Tema de reunión del FEM sobre ASEAN se anticipa a los tiempos, afirma canciller de Chile

Ministro Roberto Ampuero: Vietnam se anticipa a los tiempos al establecer el tema de la conferencia del FEM sobre ASEAN.

Hanoi (VNA) – El ministro de Relaciones Exteriores de Chile, Roberto Ampuero, destacó el significado de la asistencia de su país a la conferencia del Foro Económico Mundial (FEM) sobre la ASEAN, así como la importancia de ese evento para el desarrollo de los países en la región en medio de la cuarta revolución industrial. En una entrevista concedida a la Agencia Vietnamita de Noticias, el canciller, quien se encuentra aquí para cumplir una intensa agenda de actividades bilaterales y multilaterales, agradeció la invitación extendida por Hanoi para la participación de Chile en ese foro sobre la Asociación de Naciones del Sudeste Asiático (ASEAN), hecho que –calificó– evidencia que la voz del país andino es apreciada, y que tiene experiencias para compartir dentro de este “importantísimo” evento.

De acuerdo con el Titular, la reunión del FEM aborda los desafíos relacionados con la innovación y las formas de incorporar las nuevas tecnologías en el proceso de desarrollo de cada país. En ese sentido, afirmó, para Chile es crucial integrarse a esta reunión, que se mantiene a la cabeza por la incorporación de los avances tecnológicos en la vida de las naciones y en lo que beneficia a su población.

Tema de reunión del FEM sobre ASEAN se anticipa a los tiempos

El Canciller evaluó que al seleccionar el tema de la conferencia “ASEAN 4.0: El espíritu emprendedor y la cuarta revolución industrial”, Vietnam se anticipa a los tiempos.

Una sesión de debates titulada “Entender la nueva balanza de poder en Asia”, efectuada en el contexto del FEM-ASEAN (Fuente: VNA)
Una sesión de debates titulada “Entender la nueva balanza de poder en Asia”, efectuada en el contexto del FEM-ASEAN (Fuente: VNA)

En medio del vertiginoso desarrollo de la tecnología, explicó, hay países que pueden aprovechar las oportunidades, mientras otros afrontan mayores dificultades al enfrentar los desafíos generados por la gran profundidad, la velocidad y los cambios que origina este vigoroso proceso de digitalización y automatización.

“La responsabilidad de la conferencia del FEM sobre ASEAN es crear condiciones para que los países puedan reaccionar a tiempo a los cambios.”

Y por eso, valoró, es fundamental que un foro como este se anticipe, se pueda avizorar a tiempo a las naciones lo que son esos retos, para que los países, de distintas experiencias y latitudes, se puedan preparar e intercambiar conocimientos, en aras de alcanzar un desarrollo estable, inclusivo y sostenible.

En breves palabras, afirmó que la conferencia del FEM sobre la ASEAN asume la responsabilidad de crear condiciones para que las partes puedan reaccionar a tiempo a los cambios.

La sesión
La sesión “El futuro de la tecnología digital en la ASEAN” (Fuente: VNA)

El fuerte interés de Chile en estrechar nexos con la ASEAN

Durante la entrevista, el ministro Ampuero ratificó el interés de Chile de fortalecer las relaciones con el bloque comunitario, de integrarse al Foro Regional de la ASEAN y convertirse en un socio de desarrollo y de diálogo de la agrupación.

En ese sentido, manifestó su satisfacción ante el hecho de que el presidente del país andino, Sebastián Piñera, es invitado a la Cumbre 33 de la agrupación, que tendrá lugar en noviembre próximo en Singapur. “Para Chile, es importante estrechar los vínculos con la ASEAN, y a la vez cree que puede aportar algo,” aseguró. Chile cuenta con 16 Tratados de Libre Comercio (TLC) con socios en Asia-Pacífico, acotó, lo que le transforma en uno de los países más abiertos en el mundo, que posee una relación privilegiada en término económico, comercial y financiero con esta región en general, y con naciones integrantes de la ASEAN en particular.

Chile es uno de los países más abiertos en el mundo, que posee una relación privilegiada en término económico, comercial y financiero con Asia-Pacífico.

Además, pueden ser valiosas las experiencias de Chile, un país económica y políticamente estable, un país que ha desarrollado enormemente y ha reducido de forma impresionante la pobreza durante los últimos 40 años, gracias a fundamentalmente a su incorporación a la economía mundial a través de los TLC. En la ocasión, reiteró que la nación sudamericana acogerá en 2019 la Reunión de alto nivel del Foro de Cooperación Económica Asia-Pacífico (APEC), y manifestó su esperanza de que Vietnam asista, al nivel más alto, a esa magna cita.

Perspectivas de nexos Vietnam-Chile

Al referirse a las relaciones entre los dos países, el Canciller destacó que Chile fue la segunda nación de América Latina en establecer los vínculos diplomáticos con Vietnam.

Particularmente, destacó la histórica visita en 1969 al país indochino del entonces titular del Senado chileno, Salvador Allende, quien vino a Hanoi y saludó al Presidente Ho Chi Minh.

Ese hecho, calificó, constituyó una base sólida para la cooperación bilateral, que se fortalece a través de las consultas políticas y del acuerdo comercial, en vigor desde 2014.

  • ttxvn1011c-1536745239-94.jpg
  • phutrongmi-1536745246-8.jpg
  • ttxvnvnchi-1536745257-2.jpg
  • xuanphucba-1536745269-95.jpg
  • michellekim-1536745275-61.jpg

Asimismo, subrayó la importancia de que ambas partes mantengan el intercambio frecuente de visitas y contactos de todos los niveles para perfeccionar los tratados firmados por ambos países. Por otro lado, llamó a mayores esfuerzos para incrementar los nexos bilaterales en el sector de inversión. En ese sentido, aplaudió el reciente establecimiento de la Cámara de Comercio chileno-vietnamita, el cual –observó– permitirá impulsar la conectividad entre las comunidades empresariales, así como descubrir nuevas oportunidades de asistencia recíproca.

Ambos países son miembros del CPTPP, firmado en marzo pasado en Chile. (Fuente: VNA)
Ambos países son miembros del CPTPP, firmado en marzo pasado en Chile. (Fuente: VNA)

Especialmente, subrayó que además de disfrutar de los efectos positivos del TLC bilateral, ambas partes alcanzan notables avances hacia el Acuerdo Integral y Progresivo de Asociación Transpacífico (CPTPP).

Ese ambicioso pacto de libre comercio de nueva generación fue firmado en marzo pasado en Santiago de Chile y hasta el momento, Japón, México y Singapur lo ratificaron, reiteró. De acuerdo con el ministro Ampuero, el CPTPP constituye otro elemento para consolidar las relaciones entre Chile y Vietnam.

Una vez en vigor ese tratado, las dos partes tendrán oportunidades de trabajar de forma mucho más veloz en su integración económica e intercambio comercial, aseguró. Añadió que durante su estancia en Hanoi, sostendrá un diálogo con el viceprimer ministro y canciller anfitrión, Pham Binh Minh, con vistas a identificar las medidas destinadas a fortalecer la cooperación bilateral. – VNA

Por Tran Hong Hanh

Giấc mơ Thailand 4.0

Có rất nhiều câu chuyện “ly kỳ” về thành công của các start-up – xu hướng mới của kinh tế Thái Lan và xa hơn đó giấc mơ của các nhà lãnh đạo nước này về một Thailand 4.0 – mô hình kinh tế mới tận dụng các thành tựu từ cuộc cách mạng khoa học công nghệ để tạo ra giá trị kinh tế vượt trội, giúp Thái Lan thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”. Hồi năm 2016, GetLinks, một start-up của Thái Lan, đã nhận được 500.000 USD đầu tư lần đầu (seeding) từ quỹ đầu tư CyberAgent Ventures để mở rộng thị trường sang Việt Nam và Singapore – hai thị trường nóng nhất hiện nay ở Đông Nam Á về việc tuyển dụng nhân sự ngành công nghệ. Đó chỉ là một trong những câu chuyện start-up thành công được báo chí Thái Lan và của khu vực đăng tải.

Tinh thần khởi nghiệp

Nếu GetLinks chính là công ty Thái đầu tiên của chương trình đào tạo của 500 Startups xuất phát từ California, Mỹ thì StockRadars cũng là cái tên sáng giá trong giới start-up tại Thái Lan. Ứng dụng quản lý kinh doanh chứng khoán này trở thành dự án được đầu tư tốt nhất tại Đông Nam Á và đã giành giải thưởng danh giá Asia Pacific ICT Alliance Award năm 2014. Đó là một sản phẩm của Siamsquared Technologies, từng được định giá hơn 15 triệu USD với đồng sáng lập kiêm CEO là Max Kortrakul, người từng có thời gian làm việc cho một công ty IT tại Việt Nam.

Đồng sáng lập kiêm CEO Siamsquared Technologies, Max Kortrakul.
Đồng sáng lập kiêm CEO Siamsquared Technologies, Max Kortrakul.

Lý giải về quyết định đầu tư một ứng dụng dành riêng cho giới đầu tư chứng khoán, Max Kortrakul đã trả lời báo giới như sau: “Hiện nay nhiều người vẫn tỏ ra ngần ngại khi nhắc đến thị trường chứng khoán. Nào là hàng loạt số liệu – dữ liệu, nào là nguy cơ thất bại rất cao v.v…Chính bản thân tôi cũng từng muốn đầu tư chứng khoán nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu. Ý tưởng của tôi rất đơn giản: khiến quy trình đầu tư trở nên dễ dàng hơn cho chính mình và mọi người ở Thái Lan. Đó cũng là động lực khiến tôi phát triển ứng dụng StockRadars.”

Kể lại hành trình đi đến thành công, Max cho biết lúc bắt tay vào xây dựng ứng dụng, nhiều lúc anh đã phải thức trắng đêm và dốc toàn bộ tâm trí. Những thử nghiệm mới cho ý tưởng đã khiến anh và các cộng sự hao tổn rất nhiều tâm lực, có lúc tưởng chừng vô vọng. Thế nhưng, với nhiệt huyết của tuổi trẻ cùng sự bén nhạy và chuyên nghiệp họ đã chứng minh sự nghiêm túc theo đuổi ý tướng và khiến các nhà đầu tử bị thuyết phục rằng ứng dụng này giúp cân bằng rủi ro khi kinh doanh chứng khoán.

“Tôi luôn quan niệm rằng mình không phải là một doanh nghiệp nhỏ, đến từ một quốc gia còn rất thiếu các công ty IT thành công. Những quan điểm tiêu cực như vậy sẽ dễ khiến bạn cảm thấy nản chí mỗi khi đi tìm nguồn vốn đầu tư.” (Max Kortrakul)

Dù đã thu được thành công nhưng Max vẫn tỏ ra khá bình thản: “Tôi luôn quan niệm rằng mình không phải là một doanh nghiệp nhỏ, đến từ một quốc gia còn rất thiếu các công ty IT thành công. Những quan điểm tiêu cực như vậy sẽ dễ khiến bạn cảm thấy nản chí mỗi khi đi tìm nguồn vốn đầu tư. Tất nhiên, tôi cũng không phải người quá ảo tưởng. Nếu thành công, thậm chí bạn có thể được vào Unicorn List (danh sách những công ty tư nhân có giá trị trên 1 tỷ USD). Còn nếu không thành công thì bạn vẫn luôn có thể thử nghiệm một ý tưởng khác.”

Tinh thần khởi nghiệp – sáng tạo và biết chấp nhận thử thách của giới trẻ Thái Lan mà những người Max Kortrakul là một đại diện quả là đáng nể. Đó là điểm khởi đầu và nền tảng để các nhà hoạch định chính sách Thái Lan có thể vạch ra các hướng đi xa hơn cho nền kinh tế quốc gia Đông Nam Á này trong tương lai.

Thành phố thông minh Phuket

Chính phủ Thái Lan đã khẳng định quyết tâm sẽ biến tỉnh đảo Phuket, vốn từ trước tới nay là “thiên đường du lịch,” trở thành trung tâm công nghệ và startup, đồng thời biến nơi này thành một thành phố thông minh (Smart City). Đây là một bước đi đáng chú ý để triển khai mô hình tăng trưởng tập trung vào phát triển công nghệ kỹ thuật làm bàn đạp cho nấc thang tăng trưởng mới.

Hiện Phuket đã có hàng loạt dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như mạng lưới Internet để thu hút các doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư. Những dự án cải thiện hệ thống camera an ninh – CCTV cho giao thông, đăng ký lao động thông qua hệ thống điện tử hay nâng cấp mạng Wifi trên toàn thành phố đã được thông qua. Bộ Kinh tế và xã hội số Thái Lan cho biết cùng với Chiangmai, Phuket được Thái Lan chọn là nơi để định hướng phát triển siêu công nghệ kỹ thuật số trong tương lai, nhằm gia tăng số start-up tại đây.

Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha đã chủ trì lễ khai mạc Hội chợ startup và công nghệ Thái Lan năm 2016 tại Phuket. 
Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha đã chủ trì lễ khai mạc Hội chợ startup và công nghệ Thái Lan năm 2016 tại Phuket. 

Đích thân Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha đã chủ trì lễ khai mạc Hội chợ startup và công nghệ Thái Lan năm 2016 tại Phuket do Bộ Khoa học Công nghệ Thái Lan và Bộ Kinh tế-Xã hội số tổ chức.

Phát biểu trước các doanh nhân, nhà đầu tư và khởi nghiệp ở Phuket, Thủ tướng Prayuth nhấn mạnh việc các ngành kinh tế mới và cũ hỗ trợ nhau để cùng phát triển và qua đó hỗ trợ cho đời sống xã hội của người dân Thái Lan. Ông kêu gọi những tập đoàn lớn cần chung tay giúp đỡ khoảng 1 triệu công ty vừa và nhỏ, nhằm không để doanh nghiệp nào của nước này bị tụt lại phía sau.

Chính phủ Thái Lan đang xúc tiến thành lập Quỹ hỗ trợ các công ty khởi nghiệp với số tiền lên đến 20 tỷ baht,tương đương khoảng 571 triệu USD.

Hiện Bộ Tài chính Thái Lan đã lập Quỹ cạnh tranh để tài trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở 5 ngành nghề: chăm sóc sức khỏe, công nghệ tài chính, công nghệ nông nghiệp, du lịch và công nghệ kỹ thuật số. Chính phủ Thái Lan cũng đang xúc tiến thành lập Quỹ hỗ trợ các công ty khởi nghiệp với số tiền lên đến 20 tỷ baht, tương đương khoảng 571 triệu USD. Quỹ 20 tỷ baht này cũng dự kiến tài trợ cho 2.500 doanh nghiệp start-up nhằm chuyển đổi chiến lược phát triển truyền thống sang mô hình mới hơn để thúc đẩy đổi mới.

Theo một đánh giá Siam Commercial Bank, cộng đồng startup tại Thái Lan vẫn còn đang trong giai đoạn đầu phát triển và thị trường khởi nghiệp của nước này vẫn còn non trẻ. Năm 2015, đầu tư vào startup tại Thái Lan mới chỉ đạt 32 triệu USD và hầu hết tập trung vào lĩnh vực thương mại điện tử. Năm 2016, nước này có khoảng 2.000 start-up và Chính phủ Thái Lan muốn nâng tổng số startup mới thành lập tại nước này lên ít nhất 10.000 vào cuối năm 2018. Giấc mơ Thailand 4.0 có thể sẽ được xây dựng trên nền tảng của 10.000 start-up này.

Một buổi giới thiệu Startup nông nghiệp ở tỉnh Bueng Kan.
Một buổi giới thiệu Startup nông nghiệp ở tỉnh Bueng Kan.

Thailand 4.0

Tại Sự kiện Ngày sáng tạo Huawei châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 4 (Huawei Asia – Pacific Innovation Day) hồi tháng 6 vừa qua, Phó Thủ tướng Thái Lan, ông Somkid Jatusripitak đã có bài phát biểu quan trọng về tầm nhìn “Thailand 4.0- Tiến tới kỹ thuật số” của nước này và làm thế nào để thúc đẩy quá trình chuyển đổi và hiện đại hóa nền kinh tế Thái Lan.

Theo ông Somkid, nếu như Mỹ có khẩu hiệu “Make America Great Again” hay Trung Quốc có chiến lược “Made in China 2025” thì người Thái Lan cũng đang quyết tâm với “Thailand 4.0.”

Theo Phó Thủ tướng Thái Lan, Chiến lược Thailand 4.0 ra đời với mục tiêu đưa đất nước này thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, đạt tăng trưởng bền vững và giảm chênh lệch thu nhập. Ông nói rằng những sáng tạo về công nghệ thông tin các ảnh hưởng của số hóa đang tràn vào các ngành, lĩnh vực, giúp các công ty tăng năng suất, giảm chi phí và tung ra các sản phẩm và dịch vụ mới. Điều này mở đường cho các mô hình kinh doanh và các thị trường mới, mang lại cơ hội phát triển mới cho tất cả.

Nếu như Mỹ có khẩu hiệu “Make America Great Again” hay Trung Quốc có chiến lược “Made in China 2025” thì người Thái Lan cũng đang quyết tâm với “Thailand 4.0.”

Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Chính phủ Thái Lan đã bắt tay vào các dự án quy mô cực lớn để cải thiện hạ tầng như tàu điện, tàu 2 đường ray, sân bay. Hành lang kinh tế phía Đông (EEC) cũng được xây dựng nhằm tạo ra hệ thống giao thông, hậu cần liên lạc liên kết các tuyến đường huyết mạch.

Về chiến lược phát triển cuộc cách mạng số, Thái Lan có kế hoạch đầu tư mạnh vào Internet băng rộng ở cấp độ làng xã. Hệ thống cáp ngầm nối liền Thái Lan, Hong Kong và Trung Quốc Đại lục cũng sẽ biến Thái Lan trở thành một cổng thông tin cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Chính phủ nước này cũng đã thành lập một Học viện Internet of Things (IoT) và trung tâm phân tích dữ liệu lớn cấp chính phủ tại Hành lang kinh tế phía Đông.

Học viện IoT này thành lập dưới hình thức hợp tác với các công ty tư nhân, là một phần trong khu công nghiệp số được xây dựng tại tỉnh Chon Buri, dự án trọng điểm của Hành lang kinh tế phía Đông. Đây được coi là tổng hành dinh của thành phố thông minh trong tương lai, nơi sẽ hỗ trợ các dịch vụ về công nghệ, khởi nghiệp, giúp Chính phủ Thái Lan hiện thực hóa những ý tưởng sáng tạo.

Hồi tháng 1/2018, Thái Lan chính thức cấp visa 4 năm cho các nhà đầu tư, chuyên gia khoa học với tên gọi Smart Visa để thu hút các tài năng nước ngoài. Đại diện chính phủ Thái Lan cũng vừa ký bản cam kết với Huawei, cho phép công ty này chi 81 triệu USD trong 3 năm tới để xây dựng các OpenLab, tạo điều kiện phát triển điện toán đám mây và các tài năng công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) của Thái Lan và khu vực Đông Nam châu Á nói chung.

Thái Lan hiện có lượng người tiêu dùng quan tâm kỹ thuật số lớn. Bên cạnh việc có đông người sử dụng phương tiện truyền thông xã hội, nước này hiện là thị trường thương mại điện tử lớn thứ ba trong ASEAN với trị giá 900 triệu USD và dự kiến sẽ tăng gấp 12 lần, lên 11,1 tỷ USD vào năm 2025.

Mục tiêu của Chính phủ Thái Lan, đến năm 2027, nền kinh tế số sẽ đóng góp 25% GDP cho nước này.

Mục tiêu của Chính phủ Thái Lan, đến năm 2027, nền kinh tế số sẽ đóng góp 25% GDP cho nước này. Để làm được điều đó, Thái Lan đã đầu tư 2,5 tỷ bạt (800 triệu USD) cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số; Thái Lan cũng lên kế hoạch xây dựng thành phố thông minh ở bảy tỉnh; nâng cấp đường truyền Internet tốc độ cao tới hơn 74.000 đơn vị cấp phường ở địa phương; Ứng dụng công nghệ số vào các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phát triển ngành nông nghiệp thông minh; Thiết lập cơ chế cấp giấy phép một lần cho khởi nghiệp, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các tổ chức như Kết nối doanh nhân toàn cầu hay Liên minh Viễn thông Quốc tế.

Tại sự kiện giới thiệu chính thức về chiến lược Thailand 4.0 hồi tháng 9/2017, tiến sỹ Pichet Durongkaveroj, Bộ trưởng Xã hội và Kinh tế số Thái Lan đã khẳng định: “Mục tiêu của chúng tôi là chứng minh Thái Lan là điểm đến hấp dẫn nhất trong khu vực ASEAN đối với các nhà đầu tư có tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về kỹ thuật số. Thái Lan có năng lực sáng tạo và tinh thần kinh doanh với sự ủng hộ của chính phủ, có hệ sinh thái phù hợp để nuôi dưỡng thành công. Chúng tôi muốn làm cho Thái Lan trở thành trung tâm công nghệ số ở Đông Nam Á. Điều này có lợi cho cả những nhà đầu tư lẫn người dân Thái Lan”./.

‘Sức mạnh mềm’

Năm 2018 đánh dấu tròn 40 năm Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa toàn diện với những thành tựu vượt bậc về kinh tế, thách thức vị thế siêu cường số một thế giới của Mỹ.

Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã không ngừng củng cố sức mạnh và gia tăng ảnh hưởng với chính sách đối ngoại cởi mở, không chỉ thông qua các hoạt động ngoại giao cấp cao, mà còn thông qua con đường ngoại giao “nhân dân tệ” hay ngoại giao văn hóa.

Trước tiên, phải nói tới nền tảng cơ bản để Trung Quốc củng cố quyền lực – đó chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế phi thường trong 30 năm qua.

Trải qua quá trình cải cách mở cửa gần 40 năm, sức mạnh kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự… của Trung Quốc đã tiến vào hàng ngũ nhóm các nước đứng đầu thế giới.

Năm 2017, giá trị Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đạt 82.700 tỷ nhân dân tệ (hơn 12.100 tỷ USD), chiếm khoảng 15% tổng lượng kinh tế thế giới; tỷ lệ đóng góp của Bắc Kinh vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu lên tới hơn 30%.

Dự báo năm 2018, GDP của Trung Quốc đạt mức 13.200 tỷ USD, vượt qua quy mô của nền kinh tế Khu vực đồng tiền chung châu Âu

Dự báo, năm 2018, GDP của Trung Quốc đạt mức 13.200 tỷ USD, vượt qua quy mô của nền kinh tế Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).

Với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3.690 tỷ USD, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của gần 130 quốc gia và khu vực, đồng thời là thị trường nhập khẩu tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Trung Quốc còn là nước có dự trữ ngoại hối, đầu tư ra nước ngoài và hệ thống công nghiệp hoàn thiện nhất thế giới.

Với những bước tiến mạnh mẽ về tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc đã và đang từng bước triển khai một cách đồng bộ các chính sách nhằm gia tăng ảnh hưởng trên trường quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc đã chấm dứt thời kỳ “giấu mình chờ thời” để vươn ra thế giới.

Từ tháng 3/2013, thời điểm Chủ tịch Tập Cận Bình nhậm chức, trọng tâm và phương pháp chính sách ngoại giao Trung Quốc đã có hàng loạt dấu mốc điều chỉnh lớn, tương ứng với sự thay đổi phát triển của môi trường quốc tế. Số lượng các hoạt động ngoại giao chủ động của Trung Quốc thực hiện ở cấp độ song phương và đa phương tăng nhanh.

Nhân viên ngân hàng kiểm tiền giấy mệnh giá 100 nhân dân tệ mới của Trung Quốc. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Nhân viên ngân hàng kiểm tiền giấy mệnh giá 100 nhân dân tệ mới của Trung Quốc. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Trung Quốc đang tăng cường sự hiện diện tại các hội nghị đa phương hiện có (như G20), đồng thời củng cố các tổ chức mới do Trung Quốc sáng lập (như Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á, khuôn khổ hợp tác khu vực hoặc Hội nghị thượng đỉnh “Vành đai và con đường” – BRI).

Chủ tịch Tập Cận Bình đã đi thăm khoảng 60 quốc gia trên thế giới, tiếp đón hơn 110 nguyên thủ nước ngoài đến Trung Quốc.

Những hoạt động ngoại giao quan trọng này không những giúp tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng quốc tế về Trung Quốc và nâng cao vị thế của Bắc Kinh, mà còn hoạch định phương hướng giải quyết nhiều vấn đề có tính toàn cầu.

Điểm nổi bật là Trung Quốc không ngừng tìm cách củng cố “sức mạnh mềm” thông qua công cụ quan trọng là “ngoại giao đồng nhân dân tệ.” Nói cách khác là tham gia vào các dự án đầu tư, các chương trình phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tại nhiều nước và khu vực trên khắp thế giới, trong đó phải kể đến sáng kiến BRI kết nối các lục địa Á-Phi-Âu.

Trong 5 năm qua, các khoản đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại các nước nằm trong “tầm ngắm” của Bắc Kinh đã lên tới hơn 60 tỷ USD và giá trị các dự án được các công ty Trung Quốc ký kết tại những quốc gia này đã đạt hơn 500 tỷ USD.

Trung Quốc không ngừng tìm cách củng cố “sức mạnh mềm” thông qua công cụ quan trọng là “ngoại giao đồng nhân dân tệ”

Trong thập niên tới, Trung Quốc dự kiến đầu tư tới 5.000 tỷ USD vào các dự án cơ sở hạ tầng xuyên lục địa, kết nối trung tâm công nghiệp của nước này với các thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới ở Tây Âu. Siêu dự án này dự kiến sẽ bao trùm 64 quốc gia trên khắp 4 châu lục (châu Á, châu Đại Dương, châu Phi và châu Âu), chiếm 62% dân số thế giới và khoảng 1/3 GDP toàn cầu.

Các ngân hàng chính sách của Trung Quốc, cụ thể là Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc và Ngân hàng Thương mại Trung Quốc, sẽ có vai trò trung tâm trong việc cấp vốn cho sáng kiến cơ sở hạ tầng liên lục địa đầy tham vọng này.

Với siêu dự án này, ở góc độ ảnh hưởng địa chính trị, Trung Quốc có thể giành được chỗ đứng trên khắp các quốc gia thuộc “chuỗi ngọc trai” có vị trí chiến lược, cụ thể là Seychelles, Chittagong (Bangladesh) ở phía Đông tới Hambantota (Sri Lanka) và Gwadar (Pakistan) ở phía Tây trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ngoài ra, BRI cũng đảm bảo để Trung Quốc tiếp cận được các nguồn tài nguyên quý hiếm, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nước này tại các khu vực Đông Nam Á, Tây Á và Trung Á giàu tài nguyên. Thông qua BRI, Trung Quốc có thể toàn cầu hóa các tiêu chuẩn công nghệ và công nghiệp của nước này trên khắp các thị trường mới nổi.

Vận chuyển hàng hóa tại Liên Vận Cảng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Vận chuyển hàng hóa tại Liên Vận Cảng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Bên cạnh đó, tăng cường ngoại giao nhân dân, giáo dục, trao đổi văn hóa, quảng bá các giá trị Trung Hoa ra thế giới cũng là một kênh quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc tận dụng tối đa để gia tăng “sức mạnh mềm.”

Trung Quốc hiện là nước đứng đầu châu Á, đứng thứ 3 thế giới về thu hút sinh viên nước ngoài sau Mỹ và Anh. Nhiều sinh viên nhận được hỗ trợ từ Chính phủ Trung Quốc.

Năm 2016, có 442.431 sinh viên nước ngoài từ hơn 200 nước học tập và nghiên cứu ở Trung Quốc, tăng 35% so với năm 2012.

Với việc các trường đại học Trung Quốc đang ngày càng tăng thứ bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, tốc độ quốc tế hóa nhanh chóng, chính sách khuyến khích các sinh viên nước ngoài học tập ở Trung Quốc, cùng với chi phí học tập và sinh sống ở đây dễ chịu hơn so với các nước phương Tây, Trung Quốc sẽ sớm trở thành điểm đến hàng đầu cho các sinh viên quốc tế.

Trung Quốc đang ngày càng mở rộng tầm ảnh hưởng ra bên ngoài, không chỉ ở châu Á, mà đã vươn mạnh sang cả châu Phi, châu Âu và Nam Mỹ

Cùng với các sáng kiến kết nối đa phương như BRI, Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á…, sự thành công của nền kinh tế, tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng, những tiến bộ nghiên cứu và khoa học, thành công trong các lĩnh vực thể thao và văn hóa của Trung Quốc sẽ tiếp tục giúp tăng cường “quyền lực mềm” của Bắc Kinh trong tương lai.

Có thể thấy Trung Quốc đang ngày càng mở rộng tầm ảnh hưởng ra bên ngoài, không chỉ ở châu Á, mà đã vươn mạnh sang cả châu Phi, châu Âu và Nam Mỹ.

Thông qua chính sách đối ngoại thực dụng, Trung Quốc đang từng bước thực hiện tham vọng tới năm 2050 sẽ trở thành cường quốc có vai trò toàn cầu và tầm ảnh hưởng dẫn đầu thế giới./.

Vận chuyển hàng hóa tại Liên Vận Cảng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Vận chuyển hàng hóa tại Liên Vận Cảng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Thụy Điển

Mọi quyền lực công đều bắt nguồn từ người dân – đây là nền tảng của hệ thống chính phủ Thụy Điển. Năm 2018 đánh dấu mốc quá trình dân chủ hóa đầy đủ bắt đầu ở Thụy Điển tròn 100 năm. Ngày 9/9/2018 cũng là ngày diễn ra cuộc tổng tuyển cử ở Thụy Điển.

Nhân dịp này, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, ngài Pereric Högberg, đã có bài viết chia sẻ về hành trình của một quốc gia nhỏ bước ra thế giới.

Sau đây là nội dung bài viết:

Tôi muốn bắt đầu bài viết này với những quan sát của cá nhân mình. Tôi sinh năm 1967. Lớn lên ở Thụy Điển trong những năm đầu đời, tôi đã được tận mắt chứng kiến những thay đổi và phát triển tích cực mà một số những đổi thay này vẫn còn tác động đến hôm nay và truyền cảm hứng cho tôi để đảm nhận công việc của một nhà ngoại giao đại diện cho Thụy Điển.

Bên cạnh các đại sứ chính thức cho Thụy Điển như tôi, đất nước chúng tôi còn có rất nhiều các đại sứ không chính thức trên toàn thế giới, những người giúp kết nối Thụy Điển trên vi toàn cầu và đưa ra những minh chứng về tiềm năng của xã hội Thụy Điển.

Đại sứ Thụy Điển trong buổi lễ công bố cuộc thi toàn quốc ”Sáng tạo như người Thụy Điển” tháng 8/2018 tại Hà Nội. (Ảnh Trần Việt/TTXVN)
Đại sứ Thụy Điển trong buổi lễ công bố cuộc thi toàn quốc ”Sáng tạo như người Thụy Điển” tháng 8/2018 tại Hà Nội. (Ảnh Trần Việt/TTXVN)

Björn Borg, ngôi sao quần vợt từ những năm tuổi teen trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20, là một tay vợt vừa cừ khôi và sáng tạo với những cú trái uy lực bằng cả hai tay.

Borg giữ vị trí tay vợt số một thế giới trong nhiều năm và được coi là một trong những vận động viên vĩ đại nhất trong lịch sử thể thao. Từ năm 1974 đến năm 1981, ông trở thành người đầu tiên trong kỷ nguyên các giải mở rộng giành đến 11 cúp vô định đơn ở các giải Grand Slam, bao gồm 6 cúp ở giải Pháp mở rộng và 5 cúp vô định liên tiếp tại giải Wimbledon.

Ông cũng giành được ba chức vô địch trong giải diễn ra cuối các năm dành cho các tay vợt mạnh nhất và 15 giải Grand Prix Super Series. Nhìn chung, Borg đã lập nhiều kỷ lục mà tới nay chưa ai phá được.

ABBA cũng vậy, từ năm 1972 đến năm 1983, ban nhạc này đã “gây bão” trong thế giới âm nhạc. Hơn 380 triệu album và đĩa đơn đã được bán kể từ khi ban nhạc tạo bước đột phá trong cuộc thi âm nhạc châu Âu năm 1974. Tôi cũng muốn chia sẻ thêm, đây là nhóm nhạc đầu tiên của một quốc gia không nói tiếng Anh có thành công liên tục trong các bảng xếp hạng âm nhạc của các quốc gia nói tiếng Anh như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada, Australia…

Dù ABBA đã ngưng biểu diễn từ bốn thập kỷ trước, ban nhạc bốn người vẫn là một hiện tượng toàn cầu với nhiều bài hát hiện vẫn phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó có bài “Happy New Year” ở tại Việt Nam.

Bài hát ‘Happy New Year’ nổi tiếng của ban nhạc ABBA.

Borg và ABBA đã giúp Thụy Điển nổi bật tên bản đồ thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho rất nhiều phát minh và sáng tạo mà các bạn đã quen thuộc như Bluetooth, Skype và Spotify.

Đọc đến đây, bạn sẽ băn khoăn làm thế nào mà một đất nước với dân số nhỏ chỉ vỏn vẹn 10 triệu người như Thụy Điển lại có thể trở thành một quốc gia có tầm ảnh hưởng toàn cầu và dẫn đầu thế giới trong quần vợt, âm nhạc cũng như nhiều lĩnh vực khác và được xem là một mô hình để nhiều quốc gia học tập.

Có thể bạn chưa biết rằng cho đến những năm khoảng giữa thế kỷ XIX, Thụy Điển là một trong những nước nghèo nhất châu Âu với khoảng 70% dân số làm nông nghiệp, chủ yếu là trong điều kiện nghèo nàn, hạn chế. Chỉ một thế kỷ sau, Thụy Điển đã trở thành một trong những quốc gia thịnh vượng nhất, công nghiệp hóa nhất và sáng tạo nhất trên thế giới.

Ngày nay, Thụy Điển là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về sự đổi mới, minh bạch, bình đẳng, hạnh phúc, công nghệ thông tin, kết nối Internet và tỷ lệ tham nhũng thấp… Đây là một sự thay đổi ấn tượng. Các ngôi sao Thụy Điển ngày nay như Zlatan Ibrahimovic cho thấy Thụy Điển đang nổi lên như một quốc gia dân túy và cởi mở như thế nào.

Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ với các bạn về sự cởi mở trong xã hội Thụy Điển có thể đặt nền tảng cho những phát triển tích cực như thế nào thông qua lăng kính của cuộc tổng tuyển cử diễn ra vào cuối tuần này, ngày 9/9/2018.

Phòng họp của Quốc hội Thụy Điển. (Nguồn: Imagebank.sweden.se)
Phòng họp của Quốc hội Thụy Điển. (Nguồn: Imagebank.sweden.se)

Quốc hội – cơ quan đại diện của người dân

Yếu tố cơ bản của một xã hội cởi mở, dân chủ khả năng của chúng tôi trong việc lựa chọn những người sẽ đại diện cho mình trong quốc hội thông qua lá phiếu trong cuộc tổng tuyển cử. Bầu cử là được coi là quyền và nghĩa vụ quan trọng đối với chúng tôi bởi vì chính thông qua các cuộc bầu cử mà công chúng có thể có tiếng nói tác động đến nền chính trị.

Từ năm 1970, Quốc hội Thụy Điển chỉ có một viện với 349 đại biểu. Ở Thụy Điển, cuộc tổng tuyển cử được tổ chức bốn năm một lần. Tất cả công dân Thụy Điển từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bỏ phiếu. Khoảng 7,3 triệu người từ 18 tuổi trở lên có quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 2018 và do đó sẽ quyết định các đảng nào sẽ đại diện cho mình trong Quốc hội Thụy Điển, cũng như các hội đồng cấp hạt và thành phố.

Khoảng 7,3 triệu người từ 18 tuổi trở lên có quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 2018

Tại Thụy Điển, các lá phiếu trong bầu cử được bảo mật. Điều này có nghĩa là bạn không bắt buộc phải nói với bất kỳ ai bạn đã bỏ phiếu cho bên nào. Các quan chức tại các trạm bỏ phiếu nhận được phiếu bầu của bạn cũng không có cách để tìm ra liệu bạn đã bỏ phiếu cho đảng nào.

Mặc dù việc bỏ phiếu hay không phụ thuộc hoàn toàn vào các công dân, số lượng cử tri ở Thụy Điển nói chung là cao, chiếm khoảng 85-90% dân số, như đã thấy trong các cuộc bầu cử gần đây.

Công dân không phải người Thụy Điển cũng có quyền bỏ phiếu tại các cuộc bầu cử hội đồng hạt và thành phố họ đã sống ở Thụy Điển ít nhất ba năm trước tính đến ngày bầu cử. Việc tỷ lệ cử tri đi bầu cao cũng cho thấy có niềm tin của người dân vào các chính trị gia và nền dân chủ. Khi bạn tham gia bỏ phiếu, cơ hội sẽ tăng lên cho cho những ứng cử viên, những người có cùng suy nghi và chia sẻ quan điểm của bạn có điều kiện tham gia điều hành đất nước.

Khoảng 7,3 triệu người từ 18 tuổi trở lên có quyền  bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 2018 tại Thụy Điển. (Nguồn: imagebank.sweden.se)
Khoảng 7,3 triệu người từ 18 tuổi trở lên có quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử năm 2018 tại Thụy Điển. (Nguồn: imagebank.sweden.se)

Có một số khác biệt giữa các nhóm khác nhau trong các cuộc bầu cử trước đây. Ví dụ, trong cuộc bầu cử năm 2014, những người có thu nhập thấp và trình độ học vấn thấp thường ít đi bỏ phiếu hơn so với những người có thu nhập cao và có trình độ học vấn cao hơn. Số tỷ lệ cử tri là thanh niên cũng thấp hơn so với những người lớn tuổi. Những người sinh ra ở nước ngoài cũng không thể hiện sự quan tâm giống như những người trong nước. Và thời gian của bạn sống càng dài tại Thụy Điển cũng tỷ lệ thuận với sự quan tâm, tham gia của bạn trong việc bầu cử.

Để ứng cử trở thành đại biểu Quốc hội, bạn cần phải là công dân Thụy Điển và từ 18 tuổi trở lên. Số ghế trong Quốc hội được phân phối giữa các đảng phái (chứ không phải theo cá nhân) theo tỷ lệ phiếu bầu gộp chung trong cả nước.

Có một quy tắc quan trọng cần lưu ý: để có được đại diện trong quốc hội, một đảng phải giành được ít nhất 4% phiếu bầu phổ thông trên toàn quốc. Mục đích của quy tắc này là ngăn cản các đảng quá nhỏ tham gia chính trường. Số lượng các đảng có đại diện trong quốc hội đã có sự thay đổi liên tục và trong những thập kỷ gần đây, tăng từ bốn lên tám đảng có đại diện tại quốc hội.

Để có được đại diện trong Quốc hội Thụy Điển, một đảng phải giành được ít nhất 4% phiếu bầu phổ thông trên toàn quốc

Cấp hạt và cấp thành phố

Thụy Điển có ba cấp hành chính công: quốc gia, khu vực và địa phương. Ngoài việc bỏ phiếu tại quốc hội Thụy Điển, người dân ở Thụy Điển cũng sẽ bỏ phiếu cho đại diện của họ tại hội đồng hội đồng hạt và hội đồng thành phố vào ngày 9/9. Cử tri bỏ phiếu cho đảng và có thể, cùng một lúc, bỏ phiếu cho một trong các ứng viên được liệt kê trong phiếu bầu. Tất nhiên, bạn có thể bầu cho các đảng khác nhau trong các cuộc bầu cử các cấp khác nhau.

Cấp khu vực

Ở cấp độ khu vực, Thụy Điển được chia thành 20 hạt. Hội đồng hạt có trách nhiệm giám sát các nhiệm vụ như chăm sóc sức khỏe và có quyền thu thuế thu nhập.

Cấp địa phương

Ở cấp địa phương, Thụy Điển được chia thành 290 đô thị, mỗi thành phố có một hội đồng hoặc hội đồng điều hành được bầu. Các hội đồng này chịu trách nhiệm cho hàng loạt các về đề như cơ sở vật chất và các dịch vụ bao gồm nhà ở, đường sá, cấp nước và xử lý nước thải, trường học, phúc lợi công cộng, chăm sóc người già và chăm sóc trẻ em. Họ có nghĩa vụ pháp lý để cung cấp một số dịch vụ cơ bản nhất định. Các hội đồng cũng có quyền thu thuế thu nhập đối với cá nhân và cũng có thể tính phí cho các dịch vụ khác nhau.

Khoảng một nửa thành viên Chính phủ Thụy Điển là phụ nữ. (Nguồn: Website Chính phủ Thụy Điển)
Khoảng một nửa thành viên Chính phủ Thụy Điển là phụ nữ. (Nguồn: Website Chính phủ Thụy Điển)

Đề cử thủ tướng

Quốc hội được bầu sau đó sẽ đề cử một thủ tướng, người được giao nhiệm vụ thành lập chính phủ. Để được chấp thuận, ứng cử viên phải nhận sự ủng hộ từ đa số các đại biểu quốc hội. Thông thường vì không có đảng nào có hơn 50% số ghế trong quốc hội, điều này có nghĩa là các Đảng phải đàm phán để liên minh và hội đủ số phiếu cần thiết trong quốc hội. Đối với cuộc bầu cử năm nay, đây sẽ là một chủ đề mang tính thời sự về việc đảng phái nào sẽ liên minh với nhau.

Thủ tướng sẽ đích thân lựa chọn các vị bộ trưởng để hình thành nội các chính phủ và quyết định ai sẽ đảm nhận cương vị bộ trưởng bộ nào. Chính phủ điều hành đất nước nhưng chịu trách nhiệm trước quốc hội.

Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ

Quốc hội đưa ra quyết định và chính phủ thực hiện chúng. Chính phủ cũng đệ trình các đề xuất về các điều luật mới hoặc sửa đổi các bộ luật để đệ trình lên quốc hội phê chuẩn.

Bình đẳng giới và những tiến bộ của phụ nữ

Trong những thập kỷ gần đây, phụ nữ Thụy Điển đã có những bước tiến lớn trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực chính trị.

Kể từ khi phụ nữ được trao quyền bầu cử lần đầu tiên vào năm 1918, đã có những sự tiến bộ liên tục trong bình đẳng ở Thụy Điển. Chẳn hạn cuộc bầu quốc hội năm 1994 được coi là lịch sử với một bước đột phá quan trọng đối với phụ nữ trong nền chính trị Thụy Điển. Các đại biểu nữ giành được 142 hoặc 41% trong tổng số 349 ghế trong quốc hội. Phụ nữ cũng đạt được kết quả khích lệ trong các cuộc bầu cử cấp địa phương.

Không nhiều quốc hội trên thế giới có tỷ lệ phụ nữ cao như vậy. Trong nội các hiện nay do Đảng dân chủ xã hội của Thủ tướng Stefan Löfven đứng đầu trong nhiệm kỳ 2014-2018, số lượng các bộ trưởng nữ và nam là cân bằng, với 11 trong số 22 bộ trưởng là nữ giới. Các bộ trưởng nữ đứng đầu các bộ quan trọng như ngoại giao, tài chính, thương mại, lao động, y tế và môi trường.

Ở nơi làm việc, Luật Cơ hội Bình đẳng – luật bình đẳng giữa nam và nữ của Thụy Điển bao gồm các điều khoản yêu cầu người sử dụng lao động áp dụng các biện pháp tích cực để thúc đẩy bình đẳng giới, ví dụ về thuế và thu nhập. Luật cũng nghiêm cấm việc phân biệt đối xử liên quan đến giới ở nơi làm việc. Những thiết chế đảm bảm giới chủ bảo vệ các người lao động của họ khỏi quấy rối tình dục và cho phép cả lao động nam và nữ được trả lương và đóng góp các trách nhiệm một cách bình đẳng.

Tôn trọng sự cởi mở

Sự cởi mở và minh bạch là những cấu phần quan trọng của nền dân chủ Thụy Điển. Mọi công dân đều có quyền tự do tìm kiếm thông tin, tổ chức các cuộc tuần hành, tham gia các đảng chính trị và thực hành tín ngưỡng của họ.

Vào ngày Chủ nhật tới đây, người Thụy Điển một lần nữa sẽ chọn ai sẽ đại diện cho họ và hình thành một chính phủ mới ở Thụy Điển trong nhiệm kỳ bốn năm tới. Truyền thống dân chủ cởi mở sẽ là chìa khóa để hiểu mô hình Thụy Điển và những thành công của Thụy Điển./.

Người dân tham gia một lễ hội ở Thụy Điển. (Nguồn: imagebank.sweden.se)
Người dân tham gia một lễ hội ở Thụy Điển. (Nguồn: imagebank.sweden.se)

Deaf hairdresser: A cut above

Nguyen Thai Thanh had a tough childhood, being born both deaf and mute. Despite the issues he faced growing up, he continued to strive for his passions. Now a well-known hairdresser, Thanh runs a hair salon in Hanoi, inspiring others who are hard of hearing to follow in his success.

Tough, yet resilient childhood

Nguyen Thai Thanh, born in 1991, often felt lonely growing up as he was unable to express himself before learning sign language.

But of desperation, his father sent him to a local public school, hoping Thanh would improve his hearing ability trying to communicate with his teachers and friends.

However, the father’s decision backfired. Thanh struggled in school as he was unable to understand his teachers.

Tough childhood: Thanh had a dream to become a pilot but he knew it could not happen because he is deaf. (Photo: Phuong Vu/VNA)
Tough childhood: Thanh had a dream to become a pilot but he knew it could not happen because he is deaf. (Photo: Phuong Vu/VNA)

“I felt like my life was a big mess, something so wrong about it that I could not either figure it out myself or ask anyone to explain it to me,” Thanh told the Vietnam News Agency, with the help of sign language intepreter Do Thu Hien.

Yet, kid Thanh continued to nurse hope for a life like other kids his age.

“I used to have a childhood dream to become a pilot, but I knew I couldn’t make it happen because I was a deaf person.”

“My father wouldn’t even let me ride a bicycle or a motorbike as my father thought the outside world was unsafe for me,” he added.

Young Thanh struggled at home and the schools in his hometown in the northern province of Bac Giang as without sign language, he could not communicate with others efficiently.

An inspiring life story: Despite the issues Thanh faced growing up, he continued to strive for his passions. (Video: Phuong Vu, Nguyen Ngoc Ly/VNA)

Thanh is among around 2.5 million deaf and hard-of-hearing people in Vietnam, many of whom are suffering from disadvantages for lack of access to information and to sign language training and general education, particularly common in rural and remote areas, which often hinder them from working and integrating into the society.

Thanh said he saw many deaf people struggling with a lot of stress and doubt, not knowing what to do with their lives. Some even end up engaging in crime due to a lack of social and legal knowledge.

The situation was no brighter for Thanh until he learnt sign language. While his family was constantly concerned about his future, he would also often face rejection when trying to hang out with other children in his village.

Source of inspiration: Thanh speaks at an event where he was invited to talk about his challenges and achievements. (Photo: courtesy of Thanh Nguyen)
Source of inspiration: Thanh speaks at an event where he was invited to talk about his challenges and achievements. (Photo: courtesy of Thanh Nguyen)

Refusing to surrender to doubts and obstacles, Thanh started to research ways he could get out of the situation.

At the age of 13, Thanh decided to go to Hanoi by himself to learn sign language at Nhan Chinh Deaf School. That was when Thanh learnt there were so many others with a similar condition to him.

Learning sign language made a big change. Thanh’s once vulnerable world suddenly became complete, as the deaf boy could read, write, and communicate effectively with the able-bodied and the deaf.

Hairdressing career: Thanh becomes interested in hairdressing and makes it his career. (Photo: Phuong Vu/VNA)
Hairdressing career: Thanh becomes interested in hairdressing and makes it his career. (Photo: Phuong Vu/VNA)

“That was when I felt like I was empowered and could live up to my dream.”

Some of his good friends introduced him  to  hairdressing, which he  became really interested in and made it his career.

“I have good friends who have helped shape my life and career so far.”

Thanh’s dream was not to become a pilot anymore. He just simply wanted to have a job so he could support himself and prove to his family that they did not need to be so worried about him.

After graduation, Thanh decided to find a job in hairdressing.

“I wanted to work and develop my hairdressing skills so bad that I even offered my work for free at several salons,” Thanh said.

The journey was not smooth for the deaf man. He went from salon to salon, from his hometown, to Hanoi, and Ho Chi Minh City.

Seeing his self-determination and unwavering efforts, Thanh’s parents began to feel more secure about their son and expressed their support for him in whatever he chose to do.

Becoming a leader: Thanh Nguyen Hair Salon, on Ton Duc Thang Street is always full of customers. They come for a quality service as well as for their admiration for the deaf team. (Photo: Phuong Vu/VNA)
Becoming a leader: Thanh Nguyen Hair Salon, on Ton Duc Thang Street is always full of customers. They come for a quality service as well as for their admiration for the deaf team. (Photo: Phuong Vu/VNA)

Become leader of deaf team

After years of rigorous training, practice, and hard work in different salons, Thanh set up Thanh Nguyen Hair Salon on Ton Duc Thang Street, in Hanoi’s Dong Da district, in 2011.

The salon grew and started to recruit staff. Dozens of workers, all are hard of hearing, have been employed by the Salon so far.

“Being deaf myself, I used to face numerous obstacles in seeking a job. Now that I can self-support, I want to help my peers so they can do he same.” Thanh said.

Thanh said all he wanted to do is to make his salon an understanding environment for those suffering the same condition as his, so they can encourage each other to lead better lives.

Deaf team: Thanh Nguyen Hair Salon is the home, where they share their joys and sorrows. (Photo: Phuong Vu/VNA)
Deaf team: Thanh Nguyen Hair Salon is the home, where they share their joys and sorrows. (Photo: Phuong Vu/VNA)

Thanh Nguyen Salon offers a livelihood for people with disabilities who would otherwise struggle to find work, while also serving as a home for them to share their joys and sorrows.

Not only does Thanh teach his staff hairdressing skills, but also social skills and sign language.

“The salon is like home to us, where all the members understand and help each other,” said Nguyen Viet Long, a staff member.

Many customers leave the team with beautiful words, showering them with complements, Long said, showing a board pinned full of notes, photos, souvenirs and drawings.

  • note2-1536544188-76.jpg
  • note1-1536544354-78.jpg
  • note3-1536544233-41.jpg
  • note4-1536544239-2.jpg
  • note5-1536544000-6.jpg

The salon’s customers, including foreigners and several celebrities, go to Thanh’s shop due to its good service, as well as their admiration for the strength and resilience of the owner and his team.

Nguyen Viet Long, 21, is one of the five staff members of Thanh Nguyen Hair Salon. Long’s hairdressing skills are so good that many customers ask for him when they come to the salon.

Long, who changed his jobs several times before working for Thanh, said he wanted to work for Thanh as it enables him to gain many additional values and skills.

Dedication: Long tries his best to improve his hairdressing skill at the Salon (Photo: Phuong Vu/VNA)
Dedication: Long tries his best to improve his hairdressing skill at the Salon (Photo: Phuong Vu/VNA)

“Working at the Salon is the best decision I have made in my life so far.”

Long said what he loves most about working at Thanh Nguyen Hair Salon is not about learning skills, but the family atmosphere.

“Thanh is like our eldest brother. We learn from his willpower and attitude towards life.”

The team offers free haircuts on street pavements, at hospitals or in rural areas. The charitable activities help them learn the value of sharing while being encouraged to see the bright sides.

“I could see that many face harsh difficulties with even greater disadvantages than deaf people like us,” Long said, adding Thanh also takes the team to student exchanges and various community activities so they can connect with the public.

Run inspiring startup

Having developed a vision for his startup, Thanh received financial assistance from the Thriive Hanoi Charity Fund under the Vietnam National University – University of Economics and Business. He and his partners set up Thanh Nguyen Beauty JSC. in 2015.

Financial support: A group from the Thriive Hanoi fund visited Thanh Nguyen hair salon (Photo: Courtesy of Thanh Nguyen)
Financial support: A group from the Thriive Hanoi fund visited Thanh Nguyen hair salon (Photo: Courtesy of Thanh Nguyen)

The Thriive fund, initiated by a US citizen, aims to offer financial assistance to small- and medium-sized enterprises which commit to paying back to society, by providing free services and products for others with disadvantages, so that they can increase their income or find a livelihood.

Over the years, Thanh Nguyen Beauty JSC, with Thanh as director, has offered free training for up to 50 deaf and hard-of-hearing people at Thanh Nguyen Hair Salon and numerous social campaigns.

Many of them have developed their hairdressing skills and set up their own shops in their hometown.

  • giaidacbie-1536541595-6.jpg
  • chungnhan-1536541619-29.jpg
  • bangkhen-1536542146-64.jpg

Thanh has received recognition for his  efforts and achievements in hair styling as well as for his social and charity contributions.

Among the awards Thanh has won is top prize at a competition that sought potential hair styling talents nationwide, which was organised in Ho Chi Minh City in 2013.

Thanh received the UN’s Sustainable Development Goal Prize in 2015. He was also honoured as one of the ten outstanding new faces of Vietnamese Youth by the Ho Chi Minh Communist Youth Union in 2015.

Nguyen Hong Ha, Vice Head of the Hanoi Association of Youth with Disabilities praised Thanh and his business, saying that Thanh has set a good example for young people with disabilities in general and the deaf in particular, adding the model should be expanded.

Thanh is among many young people with disabilities in Hanoi who are creating opportunities not only for themselves, but also for other disadvantaged people, making valuable contributions to society, Ha said.

The Association is working to offer helpful resources for people with disabilities so that they can better socialise and contribute to society.

Nguyen Truong Hoang Anh Hung, 21, from Nha Trang City in the south central coastal province of Khanh Hoa, is another member of the Thanh Nguyen Salon team.

Creating opportunities: Hung wants to follow steps Thanh has made. (Photo: Phuong Vu/VNA)
Creating opportunities: Hung wants to follow steps Thanh has made. (Photo: Phuong Vu/VNA)

Hung has worked and learnt hairdressing at Thanh Nguyen Salon for nearly one year. He said he has great admiration for his boss, and he wanted to follow Thanh’s example.

“When I am good enough at hairdressing, I will return home and set up my own shop. I want to create the same opportunities for other deaf people in my hometown as Thanh created for me,” Hung said.        

As for Thanh, he will continue offering free training and support for as many deaf peers across the nation as he can even after fulfilling his commitments to the Thriive Fund.

“Deafness doesn’t necessarily have to hinder our education, so long as we are supported with appropriate materials to help us reach our full potential,” Thanh said.

He described deaf people like him as fragile as an egg which easily breaks amid challenges. He expressed his hope for bigger support and more favourable condition for his community.

Thanh owes his achievements to the love of his family and support of his team and the community, and of course, his own hard work.-VNA

Trên con đường bản địa hóa Cách mạng 4.0

Tự cường và sáng tạo

ASEAN bản địa hóa Cách mạng 4.0

VietnamPlus

Sau khoảng 300 năm, kể từ cuộc cách mạng công nghiệp Anh cùng chiếc đầu máy hơi nước thế kỷ 18 đã biến chuyển cả thế giới.

Giờ đây, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet of Things (IoT Internet vạn vật), công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới,… cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng này và là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của loài người.

Tất cả những công nghệ này đang biến đổi nền kinh tế, xã hội và hệ thống chính trị với một tốc độ đáng kinh ngạc. Việt Nam sẽ phải “đuổi theo, bắt kịp” chuyến tàu Cách mạng 4.0, chứ không phải là tận dụng? Những thay đổi mà chúng ta thấy, những công nghệ mới sẽ có tác động khác nhau ở các quốc gia khác nhau.

Điều dễ nhận ra nhất, trong Cách mạng 4.0, nhiều ngành nghề sẽ bị mất đi, nhưng các chuyên gia cho rằng không nên bi quan mà cần lạc quan bởi các công việc mới sẽ được tạo ra. Các Chính phủ cần hoạch định ra chính sách để chủ động trước những thách thức, chuẩn bị cho một thời gian chuyển đổi, thay đổi, trả lời cho câu hỏi làm thế nào để sản xuất, tiêu dùng và giải trí.

Hàng loạt câu hỏi được đặt ra trước thềm Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN (WEF ASEAN) 2018 diễn ra tại Việt Nam (từ ngày 11-13/9/2018), sự kiện đối ngoại lớn nhất trong năm của nước ta với sự tham dự của hầu hết lãnh đạo các quốc gia ASEAN và những nước đối tác quan trọng.

Với chủ đề “ASEAN 4.0: Tinh thần doanh nghiệp và Cách mạng công nghiệp lần thứ 4,” nội dung của diễn đàn gắn chặt với nội hàm ASEAN tự cường và sáng tạo trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đây là thời điểm phù hợp để các lãnh đạo ASEAN, các nước đối tác, các doanh nghiệp, nhà khoa học cùng trao đổi thảo luận để tìm động lực mới cho sự phát triển của ASEAN. Trong đó, câu hỏi lớn được đặt ra là sự thích ứng của ASEAN trước các biến chuyển địa chính trị, kinh tế. ASEAN cần định hình tầm nhìn của khối khi cuộc cách mạng công nghiệp đang thay đổi dòng chảy thương mại.

Loạt bài Mega Story của VietnamPlus là cuộc chuyện trò với các chuyên gia, doanh nghiệp, nhà quản lý với các góc nhìn đa dạng về tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 về bất bình đẳng, tìm các lĩnh vực tiềm năng trong bối cảnh hiện tại như cơ sở hạ tầng thông minh, năng lượng, công nghệ thông tin, việc làm, hàng không, du lịch, tiêu dùng,…

Tựu trung, trong khuôn khổ của ASEAN, khối các quốc gia Đông Nam Á cần gì, để sẵn sàng đi về tương lai?

Không ít các chuyên gia đã nhấn mạnh việc nắm chắc được bốn chữ “I” trong đó có Identity – bản sắc; Innovation – sáng kiến, theo đó chú trọng tới những tiến bộ về công nghệ; Inclusive – bao trùm, nhấn mạnh tới việc sử dụng công nghệ để lấp đầy khoảng cách số và Intergration – sự hội nhập, cần chăm chỉ hơn, đi đầu về xã hội.

Với Việt Nam, động lực mới cho tăng trưởng kinh tế chính là kết nối và sáng tạo. Đây là hai đường ray cho con tàu kinh tế phát triển. Việt Nam là điểm kết nối giữa nền kinh tế thế giới với ASEAN. Việt Nam cũng là trái tim của khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.

Đổi mới và sáng tạo đang là trọng tâm phát triển vào lúc này và Việt Nam đang nỗ lực trở thành nền kinh tế sáng tạo, gắn liền với tinh thần khởi nghiệp. Việt Nam cũng là một trong 20/60 nền kinh tế được khảo sát là có chỉ số tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam đang lên rất cao và khởi nghiệp sáng tạo đã trở thành điểm nổi bật của nền kinh tế Việt Nam.

Nếu xây dựng được hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối và đổi mới sáng tạo, Việt Nam có quyền hy vọng nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ trở lại mạnh mẽ hơn và tạo làn sóng mới ở Việt Nam./.

Công nghệ thông tin Việt ở đâu trên bản đồ toàn cầu?

Trung Hiền

Theo phó giáo sư, tiến sỹ Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA), ngành công nghệ thông tin Việt Nam những năm gần đây đã khẳng định vị trí, vươn mình trên phạm vi toàn cầu.

Là người nhiều lần tham gia diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), ông Bình – người đồng thời là Chủ tịch FPT – nhận định, Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN 2018 (WEF-ASEAN 2018) được tổ chức tại Việt Nam chính là cơ hội to lớn với FPT và là nơi gặp gỡ chia sẻ, kết bạn, hợp tác và học hỏi của nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt.

Đầu năm 2014, chú chim đập cánh Flappy Bird của lập trình viên Nguyễn Hà Đông xuất hiện, gây “bão” cho ngành công nghệ khi đạt lượt tải kỷ lục, khiến cộng đồng công nghệ thế giới biết tới Việt Nam nhiều hơn. Nhưng thực tế, dấu ấn công nghệ, viễn thông của Việt Nam trên bản đồ công nghệ toàn cầu đã có từ trước đó với những cái tên như FPT, Viettel, VNPT…

Trao đổi với phóng viên Báo điện tử VietnamPlus, ông Trương Gia Bình nhận định, ngành công nghệ thông tin Việt Nam đã thực sự vươn mình trên phạm vi toàn cầu. Hiện, các doanh nghiệp công nghệ Việt không chỉ cung cấp các giải pháp, dịch vụ công nghệ cho các quốc gia trong khu vực ASEAN mà còn khẳng định được vị thế tại các quốc gia phát triển (Nhật Bản, Mỹ, châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương…). Nhờ đó, Việt Nam đã phát triển được một đội ngũ hơn 780.000 nhân lực công nghệ thông tin, có kỹ năng chuyên sâu và đây cũng chính là lợi thế.

Với kinh nghiệm và tiềm lực hiện nay, nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin của đất nước hình chữ S đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các lĩnh vực viễn thông, internet, thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong khu vực ASEAN.

Ông Trương Gia Bình. (Nguồn: Nhân vật cung cấp)
Ông Trương Gia Bình. (Nguồn: Nhân vật cung cấp)

“Đặc biệt với Chương trình “Quốc gia khởi nghiệp” phát động từ 2016, đã có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp và phần lớn trong số này khởi nghiệp dựa trên các nền tảng công nghệ, họ đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển và khẳng định vị thế của Việt Nam tại khu vực,” ông Bình nói.

Ông Bình cũng cho hay, theo Chỉ thị 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Thủ tướng trực tiếp chỉ đạo công cuộc xây dựng chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, phát triển Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4. Do đó, năng lực công nghệ thông tin của Việt Nam sẽ tiến nhanh trong giai đoạn tới tạo sự phát triển quan trọng cho Việt Nam nói riêng và khu vực ASEAN nói chung.

Ngành công nghệ thông tin Việt Nam đã thực sự vươn mình trên phạm vi toàn cầu.

Theo ông Bình, với tốc độ tăng trưởng kinh tế dao động từ 5-7%, các doanh nghiệp địa phương khá nhỏ, các doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là công ty Ấn Độ, trong khi bài toán công nghệ cần giải quyết tại các quốc gia ASEAN rất nhiều nên nếu doanh nghiệp Việt đủ năng lực, khát vọng sẽ có nhiều cơ hội.

Hiện, FPT cũng đã tham gia khá sâu góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới của một số lĩnh vực như thuế, tài chính công… tại một số quốc gia trong khu vực như Bangladesh, Myanmar.

Bàn về câu chuyện WEF-ASEAN được tổ chức tại Việt Nam với chủ đề “ASEAN 4.0: Tinh thần Doanh nghiệp và Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4,” người đứng đầu VINASA cho hay, Việt Nam nên thể hiện tinh thần tiên phong trong cuộc cách mạng này.

Theo ông Bình, WEF là diễn đàn số 1 trên toàn cầu, không có diễn đàn nào đông các nguyên thủ quốc gia tham dự đến như vậy. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp hàng đầu, các trường đại học, bệnh viện, nhóm xã hội lớn nhất thế giới tham dự. Đặc biệt, đây là diễn đàn duy nhất mà bạn thể nói bất cứ vấn đề gì mà nhân loại đang quan tâm. Lần này diễn ra ở ASEAN và ASEAN có thể nói bất cứ vấn đề gì mà ASEAN quan tâm.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Bình chia sẻ những thành tích quan trọng nhất mà FPT đạt được trong những năm gần đây đều gắn với WEF. Trong 7-8 năm qua, FPT không bỏ lỡ cơ hội tham dự WEF và đem những dịch vụ, giải pháp dựa trên công nghệ của cuộc cách mạng 4.0 do FPT đầu tư nghiên cứu phát triển giới thiệu với các tập đoàn hàng đầu thế giới tại mỗi kỳ hội nghị. Nhiều tập đoàn trong số này đã là khách hàng của FPT.

Công nhân sản xuất trong nhà máy điện thoại của Samsung. (Nguồn: Samsung Việt Nam)
Công nhân sản xuất trong nhà máy điện thoại của Samsung. (Nguồn: Samsung Việt Nam)

“WEF chính là thị trường mà FPT tìm kiếm những tập đoàn lớn nhất trên thế giới, để làm những việc hoàn toàn mới giống như là là hợp tác xây dựng dữ liệu hàng không mở Skywise với Airbus, phục vụ tất cả các hãng hàng không,” ông Bình cho biết.

Việc WEF tổ chức tại Việt Nam được coi là cơ hội to lớn với FPT. Còn với các doanh nghiệp khác, ông Bình cho rằng sẽ là cơ hội gặp gỡ và có thể sẽ tìm kiếm được đối tác hoặc có thể học hỏi được một điều gì đó từ các tập đoàn hàng đầu thế giới.

Vẫn theo ông Trương Gia Bình, ở WEF, người ta vẫn nói các cuộc cách mạng trước đó chưa có quốc gia nào chạm vào được. Bản thân WEF cũng thành lập những viện nghiên cứu để đánh giá tác động của cuộc cách mạng 4.0.

“Nói cho cùng cách mạng là dựa vào con người, chúng ta có gần 100 triệu dân, trẻ, ham học và đặc biệt là về toán, tin. Việt Nam rất có lợi thế nếu tham gia cuộc cách mạng này,” ông Bình bày tỏ quan điểm.

Dây chuyền sản xuất điện thoại made in Vietnam - Bphone. (Nguồn: Bkav)
Dây chuyền sản xuất điện thoại made in Vietnam – Bphone. (Nguồn: Bkav)

“Nói cho cùng cách mạng là dựa vào con người, chúng ta có gần 100 triệu dân, trẻ, ham học và đặc biệt là về toán, tin. Việt Nam rất có lợi thế nếu tham gia cuộc cách mạng này,” ông Bình bày tỏ quan điểm.

Cũng theo ông Bình, tại WEF-ASEAN, Việt Nam nên thể hiện tinh thần tiên phong trong 4.0 để các bạn thế giới nhìn vào và thấy điểm mới, sức hấp dẫn mới của Việt Nam. Và, Việt Nam giờ đây đang bàn chính những câu chuyện mà họ đang quan tâm và họ có thể cần Việt Nam như chính Việt Nam cần họ.

Nói về khu vực ASEAN, ông Bình cho hay với cơ cấu dân số, địa chính trị, ASEAN đang là khu vực phát triển năng động nhất thế giới. Tuy nhiên ASEAN đang ở giai đoạn phải chuyển từ phương thức tăng trưởng từ các lao động chi phí thấp chuyển sang ứng dụng và phát triển công nghệ. Do vậy, điều quan trọng nhất phải đặt vấn đề đào tạo nhân lực 4.0 trong khu vực.

“Cách mạng 4.0 là rất đúng lúc cho ASEAN để chuyển đổi. Và, chính cuộc cách mạng này cũng giúp ASEAN tăng cường kết nối hơn. Chúng ta có thể nghĩ đến một ASEAN kết nối từ nguồn nhân lực, tài chính, đến sản xuất, dịch vụ… để chính công nghệ thông tin có thể làm ASEAN không biên giới, giúp ASEAN cạnh tranh với các khu vực khác,” ông Bình bày tỏ./.

Việt Nam làm gì

để ‘đuổi theo’ nền tài chính 4.0?

Lê Dũng

Định hướng chính sách phát triển nền tài chính nước nhà trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, theo chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh là có, nhưng vấn đề là phải thực thi ngay để có hiệu quả trong cuộc sống.

Vấn đề làm ông lo lắng là nước ta sẽ “đuổi theo” cuộc cách mạng 4.0 chứ không phải tận dụng. Bởi thế, việc kết nối giữa các nước đang là đòi hỏi bắt buộc để Việt Nam không bị rơi lại phía sau.

Phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trao đổi kỹ hơn với phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính) về vấn đề này.

– Không chỉ Việt Nam mà cả các nước ASEAN và nhiều nước trên thế giới đang nói nhiều tới cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Theo ông, cuộc cách mạng mới liệu có giúp nền tài chính Việt Nam thay da đổi thịt?

Phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh: Ta đang phát triển kinh tế một cách nhanh chóng. Mức thu nhập của người được nâng cao rõ rệt đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tài chính đi vào đời sống. Các hoạt động tài chính trong đó có thanh toán, chứng từ, hóa đơn bằng phương thức điện tử đang được người dân hưởng ứng nhanh.

Theo phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh, định hướng chính sách để xây dựng nền tài chính 4.0 là có nhưng vấn đề là phải thực thi ngay để có hiệu quả trong cuộc sống. (Ảnh: CTV/Vietnam+)
Theo phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh, định hướng chính sách để xây dựng nền tài chính 4.0 là có nhưng vấn đề là phải thực thi ngay để có hiệu quả trong cuộc sống. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Đặc biệt, nước ta có lực lượng người trẻ thu nhập ngày một cao chiếm tỷ trọng lớn. Đây là điểm mạnh để ta triển khai ứng dụng công nghệ cao trong hoạt động tài chính vì rõ ràng người trẻ tuổi thường sẽ bắt nhịp nhanh hơn.

Các hoạt động thuế, hải quan nếu ứng dụng được công nghệ cao rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người. Tất cả thông tin có thể được công khai và tra cứu trên các thiết bị thông minh. Người dùng có thể tra cứu đơn giản xem khoản này đóng bao nhiêu tiền, đóng ra sao mà không cần biết mặt anh cán bộ thuế là ai. Bởi thế, chuyện móc nối và đỏi hỏi như trước tới nay sẽ không còn và rõ ràng người nộp thuế rất thoải mái.

Nếu có vấn đề gì, người nộp thuế tính sai thì nếu có hệ thống quản lý thông minh, hệ thống có thể phản hồi ngay lập tức, như vậy tiện lợi cho cả 2 bên. Rõ ràng, việc cán bộ, thuế, hải quan đòi “cái nọ cái kia” sẽ không còn nữa. Và, với dịch vụ như vậy, người nộp thuế sẽ sẵn sàng chấp nhận mức chi phí cao hơn.

Hoặc ví dụ như với thuế xuất nhập khẩu, hiện các quy định về các mặt hàng chịu thuế rất phức tạp, có hàng vạn dòng, mặt hàng nhóm khác nhau có mức thuế khác nhau nên cán bộ “lợi dụng” được. Nếu có máy tính thực hiện, tự động sắp xếp thì người làm ăn chân chính… thích quá.

– Vậy với thách thức, ông lo lắng điều gì khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tới Việt Nam?

Phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh: Đầu tiên, đã nói tới công nghệ cao thì đầu tư hạ tầng kỹ thuật cần sự đồng bộ và đặc biệt là trang bị ban đầu khá nặng nề, đòi hỏi khoản chi lớn.

Đây là bài toán khó vì đây không phải là đòi hỏi thông thường mà là nền tảng công nghệ cao như blockchain, công nghệ chia sẻ giữa các chủ thể, dần dần là trí thông minh nhân tạo, Internet vạn vật.

Điều này đòi hỏi ta phải có đường hướng phát triển lâu dài để đầu tư. Nếu không có tầm nhìn dài hạn, mà chỉ “giật gấu vá vai” thì sẽ lãng phí.

Vấn đề khác đi đôi với cách mạng công nghiệp là trình độ của người dùng. Làm sao phổ cập các tính năng công nghệ cho đại đa số quần chúng cũng là đòi hỏi tương đối tốn kém vì phải trang bị trình độ công nghệ thông tin cho xã hội. Việc này cần đào tạo chứ không tự nhiên mà có.

Một điều lo lắng nữa là tin tặc. Với mặt bằng thế giới như hiện nay, không chỉ tội phạm trong nước mà còn ở tầm quốc tế nên việc phòng ngừa, bảo mật và chống tin tặc cũng là bài toán khó với nền tài chính.

Một trong những cái khó khi ta ứng dụng công nghệ cao vào lĩnh vực tài chính là định hướng chính sách ta có nhưng triển khai thực tế là vấn đề phải thực thi ngay để có hiệu quả. Người Việt Nam nhiều khi chính sách có nhưng triển khai thực hiện lại không làm được. Nếu ta cứ chậm trễ, tách rời giữa đường hướng và thực tiễn thì rõ ràng ta sẽ không có thực thi công nghệ 4.0 trong hoạt động tài chính.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có sản sinh ra những loại hình kinh doanh mới giống như Uber, Grab? (Ảnh: TTXVN)
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có sản sinh ra những loại hình kinh doanh mới giống như Uber, Grab? (Ảnh: TTXVN)

Ta hoàn toàn có thể đi tắt đón đầu 4.0, nếu không làm thì sẽ phải đuổi theo cuộc cách mạng công nghiệp.

– Ai cũng biết cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ mang tới những dòng đầu tư mới. Nhưng, ông có lo chính cuộc cách mạng ấy sẽ sản sinh ra những loại hình kinh doanh mới giống như Uber, Grab hoặc tiền ảo mà chính cơ quan quản lý các nước cũng có nhiều ý kiến trái chiều?

Phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh: Rõ ràng, đi đối với kỹ thuật cao là nhiều vấn đề nảy sinh. Theo tôi, ta phải lấy nền tảng là chính sách của Nhà nước để làm chuẩn trong triển khai cách mạng công nghiệp 4.0.

Ví dụ như với tiền ảo, ta phải theo quy định của Nhà nước, ta chỉ sử dụng đồng tiền chính thức để thực thi trong thanh toán. Cách thực thi tốt nhất là cứ đúng theo luật pháp của Việt Nam.

Đi đôi với cách mạng công nghiệp 4.0 là trình độ của người dùng, đây là vấn đề cần thời gian đào tạo chứ không tự nhiên có. (Ảnh: TTXVN)
Đi đôi với cách mạng công nghiệp 4.0 là trình độ của người dùng, đây là vấn đề cần thời gian đào tạo chứ không tự nhiên có. (Ảnh: TTXVN)

– Vậy việc kết nối giữa các nước trong khu vực để cùng xử lý vấn đề còn gây tranh cãi thì sao, thưa ông?

Phó giáo sư, tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh: Thực ra việc kết nối cộng đồng quốc tế là đòi hỏi bắt buộc trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 vì biên giới giữa các nước trong thời kỳ này gần như không còn.

Ví dụ như vấn đề chuyển tiền hay rửa tiền, đây là vấn đề cực kỳ phức tạp đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Nếu không có sự kết hợp giữa các quốc gia thì khó mà quản được vấn đề này.

Với các nước ASEAN, đây là nước trong khu vực ta đang hướng tới xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN. Các thành viên quốc gia trong cộng đồng hướng tới có thể di chuyển đầu tư, lao động hay thậm chí sinh sống giữa nước này và nước kia dễ dàng hơn. Bởi vậy, nếu không có biện pháp kết hợp các nước ngay thì rất khó để quản lý./.

Đề xây dựng được nền tảng công nghệ cao, một trong những bài toán với Việt Nam là chi phí đầu tư ban đầu khổng lồ. (Ảnh: forbesmiddleeast.com)
Đề xây dựng được nền tảng công nghệ cao, một trong những bài toán với Việt Nam là chi phí đầu tư ban đầu khổng lồ. (Ảnh: forbesmiddleeast.com)

Doanh nghiệp ASEAN

Vai trò bản địa hóa công nghệ trên các nền tảng lớn

Nguyễn Hạnh

Tự gây dựng công ty và trở thành triệu phú trẻ, Thomas Pitchyen Hongpakdee, nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc của Smart ID Group đồng thời là chủ sở hữu thương hiệu Anitech – được biết đến với các sản phẩm công nghệ, điện tử gia dụng, phụ kiện máy tính, điện thoại dẫn đầu thị trường Thái Lan và đang mở rộng sang các nước trong khu vực ASEAN.

Không chỉ là một thương gia thành đạt, trong con mắt giới trẻ Thái Lan, Thomas Hongpakdee còn được biết tới với vai trò nhạc công và là một ca sỹ đầy ấn tượng.

Anh cho biết có tình yêu đặc biệt và đã từng đến Việt Nam hơn 20 lần trong các chuyến công tác và kỳ nghỉ. “Tôi thực sự yêu thành phố Hội An và mong muốn quay trở lại đó một lần nữa,” doanh nhân người Thái Lan chia sẻ.

Doanh nghiệp khu vực đang làm gì, muốn gì ở cuộc Cách mạng 4.0? Về câu hỏi này, bên lề Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 (WEF ASEAN 2018), VietnamPlus đã có cuộc phỏng vấn độc quyền Thomas Pitchyen Hongpakdee, xoay quanh những câu chuyện về xu hướng phát triển công nghệ tương lai tại khu vực.

Thomas Hongpakdee khởi nghiệp từ một công ty công nghệ, công việc cải tiến mạch tích hợp cho các thiết bị chơi game như Xbox và Playstation. (Ảnh: nhân vật cung cấp)
Thomas Hongpakdee khởi nghiệp từ một công ty công nghệ, công việc cải tiến mạch tích hợp cho các thiết bị chơi game như Xbox và Playstation. (Ảnh: nhân vật cung cấp)

– Song hành với các “đế chế” công nghệ quốc tế, những nhà sản xuất ASEAN đã làm gì để chiếm lĩnh thị trường không chỉ ở nội địa, khu vực mà còn phát triển ra toàn cầu?

Thomas Pitchyen Hongpakdee: ASEAN là thị trường khổng lồ với dân số gần 636 triệu người, tỷ lệ dân số trẻ cao, năng động và yêu công nghệ. Vì thế, các nhà sản xuất công nghệ luôn đặt nó vào trong tầm ngắm.

Chính đam mê tạo lập một hệ sinh thái (Ecosystem) về cuộc sống công nghệ đã đưa Thomas Hongpakdee tới thành công.
Chính đam mê tạo lập một hệ sinh thái (Ecosystem) về cuộc sống công nghệ đã đưa Thomas Hongpakdee tới thành công.

Với các doanh nghiệp trong khu vực, cơ hội là rất lớn nhưng các thách thức cũng không nhỏ. Đó là sự tăng trưởng và bành trướng của những doanh nghiệp khổng lồ đến từ phương Tây và Trung Quốc. Họ có sự hỗ trợ của thị trường nội địa lớn cùng với nền tảng thành công vang dội, do đó tiềm năng đầu tư hầu như không giới hạn.

Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp công nghệ trong khu vực là mới khởi nghiệp và đang trong giai đoạn ban đầu. Công bằng mà nói, rất khó để doanh nghiệp khu vực đạt tốc độ tăng trưởng đủ nhanh để có thể bắt kịp và hơn thế nữa là cạnh tranh với những người khổng lồ.

Tại nhiều quốc gia trong khu vực, doanh nghiệp còn gặp những khó khăn đến từ hệ thống pháp lý phức tạp với các quy tắc và quy định chồng chéo. Điều này gây thêm cản trở cho doanh nghiệp khi họ muốn khởi sự và phát triển trong nhiều mô hình kinh doanh mới.

Chính đam mê tạo lập một hệ sinh thái về cuộc sống công nghệ đã đưa Thomas Hongpakdee tới thành công. Đặt mục tiêu phát triển “Mỗi sản phẩm Anitech cho mỗi người dân của cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)” bằng cách truyền cảm hứng về một cuộc sống thông minh cho giới trẻ trên từng sản phẩm, Thomas đã đoạt được nhiều giải thưởng về kinh doanh trong khu vực.

Vì vậy, trong tương lai dễ nhận thấy, sự phát triển ngành công nghệ trong ASEAN có cấu trúc của một thị trường nền tảng lớn và các sản phẩm công nghệ (như thương mại điện tử, kinh tế chia sẻ, xe điện, robot và những thứ tương tự) dưới sự quản lý độc quyền của các “đế chế” đến từ phương Tây và Trung Quốc. Tuy nhiên bên cạnh đó, các công ty công nghệ nội địa giữ vai trò phụ trợ, bản địa hóa công nghệ trên các nền tảng lớn như phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc các hệ thống có thể tích hợp trong nền tảng lớn. Điều này bao gồm cả phần cứng và phần mềm.

Cá nhân tôi cho rằng, bằng cách này, cơ hội và cơ cấu phát triển của các doanh nghiệp công nghệ ASEAN sẽ là rất khác biệt nếu như các đạo luật và nghị định của các chính phủ ở mỗi nước được điều chỉnh để hỗ trợ cho các công ty công nghệ địa phương và kiềm tỏa những “Gã khổng lồ” công nghệ nước ngoài theo cái cách mà Trung Quốc vẫn làm với doanh nghiệp Mỹ, cho dù điều này là vô cùng khó khăn trên thực tế.

Anitech là thương hiệu hàng điện tử tiêu dùng nổi tiếng. (Ảnh: nhân vật cung cấp)
Anitech là thương hiệu hàng điện tử tiêu dùng nổi tiếng. (Ảnh: nhân vật cung cấp)

– Thách thức luôn song hành với cơ hội và đâu là câu chuyện của Anitech trong quá trình đi đến thành công?

Thomas Pitchyen Hongpakdee: Anitech là thương hiệu hàng điện tử tiêu dùng hàng đầu với hơn 1.000 mã sản phẩm thuộc nhiều hạng mục, từ máy tính và thiết bị game cho tới các thiết bị điện tử gia dụng và sản phẩm Internet vạn vật (IoT). Năm 2002, chúng tôi khởi nghiệp từ một công ty công nghệ tại Paris (Pháp) từ việc cải tiến mạch tích hợp cho các thiết bị chơi game như Xbox và Playstation và sau đó hướng doanh nghiệp sang mô hình thiết kế và phát triển những thiết bị ngoại vi máy tính cho những thương hiệu toàn cầu như HP, Dell’s, Acer, Lenovo…

Anitech là thương hiệu hàng điện tử tiêu dùng hàng đầu với hơn 1.000 mã sản phẩm. (Ảnh: nhân vật cung cấp)
Anitech là thương hiệu hàng điện tử tiêu dùng hàng đầu với hơn 1.000 mã sản phẩm. (Ảnh: nhân vật cung cấp)

Từ năm 2006, chúng tôi lại chuyển hướng sản xuất sang tập trung phát triển thương hiệu riêng của mình bằng việc cho ra mắt sản phẩm chuột máy tính Anitech đầu tiên trên thị trường.

Cho tới nay, Anitech đã phân phối hơn 2 triệu sản phẩm của riêng mình thông qua hơn 5.000 cửa hàng bán lẻ tại Thái Lan, Việt Nam, Myanmar, Campuchia và Lào, cũng như đang mở rộng thị trường sang Indonesia và Philippines. Chúng tôi đang chuẩn bị phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng trên thị trường chứng khoán Thái Lan.

– Kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ đồng nghĩa với cập nhật và sáng tạo không ngừng, bạn có thể cho biết tính cạnh tranh của những sản phẩm mới đến từ Anitech?

Thomas Pitchyen Hongpakdee: Các sản phẩm mới ra mắt của chúng tôi là ổ cắm thông minh IoT, theo đó, Anitech là thương hiệu đầu tiên trên thế giới phát triển loại ổ cắm có gắn eSim (Sim điện tử) trực tiếp vào mạch điện, giúp ổ cắm điện có khả năng kết nối Internet mà không cần sử dụng wifi.

Anitech là thương hiệu đầu tiên trên thế giới phát triển loại ổ cắm có gắn eSim (Sim điện tử) trực tiếp vào mạch điện.
Anitech là thương hiệu đầu tiên trên thế giới phát triển loại ổ cắm có gắn eSim (Sim điện tử) trực tiếp vào mạch điện.

Chúng tôi biến ý tưởng ổ cắm eSim thành hiện thực để giải quyết vấn đề khó khăn hiện nay là ở các khu vực ngoại ô, người ta sẽ ít được sử dụng Internet qua wifi. Thực tế này khiến người nông dân Thái Lan không thể thực hiện các ý tưởng về trang trại thông minh.

Bằng cách sử dụng ổ cắm eSim, người nông dân có thể sử dụng thiết bị IoT trong trang trại của mình để làm các công việc hàng ngày như tưới cây, tắt-bật đèn, tắt-bật kiểm soát không khí trong khi không có mặt ở nhà để làm các công việc khác.

Nhưng bằng cách sử dụng ổ cắm eSim, người nông dân có thể sử dụng thiết bị IoT trong trang trại của mình để làm các công việc hàng ngày như tưới cây, tắt-bật đèn, tắt-bật kiểm soát không khí trong khi không có mặt ở nhà để làm các công việc khác. Cùng lúc, trí tuệ nhân tạo (AI) và Dữ liệu lớn (Big Data) của chúng tôi có thể học được thói quen của người nông dân và cuối cùng sẽ tự vận hành các công việc này để tăng hiệu quả.

– Như vậy những sản phẩm công nghệ thế hệ 4.0 đã được Anitech khai thác và phát triển trên thị trường, vậy trong công ty điều này, đã được vận dụng như thế nào?

Thomas Pitchyen Hongpakdee: Chúng tôi đã ứng dụng chuyển đổi kỹ thuật số trong vận hành công ty từ nhiều năm nay. Điểm thuận lợi, chúng tôi hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ và hầu hết nhân viên đều thuộc thế hệ trẻ, do đó không quá khó để số hóa mọi thứ trong công ty.

Trong công ty, tài sản quý giá nhất là dữ liệu và chúng tôi có chính sách đầy đủ để bảo vệ nó. Hệ thống của chúng tôi sử dụng 100% điện toán đám mây, cho phép nhân viên làm việc ở bất kỳ nơi nào bên ngoài văn phòng, trong khi đó máy chủ vận hành với tiêu chuẩn thế giới và có thể phòng tránh mọi thiệt hại dữ liệu trong trường hợp thảm họa thiên nhiên có thể xảy ra.

Đối với Anitech, công nghệ 4.0 không có gì đặc biệt và thay vì lối sống hàng ngày, chúng tôi buộc phải làm quen với nó

Tất cả thiết bị của từng đội-nhóm được kết nối với các bộ cảm biến và được theo dõi báo cáo cho văn phòng 5 phút/lần, thông tin liên lạc được thực hiện trên nền tảng kỹ thuật số, hệ thống ERP (hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp) cũng thực hiện trên nền tảng đám mây.

Đối với Anitech, công nghệ 4.0 không có gì đặc biệt và thay vì lối sống hàng ngày, chúng tôi buộc phải làm quen với nó./.

Anitech là thương hiệu đầu tiên trên thế giới phát triển loại ổ cắm có gắn eSim (Sim điện tử) trực tiếp vào mạch điện, giúp ổ cắm điện có khả năng kết nối Internet mà không cần sử dụng wifi.
Anitech là thương hiệu đầu tiên trên thế giới phát triển loại ổ cắm có gắn eSim (Sim điện tử) trực tiếp vào mạch điện, giúp ổ cắm điện có khả năng kết nối Internet mà không cần sử dụng wifi.

Cơ hội cho doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường toàn cầu

Trung Hiền-Ánh Tuyết

Với chủ đề “Phát huy tinh thần doanh nghiệp trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ 4,” Hội nghị WEF ASEAN 2018 diễn ra tại Hà Nội từ 11-13/9 được xem là cơ hội để doanh nghiệp khoa học công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam tiếp cận thị trường toàn cầu.

Phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Hồng Quất, Cục trưởng  Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) về vấn đề này.

“TỰ CƯỜNG VÀ SÁNG TẠO”

– Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng WEF ASEAN 2018 là cơ hội cho doanh nghiệp khoa học công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam. Xin ông nói rõ về vấn đề này?

Ông Phạm Hồng Quất: WEF ASEAN 2018 dự kiến thu hút sự tham dự của lãnh đạo chính phủ các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế, chuyên gia tư  tư vấn và đại diện các tập đoàn công nghệ có uy tín trên thế giới và khu vực.

Chủ đề của WEF ASEAN 2018 đề cập đến những vấn đề được chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp các nước ASEAN cùng quan tâm, đồng thời gắn kết với chủ đề của ASEAN năm nay là hướng tới “ASEAN tự cường và sáng tạo.”

Hội nghị cũng là cơ hội để doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam tiếp cận chính sách hỗ trợ phát triển của các chính phủ, xu hướng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ của các doanh nghiệp công nghệ có uy tín trên thế giới và khu vực, từ đó thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư phát triển giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp các nước ASEAN.

Bảng mạch điện thoại do Viettel sản xuất. (Ảnh: T.H/Vietnam+)
Bảng mạch điện thoại do Viettel sản xuất. (Ảnh: T.H/Vietnam+)

Thông qua diễn đàn trao đổi, các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN có tiềm lực tài chính, công nghệ và thị trường cũng nhận biết được tiềm năng và cơ hội để hợp tác đầu tư cùng nhau để phát triển sản phẩm mới, dịch vụ mới, mở rộng quy mô thị trường, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, các chương trình hỗ trợ và tiếp cận xu hướng công nghệ mới ở quy mô khu vực và quốc tế, định hướng cho chiến lược đầu tư phát triển và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức khi tham gia quá trình toàn cầu hóa, trong đó nổi lên là áp lực cạnh tranh từ các nước ASEAN cả trong sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp sáng tạo của Việt Nam chỉ có thể tận dụng được những lợi thế khi thực sự tham gia sâu vào thị trường ASEAN, có quan hệ hợp tác, cạnh tranh với các đối tác, đối thủ trong lĩnh vực cụ thể. Qua trải nghiệm thực tế trên thị trường sẽ giúp doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam trưởng thành, có bản lĩnh để phát triển nhanh và bền vững hơn.

SỞ HỮU TRÍ TUỆ LÀ MẤU CHỐT

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhiều nước trên thế giới, gồm cả các nước ASEAN, đang coi doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là lực lượng doanh nghiệp trẻ cần ưu tiên đầu tư phát triển. Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của lực lượng này tại Việt Nam trong thời gian gần đây?

Ông Phạm Hồng Quất: Khi tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập, toàn cầu hóa, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ của Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc học tập kinh nghiệm, tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển của mình.

Trên thực tế, có một số doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã khai thác thương mại hóa thành công nhiều bằng độc quyền sáng chế, kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, tạo ra sản phẩm mới có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước và bước đầu bước ra thị trường quốc tế.

Lắp ráp Bphone. (Nguồn: Bkav)
Lắp ráp Bphone. (Nguồn: Bkav)

Trong lĩnh vực y dược, nông nghiệp, công nghiệp dân dụng có thể kể đến như Công ty Minh Long (gốm sứ) ở Bình Dương; Công ty Sao Thái Dương (mỹ phẩm, thực phẩm chức năng) ở Hà Nam; Công ty Thiên Dược (thực phẩm chức năng) ở Bình Dương; Công ty Biogroup Hà Nội (chế phẩm sinh học nông nghiệp), Công ty OIC New Nhật Hải (thực phẩm chức năng), Công ty CP giống cây trồng trung ương ở Hà Nội; Tổng công ty giống cây trồng Thái Bình; Công ty Sơn Hải Phòng…

Với việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp khoa học và công nghệ không chỉ tạo ra các sản phẩm mới có chất lượng, đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu mà còn tạo ra động lực thúc đẩy đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh để phát triển bền vững.

Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh chóng và mức độ lan tỏa của công nghệ mới cũng khiến cũng cho các sản phẩm khoa học và công nghệ của nước ngoài đặc biệt là của các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước châu Âu, ASEAN xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường trong nước khiến cho sản phẩm của doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt. Việc cạnh tranh còn có thể làm phát sinh các vấn đề tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì vậy, có những sản phẩm khoa học và công nghệ mới cần đặc biệt chú ý vấn đề bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cùng với chiến lược đầu tư phát triển thị trường đúng đắn.

Thực tế có một số sản phẩm công nghệ mới được các cơ quan, tổ chức quốc tế đánh giá cao, trao tặng những giải thưởng lớn nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong phát triển thị trường trong nước cũng như quốc tế. Kết nối doanh nghiệp khoa học trong khu vực.

– Cục Phát triển thị trường doanh nghiệp khoa học và công nghệ sẽ làm gì để phát triển đội ngũ này lớn mạnh, thưa ông?

Ông Phạm Hồng Quất: Chúng tôi là một trong số các đơn vị được lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ giao xây dựng chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Cục đã và đang phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ Khoa học và Công nghệ tích cực triển khai nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh hoặc ban hành mới một số chính sách cần thiết cho phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

– Ông nhận định thế nào về việc kết nối giữa các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong khối ASEAN? Cục sẽ làm gì để thúc đẩy việc kết nối để cùng phát triển này?

Ông  Phạm Hồng Quất:  Hiện có nhiều cơ hội mà thị trường tài chính có thể tạo ra trong thời điểm hiện tại như cung cấp các khoản vay như vay cho tài trợ xuất khẩu, hỗ trợ nguồn cung, hỗ trợ giao dịch, các mô hình công cụ chuyển đổi tài chính… Ngoài ra, còn nhiều nguồn tài chính hỗ trợ khác nhau như tài trợ cá nhân, đầu tư thử nghiệm vào các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, các công ty vốn mạo hiểm, công ty quản lý quỹ…

Chúng tôi cũng đang triển khai một số hoạt động kết nối, trao đổi và hợp tác đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo ở phạm vi trong nước và quốc tế. Qua đó, tăng cường liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ, viện nghiên cứu/trường đại học để hỗ trợ cho quá trình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp; thúc đẩy doanh nghiệp khoa học công nghệ tham gia thiết lập và phát triển mạng lưới ươm tạo và thương mại hóa công nghệ tại các trường đại học, viện nghiên cứu, khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và kết nối với các cơ sở có uy tín ở trong nước và nước ngoài…

Tuy nhiên, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cần chủ động, tích cực hơn trong tham gia xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo ở phạm vi quốc gia và khu vực, nơi mà các chủ thể hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có thể biết đến nhau, giao lưu, tìm hiểu nhau và tạo nên một mạng lưới liên kết chặt chẽ để phát triển hoạt động đối mới sáng tạo ở khu vực ASEAN và toàn cầu.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Nhà máy sản xuất Bphone (Nguồn: Bkav).
Nhà máy sản xuất Bphone (Nguồn: Bkav).

Ngành cơ khí Việt ‘bắt nhịp’ cách mạng công nghệ 4.0

Xuân Quảng

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được coi như đòn bẩy để các doanh nghiệp có thể tiến xa hơn trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh.

Hiện cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam rất ý thức được tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến việc sản xuất, kinh doanh của đơn vị mình. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào dây chuyền sản xuất, hệ thống phân phối hàng hoá…

Đối với ngành cơ khí, một lĩnh vực được coi là xương sống của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng như nền kinh tế, trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, đơn cử kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm cơ khí năm 2016 đạt trên 13 tỷ USD và tạo ra được nhiều công ăn việc làm, giúp ổn định cuộc sống người lao động.

Theo các chuyên gia, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể giúp cho ngành cơ khí của Việt Nam rút ngắn khoảng cách về trình độ sản xuất của Việt Nam với các nước có nền công nghiệp phát triển.

Để hiểu thêm về vấn đề này, ông Đào Phan Long, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) đã có một số chia sẻ với VietnamPlus nhằm thấy rõ hơn những cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với ngành cơ khí của Việt Nam.

Chất lượng cao và chi phí sản xuất thấp

– Thưa ông, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động gì đối với ngành cơ khí của Việt Nam?

Ông Đào Phan Long: Ngành công nghiệp cơ khí của Việt Nam trong 15-20 năm gần đây đã đạt được một số thành tựu nhất định. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia sản xuất được các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa thay thế dần hàng nhập khẩu và từng bước xuất khẩu được một số sản phẩm ra thị trường toàn cầu.

Dây chuyền sản xuất và tích hợp hệ thống tự động hóa công ty Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường, cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh. (Nguồn: Hà Nội_TTXVN) 
Dây chuyền sản xuất và tích hợp hệ thống tự động hóa công ty Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường, cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh. (Nguồn: Hà Nội_TTXVN) 

Tuy vậy, các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cũng đang chịu áp lực cạnh tranh ngay trên sân nhà cũng như trên thị trường quốc tế. Đáng chú ý, thế giới hiện đang biến chuyển rất mạnh về cuộc cách mạng 4.0, điều này đã tác động lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành.

Để thích ứng với cuộc cách mạng này, phía Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam cũng mong muốn có một hệ thống chính sách đồng bộ để các doanh nghiệp cơ khí có thể mở rộng đầu tư, nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh.

Như các bạn thấy, khi có thị trường và đơn hàng thì các doanh nghiệp sẽ tìm cách đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ để hội nhập với quá trình sản xuất công nghiệp cơ khí của quốc tế.

Như chúng ta biết, bản chất của công nghiệp 4.0 là làm thế nào để tăng năng suất lao động, sản phẩm có chất lượng cao và chi phí sản xuất thấp nhất. Như vậy, doanh nghiệp nói chung, lĩnh vực cơ khí nói riêng cũng đều có mục đích chung là hướng tới những tiêu chí trên.

Bản chất của công nghiệp 4.0 là làm thế nào để tăng năng suất lao động, sản phẩm có chất lượng cao và chi phí sản xuất thấp nhất. Như vậy, doanh nghiệp nói chung, lĩnh vực cơ khí nói riêng cũng đều có mục đích chung là hướng tới những tiêu chí trên.

Dây chuyền sản xuất và tích hợp hệ thống tự động hóa công ty Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường, cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh. (Nguồn: TTXVN)
Dây chuyền sản xuất và tích hợp hệ thống tự động hóa công ty Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường, cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh. (Nguồn: TTXVN)

Đối với cuộc cách mạng trên, không có cách nào khác các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và kết nối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Còn bản chất của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với lĩnh vực này là kết nối vạn vật, là kết nối doanh nghiệp và kết nối toàn cầu. Muốn làm được việc đó thì cần sự chuẩn bị về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực chứ không thể một sớm một chiều có thể làm ngay được.

Trong thời gian qua, có một số doanh nghiệp thuộc VAMI đã chủ động nhập khẩu máy móc thiết bị để có thể tham gia vào quá trình sản xuất kết nối và tự động hóa. Theo tôi, đây cũng là sự tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp này rồi chứ không phải ngồi chờ đến hiện nay mới phát động.

“Từ robot đến máy móc đều là cơ khí, cho nên vai trò của cơ khí tham gia 4.0 là quá trình cần nhận thức lại đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Bản chất là hợp tác và kết nối

– Với tư cách Chủ tịch VAMI, theo ông cần có chính sách gì để hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí thích ứng tốt hơn với cuộc cách mạng 4.0?

Ông Đào Phan Long: Thực tế, sản xuất công nghiệp cơ khí của mỗi quốc gia là hạ tầng kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, do vậy dù có trí tuệ nhân tạo và có kết nối đều phải có sự tham gia của lĩnh vực cơ khí. Đơn cử, từ robot đến máy móc đều là cơ khí, cho nên vai trò của cơ khí tham gia 4.0 là quá trình cần nhận thức lại đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản thậm chí nhiều nước ASEAN và cả Mỹ, khẩu hiệu của họ là tạo việc làm cho người lao động trong nước, đơn hàng cho các doanh nghiệp của họ và thậm chí là họ bằng mọi cách để giải quyết khâu đó.

Còn về phía các doanh nghiệp cơ khí cũng có nguyện vọng Nhà nước bằng cơ chế chính sách đảm bảo cho doanh nghiệp cơ khí nội địa có sức cạnh tranh và từng bước tham gia vào chuỗi để làm sản phẩm xuất khẩu.

Nhiều nước đã thực hiện chính sách yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển giao công nghệ và có chính sách để cơ khí và doanh nghiệp bản địa có chân vào mạng lưới cung cấp sản phẩm phụ trợ cho họ.

– Ông có nhắc đến việc kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và FDI hiện nay? Liệu các doanh nghiệp nội đã đáp ứng được các yêu cầu để tham gia vào chuỗi cung ứng chưa?

Ông Đào Phan Long: Gần đây hệ thống doanh nghiệp chế tạo cơ khí đã vào Việt Nam rất nhiều, tuy vậy nhiều ý kiến cho rằng, phía doanh nghiệp chúng ta vẫn chưa tham gia sâu được chuỗi cung ứng của họ, đây cũng là câu hỏi rất lớn cho các doanh nghiệp nội.

Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp lớn như Samsung… họ đều có các công ty hợp tác từ bên ngoài Việt Nam đã làm phụ trợ cho họ và đã quen chế tạo các linh kiện và chi tiết cho họ nên khi có một đối tác mới sẽ là một khó khăn.

Sửa chữa ô tô tại Công ty cơ khí ô tô Minh Biên, phường Quán Bàu, Thành phố Vinh, Nghệ An. (Nguồn: TTXVN)
Sửa chữa ô tô tại Công ty cơ khí ô tô Minh Biên, phường Quán Bàu, Thành phố Vinh, Nghệ An. (Nguồn: TTXVN)

Do vậy, theo tôi để doanh nghiệp nội có thể tham gia vào chuỗi cung ứng cũng cần những chính sách để kết nối giữa hai phía, đơn cử như chính sách đảm bảo để doanh nghiệp đầu tư và nhận sản phẩm của nhau lâu dài.

Nhiều nước đã thực hiện chính sách yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển giao công nghệ và có chính sách để cơ khí và doanh nghiệp bản địa có chân vào mạng lưới cung cấp sản phẩm phụ trợ cho họ. Có được điều này, chắc chắn nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ mạnh dạn đầu tư để tham gia sâu hơn vào chuỗi.

Việc tham gia vào chuỗi là nhu cầu của các tập đoàn đa quốc gia, chỗ nào làm tốt, rẻ và có chất lượng lao động tốt thì chắc chắn họ sẽ tự tìm đến để đặt hàng.

Cũng phải nói thêm rằng, việc tham gia vào chuỗi là nhu cầu của các tập đoàn đa quốc gia, chỗ nào làm tốt, rẻ và có chất lượng lao động tốt thì chắc chắn họ sẽ tự tìm đến để đặt hàng.

Tôi xin nhắc lại, bản chất của công nghiệp 4.0 đối với lĩnh vực cơ khí vẫn là hợp tác và kết nối, làm thế nào để năng suất lao động tăng lên.

– Xin cảm ơn ông./.

Dây chuyền sản xuất và tích hợp hệ thống tự động hóa công ty Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường, cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh. (Nguồn: Hà Nội_TTXVN)
Dây chuyền sản xuất và tích hợp hệ thống tự động hóa công ty Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường, cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh. (Nguồn: Hà Nội_TTXVN)

Kỹ năng là ‘tấm vé’ việc làm trong Cách mạng 4.0

Hồng Kiều

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ với tốc độ chưa từng thấy đối với thị trường lao động. Những công nghệ như tự động hóa robot, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), công nghệ in 3D… đang dần xâm nhập vào quá trình sản xuất và làm thay đổi cơ cấu thị trường lao động trong thời gian qua.

Dự báo, hàng triệu việc làm trong khu vực ASEAN sẽ được thay thế bằng robot.

Lực lượng lao động trong khu vực ASEAN được dự báo sẽ mở rộng thêm 11.000 người lao động mỗi ngày trong vòng 15 năm tới. Tuy nhiên, các robot công nghiệp hiện đang cạnh tranh với lực lượng lao động sản xuất có tay nghề thấp, trí thông minh nhân tạo (AI) lại đe dọa các việc làm dịch vụ ở ASEAN và các loại phương tiện tự lái đang hoạt động ở Đông Nam Á có thể khiến hàng nghìn người mất việc.

Tại Việt Nam, lần lượt 75% số lao động trong ngành điện tử và 86% trong ngành may mặc và giày dép bị tác động rủi ro của tự động hóa.

Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về ASEAN trong giai đoạn chuyển đổi, dưới tác động của cuộc cách mạng tự động hóa và số hóa, hàng triệu người lao động sẽ đối mặt với nguy cơ mất việc. Dự báo, riêng trong ngành công nghiệp ôtô, trên 60% số lao động ở Indonesia và 73% số lao động ở Thái Lan không tránh khỏi ảnh hưởng rủi ro của tự động hóa.

Tại Việt Nam, lần lượt 75% số lao động trong ngành điện tử và 86% trong ngành may mặc và giày dép bị tác động rủi ro của tự động hóa. Đây cũng là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, ngành dệt may-da giày có đặc điểm chủ yếu là thâm dụng lao động và kỹ năng tay nghề thấp. Năng suất lao động trong ngành này thấp một cách báo động, chỉ ở mức 20% của Thái Lan và gần tương đương với Campuchia.

Trong khi đó, không như tên gọi của ngành, ngành sản phẩm điện-điện tử cũng hướng tới sản xuất có giá trị thấp và các công việc lắp ráp kỹ năng thấp. Trong bối cảnh đó, công nghệ tạo ra các cơ hội đáng kể để thu hẹp khoảng cách về kỹ năng, cải thiện năng lực cạnh tranh và điều kiện làm việc.

Tập trung đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những thay đổi trong kỷ nguyên số. Ảnh: Văn Việt/TTXVN 
Tập trung đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những thay đổi trong kỷ nguyên số. Ảnh: Văn Việt/TTXVN 

Tuy nhiên, nghiên cứu của ILO cho thấy, Việt Nam vẫn chưa phải chứng kiến tác động của công nghệ tại nơi làm việc ở mức độ tương tự như một số nước láng giềng khác tiến bộ hơn. Điều này chủ yếu là do bởi giá lao động vẫn còn cạnh tranh và chi phí đầu tư công nghệ tương đối đắt đỏ. Tuy nhiên, những sáng kiến như tự động hóa bằng robot đã bắt đầu thâm nhập vào các ngành công nghiệp khác nhau, bao gồm cả ngành dệt may, da giày và ngành sản phẩm điện-điện tử.

Trong những năm gần đây, máy cắt tự động đã được sử dụng nhiều trong ngành dệt may ở một số quốc gia ASEAN như Campuchia và Indonesia. Mỗi máy cắt này thay thế 15 công nhân trong công đoạn cắt và công ty có thể đạt điểm hòa vốn đầu tư máy trong vòng 18 tháng. Máy cắt tự động đã được áp dụng trong công ty dệt may có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2015.

Ông David Lamotte, Phó Giám đốc ILO khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ảnh: Nguyễn Hồng
Ông David Lamotte, Phó Giám đốc ILO khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ảnh: Nguyễn Hồng

Trong khi đó, các doanh nghiệp ASEAN, xét về tổng thể, không phải là các doanh nghiệp dẫn đầu về áp dụng công nghệ và sáng kiến cải tiến, doanh nghiệp Việt Nam dường như cũng theo xu hướng này. Đó là một vấn đề lớn khi Trung Quốc – một công xưởng trung tâm – đang vượt qua ASEAN với kế hoạch “Made in China 2025”.

Ông David Lamotte, Phó Giám đốc ILO khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhận định. “Chắc chắn trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch vì chi phí công nghệ sẽ giảm trong khi chi phí lao động tăng lên. Câu hỏi ở đây không phải là liệu có hay không mà vấn đề chỉ là khi nào?”

Nhằm nắm lấy cơ hội mà cuộc Các mạng công nghiệp 4.0 đưa đến, doanh nghiệp và lực lượng lao động cần phải được chuẩn bị để vượt qua những thách thức về công nghệ.

Lực lượng lao động Việt Nam sẽ tăng lên 62 triệu người vào năm 2025. Để đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động, hàng năm nền kinh tế cần tạo thêm khoảng 650.000 việc làm. Đây thực sự là một áp lực không hề nhỏ trước những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Theo ILO, Việt Nam nên cải thiện các kỹ năng cần thiết cho lực lượng lao động thông qua sự phối hợp giữa các nhà hoạch định chính sách, người sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo để hiện đại hóa hệ thống phát triển kỹ năng nghề nhằm đón đầu những xu hướng đang thay đổi tại nơi làm việc và những đổi mới công nghệ.

Để đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động, hàng năm nền kinh tế cần tạo thêm khoảng 650.000 việc làm. Đây thực sự là một áp lực không hề nhỏ trước những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.  

Ông David Lamotte cho rằng, khuyến khích thế hệ trẻ đam mê theo học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học là việc quan trọng, bởi người lao động theo học các ngành khoa học này thường được người sử dụng lao động trong lĩnh vực sản xuất tìm kiếm.

“Điều này rất quan trọng, đặc biệt là đối với các bạn nữ trẻ, bởi phụ nữ dễ bị nguy cơ mất việc hơn nam giới khi tự động hóa trở nên phổ biến hơn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo,” ông David Lamotte nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, khi Việt Nam chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), sự “chảy máu chất xám” bắt đầu mạnh mẽ hơn, đặc biệt đối với nguồn nhân sự cấp trung và cấp cao. Ngày càng có nhiều nhân sự giỏi trong một số ngành như IT, kế toán/kiểm toán có những cơ hội dịch chuyển việc làm tốt tại các nước trong khu vực.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vận hành thử robot i611 vận hành. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN 
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vận hành thử robot i611 vận hành. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN 

Theo báo cáo về “Nhân lực Công nghệ Việt Nam trước làn sóng công nghệ mới: Trí tuệ nhân tạo (AI) & Chuỗi khối (Blockchain)” do Tập đoàn Navigos Group vừa công bố, 50% nhân lực ngành công nghệ cho biết nếu có đề nghị làm việc tại nước ngoài tại các công ty khởi nghiệp sáng tạo ứng dụng các công nghệ mới như AI hay blockchain thì họ sẽ quyết định dịch chuyển. Trong số đó, 25% cho biết sẽ sang nước ngoài làm việc vài năm và trở về Việt Nam, có 22% sẽ cân nhắc giữa việc đi và ở.

Ông Gaku Echizenya, Giám đốc điều hành của Navigos Group cho rằng, các doanh nghiệp nước ngoài được đánh giá là ứng dụng rất nhạy bén những công nghệ mới, chính vì vậy doanh nghiệp Việt Nam cần tăng tốc hơn trong cuộc chạy đua công nghệ. Bên cạnh đó, cần mở ra nhiều hơn các sân chơi dành cho cộng đồng công nghệ để trao đổi, học hỏi, thực hành những công nghệ mới.

“Trước nguy cơ ‘chảy máu chất xám’ trong lĩnh vực công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng và chính sách giữ chân nhân tài, tạo điều kiện để phát triển sản phẩm tiên phong sáng tạo, mở ra cơ hội được tiếp xúc công nghệ mới cho đội ngũ nhân viên,” ông Gaku Echizenya nói.

Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại nhiều thách thức song hành cùng các cơ hội mới. Khi nói về nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, bà Kim Lê, Giám đốc Nhân sự Toàn Quốc của ManpowerGroup Việt Nam nhận định: “Chúng tôi cho rằng tương lai của việc làm không nhất thiết phải là sự đánh đổi giữa con người và máy móc, sự phát triển của kỷ nguyên số là cơ hội để các chính phủ có thể tạo nhiều việc làm mới hơn”.

Tự động hóa là xu thế không thể đảo ngược và việc sở hữu những kỹ năng cần thiết chính là “tấm vé” cho người lao động có được công việc trước những thay đổi của thị trường lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Theo ManpowerGroup, công nghệ đang tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các mô hình mới có thể giúp giải quyết những vấn đề trong thị trường lao động hiện tại, ví dụ như sự ra đời của nền kinh tế tự do “gig economic” với hàng nghìn việc làm ngắn hạn được tạo ra thông qua việc hình thành các start-up công nghệ như Uber, Lyft, AirBnB, Grab…

Để nắm bắt được cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các chuyên gia cho rằng việc chú trọng vào kỹ năng và sự sẵn sàng của lực lượng lao động Việt Nam là rất quan trọng. Để làm được điều này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà hoạch định chính sách, người sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo nhằm đổi mới hệ thống phát triển kỹ năng để đáp ứng tốt hơn với môi trường làm việc luôn thay đổi và những sáng kiến cải tiến công nghệ mới.

Tự động hóa là xu thế không thể đảo ngược và việc sở hữu những kỹ năng cần thiết chính là “tấm vé” cho người lao động có được công việc trước những thay đổi của thị trường lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0./.

Tự động hóa sẽ giúp tăng năng suất lao động. Ảnh minh họa: Đồng Thúy/TTXVN 
Tự động hóa sẽ giúp tăng năng suất lao động. Ảnh minh họa: Đồng Thúy/TTXVN 

Thế giới khuyến khích dùng di động

Việt Nam mở rộng chi nhánh

Minh Thúy

Ngân hàng kỹ thuật số đang là xu thế tất yếu, đặt tất cả các ngân hàng trên toàn cầu vào cuộc chuyển đổi từ mô hình ngân hàng truyền thống sang mô hình ngân hàng số.

Ngành ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, các ngân hàng thương mại cũng đã và đang có những đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ, kết hợp với các công ty Fintech để đưa ra các dịch vụ tiên tiến nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Mặc dù vậy, trong cuộc trao đổi với tiến sỹ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng, thì so với các nước trong khu vực ASEAN các ngân hàng Việt Nam vẫn còn tụt lại khoảng cách khá xa.

Trong khuôn khổ Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN 2018 (WEF ASEAN 2018) được tổ chức tại Hà Nội (từ ngày 11-13/9), phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu để hiểu rõ hơn về vấn đề này.– Theo ông, ngành ngân hàng Việt Nam đang bị thụt lùi hay đã bắt kịp với những tác động cuộc cách mạng công nghệ 4.0?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Trong thời đại công nghệ 4.0 các ngân hàng đã và đang đầu tư và cải tiến rất đáng kể về mặt công nghệ thông tin. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực thì vẫn còn giữ khoảng cách khá xa.

Tiến sỹ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng. (Ảnh nhân vật cung cấp)
Tiến sỹ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Thứ nhất về đầu tư, trong các năm vừa qua các ngân hàng đầu tư rất nhiều vào công nghệ thông tin nhưng nhiều ngân hàng sử dụng các công nghệ lỗi thời. Ngay cả Core Banking bây giờ cũng khác với Core Banking cách đây 10 năm rất nhiều. Hiện một số vẫn còn sử dụng Core Banking 10 năm trước đây và họ chỉ nâng cấp thôi chứ chưa thay đổi toàn bộ Core Banking.

Thứ hai về con người, các ngân hàng đã gửi cán bộ của mình sang các nước lân cận như Ấn Độ, Singapore để học hỏi về công nghệ cao vì những nước này là một trong những quốc gia phát triển mạnh về công nghệ thông tin và họ cũng có nhiều công ty công nghệ thông tin cung cấp những phần mềm cho các ngân hàng ở Việt Nam. Tuy nhiên, rất nhiều cán bộ, chuyên viên đó không được tái đào tạo để theo kịp với xu hướng mới nhất của thế giới. Chính vì vậy, những cán bộ được đào tạo vẫn rất ít so với tổng số cán bộ nhân viên đang làm việc trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nói một cách tổng quát, hệ thống ngân hàng của Việt Nam chưa theo kịp được những tiến bộ của hệ thống tài chính trên thế giới. 

Cụ thể là trong khi các ngân hàng trên thế giới đã rút gọn hệ thống chi nhánh và cung cấp dịch vụ ngân hàng qua các ứng dụng công nghệ thông tin và khuyến khích khách hàng giao dịch với ngân hàng qua các ứng dụng trên Internet Banking, điện thoại di động thì các ngân hàng Việt Nam vẫn mở rộng hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch, trung tâm kinh doanh với số lượng các cán bộ nhân viên phục vụ khách hàng tại chỗ ngày càng đông đảo.

Nói một cách tổng quát, hệ thống ngân hàng của Việt Nam chưa theo kịp được những tiến bộ của hệ thống tài chính trên thế giới. So với hệ thống tài chính trên thế giới bao gồm các nền kinh tế phát triển hàng đầu như Mỹ, Hong Kong, châu Âu, Singapore rồi đến những nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Indonesia thì hệ thống công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng Việt Nam còn đi sau xu hướng của thế giới rất xa.

Hiện nay, các nước trong khu vực ASEAN đã có những cơ sở hạ tầng bao gồm tất cả những hệ thống phần cứng, hệ thống điện toán đám mây, hệ thống điện toán theo thời đại công nghệ 4.0. Ngay cả những sản phẩm trong ngân hàng của họ, có những ứng dụng phát triển vượt bậc so với cách đây 10 năm, cứ mỗi một năm thì các ngân hàng trong khu vực đều có những ứng dụng rất mới về công nghệ thông tin.

Khách hàng chỉ cần chạm nhẹ thiết bị di động có cài đặt VNPAY QR là có thể mua được những mặt hàng mình muốn. (Nguồn: VietinBank)
Khách hàng chỉ cần chạm nhẹ thiết bị di động có cài đặt VNPAY QR là có thể mua được những mặt hàng mình muốn. (Nguồn: VietinBank)

Hạn chế giao thoa

– Trong khuôn khổ hợp tác của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), ngành ngân hàng khu vực sẽ được hưởng lợi gì từ làn sóng cách mạng công nghệ 4.0?

Về nhân sự nhưng có lẽ là các ngân hàng Việt Nam phải cải tiến nhiều hơn nữa để gửi những chuyên viên của mình ra nước ngoài học hỏi cũng như mời gọi những chuyên gia của nước ngoài trong khu vực ASEAN vào Việt Nam để đào tạo cho các cán bộ công nghệ thông tin của các ngân hàng tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Chắc chắn khi ngành ngân hàng Việt Nam làm việc với hệ thống ngân hàng trong khu vực ASEAN sẽ học hỏi được rất nhiều những tiến bộ cũng như những kinh nghiệm của họ về công nghệ thông tin trong hệ thống tài chính ngân hàng. Tuy nhiên, sự giao thoa giữa các ngân hàng Việt Nam với ngân hàng các nước ASEAN vẫn còn rất hạn chế. Việt Nam cũng đã gửi các cán bộ sang các nước xung quanh để học hỏi, ngược lại cũng có nhiều ngân hàng nước ngoài có mặt ở Việt Nam đã chia sẻ với các ngân hàng trong nước về công nghệ thông tin.

Càng ngày việc trao đổi giữa hai bên càng ngày càng nhiều, đặc biệt là về kinh nghiệm, về ứng dụng mới, về nhân sự nhưng có lẽ là các ngân hàng Việt Nam phải cải tiến nhiều hơn nữa để gửi những chuyên viên của mình ra nước ngoài học hỏi cũng như mời gọi những chuyên gia của nước ngoài trong khu vực ASEAN vào Việt Nam để đào tạo cho các cán bộ công nghệ thông tin của các ngân hàng tại Việt Nam. Đây là những chương trình đào tạo tốn phí nhưng chúng ta phải xem như chi phí thường xuyên mà phải xem như đầu tư dài hạn.

Một trong những đầu mối có thể làm là Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội này cần phải trao đổi thông tin nhiều hơn nữa với các Hiệp hội ngân hàng trong khu vực để họ có thể giới thiệu các chương trình đào tạo với nhau mà Việt Nam cần phải phải tận dụng.

“Vẫn là nền kinh tế tiền mặt”

– Trong quá trình tiếp xúc, ông thấy sản phẩm nào mà các ngân hàng Việt Nam cần học hỏi của các ngân hàng trong khu vực ASEAN?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Xu hướng về các sản phẩm ngân hàng càng ngày hiện đại. Trước đây rút tiền phải qua hệ thống ATM hoặc vào ngân hàng, dùng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ để thanh toán. Ngày hôm nay những nước trong khu vực đã tiến đến bước không cần phải dùng thẻ ATM, thẻ tín dụng nữa… Tất cả những cái đó giờ thanh toán qua những ứng dụng công nghệ thông tin không có đường dây, cũng không có thẻ vật chất nữa. Hiện ở Việt Nam mới chỉ có một số ngân hàng đưa ứng dụng này vào trong thanh toán như BIDV, VietinBank, TPBank, Sacombank… con số này cần phải mở rộng hơn nữa.

Theo tôi, nếu các ngân hàng Việt Nam cứ mở rộng thêm các chi nhánh, ATM thì vẫn tiếp tục ở trong tình trạng lạc hậu.

Tuy nhiên, ở Việt Nam có một số hạn chế: Thứ nhất, thành phần dân trí sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn rất hạn chế chỉ chiếm khoảng 30%, tỷ lệ này phải tăng lên từ 60-70% trong vòng vài năm tới. Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế tiền mặt, hiện ở các doanh nghiệp thì thấp hơn nhưng trong khu vực dân cư phải chiếm đến 90%, việc này cần phải có một sự cải tiến rất mạnh để người dân tích cực mở tài khoản của các ngân hàng nhằm hạn chế việc dùng tiền mặt trong nền kinh tế thì mới phát triển được.

Thứ 3, hiện tại các khách hàng Việt Nam vẫn sử dụng những sản phẩm truyền thống, chẳng hạn như đến các phòng giao dịch để rút tiền, gửi tiền, chuyển tiền hoặc rút tiền tại ATM.

Thanh toán bằng VNPAYQR của SHB. (Nguồn: SHB)
Thanh toán bằng VNPAYQR của SHB. (Nguồn: SHB)

– Ông có dự báo cụ thể gì về bức tranh ngân hàng Việt Nam sau những ảnh hưởng to lớn của công nghệ, đặc biệt là của trí tuệ nhân tạo (AI) và tại sao?

Ông Nguyễn trí Hiếu: “Trí tuệ nhân tạo” ngày càng được phát triển và ứng dụng nhiều trong ngành ngân hàng như blockchain, đồng tiền kỹ thuật số…. Ở Việt Nam đang có nhiều công ty Fintech tham gia vào thị trường Việt Nam và ngày càng có ảnh hưởng lớn trong hệ thống tài chính.

Công nghệ 4.0 đi theo hướng trí tuệ nhân tạo bao gồm lưu giữ và bảo toàn tất các các dữ liệu trên hệ thống blockchain. Công nghệ thông tin thay thế cho con người trong nhiều khâu quản lý rủi ro như phân loại tất cả các khách hàng kể cả khách hàng gửi tiền và sử dụng những tiêu chí được mặc định để xác định nhu cầu của khách hàng và xác nhận khả năng trả nợ của khách hàng vay tiền.

Trí tuệ nhân tạo có thể duyệt xét khả năng trả nợ của một khách hàng dưới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tiêu chí trong vòng một vài giây đồng hồ trong khi ngân hàng truyền thống cần một nguồn nhân lực lớn để thực hiện việc này.

Cụ thể, trí tuệ nhân tạo có thể duyệt xét khả năng trả nợ của một khách hàng dưới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tiêu chí trong vòng một vài giây đồng hồ trong khi ngân hàng truyền thống cần một nguồn nhân lực lớn để thực hiện việc này.

Hiện tại một số ngân hàng đã sử dụng trí tuệ nhân tạo với những tiêu chí như thế để xác định được một người vay ngân hàng được hay không. Hơn nữa, những công ty Fintech kết nối với các công ty điện nước, các hãng điện thoại, với các trung tâm thương mại… để có thu thập dữ liệu về một người nào đó và từ dữ liệu khổng lồ đó họ phân tích xem người đó có thể đi vay được không, với số tiền bao nhiêu, lãi suất nào và thời hạn vay bao lâu.

Trí tuệ nhân tạo khác với hình thức cho vay cổ truyền là nó có thể có những dữ liệu thông tin vô cùng lớn so với cách cho vay truyền thống vì các ngân hàng không thể có được bộ nhớ lớn như vậy được.

Mô hình giao dịch truyền thống. (Ảnh: CTV)
Mô hình giao dịch truyền thống. (Ảnh: CTV)

Thứ hai là công nghệ thông tin sẽ sử dụng tất cả những thuật toán để định nghĩa người đó có khả năng được vay hay không với chi phí thời gian rất ít. Trong khi nếu sử dụng cách duyệt xét tín dụng truyền thống như thông qua nhân viên tín dụng, hội đồng phê duyệt thì việc duyệt xét tín dụng chỉ có thể dựa trên một số tiêu chí, mất nhiều thời gian và gặp nhiều rủi ro về cơ sở dữ liệu, việc thực hiện các quy trình và ngay cả rủi ro về đạo đức nghề nghiệp.

Sự khác biệt rõ ràng là trong vòng vài giây trí tuệ nhân tạo có thể quyết định về một hồ sơ tín dụng mà con người không thể làm nhanh hơn và chính xác hơn. Đây là một tiến bộ rất lớn của nhân loại với những công nghệ thông tin trong giai đoạn 4.0.

Sự khác biệt rõ ràng là trong vòng vài giây trí tuệ nhân tạo có thể quyết định về một hồ sơ tín dụng mà con người không thể làm nhanh hơn và chính xác hơn.

– Vậy ở Viêt Nam đã có ngân hàng nào áp dụng chưa thưa ông?

Ông Nguyễn Trí Hiếu: Một số ngân hàng ở Việt Nam đã áp dụng. Có ngân hàng áp dụng blockchain để lưu giữ những dữ kiện về khách hàng của mình, có những ngân hàng đang kết nối với các công ty Fintech trong vấn đề cho vay, trong vấn đề đi tìm khách hàng…

Về mặt tiện ích thì rõ ràng trước đây khi vào trung tâm thương mại thường phải thanh toán bằng tiền mặt hoặc thẻ ATM, thẻ tín dụng nhưng hiện nay có nhiều cửa hàng không cần phải thẻ tín dụng nữa mà có thể thanh toán bằng QR Code, Samsung Pay. Tuy nhiên trong ngành ngân hàng Việt Nam vẫn còn nhiều ngân hàng sử dụng công nghệ thông tin truyền thống trong thanh toán như thẻ ngân hàng, chuyển khoản qua internet banking. Người Việt vẫn còn thói quen dùng tiền mặt trong sinh hoạt hằng ngày.

Xin cảm ơn ông!

Ứng dụng VietinBank iPay Mobile có tính năng quét mã QR (QR Pay) để thanh toán. (Nguồn: VietinBank)
Ứng dụng VietinBank iPay Mobile có tính năng quét mã QR (QR Pay) để thanh toán. (Nguồn: VietinBank)

Khủng hoảng tài chính

Thế giới vẫn chưa quên được những hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra cách đây 10 năm, khởi nguồn từ việc ngân hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ đệ đơn xin bảo hộ phá sản với khoản nợ lên tới 619 tỷ USD. Những dư chấn từ cuộc khủng hoảng tồi tệ này phần lớn đã được khắc phục, song những nguy cơ bùng phát một cuộc khủng hoảng mới thì dường như vẫn hiện hữu.

Tháng 9/2008, chỉ trong vòng vài ngày, ngân hàng đầu tư lớn thứ tư nước Mỹ Lehman Brothers nộp đơn xin phá sản sau 158 năm hoạt động. Đây là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử ngành ngân hàng Mỹ, khiến chỉ số Dow Jones giảm trên 500 điểm và chỉ trong một ngày, thị trường chứng khoán Mỹ mất tới 1.100 tỷ USD, gây hoảng loạn toàn bộ các thể chế tài chính. Nguyên nhân là do ngân hàng đã vay quá nhiều vốn và dùng phần lớn khoản tiền này vào những thương vụ đầu tư tài sản có rủi ro cao, trong đó có việc cung cấp các khoản vay dưới chuẩn cho người mua nhà.

Lo sợ số phận tương tự Lehman Brothers, ngân hàng Merrill Lynch đã phải “bán mình” cho Bank of America với giá 50 tỷ USD. Chính phủ Mỹ phải bỏ ra 85 tỷ USD để giúp tập đoàn bảo hiểm AIG lớn nhất thế giới cầm cự khi tập đoàn này hầu như mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ khổng lồ liên quan nợ cầm cố. Các “ông lớn” ngân hàng khác lâm vào cảnh nguy khốn, trong đó có Morgan Stanley, Goldman Sachs, Citigroup…

(Nguồn: WSJ)
(Nguồn: WSJ)

Một tháng sau, Quốc hội Mỹ phải thông qua gói cứu nguy 700 tỷ USD, không những để cứu các ngân hàng và các định chế tài chính khác mà còn rót tiền vào những hãng sản xuất cũng đang trên đà phá sản như General Motors và Chrysler.

Sự kiện Lehman Brothers tháng 9/2008 bị xem là ngòi nổ gây nên cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 trên quy mô toàn cầu. Hoạt động giao dịch liên ngân hàng hầu như bị tê liệt, hàng chục triệu người mất nhà ở, hàng trăm triệu người mất việc làm và hàng nghìn tỷ USD tài sản bị “bốc hơi,” khiến nền kinh tế toàn cầu thất thoát 4.500 tỷ USD vào năm 2009.

Sự kiện Lehman Brothers tháng 9/2008 bị xem là ngòi nổ gây nên cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2

Khi “cơn đại hồng thủy” khủng hoảng lan tới châu Âu, hệ thống ngân hàng Iceland đã sụp đổ ngay trong những ngày đầu tiên với khoản nợ tổng cộng 85 tỷ USD – lớn gấp đôi so với vụ vỡ nợ 40 tỷ USD của Nga năm 1998. Thị trường tiền tệ giữa các ngân hàng đã cạn vốn, buộc Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) phải bơm tiền không giới hạn theo yêu cầu của các ngân hàng.

Khoảng 50 ngân hàng trong Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đã tìm kiếm 95 tỷ euro (110 tỷ USD) tiền mặt, một khoản tiền khổng lồ chỉ đứng sau 100 tỷ euro (116 tỷ USD) mà ECB đã bơm vào thị trường sau vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng vốn bắt nguồn từ hiện tượng vỡ bong bóng tín dụng nhà ở Mỹ lại châm ngòi cho một “bi kịch mới” – khủng hoảng nợ công của Liên minh châu Âu (EU) và mắt xích đầu tiên bị tác động là Hy Lạp.

Tại châu Á, sự kiện tập đoàn bảo hiểm Nhật Bản Yamato Life Insurance Co. tuyên bố phá sản sau gần 100 năm hoạt động được coi là bước đánh dấu cuộc khủng hoảng đã “vươn vòi” tới châu Á.

(Nguồn: Guinness Records)
(Nguồn: Guinness Records)

Sự sụp đổ của Lehman Brothers đã buộc nhiều ngân hàng trung ương phải thực hiện các biện pháp chưa từng có tiền lệ để giải cứu kinh tế toàn cầu. Với vai trò là “người chỉ huy dập lửa,” các ngân hàng trung ương đã vượt qua mọi ranh giới khi triển khai hàng loạt những công cụ bất thường mà không để tâm đến hậu quả.

Khi tín dụng cạn kiệt sau sự sụp đổ của Lehman Brothers, các ngân hàng giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục và thậm chí là lãi suất âm, tiếp đó là bơm tiền ồ ạt vào hệ thống tài chính. Với hy vọng khuyến khích việc cho vay và thúc đẩy chi tiêu, họ đã cấp các khoản vay giá rẻ cho các ngân hàng khác, bắt đầu mua trái phiếu chính phủ và công ty trong kế hoạch kích thích kinh tế mang tên “nới lỏng định lượng” (QE).

Nền kinh tế thế giới đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ năm 2008 nhưng nguy bất ổn vẫn đang rình rập

Vẫn còn nhiều tranh cãi về tác động của các biện pháp này, song về cơ bản, nền kinh tế thế giới đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ năm 2008. Tuy nhiên, trước những diễn biến địa chính trị mới, căng thẳng thương mại leo thang và tỷ lệ nợ tăng cao, nguy bất ổn vẫn đang rình rập.

Sau nhiều năm duy trì lãi suất thấp và cho vay giá rẻ, các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới bắt đầu đối mặt với chướng ngại tiếp theo, đó là làm sao để giảm nhẹ khủng hoảng mà không ảnh hưởng đến quá trình phục hồi.

Nhà phân tích của ngân hàng ING Diba Carsten Brzeski cho rằng đây là một thách thức vô cùng lớn, bởi việc duy trì trạng thái cân bằng đã bị phức tạp hóa do các yếu tố không chắc chắn.

Với việc mạnh tay can thiệp vào thị trường, các ngân hàng trung ương sẽ không thể quay lại các biện pháp trước đây. Câu hỏi đặt ra là khi nào, bằng cách nào các ngân hàng trung ương có thể giảm bớt gói kích thích kinh tế khổng lồ để đảm bảo duy trì được nguồn lực sẵn sàng cho giai đoạn suy thoái tiếp theo, mà không làm chấn động các thị trường. Nhiều thị trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư đã trở nên phụ thuộc vào chính sách nới lỏng tiền tệ để thanh toán nợ, và bất kỳ sự thay đổi chính sách đột ngột nào cũng thể gieo mầm cho cuộc khủng hoảng tiếp theo.

Biểu tượng đồng euro trước trụ sở cũ của ECB ở Frankfurt, Đức. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Biểu tượng đồng euro trước trụ sở cũ của ECB ở Frankfurt, Đức. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Giám đốc khoa nghiên cứu kinh tế của trường quản lý IESEG (Pháp) Eric Dor đánh giá các nỗ lực của ngân hàng trung ương trong việc hướng tới mục tiêu lạm phát vào khoảng 2% là hành động vô ích, khi có nhiều nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng. Kể cả khi ECB đạt được mục tiêu lạm phát, nhà kinh tế học Holger Schmieding của ngân hàng Berenberg (Đức) nhận định điều này chủ yếu là do gói kích thích kinh tế quá lớn chưa từng có tiền lệ và hiện chưa thể dự báo được hệ quả một khi “liều thuốc” này bị rút lại.

Việc Mỹ đang ở vị trí trung tâm của các tranh cãi thương mại khi Tổng thống Donald Trump triển khai chính sách “Nước Mỹ trước tiên” cũng khiến triển vọng kinh tế thế giới đối mặt với nhiều thách thức. Nhà kinh tế trưởng Maurice Obstfeld tại IMF cảnh báo rằng “nguy cơ các căng thẳng thương mại hiện nay leo thang hơn nữa… là đe dọa gần kề lớn nhất đối với tăng trưởng toàn cầu.”

Fed – ngân hàng trung ương quyền lực nhất thế giới – cũng nhất trí gần như hoàn toàn với cảnh báo trên, khi nhấn mạnh rằng sự leo thang trong các tranh cãi thương mại quốc tế tiềm ẩn nguy cơ kéo lùi hoạt động thực.

Nhà phân tích Joerg Kraemer của ngân hàng Commerzbank (Đức) cảnh báo rằng dù nhà chức trách đã buộc các ngân hàng phải trở nên vững vàng hơn kể từ năm 2008, song nguy cơ nổ ra bong bóng vẫn hiện hữu. Cựu Chủ tịch ECB Jean-Claude Trichet nhận định nợ quá lớn khiến hệ thống tài chính trở nên dễ bị tổn thương giống như 10 năm trước.

Nợ công trên thế giới đã tăng thêm 25.000 tỷ USD trong 10 năm qua

Theo cơ quan tư vấn tài chính McKinsey, trong thời gian 2007-2017, nợ công của các chính phủ tăng với nhịp độ 9,7% một năm thay vì 5,8% thời kỳ tiền khủng hoảng. Nợ công trên thế giới đã tăng thêm 25.000 tỷ USD trong 10 năm qua. Lo ngại một số quốc gia mất khả năng thanh toán vẫn chưa được xua tan.

Theo chuyên gia Aaron Klein thuộc Viện nghiên cứu Brookings, nền kinh tế thế giới đã và đang hồi phục trong khoảng thời gian 10 năm, song vẫn có nguy cơ xảy ra cuộc khủng hoảng khác dù chưa biết rõ nguyên nhân.

Cùng chung quan điểm này, chuyên gia về rủi ro chính trị Ian Bremmer thuộc Tập đoàn Eurasia đặt ra câu hỏi liệu các cường quốc thế giới ngày nay có phản ứng hiệu quả như hồi năm 2008 hay không.

Rõ ràng những bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát 10 năm trước vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Điều quan trọng là các nhà hoạch định chính sách tìm ra được biện pháp mới có thể giải quyết hiệu quả vấn đề này bởi “những liều thuốc cũ” đã khiến thị trường bị phụ thuộc trong thời gian dài và mất đi tác dụng vốn có./.

(Nguồn: CBS News)
(Nguồn: CBS News)

30 năm thu hút FDI

Sau 30 năm đổi mới và mở cửa, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thành công nhất trong khu vực.

Có được kết quả này là cả quá trình từ xây dựng Luật Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đầu tiên ban hành tháng 12/1987, tiếp tới 3 lần sửa đổi luật này và thêm dấu ấn năm 2005 Ban hành Luật đầu tư chung, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đầu tư trong nước.

Tuy nhiên, năm 2014, việc sửa đổi và ban hành Luật Đầu tư đã tạo một bước đột phá trong tư duy của Việt Nam bởi kể từ thời điểm đó doanh nghiệp và nhà đầu tư được làm những gì mà pháp luật không cấm.

Những dấu ấn trên cũng cho thấy, chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam luôn linh hoạt trong đón nhận dòng vốn đầu tư phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Bước đột phá tư duy

Là một trong những nhân chứng cho thời kỳ đầu của đất nước “tiếp nhận” nguồn vốn FDI, Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp FDI tại Việt Nam (VAFIE), cho biết sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào cuối năm 1987, để kịp thời tiếp nhận nguồn vốn quốc tế, đầu năm 1988 Chính phủ đã giao cho Bộ Kinh tế đối ngoại nhiệm vụ thẩm định và cấp phép dự án FDI.

Tháng 3/1989, Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (SCCI) được thành lập, có chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài, tiếp nhận các dự án FDI do Bộ Kinh tế đối ngoại đã cấp phép và bắt đầu thực hiện các công việc có liên quan đến FDI.

Ông Nguyễn Mại kể lại: “Vào tháng 10/1989, khi đang làm Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, tôi được cử về SCCI giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban. Khi đó, cả lãnh đạo và chuyên viên SCCI đều là “ngoại đạo” với đầu tư nước ngoài, do đó chúng tôi chủ trương tất cả cán bộ phải “vừa làm vừa học” để nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ đáp ứng đòi hỏi của lĩnh vực mới mẻ và phức tạp này.”

Dây chuyền sản xuất hàng may mặc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Hana Kovi Việt Nam, 100% vốn Hàn Quốc tại Bắc Giang. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Dây chuyền sản xuất hàng may mặc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Hana Kovi Việt Nam, 100% vốn Hàn Quốc tại Bắc Giang. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

“Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được xây dựng dựa trên sự học hỏi kinh nghiệm 18 luật đầu tư nước ngoài của các quốc gia khác. Chỉ học hỏi cái hay, nên Luật của Việt Nam hấp dẫn. Hơn nữa, khi đó, các nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia chỉ mở cửa dần dần, giới hạn đầu tư của nước ngoài là 49%, còn Việt Nam thì ngay lập tức mở cửa, chấp nhận doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Luật chỉ giới hạn tỷ lệ góp vốn tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài là 30%, mà không giới hạn tối đa,” ông Nguyễn Mại nói.

Tuy nhiên, trong những năm đầu tiên, khi Luật Đầu tư nước ngoài mới ban hành, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam còn rất ít. Chỉ trong hơn 2 năm, kể từ năm 1988 đến tháng 5/1990, chỉ có 213 giấy phép đầu tư được cấp, với tổng vốn đăng ký gần 1,8 tỷ USD.

Khi ấy, dòng vốn FDI vào Việt Nam còn dè dặt, bởi công cuộc Đổi mới của Việt Nam mới chập chững những bước đi đầu tiên.

Chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam luôn linh hoạt trong đón nhận dòng vốn đầu tư phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

Bắt đầu đến năm 1991, một làn sóng đầu tư nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam. Theo đó, chỉ trong vòng 7 năm, đã có 2.230 dự án đăng ký đầu tư vào Việt Nam, với 16,244 tỷ USD vốn đăng ký và 12,98 tỷ USD vốn thực hiện. Trong đó, chỉ riêng năm 1997, vốn thực hiện đã đạt 3,115 tỷ USD, gấp 9,5 lần năm 1991.

Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại nhớ lại, vào năm 1991, Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT) với 1 tập đoàn bưu chính viễn thông của Australia được ký kết với tổng vốn đầu tư khoảng 10 triệu USD, được xem là một hợp tác tốt, đặt nền móng cho Việt Nam phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Mặc dù, nguồn vốn đầu tư rất ít ỏi nhưng Australia đã đưa được những công nghệ hiện đại nhất về viễn thông vào Việt Nam.

Australia còn đào tạo cho ngành bưu chính viễn thông những nhà lãnh đạo theo kiểu mới thích ứng được kinh tế thị trường; tiếp cận với công nghệ hiện đại; đồng thời, thay đổi được phương thức quản trị của VNPT theo hướng kinh tế thị trường.

Sản xuất các mặt hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kido Hà Nội vốn đầu tư của Hàn Quốc, tại khu công nghiệp Phố Nối A (Hưng Yên). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Sản xuất các mặt hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kido Hà Nội vốn đầu tư của Hàn Quốc, tại khu công nghiệp Phố Nối A (Hưng Yên). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

“Đầu kéo” cho phát triển

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), sau hơn 30 năm “đón” vốn FDI, từ năm 1988 đến tháng 8/2018, 63 tỉnh, thành phố của cả nước thu hút 26.438 dự án FDI của 129 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 333,83 tỷ USD, vốn thực hiện ước đạt 183,62 tỷ USD, bằng 55% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định, khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Hiện nay, 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông…

Cùng với bổ sung vốn cho nền kinh tế, doanh nghiệp FDI còn góp phần chuyển giao kỹ năng quản lý cho người Việt, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước.

Đặc biệt, khu vực đầu tư nước ngoài đã có những hiệu ứng lan tỏa đối với các lĩnh vực của nền kinh tế, thông qua việc tiếp cận công nghệ tiên tiến và chuẩn mực quốc tế trong quản trị doanh nghiệp, phát triển kỹ năng của lực lượng lao động, cũng như tạo ra nhiều việc làm trong các lĩnh vực của nền kinh tế…

Khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và từ 5-6 triệu lao động gián tiếp

Tính đến nay, khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và từ 5-6 triệu lao động gián tiếp.

Nhấn mạnh về những thành tựu đạt được, giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại cho biết, các số liệu thống kê quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam từ năm 2000 đến nay cho thấy quy mô nền kinh tế đất nước đã lớn gấp nhiều lần; trong đó, khu vực FDI góp phần to lớn.

Chẳng hạn, trong giai đoạn 1991-2000, vốn FDI thực hiện đạt 19,462 tỷ USD, bình quân 1,95 tỷ USD/năm thì giai đoạn 2001-2010 đạt 58,497 tỷ USD, bằng 3 lần thập niên trước đó và bình quân 5,85 tỷ USD/năm. Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2016 đạt 84 tỷ USD, bằng 4,55 lần giai đoạn 1991-2000 và 1,43 lần 10 năm trước đó, bình quân thu hút 12 tỷ USD/năm.

Đối với những địa phương thu hút được nhiều dự án FDI như: Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, đóng góp của khu vực này còn lớn hơn nhiều, làm thay đổi cơ bản cơ cấu kinh tế của từng tỉnh, thành phố, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước phát triển và kinh doanh có hiệu quả cao.

Sản xuất tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dongjin Global (Khu công nghiệp Đất Đỏ I, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Sản xuất tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dongjin Global (Khu công nghiệp Đất Đỏ I, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)

Điển hình là Bắc Ninh, nhờ thu hút có hiệu quả FDI, chỉ trong 5 năm gần đây đã biến đổi cơ bản, từ tỉnh nông nghiệp trở thành tỉnh công nghiệp. Hiện nông nghiệp của tỉnh này chỉ còn khoảng 8%, công nghiệp và dịch vụ chiếm 82% cơ cấu kinh tế tỉnh.

Đánh giá cao môi trường đầu tư của Việt Nam, trong một chuyến thăm và làm việc với các đối tác Việt Nam gần đây, ông Kuniharu Nakamura đồng Chủ tịch Uỷ ban Kinh tế Nhật-Việt của Liên đoàn Các tổ chức kinh tế Nhật Bản (Keidanren) cho biết, đối với các doanh nghiệp Nhật Bản, Việt Nam là thị trường rất hấp dẫn bởi có dân số đông, là cửa ngõ tiếp nối với ASEAN, chính trị xã hội ổn định, bền vững. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn được sang Việt Nam đầu tư, sản xuất kinh doanh. Ông Kuniharu Nakamura bày tỏ mong muốn, Chính phủ Việt Nam tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hoàn thiện hạ tầng thể chế, khuôn khổ pháp lý để sẵn sàng đưa Hiệp định đối tác Toàn diện Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào triển khai sau khi phần Hiệp định khung đã được ký kết. Là nhà đầu tư lớn nhất Việt Nam, đại diện Tập đoàn Samsung cho biết Samsung luôn nỗ lực cùng Chính phủ Việt Nam phát triển nền công nghiệp hỗ trợ nội địa thông qua nhiều chương trình hành động thực tế như: tổ chức hội thảo, triển lãm kết nối các nhà cung ứng địa phương, tổ chức các chuyến khảo sát để đánh giá năng lực thực tế của các nhà cung cấp Việt Nam, phối hợp tổ chức chương trình đào tạo chuyên gia tư vấn Việt Nam…

Với mong muốn gắn kết lâu dài và bền vững với Việt Nam, Samsung là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đầu tiên chính thức chung tay cùng chính phủ Việt Nam tổ chức các chương trình, hoạt động nhằm hỗ trợ thúc đẩy ngành công nghiệp phụ trợ trong nước.

Ông Gunjae Kim, Chủ tịch Công ty thuốc thú y Hwasung Co, Ltd (Hàn Quốc) cho biết hiện có rất nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc thuộc các lĩnh vực đã thâm nhập và hoạt động khá lâu tại Việt Nam.

Lĩnh vực thuốc thú y của Hàn Quốc cũng mới nổi lên và dành sự quan tâm tới thị trường Việt Nam. Điều đó cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc đang và sẽ đầu tư tại Việt Nam đánh giá rất cao về môi trường và các chính sách thu hút đầu tư tại đây.

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, ông Lê Duy Thành chia sẻ các doanh nghiệp nhỏ của Vĩnh Phúc cũng bắt đầu bắt nhịp được vào dòng chảy của khu vực FDI khi hiện có nhiều doanh nghiệp tham gia làm nhà cung ứng cấp 1 cho các doanh nghiệp FDI, đem lại sự thay đổi trong kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, công nghệ của các doanh nghiệp.

Một góc nhà máy của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tại Khu công nghiệp Yên Bình 1 (Thái Nguyên) đi vào hoạt động từ năm 2013. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
Một góc nhà máy của Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên tại Khu công nghiệp Yên Bình 1 (Thái Nguyên) đi vào hoạt động từ năm 2013. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)

Loại bỏ những mảng tối

Mặc dù, bên cạnh những thành công đã đạt được trong thu hút FDI nhưng Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại cũng chia sẻ, Luật Đầu tư nước ngoài 1987, không thể tránh khỏi những thiếu sót, hoặc hạn chế mà trong quá trình thực hiện mới nảy sinh.”

Năm 1990, Việt Nam đã lần đầu tiên phải sửa đổi Luật. Sau đó, liên tục có các đợt sửa đổi Luật trong năm 1992, 1996, 2000, 2005, rồi năm 2014, để có các quy định phù hợp hơn với diễn biến kinh tế thế giới và Việt Nam. Thế nhưng, vai trò của Luật Đầu tư nước ngoài 1987 là vô cùng to lớn.

Đóng góp của khu vực FDI vào nền kinh tế là không thể phủ nhận, song các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, bên cạnh những dấu ấn tích cực, khu vực FDI vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn lỏng lẻo, tỷ lệ nội địa hóa thấp, nhất là đối với ngành công nghiệp ôtô, điện tử.

Theo Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại, nhược điểm chính của FDI hiện nay chính là tác động lan tỏa. Ông khẳng định tại Việt Nam, tác động lan tỏa chưa được như kỳ vọng, thể hiện trong việc các doanh nghiệp Việt Nam vẫn hạn chế trong việc tham gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhược điểm chính của FDI hiện nay chính là tác động lan tỏ (Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại)

Theo đánh giá chung của các nhà kinh tế, Việt Nam có 21% doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi đó ở Thái Lan tỷ lệ này là 30%, ở Malaysia là 46%. Như vậy, Việt Nam kém xa các nước xung quanh về mặt này.

Bên cạnh đó, có rất nhiều dự án FDI đầu tư vào Việt Nam với mục đích tận dụng nguồn lao động giá rẻ, sử dụng máy móc công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường; trong đó, có những sự cố môi trường nghiêm trọng như trường hợp của Formosa Hà Tĩnh, Vedan Đồng Nai; bên cạnh việc sử dụng tài nguyên, nhất là đất đai còn lãng phí.

Cùng với đó, có không ít các doanh nghiệp FDI đầu tư tại Việt Nam vướng vào nghi án chuyển giá, trốn thuế, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.

Đặc biệt, theo Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại, nhiều dự án FDI chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế.

FDI chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp Việt Nam để cùng tham gia chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển. Hoạt động chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý của khối doanh nghiệp này chưa đạt như kỳ vọng; đóng góp vào ngân sách nhà nước chưa tương xứng.

Về cơ cấu đầu tư, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp và kết cấu hạ tầng của nền kinh tế còn rất ít, đầu tư từ các nước phát triển như Hoa Kỳ và EU vào Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng…

Theo tiến sỹ Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, việc nhìn thẳng vào sự thật còn có nhiều tồn tại trong thu hút và sử dụng FDI thời gian qua để thấy rõ các nguyên nhân, tìm giải pháp để loại bỏ các mảng tối trong bức tranh FDI là một đòi hỏi cấp thiết đối với quản lý nhà nước về FDI trong giai đoạn tới.

Sản xuất phụ tùng, bộ phận phụ trợ cho xe có động cơ và động cơ xe tại Công ty TNHH Keihin Việt Nam vốn đầu tư của Nhật Bản, tại khu công nghiệp Thăng Long II (Hưng Yên). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Sản xuất phụ tùng, bộ phận phụ trợ cho xe có động cơ và động cơ xe tại Công ty TNHH Keihin Việt Nam vốn đầu tư của Nhật Bản, tại khu công nghiệp Thăng Long II (Hưng Yên). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Coi trọng nhưng không hy sinh mọi giá

Xu hướng của dòng vốn toàn cầu đang tiếp tục diễn ra. Xu hướng này cho thấy đối với Việt Nam trong giai đoạn tới, với sự chỉ đạo, điều hành của một Chính phủ kiến tạo, liêm chính, phục vụ doanh nghiệp và người dân, Việt Nam có nhiều lợi thế để thu hút FDI.

Được đánh giá là quốc gia hấp dẫn thu hút FDI với những ưu thế nổi trội như: vị trí thuận lợi, chính trị ổn định, dân số đông, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Giá nhân công của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá rẻ hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới.

Đặc biệt, theo ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chính sách thu hút FDI của Việt Nam khá thuận lợi, trong khi nhiều quốc gia trên thế giới có chính sách đầu tư không nhất quán, liên tục “đóng-mở,” thì Việt Nam luôn duy trì chính sách “cởi mở” trong thu hút đầu tư. Đây là một trong những “điểm cộng” quan trọng giúp Việt Nam nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trên thế giới.

Việt Nam luôn duy trì chính sách “cởi mở” trong thu hút đầu tư và đây là một trong những “điểm cộng” quan trọng 

Tuy nhiên, để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tồn tại của dòng vốn FDI, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh để lựa chọn, thu hút các dự án FDI chất lượng cao, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, cũng như những biến đổi của khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng 4.0 và xu hướng chuyển dịch dòng vốn đầu tư quốc tế.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, sẽ xác định những lĩnh vực, ngành nghề và đối tác cần ưu tiên thu hút FDI.

“Việt Nam phải tập trung ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao của các tập đoàn xuyên quốc gia trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, nông nghiệp hiệu quả cao, công nghệ thông tin và các lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam có tiềm năng và lợi thế so sánh. Đó cũng phải là các dự án thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, low-carbon và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Việt Nam cũng sẽ ưu tiên thu hút các dự án có sức lan tỏa, gắn kết với khu vực doanh nghiệp trong nước,” Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhấn mạnh.

Theo giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại, Việt Nam không nên thu hút thêm dự án FDI sản xuất xi măng, sắt thép, lọc hóa dầu, hạn chế bằng cách chọn lựa nhà đầu tư và công nghệ hiện đại thực hiện một số dự án nhiệt điện than, khí; đồng thời khuyến khích bằng chính sách ưu đãi đủ hấp dẫn các tập đoàn kinh tế lớn vào các dự án điện mặt trời, điện gió, điện tái tạo và trong tương lai gần là điện thủy triều.

Sản xuất thép tại Công ty TNHH Thép Tungho Việt Nam (KCN Phú Mỹ 2, thị xã Phú Mỹ). (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Sản xuất thép tại Công ty TNHH Thép Tungho Việt Nam (KCN Phú Mỹ 2, thị xã Phú Mỹ). (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)

Để nâng cao tính lan tỏa của khu vực FDI, Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại đề xuất, đối với một số dự án mà doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài thì khuyến khích thực hiện bằng hình thức “doanh nghiệp liên doanh” để thông qua quan hệ hợp tác cùng có lợi nhằm chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị doanh nghiệp, nâng cao trình độ lành nghề của đội ngũ công nhân, kỹ sư và cán bộ Việt Nam.

“Trong khi vẫn coi trọng thu hút FDI từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì cần coi trọng hơn vốn đầu tư từ các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới trong ngành và lĩnh vực công nghệ cao để tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng lớn và chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó, cần điều chỉnh chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư theo hướng gắn với định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở từng vùng kinh tế, từng địa phương,” giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại cho biết.

Dưới góc độ quản lý, tiến sỹ Phan Hữu Thắng cho rằng, cần nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước về FDI và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức thừa hành. Những tồn tại của FDI được nhắc đến đều có thể xuất phát từ sự yếu kém về quản lý nhà nước và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước.

Chính vì thế, khắc phục các tác động xấu của FDI để tiếp tục sử dụng vốn FDI hiệu quả hơn trong giai đoạn tới là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý nhà nước về FDI.

Khắc phục các tác động xấu của FDI để tiếp tục sử dụng vốn FDI hiệu quả hơn trong giai đoạn tới là yêu cầu bắt buộc

Ông Đặng Xuân Quang, Phó Giám đốc Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng trong giai đoạn hiện nay, vấn đề chất lượng nguồn vốn FDI đang được đặt lên hàng đầu. Việt Nam không thể vì số lượng mà hy sinh chất lượng, đó là quan điểm rất rõ ràng.

Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo là không thể vì tăng trưởng mà hủy hoại môi trường, không thể vì phát triển nhanh mà quên đi yếu tố bền vững. Tất cả những điều này hiện nay đang quán triệt thực hiện.

“Còn giải pháp đưa ra trong thời gian tới, với quan điểm là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý về FDI, chúng ta sẽ tập trung vào các giải pháp về thị trường, tức là các giải pháp để phù hợp với kinh tế thị trường,” ông Quang nhấn mạnh.

Bằng những nỗ lực không ngừng trong cải cách của Chính phủ, sự thân thiện cởi mở của người dân Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng hy vọng rằng với chính sách cởi mở của Việt Nam, trong thời gian tới, các doanh nghiệp đã đầu tư tiếp tục mở rộng đầu tư và phát huy hiệu quả, ngày càng phát triển. Những nhà đầu tư chưa có dự án đầu tư, nhanh chóng tìm cơ hội đầu tư, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mình, tham gia đóng góp phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam./.

Châu Âu trở lại

Việc cả Thủ tướng Đức Angela Merkel và Thủ tướng Anh Theresa May đồng thời có chuyến công du châu Phi vào những ngày cuối tháng Tám cho thấy vị trí ngày càng quan trọng của châu Phi trong mắt các cường quốc hàng đầu thế giới.

Bên cạnh đó, chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo ở châu Âu cũng phát đi một thông điệp rõ ràng về nhu cầu cấp thiết của các nước Lục địa Già phải làm mới mối quan hệ với các đối tác châu Phi, trong bối cảnh châu Phi từ lâu đã trở thành tâm điểm của một cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn trên thế giới.

Thủ tướng Anh Theresa May đã đến Nam Phi, Nigeria và Kenya trong chuyến công du châu Phi đầu tiên kể từ khi bà nhậm chức hồi tháng 7/2016, chuyến công du được đánh giá nằm trong chương trình nghị sự thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của Anh thời kỳ hậu Brexit.

Trong khi đó, chuyến thăm của Thủ tướng Đức Angela Merkel cùng thời điểm tới 3 nước khu vực Tây Phi gồm Senegal, Ghana và Nigeria được đánh giá là minh chứng cụ thể cho những cam kết mà nhà lãnh đạo nền kinh tế đầu tàu châu Âu từng đưa ra đối với lộ trình phát triển châu Phi.

Thủ tướng May đặt mục tiêu đến năm 2022, Anh sẽ trở thành nước có mức đầu tư tại châu Phi cao nhất trong nhóm G7

Tuy nhiên, mục tiêu của cả hai nhà lãnh đạo có vẻ tương đồng khi tập trung vào việc thúc đẩy đầu tư và thương mại cũng như an ninh, trong đó cả bà May lẫn bà Merkel đều thể hiện rằng đối với Anh và Đức, các quốc gia châu Phi đang là đối tác quan trọng.

Thủ tướng Anh Theresa May tới châu Phi với sự tháp tùng của 29 giám đốc điều hành các công ty kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, còn đoàn tùy tùng của nhà lãnh đạo Đức bao gồm những doanh nghiệp hàng đầu đất nước.

Thủ tướng May cam kết Anh sẽ giữ nguyên mức viện trợ cho các nước đang phát triển ở mức 0,7% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và bày tỏ Anh muốn tăng cường quan hệ thương mại với châu Phi, thông qua cam kết tài trợ 4 tỷ bảng Anh cho các nền kinh tế châu Phi, tập trung vào đào tạo và huấn luyện nghề cho tầng lớp thanh niên.

Thủ tướng May cũng đặt mục tiêu đến năm 2022, Anh sẽ trở thành nước có mức đầu tư tại châu Phi cao nhất trong Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7).

Bên cạnh yếu tố kinh tế, tham vọng của London trong kế hoạch này đã được Thủ tướng Anh khẳng định rõ: “Một châu Phi ổn định, đảm bảo công ăn việc làm và phát triển là lợi ích chung của toàn thế giới bởi vì xung đột, triển vọng việc làm không mấy sáng sủa và bất ổn kinh tế sẽ tiếp tục dẫn đến tình trạng di cư và các chuyến hành trình nguy hiểm đến châu Âu.”

Tổng thống Senegal Macky Sall (phải) và Thủ tướng Đức Angela Merkel trong cuộc họp báo chung tại Dakar ngày 29/8. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tổng thống Senegal Macky Sall (phải) và Thủ tướng Đức Angela Merkel trong cuộc họp báo chung tại Dakar ngày 29/8. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Với bà Merkel, các kế hoạch đầu tư của Đức vào châu Phi tập trung trong “Kế hoạch Marshall vì châu Phi,” đó là lộ trình hỗ trợ phát triển, phục hưng nền kinh tế với các cam kết tăng cường viện trợ và đầu tư để giảm nghèo, tạo việc làm cho giới trẻ, qua đó góp phần ngăn chặn làn sóng di cư từ châu Phi tới châu Âu…

Từ năm 2015, hơn một triệu người từ khu vực Trung Đông và châu Phi đã tràn vào châu Âu, trong đó phần lớn đặt chân đến Đức. Quyết định của bà Merkel khi đó mở cửa cho người tị nạn với câu nói nổi tiếng: “Wir schaffen das” (Chúng ta làm được), ý là nước Đức sẽ xử lý được cuộc khủng hoảng này, đã tạo ra một bước ngoặt trong xã hội cũng như trên chính trường nước Đức nói riêng và châu Âu nói chung, song cũng khiến Thủ tướng Đức phải đối mặt với hàng loạt chỉ trích từ trong ra ngoài nước.

Dù bà Merkel vẫn đủ tín nhiệm để tiếp tục giữ cương vị Thủ tướng Đức nhiệm kỳ thứ tư liên tiếp, song sóng gió lúc nào cũng vây quanh, chủ yếu vì vấn đề người di cư. Thông qua chuyến thăm châu Phi lần này, Thủ tướng Đức đặt mục tiêu có thể đưa nguồn vốn, khoa học kỹ thuật đến châu Phi để thực hiện các kế hoạch phát triển, từ đó góp phần ngăn chặn dòng người di cư bất hợp pháp đến châu Âu trong tương lai không xa.

Chuyến công du của Thủ tướng Đức và Thủ tướng Anh tới châu Phi thể hiện rằng cả Đức và Anh đều đã tham gia “cuộc đua tới châu Phi,” vốn khá sôi động trong vài năm gần đây

Chuyến đi châu Phi lần này cũng thể hiện rằng cả Đức và Anh đều đã tham gia “cuộc đua tới châu Phi,” vốn khá sôi động trong vài năm gần đây khi hàng loạt cường quốc đều quan tâm đặc biệt tới châu lục đầy tiềm năng này. Kể từ đầu năm, châu Phi là điểm đến của hàng loạt nguyên thủ của các cường quốc hàng đầu thế giới như Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.

Mặc dù mỗi quốc gia tìm cách tiếp cận châu Phi theo một con đường khác nhau, nhưng cùng có chung một mục đích nhằm khai thác tiềm năng kinh tế của một châu lục 1,2 tỷ dân với tốc độ tăng có thể lên đến gấp đôi vào năm 2050 cùng nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào.

Hiện Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành là người dẫn đầu trong cuộc đua này khi trở thành đối tác thương mại hàng đầu tại đây với sự hiện diện ngày càng trở nên mạnh mẽ.

Tổng thống Nigeria Muhammadu Buhari (phải) và Thủ tướng Anh Theresa May tại cuộc gặp ở Abuja ngày 29/8. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tổng thống Nigeria Muhammadu Buhari (phải) và Thủ tướng Anh Theresa May tại cuộc gặp ở Abuja ngày 29/8. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Trong khi đó, các quốc gia châu Âu dường như đã thành “người đến sau” mặc dù có nhiều lợi thế về sự gần gũi về địa lý, văn hóa cũng như mối quan hệ sẵn có trong lịch sử. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Liên minh châu Âu (EU) và châu Phi liên tục giảm. Hàng hóa xuất đi châu Phi chiếm 8,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của EU năm 2006 và hiện đã giảm xuống còn 6,7% vào năm 2016. Giá trị hàng hóa châu Phi xuất khẩu sang châu Âu năm 2016 đã giảm xuống 115 tỷ euro so với con số 185 tỷ euro vào năm 2012. Thực tế này đã làm giảm vai trò và sức mạnh của các nước châu Âu tại châu Phi.

Trước thềm chuyến thăm, Thủ tướng May khẳng định đây là “cơ hội đặc biệt, trong thời khắc đặc biệt với nước Anh.” Việc bà May chọn Nam Phi, Nigeria và Kenya, đều là các thành viên và những quốc gia “đầu tàu” trong Khối Thịnh vượng chung, từng được xem như “sân sau” của Anh, rõ ràng là cách để London củng cố lại tầm ảnh hưởng của mình.

Khi tiến trình Brexit đưa nước Anh rời EU đang diễn ra, London cần tích cực mở rộng quan hệ đối ngoại, tìm kiếm các đối tác mới, cũng như nỗ lực chinh phục lại chính “vùng ảnh hưởng” cũ. Do vậy, mục tiêu lớn nhất trong chuyến công du châu Phi lần đầu tiên của Thủ tướng May là khôi phục và củng cố vai trò, tầm ảnh hưởng của Anh ở khu vực hạ Sahara của châu Phi, rộng hơn là 53 quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung – khu vực có tổng sản phẩm GDP lên tới hơn 13.000 tỷ USD.

Đối với châu Âu lúc này, việc thúc đẩy một mối quan hệ mới với châu Phi là điều thiết yếu

Trong khi đó, Thủ tướng Đức lại có thông điệp chuyến thăm tương đối rõ ràng, là thực hiện chiến lược hướng đến châu Phi mà Berlin đang theo đuổi như một phần của nỗ lực mở rộng quyền lực mềm của Đức ở châu lục này. Bản thân Thủ tướng Đức tại Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) ở Hamburg hồi tháng 7/2017 đã đưa ra sáng kiến “Gắn kết với châu Phi,” thể hiện rằng Đức đang đi đầu trong các nước châu Âu trong “cuộc đua” tăng cường sự hiện diện tại châu Phi.

Xét từ mối quan hệ lịch sử thì châu Âu và châu Phi vẫn luôn gắn bó mật thiết với nhau và có nhiều ràng buộc về lợi ích. Bởi vậy có thể nói các nước châu Âu giữ vai trò quan trọng trong việc góp phần mang lại sự ổn định và an ninh ở châu Phi, mà trước hết là nhằm ngăn chặn dòng người di cư tìm cách vào Lục địa Già.

Đối với châu Âu lúc này, việc thúc đẩy một mối quan hệ mới với châu Phi là điều thiết yếu, không chỉ vì lợi ích an ninh và kinh tế và còn thể hiện vị thế của châu Âu khi mà các cường quốc khác trên thế giới đang có những động thái quyết liệt để khẳng định sự hiện diện tại châu Phi.

Chuyến thăm của lãnh đạo Anh và Đức tới châu Phi lần này chính là bước kế tiếp trong lộ trình “trở lại châu Phi” theo một cách mới mà các nước châu Âu đang xúc tiến tích cực./.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mới có chuyên công du châu Phi vào tháng 7/2018. Trong ảnh: Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Tổng thống Rwanda Paul Kagame tại cuộc họp báo sau hội đàm ở Kigali ngày 23/7. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mới có chuyên công du châu Phi vào tháng 7/2018. Trong ảnh: Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Tổng thống Rwanda Paul Kagame tại cuộc họp báo sau hội đàm ở Kigali ngày 23/7. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Thu hút FDI

Trải qua hơn 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có thể nói, khu vực FDI trở thành khu vực kinh tế rất quan trọng của kinh tế Việt Nam. Điều này cũng đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng.

Thực tiễn 30 năm thu hút đầu tư FDI đang chứng tỏ khu vực này ngày càng giữ vị trí quan trọng, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả thu được, đóng góp của khu vực FDI vào nền kinh tế cũng có những hạn chế nhất định.

Ông Vũ Đại Thắng - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ông Vũ Đại Thắng – Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Đại Thắng – Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư xung quanh nội dung này.

– Trải qua 30 năm, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xin ông đánh giá những thành công mà Việt Nam đã đạt được?

Thứ trưởng Vũ Đại Thắng: Bắt đầu kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời vào tháng 12/1987, cho đến nay, Việt Nam đã trải qua quá trình hơn 30 năm thu hút nguồn vốn FDI. Có thể nói, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành khu vực kinh tế quan trọng của Việt Nam.

Trong 30 năm qua, đã có hơn 182 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào Việt Nam, được triển khai thực hiện trong hầu hết các ngành nghề và lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành công nghiệp chủ lực như: viễn thông, dầu khí, điện tử, hóa chất, thép, ôtô-xe máy, công nghệ thông tin, da giày, dệt may, chế biến nông sản thực phẩm… FDI đã góp phần hết sức quan trọng trong việc gia tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

Đến nay, khu vực FDI chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

30 quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng đầu tư FDI vào Việt Nam lớn nhất trong 8 tháng của năm 2018 

Ngoài ra, khu vực FDI cũng đã góp phần tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần ổn định tình hình xã hội. Khu vực FDI tạo ra khoảng 3,5 triệu việc làm trực tiếp và gần 5 triệu việc làm gián tiếp; trong đó, có nhiều lao động đã được đào tạo và tiếp cận với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của thế giới.

Thu hút FDI còn góp phần cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó, giúp nâng cao tầm vóc, vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; đồng thời, tạo ra những áp lực để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế nhanh hơn, hiệu quả hơn và thực chất hơn theo hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Sản xuất dây cáp điện tại một doanh nghiệp FDI. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Sản xuất dây cáp điện tại một doanh nghiệp FDI. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)

– Đóng góp của khu vực FDI vào nền kinh tế rất lớn nhưng khu vực FDI cũng có những hạn chế nhất định. Theo ông, hạn chế lớn nhất của khu vực FDI hiện nay là gì?

Thứ trưởng Vũ Đại Thắng: Trong suốt chặng đường 30 năm qua, bên cạnh những đóng góp không thể phủ nhận của khu vực FDI đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định trong quá trình phát triển, mà hạn chế lớn nhất chính là việc chuyển giao và tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI không đạt được như kỳ vọng. Trong một số trường hợp, còn có những công nghệ lạc hậu gây ảnh hưởng tới môi trường cũng như tới chất lượng tăng trưởng.

Việc chuyển giao và tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI không đạt được như kỳ vọng

Ngoài ra, hiệu ứng lan tỏa của các doanh nghiệp FDI tới doanh nghiệp trong nước, điển hình là phát triển công nghiệp phụ trợ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn rất ít. Các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam chủ yếu vẫn là gia công lắp ráp, sử dụng lao động giá rẻ, tận dụng các yếu tố đầu vào của thị trường Việt Nam đang được ưu đãi của Chính phủ Việt Nam để sản xuất hàng xuất khẩu là chủ yếu… trong khi chúng ta vẫn chưa có các giải pháp hiệu quả để nâng cao được giá trị gia tăng của Việt Nam trong chuỗi sản xuất giá trị toàn cầu. Thực thi pháp luật của một số doanh nghiệp chưa nghiêm, nhiều doanh nghiệp có hành vi chuyển giá, gian lận thương mại hay gây tổn hại đến môi trường.

– Thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn luôn là mục tiêu mà chúng ta đề ra. Theo ông, trong những năm tới, chúng ta cần ưu tiên thu hút FDI vào những ngành, lĩnh vực nào?

Thứ trưởng Vũ Đại Thắng: Theo tôi, trước hết, chúng ta cần hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh để lựa chọn, thu hút các dự án FDI chất lượng cao, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, cũng như những biến đổi của khoa học công nghệ trong Cuộc cách mạng 4.0 và xu hướng chuyển dịch dòng vốn đầu tư quốc tế; đồng thời, cần xác định những lĩnh vực, ngành nghề và đối tác cần ưu tiên thu hút FDI.

Tình hình thu hút FDI trong 8 tháng của năm 2018 theo từng ngành

Trước mắt, chúng ta phải tập trung ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao của các tập đoàn xuyên quốc gia trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin và các lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam có tiềm năng và lợi thế so sánh. Đó cũng phải là các dự án thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, ít carbon và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Đồng thời, Việt Nam cũng sẽ ưu tiên thu hút các dự án có sức lan tỏa, gắn kết với khu vực doanh nghiệp trong nước, chọn lọc những dự án có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ nguồn có giá trị gia tăng cao, những dự án lớn của các tập đoàn xuyên quốc gia để tạo ra sức lan tỏa thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển, phát triển công nghiệp hỗ trợ thông qua sự kết nối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Đó phải là những dự án giảm sử phụ thuộc vào nguồn lao động giá rẻ, giảm tiêu hao năng lượng, nguyên liệu đầu vào.

– Thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI và trong nước là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nền kinh tế. Vậy chủ trương liên kết này và giải pháp trong thời gian tới sẽ như thế nào, thưa ông?

Thứ trưởng Vũ Đại Thắng: Việc thúc đẩy tính lan tỏa từ hiệu ứng thu hút FDI và gia tăng kết nối giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước là cực kỳ cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi cuộc cách mạng 4.0 đã và đang làm thay đổi phương thức sản xuất trên toàn thế giới theo hướng tự động hóa, sử dụng trí tuệ nhân tạo… vào sản xuất-kinh doanh và dịch vụ ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.

Việt Nam phải tập trung hơn nữa xây dựng mô hình vừa là nơi sản xuất vừa là nơi tiêu thụ, chứ không chỉ là nơi sản xuất đơn thuần

Để làm được điều này, chúng ta cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung, cũng như đối với khu vực doanh nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp FDI nói riêng nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của FDI thời gian qua (như nhập khẩu thiết bị công nghệ lạc hậu, tình trạng ô nhiễm môi trường, vấn đề chuyển giá, trốn thuế, đình công, lãn công…), đây là giải pháp căn cơ và quan trọng nhất.

Bên cạnh đó, cần sớm cải thiện nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo bài bản, để sớm có được đội ngũ chuyên gia kỹ thuật, quản lý công nghệ có những kỹ năng sát yêu cầu thực tế, ý thức đầy đủ về các vấn đề an toàn lao động, bảo vệ môi trường. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần phải tự cải thiện, nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp, quản trị sản xuất, đặc biệt đối với các vấn đề liên quan đến an toàn lao động, bảo vệ môi trường.

Số lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp mới trong 8 tháng của năm 2018 trên từng địa phương

Mặt khác, Việt Nam phải tập trung hơn nữa xây dựng mô hình vừa là nơi sản xuất vừa là nơi tiêu thụ, chứ không chỉ là nơi sản xuất đơn thuần, tạo sức hấp dẫn hơn đối với đầu tư nước ngoài; đồng thời, tăng cường năng lực tự cung cấp các nguyên vật liệu đầu vào để khơi dậy tiềm năng với vai trò là nhà đầu tư của ngành công nghiệp phụ trợ.

Tôi nhấn mạnh chúng ta cần khuyến khích tạo sức lan tỏa cũng như kích thích khu vực kinh tế tư nhân, tạo áp lực để các doanh nghiệp Việt Nam phải tự đổi mới nâng cao trình độ công nghệ, quản lý năng lực sản xuất của mình. Tiếp theo, Nhà nước cũng sẽ có những chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp lớn mạnh, đưa doanh nghiệp lên ngang tầm với các doanh nghiệp nước ngoài thì mới liên kết được với nhau, nếu còn chênh lệch thì sẽ không thể thiết lập được sự gắn kết nào.

– Xin trân trọng cám ơn ông!