấn đề này; chưa có quy định về quy trình giải quyết các vấn đề liên quan đến tình trạng doanh nghiệp có chủ bỏ trốn. Trong khi đó, chế tài xử lý đối với các chủ doanh nghiệp không chịu chấp hành các quy định về giải thể, phá sản chưa đủ tính răn đe.
Tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp còn nợ của người lao động là khoản chi trả sau bằng các tài sản còn lại của doanh nghiệp.
Đối với vấn đề xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản, có chủ bỏ trốn, Luật Đầu tư không quy định xử lý tài sản của doanh nghiệp ngừng hoạt động do vắng chủ. Trong khi đó, Luật Phá sản 2014 quy định đối với các khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó; tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp còn nợ của người lao động là khoản chi trả sau, bằng các tài sản còn lại của doanh nghiệp.
Ngoài ra, khi khởi kiện các vấn đề liên quan đến nợ bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp phá sản, giải thể, chủ bỏ trốn cũng gặp nhiều khó khăn. Trong thực tế tòa án không thụ lý các vụ khởi kiện doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng, chiếm đoạt tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động vì lý do chưa có quy định giải quyết hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội; tòa án không thụ lý tranh chấp lao động tập thể dẫn đến việc công đoàn phải khởi kiện nhiều vụ tranh chấp lao động cá nhân nên mất nhiều thời gian và công sức; chưa có hướng dẫn thực hiện việc khởi tố hình sự đối với tội trốn đóng, chậm đóng, chiếm đoạt tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động…
– Đối với những lao động chưa thể chốt sổ bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp phá sản, giải thể, chủ bỏ trốn để sang làm việc tại doanh nghiệp mới thì được xử lý như thế nào, thưa ông?
Ông Bùi Sỹ Lợi: Luật Bảo hiểm xã hội đã quy định cụ thể, cho phép các doanh nghiệp đang gặp khó khăn chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được tách đóng riêng cho từng lao động để kịp thời giải quyết quyền lợi cho người lao động đủ điều kiện hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất); hoặc ghi nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc để kịp thời giải quyết chế độ thất nghiệp hoặc tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tại các đơn vị mới.
Khởi kiện các doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội còn nhiều khó khăn. (Ảnh: PV/Vietnam+)
– Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã có quy định Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có trách nhiệm trình Chính phủ quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng về bảo hiểm xã hội của người lao động. Vậy quy định này đang được thực hiện như thế nào?
Ông Bùi Sỹ Lợi:Thời gian qua, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã có nhiều văn bản gửi Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Uỷ ban nhân dân các tỉnh đề nghị đôn đốc, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó tập trung vào các giải pháp mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, tăng cường tính tuân thủ pháp luật, hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội… Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, việc bảo đảm quyền lợi của người lao động vẫn chưa được giải quyết triệt để trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, rút giấy phép kinh doanh hoặc có chủ là người nước ngoài bỏ trốn.
Phải thẳng thắn nhìn nhận, việc bảo đảm quyền lợi của người lao động vẫn chưa được giải quyết triệt để trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, rút giấy phép kinh doanh hoặc có chủ là người nước ngoài bỏ trốn.
Do đó, Chính phủ đã giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất các phương án bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Song, quá trình này còn gặp vướng mắc do Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm và Luật Ngân sách Nhà nước cũng như thông lệ quốc tế đều không quy định nội dung chi tiết đối với trường hợp này nên việc xử lý vượt quá thẩm quyền của Chính phủ.
Quyền lợi người lao động khi các doanh nghiệp phá sản, giải thể, có chủ bỏ trốn gặp nhiều khó khăn. (Ảnh: PV/Vietnam+)
– Vậy đâu là giải pháp đảm bảo quyền lợi người lao động tại các doanh nghiệp phá sản, giải thể, có chủ bỏ trốn, thưa ông?
Ông Bùi Sỹ Lợi: Tôi cho rằng, để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, Chính phủ cần phải tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường tính tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội, hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần tiếp tục xây dựng ứng dụng tra cứu thông tin về bảo hiểm xã hội trên thiết bị di động, nhằm cung cấp kịp thời thông tin đóng, hưởng bảo hiểm xã hội tới người lao động.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng, Ủy ban nhân dân các tỉnh cần vào cuộc ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội, trong đó cần chú trọng biện pháp mạnh như cảnh báo, răn đe, chuyển hồ sơ các vụ việc có dấu hiệu vi phạm sang cơ quan Công an để điều tra, khởi tố theo quy định của Bộ luật Hình sự hoặc tiến hành khởi kiện.
Để hoàn thiện khung pháp lý, Quốc hội giao Bộ Tư pháp rà soát các văn bản pháp luật về phá sản doanh nghiệp, xem xét sửa đổi, bổ sung để áp dụng thống nhất; tiến hành sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng và sửa đổi, bổ sung Nghị quyết theo hướng ưu tiên giải quyết nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động. Toà án nhân dân Tối cao cũng sẽ sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng tội chiếm đoạt tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự.
Để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, Chính phủ cần phải tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường tính tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội, hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần thường xuyên tiến hành rà soát, thống kê cụ thể số người lao động bị ảnh hưởng quyền lợi trong các doanh nghiệp phá sản, bị rút giấy phép kinh doanh, có chủ là người nước ngoài bỏ trốn để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá tác động toàn diện, tránh tạo ra tiền lệ để các doanh nghiệp khác lợi dụng tiếp tục trốn đóng.
– Xin cảm ơn ông!
Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy, hết năm 2018, cả nước còn trên 256 tỷ đồng nợ bảo hiểm xã hội từ khoảng 1.000 doanh nghiệp là người nước ngoài phá sản, giải thể hoặc bỏ trốn, ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của hơn 14.000 người lao động.
Bà Nguyễn Thị Minh, Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho rằng, đằng sau những khoản nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp bỏ trốn, phá sản là nỗi khổ của người lao động và gia đình họ. Do đó cần phải có biện pháp xử lý vấn đề này.
“Chúng tôi đang lo lắng về tình trạng này, nếu tiếp tục xảy ra thêm vài năm tới, có lẽ trụ sở của cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ không còn chỗ để tiếp đón những người không có lương hưu tới kêu cứu vì doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội bỏ trốn, phá sản. Khi tiếp nhận tình trạng này, chúng tôi vô vùng khổ tâm,” bà Nguyễn Thị Minh chia sẻ.
Trong buổi làm việc với Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cũng nhận định việc xử lý số nợ của các doanh nghiệp phá sản, giải thể là việc cấp bách và cần triển khai sớm. Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam cập nhật tình hình số nợ bảo hiểm xã hội, số lao động bị ảnh hưởnh, doanh nghiệp phá sản, bỏ trốn hoặc giải thể để có những căn cứ cẩn thiết xây dựng kiến nghị, giải pháp tham mưu Chính phủ phương án xử lý.
“Số nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc bỏ trốn đã ảnh hưởng tới hàng trăm ngàn người lao động. Thực tế này đã nhức nhối nhiều năm qua. Bộ sẽ tham mưu cho Chính phủ kiến nghị trình Quốc hội duyệt phương án xử lý,” Bộ trưởng Đào Ngọc Dung khẳng định.
Chính phủ sẽ tình Quốc hội phương án xử lý tình trạng nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp phá sản, giải thể, chủ bỏ trốn. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Hanoi (VNA) – Referring to quan ho (love duet) singing, many people only think of Bac Ninh as a geographical indication. However, right on the northern bank of the Cau River, the land of Viet Yen is also considered one of the cradles of charming love exchange songs.
Viet Yen is also the only district of Bac Giang province having five ancient quan ho villages named in the list of 49 Kinh Bac quan ho villages honoured by the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO). Therefore, “how to preserve and transmit the love exchange folk songs to exchange love on the Cau River to the next generations” is always the question that makes male and female quan ho singers in Bac Giang province in general and Viet Yen district in particular are concerned about…
Journey to “decode” the ancient quan ho in the north of Cau River
Since being recognized as an intangible cultural heritage of humanity in 2009, the ancient quan ho has received more attention and had a strong “return” in the community life.
“Even so, not everyone knows and understands the practicing space and the ways of calling and singing of the ancient quan ho,” said Dam Thi Mui, 63, from the ancient quan ho village of Noi Ninh, Ninh Son commune, Viet Yen district.There is a quan ho area in the north of Cau River The communal house of Noi Ninh village (Viet Yen district, Bac Giang province) was unusually bustling in an autumn morning. From the roads to the communal house, the male and female singers wearing four-panel traditional dresses, turbans and conical hats flocked to the large yard. The appointment with guests from distance who want to study quan ho made them more eager and anxious than ever.
The male and female singers wearing four-panel traditional dresses, scarves and conical hats prepare for a “quan ho playing” session.
Bitter chewing a piece of betel, female artisan Dam Thi O (from the Noi Ninh ancient quan ho village, Ninh Son commune, Viet Yen) declaimed a sentence in the song “Ban den choi nha” (The friend comes to visit my house). Despite being more than 80 years old, the voice of the senior artisan is still deep and very sweet. Pausing for a moment, she whispered: “Many people often misunderstand that Quan ho is of only Bac Ninh. But in fact, it is the common heritage of both the northern and southern banks of the Cau River.” According to her, currently among 49 ancient quan ho villages counted during 1969 – 1971 on both the northern and southern banks of the Cau River, Bac Giang has ancient quan ho villages such as Huu Nghi, Gia Son, Noi Ninh and Mai Vu (Ninh Son commune) and Sen Ho (Nenh township).
The ancient quan ho club of Noi Ninh village
In 2006, to prepare a dossier to submit to UNESCO for recognition of quan ho as an intangible heritage of humanity, the then Ministry of Culture and Information (now the Ministry of Culture, Sports and Tourism) assigned the National Institute of Culture and Arts Studies to coordinate with the Department of Culture and Information (now the Department of Culture, Sports and Tourism) in Bac Giang province to study this form of art. At that time, the management agencies and researchers determined that, besides these five villages, Viet Yen district also boasted 13 other villages that gather elements of an ancient quan ho village. In addition, in Bui Kep and Bui Ben villages (both in Yen Lu commune, Yen Dung district) and Cam Xuyen village, Xuan Cam commune (Hiep Hoa district), many people have been found to be quan ho artisans from their youth. The survey results confirmed that the quan ho space of the northern bank of the Cau River is very large, preserving many values of the unique quan ho cultural heritage of the Kinh Bac region.
Old artisans like Dam Thi O still remember the ancient ways of singing. It is like an underground blood vessel flowing in them, connecting the northern and southern banks of the Cau River, which has kept the quan ho culture of the Kinh Bac region for hundreds of years. Love reflected through the songs “Every time when a guest comes to the house / Burn charcoal and make tea to invite the guest / This tea is very precious / Each person receives a cup to make me happy…” Ending the sentences, Dam Thi Mui said that quan ho is not just a form of folk performance (the form of love exchange singing between male singers wearing long dresses and turbans and graceful female singers with four-panel traditional dresses and conical hats but also shows the behavior of Kinh Bac people.
“For generations, the people here have passed down the saying: ‘Respecting each other for the sentiment, loving each other for talent.’ That is the love of the quan ho people. They love was cherished, preserved, and turned into the ways of saying and living of the people in Kinh Bac, making an important contribution to the vitality and spread of quan ho in contemporary life,” Mui said.
The people in Kinh Bac in general and Viet Yen in particular treasure the word “love.” Therefore, all gestures and words are made very carefully and considerably. This is subtly expressed in each sentence of the more than 200 ancient quan ho songs (with thousands of versions) being preserved in the community life.
Continuing the story, Mui said, the seniors in the region also do not remember when the custom of singing quan ho started. Stories and legends about the origin and the time of birth of quan ho have been passed down from generation to generation. Among them, the assumption that quan ho was born from the custom of setting up twinning ties among the villages worshipping the same tutelary god is the most popular.
In addition, the seniors also pointed out that for hundreds of years, through many changes of the history, quan ho has still existed and gone deeply into the life of Kinh Bac people.
For hundreds of years, through many changes of the history, quan ho has still existed and gone deeply into the life of Kinh Bac people.
In some specific periods (1950s-1960s), due to historical conditions, many traditional cultural activities that attracted large numbers of participants (including quan ho singing) were not popular and frequent.
“Quan ho has never died. When there were no quan ho singing activities, the male and female singers still sang the songs during the production and plowing or whenever the guests come to visit their house, ceremonies, weddings…). Even, the mothers still lulled their babies by quan ho songs. My parents used to tell me that during the war, when they came from the underground shelter, Kinh Bac people taught each other the tunes passed down by their forefathers,” said Nguyen Van Dac from the Noi Ninh ancient quan ho village, Ninh Son commune, Viet Yen district.
Nguyen Van Dac (the Noi Ninh ancient quan ho village, Ninh Son commune, Viet Yen district).
Over 70 years of living with this type of folk song, Dam Thi O said that like many other male and female quan ho singers born and growing up in the quan ho “cradle”, she heard those deep lyrical melodies when she was a baby. Initially, she learned short sentences and by the age of 10, she was able to sing many old songs.
In her memory, in the early decades of the 20th century, life was still difficult. The people saved each rice seed and each piece of potato… “Yet, because of the passion for quan ho, I ruined countless meals of the whole family. Many times, when I was cooking in the kitchen, hearing my grandfather teaching my father the old quan ho melodies, I ran up to the house, hiding behind the door to ‘study.’ When I was happy and excited at hearing, knowing and remembering a few sentences, then… the kitchen was full of the smell of burnt rice and potatoes,” Dam Thi O recalled. How to “play” quan ho The ancient quan ho does not use accompanying music. “The ‘í … ah … oh …’ are the notes that connect this sentence with the other. The quan ho lyrics are the confidence of the male and female singers. From the vocal timbre, listeners can understand the feelings and mood of the singers,” shared Nguyen Van Dac.
“Playing” quan ho bears an ethereal and elegant nuance, with the echoing lyrics that are generous, amusing and passionate.
In addition to memorizing the words, quan ho learners also have to practice breathing and how to ligature and hum a tune, and then follow the right techniques. Quan ho people have to know “hu la”, “la rang” and “la ban” tunes and practice different ways of singing the folk songs.
The quan ho artisans in Viet Yen said that in the past, the ancient people did not call it “quan ho singing” as it is today, but “quan ho playing”. Many people can sing quan ho but “playing” quan ho, not everyone can do it because ‘playing’ quan ho bears an ethereal and elegant nuance, with the echoing lyrics that are generous, amusing and passionate,” said Dam Thi Mui.
In the past, the ancient people did not call it “quan ho singing” as it is today, but “quan ho playing.”
According to Mui, the ancient people called “quan ho playing” because in the past, the villages were often twinned with each other and invited male and female singers to join singing exchanges. Groups of male and female quan ho singers in the villages were often called “bon quan ho.” The head of each “bon quan ho” was called the “ong trum” (male boss) and “bat trum” (female boss).
An ancient quan ho singing session often has three stages. In the first stage, male and female singers often sing in accordance with the ancient rules and the old way. In the second stage, singers use popular melodies in daily life. The third stage requires a way of lyrical singing.
Doan Thi Mui, head of the Noi Ninh quan ho club.
Moreover, the ancient people did not call “quan ho songs” as today. Instead, they called “sentences.” Usually, each male or female singer memorizes from 50 to 70 “sentences,” while each artisan “memorizes” hundreds of “sentences.”
One of the traditional practicing spaces of the ancient quan ho is the “nha chua” (the place where male and female singers from distance are taught and welcomed). “Previously, my family lived in a house with four rooms. My father spent one room as ‘nha chua”. There were always a betel container, a lime jar and other items displayed in the old fashion. Generations of male and female singers came here to study and hum quan ho sentences. In particular, in every meeting, the groups of quan ho singers often held singing sessions that lasted several days. Since then, the custom of “ngu bon” (sleeping together) has also been formed and handed down through many generations,” Dam Thi Mui said. Today, terms such as “ngu bon,” “quan ho bon,” “ong trum,” “ba trum” … are rarely used even though they reflect unique, distinctive beauty and long-standing values of the quan ho culture in Kinh Bac in general and Viet Yen district in particular./.
Quan ho: A string connecting the community
In Kinh Bac in general and Viet Yen district in particular, quan ho has become a string connecting the community for many generations.
Nguyen Duc Hien, Director of the Culture and Sports Centre of Viet Yen district (Bac Giang), said that the quan ho folk songs have not only been ingrained into the mind but also become an indispensable spiritual dish for people in ancient quan ho villages as well as all villages and communes in the northern bank of the Cau River. In particular, this type of folklore is indispensable at traditional festivals. “Singing quan ho after retiring” Hien said that today, Bac Giang still retains about 200 ancient quan ho tunes. Besides collecting old tunes and songs, quan ho teachers also compose and write new lyrics suitable to the ages to teach the younger generations. However, in the ancient quan ho villages such as Noi Ninh (Ninh Son commune, Viet Yen district), most of the members learn the old lyrics. Doan Thi Mui, head of the Noi Ninh quan ho club, said that in the past decade, quan ho has seen a “comeback” and developed more strongly in the community life. In 2000, the club had only seven members but now the total number of its members is about 30 people, of various ages (from 8 to 94 years old).
In Noi Lat village (Yen Son commune, Viet Yen district), artisan Duong Thi Oanh is also a volunteer in preserving the ancient quan ho for many years.
“The club organizes activities on every Saturday and Sunday in the form of seniors teaching their descendants and people who know many songs teaching those who know fewer. All of them are volunteers. No one received any financial support. Moreover, many singers who work away are ready to take a leave to join when the club has activities. Because of that, quan ho stays firm in the life of the Kinh Bac people,” Doan Thi Mui said.
To illustrate, Mui pointed at each of male and female singers passionately singing in the communal house and then muttered: “This morning when hearing of a delegation to visit, many male and female singers who were working in the field, also came here to sing. Some even gave up their workday worth 600,000 VND. Everyone is passionate about quan ho.”
Male singer Nguyen Van Dac slightly stroked his dress and said: “Every time we have the opportunity to sing and play, we are extremely excited. No matter how busy we are, we all call each other to set up a troupe. If we do not sing, we will feel uneasy all day long. ”
The gray-haired singer even told that in the village, there was an old man who was sick but when hearing quan ho songs from the yard of the communal house, he still asked his children and grandchildren to take him there. “Quan ho is like an addictive substance for many generations of Noi Ninh people,” Dac stressed.
Quan ho is like an addictive substance for many generations of Noi Ninh people.
In Noi Lat village (Yen Son commune, Viet Yen district), artisan Duong Thi Oanh is also a volunteer in preserving the ancient quan ho for many years. This 52-year-old female singer is currently the head of the village’s quan ho club. She said without the passion, she will feel hard to overcome all the pressures of everyday life.
The male and female singers come together with love and passion for quan ho. “Without that love, we cannot overcome the pressures and obstacles in life. Joining the quan ho club means that we have to put aside many household chores. Moreover, there is no financial support for those engaging in the movement,” said Nguyen Duc Uoc from Ha Lat village, Yen Son commune, Viet Yen district. Quan ho is growing day by day In order to preserve the ancient quan ho, the male and female singers in Viet Yen are forced to become unwilling collectors. Nguyen Van Dac explained that the peculiarity of the ancient quan ho is to use old lyrics that are quite rarely used currently. Therefore, only the senior artisans can remember and memorize them.
The communal house’s yard is a weekly dating place for male and female singers in the Noi Ninh ancient quan ho village.
“The old people are almost illiterate. So we had to come to their houses, ask them to sing and record each word,” Dac said.
He does not remember how many times he had to knock on the doors of the elderly’s houses in the village to ask for hearing and recording the ancient quan ho sentences. After 10 years of going to every small corner of Noi Ninh and many other ancient villages of Viet Yen, his group has recorded nearly 200 ancient melodies. According to artisan Dam Thi Mui, it may take up to 10 days or half a month to memorize an old quan ho sentence. And it will take such time for the male and female singers to sing and “play” it confidently. Luckily for the male and female singers like Dac, in the past five years, the movement of “hat chieu” – singing quan ho in the old style between clubs and villages has flourished. “Hat chieu” is an ancient form of quan ho singing that is often organized for villages to compete with each other, Dac said. Artisans consider “hat chieu” the pinnacle of quan ho when the participants must have a great deal of knowledge and understanding about the ancient quan ho. Each sentence will have several corresponding responses.
Artisans consider “hat chieu” the pinnacle of quan ho when the participants must have a great deal of knowledge and understanding about the ancient quan ho.
According to the ‘old artisan-farmer’, this form of reciprocal singing has enriched the old quan ho treasure. Many male and female singers have to turn themselves into fieldworkers and collectors.
In addition to preservation, the story of inspiring the young generations is also given special attention. The good news is that in recent years, the quan ho clubs such as Noi Ninh, Ha Lat … have been recruiting more and more child members. In the clubs, if the children often show interest when learning a new song and melody and remember the lyrics very quickly, the older members have the strength in showing the “deep affection” of quan ho by their own experiences in life. The Viet Yen people also started to get used to the ‘boy and girl singers with four-panel traditional dresses, turbans and conical hats singing quan ho songs on every weekend night.
The Viet Yen people also started to get used to the ‘boy and girl singers with four-panel traditional dresses, turbans and conical hats singing quan ho songs on every weekend night.
Nguyen Dai Luong, Vice Chairman of the People’s Committee of Viet Yen district, said that the district also actively coordinated with press agencies in promoting the local tourism development potential; building websites and social media accounts to introduce the value of relic sites in the district to people inside and outside the country (for example, the “Viet Yen – the Land of Heritage” column on the district’s portal and the “Viet Yen – the land of quan ho” column on Bac Giang Newspaper).
The district People’s Committee organizes an annual quan ho singing festival as part of the Bo Da Pagoda Festival. In the 2000-2019 period, the district’s quan ho singing festival was held 19 times. A representative of the Culture and Sports Centre of Viet Yen district said that the locality recorded 19 variant readings of quan ho in the Trung Dong quan ho village. This is a specially valuable document that needs to be preserved, promoted and transmitted in the future. In addition, Viet Yen district has also implemented the project “Restoring the reciprocal quan ho singing style” in all villages along the Cau River in Tien Son, Van Ha, Ninh Son, Quang Minh, Quang Chau and Van Trung communes and Nenh township. The preservation and promotion of traditional cultural values have received the authorities’ due attention, toward realizing the goal of developing exemplary new-style rural areas sustainably./.
Là một phần của kế hoạch hiện đại hóa đất nước và bắt kịp các nền kinh tế phát triển khác, Việt Nam hy vọng sẽ là một trong những quốc gia tham gia sớm cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư.
Vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Trong nghị quyết, Bộ Chính trị yêu cầu chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế-xã hội.
Chính phủ Việt Nam đã lên kế hoạch bắt đầu thử nghiệm mạng di động thế hệ thứ năm, hay 5G, trong năm nay tại các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Cũng trong nghị quyết, Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc; mọi người dân được truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp.
Để thực hiện tầm nhìn đầy tham vọng này, Chính phủ Việt Nam đã lên kế hoạch bắt đầu thử nghiệm mạng di động thế hệ thứ năm, hay 5G, trong năm nay tại các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng cần phải lưu ý rằng, chỉ vài năm trước đây, Việt Nam đã ra mắt dịch vụ 4G trên toàn quốc.
Dự kiến sẽ phát mạng 5G thương mại vào năm 2021 là một mục tiêu mà bất kỳ quốc gia phát triển nào cũng khó thực hiện, chưa nói đến một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Nhưng với quan điểm công nghệ 5G là chìa khóa mở ra cơ hội mới, tạo ra các mô hình vận hành kinh doanh có khả năng làm thay đổi nền kinh tế, giúp Việt Nam bứt phá trở thành một nước lớn mạnh về phát triển công nghệ, Chính phủ và các bộ ngành hữu quan, địa phương và doanh nghiệp viễn thông đang nỗ lực, tập trung mọi nguồn lực để quyết tâm hiện thực hóa, về đích đúng thời hạn 2021.
Mạng 5G là gì và tầm quan trọng của nó?
Trong 1-2 năm gần đây, chúng ta đã được nghe thấy và nhìn thấy nhiều về thuật ngữ “mạng 5G” cùng rất nhiều câu chuyện xung quanh cái gọi là Thế hệ mạng di động thứ 5 hoặc hệ thống không dây thứ 5.
Nó ở trung tâm của cuộc chiến thương mại-công nghệ Mỹ-Trung Quốc trong suốt một năm qua với Huawei, hãng cung cấp thiết bị di động hàng đầu cho các nhà mạng không dây trên toàn cầu.
5G là mạng không dây thế hệ 5 tiếp theo sẽ cung cấp cho tất cả mọi người các kết nối Internet nhanh hơn nhiều so với các hệ thống mạng không dây hiện tại.
5G cũng là một chủ đề lớn cho hầu hết các nhà mạng di động trên toàn thế giới, trong đó có các nhà mạng Việt Nam. Những nhà mạng này đang có những bước đi gấp rút để xây dựng các mạng dữ liệu di động nhanh hơn bây giờ.
Vậy 5G là gì? Nói một cách đơn giản, 5G là mạng không dây thế hệ 5 tiếp theo (chữ “G” là viết tắt tiếng Anh của từ thế hệ) sẽ cung cấp cho tất cả mọi người các kết nối Internet nhanh hơn nhiều so với các hệ thống mạng không dây hiện tại. Nhưng, do cách thức hoạt động của nó, nó sắp sửa thay đổi cách nhiều thứ khác kết nối với Internet, như xe hơi và tivi, và thậm chí cả những thứ như đèn kết nối trên đường phố.
5G sử dụng tần số vô tuyến cao hơn để đạt tốc độ nhanh hơn tới 1.000 lần so với hệ thống mạng tiền nhiệm 4G. Theo Hiệp hội công nghệ tiêu dùng Mỹ (Consumer Technology Association), để tải xuống một bộ phim dài hai giờ sẽ mất 26 giờ trên 3G và 6 phút trên 4G. Bây giờ sẽ chỉ mất 3,6 giây trên 5G.
(Nguồn: Getty Images)
Một sự khác biệt lớn nữa là số lượng thiết bị 5G có thể hỗ trợ. Mạng 4G hiện tại hỗ trợ khoảng 4.000 thiết bị trên mỗi km vuông. So sánh, 5G có thể hỗ trợ lên tới 1 triệu thiết bị.
Nhưng có lẽ sự khác biệt đáng kể nhất với 5G là liên quan đến độ trễ – thời gian cần thiết để nhận được phản hồi về thông tin được gửi. Với thời gian trễ thấp hơn đáng kể, công nghệ 5G sẽ giúp cung cấp các mạng di động cho phép chúng ta làm những điều hoàn toàn mới, không chỉ cải thiện những gì chúng ta đã làm.
Khả năng bao gồm robot làm việc trong những nhà máy tiên tiến, xe tự hành và các nhiệm vụ khác yêu cầu phản hồi nhanh – tất cả các lĩnh vực mà mạng 4G phải vật lộn hoặc không thể quản lý được.
Trong một thị trường phụ thuộc vào các ứng dụng máy sử dụng nhiều dữ liệu, tốc độ cao hơn và độ trễ thấp hơn, thì 5G là cần thiết.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Công nghiệp 4.0, được khởi đầu bởi sự kết hợp của các công nghệ mới nổi, như máy học và các thiết bị kết nối vạn vật (IoT).
Nhiều nhà sản xuất đã sử dụng các giải pháp IoT để theo dõi tài sản trong các nhà máy của họ và củng cố các phòng điều khiển, tăng chức năng phân tích thông qua việc cài đặt các hệ thống bảo trì dự đoán.
Một nghiên cứu ước tính 35% các nhà sản xuất Mỹ đang sử dụng dữ liệu từ các cảm biến thông minh trong quá trình thiết lập của họ.
Trong sản xuất, nhiều máy móc dữ liệu thường được sử dụng trong phạm vi gần. Đây là lý do tại sao kết nối 5G là chìa khóa. Trong một thị trường phụ thuộc vào các ứng dụng máy sử dụng nhiều dữ liệu, tốc độ cao hơn và độ trễ thấp hơn, thì 5G là cần thiết để sử dụng hiệu quả robot tự động, thiết bị đeo và tai nghe thực tế ảo (VR), định hình tương lai của các nhà máy thông minh.
Và đặc biệt, 5G cho phép điều này diễn ra ở quy mô chưa từng có.
Cuộc đua 5G đang tăng nhiệt trên toàn cầu
Có mười quốc gia đã thương mại hóa 5G tính đến tháng 9/2019, gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Australia, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Na Uy và Nga.
Theo tờ Thời báo Tài chính, chỉ riêng trong năm nay, các nhà mạng Hàn Quốc đã chi tổng cộng 2,6 tỷ USD để phát triển mạng 5G. Tương tự như vậy, các công ty viễn thông Nhật Bản đã đồng ý đầu tư 14 tỷ USD để phát triển 5G trên toàn quốc.
Tại Mỹ, Tổng thống Donald Trump thậm chí đã “phát lệnh” vào tháng Tư, rằng 5G là một cuộc đua mà nước Mỹ “phải giành chiến thắng.” Ông Trump nói rằng 92 thị trường 5G sẽ hoạt động vào cuối năm nay, sẽ đi trước Hàn Quốc, quốc gia đầu tiên phát mạng thương mại 5G.
Theo một số ước tính, ngành công nghiệp không dây Mỹ có kế hoạch đầu tư 275 tỷ USD vào mạng 5G, tạo ra 3 triệu việc làm một cách nhanh chóng và thêm 500 tỷ USD vào nền kinh tế.
FCC – cơ quan viễn thông Mỹ – cũng đã công bố các quy tắc mới giúp việc triển khai các mạng thế hệ tiếp theo dễ dàng hơn, bao gồm ăngten trung tâm và trạm chuyển tiếp, để thúc đẩy sự phát triển của 5G. FCC cũng đã công bố Quỹ cơ hội kỹ thuật số nông thôn trị giá 20,4 tỷ USD để mang lại mạng 5G nhanh hơn cho các khu vực nông thôn và đấu giá băng tần mới mở 3.400 MHz.
Việt Nam không thể chậm chân và không được phép bị bỏ lại phía sau, thậm chí cần phải sớm triển khai để vượt lên phía trước, coi đó là cơ hội để cả nền kinh tế bứt phá.
Quốc gia láng giềng của Việt Nam và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Trung Quốc đã chính thức phát mạng 5G trước thời hạn vào 1/11/2019, trong một bước đi được cho là giúp quốc gia đông dân nhất thế giới vượt lên trong cuộc đua triển khai mạng dữ liệu di động thế hệ tiếp theo, đặc biệt là trước Mỹ.
Theo Tân Hoa xã, dịch vụ mạng 5G thương mại hiện đã có mặt tại 50 thành phố của Trung Quốc, bao gồm Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu và Thâm Quyến.
Tại khu vực Đông Nam Á, các quốc gia trong khu vực đã có kế hoạch phát triển và triển khai 5G. Malaysia được báo cáo đã bắt đầu chạy thử nghiệm 5G. Campuchia và Thái Lan cũng đã tuyên bố muốn chứng kiến 5G được triển khai ở hai nước này vào năm 2021.
Indonesia cũng đã sử dụng Internet 5G. Mới đây, hai nhà cung cấp mạng di động đất nước vạn đảo là Telkomsel và XL đã tiến hành thử nghiệm 5G ở Đại hội thể thao châu Á 2018.
Ở Philippines, việc chuẩn bị phát mạng 5G cũng đang được thực hiện. Công ty viễn thông Smart của Philippines đã công bố kế hoạch triển khai mạng thử nghiệm 5G trong nửa đầu năm tới, trong khi Globe Telecom cho biết, mạng 5G có thể có mặt sớm nhất là vào quý hai năm 2020.
Dự án thí điểm 5G của Singapore dự kiến sẽ ra mắt vào cuối năm nay.
Rõ ràng với tầm quan trọng và sức nóng của cuộc đua toàn cầu triển khai mạng 5G, Việt Nam không thể chậm chân và không được phép bị bỏ lại phía sau, thậm chí cần phải sớm triển khai để vượt lên phía trước, coi đó là cơ hội để cả nền kinh tế bứt phá.
(Nguồn: AFP/TTXVN)
Con đường đến với 5G của Việt Nam
Tại Hội nghị ASEAN về phát triển mạng thông tin di động thứ năm (5G) diễn ra tại Hà Nội vào 21-22/3/2019, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: “Trong những năm tới, ASEAN sẽ coi 5G là ưu tiên số một trong các hoạt động hợp tác về ICT. Việt Nam sẵn sàng hợp tác với các nước thành viên ASEAN khác để triển khai 5G và thúc đẩy chuyển đổi số.”
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho biết Việt Nam hiện cũng đang tập trung phát triển các doanh nghiệp công nghệ và sản xuất các thiết bị IoT, thiết bị viễn thông, chipset 5G, camera giám sát…
Năm 2018, chỉ số phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam xếp thứ 88 trong số 193 quốc gia, trong đó chỉ số dịch vụ công trực tuyến đã tăng 10 bậc để xếp thứ 59 trong số 193 quốc gia so với năm 2016.
Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép đầu tiên để thử nghiệm mạng 5G cho Viettel, nhà mạng di động lớn nhất đất nước, có hơn 60 triệu thuê bao tại một quốc gia có dân số gần 100 triệu người.
“Trong những năm tới, ASEAN sẽ coi 5G là ưu tiên số một trong các hoạt động hợp tác về ICT. Việt Nam sẵn sàng hợp tác với các nước thành viên ASEAN khác để triển khai 5G và thúc đẩy chuyển đổi số.” (Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng)
Nhà khai thác viễn thông này đã thử nghiệm 5G tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 5 năm nay. Các thử nghiệm dự kiến sẽ được hoàn thành vào tháng 1 năm 2020. Trước đó vào tháng 4, Viettel cho biết đã thử nghiệm thành công một trạm phát sóng 5G tại Hà Nội với tốc độ 600 đến 700Mb/giây, ngang bằng với nhà mạng Verizon ở Mỹ.
Các nhà mạng di động khác, MobiFone và Vinaphone, cũng dự kiến sẽ ra mắt mạng 5G của riêng họ vào năm 2021. MobiFone đã nhận được giấy phép trở thành nhà mạng thứ hai được tiến hành thử nghiệm phát mạng 5G.
Đáng chú ý, Viettel tuyên bố họ đã phát triển các công nghệ cốt lõi của riêng mình cho mạng 5G, bao gồm cả chip và thiết bị. Trên thực tế, tập doàn này cho biết họ đang nhắm đến việc sản xuất 80% cơ sở hạ tầng mạng lõi cần thiết cho mạng vào năm 2020. Phần còn lại sẽ đến từ các nhà cung cấp bên ngoài.
Trong khi đó, MobiFone đã chọn đi cùng với các công nghệ của Samsung. Vinaphone đã tham gia hợp tác với Nokia.
Thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức được phát sóng 5G. (Ảnh: Viettel)
Trong quá trình Việt Nam triển khai 5G, nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu trên thế giới, trong đó có tập đoàn Qualcomm đã bày tỏ sự quan tâm hợp tác chặt chẽ với Chính phủ, các nhà mạng, doanh nghiệp tư nhân để giúp Việt Nam thực hiện đúng kế hoạch phủ sóng 5G và thương mại hóa công nghệ 5G trong năm 2020.
“Chúng tôi đã cung cấp các hạ tầng để nhà mạng cũng như các đối tác tại Việt Nam thử nghiệm 5G và đạt được nhiều kết quả rất khả quan. Bên cạnh đó, trong các buổi các buổi gặp gỡ với chính phủ Việt Nam, tôi nhận thấy các bạn có tầm nhìn xa về 5G và rất kiên định với việc sớm xây dựng hạ tầng mạng 5G trong tương lai gần. Chính phủ Việt Nam đang coi 5G là ưu tiên lớn, và tôi cho rằng 2021 sẽ là năm 5G bùng nổ ở Việt Nam. Đầu tiên 5G sẽ có mặt ở các thành phố lớn, sau đó tiến đến các thành phố nhỏ hơn”. – ông ST Liew, Phó Chủ tịch Qualcomm Technologies kiêm Chủ tịch Qualcomm Đài Loan và khu vực Đông Nam Á phát biểu bên lề sự kiện thường niên Qualcomm Snapdragon Tech Summit 2019, tháng 12/2019.
“Chính phủ Việt Nam đang coi 5G là ưu tiên lớn, và tôi cho rằng 2021 sẽ là năm 5G bùng nổ ở Việt Nam.” (ông ST Liew, Phó Chủ tịch Qualcomm Technologies kiêm Chủ tịch Qualcomm Đài Loan và khu vực Đông Nam Á)
Bà Penny Baldwin, Giám đốc Marketing Tập đoàn Qualcomm khẳng định nếu thử nghiệm 5G thành công, Việt Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia đầu tiên thương mại hóa 5G trên thế giới.
Theo Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông, công nghệ 5G sẽ đem lại một nền kinh tế mới, góp phần giúp Việt Nam tạo ra một loạt sản phẩm mới cho thành phố thông minh, đô thị thông minh phục vụ đời sống. Đây cũng chính là một trong số những chìa khóa quan trọng để gặt hái thành công trong cách mạng công nghiệp 4.0.
Trong giai đoạn đầu tiên của công nghệ 5G, nhiều doanh nghiệp Việt Nam tập trung nguồn lực sản xuất bộ vi xử lý chip-set 5G. Đây được coi là “trái tim” của công nghệ 5G.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 20 công ty làm bộ vi xử lý về lĩnh vực sản phẩm. Khoảng 3.000 kỹ sư Việt Nam đang hoạt động trong lĩnh vực vi mạch điện tử. Nếu Việt Nam tận dụng được trí tuệ tổng hợp này thì việc thiết kế, sản xuất bộ vi xử lý có thể thành hiện thực.
Sản xuất bộ vi xử lý chip-set 5G thương hiệu Việt Nam (Made in Vietnam) là điều kiện tiên quyết để phát sản được các sản phẩm, thiết bị 5G cũng như đảm bảo được các vấn đề an toàn an ninh về lâu dài.
Chặng đường dài phía trước đầy khó khăn nhưng nhiều cơ hội
Mặc dù đã có những bước đi khá sớm và chủ động trong triển khai mạng 5G song theo giới phân tích con đường phía trước của các nhà mạng Việt Nam còn rất nhiều khó khăn, thách thức đi cũng với những cơ hội nếu biết nắm bắt để bứt phá.
Số lượng thuê bao 5G tại Việt Nam được dự báo sẽ đạt 6,3 triệu vào năm 2025, theo báo cáo về sự phát triển 5G ở Đông Nam Á của nhà sản xuất thiết bị mạng Cisco, công bố hồi tháng 10.
Số lượng thuê bao 5G tại Việt Nam được dự báo sẽ đạt 6,3 triệu vào năm 2025.(Nguồn: AFP)
Theo báo cáo của Cisco, Việt Nam và Singapore dự kiến sẽ là những quốc gia đầu tiên trong khu vực tung ra công nghệ truyền thông không dây mới nhất trong giai đoạn 2020-2021.
Cisco Việt Nam cho biết thâm nhập thị trường tại Việt Nam trong giai đoạn đầu triển khai 5G sẽ thấp hơn Indonesia và Thái Lan nhưng tăng trưởng được dự báo sẽ tăng tốc trong giai đoạn sau.
Công ty này cho biết việc triển khai sớm các dịch vụ 5G có thể giúp các nhà mạng di động Việt Nam tăng doanh thu 300 triệu USD mỗi năm, bắt đầu từ năm 2025.
Tuy nhiên, các nhà mạng cần đầu tư khoảng 1,5-2,5 tỷ USD vào công nghệ trong giai đoạn 2020-2025.
Việc triển khai sớm các dịch vụ 5G có thể giúp các nhà mạng di động Việt Nam tăng doanh thu 300 triệu USD mỗi năm, bắt đầu từ năm 2025. (Cisco Việt Nam)
Cisco cho biết Việt Nam và các nước Đông Nam Á cần giải quyết việc phát hành phổ tần số chậm cho các dịch vụ 5G trong khi các nhà mạng cần giới thiệu các dịch vụ và giá 5G phù hợp để khuyến khích người dùng chuyển sang tốc độ cao hơn.
Đối với khách hàng doanh nghiệp, các nhà khai thác di động nên tạo ra các tính năng mới, kết hợp tốc độ nâng cao với các giải pháp và ứng dụng để khách hàng có thể nắm bắt và mở rộng các dịch vụ giá trị gia tăng.
Trong khi đó, ông Lê Văn Thành, Giám đốc công nghệ của Dell EMC Việt Nam nhấn mạnh Việt Nam có thuận lợi với dân số hàng trăm triệu người, tỷ lệ sử dụng thiết bị thông minh kết nối Internet cao so với mức trung bình của thế giới. Cùng với đó, Chính phủ Việt Nam cũng có những chính sách sớm để thúc đẩy phát triển 5G như Bộ Thông tin và Truyền thông đã cung cấp băng tần để thử nghiệm từ năm 2019, tiến tới mục tiêu thương mại hóa vào năm 2020. Nếu thực hiện được như vậy, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới triển khai 5G.
Tuy nhiên, theo ông Lê Văn Thành, Việt Nam sẽ gặp thách thức là số người sử dụng thiết bị cũ 2G, 3G còn nhiều, khi triển khai 5G, người dùng phải thay đổi thiết bị. Ngoài ra, hạ tầng công nghệ thông tin đang triển khai trong các doanh nghiệp cơ bản vẫn là công nghệ cũ, để có thể sẵn sàng cho công nghệ 5G, các doanh nghiệp phải thay đổi, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin.
Liên quan đến vấn đề này, ông Lê Đăng Dũng, quyền Chủ tịch kiêm quyền Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel cho biết khi công nghệ 5G bùng nổ, Viettel cũng sẽ phải có thiết bị 5G của riêng mình để sử dụng. Do đó, Viettel chắc chắn phải tìm ra cách phát triển thành công công nghệ 5G. Quan trọng hơn nữa, toàn bộ sản phẩm 5G về phần cứng và phần mềm sẽ được Viettel nghiên cứu và sản xuất tại Việt Nam để đảm bảo tốt ưu nhất về vấn đề an toàn an ninh thông tin mạng.
Công nhân kiểm tra sản phẩm điện thoại trong nhà máy Vsmart. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Ông Ngô Hoàng Anh, Viện nghiên cứu Thiết bị Viễn thông, Công ty Vinsmart (thuộc tập đoàn Vingroup) cho biết Vinsmart đang tập trung nghiên cứu và sẽ sản xuất các hệ thống 5G, Internet kết nối vạn vật (IoT). Đồng thời Vinsmart đã xây dựng phòng thí nghiệm (Lab) hỗ trợ việc nghiên cứu, phát triển điện thoại 5G và thiết bị viễn thông 5G. Dự kiến tháng 7/2020 sẽ có sản phẩm điện thoại 5G đầu tiên ra mắt, tháng 8/2020 bắt đầu thử nghiệm các thiệt bị viễn thông 5G. Vinsmart cũng đã làm việc với hãng Cisco, Intel để phát triển các thiết bị mạng 5G.
Đại diện Công ty Phần mềm FPT chia sẻ, việc sản xuất được bộ vi xử lý điện tử công nghệ mới là vô cùng khó. Do đó FPT tìm hướng đi khác để tiếp cận vi mạch của chip-set 5G bằng việc đưa chiến lược sản xuất chip trong thời gian 10 năm và đi từng bước khá thận trọng. Trong 5 năm đầu (2014-2019), FPT thành lập nhóm các kỹ sư thiết kế bộ vi điện tử chip-set chuyên đi làm thuê (outsoursing) cho các công ty trên toàn thế giới để tích lũy kinh nghiệm.
Chính phủ Việt Nam có chiến lược cho sản phẩm chip-set 5G do người Việt Nam sản xuất và làm chủ thương hiệu “Make in Vietnam”
Hiện nay, FPT đã có hơn 100 kỹ sư có thể thiết kế được bộ vi điện tử chip-set. Trong giai đoạn 2 (2019-2023), đội ngũ kỹ sư của FPT khi đã có kinh nghiệm sẽ phối hợp lại để tạo ra cả gói sản phẩm về chip-set nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Nhận định việc sản xuất chip-set 5G là vô cùng khó khăn và tốn kém, Thứ trưởng Bộ thông tin và Truyền thông Phan Tâm chia sẻ Bộ Thông tin và truyền thông mong muốn hình thành một cộng đồng những doanh nghiệp, chuyên gia… để chia sẻ kinh nghiệm xung quanh vấn đề làm thế nào để hoàn tất việc sản xuất chip-set 5G tại Việt Nam trong thời gian tới.
Để đảm bảo an toàn trong lĩnh vực 5G, Chính phủ Việt Nam có chiến lược cho sản phẩm chip-set 5G do người Việt Nam sản xuất và làm chủ thương hiệu “Make in Vietnam”./.
Đại hội Đảng lần thứ XII xác định, Đảng đứng trước sứ mệnh lịch sử rất quan trọng. Đó là lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện sự nghiệp đổi mới đồng bộ, toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sớm đưa Việt Nam thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; cải thiện rõ rệt đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân; đồng thời nâng cao uy tín, vị thế trên trường quốc tế.
Để thực hiện thành công sứ mệnh này, yếu tố quan trọng hàng đầu là con người. Nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trần Đình Hương cho rằng nếu Đảng có đường lối đúng nhưng bố trí cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu sai thì đường lối không đi vào được cuộc sống, khó thành công. Trong sự nghiệp Đổi mới và hội nhập quốc tế, yêu cầu về cán bộ có bản lĩnh, năng lực, trí tuệ và đạo đức trong sáng càng trở nên bức thiết, để đảm bảo thành công. Ngược lại, nếu để lọt cán lãnh đạo không đủ phẩm chất thì sẽ chuốc lấy hậu quả khó lường.
“Dân mất niềm tin là mất tất cả. Rất nhiều đảng viên lo lắng cho vận mệnh của Đảng không phải là không có cơ sở,” ông Hương khẳng định.
“Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng.”
Thách thức chuyển thành nguy cơ
Trong Nghị quyết số 12-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI), thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.”
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Có thể lược qua một số thách thức đã được Đảng “điểm mặt chỉ tên” trong Nghị quyết này như: Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm đã tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Một bộ phận không nhỏ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc…
Mặc dù đã nhận diện được các thách thức và đề ra các giải pháp thực hiện nhằm hoá giải các thách thức nói trên nhưng sau 5 năm, từ việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI nhiều hiện trạng nóng bỏng được phát hiện cho thấy “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước,” trích Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XII).
Công tác cán bộ được xác định là khâu ‘then chốt’ của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và rộng hơn là đối với toàn bộ sự nghiệp Đổi mới.
Nhiệm kỳ khoá IX, X, XI và hai năm đầu nhiệm kỳ khoá XII có 70.147 cấp uỷ viên các cấp bị xử lý kỷ luật trong tổng số 234.575 đảng viên bị xử lý kỷ luật (chiếm 30%). Trong đó, có 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, cả đương chức và nguyên chức.
Cán bộ suy thoái không chỉ là nhiều Ủy viên Trung ương Đảng mà còn cả Ủy viên Bộ Chính trị, mức độ tham ô tăng dần lên mức hàng nghìn tỷ đồng… Gần đây nhất, vụ việc ông Nguyễn Bắc Son, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông nhận hối lộ 3 triệu USD trong thương vụ Mobifone mua AVG, làm thiệt hại vốn Nhà nước hơn 7.000 tỷ đồng, đã khiến dư luận xã hội ngỡ ngàng về mức độ nghiêm trọng của vụ việc, về sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận quan chức, cán bộ Nhà nước.
Trước thực trạng trên, tại Hội nghị Trung ương 4 khoá XII, Đảng nhận định: Những hạn chế, khuyết điểm đã làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Lần này, việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng cấp bách ở mức không thể không làm.
Các Ủy viên Trung ương Đảng dự phiên bế mạc Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII) chiều 12/10/2019 tại trụ sở Trung ương Đảng, Hà Nội. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Nặng xử lý cán bộ, thiếu giải pháp ngăn chặn
Theo ông Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương Đảng), Đảng ta là đảng cầm quyền duy nhất. Điều này tạo nên sự khác biệt của Đảng ta so với các đảng khác trên thế giới.
“Một đảng duy nhất cầm quyền có nhiều thuận lợi (trong việc tập hợp lực lượng, thống nhất ý chí, nguyện vọng của nhân dân…) nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ: dễ dẫn tới chủ quan, thỏa mãn, không có sự cạnh tranh vai trò lãnh đạo nên không nhìn thấy những khuyết điểm của mình,” ông Hà phân tích.
Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục, bao gồm nhiều việc và phải được tiến hành trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.
Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất. Việc lượng hóa tiêu chí đánh giá chưa sát, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể.
Thực hiện Di chúc của Bác, Đảng luôn quan tâm, chăm lo đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng diễn ra thường xuyên. “Xây dựng” và “chỉnh đốn” là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau: trong “xây dựng” có “chỉnh đốn,” trong “chỉnh đốn” có “xây dựng.”
“Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn liền với công tác cán bộ bởi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ được xác định là khâu ‘then chốt’ của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và rộng hơn là đối với toàn bộ sự nghiệp Đổi mới,” ông Nguyễn Đức Hà cho hay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp mặt thân mật các đại biểu dự Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sỹ thi đua ngành Nông nghiệp và Đổi công toàn quốc tại Hà Nội, ngày 23/5/1957. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Tuy nhiên, theo phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất từ trước đến nay, việc lượng hóa tiêu chí đánh giá chưa sát, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể; quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương, chưa đảm bảo phương châm “động” và “mở,” có nơi quá cứng nhắc, có nơi lại lỏng lẻo.
Đơn cử, theo Báo cáo số 95-BC/UBKTTW (ngày 4/10/2017) của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc thực hiện Kết luận 24-KL/TW, Bộ Nội vụ quy hoạch 322 người cho 53 chức danh quản lý, trong khi đó, Bộ Công Thương không quy hoạch cán bộ nào; Cần Thơ quy hoạch 1.316 người cho 261 chức danh quản lý, còn Hà Giang quy hoạch 146 người cho 423 chức danh quản lý…
Ngoài ra, tình trạng tham nhũng, lãng phí diễn ra ở nhiều nơi. Điều này có thể thấy rõ qua việc đầu tư gần 70.000 tỷ đồng cho 13 “đại dự án.” Sau nhiều năm, các dự án này vẫn chưa thể đưa vào khai thác gây lãng phí, thất thoát lớn tài sản của Nhà nước.
Những vụ “đại án” liên tục được đưa ra xét xử trong thời gian qua cho thấy quyết tâm đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực của Đảng. Tuy nhiên, thực tế này cho cũng cho thấy, tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm đã kéo dài trong thời gian trước đó.
Việc kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên,thiếu chủ động, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp phòng ngừa sai phạm.
Báo cáo tổng hợp điều tra dư luận xã hội của Viện Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương) về những vấn đề bức xúc nhất trong năm 2017 chỉ rõ, có 37% tổng số ý kiến được hỏi cho rằng, một trong những vấn đề bức xúc nhất là sự cửa quyền, sách nhiễu của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan công quyền; 63% số ý kiến cho rằng nạn tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm vẫn diễn ra nặng nề…
Một trong những ví dụ tiêu biểu nhất là vụ việc liên quan đến Trịnh Xuân Thanh. Tổng công ty Cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) – Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong thời gian Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch Hội đồng quản trị đã thua lỗ gần 3.300 tỷ đồng. Thế nhưng, cá nhân Trịnh Xuân Thanh vẫn được khen thưởng, đơn vị vẫn đạt danh hiệu Anh hùng Lao động.
Ông Mai Văn Chính – Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. (Ảnh: TTXVN)
Khi cơ quan thanh tra, kiểm toán phát hiện doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do sai phạm trong công tác quản lý, Trinh Xuân Thanh được điều động sang địa bàn công tác khác, nắm giữ trọng trách mới.
Cụ thể, tháng 8/2013, Bộ Công Thương điều động Trịnh Xuân Thanh về làm Phó Chánh văn phòng Bộ Công Thương. Sau đó, đến tháng 5/2015, Trịnh Xuân Thanh tiếp tục được luân chuyển làm Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2011-2016.
Có cùng quan điểm trên, ông Mai Văn Chính – Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cho rằng, việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân cán bộ lãnh đạo xảy ra ở một số nơi như Bộ Công Thương, Thanh tra Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Yên Bái…
“Đặc biệt, việc chỉ đạo, triển khai một số chủ trương thí điểm (Đại hội Đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy; nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo Đảng, chính quyền ở cấp xã, cấp huyện) chưa quyết liệt, thiếu nhất quán, chậm sơ kết, tổng kết. Việc kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, thiếu chủ động, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm; kiểm tra theo chuyên đề, chuyên ngành còn hạn chế. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định,” ông Mai Văn Chính nhấn mạnh.
Cụm công nghiệp khí-điện-đạm Cà Mau mỗi năm đóng góp trên 40% nguồn thu ngân sách và tạo ra hơn 30% việc làm cho lao động địa phương tại tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở Đảng viên
Lâu nay, cụm từ “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” được dư luận nhắc đến nhiều hơn khi một loạt các vụ đại án được phanh phui và đưa ra xét xử trong thời gian vừa qua. Điều này cho thấy một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện “phai nhạt” lý tưởng, chạy chức, chạy quyền…
Trong số cán bộ này, nhiều người từng đã có những thành tích nổi trội trong lĩnh vực công tác trước đó, được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao các bằng khen, danh hiệu anh hùng, cất nhắc vào vị trí lãnh đạo, được đồng nghiệp và người dân tin yêu. Thế nhưng, đến một ngày, khi công an phát lệnh khởi tố, dư luận mới ngỡ ngàng nhận ra họ đã “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa,” để rồi dẫn đến tha hóa từ bao giờ!
Trong số cán bộ vi phạm, nhiều người từng có những thành tích nổi trội trong lĩnh vực công tác, được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao các bằng khen, danh hiệu…
Cựu Trung tướng công an, Anh hùng Lực lượng vũ trang, cựu Tổng Cục trưởng Tổng cục cảnh sát Phan Văn Vĩnh là một ví dụ điển hình. Ông Vĩnh vốn là một “tượng đài” trong ngành công an về sự tài ba khi phá án và tình cảm chân thành, ấm áp với đồng đội.
Thế nhưng, đầu năm 2018, Tướng Vĩnh từ anh hùng phá án thành trọng tâm của vụ án đánh bạc nghìn tỷ qua mạng Internet. Đặc biệt, ông Vĩnh không phải là Tướng công an duy nhất dính vào vụ việc nghiêm trọng này.
Lực lượng chức năng dẫn giải bị cáo Phan Văn Vĩnh, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) tới phiên tòa xét xử sơ thẩm 92 bị cáo trong vụ án đánh bạc nghìn tỷ qua mạng Internet. (Ảnh: Trung Kiên/TTXVN)
Ông Nguyễn Thanh Hóa – cựu Thiếu tướng, cựu Cục trưởng Cục Cảnh sát công nghệ cao (C50) cũng nằm trong đường dây này. Hai ông còn “bắt tay” thành lập công ty “bảo kê” cho đường dây đánh bạc. Trụ sở của đường dây đánh bạc đặt tại nơi do Tổng cục Cảnh sát quản lý, thậm chí có cả phòng làm việc của Cục trưởng C50.
Điều này khiến dư luận xã hội ngỡ ngàng về mức độ nghiêm trọng của vụ việc, về sự tha hóa của những cán bộ cấp cao trong ngành công an khi những người đứng đầu cơ quan phòng chống tội phạm lại chính là tội phạm, “bảo kê” cho tội phạm. Tội phạm nằm ngay trong lực lượng chấp pháp, trong lực lượng phòng chống tội phạm!
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức.
Nếu như trước đây “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” thường diễn ra ở một hoặc một số đối tượng thì nay, việc “tự chuyển hóa” tràn qua các ngành, ở một số bộ phận cán bộ, kết nối thành bè cánh, phe nhóm… trong cán bộ, đảng viên. Nguy hiểm hơn là nguy cơ từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nếu chúng ta không có biện pháp phòng, chống hữu hiệu. Trong năm 2019, Ban Bí thư đã xử lý kỷ luật Ban cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải; Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Cán sự Đảng ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cho thấy mối nguy cơ này đang trở nên hiện hữu.
Ông Nguyễn Trọng Phúc nhận định: “Đảng đã nhận rõ nguy cơ này. Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) đã thẳng thắn chỉ rõ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với 27 biểu hiện suy thoái, ‘tự diễn biến,’ ‘tự chuyển hóa’ trong nội bộ.”
Bị cáo Nguyễn Bắc Son trong phiên tòa xử vụ án MobiFone mua lại AVG sáng 23/12/2019. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Phân tích nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập như trên, ông Mai Văn Chính cho rằng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.
Từ đó dẫn đến việc một số cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức thực sự sâu sắc về vai trò, yêu cầu của công tác cán bộ; mối quan hệ giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới cơ chế tổ chức, vận hành của hệ thống chính trị và đổi mới quản lý kinh tế…
“Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số nội dung trong nghị quyết, kết luận thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên; còn tình trạng thiếu trách nhiệm, chưa gương mẫu, mất dân chủ, nể nang, né tránh trong việc tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng,” ông Mai Văn Chính cho biết.
Ngoài ra, Phó Trưởng Ban tổ chức cũng chỉ rõ, hiện nay, nạn ô dù, bao che, sự phân hóa giàu-nghèo diễn ra ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; ở không ít nơi, lợi ích cá nhân lấn át lợi ích tập thể, lợi ích cục bộ lấn át lợi ích toàn cục. Một số cán bộ uy tín thấp, nói không đi đôi với làm, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, có quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp, sa vào lợi ích nhóm.
“Thậm chí, một số cán bộ thiếu gương mẫu trong việc đề bạt, bổ nhiệm ‘nhanh’ người nhà, người thân không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện vòa các vị trí lãnh đạo và những nơi có nhiều lợi ích, tạo dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng,” ông Mai Văn Chính chỉ rõ.
Sáng 18/11, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Ở góc độ khác, phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc cho rằng, một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới những bất cập, hạn chế nêu trên.
Cụ thể, những bất cập hiện nay trong công tác nhân sự còn đến từ việc phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; chưa có biện pháp để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ.
“Nếu những hạn chế, bất cập không được khắc phục và ngăn chặn kịp thời sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới kỷ luật, kỷ cương của Đảng và niềm tin của nhân dân, đặc biệt là trong bối cảnh các địa phương đang ráo riết chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,” nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng bày tỏ.
Có cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Đức Hà cho rằng, hiện nay, việc đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên chưa phản ánh đúng thực chất. Trong thời gian tới, các đơn vị, tổ chức cần đẩy mạnh, siết chặt công tác này. “Việc đánh giá phải được lượng hóa bằng những tiêu chí cụ thể, dựa trên những sản phẩm cụ thể; đồng thời phải được tiến hành liên tục, thường xuyên trong các cuộc họp chi bộ các cấp,” ông Hà nói.
Việc phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực.
Cụ thể, ông Nguyễn Đức Hà cho rằng, việc đánh giá này cần được thực hiện dựa trên kết quả khảo sát cụ thể, đánh giá trong nội bộ tổ chức, cơ sở, đánh giá từ bên ngoài, đồng thời phải có sự so sánh với các chức vụ tương đương.
“Tôi cho rằng, cần giao nhiệm vụ rõ ràng và quyền hạn tương xứng cho người đứng đầu tổ chức, đơn vị, kể cả quyền hạn về tổ chức bộ máy và nhân sự. Khi cán bộ, đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra tình trạng công việc trì trệ hoặc có sai phạm, khuyết điểm thì phải xử lý nghiêm minh, kịp thời, kể cả thay thế cán bộ,” ông Nguyễn Đức Hà chỉ rõ./.
Loạt bài “50 năm Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chỉnh đốn Đảng để củng cố niềm tin của nhân dân”:
Phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc – nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, hiện nay, Đảng đang tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII), nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần tập trung trước hết vào hai nhóm vấn đề: hoàn thiện, phát triển cương lĩnh của Đảng và hoàn thiện, đổi mới công tác cán bộ, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Tăng cường kỷ luật của Đảng
Quan điểm của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là: nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; kết hợp giữa “xây” và “chống” (trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách).
Theo phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần tập trung trước hết vào hai nhóm vấn đề: hoàn thiện, phát triển cương lĩnh của Đảng và hoàn thiện, đổi mới công tác cán bộ, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Cụ thể, cương lĩnh, đường lối của Đảng, nhất là cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần liên tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển theo hướng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nâng cao bản lĩnh chính trị và tinh thần độc lập tự chủ của Đảng.
“Nếu cương lĩnh không phù hợp thực tiễn sẽ dẫn đến chệch hướng, gây ra những hệ quả nghiêm trọng,” ông Phúc nhấn mạnh.
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp. Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Đi liền với đó là nhiệm vụ xây dựng và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng (chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh). Đó là kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
“Những vấn đề lý luận cần được vận dụng, phát triển sáng tạo vào thực tiễn đất nước trong điều kiện mới của thời đại. Đảng phải quyết định quá trình thể chế hóa cương lĩnh, đường lối thành chính sách, pháp luật của nhà nước; đồng thời phải thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước và cả hệ thống chính trị,” phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc chỉ rõ.
Để việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt hiệu quả, trong thời gian tới, cần tăng cường sức mạnh tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Có cùng quan điểm trên, ông Hà Đăng – nguyên Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương cho rằng, để việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt hiệu quả, trong thời gian tới, cần tăng cường sức mạnh tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ngoài ra, ông Hà Đăng cũng cho rằng, cần chú trọng xây dựng những giá trị, chuẩn mực đạo đức trong Đảng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, học tập và làm theo tấm gương tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bên canh việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, Đảng cần chú trọng nâng cao trình độ học vấn, tri thức cho cán bộ, đảng viên.
“Đi liền với việc xây dựng khung tiêu chuẩn về trình độ, đạo đức để cán bộ, đảng viên học tập, phấn đấu, việc xây dựng chế tài xử lý nghiêm minh, chặt chẽ đối với những hành vi vi phạm cũng rất cần thiết để công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt hiệu quả thiết thực, toàn diện,” ông Hà Đăng nhấn mạnh.
Việc ông Nguyễn Bá Cảnh, Thành ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Thành ủy Đà Nẵng bị kỷ luật, một lần nữa cho thấy Đảng ta rất kiên quyết trong việc xử lý cán bộ. (Ảnh: TTXVN)
Phòng ngừa từ trong gia đình, dòng họ
Đối với việc đấu tranh phòng chống tham nhũng nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, ông Nguyễn Trọng Phúc cho rằng, khó khăn lớn nhất là việc nhận diện cụ thể thế nào là chạy chức, chạy quyền. “Nếu đã ‘chạy’ thì phải có thông tin, địa chỉ: ai chạy? Chạy đến đâu? Chạy đến ai?” – ông Phúc đặt vấn đề.
Từ đó, vị chuyên gia này cho rằng, yêu cầu trước hết là phải nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, phải có chế tài kiểm soát chặt chẽ việc chạy chức, chạy quyền.
“Vấn đề quan trọng nhất không phải là ‘Làm sao để kiểm soát?’ mà là ‘Có thực sự muốn kiểm soát hay không?’ Khi người thân (vợ, chồng, cha mẹ, con cái…) nhận quà biếu, quà tặng giá trị lớn (có khi là cả căn nhà, cái xe…) thì cán bộ, đảng viên không thể nói rằng mình vô can, không biết. Bởi vậy, việc đấu tranh chống tham nhũng, chạy chức, chạy quyền phải được bắt đầu, phòng ngừa từ trong gia đình, dòng họ,” ông Nguyễn Trọng Phúc bày tỏ quan điểm.
Hơn nữa, để công tác giáo dục nhận thức cho cán bộ, đảng viên (đặc biệt là lớp trẻ) không trở nên khô cứng, giáo điều, cần bắt đầu bằng những câu chuyện, tấm gương cụ thể, thực tế.
Đưa ra ví dụ, ông Nguyễn Trọng Phúc cho hay, câu chuyện về những người nộp lại quà tặng, quà biếu trái quy định hay câu chuyện về những tấm gương điển hình (như cựu chiến binh Nguyễn Trung Dật ở Thạch Thất, Hà Nội với hành trình hơn 30 năm “đội đơn” tìm công lý cho… người khác; hai ông lão Nguyễn Công Uẩn, Nguyễn Tiến Lãng ở Thuận Thành, Bắc Ninh với hành trình đưa hàng nghìn hồ sơ thương binh giả ra ánh sáng….) sẽ có sức lan tỏa, tác động sâu sắc hơn những bài học lý thuyết.
“Những tấm gương như vậy cần được phát hiện, động viên và giới thiệu rộng rãi để nâng cao nhận thức, ý thức và tạo ra những hành động cụ thể trong cộng đồng,” ông Nguyễn Trọng Phúc cho hay.
Phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu
Để khắc phục những hạn chế trong công tác cán bộ nói riêng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cho rằng, cần nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp, trước hết là cán bộ cấp chiến lược. Bởi, những hành động (dù rất nhỏ) của người đứng đầu cũng có tác động rất lớn tới cán bộ, đảng viên, quần chúng.
Việc nêu gương này cần được cụ thể hóa trên một số phương diện cơ bản như trung thành với lý tưởng cách mạng, cương lĩnh đường lối của Đảng, đường lối phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Hơn nữa, người đứng đầu phải nêu gương rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng; nêu gương về tinh thần mẫn cán, trách nhiệm trong công việc; nêu gương về đổi mới tác phong, phong cách làm việc, chống quan liêu, lãng phí…
Cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả chế độ kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ, đảng viên và kiểm soát quyền lực.
Tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và thống nhất cao việc ban hành Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.”
“Quy định mới do Ban chấp hành Trung ương ban hành có tính pháp lý cao hơn, hiệu lực mạnh hơn, tập trung trước hết vào các đồng chí lãnh đạo cấp cao, các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Theo tôi, đây là biện pháp rất quyết liệt, mạnh mẽ. Bởi lẽ, quy định này thực chất là là một cam kết chính trị của Ban chấp hành Trung ương trước toàn Đảng, toàn dân. Đó cũng là sự cam kết của Ban chấp hành Trung ương đối với chính mình bởi Ban chấp hành Trung ương vừa là người ban hành và vừa là người thực hiện. Cam kết của Ban chấp hành Trung ương được công bố công khai trên các phương tiện đại chúng để toàn Đảng, toàn dân theo dõi giám sát,” ông Nguyễn Đức Hà (Ban Tổ chức Trung ương Đảng) nhận định.
Ở góc độ khác, các chuyên gia cho rằng, để khắc phục những hạn chế tồn tại trong thời gian qua liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả chế độ kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ, đảng viên và kiểm soát quyền lực.
Phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc. (Ảnh: P.Mai/Vietnam+)
Nói khác đi, việc kiểm soát quyền lực, tăng cường kiểm tra, giám sát, ràng buộc trách nhiệm là điều kiện tiên quyết khi thực hiện phân cấp, phân quyền và để ngăn chặn tiêu cực trong công tác cán bộ. Việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương cần đi đôi với việc tạo môi trường để cán bộ phát huy sáng tạo, đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ.
“Dù ở phương diện nào, yêu cầu quan trọng nhất là phải bảo tính khách quan, trung thực, công khai, dân chủ,” phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Trọng Phúc cho hay.
Trong bối cảnh mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 55-KL/TW về tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng.
Kết luận đã yêu cầu rõ: Việc quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, thăng cấp bậc hàm, chỉ định, giới thiệu, điều động, luân chuyển và thực hiện chính sách đối với cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện (cơ cấu, số lượng, độ tuổi, tín nhiệm…), quy trình, chế độ, chính sách theo đúng quy định hiện hành; kiên quyết không đề xuất, quyết định những nhân sự không bảo đảm tiêu chuẩn về độ tuổi, uy tín…; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết, “cục bộ,” “lợi ích nhóm;” thiếu gương mẫu, không sẵn sàng chấp hành sự phân công, điều động của cấp có thẩm quyền; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gây thất thoát tiền bạc, tài sản của Nhà nước; phẩm chất, năng lực hạn chế, có biểu hiện “chạy chọt, vận động, tranh thủ lẫn nhau;” thiếu tích cực trong công tác, sợ trách nhiệm…./.
Chiều 12/10/2019, Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XII) họp phiên bế mạc tại trụ sở Trung ương Đảng, Hà Nội. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Loạt bài “50 năm Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chỉnh đốn Đảng để củng cố niềm tin của nhân dân”:
Những căng thẳng bị đẩy lên tới đỉnh điểm tưởng chừng chỉ cần một cú “sẩy chân” là bước qua “ranh giới đỏ;” những nút thắt ngày càng xoắn chặt khó gỡ bởi những động thái “đổ thêm dầu vào lửa” từ bên ngoài; những mối hận thù “thâm căn cố đế” từng tạm lắng dịu nay lại bùng phát trở lại…
Trung Đông trong năm 2019 đã nhiều lần rơi vào trạng thái căng thẳng nghẹn thở như “bom hẹn giờ” chỉ trực chờ phát nổ bất cứ lúc nào, đặc biệt sau vụ tấn công nhằm vào các cơ sở lọc hóa dầu của Saudi Arabia.
Có thể thấy tình hình Trung Đông 2019 là những mảng phối phức tạp rối ren, thậm chí còn phức tạp hơn những năm trước với nhiều vấn đề mới nảy sinh, giữa những lợi ích trái chiều giằng xé.
Khói bốc lên từ nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia ở Abqaiq, sau vụ tấn công ngày 14/9/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Trung Đông trong năm qua đã nhiều lần rơi vào trạng thái căng thẳng nghẹn thở như “bom hẹn giờ” chỉ trực chờ phát nổ bất cứ lúc nào, đặc biệt sau vụ tấn công nhằm vào các cơ sở lọc hóa dầu của Saudi Arabia – một đồng minh thân cận của Mỹ ở khu vực.
Hàng loạt vụ tấn công các tàu chở dầu tại vùng Vịnh khiến tình hình khu vực trở nên vô cùng bất an và mọi chỉ trích của Washington và các đồng minh trong khu vực đều hướng về phía Tehran, mặc dù Iran đã bác bỏ mọi cáo buộc.
Căng thẳng tới mức đã có lúc Trung Đông bị đặt vào tình trạng “báo động cao” trước một cuộc xung đột vũ trang hay kịch bản Mỹ áp dụng biện pháp quân sự để răn đe nước cộng hòa Hồi giáo.
Cuộc đối đầu dai dẳng giữa Mỹ và Iran là một trong những nguyên chính chính làm Trung Đông trong năm qua cận kề “lò hỏa thiêu” với nhiều phen gay cấn bởi những bước leo thang liên tiếp khi hai bên cùng giữ lập trường không khoan nhượng và áp dụng chính sách cứng rắn theo kiểu “bên miệng hố chiến tranh.
Bên trong một cơ sở hạt nhân của Iran tại Qom, miền bắc Iran, ngày 6/11/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Đáp trả biện pháp siết chặt trừng phạt của Mỹ, Tehran thực hiện những bước đi hướng tới giảm dần các cam kết theo thỏa thuận hạt nhân với các cường quốc thế giới nhằm gây sức ép với các đối tác tham gia thỏa thuận.
Iran tuyên bố kể từ ngày 6/11 làm giàu urani ở mức 5% tại cơ sở hạt nhân Fordow, đồng thời để ngỏ khả năng nâng mức làm giàu urani lên 20% nếu cần thiết.
Đây là một động thái khiến các bên liên quan đến hết sức lo ngại về nguy cơ đổ vỡ thỏa thuận hạt nhân được ký năm 2015 giữa Iran với nhóm P5+1 (gồm Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc cùng với Đức) này, sau khi Mỹ đã đơn phương rút khỏi hồi năm 2018.
Cho đến nay, Washington và Tehran vẫn chỉ dừng lại ở trò chơi “mèo vờn chuột” dù rằng liên tiếp đưa ra những chỉ trích hay cáo buộc lẫn nhau, song câu chuyện đối đầu Mỹ-Iran luôn tạo ra hiểm họa và mọi bước đi thiếu kiểm soát của bất kỳ bên nào đều có thể trở thành “giọt nước làm tràn ly” đe dọa an ninh và ổn định ở Trung Đông.
Khu định cư Revava của Israel nhìn từ làng Kifl Hares của Palestine, ngày 19/11/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Iran đối với Mỹ không chỉ là “kẻ thù chính” ở khu vực Trung Đông, mà nước cộng hòa Hồi giáo này còn là quốc gia “bên kia chiến tuyến” cũng như cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt với các đồng minh chủ chốt của Washington trong khu vực như Saudi Arabia hay Israel.
Những biến động ở Trung Đông 2019 gắn liền với sự thay đổi trong chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với khu vực.
Ngoài vấn đề Iran, Mỹ đã đảo ngược lập trường về các khu định cư Do Thái, theo đó không còn coi các khu định cư Do Thái là “không phù hợp với luật pháp quốc tế.”
Theo giới quan sát, chính sách của Mỹ đối với Trung Đông đang là một yếu tố gây bất ổn, trong nhiều trường hợp khiến tình hình càng trở nên phức tạp hơn.
Bằng những động thái có phần thiên vị Tel Aviv, bao gồm cả “Thỏa thuận thế kỷ” do Washington khởi xướng để giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine, Washington đã “khấy đảo” tình hình khu vực, cản trở lộ trình hòa bình Trung Đông trên cơ sở giải pháp hai nhà nước.
Theo giới quan sát, chính sách của Mỹ đối với Trung Đông đang là một yếu tố gây bất ổn, trong nhiều trường hợp khiến tình hình càng trở nên phức tạp hơn.
Năm 2019 cũng chứng kiến chính sách thiếu nhất quán và không rõ ràng của Washington đối với vấn đề Syria. Mới đây, Mỹ lại tuyên bố quay trở lại cùng người Kurd chống tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, sau khi rút dần lực lượng khỏi miền Bắc Syria hồi tháng 9, động thái được cho là “bật đèn xanh” cho cuộc tấn công quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm vào lực lượng người Kurd ở khu vực Đông Bắc Syria.
Binh sỹ Mỹ tuần tra tại Rumaylan thuộc tỉnh Hasakeh, Đông Bắc Syria ngày 6/11/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Mặc dù chiến dịch quân sự này không kéo dài quá một tháng, song nó cũng cho thấy tính chất phức tạp của cuộc khủng hoảng Syria với sự can dự của nhiều thế lực bên ngoài.
Những quyết sách “tiền hậu bất nhất” của ông chủ Nhà Trắng đối với vấn đề Syria và người Kurd cũng như sự khác biệt về lợi ích của các thế lực nước ngoài chi phối tình hình Syria phần nào khiến cuộc xung đột tại quốc gia Trung Đông vẫn chưa thể giải quyết.
Người Syria khó có thể định đoạt được tương lai của đất nước, dù rằng đã có lúc tưởng chừng chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad đã tiến sát tới khả năng giành lại được toàn bộ các vùng lãnh thổ vốn bị lực lượng phiến quân hay người Kurd kiểm soát.
Vòng đàm phán do Liên hợp quốc bảo trợ về vấn đề Syria kéo dài một tuần ở Geneva, Thụy Sĩ đã kết thúc mà không đạt đồng thuận về chương trình nghị sự.
Người biểu tình tập trung tại Tripoli, Liban, ngày 20/10/2019. (Ảnh: THX/TTXVN)
Vòng đàm phán mới đây nhất của Ủy ban Hiến pháp Syria cũng không đạt tiến triển như mong đợi. Điều này cùng với những diễn biến giao tranh và đụng độ trên thực địa cho thấy lộ trình hướng tới nền hòa bình và ổn định lâu dài ở quốc gia Trung Đông này còn rất nhiều chông gai.
Trung Đông năm 2019 còn ghi dấu làn sóng biểu tình phản đối chính phủ ở nhiều nước trong khu vực, trong đó có Iraq, Liban…
Trước áp lực của người biểu tình, Thủ tướng Liban Saad al-Hariri ngày 29/10 đã phải tuyên bố từ chức, đẩy nước này chìm sâu vào cuộc khủng hoảng chính trị cũng như đối mặt với những căng thẳng kinh tế tồi tệ nhất kể từ cuộc xung đột giai đoạn 1975-1990.
Còn tại Iraq, hàng trăm người đã thiệt mạng và nhiều người bị thương trong các vụ đụng độ liên quan tới biểu tình đường phố ở thủ đô Baghdad và nhiều tỉnh, thành phố miền Nam.
Hiện trường một vụ nổ bom ở quảng trường Tahrir, thủ đô Baghdad, Iraq ngày 16/11/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Thủ tướng Iraq Adel Abdul Mahdi cũng đã đệ đơn từ chức. Dư luận lo ngại làn sóng biểu tình trên có thể diễn biến theo kiểu hiệu ứng “domino,” gợi lại những hình ảnh về sự kiện mang tên “Mùa Xuân Arab” dẫn đến sự sụp đổ của nhiều chính thể trong khu vực vốn thường xuyên bất ổn này.
Cũng không thể không nhắc tới tình hình chính trường Israel khi nước này sẽ phải tiến hành cuộc bầu cử lần thứ ba trong vòng 1 năm. Israel rơi vào bế tắc chính trị sau khi phải tổ chức bầu cử quốc hội 2 lần chỉ trong vòng 5 tháng nhưng vẫn không thể thành lập được chính phủ mới, do lãnh đạo hai chính đảng chủ chốt, Thủ tướng Benjamin Netanyahu của đảng Likud và ông Benny Gantz thuộc đảng Xanh-Trắng không tìm kiếm được tiếng nói chung.
Tình trạng trên phản ánh sự chia rẽ sâu sắc trên chính trường Israel, trong khi nhiều cử tri nước này đã “mệt mỏi” với giới chính trị gia.
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu chủ trì cuộc họp nội các tại Jerusalem ngày 27/10/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Các nhà quan sát còn dự báo rằng Israel có nguy cơ hứng chịu những tác động tiêu cực khi phải tổ chức cuộc bầu cử lần thứ ba, dự kiến diễn ra tháng 3 năm tới, trong bối cảnh ông Netanyahu đối mặt với khả năng bị truy tố về các cáo buộc tham nhũng và lạm quyền.
Trong khi đó, những căng thẳng kéo dài mấy năm qua giữa Qatar với 4 nước gồm Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Barain và Ai Cập, lại le lói cơ hội được giải tỏa sau Hội nghị thượng đỉnh Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh (GCC) lần thứ 40 diễn ra ở thủ đô Riyadh của Saudi Arabia.
Tình hình Trung Đông năm 2020 được dự báo sẽ vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường khi khu vực này là tâm điểm tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc.
Quốc vương Saudi Arabia Salman bin Abdelaziz Al Saud đã mời Quốc vương Qatar Sheikh Tamim bin Hamad Al Thani tới tham dự hội nghị này, động thái được đánh giá là thể hiện lập trường sẵn sàng tiến tới hòa giải với Doha, trong khi Qatar cũng sẵn sàng đáp lại những cử chỉ thiện chí từ các nước vùng Vịnh.
Đây là tín hiệu tích cực, mở ra hy vọng chấm dứt cuộc khủng hoảng giữa các nước vùng Vịnh trong tương lai không xa sau hơn 2 năm căng thẳng.
Ngoại trưởng Qatar Mohammed bin Abdulrahman al-Thani (phải) trong cuộc gặp với Tổng thư ký Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh GCC AbdulLatif al-Zayani (trái) tại Doha, Qatar,ngày 3/12/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tình hình Trung Đông năm 2020 được dự báo sẽ vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường khi khu vực này là tâm điểm tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc.
Lộ trình hướng tới tháo gỡ những mâu thuẫn dai dẳng, như mâu thuẫn giáo phái giữa dòng Hồi giáo Sunni và Shi’ite hoặc những cuộc đối đầu như Mỹ-Iran hay Iran với các nước trong khu vực, vẫn còn nhiều gian nan. Bài toán Syria chưa có lời giải thỏa đáng.
Tiến trình hòa bình Trung Đông sẽ còn nhiều trắc trở khi Israel với sự “chống lưng” của Mỹ sẽ tiếp tục áp dụng chính sách cứng rắn khi giải quyết các vấn đề còn tồn tại với Palestine.
Xung đột ở Yemen khó có cơ hội chấm dứt do sự can dự của các lực lượng nước ngoài và có thể còn kéo dài, dù tình hình nhân đạo tại đây ngày càng trầm trọng khi đã có hơn 100.000 người thiệt mạng, hàng triệu người mất nhà ở, thiếu lương thực và thuốc men.
Bất ổn ở một loạt nước trong khu vực như Iraq hay Liban sẽ khó được giải quyết triệt để và thậm chí có thể tiếp tục chìm sâu hơn nữa vào khủng hoảng./.
Toàn cảnh Hội nghị thượng đỉnh Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) tại Riyadh, Saudi Arabia, ngày 10/12/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhân dân ta đã anh dũng, kiên cường, bất khuất đấu tranh giành và giữ nền độc lập, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Công cuộc đấu tranh đó đã để lại một di sản vô cùng quý giá, đó là tư tưởng và nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc, thấm đẫm tính nhân văn-văn hóa quân sự Việt Nam.
Không khoan nhượng trước kẻ thù xâm lược
Trong các cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc, chống lại ách đô hộ của ngoại bang, nhân dân ta luôn đoàn kết thành một khối thống nhất với ý chí quật cường, không khuất phục trước kẻ thù xâm lược hung bạo.
Công cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc đã để lại một di sản vô cùng quý giá, đó là tư tưởng và nghệ thuật quân sự độc đáo, đặc sắc, thấm đẫm tính nhân văn-văn hóa quân sự Việt Nam.
Trong sự nghiệp giữ nước vĩ đại đó đã xuất hiện những danh tướng kiệt xuất, mãi mãi đi vào lịch sử, như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung-Nguyễn Huệ… Họ là những anh hùng dân tộc không chỉ có tài thao lược quân sự xuất chúng mà còn là những nhà tư tưởng-văn hóa đậm chất nhân văn, ngay kẻ thù cũng phải khâm phục.
Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ: Chủ tịch Hồ Chí Minh (giữa), Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên phải) và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Trong mỗi thời kỳ lịch sử, dân tộc ta đều có phương thức đấu tranh phù hợp để bảo vệ non sông, gấm vóc và cuộc sống yên bình của nhân dân. Đây là cơ sở hình thành, phát triển nghệ thuật quân sự độc đáo Việt Nam – hệ giá trị văn hóa giữ nước – văn hóa quân sự có một không hai trên thế giới.
Lịch sử đã khẳng định, tư tưởng quân sự của dân tộc ta là tư tưởng tiến công, cũng có thể nói là tư tưởng chiến lược tiến công. Lựa chọn tư tưởng tiến công là thể hiện tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết thắng quân xâm lược của cả dân tộc. Từ đó tạo nên sự đoàn kết toàn dân, niềm tin chiến thắng và không chịu khuất phục kẻ thù cho dù chúng có mạnh và hung bạo đến đâu.
Thực tế các cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, kẻ địch có tiềm lực kinh tế-quân sự mạnh hơn hẳn và triệt để phát huy ưu thế về binh lực, vũ khí, trang bị… để thực hiện đánh nhanh, giải quyết nhanh, đè bẹp ý chí chiến đấu và buộc nhân dân ta phải khuất phục.
Trước tình thế đó, các triều đại Nhà nước phong kiến Đại Việt đều chú trọng thực hiện nhiều kế sách giữ nước, trong đó khơi dậy tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong nhân dân.
Chiến sỹ đại đội 3 đoàn X pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô mưu trí, dũng cảm, đã nổ súng kịp thời và chính xác, góp phần bắn rơi 2 máy bay Mỹ. (Ảnh Tư liệu: TTXVN)
Ý chí quyết đánh của nhân dân cả nước được thể hiện rõ trong Hội nghị Diên Hồng của các bô lão và hai chữ “Sát Thát” trên cánh tay của binh lính thời nhà Trần; hoặc “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của Bà Trưng, Bà Triệu.
Đường lối, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng ta là tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa yêu nước, văn hóa quân sự Việt Nam được kết tinh qua lời kêu gọi, động viên bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do,” “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập…” đã thôi thúc tinh thần 54 dân tộc thuộc “con Lạc, cháu Hồng” đứng lên cầm vũ khí đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước.
Toàn dân đánh giặc
Trong tình thế luôn phải đương đầu với các thế lực xâm lược mạnh và tàn bạo, đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam ở mọi thời kỳ là động viên toàn dân đánh giặc.
Phi công Mỹ bị bắt sống bên xác máy bay trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. (Ảnh: TTXVN)
Đây là nét văn hóa quân sự truyền thống, đáng tự hào của dân tộc Việt Nam. Để giữ vững giang sơn bờ cõi – “non sông nghìn thuở vững âu vàng,” các triều đại phong kiến Đại Việt đều nhất quán tư tưởng, quan điểm: cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của thế trận “làng-nước,” sức mạnh của toàn dân tạo nên sức mạnh vô địch để đánh bại kẻ thù xâm lược.
Đến thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng này không những được vận dụng sáng tạo, mà còn phát triển lên tầm cao mới, được thể hiện tập trung qua khái quát cô đọng của Bác Hồ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công.”
Đường lối, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng ta là tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính…
Hơn thế, Đảng ta còn phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đánh địch trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao.
Ngày 10/10/1954, các đơn vị của Đại đoàn Quân Tiên Phong-Sư đoàn 308 chia làm nhiều cánh mở cuộc hành quân lịch sử tiến về tiếp quản Hà Nội trong rừng cờ hoa cùng niềm vui hân hoan của hai mươi vạn người dân Thủ đô tràn ra đường chào đón đoàn quân chiến thắng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Nhờ có đường lối, nghệ thuật quân sự đúng đắn, Đảng ta đã huy động và tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh đổ từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
Linh hoạt “thế, lực, thời, mưu”
Nghệ thuật quân sự Việt Nam đặc sắc ở chỗ vận dụng linh hoạt “thế, lực, thời, mưu”, với nhiều cách đánh sáng tạo để giành thắng lợi với tổn thất ít nhất.
Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt “mưu phạt tâm công,” “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”… làm cho nghệ thuật quân sự và văn hóa quân sự Việt Nam càng trở nên đặc sắc, độc đáo.
Đây cũng là nét tiêu biểu nhất thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa giữ nước Việt Nam. Và xuất phát từ đạo lý “thương người như thể thương thân”, “tương thân, tương ái,” trong các cuộc chiến tranh nói chung, các trận đánh nói riêng, nghệ thuật quân sự Việt Nam vừa thể hiện quyết tâm giành thắng lợi, vừa cố gắng hạn chế thấp nhất tổn thất cho cả hai bên.
Và khi thắng lợi luôn ứng xử mang đậm tính nhân văn, bác ái giữa con người với con người nhằm xóa bỏ thù hận, mau chóng nối lại hòa hiếu bang giao giữa hai quốc gia, dân tộc.
Đây là nét đẹp truyền thống, bản sắc văn hóa quân sự của dân tộc, được các thế hệ duy trì thực hiện và phát triển.
Quang cảnh lễ ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973, tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp). (Ảnh: Văn Lượng/TTXVN)
Để giành thắng lợi, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã kết hợp chặt chẽ giữa thế và lực, kết hợp đấu tranh vũ trang và phi vũ trang.
Với tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt “mưu phạt tâm công”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”… làm cho nghệ thuật quân sự và văn hóa quân sự Việt Nam càng trở nên đặc sắc, độc đáo.
Tư tưởng đó tiếp tục được vận dụng sáng tạo ở thời đại Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng mà rõ nhất là công tác địch vận.
Công tác này được thực hiện hết sức hiệu quả, có tác dụng như một “vũ khí” sắc bén, một “sức mạnh mềm” không những kêu gọi được nhiều người lầm đường, lạc lối trở về với dân tộc, với chính nghĩa, chống lại quân xâm lược mà còn giúp họ thấy rõ tính chất phi nghĩa của kẻ xâm lược.
Tính nhân văn, dân tộc sâu sắc
Văn hóa quân sự Việt Nam có tính nhân văn, tính dân tộc sâu sắc, nó được thể hiện trong cách ứng xử giữa con người với con người. Mối căm hận trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược có thể khiến người dân Việt Nam tiêu diệt kẻ thù.
Đại úy Phạm Xuân Thệ (bên phải), Trung đoàn phó Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2) cùng các chiến sỹ Quân giải phóng dẫn giải Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu của Ngụy quyền Sài Gòn tới Đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)
Nhưng dân tộc Việt Nam không làm vậy; trái lại, luôn bằng mọi cách để mở đường “hiếu sinh” cho binh sỹ đối phương về nước an toàn. Đó là điều kiện đầy tính nhân văn để hai nước xây dựng mối quan hệ hòa hiếu, hữu nghị, cùng phát triển.
Lịch sử đã chứng kiến những hành động cao cả của dân tộc Việt Nam đối với kẻ xâm lược, như: vua Trần đảm bảo an toàn cho quân Nguyên; Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi cung cấp lương thảo, phương tiện cho quân Minh; Đảng, Nhà nước ta thực hiện chính sách tù, hàng binh, “nghinh tiễn” quân Pháp, quân Mỹ cuốn cờ về nước. Bằng những hành động trên, dân tộc ta đã thể hiện nguyện vọng cháy bỏng: hòa bình, hữu nghị và ổn định với các quốc gia, dân tộc trên thế giới, nhất là đối với các nước láng giềng.
Tính nhân văn, dân tộc thời đại Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chiến lược, sách lược cách mạng, chỉ đạo chiến tranh nhân dân.
Thi hành Hiệp định Paris, ngày 29/3/1973, những người lính Mỹ cuối cùng lên máy bay tại sân bay Đà Nẵng để rút khỏi Việt Nam dưới sự giám sát của Tổ Quốc tế và Tổ Liên hợp Quân sự 4 bên. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Trên mặt trận ngoại giao, chính sách đối ngoại có nguyên tắc và đầy tình nghĩa của Đảng, Nhà nước ta trong các cuộc đàm phán hòa bình ở Fontainebleau, Geneva và Paris… thể hiện rõ cốt cách của một dân tộc yêu hòa bình, đầy lòng nhân ái, vị tha. Đồng thời, đảm bảo tính nguyên tắc, cứng rắn về chiến lược với sách lược mềm dẻo, có lý, có tình.
Trong đó, cuộc hòa đàm ở Paris là minh chứng điển hình đã gây ấn tượng mạnh trong chính giới và báo giới quốc tế về “trường phái ngoại giao Việt Nam-Hồ Chí Minh.”
Những di sản quý báu đó tiêu biểu cho tài thao lược kiệt xuất của ông cha ta. Nó được kế thừa, phát huy, phát triển và nâng cao ở các thế hệ tiếp nối, nhất là ở thời đại Hồ Chí Minh./.
Xe tăng của Lữ đoàn 203, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975, đánh dấu Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương có đã có bài viết: “75 NĂM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG VỮNG BƯỚC DƯỚI LÁ CỜ VINH QUANG CỦA ĐẢNG.”
TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:
Trong suốt 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành (22/12/1944 – 22/12/2019), Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thắng lợi đó là kết tinh, hội tụ bởi nhiều yếu tố; trong đó, sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, sáng suốt của Đảng đối với Quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn tự hào và đặt niềm tin vào Quân đội nhân dân Việt Nam – Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng.
Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn tự hào và đặt niềm tin vào Quân đội nhân dân Việt Nam – Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng.
Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời, khẳng định tính tất yếu phải tổ chức, lãnh đạo để quân đội trở thành lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Ngay từ Chánh cương vắn tắt của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 đã chỉ rõ: Đảng phải “Tổ chức ra quân đội công nông”[1]. Nghị quyết về “Đội tự vệ” thông qua tại Đại hội I của Đảng (tháng 3/1935) xác định: Công nông cách mạng tự vệ đội đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương Quân ủy của Đảng Cộng sản; luôn luôn phải giữ quyền chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng Cộng sản trong tự vệ thường trực. Trong lãnh đạo xây dựng, phát triển lực lượng, Đảng xác định phải làm cho các đội du kích đi đúng “con đường chính trị”; lấy đấu tranh chính trị làm cơ sở để đấu tranh vũ trang giành chính quyền.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số I – Quyết định thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22/12/1944). (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời (ngày 22/12/1944), bên cạnh hệ thống chỉ huy, Đảng lập chi bộ đảng để lãnh đạo Đội thực hiện các nhiệm vụ một cách tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đây là cơ sở quan trọng để Đội phát huy sức mạnh giành chiến thắng ngay từ trận đầu, mở ra truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội được khẳng định ngay từ khi Quân đội mới thành lập, thông qua một cơ chế, phương thức chặt chẽ, phù hợp, bảo đảm cho Quân đội thực sự là “tổ chức quân sự của Đảng,” luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân. Quân đội ta được giáo dục về đường lối, nhiệm vụ của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm được chức năng, nhiệm vụ, đối tượng, đối tác và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn cách mạng. Nhờ đó, tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân đã thấm nhuần đến từng đảng viên, cán bộ, chiến sỹ, làm cho Quân đội ta luôn trung thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để chiến thắng kẻ thù.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội được khẳng định ngay từ khi Quân đội mới thành lập, thông qua một cơ chế, phương thức chặt chẽ, phù hợp, bảo đảm cho Quân đội thực sự là “tổ chức quân sự của Đảng,”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Quân đội đã cùng đồng bào cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; từ đánh nhỏ lên đánh lớn, từ đánh du kích lên đánh chính quy, từ tiến công chiến thuật lên tiến công chiến dịch, tiến công và phản công chiến lược, càng đánh càng mạnh, Quân đội ta đã lập nên những chiến công vang dội. Với thắng lợi của chiến dịch Đông Xuân 1953 – 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Lần đầu tiên trong lịch sử đương đại, một quân đội trang bị vũ khí thô sơ đã đánh bại đội quân nhà nghề, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do,” Quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân ta không quản gian khổ, hy sinh, liên tiếp đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Những thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở 2 miền Nam – Bắc, đặc biệt là thắng lợi đánh bại cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm bằng pháo đài bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12/1972… đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, cam kết chấm dứt chiến tranh, tạo điều kiện để chúng ta tập trung sức mạnh bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc đầy hy sinh, gian khổ nhưng cũng rất hào hùng, oanh liệt.
Xe tăng của Lữ đoàn tăng – thiết giáp 203, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Không chỉ chiến đấu giải phóng dân tộc mình, với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp bạn là tự giúp mình”, Quân đội ta còn sát cánh cùng lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù chung. Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược vừa kết thúc thắng lợi, Quân đội ta lại bước vào cuộc chiến đấu ác liệt để bảo vệ biên giới và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, để lại hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân nước Bạn.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới, Quân đội tiếp tục làm tốt chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất; đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ; luôn chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, hoạch định đường lối chiến lược bảo vệ Tổ quốc; đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình,” “phi chính trị hóa,” “dân sự hóa” Quân đội của các thế lực thù địch.
Cùng với đó, Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình,” “phi chính trị hóa,” “dân sự hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, đẩy mạnh công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc, tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.
Suốt 75 năm qua, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, kể cả trong thời điểm khó khăn, phức tạp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và cũng là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội.
Được sự chăm lo, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, giữ vững lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, bản lĩnh chính trị, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xây đắp nên truyền thống: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.”
* * *
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; tình hình Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường, xu hướng liên kết, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động sâu sắc đến tất cả các quốc gia trên nhiều phương diện.
Quân chủng Hải quân Việt Nam với trang thiết bị hiện đại (Cam Ranh, Khánh Hòa). (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Ở trong nước, mặc dù đạt được nhiều thành tựu về kinh tế-xã hội, kinh tế vĩ mô bảo đảm ổn định nhưng chưa thật sự vững chắc; tiềm lực của đất nước tiếp tục được tăng cường, uy tín, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức.
Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình,” thúc đẩy “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa,” “phi chính trị hóa” và “dân sự hóa” Quân đội, nhất là trước, trong và sau Đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất nặng nề, trong đó xác định cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp.
Vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội
Năm 2020 và những năm tiếp theo, nhiệm vụ của Quân đội ngày càng cao và nặng nề hơn. Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, thể hiện ở một số nhiệm vụ cơ bản sau:
Trước hết, đẩy mạnh công tác giáo dục, thống nhất nhận thức về sự cần thiết phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân. Bởi vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta là một tất yếu khách quan, là nhân tố quyết định sự phát triển, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương với các đại biểu điển hình tiên tiến toàn quốc trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân vững mạnh giai đoạn 2009-2019. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị.
Vì vậy, Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sỹ Quân đội để không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ,” tinh thần chiến đấu, thực sự là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện lệch lạc, nhận thức không đúng về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; bảo đảm cho Quân đội càng tiến lên chính quy, hiện đại thì sự lãnh đạo của Đảng càng phải được giữ vững và tăng cường.
Tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện lệch lạc, nhận thức không đúng về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội
Hai là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đây là yếu tố hàng đầu để Đảng bộ Quân đội nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, làm cho chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng, bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, Đảng và nhân dân, vững vàng trước những khó khăn, thử thách.
Thường xuyên kiện toàn hệ thống tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trình độ, năng lực, nhất là năng lực quán triệt, cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Xây dựng phương pháp, phong cách công tác khoa học, có tinh thần đổi mới, sâu sát, quyết liệt, hiệu quả, không phô trương, hình thức; tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật Đảng.
Đảng bộ Quân đội tiếp tục gương mẫu, đi đầu trong thực hiện các nghị quyết, chủ trương, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ trì các cấp, nói đi đôi với làm, cấp trên làm gương cho cấp dưới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nội bộ đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng. Kiên quyết chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa;” chạy chức, chạy quyền, tiêu cực, tham nhũng…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương nói chuyện với đại biểu điển hình tiên tiến trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân vững mạnh. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
Trước mắt, các cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác chuẩn bị, tiến hành thành công Đại hội đảng bộ các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp; gắn xây dựng đội ngũ cấp ủy với đội ngũ cán bộ chủ trì theo phương châm kế thừa, ổn định và phát triển.
Việc chuẩn bị đại hội phải đi đôi với lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nâng cao trình độ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng khu vực phòng thủ; gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, nhận thức rõ đối tượng, đối tác, làm tốt việc tham mưu, chỉ đạo, dự báo chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của Đảng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Đẩy mạnh công tác dân vận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Quân đội, tăng cường đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân,” nhất là trên các địa bàn chiến lược.
Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội phải bám sát tình hình thực tiễn của đất nước, của Quân đội và những tác động của tình hình quốc tế để chủ động giải quyết vấn đề về nhận thức, tư tưởng chính trị, thấy rõ những thuận lợi, khó khăn để đề ra nội dung, hình thức, biện pháp hoạt động phù hợp, bảo đảm cho công tác đảng, công tác chính trị luôn là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội. Đẩy mạnh công tác dân vận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Quân đội, tăng cường đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân,” nhất là trên các địa bàn chiến lược.
Cùng với đó, cần coi trọng việc quán triệt, tổ chức thực hiện chiến lược cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược vững vàng, kiên định, gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, thích ứng tốt với sự phát triển của tình hình, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, chăm lo xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị vững mạnh về mọi mặt, nhất là khả năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những vấn đề chiến lược, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Bộ đội Biên phòng và chiến sỹ Đoàn Kinh tế quốc phòng 356 giúp dân trồng lúa nước tại bản Hoang Thèn, xã Vàng Ma Chải, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Bốn là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Đảng đã xác lập và không ngừng bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo đối với Quân đội để phù hợp với tình hình, nhiệm vụ cách mạng. Nhờ đó, Quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
Việc thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về tổ chức đảng, tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần rất quan trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với cơ quan, đơn vị. Qua đó, hệ thống tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội được chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; vai trò, trách nhiệm của người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp được phát huy; hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị được tăng cường.
Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung và xây dựng Quân đội nói riêng có bước phát triển mới, yêu cầu cao đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Bởi vậy, cấp ủy các cấp cần nghiên cứu, vận dụng những bài học kinh nghiệm được đúc rút trong thực hiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; thường xuyên đổi mới phương thức, lề lối làm việc, xác định rõ nguyên tắc, quy chế phối hợp vận hành bộ máy lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trong toàn quân. Tích cực nghiên cứu những vấn đề mới, có tính quy luật, nguyên tắc để đề xuất với Đảng, Nhà nước bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, cơ chế, chính sách đối với Quân đội cho phù hợp với yêu cầu phát triển của tình hình mới.
Năm là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch “phi chính trị hóa” Quân đội. Các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn quân cần chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để bộ đội thấy rõ sự nguy hiểm của âm mưu chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội.
Kế thừa và phát huy truyền thống 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục viết nên những trang sử oanh liệt, hào hùng, làm rạng rỡ non sông, đất nước.
Tập trung quán triệt, thực hiện tốt nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới;” chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội. Chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, góp phần nâng cao sức đề kháng, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên nắm, quản lý và giải quyết tốt tư tưởng của bộ đội, không để bị động, bất ngờ; kịp thời xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp trong thực tiễn theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; phòng, chống “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” và những biểu hiện thoái hóa, biến chất, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Các cơ quan nghiên cứu, báo chí, văn hóa-nghệ thuật của Quân đội phải giữ vững định hướng chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Tóm lại, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng. Kế thừa và phát huy truyền thống 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục viết nên những trang sử oanh liệt, hào hùng, làm rạng rỡ non sông, đất nước. Đảng, Nhà nước, nhân dân ta vô cùng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và mong các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lập nhiều chiến công, thành tích to lớn hơn nữa, xứng đáng với truyền thống hào hùng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, Quân đội ta là một Quân đội anh hùng”[2]./.
[1] ĐCSVN – Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 2.
[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 44.