Chương tiếp theo trong hành trình của Snapchat bắt đầu khi công ty mẹ Snap Inc. mở đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) giúp định giá công ty lên đến hơn 33 tỷ USD. Tuy nhiên, thành công vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn: công ty Snap có trụ sở tại Venice Beach, California, đã đưa ra lời cảnh báo trong các tài liệu gửi nhà đầu tư rằng công ty có thể mất người dùng vào tay các đối thủ “có nguồn lực lớn hơn và sự thừa nhận toàn cầu rộng rãi hơn” – mô tả ngắn gọn về ứng dụng Instagram của Facebook. Tốc độ tăng trưởng từng một thời nhanh như diều gặp gió của Snapchat đang có dấu hiệu chậm lại, với chỉ 8 triệu người dùng mới trong vòng 6 tháng qua.
Nhưng bất kể Snapchat có tồn tại được trong một thị trường cạnh tranh trong những năm tới hay không, thì những đóng góp của ứng dụng này – cùng với những thành tựu của các đối thủ như Instagram và Apple – với nhiếp ảnh và truyền thông thị giác là chưa hề có tiền lệ.
Snap đã nói về điều này trong các tài liệu IPO của mình như sau: “Cũng như cách mà con trỏ nhấp nháy trở thành điểm khởi đầu của hầu hết các sản phẩm trên máy tính để bàn, chúng tôi tin rằng màn hình máy ảnh sẽ là điểm khởi đầu cho hầu hết các sản phẩm trên điện thoại thông minh.”
Cách tiếp cận này đã thay đổi cách chúng ta giao tiếp bằng hình ảnh. Nó đã bắt đầu với các nhà sản xuất điện thoại như Apple, gã khổng lồ công nghệ đã chọn thúc đẩy xu hướng bằng cách đầu tư mạnh vào việc đơn giản hóa trải nghiệm chụp ảnh để đáp lại các nhà sản xuất máy ảnh truyền thống.
“Chúng tôi muốn chỉ cần một cú chạm nhẹ là bạn có thể chụp được bức ảnh mình muốn, dù thực tế ở đằng sau là chúng tôi phải làm hàng tỷ công việc để bức ảnh đó trông đẹp hết mức có thể,” Greg Joswiak, phó chủ tịch tiếp thị sản phẩm của Apple chia sẻ.
Greg Joswiak, phó chủ tịch phụ trách tiếp thị iPod, iPhone và iOS của Apple Inc., giới thiệu về dòng điện thoại thông minh iPhone SE tại một sự kiện của Apple ở Cupertino, Calif., vào ngày 21/3/2016. (Ảnh: David Paul Morris—Bloomberg/Getty Images)
Sự đơn giản của ứng dụng chụp ảnh trên iPhone là yếu tố làm thay đổi cuộc chơi tại thời điểm mà việc trở thành một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp thường có nghĩa là phải am hiểu về những yếu tố phức tạp như độ nhạy sáng, khẩu độ mở và tốc độ chụp, chưa kể đến hàng tá chức năng khác trên các máy ảnh truyền thống.
Bằng cách đơn giản hóa trải nghiệm chụp ảnh và đưa máy ảnh vào một thiết bị mà tất cả chúng ta đều mang theo, các công ty như Apple và Samsung đã giúp biến hình ảnh thành một hình thức giao tiếp chính ngày nay.
“Tôi đã lớn lên cùng công nghệ,” Robby Stein, trưởng phụ trách của Stories, một sản phẩm tương tự Snapchat chia sẻ. “Thứ đầu tiên mà chúng tôi có là máy tính để bàn, và chúng tôi lên Instant Messenger, gửi email cho nhau. Cách bạn đã giao tiếp từng phụ thuộc rất nhiều vào bàn phím và văn bản.”
Nhưng thế hệ ngày nay đang lớn lên với một chiếc máy tính chỉ nhỏ bằng chiếc điện thoại trong túi áo. “Thiết bị đầu tiên mà họ có là chiếc máy ảnh và họ có nó trong túi áo cả ngày để chụp lại và chia sẻ cuộc sống của mình.”
Kết quả là, cách tiếp cận lấy camera làm ưu tiên hàng đầu đang thay đổi chức năng của chính những bức ảnh. Theo Stein, đây không chỉ là ghi chép lịch sử của một sự kiện trong quá khứ, mà còn là điểm khởi đầu của sự giao tiếp. “Không chỉ bản thân bức ảnh, mà bối cảnh quanh nó cũng rất thú vị,” ông chia sẻ với tờ TIME. “Người bạn đi cùng. Thời tiết như thế nào. Bạn cảm thấy ra sao.”
Với Snapchat, camera là điểm khởi đầu cho những trải nghiệm tương tác, như giám đốc điều hành Evan Spiegel đã giải thích trong một đoạn video cho các nhà đầu tư tiềm năng trước đợt IPO của công ty. Miễn là bối cảnh vẫn là trọng tâm trong trải nghiệm mà Snapchat mang lại.
Snapchat là ứng dụng chính thống đầu tiên phổ biến định dạng mới này cho việc chụp ảnh. Người dùng có thể gắn thẻ địa điểm, biểu tượng cảm xúc và bộ lọc, cũng như các thông tin bối cảnh khác như nhiệt độ, thời gian và tốc độ cho ảnh và video. Các ứng dụng đối thủ kể từ đó cũng bắt chước các tính năng này.
Quan trọng nhất, Snapchat cho biết đã gỡ bỏ sự “rườm rà” của việc chụp ảnh bằng cách chỉ để hình ảnh tồn tại trong một thời gian ngắn. “Tất cả mọi người nghĩ rằng máy ảnh là thứ giúp lưu giữ những kỷ niệm vô cùng quan trọng,” Spielgel nói với các nhà đầu tư trong video. “Vì thế khi chúng tôi tạo ra Snapchat, nơi mọi thứ mặc định bị xóa đi, chúng tôi phải giải thích rằng Snapchat được dùng để giao tiếp, để nói chuyện với nhau. Chúng tôi nhận ra rằng những cuộc chuyện trò trở nên thoải mái hơn, gần gũi hơn và tự nhiên hơn khi chúng bị xóa đi một cách mặc định. Thể hiện bản thân không phải là một cuộc thi. Đó không phải là chuyện bạn thể hiện bản thân tốt như thế nào, mà là có khả năng truyền đạt cảm xúc của mình ngay lúc đó.”
“Thể hiện bản thân không phải là một cuộc thi. Đó không phải là chuyện bạn thể hiện bản thân tốt như thế nào, mà là có khả năng truyền đạt cảm xúc của mình ngay lúc đó.”
Snapchat đã cực kỳ thành công nhờ cách tiếp cận mới với giao tiếp này – thu hút 150 triệu người dùng hàng ngày chỉ trong 5 năm – đến nỗi Instagram đã phải bắt chước ứng dụng này và tạo ra một tính năng tương tự gọi là Stories hồi tháng 11 năm ngoái. “Đó là bước chuyển dịch lớn nhất chúng tôi từng chứng kiến, và chúng tôi đang xây dựng những sản phẩm tạo điều kiện cho truyền thông thị giác,” Stein chia sẻ.
Nhưng điều đó không có nghĩa là Instagram sẽ xóa bỏ quá khứ là địa điểm cho những bức ảnh lưu giữ ký ức. “Với chúng tôi, có một sự khen ngợi tự nhiên giữa chia sẻ thật nhiều những sự kiện quan trọng trong đời bạn và chia sẻ thật nhiều về cuộc đời bạn trong một khoảnh khắc, khi nó đang diễn ra, cũng là điều mà Stories đã mang lại,” Stein nói thêm.
Snapchat và Instagram đã đúng ở một điểm, đó là chiếc máy ảnh tốt nhất không phải là cái mà bạn có, mà là cái phù hợp với cộng đồng của bạn. “Rất nhiều lần, bạn chụp ảnh hay quay video với mục đích rõ ràng là để chia sẻ,” Stein nói. “Vì thế, chiếc máy ảnh tốt nhất là thứ có thể kết nối với bạn bè của bạn, cho phép bạn tạo ra và thể hiện bản thân và cho phép bạn làm thế một cách thật dễ dàng và nhanh chóng. Đó là lý do chúng tôi nhìn ra tầm quan trọng của việc kết hợp tất cả các cấu trúc đó với nhau.”
Không có dấu hiệu nào cho thấy xu hướng “camera kết nối” sẽ dừng lại. Với việc điện thoại thông minh tiếp tục được cải tiến để vượt khỏi những giới hạn về phần cứng và qua những cập nhật phần mềm và giao diện lập trình ứng dụng mới (“Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm không chỉ những cải tiến cho phần mềm camera và hình ảnh của riêng mình, mà còn chắc chắn là chúng tôi đang cung cấp các giao diện lập trình ứng dụng mạnh mẽ cho các bên thứ ba của mình,” Joswiak của Apple chia sẻ), các công ty như Snapchat và Instagram sẽ tiếp tục viết lại định nghĩa của nhiếp ảnh./.
Quảng cáo báo in sa sút! Điều này ai cũng biết rồi. Quảng cáo truyền hình giờ chỉ nhỉnh hơn quảng cáo digital một chút và e rằng chẳng mấy chốc mà bị tụt lại phía sau. Điều này nhiều người cũng dự đoán được từ cả năm trước. Và nhiều cơ quan báo chí hy vọng bù đắp được khoản doanh thu báo in ngày càng teo tóp bằng quảng cáo trên báo điện tử cũng như các ứng dụng tin tức cho điện thoại di động. Hy vọng này dù ở những báo chí nước ngoài hay báo chí Việt Nam cũng đều giống nhau. Trong những ngày cuối tháng 2/2017, không dưới 3 tổng biên tập báo in trao đổi với chúng tôi về kế hoạch mở báo điện tử với mục tiêu là phải nhanh chóng tăng doanh thu quảng cáo.
Được vậy thì thật tuyệt vời. Có điều hầu hết các nhà xuất bản báo in khi chuyển sang mô hình báo điện tử và trông cậy vào quảng cáo online đều thất bại. Tại các hội nghị báo chí quốc tế, quả thực có một số tập đoàn truyền thông đã công bố rằng doanh thu digital của họ vượt 50% tổng doanh thu – con số quá ngoạn mục nếu nhìn vào mức trung bình của ngành chỉ là 5%, một số báo khả quan hơn thì đạt 10%.
Về logic, các nhà quảng cáo đang chuyển dần chi phí quảng cáo sang digital nên hy vọng kể trên cũng là có cơ sở. Có điều, thực tế lại không đúng như kỳ vọng. Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Báo chí Reuters hồi tháng 1/2017 vừa qua, Google và Facebook chiếm tới 99% mức tăng trưởng doanh thu quảng cáo digital ở Mỹ. Doanh thu trong quý 3/2016 của Google đạt 9,5 tỷ USD, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2015, còn Facebook cũng đạt mức tăng trưởng 45% với 3,4 tỷ USD. Tổng doanh thu của tất cả các công ty còn lại chỉ là 4,7 tỷ USD với mức tăng trưởng vỏn vẹn… 1%. Ai cũng nghĩ rằng chiếc bánh phình to thì thế nào mình cũng có phần. Nhưng không phải vậy.
Sự phát triển của công nghệ, sự chi phối của các nền tảng trong quá trình phân phối nội dung, cũng như hành vi của người dùng, sẽ còn tạo ra nhiều thay đổi nữa, và nó đánh thẳng vào nồi cơm của báo chí.
Có một so sánh thế này: Nếu quảng cáo trên báo in vô cùng đẹp đẽ tràn kín cả trang khổ lớn thì lên tới báo điện tử chỉ còn bằng một phần nhỏ của màn hình – với các kiểu banner từ ngang đến dọc – và lên tới điện thoại di động thì còn nhỏ tẹo. Về cơ bản, doanh thu quảng cáo cũng giảm tỷ lệ thuận với kích cỡ quảng cáo vậy.
Nhưng điều tồi tệ nhất còn chưa xảy ra. Sự phát triển của công nghệ, sự chi phối của các nền tảng trong quá trình phân phối nội dung, cũng như hành vi của người dùng, sẽ còn tạo ra nhiều thay đổi nữa, và nó đánh thẳng vào nồi cơm của báo chí.
Tháng 12/2016, Phó Tổng Biên tập đồng thời là người đứng đầu bộ phận chiến lược của tờ Economist, ông Tom Standage đưa ra một dự đoán làm choáng váng nhiều nhà xuất bản tin tức. Ông này nói quảng cáo hiển thị (display ads) sẽ biến mất vào năm 2025 và các nhà xuất bản nên vĩnh biệt quảng cáo đi là vừa.
“Chúng tôi rất tiếc khi chứng kiến nó (doanh thu từ quảng cáo) ra đi – quảng cáo trên báo in trong quá khứ có biên độ lợi nhuận rất lớn, và những trang in thêm gần như mang lại lợi nhuận ròng cho các nhà xuất bản. Nhưng những ngày đó sẽ không bao giờ trở lại,” Tom Standage khẳng định và cho biết thêm rằng hiện trên 65% doanh thu của Economist đến từ phát hành. Ông nói tỷ lệ này sẽ còn tăng lên.
Trở lại những ngày huy hoàng của báo chí truyền thống, các nhà quảng cáo và các nhà xuất bản tin tức là những người bạn tốt nhất của nhau. Các tập đoàn sản xuất nhật báo và tạp chí hoàn toàn độc quyền việc phân phối thông tin, vì thế họ thu hút được sự chú ý của đông đảo độc giả, còn các nhà quảng cáo thì hưởng lợi từ sự độc quyền đó, và đổi lại họ gánh vác những khoản chi phí để sản xuất toàn bộ nội dung.
Tiếc thay, Internet đã thay đổi tất cả, và giờ đây mối quan hệ giữa nhà quảng cáo với cơ quan báo chí không còn được như xưa.
Không còn độc quyền
Báo chí từng được gọi là cơ quan quyền lực thứ tư. Xưa kia muốn biết chuyện gì thì đa số đều phải trông mong vào báo chí. Báo chí có khả năng tiếp cận những nguồn thông tin quý giá, báo chí có thể vạch trần những câu chuyện động trời. Thậm chí tổng biên tập của một tờ báo thời trang quyền lực tới mức một đánh giá của người này có thể chi phối cả các nhà thiết kế, góp phần định hình xu thế năm tiếp theo. Cái uy của các tờ báo chính trị xã hội thì khỏi cần phải kể đến. Báo chí độc quyền tin tức, độc quyền xuất bản, và độc quyền về mối quan hệ với độc giả, khán thính giả. Chính quyền, cơ quan chức năng hay các nhà quảng cáo cũng đều cần báo chí.
Theo tác giả Rasmus Kleis Nielsen trong bài viết trên trang Niemanlab, kể từ khi những tờ báo in hàng loạt nổi lên ở Mỹ vào những năm 1830, quảng cáo đã là một nguồn tài trợ chủ chốt cho báo chí. Thực tế, các nhà quảng cáo chẳng có hứng thú gì với tin tức; họ chỉ có hứng thú với độc giả mà thôi.
Những tờ báo in giá rẻ dành cho dân chúng có thể mang độc giả tới với quy mô không gì sánh được, giống như phát thanh và truyền hình sau này mang tới các nhóm khán thính giả khổng lồ mà các nhà quảng cáo hầu như không còn cách nào khác để tiếp cận. Đó là lý do vì sao các nhà quảng cáo luôn tìm đến báo chí. Điều này có nghĩa là độc giả không phải trả toàn bộ chi phí cho nội dung mà họ tiêu thụ – các nhà quảng cáo đã chi trả một phần lớn, tài trợ cho các tờ báo giá rẻ và phát sóng miễn phí. Đôi khi, độc giả còn ưa thích quảng cáo.
Nhưng tất cả những diễn biến trong thời gian qua đã kéo sập vị thế độc quyền hoặc gần như độc quyền mà các nhà xuất bản tin tức truyền thống từng có được đối với việc phát hành nội dung và thu hút sự chú ý. Những thông tin nóng nhất nhiều khi không đến từ báo chí mà từ mạng xã hội. Một blogger về thời trang có khi quy tụ được số người theo dõi nhiều gấp hàng chục lần số lượng phát hành của một tờ tạp chí. Chính quyền và doanh nghiệp nhiều lúc cũng chẳng cần đến báo chí, họ có kênh truyền thông riêng của mình, và có nhiều kênh khác nữa.
Tất cả những diễn biến trong thời gian qua đã kéo sập vị thế độc quyền hoặc gần như độc quyền mà các nhà xuất bản tin tức truyền thống từng có được đối với việc phát hành nội dung và thu hút sự chú ý
Các nhà quảng cáo hiện có quá nhiều phương tiện hấp dẫn để tiếp cận người dùng. Họ có thể mua quảng cáo trên Facebook và nhắm trúng người dùng ở cấp độ mà các cơ quan báo chí không thể làm được, rồi họ có thể mua các tweet có tài trợ của Twitter, quảng cáo trên Snapchat. Họ cũng có thể trực tiếp tiếp cận độc giả và tạo ra những tạp chí hoặc trang tin tức của riêng mình.
Nhưng như thế vẫn chưa phải là điều tệ nhất. Đó mới chỉ là cấp độ 1 của điều mà Mathew Ingram từng gọi trên tạp chí Fortune là “một cuộc tắm máu nhiều cấp độ đối với các hãng truyền thông.”
Ngoài việc mất quyền kiểm soát, bản thân quảng cáo cũng đã biến đổi cùng sự phát triển của nhiều công nghệ mới, mà quan trọng nhất là kiểu quảng cáo có tên gọi “programmatic advertising” (quảng cáo lập trình). Nói một cách đơn giản thì đây là kiểu đẩy quảng cáo sử dụng thuật toán. Các phần mềm tìm hiểu xem người dùng xem nội dung gì, nhấp chuột vào cái gì, chọn quảng cáo từ nhiều mạng lưới khác nhau và tự động đưa lên. Gần như không cần con người tham gia, chỉ dữ liệu mà thôi.
Từ quan điểm cùa nhà xuất bản tin tức, điều này dẫn đến vô vàn vấn đề. Tình trạng bùng nổ cung – với một số lượng vô hạn các trang web, thay vì con số hữu hạn và được kiểm soát chặt chẽ của các tờ báo và tạp chí – và việc sử dụng phần mềm thay vì nhân viên kinh doanh với mức lương đắt đỏ, quảng cáo digital tạo ra số đơn hàng vô cùng lớn nhưng doanh thu lại thấp hơn trước đây. Đó là chưa nói đến chuyện quảng cáo giả mạo.
Đây cũng là thảm họa đối với độc giả và người dùng Internet. Sự kết hợp giữa khát vọng tạo doanh thu lớn hơn của các nhà xuất bản tin tức và sự gia tăng của quảng cáo programmatic cũng như các công cụ khác đã khiến cho Internet ngập đầy những quảng cáo banner vô dụng và gây bực mình, rồi các loại quảng cáo dạng pop-up, pop-under, quảng cáo tràn trang, những loại video chạy tự động mà không thể nào tắt nổi, hay những thứ kinh khủng tương tự, chẳng hạn như việc sử dụng các phần mềm theo dõi, cookies, super-cookies hoặc các công cụ “tàn bạo” khác.
Một cuộc chạy đua vũ trang mới
Nhiều người dùng đã phản ứng với tình trạng này bằng cách hoàn toàn bỏ qua quảng cáo – tỷ lệ nhấp chuột vào các quảng cáo banner thấp tới mức dùng kính hiển vi cũng không soi được (tỷ lệ trung bình là 0,1%). Bên cạnh đó, ngày càng nhiều người sử dụng các phần mềm chặn quảng cáo, thế là bao nhiêu quảng cáo bay sạch.
Theo PageFair, công ty chuyên cung cấp dịch vụ chống chặn quảng cáo cho các hãng tin, số lượng thiết bị sử dụng một ứng chụng chặn quảng cáo đã tăng 30% trong năm 2016, và đa phần sự tăng trưởng này tập trung ở châu Á-Thái Bình Dương, với 16% người dùng trực tuyến hiện cài ứng dụng chặn quảng cáo.
Theo báo cáo của PageFair vừa công bố ngày 1/2/2017, trên toàn thế giới có 615 triệu thiết bị sử dụng phần mềm chặn quảng cáo. Mức độ sử dụng phần mềm chặn quảng cáo trên máy tính để bàn tăng 34 triệu lên 236 triệu thiết bị. Sự trỗi dậy của chặn quảng cáo toàn cầu tương ứng với sự trỗi dậy của ứng dụng chặn quảng cáo trên điện thoại di động. 60% hoạt động chặn quảng cáo (tương ứng 308 triệu thiết bị, tăng thêm 108 triệu thiết bị so với 12 tháng trước đó) hiện diễn ra trên điện thoại di động. Các chuyên gia dự đoán rằng ứng dụng chặn quảng cáo trên điện thoại di dộng sẽ tiếp tục chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động chặn quảng cáo nói chung.
Mức độ thích/không thích của độc giả đối với từng loại format quảng cáo
Theo một báo cáo trước đó của Cơ quan Quảng cáo Tương tác (IAB), hơn 1/4 người dùng máy tính và 15% người dùng thiết bị di động sử dụng một dạng phần mềm chặn nào đó nhằm loại bỏ quảng cáo khỏi trang web của các nhà xuất bản tin tức. Digiday dự đoán rằng tới năm 2020 các phần mềm chặn quảng cáo sẽ khiến các cơ quan báo chí mất tới 35 tỷ USD doanh thu.
Ngoài ra, hiện tượng bỏ qua banner quảng cáo và sự thất vọng của người tiêu dùng đối với các nội dung không liên quan hoặc câu khách đã khiến một vài cơ quan báo chí phải xem xét lại toàn bộ các chiến lược quảng cáo của họ. Bất chấp những tiến bộ trong quảng cáo có chọn lọc và nguồn cầu vẫn đang dồi dào đối với quảng cáo hiển thị, một vài tên tuổi lớn, bao gồm New York Times, đang dần rời xa các dạng thức marketing digital truyền thống.
Điều đáng chú ý là hầu hết những người biết về ứng dụng chặn quảng cáo đều sử dụng chúng. Và nhận thức về kỹ thuật này có xu hướng phổ biến hơn ở những người trẻ tuổi. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là việc chặn quảng cáo tập trung nhiều hơn ở giới trẻ.
Các báo cáo của PageFair và Trendera đều phát hiện ra rằng hoạt động chặn quảng cáo được thực hiện khá đồng đều giữa hai nhóm giới tính và tuổi tác. Nhà phân tích Susan Bidel của Forrester đã viết: “Nếu bạn nghĩ người dùng ứng dụng chặn quảng cáo là những game thủ thiếu niên mê máy tính, bạn đã nhầm.”
Thực tế này dẫn đến một kiểu “chạy đua vũ trang,” trong đó các nhà lập trình phần mềm chặn quảng cáo thì phát triển ra đủ loại biện pháp theo dõi và tiêu diệt quảng cáo, còn các nhà xuất bản tin tức thì miệt mài thuê các công ty tìm ra thủ thuật né tránh các công cụ này. Tuy nhiên, nhiều phương pháp quảng cáo mà các nhà xuất bản tin tức đang áp dụng không hề có hiệu quả trên các thiết bị di động do kích thước màn hình và hành vi của người dùng cũng khác khi sử dụng điện thoại thông minh.
Nhưng tình hình được dự đoán là sẽ còn tệ hơn: Apple mới đây cho biết phiên bản mới của trình duyệt Safari sẽ được tích hợp sẵn phần chặn quảng cáo, nhờ đó người dùng các dễ ttránh các quảng cáo. Đương nhiên là trừ những quảng cáo mà Apple chủ động đưa vào ứng dụng đọc tin News mà họ sắp tung ra.
Tỷ lệ sử dụng phần mềm chặn quảng cáo tính theo đầu người ở mỗi quốc gia (Nguồn: PageFair)
Quyền lực mạnh hơn cho Facebook, Google, Apple
Các cơ quan báo chí, vốn đã bị suy yếu vì mất độc giả và doanh thu, nhận thấy tỷ lệ truy cập website tăng lên từ các nền tảng digital như Facebook, Google, Snapchat, Instagram, Apple News, và các ứng dụng trung gian khác. Họ nghĩ ít ra đây cũng là cái lợi, ít nhất là nhìn vào tấm gương của một số trường hợp thành công. Nhưng bức tranh không phải lúc nào cũng màu hồng.
Xét về vấn đề kinh doanh, điểm mấu chốt của tình trạng vô cùng thê thảm hiện nay là quảng cáo trên website và mobile hầu như không cải thiện được sức khỏe tài chính của các nhà xuất bản tin tức và các nhà sáng tạo nội dung, trong khi đó nó lại trao thêm sức mạnh cho các nền tảng và những kẻ trung gian như Apple và Facebook.
Một lý do quan trọng khiến lời chào mời về Instant Articles của Facebook hấp dẫn các hãng truyền thông là vì cả ứng dụng mobile của họ lẫn trải nghiệm lướt mobile web của họ không chỉ kinh khủng với người dùng mà còn chẳng mang lại tiền bạc.
Từ quan điểm đó, nếu Facebook có thể giúp trang mobile của một đối tác báo chí có tốc độ tải nhanh hơn và mang lại một khoản lớn từ nguồn thu quảng cáo mà nó tạo ra – khoản tiền chắc chắn lớn hơn nguồn thu quảng cáo mà hầu hết các cơ quan báo chí có thể tự tạo ra trên website của họ, vì quảng cáo của Facebook hiệu quả hơn – thế thì có gì mà phải lăn tăn?
Tất nhiên, điều băn khoản là Facebook, Google và Apple rốt cục sẽ kiểm soát toàn bộ luồng nội dung một cách rất hiện hữu, giống như họ vận hành những cái cần gạt quyết định ai được xem nội dung nào, và ai nhìn thấy quảng cáo nào. Vì vậy những gã khổng lồ công nghệ này không chỉ chi phối (và ngày càng lớn mạnh) đến mức thu hút người dùng Internet lên đó tìm kiếm và chia sẻ thông tin cùng những nội dung khác, mà họ còn nắm quyền lực to lớn tới mức có thể cho phép quảng cáo nào tiếp cận những người dùng đó. Vậy thì còn “cửa kiếm tiền” nào cho các cơ quan báo chí truyền thống?
Con đường nào cho báo chí?
Một số startup về xuất bản digital cũng xoay xở được để có nguồn thu quảng cáo digital – ví dụ Gawker cũng kéo dài được một thời gian – nhưng không phải đơn giản. Khi Verizon mua xong AOL thì mọi người mới biết là Huffington Post chẳng hề có lãi, và trang tin tức này thậm chí không phải trả tiền cho rất nhiều nội dung trên đó.
Tình hình còn nghiêm trọng hơn đối với những nhà xuất bản báo in quy mô lớn (ví dụ như Guardian) khi chuyển sang mô hình dựa vào quảng cáo, bởi di sản báo in khiến họ có chi phí sản xuất lớn hơn nhiều: tòa soạn lớn hơn, chi phí lương hưu, tài sản cố định lớn, v,v…
Hiện tại mô hình này không hiệu quả, và cơ hội trong tương lai dường như sẽ còn nhỏ bé hơn, vì việc chặn quảng cáo đang ngày càng trở nên phổ biến và việc chuyển sang tiêu thụ nội dung trên mobile đã đẩy giá quảng cáo xuống thấp hơn.
Các nhà xuất bản tin tức vẫn đang trông ngóng một loại hình quảng cáo sẽ được phát minh ra một ngày nào đó và giúp họ trang trải các hóa đơn: nhân viên của Guardian đã tranh luận suốt nhiều năm rằng thời kỳ của web vẫn còn sơ khai và rốt cục điều gì đó sẽ xảy ra.
Đa số khoản tiền chi quảng cáo online ở phương Tây giờ đây rơi hết vào túi của Google và Facebook chứ không phải là các cơ quan báo chí.
Cũng có thể, nhưng khả năng này là vô cùng thấp. Quảng cáo video, quảng cáo dạng “native advertising” hoặc những hình thức quảng cáo khác chỉ mang lại những nguồn doanh thu cực nhỏ cho các nhà xuất bản tin tức. Như đã nói, đa số khoản tiền chi quảng cáo online ở phương Tây giờ đây rơi hết vào túi của Google và Facebook chứ không phải là các cơ quan báo chí.
Điều đó có nghĩa là các nhà xuất bản sẽ phải tìm kiếm các nguồn doanh thu khác. Hội thảo ư? Du lịch ư? Dịch vụ tài chính ư? Những mạnh thương quân thiện nguyện chăng? Hay là các câu lạc bộ ăn kiêng? Tất cả những phương án này đều đã được thử nghiệm, nhưng kết quả một lần nữa cũng rất nhỏ nhoi.
Câu trả lời rõ ràng là đề nghị độc giả đóng góp, giống như báo chí từng làm trong quá khứ. Độc giả bỏ tiền mua báo in được, dù khoản tiền khá nhỏ so với chi phí sản xuất, thì tại sao lại không thể mua bản digital nhỉ. Điều đó có nghĩa là phải dựng lên một kiểu tường thu phí (paywall) nào đó, vì yêu cầu mọi người đóng góp tài chính một cách tự nguyện cho thứ mà họ có thể kiếm được miễn phí thì chắc chắn không hiệu quả. Như vậy thì phải có những nội dung mà người ta không thể tìm thấy ở nơi khác. Nội dung đó là như thế nào?
Không có đáp án duy nhất. Đó có thể là phân tích tình hình thời sự, là các bài bình luận, là thông tin thể thao địa phương, thông tin về kinh doanh giúp mang lại lợi thế cho giới doanh nghiệp. Đã có có những nhà xuất bản tin tức tạo sự khác biệt theo lối này. Khi độc giả thấy nội dung họ được cung cấp quá giá trị và không thể thiếu thì họ sẽ trả tiền.
Nhiều nhà xuất bản (như Economist và New York Times) vận hành cái gọi là “metered paywall” – nghĩa là đọc giả được độc một số lượng bài nhất định miễn phí mỗi tuần, nhưng nhiều hơn số đó thì phải thanh toán. Hình thức này cũng giúp các nhà xuất bản tin tức tranh thủ được lợi thế của truyền thông xã hội để quảng bá tin bài của họ đến với những độc giả mới mà kiểu paywall đóng hoàn toàn không làm được. (Đó là lý do New York Times gần đây nới lỏng paywall của họ một chút)
Một hình thức tài trợ khác mà nhiều startup về tin digital khác đang áp dụng là huy động đầu tư từ những người ủng hộ bên ngoài. Họ đặt cược rằng các startup này (ví như Vox) thế nào cũng tìm ra cách kiếm tiền. Tất nhiên kiểu đặt cược này khá rủi ro, nhưng chúng ta đã được chứng kiến một số dấu hiệu thay đổi. Một khả năng cao là các hãng viễn thông và các công ty truyền hình cáp lớn sẽ mua lại những công ty này với giá nào đó, rồi lấy tiền thuê băng thông rộng và truyền hình cáp để bù cho hoạt động.
Chẳng hạn Verizon đã mua AOL để thúc đẩy lĩnh vực kinh doanh quảng cáo-công nghệ (họ mơ sẽ trở thành số 3 về quảng cáo online ở Mỹ, sau Google và Facebook); họ và những công ty khác có thể cũng sẽ mua các công ty xuất bản nội dung digital có khả năng cung cấp nội dung để lấp đầy các kênh digital của họ, và được người dùng thuê bao tiếp tục trả phí.
Câu hỏi lớn giờ đây là làm thế nào để tài trợ cho một cơ quan báo chí trong kỷ nguyên mà doanh thu quảng cáo đang chạy khỏi các nhà xuất bản tin tức về hướng Google và Facebook. Đó là thách thức lớn nhất mà các cơ quan báo chí đang vấp phải. Thách thức lớn thứ hai là giải quyết mối quan hệ với các nền tảng công nghệ lớn này. Họ là bạn hay là thù?
Câu trả lời ngắn gọn là họ không phải kẻ thù của bạn, nhưng cũng chẳng có nghĩa vụ trở thành thành bạn. Họ chỉ nói có một thỏa thuận làm ăn tuyệt vời với các nhà xuất bản tin tức.
Google mang lại không ít lượng truy cập cho các báo. Tỷ lệ truy cập đến từ máy tìm kiếm không phải là ít, và cần thừa nhận rằng điều đó đã góp phần đưa những sản phẩm báo chí chất lượng cao đến với người dùng Internet. Các nhà xuất bản tin tức ở Châu Âu như Tây Ban Nha và Đức từng yêu cầu Google ngừng kết nối với họ đã nhanh chóng nhận ra đây là một sai lầm thì lượng truy cập sụt giảm.
Và mặc dù Facebook cùng Google bỏ túi phần lớn doanh thu quảng cáo digital, quan điểm rằng lẽ ra báo chí đã được hưởng khoản doanh thu này nếu hai ông lớn kia không tồn tại xem ra không thỏa đáng. Khoản doanh thu đó đơn giản sẽ chạy sang các nền tảng khác vì những quảng cáo mà các nhà xuất bản tin tức mang ra bán nói chung không còn là thứ mà các nhà quảng cáo muốn mua.
Facebook có thể là một nguồn quan trọng mang lại số lượng truy cập cao cho các trang báo. Nhưng liệu họ có một mô hình tạo doanh thu mới không?
Instant Articles của Facebook
Các tính năng của Instant Articles khích lệ các nhà xuất bản tin tức đăng tải nội dung trực tiếp lên máy chủ của Facebook, nhờ đó các bài viết sẽ xuất hiện ngay lập tức khi người sử dụng chạm vào. Việc này giúp các nhà xuất bản có thể tiếp cận một số lượng lớn người dùng, nhưng cái giá phải trả là họ sẽ mất quyền kiểm soát đối với việc phát hành.
Các cơ quan báo chí cũng có thể bán quảng cáo bên trong Instant Articles. Liệu đây có phải là mô hình kiếm tiền khả thi không? Nhiều khả năng là không, nhưng nếu có thì Facebook có thể thay đổi các điều khoản và thuật toán bất kỳ lúc nào. Facebook hoàn toàn không có trách nhiệm cung cấp một mô hình kinh doanh mới cho các cơ quan báo chí. Nếu các báo không thích các điều khoản này thì không dùng nền tảng đó, thế thôi.
Một số báo như Economist hay New York Times sử dụng Facebook như một phần của chiến lược “chào mời” độc giả, chỉ đăng một số bài lên Instant Articles mỗi tuần, và đăng link của các nội dung khác để hướng về website và tại đó độc giả sẽ được mời đăng ký trả phí. Theo Phó Tổng Biên tập Tom Standage của Economist, Facebook là công cụ tuyệt vời để tiếp cận độc giả mới: 60% người Mỹ chưa từng nghe tới tờ Economist, và Facebook là cách để vươn tới đối tượng này.
Một điều chắc chắn là quảng cáo hiển thị sẽ chỉ còn là một phần rất nhỏ.
Tương tự, Economist cũng sử dụng Twitter, LinkedIn và Snapchat Discover để đưa nội dung đến với độc giả. Tờ báo không hy vọng các độc giả sẽ trở thành người trả phí ngay lập tức, và hầu hết cũng không bao giờ đăng ký dài hạn. Nhưng ít nhất trong khi tìm kiếm các độc giả mới và tăng cường số lượng phát hành, đây chính là bước đi đầu tiên để giới thiệu bản thân, và các nền tảng truyền thông xã hội là cách thức hữu hiệu để đạt được điều đó. Còn nếu biện pháp này không thành công thì dừng sử dụng.
Câu hỏi cuối cùng là liệu tất cả các nền tảng tin tức – từ phát thanh truyền hình tới báo in và báo điện tử – có hội tụ và bắt đầu đuổi theo cùng các nguồn doanh thu như nhau hay không. Thực tế điều này đang xảy nhưng có rất nhiều mô hình kinh doanh và nhiều nguồn thu và vẫn có sự phân tách.
Ví dụ Buzzfeed có nguồn thu từ native advertising, nên nội dung được xem trên nền tảng nào cũng không quan trọng. Trong khi đó đa phần doanh thu của Vice đến từ thu phí sản xuất chương trình truyền hình. Nhiều hãng khác như Financial Times, New York Times, Economist hay Wall Street Journal thì tập trung vào nguồn thu từ độc giả, còn quảng cáo và các hoạt động khác chỉ là lợi nhuận thêm. Một số cơ quan báo chí thì lại có nguồn thu từ các mạnh thường quân theo kiểu quyên góp tài chính hỗ trợ.
Có một điều chắc chắn là quảng cáo hiển thị (display ads) sẽ chỉ còn là một phần rất nhỏ. Nhưng báo chí sẽ kiếm tiền bằng cách nào thì cho đến giờ này không có câu trả lời nào được coi là duy nhất./.
Từ khi còn là Hoàng Thái tử đến khi trở thành Vua, Nhật Hoàng Akihito đã mang đến cho Hoàng gia một nguồn năng lượng tươi mới, ngoài việc tuân thủ trung thành truyền thống Hoàng gia còn mở ra nhiều lĩnh vực hoạt động mới phù hợp với thời kỳ hiện đại và ngày càng trở nên gần gũi với người dân.
Tình yêu lớn của Nhật Hoàng
Nhật Hoàng Akihito, sinh ngày 23/12/1933, là con trai trưởng của Nhật Hoàng Showa và Hoàng hậu Kojun. Ngài có bốn chị gái, một em trai và một em gái.
Ngài học tiểu học và trung học tại Gakushuin, Trường Bộ Nội chính Hoàng gia, sau trở thành cơ sở giáo dục tư thục. Trong thời kỳ chiến tranh, Ngài và các bạn đồng môn tiểu học được sơ tán khỏi Tokyo đến vùng nông thôn Nikko. Ngài lưu lại Nikko cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1945.
(Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
(Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
(Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
(Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
(Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
Năm 1952, Ngài vào học Khoa Kinh tế Chính trị, Đại học Gakushuin. Lễ thành nhân và Lễ tấn phong Hoàng Thái tử của Ngài được tổ chức cùng năm. Ngay sau đó, Ngài chính thức bắt đầu thực hiện nghĩa vụ của mình trên cương vị Hoàng Thái tử.
Năm sau, Ngài thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên để tham dự lễ đăng quang của Nữ hoàng Elizabeth II, Vương quốc Anh, và đi thăm nhiều nước Bắc Mỹ và châu Âu. Ngài hoàn thành chương trình giáo dục đại học vào năm 1956.
“Hoàng Thái tử đã chọn Công nương, và chúng tôi cũng chọn nàng.” (Tiến sỹ Shinzo Koizumi, người giám sát việc học tập của Hoàng Thái tử Akihito)
Ngoài chương trình giáo dục chính thức, Hoàng Thái tử nhận được nhiều chương trình đào tạo đặc biệt về Lịch sử, Luật pháp Nhật Bản, và các lĩnh vực khác.
Vào ngày 10/4/1959, Hoàng Thái tử Akihito cưới Công nương Michiko, sinh ngày 20/10 /1934 , con gái cả của doanh nhân Hidesabuto Shoda. Tiến sỹ Shinzo Koizumi, người giám sát việc học tập của Hoàng Thái tử trong nhiều năm đã phát biểu về cuộc hôn nhân như sau: “Hoàng Thái tử đã chọn công nương, và chúng tôi cũng chọn nàng”.
Lễ cưới truyền thống được tổ chức cùng dàn xe ngựa kéo lộng lẫy. Hơn 500.000 người đổ ra đường để chào mừng sự kiện này. Đó là một trong những ngày hạnh phúc nhất của lịch sử hậu chiến Nhật Bản.
Hoạt động của Nhật Hoàng Akihito (Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)
Khi còn trên cương vị Công nương, Hoàng hậu Michiko đã gặp gỡ nhiều người ở mọi tầng lớp và thấu hiểu những vấn để tồn tại trong xã hội. Với tính cách khiêm nhường và điềm đạm của mình, bà đã từng nói rằng, là thành viên của Hoàng gia, bà mong muốn mãi là một người quan tâm đến những gì xảy ra trong xã hội, theo dõi và quan tâm đến người dân, nhu cầu của người dân và luôn cầu nguyện cho hạnh phúc của muôn dân.
Hoàng Thái tử và Công nương đã tạo dựng được một gia đình hạnh phúc với ba người con, Hoàng tử Naruhito, Hoàng tử Fumihito và Công chúa Sayako. Khác với thông lệ tiền triều, Hoàng Thái tử và Công nương quyết định giữ các con bên mình. Mặc dù bận rộn, Công nương vẫn tự mình yêu thương chăm sóc các con.
Bà cho các con bú sữa mẹ hoàn toàn, và khi đến tuổi đi học, bà tự mình chuẩn bị hộp cơm trưa cho các con mỗi sáng. Sau này, bà có nói về phương pháp nuôi dạy các con của mình như sau: “Tôi luôn xin tư vấn Nhật Hoàng (lúc đó là Hoàng Thái tử) về mọi vấn đề và tôi rất biết ơn Ngài về những lời khuyên quý báu rút ra từ kinh nghiệm bản thân của Ngài rất hữu ích cho tôi”.
Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko cùng các con cháu, tháng 11/2013. (Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
Biểu tượng quốc gia và đoàn kết dân tộc
Kể từ khi lên ngôi vào năm 1989, Nhật Hoàng Akihito cùng với Hoàng hậu Michiko đã và đang thực hiện nhiều công việc chính thức liên quan đến ngôi vị của Nhà vua như một biểu tượng quốc gia và đoàn kết dân tộc.
Ngài thực hiện những hoạt động nhà nước được quy định trong Hiến pháp, như bổ nhiệm Thủ tướng và Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, phê chuẩn việc bổ nhiệm các Bộ trưởng và các quan chức cấp cao khác, triệu tập Quốc hội, công bố luật và các điều ước, trao tặng tước hiệu, phê duyệt quốc thư trao cho các đại sứ Nhật đi nhiệm kỳ ở nước ngoài, đồng thời nhận trình quốc thư của các đại sứ nước ngoài đến Nhật Bản. Trong các vấn đề quốc sự, Nhật Hoàng thực hiện các hoạt động dựa trên sự tư vấn và chấp thuận của Chính phủ.
Nhật Hoàng Akihito thăm hỏi các nạn nhân vụ động đất tháng 4/2011. (Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
Với một tinh thần trách nhiệm,và sự ân cần với người dân, Nhật Hoàng và Hoàng hậu bằng sự nồng ấm và phẩm giá của mình đã làm cho Hoàng gia trở nên gần gũi hơn với nhân dân.
Trong Hoàng cung, Nhật Hoàng và Hoàng hậu tổ chức hàng trăm buổi lễ, tiếp kiến, tiệc trà, tiệc trưa và tiệc tối trong suốt cả năm. Vào những dịp này, Ngài gặp gỡ nhiều người thuộc mọi tầng lớp xã hội, bao gồm quan chức chính phủ, lãnh đạo từ các địa phương, doanh nhân, nông dân, ngư dân, cán bộ làm công tác xã hội và phúc lợi, học giả và nghệ sĩ.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu đã đi thăm tất cả 47 tỉnh thành và nhiều đảo ở vùng xa của Nhật Bản. Trong các chuyến đi về địa phương, ngoài việc tiếp xúc với lãnh đạo cộng đồng, Ngài và Hoàng hậu còn đi thăm các cơ sở phúc lợi, văn hóa và công nghiệp để khích lệ tinh thần người dân địa phương. Ngài đặc biệt quan tâm đến vấn đề phúc lợi, và đã đi thăm hơn 400 cơ sở phúc lợi dành cho trẻ em, người già và người khuyết tật trên khắp nước Nhật.
Với sự thúc đẩy của Ngài, Cuộc Thi đấu thể thao quốc gia cho người khuyết tật được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1965, tạo cơ hội lớn cho người khuyết tật tham gia đầy đủ hơn vai trò của mình trong xã hội. Giải thưởng cho hoạt động chăm sóc trẻ khuyết tật cũng được trao hàng năm với sự hỗ trợ của Ngài.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu Nhật Bản luôn trân trọng việc tiếp xúc người dân.(Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)
Nhật Hoàng và Hoàng hậu còn đến thăm những vùng bị thiên tai tàn phá, an ủi các nạn nhân và động viên nhân viên cứu hộ. Ngài đi đến những vùng bị thiên tai ngay khi điều kiện cho phép, bằng mọi phương tiện có thể, dù là sáng sớm hay đã tối khuya.
Sau trận động đất sóng thần khủng khiếp năm 2011, làm hơn 20.000 người bị chết và mất tích, Nhật Hoàng và Hoàng hậu đã đến thăm các trung tâm sơ tán, những nơi bị thiên tai phá hủy trong suốt 7 tuần liền từ tháng 3 đến tháng 5.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu cũng duy trì những thói quen sinh hoạt hết sức gần gũi và bình dị với người dân. Noi gương vua cha (Nhật Hoàng Showa), Nhật Hoàng Aikihito tự mình trồng và thu hoạch lúa tại cánh đồng trong Hoàng cung.
Trong khi đó, Hoàng hậu nuôi tằm tại trung tâm nuôi tằm Hoàng cung. Mỗi mùa xuân, Hoàng Hậu bắt đầu nuôi từ 120.000 đến 130.000 con tằm, chăm sóc chúng trong suốt hơn hai tháng và thu hoạch khoảng 150 kg kén tằm vào đầu mùa hè.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu sáng nào cũng dậy sớm, đi bộ trong rừng và vườn của Hoàng cung. Ngày cuối tuần, nếu có thời gian, hai người chơi tennis, môn thể thao yêu thích của họ.
Nhật Hoàng cùng các học sinh ở trường mầm non Yakumo tại Tokyo, tháng 5/2007. (Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
Nỗ lực khuyến khích văn hóa, khoa học, nghệ thuật
Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko cũng quan tâm rộng rãi đến những lĩnh vực nghiên cứu và văn hóa. Hai người đều sáng tác waka (một thể loại thơ cổ có xuất xứ từ Hợp tuyển thơ ca Manyoshu có từ thế kỷ thứ 8), một truyền thống lâu đời trong gia đình hoàng tộc.
Hai người lần đầu tiên cho ra mắt tuyển tập waka Tomoshibi (Ánh sáng) khi còn trên cương vị Hoàng Thái tử và Công nương vào năm 1986. Tập thơ waka Se-oto (Tiếng suối) của Hoàng hậu được xuất bản năm 1997. Tháng 10 năm 2005, tập Ayume (Các bước đi), cuốn sách biên soạn những nhận xét của Nhật Hoàng vào các dịp khác nhau, trả lời báo giới và thơ waka đã ra mắt. Quyển sách được in bằng 2 thứ tiếng, tiếng Nhật và tiếng Anh.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu duy trì cách thức sinh hoạt truyền thống hết sức gần gũi với người dân. (Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)
Cứ tháng 1 hàng năm, Nhật Hoàng cho tổ chức Lễ hội đọc thơ năm mới trong Hoàng cung. Tại đây, 10 bài thơ waka được chọn trong hơn 20.000 tác phẩm được công chúng sáng tác và đăng ký sẽ được ngâm thơ theo cách truyền thống, cùng với waka do Nhật hoàng, Hoàng hậu và các thành viên hoàng gia sáng tác.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu cũng thường tiếp đón các học giả, nghệ sĩ, là thành viên các Học viện, những người được nhận Huân chương Văn hóa tại Hoàng cung.
Nhật Hoàng Akihito còn là người đưa ra sáng kiến cho một dự án nghiên cứu, với sự tham gia của hơn 100 nhà khoa học, soạn thảo những dữ liệu chính xác về cây cỏ, động vật trong khuôn viên Hoàng cung, gồm cả vườn Fukiage, thường không mở cửa cho tham quan.
Bản thân Ngài đã tự nghiên cứu phân loại các loại cá bống, một loại cá nhỏ sống ở nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Là thành viên của Hội Ngư học Nhật Bản, Nhật Hoàng đã cho xuất bản 30 bài báo trên tạp chí của Hội từ năm 1963 đến 1989.
Ngài đã giới thiệu tài liệu mang tên “Một số đặc điểm hình thái học quan trọng của các loài cá Gobiid’, đồng thời đóng góp tư liệu cho cuốn sách “Những loài cá tại quần đảo Nhật Bản” (số ra đầu tiên năm 1984), cuốn sách đầu tiên về các loài cá sống ở biển Nhật Bản có tranh minh họa.
“Tôi luôn xin tư vấn Nhật Hoàng về mọi vấn đề và tôi rất biết ơn Ngài về những lời khuyên quý báu…” (Hoàng hậu Michiko)
Mặc dù công việc rất bận rộn, Nhật Hoàng vẫn cho xuất bản 2 bài báo đồng tác giả năm 2000. Ngài cũng là đồng tác giả của cuốn sách “Các loài cá Nhật Bản và đặc điểm chính của các loài thông qua hình ảnh”, xuất bản lần thứ 3 năm 2013. Lần xuất bản thứ 2 là bằng tiếng Anh.
Với các tác phẩm trong lĩnh vực này, Ngài đã được Hội Linnean London mời trở thành thành viên năm 1980 và được bầu làm thành viên danh dự của Hội năm 1986. Ngài là thành viên Danh dự của Hội Động vật học London từ năm 1992, và Viện Nghiên cứu khoa học Tự nhiên Argentina từ năm 1997. Ngài cũng là Hội viên nghiên cứu của Bảo tàng Australia. Năm 1998, Ngài là người đầu tiên được nhận Huy chương Charles đệ nhị, do Hội Hoàng gia London trao tặng cho nguyên thủ các nước có đóng góp xuất sắc cho phát triển khoa học.
Trong khi Nhật Hoàng đi sâu vào lĩnh vực khoa học, Hoàng hậu Michiko lại thể hiện mối quan tâm sâu sắc đến nghệ thuật và văn học. Cuốn truyện tranh “Ngọn núi đầu tiên của tôi”, nội dung do Hoàng hậu sáng tác được xuất bản năm 1991.
Cuộc sống đời thường của Nhật Hoàng và Hoàng hậu.(Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)
Hoàng hậu cũng đã biên dịch 80 bài thơ của Michio Mado. Nhờ có những bản dịch này, Michio Mado đã được tặng giải thưởng văn học Hans Christian Ardersen của Ủy ban Quốc tế về sách dành cho người trẻ tuổi (IBBY) năm 1994, trở thành người châu Á đầu tiên được nhận giải này.
Hoàng hậu rất yêu thích âm nhạc. Bà chơi piano và là người đệm đàn rất ăn ý cho Nhật Hoàng, người chơi cello và cho Hoàng Thái tử, người chơi viola và violon. Khi có thời gian, bà thích biểu diễn trong dàn nhạc thính phòng nhỏ với bạn bè.
Mùa hè, Hoàng hậu tham gia Lễ hội âm nhạc mùa hè quốc tế Kusatsu được tổ chức hàng năm, biểu diễn hòa nhạc và đệm đàn cho các nhạc sỹ đến từ nhiều nơi trên khắp thế giới. Hoàng hậu cũng khuyến khích phát triển Gagaku, một loại hình ca múa cung đình cổ điển, thường xuyên có mặt tại các chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ ca múa cung đình.
Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko. (Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
Tình cảm tốt đẹp dành cho Việt Nam
Đối với Việt Nam, Nhật Hoàng Akihito dành một tình cảm tốt đẹp và luôn ủng hộ các thành viên Hoàng gia Nhật Bản tăng cường giao lưu với Việt Nam. Hoàng Thái tử Naruhito đã có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 9 – 15/2/2009, trong khi Hoàng tử Akisino và công nương từng có chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 6/1999 và thăm với tư cách cá nhân tháng 8/2012 để nghiên cứu về gà hoang dã.
Nhật Hoàng và Hoàng hậu Nhật Bản đã nhiều lần thể hiện mong muốn đến thăm Việt Nam. Thư ký báo chí của Nhật Hoàng, ông Hatsuhisa Takashima, cho biết Nhật Hoàng và Hoàng hậu Nhật Bản rất xúc động được trước lời mời nhiệt tình của các lãnh đạo Việt Nam. Theo ông, đây là một trong những chuyến thăm được mong đợi nhất đối với người dân và chính giới hai nước.
Nhật Hoàng Akihito tiếp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tháng 11/2007. (Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)
Nhật Hoàng và Hoàng hậu Nhật Bản là biểu tượng cao quý của đất nước và khối đoàn kết toàn dân Nhật Bản. Hai người chỉ thực hiện các chuyến thăm nhân dịp kỷ niệm đặc biệt đối với các đối tác có quan hệ thân thiết với Nhật Bản.
Vì vậy việc lần đầu tiên Nhật Hoàng và Hoàng hậu thăm Việt Nam, quốc gia có mối quan hệ thân thiết với Nhật Bản, đối với toàn thể nhân dân Nhật Bản sẽ là một sự kiện vui mừng và là một chuyến thăm lịch sử.
Là người say mê nghiên cứu các loài cá nước ngọt, chính Nhật Hoàng Akihito đã phát hiện ra giống cá bống trắng mới trên thế giới tại một nhánh sông Cần Thơ (khi làm luận án tiến sỹ nghiên cứu về cá ở miền Nam Việt Nam những năm 1970).
Năm 1974, Ngài đã gửi tặng tiêu bản mẫu cá bống này cho Bảo tàng Động vật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Bảo tàng Sinh học, Đại học Khoa học tự nhiên). Hiện tiêu bản này vẫn được bảo quản tại bảo tàng.
Nhật Hoàng Akihito tiếp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tháng 13/2014. (Nguồn: Bộ Ngoại giao Nhật Bản)
Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Nhật Hoàng và Hoàng hậu sẽ tới thăm các địa điểm Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Bảo tàng Sinh vật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội, thăm Đại Nội Huế đồng thời thưởng thức Nhã nhạc cung đình Huế và thăm nhà tưởng niệm Phan Bội Châu…
Theo Hoàng gia Nhật Bản, Nhã nhạc cung đình Nhật Bản đã có giao lưu và chịu ảnh hưởng Nhã nhạc cung đình Huế Việt Nam từ thế kỷ thứ 8, khi nhà sư Phật Triết của nước Lâm Ấp (Miền Trung Việt Nam hiện nay) sang kinh đô Nara Nhật Bản giao lưu Phật Giáo, tu tập tại chùa Đại An.
Các điệu nhạc, điệu múa và nhạc cụ do nhà sư Phật Triết giới thiệu được lưu truyền trong giới Phật giáo và được Hoàng cung Nhật Bản hấp thu vào trong Nhã nhạc cung đình./.
Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko. (Nguồn: Sách ảnh Their Majesties the Emperor and Empress of Japan)
Cơn sốt vé nhạc kịch (musical) của Nguyễn Phi Phi Anh được đánh giá trên truyền thông là “hiện tượng” làm sân khấu kịch nghệ Hà Nội sáng đèn trở lại.
Theo đại diện của dự án “HOPE” thì việc 1.300 vé “Mộng ước không xa vời” được bán hết trong hai ngày là một kỷ lục phòng vé của dự án. Trước đó, 21 đêm của hai vở nhạc kịch “Đêm Hè sau cuối” và “Góc phố danh vọng” cuối năm 2016 cũng nhanh chóng “cháy vé,” nhưng là sau một tuần mở bán.
Sức hút của vở diễn và sự khan hiếm về vé, khiến fan ruột và một bộ phận khán giả trẻ “chậm chân” chưa có cơ hội được xem hai vở trước, đã ngay lập tức đặt vé từ khi “Mộng ước không xa vời” vừa mới khởi động cách đây nhiều tháng.
Khán giả đến với nhạc kịch ‘HOPE.’ (Ảnh Mai Lân)
Bên cạnh đó, một lý do khác tạo nên cơn sốt khủng khiếp của nhạc kịch Nguyễn Phi Phi Anh qua từng đêm diễn, bởi lần trở lại này của “HOPE” và Nguyễn Phi Phi Anh cũng khiến công chúng có lý do để chờ đợi và kỳ vọng vào những sáng tạo, thăng hoa của “Mộng ước không xa vời.” Vở diễn này là tác phẩm hoàn toàn mới và lần đầu tiên được ra mắt.
Trước đó, dự án này từng công bố vở thứ ba sẽ công diễn vào tháng Một, lý do hoãn đến ngày 28/2, theo “tổng công trình sư” Nguyễn Phi Phi Anh: “Vở này quá khó và 35 diễn viên, 17 nhạc công, 15 thành viên kiến tạo xây sân khấu cần thêm thời gian để đạt đến chất lượng tốt nhất và quan trọng là khiến tôi hài lòng.”
Luôn đặt chất lượng tác phẩm lên hàng đầu, Nguyễn Phi Phi Anh chia sẻ trên truyền thông rằng, việc cháy vé không mang lại cảm giác hạnh phúc bằng việc nhìn thấy các tác phẩm của mình sau 4-5 năm ra mắt lần đầu vẫn được chào đón, thậm chí còn có một sức sống mới.
Nguyễn Phi Phi Anh. (Ảnh Đô Tăng)
Quan trọng hơn, ở góc độ “tổng công trình sư,” khi nhìn thấy tác phẩm của mình được diễn hằng đêm, thấy diễn viên vui, khán giả vui… Nguyễn Phi Phi Anh cũng dần nhận ra, sản phẩm của mình lúc này đã là một công trình. Điều đó không phải thể hiện bằng 21 đêm diễn, mà vì 4-5 năm ấy nó không chết, nó vẫn sống và đang có một đời sống khác.
Cũng theo tiết lộ của Nguyễn Phi Phi Anh, “Mộng ước không xa vời” tiếp tục là vở nhạc kịch đương đại kết hợp ca hát, vũ đạo và diễn xuất do anh viết kịch bản, đạo diễn và sản xuất.
Tiếp tục công diễn 7 đêm vào thời điểm Hà Nội “bội thực” các chương trình ca nhạc, song vở nhạc kịch mới lần đầu tiên được ra mắt – “Mộng ước không xa vời” thuộc dự án “HOPE” của đạo diễn 9x Nguyễn Phi Phi Anh nhanh chóng “cháy vé” sau chưa đầy 48 giờ mở bán trên fanpage.
Nếu khán giả đã từng được làm quen và trải nghiệm câu chuyện cổ tích qua “Góc phố danh vọng,” câu chuyện đậm màu sắc trinh thám qua “Đêm Hè sau cuối,” thì “Mộng ước không xa vời” sẽ tiếp tục là một thách thức cảm thụ cho người xem.
Đây là một câu chuyện đời thường pha chút màu sắc khoa học viễn tưởng, khởi đầu với cuộc trò chuyện phiếm trên một chuyến taxi tự động. Ken và Mina, hai người không quen biết, đã cùng nhau theo đuổi một cuộc du hành kỳ lạ để ngăn chặn đại dịch virus H-Ô-Hô có nguy cơ xóa sổ nhân loại.
Nhân vật David. (Ảnh Mai Lân)
Bên cạnh những cái tên nửa Việt nửa Tây, trang phục sành điệu, “Mộng ước không xa vời” còn có sự đột phá về việc mở rộng biên độ sử dụng âm nhạc quốc tế. Ngoài sử dụng “nhạc Tây” như hai vở đầu, thông qua các bản hit của Coldplay, Kelly Clarkson…vở còn sử dụng cả nhạc Nhật Bản và nhạc Hong Kong, với phiên bản tiếng Việt do Nguyễn Phi Phi Anh viết lời.
Trở lại với “Mộng ước không xa vời” – Nguyễn Phi Phi Anh và các cộng sự của anh tiếp tục chứng minh “HOPE” là “công trình kiến tạo tập thể” gây ngạc nhiên về tài năng và “phép thử” trong mô hình và phong cách làm việc, đưa người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Qua đó, “HOPE” hay “Mộng ước không xa vời” muốn thay đổi định kiến thưởng thức về loại hình nghệ thuật nhạc kịch từ trước đến nay: nhạc kịch không hàn lâm, mà rất dễ hiểu và giàu tính giải trí như các loại hình nghệ thuật phổ thông khác như ca nhạc, điện ảnh…
Để rồi cuối cùng, những giá trị của vở diễn không chỉ dừng lại ở tràng vỗ tay tán thưởng ngắn ngủi sau đêm diễn, hay sự thỏa mãn về trạng mái thưởng thức nghệ thuật mà là thái độ sống tích cực về sự hy vọng – Mộng ước thì luôn hiện hữu với những người tin vào nó, đặc biệt là người trẻ rằng, sống phải có niềm hy vọng và tin vào những mộng ước của chính mình.
Trích đoạn vở diễn Đêm Hè Sau Cuối
Từ hy vọng tràn trề ấy, mỗi người sẽ có thêm động lực để thực hiện những “mộng ước” của riêng mình.
“Mộng ước không xa vời” sẽ được công diễn từ ngày 28/2 và các ngày từ 6-9/3 tại L’Espace, 24 Tràng Tiền, Hà Nội.
***
– “Góc phố danh Vọng” là tác phẩm đầu tay Nguyễn Phi Phi Anh thực hiện tại Việt Nam, ra mắt năm 2012 và được làm lại vào năm 2013. Câu chuyện lãng mạn, mang màu sắc cổ tích và đậm chất trào phúng này từng được nhận định là “hồn Việt xác Tây,” kể về con tuần lộc mũi đỏ Rudolph hóa thành người và đem lòng yêu tha thiết Roxanne – một ca sĩ phòng trà hám danh đang sống chung với anh thợ xây Flint khờ khạo.
– “Đêm Hè sau cuối” được Nguyễn Phi Phi Anh viết kịch bản trong suốt một năm sau khi kết thúc “Góc phố danh Vọng.” Thuộc thể loại nhạc kịch trinh thám, được trình diễn lần đầu cho khán giả vào những ngày cuối cùng của mùa hè 2013, “Đêm Hè sau cuối” mang một không khí hoàn toàn khác so với tác phẩm trước.
Để sở hữu tấm vé xem nhạc kịch của Nguyễn Phi Phi Anh, khán giả phải đặt mua vé từ rất sớm. (Ảnh Mai Lân)
“Câu chuyện không quá nhiều tình tiết sởn tóc gáy mà đưa người xem đi qua mê cung phức tạp của những suy luận” (theo VNExpress), nhưng “vẫn có tính giải trí cao, đem tới những tiếng cười sảng khoái” (Tạp chí Đẹp), “gây bất ngờ về cách dàn dựng và xử lý sân khấu vô cùng tài tình” (Thế giới Văn Hóa).
– Nguyễn Phi Phi Anh sinh năm 1991 tại Hà Nội, đã tốt nghiệp Đại học Hampshire, Massachusetts, Mỹ – chuyên ngành Sân khấu – Điện ảnh. Nguyễn Phi Phi Anh là đạo diễn, biên kịch, nhà sản xuất của dự án “HOPE” gồm 35 đêm công diễn từ tháng 10, 11/2016 và tháng 2, 3, 4/ 2017.
Tháng Mười tới, vệ tinh MicroDragon của các kỹ sư Trung tâm Vệ tinh Quốc gia (VNSC) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ được hoàn tất, sẵn sàng cho việc phóng lên quỹ đạo vào năm 2018 bằng tên lửa Epsilon của Nhật Bản.
Là thành quả thực tế từ quá trình học tập, trưởng thành của 36 kỹ sư VNSC tại 5 trường đại học hàng đầu ở Nhật Bản, MicroDragon thuộc dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam là một trong những điểm nhấn quan trọng trong lộ trình tiến tới làm chủ công nghệ chế tạo vệ tinh nhỏ quan sát trái đất vào năm 2022 tại Việt Nam…
Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Anh Tuấn, Giám đốc VNSC đã dành cho phóng viên VietnamPlus cuộc trò chuyện về lộ trình làm chủ công nghệ vệ tinh mà đơn vị này đang thực hiện.
PGS Phạm Anh Tuấn, một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho ngành vệ tinh vũ trụ Việt Nam. (Trung Hiền/Vietnam+)
“Biết khu vực nào bị lấn chiếm”
– Thưa Phó Giáo sư Phạm Anh Tuấn, tại sao chúng ta phải thiết kế, chế tạo vệ tinh trong khi hoàn toàn có thể mua sản phẩm từ nước ngoài như vốn dĩ đã làm với Vinasat 1, Vinasat2…?
PGS Phạm Anh Tuấn: Trước đây, chúng ta đi mua vệ tinh sẽ không tự chủ được để có vệ tinh riêng phục vụ cho Việt Nam sau này. Còn khi chúng ta làm chủ công nghệ, có thể từng bước chế tạo vệ tinh phục vụ mục đích của Việt Nam và cải tiến để tiết kiệm hơn.
“Mỗi năm Việt Nam mất khoảng 1,5% GDP do thiên tai. Nhưng nếu có ảnh vệ tinh, chúng ta có thể kịp thời hơn trong việc cảnh báo chính xác bão, lũ…”(PGS Phạm Anh Tuấn)
Về sự cần thiết thì theo cách tính của Nhật Bản, mỗi năm Việt Nam mất khoảng 1,5% GDP do thiên tai. Thế nhưng, nếu có ảnh vệ tinh, chúng ta có thể kịp thời hơn trong việc cảnh báo chính xác bão, lũ…, giảm thiệt hại lớn cho GDP cũng như tính mạng của người dân…
Hay như chuyện quy hoạch thành phố, giả dụ như chúng ta mỗi tháng cấp cho Hà Nội một ảnh vệ tinh, cơ quan quy hoạch sẽ biết khu vực nào bị lấn chiếm mà không cần phải đợi báo cáo từ cơ sở; hoặc chuyện truy tìm nguồn gốc vệt dầu loang ở trên biển… Đây là lợi ích không thể tính rõ ràng bằng tiền.
Ngoài ra, chúng ta cần có vệ tinh riêng của mình để có thể chủ động về ảnh. Nếu như trước đây, việc mua hay xin ảnh từ nước ngoài mất khoảng 2 ngày, thì khi có vệ tinh chỉ cần 6-12 tiếng là có ảnh riêng.
Bên cạnh đó, việc chế tạo vệ tinh tại Việt Nam sẽ kéo các ngành công nghệ khác như vật liệu, cơ điện tử, tự động hóa. Công nghệ vũ trụ là biểu tượng công nghệ cao của một quốc gia.
Các kỹ sư của VNSC học tập và thực hành chế tạo vệ tinh MicroDragon tại Nhật Bản. (Nguồn: VNSC)
Khởi đầu từ anh hùng Phạm Tuân
– Là một trong những người đầu tiên xây dựng ngành công nghệ vũ trụ tại Việt Nam, những ngày đầu chắc có nhiều kỷ niệm…
PGS Phạm Anh Tuấn: Lịch sử hình thành của ngành công nghệ vũ trụ Việt Nam phải kể từ khi Anh hùng Phạm Tuân là người châu Á đầu tiên du hành trong vũ trụ vào 1980. Tới năm 2006, Thủ tướng đã phê duyệt “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020” trong đó có nội dung quan trọng là chế tạo vệ tinh nhỏ quan sát trái đất “Made in Vietnam.”
Năm 2006, qua trao đổi quốc tế, Giáo sư nổi tiếng về Cơ điện tử và Công nghệ vũ trụ người Mỹ Robert H. Bishop có tư vấn về việc không nên làm vệ tinh lớn ngay, mà nên đi từng bước và làm loại vệ tinh 1kg để bắt đầu. Khi đó, ở Việt Nam cũng chưa ai làm vệ tinh…
“Chúng tôi đã từng bước suy nghĩ và hình thành lộ trình phát triển vệ tinh của Việt Nam theo cách làm từng bước là Pico (1kg), Nano (4 kg), Micro (50 kg) và tới 2022 làm LOTUSat-2 (600 kg) tại Việt Nam”.(PGS Phạm Anh Tuấn)
Tới năm 2007, tôi cùng các đồng nghiệp hợp tác với Cơ quan hàng không vũ trụ Nhật Bản (JAXA) để khởi động dự án vệ tinh siêu nhỏ PicoDragon. Đây được coi là bước đi đầu tiên cho quá trình phát triển vệ tinh của Việt Nam. Một năm sau, 5 cán bộ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam được cử đi đào tạo phát triển vệ tinh tại Trung tâm Vũ trụ Tsukuba thuộc JAXA, Nhật Bản.
Ngày đó điều kiện khó khăn, chúng tôi ở một căn ký túc xá, mượn nồi niêu của bạn để tự nấu ăn, học tập. Giờ đây, bốn người trong số này là cán bộ chủ lực của VNSC.
Tới năm 2011, VNSC được thành lập để quản lý, thực hiện và tiếp nhận dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Hòa Lạc. Tới năm 2013, vệ tinh siêu nhỏ PicoDragon do các cán bộ VNSC nghiên cứu, chế tạo đã trở thành vệ tinh “Made in Vietnam” đầu tiên hoạt động thành công trong quỹ đạo không gian.
Trong quá trình làm PicoDragon, chúng tôi đã từng bước suy nghĩ và hình thành lộ trình phát triển vệ tinh của Việt Nam theo cách làm từng bước là Pico (1kg), Nano (4 kg), Micro (50 kg) và tới 2022 làm LOTUSat-2 (600 kg) tại Việt Nam.
– Để thực hiện khát vọng này, VNSC đã làm thế nào?
PGS Phạm Anh Tuấn: Ngành vệ tinh vũ trụ tại Việt Nam là rất mới, bởi thế để có nhân lực chúng tôi đã phải tuyển những sinh viên giỏi để cử sang Nhật Bản học bài bản về vệ tinh, từ việc thiết kế chế tạo, lắp ráp thử nghiệm và chuẩn bị phóng, làm phần mềm, truyền thông… Đã có 36 bạn chia làm 3 nhóm sang Nhật học và kết thúc vào tháng 10 năm 2017.
Lộ trình phát triển vệ tinh “Made in Vietnam” của VNSC.
Trong bốn năm, ngoài lý thuyết, các bạn sẽ tham gia vào thiết kế, chế tạo, tích hợp, thử nghiệm vệ tinh MicroDragon nặng 50kg. Vệ tinh này dự kiến sẽ hoàn thành việc chế tạo vào tháng Mười tới và phía Nhật đã nhận phóng lên quỹ đạo vào năm 2018.
Tuy nhiên, quan trọng nhất là hai vệ tinh sử dụng công nghệ tiên tiến SAR (radar khẩu độ tổng hợp) có độ phân giải cao và hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết là LOTUSat-1 và 2 có khối lượng khoảng 600 kg sẽ được phát triển trong khuôn khổ của dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.
Kế hoạch phát triển của LOTUSat-1 và 2 được chia thành hai giai đoạn, cụ thể: LOTUSat-1 sẽ được sản xuất ở Nhật Bản với sự tham gia của các kỹ sư Việt Nam, LOTUSat-2 sẽ được thích hợp và thử nghiệm tại Trung tâm lắp ráp, tích hợp và thử nghiệm vệ tinh (AIT) tại Hòa Lạc, đánh dấu khả năng tự phát triển vệ tinh nhỏ quan sát trái đất của chúng ta.
LOTUSat 1 sẽ có sự góp mặt của hơn 100 lượt cán bộ của VNSC tham gia làm tại Nhật Bản, sau đó, đội ngũ này sẽ tham gia thiết kế, chế tạo, lắp ráp LOTUSat 2 tại Việt Nam.
Tên lửa Epsilon của Nhật Bản sẽ mang theo vệ tinh MicroDragon của Việt Nam lên quỹ đạo (Ảnh: JAXA)
Quốc gia duy nhất chuyển giao công nghệ vệ tinh cho Việt Nam
– Trong việc chế tạo vệ tinh, một vấn đề luôn được quan tâm là bảo mật. VNSC tính toán việc này thế nào? Tại sao chúng ta lại chọn Nhật Bản làm nơi để học tập, tiếp nhận công nghệ mà không phải quốc gia khác?
PGS Phạm Anh Tuấn: Cho đến nay, Nhật Bản là quốc gia duy nhất đồng ý chuyển giao công nghệ vệ tinh cho Việt Nam. Trong khi đó, các nước khác chỉ muốn bán vệ tinh và chỉ chuyển giao cho chúng ta quy trình vận hành và khai thác.
Về bảo mật, khi chế tạo, lắp ráp vệ tinh tại Việt Nam, chúng ta sẽ kiểm soát cơ bản về an ninh và làm chủ công nghệ. Đặc biệt, khi tích hợp thiết bị thì một trong những việc quan trọng chính là phần mềm điều khiển hệ thống. Do đó, kỹ sư của chúng tôi sẽ phải tham gia lập trình các phần mềm để điều khiển vệ tinh đó cũng như truyền tín hiệu về mặt đất.
(Nguồn video: VNSC)
– Như ông vừa chia sẻ, đội ngũ cán bộ đều được tuyển chọn kỹ lưỡng và là những người có năng lực. VNSC có cách nào để thuyết phục họ cũng như giữ chân họ sau đào tạo?
PGS Phạm Anh Tuấn: Chúng tôi nói với các sinh viên về một tương lai dài hạn cũng như niềm tự hào khi họ sẽ là thế hệ đầu tiên xây dựng ngành vũ trụ cho Việt Nam. Bên cạnh đó, họ được đào tạo bài bản ở Nhật Bản, được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của lĩnh vực công nghệ cao mà không phải cá nhân nào cũng có thể tiếp cập được.
Thực tế, nếu tính cả tiền đi lại, ăn học ở Nhật Bản, làm vệ tinh MicroDragon [coi như một bài tập thực hành – PV] thì chi phí cho mỗi bạn khoảng 6 tỷ đồng. Các bạn tham gia phải cam kết làm làm việc dài hạn cho dự án. Bên cạnh đó, Trung tâm Vệ tinh Quốc gia đang chuẩn bị đề xuất một số cơ chế tài chính đặc thù từ Nhà nước để đảm bảo điều kiện làm việc lâu dài cho nguồn nhân lực chất lượng cao này.
Tôi tin rằng, với những con người đã có cũng như sự đầu tư bài bản từ gốc tới ngọn, chúng ta sẽ hoàn thành kế hoạch, chế tạo thành công vệ tinh nhỏ quan sát trái đất “Made in Vietnam,” phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
VietnamPlus xin giới thiệu phần trích trong báo cáo về hoạt động sáng tạo trong báo chí có tên gọi “Innovation in Magazine Media: 2016-2017 World Report” của các tác giả Juan Senor, John Wilpers và Juan Antonio Giner
Không có sự lãnh đạo, đào tạo và tưởng thưởng, sự đổi mới sẽ không diễn ra
Sự đổi mới chết đi ở cấp lãnh đạo.
Nếu không có một người lãnh đạo tạo ra văn hóa khuyến khích và tưởng thưởng cho sự đổi mới, sáng tạo và chấp nhận rủi ro, không ai có thể cảm thấy đủ an toàn hay có sức mạnh để liều lĩnh. Sẽ chẳng có thay đổi nào, bởi sự thay đổi cần có người dẫn dắt.
Tại sao sếp của bạn phải quan tâm? Vì các công ty xuất bản sẽ chết nếu không thay đổi.
Tuy nhiên, thay đổi không dễ như khi nhà lãnh đạo ra một thông báo rằng: “Chúng ta sẽ đổi mới.”
Người chủ bút hay giám đốc điều hành cần lập ra các ưu tiên, xây dựng cơ cấu tổ chức, dòng chảy công việc, đội nhóm, ngân sách, và những phần thưởng – tất cả đều nhằm mục đích đạt được các mục tiêu đổi mới sáng tạo để bảo đảm sự vững mạnh của công ty trong thế kỷ 21.
Và người lãnh đạo cần là hình mẫu về sự sáng tạo và đổi mới.
Sẽ không có sự thay đổi nào nếu thiếu cam kết của người lãnh đạo
Khi làm việc với các công ty xuất bản trên khắp thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng không thể có thay đổi nào nếu không có sự cam kết cá nhân của người lãnh đạo, theo sau đó là việc tái phân bổ các mục tiêu ưu tiên, thời gian, nguồn lực và nhân lực. Ngay cả những nhân viên thông minh và sáng tạo nhất cũng cũng thường thu mình trong vùng an toàn và chờ tín hiệu từ người lãnh đạo.
Nhưng, ngay khi người lãnh đạo thực hiện những thay đổi về mặt cấu trúc và mời gọi nhân viên tham gia quá trình thay đổi, những điều tốt đẹp bắt đầu xuất hiện. Chúng tôi đã giúp những công ty xuất bản đang thua lỗ và hấp hối trở thành những nhà xuất bản biết tập trung vào tương lai, sáng tạo và có lợi nhuận. Tuy nhiên, tất cả thành công đều bắt đầu với sự cam kết từ cấp lãnh đạo.
Vào giữa năm 2015, Viện Báo chí Hoa Kỳ (API) đã xuất bản cuốn “Những hoạt động đổi mới thành công nhất”, một nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến sự đổi mới thành công tại các công ty xuất bản. Mở đầu bản báo cáo, tác giả Craig Silverman đã viết: “Sự đổi mới không thể diễn ra nếu các lãnh đạo của tổ chức không thúc đẩy sự thay đổi và thử nghiệm, tạo ra những cơ cấu, một nền văn hóa và những quá trình khuyến khích sự đổi mới thêm nảy nở.”
Một điều thường xảy ra là các lãnh đạo tổ chức một cuộc họp với nhân viên rồi tuyên bố rằng công ty cam kết hướng tới sự đổi mới, sau đó ngồi chờ đợi.
Nhưng một chủ bút hay giám đốc điều hành không thể chỉ đơn giản nói rằng từ giờ công ty sẽ đổi mới. “Như vậy chỉ là hô hào sáo rỗng,” David Skok, cố vấn kỹ thuật số cho tổng biên tập tờ Boston Globe chia sẻ với Silverman. Nhà lãnh đạo phải thay đổi “cơ cấu hoặc những nhiệm vụ của mọi người để cho phép (sự đổi mới) diễn ra,” Skok khẳng định.
Sự đổi mới đòi hỏi “lãnh đạo chuyển đổi”
Sự lãnh đạo đó được gọi là “lãnh đạo chuyển đổi,” tức là người lãnh đạo “lôi kéo sự tham gia của nhân viên bằng cách hướng tới những động lực mang tính nội tại hơn, như quyền tự chủ, sự hoàn chỉnh, quyền làm chủ, ý thức về mục tiêu và tinh thần đồng đội trong công việc,” Don Peppers, tác giả viết sách quản lý kiêm nhà tư vấn chia sẻ với Silverman.
Khi làm việc với các công ty xuất bản, chúng tôi nhận thấy rằng những lãnh đạo xác định rõ rằng sự đổi mới là vì lợi ích của chính nhân viên thì sẽ thu hút được sự ủng hộ nhanh chóng và nhiệt tình hơn thay vì yêu cầu nhân viên thay đổi chỉ vì lợi ích của công ty. Các nhà lãnh đạo có thể chỉ cho nhân viên thấy rằng những người có được các kỹ năng cần thiết để thúc đẩy sự đổi mới (kỹ năng video, truyền thông xã hội, ảnh, dữ liệu, v,v…) sẽ làm việc hiệu quả hơn, mạnh mẽ hơn và cuối cùng là trở thành những nhà báo phù hợp với thị trường hơn.
Văn hóa là rào cản chính với thay đổi
Lãnh đạo chuyển đổi cũng có nghĩa là thay đổi văn hóa doanh nghiệp. Và điều đó không dễ. Nền văn hóa hiện tại đã được phát triển trong nhiều thập kỷ qua. Bây giờ bạn phải thay đổi nó. Tại sao? Vì văn hóa doanh nghiệp hiện tại được cho là một trong những rào cản, nếu không muốn nói là rào cản DUY NHẤT, ngăn trở sự sáng tạo và thay đổi.
“Văn hóa là nguồn gốc cuối cùng của hầu hết các cơ chế phòng thủ ngăn chặn thay đổi tổ chức và sự học hỏi,” Jonathan Groves, phó giáo sư truyền thông kiêm đồng tác giả cuốn “Tòa soạn tinh gọn” viết trong báo cáo của API. Để thay đổi văn hóa và tạo điều kiện cho sự thay đổi và đổi mới, các chủ bút phải mang lại cho nhân viên của họ các nguồn lực và sự tưởng thưởng mà họ cần.
Các cán bộ quản lý và nhân viên phải được trao quyền và được công nhận cho sự sáng tạo. Một khi nhà lãnh đạo đặt ra một mục tiêu đổi mới, nhà lãnh đạo phải cung cấp đào tạo và hỗ trợ để nhân viên có được những kỹ năng và kiến thức cần thiết nhằm hiện thực hóa sự đổi mới. Và sau đó đưa ra các phần thưởng và sự công nhận bằng lời nói và hiện vật để gửi thông điệp đến cho các nhân viên khác.
Quá trình đào tạo loại bỏ những lo ngại và trao quyền cho nhân viên
“Các nhà lãnh đạo thành công nhất thường là những người biết cân bằng giữa việc thúc đẩy mọi người thay đổi và xử lý được những lo lắng xung quanh sự thay đổi bằng cách cung cấp đào tạo và hỗ trợ,” đồng tác giả của “Tòa soạn tinh gọn” Carrie Brown chia sẻ với Silverman.
Không có đào tạo và kiến thức thì ngay cả những người có niềm đam mê lớn nhất với sự đổi mới trong số nhân viên cũng sẽ dè dặt khi phải thử các ý tưởng mới vì sợ thất bại và bị xấu hổ do thiếu kỹ năng. Hoạt động đào tạo do lãnh đạo cung cấp giúp nhân viên trở nên táo bạo hơn khi dám liều mình đặt bản thân và cả danh tiếng trước rủi ro.
Các nhà xuất bản có thể trang trải chi phí đào tạo cho những cá nhân mà sau đó sẽ trở về và trở thành một chuyên gia về một lĩnh vực hay quá trình cụ thể, và là người giảng viên ngay trong nội bộ, lan truyền các kỹ năng lãnh đạo và quyền sở hữu dự án trong công ty.
“Các nhà lãnh đạo thành công nhất thường là những người biết cân bằng giữa việc thúc đẩy mọi người thay đổi và xử lý được những lo lắng xung quanh sự thay đổi bằng cách cung cấp đào tạo và hỗ trợ,” Carrie Brown, đồng tác giả của “Tòa soạn tinh gọn”
Một nhà lãnh đạo tốt cũng cho phép sự đổi mới bằng việc quyết định KHÔNG làm gì nữa
Một trong những bước quan trọng kế tiếp mà người lãnh đạo có thể thực hiện để kích hoạt sự đổi mới là quyết định phải DỪNG làm việc gì đó. Nếu không thay đổi các mục tiêu ưu tiên và loại bỏ bớt một số công việc, nhân viên sẽ chỉ thấy rằng sự đổi mới đặt lên vai họ nhiều việc hơn trong khi họ đã có quá nhiều việc rồi. Họ sẽ khăng khăng rằng mình quá bận giải quyết các công việc hiện tại và không có thời gian cho sự đổi mới.
“Lý do là trừ phi bạn dừng làm những việc [không mang tính cốt lõi trong hoạt động của bạn], bạn sẽ chẳng có thời gian hay không gian cần thiết để thử những điều mới, rồi bạn thất bại và băn khoăn nên làm gì tiếp theo,” cựu phó chủ tịch phụ trách đổi mới báo chí và truyền thông của quỹ Knight Michael Maness nói với Silverman.
Những lãnh đạo tốt là hình mẫu về hoạt động đổi mới
Ngoài đào tạo, tái tổ chức và loại bỏ các hoạt động không cốt lõi, các nhà lãnh đạo còn cần phải là tấm gương về sự đổi mới. Một chủ bút hay giảm đốc điều hành không có tài khoản Twitter, trang blog hay Tumblr sẽ khiến nhân viên nghĩ rằng sự đổi mới quan trọng với tất cả mọi người, nhưng không quan trọng với người đó.
Nhà lãnh đạo cũng cần phải nhìn xa hơn các vấn đề công nghệ và tăng cường các sáng kiến đổi mới mỗi ngày.
Hành vi hàng ngày của các giám đốc điều hành cũng chính là căn cứ để nhân viên xác định những điều cần làm trong tương lai. “Các lãnh đạo đang tìm cách phát triển văn hóa công ty hướng tới sự lặp lại và học hỏi lớn hơn thì cần xem xét cẩn thận những hành động nào cần được tưởng thưởng hay trừng phạt, và thừa nhận vai trò quyết định của họ không chỉ trong những gì họ nói mà trong mọi hoạt động họ làm, dù có nhỏ nhặt đến đâu,” Brown và Groves viết. “Nhân viên rất nhanh chóng nhận ra những phần thưởng nội bộ hay tăng lương, nhưng họ cũng quan tâm đến việc có được chú ý hay không và kể cả những lời ngợi khen đơn giản được ‘phân phát’ thế nào.”
Sự hợp tác là chìa khóa để đổi mới thành công
Trong quá trình xây dựng văn hóa đổi mới và hoạt động tích hợp, các lãnh đạo cũng phải cho phép và nhấn mạnh vào sự hợp tác giữa các phòng ban trước đây hoạt động độc lập trong tổ chức.
“Tạo dựng niềm tin và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các đội nhóm thực sự là một vấn đề lớn,” Trei Brundrett, Giám đốc sản phẩm của Vox Media chia sẻ với Silverman. “Nếu mọi người làm việc cùng nhau thì cần phải hiểu rõ nguồn gốc, nền tảng của nhau, công việc khó khăn nằm ở chỗ nào, và giá trị của những thay đổi là gì. Và khi làm được điều đó, thay vì để nhóm biên tập chỉ đạo nhóm sản phẩm phải làm gì, mọi người sẽ hợp tác cùng nhau, có cùng quyền làm chủ và tin tưởng lẫn nhau. Và sẽ còn nảy sinh những điều tốt đẹp hơn nữa.”
Tại công ty Tư vấn Truyền thông Đổi mới, chúng tôi giúp các nhà xuất bản xây dựng các đội với sự tham gia của các phòng ban khác nhau, có nhiệm vụ hiện thực hóa từng phần nhỏ trong sự đổi mới. Sự tham gia và làm chủ sẽ loại bỏ sự sợ hãi và tạo nên nhiệt huyết. Những chủ bút chia sẻ quyền lãnh đạo của họ thường xây dựng nên các nhóm lãnh đạo trong toàn công ty, giúp công ty tiến về phía trước.
ĐỪNG tạo ra những bộ phận hay cá nhân riêng lẻ cho sự đổi mới
Nhưng đây là một cảnh báo: Đừng tạo ra một phó chủ tịch đổi mới riêng hay xây dựng một phòng nghiên cứu đổi mới. Hành động đó sẽ chỉ tạo ra thêm gánh nặng và gửi đến thông điệp là sự đổi mới và sáng tạo không dành cho tất cả mọi người.
Hãy lan truyền trách nhiệm (và niềm vui) đổi mới đến tất cả mọi người, để công ty có thêm nhiều anh hùng đổi mới.
Cuối cùng, để sự đổi mới thực sự có hiệu quả, các lãnh đạo cần chuyển giao một số quyền lãnh đạo cho nhân viên và các cán bộ quản lý. Mỗi thành viên của công ty phải cảm thấy họ có quyền sở hữu và quyền hạn để ra quyết định.
Cho mọi người quyền sở hữu và quyền hạn
“Tôi là một người rất tin rằng quản lý hiệu suất cơ bản là trao cho mọi người quyền sở hữu sản phẩm của chính họ và bất cứ thứ gì họ đang cố gắng tạo ra,” Skok chia sẻ. “Bạn càng sở hữu sản phẩm hay cảm thấy mình có khả năng gây ảnh hưởng lên sản phẩm bao nhiêu, bạn càng cảm thấy có sức mạnh để tiến lên và thực hiện những hoạt động đổi mới.”
Khi điều đó xảy ra, đổi mới không còn là một chủ đề để thảo luận hay một mục tiêu nữa. Nó trở thành thực tế đang diễn ra. Nó trở thành một sự bình thường mới.
10 bước tạo dựng môi trường văn hóa thân thiện với sự đổi mới của giám đốc điều hành
1. Tuyên bố cam kết về sự đổi mới trong một cuộc họp với toàn thể nhân viên
2. Mời các cán bộ quản lý và nhân viên tham gia xây dựng một tổ chức thân thiện với sự đổi mới
3. Tạo dựng các đơn vị liên ngành để đối mặt với các thách thức về tổ chức, luồng công việc, công nghệ, đào tạo, v,v… và thay đổi
4. Xác định nhu cầu đào tạo tại tất cả các phòng ban, xác định các nhân viên có tiềm năng kỹ năng/kiến thức, gửi họ đi đào tạo, rồi để họ đào tạo các nhân viên khác.
5. Báo cáo tiến độ thường xuyên
6. Thay đổi các mô tả công việc để phản ánh những thay đổi (công việc của một trong các đơn vị chuyên môn)
7. Quyết định công việc gì KHÔNG cần phải làm nữa để tạo thêm thời gian cho sự đổi mới
8. Lập một ngân sách và quy trình tưởng thưởng cho tư tưởng và dự án sáng tạo
9. Thay đổi chương trình nghị sự của các cuộc họp theo hướng tập trung vào suy nghĩ sáng tạo và lên kế hoạch dự án
10. Tạo một tài khoản Twitter hay trang blog hoặc một hệ thống giao tiếp kỹ thuật số khác, hoặc bắt đầu sử dụng tài khoản hiện tại của bạn thường xuyên hơn để chứng minh cam kết cá nhân với sự đổi mới.
Những thông tin về 4G trong thời gian qua luôn thu hút sự quan tâm của dư luận và đây sẽ là tâm điểm của ngành viễn thông di động Việt Nam trong năm 2017, khi mà các nhà mạng đang gấp rút triển khai dịch vụ này trên toàn quốc.
“Cuộc đua” này càng nóng bỏng hơn khi lãnh đạo một nhà mạng từng cho rằng, khoảng cách giữa 3 “đại gia” VinaPhone, MobiFone và Viettel là khá lớn nhưng 4G là công nghệ đặt các nhà khai thác vào “vạch xuất phát” và ai tận dụng tốt cơ hội, chạy nhanh hơn sẽ chiến thắng.
Đua phủ sóng
Vào tháng 12/2015, Viettel “bắn phát súng” đầu tiên khi thử nghiệm dịch vụ 4G tại Bà Rịa-Vũng Tàu. Tới ngày 18/1/2016, VNPT VinaPhone cũng tham gia “chiến trận” tại Phú Quốc (Kiên Giang) và Thành phố Hồ Chí Minh và vào đầu tháng 7/2016, MobiFone cũng chính thức tham gia cuộc đua thử nghiệm 4G.
Nhìn chung, tốc độ 4G của ba nhà mạng trong đợt thử nghiệm đều ghi nhận sự vượt trội so với 3G. Trước sự chuẩn bị của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của thị trường, tháng 10/2016, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chính thức cấp phép triển khai 4G trên diện rộng cho bốn nhà mạng là VNPT VinaPhone, Viettel, MobiFone và Gtel trên băng tần 1800 MHZ.
Viettel “bắn phát súng” đầu tiên khi thử nghiệm dịch vụ 4G tại Bà Rịa-Vũng Tàu
Có “chìa khóa,” các doanh nghiệp lập tức triển khai kế hoạch phủ sóng. Đầu tháng 11/2016, VNPT-VinaPhone trở thành nhà mạng đầu tiên chính thức cung cấp 4G tại Việt Nam khi “ấn nút” triển khai dịch vụ ở Phú Quốc. Viettel thì cho biết dự kiến việc khai trương 4G sẽ được tiến hành vào quý 1.
Tại lễ đón nhận giấy phép 4G, ông Trần Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên của VNPT cho hay, tới hết 2017, VNPT sẽ triển khai 21.000 trạm BTS 4G, phủ sóng tới 63 tỉnh, thành trên toàn quốc. Trong đó, nhiều địa phương đạt độ phủ sóng 100%, trung bình toàn quốc đạt 85%.
Ông cũng khẳng định VNPT sẽ nỗ lực để có thể trở thành nhà mạng tích cực triển khai nhanh chóng và hiệu quả dịch vụ 4G tại Việt Nam.
Theo kế hoạch, trong quý 1 này, VinaPhone sẽ lắp đặt hơn 10.000 trạm BTS để triển khai 4G tới Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và 10 tỉnh, thành trọng điểm.
Với Viettel, đơn vị này khẳng định đã sản xuất thành công thiết bị thu phát sóng 4G. Trong quý 1, nhà mạng sẽ chính thức đưa thiết bị hạ tầng 4G vào sử dụng tại Lào, Đông Timor và 3 tỉnh của Việt Nam; thúc đẩy việc nghiên cứu mạng lõi 4G (EPC) và thiết bị truyền dẫn Site Router để đưa vào thử nghiệm.
Số lượng trạm BTS 4G Vina, Viettel năm 2017 (di chuột để biết thông số cụ thể)
Dự kiến, Viettel sẽ cung cấp 4G chính thức trên toàn quốc vào quý 1 trên băng tần 1800 MHz. Trả lời phóng viên VietnamPlus ngày 6/2, một đại diện nhà mạng cho biết hiện đã lắp đặt được 10.000 trạm BTS 4G. Mục tiêu của Viettel sẽ là phủ sóng 4G toàn quốc rộng như 2G với 35.000 trạm thu phát sóng.
Cuối tháng 12/2016, Viettel cũng đưa ra chính sách đổi SIM 4G miễn phí trên toàn quốc với hơn 1.600 điểm được bố trí tại các siêu thị, cửa hàng ủy quyền và điểm bưu chính Viettel.
Trong khi đó, đại diện của MobiFone cho hay sẽ cung cấp chính thức 4G vào quý 1. Nhà mạng cũng tung ra chính sách khuyến khích khách hàng đổi SIM 4G bằng cách tặng voucher (trị giá 500.000 đồng) cho 1.000 thuê bao đầu tiên và mã giảm giá này được sử dụng khi mua smartphone từ 6 triệu đồng trở lên tại hệ thống bán lẻ của mình.
Có đua về giá?
Bên cạnh việc đầu tư xây dựng hạ tầng, một lẽ đương nhiên, các doanh nghiệp cũng đang gấp rút xây dựng hệ sinh thái 4G để thu hút người dùng. Theo một số chuyên gia, đó có thể sẽ là những dịch vụ “ngốn” băng thông như xem video chất lượng cao (Mobile TV), truyền video Live streaming (Mobile Broadcast), truyền hình hội nghị (Cloud Video Conferencing)…
Ở khía cạnh quản lý, theo một lãnh đạo của Bộ Thông tin và truyền thông, Việt Nam rất khuyến khích tinh thần khởi nghiệp và tạo mọi điều kiện phát triển, ứng dụng những công nghệ tiên tiến như 4G LTE, IoT… giải quyết vấn đề cấp thiết, phục vụ cộng đồng như giám sát và bảo vệ môi trường, xây dựng nhà thông minh, thành phố thông minh, chăm sóc sức khỏe… Và, 4G sẽ mở ra cơ hội lớn cho việc đạt được các mục tiêu này.
Trải nghiệm dịch vụ 4G của MobiFone
Tuy nhiên, cùng với chất lượng và các dịch vụ nội dung trên nền 4G, một trong những yếu tố được người dùng quan tâm chính là giá cả của dịch vụ.
Cho đến thời điểm này, các nhà mạng đều cho biết giá của 4G sẽ cạnh tranh.
Vào thời điểm chính thức cung cấp 4G, phía VNPT VinaPhone cho hay, quy mô và chiến lược đầu tư vào các nhóm dịch vụ về Mobile Internet được xác định là lợi thế cạnh tranh của nhà mạng này năm 2017. Tuỳ theo từng gói sản phẩm cụ thể, giá cước 4G sẽ thấp hơn hoặc tương đương 3G. Ngoài ra, so với 3G, cách đóng gói sản phẩm 4G rất linh hoạt với từng nhóm nhu cầu nhỏ nhất. VinaPhone sẽ có nhiều chính sách trợ giá đối với thiết bị cho khách hàng…
Trong khi đó, với Viettel, đơn vị này dự kiến sẽ cung cấp với mức rẻ hơn so với hiện nay. Tổng giám đốc Viettel Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, sẽ triển khai 4G như đã từng làm với mạng 2G, mục tiêu là phổ cập dịch vụ băng rộng di động tới hầu hết người dùng di động, góp phần đưa Việt Nam lên thứ hạng cao trên bản đồ viễn thông thế giới.
Còn với MobiFone, trong thời điểm thử nghiệm 4G tại Hà Nội, doanh nghiệp này cũng đã đưa ra một số gói cước thử nghiệm với giá khá ưu đãi. Ví dụ như với gói DP120 với giá 120.000 đồng, người dùng sẽ được sử dụng 3GB Data và kèm theo đó là 120 phút gọi, 120 SMS nội mạng miễn phí; gói DP200 có giá 200.000 đồng với 4GB Data và 200 phút gọi, 200 SMS nội mạng miễn phí (tất cả được quy định sử dụng trong 30 ngày)… Tuy nhiên, đây chỉ là gói cước thử nghiệm và nhà mạng này đã tạm dừng triển khai.
Khách hàng hào hứng trải nghiệm 4G của VinaPhone thời điểm thử nghiệm đầu năm 2016 tại Phú Quốc. (Ảnh: T.H/Vietnam+)
Trong một lần trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ông Thiều Phương Nam, Tổng Giám đốc Qualcomm (đơn vị cung cấp thiết bị, giải pháp, tối ưu hóa mạng 4G) khu vực Đông Dương cho biết kinh nghiệm cho thấy ở những thị trường phát triển 4G thành công sẽ tạo cú hích cho cả ngành di động, kể cả sự tăng trưởng của các thiết bị đầu cuối, số lượng người dùng data và doanh số của các nhà mạng.
Nói về giá thành 4G, ông Nam cho rằng trên thế giới đa phần các nhà mạng bán những gói cước data theo dung lượng chứ không phân biệt bán data này theo 4G hay 3G.
Theo ông Nam, cái lợi của nhà mạng là 4G có tốc độ download rất nhanh nên lượng tiêu thụ Data tăng vọt. Trước kia dùng 3G không xem được Video HD hay những ứng dụng cần data nhiều, thì khách hàng chỉ cần mua gói cước dung lượng nhỏ. Khi dùng 4G thì gói cước dung lượng nhỏ sẽ hết rất nhanh. Bởi vậy, người dùng sẽ chọn mua gói cước lớn và điều này sẽ đem lại doanh thu cho doanh nghiệp viễn thông di động.
Rõ ràng, cuộc đua 4G đang ở giai đoạn bắt đầu và hứa hẹn sẽ đem lại nhiều thú vị cho ngành viễn thông di động trong năm 2017. Và hơn hết, cuộc đua “không khoan nhượng” của các nhà mạng cùng với sự quản lý tốt hơn của Bộ Thông tin và Truyền thông trong lĩnh vực này [ví dụ vừa qua đã “trảm” hàng loạt thuê bao di động trả trước kích hoạt sẵn-pv] được kỳ vọng sẽ đem tới những dịch vụ tốt cho người dùng, giúp thị trường phát triển bền vững./.
Khách hàng tìm hiểu về dịch vụ 4G của MobiFone. (Nguồn: MobiFone)
Comment (bình luận) là vấn đề đau đầu với nhiều tòa soạn trên thế giới và Việt Nam trong năm qua. Với sự trợ giúp từ công nghệ, các bên thứ ba, và cách duyệt comment được cải thiện, các tòa soạn đang củng cố lại các mục này và xem chúng như một phần không thể tách rời trong chiến lược tương tác với độc giả. VietnamPlus xin giới thiệu bài viết trên trang Nieman Reports của tác giả Sara Morrison.
***
Trong khi nhiều trang tin tức đã đóng cửa mục bình luận, David Hulen, tổng biên tập trang Alaska Dispatch News (ADN) lại quyết tâm giữ lại mục này. Giống như mọi trang web tin tức, những bình luận trên trang ADN cũng gặp nhiều vấn đề. Tuy nhiên, Hulen cũng nhận ra những mặt tốt của mục bình luận, cũng như khả năng biến nó trở thành một diễn đàn quan trọng dành cho cộng đồng tại một tiểu bang lớn nhưng luôn cho cảm giác như một thị trấn nhỏ này.
Sáu năm trước, khi còn là biên tập viên của tờ Anchorage Daily News (được Alaska Dispatch mua lại và sáp nhập năm 2014), Julia O’Malley đã viết một loạt bài 7 phần về hành trình cai nghiện của một người nghiện heroin. Lo ngại rằng nhân vật trong loạt bài, người đã tiết lộ rất nhiều chi tiết riêng tư về cuộc sống của mình cho độc giả, sẽ gặp phải nhiều bình luận không thiện chí, các biên tập viên đã quyết định đặt ra những câu hỏi cụ thể cho các độc giả đăng bình luận – chẳng hạn, “Cuộc đời bạn đã từng bị ảnh hưởng vì heroin bao giờ chưa?” – để định hướng cuộc thảo luận và loại bỏ mọi ý kiến không liên quan đến chủ đề hay có tính chất hạ nhục.
Theo Hulen, kết quả của chiến lược này là rất nhiều bình luận sâu sắc, giàu thông tin và cảm động được thêm vào loạt bài và chứng tỏ rằng việc định hướng cho mục bình luận có thể cải thiện được chất lượng đưa tin, miễn là tòa soạn có nguồn nhân lực để loại bỏ những bình luận không hữu ích.
Nhưng vấn đề nằm ở chính việc có nguồn nhân lực đó hay không.
Tuy là tờ báo lớn nhất Alaska, nhưng quy mô của ADN vẫn tương đối nhỏ với đội ngũ nhân viên chỉ 60 người. Không có nhân lực để kiểm duyệt mục bình luận, một số nhân viên phải chia ra để thay nhau làm công việc này. Và càng lúc họ càng thấy mình ở phe thất thế trong cuộc chiến chống những bình luận ác ý và những người thích nói mỉa. Hulen mô tả rằng đến cuối năm 2015, các mục bình luận của ADN đã trở thành “không gian của những gã thô kệch,” nơi những người đàn ông chửi vào mặt nhau và để lại những bình luận phân biệt chủng tộc và giới tính.
ADN sau đó chuyển sang nền tảng bình luận của Facebook với hy vọng việc người bình luận phải dùng tên thật sẽ buộc họ cư xử văn minh hơn. Nhưng không phải thế. Mục bình luận bị “dội bom” bởi những tài khoản Facebook giả hối thúc độc giả nhấn vào các đường dẫn về những bí mật giảm cân nhanh hay cách làm việc tại nhà mà vẫn kiếm được mức lương 6 con số hàng năm. Những nhân viên sàng lọc không thể theo kịp tình hình này. Và đã đến lúc phải thay đổi.
Trong vài năm qua, lối suy nghĩ của các tòa soạn về mục bình luận – vốn gần như không thay đổi kể từ khi được xuất hiện vào giữa những năm 2000 – cũng bắt đầu có sự chuyển biến. Trong khi nhiều tòa báo đã quyết định bỏ mục bình luận hoặc nhường lại cho các bên thứ ba như mạng xã hội, các tòa báo khác lại xem mục bình luận là một bộ phận thiết yếu trong chiến lược thu hút độc giả tương tác – và chiến lược thu hút độc giả tương tác là một bộ phận thiết yếu trong mô hình kinh doanh.
Một số tòa báo như The Guardian đã nghiên cứu kỹ mục bình luận để có cái nhìn đầy đủ về tương lai của nó. Trong hai khảo sát riêng rẽ, trang phân tích FiveThirtyEight và Dự án Tin tức tương tác của Đại học Texas đã hỏi hơn 9.000 người đăng tải comment về lý do, thời gian và cách bình luận của họ. Tờ Financial Times cũng đã đại tu chiến lược về mục bình luận của mình hồi mùa Xuân vừa rồi, và vào tháng Một, Washington Post đã khởi động bản tin hằng tuần về những cuộc đối thoại và bình luận có chất lượng tốt nhất từ các tin bài được đăng trên ấn bản điện tử trong tuần. Đối với hầu hết các hãng tin, những nỗ lực này là một phần trong một chiến lược lớn lao hơn nhằm lắng nghe độc giả nhiều hơn – cũng như để độc giả biết rằng họ được lắng nghe – và cuối cùng mang đến cho họ một sản phẩm đáng mở hầu bao. Sau thắng lợi của ứng viên tổng thống mà chẳng mấy nhà báo tin là sẽ chiến thắng, và những người ủng hộ tránh các tờ báo mang tính đảng phái nói lên những điều họ muốn nghe thay vì những gì đang thực sự diễn ra, cách suy nghĩ này càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Những nỗ lực này là một phần trong một chiến lược lớn lao hơn nhằm lắng nghe độc giả nhiều hơn – cũng như để độc giả biết rằng họ được lắng nghe
“Đúng là chúng ta có một mối quan hệ phức tạp với độc giả,” Mónica Guzmán, nhà đồng sáng lập dịch vụ thư tin tức The Evergrey và là một trong những người đầu tiên khởi xướng mục bình luận và tương tác với cộng đồng trong báo chí nhận định. “Tôi nghĩ là chúng ta đang dần hiểu những mối liên kết sâu sắc và những đóng góp tích cực có giá trị như thế nào. Việc chúng ta là người nói còn độc giả là người nghe đã kéo dài quá lâu rồi.”
Điều đó là không nên. Mà để mục bình luận thành chỗ cho người dùng bài bác, chơi khăm nhau cũng không được. Nhưng chuyển hết cộng đồng độc giả này sang cho mạng xã hội cũng không phải là một giải pháp. “Có nhiều cách chúng ta có thể áp dụng để dẫn dắt và định hướng cộng đồng cũng như thiết kế một không gian như vậy cho họ”, Guzmán nói. “Đó là một phần của dịch vụ mà chúng tôi cung cấp. Đó là một trách nhiệm.“
Dịch vụ đó có thể sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với những công nghệ mới giúp đạt các mục tiêu đặt ra. Công cụ Civil Comments trao trách nhiệm duyệt bình luận cho tất cả những người đăng comment bằng cách buộc họ xếp hạng những bình luận được chọn ngẫu nhiên trước khi có thể tự mình bình luận. Dự án The Coral lại hy vọng sẽ giới thiệu được một bộ công cụ có khả năng thống nhất và tích hợp tương tác của độc giả, bao gồm cả các bình luận, giữa các trang tin tức. Một số ấn phẩm đã hợp tác với nền tảng Genius, cho phép phóng viên và độc giả trực tiếp bổ sung thêm những ghi chú theo từng dòng bên cạnh một nội dung trên trang web và tổ chức một cuộc thảo luận tập trung về nội dung đó. New York Times đang hợp tác với Google để phát triển một công nghệ tiên tiến nhằm dạy cho máy móc tự động sàng lọc bình luận theo những cách trước đây chưa hề được thực hiện.
Năm 2006, The Washington Post đã trở thành trang tin lớn đầu tiên ở Mỹ cho phép bình luận dưới các tin bài. (Tờ báo này cho phép bình luận trên các trang blog của mình từ tháng 1/2005.) Động lực đằng sau quyết định này, theo Jim Brady, khi đó là tổng biên tập trang WashingtonPost.com, là để xem xem có bao nhiêu tin bài của tờ báo được thảo luận trên trang blog của những người khác. “Mọi người ở khắp nơi trên Internet nói về những gì mà The Washington Post viết. Tại sao chúng tôi lại phải đi tới 20 trang web khác nhau để xem phản ứng với câu chuyện khi chúng tôi có thể tự mình thu thập được thông tin đó?“
Trong khi các bình luận mở ra một không gian tại chỗ cho độc giả thảo luận, Brady cũng thừa nhận rằng không dễ thuyết phục các phóng viên tham gia. Đa số họ đều cảm thấy thoải mái khi giữ độc giả ở càng xa càng tốt. Brady đã nêu ví dụ về Chris Cillizza, một nhà báo từng rất nhiệt tình với những bình luận trên trang blog cá nhân có tên “The Fix” và các tin bài của mình, nhưng đã đổi ý.
Cillizza hiện ủng hộ loại bỏ mục bình luận dưới các tin bài về chính trị vì nghĩ rằng mọi người quá đam mê chủ đề này mà không thực sự đưa ra những thảo luận thú vị và hiệu quả – dù anh cũng tin rằng mục bình luận dưới các câu chuyện tin tức khác vẫn có thể có ích. Anh cũng là người hâm mộ của Quora, trang web hỏi đáp đã hợp tác với những trang như Newsweek hay Slate đăng các câu trả lời đặc biệt mang tính khai sáng hoặc thú vị trên trang web của mình. Tuy nhiên đến nay, đây vẫn giống một thỏa thuận làm ăn hơn một chiến lược tương tác, bởi những độc giả thực hiện tương tác là của Quora.
Một cách mà các hãng tin có thể sử dụng bên thứ ba để tương tác với độc giả thực sự là dùng chú giải. The Washington Post và Los Angeles Times đã hợp tác với nền tảng chú thích Genius để thêm bối cảnh từ các nhà báo và độc giả vào những bài nói của các chính trị gia và diễn viên. Los Angeles Times đã chú thích cho bài phát biểu của diễn viên Jesse Williams khi anh được tôn vinh vì các hoạt động nhân đạo tại lễ trao giải Black Entertainment Television Awards hồi tháng 6/2016. Độc giả không chú thích nhiều, nhưng lại phản hồi với những chú thích của Times, chia sẻ những trải nghiệm riêng của họ về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nhấn mạnh sự thiếu hụt các bài học về cộng đồng thiểu số trong sách giáo khoa lịch sử và giới thiệu những tác phẩm mở rộng các quan điểm mà Williams đưa ra.
Sự tham gia của tòa soạn có thể mang lại hiệu ứng tích cực – và người bình luận cũng thường xuyên hy vọng các nhà báo sẽ tham gia cùng họ.
Trong khi hầu hết các tòa soạn đang tìm cách kết hợp con người và công nghệ để tạo ra những mục bình luận có chất lượng hơn – tập trung vào việc duyệt bình luận do con người thực hiện – tờ New York Times đang có một chiến lược hơi khác lạ: hợp tác với công ty Jigsaw của Google để tạo ra công nghệ duyệt bình luận theo những tiêu chí được giả định là chỉ có con người có thể thực hiện, ví như giọng điệu hay trao đổi lạc đề. Vấn đề lớn nhất của Times với mục bình luận của mình là cách tiếp cận đó không thể làm trên quy mô lớn: các nhân viên duyệt bình luận chỉ có thể xử lý khoảng 11.000 bình luận mỗi ngày, và đó là lý do mục bình luận hiện chỉ có trong khoảng 10% các tin bài trực tuyến của tờ báo. Nếu quan hệ đối tác này diễn ra thuận lợi, vấn đề sẽ được giải quyết và Times sẽ có thể mở mục bình luận cho tất cả các tin bài của mình – và Google hy vọng sẽ biến công nghệ này thành mã nguồn mở cho phép các hãng tin khác cũng có thể sử dụng.
Các nhân viên duyệt bình luận của New York Times thường đặt tag cho các bình luận không được đăng tải và nêu lý do chúng bị từ chối. Tuy nhiên khi đó, họ không biết rằng cách làm này sẽ hữu dụng khi quyết định hợp tác với Jigsaw để phát triển khả năng tự học của máy móc, giúp chúng dự đoán những bình luận nào sẽ được hay không được nhân viên duyệt bình luận phê duyệt. Đây là bước tiến dài trong việc dùng công nghệ hỗ trợ kiểm duyệt mục bình luận, do trước đây chúng ta hầu hết chỉ dựa vào các bộ lọc để tìm những bình luận có chứa từ ngữ mang nghĩa xấu. Biên tập viên cộng đòng Bassey Etim cho biết tờ Times sẽ bắt đầu đưa thuật toán này vào sử dụng trong vòng vài tháng tới.
Các nhân viên duyệt bình luận cũng không cần phải tốn quá nhiều thời gian để bảo đảm những người bình luận có cư xử đúng mực, và họ sẽ có thêm thời gian cho các nhiệm vụ tạo dựng cộng đồng và tương tác như chọn lọc bình luận để đưa vào các bài viết của New York Times. “Điều tốt nhất mà bạn có thể làm cho một cộng đồng là chủ động cho họ thấy rằng tòa báo đang lắng nghe ý kiến của họ,” Etim chia sẻ. “Càng đầu tư cho việc đó, bạn sẽ càng thấy bớt căng thẳng hơn trong việc duyệt bình luận sau này.”
Mặc dù quản lý các bình luận là một công việc tương đối vất vả, sự tham gia của tòa soạn có thể mang lại hiệu ứng tích cực – và người bình luận cũng thường xuyên hy vọng các nhà báo sẽ tham gia cùng họ. Một cuộc khảo sát chung do dự án The Coral và dự án Tin tức tương tác của Đại học Texas đã thu về hơn 12.000 phản hồi và phát hiện ra rằng hơn 75% số người bình luận trên các trang tin tức sẽ thích thú nếu các phóng viên trả lời rõ ràng những câu hỏi thực tế trong phần bình luận, và gần một nửa cho biết họ mong các tòa soạn sẽ nêu bật những bình luận có chất lượng. Theo một cuộc khảo sát khác từ năm 2014 của dự án Tin tức tương tác, khả năng xuất hiện bình luận “thiếu văn minh” đã giảm 15% khi các nhà báo tham gia vào mục bình luận. Tuy vậy, sự tham gia này vẫn còn khá hiếm hoi. Nghiên cứu tương tự cũng trích dẫn một khảo sát năm 2010 cho thấy, mặc dù 98% phóng viên các tòa báo đọc các ý kiến bình luận, nhưng có tới 80% cho biết họ “không bao giờ” hoặc “hiếm khi” phản hồi.
Thái độ này đang thay đổi, chậm rãi nhưng chắc chắn. Một khảo sát năm 2016 của dự án Tin tức tương tác thực hiện với 34 nhà báo cho thấy tất cả các nhà báo này đều đọc các bình luận ít nhất một lần, mặc dù có 1/3 không phản hồi. Tuy nhiên đa số đều phản hồi các bình luận và xem sự tương tác đó như một phần công việc của họ.
Guzmán nhớ lại những bình luận đóng vai trò chủ chốt (cũng như những độc giả đã để lại bình luận) khi cô còn làm phóng viên cho phiên bản điện tử tại tờ Seattle Post-Intelligencer. Mặc dù cũng nhận được không ít bình luận ác khẩu, nhưng những bình luận mang tính xây dựng thường xuyên là nguồn ý tưởng cho chuyên mục của cô. “Tôi rút ra được rất nhiều điều từ các bình luận nhận được”, Guzmán cho biết. “Một nửa số câu chuyện tin tức của tôi đến từ những bình luận tôi nhận được từ câu chuyện trước. Tôi coi đó là một việc rất nghiêm túc. Nó có giá trị với tôi tới mức tôi nhìn ra những đồng nghiệp xung quanh và tự hỏi, ‘Tại sao mọi người không làm việc này?”
Guzmán cho biết trải nghiệm của cô với bình luận và thảo luận cộng đồng đã truyền cảm hứng cho The Evergrey, một sản phẩm thư tin mà cô đồng sáng lập kết hợp những phản hồi từ độc giả vào các câu chuyện, từ một bức thư tình gửi tới Seattle hoàn toàn theo gợi ý của độc giả, tới những phần trả lời câu hỏi của độc giả, như cách nhận biết một trang tin tức đáng tin cậy trong bối cảnh có quá nhiều “tin tức giả” lan tràn trên mạng xã hội.
Tuy nhiên các mục bình luận dường như vẫn bị ngó lơ. Khảo sát công bố năm 2016 của dự án Tin tức tương tác thực hiện với 525 biên tập viên và giám đốc tin tức ở tất cả các hãng truyền thông cho thấy, 10 năm sau khi mục bình luận trở nên phổ biến trên các trang tin tức, chỉ có 61% số tòa soạn có nhân viên duyệt bình luận, và chỉ có 22% có các quy định bằng văn bản cho công việc này. Điểm sáng là: 87% cho biết họ có phản hồi với các ý kiến trong mục bình luận trên báo và/hoặc trên mạng xã hội, dù khảo sát không đưa ra sự phân biệt giữa bình luận trên trang web và bình luận trên Twitter hay Facebook.
Trong báo cáo về tương tác của độc giả thực hiện cho Viên nghiên cứu báo chí Hoa Kỳ công bố tháng 5 năm ngoái, Guzmán đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ hợp tác và cùng có lợi với độc giả – “đảm bảo rằng những gì bạn làm có ý nghĩa với độc giả,” từ đó, theo quan điểm kinh doanh, “giúp bảo đảm các tác phẩm tìm được sự ủng hộ cần thiết của công chúng để có sức sống trường tồn.” Bình luận là một phần trong chiến lược tương tác với độc giả mà nhiều hãng tin đang bắt đầu hiện thực hóa, và đóng vai trò thiết yếu cả về mặt biên tập lẫn thương mại.
Sự thúc đẩy nhằm biến mục bình luận thành một khu vực tự do ngôn luận, nơi tất cả các quan điểm được chào đón, có thể có tác dụng ngược. “Đôi khi chúng ta mắc lỗi khi cho phép tất cả mọi người được nêu ý kiến mà không nhận ra rằng điều đó khiến một số nhóm người không thể lên tiếng,” Mary Hamilton, biên tập viên phụ trách hoạt động tương tác với độc giả của The Guardian cho hay. The Guardian, tờ báo khuyến khích độc giả tham gia vào các câu chuyện tin tức đang trong quá trình xem xét cách tiếp cận của mình với mục bình luận và thảo luận cộng đồng. Tháng 4 năm ngoái, The Guardian đã công bố kết quả nghiên cứu 70 triệu bình luận trên trang tin của mình từ năm 1999 đến năm 2016 (mặc dù đa phần những bình luận này có từ sau năm 2006) cho một loạt bài có tên “The Web We Want” (Trang web mà chúng ta muốn) nghiên cứu về sự lạm dụng trực tuyến.
Nhóm nghiên cứu dữ liệu đã xem xét có bao nhiêu bình luận bị chặn, và chuyên mục nào cũng như cây bút nào có xu hướng thu hút nhiều bình luận bị chặn nhất. Số bình luận bị chặn trong số 70 triệu bình luận này khá nhỏ: 1,4 triệu, tương đương 2%. Tuy nhiên những cộng đồng thiểu số trong xã hội lại phải chịu đựng những bình luận ác ý này. Những bài viết do tác giả là phụ nữ thực hiện có tỷ lệ bình luận bị chặn cao hơn so với những bài viết của các tác giả nam, và những bài viết về nữ quyền hay cưỡng dâm nằm trong số những tin bài có tỷ lệ bình luận bị chặn cao nhất. Trong top 10 tác giả nhận được những bình luận nhục mạ nhất, có 8 người là phụ nữ, trong đó có 4 phụ nữ da trắng và 4 phụ nữ da màu. Hai người còn lại là nam giới, một người da màu và một người đồng tính. Toàn bộ 10 tác giả nhận được ít bình luận nhục mạ nhất đều là nam giới.
Nghiên cứu sâu này là một phần trong tầm nhìn chiến lược của tổng biên tập Katharine Viner nhằm tìm cách tăng cường sự trung thành của độc giả và biến sự trung thành đó thành những độc giả trả phí đọc tin. Theo Hamilton, những người viết bình luận thường là những độc giả để tâm và tận tụy nhất: “Mặc dù chỉ chiếm số ít, nhưng đó là những độc giả trung thành nhất. Cách tương tác đó, nếu được làm đúng với sự cam kết và thấu hiểu về sự phù hợp có thể mang lại giá trị to lớn cho tòa soạn.”
Hamilton cho biết The Guardian cũng đang tìm cách đánh giá giá trị của các bình luận, cũng như việc tạo ra những cuộc thảo luận chất lượng và mang tính xây dựng để thu hút độc giả: “Chúng tôi đang suy nghĩ về phương pháp đo giá trị của các bình luận với những người đọc chúng cùng với các bài báo của chúng tôi,” Hamilton chia sẻ.
Aron Pilhofer, người từng phụ trách phiên bản điện tử của The Guardian trước khi đầu quân cho khoa Truyền thông và Thông tin của Đại học Temple hồi mùa hè năm ngoái coi sự tương tác với độc giả là “cốt lõi căn bản với bất cứ ấn phẩm nào coi sự trò chuyện là một điều quan trọng. Tôi đang muốn nói tới hoạt động đăng ký nhận tin tức, thành viên hoặc đóng góp của độc giả.”
Trước khi chuyển đến The Guardian năm 2014, Pilhofer đã là biên tập viên quản lý chiến lược kỹ thuật số của New York Times. Anh đã chứng kiến Times thử nghiệm các chính sách và nền tảng bình luận cũng như những cách thu hút độc giả khác, và dẫn chứng mục “The Lives They Loved” (Những người họ yêu) – một chuyên mục mà độc giả có thể gửi những bức ảnh và câu chuyện về ai đó mà họ biết đã qua đời trong năm qua – như một ví dụ tuyệt vời về “báo chí hợp tác” bắt nguồn từ những sáng kiến như vậy. Tuy nhiên, Pilhofer cũng nói rằng, những dự án này thường chỉ mang tính ngày một ngày hai. Anh muốn có một nền tảng có thể trở thành “bộ công cụ cho các tòa soạn thực hiện loại hình báo chí hợp tác này.”
New York Times đã phối hợp với The Washington Post và Mozilla để tạo lập loại nền tảng cộng đồng này. Vào tháng 6/2014, quỹ Knight đã trao cho dự án The Coral khoản tài trợ 3,9 triệu USD cho hoạt động trong vòng 3 năm kế tiếp. Nhà nghiên cứu phụ trách dự án, Andrew Losowsky, cho biết họ đã lên kế hoạch giới thiệu 2 công cụ mới vào tháng 6/2017, tất cả đều là mã nguồn mở và miễn phí cho bất cứ tòa soạn nào muốn sử dụng.
Hai công cụ này được gọi là Ask (hỏi) và Talk (nói chuyện). Công cụ ra mắt đầu tiên, Ask, sẽ cho phép phóng viên đề nghị độc giả đóng góp hay trả lời các câu hỏi. Công cụ này đã xuất hiện trên trang Philly.com trong cuộc bầu cử tổng thống, được dùng để thu hút các bài viết từ công dân về trải nghiệm bỏ phiếu, sau đó thu thập và đăng phản hồi của độc giả với kết quả bầu cử. ProPublica cũng đã thực hiện hoạt động tương tự phục vụ cho sáng kiến “Get Involved” (Hãy tham gia) của mình, theo đó đề nghị độc giả gửi thông tin về căn hộ đi thuê của họ trong cuộc điều tra về các chủ đất tại New York, hoặc những câu chuyện về việc thông tin y tế của họ bị xâm phạm khi điều tra về các hành vi vi phạm quyền riêng tư của bệnh nhân.
Talk, công cụ mà Losowsky hy vọng sẽ sớm ra mắt đầu năm 2017, về cơ bản là một mục bình luận. Losowsky cho biêt Talk cung cấp cho các nhân viên duyệt bình luận nhiều thông tin hơn về cộng đồng bình luận, có thể được dùng để xác định những kẻ gây rối và các nguồn tin. Biên tập viên cộng đồng có thể tìm những người dùng đăng bình luận nhưng hiếm khi phản hồi những bình luận khác để xác định liệu họ có phải là kẻ chơi khăm hay không. Hoặc họ có thể tìm những người bình luận có tỷ lệ lớn bình luận bị gắn cảnh cáo hoặc bị nhân viên duyệt xóa.
Tích cực hơn, các bộ lọc có thể được dùng để tìm những người đăng bình luận để lại những bài đăng dài hơn và mang tính xây dựng được những người khác đánh giá cao. Nếu một nhà báo đang cần tìm nguồn tin trong những bình luận mà họ có trải nghiệm cá nhân hay là chuyên gia về chủ đề, các bộ lọc cũng giúp quá trình này diễn ra nhanh hơn.
Đương nhiên, công cụ này chỉ có hiệu quả ngang với đội ngũ duyệt bình luận của tòa soạn. “Nó không phải là kiểu “bật-lên-rồi-để-đấy, nó sẽ tự làm mọi thứ cho chúng ta’. Đây là một cách giúp các hoạt động duyệt bình luận của bạn dễ xác định và dễ dự đoán hơn.”
Civil Comments, công cụ yêu cầu người bình luận phải đánh giá chất lượng và tính văn minh của các bình luận khác trước khi được phép đăng bình luận của mình là một cách tiếp cận khác để tinh giản quá trình duyệt. “Chúng ta chỉ cần phải tìm cách sửa chữa lại hậu quả mà thiểu số những người đang hủy hoại trải nghiệm của những người khác gây ra”, Christa Mrgan, nhà đồng sáng lập Civil với Aja Bogdanoff hồi tháng 1/2015 cho biết.
Civil lựa chọn ngẫu nhiên những bình luận cho độc giả đánh giá, để tránh họ thiên vị cho bạn bè và hạ thấp đối thủ của mình. Nếu người dùng cho điểm quá thiên vị, tài khoản của họ sẽ bị đánh dấu cảnh báo. Tuy nhiên Bogdanoff coi công cụ này giống một hệ thống thay đổi hành vi hơn một bộ lọc. Không chỉ buộc người bình luận phải nghĩ kỹ về tính văn minh trước khi gửi bình luận, nó còn biến họ thành những người kiểm duyệt. Trang web càng nhận được nhiều bình luận, thì đánh giá bình luận nhận được cũng càng nhiều. Điều này giúp công việc của các nhân viên duyệt bình luận hay biên tập viên cộng đồng trở nên bớt vất vả, và họ có thể tập trung vào các chiến lược thu hút độc giả khác.
ADN, tòa soạn của David Hulen là một trong những hãng tin lớn nhất sử dụng công cụ Civil. Các tòa soạn khác bao gồm Eugene, The (Oregon) Register-Guard, Honolulu Civil Beat và The Globe and Mail của Canada.
Một tháng sau khi cài Civil Comments, ADN đã đăng một câu chuyện về một người đang tìm bố mẹ đẻ sau khi bị bỏ rơi từ khi còn là một đứa bé. Đây là bản cập nhật của câu chuyện nổi tiếng trên tờ Anchorage và câu chuyện về một người đàn ông muốn biết về nguồn gốc của mình. Câu chuyện này có khả năng kéo theo khá nhiều bình luận ác ý với hệ thống cũ của ADN. Tuy nhiên thực tế thì không như vậy. Hulen tin rằng nền tảng mới đã giúp chuyện đó không xảy ra. Anh chỉ ra hai bình luận ấn tượng nhất.
Toàn bộ văn hóa bình luận cũng cần thay đổi, từ những người đăng bình luận tới người duyệt bình luận.
Một người bình luận nhớ ra là đã từng tới nhà thờ cùng người đàn ông và gia đình nhận nuôi anh ta, sau đó trông anh ta khi anh ta được nhận nuôi. “Anh và con gái tôi rất thích chơi với nhau”, bà viết. “Tôi vẫn nghĩ về anh rất nhiều lần trong suốt thời gian qua. Chúc anh thành công.”
Một phụ nữ khác cho biết cô mới 17 tuổi khi đã mang thai 7 tháng, vì thế câu chuyện của người đàn ông cho cô rất nhiều hoài niệm. “Tôi đã khóc rất nhiều. Tôi đã cầu nguyện, và tạ ơn Chúa đã cho tôi một tấm lưới an toàn, đó là mẹ tôi.” Cô cho biết sẽ tiếp tục cầu nguyện cho người đàn ông “tìm thấy câu trả lời anh xứng đáng được biết, để anh có thể cảm thấy an lòng.”
Nhiều người khác cũng đã nêu nhiều ý kiến giúp người đàn ông tìm gia đình ruột thịt của mình, hoặc chia sẻ câu chuyện được nhận nuôi và mong muốn tìm lại cha mẹ đẻ của chính mình. Không có bình luận vô thưởng vô phạt nào, và trừ một vài ngoại lệ, “tất cả bình luận đều rất ngọt ngào”, Hulen cho biết. “Chúng giàu tính người hơn.”
Những nền tảng bình luận mới này sẽ giúp việc kiểm duyệt trở nên dễ dàng hơn, nhưng đó mới chỉ là sự khởi đầu. Giành lại những người bình luận có thiện chí, những người đã bỏ mục bình luận khi chúng trở nên tồi tệ, xác định và xử phạt những người đăng bình luận ác ý, cũng như thuyết phục các nhà báo và tòa soạn đóng vai trò lớn hơn trong định hình cộng đồng thảo luận cũng cần được thực hiện. Toàn bộ văn hóa bình luận cũng cần thay đổi, từ những người đăng bình luận tới người duyệt bình luận. Kết quả sẽ là một sản phẩm có giá trị không chỉ về tính thông tin mà còn về tính cộng đồng.
“Bạn sẽ thấy những dòng doanh thu đa dạng, sự bền vững và một cộng đồng lớn mạnh hơn,” Guzmán nhận định về những tòa soạn đã áp dụng thành công chiến lược này. “Đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên”./.
Trong mấy năm trở lại đây có rất nhiều website tin tức ra đời ở Việt Nam. Có những trang thuộc nhóm “trang tin tổng hợp,” có những trang là phiên bản online của tờ báo in, và có cả nhiều trang dán nhãn báo điện tử hẳn hoi. Một điều dễ nhận thấy là khá nhiều website trong số này đi theo một công thức giống nhau: ban đầu họ sẽ dùng một số loại nội dung gây sốc để thu hút độc giả, nhờ đó lượng truy cập tăng vọt.
Nội dung thì đủ loại, từ những chuyện hậu trường với người nổi tiếng, chuyện giới tính hay chuyện tình ái mờ ảo ảo với nhiều loại video clip hoặc hình ảnh hở hang minh họa, cho đến cả những chuyện xã hội-kinh tế mang màu sắc phóng sự điều tra. Cũng có những nội dung chất lượng, nhưng phần nhiều được độc giả gán cho một cụm từ đầy khinh miệt là “câu view.” Rất nhiều người dùng Internet đã lên tiếng kêu than vì bị lừa đọc những loại thông tin mà họ cho là vô bổ, thậm chí không lành mạnh.
Đó là chưa kể đến việc nhiều thông tin bị tố cáo là “xào nấu” xâm phạm bản quyền, đánh đấm doanh nghiệp hoặc cá nhân thiếu căn cứ, hoặc thậm chí không đúng sự thực. Điều oái oăm là những thông tin gây sốc lại rất dễ dàng được chia sẻ trên mạng xã hội, và đáng ngạc nhiên hơn là người dùng vẫn chia sẻ những thông tin đó, trong khi tiếp tục lên tiếng mắng chửi những trang tin thiếu tin cậy.
Rồi sau một thời gian tăng tốc, phần lớn trong số này bắt đầu lao dốc, thậm chí có không ít trang đã ngừng hoạt động. Một số website tiếng tăm một thời – cả theo nghĩa tích cực lẫn tiêu cực – nhưng giờ đây biến mất hoàn toàn hoặc hầu như không còn được ai nhắc tới.
Thực ra, kiểu “làm báo câu view” xuất hiện ở khắp nơi. Một bài báo trên BBC vào năm 2015 từng viết rằng ngày càng nhiều nhà xuất bản tin tức sử dụng chiêu này – tiếng Anh dùng thuật ngữ “clickbait” – đơn giản vì lý do kinh tế: càng nhiều click thì càng có nhiều người đến với website, nghĩa là càng thu được nhiều tiền quảng cáo hơn.
Những loại bài thế này ngày càng trở nên phổ biến phía dưới các bài viết online (Nguồn: BBC)
Bất bình với kiểu làm báo câu view
Nói một cách đơn giản thì “câu view” là kiểu viết tiêu đề – vốn là một kỹ năng cao cấp trong quá trình viết báo – khiến độc giả phải click vào để đọc bài. Nhưng nó thường được dùng với nghĩa tiêu cực để ám chỉ những tiêu đề giật gân, gây sốc, mà nhiều khi nội dung hóa ra là thông tin quảng bá, một câu chuyện hoàn toàn khác hoặc thậm chí gây hiểu nhầm. Chẳng hạn một tiêu đề “Đánh bạc có gái giải đen” thực ra là thông tin xử án một nhóm gần 70 người sau vụ bắt một sới bạc lớn hơn nửa năm trước đó, và chi tiết mua dâm chỉ vỏn vẹn một dòng, chẳng liên quan đến câu chuyện tại phiên tòa.
Có những tòa soạn ở Việt Nam đánh giá chất lượng của một bài viết, hoặc một phóng viên/biên tập viên, dựa trên số lượng truy cập chứ không phải giá trị nội dung của bài viết đó. Chuyện này cũng không phải hiếm ở nước ngoài. Một bài viết trên Columbia Journalism Review đã chỉ ra trường hợp của tạp chí online Slant, nơi trả “lương cứng” cho người viết là 100 USD mỗi tháng, cộng thêm 5 USD cho mỗi 500 lượt click vào các bài viết của họ.
Trong một bài báo vào ngày 22/1/2017 mới đây, tác giả Danielle Ryan thậm chí tuyên bố “danh tiếng của báo chí giờ đây vứt vào toilet.”
Ryan hoài niệm về cái thời mà các nhà báo phải vô cùng vất vả để kiểm chứng sự thực trước khi đăng tải một bài viết. Việc kiểm chứng sự thực và điều tra kéo dài cho tới khi nhà báo đạt tới điểm tin tưởng rằng mọi chứng cứ là chắc chắn. Đôi khi tiến trình này kéo dài nhiều tháng, có trường hợp mất nhiều năm. Thời đó, tin sốt dẻo không có nghĩa là một nguồn tin tình báo ấn danh bật mí chút nội dung cho nhà báo chỉ để vài giờ sau nó xuất hiện trên trang báo in và với cái mác chân lý. Thời đó đã qua rồi.
Trong một môi trường truyền thông chạy theo lượng truy cập, bị tê liệt bởi hiện tượng tâm lý xảy ra đối với một nhóm người, trong đó các thành viên quá xem trọng sự hòa hợp và thống nhất trong nhóm dẫn đến không xem trọng việc đánh giá thực tiễn và đưa ra hành động, thì chưa thẩm định không còn có nghĩa là không thể xuất bản, nguồn tin chất lượng kém không đồng nghĩa với việc phải hoài nghi. Số lượng và tốc độ đang trở thành tiêu chí quan trọng hơn là chất lượng và tính chính xác. Và trong nền văn hóa truyền thông xã hội tự khuếch đại này, số lượng người theo dõi một nhà báo trên Twitter hay Facebook dường như trở thành tiêu chí đánh giá giá trị của nhà báo đó.
Theo Ryan, báo chí chất lượng vẫn tồn tại đâu đó, nhưng chìm nghỉm trong cả biển nội dung với mọi cách thức thu hút sự chú ý của người dùng mà đa phần bị coi là rác rưởi. Báo chí giờ quay sang sản xuất loại bài dạng liệt kê (listicle), câu đố, loại bài tốc ký giả dạng tin tức, những bài bình luận nửa vời, thậm chí cả nội dung ngụy tạo, tin tức giả mạo (fake news) hay video về những chú mèo chú chó dễ thương.
Nhưng dường như đã đến thời điểm mà người dùng Internet bị nhận quá nhiều thông tin. Hơn 2 thập niên về trước, khi Internet xuất hiện, ai ai cũng hồ hởi bơi ra biển lớn và cảm thấy thích thú vì được tiếp cận nhiều luồng thông tin nguyên bản, không phải qua “bộ lọc” của báo chí. Song càng bơi ra xa, thông tin càng ngồn ngộn, họ trở nên quá tải, đặc biệt là với sự phát triển như vũ bão của các nền tảng truyền thông xã hội, khi người dùng không phải tìm đến tin tức mà tin tức tự tìm đến người dùng.
Nghiên cứu khoa học
Ý tưởng về “quá tải thông tin” được các nhà nghiên cứu quan tâm từ thập niên 1960. Vào năm 1965, ba nhà khoa học (Streufert, Suedfeld và Driver) công bố nghiên cứu về phản ứng của một nhóm sinh viên khi được “nhồi” khối lượng thông tin nhiều hơn mức độ họ có thể xử lý. Kết quả nghiên cứu vô cùng bất ngờ.
Các nhà nghiên cứu đã mời 185 sinh viên cao học tham gia một cuộc tấn công giả định vào một hòn đảo không có thực. Các nhà nghiên cứu chia số sinh viên thành các nhóm nhỏ và hỏi mỗi nhóm xem họ muốn nhận bao nhiêu thông tin từ các sĩ quan tình báo. Sinh viên được biết rằng những thông tin tình báo này sẽ giúp họ đưa ra các quyết định trên chiến trường. Song điều các sinh viên không hề biết trước là các giáo sư sẽ phớt lờ câu trả lời của họ và cung cấp báo cáo tình báo với số lượng ngày càng tăng.
Mục tiêu là sẽ cung cấp cho tất cả các nhóm khối lượng thông tin mà cuối cùng sẽ khiến họ quá tải. Để đánh giá xem có đạt được điều này hay không, nghiên cứu đo số lượng quyết định mà mỗi nhóm đưa ra dựa trên những thông tin họ tiếp nhận. Câu chuyện ở đây không phải là các sinh viên có đưa ra mệnh lệnh đúng đắn để chiếm được hòn đảo hay không, mà là liệu họ có thể đưa ra được các quyết định hay không.
Biểu đồ dưới đây cho thấy hoạt động của các nhóm. Dựa trên những bài kiểm tra trước đó, các sinh viên được phân loại theo mức độ thông minh. Đường chấm là hoạt động của nhóm sinh viên thông minh hơn. Các quyết định rõ ràng tăng lên khi lượng thông tin cung cấp cho họ tăng lên – nhưng kể cả những sinh viên này cũng đạt đỉnh ở một thời điểm nhất định. Khi họ nhận được tần suất 10 thông điệp cho mỗi nửa giờ thì hoạt động giảm mạnh. Những sinh viên ít thông minh hơn (ở đây là các đường nối liền) đưa ra ít quyết định hơn, và cũng bắt đầu giảm nhanh khi cứ nửa tiếng lại nhận được 15 thông điệp trở lên.
Các nhà nghiên cứu tiếp tục thử nghiệm với đề nghị tăng hoặc giảm thông tin. Điều kỳ lạ là tất cả các sinh viên đề yêu cầu tăng thêm thông tin, ngay cả khi họ đã lâm vào tình trạng quá tải. Ngay cả khi lượng thông tin đạt tới 25 thông điệp cho mỗi nửa giờ – tức là gấp đôi mức gây quá tải – thì các sinh viên vẫn yêu cầu “thêm một chút” thông tin. Biểu đồ dưới đây cho thấy những yêu cầu này (lưu ý rằng chỉ số thấp nhất trên trục đứng là “một số thông tin” chứ không phải là không có thông tin nào). Nhìn vào biểu đồ này có thể dễ dạng nhận ra tình trạng “tham lam” thông tin đến thế nào.
Người ta so sánh tình trạng tham lam thông tin với cuộc khủng hoảng về bệnh béo phì và thấy có nhiều điểm tương đồng. Kiểu như tiêu thụ một “bit” thông tin thì mang lại cho người dùng một liều dopamine kích thích, nó vừa sảng khoái nhưng lại vừa nguy hiểm chẳng khác nào nạp thêm một calorie vào người.
Trong nửa thế kỷ qua, tình trạng béo phì bùng nổ trong khi các loại đồ ăn kiêng trở nên rẻ hơn và ngày càng có nhiều loại đồ ăn kiêng ở các nước phát triển. Một số người để xua đi cơn thèm ăn thì sử dụng vô độ các loại đồ ăn kiêng, tin tưởng vào những thương hiệu lớn với lời hứa hẹn về các chất siêu dinh dưỡng. Hậu quả là tỷ lệ béo phì tăng vọt, như ở Mỹ lên tới 34,9%. (Con số này tại Việt Nam là hơn 25%)
Thông tin “rác”
Đối với tình trạng “ăn kiêng thông tin,” chúng ta vấp phải sự lựa chọn giữa một bên là thói háu ăn và một bên là sự sáng suốt. Có quá nhiều nhà cung cấp thực phẩm chức năng trên thị trường thông tin. Có khoảng hơn 10 nhà cung cấp, kiểm soát hầu như toàn bộ những tin tức mà hơn 1 tỷ người nhìn thấy trên Facebook. Đây là một dạng “báo chí mì ăn liền,” tức là tình trạng sản xuất nhanh chóng một lượng lớn thông tin mà không được kiểm chứng hoặc được điều tra một cách thỏa đáng. Phóng viên tại nhiều cơ quan báo chí đang trở thành những nhà báo trên “vòng quay của những chú chuột hamster,” chạy đua để tung ra bài viết hời hợt hoặc thậm chí chỉ là những bản thông cáo báo chí dập khuôn sớm hơn các đối thủ cạnh tranh.
Internet phụ thuộc vào một cách tiếp cận công nghệ đơn giản, theo đó các thông điệp được chia thành các phần nhỏ hơn, gọi là “gói” (packet) trước khi được truyền phát từ chiếc máy này sang chiếc máy kia. Các “gói” chuyển động độc lập, mỗi “gói” lại tìm ra cách riêng để vượt qua mạng lưới và đến điểm đã định sẵn. Nói chung không phải lúc nào thông điệp cũng được chuyển tải đầy đủ, nhưng Internet sử dụng cơ chế “sửa lỗi” để điều chỉnh vấn đề đó. Mỗi “gói” có một “header” nhỏ, nói cho bên nhận biết nó khớp vào đâu trong toàn bộ thông điệp. Những “gói” bị thất lạc có thể được xác định và yêu cầu cung cấp lại.
Tin tức được chuyển tải trên Internet cũng đến với chúng ta theo cách đó: kiểu như một cơn bão gói dữ liệu đánh vào một nút trên mạng lưới: những phần nhỏ của một câu chuyện sẽ tác động đến quan điểm của chúng ta từ nhiều hướng khác nhau. Nếu các gói này không đến từ nguồn tin cậy thì chúng sẽ không có “header” và cũng không có cơ chế sửa lỗi. Dữ liệu thì rời rạc, thông điệp thì không hoàn chỉnh. May mắn là chúng ta có một hình thức sửa lỗi để sắp xếp những dữ liệu thiếu mạch lạc này và lấp vào chỗ trống: đó chính là các cơ quan báo chí. Các tòa soạn và đội ngũ sản xuất nội dung nằm ở trung tâm của các cơ quan báo chí đáng tin cậy là cơ chế sửa lỗi của Internet. Nhưng cơ chế sửa lỗi này đang bị đe dọa.
Nhưng vẫn có lý do để tin rằng nó sẽ phục hồi.
Trang Highline của Huffington Post
Cuộc đua tạo ra nội dung chất lượng
Tiến sỹ Johnny Ryan, người đứng đầu bộ phận Ecosystem của công ty PageFair, kể lại rằng vào năm 2013, khi ông đang làm việc cho tờ The Irish Times, ông đã tiến hành một cuộc khảo sát độc giả xem họ có bị quá tải thông tin hay không. Kết quả cho thấy đúng là độc giả thấy ngợp vì nhận được nhiều thông tin hơn khả năng xử lý, và nhiều người muốn hiểu rõ câu chuyện hơn, muốn biết lý do việc nào đó xảy ra và nó có ý tác động ra sao, chứ không chỉ là những tin tức dạng tiêu đề mà không có phân tích.
Loại nội dung tin cậy mà người dùng quan tâm thực tế không nhiều nên một số cơ quan báo chí có thể thu phí. Chẳng hạn nội dung trên The Financial Times, The Economist hay Vogue vẫn là những thứ “đáng đồng tiền bát gạo” cho dù độc giả cũng có thể tìm được những nội dung tương tự mà chẳng phải mất xu nào.
Giống như một người nhận thức rõ về sức khỏe của bản thân sẽ từ chối những chất bảo quản, phẩm màu, hương vị, chất làm ngọt nhân tạo, và lựa chọn những chất phụ gia tốt hơn, những người tiêu dùng thông tin có ý thức sẽ cẩn thận lựa chọn những thông tin cân bằng và đáng tin cậy do một cơ quan báo chí hoặc một website danh tiếng cung cấp.
Có thể điều này lý giải tại sao nhiều cơ quan báo chí đang trở lại cuộc đua sản xuất nội dung chất lượng cao. Tuy loại nội dung “câu view” chất lượng thấp và được sản xuất với số lượng lớn dường như đang tràn lan trên Internet, nhưng các cơ quan báo chí digital hàng đầu đầu đầu tư mạnh mẽ vào loại nội dung chất lượng cao. Huffington Post mở trang “Highline”, mà họ mô tả là “một căn nhà digital mới cho lối làm báo cũ.” Highline gồm những nội dung quy mô lớn và đầy tham vọng, tốn nhiều thời gian sản xuất, với mục đích “thay đổi cách nhìn thế giới hoặc tác động đến quá trình ra chính sách.” Tương tự, BuzzFeed – một thời là nhà cung cấp thông tin “câu view” rất được ưa chuộng – đã thành lập nhóm chuyên về phóng sự điều tra vào năm 2013 và kéo nhà báo từng đoạt giải Pulitzer là Mark Schoffs về phụ trách. Kết quả là một sự hợp tác giữa BuzzFeed với BBC giúp phơi bày đường dây ấn định kết quả các trận đấu tennis chuyên nghiệp quốc tế vào tháng 1/2016.
Cuộc đua sản xuất nội dung chất lượng cao còn lan sang cả các không ty không làm tin tức. Netflix, hiện đang phải cạnh tranh với Amazon Prime và các đối thủ khác để trở thành dịch vụ streaming lớn nhất, đã giải thích lý do với các nhà đầu tư của họ rằng việc chi phí mạnh tay cho sản xuất nội dung là cần thiết để trở thành nhà cung cấp nội dung chất lượng cao và nhờ đó sẽ ký được nhiều thỏa thuận nội dung độc quyền.
Báo chí cũng là một sản phẩm thương mại trong xã hội, nhưng là một sản phẩm đặc biệt. Xưa kia độc giả mua báo, khán giả bật kênh truyền hình hay phát thanh (để các đài có thể bán quảng cáo) là vì họ tin tưởng vào những thông tin đăng tải trên đó thay vì những câu chuyện truyền miệng hay tin đồn ngoài chợ. Một cơ quan báo chí muốn có được vị thế cao phải dựa vào uy tín – uy tín của các nhà báo và uy tín của chính cơ quan báo chí đó. Và uy tín chỉ có thể được gây dựng qua quá trình sản xuất những nội dung chất lượng cao phục vụ độc giả.
Cuối cùng, sự tin tưởng và chất lượng vẫn luôn là những yếu tố vô cùng quan trọng đối với báo chí trong thời buổi quá nhiều thông tin hiện nay. Vì thế, chỉ những thương hiệu báo chí-truyền thông danh tiếng và có quyền lực, được người dùng tin tưởng, mới giành phần thắng. Nhưng họ phải xứng đáng để tồn tại nếu thực sự muốn tồn tại trong lòng độc giả và khán thính giả.
Còn loại nội dung câu view thì khó mà gây dựng uy tín được. Việc không thể cạnh tranh với mạng xã hội về loại thông tin như vậy, và thực tế phũ phàng của việc không thể kiếm được nguồn thu từ số lượt truy cập trong tương lai gần, sẽ là sức ép buộc những cơ quan báo chí lâu nay áp dụng chiến lược này phải suy nghĩ lại./.
Diễn đàn Kinh tế thế giới diễn ra tại Davos (Thụy Sĩ) mới đây đã cho thấy cuộc Cách mạng Công nghệ thế hệ bốn đã, đang và sẽ chi phối mạnh mẽ tới sự phát triển của các quốc gia.
Có mặt tại diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng nhấn mạnh, trước những thách thức mới, Việt Nam đang tập trung cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng để tranh thủ cơ hội của cuộc Cách mạng Công nghệ 4.0.
Để đem lại cái nhìn toàn diện về thực trạng kinh tế thế giới và Việt Nam, cũng như triển vọng trong năm 2017 và những năm tiếp theo, VietnamPlus xin giới thiệu bài viết của chuyên gia tài chính-ngân hàng, cựu Giám đốc Ngân hàng bang Vaud, Liên bang Thụy Sĩ, Phạm Nam Kim.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Tiêu đề nhỏ do tòa soạn đặt.
Nhìn về dài hạn, kinh tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng bắt đầu từ khủng hoảng tài chính 2008. Nếu nhìn rộng hơn nữa, kinh tế những nước phát triển vẫn chưa tìm được lối thoát thực sự cho những nghịch lý về cơ cấu kinh tế phát sinh sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu tại phiên toàn thể với chủ đề “Bản sắc ngành chế tạo: ASEAN đã trở thành một cộng đồng hay chưa?”. Ảnh: Thống Nhất-TTXVN
Hệ lụy từ nền kinh tế “ảo”
Từ 20 năm trở lại đây, kinh tế các nước phát triển đã rời nền tảng công nghiệp. Tuy nhiên, hướng thay thế bằng kinh tế dịch vụ cũng không thành, vì đã theo con đường đầu cơ, kinh tế “ảo.” Nhưng con đường này cũng đã bị các chính quyền ngăn chặn từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Vấn đề cơ bản là các quốc gia này vẫn chưa tìm được hướng đi mới cho nền kinh tế của họ.
Thêm vào đó tình trạng di cư tới những quốc gia có mức sống cao đang diễn ra ồ ạt tại các nước phát triển và ảnh hưởng không nhỏ đến chính trị-xã hội của các quốc gia đó.
Trong năm 2016, ảnh hưởng chính trị của cuộc khủng hoảng di cư trở nền trầm trọng hơn với sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào dân túy. Người dân đã thể hiện quan điểm của mình qua việc bỏ phiếu “đồng ý” với Brexit tại Anh, cũng như qua kết quả bầu cử Tổng thống ở Mỹ và bầu cử ở các quốc gia châu Âu khác.
Năm 2016, cũng là năm các quốc gia mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc phát hiện ra là mô hình phát triển dựa trên gia công giá rẻ và thả lỏng quy định về bảo vệ môi trường cũng có giới hạn và không thể kéo dài hơn nữa. Tuy nhiên họ vẫn chưa kiếm ra được một mô hình phát triển có thể đáp ứng cho cuộc chạy đua về tốc độ tăng trưởng do những áp lực chính trị – xã hội.
Trong thời gian qua, như những nước mới nổi khác, Việt Nam đã được hưởng lợi nhờ sự chuyển dịch công xưởng sản xuất từ những nước phát triển sang vì giá nhân công rẻ, cũng như sự dễ dãi tương đối trong những quy định về môi trường.
Dây chuyền lắp ráp tại Công ty Cổ phần Ôtô Trường Hải (THACO) (Nguồn: TTXVN)
Công nghiệp hóa đất nước cũng được phát triển từ trong theo mô hình những tập đoàn Chaebol của Hàn Quốc. Tuy nhiên, sự hạn chế trong quản lý đã làm cho các tập đoàn này không thành những đầu tầu cho công nghiệp hóa.
Theo sau những gì đã xảy ra tại những nước phát triển, Việt Nam cũng không tránh được làn sóng ồ ạt đầu tư vào những thị trường đầu cơ và từ đó tạo ra một nền kinh tế “ảo.”
Kinh tế “ảo” được cấu tạo từ những thị trường chứng khoán, vàng, đồng USD nhưng hiện tại cơ bản là trên lĩnh vực bất động sản.
Bất động sản đã thu hút phần lớn nguồn lực quốc gia. Một số doanh nghiệp chểnh mảng lĩnh vực chính để đổ tiền vào bất động sản. Nhiều tập đoàn nhà đầu tư ngoài ngành vào địa ốc và người dân bỏ tiền mua nhà, đất không phải chỉ vì lợi nhuận đầu cơ mà con coi nó là kênh hữu hiệu nhất để tích lũy tài sản. Hệ thống ngân hàng khi huy động vốn tiết kiệm dân cư, phần lớn, trực tiếp hay gián tiếp cũng tài trợ những dự án bất động sản.
“Bong bóng” đầu cơ bất động sản “xì hơi” đã kéo theo suy thoái kinh tế từ hơn 8 năm nay.
Bắt đầu từ 2014, lĩnh vực bất động sản từ từ được vực dậy, có lẽ phần lớn do sự tài trợ trở lại của ngân hàng, đồng thời các công xưởng của các doanh nghiệp nước ngoài thiết lập tại đây thực sự đi vào hoạt động. Đó là hai yếu tố chính mang lại những thành quả phát triển của năm 2015.
Năm 2016, hai yếu tố trên tiếp tục tác động tích cực trên nền kinh tế mặc dù những khó khăn do thiên tai, môi trường, thị trường nhập khẩu hàng hóa trên thế giới giảm, giá dầu thô và nguyên vật liệu ở mức thấp nhất.
Với hai năm tăng trưởng tốt, có thể nói, kinh tế đã đươc vực trở lại. Tuy nhiên, sự trở lại này lại là sự trở lại của bất động sản và cũng là sự trở lại của đầu cơ và của nền kinh tế “ảo.”
Thực tế thì Chính phủ đã nhìn thấy rõ hướng phát triển kinh tế dựa trên gia công không khả quan về dài hạn, nước ta phải tìm ra một mô hình phát triển mới trong môi trường kinh tế thế giới rất phức tạp và đầy thách thức hiện nay.
Robot sẽ làm thay đổi cục diện kinh tế thế giới?
Cuộc Cách mạng Công nghệ thế hệ 4.0 sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cục diện kinh tế thế giới, từ sự phân chia sản xuất đến địa kinh tế thế giới.
Xu hướng Cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm tất cả những phát triển liên quan đến công nghiệp, đặc biệt công xưởng gắn liền với kỹ thuật số và sự xuất hiện của những người máy robot trên những dây chuyền sản xuất.
Hiện tại, giá một robot là 20.000 USD một con, trong tương lai gần khi dây chuyền rôbốt tự sản xuất robot hình thành, giá thành sẽ giảm rất nhiều. Với tiến bộ khoa học robot hiện nay và mức lương bình quân đối với một lao động ở châu Á là 5.300 USD/năm, vấn đề đặt ra là các nước phát triển liệu còn cần rời công xưởng của họ sang những quốc gia có nhân công rẻ?
Nếu họ rút công xưởng sản xuất về nước, thì cái lợi trước mắt là họ chiếm lại vị thế của nước công nghệ và số lượng lao động cho những công xưởng này lại rất phù hợp với tốc độ tăng trưởng dân số tại nước họ.
Hơn thế nữa, dịch chuyển công xưởng về nước là rất hợp với đường lối của Chủ nghĩa Dân túy đang thắng thế trên chính trường tại một số nước châu Âu, hoặc đã nắm quyến như ở Mỹ.
Người máy Minion và R2D2 được giới thiệu tại Hội chợ điện tử tiêu dùng (CES) ở Las Vegas, Nevada, Mỹ ngày 8/1/2017. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Câu chuyện công xưởng robot không phải là một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, mà đã có những công xưởng rời bỏ Trung Quốc, trở về châu Âu hay Mỹ. Trào lưu này trong những năm sắp tới có thể sẽ còn tiến nhanh hơn vì áp lực chính trị, như những kêu gọi của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Như thế, năm 2017 có thể là một bước ngoặt quan trọng.
Ngược lại, những quốc gia mới nổi trong đó có Việt Nam sẽ phải đối phó với tình huống rất khó khăn. Những điều kiện và tiềm năng cho công nghiệp hóa sẽ mất đi. Số lượng việc suy giảm do xu hướng rời công xưởng về cố quốc nhờ vào tiến bộ của công nghệ robot, cũng như sự cổ súy cho Chủ nghĩa Dân túy khởi xướng từ Mỹ.
Vấn đề là các quốc gia mới nổi phải phản ứng ra sao? Thời gian còn lại để chuẩn bị cho những thay đổi này là rất ngắn. Trước mắt, phong trào thiết lập công xưởng ở các quốc gia lao động rẻ sẽ chững lại, chỉ còn những ngành nghề khó sử dụng robot. Trong khi đó, dân số vẫn phát triển đều đặn và nếu nền kinh tế quốc nội không tạo được công ăn việc làm tương xứng thì nạn thất nghiệp sẽ hoành hành.
Hiện tại, chỉ có Trung Quốc là có phản ứng trước xu hướng robot hóa lực lượng lao động. Trong số trên 230.000 robot được bán trên thế giới trong năm 2014 thì có tới 60.000 robot được bán cho Trung Quốc. Doanh nghiệp Trung Quốc đã nhận thấy, với robot, sản phẩm công nghệ, điện tử sẽ có chất lượng hơn và có sức cạnh tranh tốt hơn. Đó là phản ứng của một quốc gia tự cho mình là một nước công nghệ, không còn theo mô hình gia công như thuở ban đầu.
Như vậy là trong tương lai, địa kinh tế sẽ lại thay đổi một lần nữa. Nếu các quốc gia phương Tây biết nắm cơ hội, trọng tâm kinh tế sẽ trở lại Bắc Đại Tây Dương, Châu Á Thái Bình Dương sẽ mất đi tầm quan trọng hiện tại.
Trong năm 2017, thế giới sẽ phải đối mặt với hai thay đổi lớn. Thứ nhất, những quyết định chính trị của Chủ nghĩa Dân túy ở Mỹ với chương trình hành động của Tổng thống D. Trump sau khi nhậm chức. Ở châu Âu, sau sự ra đi của Vương quốc Anh (Brexit) thì tại EU sẽ có 2 cuộc bầu cử lớn là bầu cử Thủ tướng Đức và bầu cử Tổng thống Pháp.
Thứ hai là những diễn biến của kinh tế Trung Quốc trước những khó khăn hiện tại. Viễn cảnh của những thay đổi trên sẽ có tác động lớn cho kinh thế thế giới vẫn đang ở đà suy thoái.
Kinh tế Việt Nam năm 2017: Đổi mới như thế nào?
Như vậy, cục diện kinh tế thế giới trong những năm tới sẽ có thay đổi lớn, trước viễn cảnh như vậy, Việt Nam phải xét lại mục tiêu và đường lối phát triển của mình.
Mục tiêu của Đảng và nhà nước là đến 2050, Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp phát triển. Đến năm đó, theo dự báo của Liên Hợp Quốc, dân số Việt Nam sẽ là 140 triệu người, do vậy Việt Nam phải giữ vững mục tiêu công nghiệp hóa nền kinh tế để tạo công ăn việc làm cho người dân.
Tuy nhiên, với xu thế thay thế lao động bằng robot, chúng ta phải hướng nền công nghiệp vào những ngành nghề đòi hỏi kỹ xảo của người lao động là chính và công việc này không thể thay thế bằng bằng máy mọc tự động hay robot. Khả năng cạnh tranh của những ngành nghề này sẽ hoàn toàn dựa trên sự khéo léo và tay nghề cao của người lao động.
Ta có thể rút kinh nghiệm từ kỹ nghệ sản xuất đồng hồ của Thụy Sỹ. Xuất phát từ hơn 3 thế kỷ, trải qua bao nhiêu tiến bộ khoa học, kỹ thuật nhưng nay lại trở về với phương thức sản xuất đồng hồ cơ, bằng tay. Những sản phẩm này được bán khắp thế giới dựa trên chất lượng và sự tin tưởng của khách hàng. Nói như vậy không có nghĩa là ta sẽ loại bỏ hoàn toàn hệ thống robot trong dây chuyền sản xuất, bởi nó sẽ giúp sức trong những công đoạn nhất định, để đảm bảo chất lượng của đầu ra.
Với xu thế robot hóa trong sản xuất công nghiệp, phát triển kinh tế Việt Nam sẽ phải hướng thêm vào ngành nghề dịch vụ. Trong lĩnh vực này, ngành tiềm năng nhất là du lịch, và trong du lịch phải tính cả ngành du lịch điều dưỡng cho người cao tuổi (nhu cầu này đang rất cao ở những nước phát triển), đó là sự liên kết giữa du lịch và y tế.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm khu trồng rau công nghệ cao của Nông trường VinEco. (Ảnh: Thống Nhất-TTXVN)
Ngành dịch vụ thứ hai, là dịch vụ chuyên chở, phân phối và logistic nói chung. Với sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật số, của mạng thông tin toàn cầu, phân phối hàng hóa đã và đang biển đổi hoàn toàn và cốt lõi của thương mại qua mạng sẽ là cách giao hàng đến tận nhà, mặc dù nhà cung cấp ở bên kia trái đất.Trong lĩnh vực này Việt Nam có một vị trí địa lý rất thuận lợi và đầy tiềm năng.
Lĩnh vực thứ ba mà ta nên phát triển là ngành tài chính, bảo hiểm. Ngành này cũng đang và sẽ thay đổi rất nhanh. Với toàn cầu hóa của nền kinh tế, một ngân hàng, một sàn chứng khoán hay một công ty bảo hiểm chỉ có thể hoạt động hiệu quả nếu tạo được một hệ thống toàn thế giới, nhất là khi hoạt động trên lĩnh vực bán lẻ và hệ thống kinh tế chia sẻ phát triển mạnh.
Về nông nghiệp, xu hướng công nghệ hóa, hiện được áp dụng toàn cầu, năng suất lên rất cao với sự sử dụng đại trà phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu, ứng dụng sinh học. Những thiếu hụt nguồn cung chỉ có tính nhất thời vì thiên tai và những năm vừa qua giá nông sản đang trên đà đi xuống.
Xu hướng của người tiêu dùng hiện tại là tìm kiếm và chỉ mua nông sản chất lượng. Mà chất lượng ở đây là nông sản sạch, có nghĩa là không dùng mọi hình thức vô cơ, thuốc kháng sinh, hạt giống biến đổi gene. Đó là cách tốt nhất để tạo giá trị gia tăng cho nông sản và là xu hướng Việt Nam nên theo. Nông sản cũng như mọi sản phẩm phải theo sát nhu cầu thị trường.
Tất cả những hướng đi trên đều có chủ trương chung phát triển kinh tế dựa trên nhân tố chính là con người. Con người ở đây là người lao động có tay nghề, không thể thay thế họ bằng máy móc hay robot. Do đó việc trước tiên phải làm ngay từ bây giờ là cải tổ hệ thống giáo dục, đưa giáo dục vào quỹ đạo của một nền giáo dục ưu tiên phục vụ nền kinh tế.
Trong đào tạo nghề, nên đi theo mô hình đào tạo kép của Thụy Sỹ, vừa học nghề ở nhà máy, vừa học ở trường. Ở trình độ cao học, nên theo mô hình của những đại học danh tiếng của Mỹ, học cũng đi đôi với hành, với những khóa thực tập tại doanh nghiệp hay tại những trung tâm nghiên cứu.
Chuẩn bị cho tương lai là ngay bây giờ, trong năm 2017, phải chỉnh sửa lại cơ cấu của nền kinh tế, sửa lại thể chế thị trường và hệ thống tài chính. Như đã phân tích ở phần đầu, lịch sử đã lập lại, đầu cơ địa ốc đã lấy lại vị thế của nó trước thời kỳ suy thoái và kinh tế “ảo” không những trở thành động cơ chính của hoạt động kinh doanh mà nó còn thu hút toàn bộ những nguồn vốn của thị trường, trực tiếp hay gián tiếp qua những hoạt động tài trợ của ngân hàng. Một khi tiết kiệm quốc gia đổ vào kinh tế “ảo” thì không còn vốn để xây dựng nền kinh tế thực.
Qua các kỳ Đại hội Đảng, Đảng và nhà nước đã khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Qua những hiệp định thương mại tự do FTA, chúng ta khẳng định với bên ngoài sẽ xây dựng và bảo vệ kinh tế thị trường. Căn bản của kinh tế thị trường là tất cả đều phải đặt trên luật chơi của thị trường, ngay sự cấu kết, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp để chia nhau thị trường, định giá, cúng bị cấm ngặt. Do đó, chính phủ nên tư nhân hóa toàn bộ những doanh nghiệp nhà nước, ngoại trừ những doanh nghiệp công ích xã hội và trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
Trong năm 2016, chính phủ mở chiến dịch hỗ trợ doanh nghiệp, giảm thiểu thủ tục hành chính. Đó là tín hiệu tích cực, song cái mà doanh nghiệp cần nhất là tiếp cận nguồn vốn và hệ thống tài chính ngân hàng, vốn trải qua giai đoạn suy thoái kinh tế đã hoàn hoàn bị tê liệt.
Với khối nợ xấu lớn, ngân hàng không còn khả năng đảm trách nhiệm vụ trung gian giữa huy động tiết kiệm quốc gia và tài trợ nền kinh tế. Do vậy nợ xấu hiện là cái nút thắt của nền kinh tế.
Trong tương lai gần, phát triển kinh tế quốc gia cần rất nhiều vốn và một phần sẽ nhờ vào một hệ thống ngân hàng vững mạnh. Bước tái cơ cấu ngành ngân hàng, để từ đó có một hệ thống ngân hàng quy mô, có khả năng đảm nhiệm những rủi ro phát sinh từ một nền kinh tế mới nổi là điều kiện tiên quyết để đảm bảo mức phát triển đã đề ra.
Bước vào năm 2017, Việt Nam gia nhập khối Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã được một năm, và cũng ngỡ ngàng nhận thấy ta đã không nắm bắt cơ hội để phát triển thương mại qua những nước trong khối. Ta phải rút kinh nghiệm từ đó, bởi thị trường EU sẽ mở rộng cửa vào năm 2018. Cụ thể, Việt Nam phải có một chiến lược canh tranh rõ ràng và phải có một chương trình tiếp thị hẳn hoi để khai thác thị trường này cũng như để thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam./.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch tập đoàn Alibaba tại Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos, Thụy Sĩ, tháng 1/2017 (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)