Cán bộ ‘đức tài trọn vẹn’:

Qua thực hiện Chiến lược cán bộ và kết hợp chặt chẽ giữa các khâu của công tác cán bộ, việc chuẩn bị nhân sự cấp ủy ở đại hội Đảng và nhân sự bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp mấy nhiệm kỳ vừa qua khá thuận lợi; mỗi nhiệm kỳ đại hội, cấp ủy các cấp đã được đổi mới.

Đa số cán bộ có lập trường tư tưởng và bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống giản dị, gương mẫu; có ý thức rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao; nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

Đảng ta luôn coi công tác đào tạo đội ngũ cán bộ là một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mang tính quyết định đến sự thành công của cách mạng.

Theo ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, muốn cách mạng thành công, đầu tiên phải có Đảng lãnh đạo với đường lối đúng, hợp lòng dân và yếu tố thứ hai là xây dựng đội ngũ cán bộ để thực hiện đường lối đó.

Từ thực tế này, Đảng ta luôn coi công tác đào tạo đội ngũ cán bộ là một trong những nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mang tính quyết định đến sự thành công của cách mạng.

– Thưa ông, những yếu tố nào quyết định sự thành công trong công tác đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ trẻ?

Ông Nguyễn Túc: Những nhiệm kỳ gần đây, công tác đào tạo cán bộ có nhiều đột phá, bài bản hơn. Song song với việc đào tạo tại các Học viện, Trung tâm đào tạo thì việc luân chuyển cũng được thực hiện mạnh mẽ nhằm trang bị các kinh nghiệm thực tiễn cho lực lượng cán bộ, cũng như giải quyết các công việc tương lai tốt hơn.

Với cách đào tạo như vậy, đến nay chúng ta đã có một đội ngũ cán bộ đa dạng về ngành nghề, đông đảo về số lượng; trong đó nhiều cán bộ được đánh giá cao và tầm cỡ không chỉ trong nước mà quốc tế.

– Theo ông, cách nào để nhận diện các cán bộ “chín ép”?

Ông Nguyễn Túc: Việc đánh giá cán bộ thì yếu tố đầu tiên là qua bằng cấp được đào tạo, song theo tôi bằng cấp phải đúng thực lực và có đáp ứng được yêu cầu hay không?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đừng thấy đỏ tưởng là chín,” do vậy khi các cán bộ đã được đào tạo thì cần phải xem thực lực của cán bộ đó, trước hết là phải xem phẩm chất đạo đức để bố trí cán bộ cho phù hợp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 15. (Nguồn: TTXVN)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 15. (Nguồn: TTXVN)

Trên thực tế, đã có trường hợp cán bộ được đề bạt song lại bị tác động từ nhiều phía, thậm chí có hiện tượng “chạy chức, chạy quyền” để lên được các vị trí cao hơn.

Vì vậy, để chọn được đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực, điều quan trọng khi đào tạo phải có thử thách, cụ thể là đưa các cán bộ vào tôi luyện trong những môi trường thực tiễn nhằm phát huy năng lực và kinh nghiệm bản thân, qua đó rèn luyện ý chí và bản lĩnh trong các hoàn cảnh khác nhau. Cùng với đó, cần có cơ chế để giám sát, tránh việc “một người làm quan cả họ được nhờ.”

“Bác Hồ đã từng nói: ‘Có dân là có tất cả.’ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: ‘Dân biết cả đấy.’ Vì vậy, muốn biết quan chức như thế nào chỉ cần hỏi dân.”

Để có thể phát hiện những người giàu nhanh, bất thường, nhiều nhà, nhiều đất, không thể chỉ dựa vào bộ máy Đảng, Nhà nước, mà quan trọng nhất là phải dựa vào dân.

Bác Hồ đã từng nói: Có dân là có tất cả. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Dân biết cả đấy.” Vì vậy, muốn biết quan chức như thế nào chỉ cần hỏi dân.

Tuy vậy, cũng phải thẳng thắn đánh giá, một số người dân khi nhìn nhận và đánh giá cán bộ còn phiến diện, chưa thấy được hết năng lực của cán bộ. Do vậy, khi lấy ý kiến của dân về việc đề bạt cán bộ cần dựa vào dân, song là ý kiến của đại đa số, tức là thông qua Mặt trận, Công đoàn, Đoàn Thanh niên… để có cách nhận xét đa chiều, khách quan và dân chủ về cán bộ đó.

– Không ít cán bộ trẻ, thậm chí giữ các cương vị cao đã bị kỷ luật hoặc xử lý trách nhiệm hình sự, vậy theo ông cần có cơ chế như thế nào để giám sát chặt chẽ và có hiệu quả các cán bộ khi được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao?

Ông Nguyễn Túc: Đúng vậy, thời gian qua, với sự chỉ đạo quyết liệt và mạnh mẽ của Người đứng đầu Đảng và Nhà nước, nhiều cán bộ kể cả cấp cao đã bị xử lý kỷ luật về các hành vi tham nhũng…

Hiện nay, đất nước đã phát triển với thế và lực mới, kéo theo sự đa dạng của các thành phần kinh tế. Do vậy, nếu vẫn nặng về quan điểm “khổ trước thiên hạ, sướng sau thiên hạ” thì không còn phù hợp nữa.

Ví dụ, một cán bộ giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy hay Bộ trưởng mà lương không tương xứng, thậm chí chỉ bằng một phần rất nhỏ mức lương của các chủ doanh nghiệp thì cần phải tính toán lại.

Ông Nguyễn Túc. (Ảnh: Tùng Lâm/Vietnam+)
Ông Nguyễn Túc. (Ảnh: Tùng Lâm/Vietnam+)

Điều đó có nghĩa là chúng ta phải có chính sách phù hợp để đội ngũ cán bộ yên tâm, có thể toàn tâm, toàn sức phấn đấu phục vụ nhân dân. Giữa “cái tôi và cái ta” mà giải quyết không khéo sẽ rất khó cho các lãnh đạo và đảng viên, nhất là người đứng đầu-đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực.

Nguyên tắc cao nhất trong Đảng là phê bình và tự phê bình, nhưng thời gian qua ở đâu đó việc phê và tự phê giảm ý nghĩa, không đạt hiệu quả như mong muốn. Có nơi còn hiện tượng “dĩ hòa vi quý” vì “đấu tranh thì tránh đâu”. Vì vậy, theo quan sát của tôi, các vụ án mà Ủy ban kiểm tra Trung ương công bố đều có điểm chung đó là không thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tức là dân chủ trong Đảng không được chấp hành nghiêm túc.

Do vậy, bên cạnh công tác phê và tự phê, cần phải làm tốt hơn nữa công tác tổ chức cán bộ và công tác giám sát.

– Ông đã nhấn mạnh về tầm quan trọng trong việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, vậy ông nhận xét thế nào về việc luân chuyển cán bộ, nhất là cán bộ trẻ thời gian qua?

Ông Nguyễn Túc: Bên cạnh việc đào tạo tại các trường thì việc đưa đi luân chuyển tại các vị trí khác nhau sẽ phát huy được rất tốt năng lực lãnh đạo của cán bộ đó, không chỉ ở kiến thức mà còn cả kinh nghiệm và chắc chắn họ ít bỡ ngỡ khi thay thế các “thế hệ đàn anh” đảm nhận những trọng trách cao hơn.

Thực tế, với quyết sách của Đảng như thời gian qua, chúng ta mới có một đội ngũ cán bộ đông và mạnh, bao phủ hầu hết các lĩnh vực như ngày hôm nay.

Tuy vậy, trong quá trình đi lên và đổi mới của đất nước, một sự nghiệp cách mạng chưa có tiền lệ, bên cạnh cái được cũng không tránh khỏi những vấp váp, vì “vừa đi vừa dò đường,” nên việc một số đồng chí cán bộ trẻ sa ngã như vừa qua là khó tránh khỏi. Dù vậy, chúng ta cũng đừng lấy những đồng chí trẻ cá biệt đó mà phủ nhận những thành tựu về đào tạo cán bộ của Đảng thời gian qua.

– Vậy cá nhân ông có gửi gắm gì cho các cán bộ trẻ trong nhiệm kỳ khóa tới?

Ông Nguyễn Túc: Phải nói một điều về mặt kiến thức, khoa học kỹ thuật thì lớp trẻ hiện nay được đào tạo hơn rất nhiều các thế hệ đi trước. Chính được đào tạo, bồi dưỡng và bản thân phấn đấu nên lớp trẻ sẽ hội nhập nhanh hơn so với “thế hệ đàn anh.”

Điều kiện quốc tế hiện nay rất thích hợp để thực hiện những chính sách của Đảng về vấn đề đa phương hóa, đa dạng hóa công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, cũng là một trong những điều kiện để đất nước cất cánh theo đúng tinh thần Dự thảo báo cáo chính trị đưa ra Đại hội XIII và tôi rất tin các cán bộ trẻ sẽ thành công.

Song muốn cho thế hệ trẻ đi đúng hướng thì những thế hệ đi trước cũng cần giúp đỡ, uốn nắn nhiều hơn là phê phán, để thế hệ kế tiếp thực hiện sự nghiệp tốt hơn đồng thời họ cũng thấy được mặt mạnh, mặt yếu từ đó khiêm tốn học tập, có như vậy mới có thể tạo sự gắn kết giữa các thế hệ.

– Xin cảm ơn ông!

Các đại biểu dự Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (Nguồn: TTXVN)
Các đại biểu dự Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (Nguồn: TTXVN)

Xây dựng Đoàn vững mạnh:

Trong bản Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn kỹ càng mọi việc đối với Đảng, với nhân dân, trong đó Bác dành một phần nói về thanh niên, coi sự lớn mạnh của tuổi trẻ là thành công của Đảng, là thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Điều này đã thể hiện tư tưởng, niềm tin và sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ đối với việc phát triển những “hạt giống đỏ” – chủ nhân tương lai của đất nước.

Cùng với việc thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua, Đảng-Nhà nước đã xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, trở thành lực lượng thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên;” thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng, hạt nhân chính trị của phong trào và các tổ chức thanh niên Việt Nam.

Tuy nhiên, so với các thế hệ đi trước, môi trường xã hội ngày nay cũng có những tác động tiêu cực đến nhận thức của thanh niên, đến suy nghĩ và hành động của thế hệ trẻ. Vì thế, mỗi thanh niên cần được định hướng, xây dựng bản lĩnh để nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm để không ngừng học tập và tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu để trở thành lực lượng xung kích thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong công cuộc hội nhập quốc tế.

Để rõ hơn về vai trò của thanh niên – sức mạnh của thế hệ trẻ trong công tác xây dựng, phát triển và chỉnh đốn Đảng, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa XI – người tự nhận cương vị bí thư là “tạm ứng niềm tin” cho mình và hứa sẽ có trách nhiệm trả lại “tạm ứng” này bằng nỗ lực của cá nhân, cũng như của Ban bí thư, Ban thường vụ, Ban chấp hành trong công việc của Đoàn thời gian tới.

Bà Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương tặng hoa chúc mừng tân Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn anh Nguyễn Anh Tuấn.
Bà Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương tặng hoa chúc mừng tân Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn anh Nguyễn Anh Tuấn.

Cảnh báo sớm và phòng ngừa nguy cơ làm “hư” Đảng viên

– Là người đứng đầu tổ chức đại diện cho tiếng nói của thanh niên, đoàn viên cả nước, xin đồng chí cho biết công tác phát triển Đảng ở Đảng bộ Trung ương Đoàn đã và đang được triển khai thực hiện thế nào?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ Trung ương Đoàn hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng, trong đó có đề ra 2 Nghị quyết chuyên đề. Thứ nhất là nâng cao chất lượng đảng viên. Thứ 2 là nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên đề của các Chi bộ, Đảng bộ trực thuộc.

Từ việc lãnh đạo thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chuyên đề trên cùng với việc thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát và lãnh đạo các tổ chức chính trị xã hội của cơ quan Trung ương Đoàn hoạt động đồng đều, rộng khắp, có thể nói công tác xây dựng Đảng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Từ việc lãnh đạo thực hiện tốt 2 nhiệm vụ trên, chúng tôi đã vượt chỉ tiêu số lượng đảng viên kết nạp mới mà Nghị quyết Đại hội 2015-2020 đề ra lên đến 15%.

Thứ nhất, chúng tôi đã vượt chỉ tiêu số lượng đảng viên kết nạp mới mà Nghị quyết Đại hội 2015-2020 đề ra lên đến 15%. Tất cả các đảng viên được kết nạp mới và các đảng viên kết nạp chính thức đều có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, chất lượng và trình độ chuyên môn cao; đặc biệt là luôn hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua quá trình rèn luyện thử thách.

Thứ hai, chúng tôi đã kịp thời phát hiện, biểu dương, tôn vinh những tấm gương điển hình tiêu biểu trong Đảng bộ, trong thực hiện Chỉ thị 05 về học tập và làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh. Hàng năm, chúng tôi luôn tổ chức tuyên dương và có thể nói những tấm gương đấy – có người là đảng viên, có người chưa vào Đảng, là công nhân lao động, viên chức bình thường nhưng đều có sáng kiến, đều có tinh thần trách nhiệm và đặc biệt là đều có một tinh thần học Bác: Học và làm theo Bác thông qua những công việc cụ thể hàng ngày. Chính vì vậy nên chất lượng đảng viên được nâng lên, chất lượng quần chúng cũng được nâng lên và thông qua đó, nhiều đảng viên có chất lượng cao hơn đã được kết nạp vào Đảng.

Thứ ba là Đảng bộ Trung ương Đoàn đã làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện nghiêm Chỉ thị của Ban Bí thứ về việc đưa ra khỏi danh sách những Đảng viên không còn tiêu chuẩn, không đủ điều kiện. Trên tinh thần đó, trong nhiệm kỳ vừa qua, chúng tôi đã đưa ra khỏi danh sách 3/1.000 đảng viên. Đây cũng là việc từ trước đến giờ chưa có, chỉ nhiệm kỳ này dưới sự hướng dẫn của Trung ương, của Đảng bộ khối cơ quan trung ương cùng với quyết tâm rà soát để nâng cao chất lượng đảng viên nên chúng tôi đã triển khai thực hiện.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, chúng tôi đã đưa ra khỏi danh sách 3/1.000 đảng viên, đây cũng là việc từ trước đến giờ chưa có…

Cái lớn nhất đạt được trong công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ Trung ương Đoàn nhiệm kỳ vừa qua, đó là thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4, các nghị quyết của Trung ương; đặc biệt là không phát hiện ra đảng viên có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống.

Đây có thể là một kết quả đáng mừng nhưng có được là nhờ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, thực hiện phòng ngừa, cảnh báo sớm để uốn nắn, rèn giũa đảng viên từ sớm. Đặc biệt là chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng cao, công tác đấu tranh, phê bình, tự phê bình trong sinh hoạt chi bộ được coi trọng nên đã kịp thời ngăn chặn và hỗ trợ cho các đảng viên rèn luyện tốt hơn và không có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa, tự suy thoái.

Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa XI trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus. (Video: Hùng Võ/Vietnam+)

– Như đồng chí vừa chia sẻ thì thời gian qua, công tác xây dựng, phát triển và chỉnh đốn Đảng tại Đảng bộ Trung ương Đoàn đã đóng góp nguồn lực to lớn cho Đảng. Vậy đâu là điểm mới nổi bật nhất trong công tác tổ chức Đảng ở Đảng bộ Trung ương Đoàn trong nhiệm kỳ vừa qua?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Nếu nói là điểm mới thì cũng không hẳn. Chúng tôi cũng không có sáng kiến hay phát kiến gì cả, mà chỉ trên cơ sở Nghị quyết của Trung ương, hướng dẫn của Đảng ủy khối cơ quan trung ương thì mình biết chọn việc, chọn trọng tâm, trọng điểm để mình làm.

Tôi cho rằng điểm nhấn quan trọng nhất trong nhiệm kỳ qua, trong công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ Trung ương Đoàn, đấy là công tác nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ thông qua 3 giải pháp.

Thứ nhất là phân công các đồng chí Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ dự sinh hoạt chi bộ định kỳ với các Đảng bộ, Chi bộ trực thuộc trong phạm vi mình được phân công theo dõi, phụ trách. Ví dụ, tháng này dự với chi bộ A, tháng sau dự với chi bộ B. Chính việc cấp ủy cấp trên dự sinh hoạt chi bộ cùng cũng yêu cầu Đảng bộ và Chi bộ cấp dưới phải chuẩn bị kỹ nội dung và chất lượng sinh hoạt được nâng cao.

Thứ hai là luân phiên sinh hoạt chi bộ với các chi bộ mà mình theo dõi, phụ trách. Như tôi, năm nay sinh hoạt với chi bộ đoàn kết tập hợp thanh niên, năm sau thì sinh hoạt với chi bộ tổng hợp thi đua – tức là sinh hoạt xuyên suốt cả năm, như vậy giúp mình theo dõi, nắm bắt và chỉ đạo sâu sát hơn.

Thứ ba, chúng tôi yêu cầu trong nội dung sinh hoạt chi bộ là cấp ủy phải thảo luận trước để thống nhất nội dung, đưa ra sinh hoạt chi bộ thì phải có nội dung đăng ký rèn luyện học tập theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của tháng vừa qua và phải khẳng định mình đã rèn cái gì? đã học được cái gì? đã làm được cái gì? có biểu hiện gì liên quan đến tự chuyển biến, tự chuyển hóa, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống hay không?

Và khi đã kiểm điểm hàng tháng, “soi” hàng tháng, chắc chắn mỗi người sẽ có ý thức trách nhiệm cao hơn trong quá trình tự rèn luyện, tự tu dưỡng, từ đó sẽ có tác dụng rất lớn trong cảnh báo sớm và phòng ngừa những nguy cơ có thể xảy ra đối với đảng viên. Chất lượng công tác xây dựng Đảng, nhờ đó cũng được nâng cao.

Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa XI (ngoài cùng bên trái) tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022. (Ảnh: TTXVN)
Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa XI (ngoài cùng bên trái) tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022. (Ảnh: TTXVN)

Xây dựng “đội hậu bị tin cậy của Đảng” vững mạnh

– Với kinh nghiệm là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau bằng lý tưởng của thanh niên và trách nhiệm với Đảng, xin đồng chí cho biết việc phát triển Đảng có ý nghĩa thế nào đối với thế hệ thanh niên?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Đoàn được Đảng và Bác sáng lập, rèn luyện với chức năng hết sức quan trọng là đội hậu bị tin cậy của Đảng và để làm được chức năng đội hậu bị tin cậy thì Đoàn phải làm tốt 3 việc: Thứ nhất là phải tập hợp, đoàn kết, giáo dục được thanh niên, giác ngộ được lý tưởng của Đảng, đi theo Đảng để làm cách mạng, theo con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn.

Thứ hai là phải giới thiệu được đoàn viên ưu tú, qua quá trình rèn luyện thực tiễn cho Đảng để Đảng xem xét kết nạp. Thứ ba là phải giới thiệu được cán bộ trẻ có chất lượng cho Đảng và hệ thống chính trị. Trong số đó, nội dung quan trọng nhất là việc giáo dục, rèn luyện và giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng để Đảng xem xét kết nạp, bổ sung nguồn sinh lực mới cho Đảng để đất nước phát triển hùng cường.

Nghị quyết 25 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đặt ra nhiệm vụ và chỉ tiêu là số lượng đảng viên mới được kết nạp hàng năm phải là 7% từ nguồn giới thiệu của đoàn thanh niên. Từ nghị quyết đó, trong năm 2020 vừa qua, chúng tôi đã tổ chức nhiều công việc, nhiều hoạt động, đặc biệt là nâng cao chất lượng đoàn viên ưu tú thông qua chương trình rèn luyện đoàn viên để giới thiệu cho Đảng.

Nhờ vậy, sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội XII, chúng tôi đã đạt được tỷ lệ trên 75% số đoàn viên ưu tú được Đảng kết nạp là từ nguồn của đoàn thanh niên.

– Ngày 11-11-2020, tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI kiện toàn chức danh Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, anh có chia sẻ: “Tôi coi đây là một ‘tạm ứng niềm tin’ và tôi có trách nhiệm trả lại ‘tạm ứng’ này bằng nỗ lực của cá nhân, cũng như của Ban bí thư, Ban thường vụ, Ban chấp hành trong công việc của Đoàn sắp tới.” Anh có thể chia sẻ thêm về “niềm tin” và “trách nhiệm” này?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Tôi coi việc Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn tín nhiệm, giao nhiệm vụ cho tôi giữ cương vị Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn là một “tạm ứng niềm tin.” Bởi vì sao? vì cái tạm ứng đấy phải được trả lại kết quả công việc trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cá nhân tôi, của tập thể Ban bí thư, Ban thường vụ, Ban chấp hành trung ương đoàn trong thời gian tới.

…tôi luôn đau đáu trách nhiệm làm sao để trả lại cái “tạm ứng” đấy cho đúng với mức mà tổ chức, cá nhân, các đồng chí lãnh đạo cấp trên đã giao cho mình. 

Từ suy nghĩ nêu trên, tôi luôn đau đáu trách nhiệm làm sao để trả lại cái “tạm ứng” đấy cho đúng với mức mà tổ chức, cá nhân, các đồng chí lãnh đạo cấp trên đã giao cho mình. Nếu trả được bằng thì tốt, còn trả được nhiều hơn thì còn tốt hơn nữa.

Cũng từ những suy nghĩ như vậy, tôi thấy bản thân mình cũng phải không ngừng nỗ lực trong học tập, rèn luyện, sáng tạo, tự làm mới mình qua mỗi công việc, qua mỗi ngày, qua mỗi tháng, mỗi năm, để làm sao cùng với tập thể ban Bí thư, Ban thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác đoàn, nhiệm vụ thanh thiếu nhi và tham gia vào việc thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhất là thực hiện thắng lợi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII mà tới đây sẽ được đại hội thông qua.

Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tặng hoa chúc mừng 5 đồng chí được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đoàn khóa XI nhiệm kỳ 2017-2022.
Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tặng hoa chúc mừng 5 đồng chí được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đoàn khóa XI nhiệm kỳ 2017-2022.

– Vậy theo đồng chí, để phát triển Đảng, kết nạp được nhiều đoàn viên thanh niên ưu tú để giới thiệu cho Đảng và giúp Đảng bộ, tổ chức phát triển, vai trò trách nhiệm của người đứng đầu Đảng đoàn, Chi đoàn cơ sở cần có những yếu tố gì?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Theo tôi, những người đứng đầu tổ chức đoàn cơ sở phải quán triệt đúng chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến phát triển đảng viên mới – tức là chúng ta không coi trọng số lượng mà phải coi trọng chất lượng; không vì số lượng mà “bỏ rơi” chất lượng.

Chính vì vậy, việc đầu tiên là phải làm tốt công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho đoàn viên thông qua 4 bài học lý luận chính trị cũng như các hoạt động phong trào, tạo môi trường thực tiễn cho đoàn viên rèn luyện, phấn đấu, cống hiến và trưởng thành.

Bên cạnh đó cũng phải phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội khác để tham mưu cho cấp ủy đảng tại lãnh đạo trực tiếp mình để có được những giải pháp tạo tạo dấu ấn đoàn viên ưu tú; đưa các bạn đi học lớp cảm tình đảng và phối hợp chặt chẽ với người giới thiệu thứ nhất là một đảng viên để đảm bảo chất lượng đoàn viên ưu tú mà đã giới thiệu cho Đảng được nâng cao và những ai được giới thiệu thì cơ bản đều đủ tiêu chuẩn, điều kiện để được Đảng xem xét kết nạp.

Nếu làm chặt chẽ các khâu, các bước, các quy trình trong quá trình rèn luyện, nâng cao chất lượng đoàn viên ưu tú, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp thì chúng ta sẽ làm tốt nhiệm vụ phát triển Đảng viên trẻ và tạo nguồn sinh khi mới cho tổ chức Đảng, có bổ sung thêm lực lượng trẻ để tham gia vào các công việc chung, thảo luận chung, quyết định chung của Đảng bộ chi bộ các cơ sở.

Củng cố niềm tin, tạo nguồn sinh khi mới cho tổ chức Đảng

– Trong thời gian qua, thắng lợi của cuộc chiến chống tham nhũng và những chuyển động tích cực của chính phủ liêm chính, kiến tạo và hành động đã củng cố được niềm tin của nhân dân vào quyết tâm của Đảng. Vậy trong vấn đề này, Đảng bộ Trung ương Đoàn đã có những đóng góp nổi bật gì cho “cuộc chiến” này?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Có thể nói thế hệ thanh niên hết sức phấn khởi trước những kết quả trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí mà Đảng và Chính phủ đã thực hiện trong thời gian vừa qua.

Đảng bộ Trung ương Đoàn vừa là tổ chức Đảng, lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ quan chuyên trách Trung ương đoàn nhưng cũng là nơi sinh hoạt của những đảng viên là người đứng đầu tổ chức Đoàn, cán bộ chủ chốt của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, chúng tôi hết sức coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống cho các đảng viên. Cũng nhờ việc coi trọng việc xây dựng Đảng tại Đảng bộ Trung ương Đoàn, chúng tôi đã hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong các chỉ đạo công tác đoàn phong trào thanh thiếu nhi của cả hệ thống.

…những nỗ lực của chúng tôi đã góp phần củng cố niềm tin của thanh niên với Đảng…

Từ những kết quả như vậy, những nỗ lực của chúng tôi đã góp phần củng cố niềm tin của thanh niên với Đảng, củng cố niềm tin của thanh niên vào công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và đặc biệt là củng cố niềm tin của thanh niên về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Chúng tôi cũng suy nghĩ rằng phải nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng viên, của cơ quan Trung ương đoàn thì mới đủ sức, đủ tầm để lãnh đạo công tác Đoàn, phong trào thanh thiếu nhi cả nước phát triển, góp phần vào công việc chung của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Đảng thời gian tới.

Đại biểu Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đến tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022. (Ảnh: TTXVN)
Đại biểu Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đến tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022. (Ảnh: TTXVN)

– Tuy nhiên với ngổn ngang những sai lầm trong thời gian qua, người dân và nhiều cán bộ đảng viên chân chính vẫn hoài nghi, thiếu niềm tin vào phẩm chất của một số cán bộ các cấp. Vậy để hoá giải được những nghịch lý không thuận chiều với Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân, nhất là thế hệ thanh niên vào quyết tâm của Đảng, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị hiện nay cần làm gì?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Cá nhân tôi thấy rằng trước hết chúng ta phải làm tốt công tác tuyên truyền, thông tin về những kết quả hết sức to lớn đã đạt được trong công cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng, công tác xây dựng Đảng của nhiệm kỳ vừa qua để cán bộ đảng viên, đặc biệt các bạn đoàn viên thanh niên hiểu, nắm bắt được đầy đủ thông tin và có phương hướng sửa đổi lối làm việc.

…một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất là vai trò nêu gương, nêu cao đạo đức cách mạng của người đứng đầu…

Thứ hai là phải kịp thời tham gia đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ những quan điểm, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng trong cả cuộc sống và trên cả không gian mạng, ở các cơ quan báo chí của chúng ta. Về tố chất và trách nhiệm của người đứng đầu, tôi cho rằng trong quy định của Trung ương, quy định của Đảng thì yêu cầu, tiêu chuẩn của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp đã nêu rất rõ, nhưng một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất đấy chính là vai trò nêu gương, nêu cao đạo đức cách mạng của người đứng đầu nhằm tạo dấu ấn đổi mới.

Khi mà người đứng đầu có ý thức đầy đủ về trách nhiệm nêu gương của mình, thực hiện tốt, tròn vai nhất công việc, chức trách của mình, chắc chắn sẽ củng cố và tạo niềm tin cho đảng viên, cho đoàn viên trong cơ quan, đơn vị mình và lan tỏa niềm tin ấy, trách nhiệm ấy ra các lực lượng khác trong xã hội, tạo thành một sự đồng thuận xã hội, thống nhất chủ trương, chính sách đổi mới chung của Đảng để thực hiện tốt hơn nữa công cuộc xây dựng Đảng, công cuộc chỉnh đốn Đảng và thực hiện tốt hơn nữa công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí trong thời gian tới.

– Với thanh niên – “thế hệ vàng” đang có nhiều cơ hội phát triển, đồng chí muốn gửi gắm, nhắn nhủ điều gì để họ có thể phấn đấu, rèn luyện lý tưởng, trở thành những cán bộ có bản lĩnh và cống hiến nhiều hơn cho Đảng, cho đất nước?

Bí thư thứ nhất Nguyễn Anh Tuấn: Hiện nay, các bạn thanh niên có điều kiện rất thuận lợi, chúng tôi cũng vậy. So với các thế hệ đi trước, thanh niên được sống trong một môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện đất nước phát triển đi lên và như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: Chưa bao giờ đất nước chúng ta có được cơ đồ, vị thế và uy tín như hiện nay.

Đảng, cấp ủy chính quyền các cấp, nhà nước có rất nhiều chính sách, chủ trương để quan tâm, chăm lo cho sự phát triển của Thanh niên. Tuy nhiên, môi trường xã hội cũng có những tác động tiêu cực đến nhận thức của thanh niên, đến suy nghĩ và hành động của thanh niên.

Thế nên, tôi chỉ nhắn nhủ một điều: Mỗi thanh niên hãy có trách nhiệm với bản thân mình để tự rèn luyện, nỗ lực, phấn đấu và khi mình đã có trách nhiệm với bản thân mình rồi thì mình sẽ có trách nhiệm với cơ quan, đơn vị mình và có trách nhiệm với đất nước.

Nếu tất cả 24 triệu thanh niên Việt Nam đều ý thức được trách nhiệm với bản thân mình, với cơ quan đơn vị, địa phương mình, với Tổ quốc và dân tộc này thì chắc chắn sẽ có một sức mạnh to lớn để chúng ta cùng nhau thực hiện thắng lợi những mục tiêu, tầm nhìn mà Đảng ta đề ra cho giai đoạn 2030-2045./.

Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa XI trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus. (Video: Hùng Võ/Vietnam+)

Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!

Prólogo

El 1 de agosto de este año marcó un hito importante en las relaciones entre Vietnam y la Unión Europea (UE), así como en el proceso de integración global de Hanoi, con la entrada en vigor del Tratado de Libre Comercio entre ambas partes (EVFTA), tras casi una década de negociaciones.

Ese ambicioso acuerdo comercial de nueva generación fue firmado el 30 de junio de 2019. En aquel momento, el primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, quien realizaba una visita oficial a Japón, donde también asistía a la Cumbre del G20 en la ciudad de Osaka, decidió interrumpir su apretada agenda para volar a Hanoi y luego regresó inmediatamente a la nación del Sol Naciente.

El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, presencia la firma del EVFTA. (Fuente: VNA)
El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, presencia la firma del EVFTA. (Fuente: VNA)

Especialmente, durante la firma el jefe de Gobierno vietnamita describió el EVFTA como una “autopista” que conecta al país indochino con el llamado “Viejo Continente”.  

Y más recientemente, al comentar la ratificación del EVFTA por parte de la Asamblea Nacional de Vietnam, llevada a cabo después de que el Parlamento Europeo adoptó similar decisión, el embajador de la UE en el país, Giorgio Aliberti, afirmó que ese momento es “histórico” tras las intensas negociaciones desarrolladas a lo largo de casi una década.

Entonces, ¿por qué es de suma importancia la entrada en vigor del Tratado de Libre Comercio entre Vietnam y la Unión Europa?  

EVFTA, la autopista que conecta Vietnam con Europa

En octubre de 2010, Vietnam y la Unión Europea acordaron iniciar las negociaciones del Tratado de Libre Comercio bilateral (EVFTA), pero el comienzo de los diálogos no se oficializó hasta dos años después.

Aunque es el acuerdo comercial más ambicioso que sostiene la Unión Europea con un país en vías de desarrollo, las negociaciones de ese pacto tuvieron que superar un camino largo y lleno de baches. Durante la firma del EVFTA en junio de 2019, un miembro de la delegación negociadora de Hanoi incluso dijo que “presenciamos el fruto de los esfuerzos de todo el sistema político para superar incontables dificultades durante años, de modo que en este mismísimo momento podemos recordarlas con lágrimas en los ojos”.

Un camino lleno de baches

La UE es uno de los socios comerciales más importantes de Vietnam. El intercambio mercantil bilateral multiplicado casi 14 veces desde el año 2000, de cuatro mil 100 millones de dólares a 56 mil 450 millones de dólares en 2019. En la foto: Descarga de mercancías en el puerto de Hai Phong, norte de Vietnam.(Fuente: VNA)
La UE es uno de los socios comerciales más importantes de Vietnam. El intercambio mercantil bilateral multiplicado casi 14 veces desde el año 2000, de cuatro mil 100 millones de dólares a 56 mil 450 millones de dólares en 2019. En la foto: Descarga de mercancías en el puerto de Hai Phong, norte de Vietnam.(Fuente: VNA)

La UE es uno de los socios comerciales más importantes de Vietnam. De hecho, es el segundo mayor mercado receptor -detrás de Estados Unidos- de productos vietnamitas, con el intercambio mercantil bilateral multiplicado casi 14 veces desde el año 2000, de cuatro mil 100 millones de dólares a 56 mil 450 millones de dólares en 2019. Algo realmente notable es que en ese período las exportaciones del país indochino crecieron casi 15 veces, de dos mil 800 millones a 41 mil 540 millones de dólares.

De hecho, Vietnam es el segundo mayor socio comercial de la UE en la Asociación de Naciones del Sudeste Asiático (ASEAN), solo aventajado por Singapur, que fue también el primer país de la región en establecer un tratado de libre comercio con el bloque europeo.

El EVFTA, el acuerdo comercial más ambicioso que sostiene la UE con un país en vías de desarrollo, tuvieron que superar un camino largo y lleno de baches, que requirió de esfuerzos incansables de ambas partes.

Pese al crecimiento vigoroso de los vínculos económicos, las negociaciones y el proceso bilateral de firma y ratificación del EVFTA, el acuerdo comercial más ambicioso que sostiene la UE con un país en vías de desarrollo, tuvieron que superar un camino largo y lleno de baches, que requirió de esfuerzos incansables de ambas partes.

Primero, hay que reconocer que los trámites jurídicos que se deben realizar para firmar cualquier compromiso internacional con la Unión Europea no pueden ser rápidos ni sencillos como los que requiere un estado individual. La Comisión Europea, integrada por los Altos Comisionados miembros, tiene que aprobar y presentar el documento al Consejo Europeo. Todos los materiales relativos se deben traducir a los idiomas de los países miembros, para luego ser revisados en aras de prevenir cualquier conflicto legal o lingüístico entre las traducciones.

En segundo lugar, la última fase del camino hacia la firma del EVFTA coincidió con un momento especial, en que la UE centraba sus esfuerzos en la conclusión del acuerdo del Brexit (para la salida del Reino Unido de la agrupación), así como en la terminación de los trámites internos relacionados con más de 30 documentos que necesitaban la aprobación del Parlamento Europeo antes de cerrar el mandato 2014-2019.

La última fase del camino hacia la firma del EVFTA coincidió con un momento especial, en que la UE centraba sus esfuerzos en la conclusión del acuerdo del Brexit.  

En octubre de 2010, Vietnam y la Comisión Europea acordaron iniciar las negociaciones del Tratado de Libre Comercio bilateral, pero dos años después, en junio de 2012, las dos partes anunciaron oficialmente el comienzo de los diálogos. Desde entonces hasta 2015, se llevaron a cabo 14 rondas negociaciones con contenidos integrales, altos requisitos y compromisos extensos.

Tras concluir las negociaciones en 2015, se emprendió la revisión jurídica, prolongada hasta 2017, año en que surgieron problemas imprevistos debido a asuntos internos de la Unión Europea. Consecuentemente, ambas partes acordaron dividir el pacto original en dos documentos, el EVFTA y el Tratado de Protección de Inversiones (EVIPA), a la vez que anunciaron la conclusión oficial de la revisión jurídica del tratado comercial y alcanzaron el consenso sobre los contenidos del acuerdo inversionista.

Las dos partes tuvieron que esperar cuatro meses para recibir la aprobación de la Comisión Europea, y el 25 de junio de 2019, el Parlamento Europeo dio luz verde a la firma de los dos pactos.

A Vietnam le costó casi una década hacer realidad el EVFTA, pero para alcanzar un tratado comercial similar, la Unión Europea y el Mercado Común del Sur (MERCOSUR) llevaron 20 años de negociaciones, enfatizó el ministro de Industria y Comercio del país indochino, Tran Tuan Anh.

El ministro de Industria y Comercio de Vietnam, Tran Tuan Anh. (Fuente: VNA)
El ministro de Industria y Comercio de Vietnam, Tran Tuan Anh. (Fuente: VNA)

Ese hecho evidencia los esfuerzos firmes tanto de Hanoi como de Bruselas para alcanzar el EVFTA y el EVIPA, aseguró el titular.

De acuerdo con Tuan Anh,Vietnam logró superar los límites de su capacidad para resolver exitosamente los problemas técnicos, con compromisos “muy altos”. Mientras, se sentaban en el otro lado de la mesa de negociaciones los 28 estados miembros de la UE, con avanzados niveles de la economía y del marco legal.

Las partes enfrentaron dificultades a la hora de analizar los asuntos convencionales como las barreras arancelarias y, en especial, los temas emergentes como la contratación pública, los derechos de autor y la propiedad intelectual. “Son asuntos muy complicados”, resumió.

“Vietnam tuvo que resolver las diferencias de los intereses de numerosas potencias mundiales que negociaban tratados comerciales con el país indochino.”

Además, enfatizó que en paralelo con las negociaciones del EVFTA, Vietnam llevó a cabo las conversaciones sobre el Acuerdo Integral y Progresista de Asociación Transpacífico (CPTPP) y tratados de libre comercio con países como Rusia y Corea del Sur. En ese sentido, subrayó, Hanoi enfrentó una presión “extremadamente alta” al tener que equilibrar los intereses de diferentes socios.

“Vietnam tuvo que resolver las diferencias de los intereses de numerosas potencias mundiales que negociaban tratados comerciales con el país indochino. En 2015, Vietnam se encontraba en medio de las negociaciones del Tratado de Asociación Transpacífico (TPP), predecesor del CPTPP. Aquel año también marcó la conclusión de las negociaciones de los pactos con Rusia y Corea del Sur,” acotó.

En cuanto al EVFTA y el TPP, la tarea más difícil para los negociadores vietnamitas fue resolver las diferencias entre los enfoques de la UE y Estados Unidos a la indicación de origen, según el ministro.

Además, las potencias económicas siempre observan cómo están abiertos sus socios a las otras. “Cualquier información de que una parte se incline a favor de un país desataría un rechazo enérgico,” subrayó.

Luong Hoang Thai, jefe del Departamento de Políticas de Comercio Multilateral del Ministerio de Industria y Comercio, destacó que la división del pacto original en el EVFTA y el EVIPA no fue un trámite técnico normal, sino que creó dos nuevos “acuerdos gemelos”, vinculados estrechamente.

El EVFTA incluye artículos relacionados con la inversión, mientras que el EVIPA abarca contenidos vinculados con el primer acuerdo, tales como la protección comercial y la apertura del mercado, precisó, al afirmar que los dos pactos son “separados, pero inseparables”.

Por ejemplo, un inversor, al abrir una planta en Vietnam, deberá cumplir con condiciones sobre la entrada en el mercado dispuestas en el EVFTA, mientras otros requisitos relacionados con las inversiones concuerdan con el EVIPA, explicó.

Tras casi una década con 14 rondas de negociaciones y tantos momentos “dramáticos” y, a veces, aparentemente al borde del colapso, el camino hacia el EVFTA llegó a su fin…

Máximos esfuerzos…

Ante las dificultades y desafíos, Vietnam hizo todo lo posible para convencer a la Unión Europea de acelerar los trámites internos relacionados con el EVFTA y el EVIPA. Los esfuerzos de Hanoi se llevaron a cabo tanto en Vietnam como en los países miembros de la UE, y en los encuentros a todos los niveles, especialmente en los de alto nivel.

Durante las reuniones con los representantes europeos, el primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, siempre reiteró la solicitud de apoyo de los estados miembros de la UE a las negociaciones, la firma y la ratificación del EVFTA, poniendo de relieve su significado estratégico y comercial, así como sus grandes beneficios para todas las partes concernientes.

El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, y su homóloga de Rumania, Viorica Dancila, durante la visita del dirigente vietnamita al país europeo en abril de 2019. (Fuente: VNA) 
El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, y su homóloga de Rumania, Viorica Dancila, durante la visita del dirigente vietnamita al país europeo en abril de 2019. (Fuente: VNA) 

El EVFTA recibió oficialmente la “luz verde” para avanzar hacia el Parlamento Europeo justo durante el viaje de Xuan Phuc por Europa en octubre de 2018. La visita oficial del jefe del gobierno vietnamita por Austria, Bélgica y Dinamarca se destacó por los esfuerzos de ambas partes en agilizar la firma, ratificación y aplicación del EVFTA y el EVIPA, en aras de traducir en beneficios prácticos las oportunidades que brindan esos pactos a todos los estados integrantes.

En abril de 2019, justo después del viaje por Europa de la presidenta de la Asamblea Nacional de Vietnam, Nguyen Thi Kim Ngan, el primer ministro Xuan Phuc realizó una visita oficial a la República Checa y Rumania, país que desempeñaba entonces la presidencia de la UE.

Durante los encuentros con los máximos dirigentes de Rumania, Xuan Phuc agradeció el apoyo de ese país a la firma del EVFTA.

Respondiendo a la buena voluntad del jefe del gobierno vietnamita, líderes rumanos se comprometieron a adoptar los máximos esfuerzos para acelerar la firma y entrada en vigor del EVFTA, al considerarlo una plataforma y nuevo impulso de la cooperación entre Vietnam y la UE en múltiples esferas, entre ellas el comercio y la inversión.

La presidenta de la Asamblea Nacional de Vietnam, Nguyen Thi Kim Ngan, y el titular de la Comisión Europea, Jean-Claude Juncker, en abril de 2019. (Fuente: VNA)
La presidenta de la Asamblea Nacional de Vietnam, Nguyen Thi Kim Ngan, y el titular de la Comisión Europea, Jean-Claude Juncker, en abril de 2019. (Fuente: VNA)

Por su parte, Kim Ngan, la máxima legisladora del país indochino, una vez aseguró que la Asamblea Nacional de Vietnam estaba dispuesta a dialogar con las delegaciones del Parlamento Europeo para alcanzar el consenso sobre las diferencias pertinentes.

“El Parlamento vietnamita está dispuesto a dialogar (con la UE) sobre las cuestiones que abarca su competencia, y en el caso de los asuntos encargados por las agencias que se responsabilizan de la ejecución legal, la Asamblea Nacional supervisará su solución y ofrecerá respuestas concretas,” aseguró.

Al recibir a Kim Ngan durante su viaje por el Viejo Continente en 2019, dirigentes europeos ratificaron su apoyo firme a Vietnam.

El presidente del Parlamento Europeo, Antonio Tajani, destacó que la UE otorga gran importancia al EVFTA y EVIPA.

Además, aseguró que, en su papel como líder de los eurodiputados, haría todo lo posible para acelerar la firma y ratificación de los dos acuerdos, al tiempo que agregó que todos los asuntos relacionados con los pactos serían considerados después de que el Parlamento Europeo completara sus procedimientos de elección y comenzara un nuevo período.

Vietnam sostuvo conversaciones francas y constructivas con los órganos de la UE sobre los asuntos relativos a los acuerdos y adoptó acciones concretas al respecto. En noviembre de 2019, la Asamblea Nacional de Vietnam aprobó el Código Laboral (modificado), adecuándolo a los principios básicos de los Convenios fundamentales de la Organización Internacional del Trabajo (OIT). Ese hecho facilita el cumplimiento de los compromisos internacionales y los tratados comerciales de nueva generación firmados por Hanoi, y propicia la protección de los derechos de los empleados, además de armonizar sus intereses con los de los empleadores.

Vietnam sostuvo conversaciones francas y constructivas con los órganos de la UE sobre los asuntos relativos a los acuerdos y adoptó acciones concretas al respecto.

En otro paso preparatorio para el acceso y la aplicación del EVFTA, Hanoi ratificó el Convenio sobre el derecho de sindicación y de negociación colectiva (Convenio 98) de la OIT, además de aprobar las leyes de Negocios y de Inversión (enmendadas), en pos de perfeccionar y adaptar el marco legal nacional a los compromisos internacionales.

Autoridades de Vietnam también sostuvieron diálogos con la UE sobre los derechos humanos y desplegaron una serie de acciones para combatir la pesca ilegal, no documentada y no reglamentada.

Por su parte, el viceprimer ministro y canciller de Vietnam, Pham Binh Minh, evaluó que el EVFTA se alcanzó gracias al entendimiento de todo el sistema político, la comunidad empresarial y la población de que la integración global es crucial para el desarrollo del país en los tres pilares: el político-diplomático, económico y sociocultural.     

El viceprimer ministro y canciller de Vietnam, Pham Binh Minh. (Fuente: VNA)
El viceprimer ministro y canciller de Vietnam, Pham Binh Minh. (Fuente: VNA)

Con esa conciencia, Vietnam, de un miembro de la comunidad internacional que siempre ha trabajado para cumplir sus responsabilidades, ahora ya tomó la iniciativa para contribuir a la formación de mecanismos multilaterales, enfatizó.

Además, agregó, el EVFTA es el resultado de los fuertes esfuerzos de dirigentes de Vietnam -especialmente durante los últimos pasos de su firma, ratificación y aplicación- con agendas apretadas durante viajes con vuelos prolongados de decenas de horas.

Como una verdadera prueba para Vietnam, en particular para su ambición de profundizar la integración global, el EVFTA es el primer tratado de libre comercio de nueva generación que la UE firmó con un país de ingreso medio y cuenta con capítulos sobre el comercio y el desarrollo sostenible en los que Hanoi manifiesta los compromisos más altos.

Durante sus viajes por Europa, los dirigentes de Vietnam lograron demostrar a la comunidad internacional la aspiración y la capacidad del país, concluyó.

Como una verdadera prueba para Vietnam, en particular para su ambición de profundizar la integración global, el EVFTA es el primer tratado de libre comercio de nueva generación que la UE firmó con un país de ingreso medio y cuenta con capítulos sobre el comercio y el desarrollo sostenible en los que Hanoi manifiesta los compromisos más altos.

Como una verdadera prueba para Vietnam, en particular para su ambición de profundizar la integración global, el EVFTA es el primer tratado de libre comercio de nueva generación que la UE firmó con un país de ingreso medio y cuenta con capítulos sobre el comercio y el desarrollo sostenible en los que Hanoi manifiesta los compromisos más altos.

…por un acuerdo histórico

Al eliminar las barreras arancelarias a casi todas las mercancías de Vietnam, el EVFTA impulsará las exportaciones principales del país como confecciones textiles, calzado, madera, además de los productos agrícolas y acuáticos.

De acuerdo con expertos, los compromisos alcanzados en ese tratado son los más altos en comparación con los acuerdos comerciales firmados por Hanoi. Hay que notar, que actualmente solo el 42 por ciento del valor de las exportaciones de Vietnam a la UE goza de impuesto cero, garantizado por el Sistema Generalizado de Preferencias.

Un estudio realizado por el Ministerio de Planificación e Inversión de Vietnam, indica que el EVFTA posibilitará un aumento del 20 por ciento de las exportaciones del país al bloque en 2020, un 42,7 por ciento en 2025, y 44,37 por ciento en 2030.  

El tratado también añadirá entre 2,18 y 3,25 por ciento al crecimiento económico de Vietnam en el período 2019-2023, así como entre 4,57 y 5,30 por ciento en el plazo 2024-2028, y del 7,07 a 7,72 por ciento desde 2029 hasta 2033.

Además, los compromisos referidos a la inversión, los servicios y la contratación pública, así como a la apertura del mercado y los estándares técnicos en determinados sectores ampliarán el acceso de los más de 96 millones de consumidores vietnamitas a los productos y servicios de alta calidad de la UE, en esferas como farmacia, salud, construcción de infraestructuras y transporte público.

Al mismo tiempo, las regulaciones sobre la administración estatal contribuirán a garantizar un entorno favorable y transparente para las inversiones de ambas partes.

El EVFTA es el acuerdo más integral que ha rubricado la UE con un país de ingreso medio, el cual estableció un nuevo estándar para las transacciones entre el bloque y las economías emergentes.

De acuerdo con Chu Hoang Long, experto de la Escuela de Políticas Públicas Crawford, de la Universidad Nacional de Australia, las firmas del EVFTA y del EVIPA patentizan la creciente posición de Vietnam en la economía global.

El EVFTA es el acuerdo más integral que ha rubricado la UE con un país de ingreso medio, el cual estableció un nuevo estándar para las transacciones entre el bloque y las economías emergentes, opinó.

El economista afirmó que la Unión Europea considera el EVFTA una base crucial para avanzar hacia un acuerdo común con toda la ASEAN.Otro significado importante de ese pacto es que evidencia la creciente expectativa de la UE sobre Vietnam, recalcó, y explicó que al firmar el EVFTA, Hanoi se compromete a cumplir los altos estándares globales en materia de comercio, empleo, medio ambiente y desarrollo sostenible.

El cumplimiento de esos compromisos ayudará a la nación indochina a crecer como un país dinámico, que respeta los principios y valores comunes, especialmente en momentos en que la guerra comercial entre Estados Unidos y China afecta directamente los factores más básicos que crean las mercancías y servicios de las dos mayores economías mundiales, enfatizó.

Mientras tanto, el vicecanciller vietnamita Bui Thanh Son subrayó que el año 2019, marcado por la entrada en vigor del Acuerdo Integral y Progresivo de Asociación Transpacífico (CPTPP) y la firma del EVFTA, inició una nueva etapa de la integración económica global de Vietnam.

El vicecanciller Bui Thanh Son. (Fuente: VNA)
El vicecanciller Bui Thanh Son. (Fuente: VNA)

Al integrarse de manera cada vez más amplia y profunda a la comunidad internacional, Vietnam ha llegado a ser una de las economías más abiertas en el Sudeste de Asia, y forma parte de las conexiones regionales e interregionales importantes, aseguró.

Con 16 acuerdos comerciales firmados o en fase de negociación y ratificación, el país se convirtió en el cruce de una red de libre comercio que representa el 59 por ciento de la población mundial, el 61 por ciento del Producto Interno Bruto y el 68 por ciento del comercio global, fortaleciendo así sus intereses compartidos con la mayoría de los centros económicos líderes, precisó.

A partir de 2019, Hanoi cumple los compromisos económicos clave, entre ellos los establecidos en los Tratados de Libre Comercio de nueva generación, recalcó. La incorporación a pactos como el CPTPP y el EVFTA patentiza el firme compromiso de Vietnam con la renovación y la integración global, a la vez que estimula al país a acelerar el perfeccionamiento del status de economía de mercado e impulsa un sistema comercial multilateral abierto y basado en las leyes, aseveró./.

Những mốc son lịch sử qua các kỳ đại hội Đảng

Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản đã trải qua 2 hội nghị và 12 kỳ đại hội. Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng ghi nhận những thắng lợi, thành tựu và những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã giành được những thắng lợi vẻ vang: từ thành công của Cách mạng tháng Tám 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975) cho tới xây dựng một đất nước Việt Nam hội nhập, không ngừng phát triển như hiện nay.

Những thắng lợi vĩ đại trên có ý nghĩa lịch sử và thời đại, bắt nguồn từ đường lối lãnh đạo của Đảng, trước hết là việc hoạch định cương lĩnh đúng đắn, sáng tạo và có tính hiện thực cao; sự đoàn kết nhất trí một lòng của toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ quyết tâm xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và giàu mạnh./.

Đại hội I và II

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930 tại Cửu Long, gần Hương Cảng (Trung Quốc) mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, vạch ra đường lối giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam.

Đại hội Đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh giữ gìn và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở.

Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hương Cảng, Trung Quốc (từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930), quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Luận cương Chính trị, các Nghị quyết quan trọng về nhiệm vụ cần kíp vận động các đối tượng quần chúng cụ thể. Hội nghị đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương chính thức của Đảng do đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng: Củng cố, phát triển lực lượng lãnh đạo toàn dân chống đế quốc, chống chiến tranh

Ngay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giành những thắng lợi, mà đỉnh cao là cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), khẳng định đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng. Sau đó, thực dân Pháp xâm lược thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước. Tổng Bí thư Trần Phú và nhiều người cộng sản bị bắt và đã anh dũng hy sinh. Cơ quan đầu não của Đảng không còn.

Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh 1930-1931 đã làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai. Cao trào cách mạng 1930-1931 đã khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam do Ðảng đề ra là đúng đắn và để lại những bài học quý báu về xây dựng liên minh công-nông, về xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, về phát động phong trào quần chúng đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh 1930-1931 đã làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai. Cao trào cách mạng 1930-1931 đã khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam do Ðảng đề ra là đúng đắn và để lại những bài học quý báu về xây dựng liên minh công-nông, về xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, về phát động phong trào quần chúng đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Ban chỉ huy ở nước ngoài (Ban Hải ngoại) của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập đầu năm 1934, do ông Lê Hồng Phong làm Thư ký (Bí thư). Ban Hải ngoại giữ vai trò lãnh đạo và tổ chức lại cơ quan Trung ương của Đảng.

Vượt qua cuộc khủng bố trắng ác liệt, Đảng và các phong trào cách mạng, các cơ sở quần chúng vẫn tồn tại, phát triển rộng khắp. Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản Lê Hồng Phong cùng các vị lãnh đạo trong nước tổ chức khôi phục phong trào, tổ chức của Đảng và chuẩn bị Đại hội.

Đại hội lần thứ I của Đảng diễn ra từ ngày 27 đến 31/3/1935, tại Macau, Trung Quốc, với sự tham gia của 13 đại biểu thuộc các đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài, do đồng chí Hà Huy Tập chủ trì.

Đại hội đánh giá việc khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào đấu tranh của quần chúng, đồng thời đề ra ba nhiệm vụ củng cố và phát triển Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động quần chúng và mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh.

Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Đảng, gồm 13 người. Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội Đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh giữ gìn và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở.

Cách mạng Tháng Tám diễn ra và thắng lợi chỉ trong khoảng 2 tuần lễ, nhưng Bác Hồ và Đảng ta đã mất 15 năm để chuẩn bị cho chiến thắng lịch sử này, trong đó có việc chuẩn bị lực lượng cán bộ. Trong ảnh: Nhà của ông Hứa Gia Khởi, làng Nặm Quang (Trung Quốc), nơi Bác Hồ đã ở trong thời gian mở lớp huấn luyện chính trị cho các cán bộ Việt Nam (12/1940). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Cách mạng Tháng Tám diễn ra và thắng lợi chỉ trong khoảng 2 tuần lễ, nhưng Bác Hồ và Đảng ta đã mất 15 năm để chuẩn bị cho chiến thắng lịch sử này, trong đó có việc chuẩn bị lực lượng cán bộ. Trong ảnh: Nhà của ông Hứa Gia Khởi, làng Nặm Quang (Trung Quốc), nơi Bác Hồ đã ở trong thời gian mở lớp huấn luyện chính trị cho các cán bộ Việt Nam (12/1940). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Tháng 7/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp ở Thượng Hải (Trung Quốc) để xác định chủ trương mới của Đảng về các vấn đề chiến lược và sách lược cách mạng ở Đông Dương. Hội nghị cử đồng chí Hà Huy Tập giữ chức Tổng Bí thư.

Tháng 3/1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp quyết định mở rộng hơn nữa Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương. Tại Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng, sau đó được bầu làm Tổng Bí thư.

Tháng 11/1939, Ban Chấp hành Trung ương họp dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ quyết định điều chỉnh sự chỉ đạo chiến lược của cách mạng Đông Dương cho phù hợp hoàn cảnh mới. Từ đó, phong trào đấu tranh cách mạng trong cả nước diễn ra sôi nổi, báo hiệu cuộc Tổng khởi nghĩa toàn quốc của nhân dân sẽ nổ ra.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng: Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến, kiến quốc

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Dân tộc Việt Nam, chế độ Việt Nam đứng trước những thách thức cực kỳ hiểm nghèo: Quân Tưởng tràn vào miền Bắc kéo theo các đảng phái phản động; được sự che chở của quân Anh, quân đội Pháp quay trở lại đánh chiếm miền Nam, với mục đích chung là bóp chết Nhà nước công nông đầu tiên còn non trẻ ở Đông Nam Á. Cùng lúc, đất nước phải đối mặt với ba khó khăn, thù trong giặc ngoài và hậu quả 80 năm dưới ách đô hộ áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến mà nặng nề nhất là nạn đói năm 1945 làm hơn 2 triệu người chết.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai (28/10-9/11/1946) bầu ra. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai (28/10-9/11/1946) bầu ra. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Trước thế “ngàn cân treo sợi tóc,” Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung lãnh đạo kháng chiến, khôn khéo loại dần những kẻ thù, tranh thủ thời gian để chuẩn bị điều kiện và lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, động viên toàn dân gia tăng gia sản xuất; tổ chức cuộc Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội khóa I, thành lập Chính phủ và ban hành Hiến pháp năm 1946.

Đại hội lần thứ II của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của Đảng, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Để bảo vệ hòa bình độc lập dân tộc, Việt Nam kiên trì đàm phán, thương lượng với thực dân Pháp. Song bọn thực dân quyết xâm lược Việt Nam một lần nữa. Chúng gây hấn ở Lạng Sơn, Hải Phòng rồi tiến đánh Hà Nội. Càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới, buộc dân tộc Việt Nam phải cầm súng chiến đấu. Từ ngày 18 đến 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc thị xã Hà Đông (Hà Tây, nay là Hà Nội), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng nêu quyết tâm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngay hôm đó 19/12, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” Ngay sau đó, ngày 22/12, Đảng ra Chỉ thị toàn dân kháng chiến.

Năm 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh viết tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” xác định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Các nghị quyết hội nghị Trung ương và Hội nghị quân sự toàn quốc do Trung ương tổ chức đã từng bước hoàn chỉnh đường lối kháng chiến của Đảng.

Sau chiến thắng thu-đông năm 1947 và chiến dịch Biên giới năm 1950, thế và lực của cuộc chiến tranh nhân dân phát triển vượt bậc. Để tiếp tục phát triển đường lối kháng chiến, kiến quốc, Trung ương Đảng quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.(Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.(Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến 19/2/1951, với sự tham gia của 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 760.000 đảng viên. Đến dự Đại hội còn có đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Thái Lan.

Đại hội đã nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày báo cáo chính trị; Báo cáo Bàn về Cách mạng Việt Nam của Tổng Bí thư Trường Chinh; Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng của đồng chí Lê Văn Lương…

Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư.

Đại hội lần thứ II của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của Đảng, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn./.

Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. (Ảnh: TTXVN)
Đông đảo nhân dân tập trung tại Quảng trường Ba Đình nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945. (Ảnh: TTXVN)

Đại hội III, IV, V

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi. Đảng lãnh đạo nhân dân miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang để bảo vệ miền Bắc, chi viện cho miền Nam.

Nhân dân miền Nam tiếp tục phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ. Chúng dựng lên chế độ độc tài, mưu đồ biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ và chia cắt lâu dài đất Việt Nam.

Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III từ ngày 5 đến 10/9/1960 tại Hà Nội.Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam.

Với luật phátxít 10/59, chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp nơi, tàn sát dã man những người yêu nước. Giữa lúc cách mạng miền Nam đầy cam go, đồng chí Lê Duẩn trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư xứ ủy Nam Bộ đã viết Đề cương cách mạng miền Nam nêu rõ, “Ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác.”

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 15 (tháng 1/1959) xác định rõ đường lối cách mạng miền Nam, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Nghị quyết quan trọng này đã tạo bước chuyển biến lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân cả nước, góp phần hoàn chỉnh đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng. Từ đó, phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam ngày càng lan rộng, nhất là phong trào “đồng khởi” phá thế kìm kẹp của địch, giành chính quyền.

Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (5-10/9/1960), tại Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (5-10/9/1960), tại Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)

Sự phát triển của cách mạng miền Bắc, cách mạng miền Nam tạo ra những chuyển biến tích cực cho cả nước. Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III từ ngày 5 đến 10/9/1960 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt hơn 500.000 đảng viên.

Trong lời khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà.”

Đại hội thông qua nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam.

Cách mạng miền Nam có vị trí rất quan trọng, quyết định trực tiếp sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước.

Từ cuối năm 1959, đầu năm 1960, phong trào “Đồng Khởi” lan rộng ở nhiều tỉnh Nam bộ, Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh khu 5, tạo thành một vùng căn cứ rộng lớn. Trong ảnh: “Đội quân tóc dài” tỉnh Bến Tre biểu tình phản đối Đế quốc Mỹ trong phong trào Đồng Khởi. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Từ cuối năm 1959, đầu năm 1960, phong trào “Đồng Khởi” lan rộng ở nhiều tỉnh Nam bộ, Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh khu 5, tạo thành một vùng căn cứ rộng lớn. Trong ảnh: “Đội quân tóc dài” tỉnh Bến Tre biểu tình phản đối Đế quốc Mỹ trong phong trào Đồng Khởi. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng (Người giữ cương vị này cho đến khi qua đời, tháng 9/1969); đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Với đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, với sự hy sinh vô cùng to lớn của nhân dân Việt Nam anh hùng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vô cùng to lớn.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng vĩ đại: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.

Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 3/1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư. Trong ảnh: Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm công trường xây dựng hệ thống thủy lợi sông Hoàng Mai, tỉnh Thanh Hóa (17/1/1978). (Ảnh: Văn Bảo/TTXVN)
Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 3/1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư. Trong ảnh: Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm công trường xây dựng hệ thống thủy lợi sông Hoàng Mai, tỉnh Thanh Hóa (17/1/1978). (Ảnh: Văn Bảo/TTXVN)

Lần đầu tiên trên đất nước hòa bình, độc lập và thống nhất, nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc nô nức tham gia cuộc tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của cả nước.

Trong không khí phấn khởi, tin tưởng, Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng diễn ra từ ngày 14 đến 20/12/1976, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.008 đại biểu thay mặt hơn 1,55 triệu đảng viên cả nước và 29 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội đại biểu lần thứ IV của Đảng diễn ra từ ngày 14 đến 20/12/1976, tại Hà Nội. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua điều lệ mới của Đảng. 

Đại hội tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, nêu những bài học kinh nghiệm lớn với nhiều nội dung phong phú, sâu sắc, đồng thời khẳng định con đường cách mạng của cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đường lối, chủ trương xuyên suốt giai đoạn này là thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc, cải tạo xã hội chủ nghĩa, hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước khôi phục, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục; xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội; củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự-an toàn xã hội, tăng cường công tác xây dựng Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới.

Đại hội xác định đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua điều lệ mới của Đảng. Đại hội đặt lại chức Tổng Bí thư thay chức Bí thư thứ nhất; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Ông Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư.

Đại hội lần thứ IV của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng: Là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng: Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân

Từ Đại hội lần thứ IV đến Đại hội V của Đảng là những năm đầu cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, đất nước thống nhất bước vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần IV của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã ra sức khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế giành thắng lợi trên nhiều lĩnh vực.

Song nền kinh tế-xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức mới. Đảng, Nhà nước ban hành một số chủ trương, chính sách mới về phát triển kinh tế.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã họp từ ngày 27 đến 31/3/1982 tại Hà Nội. Đại hội vạch ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu về kinh tế-xã hội từ năm 1981 đến 1985, đề ra hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (tháng 8/1979) bàn về giải pháp khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa, điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế, xóa bỏ rào cản, mở đường cho sản xuất phát triển; đổi mới công tác kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp 3 lợi ích: Nhà nước, tập thể, cá nhân người lao động…

Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV) đã tạo động lực mới cho kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng phát triển. Chỉ thị 100 tháng 10/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã bước đầu tạo khí thế mới trong sản xuất. Nông nghiệp có chiều hướng phát triển tốt, công nghiệp quốc doanh xuất hiện một số điển hình đạt hiệu quả kinh tế cao, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá.

Gia đình xã viên Hợp tác xã Phương Đình, huyện Đan Phượng (Hà Nội) dùng máy tuốt lúa đạp chân để tăng năng suất lao động trong vụ mùa. (Ảnh: Đình Na/TTXVN)
Gia đình xã viên Hợp tác xã Phương Đình, huyện Đan Phượng (Hà Nội) dùng máy tuốt lúa đạp chân để tăng năng suất lao động trong vụ mùa. (Ảnh: Đình Na/TTXVN)

Công tác quản lý kinh tế bắt đầu chuyển đúng hướng. Các lĩnh vực văn hóa-xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn không ít khó khăn như: chưa thu hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm cho tiêu dùng xã hội, nền kinh tế chưa tạo được tích lũy.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã họp từ ngày 27 đến 31/3/1982 tại Hà Nội.

Dự Đại hội có 1.033 đại biểu, thay mặt hơn 1,72 triệu đảng viên trong cả nước và 47 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội nghe Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và nhiều báo cáo quan trọng khác. Đại hội đã chỉ ra nguyên nhân khách quan, chủ quan của khó khăn, yếu kém. Đại hội đã thẳng thắn nêu lên nguyên nhân chủ quan, đó là những sai lầm về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Việc nắm và hiểu tình hình thực tế, việc cụ thể hóa đường lối và chấp hành đường lối của Đảng có những khuyết điểm, sai lầm. Chưa thấy hết khó khăn, phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến, duy trì quá lâu cơ chế quản lý hành chính, quan liêu bao cấp, chậm thay đổi các chính sách…

Trên cơ sở đó, Đại hội vạch ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu về kinh tế-xã hội từ năm 1981 đến 1985, đề ra hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đại hội lần thứ IV của Đảng đã đề ra.

Đại hội thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Đảng và bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 ủy viên chính thức và 36 ủy viên dự khuyết; ông Lê Duẩn được Ban Chấp hành Trung ương bầu lại làm Tổng Bí thư.

Sau Đại hội, tình hình kinh tế, nhất là tình hình thị trường giá cả tiếp tục diễn biến xấu, tiền lương thực tế liên tục bị giảm sút. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 đã bàn và quyết định vấn đề cải cách một bước giá cả, tiền lương, tài chính, tiền tệ để xóa bỏ quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sản xuất và kinh doanh có hiệu quả./.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám, tháng 5/1941, đồng chí Trường Chinh được cử làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ngày 17/7/1986, Ban chấp hành trung ương Đảng họp phiên đặc biệt, đồng chí Trường Chinh được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư thay đồng chí Lê Duẩn từ trần. Trong ảnh: Tổng Bí thư Trường Chinh chúc Tết bộ đội Trường Sơn, Xuân Giáp Dần 1974. (Ảnh: Lâm Hồng/TTXVN)
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám, tháng 5/1941, đồng chí Trường Chinh được cử làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ngày 17/7/1986, Ban chấp hành trung ương Đảng họp phiên đặc biệt, đồng chí Trường Chinh được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư thay đồng chí Lê Duẩn từ trần. Trong ảnh: Tổng Bí thư Trường Chinh chúc Tết bộ đội Trường Sơn, Xuân Giáp Dần 1974. (Ảnh: Lâm Hồng/TTXVN)

Đại hội VI

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng: Đổi mới toàn diện đất nước vì thắng lợi của chủ nghĩa xã hội

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, lần thứ V và các nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương của các nhiệm kỳ đại hội đó, nhân dân Việt Nam đã phấn đấu vượt qua khó khăn, đạt nhiều thành tựu quan trọng. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tiến thêm một bước.

Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày 15 đến 18/12/1986, tại Hà Nội. Ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, nền kinh tế-xã hội Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn. Việt Nam đã mắc những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, nhất là ở lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản của những năm 1976-1980, đã để lại hậu quả nặng nề.

Thực tiễn đất nước đặt Đảng trước những thách thức to lớn, đòi hỏi phải đổi mới phương pháp lãnh đạo, trước hết là đổi mới tư duy. Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày 15 đến 18/12/1986, tại Hà Nội.

Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng, và 32 đoàn đại biểu quốc tế.

Đại hội VI đã cụ thể hóa việc thực hiện chủ trương “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” nên rất chú trọng nghiên cứu chính sách quản lý nông nghiệp. Vì vậy, tư duy mới về quản lý nông nghiệp đã có không gian để phát triển. Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh - người khởi xướng cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ Đại hội VI. (Ảnh: TTXVN)
Đại hội VI đã cụ thể hóa việc thực hiện chủ trương “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” nên rất chú trọng nghiên cứu chính sách quản lý nông nghiệp. Vì vậy, tư duy mới về quản lý nông nghiệp đã có không gian để phát triển. Trong ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh – người khởi xướng cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ Đại hội VI. (Ảnh: TTXVN)

Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình của đất nước… Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới. Đại hội xác định đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực, trọng tâm trước mắt là đổi mới chính sách kinh tế, giữ vững ổn định chính trị là tiền đề bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Về phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế-xã hội,

Đại hội nêu rõ, tư tưởng chỉ đạo là bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, bố trí lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý; đổi mới cơ cấu kinh tế giữa các ngành, thực hiện bằng được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và xuất khẩu.

Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Thực hiện công bằng xã hội, lối sống có văn hóa; đảm bảo an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…

Do thực hiện khoán sản phẩm, tích cực thâm canh, hợp tác xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu (Hà Nam Ninh) đạt năng suất lúa mùa 2 tấn/ha, đưa năng suất 2 vụ lúa lên 11 tấn, vượt sản lượng khoán 1320 tấn thóc. Cuối năm 1983, liên tục 3 năm, hợp tác xã Hải Thanh đạt năng suất trên 10 tấn/ha/năm và phấn đấu bán thêm 400 tấn thóc cho nhà nước theo giá thỏa thuận. (Ảnh: Bùi Tường/TTXVN)
Do thực hiện khoán sản phẩm, tích cực thâm canh, hợp tác xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu (Hà Nam Ninh) đạt năng suất lúa mùa 2 tấn/ha, đưa năng suất 2 vụ lúa lên 11 tấn, vượt sản lượng khoán 1320 tấn thóc. Cuối năm 1983, liên tục 3 năm, hợp tác xã Hải Thanh đạt năng suất trên 10 tấn/ha/năm và phấn đấu bán thêm 400 tấn thóc cho nhà nước theo giá thỏa thuận. (Ảnh: Bùi Tường/TTXVN)

Đại hội đã nêu 4 bài học kinh nghiệm. Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc,” xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân. Mọi chủ trương của Đảng phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân lao động.

Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề cấp bách là tăng cường sức chiến đấu và nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng. Phải giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng cũng như trong lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội.

Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới; và bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI, gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng./.

Từ thành tựu của “Khoán 10”, nông nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng đi mới, trong đó từ chỗ “tự cung tự cấp” đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, đưa nhiều giống lúa năng suất cao vào gieo trồng đi đôi với đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật. Trong ảnh: Sau hơn 30 năm đổi mới, từ chỗ là nước thiếu gạo, phải nhập khẩu, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. (Ảnh: TTXVN phát)
Từ thành tựu của “Khoán 10”, nông nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng đi mới, trong đó từ chỗ “tự cung tự cấp” đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, đưa nhiều giống lúa năng suất cao vào gieo trồng đi đôi với đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật. Trong ảnh: Sau hơn 30 năm đổi mới, từ chỗ là nước thiếu gạo, phải nhập khẩu, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. (Ảnh: TTXVN phát)

Đại hội VII,VIII

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng: Đưa Việt Nam vượt qua thử thách, đi dần vào thể ổn định và phát triển năng động, vững chắc.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dân chủ xã hội ngày càng được phát huy, đời sống nhân dân bước đầu ổn định, quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được đảm bảo, quan hệ quốc tế được mở rộng…

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII từ ngày 24 đến 27/6/1991, tại Hà Nội. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. 

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém và khó khăn. Nhiều vẫn đề kinh tế-xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết. Tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, nhất là những biến động xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu…

Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII từ ngày 24 đến 27/6/1991, tại Hà Nội. Dự đại hội có 1.176 đại biểu đại diện cho 2,1 triệu đảng viên trong cả nước. Đến dự Đại hội có đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Liên Xô, đoàn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, đoàn đại biểu của Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Cộng sản Nhật Bản…

Đại hội đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và tổng kết kinh nghiệm bước đầu về tiến hành công cuộc đổi mới. Đó là phải giữ vững định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong quá trình đổi mới; phải đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp; phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phải đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế-xã hội.

Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi bổ sung một số điểm trong Điều lệ Đảng.

Cương lĩnh chính trị nêu rõ những đặc trưng của xã hội Xã hội Chủ nghĩa mà nhân dân xây dựng và những phương hướng cơ bản để xây dựng thành công Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đại hội khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin trong điều kiện Việt Nam.

Đại hội đã quyết định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm 1991-1995 với mục tiêu tổng quát và phương châm chỉ đạo là vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa Việt Nam cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 146 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Các đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đại hội lần thứ VIII của Đảng diễn ra từ ngày 28/6 đến 1/7/1996, tại thủ đô Hà Nội, với sự tham dự của 1.196 đại biểu đại diện cho 2 triệu đảng viên trong toàn Đảng và hơn 40 đoàn quốc tế.

Đại hội tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, rút ra một số bài học chủ yếu và xác định rõ giai đoạn 1996-2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000, đó là tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết các vấn đề bức xúc về xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau.

Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm cảng Quy Nhơn (Bình Định) ngày 7/2/1996. (Ảnh: Xuân Lâm/TTXVN)
Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm cảng Quy Nhơn (Bình Định) ngày 7/2/1996. (Ảnh: Xuân Lâm/TTXVN)

Đồng thời, kiên quyết giữ vững ổn định chính trị và định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong quá trình phát triển; tạo chuyển biến căn bản trong sự nghiệp xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của đảng; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước, trọng tâm là cải cách nền hành chính, mở rộng dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 170 đồng chí. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 19 đồng chí. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tại Hội nghị lần thứ 4 khóa VIII (từ ngày 23 đến 29/12/1997), Ban Chấp hành Trung ương Đảng chấp nhận đề nghị của Tổng Bí thư Đỗ Mười về việc chuyển giao chức vụ Tổng Bí thư; bầu đồng chí Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương suy tôn ba đồng chí Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng./.

Ngày 26/12/1997, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá VIII, đồng chí Lê Khả Phiêu được bầu làm Tổng Bí thư. Trong ảnh: Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm hỏi công nhân phân xưởng đóng mới nhà máy xe lửa Gia Lâm, ngày 27/8/2000. (Ảnh: Anh Tôn/TTXVN)
Ngày 26/12/1997, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá VIII, đồng chí Lê Khả Phiêu được bầu làm Tổng Bí thư. Trong ảnh: Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thăm hỏi công nhân phân xưởng đóng mới nhà máy xe lửa Gia Lâm, ngày 27/8/2000. (Ảnh: Anh Tôn/TTXVN)

Đại hội IX, X

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Với khẩu hiệu hành động: “Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới”, Đại hội lần thứ IX của Đảng họp từ ngày 19/4 đến 22/4/2001 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.168 đại biểu thay mặt cho hơn 2,4 triệu đảng viên trong toàn Đảng và 35 đoàn đại biểu quốc tế.

Với khẩu hiệu hành động: “Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới,” Đại hội lần thứ IX của Đảng họp từ ngày 19/4 đến 22/4/2001 tại Hà Nội. Đồng chí Nông Đức Mạnh được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội có nhiệm vụ lịch sử nhìn lại chặng đường 70 năm cách mạng Việt Nam; tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, 15 năm đổi mới đất nước, 10 năm thực hiện Chiến lược kinh tế-xã hội; rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc từ đó phát triển và hoàn thiện đường lối cách mạng cho thời kỳ tới là phấn đấu nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, động viên và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đại hội khẳng định, trong thế kỷ XX, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội là những thắng lợi vĩ đại.

Tháng 4/2001, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư. Năm 2006, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục được bầu giữ chức Tổng Bí thư. Trong ảnh: Ngày 24/6/2009, trong chuyến thăm và tiếp xúc cử tri tại Thái Nguyên, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ công nhân nhà máy Xi măng Quang Sơn. (Ảnh: Đinh Xuân Tuân/TTXVN)
Tháng 4/2001, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư. Năm 2006, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục được bầu giữ chức Tổng Bí thư. Trong ảnh: Ngày 24/6/2009, trong chuyến thăm và tiếp xúc cử tri tại Thái Nguyên, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ công nhân nhà máy Xi măng Quang Sơn. (Ảnh: Đinh Xuân Tuân/TTXVN)

Thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội (1991-2000) và thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục, sửa chữa.

Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị với chủ đề “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.”

Về con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, Đại hội IX khẳng định Đảng và nhân dân quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường Xã hội Chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Về đường lối phát triển kinh tế-xã hội, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nêu rõ: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh.

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 nhằm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX gồm 150 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp từ ngày 18 đến 25/4/2006, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Báo cáo về công tác xây dựng Đảng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX trình Đại hội; giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X căn cứ vào kết quả biểu quyết và những kết luận của Đại hội để hoàn chỉnh và chính thức ban hành.

– Thông qua toàn văn Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được bổ sung, sửa đổi.

– Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và các cấp ủy, tổ chức Đảng xây dựng chương trình và kế hoạch hành động cụ thể để tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương đã nêu trong các văn kiện Đại hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp từ ngày 18 đến 25/4/2006, tại Hà Nội. Đại hội quyết định mục tiêu tổng quát là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới.

Các văn kiện được thông qua tại Đại hội lần này là kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân, là sự tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 20 năm đổi mới để tiếp tục hoàn thiện và phát triển đường lối, quan điểm đổi mới trong giai đoạn cách mạng hiện nay của đất nước.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, tổng kết 20 năm đổi mới, xác định mục tiêu phương hướng phát triển đất nước 5 năm tới.

Đại hội đánh giá, sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử; đồng thời nêu bật năm bài học lớn.

Đại hội quyết định mục tiêu tổng quát 5 năm tới là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đại hội cũng nêu rõ, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế./.

Đại hội XI, XII

Đại hội lần thứ XI của Đảng: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước

Đại hội lần thứ XI của Đảng họp từ ngày 12 đến 19/1/2011, tại Thủ đô Hà Nội, với sự tham dự của 1.377 đại biểu, thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Từ thực tiễn chỉ đạo, lãnh đạo, Đại hội rút ra một số bài học kinh nghiệm. Đó là phải luôn kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh; coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững; coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; trong chỉ đạo, lãnh đạo phải nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn.

Đại hội lần thứ XI của Đảng họp từ ngày 12 đến 19/1/2011, tại Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội thảo luận, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi) và nhiều văn kiện quan trọng khác.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI gồm 175 đồng chí Ủy viên chính thức và 25 đồng chí Ủy viên dự khuyết. Tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí; Ban Bí thư gồm bốn đồng chí. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, khóa XII. Trong ảnh: Chiều 1/11/2019, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị cho ý kiến về sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Ban Nội chính Trung ương. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, khóa XII. Trong ảnh: Chiều 1/11/2019, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị cho ý kiến về sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Ban Nội chính Trung ương. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XI, họp từ ngày 2 đến 11/5/2013, hai đồng chí được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị; một đồng chí được bầu bổ sung vào Ban Bí thư.

Sau 9 ngày làm việc, Đại hội đã thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, dân chủ và nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; phương hướng, nhiệm vụ chính trị 5 năm 2011-2015 và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).

Các văn kiện được thông qua tại Đại hội lần này là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 20 năm thực hiện Cương lĩnh, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (2001-2010) và 5 năm thực hiện phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội (2006-2010), là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta; là sự tiếp tục khẳng định, hoàn thiện và phát triển quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta theo tinh thần chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh; xác định mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc ta trong giai đoạn phát triển mới đầy triển vọng và không ít thách thức của cách mạng nước ta từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

Sự thống nhất ý chí của Đại hội biểu thị quyết tâm sắt đá của Đảng ta, trong những năm tới, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”

Đại hội đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh rằng, trong những năm tới, xây dựng Đảng là một nhiệm vụ trọng yếu, là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò và nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, để Đảng thực sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Đại hội lần thứ XII của Đảng: Bước vào kỷ nguyên hội nhập và phát triển

Đại hội lần thứ XII của Đảng họp từ ngày 20 đến 28/1/2016 tại Thủ đô Hà Nội, với sự tham dự của 1.510 đại biểu được tổ chức thành 68 đoàn. Đây là Đại hội có số lượng đại biểu đông nhất trong 12 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.

Đại hội được tổ chức sau 30 năm toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thực hiện công cuộc Đổi mới kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986).

Đại hội lần thứ XII của Đảng họp từ ngày 20 đến 28/1/2016 tại Thủ đô Hà Nội. Văn kiện Đại hội đã xác định những nội dung quan trọng về bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Với phương châm: “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đổi mới”, Đại hội đã thực sự phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ, đề cao trách nhiệm, thảo luận sôi nổi, thẳng thắn và tạo được sự thống nhất cao với các Dự thảo Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI trình Đại hội, gồm: Báo cáo Chính trị; Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2016-2020); Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI; Báo cáo Tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng.

Đại hội lần thứ XII là Đại hội đầu tiên Đảng ta thực hiện Đề án: “Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo.”

Trên cơ sở Đề án quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, bài bản, khoa học, thận trọng và thực sự phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, tạo được sự thống nhất cao của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI và của các đại biểu Đại hội.

Với tinh thần trách nhiệm cao, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa mới gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên chính thức, 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết.

Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp để bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được tín nhiệm bầu tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Lần đầu tiên Đảng ta làm quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, tạo thuận lợi cho công tác nhân sự, để Đại hội XII thành công tốt đẹp.

Đại hội lần thứ XII được đánh giá là Đại hội Đổi mới lần hai.

Kế thừa và phát huy các nghị quyết Đại hội Đảng trước đây, các văn kiện Đại hội lần này chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng mới, xác định lộ trình, mục tiêu và những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đưa đất nước phát triển toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Trong đó, Đảng ta xác định: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Văn kiện Đại hội đã xác định những nội dung quan trọng về bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Trong gần 35 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới. ảnh: Cụm công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau mỗi năm đóng góp trên 40% nguồn thu ngân sách và tạo ra hơn 30% việc làm cho lao động địa phương tại tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)
Trong gần 35 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới. ảnh: Cụm công nghiệp khí – điện – đạm Cà Mau mỗi năm đóng góp trên 40% nguồn thu ngân sách và tạo ra hơn 30% việc làm cho lao động địa phương tại tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Huỳnh Thế Anh/TTXVN)

Nhấn mạnh mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, báo cáo chính trị tại Đại hội xác định rõ: Cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đây là một chủ trương lớn, quan trọng, được nêu ra từ Đại hội XI của Đảng. Tuy nhiên, để tiếp tục đẩy mạnh quá trình này trong thời gian tới, cần kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ, đổi mới và sáng tạo.

Bên cạnh đó, cần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường tiềm lực và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong đó, mục tiêu trọng yếu của quốc phòng an ninh là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Ưu tiên cao nhất trong thực hiện đường lối đối ngoại là bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Tại Đại hội lần này, công tác xây dựng Đảng được đề cập ở vị trí đầu tiên trong tiêu đề của báo cáo Chính trị, là nhiệm vụ đầu tiên trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ, cho thấy Đảng ta nhận thức rõ vị trí đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ phát triển mới, Đại hội xác định phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa;” đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ./.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự bế mạc Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với các đại biểu dự bế mạc Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Con EVFTA, Vietnam acelera con viento en popa hacia la integración internacional 

La entrada en vigor el 1 de agosto de 2020 del Tratado de Libre Comercio entre Vietnam y la Unión Europea (EVFTA) constituye un hito histórico y económico importante para ambas partes, en especial para el país indochino.Con ese acuerdo, Vietnam se convirtió en el primer país en vía de desarrollo en Asia-Pacífico en firmar un tratado de libre comercio con el bloque comunitario, lo que refleja los grandes esfuerzos del Partido Comunista, el Gobierno, el Primer Ministro y las agencias involucradas para superar todos los escollos y avanzar así en el proceso de integración internacional a un nivel mucho más integral, amplio y profundo, creando nuevas fuerzas impulsoras para la renovación y el progreso nacional.En una conferencia en línea sobre el tema, efectuada pocos días después de ese acontecimiento, el primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, reiteró que el EVFTA evidencia el pensamiento estratégico y abre un gran espacio para la colaboración bilateral, pues con ese pacto el país gozará de diversas oportunidades para la renovación de su modelo de crecimiento.Mientras, en una llamada telefónica reciente con Ursula von der Leyen, Presidenta de la Comisión Europea (CE), el premier enfatizó que la entrada en vigor del acuerdo es particularmente importante para la cooperación integral y se refirió también a las grandes oportunidades y perspectivas que ofrece el mismo para llevar las relaciones entre Vietnam y la UE a un nuevo nivel. Asimismo, valoró su significado histórico, en el contexto de las actividades conmemorativas con motivo del 30 aniversario del establecimiento de las relaciones diplomáticas entre ambas partes (1990-2020).“La firma e implementación del EVFTA y del Acuerdo de Protección de Inversión (EVIPA) convierten a Vietnam en un socio líder de la UE en la Asociación de Naciones del Sudeste Asiático (ASEAN) y uno de los países de Asia-Pacífico con los que la UE tiene relaciones políticas más amplias, tanto en los sectores de economía, comercio, cooperación para el desarrollo y conservación medioambiental, como en los de energías renovables y seguridad-defensa”, afirmó.Por su parte, en su comunicado de prensa del 31 de julio, la Comisión Europea (CE) reafirmó que el EVFTA es el acuerdo comercial más completo que ha firmado con un país en vía de desarrollo.

EVFTA: “oportunidad de oro” para exportaciones vietnamitas

Según datos revelados por el Ministerio de Industria y Comercio de Vietnam, el valor de las exportaciones del país indochino a la UE se situó en agosto en tres mil 370 millones de dólares, 300 millones más en comparación con junio pasado, para una suma total de 25 mil 920 millones de dólares en los primeros ocho meses del año. En septiembre, la facturación de ese bloque comunitario se mantuvo su viento en popa, con un aumento del 14,4 por ciento respecto al mismo período de 2019.

Procesamiento de pescado para la exportación de una empresa vietnamita (Fuente:VNA)
Procesamiento de pescado para la exportación de una empresa vietnamita (Fuente:VNA)

Durante los dos meses siguientes a la entrada en vigor del EVFTA, los órganos emitieron cerca de 15 mil de certificados de origen (C/O), principalmente para productos de calzado, mariscos, artículos plásticos, agrícolas y textiles, entre otros, lo que se tradujo en un volumen de exportación de casi 700 millones de dólares a los 27 países de la UE y el Reino Unido (aún afiliado al bloque en ese lapso).

Datos oficiales indican que desde principios de agosto hasta ahora, las ventas al exterior de productos acuáticos se incrementaron alrededor de 10 por ciento en comparación con julio.

Además de los productos marinos, el arroz vietnamita enviado a Europa también mostró signos positivos cuando los precios de exportación aumentaron de 80 a 200 dólares por tonelada.

En particular, en agosto, el volumen de exportación de teléfonos y componentes a Europa alcanzó más de mil millones de dólares, lo que aumentó la cifra total registrada en los primeros ocho meses del año a seis mil 960 millones de dólares.

Según pronósticos del Banco Mundial, en el contexto del COVID-19, el Producto Interno Bruto global sufriría una disminución de 5,2 por ciento en 2020, el nivel de recesión más grave en las últimas ocho décadas, mientras que el comercio podría reporta una caída desde 13 hasta 32 por ciento y el ingreso per cápita se reduciría en 93 por ciento. El COVID-19 también agrava las afectaciones del proteccionismo y conlleva la tendencia de autoequilibrar la economía nacional de la mayoría de los países en el mundo y de prestar más atención al mercado doméstico.  

Aunque disminuyó en un 17,2 por ciento durante el mismo período en 2019, aún representó el 22 por ciento de la facturación total de exportación de teléfonos y componentes del país.

Esas cifras evidencian, una parte, el nivel de interés de las empresas, la importancia del mercado de eurozona para las exportaciones de Vietnam, así como los beneficios brindados por el EVFTA, en medio de un escenario mundial marcado por los impactos negativos sin precedentes de la pandemia en diferentes esferas como la salud, economía y desarrollo y también por la inestabilidad en la vida sociopolítica y los grandes impactos en el ámbito internacional.

Tal como lo refirió el primer ministro Nguyen Xuan Phuc, el EVFTA constituye una oportunidad de oro para las exportaciones vietnamitas.

Al lado de los esfuerzos incesantes del Partido Comunista (PCV), el Estado y el Gobierno, “el hecho de entrar en vigor el 1 de agosto de 2020 el EVFTA, junto con la implementación eficiente del Acuerdo Integral y Progresista de Asociación Transpacífico (CPTPP) y otros tratados de libre comercio, crea grandes oportunidades para la ampliación del mercado y genera una fuerza impulsora para la rápida recuperación de Vietnam en el período posepidémico, así como para las próximas décadas”, afirmó el premier.

Respuesta para el cómo: cristalización del empeño incesante

El acto de firma del EVFTA y el EVIPA, al que asistió también el primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc (séptima persona desde la izquierda) (Fuente:VNA)
El acto de firma del EVFTA y el EVIPA, al que asistió también el primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc (séptima persona desde la izquierda) (Fuente:VNA)

El EVFTA, un TLC de nueva generación, es un tratado integral y de alta calidad que garantiza el equilibro de beneficios tanto para Vietnam como para la Unión Europea. Con su entrada en vigor, el pacto constituirá una fuerza impulsora para las exportaciones de Vietnam y la diversificación del mercado y los productos de alta demanda en el exterior, en especial los agro-acuícolas.

Los compromisos de tratar de forma igualitaria, equitativa y de protección segura y completa para las inversiones de ambas partes estipulados en el EVIPA contribuyen a perfeccionar el entorno legal y la colocación de forma transparente de capital, lo que respalda a Vietnam en la captación de inversiones provenientes de la UE y de otros países.Estratégicamente, la negociación e implementación de los mencionados acuerdos transmiten un mensaje sobre la determinación de Vietnam de promover una integración profunda en la economía mundial en el escenario mundial caracterizado por la complicada e impredecible evolución de la economía geopolítica.

En el sector económico, la UE es el mayor socio comercial, el mayor proveedor de asistencia no desembolsable y uno de los inversores principales de Vietnam.Vietnam se coloca en el segundo lugar en la lista de inversores del bloque comunitario. El valor del trasiego comercial en 2019 totalizó 56 mil 450 millones de dólares y las exportaciones de Vietnam a la UE reportaron un crecimiento promedio anual de 16 por ciento en las últimas dos décadas.La UE es actualmente el socio comercial más importante de Vietnam, el segundo mercado receptor más grande (después de los Estados Unidos) con un volumen de negocios bidireccional que aumentó casi 14 veces, de cuatro mil 100 millones de dólares en 2000 a 56 mil 450 millones en 2019; en el cual, las exportaciones de Vietnam a la UE aumentaron casi 15 veces de dos mil 800 millones de dólares a 41 mil 540 millones de dólares.

Ambas partes colaboran estrechamente en los foros y mecanismos multilaterales, lo que coadyuva a estimular la cooperación y mantener el orden internacional basado en las leyes, por la paz, la estabilidad y el desarrollo sostenible.

Con las bases sólidas de las relaciones bilaterales en las últimas décadas, la entrada en vigor del EVFTA contribuirá a establecer marcos de cooperación importante, impulsando enérgicamente los vínculos comerciales e inversionistas entre las dos partes.

Foto de ilustración (Fuente:Internet)
Foto de ilustración (Fuente:Internet)

Ese hecho evidencia la determinación de las dos partes por elevar y profundizar la asociación de cooperación integral y también entre las dos zonas, además de la alta importancia concedida por ambas partes a la estrategia de diálogo, progreso e integración internacional.

Según los especialistas, el EVFTA, que abarca muchos compromisos en áreas que Vietnam no ha tenido en ningún TLC anterior, como Indicaciones Geográficas, Compra Gubernamental y Comercio de Desarrollo Sostenible, también marcará un hito en la integración internacional de la economía vietnamita, contribuyendo a la tendencia común de estimular las conexiones económicas globales.

De acuerdo con el Ministerio de Industria y Comercio de Vietnam, al referirse al EVFTA, se mencionan los esfuerzos incesantes de todo el sistema político durante una década cuando ambas partes acordaron estudiar la viabilidad de las negociaciones acerca de un TLC bilateral en octubre de 2010. Cabe destacar que Vietnam y la UE son dos economías con diferentes niveles de desarrollo y con sistemas políticos, culturales y formas de pensar distintas, mientras que el EVFTA es un tratado de libre comercio integral de nueva generación, con criterios altos y de profunda integración.

EVFTA: panorama multicolor

El EVFTA entró en vigor en el contexto marcado por la tendencia de cambiar los flujos de inversión en pos de diversificar la cadena de suministro, con el fin de agilizar la atracción de inversiones de alta calidad provenientes de la Unión Europea, y convertir realmente al tratado y sus ventajas en un imán de capital extranjero, según Nguyen Thi Thu Trang, directora del Centro de OMC e Integración, de la Cámara de Industria y Comercio de Vietnam.Diferentes empresarios y especialistas de la Unión Europea manifiestan opiniones positivas sobre el EVFTA. Según Andreas Stoffers, director en Vietnam de la organización Friedrich Naumann for Freedom, Hanoi puede aprovechar nuevas fuerzas provenientes del EVFTA para la recuperación económica, tras impresionar a la comunidad en todos los aspectos, desde el manejo rápido y el control eficiente del COVID-19 hasta su excelente desempeño como presidente de la ASEAN.Con el EVFTA, Vietnam gozará de un ingreso más alto por concepto de exportaciones, según los expertos.Andreas Stoffers, director de la organización Friedrich Naumann for Freedom en Vietnam, subrayó que el país sudesteasiático podría aprovechar nuevas fuerzas generadas por el EVFTA para recuperar la economía en el período pos-COVID-19.Valoró que Vietnam ha dejado huellas impresionantes en todos los sectores, desde el manejo inmediato y eficiente del COVID-19 hasta su desempeño como Presidente de la ASEAN y la concreción histórica del EVFTA.Con ese acuerdo, Vietnam gozará de un ingreso más alto por concepto de exportaciones, en especial teléfonos, repuestos electrónicos -productos que representan un tercio del valor de las ventas al exterior del país-, así como computadoras, equipos electrónicos, de confecciones textiles y calzado.A su vez, Nicolás Audier, presidente de la Cámara de Comercio de Europa en Vietnam, remarcó que el EVFTA brindará a Vietnam la oportunidad de acceder al mercado del bloque comunitario con alrededor de 500 millones de consumidores y viceversa, los vietnamitas también se beneficiarán de la posibilidad de adquirir más productos y servicios de alta calidad, además de la innovaciones europeas.

EVFTA podría contribuir al aumento del PIB de Vietnam y del valor de la exportación a la UE (Fuente: VNA)
EVFTA podría contribuir al aumento del PIB de Vietnam y del valor de la exportación a la UE (Fuente: VNA)

En su diálogo con Ursula von der Leyen, presidenta de la Comisión Europea (CE), el primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, dijo que la economía europea ahora necesita todas las oportunidades para recuperar su fuerza después de la crisis causada por la epidemia de COVID-19. Los acuerdos comerciales, como el que entró en vigor con Vietnam el 1 de agosto, brindarán a las empresas europeas oportunidades para acceder a los mercados emergentes y crear puestos de trabajo para los europeos.

El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, en la llamada telefónica con Ursula von der Leyen, presidenta de la Comisión Europea (Fuente:VNA)
El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, en la llamada telefónica con Ursula von der Leyen, presidenta de la Comisión Europea (Fuente:VNA)

Expresó, además, su firme convicción de que este acuerdo también se convertirá en una oportunidad para que el pueblo vietnamita disfrute de una economía más próspera y participe en un cambio positivo y obtenga más beneficios.En tanto, según el viceministro vietnamita de Planificación e Inversión, al formar parte del EVFTA y el CPTPP, el país sudesteasiático goza de oportunidades para integrarse de forma más profunda en la red mundial de producción y elegir a los proyectos de Inversión Extranjera Directa de alta calidad, en pos de elevar su ubicación en las cadenas de valores globales.

Sin embargo, según Ngo Chung Khanh, subjefe del Departamento de Políticas de Comercio Multilateral del Ministerio de Industria y Comercio de Vietnam, las cuestiones sobre el cumplimiento de las exigencias sobre el origen de productos, barreras técnicas y la producción sostenible hacen que la posibilidad de aprovechar las oportunidades brindadas por el EVFTA no resulte tan fácil.

Chung Khanh subrayó que la reducción arancelaria constituye un prerrequisito para impulsar las exportaciones a la UE, y lo más importante es que las mercancías deben satisfacer los requisitos específicos para cada producto.

“Durante mucho tiempo hemos usado la palabra barreras para hablar de bienes que tienen difícil ingresar al mercado europeo, pero en realidad no existen barreras, los requisitos que la UE impone a los productos importados no buscan limitar los negocios, sino proteger a las empresas genuinas”, subrayó el funcionario.

El desafío proviene de las estrictas barreras técnicas. Por ejemplo, con los productos agrícolas, la mayoría de los rubros vietnamitas como el té y las verduras aún enfrentan limitaciones por la falta de uniformidad en cada lote. La cosecha no está bien conservada, por lo que la calidad es limitada.

Además, la UE está muy interesada en la trazabilidad de los productos. Según Chung Khanh, un entorno de inversión más abierto y favorable y unas perspectivas de exportación más atractivas atraerán más Inversión Extranjera Directa de la UE a Vietnam. Sin embargo, también hay que ser prudente al analizar ese tema, pues al entrar en vigor el CPTPP, se pronosticó que aumentaráíala captación de inversión extranjera directa, pero después de un año de su implementacion , las estadísticas indican que la atracción de capital experimenta una tendencia a la baja.

Guía para recibir certificado de origen de mercancías con el fin de beneficiarse de preferencias arancelarias del EVFTA
Guía para recibir certificado de origen de mercancías con el fin de beneficiarse de preferencias arancelarias del EVFTA

Esos factores significan que el EVFTA exige de las empresas vietnamitas aún muchos esfuerzos para maximizar la explotación de las oportunidades y ventajas brindadas por el mismo.

Tim Evans, director general de HSBC Vietnam, añadió que, al lado de las oportunidades, los productores vietnamitas deben reorganizar y rediseñar la cadena de suministro, lo que exigirá tiempo y esfuerzos, además de cooperar con el Gobierno, en pos de pasar lo más rápido posible el período de transición.

El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc (a la derecha) en la conferencia sobre la implementación del EVFTA, efectuada el 6 de agosto de 2020 de forma virtual en Hanoi (Fuente: VNA)
El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc (a la derecha) en la conferencia sobre la implementación del EVFTA, efectuada el 6 de agosto de 2020 de forma virtual en Hanoi (Fuente: VNA)

El primer ministro de Vietnam, Nguyen Xuan Phuc, se refirió, durante un coloquio en septiembre pasado con empresarios japoneses interesados en colocar capital en la nación indochina,  a la cuestión relativa a la formación de los recursos humanos calificados, en especial el personal para la administración estatal en el contexto de la integración internacional, uno de los factores decisivos en los negocios.

Mientras, Nguyen Manh Tien, subjefe de la Comisión de Relaciones Exteriores de la Asamblea de Vietnam, al lado de los esfuerzos del Parlamento y los sectores, las asociaciones deben favorecer el progreso de las micro, pequeñas y medianas empresas, en pos de acceder de forma más eficiente al mercado de la UE.

La entrada en vigor del EVFTA creará oportunidades y también desafíos de las empresas vietnamitas ante EVFTA (Fuente: VNA)

Según los expertos, la comunidad empresarial debe trabajar en estrecha colaboración con las agencias gubernamentales en la implementación de EVFTA y debe prestar atención en conocer los compromisos, desafíos, oportunidades relacionadas con su industria y sectores para reposicionarse y actuar de manera inmediata, para reestructurar mercados aprovechando así las oportunidades brindadas por el pacto.

Por otra parte, se necesita impulsar la reforma, incluso de las instituciones, para aprovechar al máximo las ventajas y en especial, en paralelo con la garantía de una competencia transparente y justa, el desarrollo sostenible, la garantía armoniosa de objetivos económicos, sociales y ambientales, fomento del apoyo a las micro, pequeñas y medianas empresas.

Los especialistas abogaron, además, por promover los vínculos, desarrollar industrias de apoyo, crear un ecosistema simbiótico para el beneficio mutuo a nivel de las inversiones extranjeras directas y las empresas nacionales.Figura como otra tarea por realizar actualizar la plataforma sobre su propia competitividad en términos de modelos de negocio, estrategias, gestión, recursos humanos, calidad de bienes y servicios de acuerdo con los estándares europeos, mediante el incremento de las inversiones en esas labores, renovar los modelos de negocio, las estrategias al respecto, especialmente hacia el desarrollo sostenible. Al lado de esas tareas, las empresas vietnamitas pueden crear una plataforma sólida para la interacción con el mercado de la UE en particular y sus ventas a escala global en el nuevo contexto.Todos esos factores significan que el EVFTA abarca un panorama multicolor, no solo de “ventajas”. Las empresas vietnamitas deben intensificar aún sus esfuerzos por satisfacer las demandas del exigente mercado de la UE en pos de sacar al máximo las oportunidades creadas por ese TLC integral de nueva generación, de estándares estrictos y un nivel amplio y profundo de integración.

Para acelerar en la “autopista” y llegar a la meta, la determinación y los esfuerzos por renovarse de las empresas figuran entre las condiciones primordiales./.

繁荣盛旺的东盟   越南的贡献

提高适应能力  

2020年1月1日越南正式担任东盟主席国。作为2020年东盟主席,越南将“齐心协力与主动适应”定为2020年东盟轮值主席年的主题,将维护地区和平、安全、稳定环境;促进地区互联互通,提升适应能力,利用第四次工业革命带来的机遇;强化共同体意识和东盟身份;加强致力于和平与可持续发展的伙伴关系,发扬东盟对国际社会的作用;提升东盟的运作能力和效率等纳入优先事项。  

前越南外交部副部长、前越南驻美国大使范光荣表示,主题为“齐心协力与主动适应”的东盟年是对东盟主席国越南的一次考验。突如其来的新冠肺炎疫情于2019年12月底爆发,在2020年1月和2月内已在全世界蔓延。如何在百年不遇的疫情背景下主动适应,既要加强团结、又要开展共同体建设并适应时代的变化等成为了东盟的重大挑战。        

      前越南外交部副部长、前越南驻美国大使范光荣。
      前越南外交部副部长、前越南驻美国大使范光荣。

疫情刚爆发时,作为2020年东盟主席,越南已主动、积极促进团结和统一,做好东盟内部协调,有效应对疫情。越南政府总理阮春福于2020年2月14日发表了东盟主席声明,强调了东盟控制疫情和遏制疫情蔓延的强有力的政治承诺。由东盟各国外交部长组成的东盟协调理事会在越南政府副总理兼外交部长范平明的主持下,于2020年2月20日和4月9日分别主持召开两次会议,就加强东盟内部和东盟与各伙伴在疫情防控工作中的合作的措施进行了深入讨论。  –             

此外,越南已推动成立并主持召开东盟公共卫生协调委员会紧急情况工作组(ACCWG-PHE)会议,为促进东盟与中国、美国和欧盟的合作作出了积极贡献。

2020年4月14日,东盟应对新冠疫情特别峰会和东盟与中日韩抗击新冠肺炎疫情领导人特别会议以视频形式召开,以适应疫情形势,同时被视为东盟为了战胜疫情所作出的努力。            

东盟为地区和平、安全与稳定环境做出贡献

和平、稳定、团结、统一、繁荣、可持续发展始终是东盟共同体的追求和奋斗目标,旨在突出东盟在促进全球对话与合作中的作用。

东盟为地区和平、安全与稳定环境做出贡献。图片来源:越通社
东盟为地区和平、安全与稳定环境做出贡献。图片来源:越通社

东盟维持了团结、统一,在地区和世界多场会议和论坛上阐明立场,强调了和平、稳定、法律至上,确保航行飞越自由与安全,保持克制,不采取使形势复杂化的行动,充分有效落实《东海各方行为宣言》(DOC),制定一项具有法律约束力、高效、符合于包括1982年《联合国海洋法公约》在内的国际法等的重要性。

在当前新冠肺炎疫情形势复杂多变, 安全挑战依然存在的背景下,东盟以其方式开展各项活动,充分发挥其中心作用。

范光荣大使表示,2020年东盟“齐心协力与主动适应”这一主题就是给东盟轮值主席国越南的考验,新冠肺炎疫情于2019年12月底爆发,仅仅一个月后新冠肺炎疫情已扩散到了全球201个国家和地区,影响范围遍及全球。在有史以来发生最为严重的疫情的背景下,世界各国要如何主动适应成为了当前的一大考验。受疫情影响,世界各国关闭大部分的边境口岸、陆地边界和限制人员往来。其给东盟带来了巨大的挑战,需要东盟各国加强团结,齐心协力与主动适应意味着在面对挑战时能够及时采取各项应对措施。    

越南外交部副部长、东盟高官会越南代表团团长阮国勇表示,目前,东盟通过制定和倡导吸引各大国参加的各合作机制,在地区安全架构中扮演中心作用。其需要东盟团结一心,履行自己的任务,并与中国加快《东海行为准则》(COC)谈判进程。

范光荣表示,东盟已经并将继续为维护东海和平稳定作出重要贡献。

同时,东盟拥有许多合作机制,如东盟、东盟(10+1)、东盟防长会议(ADMM)、东亚峰会等合作机制 。这些合作机制使东盟能发出其更强有力的声音,维护其中心作用,促进与各伙伴在维护包括东海在内的地区和平与安全环境,增进对话,解决分歧,减轻政治、安全和海上争端等的压力。

“总而言之,东盟和由东盟引导的合作机制正为解决海上争端发挥积极作用。”

东盟促进致力于和平、可持续发展的伙伴关系                   

武湖强调,外交关系已为东盟带来巨大利益。在新冠肺炎疫情防控阻击战中,东盟的对外关系有利于协助各国战胜疫情,实现经济复苏,保持生活稳定。      –             

   第七届东盟防长扩大会议以视频形式召开。图片来源:越通社
   第七届东盟防长扩大会议以视频形式召开。图片来源:越通社

凭借以对话合作作为外交关系指南针的宗旨,东盟已成功争取各伙伴的尊重,从而构建地区和平、稳定和共同繁荣。在这一过程中,东盟与许多伙伴签署了《东盟友好合作条约》(TAC)、《东海各方行为宣言》(DOC)、加强《东盟愿景2025》同联合国2030年可持续发展议程的对接等的合作文件。ARF、EAS、ADMM+以及上述文件正在发挥作用,为维护有利于合作与发展的环境作出贡献,逐步形成基于法律的地区架构,面向持久与可持续和平。               

越南为2020年东盟年的成功贡献力量                       

“东盟各成员国对越南引领东盟共同体超越挑战,保持合作,充分、有效落实2020年东盟年的各项倡议和优先事项。” 

在接受越通社驻雅加达记者的采访时,东盟秘书长林玉辉表示,以“东盟齐心协力 主动适应”为主题的越南东盟轮值主席国年较为符合于当前情况,同时高度评价2020年东盟轮值主席国——越南的作用。

林玉辉强调,在担任东盟轮值主席国期间,越南已开展多项活动来展示在疫情情况下带领一个地区组织中的领导作用。他高度评价越南在帮助东盟成员国和部分对话伙伴应对疫情中的贡献。

2020年东盟年的成就

东盟已彰显其在抗击疫情中的团结。东盟加快推进共同体建设,推动各项优先事项落地实施,注重缩短各成员国之间的发展差距。

此外,东盟强化团结协作、相互帮助的精神,从而凝聚共识,塑造东盟共同价值观。东盟地区论坛、东亚峰会、东盟(10+1)等继续吸引了各大国的参加,为维护地区和平、稳定、合作与发展环境作出贡献。东盟与各伙伴的关系得到进一步加强。

特别是,《区域全面经济伙伴关系协定》(RCEP)被视为能凝聚东盟与地区各大经济体的集体经济力量的唯一一项协定,对将东盟置于地区经济各项协议的中心地位具有战略意义。

越南在2020年东盟年中所发挥的作用

越南在地区和世界形势复杂多变、危机四伏的背景下担任了2020年东盟主席,然而,越南已出色完成任务并取得了许多实质性的成果。

越南提出的2020年东盟主题非常切合实际,即“齐心协力与主动适应”。越南已主动以视频形式举行所有重要会议且议程十分符合新背景。其不仅体现越南的灵活性和创造性,将挑战转化为机会,更彰显了越南在数字化纪元中的实力和科技能力。

在越南的引导下,多个经济论坛先后举行,深入探讨如何开展新形势下的经济合作。此外,越南成功召开了第41届东盟议会联盟大会(AIPA41)、 东盟首席法官理事会(CACJ)第八次会议、东盟打击跨国犯罪部长级会议、东盟防长扩大会议等等,进一步展现越南的作用和地位。

越南提倡举行东盟与中日韩应对新冠肺炎疫情特别峰会、东盟女领导人峰会、关于数字时代妇女赋权特别会议、东盟各国国防司令视频会议以商讨成立东盟军事情报共同体和东海问题的合作等的新论坛和研讨会。

越南工贸部部长陈俊英表示,2020年对越南而言是困难重重的一年,因为多个国家的贸易保护主义抬头,使得各场自贸协定谈判均遇到障碍。近些年来,结束谈判和签署RCEP协定的目标无法完成,原因是未能破解谈判过程中的瓶颈以及国际形势依然复杂多变。印度于2019年11月撤出RCEP协定谈判使得谈判的最后一个阶段变得更加复杂,而各伙伴也对谈判过程中产生的问题持不同的态度。

虽然印度未签署该协定,但RCEP协定已设立东盟乃至RCEP与印度的之间的联系,为双方合作关系未来的发展奠定良好基础。这可被视为一个重要的看点,也是RCEP协定的新看点。

东盟共同体建设

作为2020年东盟主席,越南已主动同其他东盟国家为东盟步入发展新阶段作出充分的准备,包括通过2025东盟共同体愿景总体规划中期执行报告;通过《关于2025年后东盟共同体愿景的河内宣言》;通过《东盟身份叙事》;发表了《关于加强社会工作,面向建立一个齐心协力和主动适应的东盟共同体的河内宣言》;一致同意进行《东盟宪章》执行情况核查;强调对多边合作、互联互通、经济自由化的强有力承诺;增强东盟的中心作用;促进对话,建立互信,预防冲突,构建开放的、基于规则的地区架构;尽早制定一项符合于国际法、1982年《联合国海洋法公约》(UNCLOS 1982),为海上所有活动创造法律框架,为促进地区和平与稳定作出贡献的《东海行为准则》(COC)。(完)

EVFTA: Autopista abierta al comercio de Vietnam hacia Occidente 

El 30 de junio de 2019, Vietnam y la Unión Europea (UE) firmaron en Hanoi los Acuerdos de Libre Comercio (EVFTA) y de Protección de la Inversión (EVIPA), con la presencia del primer ministro vietnamita, Nguyen Xuan Phuc.

Ese hecho marcó una nueva página de cooperación amplia e integral, y el desarrollo sólido de los vínculos entre ambas partes, por intereses de los ciudadanos y empresas.

La ceremonia de firma del Tratado de Libre Comercio (EVFTA) y del Acuerdo de Protección de la Inversión (EVIPA) entre Vietnam y la Unión Europea, el 30 de junio de 2019. (Fuente: VNA)
La ceremonia de firma del Tratado de Libre Comercio (EVFTA) y del Acuerdo de Protección de la Inversión (EVIPA) entre Vietnam y la Unión Europea, el 30 de junio de 2019. (Fuente: VNA)

El jefe de gobierno vietnamita subrayó que ese acto constituye un hito de las relaciones bilaterales, tras un largo proceso de negociaciones durante muchos años, y junto con el Acuerdo marco de Asociación y Cooperación bilateral (PCA), firmado en 2012, elevará los nexos entre Hanoi y el bloque comunitario.

Asimismo, acentuó que, en medio de crecientes desafíos en el comercio global, esa cooperación demostró una visión amplia y estratégica de ambas partes, las cuales, señaló, poseen estructuras económicas complementarias.

Se trata del primer acuerdo de libre comercio que firma la UE con un país en desarrollo en Asia, el cual permitirá eliminar hasta el 99 por ciento de las barreras arancelarias entre ambas partes

Destacó que una vez el EVFTA entre en vigor empresas europeas podrían acceder al mercado de casi 100 millones de consumidores del país indochino y también a otros estados en el Sudeste Asiático y países integrantes del Acuerdo Integral y Progresivo de Asociación Transpacífico (CPTPP), en aras de impulsar la cooperación efectiva Este-Oeste.

Por otro lado, el ministro de Industria y Comercio de Vietnam, Tran Tuan Anh, resaltó que la conclusión de las negociaciones y la firma de los dos acuerdos intensificarán las relaciones entre Vietnam y el bloque europeo en varios campos, además de profundizar los nexos económicos y comerciales bilaterales, con el fin de aprovechar las ventajas y las potencialidades de cada parte.

Medios de comunicaciones internacionales también destacaron el significado de la rúbrica de esos pactos, tras más de tres años de concluir las negociaciones.

Según la agencia de noticias británica Reuters, se trata del primer acuerdo de libre comercio que firma la UE con un país en desarrollo en Asia, el cual permitirá eliminar hasta el 99 por ciento de las barreras arancelarias entre ambas partes, así como abrir el mercado de servicios y adquisición pública en las áreas de correos, banca y transporte marítimo.

El medio describió a Vietnam como una de las economías con un ritmo de desarrollo más rápido en la región, gracias a las exportaciones y la captación de inversión extranjera.

El periódico canadiense Financial Post calificó al EVFTA como “el más ambicioso” que la UE firmó con una nación en desarrollo.

Mientras, el periódico de negocios Handelsblatt, de Alemania, destacó que con ese pacto alrededor de dos tercios de las mercancías serán beneficiadas con cero impuestos.

El EVFTA, que está compuesto por 17 capítulos, dos cartas de intenciones y varios memorandos de entendimiento anexos, se centra en esferas como el comercio de mercancías, origen de productos, aduana, facilitación comercial, inocuidad alimentaria y barreras técnicas en el comercio.

También aborda el comercio de servicios, inversión, defensa comercial, competencia, empresas estatales, contratación gubernamental, propiedad intelectual, comercio y desarrollo sostenible, cooperación y fortalecimiento de capacidad y asuntos legales e institucionales.

Por otra parte, el EVIPA consta de la protección inversionista y de medidas de compensación en casos de daños causados por la guerra y disputas, entre otros.

EVFTA: certerza económica en tiempos inciertos

Tras más de un año de su rúbrica, el EVFTA entró en vigor oficialmente el 1 de agosto de 2020, momento en el que el país indochino y el bloque comunitario ya experimentaban las afectaciones de la pandemia de COVID-19.

Según Nguyen Thi Thu Trang, directora del Centro para la Organización Mundial del Comercio y la Integración, de la Cámara de Comercio e Industria de Vietnam, la entrada en vigor del pacto fue un gran impulso para la economía nacional, en pos de mitigar el impacto de la pandemia y recuperar el crecimiento económico.

Hasta el 74 por ciento de los gerentes de empresas de Europa encuestados confían en el impacto positivo del EVFTA para sus negocios

En un comunicado de prensa emitido por la Comisión Europea, su presidenta, Ursula von der Leyen, dijo que la economía de la Eurozona ahora necesita todas las oportunidades para recuperar su fuerza después de la crisis causada por el COVID-19.

Los acuerdos comerciales como el EVFTA facilitarán a las empresas europeas el acceso a los mercados emergentes y crearán empleos para los europeos, agregó.

A su vez, el comisario europeo de Comercio, Phil Hogan, declaró que Vietnam se encuentra actualmente en el grupo de 77 países que tienen preferencias bilaterales en las relaciones comerciales con la UE.

El EVFTA ayuda a promover aún más los nexos económicos entre la UE y el Sudeste Asiático y contribuye a la recuperación económica después de la crisis de COVID-19, dijo.

El convenio también muestra que las políticas comerciales pueden generar muchos beneficios sociales, dijo, y agregó que Vietnam ha hecho grandes esfuerzos para mejorar los derechos de sus trabajadores a través de negociaciones comerciales.

En su publicación, la agencia alemana de noticias DPA citó a Jean-Jacques Bouflet, vicepresidente de la Cámara de Comercio Europea en Vietnam, al revelar que hasta el 74 por ciento de los gerentes de empresas de ese continente encuestados confían en el impacto positivo del EVFTA para sus negocios.

Según Bouflet, dado que las actividades comerciales a nivel global se ven seriamente afectadas por la pandemia del COVID-19, el acuerdo ayudará a impulsar el comercio y la inversión, así como crear oportunidades a largo plazo y reforzar las relaciones entre Vietnam y el bloque en los próximos 10 años.

Procesamiento de pescado de Tra para exportación (Fuente: VNA)
Procesamiento de pescado de Tra para exportación (Fuente: VNA)

De ese modo, enfatizó que el EVFTA brindará a las empresas europeas la oportunidad de acceder a uno de los mercados de consumo más dinámicos del Sudeste Asiático, y de crear una competencia completamente igualitaria con otros países que firmaron tratados de ese tipo con Vietnam, como Japón y Corea del Sur.

La entrada en vigor del pacto también fue destacada por otros medios de países europeos como Alemania, Austria y Suiza.

La revista austriaca Industriemagazin.at citó a Christoph Neumayer, secretario general de la Asociación Industrial de Austria, al afirmar que el EVFTA constituye una base para acceder a los futuros mercados de las empresas de ese continente.

Neumayer subrayó, además, que el acuerdo ampliará el mercado, más allá de eliminar las barreras comerciales, por lo que goza de gran importancia para el crecimiento sostenible y el empleo en Europa.

De acuerdo con el mismo artículo, la ministra austriaca de Economía, Margarete Schramböck, considera al EVFTA como un motor impulsor importante para la economía orientada a la exportación de ese país.

Mientras, el portal de noticias financieras onvista.de, el periódico Neues Deutschland y el sitio nuernberger-blatt.de, de Alemania, también publicaron artículos relacionados con la confianza que el tratado genera al facilitar el acceso de las empresas europeas al mercado vietnamita.

El periódico The Business Times, con sede en Singapur, describió el EVFTA como un hito económico significativo para Vietnam.

A medida que los países en el mundo comienzan a reabrir cautelosamente sus economías después del confinamiento por el COVID-19, más firmas buscarán fortalecer la resiliencia en su cadena de suministro, y la posición de Vietnam se ve reforzada por el EVFTA, reiteró el medio.

“Dado que Vietnam es uno de los primeros mercados de la región en aliviar las medidas de restricciones, el país se encuentra en una posición favorable para aprovechar las oportunidades de la demanda de inversión reprimida y las tendencias cambiantes de la producción global”, resaltó.

La embajadora de España en Vietnam, Pilar Méndez Jiménez. (Fuente: VNA)
La embajadora de España en Vietnam, Pilar Méndez Jiménez. (Fuente: VNA)

En una entrevista concedida a la Agencia Vietnamita de Noticias, la embajadora de España en Vietnam, Pilar Méndez Jiménez, indicó que el EVFTA permitirá que empresarios de ambos países puedan establecer una mayor relación comercial, eliminando barreras tanto arancelarias como no arancelarias.

Esto facilitará un mayor comercio entre las dos naciones en el contexto de la pandemia para la recuperación de la economía de las dos partes en beneficio mutuo, reiteró la diplomática.

Ousmane Dione, director de la Oficina del Banco Mundial (BM) en Vietnam, indicó que el EVFTA puede ayudar a la nación indochina a diversificar sus socios comerciales y los productos vietnamitas pueden llegar a diversos mercados, generar ingresos, y aportar más riqueza al país.

Sin embargo, anotó que también vendría con una serie de estándares que los productos de Vietnam deben cumplir, y esto brindaría una oportunidad de oro para que el país indochino y sus empresas tomen medidas audaces, destinadas a modernizar y optimizar los estándares nacionales, con el fin de ser más competitivos.

En la actualidad, Vietnam posee una fuerza laboral abundante y en la “edad dorada” demográfica, que tiene conocimientos y es adaptable, pero también envejece rápidamente.

El EVFTA podría ser un catalizador para que Vietnam acelere aún más su nivel de crecimiento, con el propósito de desarrollar la capacidad humana y modernizar diferentes sistemas de producción, en aras de poder competir y convertirse en un líder exportador en algunos sectores específicos, señaló.

Para hacer eso, sugirió que el Gobierno vietnamita adopte reformas dirigidas a las pequeñas y medianas empresas y establezca vínculos entre áreas específicas, como las compañías con inversión extranjera y las firmas privadas nacionales.

Vietnam debería ofrecer más incentivos para ayudar a las PYMES a adquirir conocimientos, adoptar nuevas tecnologías, y obtener apoyo de las empresas con capital extranjero.

El presidente de la Cámara de Comercio Europea en Vietnam, Nicolas Audier. (Fuente: VNA)
El presidente de la Cámara de Comercio Europea en Vietnam, Nicolas Audier. (Fuente: VNA)

Por su parte, el presidente de la Cámara de Comercio Europea en Vietnam, Nicolas Audier, enfatizó la importancia de garantizar la plena implementación del EVFTA y agregó que su entidad trabaja con la Cámara de Industria y Comercio de Vietnam para asegurar que todas las personas y empresas vietnamitas conozcan los beneficios que brinda el pacto.

Expresó su convicción de que las relaciones comerciales se expandirán con el EVFTA, y traerá una nueva ola de inversiones europeas en el país indochino, ya que las empresas del bloque aspiran a beneficiarse más del pacto.

Con EVFTA, Vietnam se mantiene como destino favorito de inversión

Según el economista Nguyen Dinh Cung, con la aprobación del tratado, la UE, un mercado con altos estándares en el mundo, reconoció oficialmente los esfuerzos de reforma, construcción de la economía de mercado y desarrollo sostenible de Vietnam, con lo cual quiere intensificar la colaboración con el país indochino.

Con el EVFTA las dos partes se comprometieron a abrir los mercados entre ambos y la aplicación del arancel de cero por ciento a casi todas las mercancías exportadas de Vietnam, lo que refleja que el bloque quiere estrechar la cooperación con la nación del Sudeste Asiático.

Claramente, los efectos de la pandemia del COVID-19 se ven a nivel global, incluso en los países desarrollados son aún más fuertes.

De hecho, durante la época pandémica, la demanda agregada disminuyó, lo que afectó directamente a las exportaciones y la reestructuración de diversas áreas en cada estado.

Entonces, a corto plazo, si la epidemia no está controlada, no habrá crecimiento en las exportaciones como se planteaba antes del estallido del COVID-19.

Sin embargo, al mismo tiempo se pueden tener otras oportunidades porque la demanda de mercancías esenciales aumenta.

Por tal motivo, para los productos agrícolas, si tienen métodos de producción adecuados con los estándares del mercado de la UE, alcanzarán sus metas planteadas.

Actualmente, está claro que las empresas extranjeras se encuentran en la reestructuración de la cadena de valor global, mientras Vietnam dispone de numerosos acuerdos de libre comercio con socios importantes. Ello constituye un factor importante para que los inversores foráneos elijan al país indochino como un destino de inversión.

Foto de ilustración (Fuente: VNA)
Foto de ilustración (Fuente: VNA)

Durante los últimos años, debido a que el costo de producción en China se incrementa, Vietnam emerge como un destino atractivo. Cuando los países en el mundo empezaron a reabrir con cautela sus economías después de un largo período de bloqueo por el COVID-19, varias empresas buscan por su recuperación en las cadenas de producción, por lo que la posición de Vietnam se elevará aún más gracias al EVFTA.

Se espera que el EVFTA creen fuerzas impulsoras para el desarrollo de la economía de Vietnam y según los pronósticos, el crecimiento económico del país indochino podría situarse en 2,18-3,25 por ciento en 2025 y el volumen de las exportaciones aumentaría 42,7 por ciento.

EVFTA ayudará a 100 mil e incluso hasta 800 mil personas a salir de la pobreza para 2030, es decir, una reducción de 0,7 por ciento frente a la cifra correspondiente al “guión” sin EVFTA.

Con el cumplimiento de los compromisos de altos estándares del EVFTA, Vietnam se convertirá en un destino atractivo para la inversión, con un entorno que responde a las exigencias mundiales./.

Di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi – Kỳ quan nghệ thuật quân sự độc đáo

Năm 2021, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam sẽ đẩy nhanh tiến độ và tiếp tục hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thiện hồ sơ đề cử di sản thế giới với địa đạo Củ Chi.

Địa đạo Củ Chi là một kỳ quan về nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam, thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất của con người vùng “đất thép,” một trong những biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Động thái này được kỳ vọng sẽ nâng tầm giá trị của Di tích Địa đạo Củ Chi cũng như mang lại động lực lớn để phát triển du lịch và kinh tế-xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa đạo Củ Chi là một kỳ quan về nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam, thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất của con người vùng “đất thép,” một trong những biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Kiến trúc địa đạo mang tính kế thừa và có giá trị về nhiều mặt, đặc biệt là về mặt nghệ thuật quân sự, chiến tranh nhân dân, với những sáng tạo kiệt xuất, đã phát triển đến đỉnh cao trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, mà cả thế giới phải ghi nhận.

Du khách xuống tham quan địa đạo. (Nguồn: diadaocuchi.com.vn)
Du khách xuống tham quan địa đạo. (Nguồn: diadaocuchi.com.vn)

Hiện nay, tại Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi là nơi giáo dục truyền thống cách mạng, chủ nghĩa yêu nước, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân công ơn to lớn của các anh hùng, liệt sỹ, đã chiến đấu, hy sinh trên vùng đất Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Với giá trị tiêu biểu trên, di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh) đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt (tại Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015).

Địa đạo Củ Chi hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (khoảng năm 1948). Hệ thống địa đạo được xây dựng sớm nhất tại hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An, tên gọi Địa đạo Củ Chi cũng xuất hiện từ đó.

Lúc đầu, địa đạo chỉ có những đoạn ngắn, cấu trúc đơn giản, dùng để giấu tài liệu, trú ém cán bộ trong vùng địch hậu. Sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, địa đạo được gia cố và mở rộng.

Từ năm 1961, khi Khu ủy, Bộ Chỉ huy Quân khu Sài Gòn-Gia Định chọn Củ Chi làm địa bàn hoạt động, thì hệ thống địa đạo ở đây phát huy tối đa tác dụng, đặc biệt từ năm 1966, trước những hành động của quân xâm lược Mỹ sau khi vào miền Nam tham chiến.

Địa đạo Củ Chi - nơi có hệ thống đường ngầm dài hơn 200 km, đường hầm dưới địa đạo vừa đủ cho một người đi lom khom. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)
Địa đạo Củ Chi – nơi có hệ thống đường ngầm dài hơn 200 km, đường hầm dưới địa đạo vừa đủ cho một người đi lom khom. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)

Với sức mạnh và ý chí quật cường, quân và dân Củ Chi đã kiến tạo được một hệ thống đường hầm dọc ngang, nhiều tầng, dài hơn 200km xuyên trong lòng đất, kết hợp với khoảng 500km chiến hào, công sự trên mặt đất, tựa như “thiên la địa võng”, khiến kẻ thù phải khiếp sợ…

Suốt một thời gian dài, địch liên tục tấn công đánh phá vùng căn cứ và hệ thống địa đạo hết sức khốc liệt, bằng những thủ đoạn như: Bơm nước vào lòng địa đạo, dùng đội quân “chuột cống” đánh phá, dùng chó bécgiê săn lùng phát hiện địa đạo để phá, dùng xe cơ giới ủi phá…

Mỹ-Nguỵ đã thực hiện 5.000 cuộc hành quân càn quét vào vùng căn cứ cách mạng Củ Chi. Trung bình, mỗi năm có khoảng 330 trận càn, với đủ sắc lính, các cấp hành quân, loại hình chiến thuật.

Tính từ 1954- 1975, số lượng bom đạn Mỹ trút xuống Củ Chi khoảng 500.000 tấn (trung bình mỗi người dân ở đây phải hứng chịu khoảng 1,5 tấn bom).

Ngoài ra, có khoảng 480 tấn chất độc hóa học các loại đã được quân địch rải xuống vùng đất này. Dựa vào hệ thống địa đạo, quân và dân Củ Chi kiên cường bám trụ, đánh địch bằng cả 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) với phương châm “nắm thắt lưng địch mà đánh,” thực hiện lối đánh áp sát với những chiến thuật bắn tỉa, phục kích, tập kích, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, vô hiệu hóa được nhiều loại vũ khí hiện đại nhất và làm thất bại âm mưu của địch.

Đường vào khu tái hiện vùng giải phóng Củ Chi (1961-1972).(Nguồn: diadaocuchi.com.vn)
Đường vào khu tái hiện vùng giải phóng Củ Chi (1961-1972).(Nguồn: diadaocuchi.com.vn)

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân huyện Củ Chi đã lập được những chiến công xuất sắc: dánh 4.269 trận lớn, nhỏ; loại khỏi vòng chiến đấu 22.582 tên địch (bắt sống hơn 10.000 tên lính Mỹ, 710 lính Ngụy); binh vận làm rã ngũ 32.000 tên; phá hủy và đánh chiếm hơn 5.168 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và xe bọc thép); bắn rơi và làm hư hỏng 256 máy bay (chủ yếu là trực thăng); bắn chìm và cháy 22 tàu, xuồng chiến đấu; đánh sập và hỏng 173 cầu cống, thu 8.581 súng các loại; bức hàng, bức rút, đánh sập 270 lượt đồn bốt địch…

Với những chiến công vang dội đó, toàn huyện Củ Chi đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý. Tuy nhiên, trong hai cuộc chiến trường kỳ đó, Củ Chi cũng chịu nhiều tổn thất: 10.101 dân thường bị chết; trên 10.000 chiến sỹ, thanh niên đã hy sinh, 28.421 nhà bị cháy, 20.000ha ruộng, rẫy và rừng bị tàn phá…

Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi gồm Địa đạo Bến Dược (Căn cứ Quân khu Sài Gòn-Gia Định (Khu A), Căn cứ Khu ủy Sài Gòn-Gia Định (Khu B) và Địa đạo Bến Đình (Căn cứ Huyện ủy Củ Chi).

Về cơ bản, hệ thống địa đạo trong di tích chạy ngoắt nghéo trong lòng đất, từ đường “xương sống” (đường chính) tỏa ra vô số nhánh, ăn thông với nhau, hoặc độc lập, tùy theo địa hình. Có nhiều nhánh trổ rộng ra sông Sài Gòn, để khi bị tình thế nguy kịch, có thể vượt qua sông sang vùng căn cứ Bến Cát (Bình Dương).

Hầm chông được bố trí trong thế trận chiến tranh du kích. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)  
Hầm chông được bố trí trong thế trận chiến tranh du kích. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)  

Hệ thống đường hầm có khả năng chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép, những đoạn hầm sâu chống được bom cỡ nhỏ. Có những đoạn cấu trúc từ 2 đến 3 tầng (tầng trên gọi là “thượng,” tầng dưới gọi là “trầm”). Chỗ lên xuống giữa các tầng có nắp hầm bí mật.

Trong địa đạo có những nút chặn ở những điểm cần thiết để ngăn địch hoặc chất độc hóa học do địch phun vào. Có những đoạn hẹp (eo), phải lách người mới chui qua được. Dọc theo đường hầm có lỗ thông hơi bên trên, được ngụy trang kín đáo và trổ lên mặt đất bằng nhiều cửa bí mật. Nhiều cửa được cấu trúc thành ổ chiến đấu, ụ bắn tỉa rất linh hoạt. Dưới những khúc địa đạo ở khu hiểm yếu, có đặt hầm chông, hố đinh, cạm bẫy…

Xung quanh cửa lên xuống hầm được bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái (gọi là tử địa), có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng lựu đạn chống máy bay trực thăng, nhằm tiêu diệt, ngăn chặn quân địch tới gần.

Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng có thể mắc võng để nghỉ ngơi. Trong hầm có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, thực phẩm, có giếng nước, bếp “Hoàng Cầm,” hầm làm việc của lãnh đạo, hầm giải phẫu, nuôi dưỡng thương binh, hầm chữ A vững chắc cho phụ nữ, người già, trẻ em trú ẩn. Có những hầm lớn, mái lợp thoáng mát, bên trên ngụy trang khéo léo để hội họp, biểu diễn văn nghệ…

Trên cơ sở khoanh vùng bảo vệ, hiện trạng của khu di tích được xác định như sau:

Khu vực bảo vệ 1: gồm một phần hệ thống đường hầm và một số công trình phục dựng, tôn tạo, đó là:

– Căn cứ Quân khu Sài Gòn-Gia Định (Khu A), có tổng diện tích 66.586,4m2, gồm các địa đạo, cụm công trình chính, như: hội trường, hầm chông, hầm họp của Chính ủy và Bộ Tư lệnh, hầm làm việc, hầm nghỉ của Phó Chính ủy; hầm làm việc và Tư lệnh, Phó Tư lệnh; hầm chữ A; hầm của Thư ký; giếng nước; ụ chiến đấu; ổ chiến đấu và các nắp hầm; lỗ thông hơi; hầm Quân y; hầm giải phẫu; hầm bếp Hoàng Cầm và nhà ăn; hầm may quân trang; hầm Công binh xưởng; phòng trưng bày vũ khí tự tạo; hố bom; nhà trưng bày vũ khí tự tạo; khu nhà bán hàng lưu niệm; cụm nhà vệ sinh; trạm y tế.

Căn hầm giải phẫu thương binh nặng tại khu di tích. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)
Căn hầm giải phẫu thương binh nặng tại khu di tích. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)

– Cụm công trình gồm ụ thông hơi và hai miệng địa đạo – đoạn dẫn ra sông Sài Gòn, có tổng diện tích 667,9m2.

– Căn cứ Khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn (Khu B), có tổng diện tích 16.664,8m2, gồm hệ thống địa đạo và các cụm công trình khác, như: bếp Hoàng Cầm; hầm y tế; hầm chứa lương thực; hầm của văn thư; hầm của đội bảo vệ; hầm ở và làm việc của Bí thư Khu ủy Sài Gòn-Gia Định; hầm họp của Ban Thường vụ Khu ủy; hố bom; hầm ở và làm việc của các đồng chí lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn – Gia Định; hầm hội trường; hầm nước (phòng, chữa cháy).

– Địa đạo Bến Đình: tổng diện tích 67.086,2m2, gồm các địa đạo, cụm công trình: hội trường chiếu phim; hầm bí mật (nắp hầm); hầm chông; ụ chiến đấu cá nhân; chiến hào; lối lên xuống địa đạo (miệng tròn); khu tái hiện quan cảnh nghỉ ngơi của du kích; lỗ thông hơi (ụ mối); xe tăng M41; nhà trưng bày vũ khí tự tạo của du kích; xưởng công binh; nhà tái hiện làng nghề truyền thống (làm bánh tráng, nấu rượu, xây lúa gạo…); khu tái hiện quang cảnh đào địa đạo; miệng giếng thí; hầm may quân trang; nhà làm dép râu; hố bom B52; hầm bảo vệ; hầm ở và làm việc của Bí thư Huyện ủy; hầm hội trường; bếp Hoàng Cầm; hầm ăn; ụ chứa khói và lỗ thoát khói; lối lên xuống địa đạo; lỗ thông hơi; hầm y tế; hố bom B52.

Khu vực bảo vệ 2: gồm một phần diện tích bao quanh khu vực bảo vệ I của Khu A (diện tích khoảng 55.947,7m2), Khu B (9.530,2m2), Địa đạo Bến Đình (10.123m2) và các công trình xây dựng khác, gồm:

Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược. (Nguồn: diadaocuchi.com.vn)
Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược. (Nguồn: diadaocuchi.com.vn)

– Đền Tưởng niệm Liệt sỹ Bến Dược, có tổng diện tích 40.299,3m2, khởi công ngày 19/5/1993, khánh thành giai đoạn 1 ngày 19/12/1995, gồm hoa viên, nghi môn, nhà bia, đền thờ và một ngôi tháp. Tầng hầm của đền trưng bày các tác phẩm điêu khắc, đúc đồng, tranh vẽ, sa bàn, bảng chữ…, thể hiện những sự kiện tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, với chủ đề “Sài Gòn-Gia Định kiên cường bất khuất” gồm 09 phân khu tương ứng với 09 chủ đề trưng bày.

– Khu tái hiện vùng giải phóng và Khu vực mô phỏng cảnh quan kiến trúc Biển Đông, Nhà trưng bày sa bàn Trận càn Cedar Falls, có tổng diện tích 197.633,5m2, gồm:

+ Khu tái hiện vùng giải phóng: Tái hiện các không gian, quan cảnh vùng giải phóng Củ Chi từ sau ngày Đồng Khởi năm 1961 đến năm 1974, gồm: cổng chào của một xã trong vùng giải phóng; cảnh đào địa đạo; trạm giao liên; nhà dân vùng giải phóng; tiệm sửa xe đạp; tiệm cắt tóc; nhà báo Bút-Xếp thăm vùng giải phóng Củ Chi; lớp học Thành đoàn; trường học trong vùng giải phóng; nhà trưng bày “Trận đánh Sở Đất Thịt”; nhà trưng bày “Trận đánh tại Ngã ba Cây Gõ”; chế tạo mìn từ trái bom pháo lép; nhà cửa, chùa chiền bị tàn phá nặng nề; khu tái hiện cuộc họp của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định; vùng trắng…

+ Khu vực mô phỏng cảnh quan kiến trúc Biển Đông và Nhà trưng bày sa bàn Trận càn Cedar Falls: Bao gồm các công trình mô phỏng cảnh quan Biển Đông, trong đó tái hiện hình ảnh đất nước Việt Nam nằm dài theo Biển Đông. Một số công trình mô phỏng chủ yếu, gồm 03 mô hình thu nhỏ biểu tượng văn hóa đặc trưng của ba miền Bắc-Trung-Nam (Chùa Một Cột, Ngọ Môn Huế, Bến Nhà Rồng), được khởi công ngày 24/5/2008, khánh thành ngày 19/12/2009,

Du khách xem sa bàn diễn biến đánh bại trận càn Cedar Falls. (Nguồn: diadaocuchi.com.vn)
Du khách xem sa bàn diễn biến đánh bại trận càn Cedar Falls. (Nguồn: diadaocuchi.com.vn)

– Đền thờ thuộc Khu Truyền thống cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, diện tích 41.582,7m2,bao gồm hoa viên, một tam quan, một ngôi đền thờ chính, 02 ngôi đền thờ phụ (ở bên trái và bên phải của đền thờ chính) và một số công trình phụ trợ khác…

Ngoài các công trình thuộc khu vực bảo vệ 1 và khu vực bảo vệ 2, trong khuôn viên di tích còn có khu bắn súng thể thao, các văn phòng làm việc, khu vực khách sạn và nhà hàng, khu vực nhà để xe và một số công trình phụ trợ…

Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi là nơi các đồng chí lãnh đạo Khu uỷ, Quân khu Sài Gòn-Gia Định sống và làm việc, trực tiếp chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng Sài Gòn-Gia Định, trong đó, có nhiều đồng chí sau giải phóng đã trở thành lãnh đạo cao cấp của Trung ương như các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Mai Chí Thọ… ; nơi các lực lượng vũ trang và nhân dân Củ Chi sinh sống, trú ẩn, gắn bó với địa đạo bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ, tổ chức trận địa chiến đấu đánh địch giành nhiều thắng lợi vẻ vang trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

 Mô hình lớp học văn hóa nơi vùng giải phóng. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)
 Mô hình lớp học văn hóa nơi vùng giải phóng. (Nguồn: vietnamtourism.gov.vn)

Theo Phó Giáo sư, tiến sỹ Phan An, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, trên thế giới, không đâu có một di tích độc đáo như địa đạo Củ Chi. Việc đề xuất công nhận di sản văn hóa thế giới không chỉ nhằm giới thiệu tới bạn bè thế giới mà còn là cơ hội để người dân Việt Nam có dịp nhìn lại, trân trọng hơn đối với di tích này.

Theo ông An, thực tế địa đạo Củ Chi trong nhiều năm qua vẫn chưa được đánh giá đúng về tầm quan trọng. Mang ý nghĩa văn hóa, lịch sử rất lớn nhưng nhiều người sinh ra và lớn lên tại Thành phố Hồ Chí Minh thậm chí cũng chưa từng 1 lần đặt chân đến vùng đất thép thành đồng. Về tuyên truyền, truyền thông còn yếu dẫn đến sự quan tâm về bảo tồn, bảo vệ đối với di sản này còn nhiều hạn chế. Chỉ một phần rất nhỏ được bảo tồn phục vụ cho mục đích tham quan, du lịch.

Mặt khác, khả năng bị xâm hại từ tác động tự nhiên và con người của địa đạo là rất lớn. Do đó, nếu được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, chính quyền địa phương và người dân sẽ có trách nhiệm, đồng thuận quan tâm bảo tồn toàn vẹn địa đạo, đồng thời đánh thức suy nghĩ của người Việt về những di sản như thế này./.

Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Cuba Miguel Diaz Canel và Phu nhân tham quan hầm chông tại Khu Di tích Lịch sử địa đạo Củ Chi. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Cuba Miguel Diaz Canel và Phu nhân tham quan hầm chông tại Khu Di tích Lịch sử địa đạo Củ Chi. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)