Nghị quyết Đại hội Đảng XI đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về mọi mặt, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng là nội dung có tầm quan trọng chiến lược trong toàn bộ đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng.
Trước những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định, chúng ta phải đẩy mạnh “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.”
Trước hết cần khẳng định Quân đội ta là một quân đội cách mạng và mãi mãi là một quân đội cách mạng, của dân, do dân, vì dân. Điều đó đã được khẳng định trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân phải luôn giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng; phải thường xuyên coi trọng giáo dục chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực trình độ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sỹ.
Đó cũng là cơ sở quan trọng bảo đảm cho quân đội hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong mọi tình huống; đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa chính trị-tư tưởng của Đảng trong quân đội.
Xe tăng vượt cửa mở đưa bộ binh đánh mục tiêu địch. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Lực lượng không quân ngắm bắn mục tiêu địch từ trên cao. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Xe thiết giáp tham gia diễn tập. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Xe tăng nhằm thẳng mục tiêu địch. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Trung đội tăng vượt cửa mở chuẩn bị đánh chiếm mục tiêu địch. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Lực lượng bộ binh vượt cửa mở chuẩn bị đánh chiếm mục tiêu địch. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Lực lượng hóa học tham gia diễn tập. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Đơn vị pháo binh 105 ly của Lữ đoàn pháo binh 434 tham gia diễn tập. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân được thể hiện ở việc luôn kiên định mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, đường lối đổi mới của Đảng; chấp hành nghiêm túc mọi nghị quyết, chỉ thị và các nhiệm vụ được giao, hoàn thành tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.
Mọi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội phải thường xuyên quán triệt chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng; xác định rõ đối tượng và đối tác của cách mạng theo đúng quan điểm của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới;” luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, nắm chắc mọi diễn biến trên các hướng chiến lược, khu vực và địa bàn trọng điểm, có kế hoạch và chủ động phối hợp với các lực lượng và toàn dân tiến hành đấu tranh (bằng cả biện pháp vũ trang và phi vũ trang), làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá cách mạng, xâm phạm chủ quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Bảo đảm nền nếp chính quy và duy trì kỷ luật là hai nhân tố không thể thiếu trong quá trình xây dựng quân đội, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Mục đích của việc thực hiện chính quy hóa quân đội là nhằm bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong mọi hoạt động, công tác của bộ đội và các đơn vị trong toàn quân.
Trong những năm qua, cấp ủy và chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho bộ đội, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng chính quy; coi đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành cấp Quốc gia kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2015) và Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2015) được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình và một số tuyến phố của Thủ đô Hà Nội. Trong ảnh: Khối chiến sỹ Hải quân đánh bộ diễu binh qua khu vực Cửa Nam. (Ảnh: TTXVN)
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới, toàn quân phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quy. Đây là một nội dung rộng lớn, gồm nhiều vấn đề, liên quan tới mọi quân nhân. Vì vậy, các đơn vị cần nắm vững và quán triệt sâu sắc Chỉ thị 37-CT/ĐUQSTW của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương “Về đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân Việt Nam lên một bước mới”; Chỉ thị 85/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu và các văn bản liên quan, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn; trên cơ sở đó, có chủ trương, giải pháp thực hiện phù hợp.
Nội dung xây dựng nền nếp chính quy phải toàn diện, tập trung vào trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc trên tất cả các mặt công tác, đặc biệt là công tác sẵn sàng chiến đấu. Phải kết hợp chặt chẽ xây dựng chính quy với chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước; phấn đấu giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật xuống mức thấp nhất.
Xây dựng Quân đội nhân dân tinh nhuệ là mong muốn và cũng là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng quân đội. Cần bám sát bản chất và mục tiêu chiến đấu của quân đội ta để xác định nội dung xây dựng quân đội tinh nhuệ, bảo đảm cho quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; trong đó, quân đội phải “tinh nhuệ trước hết về chính trị.”
Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ quan trọng nhất, tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Trong tình hình hiện nay, cần nâng cao chất lượng các mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhất trí cao và chấp hành nghiêm túc, sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, nêu cao ý chí, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ.”
Phóng sự do Truyền hình Thông tấn (VNews) thực hiện năm 2015
Tiếp tục quán triệt và bảo đảm giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh; đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, nhất là năng lực quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết và kiểm tra, giám sát việc chấp hành nghị quyết.
Gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ chủ trì với cấp ủy các cấp; tăng cường công tác bảo vệ an ninh, bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, các hoạt động xâm phạm an ninh quân sự, an ninh quốc gia và các loại tội phạm khác.
Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện, kế hoạch tác chiến, hệ thống công trình phòng thủ, thiết bị chiến trường phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tích cực đổi mới nội dung, chương trình, tổ chức phương pháp huấn luyện bộ đội; thực hiện nghiêm túc phương châm huấn luyện “cơ bản, thiết thực, vững chắc,” coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, tăng cường huấn luyện cấp phân đội, huấn luyện dã ngoại, huấn luyện cho lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và dân quân, tự vệ; tổ chức tốt các cuộc diễn tập các cấp, diễn tập khu vực phòng thủ sát với nhiệm vụ của từng đơn vị và từng loại địa hình.
Tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục-đào tạo theo Nghị quyết 86-NQ/ĐU của Đảng ủy Quân sự Trung ương, đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ quân đội trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hậu cần, công tác kỹ thuật ở tất cả các cấp; bảo đảm tốt hậu cần, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ thường xuyên: sẵn sàng chiến đấu, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai…và các nhiệm vụ đột xuất khác; trong đó, ưu tiên bảo đảm hậu cần – kỹ thuật cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trên tuyến biển đảo, biên giới.
Xây dựng quân đội từng bước hiện đại là một yêu cầu rất quan trọng và đã nhận được được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, chúng ta đã thực hiện xây dựng quân đội từng bước hiện đại theo đúng phương hướng, lộ trình, kế hoạch xác định và đã đạt được những kết quả quan trọng; trong đó, một số lĩnh vực có bước phát triển nhanh, mang tính đột phá. Tuy nhiên, cần nhận thức được rằng, việc xây dựng quân đội từng bước hiện đại là vấn đề lớn, đặc biệt quan trọng, có quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, cần tổ chức nghiên cứu, xem xét một cách thận trọng, trên cơ sở tư duy khoa học, tầm nhìn tổng thể, toàn diện; trong đó có hai điều kiện tiên quyết cho việc bảo đảm: Khả năng thực tế của đất nước và yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời gian tới, chúng ta phải tận dụng thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu xây dựng nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, có tiềm lực ngày càng mạnh, phù hợp với khả năng của nền kinh tế đất nước.
Công nghiệp quốc phòng phải được phát triển theo hướng gắn chặt với công nghiệp dân sinh, có cơ cấu hợp lý trong tổng thể nền công nghiệp quốc gia; kết hợp chặt chẽ các trình độ, các loại hình công nghệ, trong đó, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng; tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại, trước mắt là xây dựng lực lượng hải quân, phòng không không quân, trinh sát điện tử, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, thông tin liên lạc đi thẳng lên hiện đại.
Việc Nhà nước ta vừa qua quyết định mua một số vũ khí trang bị hiện đại cho quân đội như: tên lửa phòng không S-300 PMU1, máy bay tiêm kích đa năng Su-30 MK2, máy bay tuần tiễu biển C212-400, tàu ngầm lớp Kilo… là những ví dụ minh chứng cho quan điểm đó.
Lễ míttinh, diễu binh, diễu hành cấp Quốc gia kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2015) và Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2015) tại Thủ đô Hà Nội. Ảnh: TTXVNLễ míttinh, diễu binh, diễu hành cấp Quốc gia kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2015) và Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2015) tại Thủ đô Hà Nội. Ảnh: TTXVNLễ míttinh, diễu binh, diễu hành cấp Quốc gia kỷ niệm 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2015) và Quốc khánh (2/9/1945-2/9/2015) tại Thủ đô Hà Nội. Ảnh: TTXVNTrong ảnh: Khối chiến sỹ Hải quân tham gia diễu binh. Ảnh: TTXVNKhối nữ trinh sát đặc nhiệm tham gia diễu binhtại Lễ kỷ niệm. Ảnh: TTXVN.Trong ảnh: Lực lượng đặc nhiệm quân đội tham gia diễu binh. Ảnh: TTXVN
Ngay từ khi sinh ra, cô bé Nguyễn Thị Loan (xã Tân Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) đã phải mang trong mình căn bệnh khác thường. Phần chân trái của em cứ dần phình to ra, có lúc phát triển bằng nửa trọng lượng của cả cơ thể. Ròng rã suốt gần chục năm trời, bố mẹ em đã bán bằng hết những gì có, để mong tìm ra hy vọng.
May mắn đã đến với Loan khi được em được một doanh nghiệp Đài Loan hỗ trợ và đài thọ toàn bộ chi phí để đưa Loan “xuất ngoại” chữa trị bệnh. Với sự chung tay của những tấm lòng nhân ái, cô bé nhỏ thó vùng Tây Nguyên ấy đã và đang có một hành trình đứng lên phi thường và đầy nghị lực.
Tuổi thơ không lành lặn
Nguyễn Thị Loan là con thứ hai của một gia đình tại Tân Văn, một xã vùng sâu vùng xa của tỉnh Lâm Đồng. Ngay từ khi còn là thai nhi, Loan đã được các bác sỹ phát hiện phần chân trái phát triển dị thường, to gấp nhiều lần phía còn lại.
Ngày em chào đời, niềm vui chưa kịp vỡ òa thì nỗi lo đã vội ập tới. Cô bé Loan, từ lúc đỏ hỏn, đã bắt đầu hành trình chống lại căn bệnh quái ác. Hai mươi ngày tuổi, Loan nhập viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Chân trái mỗi lúc lại phình to hơn, da căng cứng khiến bé đau đớn khóc cả ngày.
Bé Nguyễn Thị Loan khi phải chung sống với cái ‘chân voi’ sần sùi, đau đớn. (Ảnh: Báo Lâm Đồng)
Mẹ bé, chị Nguyễn Thị Tám cùng chồng phải bán mọi thứ có thể bán trong nhà, gồng gánh nhau xuống Sài Gòn. Ban đầu là đồ đạc, dần dần căn nhà, rồi mảnh đất nhỏ tại xã xa xôi Tân Văn cũng lần lượt rủ nhau ra đi. Chị Tám lại phải chạy vạy, vay mượn khắp nơi để có tiền chữa trị cho con. Nhưng bệnh tình của Loan thì không có dấu hiệu thuyên giảm. Đến năm bé Loan được 3 tuổi, khối u phát triển đột biến khiến chân trái lớn gấp 6-7 lần chân phải bình thường. Cái chân voi như một khối thịt khổng lồ khiến bé đau đớn, không thể đi lại.
Chỉ đến năm 2012, khi Loan 8 tuổi, chân trái của em đã nặng tới… 15kg, trong khi cả cơ thể chỉ có 25kg. Tuổi thơ của cô bé gắn chặt với giường bệnh, bác sỹ, mùi cồn nôn nao và cả những cơn đau dữ dội.
Ước mơ được chạy nhảy, được thong thả đi bộ trên đường… hoàn toàn xa vời với bé. Ngoài những lúc ở bệnh viện, Loan tự ti, chỉ ở nhà không dám ra đường vì sợ mọi người trêu chọc.
Các bác sĩ trong nước chẩn đoán bé mắc chứng ung thư máu lan tỏa hiếm gặp khiến chân to bất thường, cần có phương tiện điều trị kỹ thuật cao mà các cơ sở trong nước hiện chưa đáp ứng được.
Đến lúc này, mẹ bé gần như suy sụp. Nhà cửa, ruộng vườn… Tất cả đã không còn gì nữa.
Xuất ngoại
Đúng khi hy vọng tưởng chừng như đã tắt ngóm thì phép màu đã xảy ra. Trong một dịp đoàn công tác của Hội đồng Phát triển Ngoại thương Đài Loan đến thăm bệnh viện Nhi Đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp của Loan đã được biết đến.
Cảm động trước nghị lực của cô bé, tổ chức này đã đứng ra làm cầu nối, cùng với Tập đoàn Công nghiệp Hồng Phúc, một doanh nghiệp Đài Loan đã đầu tư nhiều năm tại Việt Nam giúp đỡ em sang điều trị theo chương trình nhân đạo y tế.
Tháng 6/2012, cô bé “không thể chạy” Nguyễn Thị Loan lại lần đầu tiên được xuất ngoại bằng đường hàng không. Sáu tháng điều trị bên Đài Loan, bé Loan đã trải qua 8 cuộc phẫu thuật. Khối thịt thừa hơn 15kg ở chân bé tạm thời được cắt bỏ, bộ phận sinh dục cũng được phẫu thuật để trở lại bình thường.
Bé Nguyễn Thị Loan đã có thể đi lại trên chính đôi chân của mình. (Ảnh: Báo Đài Loan)
Tuy nhiên, trải qua thời gian, căn bệnh quái ác vẫn chưa buông tha Loan. Chân trái em tiếp tục sưng to, khối u không có dấu hiệu dừng lại. Với quyết tâm chữa bằng được cho cô bé, một lần nữa, Tập đoàn Hồng Phúc cùng các đối tác Đài Loan lại đưa Loan “xuất ngoại”.
Hiện, Loan đang được điều trị tại Trung tâm y học Quốc tế Hồng Cơ. Theo báo chí Đài Loan, cô bé đã hoàn thành 3 đợt trị liệu. Bác sỹ Trần Hồng Cơ, Viện trưởng Trung tâm y học Quốc tế Hồng Cơ cho hay: Việc điều trị sẽ được duy trì trong vòng 6 tháng nhằm loại bỏ những vùng tổn thương rộng trên chân trái, đồng thời giúp Loan nhanh chóng ổn định sức khỏe và đi lại bình thường. Toàn bộ chi phí toàn bộ cho việc chữa bệnh, ăn ở được tập đoàn Hồng Phúc đài thọ lên tới 2,5 triệu Đài tệ (17,7 tỷ đồng).
Hiện tại tập đoàn Hồng Phúc cũng đã lên kế hoạch mở quỹ viện trợ các em thiếu nhi mắc bệnh hiểm nghèo, hy vọng có thể mang lại niềm vui và hạnh phúc cho những trường hợp không may mắn như Loan.
Với sự giúp sức từ những tấm lòng đến từ Đài Loan, cô bé Loan vẫn không ngừng chiến đấu kiên cường, để một ngày có thể thực sự đứng lên và chạy nhảy trên chính đôi chân của mình./.
Cuộc chiến 12 năm kiên cường
Bài 1
Cô bé vẫn lặng phắc khi thấy người lạ vào, mặc dù đôi mắt đã mở ra rất to nhìn thẳng chúng tôi. Hỏi gì em cũng lắc. Chỉ đến khi nhắc tới mẹ, Loan mới khe khẽ bảo: “Con nhớ cơm mẹ nấu, nhớ mẹ, nhớ anh…”
Đã ngót 12 năm nay, cô bé nhỏ thó ấy phải đấu tranh chống lại căn bệnh loạn sản mô quái ác, căn bệnh khiến chân trái của em mỗi ngày một lớn thêm ra và lở loét. Dọc hành trình hơn một thập kỷ ấy, chưa lúc nào Loan đầu hàng số phận. Trong giấc mơ chập chờn mỗi đêm, em luôn thấy mình có thể tự đứng được trên đôi chân lành lặn của mình.
VietnamPlus đã đi tìm, nghe và ghi lại câu chuyện về cuộc chiến đấu đầy nghị lực của cô bé “không thể đi” ấy trong một hành trình dài đằng đẵng 12 năm.
Bé Loan lại bắt đầu ngằn ngặt khóc khi vết thương ở phần chân trái của em loét ra, ri rỉ máu. Em co rúm, quằn quại trên chiếc giường nhỏ tẹo được kê một góc trong căn nhà tuềnh toàng giữa xóm nghèo Tân Văn (huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng). Mẹ em, chị Nguyễn Thị Tám cũng bật khóc theo con. Những tiếng nấc thi thoảng bỗng nghẹn ứ lại.
Chưa bao giờ, người mẹ ấy lại dám nghĩ, đứa con thứ hai của mình sẽ phải gánh chịu nỗi đau quá lớn ngay từ những ngày đầu tiên có mặt trên đời.
Dọc hành trình hơn một thập kỷ ấy, chưa lúc nào Loan đầu hàng số phận (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Tuổi thơ không lành lặn
Năm 2004, bé Nguyễn Thị Loan cất tiếng khóc chào đời trong niềm hạnh phúc khôn xiết của chị Tám. Một ngày trước khi sinh, chị vẫn nơm nớp nghĩ đến lời chẩn đoán về phần chân trái phát triển bất thường mà các bác sỹ đã đưa ra khi chị mang bầu. Đến khi thấy bé hồng hào, khỏe mạnh, nỗi lo ấy bỗng dưng bay biến.
Thế nhưng, niềm vui chưa kịp qua thì bất hạnh đã sầm sập kéo tới. Chỉ sau vài ngày, chân trái bé bắt đầu sưng mọng lên như quả bóng nước. Bé càng bú, chân trái lại càng to ra. Người mẹ trẻ đất Lâm Hà, Lâm Đồng hoảng hồn. Chị bắt đầu vay mượn khắp nơi để đưa con đi khám.
“Ngày ấy, đưa cháu đi hết các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh, các bác sỹ đều lắc đầu vì không biết chính xác bệnh gì. Họ yêu cầu chúng tôi phải chuyển lên bệnh viện Nhi đồng 1 thành phố Hồ Chí Minh thì may ra mới có cách chữa,” chị Tám rấm rứt nhớ lại.
Trong giấc mơ chập chờn mỗi đêm, em luôn thấy mình có thể tự đứng được trên đôi chân lành lặn của mình.
Chữa mãi, nhưng bệnh tình của Loan thì mỗi lúc một nặng hơn. Từ bọng nước ban đầu, da chân trái bắt đầu nứt toác, rỉ nước. Bé bỏ bú, người gầy rộc, cả ngày chỉ oa oa khóc. Chân trái em mỗi lúc một to ra… Chỉ đến năm 2012, trọng lượng chân trái của Loan đã lên tới 15kg, chiếm hơn một nửa cân nặng của cô bé.
Nhìn lại 8 năm đầu tiên ấy, anh Nguyễn Công Đức, bố cô bé không giấu nổi nỗi buồn. Anh kể, khi đó, cứ nghe ai mách bác sỹ nào giỏi, hai vợ chồng lại bế cháu đi. Từ bệnh viện Chợ Rẫy, Nhi đồng 1, U bướu, Bệnh viện Phẫu thuật chỉnh hình… không nơi nào, anh chị không gõ cửa. Trung bình cứ 4 tháng, bé lại phải dành một tháng để điều trị. Thế nhưng, bất chấp tất cả nỗ lực ấy, đôi chân Loan vẫn không thể lành. Những vết thương vẫn cứ mưng mủ và vỡ ra, khiến cho em không thể đi lại bình thường như bạn bè cùng trang lứa.
Chỉ tính đến khi Loan 12 tuổi, cô bé đã phải chịu đựng hơn 30 lần phẫu thuật. Ngoài phần lớn thời gian ở bệnh viện, tuổi thơ của Loan chỉ quẩn quanh với căn nhà tuềnh toàng. Đến ước mơ được đi trên chính đôi chân của mình, với Loan cũng trở thành quá xa vời.
“Đau lắm anh ạ. Thấy con cứ lết lết đi quanh nhà, vợ tôi lại khóc,” anh Đức, mắt đã đỏ hoe từ bao giờ cay đắng nói.
Anh Đức lặng thinh bên cô con gái nhỏ. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Chênh vênh trên đôi chân không lành
Mặc dù đã 12 tuổi, nhưng trông Loan bé quắt như đứa trẻ lên 6. Phần chân trái trải qua quá nhiều lần phẫu thuật đã cứng đơ, sần sùi và vẫn còn to gấp nhiều lần phía còn lại. Thấy người lạ vào, Loan vẫn lặng im, chỉ ngước đôi mắt to và sáng nhìn thẳng chúng tôi. Em im lặng. Những câu hỏi thăm của chúng tôi không nhận được hồi đáp. Anh Đức bối rối bảo: Loan đã quá quen với những đoàn tới rồi lại đi trong bao nhiêu năm nay rồi…
Ngừng một lát, người đàn ông đen đúa kể tiếp: Từ khi bắt đầu nhận thức được, biết chân mình có tật, Loan đã rất mặc cảm. Em không mấy khi ra ngoài, hạn chế tiếp xúc với bạn bè cùng trang lứa.
“Lúc chân cháu chưa sưng to, lở loét, cháu vẫn cố lết đi quanh quẩn, nhưng cũng chỉ được một lúc là chân cứng đơ và nhức mỏi,” anh Đức ngậm ngùi.
Đau đớn nhất là chỉ sau vài năm, vết thương của Loan ngày càng biến chứng nặng. Máu và mủ rỉ ra liên tục khiến em thậm chí không thể lết đi. Cô bé con chỉ còn biết nằm trong nhà, ngước mắt nhìn ra phía ngoài.
Với chị Nguyễn Thị Tám thì chuỗi ngày ấy gần như là địa ngục. Chị vẫn nhớ như in những ngày hai mẹ con đẩy nhau trên chiếc xe đạp cà tàng đi khám bệnh, những đêm chị và Loan thức trắng vì vết thương lên cơn đau. Có những buổi, chị Tám cõng con về đến nhà chợt thấy vạt áo ướt đầm đìa. Nhìn lại, hóa ra, máu từ bàn chân con đã túa ra. Chị hoảng hốt dùng bông thấm lại nhưng không thể được. Những lúc ấy, chị Tám chỉ nghĩ: Giá như người phải chịu nỗi đau ấy là mình.
Đến năm Loan 6 tuổi, việc di chuyển và sinh hoạt của em hầu như chỉ còn phụ thuộc vào cha, mẹ. Thấy anh trai lớn đi học về, cô bé lại ao ước được đến trường, được làm quen với thầy cô, bè bạn.
“Nhưng chỉ đến trường được vài buổi, tôi thấy cháu về nằng nặc đòi bỏ. Lúc ấy, hỏi ra mới biết, cháu bị các bạn khác trêu chọc. Cả ngày, cháu chỉ có thể ngồi yên trong lớp, không có ai dám chơi cùng. Cả nhà thương lắm, mà vẫn phải động viên con tiếp tục cố gắng,” chị Tám kể.
Điều đáng khâm phục nhất là mặc dù không có điều kiện đến lớp thường xuyên do bệnh tật, Loan vẫn cố gắng tận dụng những quãng thời gian trên giường bệnh để tự học. Mỗi lần phải nhập viện, bao giờ em cũng mang theo sách vở như một hành trang không thể thiếu. Có những buổi ở lớp, vết đau rỉ máu, cô bé vẫn cắn răng chịu đựng, nhất quyết không để cô giáo gọi báo về nhà. Nhờ những nỗ lực không mệt mỏi ấy, trong suốt thời gian theo học trường Tiểu học Tân Hà 2, Loan luôn đạt danh hiệu Học sinh giỏi.
Câu chuyện giữa tôi và chị Tám bỗng dưng nghẹn lại. Mắt người phụ nữ chùng hẳn xuống. Chị xót xa bảo: Đến ngay cả việc đi học giờ cũng đang phải tạm gác lại. Để điều trị, từ tháng 5/2016, bố Loan đã đưa cháu đi tiếp tục phẫu thuật ở Đài Loan theo chương trình tài trợ.
“Mỗi lần cháu gọi điện về với mẹ, cháu lúc nào cũng bảo nhớ nhà, nhớ lớp thôi,” chị Tám thở hắt ra rồi im lặng.
Hành trình 12 năm của bé Loan đến lúc này cũng là hành trình 12 năm chênh vênh trên đôi chân tật nguyền, khi mọi ước mơ, dự định của cô bé luôn bị căn bệnh quái ác dày vò, ngăn cản. Nhưng, chưa lúc nào, cô bé có đôi mắt rất sáng ấy lại yếu lòng mà từ bỏ./.
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Quyết giữ chân cho con bằng mọi giá
Bài 2
Người đàn ông gầy rộc vẫn chong chong thức dù đã quá nửa đêm. Ngay bên cạnh, bé Loan lại trằn trọc trở mình vì vết đau ở chân trái. Nén lại một tiếng thở dài, anh khe khẽ vỗ về, mong bé yên giấc.
Trong suốt hành trình 12 năm qua, anh vẫn luôn thao thức cùng nỗi đau của con như vậy.
Đi nhờ trên đôi chân bố mẹ
Da xạm màu, tóc lốm đốm vài sợi bạc, trông anh Nguyễn Công Đức già hơn nhiều so với cái tuổi 38 của mình. Từ khi bé Loan mắc bệnh, anh Đức cùng vợ bất đắc dĩ đã phải trở thành đôi chân của con. Vừa cẩn thận kéo lại tấm chăn đắp cho Loan, anh vừa nhớ lại: Ngày bé được 20 ngày tuổi, phần chân trái của em bỗng phình to ra, sưng mọng nước.
“Khi ấy, hai vợ chồng tôi hoảng lắm, ngay trong đêm vội vàng ôm con lội bộ ra đường cái, bắt xe đưa cháu đi khám,” người đàn ông xoa xoa hai tay vào nhau ngậm ngùi.
Giữa đêm ấy, cặp vợ chồng nghèo ở xã Tân Văn cuống cuồng đem đứa lớn đi gửi rồi lấn bấn dắt tiền, xách túi ôm con đi. Phía bên ngoài mưa gió ràn rạt. Ba người liêu xiêu bồng bế nhau, cắt hơn 2 cây số băng rừng ra quốc lộ tìm xe khách. Họ không bao giờ ngờ được, đây cũng là chuyến xe bắt đầu cho hành trình kéo dài đến 12 năm để giữ lại chân trái cho con.
Giờ nhớ lại, anh Đức vẫn bần thần. Đôi mắt đỏ vằn trở nên hoang dại, cứ ngó đăm đăm vào một khoảng không vô tận. Anh bảo: Cả đời anh cũng sẽ không bao giờ quên được những ngày cõng đứa con gái bé bỏng bất hạnh đến lớp, những khi hoảng sợ cực độ, bồng con trên tay đi cấp cứu lúc vết đau ứa máu… Tất cả như những thước phim, loang loáng ám ảnh người đàn ông khắc khổ những khi đêm về.
Họ không bao giờ ngờ được, đây cũng là chuyến xe bắt đầu cho hành trình kéo dài đến 12 năm để giữ lại chân trái cho con.
Mẹ Loan, chị Nguyễn Thị Tám thì nức nở khi nghĩ về hành trình trở thành “đôi chân” cho bé. Chị bảo, khi bệnh tình của Loan chưa trở nặng, em vẫn cố tập đi. Nhưng chỉ lết được vài bước là toàn bộ chân trái trở nên căng cứng. Máu dồn xuống tím tái. Bé khóc. Chị Tám cũng ngân ngấn theo.
Trong suốt những năm đầu tiên, chị Tám và anh Đức thay nhau cõng con đi khám, đi học bất kể nắng hay mưa. Có những buổi, vết đau ở chân trái của Loan bật máu, thầm đầm đìa ướt hết lưng áo anh chị.
Đến năm 8 tuổi, phần chân bị bệnh ngày càng trở nên to hơn, chiếm đến hơn 2/3 trọng lượng toàn cơ thể bé. Lúc này, Loan đã hầu như không thể tự di chuyển. Toàn bộ việc đi lại phụ thuộc hoàn toàn vào đôi chân mỗi lúc một yếu đi của cha mẹ.
Kể đến đây, anh Đức ngước lên nhìn nhóm khách lạ thở dài: “Lắm khi, ngủ mơ, tôi lại thấy cảnh Loan chạy nhảy. Hai vợ chồng chỉ mong đến ngày không còn phải cảnh bố cõng con đi khắp nơi như bây giờ nữa.”
Phòng bệnh bỗng lặng phắc. Không ai nói với ai câu nào. Chỉ còn tiếng thở khó nhọc, lúc gấp, lúc khoan của cô bé con đang thiêm thiếp cùng chiếc chân trái sưng vù ngay bên cạnh…
Ánh mắt đượm buồn của hai cha con anh Đức và bé Loan. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Quyết giữ chân con bằng mọi giá
12 năm thay nhau làm đôi chân cho con, chị Tám và anh Đức chưa một ngày từ bỏ hy vọng cháu sẽ điều trị bệnh thành công. Năm này sang năm khác, họ đã gõ cửa mọi nơi có thể, hết Lâm Đồng đến Thành phố Hồ Chí Minh… Đây cũng là khoảng thời gian khó khăn nhất đối với gia đình nhỏ bé ấy.
Lẩm nhẩm kiểm đếm lại, anh Đức bảo: Tính ra, nhà có cái gì bán được anh chị cũng bán sạch cả rồi. Từ mảnh đất ông bà để lại ngoài Bắc tới đồ đạc trong nhà, ruộng vườn… lần lượt nối đuôi nhau đi hết.
“Thời gian đầu khó khăn lắm. Chúng tôi buộc phải gửi cháu lớn cho anh chị ở Lâm Đồng rồi dắt díu đưa con xuống điều trị dài ngày tại Bệnh viện Nhi đồng ở Thành phố Hồ Chí Minh,” anh Đức nhớ lại.
Để kiếm thêm đồng ra đồng vào trong quãng thời gian con chữa bệnh, anh đã lang thang khắp đất Sài Gòn kiếm việc. Anh được nhận làm thợ xây tít tận khu Đầm Sen và được chủ nuôi cơm. Toàn bộ số tiền công ít ỏi được anh gửi vợ để lo cho Loan. Ngày ngày, sau giờ làm, anh lại bắt xe buýt vào viện thăm con.
Từ lúc Loan phát bệnh, anh đã làm đủ thứ nghề. Hết phụ hồ, đào giếng, Đức lại làm công nhân mía đường, phun thuốc sâu thuê… Ai mướn gì anh cũng nhận. Giơ bàn tay trái sần sùi sẹo đã khuyết mất một ngón, ông bố kể: Trong một lần tăng ca khi ép mía, máy ép bị kẹt nên Đức dùng tay kiểm tra và bị cuốn vào.
“May mà chỉ mất một ngón,” anh cười như mếu nói.
Cũng giống như chồng, trong 12 năm Loan mắc bệnh, chị Tám đã vắt kiệt sức mình trong hy vọng chữa lành cho con. Những ngày Loan không phải điều trị, chị cũng nhận thêm việc để làm. Ngày ngày, cặp vợ chồng nghèo để lại hai đứa trẻ ở nhà tự trông nhau để lao vào cuộc mưu sinh vất vả.
Thế nhưng, bất chấp từng ấy nỗ lực của họ, bệnh tình của cô bé chân voi mỗi lúc một nặng hơn. Tiền như gió thổi vào nhà trống. Nợ nần bắt đầu chất chồng lên. Nhưng tất cả vẫn không đánh gục được anh chị. Chỉ duy nhất một lần, khi các bác sỹ chuẩn đoán phải cưa chân Loan họ mới thực sự suy sụp.
Mắt đã đỏ hoe, anh Đức nghèn nghẹn kể: Năm 2015, sau rất nhiều lần phẫu thuật không thành công, chân trái của Loan chuyển biến xấu. Thịt từ bên trong cứ không ngừng đùn ra, máu và mủ đầm đìa. Một số bộ phận khác như trực tràng, lá lách… cũng bắt đầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lúc này, tất cả các bệnh viện tuyến trên đều lắc đầu, từ chối tiếp tục mổ. Họ khuyên anh chị nên chọn giải pháp cưa chân để giữ tính mạng cho bé.
Nghe những lời ấy, chị Tám ngất lên ngất xuống. Bé Loan cũng hoảng sợ, ngằn ngặt khóc. Người đàn ông duy nhất trong gia đình bất hạnh ấy cũng không sao giữ nổi bình tĩnh. Tai anh như ù cả đi…
“Khi ấy, tôi chỉ ước người phải cưa chân là tôi chứ không phải cháu,” anh Đức vẫn còn run run nhớ lại.
Nhưng với quyết tâm giữ đôi chân cho con tới cùng, anh chị lại khẩn khoản nhờ các bác sỹ “còn nước còn tát.” Họ tiếp tục gõ cửa từng nơi với hy vọng sẽ có người điều trị được chứng bệnh quái ác ấy.
Đến tận bây giờ, ngồi kể cho chúng tôi hành trình dài dằng dặc 12 năm ấy, anh Đức vẫn son sắt tin rằng sẽ có một phép lạ xảy ra, và rằng cháu Loan sẽ có ngày được tự đứng trên chính đôi chân của mình.
Bé Loan chợt tỉnh giấc. Thấy bố và chúng tôi vẫn đang nói chuyện, bé với về phía Đức. Bàn tay khuyết ngón sần sùi của anh khe khẽ nắm chặt lấy bàn tay bé nhỏ, gầy guộc của Loan như bao đêm vẫn thế.
Hành trình dài 12 năm vẫn chưa kết thúc…
12 năm thay nhau làm đôi chân cho con, chị Tám và anh Đức chưa một ngày từ bỏ hy vọng cháu sẽ điều trị bệnh thành công. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Ước mơ chưa tròn và những ca mổ đau đớn
Bài 3
12 tuổi và ngót nghét 12 năm chênh vênh trên đôi chân không lành, nhưng cô bé Nguyễn Thị Loan vẫn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt trong veo nhất.
Với em, thế giới là khoảng sân nho nhỏ trước nhà, là những ngày cùng bố mẹ đi hái trái càphê trên rẫy, là lớp học với nhiều điều em chưa biết. Chưa lúc nào, con chim non bé bỏng đáng thương ấy ngừng mơ ước, những giấc mơ bình dị đến nao lòng.
Nhìn cuộc đời qua những khung cửa hẹp
Cô bé Loan vẫn ngước đôi mắt to tròn ra khung cửa lớp học. Phía bên ngoài, các bạn đồng trang lứa của Loan đang chạy nhảy. Những tiếng cười, tiếng nói vọng vào khiến Loan chợt mỉm cười. Từ nhiều năm nay, em đã quen với việc nhìn mọi thứ từ góc nhìn riêng biệt ấy của mình khi đôi chân không thể nào đi được.
Chị Nguyễn Thị Tám, mẹ bé, chẳng thể giấu nổi tiếng thở dài khi nghĩ về con. Chị bảo: Do nhà quá nghèo, nên ngay từ nhỏ, mặc dù bị bệnh, nhưng ngày nào Loan cũng phải ở nhà với anh trai để bố mẹ đi làm. Ngày ngày, vợ chồng chị dậy sớm, chuẩn bị cơm nước, rồi cẩn thận chặn một tấm gỗ lớn, cao cả mét trước cửa. Hai đứa trẻ cả ngày quẩn quanh trong căn nhà nhỏ, chỉ còn biết nhìn ra khoảnh sân phía bên ngoài đợi lúc cha mẹ về.
Chưa lúc nào, con chim non bé bỏng đáng thương ấy ngừng mơ ước, những giấc mơ bình dị đến nao lòng.
Đến tận trước lúc đến trường, thế giới của Loan vẫn chỉ quẩn quanh với hiên nhà, với những dãy phòng bệnh viện nôn nao mùi thuốc sát trùng và những ca mổ đau đớn. Thậm chí, ngay cả khi được đi học, cái thế giới vốn nhỏ bé và chật chội ấy cũng không mở rộng ra là bao.
Đôi mắt mở to khe khẽ cụp xuống. Cô bé đang nằm im trên giường bệnh trắng toát nói như khóc: “Con đến lớp, các bạn không ai chơi với con cả. Suốt buổi học con chỉ ngồi trong lớp một mình.”
Cũng do gia đình quá nghèo, nên trong suốt các khoảng thời gian chữa trị bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, thậm chí cả ở Đài Loan, chị Tám và anh Đức cũng không có điều kiện đưa bé Loan ra ngoài thăm thú. Ngoài những lúc điều trị, họ nằm yên trong phòng, giở những cuốn truyện cổ tích ra đọc cho nhau nghe. Hôm nào sức khỏe Loan khá hơn, anh Đức, chị Tám sẽ cố gắng dìu con xuống sân bệnh viện, đẩy cháu đi trên xe lăn cho thoáng đãng.
“Đôi lúc cũng muốn đưa cháu đi đây đi đó cho biết, nhưng một phần do chân cháu đau nhức, một phần nữa do không có nhiều tiền nên chúng tôi cũng đành phải chịu,” anh Đức tâm sự thật thà.
Bé Loan ước ao có thể đi lại bình thường như bao người bạn khác. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
“Cháu chỉ mơ bát canh chua mẹ nấu”
Chúng tôi gặp Loan không lâu sau khi em trải qua đợt phẫu thuật thứ 7 tại một bệnh viện thuộc thành phố Đài Trung, Đài Loan. Lúc này, bé còn khá yếu, người gầy quắt lại. Toàn cân nặng chỉ có 29kg. Phần chân trái được băng kín to gấp 2-3 lần phía còn lại.
Theo chỉ định tạm thời các các bác sỹ, cô bé không được ăn để cho vết mổ trực tràng lành lại. Việc nói chuyện với người khác cũng rất khó khăn do vết đau liên tục hành hạ bé.
Thế nhưng, khi nghe chúng tôi nhắc đến những chuyện khi còn ở Việt Nam, Loan bỗng trở nên hoạt bát hơn nhiều. Cô bé bảo, mỗi lúc xa nhà, em đều rất nhớ mẹ, nhớ anh em ở Lâm Đồng. Đêm nào Loan cũng nằm mơ được ăn bữa cơm có bát canh chua do mẹ nấu, xung quanh có bố và mọi người. Loan cũng nhớ những buổi lên lớp được cô giáo dạy những điều chưa biết cho em.
Điều đặc biệt nhất, lần nào khi được hỏi: Giờ con muốn làm gì nhất nếu ở Việt Nam, cô bé con có đôi mắt rất sáng và tròn trước mặt chúng tôi cũng khăng khăng khẳng định: “Con sẽ lên rẫy, hái quả cà phê phụ bố mẹ.”
Thấy chúng tôi thắc mắc, anh Đức nãy giờ vẫn ngồi im bên cạnh giải thích: Những ngày ở Lâm Đồng, khi chân Loan đỡ hơn, em vẫn đòi bố mẹ cho lên nương. Khi ấy, bé vừa chống nạng, vừa phụ giúp mọi người thu hoạch cà phê.
Trải qua hành trình 12 năm chênh vênh trên đôi chân không lành lặn, nhưng chưa khi nào Loan từ bỏ hy vọng được đứng lên. Loan bảo “bây giờ, con chỉ ước mình sớm được khỏi bệnh, không phải để bố mẹ cõng, bế nữa. Chân khỏi rồi, con sẽ đi học, sẽ phụ giúp bố mẹ làm việc nhà.”
Nghe đến đây, anh Đức quay mặt đi, khe khẽ thở dài. Suốt hơn 10 năm qua, anh chị và cả bé đã kiên cường chống chọi để giành được giấc mơ ấy. Thậm chí, anh còn quả quyết rằng nếu cần, anh sẽ hy sinh đôi chân mình cho cháu.
Thế nhưng, điều ước nhỏ nhoi của Loan vẫn cứ xa vời. Cô bé vẫn đang ngày ngày nhìn cả thế giới qua những ô cửa sổ, cảm nhận thế giới từ trên lưng cha mẹ trong mọi chuyến đi dài…
Trải qua hành trình 12 năm chênh vênh trên đôi chân không lành lặn, nhưng chưa khi nào Loan từ bỏ hy vọng được đứng lên. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Ám ảnh giấc mơ được đi của cô bé chân voi
Bài 4
Cô bé nằm lặng lẽ bên chiếc giường bệnh, ai hỏi gì cũng không nói. Chỉ đến khi nhắc tới mẹ, Loan mới khe khẽ bảo: “Con nhớ cơm mẹ nấu, nhớ mẹ, nhớ anh”. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Mặc dù đã được phẫu thuật cắt bỏ gần 15kg khối u nhưng hằng đêm bé Loan lại trằn trọc trở mình vì vết đau. Làm bạn với em là bốn bức tường lạnh toát của bệnh viện và những con thú nhồi bông vô tri. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Loan vừa trải qua đợt phẫu thuật thứ 7 tại một bệnh viện thuộc thành phố Đài Trung, Đài Loan. Lúc này, bé còn khá yếu, người gầy quắt lại. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Các vết mổ ở chân đã thôi không còn lở loét và chảy mủ nhưng hàng ngày, em vẫn phải uống hàng vốc thuốc để ngăn chặn cơn đau. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Trong suốt hành trình 12 năm chữa bệnh cho con, anh Nguyễn Công Đức vẫn luôn bên cạnh bé Loan. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Chính trong căn phòng bệnh nôn nao mùi thuốc sát trùng ấy, ước mơ được khỏi bệnh, được đi trên chính đôi chân của mình đã thôi thúc Loan hơn bao giờ hết. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Anh Đức thở dài bên đứa con gái bé nhỏ. Bàn tay anh đã khuyết đi một ngón do một lần làm thêm kiếm tiền chữa bệnh cho con bị máy ép mía cán nát. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Mỗi ngày, hai cha con đều cùng nhau đi dạo quanh công viên. Xung quanh là những đứa trẻ hồn nhiên nô đùa, chạy nhảy. Mỗi lần như vậy, bé Loan lại ngoảnh mặt đi. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Cô Hoa, một người phụ nữ tốt bụng vẫn hàng ngày đến chơi cùng bé Loan. Cô hay tết tóc cho Loan và hứa hẹn một ngày nào đó em đi lại được, cô sẽ cùng em về Việt Nam nấu cho những món ăn ngon. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Trải qua hành trình 12 năm chênh vênh trên đôi chân không lành lặn, nhưng chưa khi nào Loan từ bỏ hy vọng. “Bây giờ, con chỉ ước mình sớm được khỏi bệnh, không phải để bố mẹ cõng, bế nữa. Chân khỏi rồi, con sẽ đi học, sẽ phụ giúp bố mẹ làm việc nhà.” (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Trên bức tường cạnh giường bệnh Loan hay nằm là những mảnh giấy ghi lời chúc của các y tá, bác sỹ bệnh viện. Họ đều là người Đài Loan nhưng đã cố tìm cách viết bằng tiếng Việt chúc Loan một ngày nào đó, em sẽ hoàn toàn khỏi bệnh. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)Điều kỳ diệu đến sớm hơn những gì mà ta tưởng tượng, chỉ vài tháng sau ca mổ, bé Loan đã có thể tập tễnh bước đi trên chính đôi chân bé nhỏ của mình. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Hy vọng mới của bé Loan và hành trình trên đất bạn
Bài 5
Trong suốt cuộc đấu tranh với bệnh tật của Loan, đã có những lúc, mọi hy vọng tưởng chừng như đã tắt ngấm khi các bác sỹ chuẩn đoán bé sẽ buộc phải cưa chân để giữ lấy mạng sống. Thế nhưng, cũng chính giây phút ấy, điều kỳ diệu đã đến, mở toang cánh cửa dẫn tới giấc mơ được đi của em.
Một hành trình mới với hy vọng mới lại được bắt đầu.
Chuyến bay đầu tiên của cô bé chân voi
Chỉ tính đến năm 2012, cô bé “chân voi” Nguyễn Thị Loan đã trải qua hàng chục ca phẫu thuật. Dẫu vậy, phần chân trái vẫn không có dấu hiệu lành lại. Ngày qua ngày, những vết đau liên tục rỉ máu, ăn sâu hơn vào da thịt khiến cô bé 8 tuổi còm cõi hơn.
Nhớ lại thời điểm ấy, anh Đức không giấu nỗi buồn. Đó là khoảng thời gian mà cả hai vợ chồng anh gần như quỵ ngã. Hầu hết các bệnh viện trong nước đều đã lắc đầu với trường hợp của Loan. Mọi biện pháp can thiệp chỉ còn dừng ở mức sát trùng, tránh cho chân em nhiễm trùng và hoại tử.
“Ngày đó, cứ nghe ai mách đâu, chúng tôi lại đưa con tới xin chữa, từ thuốc Tây đến thuộc dân tộc. Nhưng bệnh tình của cháu thì vẫn hề không thuyên giảm,” anh Đức kể.
Khi hy vọng tưởng chừng như đã tắt ngóm thì phép màu đã xảy ra. Trong một dịp đoàn công tác của Hội đồng Phát triển Ngoại thương Đài Loan đến thăm bệnh viện Nhi Đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh, trường hợp của Loan đã được biết đến.
Cảm động trước nghị lực của cô bé, một tổ chức của Đài Loan đã đứng ra làm cầu nối giúp đỡ đưa em sang điều trị theo chương trình nhân đạo y tế.
Cảm động trước nghị lực của cô bé, tổ chức này đã đứng ra làm cầu nối giúp đỡ đưa em sang điều trị theo chương trình nhân đạo y tế.
Nghe tin ấy, tai anh Đức như ù cả đi. Cơ hội cứu lấy đôi chân cho đứa con gái bé bỏng khiến người cha khắc khổ bật khóc.
“Chỉ cần nghĩ đến cảnh con bé có thể tự đi, hai vợ chồng lại không sao kìm được nước mắt,” anh Đức nhớ lại.
Sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, tới tháng 6/2012, cô bé “không thể chạy” Nguyễn Thị Loan cùng mẹ lần đầu tiên được xuất ngoại theo đường hàng không. Sau 6 tháng điều trị đầu tiên này, Loan trải qua 8 cuộc phẫu thuật để gọt bỏ bớt phần thịt thừa ở chân trái. Bộ phận sinh dục của Loan cũng được xử lý để trở lại bình thường.
Những tưởng, chuyến xuất ngoại ấy sẽ giúp ước mơ của Loan trở thành hiện thực, nhưng căn bệnh quái ác vẫn chưa chịu buông tha em. Chỉ sau một thời gian ngắn trở về Lâm Đồng, do không chăm sóc tốt, vết mổ bị hoại tử mạnh, mủ và máu liên tục chảy ra. Loan tiếp tục phải trải qua thêm 4 năm đau đớn với chiếc chân voi khổng lồ.
Điều kỳ diệu đã đến với cô bé ‘chân voi’ Nguyễn Thị Loan khi em được sang Đài Loan chữa bệnh. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Nối lại hành trình tìm ước mơ
Với anh Đức, 4 năm sau khi trở về từ Đài Loan giống như một cơn ác mộng dài. Hai vợ chồng anh vừa phải bươn chải cuộc sống, vừa mướt mải đưa con đi níu giữ lại giấc mơ được đứng lên. Nhưng tới đâu, anh chị cũng chỉ nhận được lời khuyên: Nếu muốn em sống, bắt buộc phải cưa đi chiếc chân trái tật nguyền.
Sức khỏe của Loan thì mỗi ngày một yếu. Chị Tám vợ anh khóc hết nước mắt, gầy rộc đi vì xót con. Một mình người đàn ông tiều tụy ấy phải gồng mình lên, chống đỡ cả gia đình 5 người ấy với quyết tâm “còn nước thì còn tát.”
Đến tháng 1/2016, một lần nữa, thần may mắn mỉm cười với gia đình anh Đức. Với quyết tâm chữa bằng được bệnh cho bé, những tấm lòng thiện tâm từ đất bạn Đài Loan lại tìm cách đưa em xuất ngoại. Lần này, Tập đoàn Hồng Phúc vốn đầu tư nhiều năm tại Việt Nam đã đứng ra làm “Mạnh Thường Quân” đài thọ toàn bộ chi phí ăn ở, chữa trị cho cô bé. Việc điều trị sẽ được duy trì trong vòng 6 tháng nhằm loại bỏ những vùng tổn thương rộng trên chân trái, đồng thời giúp Loan nhanh chóng ổn định sức khỏe và đi lại bình thường. Toàn bộ chi phí toàn bộ được tập đoàn Hồng Phúc đài thọ lên tới 2,5 triệu Đài tệ tương đương với 17,7 tỷ đồng.
Tháng 5/2014, Loan và bố lên máy bay trở lại Đài Loan bắt đầu hành trình nối lại giấc mơ còn đang dang dở.
Bé Nguyễn Thị Loan đã đươc các tổ chức từ thiện giúp đỡ đưa sang Đài Loan chữa trị. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Gặp chúng tôi trong phòng bệnh tại Bệnh viện Đại học Y học Trung Quốc (thành phố Đài Trung), anh Đức vừa mừng vừa tủi bảo: Lần này sang Đài Loan, bé Loan dự kiến sẽ được điều trị trong vòng 6 tháng. Các bác sỹ sẽ gọt bỏ các phần thịt thừa, đồng thời điều trị dứt điểm căn bệnh loạn sản mô cho bé.
Tính tới thời điểm hiện tại, Loan đã trải qua 7 lần phẫu thuật, trong đó 3 lần thực hiện thao tác trên chân trái, 1 lần mổ lá lách và nhiều lần tiến hành ghép da khác. Anh Đức cho hay: So với lúc còn ở Việt Nam, tình trạng của cô bé đã được cải thiện hơn nhiều. Các vết đau ở chân không còn lở loét và chảy mủ, kích thước chân đã giảm đáng kể. Đặc biệt, phần trực tràng bị tổn thương cũng đã được các y bác sỹ của Bệnh viện Đại học Quốc tế Đài Trung xử lý cơ bản.
“Mừng nhất là thấy cháu sau khi mổ trực tràng có thể ăn uống nhiều hơn. Nghe các bác sỹ nói: Khi trực tràng lành, cháu sẽ tăng cân vì cơ thể có khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng, tôi mừng lắm,” anh Đức hồ hởi bên giường bệnh nói.
Theo đánh giá của bác sỹ Trần Hồng Cơ, Phó Viện trưởng Bệnh viện Đại học Y học Trung Quốc, khả năng bình phục của cô bé người Việt là rất khả quan. Sau liệu trình điều trị, Loan sẽ có thể tập để tự đi lại trên đôi chân của chính mình.
Ngày trở về của cô bé chân voi Nguyễn Thị Loan đang tới rất gần…
Sau liệu trình điều trị, Loan sẽ có thể tập để tự đi lại trên đôi chân của chính mình. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Khi tình yêu thương vượt ra ngoài biên giới
Bài 6
Trong những ngày ở đất bạn Đài Loan, “cô bé chân voi” luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các y bác sỹ tại bệnh viện cũng như cộng đồng người Việt Nam tại đây. Chính tình yêu không biên giới ấy đã góp một phần không nhỏ trong việc hiện thực hóa giấc mơ đã kéo dài hơn 1 thập kỷ của bé.
Cô gái nhỏ… kết nối tình yêu lớn
Cho đến tận bây giờ, anh Nguyễn Công Đức vẫn chưa thể tin được rằng gia đình mình lại nhận được quá nhiều sự quan tâm đến thế. Anh bảo: Trong những ngày ở Đài Loan, anh và con gái luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các y bác sỹ của bệnh viện. Họ cẩn thận kê thêm một chiếc giường đơn cho anh ngay cạnh chỗ bé Loan nằm để ông bố người Việt Nam tiện chăm sóc con. Họ tỉ mẩn cắt, dán những lời chúc nho nhỏ bằng tiếng Việt để động viên Loan mau khỏi bệnh: “Bạn đang là chiến binh dũng cảm,” “Tôi muốn cho bạn phục hồi nhanh chóng”…
Những mảnh giấy ghi lời chúc của các y tá, bác sỹ bệnh viện. Họ đều là người Đài Loan nhưng đã tìm cách viết bằng tiếng Việt chúc Loan một ngày nào đó sẽ hoàn toàn khỏi bệnh. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Bà Aichi Chou, người đã theo sát suốt gần 5 tháng chữa trị tại bệnh viện Đại học Quốc tế Đài Trung của cô bé “chiến binh dũng cảm” chia sẻ: Mặc dù tất cả các nhân viên của bệnh viện đều không thể nói hay hiểu tiếng Việt, nhưng họ đã cố gắng hết sức để tìm cách truyền tải những thông điệp nhỏ ấy đến em. Bản thân người phụ nữ Đài Loan cũng đã quen với việc ngày ngày ghé qua phòng bệnh của Loan, chỉ để nhìn cô bé bình phục từng ngày.
Nhớ lại hành trình đưa lại cô bé chân voi ở Lâm Đồng sang chữa trị lần 2, bà Aichi vẫn chưa hết bồi hồi. Vào khoảng tháng 1/2016, lần đầu tiên bà biết đến trường hợp của Loan và gần như ngay lập tức muốn níu giữ giấc mơ bước đi của bé. Bà liên hệ với Chủ tịch Tập đoàn công nghiệp Hồng Phúc tại Đài Loan, ông Chang Tsung Yuan và nhận được sự đồng tình. Ông Chang đồng ý đài thọ toàn bộ chi phí ăn, ở và chữa trị để đưa Loan lần thứ hai quay lại Đài Trung.
Khi mọi thủ tục, giấy tờ đã chuẩn bị xong, thì chuyến xuất ngoại của Loan lại gặp trục trặc lớn khi hãng hàng không từ chối vận chuyển do vết thương ở chân em lúc đó đã lở loét và bốc mùi hết sức khó chịu. Bà Aichi thêm một lần phải “đàm phán” để Loan được bay trong khu vực riêng nhằm không ảnh hưởng tới hành khách khác. Nhắc lại tất cả những chuyện ấy, người phụ nữ ngoài 40 cười nhẹ bẫng. Bà bảo, lúc đó, trong đầu bà chỉ nghĩ sẽ phải làm mọi cách để cô bé người Việt được chữa lành.
Ông Chang Chih Pan, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Tập đoàn Công nghiệp Hồng Phúc cũng là người đi cùng Loan suốt vài tháng qua. Lần nào vào thăm, ông cũng động viên bé yên tâm điều trị và sớm trở về quê hương. Ông Chang cho hay: Phía Hồng Phúc quyết tâm sẽ chữa lành tuyệt đối cho cô bé, để giấc mơ được đi của em trở thành hiện thực.
Bà Zhang Shu Jun, một người phụ nữ Đài Loan tốt bụng ngày nào cũng đưa cháu gái vào thăm bé Loan. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Hành trình của những trái tim
Điều đáng mừng nhất, cũng trong những ngày ở đất khách quê người, Loan đã tìm được người bạn quốc tế đầu tiên của mình. Bà Zhang Shu Jun, một người phụ nữ từng vào chăm sóc con điều trị trong bệnh viện Đại học Quốc tế Đài Trung vô tình biết đến hoàn cảnh đáng thương của cô bé. Tới tận khi người thân đã xuất viện, ngày ngày, bà vẫn cứ bắt xe buýt hơn 30 phút đồng hồ, đưa cháu gái tới thăm Loan cho đỡ buồn.
Nhìn hai đứa trẻ sàn sàn tuổi, khác biệt nhau về ngôn ngữ, nhưng chia nhau từng miếng bánh bên giường bệnh, tất cả những người có mặt đều nao lòng. Trong phút chốc, mọi ranh giới và khoảng cách bỗng chốc đã không còn quan trọng nữa. Chỉ còn những tiếng cười trong vắt thơ ngây lanh lảnh khắp gian phòng…
Sự xuất hiện của “cô bé chân voi” trên đất Đài Loan vô tình cũng giúp cộng đồng người Việt tại đây xích lại gần với nhau hơn. Họ kể cho nhau nghe về nghị lực của Loan, về hành trình kiên cường kéo dài 12 năm không ngừng nghỉ. Họ thu xếp công việc đến với bố con em mỗi khi có thể.
Chị Đặng Thị Hoa, hiện đang làm công việc chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện Đại học Quốc tế Đài Trung từ nhiều tháng nay cũng kiêm luôn nhiệm vụ phiên dịch viên cho bố con anh Đức. Chị Hoa chia sẻ: “Những lúc không phải chăm bệnh, tôi vẫn tranh thủ lên chơi với cháu. Nhìn con bé gầy quắt, bản thân là một người mẹ tôi cũng thương lắm.”
Chị Nguyễn Thị Thúy, làm giúp việc tại Đài Trung đã 12 năm nay, giờ giống như một người bác ruột của Loan. Cô bé hồ hởi khoe với chúng tôi dòng tin nhắn cho chị: “Bác Thúy ơi, sáng mai cháu được ăn. Bác nấu cho cháu bát cháo thịt băm ạ.”
Anh Đức, mắt đỏ hoe bảo: “Nếu không có các bác, thật hai bố con không biết xoay sở thế nào ở đất lạ.”
Anh vẫn còn nhớ như in những đêm bé đột ngột trở bệnh. Do không thông thạo tiếng nên ông bố khốn khổ chẳng thể hiểu được các bác sỹ yêu cầu gì. Khi ấy, chị Hoa, chị Thúy lại trở thành những thông dịch viên bất đắc dĩ… qua điện thoại.
Và cứ thế, một cách tự nhiên nhất, câu chuyện về cuộc chiến đấu để được đứng lên của cô bé Nguyễn Thị Loan đã và đang kết nối những trái tim, những tấm lòng nhân ái… Nghị lực sống của em giúp xóa bỏ mọi khoảng cách về ranh giới, lãnh thổ, tiếng nói và dân tộc… Cô bé, ở một góc độ nào đó, trở thành biểu tượng của thứ tình yêu nguyên sơ nhất giữa con người với con người.
Chị Hoa, một cô dâu người Việt trên đất Đài Loan giờ trở thành một người bạn tâm giao của bé Loan. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đường về nhà không còn xa
Bài 7
Trải qua đợt trị liệu lần thứ hai, bệnh tình của cô bé chân voi Nguyễn Thị Loan đã có những tiến triển rõ rất. Theo bác sỹ Trần Hồng Cơ, Viện Phó Bệnh viện Đại học Quốc tế Đài Trung, sau khi trở về nước, nếu được chăm sóc và tập luyện tốt, em sẽ đi lại được.
Sau suốt 12 năm, chưa bao giờ đường về nhà, đường tới với giấc mơ dai dẳng của bố con em lại trở nên gần đến thế.
Hiện thực hóa giấc mơ
Biết có đoàn khách từ Việt Nam sang thăm bệnh nhân nhí Nguyễn Thị Loan, nên mặc dù bận bịu với chuyến công tác nước ngoài nhưng Viện phó Trần Hồng Cơ vẫn gấp rút bay về. Chỉ chưa đầy 12 tiếng sau khi hạ cánh, vị bác sỹ có khuôn mặt phúc hậu đã trở lại gian phòng bệnh quen thuộc Loan vẫn nằm.
Viện phó Trần chính là người đã trực tiếp điều trị cho cô bé chân voi đến từ Việt Nam trong cả hai lần vào các năm 2012 và 2016. Ông cho hay: Trong đợt đầu tiên cách đây 4 năm, khi được đưa tới bệnh viện, tình trạng của cô bé rất xấu. Khi đó, Loan mới có 8 tuổi nhưng chỉ nặng hơn 20kg, trong đó riêng phần chân trái đã chiếm tới 2/3 tổng trọng lượng. Qua thăm khám, trực tràng bệnh nhân bị xuất huyết dẫn tới tình trạng đi ngoài ra máu; 1/5 lượng dinh dưỡng bị chiếc chân quái ác nuốt trọn. Ngoài ra, bộ phận sinh dục của em cũng bị biến dạng; dạ dày phù nề do bị chèn ép; đùi sưng to và lở loét.
Tính tới thời điểm hiện tại, Loan đã được phẫu thuật 7 lần
“Thời điểm đó, bệnh của Loan thuộc diện nghiêm trọng nhất,” bác sỹ Trần Hồng Cơ khẽ nhăn mặt nhớ lại.
Do khi đó, Loan còn quá bé, nên các y bác sỹ gặp rất nhiều khó khăn khi phẫu thuật. Máu liên tục chảy ra, rất khó cầm lại. Một số bộ phận sưng phù quá lớn nên buộc phải cắt bỏ.
Trải qua 6 tháng đầu tiên, về cơ bản, phần dạ dày, trực tràng và bộ phận sinh dục của Loan được điều chỉnh lại. Chiếc chân trái cũng được xử lý gọn lại.
Trong lần điều trị thứ hai, bác sỹ Trần Hồng Cơ cho biết sẽ tiếp tục xử lý triệt để các vấn đề liên quan, đặc biệt sẽ tiến hành cắt bỏ khối thịt thừa ở chân và ghép da để bé có thể đi lại được.
Tính tới thời điểm hiện tại, Loan đã được phẫu thuật 7 lần. Theo đánh giá của Viện Phó Trần Hồng Cơ, hiện vấn đề ở dạ dày của Loan đã được xử lý triệt để, từ đó loại trừ được tình trạng phần lớn chất dinh dưỡng bị chiếc chân trái hấp thu hết.
“Hiện Loan đã bắt đầu ăn được, sắc mặt em cũng đã tốt hơn nhiều. Vì thế, chúng tôi đã đề nghị bố bé cho ăn nhiều hơn,” bác sỹ Trần nhận định.
Bé Loan giờ đã có thể chập chững bước đi trên chính đôi chân mình. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đường về không còn xa
Riêng với căn bệnh chân voi, theo ông Trần, sau khi gọt bỏ phần thịt thừa và ghép da, chân Loan sẽ dần trở lại kích thước thông thường. Ông Trần cũng đã trực tiếp điều trị thành công cho nhiều trường hợp mắc bệnh tương tự nên tỏ ra rất lạc quan về khả năng đi trở lại của bệnh nhân người Việt này.
Tuy nhiên, bác sỹ Trần Hồng Cơ cũng lưu ý: Vấn đề quan trọng nhất khi trở về Việt Nam là phải giữ vệ sinh thật tốt, tránh tình trạng viêm nhiễm tái phát như năm 2012.
“Chúng tôi sẽ cố gắng phối hợp với bệnh viện tại Việt Nam tiếp nhận Loan sau đợt điều trị này để cùng trao đổi, xử lý những tình huống bất ngờ. Nếu quá nghiêm trọng, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa em sang để điều trị tiếp,” vị bác sỹ chia sẻ.
Theo phác đồ điều trị, dự kiến, trong thời gian tới, bé Loan sẽ tiếp tục được xử lý nốt vấn đề với hậu môn. Sau giai đoạn này, cô bé sẽ được tập vận động nhẹ để cơ và gân chân trái linh hoạt trở lại. Cuối năm 2016, hai bố con Loan sẽ có thể về Việt Nam.
“Chúng tôi rất kỳ vọng đến thời điểm đó, chân bé sẽ cơ bản đi lại được,” bác sỹ Trần tỏ ra tin tưởng.
Cả đêm sau khi nghe tin vui, bố con anh Đức không sao ngủ được. Hai người cứ thầm thì với nhau xem về nước sẽ làm gì, Loan sẽ được đi những đâu, mẹ sẽ nấu món ngon nào cho hai bố con.
Nhận được tin, anh Nguyễn Công Đức trở nên quýnh quáng hẳn. Người đàn ông đen đúa hết bắt tay các bác sỹ, rồi lại cố nói những lời cám ơn bằng tiếng Trung. Mắt anh sáng rỡ lên, tay chân luống cuống như đứa trẻ, miệng không ngừng nói: Thế này tốt quá, tốt quá!
Cả đêm sau khi nghe tin vui ấy, bố con anh Đức không sao ngủ được. Hai người cứ thầm thì với nhau xem về nước sẽ làm gì, Loan sẽ được đi những đâu, mẹ sẽ nấu món ngon nào cho hai bố con.
Bà Aichi Chou, người đã theo rất sát hành trình của bé cũng rất vui mừng. Bà bảo với anh Đức: “Tôi không mong sẽ gặp lại Loan nữa. Chỉ mong cháu sẽ bình phục ở Việt Nam mãi.”
Riêng cô bé chân voi thì hơi ngập ngừng một chút. Bé bảo: Khi về rồi, con sẽ rất nhớ các cô chú bên Đài Loan cũng như bác Thúy, bác Hoa…
Chiều đầu tháng 10/2016, sau rất nhiều ngày phải nằm im, không thể đứng được, dưới sự hướng dẫn của Viện phó Trần Hồng Cơ, cô bé Nguyễn Thị Loan đã lại chập chững bước đi trên chính đôi chân của mình. Mặc dù, những bước đi còn khó nhọc và phải phụ thuộc vào nạng; cũng như quãng đường em đi chỉ vài chục mét trong hành lang nhưng với tất cả những người có mặt ở bệnh viện khi ấy đó lại là những bước tiến dài khó tin.
Anh Đức bất chợt len lén quay đi, mắt đã đỏ hoe tự bao giờ.
Đường về nhà con đã rất gần rồi, Loan ạ!
Loan giờ có thể đi lại xung quanh hành lang, ước mơ của em bấy lâu nay sắp thành hiện thực. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đưa Việt Nam trở thành nước độc lập, tự do, Hồ Chí Minh không chỉ là một chính trị gia sắc sảo, một vị tướng tài ba, nhà văn hóa lớn mà còn là một nhà ngoại giao tài tình. Ngoại giao Hồ Chí Minh đã đặt nền móng vững chắc và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ngoại giao Việt Nam từ khi thành lập đến nay.
Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện tầm vóc, trí tuệ lớn lao và tình cảm sâu sắc của Người trong những mối quan hệ hết sức đa dạng, phong phú đối với mọi lớp người ở các cương vị và thuộc các dân tộc khác nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không câu nệ về “đối đẳng chức vụ,” không bị ràng buộc bởi nghi thức ngoại giao mà luôn chủ động, linh hoạt và hết sức chú trọng đến mục tiêu, hiệu quả của công tác đối ngoại. Đúng như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong giao tiếp ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại.”
Dĩ bất biến, ứng vạn biến
Trong đàm phán ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vững nguyên tắc nhưng về sách lược Người rất khôn khéo, mềm dẻo và linh hoạt “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, biết mình, biết người, biết thời thế để đạt được mục tiêu cao nhất.
Sau cách mạng tháng Tám 1945 chính quyền cách mạng non trẻ của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, phải cùng lúc đối mặt với thù trong giặc ngoài. Nhằm giữ vững chính quyền, phương châm của Người là: Găng nhưng không được bể…Chúng ta sẵn sàng nhân nhượng để có một giải pháp chung. Song, độc lập quốc gia và tự do dân tộc thì không được vi phạm.
Trong giai đoạn này nắm bắt mâu thuẫn Pháp-Tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ứng xử ngoại giao khôn khéo, quyết đoán, tùy vào tình hình cụ thể để đưa ra những sách lược hợp lý. Đối với quân Tưởng, bằng những kinh nghiệm của nhà hoạt động chính trị lão luyện, Người có cách ứng xử mềm mỏng, nhưng giữ vững nguyên tắc “chia ghế, không chia quyền.”
Với những viên tướng như Tiêu Văn, Lư Hán, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đến thăm, ban đầu chúng đều tỏ thái độ trịnh thượng, không ra đón nhưng qua vài lần tiếp xúc chúng đã thay đổi thái độ và trong các cuộc hội đàm, cả Lư Hán lẫn Tiêu Văn đều gọi Người là “Hồ Chủ tịch” dù lúc mới sang Việt Nam, quân Tưởng gọi Người là “Tiên sinh Hồ Chí Minh.”
Khi các đồng chí trong Chính phủ thắc mắc, Bác cười và giải thích: “Trong công văn giấy tờ thì họ vẫn viết là kính gửi ông Hồ Chí Minh, nhưng trong khi nói chuyện thì họ lại gọi Bác là Hồ Chủ tịch. Thế là họ đã phải công nhận ta trên thực tế.”
Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện tầm vóc, trí tuệ lớn lao và tình cảm sâu sắc của Người trong những mối quan hệ hết sức đa dạng, phong phú đối với mọi lớp người ở các cương vị và thuộc các dân tộc khác nhau.
Để đuổi Tưởng về nước Người đã chủ trương nhân nhượng với Pháp. Tại cuộc đàm phán với đại diện Chính phủ Pháp do J. Sainteny đứng đầu, trước tình thế ngay lập tức không thể đòi Pháp công nhận nền độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân nhượng để đảm bảo giữ được nền độc lập mà ta vừa giành được, Người đồng ý ký kết khi Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Sainteny đã vui mừng chấp nhận.
Sau này trong hồi ký, Sainteny kể lại: “Công thức Việt Nam là quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp do ông Hồ Chí Minh chọn chỉ chốc lát trước khi ký”. Kết quả là ngay sau Hiệp định Sơ bộ (ngày 6/3/1946), Chính phủ Pháp đã phải gián tiếp công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức Pháp với tư cách thượng khách và đón tiếp với nghi lễ nhà nước cao nhất.
Ở mọi tình huống Người đều có cách phản ứng nhanh nhạy nhằm khẳng định và nâng cao vị thế của dân tộc. Năm 1946, tàu chở Bác từ Pháp về đi qua vùng Manta, thuộc quyền kiểm soát của nước Anh, viên hạm trưởng Pháp phải cho tàu cập bến để xin thủ tục hải quân Anh. Hiểu rõ thông lệ quốc tế, Người thấy đây là cơ hội tốt để nâng cao hình ảnh và vị thế của đất nước, nên đã yêu cầu kéo lá cờ Việt Nam lên, nhưng viên thuyền trưởng đã thoái thác.
Người đáp lời nhẹ nhàng nhưng cương quyết: “Thưa Ngài, Việt Nam dân chủ cộng hòa hiện là một nước tự do, là một thành viên trong liên bang Đông Dương… Hơn ai hết, các Ngài phải hiểu rằng, lá quốc kỳ của chúng tôi phải được kéo lên để cho người Anh và những thực dân khác ở châu Á biết sự hiện diện của nước Việt Nam.”
Yêu cầu của Người là rất chính đáng, dù khó chịu nhưng nhà cầm Pháp phải đồng ý. Trong cuốn hồi ký “Câu chuyện về nền hòa bình bị bỏ lỡ” J. Saiteny bày tỏ tình cảm sâu sắc với Người và khẳng định “Hồ Chí Minh chỉ có một mục đích thật sự, một mục đích cuối cùng, đó là Độc lập của Việt Nam”.
Hồ Chủ tịch tới thăm, nói chuyện thân mật và chụp ảnh lưu niệm với Việt kiều và các bạn người Pháp ở Bagatelle năm 1946. (Nguồn: TTXVN)
Tài ứng biến linh hoạt
Phản xạ, ứng đáp nhanh nhạy trước mọi tình huống ở Chủ tịch Hồ Chí Minh có nét đặc trưng riêng, đã trở thành thói quen phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận, thích ứng với mọi hoàn cảnh xung quanh.
Đó là kết quả của một trí tuệ mẫn tiệp của thái độ, phong cách quần chúng. Bác luôn tạo nên một không khí hoà đồng, một mối liên hệ gần gũi giữa người nói, người nghe, xoá đi những cách biệt, những suy nghĩ tự ty của người dân trước lãnh tụ và đưa lại không khí tự nhiên vốn có giữa con người với con người. Nó không dừng lại ở nghệ thuật ứng xử mà là phản xạ tự nhiên của lãnh tụ rất nhân dân.
Một lần tại bữa tiệc do Hầu Chí Minh (người góp phần đưa Bác ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch) chủ nhiệm Cục chính trị đệ tứ chiến khu chiêu đãi, hôm đó có Bác và Nguyễn Hải Thần cùng dự. Nguyễn Hải Thần rất tự phụ về vốn Hán học của mình và nhân dịp này đã ra một vế đối: “Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh, lương vị đồng chí, chí giai minh” (Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh hai vị đồng chí, chí đều sáng).
Khi mọi người còn đang nghĩ vế đáp, thì Bác ứng khẩu: “Nhĩ cách mệnh ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách (anh cách mạng tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách). Chỗ khó và hay của về đối là hai chữ “chí và minh” là tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc, cái tài tình của vế đáp của Bác là vừa kịp thời, hợp cảnh và chuẩn chỉnh cả ý lẫn từ nhưng nâng tầm nhận thức, tư tưởng cao hơn, mang tính cách mạng hơn. Hầu Chí Minh hết lời ca ngợi người đối đáp “đối tuyệt lắm, tuyệt lắm”. Nguyễn Hải Thần cung kính thốt lên: “Hồ Tiên sinh, tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục”.
Nǎm 1946 Bác sang Pháp, người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác vui vẻ nói: “Chú cứ hỏi, Bác trả lời đầy đủ”. Đến câu thân sinh Bác là gì? Bác cười, trả lời hóm hỉnh: “Bác là Hồ Chí Minh thì, ông cụ thân sinh là… Hồ Chí Thông!”. Mọi người nhìn nhau cười vui vẻ. Một lần có nhà báo nước ngoài hỏi Bác: “Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác trả lời: “Ông cứ đến ông Nguyễn Ái Quốc mà hỏi”.
(Nguồn: VNews)
Lần khác nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi: “Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài, vào tù ra khám, nay làm Chủ tịch nước. Chủ tịch thấy có thay đổi trong đời mình không?” Bác trả lời hóm hỉnh: Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng dẫn ra dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước đi đâu cũng có hai đồng chí mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?”
Nǎm 1946, trên đường từ Pháp về Việt Nam đến vùng biển Cam Ranh, Bác nhận đươc bức điện của Đô đốc D’Argenlieu xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là giễu võ dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu.
D’Argenlieu giọng mỉa mai bóng gió: “Thưa ông Chủ tịch ông đã được đóng bộ khung rất đẹp của hải và lục quân đó.” Bảc thản nhiên mỉm cười: “Đô đốc biết đó, giá trị là ở bức họa chứ không phải bộ khung. Chính bức họa đem lại giá trị cho bộ khung”. Bất ngờ và cay cú trước tài ứng xử thông minh của Bác, cả hai không dám nói xách mé nữa mà tỏ ra rất lịch lãm và kính phục.
Lần khác, Bác lên tàu đàm phán với Đô đốc D’Argenlieu ở Vịnh Hạ Long, khi gặp Bác chủ động ôm hôn Đô đốc, các đồng chí đi theo thắc mắc, Bác nói: “Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì”. Hôm sau báo chí đưa ảnh và bình luận… “Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết.”
Nhiều người thường nhắc tới câu chuyện về cách ứng xử của Bác trong lần tới thăm Bộ trưởng Bộ nước Pháp Hải ngoại Marius Moutet năm 1946. Ông ta đi từ trên thang gác xuống đón Bác, Bác đi lên. Moutet giơ tay ra bắt tay, nhưng Bác lại bế bé gái đi cùng ông ta lên đã, âu yếm cháu trong khi vẫn bước lên. Chỉ khi ở bậc thang ngang với Moutet, Bác mới đưa tay ra. Nếu Bác giơ tay đáp lại ngay thì trong tấm ảnh của các nhà báo chụp phút đó Bác sẽ ở vị thế dưới Moutet, là điều mang ý nghĩa tượng trưng không hay cho ta.
Chính vì tinh tế nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất am hiểu các đối tượng giao tiếp và rất uyển chuyển trong cách giao tiếp: Nếu cần làm thơ thì Người sẽ làm thơ, cần viết văn thì Người sẽ viết văn hoặc vận dụng những áng văn thơ điển hình của dân tộc và nhân loại phù hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp. Khi đón Tổng thống Guinea Sekou Toure đến thăm Việt Nam tháng 9/1960, Người mượn ý lẩy Kiều để thể hiện tình cảm:
“Bây giờ mới gặp nhau đây Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên.”
Hồ Chủ tịch (lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) dự Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 24/3/1946, theo lời mời của quân đội Pháp, Hồ Chủ tịch tới thăm chiến hạm Emin Bectanh đang neo đậu tại vịnh Hạ Long. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 6/3/1946, tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của các nước đồng minh Hồ Chủ tịch đã ký với đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định sơ bộ. Ảnh: Chụp ảnh lưu niệm sau lễ ký. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 8/1/1958: Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo Đảng ta hội đàm với đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 23/1/1958, Hồ Chủ tịch đã chứng kiến lễ ký Tuyên bố chung giữa Đảng ta và Đảng Cộng sản Pháp. (Nguồn: TTXVN)
Hồ Chủ tịch Hội đàm với Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên xô N.Khơ rút sốp trong thời gian dự Đại hội 21 Đảng Cộng sản Liên Xô (1/1959)
Hồ Chủ tịch Hội đàm với Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên xô N.Khơ rút sốp trong thời gian dự Đại hội 21 Đảng Cộng sản Liên Xô (1/1959)
Hồ Chủ tịch nói chuyện thân mật với cụ bà Strong, một chiến sỹ hòa bình Mỹ, sang Việt Nam dự Hội nghị Ủy ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân Việt Nam lần thứ 2, họp tại Hà Nội từ ngày 2-7/6/1965. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 10/11/1968, Hồ Chủ tịch tiếp và nói chuyện với Hoàng thân N.Phuritxara, Bộ tưởng Ngoại giao Vương quốc Campuchia sang thăm Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)
Ngày 13/2/1958, Hồ Chủ tịch dự cuộc họp mặt của tín đồ Phật giáo ở Calcutta, Ấn Độ. (Nguồn: TTXVN)
Đại biện Pháp ký tạm ước Mute năm 1946. (Nguồn: TTXVN)
Hồ Chủ tịch tiếp và nói chuyện với Thiếu tướng hải quân Asacoravali, Tư lệnh Hạm đội Ấn Độ, chỉ huy tuần dương hạm Maiso, sang thăm Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)
Hồ Chủ tịch đến thăm và chụp ảnh lưu niệm với gia đình Tổng thống Myanmar Uvinmôn trong chuyến thăm Myanmar năm 1958. (Nguồn: TTXVN)
Kiệm lời, nhiều ý và thẳng thắn
Không chỉ là nhà cách mạng lỗi lạc, nhà ngoại giao tài năng mà tư duy uyên bác của một nhà báo lão luyện còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện qua hơn 100 bài trả lời phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước, kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 cho đến khi Người về cõi vĩnh hằng.
Với phong cách trả lời ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào nội dung câu hỏi và đặc biệt là không né tránh, mỗi cuộc tiếp xúc báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều để lại bài học kinh nghiệm quý báu cho những người làm công tác báo chí nói chung và đối ngoại nói riêng.
Trong lời tựa cho tuyển tập 103 bài trả lời phỏng vấn báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật) do Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao sưu tầm và phát hành tháng 5/2015, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã viết: “Hiểu rõ hơn ai hết tác dụng của báo chí, truyền thông đối với sự nghiệp cách mạng và hoạt động ngoại giao, người đã viết hàng trăm bài báo, đồng thời đã trả lời phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước 107 lần. Có thể nói, hiếm nhà lãnh đạo cách mạng nào trên thế giới dành mối quan tâm lớn như vậy đối với mặt trận báo chí, truyền thông”.
Ở Người cái thâm thúy, tinh tế phương Đông luôn kết hợp một cách tự nhiên với sự uyên bác, lịch lãm phương Tây.
Đọc kỹ các bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có một điều dễ nhận thấy nhất đó là phong cách trả lời ngắn gọn, súc tích và đi thẳng vào nội dung câu hỏi, không bao giờ dùng những từ ngữ chung chung, không rõ nội hàm. Trí tuệ mẫn tiệp của Người thể hiện qua phản xạ nhanh nhạy và nghệ thuật ứng xử rất đỗi tự nhiên trước mọi tình huống tiếp xúc với báo chí.
Trả lời phỏng vấn của báo Frères D’Armes năm 1948, về câu hỏi: “Chủ tịch ghét gì nhất?”, Người trả lời: “Điều ác”; còn “Điều gì yêu nhất?” thì Bác đáp lại “Điều thiện”; về “Điều gì mong muốn nhất?”, Bác khẳng định: “Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu”; Còn việc “Sợ gì nhất?” thì Bác nói rõ: “Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì!”.
Trong cuộc tiếp xúc với hãng thông tấn Reuters (Anh) ngày 2/2/1949, phóng viên hỏi Bác: “Đối với cuộc đàm phán giữa cựu hoàng Bảo Đại với Chính phủ Pháp, lập trường của Chủ tịch là thế nào?”, Người trả lời: “Chúng tôi không nhìn nhận những cuộc đàm phán ấy.”
Phóng viên lại hỏi: “Người ta có thể coi cựu hoàng Bảo Đại vẫn giữ chức tối cao cố vấn của Chính phủ Việt Nam không?”, Người trả lời: “Ông ta đã tự cách chức ấy rồi.”
Phóng viên vẫn chưa chịu, bèn hỏi tiếp: “Nếu Bảo Đại trở về Việt Nam với những hiệp định Chính phủ Pháp cho Việt Nam độc lập và thống nhất thì thái độ của Cụ sẽ thế nào?”, Người trả lời: “Xin ông xem câu trả lời số 1 và số 2”.
Trả lời câu hỏi về vấn đề ngoại giao, Bác nhấn mạnh: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”.
Trong hầu hết các cuộc phỏng vấn, Bác luôn duy trì thế chủ động và tinh thần tấn công đối với những câu hỏi thiếu thiện chí, nhưng lại với văn phong hài hước, nhẹ nhàng.
Trong cuộc họp báo liên quan tới thoả thuận về sự hoà giải giữa Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh và Việt Nam Quốc dân đảng, ngày 26/12/1945, có nhà báo hỏi Bác: “14 điều thoả thuận đăng trên báo Việt Nam (Cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc dân đảng) có đúng không?”.
Bác trả lời: “Đúng, nhưng phải thêm một điều nữa là đôi bên đã đồng ý với nhau chưa nên công bố, không hiểu sao báo Việt Nam lại đăng. Có lẽ báo ấy quên chăng?”
Tiếp đó, nhà báo khác lại hỏi: “Báo Liên hiệp đăng Chính phủ Việt Minh từ chức nghĩa là gì?”. Bác bèn hỏi lại: “Làm gì có Chính phủ Việt Minh, mà đã không có thì từ chức làm sao?”
Bác cũng không bao giờ né tránh những câu hỏi hóc búa, nhạy cảm mà luôn khéo léo xử lý tình huống theo cách “có nhưng có thể hiểu là không, không nhưng có thể hiểu là có”. Khi Cách mạng Việt Nam mới thành công, do hoàn cảnh lúc bấy giờ, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”, nhưng vẫn hoạt động dưới hình thức Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx, nhiều nhà báo nước ngoài tìm mọi cách để Bác khẳng định mình là “cộng sản” để phân hóa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với các nước khác và một số tầng lớp trong nước hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản.
Khi ấy, có nhà báo hỏi: Nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Chủ tịch cho rằng nước Việt Nam chưa thể cộng sản hóa được trong một thời hạn 50 năm không?
Bác trả lời: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Karl Marx. Cách đây 2000 năm Đức Chúa Jesus đã nói là phải yêu mến kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được.
“Còn khi nào thì chủ nghĩa Karl Marx thực hiện thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi những điều kiện ấy chưa có đủ.”
“Phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và nó ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến đường lối đối ngoại của nhân dân ta”
Tiến sỹ Vũ Mạnh Hà, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, khẳng định: “Phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phong cách ngoại giao kiệt xuất. Đó chính là sự kết hợp từ bi, bác ái của Đức Phật, lòng vị tha của Chúa và triết học Marx-Lenin. Đây cũng là một lối tư duy hết sức sáng tạo, độc đáo, vì mục đích độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, cách ứng xử khôn khéo, linh hoạt, bản lĩnh trí tuệ trong nguyên tắc ‘Dĩ bất biến, ứng vạn biến’ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.” “Phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và nó ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến đường lối đối ngoại của nhân dân ta bởi đó chính là sự kết hợp tinh tế giữa truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây và nó sẽ luôn là kim chỉ nam soi đường cho đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đó là tính độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hai bên cùng có lợi và vì sự tiến bộ chung, đem lại hòa bình, thịnh vượng cho khu vực và trên thế giới,” ông Hà nhấn mạnh.
Có thể nói, ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh trong ngoại giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại. Ở Người cái thâm thúy, tinh tế phương Đông luôn kết hợp một cách tự nhiên với sự uyên bác, lịch lãm phương Tây. Chính nghệ thuật ngoại giao tài ba kiệt xuất của Hồ Chí Minh đã góp phần làm nên thắng lợi của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc.
Toàn bộ những tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao và đối ngoại là những di sản quý báu đối với Đảng và nhà nước trong sự nghiệp đấu tranh ngoại giao để phục vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc./.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Hoàng thân Lào Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1948. (Nguồn: TTXVN)
Quân đội Nhân dân Việt Nam đã được Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc.
72 năm qua, quân đội vừa xây dựng, vừa chiến đấu, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, lập nên những chiến công hiển hách.
Từ chiến thắng trận đầu ở Phai Khắt, Nà Ngần, đến chiến dịch Ðiện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân 1975 là chặng đường chiến thắng vinh quang với những mốc son chói lọi, đánh dấu bước trưởng thành và phát triển vượt bậc của quân đội ta, là biểu tượng sáng ngời về khí phách anh hùng, lòng dũng cảm, trí thông minh và lý tưởng cao đẹp của một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền đất nước.
Quân đội anh hùng của nhân dân
Tháng 12/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký chỉ thị thành lập đội quân chủ lực đầu tiên, trong chỉ thị Người chỉ rõ: Tên đội là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự.
Ngày 22/12/1944 tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sỹ do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, Đội trưởng Hoàng Sâm, Chính trị viên Xích Thắng. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo. Lời thề Vì nhân dân quên mình vang lên giữa khu rừng Việt Bắc trở thành ý chí, niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.
Trong Hồi ký “Từ Nhân dân mà ra,” Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:
“22 tháng 12 năm 1944.
5 giờ chiều. Lễ thành lập đội cử hành trong một khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã ra đời dưới sự che chở của anh linh hai đấng anh hùng dân tộc.
(Video tài liệu của Nga do truyền hình Thông tấn xã Việt Nam mua bản quyền về đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân)
Giữa mùa Đông, khí trời nơi non cao lạnh buốt. Trong khu rừng đại ngàn với những hàng cây cao thẳng tắp, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, lần đầu tập họp đội ngũ chỉnh tề, dưới lá cờ sao đỏ thắm.
Đại diện Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng cùng với rất đông đại biểu nhân dân Tày, Mán, Nùng của hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn đến tham dự, đứng thành hai hàng hai bên bộ đội.
Tôi [Đại tướng Võ Nguyên Giáp – bí danh Văn] được ủy nhiệm thay mặt Đoàn thể tuyên bố thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và vạch rõ nhiệm vụ của đội đối với Tổ quốc.”
“Tâm tư của chúng tôi trong những giờ phút thiêng liêng đó thực khó tả. Bao nhiêu chiến công oanh liệt của ông cha đời trước, của các chiến sỹ cách mạng, của nhân dân ta, phút chốc bỗng hiện ra rực rỡ trong ký ức. Nợ nước, thù nhà, oán hờn dân tộc, căm thù giai cấp, làm cho máu nóng trong người như sắp sôi lên. Chúng tôi quên đi chúng tôi là ba mươi tư con người với những súng ống thô sơ, mà thấy đây là cả một đoàn quân gang thép, rắn chắc, không sức mạnh nào khuất phục nổi, sẵn sàng quật nát kẻ thù. Tin tưởng, náo nức, cảm động.”
“Thực là một đội quân kỳ lạ. Không người nào là không mang một một hận thù với đế quốc. Hoặc nhà cửa bị đốt, của cải bị tịch thu, hoặc cha anh chị em bị bắt, bị bắn, còn chính mình nếu chưa trải qua lao tù thì cũng là những kẻ đang bị truy nã, đầu bị treo thưởng hàng vạn đồng, hàng trăm đấu muối.”
Như vậy, Quân đội ta sinh ra và trưởng thành trong phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo, luôn gắn bó chặt chẽ máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu và tặng cho danh hiệu cao quý: Bộ đội Cụ Hồ.
Bảy thập kỷ qua, quân đội ta đã xây dựng nên bản chất, truyền thống tốt đẹp “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như lời tuyên dương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Lễ ra mắt Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Tiến bước dưới lá cờ bách chiến bách thắng
Kế tục truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội Nhân dân đã làm nên những chiến công hiển hách ghi vào lịch sử dân tộc.
Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần – trận đầu đánh thắng
Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi,” 17 giờ ngày 25/12/1944 (ngay sau ngày thành lập), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); 7 giờ sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta.
Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã tạo đà cho quân đội ta không ngừng phát triển và trưởng thành cùng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi phátxít Nhật, lật đổ chế độ phong kiến, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên phong trước khi đơn vị tiến về giải phóng Thủ Đô: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.” (Ảnh: Đinh Đăng Định/TTXVN)
“Chín năm làm một Điện Biên – Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
Vừa cùng dân tộc làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, Quân đội tiếp tục trở thành lực lượng chủ lực trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
9 năm anh dũng chiến đấu, những chiến sỹ can trường của đội quân anh hùng đã lập nên vô số chiến công to lớn mãi mãi không thể phai nhạt trong trang sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc.
Dân tộc sẽ mãi không quên kỳ tích: Quân đội mưu trí dũng cảm bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, hay cuộc chiến 60 ngày đêm máu lửa “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” giam chân địch Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.
Và cuối cùng là những chiến thắng vang dội: Việt Bắc (7/10/1947), Biên giới (Tháng 6/1950, trận Đông Khê đánh dấu chuyển từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy), Tây Bắc (tháng 9/1952), Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 để hội tụ nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ – đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, kết thúc cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc.
Chiến thắng Điện Biên Phủ – sức mạnh Việt Nam, tầm vóc thời đại
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch; trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Geneva về “đình chỉ chiến sự ở Việt Nam,” lập lại hòa bình ở Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng tháng Tám. Miền Bắc được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, một trong những chiến công chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, là bản anh hùng ca của một cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, xứng đáng “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ 20, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.” (Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1976, tr. 55-56)
Lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Quân đội Nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries chiều 7/5/1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt đầy hy sinh, gian khổ kéo dài suốt 9 năm. (Ảnh: Triệu Đại/TTXVN)
Nghệ thuật quân sự trong chiến thắng Điện Biên Phủ với “quyết định khó khăn nhất” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trong Tổng tập Hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Ngày hôm đó (tức ngày 26/1/1954), tôi đã đạt được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình…”, đó là quyết định thay đổi phương châm tác chiến: Từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc.” Đây được coi là một quyết định lịch sử trong một chiến dịch lịch sử. Bằng quyết định này, quân đội ta đã làm cho Bộ chỉ huy quân Pháp hoàn toàn bất ngờ: Việt Minh không chấp nhận một cuộc tổng giao chiến trong 3 đêm 2 ngày với hơn 16.000 quân tinh nhuệ và thiện chiến của Pháp đang án ngữ trong 49 cứ điểm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – một “siêu căn cứ quân sự” được cho là bất khả xâm phạm. Với quyết định này, ngày mở màn trận đánh “kinh điển” Điện Biên Phủ được lùi lại một tháng rưỡi so với kế hoạch (theo kế hoạch ban đầu thì ngày nổ súng mở màn chiến dịch là 20/1, sau đấy được lui lại đến 17 giờ ngày 26/1).
Điều khiến Đại tướng trăn trở nhất khi chuyển đổi phương châm tác chiến đó là khi mọi công tác chuẩn bị cho phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” đã đâu vào đó, pháo đã được kéo lên vị trí sẵn sàng và chỉ còn vài giờ là khai hỏa.
Vẫn trong hồi ký, Đại tướng viết: “Đêm 25 tháng 1 năm 1954, tôi không sao chợp mắt. Đầu đau nhức. Đồng chí Thùy, y sỹ, buộc trên trán tôi một nắm ngải cứu. Tôi đã hiểu vì sao mọi người đều lựa chọn phương án đánh nhanh? Vấn đề tiếp tế khó khăn chỉ là một lý do. Chúng ta không phải hoàn toàn không có cách khắc phục khó khăn này. Lý do chính là e thời gian chuẩn bị kéo dài, địch sẽ tăng thêm quân, tập đoàn cứ điểm ngày càng mạnh, sẽ làm ta mất cơ hội tiêu diệt địch!
(Video tài liệu màu tiếng Nga do Truyền hình Thông tấn xã Việt Nam mua bản quyền về chiến thắng Điện Biên Phủ)
“Nhiều người cho rằng sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ sẽ làm quân địch choáng váng. Nhưng chúng ta chỉ có vài ngàn viên đạn? Đặc biệt, mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần.”
“Nhưng sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch! Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất kỳ giá nào, vì phải giữ vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài.”
“…Nhưng giải quyết ra sao? Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động tới tinh thần bộ đội như thế nào?… Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc.”
Quyết định thay đổi phương châm tác chiến (mà thực chất là quay về phương châm ban đầu) được Đại tướng đưa ra dựa trên cơ sở phân tích tình hình thực tiễn một cách khoa học và sự thấu triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy.
Thực tế lịch sử đã sớm khẳng định không thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” thì chiến dịch không thể kết thúc thắng lợi. Đó chính là ranh giới giữa thắng và thua, khiến nhà sử học Pháp G. Budaren viết bài, tựa đề: “Tướng Pháp suýt thua ở Điện Biên Phủ.”
Ngày 7/5/1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thắng tung bay trên nóc hầm của tướng de Castries. Hơn một vạn quân địch ở Mường Thanh kéo cờ trắng đầu hàng. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng lợi.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã đưa đến ký kết Hiệp định Geneva kết thúc chiến tranh Đông Dương (20/7/1954), miền Bắc và Thủ đô Hà Nội được giải phóng.
Những bại tướng Pháp ở Điện Biên Phủ đã nói gì về thất bại?
Chiến thắng bản lĩnh, trí tuệ của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã khiến những bại tướng Pháp là Navarre và De Castries phải tâm phục khẩu phục.
Trong cuốn hồi ký của mình, tướng Navarre đã buộc phải thừa nhận: “Trên mọi phương diện, sự kết hợp giữa chính trị, quân sự đã được Việt Minh tiến hành với một sự khéo léo bậc thày; đối phương tất cả đều luôn luôn cao hơn so với những gì chúng ta nghĩ.”
Trong khi đó, tướng De Castries trong lời phát biểu khi bị bắt làm tù binh đã nói: “Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương.” Và luôn tin rằng: “Nhất định Tướng Giáp đã tốt nghiệp tại học viện quân sự cấp cao ở Liên Xô hoặc ở Mỹ…”
“30 năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông”
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, miền Bắc được giải phóng nhưng một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào vẫn còn nằm dưới gót chân của quân xâm lược và tay sai. Sự nghiệp thống nhất đất nước vẫn còn dang dở.
Những mốc chính của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (Truyền hình Thông tấn xã Việt Nam)
Quân đội ta lại cùng với toàn dân tộc bước vào một cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước, hoàn thành đại nghiệp thống nhất non sông.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Quân đội Quân đội Nhân dân Việt Nam vừa làm tốt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa cùng toàn dân tiến hành đấu tranh chống Mỹ cứu nước, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Chúng ta đã đánh bại 4 kế hoạch chiến tranh xâm lược của Mỹ được 5 tổng thống Mỹ (D. D. Eisenhower, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Milhous Nixon và Gerald Ford) điều hành. Mỹ đã chi cho cuộc chiến này tới 920 tỷ USD, cao hơn rất nhiều so với các cuộc chiến tranh khác mà Mỹ đã tham gia.
Những chiến thắng bước ngoặt của quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
– Phong trào “Đồng khởi” (1959-1961): Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời.
– Làm phá sản “Chiến tranh đặc biệt”: Sau chiến thắng Bình Giã (2/12/1964-3/1/1965), Ba Gia (5/1965), Đồng Xoài (10/5-22/7/1965), chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ hoàn toàn bị phá sản.
Đại đội 2, Đơn vị quyết thắng pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị tên lửa và không quân nhân dân, bắn rơi máy bay Mỹ trong ngày 25/10/1967. (Ảnh: Lâm Đồng/TTXVN)
– Đánh thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Mỹ: Trong 4 năm (1964-1968), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay các loại, bắt sống nhiều giặc lái, bắn chìm và bắn cháy 143 tàu chiến.
– Làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1965-1968): Bộ đội ta trên các chiến trường miền Nam đã “tìm Mỹ mà diệt,” “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh,” đánh bại kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” của địch.
– Chiến thắng Vạn Tường (18/8/1965): Đánh giá về trận Vạn Tường, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng nói: “Nếu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, trận Stalingrad là một bước ngoặt chứng minh quân phátxít Hitler không phải là không đánh được, thì chúng ta cũng có thể coi trận Vạn Tường là một bước ngoặt chứng minh một cách hùng hồn rằng quân giải phóng miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại được quân đội Mỹ trong điều kiện chúng có mọi ưu thế tuyệt đối về binh khí và hỏa lực so với quân giải phóng.”
– Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968): Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 kết hợp với đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.
– Đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”: Chiến thắng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam.
Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (từ ngày 18 đến 29/12/1972).
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam và quân Mỹ buộc phải rút quân về nước.
– Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975: Chiến thắng Phước Long (6/1/1975), báo hiệu khả năng ta hoàn toàn có thể giành thắng lợi, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 với ba chiến dịch lớn: Tây Nguyên (4-24/3/1975); Huế-Đà Nẵng (21-29/3/1975); Hồ Chí Minh (26-30/4/1975).
Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam
Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng,” ngày 26/4/1975, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công đồng loạt vào các mục tiêu, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.
Ngày 29/4/1975, quân ta tiến công tiêu diệt và làm tan rã các sư đoàn chủ lực số 5, 7, 25, 18 và 22 của quân đội Sài Gòn. Các binh đoàn thọc sâu tiến vào cách trung tâm thành phố Sài Gòn từ 10 đến 20km. Đại sứ Mỹ và các nhân viên quân sự, binh lính cuối cùng của Mỹ lên máy bay trực thăng rút khỏi Sài Gòn (sáng 30/4). 5 giờ sáng ngày 30/4/1975, quân ta mở đợt tiến công cuối cùng.
Vào lúc 10 giờ 45 phút, phân đội xe tăng thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến vào dinh Độc Lập. Quân ta bắt toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. (Nguồn:TTXVN)
Cờ Tổ quốc tung bay trước tòa nhà chính của dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Trong 2 ngày 30/4 và ngày 1/5, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, các Quân khu 8 và 9 nắm thời cơ, phát động quần chúng nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã hàng ngũ địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, vùng biển và các đảo ở Tây Nam của Tổ quốc.
Hơn một triệu quân đội Sài Gòn và cả bộ máy chính quyền địch bị đập tan, chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong hơn 20 năm với 5 đời tổng thống đã hoàn toàn sụp đổ. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Ngày 12/5/1975, gần hai tuần sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, trên Tạp chí Time của Mỹ có đăng bài viết với tựa đề “Lời tạm biệt nghiệt ngã cuối cùng” bình luận về thắng lợi của nhân dân Việt Nam và vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã khẳng định: “Cuối cùng quân đội Giải phóng đã tràn vào Sài gòn, giương cao lá cờ của Chính phủ cách mạng lâm thời, bắt giữ tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu của Nam Việt Nam. Đối với nhiều người Mỹ, đây là cái chết đã chờ đợi bao lâu, nhưng khi nó đến thì vẫn bị choáng váng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã chiến thắng. Nước Mỹ từ đây sẽ phải điều chỉnh lại đường hướng của mình trên thế giới, nhưng không dễ mà “bỏ Việt Nam lại phía sau.”
Xe tăng quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Đánh giá về ý nghĩa, tầm vóc lịch sử của Chiến dịch Hồ Chí Minh, trong hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng,” Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Đại thắng mùa Xuân 1975 là kết quả rực rỡ của việc thực hiện ba đòn chiến lược: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế-Đà Nẵng, chiến dịch Hồ Chí Minh, kết hợp với các mũi tiến công quân sự, chính trị, binh vận sôi nổi của quân và dân miền Nam ngay từ đầu và trong cả quá trình Tổng tiến công và nổi dậy.
Còn phải kể đến hai mũi tiến công ngoài kế hoạch: Đó là sự hình thành và chiến đấu dũng mãnh, thần tốc của cánh quân phía đông, thúc đẩy tình hình chiến trường phát triển mau lẹ, kịp thời tăng cường lực lượng cho trận chiến đấu quyết định diệt địch ở sào huyệt cuối cùng. Đó là mũi tiến công sắc bén trên vùng lãnh hải, nhanh chóng giải phóng quần đảo Trường Sa và các đảo ven biển, hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ giải phóng miền Nam. Ở đây, các đòn tiến công quân sự mạnh mang ý nghĩa quyết định. Các cuộc nổi dậy của nhân dân sôi nổi, rộng khắp, muôn hình muôn ve là đòn chiến lược hết sức lợi hại, tiến công địch khắp nơi, làm cho thắng lợi đến nhanh.
Một sự trùng hợp lịch sử thú vị đã diễn ra: Hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc trong thế kỷ XX cùng kết thúc bằng cuộc chiến đấu 55 ngày đêm. Nếu như ở Điện Biên Phủ, 56 ngày đêm là thời gian cần thiết cho một trận tiến công dài ngày vào một tập đoàn cứ điểm kiên cố theo phương châm “đánh chắc tiến chắc,” thì 55 ngày đêm Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam lại là bước kết thúc chiến tranh không ngừng rút ngắn, khẩn trương, “thần tốc,” nhanh đến không ngờ!”
***
Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng với nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó là chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây-Nam và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (1975-1979); Chiến thắng chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc (1979).
Trong các cuộc chiến tranh đấu vô cùng gian khổ, ác liệt từ 1945-1979, biết bao anh hùng, liệt sỹ đã hy sinh hoặc để lại một phần máu, thịt của mình trên các chiến trường. Tên các anh đã trở thành tên đất nước.
***
72 năm chiến đấu dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Quân đội Nhân dân Việt Nam mãi mãi xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Lực lượng đặc nhiệm quân đội tham gia diễu binh kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. (Nguồn: TTXVN)
Khi báo điện tử VietnamPlus đăng tải các bài viết đầu tiên về vấn đề tin tức giả mạo vào giữa tháng 4/2016, không nhiều độc giả cũng như những người trong giới báo chí quan tâm đến vấn đề này. Hơn nửa năm sau, nó trở thành một vấn nạn toàn cầu.
Đặc biệt, những tranh cãi xung quanh kết quả của cuộc bầu cử Mỹ hồi đầu tháng 11/2016 cũng như việc truyền thông nước này đăng tải thông tin trước và sau cuộc bầu cử làm dấy lên vấn đề ngày càng trở nên nhức nhối: đó là tin giả cũng như vai trò của các nhà xuất bản tin tức và các nền tảng trong cuộc chiến chống lại những thông tin sai lệch trên Internet.
Một nghiên cứu đăng tải trên BuzzFeed gần đây cho thấy những câu chuyện bịa đặt, hay còn gọi là “tin vịt,” về cuộc bầu cử ở Mỹ khi lan truyền thì thu hút sự tương tác trên Facebook nhiều hơn cả tin bài của các cơ quan báo chí tiếng tăm.
Theo một bài viết trên BBC, nhiều trang tin giả mọc lên trong chiến dịch bầu cử Mỹ vừa qua có nguồn gốc từ một thành phố nhỏ của Macedonia. Tại đó, các thiếu niên bung ra các câu chuyện giật gân để có tiền nhờ quảng cáo. Giống như hàng trăm người khác, cậu sinh viên 19 tuổi có tên giả là Goran bắt đầu đăng các chuyện giật gân, thường sao chép từ các trang web cánh hữu Mỹ, kể từ mùa hè năm ngoái.
Sau khi cắt và dán nhiều bài, cậu ta tổng hợp thành tin mới, trả tiền cho Facebook để chia sẻ với độc giả Mỹ khát tin về ông Donald Trump. Khi những người Mỹ bấm vào bài báo, hoặc thích, chia sẻ, cậu ta có tiền nhờ quảng cáo trên trang. Goran nói cậu chỉ mới làm được một tháng mà đã kiếm tới 1.800 euro. Cậu bảo các bạn mình còn kiếm mấy ngàn euro một ngày.
Tin giả trở thành vấn nạn toàn cầu
Đương nhiên, tin tức giả không chỉ xuất hiện trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Nó đã xuất hiện từ lâu và ở khắp nơi trên thế giới. Nó cứ âm thầm đi vào cuộc sống của mỗi người dùng Internet nhưng chưa bị đánh động mà thôi.
Ví dụ rõ ràng nhẩt về tin giả ở Đức xảy ra hồi đầu năm , theo đó một bé gái gốc Nga 13 tuổi tên là Lisa F, bị những người tỵ nạn từ Trung Đông cưỡng hiếp tập thể ở Berlin. Cảnh sát đã nhanh chóng chỉ ra rằng đây là tin giả, nhưng trước đó nhiều báo của Đức và Nga đã đăng lại tin này, nó được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội, hàng trăm người xuống đường phản đối với sự hậu thuẫn của các nhóm cực hữu và chống Hồi giáo. Vụ này thậm chí suýt gây nên sự cố ngoại giao giữa Berlin và Moskva.
Tại Brazil, theo một báo cáo hồi tháng 4/2016, trong khi quá trình luận tội mà tổng thống Dilma Rousseff cùng những người ủng hộ bà gọi là một cuộc đảo chính có động cơ chính trị trở nên nóng hơn, trong số 5 tin được chia sẻ nhiều nhất trên Facebook thì có đến 3 tin vịt. Một hoang tin được trang Pensa Brasil chia sẻ nói rằng cảnh sát liên bang muốn biết lý do tại sao bà Rousseff trao 9 tỷ USD cho công ty thịt khổng lồ Friboi, và nó có đến 90.000 lượt share.
BuzzFeed Brasil vừa có bài hồi đầu tháng 12 về tình trạng tin vịt liên quan bê bối Petrobras, được gọi là Chiến dịch Car Wash – yếu tố then chốt dẫn đến việc luận tội tổng thống Rousseff – được đăng tải nhiểu hơn cả tin chính thống. Trong năm nay, 10 tin vịt được đọc nhiều nhất về vụ Car Wash được chia sẻ tới 3,9 triệu lần, trong khi 10 tin “đàng hoàng” chỉ nhận được 2,7 triệu lần.
Mới đây, một phóng viên Hồi giáo ở Myanmar trở thành nạn nhân của một chiến dịch do những kẻ kích động thù hận tôn giáo thực hiện. Một nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan đăng ảnh anh này bên cạnh ảnh của một du kích Hồi giáo vô danh người Rohingya rồi tuyên bố anh có can dự vào các vụ tấn công biên phòng, đồng thời kêu gọi bắt giữ ngay lập tức. Rất may chưa có chuyện gì xảy ra và status này sau đó đã bị gỡ xuống nhưng đã có hơn 3000 người chia sẻ.
Người Myanmar nói rằng thời xưa, họ ra quán trà để biết thông tin. Bây giờ họ lên Facebook. Nhưng trên newsfeed của người dùng lại đầy tin vịt.
Newsfeed của người dùng Facebook Việt Nam cũng chẳng ít tin vịt hơn. Đã phải có những lời kêu gọi “chia sẻ có ý thức” bởi rất nhiều người dùng – kể cả những người có học vấn cao – vội vàng chia sẻ những nội dung từ những nguồn không đáng tin cậy. Nó có thể là một nội dung vô thưởng vô phạt, cho đến thông tin về một bà lang chữa khỏi bệnh nan y, hay hoang tin về việc một nghệ sỹ nổi tiếng tử vong, thậm chí cả những câu chuyện bịa đặt nhằm vào chính quyền.
Ngày 31/10/2016, Công an tỉnh Bến Tre và Sở Thông tin truyền thông Bến Tre đã làm việc với Nguyễn Chí Khương , sinh năm 1993, là người đã quay và đăng tải lên Facebook 3 ngày trước đó đoạn video clip đoàn hơn 50 xe công vụ ở Bến Tre với phần đề dẫn bịa đặt sai sự thật là “Bà Nguyễn Thị Kim Ngân về thăm quê hương Bến Tre.” Sau đó video clip này được nhiều người chia sẻ và bình luận xuyên tạc.
Làm việc với cơ quan chức năng, cậu trai trẻ này đã thừa nhận việc mình dùng điện thoại di động quay rồi đăng tải đoạn clip đoàn xe đang chạy lên mạng xã hội nhằm câu like chứ không có mục đích khác. Sau khi biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, cậu ta đã gỡ bỏ đoạn clip trên khỏi Facebook cá nhân và đăng tải nội dung xin lỗi.
Ngày 7/12, Chánh thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đắk Nông đã ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính 20 triệu đồng đối với ông Nguyễn Liên (trú tại thị trấn Đắk Mâm, huyện Krông Nô) vì đăng tải nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân. 20 ngày trước đó, ông này đăng tấm ảnh chụp cảnh một người đàn ông đang ôm ấp một người phụ nữ kèm theo lời bình luận: “Người ta gọi đây là những tên dâm quan, đây là hình ảnh một trong 21 cô giáo được chủ tịch thị xã Hồng Lĩnh và Phòng giáo dục thị xã điều đi tiếp khách là quan chức Hà Tĩnh….” Chỉ trong vòng ít giờ, thông tin này đã thu hút nhiều lượt chia sẻ, hàng ngàn lượt bình luận mắng chửi thậm tệ. Tuy nhiên, thực tế đây là tấm hình chụp hai người Trung Quốc.
Trong một diễn biến mới nhất, truyền thông thế giới đã thực sự dậy sóng trước thông tin kênh truyền hình nổi tiếng CNN đã vô tình phát sóng 30 phút phim khiêu dâm hạng nặng ở khu vực Boston, Mỹ vào ngày 24/11 vừa qua. Theo trang The Verge, sự hỗn loạn thông tin bắt đầu khi tờ The Independent đăng một bài về dòng tweet của một người xem truyền hình, và bài viết sau đó đã được Drudge Report chia sẻ trên Twitter. Sau đó, câu chuyện đã nhanh chóng lan ra.
Mashable, New York Post, Daily Mail, Esquire và Variety đều đã đăng bài về việc này, và gần như toàn bộ các bài viết đều chỉ dựa trên 1-2 dòng tweet của @solikearose – tài khoản Twitter kèm theo một bức ảnh chụp màn hình TV kênh CNN đang phát sóng phim khiêu dâm thay vì chương trình Parts Unknown của Anthony Bourdain. Hơn nữa, phần lớn các bài đăng gốc đều không bao gồm các tuyên bố chính thức từ CNN hay RCN, công ty truyền hình cáp được cho là đã phát sóng đoạn phim khiêu dâm nói trên.
Tin tức giả mạo không chỉ là những tác phẩm kém chất lượng, tính nghiêm trọng nằm ở chỗ nó truyền bá những thông tin sai lệch mà độc giả thường chỉ xem xét ở bề nổi. Câu hỏi về việc phải làm gì với tin tức giả và thông tin sai lệch đang khiến nhiều cơ quan báo chí trên thế giới phải đau đầu.
Tin tức giả thu hút rất nhiều sự chú ý
Các trang tin tức giả và các tài khoản mạng xã hội khiến việc phân biệt thật giả trở nên khó khăn hơn, đặc biệt khi rất nhiều trang tin tức giả có giao diện rất giống những trang tin điện tử truyền thống.
Alastair Reid, thư ký tòa soạn của First Draft News chia sẻ với Diễn đàn Biên tập viên Thế giới (GEN) rằng các câu chuyện tin tức giả mạo có thể có tầm ảnh hưởng rất lớn, bởi nhiều người đang cập nhật tin tức từ các mạng xã hội. Nếu tin tức giả hiện trên dòng thời gian bên cạnh một bản tin từ trang Washington Post chẳng hạn, mọi người có thể sẽ không nhận ra sự khác biệt.
Craig Silverman, biên tập viên của BuzzFeed Canada, đã phân tích 2 nghiên cứu về vấn đề này với kết luận là mất tới hơn 12 giờ, một tin tức giả mới được vạch trần trên mạng.
Năm 2015, Silverman đã đăng một bài viết cho Trung tâm Báo chí Điện tử Tow Center có tên “Những lời dối trá trắng trợn và nội dung có sức lây lan: Cách các trang tin lan truyền (và vạch trần) những lời đồn trên mạng, những khẳng định chưa được kiểm chứng, và thông tin sai lệch.”
Trong bài viết này, Silverman đã chỉ ra 10 bản tin vạch mặt tin tức giả về một nghệ sĩ ở Anh năm 2014. Tổng cộng số lượt chia sẻ 10 bản tin vạch trần này đạt 60.953 lượt, nhưng riêng tin giả đã có tới 60.402 lượt chia sẻ.
“Những tin tức giả ngày càng mang tính dễ lan truyền hơn, và vì thế có thể có sức ảnh hưởng lớn”
Silverman trích dẫn một ví dụ khác từ năm 2014, khi trang Huzlers.com đăng một câu chuyện giả mạo khẳng định Trái Đất sẽ chìm trong bóng tối trong 6 ngày liên tiếp. Bản tin giả này đã thu hút tới hơn 840.000 lượt chia sẻ và tương tác trên mạng xã hội, trong khi số lượt chia sẻ từ 7 bản tin vạch trần cộng lại chỉ đạt khoảng 127.000 lượt trên cùng mạng xã hội.
“Những tin tức giả ngày càng mang tính dễ lan truyền hơn, và vì thế có thể có sức ảnh hưởng lớn,” Silverman viết.
Đầu tháng 9/2016, một câu chuyện tin tức giả về một vườn thú ở Trung Quốc đặt tên cho một chú khỉ đột là “Harambe McHarambeface” theo một cuộc bình chọn đã thu hút một lượng độc giả lớn. Mặc dù câu chuyện đã gây ồn ào trên mạng xã hội, nhưng thực tế không có cuộc bình chọn nào, cũng chẳng có chú khỉ đột nào được đặt tên như vậy.
BuzzFeed và Huffington Post của Anh đã vạch trần những câu chuyện tin tức giả mạo bằng cách chỉ ra rằng The Leader Boston, trang tin đã đăng bản tin này không phải là một nguồn đáng tin cậy. The Leader Boston không có tài khoản mạng xã hội, và các trang đích của nó cũng chỉ toàn báo lỗi.
BuzzFeed cũng cho biết dòng khẩu hiệu của trang web này khoe khoang rằng sẽ “Mang lại những tin tức hay nhất của Boston từ năm 1932,” trong khi tên miền lại mới chỉ được đăng ký chưa đầy một tuần trước.
Tình hình trở nên nghiêm trọng hơn vì ngày càng nhiều người cho rằng những tin tức giả mạo đó là chính xác. Theo một khảo sát mới nhất do Ipsos Public Affairs thực hiện, có đến 75% người Mỹ trưởng thành nhìn thấy những tiêu đề tin vịt đó và tin là thật. Đặc biệt, những người càng coi Facebook là nguồn tin chủ yếu thì càng dễ bị mắc lừa. Tại Việt Nam, điều này cũng không phải hiếm hoi. Không ít người, kể cả các nhà báo có thâm niên, chia sẻ các đường link không rõ nguồn gốc, thậm chí với quan điểm “chia sẻ trước, xem sau.”
Cơ quan báo chí lớn cũng mắc lừa các trang tin tức giả mạo
Việc các hãng tin lớn mắc bẫy tin tức giả vẫn thường xuyên xảy ra. Hồi đầu năm ngoái, mục chính trị của Bloomberg đã có một bài viết dựa trên tin giả về việc bà Nancy Reagan ủng hộ Hillary Clinton làm tổng thống.
Năm 2013, tờ Washington Post cũng bị Daily Current, trang tin giả nổi tiếng lừa với tin Sarah Palin đã đầu quân cho Al-Jazeera. Cùng năm này, tin thất thiệt về việc cây bút Paul Krugman của New York Times bị phá sản cũng xuất hiện trên trang Boston.com.
Thông cáo báo chí giả, “người anh em” của tin tức giả cũng khiến tờ Los Angeles Times một phen lao đao khi đưa tin rằng Liên hợp Quốc đang chuẩn bị hợp pháp hóa cần sa, hay nghệ sỹ bí ẩn Banksy đã bị bắt…
Một bài viết gần đây đã tổng kết những vụ tồi tệ nhất về việc báo chí chính thống bị lừa hoặc tệ hại hơn là cố tình đăng tin giả. Chẳng hạn chuyện Newsweek đăng một bài viết nói rằng các nhân viên thẩm vấn phạm nhân tại nhà tù ở Vịnh Guantanamo có hành động báng bổ kinh Koran; chương trình 60 Minutes của kênh truyền hình CBS phát sóng một bộ phim tài liệu nói về 6 tài liệu hiếm phê bình thời gian phục vụ của Tổng thống Mỹ George W. Bush trong lực lượng Vệ binh Quốc gia Mỹ; Rolling Stone đăng một tin tấn công tình dục xảy ra trong khuôn viên trường đại học Virginia, dù chuyện này không có thực, v,v…
Tiền đề của những tin tức giả thường là những vấn đề nóng thu hút sự chú ý
Vậy tại sao các trang tin tức giả lại có thể lừa các nhà báo? Nhiều trang tin giả có những cái tên nghe rất kêu và đáng tin – National Report (Tin tức quốc gia), World News Daily Report (Báo cáo Tin tức Thế giới Hàng ngày), hay Empire News (Đế chế Tin tức).
Những trang tin giả khác lại nhái lại tên và logo của các hãng tin thật sự, như abcnews.com.co. Một số trang lại pha trộn cả tin thật và tin giả để lừa gạt. Chuyện này cũng xảy ra tại Việt Nam khi nhiều trang tin xuất hiện với cái tên na ná như tên của các tờ báo nổi tiếng.
Đa phần các tin tức giả đều dẫn nhiều nguồn, từ những cái tên người phát ngôn không có thật đến tên những tổ chức có thật để tỏ ra đáng tin hơn. Tiền đề của những tin tức giả cũng thường là những vấn đề nóng thu hút sự chú ý.
Một lý do nữa cho sự nhẹ dạ cả tin của các nhà báo là áp lực tin bài. Business Insider mới đây đã trở thành ví dụ rõ ràng nhất.
Trang CNN Money đã đăng tải một bài viết rằng ban phụ trách Business Insider yêu cầu các cây bút phải viết được 5 tin mỗi ngày. Số lượng tin bài đã quan trọng hơn chất lượng bài viết. Nhiều người còn phải thu hút tới 1 triệu lượt lượt truy cập mỗi tháng.
Shane Ferro, cựu nhân viên của Business Insider đã xác thực những khẳng định này, và nói rằng cô luôn phải đối mặt với những “buổi họp căng thẳng” khi không đạt được các mục tiêu nêu trên.
“Theo một cách nào đó, Business Insider là phiên bản cực đoan của những gì mà các hãng tin bây giờ kỳ vọng ở nhà báo: những bài viết thu hút nhiều độc giả, được sản xuất trong thời gian ngắn và không cần biên tập,” Ferro cho hay.
Trách nhiệm của báo chí
Không thể phủ nhận một thực tế đáng buồn trên thế giới là uy tín của báo chí đang giảm sút trong mắt người dân và ngày càng nhiều người coi truyền thông xã hội là nguồn thông tin chính mỗi ngày. 44% số người tại 26 quốc gia trên thế giới tham gia cuộc khảo sát gần đây của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters thuộc Đại học Oxford gần đây cho biết họ coi Facebook là nguồn tin chủ yếu. Tỷ lệ cho báo in tụt xuống mức thê thảm là 24%.
Nhiều người cho rằng việc để lan tràn tin giả, tin vịt trên mạng Internet trước hết thuộc về trách nhiệm của các nền tảng xã hội như Facebook hay công cụ tìm kiếm như Google. Nhiều chỉ trích đã nhắm vào ông chủ Mark Zuckerberg với 1,7 tỷ người dùng, yêu cầu phải thay đổi thuật toán và thậm chí phải dùng con người để lọc nội dung thay cho máy móc.
Những người khác thì có quan điểm rằng báo chí có vai trò rất nhỏ trong việc ngăn chặn tin giả, bởi người dùng mạng xã hội chủ động chia sẻ những thông tin sai lệch đó và khiến chúng phát tán mạnh mẽ hơn cả thông tin chính thống. Đương nhiên, báo chí cần phải kiểm tra thông tin kỹ càng hơn để tránh rơi vào bẫy của tin giả, tin vịt.
Nhưng cũng từ những tranh luận xem trách nhiệm thuộc về ai trong cuộc chiến chống vấn nạn tin giả mà vai trò “gác cổng” của báo chí lại được nhắc đến nhiều hơn.
Giành lại niềm tin của độc giả là giải pháp giúp giảm thiểu vấn nạn tin giả đang tràn lan
Walter Lippmann, nhà văn kiêm nhà báo người Mỹ từng đoạt 2 giải Pulitzer, cùng một số nhân vật khác vào nửa đầu thế kỷ 20 có quan điểm rằng công chúng cần được chỉ dẫn, hướng dẫn, hoặc thậm chí theo những khuôn mẫu nhất định. Quan điểm đó sau này bị cười nhạo, thậm chí bị chỉ trích kịch liệt, nhất là trong thời đại Web 2.0, khi công nghệ digital mang lại sức mạnh để các cá nhân có thể tạo lập nội dung, kết nối, chia sẻ và phát tán những không tin gốc mà không qua bất kỳ bộ lọc nào. Song vấn đề nằm ở chỗ công chúng, sau thời gian đầu hồ hởi với tin tức ngập tràn, đang phải bơi giữa một biển thông tin đầy những nội dung nhiễu loạn, nịnh bợ, bôi xấu, sai lệch, thậm chí bịa đặt. Không ít người thực sự mất phương hướng.
Có lẽ đó là một trong những nguyên nhân khiến cho sau vụ bầu cử Mỹ, số lượng người đăng ký trả phí để đọc New York Times và Wall Street Journal tăng vọt, số lượng thuê bao Washington Post cũng đang tăng trưởng mạnh mẽ trong năm qua. Rõ ràng, công chúng vẫn quan tâm đến báo chí chất lượng cao và sẵn sàng trả tiền cho nó.
Facebook đang chật vật đối phó với vấn nạn tin giả được phát tán qua nền tảng này, và đang cố gắng bác bỏ ý kiến cho rằng họ là một nguồn tin tức chứ không chỉ là nền tảng phát hành. Twitter đang nhận thấy nền tảng của họ bị sử dụng như một cơ chế lan truyền sự thù hận và đang phải tìm cách khắc phục nếu không muốn bị mất người dùng và mất cả doanh thu. Và trong khi Google cũng như Facebook tìm cách xử lý về thuật toán cũng như tìm kiếm các giải pháp ngăn chặn tin giả, họ sẽ hiểu rằng phát biểu của Walter Lippmann hoàn toàn đúng. Dù công nghệ có hiện đại thế nào đi chăng nữa thì không ai có thể thay thế những chuyên gia bằng xương bằng thịt trong việc phân tích thông tin, xác định những vấn đề đúng sai nhằm đảm bảo lợi ích của công chúng.
Trong diễn biến mới nhất, Facebook vừa thông báo kế hoạch tuyển dụng nhân sự có ít nhất 20 năm kinh nghiệm để phụ trách lĩnh vực hợp tác với các cơ quan báo chí.
Còn các nhà báo, hãy ngừng đuổi theo mạng xã hội. Hãy tập trung sản xuất nhiều nội dung chuyên sâu chất lượng cao để cung cấp cho xã hội những kiến thức cần thiết và những thông tin đúng sự thực. Giành lại niềm tin của độc giả là giải pháp giúp giảm thiểu vấn nạn tin giả đang tràn lan./.
Âm thanh réo rắt, đan xen giữa các loại nhạc cụ truyền thống khiến cho không gian tĩnh mịch của một chiều Đông trở nên rộn ràng, sống động.
Chúng tôi đến Khoa Nhạc cụ Truyền thống, Học viện Âm nhạc Quốc gia, cứ theo cái thanh âm trong trẻo, lảnh lót phát từ cây đàn tranh mà tìm đến lớp học của cô Phạm Hồng Hạnh.
Tại căn phòng rộng lớn, một cô – một trò lọt giữa trong khoảng không, bên cạnh là nhiều loại nhạc cụ truyền thống. Bé Nguyễn An Như mảnh dẻ, thanh thoát ngồi trước cây đàn, nghiêng nghiêng đôi vành tai tập trung, lắng nghe cao độ. Những ngón bé tay thon dài, trắng muốt vừa rung, vừa gảy, nhấn nhá từng nốt nhạc trên mỗi dây đàn, khối âm thanh lanh lảnh, hòa quyện vang lên, lan ra khắp căn phòng.
Học viện Âm nhạc Quốc Gia là một trong những cái nôi tạo nên các tài năng âm nhạc của đất nước. Mỗi đứa trẻ theo học ở đây không chỉ đòi hỏi về năng khiếu mà các em còn phải trải qua một cuộc thi đầu vào khắt khe. Gọi là “chơi” nhạc nhưng thực chất lại là loại hình lao động vất vả, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa trí não, tâm hồn và sự khổ luyện.
“Một người bình thường học nhạc vốn không dễ dàng, vì vậy, người khiếm thị theo đuổi con đường nghệ thuật chuyên nghiệp lại càng khó khăn hơn,” cô Hồng Hạnh chia sẻ.
(Ảnh: Doãn Đức)
Cuộc chiến nhiều nghìn ngày
Vào năm 2003, gia đình nhỏ của chị Tuyết Anh đón thêm thành viên mới trong không khí tràn đầy hạnh phúc. Như bao đứa trẻ khác, bé An Như xinh xắn, đáng yêu chập chững lớn lên trong vòng tay yêu thương chăm sóc của mẹ.
Nhưng số phận quả là nghiệt ngã, một tai họa khủng khiếp đã giáng xuống đứa bé con non nớt, mới mười một tháng tuổi. Chị Tuyết Anh kể, đó là ngày đi học đầu tiên của con. Tại nhà riêng của một bà giữ trẻ, họ đã làm ngã con và giấu không cho gia đình chị biết. Buổi chiều, con về nhà rất bình thường, nhưng tối đến bắt đầu nôn và sốt. Gia đình cho An Như đi khám, bác sĩ chẩn đoán con bị bệnh thông thường nên hôm sau thấy con đỡ, lại cho đi học tiếp.
Song triệu chứng sốt và biếng ăn của bé vẫn không dứt. Phải đến ngày thứ tám, thứ chín, bác sĩ mới phát hiện con bị vỡ sọ não, nguyên nhân do ngã đập đầu vào vật cứng. Ngay lập tức, một cuộc phẫu thuật được thực hiện. Tuy nhiên, bác sĩ chỉ lấy đi được một lượng máu đọng và không thể lường được, đây chỉ là sự khởi đầu của một cuộc tranh đấu “bền bỉ” diễn ra nhiều nghìn ngày sau đó.
“Con vẫn có mệnh làm người, bởi bác sĩ đã kịp thời mổ não, hút máu tụ lưu lại. Nhưng mười bốn ngày sau, An Như lại phải trải qua một cuộc đại phẫu thuật khác để đặt van úng thủy, và mặc dù sinh mạng được cứu nhưng toàn bộ cơ mặt, mắt, mũi, miệng của bé đều không cử động được,” chị lặng lẽ kể, rồi bất giác cười nhẹ.
Nghe tiếp câu chuyện của chị, tôi học được một điều “con người muốn thoát ra khỏi sự tuyệt vọng giữa bể khổ mông lung, không thể là những giọt nước mắt mà phải bằng nụ cười, nó thắp sáng tâm can, kéo người ta đứng lên bước tiếp.”
Chị Tuyết Anh nhớ lại: “Giai đoạn khó khăn đó, tôi tưởng như hai mẹ con ôm nhau đang trên máy bay phi xuống biển. Hơn 13 năm chữa bệnh, bảy năm đầu hầu như sống trong bệnh viện. Sau hai cuộc đại phẫu thuật, con bé tiếp tục thực hiện hơn 20 cuộc điều trị. Chúng tôi đi khắp các bệnh viện, từ Tây y đến Đông y, vào miền Nam, tới miền Trung, ra miền Bắc. Tôi chủ động tìm hiểu thông tin, gặp gỡ các giáo sư, tiến sỹ trong ngành cả trong nước và quốc tế, nhờ họ tư vấn. Nhờ đi đúng hướng, con dần bình phục, nhưng đôi mắt thì vĩnh viễn mất đi ánh sáng.”
Thời gian đó, chị Tuyết Anh bị khủng hoảng tinh thần nên cũng phải nằm viện gần một năm để điều trị căn bệnh suy sụp về tâm lý.
“Cuộc sống cực kỳ đẹp phải không cô!”
“Cảm xúc của mình hoang mang lắm, mỗi cái nạn dội xuống con người là khác nhau. Với mình chẳng có đường mà cựa. Nạn rơi vào ai, người đó chịu. Cố gắng làm hết sức mình, có thể để không phải áy náy. Nếu như trước đây, tôi luôn tự trách bản thân thì bây giờ đã ổn hơn và bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Hơn nữa, con rất lạc quan chứ không như mẹ,” chị Tuyết Anh chia sẻ.
Đứa trẻ vì trải qua nhiều cuộc trị liệu, tinh thần trở nên yếu ớt. Chứng tự kỷ theo đó xuất hiện, con liên tục la hét, gào khóc, đập phá. Chị Tuyết Anh tìm đến các bác sỹ tâm lý, tư vấn phương pháp chữa bệnh an thần và phát hiện ra con mình rất thích âm thanh. Bất kỳ vận dụng nào đến tay, con đều gõ để tạo ra âm thanh. Vì vậy, vật dụng trong nhà, từ bàn ghế, xoong nồi, đồ chơi… con đều gõ nát.
Ba tuổi, An Như bắt đầu tiếp cận với thế giới âm nhạc. Theo chị Tuyết Anh, khó khăn đầu tiên là chọn nhạc cụ, vì quá trình chữa bệnh cho con chi phí quá tốn kém, nên điều kiện kinh tế gia đình lúc đó khá khó khăn. “Tôi định mua cho con cây đàn organ, song chuyên gia tư vấn với các cháu khiếm thị không nhìn được, nếu cho tiếp cận với âm thanh điện tử thì lãng phí đôi tai, tốt nhất nên dùng đàn cơ. Từ đó, con có thể tiếp cận âm thanh thật hơn đồng thời thể hiện cảm xúc cũng thật hơn. Vì cơ duyên đó, tôi lại cố gắng chạy vạy, mua cho con một chiếc đàn piano.”
Quá trình học đàn của con là cả sự kỳ công, kết hợp giữa con, mẹ và cô. Mỗi buổi học kéo dài 60 phút, nhưng nỗ lực lắm cô cũng chỉ có thể giúp con tiếp cận âm thanh khoảng 5-15 phút và sự tiến bộ của con theo từng nấc thang rất nhỏ và thời gian phải chờ cả năm. May mắn thay, hai năm sau hệ thần kinh của con bắt đầu ổn định.
An Như có thể chơi thành thạo đàn tranh, sáo và piano. Con còn là ca nương của Giáo phường Ca trù Thăng Long, tham gia biểu diễn thường xuyên tại đền Quan Đế
An Như tâm sự, âm nhạc giúp cho con thư thái hơn. Đầu tiên học piano là rất khó, bởi con không nhìn được các nốt nhạc và cô giáo phải cầm tay chỉ cho từng phím đàn. Hiện tại, khó khăn lớn nhất của cô bé vẫn là việc không đọc được bản nhạc. Quá trình học, giáo viên phải thu âm bài và hướng dẫn kỹ thuật, sau đó con tập đi tập lại rất nhiều mới có thể trau chuốt và mỗi ngày con tập đàn khoảng hai giờ.
“Trong các nhạc cụ, con thích nhất đàn tranh, vì nó rất réo rắt và thánh thót. Mỗi lần chơi nhạc, con thường tưởng tượng ra rất màu sắc. Con không biết định nghĩa màu sắc như thế nào, khi đánh đàn con tưởng tượng ra những dòng nước chảy róc rách có cá, tôm bơi lội, những đám mây trắng bồng bềnh… Cuộc sống cực kỳ đẹp phải không cô! Con nghĩ, tất cả mọi người trên đời đều tốt và rất hòa đồng,” cô bé thỏ thẻ chia sẻ.
Bất giác, tôi mỉm cười và nhớ đến dòng trạng thái của con trên Facebook cá nhân, “chỉ ăn ngủ… đi học về lại tập, tập, tập, diễn, diễn, tập, tập và luyện!”
Kết quả đã không phụ công người, mặc dù khiếm thị và phải chữa bệnh trong một thời gian rất dài, song bé An Như, học sinh năm 3 hệ trung cấp 6 năm chuyên ngành Đàn tranh, Khoa Nhạc cụ Truyền thống, Học viện Âm nhạc Quốc Gia luôn đạt thành tích học sinh xuất sắc và năm 2016, con vinh dự được nhận học bổng Vallet dành cho những học sinh ưu tú. Ngoài ra, An Như có thể chơi thành thạo các nhạc cụ khác như sáo, piano. Thêm vào đó, con còn là ca nương của Giáo phường Ca trù Thăng Long, tham gia biểu diễn thường xuyên tại đền Quan Đế.
Về điều này, cô Hạnh là giáo viên chuyên ngành theo giảng con trong suốt ba năm qua cũng ghi nhận, “thế giới âm nhạc mang lại nhiều màu sắc cho con. Con không còn bận tâm – mình là người khiếm thị và có thể bình thản bước đi trong cuộc đời cũng như con đường nghệ thuật rộng lớn phía trước.”
(Ảnh: Doãn Đức)
Truyền cảm hứng cho các bạn bè
Không chỉ học nhạc, An Như còn theo học văn hóa tại Trường phổ thông cơ sở Nguyễn Đình Chiểu. Cô Nguyễn Quỳnh Nga, giáo viên chủ nhiệm lớp 8A1 cho biết, do con học một lúc hai trường (nghệ thuật và văn hóa) nên rất vất vả và cần phải cố gắng nhiều hơn các bạn. Đôi khi, con phải nghỉ học văn hóa để tham dự các kỳ thi giữa kỳ, cuối kỳ tại Học viện.
“Tuy nhiên, cô giáo và các bạn luôn tạo điều kiện giúp đỡ con. Nhờ đó, con luôn nhanh chóng hoàn thiện lượng các kiến thức thiếu hụt trong các lần nghỉ học. Tinh thần lạc quan và sự hiếu học của con đã truyền cảm hứng tới các bạn, từ đó cùng nhau nỗ lực vươn lên,” cô Nga xúc động chia sẻ.
Nguyễn Đình Chiều là ngôi trường đặc biệt, ở đây các học trò khiếm thị được học chung với các bạn sáng mắt. Cô Nga cho biết, chính môi trường học như vậy đã tạo cho các con một thế giới hòa đồng, thân thiện và chia sẻ. Một số học sinh khiếm thị ban đầu còn tự ti, nhưng nhờ sự thân thiện của các bạn trong lớp mà khoảng cách đã dần được xóa bỏ.
“Các em đã quen với sự hòa nhập và sẵn lòng sẻ chia, giúp đỡ các bạn khiếm thị trong học tập, vui chơi, sinh hoạt. Vào đây giao tiếp cùng với các con, mình có thêm nhiều kỹ năng sống, vì thế tình yêu thương luôn ở vị trí hàng đầu và nó đều có ở mỗi thày, cô giáo trong trường,” cô Nga nói.
Quan sát một giờ chơi của các con, chúng tôi thấy nhiều đứa trẻ không chạy ùa ra sân trường mà chúng lưu lại trong lớp, từng nhóm quẩn quanh bên một người bạn khiếm thị. Điều đặc biệt hơn, các con có những cử chỉ giao tiếp giao tiếp rất đẹp, mấy đứa mắt sáng cầm nắm đôi bàn tay bạn mình rất nhẹ nhàng, rồi chúng thì thào nói cười, rúc rích chỉ cho nhau chơi một trò chơi nào đó.
(Ảnh: Doãn Đức)
Bạn Lê Thanh An (học sinh lớp 8A1) chia sẻ, “cô ơi, An Như vui tính và hiền lắm ạ. Các chương trình văn nghệ của trường, bạn tham gia rất nhiệt tình. Con rất ngưỡng mộ bạn vì có thể học tốt văn hóa lại chơi được nhiều nhạc cụ âm nhạc điêu luyện. Bạn khó khăn hơn chúng con rất nhiều, nhất là các môn cần trí tưởng tượng như hình học hay chia đa thức. Nhưng, An Như chăm học, khi có vấn đề không hiểu là bạn hỏi cô hoặc chúng con luôn. An Như rất vui vẻ và dễ gần nên con thích chơi với bạn.”
Cô bé Nguyễn Quỳnh Chi (học sinh lớp 8A1) đứng kế bên cũng nhoẻn miệng cười và khoe, “bạn Như rất tốt bụng và hòa đồng với các bạn mắt sáng. Bạn quan tâm đến chúng con. Rất hay cô nhé, chỉ cần nắm bàn tay là Như có thể nhận ra mỗi đứa chúng con. Những lúc học bài thể dục mới, con hay giúp bạn các động tác. Đối với các bạn khiếm thị, con có cảm nhận các bạn ý luôn cố gắng vui vẻ và học tập.”
An Như biểu diễn ca khúc “Nhật ký của Mẹ” bằng tiếng Nhật
Tôi chia sẻ với mẹ của An Như về những câu chuyện của bạn bè và cô giáo trong trường, lúc này nụ cười của chị đã ánh lên trong giọt nước mắt. Chị xúc động nói, “Tôi quan sát, các con học trong trường Nguyễn Đình Chiểu có tâm rất sáng, có tính cộng đồng, sẵn sàng chia sẻ và nhân hậu. Hơn 200 cháu khiếm thị học tại đây, mỗi người một hoàn cảnh, do đó bản thân các con vẫn là chính. Vì vậy, tôi luôn dạy cho An Như về ý thức tự lập và tinh thần lạc quan với cuộc sống.”
Dừng lại dòng suy nghĩ, lắng nghe giai điệu sâu lắng, tiếng ca nỉ non mà trong sáng của cô bé An Như hát tặng mẹ, “Watashi no… naka ni…yadottab inochi… omae ga umareru asa o matteita. Kono mune ni daite tsutawaru nukumori, kegare no, nai utsuk, shii hitomi…/ Bao ngày Mẹ ngóng… bao ngày Mẹ trông… bao ngày Mẹ mong con chào đời… ấp trong đáy lòng có chăng tiếng cười của một hài nhi đang lớn dần. Mẹ chợt tỉnh giấc và Mẹ nhìn thấy hình hài nhỏ bé như thiên thần, tiếng con khóc oà, mắt Mẹ lệ nhòa, cảm ơn vì con đến bên Mẹ…” [Bài hát ‘Nhật ký của Mẹ,’ sáng tác Nguyễn Văn Chung, lời tiếng Nhật Yoshimoto Kayo]
Gặp gỡ chị Tuyết Anh và bé An Như, chúng tôi có thêm một góc nhìn về tình yêu trong cuộc sống, ở đó có chân-thiện-mỹ, có sự khát khao mãnh liệt của một “nụ mầm” nỗ lực vươn lên giữa bốn bề là tầng tầng đá, sỏi trơ cứng. Rồi “khối đá” định mệnh kia cũng phải tách ra, nhường chỗ cho chiếu lá non tơ ngửng đầu hướng cao tới vầng dương chói lóa, đôi bàn tay bé xinh sẽ xòe ra hứng từng giọt sương mai và đó chính là sự sống./.
Dưới thời đại Hồ Chí Minh, bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một áng hùng văn kiệt xuất. Tiếp đó, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cũng là áng hùng văn mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kéo dài chín năm kết thúc bằng thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ.
Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một lời hịch của non sông đất nước cổ vũ tinh thần yêu nước của toàn dân đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược.
Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ 3 tuần sau, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta.
Tuy vậy, Chính phủ ta vẫn tiếp tục chủ trương hòa bình, ký Hiệp định sơ bộ (6/3/1946), nhận Việt Nam là nước tự do (chưa phải độc lập), nhượng bộ cho quân Pháp ra đóng ở miền Bắc (sẽ rút dần trong 5 năm).
Ta lại ký Tạm ước 14/9/1946 mong duy trì đàm phán hòa bình. Song ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Thực dân Pháp không chịu ngừng bắn ở miền Nam (từ 0 giờ 30 ngày 30/10/1946) theo quy định trong Tạm ước mà chúng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, đổ thêm quân vào Đà Nẵng, tăng cường khiêu khích ngay ở Thủ đô.
Ngày 18 và 19/12/1946, đại diện Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta. Thực tế cho thấy khả năng hòa hoãn không còn. Địch đã công khai tuyên bố chúng sẽ hành động sáng 20/12/1946 nếu Chính phủ ta khước từ những điều nêu trong tối hậu thư của chúng.
Các chiến sỹ tự vệ ở Hà Nội đào hầm hào, xây công sự chuẩn bị chiến đấu. (Ảnh: TTXVN)
Tình hình đã đến lúc cực kỳ căng thẳng, bởi vì từ sau Hiệp định sơ bộ 6/3, hơn 6.500 quân Pháp đã vào đóng xen kẽ với ta ở 45 điểm trong thành phố Hà Nội. Để quân Pháp nổ súng đánh trước thì ta sẽ lâm vào bị động và thế trận dễ bị chia cắt.
Từ những ngày cuối tháng 11/1946, để tránh những hành động uy hiếp của kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển ra ngoại thành Hà Nội, và từ tối 3/12/1946, Người về ở và làm việc tại nhà ông Nguyễn Văn Dương ở làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.
Để có thể kéo dài hơn những giờ phút hòa bình quý giá và thể hiện thiện chí của ta, sáng 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi cho Xanhtơny, ủy viên Cộng hòa Pháp ở miền Bắc Đông Dương: yêu cầu cùng ông Hoàng Minh Giám “tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại”.
Khi Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám yêu cầu gặp, Xanhtơny đã khước từ, nói là sẽ tiếp vào hôm sau. Nhưng hôm sau là 20/12 – ngày mà quân đội Pháp đã đơn phương quyết định “Tự mình đảm nhiệm việc duy trì an ninh trong thành phố”.
Thấy trước được khả năng tất yếu sẽ phải xảy ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tích cực và chủ động chuẩn bị cho ngày toàn quốc kháng chiến. Đến lúc này, việc di chuyển các cơ sở sản xuất, đặc biệt là máy móc cơ khí, các trạm quân y, các cơ quan không có nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu đã cơ bản hoàn thành. Hàng vạn tấn muối cũng đã được đồng chí Nguyễn Lương Bằng tổ chức chuyển lên chiến khu.
Thế trận đã bố trí sẵn sàng, toàn dân, toàn quân tuy trang bị vũ khí chưa đầy đủ, còn rất thiếu thốn do hoàn cảnh của ta khi ấy, nhưng về tinh thần đều đã đồng lòng trên dưới chung một lời thề ”Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh!”
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Để động viên hơn nữa khí thế của toàn dân, để biểu lộ ý chí kiên quyết chiến đấu hy sinh cho độc lập tự do của toàn thể dân tộc, trong những ngày ở Vạn Phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ chuẩn bị lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Lời kêu gọi của Người viết rất súc tích, ngắn gọn, chỉ có hơn 200 chữ nhưng đã vạch trần dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, trình bày lập trường và nguyện vọng thiết tha với hòa bình của dân tộc ta, biểu lộ rõ càng thiết tha với hòa bình, càng kiên quyết đập tan mọi âm mưu quỷ kế của bọn phá hoại hòa bình.
Trong Lời kêu gọi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày quan điểm “chiến tranh toàn dân” một cách vô cùng giản dị và hào hùng. Có thể nói, nét độc đáo, đặc sắc nhất trong đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự Chủ tịch Hồ Chí Minh là ở hai chữ “toàn dân”.
Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một lời hịch của non sông đất nước cổ vũ tinh thần yêu nước của toàn dân đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược.
Chỉ thị này được coi như một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự về khởi nghĩa toàn dân, kháng chiến toàn dân là lực lượng vũ trang ba thứ quân. Tiếp theo Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là văn kiện thứ hai mang tính cương lĩnh quân sự về kháng chiến toàn dân. “Toàn dân” theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh là toàn dân tộc.
Người cũng đã vạch ra chiến lược chiến tranh nhân dân, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đồng thời khẳng định cuộc kháng chiến sẽ nhất định đi đến thắng lợi vẻ vang.
Hai buổi chiều liên tiếp 18 và 19/12, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng đã được triệu tập ở làng Vạn Phúc. Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng đã nhận xét việc quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn hồi tháng 11, việc khiêu khích ở Thủ đô chứng tỏ Pháp đã cắt mọi con đường đàm phán và cố tình gây ra chiến tranh xâm lược.
Hội nghị cũng thấy rằng ta đã hết sức nhân nhượng, nhưng hiện nay không còn con đường nào khác là phải đứng lên tiến hành kháng chiến trên quy mô cả nước.
Đáp lại lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các chiến sỹ Thủ đô đào giao thông hào (trong Bắc Bộ phủ), xây dựng chiến lũy quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Hội nghị đã nghiên cứu và thông qua văn kiện “Toàn dân kháng chiến” do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. Đây là bản chỉ thị nêu rõ đường lối, chính sách và cách tiến hành cũng như lực lượng của cuộc kháng chiến.
Chỉ thị của Đảng cũng đã khẳng định cuộc kháng chiến tuy lâu dài, gian khổ nhưng nhất định sẽ thắng lợi vẻ vang. Đặc biệt, Hội nghị Thường vụ Trung ương đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị góp ý kiến cho lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Người soạn thảo. Các đồng chí đã thảo luận và được Người đồng ý cho sửa thêm một số chữ vào lời kêu gọi. Đây là một cách làm việc dân chủ và là nền nếp thường xuyên của Người.
Trưa 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các khu và các tỉnh: “Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí khí giới của Quân đội, Tự vệ, Công an ta. Chính phủ đã bác bỏ tối hậu thư ấy, như vậy chỉ trong 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Tất cả hãy sẵn sàng!”
Quyết giành chủ động trong chiến tranh, phá tan ngay từ đầu âm mưu đánh úp của thực dân Pháp, theo Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang đã quyết định mở cuộc tiến công lớn trên quy mô toàn quốc. Cuộc tiến công đó sẽ bắt đầu vào lúc 20 giờ ngày 19/12/1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời các báo về chủ trương trường kỳ kháng chiến của ta, chiều ngày 23/12/1946. (Nguồn: TTLTQG III, Khối tài liệu sưu tầm, hồ sơ 17, tờ 01)
Tại Hà Nội, đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, anh em công nhân Nhà máy Điện Yên Phụ phá máy; 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh ta từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành.
Sáng 20/12, Đài Tiếng nói Việt Nam phát Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Báo Cứu quốc và các báo Hà Nội như Đồng Xuân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Cảm Tử, Tiền phong, Chiến thắng đều đăng trang trọng Lời kêu gọi của Bác Hồ.
Lời kêu gọi cứu nước của Bác đã thúc giục triệu người nhất quyết xông tới với lời thề quyết tử: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”
Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, lực lượng vũ trang Nam Định đã bao vây giam giữ 800 quân Pháp trong nhà máy sợi gần ba tháng; ta đã đánh phá giao thông quyết liệt ở đường số 5; ở thị xã Vinh ngay từ đêm nổ súng quân Pháp đã phải hàng quân ta; ở Huế, sau 50 ngày vây đánh, ta đã diệt gần 200 tên Pháp; ở Đà Nẵng, mặc dù quân Pháp gần 1 vạn tên nhưng ta cũng đã hoàn thành nhiệm vụ bao vây.
Ở Hà Nội, trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, trung đoàn Thủ đô mãi đêm 17/2/1947 mới rút ra khỏi nội thành, sau 60 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bao vây, tiêu diệt địch, tạo thời gian cần thiết để di chuyển các cơ quan, công xưởng lên vùng chiến khu, vượt trước thời gian so với lời hứa của Bộ trưởng Quốc phòng với Bác Hồ gần một tháng.
Hơn nửa thế kỷ đi qua, ngày 19/12/1946 mãi mãi ghi vào lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta như một mốc son chói lọi. Toàn dân tộc Việt Nam nhất tề đứng dậy theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Bằng cuộc tiến công tối 19/12/1946, mở đầu theo lệnh từ Hà Nội, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực hiện nguyên tắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam: Không để cho kẻ địch đánh theo cách đánh của chúng, mà buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta. Nguyên tắc đó đã chỉ đạo quân dân ta suốt 30 năm chiến tranh giải phóng./.
Toàn cảnh lễ Chào cờ tại Cột cờ Hà Nội trong ngày 10/10/1954. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng khép lại giải đấu lớn đầu tiên cùng đội tuyển Việt Nam bằng một đoạn kết buồn đầy bi tráng. Nhưng AFF Cup 2016 chưa từng là mục tiêu cao nhất của Hữu Thắng còn đội tuyển này vẫn đang hướng về ga cuối ở phía xa: SEA Games 2017 tại Malaysia.
Hữu Thắng chưa từng là lựa chọn số một
Trước khi huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng lên cầm quyền, chưa một huấn luyện viên nội nào đưa được U23 Việt Nam và đội tuyển quốc gia vượt qua vòng bảng AFF Cup hoặc SEA Games. Muốn nói về Hữu Thắng, chúng ta không thể quên chi tiết này.
Thống kê đáng sợ ấy khiến mọi huấn luyện viên nội đều e dè, sợ hãi “ghế nóng” ở đội tuyển. Một thất bại ở tuyển Việt Nam có thể nhấn chìm sự nghiệp của bất kỳ ai. Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) hiểu rõ điều đó. Các huấn luyện viên hiểu rõ điều đó. Sự đáng sợ của chiếc ghế ấy tạo nên một cục diện hiếm thấy vào tháng 2/2016 khi các huấn luyện viên nội liên tiếp từ chối hoặc không mặn mà với vị trí được trọng vọng nhất làng bóng đá nội.
Ngày 3/2, huấn luyện viên Lê Huỳnh Đức từ chối “ghế nóng” lần thứ 2. Đó không phải lần đầu tiên Huỳnh Đức phũ phàng với đội tuyển Việt Nam. Ông Đức thà ở lại SHB Đà Nẵng còn hơn lên đội tuyển. Gần một tháng sau, VFF công bố quyết định chọn Nguyễn Hữu Thắng. Kết luận: ông Thắng chưa bao giờ là lựa chọn số một của bóng đá Việt Nam.
Trong sự nghiệp cầm quân, thành tích ấn tượng nhất của Hữu Thắng là chức vô địch V-League 2011. Sông Lam Nghệ An dưới thời ông Thắng chưa bao giờ nổi tiếng với lối chơi ban bật, bóng ngắn. Nhưng ngày ra mắt đội tuyển, một trong những câu đầu tiên Hữu Thắng đã nói: “Tôi khẳng định chắc chắn 100% rằng tôi sẽ chọn lối chơi phù hợp với thể trạng con người Việt Nam. Với thể hình, thể lực hiện tại, chúng ta phải thực hiện lối chơi kiểm soát bóng, đá cự ly ngắn, cự ly trung bình. Chúng ta phải học cách chịu đựng áp lực từ đối thủ, phải tập nhuần nhuyễn phản công. Đó là triết lý của tôi.”
Để hiện thực hóa lối chơi ấy, Hữu Thắng gọi hàng loạt cầu thủ Hoàng Anh Gia Lai và trao “ấn chỉ huy” vào tay bộ đôi Tuấn Anh-Xuân Trường. Vinh quang và cả cay đắng sau này của ông đều bắt đầu từ những quyết định ngày hôm ấy.
Ông Thắng chưa bao giờ là lựa chọn số một ở tuyển Việt Nam. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
AFF Suzuki Cup 2016 chưa bao giờ là mục tiêu hàng đầu
Ngày 17/2 – hai tuần trước khi Hữu Thắng chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng tuyển Việt Nam. Tổng thư ký Lê Hoài Anh xác nhận trong cuộc trao đổi với Báo Thanh niên: “Chúng tôi không đặt nặng thành tích cho đội tuyển ở AFF Cup 2016 mà muốn giải đấu này là một trong những bước đệm chuẩn bị cho SEA Games 29 năm 2017.”
Chiều 3/3, trong ngày nhậm chức, Hữu Thắng một lần nữa khẳng định: “Mục tiêu của tôi là chung kết AFF Cup và vô địch SEA Games.”
AFF Cup 2016, từ khởi điểm, chưa từng là mục tiêu quan trọng nhất của bóng đá Việt Nam dưới thời kỳ Hữu Thắng. Thực tế cũng chứng minh điều đó. Tuổi trung bình của tuyển Việt Nam ở AFF Cup 2016 chỉ là 24,95 – rất trẻ. Thế hệ Xuân Trường, Văn Toàn… chỉ xấp xỉ 21-20 trong khi thế hệ 2008 chỉ còn sót lại đúng Công Vinh và Thành Lương.
Đặt mục tiêu chung kết, VFF đã ngầm ám chỉ AFF Cup 2016 chỉ là một giải đấu dọn đường, là sân chơi lớn để giúp lứa Công Phượng, Xuân Trường… trưởng thành, làm bàn đạp cho SEA Games năm sau.
Sau này, khi tuyển Việt Nam xưng hùng ở Aya Bank Cup, thắng như chẻ tre trước thềm AFF Cup, men say thắng trận đã làm nhiều người quên mất kế hoạch ấy.
Thất bại ở bán kết AFF Cup để lại nỗi tiếc nuối lớn. Nhưng nó không thể và không nên là thước đo đánh giá thành tựu của Hữu Thắng. Đêm 7/12 tại Mỹ Đình, ông Thắng mới đi được một nửa chặng đường.
AFF Suzuki Cup 2016 chỉ là mục tiêu phụ trong đích ngắm SEA Games 2019 của tuyển Việt Nam. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Với Hữu Thắng, Gia Lai là tương lai
Điểm khác biệt lớn nhất giữa Hữu Thắng và cựu huấn luyện viên trưởng tuyển Việt Nam Toshiya Miura chỉ nằm ở bốn chữ: Hoàng Anh Gia Lai.
Đêm 20/1 tại vòng chung kết Giải U23 châu Á 2016 ở Qatar, sau rất nhiều chỉ trích, ông Miura lần đầu tiên để Tuấn Anh đá chính. Phút 68, tiền vệ này ghi một bàn thắng tuyệt đẹp giữa vòng vây của ba hậu vệ U23 UAE. Lịch sử sang trang từ khoảnh khắc ấy. Sau giải, ông Miura bị sa thải còn mọi huấn luyện viên kế tiếp của tuyển Việt Nam đều hiểu rằng họ không còn có thể làm ngơ “Những đứa trẻ của bầu Đức”.
Bất chấp sự khác biệt rất lớn về triết lý, ông Thắng đã quyết định chọn nhóm cầu thủ Hoàng Anh Gia Lai và lối chơi của họ làm nòng cốt cho đội tuyển Việt Nam. Nếu Tuấn Anh không chấn thương, anh sẽ cùng với Xuân Trường chiếm hai vị trí bất khả xâm phạm ở tuyến giữa tuyển Việt Nam.
Dưới thời Hữu Thắng, bốn cầu thủ Hoàng Anh Gia Lai đồng loạt chiếm suất đá chính. Hai người còn lại là Văn Toàn và Văn Thanh. Công thức “Hoàng Anh Gia Lai + Sông Lam Nghệ An + phần còn lại” đã định hình tuyển Việt Nam ở AFF Cup 2016.
Cầu thủ Hoàng Anh Gia Lai nổi tiếng nhất và cũng là người duy nhất ngồi dự bị là Nguyễn Công Phượng. Chuyện về Phượng sẽ cần một bài viết khác để kể hết.
Cầu thủ hưởng lợi nhiều nhất từ lựa chọn Hoàng Anh Gia Lai của Hữu Thắng là Lương Xuân Trường. Tiền vệ người Tuyên Quang trở về Việt Nam sau mùa giải đầu tiên thành công tại Incheon United – nơi anh trở thành cầu thủ Việt Nam duy nhất có suất đá chính ở một giải vô địch quốc gia hàng đầu châu lục. Tại AFF Cup 2016, Xuân Trường chơi cực hay. Nếu giữ đà thăng tiến ấy, Trường sẽ là thủ lĩnh tuyến giữa của tuyến Việt Nam trong một thập kỷ tới. Đề cử Quả bóng Vàng Việt Nam 2016 là tưởng thưởng xứng đáng cho sự trưởng thành của Xuân Trường.
Lựa chọn Hoàng Anh Gia Lai cũng giúp Hữu Thắng có được sự ủng hộ tuyệt đối từ VFF và người hâm mộ – những người luôn khát khao được thấy lối đá ban bật, chuyền ngắn ở đội tuyển. Từ ngày Hữu Thắng lên tuyển, bầu Đức không còn lên tiếng chỉ trích. Lãnh đạo VFF tạo mọi điều kiện. Đội tuyển có Giám đốc kỹ thuật, có huấn luyện viên thể lực, được tập huấn nước ngoài cả tháng trời.
Lựa chọn Hoàng Anh Gia Lai, vì thế, không chỉ mang tới luồng sinh khí mới cho tuyển Việt Nam trên sân cỏ. Nó còn giúp ổn định hậu trường và mang tới nhiều sự ủng hộ thực tế hơn cho đội tuyển.
Cầu thủ hưởng lợi nhiều nhất từ lựa chọn Hoàng Anh Gia Lai của Hữu Thắng là Lương Xuân Trường. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Công Vinh, Hữu Thắng và mối quan hệ cộng sinh
Chiều ngày 23/3, trong cuộc họp báo trước thềm trận Việt Nam-Đài Loan, một phóng viên đã hỏi đội trưởng Công Vinh về những phát ngôn của Anh Đức.
Nguyễn Anh Đức khi đó là đội trưởng của Công Vinh ở Bình Dương. Anh Đức từ chối lên tuyển trong khi Công Vinh vẫn tiếp tục cống hiến. Anh Đức đá chính ở Bình Dương trong khi Công Vinh thường xuyên ngồi ngoài. Anh Đức là biểu tượng bản địa còn Công Vinh là ngôi sao được mua về. Giữa họ là nước với lửa, là đỉnh và đáy, là sự xung khắc không thể dung hòa.
Thời điểm ấy, hai cầu thủ này đang có những cuộc đấu khẩu “đốt cháy” các mặt báo. Khi nhận được câu hỏi, Công Vinh cầm mic, mặt anh đanh lại, nụ cười biến mất. Anh chuẩn bị nói điều gì đó, chuẩn bị đổ thêm dầu vào đám cháy lớn. Đúng lúc ấy, Hữu Thắng ngắt lời anh: “Tôi nghĩ đây là vấn đề cá nhân của từng người thì hãy để họ nói chuyện riêng với nhau. Hai người đàn ông thì cứ nói chuyện thẳng thắn với nhau để giải quyết, có vấn đề gì đâu. Đây là buổi họp báo đội tuyển, Công Vinh không nên có những phát biểu cá nhân ở đây.”
Nhờ Công Vinh, Hữu Thắng có một nguồn cung bàn thắng chất lượng và ổn định, có một người đội trưởng mẫu mực.
Đó là một chi tiết điển hình nói lên rất nhiều điều trong mối quan hệ Hữu Thắng-Công Vinh. Với Công Vinh, Hữu Thắng vừa là người thầy, người anh em, người đồng đội cũ (tại Sông Lam Nghệ An). Ông Thắng bảo vệ Công Vinh. Đáp lại, Công Vinh hết mình vì “anh Thắng.”
Cho tới đêm 7/12 tại Mỹ Đình, Công Vinh đã ghi đúng 10 bàn sau 14 trận trong năm 2016 cho đội tuyển Việt Nam (không kể các trận đấu tập). Đó là hiệu suất ghi bàn cao nhất trong sự nghiệp của cầu thủ 31 tuổi và chỉ xuất hiện dưới thời Hữu Thắng. Lưu ý, trong cùng thời gian ấy, cả bốn tiền đạo còn lại của tuyển Việt Nam là Văn Quyết, Văn Toàn, Công Phượng, Văn Thắng chỉ có tổng cộng 9 bàn.
Nhờ Công Vinh, Hữu Thắng có một nguồn cung bàn thắng chất lượng và ổn định, có một người đội trưởng mẫu mực. Với kinh nghiệm chinh chiến trải đều qua bốn đội V-League khác nhau, Công Vinh cũng là người kết nối cả đội bóng, liên kết nhóm cầu thủ Nghệ An với các vùng miền khác.
Sự ra đi của Công Vinh, vì thế, sẽ là tổn thất không thể bù đắp được của Hữu Thắng trong năm 2017.
Với Công Vinh, Hữu Thắng vừa là người thầy, người anh em, người đồng đội cũ. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
Chọn Nghệ An, Hữu Thắng đúng hay sai?
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Thể thao & Văn hóa cách đây ít ngày, cựu danh thủ Phan Văn Tài Em từng nói: “Mình muốn huấn luyện viên nội phải làm việc như huấn luyện viên nước ngoài, phải công tâm hơn. Huấn luyện viên Việt Nam nhiều lúc hơi cục bộ địa phương, hơi tình cảm. Họ giúp đỡ anh em câu lạc bộ của họ lên tuyển nhiều quá.”
Chia sẻ của Phan Văn Tài Em đến sau một kỳ AFF Cup 2016 rất đặc biệt. Lần đầu tiên trong lịch sử 20 năm Tiger Cup – AFF Cup, tuyển Việt Nam không có một cái tên nào tới từ miền Nam. Ngược lại, với 10 người được chọn, Nghệ An trở thành địa phương đóng góp nhiều gương mặt nhất cho đội tuyển.
Những nguồn tin thân cận của VietnamPlus khẳng định mâu thuẫn đã từng nổ ra trong nội bộ tuyển Việt Nam tại AFF Cup 2016 giữa một cầu thủ Nghệ An với một cầu thủ địa phương khác. Đúng như Tài Em đã nói, mâu thuẫn, những sự bất đồng là có thật.
Đương nhiên, Hữu Thắng có quyền lựa chọn đội hình mà không ai có thể chỉ trích anh. Nhưng rõ ràng, đã có những sự thiên vị của Hữu Thắng dành cho nhóm cầu thủ Nghệ An. Điển hình là trường hợp của Công Phượng với Minh Tuấn. Tiền đạo 21 tuổi có bốn lần ra sân, không để lại bất kỳ dấu ấn nào nhưng vẫn được trao cơ hội. Trong khi đó, Vũ Minh Tuấn chỉ được vào sân đúng hai trận nhưng đã kịp ghi bàn thắng lịch sử vào lưới Indonesia tại Mỹ Đình.
Bán kết lượt về AFF Cup 2016, 7/12 tại Mỹ Đình: Việt Nam 2-2 Indonesia (Nguồn: VFF)
Lựa chọn Nghệ An, huấn luyện viên Hữu Thắng cũng buộc phải gạch tên hàng loạt tài năng sáng giá như Huy Hùng, Hải Huy, Duy Long… Nếu có Huy Hùng ở đó, tuyến giữa của tuyển Việt Nam sẽ không phải đau đầu khi Hoàng Thịnh dính chấn thương. Ông Thắng sẽ không phải gò Trọng Hoàng vào vị trí trái sở trường còn Xuân Trường có thể yên tâm dâng cao. Nếu có Huy Hùng, đoạn kết của tuyển Việt Nam ở AFF Cup 2016 có thể đã được viết lại…
Phần còn lại của câu chuyện sau đó đã trở thành lịch sử. Huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng và tuyển Việt Nam toàn thắng ở vòng bảng. Hai cái tên sáng chói nhất là đội trưởng Công Vinh và tiền vệ trụ Lương Xuân Trường. Đội tuyển áo đỏ dừng bước ở bán kết. Những kẻ mắc sai lầm đều là những người ông Thắng tin tưởng nhất: nhóm cầu thủ Nghệ An. Ngọc Hải “biếu” hai bàn ở lượt đi, Đình Đồng “tặng” một bàn ở lượt về trước khi Nguyên Mạnh nhận tấm thẻ đỏ tai hại.
Chúng tôi xin mượn một câu trong bài viết của FOX Sport thay cho lời kết bài viết này: “Tuyển Việt Nam bị loại nhưng họ không phải cúi đầu.”
Đội bóng này, thế hệ này còn cả tương lai ở phía trước. Và AFF Cup 2016 mới chỉ là điểm bắt đầu./.
Vũ Minh Tuấn không được trọng dụng nhưng vẫn kịp để lại dấu ấn với bàn thắng vào lưới Indonesia ở phút 90+3 trận bán kết lượt về. (Ảnh: Minh Chiến/Vietnam+)
So sánh số trận thắng/thua tại các kỳ AFF Cup 2016 gần đây
Ngày 16/12/2016, tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ (xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) sẽ diễn ra Lễ kỷ niệm 5 năm Thành Nhà Hồ được công nhận là Di sản văn hóa thế giới (2011-2016). Sự kiện Thành Nhà Hồ được vinh danh là di sản văn hóa thế giới cách đây 5 năm là niềm vinh dự và sự tự hào to lớn của đất nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng.
Thành Nhà Hồ và lịch sử hình thành
Thành Nhà Hồ – tên thường gọi của tòa thành bằng đá độc đáo còn khá nguyên vẹn giữa vùng đồng bằng lưu vực sông Mã và sông Bưởi, thuộc địa phận các thôn Tây Giai, Xuân Giai (xã Vĩnh Tiến), Đông Môn (xã Vĩnh Long), huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành còn có các tên gọi khác như: An Tôn, Tây Đô, thành Phủ Thanh Hoá, Tây Kinh, Thạch Thành, Tây Giai.
Thành Nhà Hồ là hiện tượng có tính đột khởi về kỹ thuật khai thác, chế tác và xây dựng một đại công trình với nguyên liệu cơ bản là các tảng đá lớn. Không phải công trình duy nhất trong nước và khu vực có lối kiến trúc bằng đá, nhưng Thành Nhà Hồ vẫn là minh chứng “vô tiền khoáng hậu” về kỹ thuật xây dựng khác biệt, độc đáo.
Theo sử liệu, năm 1397, trước nguy cơ đất nước bị giặc Minh từ phương Bắc xâm lăng, Hồ Quý Ly đã chọn đất An Tôn (nay là Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) để xây dựng kinh thành nhằm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến lâu dài.
Với tư cách là kinh đô của nhà nước Đại Việt cuối Trần đầu Hồ, Tây Đô được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản về địa thế, phong thủy, tiền án hậu chẩm đều có hình sông thế núi bao bọc. Thành tọa lạc ở vị trí giáp ranh đồng bằng và miền núi, cảnh quan đẹp, sông núi hài hòa, địa hình đa dạng tạo lợi thế về quân sự. Phía Bắc có núi Thổ Tượng, phía Tây có núi Ngưu Ngọa, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam còn là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới. Thành Nhà Hồ được kết cấu gồm 3 phần: La thành, Hào thành và Hoàng thành.
Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá vôi màu xanh, được đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau mà không cần chất kết dính. Các phiến đá dài trung bình 1,5m, có tấm dài tới 6m, trọng lượng ước nặng 24 tấn. Tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m3 và gần 100.000 m3 đất được đào đắp công phu.
Một đoạn tường thành đã bị hư hỏng nặng bởi thời gian và sự thiếu trách nhiệm của những người sống trong vùng di sản, đang cần được trùng tu, nâng cấp. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Tường Thành nhà Hồ được xây dựng bằng những khối đá lớn cỡ 2mx1mx0,7m chồng lên nhau. Qua hơn 6 thế kỷ, bức tường đá ấy vẫn còn hùng vĩ và vững chắc. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Cổng phía Nam của Thành nhà Hồ với tam quan được xây dựng bằng những tảng đá hình múi cam, xếp chồng khít lên nhau mà không dùng tới chất kết dính. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Cổng phía Bắc thành nhà Hồ vẫn còn khá nguyên vẹn. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Cổng phía Nam là cổng lớn và đẹp nhất trong 4 cổng của Thành nhà Hồ, với cửa giữa cao 8m, rộng 5,8m và hai cửa bên cao 7,8m, rộng 5m. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Cổng phía Đông Thành nhà Hồ với mái vòm đá đồ sộ. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Cũng theo sử sách trong thành còn rất nhiều công trình được xây dựng, như: Điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, tây Thái Miếu, đông Thái miếu, núi Thọ Kỳ, Dục Tượng… rất nguy nga, chẳng khác gì kinh đô Thăng Long. Tuy nhiên, qua hơn sáu thế kỷ tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy, vùi lấp hết, song 4 bức tường thành biểu tượng của Thành Nhà Hồ vẫn giữ tương đối nguyên vẹn kiến trúc ban đầu, nổi bật với 4 cổng Nam, Bắc, Đông, Tây.
Ngày nay, bên cạnh phần di tích lộ thiên, tiến hành khảo cổ tổng thể di tích Đàn tế Nam Giao và khai quật trên diện tích hàng chục nghìn mét vuông khác, các nhà khảo cổ đã phát hiện được hàng nghìn di vật và nhiều mảng kiến trúc thể hiện sự giao thoa, tiếp biến kiến trúc các thời Trần, Hồ và Lê sơ như sân lát gạch, các trụ chân tảng bằng đá, Giếng Vua… Đó là những lớp trầm tích văn hóa, thể hiện sự tiếp nối các giai đoạn lịch sử, các triều đại phong kiến mà vương triều Hồ là một mắt xích không thể thiếu.
Được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc, Thành Nhà Hồ trở thành một công trình mang giá trị nổi bật toàn cầu với kiến trúc kiểu kinh thành phương Đông, vừa là trung tâm quyền lực, vừa là một pháo đài quân sự, thể hiện sự gắn kết tài tình giữa công trình kiến trúc với cảnh quan văn hóa và thiên nhiên.
Nhờ kỹ thuật xây dựng độc đáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, trải qua thời gian hơn 600 năm với nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, đến nay Thành Nhà Hồ vẫn còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất về cảnh quan cũng như quy mô kiến trúc ở khu vực Đông Nam Á.
Những chứng tích để xây dựng và bảo vệ Thành nhà Hồ được trưng bày phía trước cổng phía Nam. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá Thành nhà Hồ
Thành Nhà Hồ được vinh danh là di sản văn hóa thế giới là niềm vinh dự và sự tự hào to lớn của đất nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng. Tuy nhiên, việc tôn vinh mới chỉ là một mặt của vấn đề, mặt quan trọng còn lại là bảo tồn và phát huy cao nhất giá trị di sản. Chính vì vậy, ngay sau khi được công nhận, năm 2013 tỉnh Thanh Hóa tiếp tục thực hiện cam kết chiến lược bảo tồn, phát huy giá trị Di sản Thành Nhà Hồ bằng việc cụ thể hóa kế hoạch Nghiên cứu khai quật tổng thể Di sản Thành Nhà Hồ, giai đoạn 2013-2020.
Kết quả nghiên cứu Thành nhà Hồ đã từng bước hé lộ thêm nhiều sử liệu bằng hiện vật quý báu. Đáng kể nhất là kiến trúc cơ bản và tương đối toàn diện của đàn Nam Giao đã được khai quật, với diện tích hàng chục nghìn m2. Các nhà khoa học đã đánh giá đây là đàn tế được bảo tồn nguyên vẹn nhất Việt Nam hiện nay với hàng loạt các di tích như đường Thần Đạo, Giếng Vua, hệ thống cống thoát nước…
Năm 2014, sự kiện khai mạc trưng bày “Di sản thế giới tại Việt Nam” (21/4/2014) là kết quả phối hợp giữa Thành Nhà Hồ và UNESCO, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của UNESCO với di sản Thành Nhà Hồ từ năm 2011-2014.
Năm 2015, nhận thức sâu sắc thương hiệu di sản thế giới Thành Nhà Hồ, tỉnh Thanh Hóa đã đề nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức năm du lịch quốc gia tại Thanh Hóa với chủ đề: “Kết nối các di sản thế giới”. Một lần nữa Thành Nhà Hồ lại trở thành trung tâm trong chuỗi các sự kiện năm du lịch quốc gia. Cũng trong năm này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành Nhà Hồ và vùng phụ cận gắn với phát triển du lịch” (Quyết định số 1316/QĐ-TTg, ngày 12-8-2015). Quyết định này là cơ sở pháp lý cho toàn bộ công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Thành Nhà Hồ.
Năm 2016, đúng tròn 5 năm ngày được UNESCO vinh danh, Thành Nhà Hồ lại đón nhận thêm tin vui mới, được chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt đề án: “Khai thác và phát triển du lịch di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ” (Quyết định số 1967/QĐ-UBND, ngày 08-6-2016) nhằm mục tiêu đưa Thành Nhà Hồ trở thành trọng điểm trên bản đồ du lịch quốc gia.
Hy vọng trong thời gian tới, di sản thế giới Thành Nhà Hồ sẽ mãi tỏa sáng như nhân loại đã tôn vinh.
Bên cạnh đó, để quảng bá và khai thác Di sản thế giới Thành Nhà Hồ, nhiều hoạt động được tổ chức nhằm đưa hình ảnh, giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nổi bật của Thành nhà Hồ tới bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân địa phương về ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản như: chương trình nghệ thuật “Sắc xuân trên thành cổ”; Lễ hội làng Đông Môn và Liên hoan nghệ thuật vùng di sản Thành Nhà Hồ 2016; tổ chức cuộc thi “Khám phá di sản thế giới tại Việt Nam và các nước ASEAN”; phát động trồng 20.000 cây xanh tại Di sản Thành Nhà Hồ và Di tích Đàn tế Nam Giao;…
Kết quả cho thấy, từ một di tích ít người biết đến mỗi năm chỉ có vài nghìn lượt khách ghé thăm, đến năm 2015, Thành Nhà Hồ đã đón hơn 100.000 du khách trong và ngoài nước. Trong 6 tháng đầu năm 2016, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ đã thuyết minh và giới thiệu cho 46.000 lượt khách trong và ngoài nước.
Có thể khẳng định, sau 5 năm Thành Nhà Hồ được công nhận di sản thế giới, công tác quản lý, bảo tồn phát huy giá trị di sản đã thực hiện được nhiều công việc lớn đúng như khuyến nghị của UNESCO. Di sản đã được cộng đồng quan tâm bảo vệ và bước đầu được hưởng lợi từ giá trị của di sản. Thành Nhà Hồ được hiểu biết sâu sắc hơn về quy mô, kiến trúc, các giá trị phi vật thể của vùng Tây Đô từng bước được phục hồi.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 5 năm chưa đủ để những người làm công tác quản lý bảo tồn giải quyết hết các mong muốn, bởi việc phục dựng, tôn tạo, bảo vệ di tích trước sự hủy hoại của thiên nhiên và con người là nhiệm vụ không hề đơn giản. Hy vọng trong thời gian tới, với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp các ngành, sự quan tâm từ UNESCO, di sản thế giới Thành Nhà Hồ sẽ mãi tỏa sáng như nhân loại đã tôn vinh.
Bình minh trên cổng Tây Thành nhà Hồ. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Ngày 1/12, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại Thủ đô Addis Ababa (Ethiopia), di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Ông Phạm Sanh Châu – Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, Trưởng đoàn Việt Nam tại phiên họp cho biết, đây là lần đầu tiên UNESCO vinh danh người phụ nữ Việt Nam thông qua hình ảnh Thánh Mẫu. Hồ sơ đề cử di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại có chất lượng cao, là 1 trong 18 hồ sơ được thông qua không cần thảo luận(trong khi 19 hồ sơ khác tranh luận quyết liệt).
Màu sắc văn hóa bản địa
Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt hình thành và phát triển trên nền tảng của tín ngưỡng thờ nữ thần. Đây là một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền (trời, sông nước, rừng núi), sự hỗn dung tôn giáo bản địa của người Việt và một số yếu tố của tôn giáo du nhập như Đạo giáo, Phật giáo.
Từ thế kỷ 16, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân Việt Nam.Trong quá trình phát triển, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt có những biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Tuy nhiên, dù ở giai đoạn nào, tín ngưỡng này vẫn luôn hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng về sức khỏe, tài lộc, may mắn – những ước muốn vĩnh hằng của con người.
“Chính điều này góp phần quan trọng tạo nên màu sắc văn hóa bản địa, sự khác biệt của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ so với những tín ngưỡng khác,” giáo sư Ngô Đức Thịnh – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam cho hay.
Phân tích sâu hơn về vấn đề này, ông Ngô Đức Thịnh cho biết, đạo Mẫu (tên gọi khác của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ theo hướng tiếp cận từ góc độ văn hóa) coi tự nhiên là một người Mẹ, tôn thờ với tư cách là vị thần tối cao, có quyền năng sáng tạo, cai quản, phù trợ cho con người, mang lại cho con người sức khỏe, tài lộc trong đời sống trần gian.
Tam phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu tương ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền Trời), Nhạc phủ (miền rừng núi) và Thoải phủ (miền sông nước)
Trong khi nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác hướng đến sự siêu thoát, cuộc sống sau cái chết hoặc sự phù hộ của linh hồn người đã khuất với người còn sống thì đạo Mẫu hướng con người về cuộc sống thực tại với những nhu cầu thực tế, đời thường: Phúc-Lộc-Thọ.
Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương trong cả nước như: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh; trong đó, Nam Định được coi là trung tâm với gần 400 điểm thờ cúng Thánh Mẫu.
“Thông qua việc kết hợp một cách nghệ thuật các yếu tố văn hóa dân gian (trang phục, âm nhạc, hát chầu văn, múa, diễn xướng dân gian trong lên đồng và lễ hội), Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ như một ‘bảo tàng sống’ lưu giữ lịch sử, và bản sắc văn hóa của người Việt. Qua đó, người Việt thể hiện quan niệm của mình về lịch sử, văn hóa, vai trò của giới và bản sắc tộc người. Sức mạnh và ý nghĩa của Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ chính là đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của con người: cầu tài, cầu lộc, cầu sức khỏe,” đại diện Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết.
Trình diễn các giá hát văn hầu đồng trong Lễ Tổng kết Liên Tín ngưỡng thờ Mẫu Hà Nội 2014. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Hệ thống thần linh
Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, hệ thống điện thần đạo Mẫu bao gồm: Ngọc Hoàng, Phật Bà Quan Âm, Tam tòa Thánh Mẫu, Quan lớn (từ 5-10 vị), Chầu bà (từ 4-12 chầu bà), Ông Hoàng (từ 5-10 vị), Vương cô (12 vị), Vương cậu (12 vị), Ngũ hổ và Ông lốt (rắn). Sự khác nhau về số lượng các vị thánh trong từng hàng (quan, chầu, ông hoàng, cô, cậu) do tồn tại những khác biệt trong quan niệm ở các vùng miền khác nhau.
Ngọc Hoàng là vị Thánh được thờ với tư cách Vua Cha trong đạo Mẫu, có bàn thờ riêng trong các đền, phủ. Tuy nhiên, trong các nghi lễ, tâm thức dân gian, vai trò của Ngọc Hoàng lại khá mờ nhạt.
Phật Bà Quan Âm là vị Bồ Tát của đạo Phật. Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết, theo thư tịch cổ và huyền thoại, Phật Bà đã giải cứu công chúa Liễu Hạnh trong một trận kịch chiến. Từ ân đức đó, công chúa Liễu Hạnh đã quy y và mở đường cho sự hội nhập giữa đạo Mẫu dân gian và Phật giáo. Bởi vậy, trong điện thần đạo Mẫu (cũng như trong nhiều nghi lễ đạo Mẫu), Phật Bà Quan Âm đều hiện diện.
Tam phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu tương ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền Trời), Nhạc phủ (miền rừng núi) và Thoải phủ (miền sông nước).
Đứng đầu mỗi phủ là một vị thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên (Mẫu đệ nhất) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp…; Mẫu Thượng Ngàn (Mẫu đệ nhị) trông coi miền rừng núi, địa bàn sinh sống chính của nhiều dân tộc thiểu số và Mẫu Thoải (Mẫu đệ tam) trông coi các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho biết, trong điện thần Tam phủ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh luôn đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, ngồi chính giữa và mặc trang phục màu đỏ, bên trái là Mẫu Thoải (trang phục màu trắng) và bên phải là Mẫu Thượng Ngàn (trang phục màu xanh).
Về nguồn gốc, bà là tiên nữ giáng trần, sau đó quy y Phật giáo và được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ,” một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt. Mẫu Liễu Hạnh và Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) đã trở thành biểu tượng của sự kết hợp giữa thần linh và đời thường, giữa nhu cầu tâm linh, khát vọng hướng về các giá trị chân-thiện-mỹ với khát với việc chữa bệnh trừ tà, giúp đỡ con người trong những hoàn cảnh khó khăn…
Các Thánh Mẫu có nguồn gốc không chỉ là người Kinh mà còn thuộc các dân tộc thiểu số như người Tày, Nùng, Dao… Bên cạnh đó, trong khoảng 50 vị thần mà đạo Mẫu tôn thờ, có nhiều vị vốn là những nhân vật lịch sử, được thần linh hóa như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão…
Điều đó cho thấy di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt thể hiện rất rõ truyền thống uống nước nhớ nguồn, chủ nghĩa yêu nước được tâm linh hóa, ý thức về sự giao lưu văn hóa và mối quan hệ bình đẳng, gắn bó giữa các dân tộc.
(Trích đoạn vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú)
Nhận diện hầu đồng
Theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam, nghi lễ chầu văn (hay còn gọi là hầu đồng) là nghi lễ chính, điển hình nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu. Thông qua nghi lễ này, con người gửi gắm, biểu đạt những mong muốn, khát vọng của mình.
“Tuy nhiên, hầu đồng từng bị cấm đoán khá nặng nề ở Việt Nam suốt một thời gian dài do không được hiểu đúng bản chất. Dư luận nhìn nghi lễ này qua bức màn huyền bí với thái độ đầy nghi hoặc (do những biến tướng xấu, theo hướng mê tín dị đoan nảy sinh trong quá trình thực hành),” ông Ngô Đức Thịnh cho hay.
Theo ông, hầu đồng thực chất là một hình thức diễn xướng dân gian dựa trên việc kết hợp âm nhạc mang tính tâm linh (lời ca trau chuốt) với những điệu múa uyển chuyển và các nghi lễ trang nghiêm; từ đó, đưa con người vào trạng thái ngây ngất.
Những người thực hành tín ngưỡng tin rằng, hình thức này có thể giúp con người giao tiếp được với các đấng thần linh. Lúc này, các thanh đồng đóng vai trò trung gian giữa con người và thần linh.
Hầu dâng và cung văn là những người trực tiếp giúp thanh đồng trong các buổi hầu đồng. Hai (hoặc bốn) người hầu dâng ngồi hai bên thanh đồng trước bàn thờ Thánh, giúp các thanh đồng việc thắp hương, dâng lễ vật, thay trang phục khi chuyển từ giá hầu này sang giá hầu khác…
Trong hầu đồng, cung văn giữ vai trò quan trọng: xướng nhạc và hát trong khi các thanh đồng trình diễn. Nhạc cụ chủ đạo của cung văn là đàn nguyệt; bên cạnh đó còn có trống bang, cảnh đồng, phách, thanh la…
Đêm 26/2/2016, đoàn đại biểu (gồm hơn 20 vị Đại sứ, trưởng đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam cùng các nhà nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng trong nước) tham dự chương trình biểu diễn chầu văn-hầu đồng tại Phủ Tiên Hương (thuộc quần thể Khu di tích Phủ Dầy, Nam Định). Trong ảnh: Chương trình biểu diễn Chầu văn tại phủ Tiên Hương thuộc Quần thể Di tích Phủ Dầy. (Ảnh: Văn Đạt/ TTXVN)
Hầu đồng lên sân khấu đương đại
Với những giá trị độc đáo về văn học, vũ đạo, âm nhạc và nghệ thuật trình diễn dân gian… hầu đồng đã trở thành nguồn cảm hứng lớn để các nghệ sỹ hiện đại khai thác, đưa lên sân khấu với những cách điệu độc đáo.
Đó là vở “Ba giá đồng” (đạo diễn: nghệ sỹ nhân dân Trần Minh, 2000), kịch hình thể “Tâm linh Việt” (đạo diễn: nghệ sỹ nhân dân Lan Hương, 2011) hay mới đây là “Tứ phủ” (đạo diễn Việt Tú) và “Ngũ biến” (đạo diễn: nghệ sỹ nhân dân Anh Tú).
Ở “Ngũ biến,” người nghệ sỹ đã hóa thân vào năm nhân vật trên cơ sở năm giá đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu. “Ngũ biến”đã gây tiếng vang lớn, giành giải thưởng “Vở diễn xuất sắc” tại Liên hoan-Diễn đàn Sân khấu Trung Quốc-ASEAN lần thứ tư diễn ra từ ngày 17-23/9 tại thành phố Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc).
Bên cạnh đó, nghệ sỹ nhân dân Lệ Ngọc (người trình diễn chính trong tiết mục “Ngũ biến”) đã được trao giải thưởng Nghệ sỹ biểu diễn xuất sắc.
“Tứ phủ” (đạo diễn Việt Tú) dẫn dắt người xem vào một chuyến du hành vào cõi tâm linh với sự kết hợp những nét đẹp của nghi lễ hầu đồng với hiệu ứng của âm thanh, ánh sáng, hình ảnh trình chiếu. Tứ Phủ gồm ba chương: “Chầu Đệ Nhị,” “Ông Hoàng Mười,” và“Cô Bé Thượng Ngàn.”
Việc đưa hầu đồng lên sân khấu giúp khán giả khám phá những vẻ đẹp, giá trị của nghi lễ này. Từ đó, tín ngưỡng thờ Mẫu hòa nhập một cách tự nhiên vào đời sống hiện đại.
Vở “Ngũ biến” (Ảnh: Nhà hát Kịch Việt Nam)
Nghệ sỹ nhân dân Lệ Ngọc trong vở “Ngũ biến” (Ảnh: Nhà hát Kịch Việt Nam)
Vở “Ngũ biến” (Ảnh: Nhà hát Kịch Việt Nam)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú (Ảnh: Viet Theatre)
Vinh danh ở tầm thế giới
Việc UNESCO ghi danh di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định những nỗ lực của các cấp, các ngành và cộng đồng trong việc bảo tồn kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Thông báo từ Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Hồ sơ đề cử di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã đáp ứng được các tiêu chí sau đây:
1/ Các thông tin trong hồ sơ đã chỉ ra rằng, di sản này đã và đang góp phần quan trọng vào việc tạo ra “sợi dây tinh thần” liên kết các cộng đồng thực hành di sản. Từ góc độ xã hội, với tính chất cởi mở của di sản, nó đã thúc đẩy sự khoan dung giữa các sắc tộc và tôn giáo.
Di sản này đã được trao truyền lại từ thế kỷ thứ 16 thông qua việc thực hành, truyền dạy của thủ nhang, đồng đền và con nhang, đệ tử… Nó tương thích với các quy định về nhân quyền quốc tế và không có giới hạn về thực hành.
2/ Các thông tin trong hồ sơ chỉ ra rằng, bộ phận cấu thành của di sản này góp phần vào khả năng thực hành di sản nói chung và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nó ở các cấp độ khác nhau.
Bên cạnh đó, các bộ phận cấu thành di sản này cũng cho thấy những điểm tương đồng văn hóa giữa các cộng đồng và các nhóm người tham gia vào việc thờ Mẫu như là biểu tượng của lòng từ bi và độ lượng.
Khi di sản này được chia sẻ bởi các nhóm dân tộc khác nhau ở Việt Nam, việc thực hành sẽ giúp tăng cường đối thoại, sáng tạo và làm giàu vốn văn hóa; thúc đẩy tôn trọng đa dạng văn hóa; trở thành một thành phần quan trọng của lễ hội – nơi mà yếu tố nghệ thuật như trang phục, vũ đạo và âm nhạc đóng vai trò quan trọng.
Việc UNESCO ghi danh di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định những nỗ lực của các cấp, các ngành và cộng đồng trong việc bảo tồn kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
3/ Từ những năm 1990, các con nhang, đệ tử và người thực hành di sản này đã tự nguyện huy động, đóng góp tiền, hỗ trợ cho việc duy trì lễ hội và trùng tu di tích thờ Mẫu.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để quản lý các lễ hội, di sản. Các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị của di sản đã được đưa ra, bao gồm: xây dựng chính sách hỗ trợ, thành lập các câu lạc bộ bảo vệ và phát huy giá trị di sản ở địa phương; phục hồi các lễ hội truyền thống; tổ chức nghiên cứu khoa học, xuất bản tài liệu hướng dẫn; tổ chức triển lãm, trưng bày, trình diễn di sản tại bảo tàng; thiết kế các chương trình giảng dạy chính thức; tôn vinh, công nhận danh hiệu cho các nghệ nhân và thủ nhang, đồng đền tiêu biểu.
Các hoạt động đó phản ánh cam kết của nhà nước, cộng đồng và các nhóm nhằm bảo vệ di sản. Mục tiêu tổng thể là để đảm bảo tính khả thi trong việc thực hành di sản, tránh việc thương mại hóa các nghi lễ.
4/ Đề cử này là kết quả của việc tham vấn và hợp tác của những người thực hành (thủ nhang, đồng đền, ông đồng, bà đồng, cung văn, con nhang, đệ tử,…), đại diện cộng đồng, nhà nghiên cứu, cùng với nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ.
Các tài liệu kèm theo hồ sơ cho thấy họ đã nhận được sự đồng thuận của cộng đồng cho việc đề cử di sản. Thông tin của Hồ sơ đã chứng minh rằng các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản đã được thực hiện luôn tôn trọng phong tục tập quán, quyền tham gia thực hành di sản.
5/ Thông tin hồ sơ cũng đã cung cấp một phụ lục chứng minh di sản đã được đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2013.
Hoạt động kiểm kê đã được Cục Di sản Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp tổ chức thực hiện với Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam; kết quả kiểm kê đều được cập nhật hàng năm. Việc kiểm kê đã được thực hiện với sự tham gia của cộng đồng địa phương, trưởng thôn, thủ nhang, đồng đền, ông đồng, bà đồng, con nhang, đệ tử…
Nghệ sỹ trình diễn vở Tứ phủ (đạo diễn Việt Tú) – vở diễn lấy cảm hứng từ nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)