Chuyên gia Nguyễn Đình Cung

2018 tiếp tục là năm đạt nhiều dấu ấn nổi bật trong việc phát triển kinh tế xã hội, khi cả 12 chỉ tiêu đều hoàn thành và vượt mức Quốc hội đề ra, là động lực quan trọng để có thể thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra trong năm 2019.

Phát biểu tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương ngày 28/12/2018, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, năm 2018 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáng mừng trên hầu hết các lĩnh vực.

Với tiền đề này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề nghị trong năm 2019, Chính phủ và các bộ, ngành địa phương cần phấn đấu đạt kết quả cao hơn trên tất cả các lĩnh vực.

Phóng viên đã có cuộc trao đổi với tiến sỹ Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ) xoay quanh những chỉ tiêu được đặt ra trong năm 2019.

– Thưa ông, đâu là điểm cốt lõi nào giúp kinh tế Việt Nam đạt được cùng lúc 2 mục tiêu là tăng trưởng cao và lạm phát dưới 4% trong năm 2018?

Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung: Có nhiều nguyên nhân dẫn tới kết quả trên. Và, theo tôi kết quả năm 2018 là cao nhất, toàn diện nhất trong 10 năm trở lại đây.

Có thể nói, điểm nhấn đầu tiên là nhờ những cải cách nền tảng về thể chế kinh tế của nhiệm kỳ này đã tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Đó là các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng đặc biệt là Nghị quyết về các chủ trương, giải pháp lớn để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả.

Ngoài ra, còn 3 Nghị quyết rất quan trọng là Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết về đổi mới sắp xếp lại nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước và Nghị quyết về phát triển khu vực kinh tế tư nhân thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Vĩnh Phúc tăng cường phát triển công nghiệp hỗ trợ. (Nguồn: TTXVN)
Vĩnh Phúc tăng cường phát triển công nghiệp hỗ trợ. (Nguồn: TTXVN)

50% doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh của 2018 tốt hơn nhiều so với 2017.

Tiếp theo những Nghị quyết đó, Chính phủ đã triển khai các chương trình hành động và thực hiện cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh hết sức mạnh mẽ.

Chúng ta nhìn thấy trong giai đoạn 2016-2018 gần như tất cả các Bộ, ngành, địa phương đều đã vào cuộc một cách tích cực, chủ động và tương đối toàn diện trong việc cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh.

Thủ tướng và Chính phủ liên tục chỉ đạo, tạo một sức ép hết sức mạnh mẽ về mặt hành chính trong việc cải cách môi trường kinh doanh. Và thực tế, môi trường kinh doanh của Việt Nam được cải thiện khá rõ nét thông qua việc đánh giá, xếp hạng của các tổ chức quốc tế.

Đơn cử, năm 2018 so với năm 2015 theo Ngân hàng thế giới chúng ta đã tăng 21 bậc, theo Diễn đàn kinh tế thế giới Việt Nam cũng tăng 5 bậc.

Bên cạnh đó, hàng loạt các chỉ số về môi trường kinh doanh theo hướng đổi mới sáng cũng được cải thiện đáng kể. 50% doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh của 2018 tốt hơn nhiều so với 2017. Còn theo tổ chuyên gia thì những cải cách gần đây đã có thay đổi một cách khác biệt.

Nhà máy Ford Hải Dương. (Nguồn: TTXVN)
Nhà máy Ford Hải Dương. (Nguồn: TTXVN)

Việc bãi bỏ các điều kiện kinh doanh tới nay có thể nói 50% đã đạt được thực chất còn 50% phải chờ đợi hướng dẫn triển khai thực hiện của những năm tiếp theo. Đặc biệt, trong năm 2019 có hàng loạt những điều kiện kinh doanh đã được đơn giản hóa có tác động tới cộng đồng doanh nghiệp phụ thuộc vào việc triển khai, thực hiện các quyết định…

Như vậy, về phía các Bộ cần hướng dẫn rõ ràng, cụ thể còn về phía địa phương phải chỉ đạo tổ chức thực hiện triệt để hơn để đảm bảo tất cả những cải cách đó mang lại hiệu quả thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp.

Năm 2018 chúng ta cũng liên tục giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Dù có hàng loạt biến động không thuận từ bên ngoài song Thủ tướng và Chính phủ đã chủ động trong việc xây dựng các phương án và thực hiện các giải pháp để giảm nhẹ các ảnh hưởng và tận dụng được các cơ hội.

Tôi cũng nhìn thấy hàng loạt địa phương đã chủ động cải cách, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, nhất là thu hút đầu tư, góp phần huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển.

– Với những tiền đề nói trên, ông nghĩ thế nào về cơ hội phát triển trong năm 2019?

Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung: Năm 2019, Chính phủ lấy một thông điệp rất rõ ràng là “Năm bứt phá” để về đích, hoàn thành nhiệm vụ, chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2016-2020. Bứt phá để chuẩn bị cơ sở tốt hơn cho việc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong nhiệm kỳ 2021 và những năm tiếp theo.

Như chúng ta đã biết, từ năm 2016-2018 đã đạt được nhiều thành quả tương đối tốt cả về ổn định kinh tế vĩ mô, sức chống chịu, tăng động lực của nền kinh tế thông qua tốc độ tăng trưởng.

Ngoài ra, năm 2019 là khoảng thời gian trước khi kết thúc nhiệm kỳ để tạo nền tảng. Do đó thì trên cơ sở đã đạt được, việc điều hành của Chính phủ và Thủ tướng phải đẩy nhanh tốc độ triển khai thực hiện các giải pháp về cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh, khơi thêm nguồn lực và tăng thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Điều này dựa trên nền tảng tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình để những yếu tố về chất lượng tăng trưởng ngày càng được đóng góp nhiều hơn song vẫn phải chú ý giải quyết các vấn đề xã hội, hướng đến việc phát triển bao trùm và mọi người đều được hưởng lợi trong quá trình phát triển.

– Tại buổi làm việc mới đây, tổ tư vấn đã đưa ra 3 kịch bản tăng trưởng. Chính phủ đưa ra mục tiêu tăng trưởng năm 2019 từ 6,9-7% và lạm phát dưới 4%, vậy với tư cách thành viên tổ tư vấn, xin ông chia sẻ thêm về nội dung này?

Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung: Quốc hội đã ra Nghị quyết trong đó xác định chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2019 từ 6,6-6,8% và chỉ tiêu lạm phát khoảng 4%.

Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả đã đạt được của năm 2018 cùng với những phân tích về tiềm năng của nền kinh tế, dư địa có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, cơ hội từ bên ngoài…, Tổ tư vấn đã thống nhất, kiến nghị Thủ tướng trong điều hành phấn đấu để đạt được mục tiêu về tăng trưởng cao hơn mục tiêu Quốc hội đề ra, hoặc đạt được mức cao của chỉ tiêu, có thể lạm phát dưới 4%.

Theo ý kiến của tổ tư vấn, nếu chúng ta làm được như thế sẽ tạo ra các dư địa và tăng thêm sức chống chịu của nền kinh tế. Bởi trong bối cảnh bất định như hiện nay, chúng ta nên có cách điều hành tạo ra những dư địa có thể phản ứng trước những thay đổi từ bên ngoài, đặc biệt là dư địa trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, dư địa trong chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ…

Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh, Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)
Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường cụm công nghiệp Nguyên Khê, Đông Anh, Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)

Nếu có một quyết tâm như thế thì thông điệp của Chính phủ đưa ra là cơ sở để Thủ tướng điều hành một cách quyết liệt hơn và tạo một áp lực mạnh mẽ hơn tới các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các địa phương và trong toàn hệ thống chính trị…

Nếu có một quyết tâm như thế thì thông điệp của Chính phủ đưa ra là cơ sở để Thủ tướng điều hành một cách quyết liệt hơn và tạo một áp lực mạnh mẽ hơn tới các Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các địa phương và trong toàn hệ thống chính trị… từ đó tạo ta niềm tin thị trường, doanh nghiệp để khơi dậy sự năng động của nền kinh tế và có được một kết quả tốt hơn mong đợi.

– Năm 2019 đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP dựa trên 2 động lực chính là công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ. Vậy ông nhìn nhận thế nào về tiềm năng phát triển của 2 lĩnh vực trên để có thể giúp kinh tế tăng trưởng bứt phá?

Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung: Lâu nay chúng ta vẫn nhìn thấy công nghiệp chế biến, dịch vụ là những lĩnh vực đóng góp phần lớn vào tăng trưởng. Tuy nhiên, để xác định đâu là dư địa thì chúng tôi nhìn cụ thể và ở mức sâu hơn đằng sau đó để đánh giá.

Trước hết, chúng ta nhìn thấy công nghiệp chế biến chế tạo hiện vẫn đóng góp khá lớn vào tăng trưởng. Thế nhưng, qui mô của lĩnh vực này hiện tương đối lớn, tốc độ tăng trưởng cũng đã ở mức cao, do vậy tốt nhất hiện nay là phấn đấu làm sao để ở phương án bình thường nhất là không sụt giảm (nếu tăng trưởng là tốt), từ đó vẫn duy trì đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế.

Vĩnh Phúc tăng cường phát triển công nghiệp hỗ trợ. (Nguồn: TTXVN)
Vĩnh Phúc tăng cường phát triển công nghiệp hỗ trợ. (Nguồn: TTXVN)

Chúng ta hãy tìm kiếm ở những ngành nghề các sản phẩm mà hiện nay có tiềm năng và qui mô còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng chưa cao để phát triển.  

Khi nhìn vào như thế, chúng ta hãy tìm kiếm ở những ngành nghề các sản phẩm mà hiện nay có tiềm năng và qui mô còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng chưa cao để phát triển.

Ví dụ như trong dịch vụ du lịch là ngành rất tiềm năng và tăng trưởng tương đối tốt; rồi lĩnh vực bán buôn, bán lẻ có thể khai thác dễ hơn để đóng góp vào tăng trưởng; dịch vụ nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ… Đó là những lĩnh vực hiện còn đóng góp nhỏ và tốc độ tăng trưởng tương đối thấp song có thể can thiệp vào để nguồn lực có thể bỏ vào ít hơn nhưng vẫn tạo ra tốc độ tăng trưởng lớn.

Chúng tôi vẫn nhìn nông nghiệp tiếp tục là ngành đóng góp vào tăng trưởng mà chúng ta hiện nay chưa khai thác hết tiềm năng của nó với những giải pháp hết sức căn bản. Đó là phải quản lý mục tiêu sử dụng đất một cách linh hoạt, điều chỉnh các quy hoạch sử dụng đất (đặc biệt là đất nông nghiệp) để cho hộ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp tự chủ trong việc lựa chọn sản phẩm cây trồng, vật nuôi để sản xuất theo nhu cầu thị trường.

Với những thay đổi như thế, tính sơ bộ nếu chuyển đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng hoa màu, trồng rau, trồng hoa hoặc sang một vụ làm thủy sản thì giá trị gia tăng tạo ra sẽ tăng từ 7-15 lần so với việc giữ nguyên đất lúa. Đó là những tiềm năng rất lớn và là dư địa để phát triển, cũng như thu hút đầu tư nước ngoài.

Mặt khác, tuy bên ngoài có những biến động, song đánh giá chung trên nhiều mặt chúng tôi vẫn nhìn thấy khả năng xuất khẩu, nhập khẩu có những cơ hội để ít nhất có thể duy trì như năm 2018.

Từ những phân tích sơ bộ trên, chúng tôi cho rằng có rất nhiều dư địa. Vấn đề là Chính phủ, Thủ tướng nhìn thấy và điều hành một cách linh hoạt, nhất quán, quyết liệt cũng như các bộ, ngành, địa phương triển khai hành động, doanh nghiệp nhìn thấy những tín hiệu đó để tiếp tục đầu tư phát triển…

– Ông có nói 2019 là năm Việt Nam hội nhập sâu và rộng với các hiệp định thương mại chất lượng cao (CPTPP, EVFTA)… Vậy, thách thức của Việt Nam trong vấn đề này thế nào?

Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung: Cá nhân tôi cho rằng, trong bất cứ bối cảnh nào chúng ta cũng có thách thức và cả cơ hội. Điều quan trọng là nhận thách thức nhưng đừng bi quan và nhấn mạnh quá để không chần chừ trong hành động.

Thách thức có rất nhiều, chúng ta nói nhiều đến Chiến tranh thương mại, những bất ổn từ kinh tế bên ngoài, từ chính các hiệp định thương mại đã ký…

Thực ra trong thách thức có cơ hội và chỉ khi tận dụng được cơ hội thì mới vượt qua thách thức. Cho nên nhấn mạnh của tôi luôn là tận dụng cơ hội. Chúng ta phải thúc đẩy cải cách mạnh mẽ về kinh tế, đặc biệt là thể chế kinh tế, môi trường kinh doanh để tạo ra cơ hội nhiều hơn cho doanh nghiệp và người dân Việt Nam.

Khi cải cách như vậy, chắc chắn chi phí sẽ thấp, rủi ro ít hơn, người dân tin tưởng bỏ vốn đầu tư và chính điều đó sẽ hiện thực hóa những cơ hội mà bên ngoài mang lại, bên trọng tạo ra để vượt qua thách thức.

Tận dụng cơ hội là phải cải cách, phải thay đổi, phải sáng tạo và linh hoạt hơn và quan trọng hơn là lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, tạo điều kiện cho họ.

Theo tôi, Chính phủ cần chỉ đạo điều hành để khởi thông và tập trung sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả, chú ý nhiều hơn vào những lĩnh vực, ngành nghề rất có tiềm năng như đề cập ở trên.

Tiếp nữa là tiếp tục cải cách thể chế và môi trường kinh doanh quyết liệt hơn nữa, cắt phá các điều kiện kinh doanh và kiểm tra chuyên ngành, tạo thuận lợi hơn cho xuất nhập khẩu; Tập trung vào cải cách thủ tục hành chính với trọng tâm là phải tăng dịch vụ hành chính công được thực hiện ở cấp độ 4 để giảm thiểu nguy cơ tùy ý thực hiện thủ tục hành chính của một số công chức.

Ngoài ra, phải tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để cho những doanh nghiệp khởi nghiệp có thể thành công tại Việt Nam mà không phải sang nơi khác lập nghiệp. Cùng lúc, phải tạo đà cho các doanh nghiệp công nghệ phát triển, tận dụng cơ hội trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0…

– Xin cảm ơn ông./.

Công nhân sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy Canon vốn đầu tư của Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Phố Nối. (Nguồn: TTXVN)
Công nhân sản xuất linh kiện điện tử tại nhà máy Canon vốn đầu tư của Nhật Bản tại Khu Công nghiệp Phố Nối. (Nguồn: TTXVN)

Camboya, país que resurge de las cenizas

Hanoi (VNA)-  Aunque han pasado 40 años desde la caída del régimen genocida de Pol Pot el día 7 de enero de 1979, esa fecha siempre graba en la memoria de las generaciones de camboyanos. Después de cuatro décadas, Camboya se ha recuperado para construir el país, avanzar en la reconciliación nacional, impulsar el desarrollo socioeconómico, mantener la estabilidad política y el ambiente de paz, y acelerar la integración regional e internacional.

Régimen genocida brutal de Pol Pot

El 17 de abril de 1975, aún sin cantar la victoria en la lucha patriótica contra los estadounidenses, el pueblo camboyano debió enfrentar otra pesadilla- el régimen sangriento encabezado por Pol Pot, Ieng Sary y Khieu Samphan.

Pol Pot (1925-1988), dirigente del régimen genocida en Camboya. Foto: Internet
Pol Pot (1925-1988), dirigente del régimen genocida en Camboya. Foto: Internet

Ese régimen, aunque duró solo tres años ocho meses y 20 días (de 1975 a 1979), pero con sus políticas atroces, trabajos forzosos, torturas y ejecuciones, convierte a Camboya en el “infierno en la tierra”. Los campos de la muerta, fosas comunes, escuelas y pagodas convertidas en prisiones estaban en todas partes de este país.

Más de tres millones de camboyanos fueron asesinados en ese período doloroso, mientras otras miles abandonaron sus casas y llegaron a Vietnam para escaparse de las atrocidades de Polpot.

No sólo llevó a cabo una política genocida y traicionó la causa revolucionaria de su pueblo, la bandería de Pol Pot también buscó socavar la solidaridad tradicional y la amistad entre los pueblos de Vietnam y Camboya al invadir la frontera del sudoeste del país vecino.

En los últimos años de la resistencia de su pueblo contra Estados Unidos (1970-1975), las tropas de Pol Pot perpetraron ataques y secuestros matando a los funcionarios y soldados de Vietnam que trabajaban en este país y al mismo tiempo intentaron quebrantar la unidad entre los comunistas camboyanos.

  • vnapotal40-1546679743-15.jpg
  • ttxvncpc-1546679781-95.jpg
  • ttxvncpc2-1546679828-63.jpg

En 1975 justo cuando Vietnam alcanzó la reunificación nacional, las fuerzas de Pol Pot invadieron la frontera terrestre del suroeste del país, capturando y asesinando a centenares de civiles inocentes en las islas de Phu Quoc y Tho Chu. De finales del mismo año a principios de 1976, continuaron realizando penetraciones ilegales en el territorio vietnamita.

Con la asistencia extranjera, Pol Pot incrementó las acciones de intimidación, sabotaje e invasión en la frontera. Al mismo tiempo, aumentó la diseminación de informaciones que difamaron a Vietnam, así como la hostilidad contra el país vecino.

El monumento de Ba Chuc dedicado a las víctimas del régimen de Pol Pot en la provincia vietnamita de An Giang. Foto: VNA
El monumento de Ba Chuc dedicado a las víctimas del régimen de Pol Pot en la provincia vietnamita de An Giang. Foto: VNA

A pesar los esfuerzos diplomáticos por la paz de Hanoi, Pol Pot incrementó la propaganda para distorsionar la historia y continuar provocando enfrentamientos en la frontera del sudoeste de Vietnam.

Durante solo casi dos años, las tropas de Pol Pot asesinaron y capturaron a más de 30 mil civiles en las comunas limítrofes de Vietnam, obligaron a otras 400 mil personas a abandonar sus casas y destruyeron una gran cantidad de iglesias, escuelas y pagodas.

En la noche del 30 de abril de 1977, aprovechando que el pueblo y ejército vietnamitas estaban celebrando el segundo aniversario de la liberación del Sur y reunificación nacional, atacaron la frontera de la provincia de An Giang, iniciando oficialmente su invasión a la frontera del sudoeste de Vietnam.

Ante la agresión y la barbaridad de las tropas de Pol Pot causada a los compatriotas, el Partido Comunista, Estado, Ejército y el pueblo de Vietnam decidieron levantar para defenderse, la soberanía y la integridad territorial nacional, así como la vida y bienes de la población.

Fuerzas revolucionarias camboyanas y soldados voluntarios vietnamitas en la batalla por la liberación de Phnom Penh. Foto:VNA
Fuerzas revolucionarias camboyanas y soldados voluntarios vietnamitas en la batalla por la liberación de Phnom Penh. Foto:VNA

A mediados de junio de 1978, el Buró Político y la Comisión Militar Central decidieron iniciar la guerra popular y realizar los ataques a gran, mediana y pequeñas escalas para diezmar la fuerza enemiga. En diciembre del mismo año, lanzaron la ofensiva general para proteger la frontera del suroeste y apoyar a las fuerzas revolucionarias camboyanas a derrocar el régimen de Pol Pot.

Victoria histórica

Con la asistencia de Vietnam, el 2 de diciembre de 1978, el Frente Unido de Kampuchea para la Salvación Nacionl (FSNSC) fue fundado. Esta organización presentó su plataforma política, en la cual destacó la determinación de acabar con el régimen genocida y establecer un estado del pueblo, ratificó la solidaridad con el pueblo vietnamita y otros amantes de la paz y la justicia en el mundo, y exhortó el respaldo de la comunidad internacional a su justa lucha.

Un ejercicio de soldados camboyanos y vietnamitas. Foto: VNA
Un ejercicio de soldados camboyanos y vietnamitas. Foto: VNA

El 23 de diciembre de 1978, los soldados voluntarios vietnamitas y las fuerzas revolucionarias camboyanas realizaron la ofensiva-ataque a lo largo de la frontera. Tres días después todo el sistema defensiva de Pol Pol fue derrumbado y el 31 de diciembre, las fuerzas armadas y pueblo de Vietnam consiguieron la victoria expulsando a las tropas de Pol Pot del país y recuperando todo el territorio ocupado por enemigo.

En respuesta al llamamiento del FSNSC, el 6 de enero de 1979, los combatientes voluntarios de Vietnam y las fuerzas de esta organización comenzaron asaltos en Phnom Penh y lograron liberar a esta capital solo un día después, triunfo que puso fin al régimen de Pol Pot. Se trata de una caída inevitable Pol Pot debido a sus malos cálculos y políticas crueles e inhumanas.

El 7 de enero de 1979, Phnom Penh fue liberada, marcando el fin del régimen genocida de Pol Polt

Con su solidaridad, esfuerzos, sangre y sudor, los combatientes voluntarios vietnamitas se unieron con sus colegas camboyanos para derrocar el régimen de Pol Pot, protegiendo la integridad territorial de Vietnam y al mismo tiempo liberando al pueblo camboyano del genocida.

Esta victoria reviste un gran significado y confirma una vez más que el pueblo vietnamita con su espíritu de independencia, autodeterminación, unidad nacional y solidaridad internacional, está dispuesto a vencer cualquier conspiración y sabotaje de las fuerzas hostiles para proteger la independencia, soberanía e integridad territorial.

El desfile en honor de la victoria sobre el régime genocida. Foto:VNA
El desfile en honor de la victoria sobre el régime genocida. Foto:VNA

La victoria también muestra el internacionalismo y las relaciones tradicionales y la ayuda desinteresada y valiosa del Partido, Estado, Ejército y pueblo de Vietnam al país vecino.

Recientemente, el periódico Procheacho- órgano oficial del gobernante Partido Popular de Camboya- publicó una crónica afirmando que esta es una victoria imborrable en la historia nacional y constituye uno de los fundamentos para los logros posteriores del país.

El director del Centro de Documentación y Archivo de Camboya, Youk Chhang. Foto: VNA
El director del Centro de Documentación y Archivo de Camboya, Youk Chhang. Foto: VNA

En una entrevista concedida a la Agencia Vietnamita de Noticias en Phnom Penh, el director del Centro de Documentación y Archivo, Youk Chhang, destacó que la asistencia de los voluntarios vietnamitas ha cambiado la historia de Camboya y contribuyó a la resucitación de esta nación.

El periodista Keo Chandara, subdirector general de la Agencia de Noticias AKP, reiteró que “el pueblo camboyano y todo el mundo reconocen que si no hubiera la victoria final del 7 de enero de 1979, no habría habido el resurgimiento de Camboya de hoy”. Es una verdad irrefutable.

Al evaluar el papel de los soldados voluntarios vietnamitas en esa hazaña, el editor jefe del rotativo Rasmei Khampuchea, Teav Sarak Mony, citó al primer ministro Samdech Techo Hun Sen, quien dijo durante su reciente visita a Hanoi que el papel decisivo de Vietnam en la asistencia a su país es un hecho innegable.

Según Sarak, quien también era víctima de Pol Pot, sin el triunfo del 7 de enero de 1979 y sin la ayuda de los soldados, así como del Partido, Estado, gobierno y el pueblo de Vietnam durante 10 años (1979-1989), el país y pueblo camboyano no podrían haber sobrevivido y desarrollado como hoy.

El periodista australiano, Peter Starr, asesor de comunicaciones de la Oficina del Parlamento camboyano. Foto:VNA
El periodista australiano, Peter Starr, asesor de comunicaciones de la Oficina del Parlamento camboyano. Foto:VNA

Mientras tanto, el periodista australiano, Peter Starr, asesor de comunicaciones de la Oficina del Parlamento camboyano, que el día 7 de enero de 1979 es el acontecimiento más importante para el pueblo de esta nación, el cual marcó su liberación del régimen genocida.

A su juicio, sin el apoyo de los combatientes voluntarios de la nación vecina, decenas, incluso centenares más de camboyanos fueran asesinados por el régimen de Pol Pot.

Resurgimiento y avances

Después de la victoria histórica del 7 de enero de 1979, bajo el liderazgo del CPP, el pueblo camboyano se ha recuperado y se ha esforzado para superar las dificultades y reconstruir el país.

Soldados vietnamitas ayudan a agricultores camboyanos en el cultivo del arroz. Foto:VNA
Soldados vietnamitas ayudan a agricultores camboyanos en el cultivo del arroz. Foto:VNA

Tras cuatro décadas, Camboya ha logrado los éxitos en la causa de construcción y desarrollo nacional y se ha convertido en un país de paz y desarrollo sostenible que tiene relaciones amistosas con las naciones en la región y el mundo.

Durante los últimos años, la economía camboyana registra un crecimiento promedio de siete por ciento y figura entre las naciones con mayor incremento en el mundo según el Banco Mundial.

Phnom Penh ha garantizado la estabilidad macroeconómica, especialmente el tipo de cambio, y ha mantenido la tasa de inflación en un nivel bajo. El Producto Interno Bruto de este país aumentó de 10 mil 350 millones de dólares en 2008 a 22 mil 160 millones de dólares en 2017 y 24 mil 370 millones el año pasado. Las condiciones de vida de la población ha mejorado con un ingreso per cápita de mil 563 mil dólares en 2018, frente a mil 42 dólares en 2013.

Camboya ha transformado desde una economía basada en la agricultura en una apoyada por las industrias y los servicios. El incremento del sector de construcción es uno de los motores del crecimiento de este país.

En 2017, Camboya ha acelerado los proyectos de construcción de centros comerciales, restaurantes, hoteles y zonas urbanas en las metrópolis como Phnom Penh y Siem Reap. Más de tres mil  proyectos recibieron licencias para su construcción, mientras que 275 nuevas empresas especializadas en este sector fueron creadas.

El turismo es también un sector destacado de la economía camboyana. Según el Ministerio del ramo, en los primeros cuatro meses de 2018, más de dos millones 200 turistas extranjeros visitaron Camboya, un alza anual del 13,5 por ciento.

Los resultados positivos de la economía muestra el éxito de la implementación del Programa Político y la tercera fase de la Estrategia cuadrilátera del gobierno camboyano encabezado por el primer ministro Samdech Techo Hun Sen.

En los próximos años, el gobierno camboyano continúa realizando la mencionada Estrategia centrada en los objetivos del desarrollo industrial, agrícola, comercial y turístico, con el fin de asegurar la estabilidad macroeconómica, aumentar el salario para los funcionarios, personal de las fuerzas armadas, obreros y trabajadores, así como de garantizar el bienestar social.

El año pasado se celebraron con éxito las elecciones parlamentarias en esta nación con una victoria contundente del gobernante partido CPP. Ese resultado evidencia la aspiración y la confianza del pueblo camboyano en esa organización política.

Desde que tomó la dirección del país en 1979 hasta la fecha, el CPP siempre persiste en los objetivos de servir al interés del pueblo y construir un país próspero. Y los buenos resultados socioeconómicos en los años recientes constituyen una evidencia clara de las contribuciones del CPP por la paz y desarrollo nacional.

El triunfo del CPP en las recientes elecciones es un impulsor que estimula a los dirigentes del país en general, y de la agrupación en particular, continúan trabajando por un desarrollo estable e integral del país en lo adelante.

Ante los cambios de la situación mundial y regional, Camboya mantiene su política de integración siendo miembro activo de diversos mecanismos de cooperación regional como la Comisión del río Mekong y el Triángulo del Desarrollo Camboya- Laos- Vietnam.

Actualmente Phnom Penh tiene relaciones comerciales con unos 150 países y territorios y sigue ampliando la cooperación con las potencias, socios de desarrollo y Estados vecinos.

La fisonomía de Camboya se ha trasformado, más moderna y desarrollada. Bajo la dirección efectiva del gobierno, el pueblo camboyano conseguirá mayores logros en la construcción y desarrollo del país.

El Monumento de Amistad Vietnam- Camboya en la provincia de Mondulkiri.Foto:VNA
El Monumento de Amistad Vietnam- Camboya en la provincia de Mondulkiri.Foto:VNA

EVFTA : les entreprises vietnamiennes saisiront les opportunités et feront face à des défis

Après six ans, le processus de négociation de l’ Accord de libre-échange Vietnam-UE (EVFTA) s’est achevé et a ouvert de grandes possibilités pour les entreprises vietnamiennes voulant pénétrer un vaste marché de 508 millions d’habitants et un Produit intérieur brut (PIB) d’environ 18.000 milliards de dollars.

Considéré comme important et très significatif pour l’économie vietnamienne, une fois entré en vigueur, l’EVFTA rapportera 3,2 milliards de dollars au Vietnam d’ici 2020.

LEVIER DE CROISSANCE

Juste avant la signature de l’EVFTA, l’Union européenne (UE) était le troisième plus important partenaire commercial et l’un des deux plus grands marchés d’exportation du Vietnam, avec des échanges commerciaux bilatéraux de l’ordre de 50,4 milliards de dollars en 2017.

L’UE exemptera de taxes d’importation pendant 7 ans certains produits vietnamiens, tels que textile et chaussures.
L’UE exemptera de taxes d’importation pendant 7 ans certains produits vietnamiens, tels que textile et chaussures.

Selon des experts, avec l’engagement de réduire 99% des taxes sur les marchandises selon des étapes concrètes, cet accord offre la possibilité d’accroître les exportations de produits vietnamiens ayant des avantages compétitifs tels que: vêtements, chaussures, produits agricoles, meubles … Il s’agit du plus haut niveau d’engagement pour le Vietnam dans le cadre des accords de libre-échange négociés jusqu’à présent.

Une fois entrée en vigueur, les taxes douanières sur de nombreux articles seront ramenées à 0%.

Trân Ngoc Quân, chef adjoint du Département chargé des marchés d’Europe et des Etats-Unis au ministère de l’Industrie et du Commerce, a estimé que l’EVFTA créera des opportunités importantes et un double avantage pour les entreprises vietnamiennes, notamment dans le contexte où les concurrents du Vietnam ne sont pas parties cet accord.

Selon le ministre de l’Industrie et du Commerce Trân Tuân Anh, l’EVFTA est un accord de haute qualité, c’est pourquoi la réduction des taxes apportera des avantages considérables pour les entreprises, les secteurs et les produits du Vietnam.

La conférence de presse pour annoncer l’achèvement des négociations de l’Accord de libre-échange Vietnam-UE a eu lieu le 4 août 2015.
La conférence de presse pour annoncer l’achèvement des négociations de l’Accord de libre-échange Vietnam-UE a eu lieu le 4 août 2015.

Une fois entrée en vigueur, les taxes douanières sur de nombreux articles seront ramenées à 0%. Cela ouvrira l’opportunité pour les produits d’exportation du Vietnam, dont l’habillement et les chaussures, d’élargir leur marché.

Les experts ont déclaré que le Vietnam occupait toujours une position avantageuse car ses coûts de main-d’œuvre et de production étaient inférieurs à ceux des pays voisins.

Quant aux produits textiles, l’accord pourrait faire progresser de 1,54 milliard de dollars les exportations du secteur d’ici 2023 et de 5,82 milliards de dollars d’ici 2028.

Le Vietnam occupait toujours une position avantageuse car ses coûts de main-d’œuvre et de production étaient inférieurs à ceux des pays voisins, selon les experts.

Selon Vu Duc Giang, président de l’Association vietnamienne du textile et du vêtement (VITAS), l’objectif de 35 milliards de dollars d’exportation en 2018 est tout à fait réalisable.

Nguyên Duc Thuân, président de l’Association vietnamienne du cuir, de la chaussure et des sacs à main (LEFASO).
Nguyên Duc Thuân, président de l’Association vietnamienne du cuir, de la chaussure et des sacs à main (LEFASO).

Nguyên Duc Thuân, président de l’Association vietnamienne du cuir, de la chaussure et des sacs à main (LEFASO), a déclaré que lors de l’entrée en vigueur de l’EVFTA, un droit de douane de 0% s’appliquera sur environ 50 types de chaussures exportées vers l’Europe.

Les chaussures vietnamiennes bénéficieront d’une différence de taxe de 3,5 à 4,2% lorsqu’elles seront exportées vers l’UE, ce qui créera un énorme avantage concurrentiel vis-à-vis de la Chine, principal concurrent du Vietnam.

En même temps, le droit de douane de 0% s’appliquerait sur les sacs à main vietnamiens dans les 3 à 5 ans prochains. L’UE offre également des avantages unilatéraux pour un grand nombre de marchandises en provenance du Vietnam dans le cadre du système de préférences généralisées (SPG), ce qui aidera les sacs à main vietnamiens à devenir plus compétitifs que leurs concurrents chinois sur le marché de l’UE.

De nombreux producteurs de sacs à main étrangers ont délocalisé leurs activités de la Chine vers le Vietnam pour bénéficier de l’EVFTA, a déclaré Nguyên Duc Thuân.

Cependant, Nguyên Duc Thuân a également déclaré que le secteur était confronté à des difficultés en termes de sources de matières premières pour la production, ajoutant qu’il fallait prêter attention à la modernisation des chaînes de production, aidant ainsi le secteur à améliorer sa compétitivité sur les marchés régionaux et internationaux.

Lors de l’entrée en vigueur de l’EVFTA, un droit de douane de 0% s’appliquera sur environ 50 types de chaussures exportées vers l’Europe.
Lors de l’entrée en vigueur de l’EVFTA, un droit de douane de 0% s’appliquera sur environ 50 types de chaussures exportées vers l’Europe.

Selon le ministre Trân Tuân Anh, l’établissement de l’accord de libre-échange avec l’UE contribue au processus de création d’un environnement d’affaires et d’investissement plus ouvert, ce qui promouvra les investissements directs de l’UE et d’autres pays vers le Vietnam.

Avec 30,8 milliards de dollars d’IDE récoltés entre janvier et novembre 2018, l’environnement d’investissement et d’affaires du Vietnam s’améliorera considérablement grâce à l’EVFTA.

Actuellement, les investisseurs européens sont présents dans la plupart des secteurs économiques importants du Vietnam, se concentrant sur l’industrie manufacturière, de fabrication, de production, d’approvisionnement en électricité, gaz et eau, et l’industrie de hautes technologies.

En général, les investisseurs européens ont des avantages en termes de technologique et cela devrait rester une priorité pour l’UE. En fait, les investissements de l’UE ont contribué de manière positive à la création d’un certain nombre de nouveaux domaines et produits de haute technologie au Vietnam.

En particulier, l’UE est un partenaire de coopération intégrale avec le Vietnam vers le développement durable. C’est pourquoi, les deux parties disposent de grandes possibilités dans le transfert de technologies, la coopération dans la formation pour améliorer la qualité des ressources humaines et les compétences institutionnelles. C’est une bonne opportunité pour le Vietnam de s’intégrer davantage à l’économie mondiale.

AVEC BEAUCOUP DE PRESSIONS

Comme pour les autres accords de libre-échange, à côté des avantages, les entreprises domestiques devront faire face à certains défis.

Le ministre du Commerce et de l’Industrie, Trân Tuân Anh.
Le ministre du Commerce et de l’Industrie, Trân Tuân Anh.

Le ministre du Commerce et de l’Industrie, Trân Tuân Anh, a déclaré qu’outre les avantages évidents, l’EVFTA présente des défis auxquels les entreprises devront faire face.

Le Vietnam devra également s’engager à ouvrir ses marchés pour l’UE, créant ainsi une pression concurrentielle sur l’économie, les entreprises, le prix des marchandises et des services. “Cependant, c’est une compétition saine, de manière sélective et conforme à la feuille de route appropriée “, a déclaré le ministre Trân Tuân Anh.

L’EVFTA comprend également des règles et réglementations strictes concernant les formalités d’investissement, les douanes, la facilitation des échanges commerciaux, les normes techniques, les mesures de mise en quarantaine des animaux et végétaux, la propriété intellectuelle et l’achat gouvernemental, le développement durable, etc. La mise en œuvre complète de ces réglementations nécessite une réforme du système juridique du Vietnam.

Les entreprises exportant des marchandises vers l’UE devront certifier  l’origine de celle-ci  pour bénéficier du système de préférences  généralisées (SPG).
Les entreprises exportant des marchandises vers l’UE devront certifier l’origine de celle-ci pour bénéficier du système de préférences généralisées (SPG).

Les entreprises exportant des marchandises vers l’UE devront certifier l’origine de celle-ci pour bénéficier du SPG.

Vu Duc Giang, président de VITAS, a également évoqué certaines des difficultés rencontrées par les entreprises textiles vietnamiennes, qui doivent importer un grand volume de matières premières en provenance de nombreux pays. Chaque année, ce secteur utilise environ 820.000 tonnes de matériaux, dont environ 70% importés de Chine.

Vu Duc Giang a ajouté que les réglementations sur l’origine sont l’exigence la plus importante de l’EVFTA. En conséquence, les exportateurs vietnamiens de textiles et de vêtements doivent veiller à ce que leurs produits soient fabriqués à partir de matériaux d’origine nationale ou venant de pays ayant signé des accords commerciaux bilatéraux avec l’UE. Si le Vietnam respecte les réglementations, son industrie du textile et du vêtement sera probablement plus forte dans l’avenir.

Le Premier ministre Nguyên Xuân Phuc rencontre des entreprises lors du forum d’affaires Vietnam-UE et Belgique en octobre dernier à Bruxelles. 
Le Premier ministre Nguyên Xuân Phuc rencontre des entreprises lors du forum d’affaires Vietnam-UE et Belgique en octobre dernier à Bruxelles. 

Lors du forum d’affaires Vietnam-UE tenu en octobre dernier en Belgique, le Premier ministre Nguyên Xuân Phuc a souligné : ‘’On peut s’attendre à ce que l’EVFTA permette aux entreprises des deux parties de valoriser leurs grands potentiels de coopération. Le gouvernement vietnamien s’engage à faciliter les relations entre entreprises, à créer de nouvelles merveilles en matière de coopération et de réussite au profit des entreprises et des citoyens. La participation à l’EVFTA ouvrira de nombreuses opportunités, les saisir ou non dépend des entreprises.’’. – VNA

Lancées en juin 2012, les négociations sur l’EVFTA ne finirent qu’en 2015. Le Vietnam et l’UE ont ensuite poursuivi le processus juridique avant de le soumettre à des instances plus élevées pour préparer la signature officielle et l’approbation de cet accord. En septembre 2017, l’UE a officiellement présenté un nouveau format pour l’accord signé avec le Vietnam. L’UE a proposé de scinder en deux accords indépendants. L’un, appelé IPA, concerne l’investissement ; et l’autre, l’accord de libre-échange. Ce travail fut achevé en avril, et les derniers processus juridiques en juin dernier. Le 17 octobre dernier, la Commission européenne a annoncé la décision sur l’approbation de la soumission de l’EVFTA et l’IPA au Conseil européen pour signature officielle.

Marcus Rashford

Trong kỷ nguyên của những thương vụ trăm triệu euro, Marcus Rashford trở thành biểu tượng cho công tác đào tạo trẻ vốn là niềm tự hào của lịch sử Manchester United. Nhưng liệu cậu có thể vượt qua được thử thách lớn nhất trong sự nghiệp để có được chỗ đứng vững chắc trong hàng ngũ đội một Quỷ đỏ? Đừng đặt cược vào điều ngược lại.

Melanie Rashford bế cậu trai bé bỏng của mình đặt vào một chiếc ghế cao. Cậu bé đung đưa hai chân và mút ti giả đầy háo hức. Em dán mắt vào chiếc TV trong căn nhà ở vùng ngoại ô Withington của thành phố Manchester. Nhưng thay vì chăm chú với các phim hoạt hình Postman Pat hay Teletubbies như bao đứa trẻ đồng trang lứa khác, cậu bé lại bị cuốn hút bởi một trận bóng đá đang phát trên truyền hình. Mặc dù vậy, Melanie Rashford không để tâm đến chuyện đó, bà chỉ cần chút yên tĩnh trước khi bắt đầu ca trực ở một nhà cái.

Marcus bấy giờ mới chỉ 7 tháng tuổi, nhưng cậu đã đắm chìm vào bóng đá, để từ đó trở thành bước đi đầu tiên trên con đường trở thành một sao mai. Ngày đó, Marcus lẫn gia đình cậu vẫn chưa nhìn ra được con đường ấy. Song, chàng trai bé bỏng đã có sẵn trong mình một tài năng thiên bẩm, và một cuộc hành trình 18 năm bắt đầu. Trên hành trình ấy, cậu không đơn độc. Gia đình, những người thầy, thần tượng và cả đối thủ đã định hình nên sự chuyển mình từ một đứa bé cuồng say với quả bóng, đến một trong những tài năng xuất sắc của bóng đá thế giới.

Từ nhỏ, Rashford đã được chạm tay vào chiếc cúp Premier League
Từ nhỏ, Rashford đã được chạm tay vào chiếc cúp Premier League

Sinh ngày 31/10/1997, thành viên trẻ nhất của dòng họ Rashford đã tự mình tìm đến bóng đá ngay từ khi cậu có thể đứng vững trên đôi chân của mình. Từ khung cửa sổ căn phòng nhìn ra, hình ảnh hai người anh trai Dane và Dwaine cùng chơi bóng với đám bạn trong khoảnh sân vườn trở nên quen thuộc với Marcus. Chính khoảnh sân vườn đó đã trở thành sân bóng đầu tiên của cậu bé. “Thoạt đầu, Marcus toàn bám lấy chân chúng tôi, nhưng rất nhanh sau đó, em ấy tự học được cách giữ thăng bằng và giữ lấy quả bóng,” Dwaine chia sẻ.

Người anh trai bỏ ra số tiền 2 bảng Anh để cậu em bé bỏng có thể tham gia vào một buổi tập luyện. Dwaine tò mò muốn nhìn xem người em trai của mình có thể làm được gì, và anh hoàn toàn kinh ngạc khi chứng kiến cậu em đi bóng xuyên qua ba cầu thủ cùng lúc để chuyền bóng cho đồng đội ghi bàn.

Trong mắt gia đình, Marcus là một đứa trẻ hồn nhiên, vui tươi như bao cậu nhóc khác; cậu bé thích chơi điện tử và vui đùa cùng chúng bạn. Song, tài năng đặc biệt của cậu dần trở nên rõ ràng. Không lâu sau sinh nhật 5 tuổi của mình, Marcus được anh trai Dwaine dẫn đến một CLB địa phương, Fletcher Moss Rangers.

Người anh trai bỏ ra số tiền 2 bảng Anh để cậu em bé bỏng có thể tham gia vào một buổi tập luyện. Dwaine tò mò muốn nhìn xem người em trai của mình có thể làm được gì, và anh hoàn toàn kinh ngạc khi chứng kiến cậu em đi bóng xuyên qua ba cầu thủ cùng lúc để chuyền bóng cho đồng đội ghi bàn. “Em ấy kể với tôi là đã học được chiêu đó từ trò chơi điện tử FIFA!” Dwaine hồi tưởng lại.

Những sân cỏ của khu Merseybank đã trở thành mảnh đất ươm mầm cho sự nghiệp bóng đá của Marcus. Còn Fletcher Moss đã là một môi trường lý tưởng của những tài năng bóng đá trong suốt 31 năm. Wes Brown, Danny Welbeck, Ravel Morrison, Tyler Blackett và Jesse Lingard tất cả đều chơi cho đội nghiệp dư của CLB trước khi gia nhập Manchester Utd. 16 cựu cầu thủ của nơi này hiện đang thi đấu khắp nước Anh trải dài qua nhiều lứa tuổi. Và còn rất nhiều gương mặt khác, chẳng hạn thủ thành Keiren Westwood của Sheffield Wednesday, đều bước tiếp lên nấc thang chuyên nghiệp.

Hai năm kể từ ngày Rashford có buổi tập đầu tiên, CLB nhận thấy họ đang sở hữu một viên ngọc thô đầy hứa hẹn. “Cậu ấy ở một đẳng cấp hoàn toàn khác với các cậu bé khác chơi bóng ở Sunday League,” người đứng đầu công tác đào tạo của học viện bóng đá Fletcher Moss, Dave Horrocks cho biết. Marcus sớm tự mình tỏa sáng để mang về chiến thắng cho đội bóng, và người thầy cũ của cậu vẫn còn nhớ như in cái ngày tài năng của chàng trai này trở nên rành rành. Lúc đó, Marcus và các đồng đội ở đội U7 tham gia một giải đấu ở Manchester thì Horrocks nhận được một cuộc gọi từ HLV của một CLB nọ. “Ông ta nói với tôi rằng Marcus đang biến sân đấu trở thành show diễn của riêng mình và tin rằng cậu ấy thậm chí có thể chơi với cả hai quả bóng trên sân.”

Các tuyển trạch viên từ Everton, Liverpool, Manchester City, United và một loạt các đại diện đến từ những CLB khác đều dõi theo Marcus ngày hôm đó. Ban đầu, cậu bắt đầu tập luyện với Man City tại cơ ngơi cũ của CLB này là Platt Lane, trước khi United chen vào bằng cách gọi điện cho Horrocks và đề nghị ông chở Marcus đến The Cliff.

Rashford vốn là một fan của United và gia đình cậu cũng cảm thấy CLB này là nơi thích hợp để phát triển hơn là CLB kình địch cùng thành phố. “Marcus từng chơi bóng rất cá nhân,” Dwaine tiết lộ. “Em ấy rất kỹ thuật và mạnh ở những pha một đối một, vì thế chúng tôi nghĩ United sẽ là nơi thực sự nâng tầm cho những phẩm chất đó của em ấy.”

Giờ Rashford đã là một ngôi sao chói sáng ở Old Trafford
Giờ Rashford đã là một ngôi sao chói sáng ở Old Trafford

Năm 7 tuổi, Marcus tham gia chương trình trù bị của học viện Manchester Utd. Ở đó, cậu ngay lập tức gây ấn tượng với ban huấn luyện bằng khả năng vận dụng thế mạnh thể trạng của mình. “Một trong những điểm đầu tiên chúng tôi quan sát ở các cầu thủ trẻ chính là cách họ di chuyển, có bóng lẫn không bóng,” cựu HLV đội trẻ của United, Paul McGuinness cho biết.

“Anh không bao giờ có thể biết chắc được, nhưng những điểm đó giúp chúng tôi đánh giá liệu các cầu thủ trẻ có thể trở thành một vận động viên được hay không. Tôi từng chứng kiến rất nhiều tài năng trẻ có kỹ thuật rất giỏi, nhưng đến năm 12 hay 13 tuổi thì không thể phát triển tiếp, bởi vì xét ở thể trạng, họ không đáp ứng yêu cầu. Nhưng Marcus thì lại khác, cậu ấy di chuyển rất khôn ngoan. Cậu ấy rất nhanh và giỏi luồn lách.”

Những ưu điểm về thể trạng cũng giúp Rashford tỏa sáng ở các môn thể thao khác. Cậu từng chơi xuất sắc môn cricket ở các vị trí batsman lẫn bowler; cũng như có năng khiếu ở cả tennis, bóng bàn và bi-da. “Marcus rất nhanh tay tinh mắt,” Dwaine giải thích. Mặc dù bóng đá vẫn luôn là tình yêu đích thực, nhưng đến lúc này, cậu vẫn thường xuyên xem các Trận đấu thể nghiệm (Test match) trên TV.

“Tôi từng chứng kiến rất nhiều tài năng trẻ có kỹ thuật rất giỏi, nhưng đến năm 12 hay 13 tuổi thì không thể phát triển tiếp, bởi vì xét ở thể trạng, họ không đáp ứng yêu cầu. Nhưng Marcus thì lại khác”

Lớn hơn một chút, Marcus bắt đầu cùng anh trai Dwaine và một vài người bạn của anh mình tham môn bóng đá thân cứ mỗi khi thi đấu xong cho đội Sunday League. “Bọn trẻ ai nấy cũng nhìn thấy em trai tôi giỏi ra sao,” Dwaine kể lại. “Tôi cũng cho rằng việc chơi bóng và làm quen với những đứa trẻ khác giúp ích rất nhiều cho sự phát triển trong tương lai của Marcus, vì em ấy sẽ không cảm thấy ngại ngùng trước bất cứ điều gì.”

United đồng tình với điều này. Khi Marcus lên 11 tuổi, cậu trở thành cầu thủ trẻ tuổi nhất từng được góp mặt vào hàng ngũ Manchester United Schoolboy Scholars. Những cậu bé tài năng nhất trong độ tuổi từ 12 đến 16 được tuyển chọn để tập luyện cùng nhau theo một chương trình toàn thời gian. Mỗi cầu thủ cũng phải chuyển đến sống ở các khu căn hộ và theo học ở một học viện đối tác của Quỷ đỏ, là Ashton-on-Mersey, thuộc vùng Sale.

Sau quá trình xem xét kỹ lưỡng, gia đình Marcus quyết định để cậu chuyển đến sống với Maria, người chủ nhà từng chăm nom cho Gerard Pique. “Để em ấy chuyển đến đó là một quyết định hết sức quan trọng,” vẫn lời của Dwaine. “Chúng tôi đã gặp bà ấy nhiều lần và tin rằng Marcus sẽ cảm thấy thoải mái ở đó. Em ấy còn ở chung với một học viên khác của CLB (tiền vệ Tom Lawrence của Derby County), thế nên chúng tôi biết rõ mọi thứ rồi sẽ ổn với Marcus.”

Chỗ ở mới của Rashford cách không xa gia đình của cậu. Trong khi từ nơi ở đến trường, cậu được xe buýt mini của CLB đưa đón. Những buổi tập luyện diễn ra mỗi ngày trong tuần vào buổi chiều, bao gồm một ngày trọn vẹn mỗi tuần ở lại CLB. Marcus sớm bắt đầu trưởng thành khi chơi bóng bên cạnh những cầu thủ lớn tuổi hơn – như cái thuở cậu chơi bóng trong khoảnh sân vườn với hai người anh trai. United xây dựng một vài sân bóng có hàng rào để mở ra không gian vừa học vừa chơi cho các cầu thủ. Trong các không gian nhỏ đó, những cầu thủ ở mọi lứa tuổi lớn bé đều có thể thi đấu với nhau.

“Những cậu bé này chơi các trận bóng 8 đấu 8 hoặc 7 đấu 7 để cải thiện tốc độ suy nghĩ cũng như cả kỹ năng xử lý bóng,” McGuinness nói. “Lúc 12 tuổi, Marcus chơi trong các sân bóng bọc hàng rào với Paul Pogba, Lingard và Ravel Morrison, tất cả đều 16 tuổi. Cậu ấy học hỏi từ những cầu thủ này, nhưng vẫn có thể tự thể hiện được bản thân.”

Những kỹ năng mà Marcus có được không chỉ xuất phát từ việc cậu được chơi bóng từ bé bên cạnh Pogba. Đó còn là kết quả của một sự ám ảnh hoàn thiện bản thân. Rashford trải qua hàng ngàn giờ tập luyện và xem bóng đá để tự rèn luyện. HLV đội U16 của United, Neil Ryan từng là người đưa đón Marcus đến sân tập, và ông vẫn còn nhớ rất rõ mỗi hành trình ấy bắt đầu và kết thúc ra sao.

“Khi tôi đến đón Marcus, cậu ấy thường luyện đá bóng bên ngoài căn nhà. Cậu bé hay đá quả bóng lên mái nhà rồi khi nó rớt xuống, Marcus dùng nhiều bộ phận của cơ thể để khống chế nó. Lúc xuống xe, Marcus lập tức chạy ra sân hoặc xem những cầu thủ như Cristiano Ronaldo hay Lionel Messi trên TV. Chính việc học tập từ những cầu thủ này đã ảnh hưởng rất nhiều đến cậu ấy.”

Thời điểm những kỹ năng của Marcus ngày càng tiến bộ, cũng là lúc cậu trải qua giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt của thể chất kéo dài 12 tháng. Quãng thời gian này đã cản trợ sự phát triển của Marcus. “Nó thật sự tác động đến cậu ấy,” Ryan giải thích. “Cậu ấy không còn di chuyển nhanh nhẹn và cứ như thể đánh mất tốc độ. Có thời điểm, Marcus muốn chơi ở vị trí tiền vệ phòng ngự để đối phó lại việc không còn giữ được tốc độ như trước.”

Những kỹ năng mà Marcus có được không chỉ xuất phát từ việc cậu được chơi bóng từ bé bên cạnh Pogba. Đó còn là kết quả của một sự ám ảnh hoàn thiện bản thân.

May mắn thay, United đã từng chứng kiến tình trạng này với những trường hợp trước đó như Lingard. Họ hiểu rằng, chính sự kiên trì sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình thích ứng với thể chất mới của Marcus. “Những cầu thủ trẻ có lúc sẽ xuống phong độ và Marcus cũng như vậy,” vẫn lời Ryan. “Có những trận đấu mà anh không nhận ra cậu ấy đang có mặt trên sân, nhưng sang tuần tiếp theo, cậu ấy bỗng tỏa sáng bằng kỹ năng của mình. Chúng tôi biết rõ rằng Marcus sẽ phát triển thể chất, rồi tốc độ cũng sẽ trở lại và cậu ấy sẽ đương đầu được với các cầu thủ cao to khác.”

Cũng trong suốt giai đoạn này, các HLV nhận thấy sự trưởng thành về mặt tinh thần của Marcus để sẵn sàng cho nấc thang bóng đá chuyên nghiệp. Cậu tập luyện nhiều hơn để cải thiện những thế mạnh cốt lõi, và ai nấy ở học viện cũng dễ dàng nhìn thấy những màn thi hít đất giữa Marcus với người đồng đội Axel Tuanzebe.

“Thời điểm đó, cậu ấy sẵn sàng đối đầu với các cậu bé nhiều tuổi hơn, nghiến răng cho thấy rõ sự quyết tâm của mình,” Ryan kể lại. “Chuyện đó nó cũng quan trọng như việc rèn luyện các kỹ năng chơi bóng vậy.” Ngoài ra, Marcus luôn được các đồng đội quý mến. “Ngay cả lúc gặp khó khăn, cậu ấy vẫn luôn niềm nở tươi cười,” Ryan tiếp tục. “Marcus là một cậu bé ngoan hiền nổi bật. Khó mà nhớ ra được một ngày nào mà cậu ấy mang đến những rắc rối trong học viện.”

Rashford ban đầu là một cầu thủ chạy cánh phải truyền thống, nhưng tài năng đã cho phép cậu chơi được ở nhiều vị trí khác nhau trên hàng công. “Cậu ấy khiến tôi nhớ một chút về Danny Welbeck,” McGuinness chia sẻ. “Danny có thể chơi được ở nhiều vị trí và có kỹ thuật rất tốt. Nhưng có một điểm mà chúng tôi muốn làm với Marcus – mà đáng lẽ ra đã phải áp dụng sớm hơn một chút với Danny – chính là biến cậu ấy thành một tay săn bàn thực thụ. Marcus rất thích được chơi ở vị trí số 10, nhưng chúng tôi nói thẳng với cậu ấy, ‘Xem này, em có tốc độ, các thầy cũng nghĩ em có thể cao lên tới ít nhất là 1m80, và em lại còn có thể qua người nữa. Em là một trung phong nguyên mẫu, nhưng em sẽ cần phải ghi nhiều bàn hơn nữa.”

Thế là bắt đầu một quá trình đào tạo nghệ thuật săn bàn kỹ càng kéo dài 2 năm dành cho Marcus. HLV đội U18 Colin Little trực tiếp làm việc cùng Rashford để cải thiện khả năng chạy chỗ xâm nhập vào vòng cấm của cậu. “Cậu ấy cực giỏi ở khả năng lùi xuống thấp, nhưng tôi muốn cậu ấy học cách di chuyển ở những điểm mù đối phương,” McGuinness lý giải. “Một điều nữa mà chúng tôi cũng tập luyện rất nhiều chính là khả năng đón bóng ở tư thế xoay dọc cơ thể. Chúng tôi bảo cậu ấy phải học cách liên lạc bằng mắt với người chuyền bóng để có thể thực hiện những pha di chuyển từ phía sau đối thủ vào đúng thời điểm và tung ra cú dứt điểm. Nếu cậu ấy không thể làm được, Marcus cần phải di chuyển quãng ngắn và xông vào đối thủ.”

Quá trình học tập của Rashford còn diễn ra ở nhà khi cậu nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình đào tạo những tiền đạo do CLB viết ra. “Cậu ấy nhắn tin với tôi, cho biết là đã đọc xong giáo trình, rồi bắt đầu đặt ra các câu hỏi,” McGuinness tiết lộ. “Tôi còn nhớ có lần Marcus gửi tin nhắn nói về những cầu thủ khác mà cậu ấy đã xem được. Cậu ấy nói, ‘Paul, thầy có thấy cách Sergio Aguero di chuyển sau lưng hậu vệ đối phương không?’ Thế là cậu ấy bắt đầu thêm thắt những thứ này từ các chân sút khác vào bộ kỹ năng của mình.” Chậm mà chắc, những nỗ lực bắt đầu mang đến quả ngọt. Trong một trận đấu cấp học viện với Everton, Marcus hai lần di chuyển phía sau hàng thủ đối phương không thành công, nhưng đến lần thứ ba thì cậu thành công để đón lấy pha chọc khe từ đồng đội, xoay người và tung ra pha dứt điểm. “Chứng kiến xong pha đó tôi đã thầm nghĩ, ‘Ngon, thằng bé nắm bắt được rồi’,” McGuinness bộc bạch.

Ở tuổi 17, Rashford đã sẵn sàng để thi đấu cho đội dự bị của CLB. Nhưng  United quyết định giữ cậu ở lại học viện để Marcus có thể tiếp tục học cách săn bàn nhờ vào việc được đối đầu thường xuyên trước các hậu vệ nhỏ con và ít tuổi. CLB hy vọng cậu sẽ gặt hái được thành công nhiều hơn, cũng như gia tăng sự tự tin trong tương lai. “Nếu lên đội dự bị, cậu ấy sẽ khó có thể có được cơ hội tập luyện với chất lượng tương tự, bởi vì các hậu vệ ở đó không những to cao hơn mà còn có nhiều kinh nghiệm hơn,” McGuinness cho biết. “Ngoài ra, ở đó, sự chú trọng nằm ở kết quả thay vì sự phát triển của cầu thủ, và như vậy sẽ không có ích cho sự phát triển của Marcus.” Song, United đã không biết trước được rằng họ không thể giữ chân cậu ở lại học viện lâu hơn.

Ngày 25/2/2016, cuộc khủng hoảng chấn thương đồng nghĩa với việc Marcus được tung ra sân trong đội hình xuất phát của United trên sân nhà trước FC Midtjyland ở lượt về vòng đấu 32 đội Europa League. Cái tên của cậu khi đó vẫn còn quá xa lạ với hầu hết nhiều người, ngoại trừ những người hâm mộ cuồng say nhất của CLB.

Nhưng sau 90 phút bóng lăn cùng hai bàn thắng ghi được, cái tên ‘Rashford’ bắt đầu được xướng lên đầy mãnh liệt trên khắp các khán đài Old Trafford và tạo nên một cơn sốt trên mạng xã hội. Ba ngày sau đó, Marcus có thêm một cú đúp khác trong màn ra mắt ở Premier League trước Arsenal. Màn trình diễn ấy đã khiến cho người thầy cũ Horrocks ở Fletcher Moss phải bật khóc trong sung sướng trên khán đài. “Tôi đã nhảy lên nhảy xuống đầy vui mừng và không kiềm được nước mắt,” ông thừa nhận.

Tháng sau đó, Marcus trở thành chân sút ghi bàn trẻ nhất trong một trận derby thành Manchester, 18 tuổi 141 ngày. United thắng trận 1-0. Hai tháng sau đó nữa, sự nghiệp đầy kinh ngạc của Rashford được tiếp nối với bàn thắng ngay ở phút thứ ba trong trận ra mắt tuyển Anh – chiến thắng 2-1 trước tuyển Australia.

Một ngôi sao vừa chào đời, nhưng với những người thân nhất gắn bó cùng Marcus, liệu họ có cảm thấy bất ngờ? “Để gặt hái thành công chỉ sau một đêm, Rashford đã phải trải qua chặng đường 10 năm phát triển,” Ryan khẳng định. “Tôi chỉ bất ngờ là cậu ấy lại có được cơ hội sớm đến vậy, nhưng cậu ấy sẽ không dừng lại ở đấy.” Horrocks thì tin rằng Marcus đã sẵn sàng để tiến lên một nấc thang mới của sự nghiệp. “Howard Wilkinson từng nói, ‘May mắn là khi sự chuẩn bị gặp được cơ hội’ và tôi điều đó đúng với Marcus – cậu ấy đã có sẵn trong tay những công cụ để bắt lấy cơ hội khi nó tìm đến.”

Còn trong căn nhà của mình, gia đình của Marcus đặt ra những mục tiêu phấn đấu mới cho cậu. “Chúng tôi luôn mang đến cho Marcus những mục tiêu nho nhỏ, và một trong số đó chính là được dự Euro mùa hè năm đó,” Dwaine chia sẻ. “Theo Walcott từng dự World Cup năm 16 tuổi và Wayne Rooney thì chỉ 18 tuổi là có mặt ở Euro 2004. Thế nên chúng tôi nói với em ấy, ‘Với tài năng của mình, em sẽ góp mặt vào đội hình tuyển quốc gia đầy bất ngờ trong mắt nhiều người.”

Màn trình diễn của Rashford trong chiến thắng 4-1 vừa qua của Quỷ đỏ trước Bournemouth, hay trong chiến thắng 2-0 mới đây trước Newcastle Utd mang đến nhiều dấu hiệu tích cực.

Và đó chính xác là thứ mà Rashford đã làm được khi có tên trong đội hình tuyển Anh ở Euro 2016. Ngôi sao mai này thoải mái thi đấu trong những lần ra sân từ băng ghế dự bị. Dẫu vậy, Marcus vẫn không thể được đá chính một trận nào dưới thời Roy Hodgson và tuyển Anh bị loại khỏi giải đấu ở vòng 16 đội bởi Iceland. Trở về Old Trafford, việc ra sân thi đấu ít không còn là vấn đề. Marcus ghi thêm 11 bàn nữa trong 59 trận đấu dưới màu áo CLB lẫn tuyển quốc gia vào mùa giải 2016-17.

Tuy nhiên, mùa giải 2017/18 và giai đoạn đầu mùa giải hiện tại dưới thời Jose Mourinho, Rashford phải đối đầu với những thử thách. Sự có mặt của Alexis Sanchez đầu năm 2018 khiến anh mất đi nhiều cơ hội ra sân. Đồng thời, chiến thuật bảo thủ của vị HLV người Bồ Đào Nha đã gò bó khả năng của những cầu thủ tấn công tại Man Utd, trong đó có Rashford. Mỗi khi có được cơ hội trước khung thành đối thủ, hay không gian để mở ra một cơ hội tấn công, Rashford mất đi những phẩm chất mà người hâm mộ tại Old Trafford từng nhìn thấy ở anh trong mùa giải đầu tiên. Nhưng giờ đây, dưới thời Ole Gunnar Solskjaer, cầu thủ 21 tuổi cùng các đồng đội đã bắt đầu trở mình.

Màn trình diễn của Rashford trong chiến thắng 4-1 vừa qua của Quỷ đỏ trước Bournemouth, hay trong chiến thắng 2-0 mới đây trước Newcastle Utd mang đến nhiều dấu hiệu tích cực. Trong vai trò của một trung phong trên hàng công, Rashford thi đấu đầy năng lượng và tìm lại hình ảnh ngày trước.

Rashford đang có phong độ ấn tượng dưới thời Solskjaer.
Rashford đang có phong độ ấn tượng dưới thời Solskjaer.

Lần đầu tiên trong mùa giải hiện tại, Rashford đá chính 3 trận liên tiếp ở Premier League trong vai trò của một trung phong. 3 bàn thắng sau 4 trận đã là một con số ấn tượng, nhưng những con số phân tích còn phản ánh được nhiều điều hơn nữa về sự lột xác của cầu thủ người Anh. Một khi được dở bỏ gánh nặng của việc tham gia phòng ngự thường trực, những chỉ số tấn công cũng vì thế gia tăng. Dưới thời Solskjaer, trung bình mỗi 90 phút, Rashford rê dắt bóng thành công 2,21 lần – con số gần như gấp đôi so với thời Mourinho ở mùa giải hiện tại (1,16 lần).

Tương tự như thế, cứ mỗi 90 phút dưới thời HLV người Na Uy, anh lại thực hiện 4,97 pha dứt điểm; trong khi con số dưới thời Mourinho chỉ là 1,63 lần. Được giải phóng trong vai trò trung phong, Rashford giờ đây được thi đấu cao hơn trên sân, vì vậy khả năng tiếp cận vòng cấm đối phương cũng tăng lên: số pha chạm bóng trong vòng 16m50 của đối thủ lần lượt là 8,01 lần dưới thời Solskjaer và 3,16 lần dưới thời Mourinho.

Có lẽ, Solskjaer, người từng là một tiền đạo – một sát thủ chớp thời cơ – chính là người mà Rashford bấy lâu nay cần có bên cạnh để đưa ra những lời khuyên bổ ích. Ngay cả trước khi ngồi vào ghế nóng ở sân Old Trafford, Solskjaer đã từng gặp Rashford sau trận đấu trước Young Boys ở vòng bảng Champions League. Trận đấu ấy, cầu thủ người Anh bỏ lỡ nhiều cơ hội, nhưng Solskjaer đã nói với anh rằng: “Đừng lo nhóc, chỉ cần thả lỏng một chút là được.”

Thả lỏng một chút, bình tĩnh một chút, chính là thứ được nhìn thấy trong bàn thắng của Rashford vào lưới Newcastle: không chế đường bóng từ Alexis Sanchez, chờ đợi thủ thành Dubravka bắt đầu di chuyển và rồi nhẹ nhàng đẩy quả bóng vượt qua.

Thả lỏng trên sân, nhưng bên ngoài, Marcus vẫn miệt mài tiếp tục làm mọi thứ có thể để cải thiện hết mức những tố chất của mình. Nếu như ngày đầu gia nhập United, Rashford thường dõi theo những buổi tập của Cristiano Ronaldo ở phòng gym của Carrington, thì giờ đây, cậu đã tự thêm vào những bài tập nặng và khắt khe trong chế độ luyện tập hàng ngày của mình.

Dwaine giờ trở thành người đại diện của Marcus và một công ty trung gian được thuê để quản lý các hoạt động PR của cậu. Nhưng có một thứ vẫn vẹn nguyên, đấy chính là tính cách của Marcus.

Đổi lại là một thân hình trở nên cường tráng hơn. Cơ thể của Marcus dần thay đổi, và bản hồ sơ về cầu thủ này cũng thế. Dwaine giờ trở thành người đại diện của Marcus và một công ty trung gian được thuê để quản lý các hoạt động PR của cậu. Nhưng có một thứ vẫn vẹn nguyên, đấy chính là tính cách của Marcus. Trong những giờ phút rảnh rang, Marcus vẫn chơi trò xe điện đụng, và xem những tựa phim ưa thích ở rạp chiếu bóng gần nhà với những người bạn thân thiết đã luôn bên cạnh cậu từ năm lên 7.

Và còn nữa, Marcus Rashford vẫn giữ được thói quen xem những trận bóng đá trên TV trong căn nhà của mình. Chỉ có điều, cậu không còn ngồi trên một chiếc ghế cao và miệng ngậm ti giả.

柬埔寨从废墟中重获新生

柬埔寨于1979年1月7日推翻波尔布特种族灭绝政权。40年,历代柬埔寨人民一直铭记该日子,将其视为民族历史中最重要的事件。40年后,柬埔寨国家和人民已从废墟中逐渐恢复,建设国家,实现民族和解与和谐,促进经济社会发展,努力稳定政治,维护和平,推动柬埔寨融入地区和国际进程。

波尔布特——残暴的种族灭绝制度

历史记载了柬埔寨国家和人民于1975年4月17日胜利结束抗美救国战争的重要里程碑。然而,柬埔寨人民不及庆祝胜利果实就陷入由波尔布特、英萨利和乔森潘为首的波尔布特集团实施的种族大屠杀,让柬埔寨民族濒危灭绝的危机。

  • vnapotal40-1546588202-15.jpg
  • vnapotal40-1546588280-97.jpg
  • vnapotal40-1546588410-93.jpg
  • vnapotal40-1546588451-57.jpg
  • vnapotal40-1546588490-57.jpg
  • vnapotal40-1546588499-88.jpg
  • vnapotal40-1546590056-66.jpg

波尔布特政权尽管尽在1975年至1979年3年20天内存在,但其对柬埔寨人民的残暴种植灭绝、强迫劳役、酷刑和处决已把该国家变成人间地狱,该国境内处处都是殺戮战场和集体公墓,学校或寺庙都变成拘留数百万名无辜平民的监狱。

在波尔布特政权统治时期,300多万名无辜的柬埔寨平民被杀死,柬埔寨民族濒危灭绝危机。数十万名柬埔寨人已离开家园,跑到越南避难。

波尔布特集团不仅在柬埔寨实行种族灭绝政策、背叛该国国家和人民的革命事业,而还破坏越南与柬埔寨两国人民的团结友谊传统,侵犯了越南西南边境地区。

自抗美战争末期(1970-1975),波尔布特军已赴柬埔寨战场的越南干部和部队攻击、绑架和杀害;致使柬埔寨共产主义者内部出现分歧。

  • vnapotal40-1546588837-50.jpg
  • vnapotal40-1546588863-57.jpg
  • vnapotal40-1546588898-60.jpg
  • vnapotal40-1546588929-11.jpg
  • vnapotal40-1546588945-44.jpg
  • vnapotal40-1546588973-1.jpg

1975年,在越南国家刚实现统一后,波尔布特已派军侵犯越南西南地区各岛屿和边境地区,开枪打死和杀害富国和土朱岛数百名平民。1975年末1976年初,波尔布特军突然进军越南境内,造成许多罪恶。

1976年1月,由波尔布特为总书记的柬埔寨共产党第六次代表大会已确定,“需注意的大灾祸为越南”。在此期间,受外部的帮助,波尔布特已推进军事破坏和挑衅行动,侵占越南西南边境地区。1976年,在第七军区上,波尔布特军280次挑衅,侵占边境地区20处。与此同时,波尔布特集团加大宣传抹黑越南形象,煽动反越南心里,将越南视为“历代的敌人” 或 “第一敌人”。

不顾越南和平外交的努力,波尔布特集团加大宣传歪曲历史力度,主动挑衅引发冲突,侵占越南西南边境,动员巨大军事力量、数十个主力师和许多地方团发起越南西南边境地带的侵略战争。他们到处均破坏村庄,杀害平民,不顾老幼妇孺。

在近两年的时间中,波尔布特军已杀害和拘留越南边境乡3万名平民,40万居民失去家园,3000多间房屋荒废,烧毁许多教堂、学校和寺庙。

1977年4月30日,利用我军纪念南方解放,国家统一两周年,波尔布特集团对安江省边境全线发起进攻,正式启动侵略越南西南边境地带的战争。

在波尔布特军悍然侵略行为和他们对我们同胞的野蛮罪恶, 越南党、国家、军队和人民已站起来,履行自己正当和神圣的自卫权,努力捍卫祖国领土主权和领土完整,维护人民生命和财产。

1978年6月中期,中央政治局和中央军委决定发起人民战争,以一切力量坚决主动和不间断地攻击敌人,消灭和消耗敌人一部分重要力量。

1978年12月,中央政治局和中央军委通过对敌人发起总反攻,进攻消灭敌人的决定,胜利完成捍卫国家西南边境的战争,同时准备力量,随时能援助柬埔寨革命武装力量崛起,推翻波尔布特种族灭绝制度,争取政权。

历史性的胜利

1978年5月至11月,在越方的支持与帮助下,柬埔寨革命武装部队成立了15个团。1978年12月2日,柬埔寨民族团结救国阵线成立,发布了革命纲领,展现出了爱国主义者的决心,即团结所有力量,推翻波尔布特集团,消除残暴的种族灭绝政权,建立人民民主制度,与越南及世界热爱和平、正义的人民加强团结友谊,呼吁各国政府及国际组织为柬埔寨人民的正义斗争提供声援。

1978年12月23日,越南志愿军和柬埔寨革命武装部队在全部边界线开展了全面攻击。三天后,波尔布特军所有的外部防御力量收到了重创。12月31日越南军民出色的完成了任务,把波尔布特军全部赶出国家领土。

1979年1月6日,越南志愿军同柬埔寨民族团结救国阵线联手攻占了柬埔寨首都金边,推翻了波尔布特政权。1月7日上午,金边获得解放。这是波尔布特残暴政权侵占越南并在柬埔寨进行种族灭绝的必然结局。

1979年1月7日成为柬埔寨历史上一个重要的日子,是一个民族获得新生的关键时刻。

本着同甘共苦、互帮互助的精神,越南志愿军用自己的鲜血同柬埔寨武装部队及人民配合推翻了波尔布特政权,保护祖国领土完整,同时协助柬埔寨摆脱了种族灭绝制度,为柬埔寨人民带来了自由与幸福。

越南志愿军和柬埔寨革命军解放金边。图自越通社
越南志愿军和柬埔寨革命军解放金边。图自越通社

这一历史性事件再次展现出了越南人民的独立自主、民族大团结和无私奉献精神,坚决打击反动分子的所有破坏行为,牢牢捍卫祖国独立主权和领土完整。同时彰显了越南党、政府和军民对柬埔寨人民的始终如一、无私奉献和崇高的国际主义精神。

柬埔寨人民党《Procheachol》报近日发布社论强调,1979年1月7日取得的胜利是柬埔寨历史无可磨灭的胜利,为柬埔寨取得一系列的成就奠定了基础。

柬埔寨资料中心(DCCAM)主任尤赤汉(Youk Chhang)在接受越通社记者的采访时认为,越南志愿军的出现扭转了柬埔寨直至现在的历史,给柬埔寨人民带来重生的机会。

1979年1月7日上午柬埔寨革命军进入金边皇宫。图自越通社
1979年1月7日上午柬埔寨革命军进入金边皇宫。图自越通社

尤赤汉认为,越南志愿军帮助柬埔寨推翻红色高棉种族灭绝制度是在两国特定的历史和地缘政治环境下产生的。因为红色高棉已残酷杀害了无数柬埔寨人。而越南志愿军的出现是“重要瓶颈突破点”,红色高棉政权不可能通过谈判解决而必须通过军事方式来解决。

柬埔寨柬新社(AKP)副社长乔占达拉(Keo Chandara)表示,柬埔寨和世界都普遍承认,若没有1979年1月7日的胜利就没有柬埔寨民族和国家的重生。若没有兄弟般的越南,柬埔寨不可能取得最后的胜利和今天的成就。这是无可否认的事实。

澳大利亚记者、柬埔寨国民议会办公厅媒体顾问彼得•斯塔尔(Peter Starr)认为,1979年1月7日是柬埔寨所有人的一个重大日子。若没有越南志愿军的帮助,数万甚至数十万柬埔寨人将被杀害。

  • vnapotal40-1546590808-71.jpg
  • vnapotal40-1546590810-92.jpg
  • vnapotal40-1546590819-68.jpg
  • vnapotal40-1546590825-68.jpg
  • vnapotal40-1546590872-84.jpg
  • vnapotal40-1546590905-65.jpg

重获新生并继续实现繁荣发展

1979年1月7日获得历史性胜利之后,在柬埔寨人民党(CPP)的领导下,柬埔寨各族人民获得了新生,并竭尽全力度过困难和挑战,使柬埔寨从战争和波尔布特种族灭绝制度残留的战争灰烬中走了出来。

历经40年后,柬埔寨如今在国家建设与保卫事业中已取得了巨大成就,并真正成为和平与稳定发展的国家,与地区和世界各国建立了友好关系。

越南部队帮助柬埔寨人民收获水稻。图自越通社
越南部队帮助柬埔寨人民收获水稻。图自越通社

多年来,柬埔寨经济一直保持在7%的增长水平,并被世界银行列入高增长国家行列。与此同时,柬埔寨宏观经济一直保持稳定,汇率稳定,通胀率控制在较低水平。柬埔寨国内生产总值(GDP)从2008年的103.5亿美元提升至2017年的221.6亿美元,2018年达243.7亿美元等。柬埔寨人民生活质量日益提升。2018年人均收入达1563美元(2013年为1042美元)。 柬埔寨正从依赖于农业发展的国家向工业和服务业发展的国家转型,建筑业的增长是柬埔寨经济增长的主要动力,为人民创造了就业机会。2017年,柬埔寨加大购物中心、餐厅、酒店、新居民区等项目的建设力度。2017年,柬埔寨获批建设项目约3050个,新成立的建设公司达275家。

  • campuchia-1546592323-82.jpg
  • 30589cungd-1546592330-95.jpg
  • tourcampuch-1546592338-66.jpg
  • thaophuongng-1546592454-91.jpg
  • thaophuongng-1546592482-53.jpg

旅游是柬埔寨经济的一个亮点。该国拥有多处颇具特色的旅游景点,吸引了众多国际游客前来参观游览。据柬埔寨旅游部的统计,2018年前4月,柬埔寨共接待国际游客量达220万多人次,同比增长13.5%。

柬埔寨良好的经济形势充分体现了柬埔寨在以首相洪森为首的柬埔寨政府的领导下在展开政治纲领和柬埔寨王国政府第三阶段四角战略中所取得的胜利。政治社会稳定与安全,有助于柬埔寨在经济社会发展事业中继续取得更大成就。

今后,柬埔寨政府将继续注重展开第三阶段的四角战略和工业、农业、贸易、旅游等领域的发展,旨在实现经济多样化,保障宏观经济,继续增加公务员、武装力量人员的薪资,促进提高劳动人员的工资收入,同步性、有效性和可持续性地巩固与发展社会社会保障体系。

2018年,柬埔寨已成功举行了第六届国会选举,柬埔寨人民党(CPP)获得压倒性胜利。CPP的胜利充分反映了柬埔寨人民党的愿望,同时对该党的领导予以信任。

柬埔寨人民党名誉主席韩桑林在埔寨人民党(CPP)第41次中央委员会大会上发表讲话。图自越通社
柬埔寨人民党名誉主席韩桑林在埔寨人民党(CPP)第41次中央委员会大会上发表讲话。图自越通社

柬埔寨人民党(CPP)自1979年领导国家以来,CPP一直坚定不移地服务人民,以建设繁荣的国家为目标。柬埔寨近年来所取得的经济社会发展成就是CPP做出巨大贡献的生动体现。CPP的胜利是CPP党乃至柬埔寨领导班子继续努力奋斗的巨大鼓舞,为柬埔寨取得更全面的发展贡献力量。

在世界和地区局势错综复杂的背景下,柬埔寨坚持加大融入地区和国际进程,是湄公河委员会(MRC)、柬埔寨-老挝-越南发展三角区(CLV)、柬老缅越合作机制(CLMV)、大湄公河次区域(GMS)等地区合作机制的积极一员。

迄今,柬埔寨同世界150个国家和地区建立了贸易关系,该国继续扩大与各大国、邻国之间的合作。

目前,柬埔寨面貌正在发生着巨大的变化,社会越来越现代,经济越来越发展。在柬埔寨政府的有效指导下,柬埔寨人民在国家建设与发展事业中一定会取得更大成就。

(越通社—VNA)

Le Cambodge ou l’histoire d’une renaissance

Hanoï (VNA) – Quarante ans ont passé depuis le renversement du régime génocidaire de Pol Pot, la victoire du 7 janvier 1979 reste à jamais gravée dans la mémoire des Cambodgiens comme l’un des moments les plus forts de l’histoire de la nation. Après quatre décennies, le Cambodge s’est redressé pour la réconciliation nationale et le développement socio-économique, avec des efforts de stabilisation politique, de maintien de la paix, d’intégration régionale et internationale.

Régime génocidaire barbare de Pol Pot

Le 17 avril 1975, la résistance du peuple cambodgien contre les troupes américaines a réussi. Toutefois, les célébrations ont été courtes car le régime génocidaire, dont les chefs principaux étaient Pol Pot, Ieng Sary et Khieu Samphan, a ravagé le pays.

Pol Pot (1925-1988), leader du régime génocidaire au Cambodge. Photo: Internet
Pol Pot (1925-1988), leader du régime génocidaire au Cambodge. Photo: Internet

En seulement trois ans, huit mois et 20 jours (de 1975 à 1979) d’existence, ce régime barbare, avec ses politiques de génocide, de travail forcé, de torture et d’extermination, a fait du Cambodge un enfer terrestre. Les camps d’extermination et les fosses communes étaient partout. Écoles et pagodes furent transformées en prison pour des millions de civils innocents…

Plus de 3 millions de Cambodgiens ont été exécutés pendant cette période douloureuse. Des centaines de milliers d’autres ont fui au Vietnam.

Le régime de Pol Pot ne s’est pas arrêté au génocide et à la trahison de la révolution du peuple. Il a sapé la solidarité et l’amitié traditionnelles entre Vietnamiens et Cambodgiens en envahissant la frontière Sud-Ouest du Vietnam.

  • vnapotal40-1546571411-26.jpg
  • dscf5739-1546573953-3.jpg
  • vnapotal40-1546573979-78.jpg
  • dscf5707-1546574001-17.jpg
  • vnapotal40-1546593120-64.jpg

Dans les dernières années de la résistance contre les troupes américaines (1970-1975), le régime de Pol Pot a effectué des attaques et enlèvements, tué des cadres et soldats vietnamiens en missions au Cambodge, divisé les communistes cambodgiens.

En 1975, dès la réunification nationale du Vietnam, Pol Pot a ordonné à ses soldats d’envahir des îles et la frontière Sud-Ouest du Vietnam, arrêté ou tué des centaines de civils sur les îles de Phu Quoc et Tho Chu. Fin 1975 et début 1976, le régime de Pol Pot a effectué des pénétrations profondes sur le territoire du Vietnam et commis des crimes.

Le mémorial de Ba Chuc dans la province d’An Giang (Sud), contenant des centaines crânes des victimes vietnamiens du régime de Pol Pot. Photo : Internet
Le mémorial de Ba Chuc dans la province d’An Giang (Sud), contenant des centaines crânes des victimes vietnamiens du régime de Pol Pot. Photo : Internet

En janvier 1976, le IVe Congrès du Parti communiste du Kampuchéa, dont le secrétaire était Pol Pot, a qualifié le Vietnam de première menace. Pendant cette période, avec l’aide de l’extérieur, le régime de Pol Pot a multiplié les actes militaires destructifs et provocants, envahi la frontière Sud-Ouest du Vietnam.

En 1976, il a réalisé 280 actes de provocation et d’envahissement sur 20 emplacements de la frontière dans la 7e Zone militaire du Vietnam. Parallèlement, il a renforcé les campagnes de propagande pour noircir l’image du Vietnam, susciter des sentiments hostiles envers le Vietnam et le qualifier d’ennemi traditionnel, de premier ennemi.

En dépit des efforts diplomatiques pacifiques de Hanoï, le régime de Pol Pot a dénaturé l’histoire et provoqué des conflits, des envahissements de la frontière Sud-Ouest. Il a mobilisé la grande majorité de sa force militaire avec des dizaines de divisions, outre de nombreux régimes locaux, afin de déclencher une guerre sur la frontière Sud-Ouest du Vietnam. Le régime de Pol Pot a ravagé des villages et tué de façon barbare des civils, dont des personnes âgées, des femmes et des enfants.

Pendant près de deux ans, plus de 30.000 habitants dans des communes frontalières du Vietnam ont été tués et arrêtés. Environ 400.000 personnes ont perdu leurs maisons, plus de 3.000 maisons ont été abandonnées. De nombreuses églises, écoles et pagodes ont été détruites…

La nuit du 30 avril 1977, le régime de Pol Pot a effectué une attaque sur la frontière de la province vietnamienne d’An Giang, entamant officiellement sa guerre d’envahissement de la frontière Sud-Ouest du Vietnam.

La nuit du 30 avril 1977, profitant des célébrations du Vietnam marquant le 2e anniversaire de la Libération du Sud et de la Réunification nationale, le régime de Pol Pot a effectué une attaque sur la frontière de la province vietnamienne d’An Giang, entamant officiellement sa guerre d’envahissement de la frontière Sud-Ouest du Vietnam.

Face à l’invasion de Pol Pot et à ses crimes barbares, le Parti, l’Etat, l’armée et le peuple vietnamiens se sont levés pour protéger l’intégrité territoriale de la Patrie et aussi la vie et les biens des habitants.

Des soldats cambodgiens et vietnamiens lors du bataille du 7 janvier 1979 pour libérer la capitale Phnom Penh. Photo: VNA
Des soldats cambodgiens et vietnamiens lors du bataille du 7 janvier 1979 pour libérer la capitale Phnom Penh. Photo: VNA

Mi-juin 1978, le Bureau Politique et la Commission militaire centrale ont décidé de lancer une guerre populaire et d’attaquer de manière dynamique et continuelle, par toutes les forces disponibles, les ennemis dans et hors des frontières.

En décembre 1978, le Bureau Politique et la Commission militaire centrale ont adopté la détermination d’effectuer une offensive stratégique pour anéantir les ennemis et achever la défense de la frontière du Sud-Ouest et d’être prêt à soutenir les forces armées cambodgiennes dans leur attaque contre le régime de Pol Pot.

Victoire historique

Entre mai et novembre 1978, le Vietnam a aidé les forces armées révolutionnaires du Cambodge à développer 15 bataillons, 5 cadres bataillons… Avec l’aide du Vietnam, le 2 décembre 1978, le Front uni national pour le salut du Kampuchéa a vu le jour et rendu public son Programme politique qui a souligné la détermination de regrouper des forces patriotiques pour lutter contre le régime de Pol Pot, faire tomber ce régime cruel et établir un régime démocrate populaire, affirmer le renforcement de la solidarité avec le peuple vietnamien et ceux épris de paix dans le monde, et aussi appeler les gouvernements des pays, les organisations internationales à soutenir la juste lutte des Cambodgiens.

Un exercice conjoint des soldats vietnamiens et cambodgiens. Photo: VNA
Un exercice conjoint des soldats vietnamiens et cambodgiens. Photo: VNA

Le 23 décembre 1978, les soldats volontaires vietnamiens et les forces armées révolutionnaires du Cambodge ont ouvert une offensive le long des frontières. Trois jours après, tout le système de défense de Pol Pot a été détruit. Le 31 décembre 1978, l’armée vietnamienne a achevé sa tâche de lutte contre le régime de Pol Pot, libérant toutes les terres du pays illégalement occupées.

Le 7 janvier 1979, Phnom Penh a été libérée, marquant la fin de ce régime sanglant.

Répondant à l’appel du Front uni national pour le salut du Kampuchéa, le 6 janvier 1979, les soldats volontaires, en coopération avec les forces armées de ce front, ont commencé des attaques  contre le régime de Pol Pot à Phnom Penh. Le 7 janvier 1979, Phnom Penh a été libérée, marquant la fin de ce régime sanglant. Ce fut la fin nécessaire des fausses visées et politiques barbares inhumaines prises par ce régime pour agresser le Vietnam et mener un génocide au Cambodge.

Le 7 janvier 1979 est entré dans l’histoire du Cambodge comme un jalon éblouissant. C’était la frontière entre la vie et la mort, non seulement de nombreux individus  mais aussi d’une nation entière.

Le défilé organisé le 7 jenvier 1980 à Phnom Penh en l'honneur de la victoire sur le régime génocidaire de Pol Pot. Photo: VNA
Le défilé organisé le 7 jenvier 1980 à Phnom Penh en l’honneur de la victoire sur le régime génocidaire de Pol Pot. Photo: VNA

Avec l’esprit de solidarité, les efforts incessants et aussi le sacrifice de leur vie, les soldats volontaires vietnamiens, de concert avec le peuple et les forces armées du Cambodge, ont renversé le régime de Pol Pot pour regagner la souveraineté et l’intégrité territoriale du Vietnam, et aider les Cambodgiens à sortir du génocide et à retrouver la paix.

Cette victoire revêt une grande signification, affirmant l’esprit d’indépendance, d’autonomie et de solidarité nationale et internationale des Vietnamiens qui sont toujours prêts à écraser tous les complots et les actions subversives des forces hostiles pour la défense nationale et l’intégrité territoriale. Elle témoigne aussi de l’amitié traditionnelle fidèle  entre les deux pays et des sentiments du Parti, de l’Etat et du peuple vietnamiens envers le Cambodge.

«Il faut avoir vu les crimes barbares du régime de Pol Pot, avoir frôlé la mort pour comprendre la valeur et la signification de cette journée historique », a confié un journaliste cambodgien, victime du génocide de Pol Pot.

Récemment, le journal Procheachol, organe central du Parti du peuple cambodgien au pouvoir, a publié un éditorial affirmant qu’« il s’agit de la victoire ineffaçable dans l’histoire de la nation et de la base des performances du pays au cours de ces dernières années ».

Dans son interview récemment accordée à l’Agence vietnamienne d’information à Phnom Penh, le directeur du Centre de documentation du Cambodge, Youk Chhang a indiqué que la présence des soldats volontaires vietnamiens avait changé l’histoire du Cambodge et avait permis la renaissance du peuple cambodgien.

Le directeur du Centre de documentation du Cambodge, Youk Chhang a  indiqué que la présence des soldats volontaires vietnamiens avait changé  l’histoire du Cambodge et avait permis la renaissance du peuple  cambodgien. Photo: Phnompenhpost
Le directeur du Centre de documentation du Cambodge, Youk Chhang a indiqué que la présence des soldats volontaires vietnamiens avait changé l’histoire du Cambodge et avait permis la renaissance du peuple cambodgien. Photo: Phnompenhpost

Selon Youk Chhang, « l’aide de l’Armée populaire du Vietnam était nécessaire dans un moment spécial de l’histoire cambodgienne, car les soldats de Pol Pot massacraient la population ». Toujours selon lui, la présence de l’Armée populaire du Vietnam a « dégagé un nœud important » afin de mettre fin à ce régime par des mesures militaires.

Selon le journaliste Keo Chandara, directeur adjoint de l’Agence  Kampuchea Presse (AKP), la population cambodgienne et le monde reconnaissent que sans la victoire du 7 janvier 1979, il n’y aurait pas eu de renaissance du Cambodge. « S’il n’y avait pas eu l’aide du Vietnam, le Cambodge n’aurait pu obtenir la dernière victoire pour atteindre les succès comme aujourd’hui. Il s’agit d’une vérité indiscutable ».

Concernant le rôle des soldats volontaires du Vietnam pour la victoire du 7 janvier 1979, le journaliste Teav Sarak Mony, éditeur général du quotidien Rasmei Kampuchea, a cité les propos du Premier ministre cambodgien Samdech Techo Hun Sen lors de sa récente visite officielle au Vietnam, affirmant que le rôle décisif du Vietnam dans la victoire du peuple cambodgien était une vérité indiscutable.

Le journaliste australien Peter Starr, expert de communication du Bureau  parlementaire du Cambodge, a indiqué que le 7 janvier 1979 était  considéré comme la journée la plus importante pour tous les Cambodgiens. Photo: VNA
Le journaliste australien Peter Starr, expert de communication du Bureau parlementaire du Cambodge, a indiqué que le 7 janvier 1979 était considéré comme la journée la plus importante pour tous les Cambodgiens. Photo: VNA

Toujours selon M. Sarak, victime du régime génocidaire du Pol Pot, s’il n’y avait pas eu la victoire du 7 janvier 1979, ni l’assistance des soldats volontaires du Vietnam ni l’aide et le soutien du Parti, de l’Etat, du gouvernement et du peuple vietnamien durant dix ans (1979-1989), le Cambodge et son peuple n’auraient pu renaître et se développer comme aujourd’hui.

Pour sa part, le journaliste australien Peter Starr, expert de communication du Bureau parlementaire du Cambodge, a indiqué que le 7 janvier 1979 était considéré comme la journée la plus importante pour tous les Cambodgiens, marquant la chute du régime génocidaire de Pol Pot. Selon lui, sans l’aide des soldats volontaires du Vietnam, il y aurait eu des dizaines voire des centaines de milliers de cambodgiens tués par les soldats de Pol Pot.

Renaissance et plein essor

Après la victoire historique du 7 janvier 1979, sous la direction du Parti du peuple cambodgien, le peuple cambodgien a fait tout son possible pour surmonter maints défis et difficultés pour restaurer et édifier le pays à partir des cendres laissées par la guerre et le régime génocidaire de Pol Pot.

Des soldats vietnamiens aident des agriculteurs cambodgiens dans la récolte du riz. Photo: VNA
Des soldats vietnamiens aident des agriculteurs cambodgiens dans la récolte du riz. Photo: VNA

En 40 ans, le Cambodge a enregistré des performances importantes dans l’œuvre d’édification et de défense nationales pour devenir un pays de paix, de développement stable et ayant des relations d’amitié avec les pays de la région et du monde.

Ces dernières années, l’économie du Cambodge a maintenu une croissance de 7% par an et a été toujours classée par la Banque mondiale dans la liste des pays à croissance du PIB élevée. Par ailleurs, le pays a toujours assuré sa stabilité économique et maîtrisé son inflation. Le PIB  était de 24,37 milliards de dollars en 2018 contre 10,35 milliards en 2008. La vie de la population s’est améliorée, le revenu moyen par habitant a atteint 1.563 dollars en 2018 contre 1.042 en 2013.  

Le Cambodge est en train de transmuer son économie agricole en une économie basée sur l’industrie et les services. La croissance du secteur de la construction est l’un des moteurs de sa croissance, créant des emplois aux habitants.

En 2017, le Cambodge promeut des projets de construction de centres commerciaux, restaurants, hôtels, zones urbaines… à Phnom Penh et Siem Riep… Le pays a délivré la licence de construction à plus de 3.050 projets. De plus, 275 nouvelles compagnies de BTP ont été créées.

Le tourisme est un point lumineux du tableau économique du Cambodge. Selon le ministère cambodgien du Tourisme, au cours de quatre premiers mois de 2018, le Cambodge a accueilli plus de 2,2 millions de touristes internationaux, +13,5% en glissement annuel.

Les temples d'Angkor sont l'une des destinations touristiques les plus appréciées au Cambodge. Photo: Internet
Les temples d’Angkor sont l’une des destinations touristiques les plus appréciées au Cambodge. Photo: Internet

Cet essor économique du Cambodge s’explique par le déploiement du Programme politique et la Stratégie de quadrilatère de la 3e période  du gouvernement cambodgien sous la direction du Premier ministre Tech Hun Sen. Grâce au maintien de la paix,  de la stabilité politique et de la sécurité, le Cambodge continue d’obtenir de nouveaux acquis socioéconomiques.

Dans l’avenir, le Cambodge se concentrera sur la mise en œuvre de la stratégie de quadrilatère de la 3e période, notamment le développement des industries, de l’agriculture, du commerce, du tourisme… contribuant à de diversifier l’économie et assurer la stabilité macroéconomique, continuera d’augmenter le salaire des fonctionnaires, des forces armées, des ouvriers, des travailleurs, et consolidera d’une façon efficace et durable le système de patronage social.

L’économie cambodgienne est principalement basée sur les exportations de  vêtements, la construction et l’immobilier, le tourisme et  l’agriculture. Photo: Internet
L’économie cambodgienne est principalement basée sur les exportations de vêtements, la construction et l’immobilier, le tourisme et l’agriculture. Photo: Internet

En 2018, le point notable dans la vie politique du Cambodge fut l’organisation avec succès des élections législatives de la 6e législature avec la victoire écrasante du Parti du peuple cambodgien (PPC) au pouvoir. Cette victoire a reflété la confiance du peuple cambodgien envers le PPC.

Depuis 1979, le PPC est toujours déterminé à l’objectif  à servir le peuple, édifier un pays prospère. Les acquis socioéconomiques de ces derniers temps sont des preuves claires des contributions à la paix et au développement du PPC. Sa victoire lors des élections récentes  encouragera les dirigeants du Cambodge en général et du PPC en particulier à poursuivre leurs efforts.

Selon le ministre cambodgien de l’Economie et des Finances, Aun Pornmoniroth, son pays devrait connaître une croissance de 7,1% en 2019, ce qui augmentera le PIB national à 27,2 milliards de dollars. Le PIB par habitant devrait s’élever à 1.706 dollars en 2019, soit une croissance de 9,1% sur un an. L’industrie, principalement celui du vêtement et de la construction, devrait connaître une croissance de 10% en 2019, tandis que le secteur des services, notamment le tourisme, le transport, la télécommunication, le commerce et l’immobilier, devrait progresser de 7% et l’agriculture, 1,8%.

Le Cambodge maintient sa politique d’intensification de l’intégration régionale et internationale et est un membre actif des mécanismes de coopération régionale comme la Commission internationale du Mékong (MRC), le Triangle de développement Cambodge-Laos-Vietnam (CLV), la Coopération Cambodge-Laos-Myanmar-Vietnam (CLMV), la sub-région du Mékong élargie (GMS)…

A ce jour, le Cambodge a établi des relations commerciales avec environ 150 pays et territoires de par le monde et continue de promouvoir l’élargissement de ses relations de coopération avec de  grands pays, des partenaires développés, et de renforcer sa coopération avec ses voisins.

La physionomie du Cambodge est de plus en plus moderne. Sous la direction efficace du gouvernement, nul doute que le peuple cambodgien enregistrera d’autres acquis importants  dans l’œuvre d’édification et de développement national. – VNA

Le monument d’amitié entre le Vietnam et le Cambodge a été inauguré le 1er janvier 2019 dans le ville de Sen Monorom, province cambodgienne de Mondolkiri. Photo: VNA 
Le monument d’amitié entre le Vietnam et le Cambodge a été inauguré le 1er janvier 2019 dans le ville de Sen Monorom, province cambodgienne de Mondolkiri. Photo: VNA 

Cambodia – a revival from the ashes

Forty years have elapsed since the Pol Pot genocidal regime was overthrown on January 7, 1979, and generations of Cambodian people have since been keeping in their mind the day as a most important historical moment of the nation. Cambodia and its people have rebuilt the country from the ashes to achieve national reconciliation, national concord, socio-economic development, political stability, and integration into regional and international communities.

Pol Pot genocidal regime – a brutal genocidal regime

On April 17, 1975, Cambodia successfully finished its resistance against the US. However, when the Cambodian people were yet to have time to celebrate the victory did the country fall into a genocidal tragedy innitiated by the Pol Pot genocidal regime gang under the leadership of Pol Pot, Ieng Sary and Khieu Samphan, who drove the Cambodian nation to the brink of extinction.

Mass graves of innocent people killed by the Pol Pot genocidal regime are discovered after January 7, 1979 at the “Killing Fields” in Choeung Ek, about 17km south of Phnom Penh. (Photo: VNA)
Mass graves of innocent people killed by the Pol Pot genocidal regime are discovered after January 7, 1979 at the “Killing Fields” in Choeung Ek, about 17km south of Phnom Penh. (Photo: VNA)

Holding power in only 3 years, 8 months and 20 days from 1975-1979, yet the genocidal regime turned Cambodia into a hell on earth with its brutal policy of forced labour, torture and murder. Killing fields and mass graves were everywhere, and schools and pagodas turned into prisons detaining millions of innocent people. More than 3 million innocent Cambodians were killed, the Cambodian nation driven to the danger of extinction, and hundreds of thousands others forced to flee their homeland to seek refuge in Vietnam.

Cambodian people flee their home to Vietnam as they could not stand the Pol Pot enocidal regime. (Photo: VNA)
Cambodian people flee their home to Vietnam as they could not stand the Pol Pot enocidal regime. (Photo: VNA)

Not only pursuing the genocide policy in Cambodia and betraying the revolultionary cause of the Cambodian people, the Pol Pot gang also sabotaged the Vietnam – Cambodia solidarity and friendship and invaded the southwestern border of Vietnam. During the last years of the resistance war against the US (1970-1975), Pol Pot troops conducted attacks and kidnappings targeting Vietnamese officiers and soldiers operating in the Cambodian battlefield and, at the same time, sowed internal division among the Cambodian communists.

In 1975, as soon as Vietnam was unified, Pol Pot sent troops to invade the country’s southwestern islands and border areas, detaining and killing hundreds of ordinary people in Phu Quoc and Tho Chu islands. At the end of 1975 and in early 1976, the Pol Pot army suddenly conducted a series of intrusions deep into Vietnam’s territorial land, committing crimes against Vietnamese people.

In January 1976, the fourth congress of the Cambodian Communist Party, with Pol Pot as Secretary, defined Vietnam as the biggest danger that needs attention. During this time, with support from outside, Pol Pot further intensified military activities to sabotage and encroach into the Vietnamese southwestern border. In 1976, in the area under the charge of Military Region 7, the regime caused 280 incidents over and encroachments of 20 points along the border. In addition, the Pol Pot gang focused on tainting Vietnam’s image and inciting anti-Vietnam campaigns, taking Vietnam as its “arch-rival” and “Number 1 foe”. Turning a blind eye to Vietnam’s diplomatic efforts for peace, the Pol Pot gang spared no efforts in its propaganda wok of distorting the history, proactively caused conflicts along and encroached into Vietnam’s southwestern border. It deployed most of its military strength with tens of regular divisions and many local regiments to wage a war for invasion of Vietnam’s southwestern border. Everywhere they intruded in, they burned down villages and killed villagers, including the elderly, women and children.

In nearly two years, Pol Pot troops killed and detained more than 30,000 civilians in Vietnam’s border communes. Besides, 400,000 people were rendered homeless, over 3,000 houses abandoned, and many churches, schools and pagodas burned to the ground.

On the night of April 30, 1977, when the Vietnamese army and people were celebrating the country’s 2nd anniversary of the liberation of the south and national reunification, the Pol Pot gang launched an offensive along the whole borderline of An Giang province, officially kicking off its war of invasion of Vietnam’s southwestern border.

In face of the blatant aggression by the Pol Pot gang and barbarous crimes they committed against our people, the Party, State, army and people of Vietnam stood up in their legitimate and sacred rights to safeguarding national sovereignty, territorial integrity and human lives and assets.  

Vietnamese soldiers defend the southwestern border. (Photo: VNA)
Vietnamese soldiers defend the southwestern border. (Photo: VNA)

In mid-June 1978, the Politburo and the Central Military Commission decided to launch a people’s war, resolutely counterattacking and attacking the enemy in a proactive and continuous manner with all forces, on small, medium and large scales, fighting the enemy both inside and outside the border, annihilating and paralyzing an important part of the enemy’s strength.

In early 1978, the Politburo and the Central Military Commission passed the determination to stage a general and strategic counterattack and offensive aimed at completing the southwestern border safeguarding war while standing ready to help Cambodia’s revolutionary armed forces rise up to overthrow the genocidal Pol Pot gang and to wrest back power to the people.

Historical victory

From May – November 1978, Vietnam helped Cambodia’s revolutionary armed forces develop 15 battalions and five battalion frames. With the support from Vietnam, the Kampuchean United Front for National Salvation made its first public appearance on December 2, 1978 and announced a revolutionary platform which clearly stated the determination to unite and pool patriotic forces to topple the Pol Pot reactionary group, wipe out the brutal genocidal regime, establish the people’s democratic regime, resolve to strengthen solidarity with Vietnamese people and other peace lovers worldwide, and call on other governments and international organisations to provide support for the Cambodian people’s just fight.

Vietnamese and Cambodian soldiers protect the Temple of Angkor Wat (Photo: VNA)
Vietnamese and Cambodian soldiers protect the Temple of Angkor Wat (Photo: VNA)

On December 23, 1978, Vietnamese voluntary soldiers and Cambodian revolutionary armed forces launched a general counterattack and offensive along the whole borderline. Three days later, all of the Pol Pot gang’s perimeter defence system was smashed. On December 31, 1978, our forces and people accomplished the task of driving out the Pol Pot troops and reclaiming all territorial sovereignty of the Matherland encroached by the enemy.

In response to the urgent call by the Kampuchean United Front for National Salvation, on January 6, 1979, Vietnamese voluntary soldiers coordinated with armed forces of the Front to launch a general attack on Phnom Penh capital. On January 7, 1979 noon, Cambodian revolutionary army units and Vietnamese volunteer soldiers liberated Phnom Penh, marking the end of the Pol Pot genocidal regime.

Cambodian people celebrate their victory over the Pol Pot army on January 25, 1979 at the Olympic Stadium in Phnom Penh. (Photo: VNA)
Cambodian people celebrate their victory over the Pol Pot army on January 25, 1979 at the Olympic Stadium in Phnom Penh. (Photo: VNA)

It was the inevitable conclusion of miscalculation and inhumane policies of the Pol Pot gang when it invaded Vietnam and conducted genocide in Cambodia.

January 7, 1979 will forever go down to the history of Cambodia as a briliant milestone. It is the watershed between life and death, not the life and death of a single individual or of a small group of people, but the life and death of an entire nation.

That is to say that in the spirit of sharing and the efforts for the sake of ourselves and of our friend, with blood and tears, the Vietnamese voluntary soldiers joined with armed forces and people of Cambodia to topple the Pol Pot gang, regain sovereignty and territorial integrity of our country while helping the Cambodia people get out of genocide, bringing freedom and smiles to the Cambodian people.  

The victory holds great significance, once again affirming that the Vietnamese people, with the spirit of independence, self-reliance, great national solidarity and pure international solidarity, stand ready to thwart any sabotage plot and act by reactionary forces, firmly safeguarding national independence, sovereignty and territorial integrity. It also manifests the noble international spirit, the traditional and long-lasting relationship of loyalty, the pure and wholehearted support from the Vietnamese Party, State, army and people to the Cambodian people.

Radiant smiles of Cambodian people on the victory day (Photo: VNA)
Radiant smiles of Cambodian people on the victory day (Photo: VNA)

A Cambodian journalist, himself a victim of the Pol Pot genocidal regime, said: “One must be an insider, who was directly oppressed under the Pol Pot regime and waiting for his death to come, to understand the authentic value and the vital significance of the historic day (January 7. 1979)”.

On the celebration of the historical day in 2017, Procheachol newspaper of the ruling Cambodia People’s Party (CPP) published an editorial affirming that this was an indelible victory in the history of Cambodia, which created a foundation for the country’s accomplishments over the past years.

Director of Cambodia’s Documentation Centre Youk Chhang (R) at the interview with the Vietnam News Agency (Photo: VNA)
Director of Cambodia’s Documentation Centre Youk Chhang (R) at the interview with the Vietnam News Agency (Photo: VNA)

In a recent interview granted to the Vietnam News Agency’s correspondents in Phnom Penh, Director of Cambodia’s Documentation Centre Youk Chhang said the presence of Vietnamese volunteer soldiers had changed the history of Cambodia, helping Cambodian people revive.

According to Youk Chhang, the help of the Vietnamese army inevitably came at a special time of history and geopolitics when Pol Pot massacred barbarously Cambodian people.  

The presence of the Vietnamese army was important as it “untied the knot” to put an end to the Pol Pot genocidal regime as the work could impossibly be dealt with by negotiations, but by military measures, he said.

Journalist Keo Chandara, Deputy General Director of the Agence Kampuchea Presse (AKP)(Photo: VNA)
Journalist Keo Chandara, Deputy General Director of the Agence Kampuchea Presse (AKP)(Photo: VNA)

Journalist Keo Chandara, Deputy General Director of the Agence Kampuchea Presse (AKP) – Cambodia’s news agency, said the people of Cambodia and the world all acknowledged that the Cambodian people and nation could not have been revived without the victory on January 7, 1979.

And, without the assistance of Vietnamese brothers and comrades, Cambodia could not have gained the final victory and achievements today, he said. “This is an indisputable truth.”

Regarding the role of volunteer Vietnamese soldiers in the victory on January 7, 1979, Teav Sarak Mony, Editor-in-Chief of Rasmei Kampuchea Daily, quoted Cambodian Prime Minister Samdech Techo Hun Sen in his recent official visit to Vietnam as saying that the decisive role of Vietnam in helping Cambodia is an undeniable truth.

Cambodian Prime Minister Hun Sen (L) meets with Party General Secretary and President Nguyen Phu Trong as part of his visit to Vietnam in December 2018. (Photo: VNA)
Cambodian Prime Minister Hun Sen (L) meets with Party General Secretary and President Nguyen Phu Trong as part of his visit to Vietnam in December 2018. (Photo: VNA)

According to Sarak, who was a victim of the Pol Pot regime, without the victory on January 7, 1979 and the assistance and support from volunteer Vietnamese soldiers as well as the Vietnamese Party, State, Government and people during the 1979-1989 period, the Cambodian nation could not have revived and developed as today.

Australian journalist Peter Starr (Photo: VNA)
Australian journalist Peter Starr (Photo: VNA)

For his part, Australian journalist Peter Starr, a communication advisor of Cambodia’s National Assembly Office, said the January 7, 1979 event was considered the most important day of all Cambodian people as it marked their freedom and escape from the genocidal regime.

He added that without the help of volunteer Vietnamese soldiers, dozens or even hundreds of thousands more of Cambodian people would have been killed under the Pol Pot regime.

Reviving and Thriving

The victory on January 7, 1979, marked the beginning of a reviving journey of the Cambodian people and nation under the leadership of the CPP. They have spared no efforts to weather numerous difficulties and challenges to rebuild their country from the ashes of the war and the Pol Pot genocidal regime.

Over the past four decades, Cambodia has gained immense achievements in the nation building and defence, becoming a peaceful nation having stable development and friendly relations with countries around the world. In recent years, Cambodia has always maintained its economic growth of 7 percent, being ranked among countries with record growth by the World Bank.

The country has worked to ensure macroeconomic stability, especially stabilising exchange rates and controlling inflation at a low level.

The gross domestic product (GDP) increased to 22.16 billion USD in 2017 from 10.35 billion USD in 2008. It was projected to reach 24.37 billion USD in 2018.

Cambodia has been shifting its economy towards industry and services from the agricultural background. The growth of the construction sector is one of the main drivers of the nation’s economic growth, generating many jobs for people.

In 2017, Cambodia accelerated the building of shopping malls, restaurants, hotels, and new urban areas in major cities, including Phnom Penh and Siem Reap. Construction of more than 3,050 projects was licensed, while 275 new construction companies were set up in the year.  

According to Cambodia’s Ministry of Tourism, the country welcomed more than 2.2 million foreign visitors in the first four months of 2018, a year-on-year rise of 13.5 percent.

Domestic and foreign visitors flock to the Temple of Angkor Wat in Cambodia (Photo: VNA)
Domestic and foreign visitors flock to the Temple of Angkor Wat in Cambodia (Photo: VNA)

Tourism was also a highlight in the economic panorama of Cambodia.

Boasting various tourist attractions, the Southeast Asian nation has been a choice of many international tourists over the years.

The positive economic outlook of Cambodia proved the triumphant implementation of the Political Platform and the Rectangular Strategy Phase III of the Royal Government under leadership of Prime Minister Samdech Techo Hun Sen. Secured peace and political and security stability have allowed Cambodia to continue obtaining new and significant socio-economic achievements.

In the coming time, the Cambodian Government will continue paying heed to the implementation of the Rectangular Strategy Phase III, focusing on the development of such sectors as industry, agriculture, trade and tourism, towards diversifying the economy and ensuring macro-economy stability.

It will also work to increase wage of civil servants, armed force members, workers, and develop and strengthen the social security system in a concerted, effective and sustainable manner.

In 2018, a highlight in the country’s political life was the successful organization of the sixth National Assembly election, with the overwhelming victory won by the ruling Cambodian People’s Party (CPP). That victory reflected the aspirations of Cambodian people as they continued to put their trust in the CPP’s leadership.

Cambodian Prime Minister Hun Sen (front line, R) at the National Assembly's opening session in September 2018 (Photo: AFP/VNA)
Cambodian Prime Minister Hun Sen (front line, R) at the National Assembly’s opening session in September 2018 (Photo: AFP/VNA)

Since it came to power in 1979, the CPP has been consistently pursuing its goal of serving the people and building a wealthy Cambodia. Socio-economic attainments made over the past time serve as a vivid proof of the CPP’s dedication to peace and development.

The CPP’s victory in the recent free and fair general election provides a source of encouragement for Cambodian leaders and the CPP in particular, to continue to work for country’s comprehensive stability and development in the coming time.

Amid changes occurring in regional and international situations, Cambodia still maintains its firm policy on bolstering international integration and being an active member in numerous regional cooperative mechanisms, including the Mekong River Commission (MRC), the Cambodia-Laos-Vietnam Development Triangle Area (CLV), the Cambodia-Laos-Myanmar-Vietnam Cooperation (CLMV) and the Greater Mekong Subregion (GMS), and more.  

To date, Cambodia has set up trade relations with about 150 countries and territories across the world and worked to expand its cooperative ties with powerful countries and development partners as well as boost cooperation with neighbouring nations.Cambodia is changing rapidly. Under the efficient leadership of the Government, Cambodian people will surely gain more greater achievements in the cause of national construction and development.-VNA

Nông nghiệp công nghệ cao

Việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đang nhận được sự quan tâm của Chính phủ và nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, những rào cản về chính sách, khoa học công nghệ khiến cho việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn chậm.

Mới đây, đoàn Cơ quan Phát triển Quốc tế Israel (Mashav) đã sang Việt Nam để làm việc với các trường đại học và thăm các viện nông nghiệp, trang trại ở Việt Nam để tìm hiểu và hỗ trợ ứng dụng công nghệ nông nghiệp thông qua chương trình thực tập sinh nông nghiệp tại Israel cho sinh viên nông nghiệp Việt Nam.

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có buổi trao đổi ngắn với Giám đốc Cơ quan Phát triển Quốc tế Israel (Mashav) Gil Haskel xung quanh vấn đề này.

– Ông có thể cho biết đôi điều về Chương trình thực tập sinh nông nghiệp tại Israel cho sinh viên Việt Nam và theo ông, chương trình này có thể hỗ trợ gì cho ngành nông nghiệp Việt Nam?

Ông Gil Haskel: Israel tổ chức một chương trình thực tập cho các sinh viên ngành nông nghiệp từ 25 nước trên thế giới. Đối tác lớn nhất của chương trình trong số các nước này là Việt Nam, với khoảng 700 sinh viên mỗi năm.

Gần 10.000 sinh viên Việt Nam hưởng lợi từ chương trình thực tập sinh nông nghiệp tại Israel

Các sinh viên này học hết năm thứ 2 trong các chuyên ngành nông nghiệp. Trước năm thứ 3, họ tới Israel trong vòng 1 năm để thực tập và được đào tạo thực tế công việc. Họ sẽ học nông nghiệp ít nhất 1 ngày trong tuần. Thời gian còn lại, họ làm việc ở nông trại, với dụng cụ kỹ thuật hiện đại.

Cho tới nay, hàng nghìn sinh viên Việt Nam đã hưởng lợi từ chương trình này, tổng cộng lên tới gần 10.000 người. Chúng tôi tin rằng hàng nghìn sinh viên này sẽ trở thành “xương sống” của nông nghiệp hiện đại ở Việt Nam.

– Vậy sự hợp tác này giữa hai bên đã có những kết quả như thế nào?

Ông Gil Haskel: Chương trình này đã diễn ra được 14 năm. Lần này chúng tôi tới Việt Nam và thảo luận với Chính phủ Việt Nam những hoạt động sau đào tạo của các sinh viên sau khi họ trở về Việt Nam. Họ có thể thiết lập nông trại của riêng mình, những nông trại hiện đại quy mô lớn; làm việc cho các dự án nông nghiệp quy mô lớn của các công ty đa quốc gia; hoặc họ có thể quay về các trường đại học và dạy về nông nghiệp.

Ông Gil Haskel. (Nguồn: Đại sứ quán Israel tại Việt Nam)
Ông Gil Haskel. (Nguồn: Đại sứ quán Israel tại Việt Nam)

Tôi đã tới một số dự án của những cựu sinh viên tốt nghiệp từ chương trình này. Chúng tôi đã tới xem dự án trồng dưa hấu trong nhà kính, dự án trồng măng tây và dự án nuôi cá rô phi. Tất cả các dự án này có năng suất cao hơn gấp 7-10 lần so với trước khi họ đi học ở Israel.

Theo các báo cáo, 5% số học viên đã thành lập nông trại hoặc công ty riêng, khoảng một nửa làm việc cho các công ty nước ngoài, tư nhân, tổ chức nhà nước. 20% đã ra nước ngoài học tập và làm việc trong khi 25% tiếp tục ở trường đại học.

Hầu hết các dự án nông nghiệp công nghệ cao lớn đều có sự tham gia của sinh viên tốt nghiệp ở Israel, như VinEco, TH True Milk, Lam Sơn, Hoàng Anh Gia Lai và Trung Nguyên…

Có thể thấy, chương trình này rất có lợi cho sản lượng nông nghiệp ở Việt Nam. Nếu tất cả số sinh viên này ứng dụng những gì họ đã chứng kiến và học được Israel, họ sẽ biến đổi bộ mặt của nông nghiệp Việt Nam rất mạnh mẽ. Đây chính là mục đích của chương trình này.

– Israel là một đất nước nghèo tài nguyên thiên nhiên nhưng đã vươn lên trở thành một quốc gia khởi nghiệp và có nền nông nghiệp áp dụng công nghệ cao đi đầu trên thế giới. Vậy phía Israel đã chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam như thế nào?

Ông Gil Haskel: Nền nông nghiệp Israel dựa trên ý tưởng “làm nhiều hơn khi có ít hơn,” vì chúng tôi thiếu nguồn nước, đất đai và nhiều thứ nữa. Chúng tôi phải tìm cách đẩy mạnh nông nghiệp với công nghệ cao để nâng cao năng suất.

Kết quả là hiện nay chỉ có 3% dân số làm trong ngành nông nghiệp. Chúng tôi đang sử dụng ít nước hơn cho trồng trọt, nhưng vẫn có thể sản xuất đủ cho trong nước, thậm chí là xuất khẩu.

Sinh viên thực hành tại trung tâm nông nghiệp Arava. (Nguồn: Đại sứ quán Israel tại Việt Nam)
Sinh viên thực hành tại trung tâm nông nghiệp Arava. (Nguồn: Đại sứ quán Israel tại Việt Nam)

Ở Việt Nam, Mashav còn có các chương trình về đổi mới, sáng tạo. Chúng tôi mời những người trẻ từ Việt Nam đến chương trình đào tạo của Mashav ở Israel. Chúng tôi cho họ chứng kiến hệ sinh thái của Israel về start-up và cách các start-up tác động đến linh vực kinh tế của Israel.

Chúng tôi tổ chức các khóa học về đổi mới, làm thế nào để ứng dụng đổi mới vào các dự án nông nghiệp. Chúng tôi rất sẵn lòng hợp tác với những câu chuyện thành công ở Việt Nam để đẩy mạnh hơn nữa hệ thống này.

Để một quốc gia thành công trong lĩnh vực start-up, cần có sự biến đổi của toàn bộ hệ sinh thái, tổng thể giữa khu vực chính phủ và và phi chính phủ. Tất cả phải được phối hợp với nhau. Chính phủ, các học giả, giới kinh doanh, nguồn tài chính. Sẽ là không đủ nếu chỉ có một trong số đó. Có như vậy, các doanh nhân trẻ phát triển một ý tưởng thành một start-up, thành một công ty nhỏ, và từ đó thành một đơn vị sản xuất quy mô lớn. Chỉ khi những thành phần này được phối hợp trong hệ thống Việt Nam, các bạn mới có thể xây dựng những start-up như Israel. Và Israel sẵn sàng hợp tác với Chính phủ Việt Nam để xây dựng một hệ sinh thái như vậy.

Israel sẵn sàng hợp tác với Chính phủ Việt Nam để xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp

– Ông có khuyến nghị gì với thế hệ trẻ start-up nông nghiệp và với Chính phủ Việt Nam để phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong sự hợp tác với Israel?

Ông Gil Haskel: Chúng tôi cũng đã mời quan chức Việt Nam trong nhiều ngành đến Israel để chứng kiến trực tiếp cách làm ở Israel. Chúng tôi cũng đề xuất cử các chuyên gia Israel tới Việt Nam để làm việc với chính quyền, thiết lập hệ thống sinh thái phù hợp.

Lời khuyên của tôi là Việt Nam nên cho phép những người trẻ có được điều kiện, năng suất làm việc tốt nhất có thể, từ hỗ trợ vốn, công nghệ… Nếu không có điều kiện đó, sẽ không có gì xảy ra cả. Đây là một quá trình dài, một sự thay đổi cấu trúc trong cách chính phủ nhìn nhận người trẻ và tinh thần khởi nghiệp. Mashav có nhiệm vụ chuyển giao kiến thức, công nghệ cho Việt Nam và đây là điều chúng tôi đã và đang làm.

Khi mở ra một doanh nghiệp, bạn cần hiểu thị trường, lĩnh vực, mặt hàng nông nghiệp. Tuy nhiên, không phải tất cả công nghệ đều ứng dụng được cho mọi nông dân. Vì thế, bạn cần chọn công nghệ phù hợp nhất. Những điều học được từ chương trình thực tập này không chỉ là về lợi ích công nghệ, mà còn về cách thức quản lý, vận dụng ý tưởng tốt hơn./.

Đoàn sinh viên nông nghiệp Việt Nam thăm quan miền Bắc Israel. (Nguồn: Đại sứ quán Israel tại Việt Nam)
Đoàn sinh viên nông nghiệp Việt Nam thăm quan miền Bắc Israel. (Nguồn: Đại sứ quán Israel tại Việt Nam)

‘Không có bộ đội Việt Nam, chúng tôi sẽ chết’

Hai tác giả cuốn sách về Hun Sen là một cặp vợ chồng, ông Harish Chandra Mehta là một giảng viên đại học và nhà nghiên cứu lịch sử người Mỹ, còn bà Julie là giảng viên về văn chương và Nam Á học tại đại học Toronto, Canada. Hai người hoàn thành cuốn tiểu sử dày hơn 450 trang vào tháng 8 năm 1999 sau nhiều cuộc phỏng vấn trực tiếp Thủ tướng Hun Sen và hàng chục nhân vật có liên quan đến Hun Sen.

Với hai năm bỏ công thu thập tư liệu với rất nhiều cuộc gặp gỡ các yếu nhân và nhân chứng, đi qua rất nhiều vùng đất, hai tác giả Harish Mehta và Julie Mehta của cuốn “Hun Sen nhân vật xuất chúng của Campuchia” đã lần đầu tiên hoàn thành cuốn sách viết về tiểu sử của một nhà lãnh đạo với câu chuyện đời tư nhiều hấp dẫn mà chắc chắn là vẫn còn nhiều bí ẩn chưa thể khai thác hết.

Khi nhà báo đặt câu hỏi về việc quân đội Việt Nam lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, Thủ tướng Hun Sen đã kiên trì giải thích, đó là hành động giải phóng.

Hình ảnh các nạn nhân của chế độ diệt chủng Pol Pot tại Nhà tù Toul Sleng (Ảnh: AFP)
Hình ảnh các nạn nhân của chế độ diệt chủng Pol Pot tại Nhà tù Toul Sleng (Ảnh: AFP)

Các tác giả phương Tây đã viết nhiều sách về tiểu sử thủ tướng Campuchia Hun Sen, nhưng cuốn “Hun Sen nhân vật xuất chúng của Campuchia” (Hun Sen: Strongman of Cambodia) của hai tác giả Harish Mehta và Julie Mehta được giới nghiên cứu chính trị, lịch sử đánh giá cao.

Ngay ở chương mở đầu, kể về cuộc phỏng vấn đầu tiên với thủ tướng Campuchia năm 1997, các tác giả kể lại:

Cuộc phỏng vấn đã diễn ra êm xuôi cho tới khi chúng tôi hỏi ông một câu, trong đó chúng tôi đã nhắc đến hành động quân sự của Việt Nam để lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot như là một “sự xâm chiếm.”

Điều này đã khiến cho ông Hun Sen đưa ra câu trả lời đầy sôi nổi, phẫn nộ. Ông đã nhanh chóng sửa lối giải thích lịch sử của chúng tôi, ông nói điều đó không bao giờ là một sự xâm chiếm, mà là một hành động giải phóng khỏi chế độ diệt chủng.

Hàng vạn người dân thủ đô Phnom Penh đứng dọc 2 bên đường, lưu luyến tiễn đưa quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về nước, tháng 6/1984. Ảnh: TTXVN
Hàng vạn người dân thủ đô Phnom Penh đứng dọc 2 bên đường, lưu luyến tiễn đưa quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về nước, tháng 6/1984. Ảnh: TTXVN

Ông hỏi lại bằng tiếng Anh với giọng phải cố uốn ép lên xuống, một ngoại ngữ mà ông thấy khó và chưa bao giờ cảm thấy cần phải thành thạo “Làm thế nào tôi, một người Campuchia lại xâm chiếm đất nước của chính mình?”

Khi nhà báo đặt câu hỏi về việc quân đội Việt Nam lật đổ Khmer Đỏ, Thủ tướng Hun Sen đã kiên trì giải thích, đó là một hành động giải phóng.

Trong cuốn sách, Hun Sen đã kể cho vợ chồng Mehta về tuổi thơ của ông, quá trình học tập tại Phnom Penh cho đến khi gia nhập lực lượng du kích của Khmer Đỏ (Campuchia Dân chủ) để chống lại chế độ độc tài Lon Nol, trở thành lãnh đạo quân sự ở cấp tham mưu trưởng trung đoàn đặc công, cho đến khi nhận ra sự tàn bạo của Pol Pot và đào thoát sang Việt Nam tháng 5/1977, để thành lập Mặt trận Thống nhất Cứu nguy, Đoàn kết và Giải phóng Campuchia.

Sau khi được bộ đội Việt Nam tiếp nhận, ông đã yêu cầu phía Việt Nam giúp đỡ để lật đổ chế độ Pol Pot. “Tôi đã bị từ chối,” ông thất vọng kể.

“Việt Nam cho biết nếu họ đồng ý yêu cầu của tôi xin giúp đỡ, họ sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia Dân chủ. Khi ấy chính phủ Việt Nam sẽ cố gắng đàm phán với Campuchia Dân chủ để làm dịu các căng thẳng quân sự trên biên giới chung,” ông kể với vợ chồng nhà báo Mehta.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen (giữa) nhìn bức phù điêu khắc hình của ông trên tường Đài tưởng niệm Thắng-Thắng trong lễ khánh thành tại làng Prek Ta Sek, ngoại ô Phnom Penh, Campuchia, vào ngày 29/12/2018. (Nguồn: AP)
Thủ tướng Campuchia Hun Sen (giữa) nhìn bức phù điêu khắc hình của ông trên tường Đài tưởng niệm Thắng-Thắng trong lễ khánh thành tại làng Prek Ta Sek, ngoại ô Phnom Penh, Campuchia, vào ngày 29/12/2018. (Nguồn: AP)

Ông Hun Sen khẳng định: “Việt Nam luôn luôn tôn trọng sự độc lập và chủ quyền của Campuchia, các vị lãnh đạo của Việt Nam đã từ chối lời thỉnh cầu giúp đỡ của tôi và nói điều đó có thể làm phương hại đến mối quan hệ giữa hai nước.”

Ông Hun Sen nói, một cơ hội “vàng” đã xuất hiện khi Pol Pot tấn công Việt Nam vào năm 1977. Thái độ gây hấn của Pol Pot đã đánh dấu thời kỳ bắt đầu thay đổi chính sách của Việt Nam.

Thủ tướng Campuchia kể lại: “Nếu Pol Pot không tấn công Việt Nam, tôi nghĩ chúng tôi sẽ không có được sự ủng hộ của Việt Nam để lật đổ chế độ Campuchia Dân chủ. Pol Pot đã vướng phải sai lầm là đã giết người dân của chính ông ta (kể cả những người gốc Việt) và phát động các cuộc tấn công vào Việt Nam.”

Pol Pot đã vướng phải sai lầm là đã giết người dân của chính ông ta (kể cả những người gốc Việt) và phát động các cuộc tấn công vào Việt Nam.” (Thủ tướng Hun Sen)

Phân tích từ các dữ liệu, vợ chồng Mehta xác nhận, các sự kiện chính trị lúc đó bắt đầu nhanh chóng diễn ra theo chiều hướng có lợi cho Hun Sen.

Sau khi bị Pol Pot tấn công, Việt Nam xét lại thái độ trung lập của họ đối với người láng giềng bặm trợn. Khi Pol Pot tái bố trí các lực lượng của ông ta từ Tây Nam Campuchia tới phía đông Campuchia để sẵn sàng tấn công Việt Nam, điều đó đã buộc một số lớn người dân Campuchia trốn sang Việt Nam.

  • 931279resi-1546489186-57.jpg
  • an792resiz-1546489346-58.jpg
  • an793resiz-1546489493-17.jpg
  • an1424resi-1546489565-19.jpg
  • an755resiz-1546489739-22.jpg
  • ae13164res-1546489895-27.jpg
  • ae13130res-1546489975-58.jpg
  • ae13139res-1546490077-66.jpg
  • an1126resi-1546490210-54.jpg
  • an1405resi-1546490352-35.jpg

Ông kể “Đó là một cơ hội bằng vàng cho tôi. Đến khi ấy Việt Nam đã quyết định giúp Campuchia. Đó là cơ hội cho chúng tôi tuyển mộ các lực lượng vũ trang của mình từ những người lánh nạn Campuchia đã chạy sang Việt Nam. Chính bản thân tôi đã không thể thuyết phục được Việt Nam. Nhưng khi Pol Pot tấn công thì Việt Nam phải đứng lên tự vệ chính đáng. Họ cảm thấy bị xúc phạm và đã quyết định giúp chúng tôi.“

Lúc đó, các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, với sự giúp đỡ của bộ đội Việt Nam, đã cùng tham gia quá trình giải phóng đất nước, tiến vào giải phóng Phnom Penh tháng 1/1979.

Hun Sen cho biết: “Chúng tôi đã bắt đầu giải phóng đất nước bằng cách mở ra Mặt trận Thống nhất với quân số giới hạn, nhưng khi chúng tôi chiến đấu xong, quân số đã tăng lên gấp nhiều lần, ngày càng có nhiều người gia nhập. Khi cuộc chiến chấm dứt, với lực lượng 2 vạn quân chiến đấu mạnh lúc bắt đầu cho tới khi chế độ Pol Pot bị sụp đổ trước các lực lượng quân đội nhân dân, quân số đã lên tới 4 vạn.”

Chủ tịch Mặt trận Đoàn kết Cứu nước Campuchia Heng Samrin (bên phải) trao lá cờ của Mặt trận cho một đơn vị lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia. Ảnh: Nguyễn Dĩnh – TTXVN
Chủ tịch Mặt trận Đoàn kết Cứu nước Campuchia Heng Samrin (bên phải) trao lá cờ của Mặt trận cho một đơn vị lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia. Ảnh: Nguyễn Dĩnh – TTXVN

Sau khi giải phóng Phnom Penh, Hun Sen được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia. Năm 1981, ông được bổ nhiệm làm phó Thủ tướng Chính phủ, và đến năm 1985 được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chính phủ.

Khẳng định về công lao to lớn của bộ đội Việt Nam với đất nước, nhân dân Campuchia, ông nói “Không có bộ đội Việt Nam, chúng tôi sẽ chết“.

Khẳng định về công lao to lớn của bộ đội Việt Nam với đất nước, nhân dân Campuchia, ông Hun Sen nói “Không có bộ đội Việt Nam, chúng tôi sẽ chết.“

Về việc quân đội Việt Nam ở lại Campuchia sau khi đánh đuổi quân Khmer Đỏ về vùng biên giới, Hun Sen giải thích: “Chính tôi đã nói với Lê Đức Thọ (Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác rằng nếu họ rút quân và Pol Pot quay trở lại được, thì càng nhiều người sẽ bị giết. Vào thời điểm đó, các lực lượng của Campuchia không đủ sức chống lại Pol Pot và chúng tôi cần thời gian để củng cố các lực lượng và nền kinh tế của mình.”

Ông nói thêm: “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi yêu cầu họ như thế. Sau đó chúng tôi đồng ý họ sẽ thử giảm bớt các lực lượng của họ vào năm 1982. Chính phủ Việt Nam giảm quân số, còn chúng tôi sẽ tăng lực lượng của mình lên. Ngay cả khi là một Bộ trưởng Ngoại giao, tôi vẫn can dự vào một chiến lược như thế.”

“Tôi vẫn còn nhớ cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao gồm Campuchia, Lào và Việt Nam ở Hà Nội vào năm 1985, chúng tôi đã đồng ý là các lực lượng bộ đội Việt Nam sẽ rút quân từ 10 tới 15 năm nữa. Nhưng do sự phát triển nhanh chóng của các lực lượng vũ trang Campuchia, và các cuộc đàm phán (hòa bình) giữa Sihanouk và tôi, chúng tôi đã rút các lực lượng bộ đội Việt Nam sớm hơn”.

Trưa 7/1/1979, quân đội Cách mạng Campuchia tiến vào giải phóng thủ đô Phnom Penh. (Nguồn: TTXVN)
Trưa 7/1/1979, quân đội Cách mạng Campuchia tiến vào giải phóng thủ đô Phnom Penh. (Nguồn: TTXVN)

Cố quốc vương Norodom Shihanouk

viết về tội ác của Khmer Đỏ

Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk (1922-2012) là một người rất yêu văn học nghệ thuật, ông đã viết sáu cuốn sách có tính chất hồi ký kể lại nhiều thăng trầm trong cuộc đời hoạt động gắn bó với lịch sử Vương quốc Campuchia.

Đặc biệt, hai cuốn sách viết bằng tiếng Pháp năm 1986 tựa đề “CIA chống Campuchia” và “Người tù của Khmer Đỏ” thuật lại những biên cố to lớn xảy ra trên đất Campuchia từ 1970 đến 1979, mở đầu bằng cuộc đảo chính do Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) chủ mưu và kết thúc bằng sự sụp đổ của chế độ Pol Pot.

Hai cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Công an Nhân dân gộp lại và dịch sang tiếng Việt mang tên “Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khmer Đỏ.”

Trong cuốn sách, Cựu vương kể lại chi tiết lịch sử hơn 100 năm của Vương quốc Campuchia, từ khi thực dân Pháp bắt đầu áp đặt chế độ cai trị đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, phần lớn nội dung cuốn sách nhấn mạnh giai đoạn đầy biến động của đất nước này trong thập kỷ 1970.

‘Qua báo chí và đài phát thanh nước ngoài mà tôi rất háo hức theo dõi ở Bắc Kinh, tôi được biết tình cảnh thảm khốc của việc lùa dân ra khỏi thành phố.’ (Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk)

Ông viết: “Ngày 17/4/1975, quân Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh. Ngay sau hôm chiến thắng tôi đã đề nghị ban lãnh đạo Khmer Đỏ cho tôi được về nước. Vài ngày sau, Angkar, tức tổ chức lãnh đạo của chế độ Pol Pot và chính phủ mới, thông qua ông Khieu Samphan lúc đó đang giữ chức Phó Thủ tướng, đề nghị tôi “kiên nhẫn” chờ đợi vì trước mắt đang còn phải truy quét “những tên tay sai của địch đang còn nhung nhúc ở Phnom Penh” đe doạ tính mạng tôi. Họ nói thêm, những điều kiện vệ sinh trong thủ đô hãy còn tồi tệ, đang có “bệnh dịch hạch và dịch tả.”

Thật ra, Pol Pot lúc đó đã xua đuổi toàn bộ dân chúng ra khỏi thành phố rồi. Liền sau đó, qua báo chí và đài phát thanh nước ngoài mà tôi rất háo hức theo dõi ở Bắc Kinh, tôi được biết tình cảnh thảm khốc của việc lùa dân ra khỏi thành phố.”

Pol Pot, Nuon Chea, Ieng Sary và Son Sen tại Phnom Penh trong khoảng thời gian từ 1975 and 1979. (Ảnh: Frederic Amat/Sygma via Getty Images)
Pol Pot, Nuon Chea, Ieng Sary và Son Sen tại Phnom Penh trong khoảng thời gian từ 1975 and 1979. (Ảnh: Frederic Amat/Sygma via Getty Images)

Ông bổ sung: “Nhiều đồng bào của tôi chạy trốn sang Pháp, viết thư kể chuyện cho tôi rõ, Khmer Đỏ đã lần lượt thanh toán những người thuộc phe cánh của Lon Nol và của cả Sihanouk. Ngay đến dân chúng Campuchia, những người chờ đón Khmer Đỏ tiến vào như những người giải phóng cho họ, cũng bị đuổi khỏi thành phố, hàng ngàn người chết gục trên các nẻo đường.

Tháng 9/1975 các ông Ieng Sary, Khieu Samphan, Son Sen đã tiết lộ với tôi, họ không thể để cho hai triệu người dân Campuchia sống tại thủ đô Phnom Penh được bởi vì chính quyền của họ mới được thiết lập có lẽ đang bị uy hiếp bởi nhiều gián điệp của Mỹ, Liên Xô, Pháp… thâm nhập vào Phnom Penh. Thành phố này đang biến thành một mê hồn trận” có nhiều gián điệp và phá hoại mà chưa thủ tiêu được. (Họ nói đúng nguyên văn như thế đó!)

Ngay đến dân chúng Campuchia, những người chờ đón Khmer Đỏ tiến vào như những người giải phóng cho họ, cũng bị đuổi khỏi thành phố, hàng ngàn người chết gục trên các nẻo đường. (Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk)

Hiển nhiên cái gọi là “sự cần thiết” phải lùa dân đô thị về nông thôn để “có thức ăn” và tránh khỏi “máy bay Mỹ ném bom” chỉ là một cái cớ giả tạo nẩy sinh từ một chính sách chủ trương quái gở, mất gốc, trái với những lời răn dạy của đức Phật.

Về cái gọi là “có thức ăn” thì thật sự dân chúng bị đuổi khỏi Phnom Penh đã hoàn toàn bị bỏ đói vì không được chuẩn bị một chút gì về lương thực cũng như tiếp tế lương thực. Còn về chuyện “máy bay Mỹ ném bom” thì rõ ràng đã không bao giờ xảy ra. Hậu quả của những sự lừa dối kinh khủng đó đã làm không biết cơ man nào là người chết.”

Cựu quốc vương, người từng làm vua Vương quốc Campuchia hai lần, lần đầu từ 1941-1955, lần thứ hai từ 1993-2004, và nhiều lần giữ chức vụ Quốc trưởng, Thủ tướng quốc gia này, nói về tội ác phá hủy văn hóa của Khmer Đỏ: “Khmer Đỏ không thoả mãn với việc giết hại một hoàng tử, công chúa, hoàng thân, những nhân vật bảo hoàng, những tín đồ đạo Phật, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa…, bọn cực đoan này còn “tàn sát” cả tượng Phật, san bằng đền chùa thiêu huỷ các bản Kinh Phật, những báu vật của văn minh, văn hoá và triết học Phật giáo.”

Một phụ nữ khóc bên cạnh một thi thể người thân sau khi quân Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh, tháng 4/1975. (Nguồn: Getty Images)
Một phụ nữ khóc bên cạnh một thi thể người thân sau khi quân Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh, tháng 4/1975. (Nguồn: Getty Images)

Cựu vương miêu tả cách Khmer Đỏ đày đọa nhân dân Campuchia như nô lệ trên các công trường lao động lớn: “Những “nô lệ” lao động trên công trường này được điều động từ các nơi xa tới. Phần lớn đều là thanh niên, thiếu niên, cả nam lẫn nữ. Theo lệnh Angkar, họ phải đảm đương những công việc nặng nhọc nhất “bởi vì họ trẻ và khỏe,” và phải liên tục lao động từ công trường này đến công trường khác không được nghỉ.

Ví dụ: một đội lưu động vừa đào xong một con sống dài mấy trăm cây số trong khu vực Puasat – Battambang thì ngay tối hôm đó Angkar ra lệnh phải hành quân cấp tốc tới một công trường mới ở Siem Reap, bên kia Biển Hồ. Angkar không dung thứ cho bất cứ một lời kêu ca phàn nàn nào. Mọi ý kiến chống đối hoặc đề nghị cho nghỉ giải lao hai mươi bốn giờ để lấy sức tiếp tục đi bộ đều bị thủ tiêu ngay.”

Chế độ Pol Pot bị dư luận quốc tế buộc tội đã gây ra tội ác diệt chủng, khiến 2 triệu người dân Campuchia thiệt mạng.

“Đó là những câu chuyện mà năm 1980, một người trốn thoát khỏi Campuchia đã viết thư kể lại cho tôi biết,” ông viết trong hồi ký.

Chế độ Pol Pot bị dư luận quốc tế buộc tội đã gây ra tội ác diệt chủng, khiến 2 triệu người dân Campuchia thiệt mạng.

Cựu vương Sihanouk ghi lại lời kể của bà Bua Tan, em họ Thái hậu, bị đưa đi một công xã thuộc tỉnh Battambang khi được trở về nhà thường thì thầm kể lại: “Trong công xã mà chúng tôi lao động có gài mật vụ của Angkar theo dõi chặt chẽ tất cả mọi người thế mà vẫn không ngăn được mỗi đêm có vài “nô lệ” chạy trốn. Người ta còn lôi kéo mua chuộc trong đám nô lệ một số người trở thành đao phủ của Angkar. Một mụ đàn bà không hề giấu giếm mình là một trong những tên đao phủ đó. Mụ khoe đã giết được vô khối tên phản cách mạng bằng cách đập gậy vào đầu cho đến chết.”

Các học sinh tái hiện tội ác của chế độ diệt chủng Pol Pot trong “Ngày giận dữ” hàng năm tại đài tưởng niệm ở “cánh đồng chết” Choeung Ek, Phnom Penh, Campuchia vào ngày 20 tháng 5. (Nguồn: AFP)
Các học sinh tái hiện tội ác của chế độ diệt chủng Pol Pot trong “Ngày giận dữ” hàng năm tại đài tưởng niệm ở “cánh đồng chết” Choeung Ek, Phnom Penh, Campuchia vào ngày 20 tháng 5. (Nguồn: AFP)

Norodom Shihanouk hết sức đau lòng khi chứng kiến Khmer Đỏ giết hại rất nhiều trẻ em: “Nhiều trẻ nhỏ đã bị giết chỉ vì đi lạc. Trời tối, đáng lẽ phải trở về công xã này thì các em lại đi nhầm sang công xã khác. Thế là người ta phải thanh toán những tên “gián điệp” đó, mặc dù kẻ bị tình nghi chỉ là những trẻ nhỏ sáu, bảy tuổi.

Những hình phạt đối với trẻ em phạm mỗi ở mức “trung bình” chưa tới tội tử hình cũng cực kỳ độc ác, tức là bắt nhịn ăn, bắt phơi nắng hàng giờ không cho uống nước vụt bằng roi, đánh bằng gậy. Nếu đứa trẻ trót nhặt một trái cây đã thối một nửa, rụng từ trên cây xuống đất mấy ngày rồi cũng bị ghép vào tội ăn cắp tài sản của tập thể. Ngay cả con cái của binh lính Khmer Đỏ khi đau ốm cũng không được chăm sóc, thuốc men.”

‘Nhiều trẻ nhỏ đã bị giết chỉ vì đi lạc. Trời tối, đáng lẽ phải trở về công xã này thì các em lại đi nhầm sang công xã khác. Thế là người ta phải thanh toán những tên “gián điệp” đó, mặc dù kẻ bị tình nghi chỉ là những trẻ nhỏ sáu, bảy tuổi.’

“Trước kia, tôi đã từng đi thăm một khu nuôi cá sấu của người Việt Nam ở Kamphong Chhnang. Ở đây, Khmer Đỏ nói với tôi thực đơn nuôi cá sáu là chó, mèo, khỉ. Sau này, khi thoát khỏi địa ngục của Pol Pot, tôi đọc báo phương Tây mới biết đôi lúc Khmer Đỏ vứt cả trẻ em “khó bảo” cho cá sấu ăn thịt. Thật là một tội ác không sao tả xiết”, ông đau đớn kể lại.

Về gia đình riêng, cựu quốc vương cho biết, tổng cộng có tới gần hai chục người, các con, cháu của ông đã bị Khmer Đỏ đưa ra khỏi Phnom Penh và mất tích.

“Lúc này chỉ còn lại có Sihamoni và Narindrapong tiếp tục sống cùng với vợ chồng chúng tôi, những người tù của Pol Pot, cho tới khi những người lính thiện chiến của Hà Nội mở cuộc chiến tranh chớp nhoáng đánh vào Phnom Penh tháng 1/1979. Cuộc tiến công chớp nhoáng này đã có hiệu quả là giải phóng được một bộ phận trong gia đình đông đảo con cháu của tôi,” ông vui mừng kể lại.

Nhân dân Campuchia tham dự Lễ mừng chiến thắng 7/1/1979, được tổ chức ngày 25/1/1979 tại sân vận động Olympic ở thủ đô Phnom Penh. (Nguồn: TTXVN)
Nhân dân Campuchia tham dự Lễ mừng chiến thắng 7/1/1979, được tổ chức ngày 25/1/1979 tại sân vận động Olympic ở thủ đô Phnom Penh. (Nguồn: TTXVN)

“Sau khi nhận rõ Pol Pot đã dìm nhân dân Campuchia vào tình trạng thảm hại như thế nào, tôi nhất quyết rời bỏ mọi chức vụ”, ông viết. Tuy nhiên Khmer Đỏ muốn giữ ông lại để làm một thứ bình phong cho chế độ diệt chủng của chúng.

Ông được Pol Pot đưa lên máy bay bay sang Bắc Kinh ngày 6/1, ngay trước khi quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh. Pol Pot còn ép buộc cựu vương làm đại diện cho chúng tại diễn đàn của Đại hội đồng Liên Hợp quốc họp tại New York, Mỹ. Tại đây, ông đã tìm cách nhờ cảnh sát Mỹ giải thoát khỏi sự khống chế của nhân viên an ninh Campuchia Dân chủ, sau đó sang sống lưu vong tại Trung Quốc.

Họ hy sinh cho nước bạn hồi sinh

Lời tòa soạn

Và khi dân tộc Khmer đứng trước thảm họa diệt vong, kêu gọi sự giúp đỡ, chúng ta đã không thể làm ngơ, khi cùng Mặt trận đoàn kết dân tộc Campuchia đánh đổ bè lũ diệt chủng Pol Pot-Ieng Sary, một trong những chế độ bạo tàn nhất trong lịch sử loài người. Chiến thắng 40 năm về trước, ngày 7/1/1979, không chỉ làm hồi sinh đất nước Chùa Tháp, mà còn là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế.

“Nhân dân Campuchia có niềm tin chỉ có tiên có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam đã đến. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật” – Chia sẻ của Thủ tướng Hun Sen khi ông đến Đồng Nai ngày 2/1/2012 dự lễ khánh thành di tích lịch sử Đoàn 125, tiền thân của Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Campuchia.

Điều đáng nói là cuộc chiến đấu vô cùng khó khăn và ác liệt ấy diễn ra trong bối cảnh chúng ta vẫn còn chưa kịp khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, bị các thế lực thù địch nước ngoài bao vây cấm vận. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã ngã xuống, hay để lại một phần thân thể trên đất bạn.

Tổ quốc chưa bao giờ quên ơn họ. Nhân dân Campuchia gọi họ là “đội quân Nhà Phật.” Tòa án quốc tế đã ra phán quyết gọi những kẻ cầm đầu tập đoàn phản động Pol Pot đã phạm tội ác diệt chủng. Đất nước Campuchia đã hồi sinh mạnh mẽ, bỏ lại sau lưng trang sử u tối nhất. Ngày 7/1 được coi là Ngày Hồi sinh của dân tộc Khmer.

Sau 40 năm, lịch sử đã được trả về với đúng vị trí của nó. Nhưng, thế giới dường như vẫn còn nợ Việt Nam một lời xin lỗi.

Tổ chức sản xuất: Nguyễn Hoàng Nhật, Trần Ngọc Long, Lê Tiên Long, Nguyễn Hùng

Thực hiện: Trần Chí Hùng, Trần Sơn Bách, Phạm Mỹ, Lê Minh Sơn, Phan Minh Hưng, Danh Chanh Đa, Nguyễn Việt Đức, Tô Sơn Tùng

Thiết kế: Thanh Trà

Video: Nguyễn Trường

Sản phẩm được thực hiện với sự giúp đỡ của Ban Biên tập Ảnh, Cơ quan Thường trú Campuchia, Cơ quan Thường trú An Giang (Thông tấn xã Việt Nam).

‘Máu vẫn chưa ngưng loang trong lòng người Ba Chúc’

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên cương Tây Nam thiêng liêng của Tổ Quốc, Ba Chúc đã trở thành một biểu tượng vĩnh cửu của nỗi đau và cũng là minh chứng bất diệt cho tội ác diệt chủng vào bậc ghê rợn nhất trong cả lịch sử loài người. Tháng 4/1978, sau hơn 8 tháng liên tục nã đạn vào ngôi làng nhỏ thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, quân Pol Pot đã tràn tới. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, chúng đã sát hại hơn 3.000 thường dân, gây rúng động toàn bộ thế giới lúc bấy giờ.

40 năm sau, những ký ức kinh hoàng của ngày ấy vẫn còn hiển hiện rõ trong lòng thị trấn mới. Người Ba Chúc bảo: Chưa lúc nào và sẽ chẳng bao giờ, máu có thể ngừng loang trong lòng của họ được.

Tri Tôn, An Giang chiều cuối năm.

Thị trấn Ba Chúc bữa nay ngào ngạt mùi hương trầm. Không ai bảo ai, cứ tới những giờ khắc cuối cùng của năm cũ, người dân của thị trấn biên viễn An Giang lại đồng loạt thắp nhang cho hơn 3.000 nạn nhân đã vĩnh viễn nằm lại sau vụ thảm sát tròn 40 năm về trước.

Lịch sử về sau đã ghi lại những dòng chữ rướm máu về Ba Chúc: “Từ ngày 30/ 4 năm 1977, quân Khmer Đỏ bắt đầu đồng loạt nổ súng tấn công biên giới Tây Nam – Việt Nam. Ngày 18 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc, thẳng tay chém giết những dân thường vô tội. Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai và Tam Bửu và chạy lên núi Tượng nhằm ẩn náu, song cũng bị quân Khmer Đỏ tàn sát dã man. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng, chúng đã giết chết 3.157 thường dân, chỉ có 3 người sống sót sau vụ tàn sát ấy.”

Ngồi lặng lẽ bên hông chùa Phi Lai, ông Trần Ân, một nhân chứng sống của 12 ngày đêm địa ngục ấy khe khẽ thở dài. Ông bảo: Năm nào cũng có người tới hỏi về vụ thảm sát ngày xưa đến mấy chục lần.

“Mỗi lần kể lại đau lòng lắm chú ơi. Cả đời tôi chắc không bao giờ quên được,” ông Tư Ân đăm đắm nhìn ngôi nhà mồ ngay sát cạnh rồi thở hắt ra.

Ngày ấy, Tư Ân vừa tròn 20 tuổi.

Không khí chiến tranh mỗi lúc một lan rộng khắp vùng biên của tỉnh An Giang. Quân Pol Pot trong nhiều tháng liên tục nã đạn vào các làng mạc, ruộng đồng. Những tin tức về cuộc xâm lấn của “giặc Miên” [theo cách gọi của người dân địa phương – PV] vào sâu trong nội địa cuồn cuộn như lửa cháy lan về. Cho đến tháng 4/ 1978, chúng thậm chí còn cho quân vượt biên cải trang thành dân thường, bí mật trà trộn sang huyện Tri Tôn giết những người đi làm đồng.

(Nguồn: Vietnam+)

Giống như một số ít người, gia đình Tư Ân lục tục dắt díu nhau chạy ngược ra thị trấn Tri Tôn để chạy giặc. Nhưng, hơn 3.000 người khác vẫn bám đất, bám núi ở lại quê hương. Và chỉ một vài ngày sau cuộc di tản ấy, thảm kịch chính thức bắt đầu.

Sau khi nã pháo, quân Pol Pot chia làm hai hướng đánh sâu vào Ba Chúc: Một cánh quân chiếm xã An Lập phía đông Ba Chúc, một cánh đánh chiếm ấp An Bình dưới chân núi dài. Quân Miên bao vây cả làng, chặn đứng mọi ngả đường. Chúng tràn vào từng nhà dân đốt phá, cướp sạch tiền vàng, giết hại trâu bò. Dã man hơn, lính Pol Pot còn lùng bắt người dân, dồn họ ra những cánh đồng lớn để bắt đầu hành quyết.

Chúng dồn bà con thành những nhóm lớn trên cánh đồng hoặc bương nước rồi dùng gậy gộc, búa, vồ, lưỡi lê đâm, đập cho vỡ sọ. Phụ nữ thì bị hãm hiếp rồi mới giết. Có dòng họ bị biến mất hoàn toàn sau hơn 10 ngày giặc Miên ở Ba Chúc,” ông Hai Phê, một trong những thủ nhang Phi Lai Tự kể, mắt đã đỏ ngầu.

Nói đoạn, ông Hai dẫn chúng tôi vào khu vực hậu điện của chùa. Tại đây, vào ngày 20/4/1978, hàng trăm đồng bào Ba Chúc trong nỗi sợ hãi tột cùng đã chạy tới nương nhờ cửa Phật.

Khoảng 3 giờ chiều ngày 18/4/1978, Pol Pot bao vây kín quanh chùa. Bất chấp chốn thiền môn, chúng châm lửa đốt chùa, xả súng vào hậu điện. Người ngã như ngả rạ, xác chất chồng lên nhau. Cuộc bắn phá điên cuồng vào chùa Phi Lai, chỉ trong chớp mắt, đã cướp đi sinh mạng 80 người dân vô tội.

Hơn 100 người khác do hoảng sợ giơ tay đầu hàng đi ra cũng bị xử tử tại chỗ theo nhiều cách. Đàn bà thì chúng hãm hiếp rồi dùng gậy xiên từ cửa mình lên cho tới chết. Đàn ông bị đập vỡ sọ bằng gậy gỗ mun. Trẻ em bị đâm bằng những cây tầm vông nhọn hoắt. Người nào chống đối, chúng nã đạn chết tại chỗ.

40 người khác trốn dưới căn hầm dưới bàn thờ Phật kiên quyết không ra theo lời chiêu hàng cũng bị ném lựu đạn cho tới chết.

Hơn 40 năm sau, những ngấn máu từ vụ thảm sát Phi Lai Tự ngày ấy vẫn còn hằn in không sao xóa nổi, loang lổ ngay dưới chân án hương đang nghi ngút khói.

Chém, giết, hiếp và cướp bóc cũng là cảnh diễn ra ở khắp nơi dọc mảnh đất Ba Chúc. Tại tổ đình Tam Bảo, 800 người đã bị áp giải ra giữa cánh đồng cằn cỗi rồi chịu cảnh hành quyết. Dân chạy tứ tán trốn lên núi Tượng cũng bị Pol Pot xua quân lùng sục và “tử hình” ngay trên những miệng hang đá trú ẩn.

Bà Bùi Thị Đầm (68 tuổi), ngụ tại chân núi Tượng bật khóc khi run rẩy chống gậy đưa chúng tôi lên thăm hang Ba Lê cũng là ngôi mộ chung của 8 người thân đã bị tàn sát năm 1978. Lập cập đốt một bó nhang lớn, bà vừa khấn, vừa nức nở: “40 năm rồi, mọi người có còn lạnh không? Hôm nay tui lại lên thắp nhang, mong mọi người được bình yên.”

Ngày giặc tràn vào Ba Chúc, anh trai bà Đầm là ông Ba Lê khi đó đã dắt 8 người của gia tộc họ Bùi nhau chạy vào hang đá trong núi Tượng để trú. Do quân Pol Pot liên tục dùng chó săn để truy tìm, cả nhóm không dám rời khỏi hang. Chỉ khi vào ban đêm, họ mới có thể bò lên, ra chặt thân chuối rừng, kéo vào bên trong ăn tạm.

Tới chiều tối ngày thứ 7, đứa con nhỏ của Ba Lê do không chịu được hơi nóng phía dưới khóc váng lên. Lúc này, phía trên miệng hang cũng đã bặt tiếng người. Ba Lê lóc nhóc ôm đứa nhỏ lên phía trên ngồi quạt. Bất ngờ, từ phía trên núi, hai tên lính Pol Pot xồng xộc chạy xuống, tay lăm lăm súng. Ba Lê chỉ kịp liệng con vào tay vợ phía dưới hang rồi lăn lông lốc trượt về chân núi.

“Khi đó, ảnh nghĩ sẽ dụ được địch theo mình được. Chúng nó ném cả trái lựu đạn với bắn súng theo làm ảnh bị lủng đùi. Ảnh chạy được về hầm trú ẩn dưới nhà tự băng bó mà vẫn nghĩ vợ con mình trên đây vẫn an toàn,” bà Đầm kể.

Thế nhưng, chỉ trong vòng 2 tiếng sau đó, giặc Pol Pot đã hành quyết 8 người còn lại theo cách dã man nhất. Chúng xả súng và ném lựu đạn vào bên trong. Người nào bò được ra ngoài ngay lập tức bị dao, gậy đập chết. Cháu nhỏ con trai Ba Lê còn bị nắm tay chân xé đứt làm đôi. Máu xối xả chảy trên miệng hang đá lạnh.

Đêm ấy, Ba Lê ngồi khóc ngay bên đống thi thể của những người thân yêu rồi tự tay đưa lại những phần thi thể ấy xuống sâu trong hang rồi lấp lại. Và suốt từ đó tới tận bây giờ, hang vẫn chưa bao giờ được một lần mở lại. Mãi về sau, ngôi mộ tập thể trên núi Tượng này được đổi tên thành hang Ba Lê – người duy nhất còn sót lại. Ông Ba cũng lặng lẽ tự mình đổ bằng miệng hang, dựng bia thờ, ghi lại tên từng người đã nằm lại bằng sơn. Sau hàng chục năm, màu sơn vẫn cứ sậm đỏ như dòng máu đã ứa trào lên ngày nào…

(Nguồn: Vietnam+)

Chỉ tính riêng trong đợt thảm sát năm 1978, toàn gia tộc họ Bùi đã có tới gần 80 người tử vong. Trên toàn địa bàn Ba Chúc, hơn 3.000 đồng bào, chiếm tới hơn 50% dân số bấy giờ đã chết. Chỉ duy nhất 3 người không di tản còn có thể sống sót. Những nấm mồ như hang Ba Lê, Phi Lai Tự, Tam Bảo tự… cũng lần lượt mọc lên như một minh chứng ngàn đời cho nỗi đau của người dân dọc mảnh đất biên viễn phía Tây Nam của Tồ quốc.

Sau ngày quân Pol Pot bị đánh bật ra khỏi Tri Tôn, từ khắp nơi, bà con bắt đầu lục tục trở về. Đón chờ họ chỉ còn là những ngôi nhà đất đã cháy đen khét lẹt; là tiếng khóc hời tức tưởi trên những miệng hang; là múi thúi váng đầu lẩn khuất… Chỉ bằng 12 ngày, đội quân “mặt quỷ” từ bên kia biên giới đã biến Ba Chúc thành địa ngục.

Bà Sáu Vẹn từ Đồng Tháp quay lại đã gần như đổ gục. Ngôi nhà của ba má chỉ còn lại dãy cột kèo đang cháy dở, không còn ai là người thân xung quanh.

“Chỉ còn tro bụi thôi. Khi ấy, tui cứ ôm cột mà khóc, gọi cha mẹ. Nhưng nào còn gì đâu, chỉ còn tiếng gió,” bà Sáu nức nở.

Năm ấy, Ba Chúc lại mất mùa. Thứ duy nhất không thiếu là những cánh đồng bạt ngàn xác chết đang chất chồng lên nhau…

Người còn sống lầm lũi dựng lại cửa nhà, rồi lại lầm lũi gom nhặt những thi thể, xương cốt đã không thể phân biệt được ai với ai lại. Họ tự tay mình đào một hố sâu 3 thước để làm hố xương tập thể và đồng lòng để nấm mồ ấy lộ thiên, như một cách ôn lại mối thù ngàn đời với quân Pol Pot.

Những năm về sau, một khu nhà mồ đã được Nhà nước xây dựng khang trang hơn. 1.159 bộ hài cốt trong số 3.157 mạng người bị thảm sát cũng được quy tập về “ngôi nhà chung” này để trưng bày để các thế hệ sau thấy được sự mất mát, đau thương của thế hệ trước và cũng là cái giá cho những ngày bình yên.

Nằm sát ngay cạnh Phi Lai tự, Nhà Mồ Ba Chúc có hình lục giác, mỗi góc là một trụ cột đỡ mái nóc nhà bằng hình tượng bàn tay cầm chuôi kiếm đẫm máu giương thẳng – thể hiện ý chí căm thù. Chính giữa nhà mồ là khung hộp kính tám cạnh bằng nhau, chứa đựng xương cốt. Để kéo dài tuổi thọ những bộ xương này, vào những năm đầu, ngành chuyên môn phải dùng sáp nấu sôi áo bên ngoài xương để tránh ôxi hóa.

Hơn 1.000 hộp sọ được phân loại theo độ tuổi rồi bày biện trên các giá thép. Nhiều hộp sọ vẫn còn nguyên vết thủng do đạn bắn, vết nứt vỡ vì bị gậy gộc đập vào. Những hốc mắt trống không, u uẩn hướng đăm đăm ra ngoài khiến du khách tới thăm phải khẽ rùng mình. Ám ảnh nhất phải kể đến là khu đặt hài cốt của trẻ sơ sinh. Hàng chục hộp sọ bé xíu chưa kịp thành hình hoàn chỉnh xếp chồng lên nhau đã bắt đầu ngả sang màu đen xỉn.

Ngày ngày, người dân Ba Chúc có việc đi ngang qua Nhà Mồ không ai bảo ai lại ghé tới, thắp một bó nhang lên bàn thờ được đặt ở chính điện. Suốt 40 năm, hương trầm vẫn âm ỉ cháy, sưởi ấm cho ngôi mộ chung lớn vào bậc nhất cả nước.

Những ngày này, mặc dù thị trấn vùng biên đang ngày một đổi thay, nhưng dư âm kinh hoàng của cuộc thảm sát khi xưa vẫn còn hiển hiện rõ. Một lễ giỗ tập thể đã được tỉnh An Giang ấn định vào ngày 15 và 16 tháng 3 Âm lịch hàng năm để nhắc nhớ nỗi đau vẫn chưa thể lành. Khu Nhà mồ cũng được quy hoạch và xây dựng lại bề thế và khang trang hơn. Những dấu máu loang trên tường Phi lai tự được giữ lại như một dấu hằn đỏ sậm của lịch sử tang thương… Tất cả vẫn nhắc nhớ người còn sống về 12 ngày đêm thảm sát kinh hoàng ở Ba Chúc…

Chiều muộn Tri Tôn, giữa lưng chừng núi Tượng.

Bà Đầm đã quỳ sụp xuống trước miệng hang Ba Lê. Khói từ bó nhang theo gió từ sườn đồi bỗng bùng lên thành ngọn lửa nhỏ. Lửa hương leo lét trên miệng nấm mồ chung trong bóng chiều loang rộng.

Tiếng khóc của bà Đầm át dần những lời khấn khứa rì rầm, ức nghẹn…

40 năm, chưa khi nào máu ngừng chảy trong lòng người Tri Tôn…

Cuộc thảm sát năm 1978 tại Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang) cùng với một loạt cuộc thảm sát trước đó của quân Pol Pot tại biên giới các tỉnh Tây Nam Bộ đã buộc chúng ta phải thay đổi chiến lược ngoại giao. Để bảo vệ sự sinh tồn của nhân dân, chúng ta buộc phải bước vào cuộc chiến tranh chính nghĩa. Vụ thảm sát man rợ này cũng được coi là một trong những sự kiện chủ chốt dẫn tới Chiến tranh biên giới Tây Nam và Chiến tranh chống chế độ diệt chủng Pol Pot những năm về sau này.

Theo Đại tướng Phạm Văn Trà (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng): “Nếu không đánh, người dân vùng biên sẽ còn bị giết hại, còn phải sống trong cảnh khốn khổ. (…) Thực ra chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một cuộc chiến của chính nghĩa. Cũng vì sự chính nghĩa mà toàn thể nhân dân đã ủng hộ. Đến khi chúng ta đánh sang Campuchia, yếu tố chính nghĩa tiếp tục thể hiện. Nếu không vì chính nghĩa, nhân dân Campuchia sẽ không bao giờ ủng hộ và cũng sẽ không tiêu diệt được Pol Pot.”

Hãy để hình ảnh lên tiếng

40 năm sau khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh chống lại chế độ diệt chủng Pol Pot kết thúc, nỗi đau vẫn còn hằn in sâu đậm trên mảnh đất nghèo Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang. Một ngôi nhà mồ đã được dựng lên ngay năm 1979, chứa 1.159 bộ hài cốt thường dân đã bị sát hại dã man. Ngôi nhà mồ ấy như một biểu tượng vĩnh cửu cho tội ác của quân Pol Pot năm nào.

Cách thị trấn Châu Đốc hơn 40 km về phía Tây Nam, Nhà mồ Ba Chúc mang vẻ trầm lặng bao trùm lên những chứng tích đau thương còn lại thời kỳ diệt chủng Pol Pot. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Ngày 18 tháng 4 năm 1978, Pol Pot tràn vào Ba Chúc, thẳng tay chém giết những dân thường vô tội. Chỉ trong vòng 12 ngày đêm, hơn 3.000 thường dân đã bị hành quyết dã man. Chỉ có duy nhất 3 người còn sống sót sau vụ thảm sát ấy. Năm 1979, chính quyền và nhân dân An Giang đã xây dựng tại đây một quần thể chứng tích tội ác, bao gồm 7 hạng mục: nhà mồ, bia căm thù, nhà truyền thống, nhà thủy tạ, hồ sen, nhà khách và vòng rào. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Khu nhà mồ tĩnh lặng có hình lục giác, mỗi góc là một trụ cột đỡ mái nóc nhà bằng hình tượng bàn tay cầm chuôi kiếm đẫm máu. Chính giữa là khung hộp kiếng 8 cạnh bằng nhau, chứa đựng 1.159 xương cốt. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Phần lớn nạn nhân bị bắn, chém, chặt đầu. Nhiều phụ nữ bị hãm hiếp, bị đóng cọc vào chỗ kín, trẻ em thì bị đâm lê trước khi giết chết hoặc xé đôi người, nắm hai chân đập đầu vào gốc cây. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Xương cốt của các nạn nhân được phân chia theo độ tuổi từ trẻ đến già. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Nằm cách đó không xa là khu nhà Trưng bày chứng tích tội ác của Pol Pot. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Nơi đây lưu giữ những công cụ mà Pol Pot đã dùng để tàn sát người dân Ba Chúc. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Trong ảnh là cây dùi gỗ mà Pol Pot dùng để đập vào đầu, tàn sát người dân Ba Chúc. Dấu vết của những cuộc hành hình năm xưa giờ vẫn còn vẹn nguyên ở những vết chày xước ăn sâu vào đầu chiếc dùi đen đúa ấy. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Lưỡi lê – một công cụ hành quyết khác hiện đại hơn nhưng cũng không kém phần man rợ (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Chùa Phi Lai nằm ngay dưới chân núi Tượng, quả núi nằm trọn trong lòng thị xã Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang). Ngày 18/4/1978, Pol Pot tràn vào bao vây chùa Phi Lai và một cuộc hành quyết kinh thiên động địa đã diễn ra tại ngôi chùa này. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Bức tường dài đến hơn chục mét loang lổ những vết đỏ thẫm là những vết máu của đồng bào Ba Chúc trong cuộc thảm sát kinh hoàng khiến hơn 200 người dân thiệt mạng. Hơn 40 năm đã qua đi, nhưng dấu máu vẫn chưa thể phai mờ. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Địa ngục trần gian 

qua lời kể của nhân chứng sống người Campuchia

Tháng 9/2017, bộ phim “They First Killed My Father” (tạm dịch Trước tiên chúng giết cha tôi) của minh tinh Angelina Jolie, dựa theo hồi ký của cô Loung Ung, đã lên sóng trên kênh Netflix, một lần nữa vạch trần tội ác ghê rợn của chế độ diệt chủng Pol Pot ra trước thế giới.

Trao đổi với VietnamPlus, nhà văn Trung Sỹ, tác giả của cuốn hồi ức Chuyện Lính Tây Nam nhận xét, bộ phim đã được thực hiện khá công phu và chân thực, đặc biệt là những đoạn đặc tả bi kịch mà gia đình cô Ung nói riêng, cũng như đại đa số người dân Campuchia phải chịu đựng trong thời kỳ đen tối đó.

Cảnh bộ đội Việt Nam che chở cho các em nhỏ Campuchia trước cuộc tấn công của quân Pol Pot trong They First Killed My Father (2017).
Cảnh bộ đội Việt Nam che chở cho các em nhỏ Campuchia trước cuộc tấn công của quân Pol Pot trong They First Killed My Father (2017).

Trước đó, một tác phẩm điện ảnh khác về giai đoạn đau buồn này của đất nước Chùa Tháp cũng gây được nhiều tiếng vang là “Killing Field” (Cánh đồng chết, 1984, đạo diễn Roland Joffe) khi giành tới 3 giải Oscar.

Nhưng dù phim ảnh có chân thực thế nào đi chăng nữa thì cũng không sánh nổi với những cùng cực mà người dân Campuchia phải chịu đựng dưới chế độ Pol Pot. Những Cánh đồng chết, nhà tù Tuol Sleng vẫn khiến nhiều người ớn lạnh.

Những ký ức đau thương đó vẫn chưa thể xóa nhòa với cả một thế hệ người dân Campuchia, dù mọi thứ đã lùi xa 40 năm.

Theo các sử gia quốc tế, trong quãng thời gian cầm quyền từ 1975 đến 1979, chế độ Pol Pot đã gây ra cái chết cho khoảng 3 triệu người dân Campuchia, chiếm 25% dân số nước này. Một con số khủng khiếp.

Không khỏi nghẹn ngào khi nhớ lại một thời kỳ gia đình ly tán, cực khổ dưới chế độ tàn bạo ấy, ông Routh Chantha (60 tuổi, quận Chamkar Mon, Phnom Penh), một nhân chứng trong giai đoạn đau khổ của đất nước Chùa Tháp đã chia sẻ với phóng viên VietnamPlus về cảm xúc sau Chiến thắng lịch sử ngày 7/1/1979 của Quân tình nguyện Việt Nam cùng quân và dân Campuchia, giải phóng đất nước Chùa tháp khỏi thảm họa diệt chủng.

Từ trái qua là Pol Pot, Nuon Chea, Ieng Sary và Son Sen tại Phnom Penh trong khoảng thời gian từ 1975 and 1979. (Ảnh: Frederic Amat/Sygma/Getty Images)
Từ trái qua là Pol Pot, Nuon Chea, Ieng Sary và Son Sen tại Phnom Penh trong khoảng thời gian từ 1975 and 1979. (Ảnh: Frederic Amat/Sygma/Getty Images)

– Ông nhớ gì về những ngày tháng dưới chế độ Pol Pot, thời điểm đó, cuộc sống của gia đình và bản thân ông như thế nào?

Dưới chế độ Pol Pot, tôi vẫn còn là một cậu bé thiếu niên. Nói sao cho hết khổ cực, vào mùa mưa thì việc ăn uống vô cùng thiếu thốn, chúng tôi phải làm việc cật lực trong công xã nhưng chỉ được ăn cháo. Tất cả mọi người dân phải làm việc theo quy định của Angkar (Tổ chức) mỗi hecta phải đạt năng suất 3 tấn thóc.

Mọi tự do đều bị loại bỏ. Ai dám chống đối sẽ bị xử lý một cách thảm khốc. Cả tôi cũng vậy, gia đình thì bị ly tán khắp nơi. Tôi ở một nơi, mẹ tôi ở một nơi. Có thể nói, quãng thời gian 3 năm dưới chế độ Pol Pot thực sự là quãng thời kỳ đen tối với chúng tôi.

– Ông nghĩ gì về Chiến thắng ngày 7/1/1979 của Quân tình nguyện Việt Nam và các lực lượng tiến bộ Campuchia?

Đất nước được giải phóng sau ngày 7/1/1979, cá nhân của tôi đã cùng sát cánh với bộ đội tình nguyện Việt Nam từ những ngày đầu chiến đấu chống quân Khmer Đỏ khát máu. Khi ấy chúng tôi không có nghi ngờ gì về ý nghĩa của cuộc chiến đấu này.

Trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ và được chứng kiến những ngày cùng Bộ đội Việt Nam xuống địa bàn ở nhiều địa phương, bản thân tôi thấy rằng, Bộ đội Việt Nam đã không ngại rời xa quê hương, hy sinh máu xương của mình đề giải phóng đất nước và người dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

– Một nền hòa bình của đất nước Campuchia phải đánh đổi bằng biết bao xương máu của Bộ đội Việt Nam cùng lực lượng tiến bộ đất nước Chùa tháp, chứng kiến một giai đoạn lịch sử đau thương, ông muốn nhắn gửi bài học gì đến thế hệ trẻ Campuchia hôm nay?

Bản thân tôi đã qua nhiều giai đoạn khổ cực khác nhau nên khi đất nước có được sự ổn định và yên bình như ngày hôm nay, tôi mong muốn thế hệ trẻ sau này gồm cả thanh niên và con cháu của tôi, hãy cố gắng học tập, nâng cao năng lực của bản thân để góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

Xin nhắn gửi đến thế hệ sau này đừng nên có tư tưởng bôi nhọ lẫn nhau, hãy ra sức nỗ lực học tập, tiếp thu các tinh hoa tiến bộ của thế giới đem về phục vụ đất nước mình để xứng đáng với những hy sinh của các bậc tiền nhân.

Là những người tiếp nhận những thành quả của cha ông đã khổ cực có được nên giới trẻ cần cố gắng trong việc hoàn thiện bản thân mình, cố sao tránh những sứt mẻ gây chia rẽ dân tộc vốn đã từng xảy ra ở thời Lon Nol, thời Khmer Đỏ. Tôi thấu hiểu những giá trị đó, giá trị của hòa bình và đoàn kết dân tộc.

Hàng vạn người dân thủ đô Phnom Penh đứng dọc 2 bên đường, lưu luyến tiễn đưa quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về nước, tháng 6/1984. (Ảnh: TTXVN)
Hàng vạn người dân thủ đô Phnom Penh đứng dọc 2 bên đường, lưu luyến tiễn đưa quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trở về nước, tháng 6/1984. (Ảnh: TTXVN)

Tiến về Phnom Penh

‘Nếu bộ đội Việt Nam không lên kịp, dân đã chết hết rồi’

Những làng mạc bị đốt phá trơ trụi, không một bóng người. Những hố bom nước trong vắt nhưng cứ lặn xuống tắm rửa lại tìm thấy xương người. Em bé Campuchia đen nhẻm, gầy trơ xương, không áo quần lết ven đường xin ăn…

Mặc dù đã 40 năm trôi qua, nhưng những hình ảnh tang thương trên mảnh đất gió bụi Campuchia giai đoạn 1978-1979 vẫn còn hằn rõ trong ký ức những người lính Tây Nam. Đất nước chùa Tháp bấy giờ như một nấm mộ khổng lồ mà “nếu bộ đội Việt Nam không lên kịp thì dân đã chết hết rồi”.

BỮA CƠM BỘ ĐỘI VÀ NHỮNG CHIẾC ÁO TỪ MẢNH DÙ CUỐN XÁC

Cuối năm 1978, đầu năm 1979, Đại tá Huỳnh Trí (Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh An Giang, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) đã cùng đồng đội hành quân sâu sang nước bạn trong nỗ lực giải phóng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Anh bộ đội Hai Trí ngày ấy giờ đã 69 tuổi nhưng khi được hỏi về chuyện chiến trường, ông lại hoạt bát hẳn.

Trầm ngâm một lúc, ông bảo: Điều ám ảnh ông nhiều hơn cả trong suốt những tháng ngày làm nhiệm vụ trên đất bạn không phải là trận chiến giữa hai bên mà là nỗi khốn khổ của người dân Chùa tháp.

Hành quân cùng đoàn 9905, mặt trận 779 từ biên giới An Giang, tiểu đoàn của Hai Trí nhận nhiệm vụ truy đuổi quân Pol Pot theo trục hướng thẳng về Phom Penh. Suốt vài kilomet đầu tiên từ vành đại vùng biên tới sâu nội địa, đi tới đâu, bộ đội cũng bắt gặp những làng mạc bị đốt phá tiêu điều và không một bóng dân. Nhà cửa đổ nát, chùa chiền liêu xiêu trong gió chiều. Đến cả tượng Phật cũng chỉ còn trơ mỗi thân mình khi toàn bộ đầu đều bị chặt hạ. Không còn bất kỳ một dấu hiệu nào của sự sống, những bom, sóc Campuchia giờ trở thành những ngôi làng chết.

Phải tới mãi khi đi sâu hơn, ông Hai Trí mới gặp được người bản địa đầu tiên. Đó là một ông lão đang nằm thoi thóp ven đường, trên người chỉ còn trơ ra những dẻ xương sườn phập phồng sau lớp da tái xám.

“Thấy bộ đội Việt Nam, ông ấy mới nói: Ông bỏ chạy khi quân Pol Pot đuổi, nhưng do đói quá nên gục lại đây,” ông Hai Trí kể.

Người thân của ông lão Campuchia khi ấy không ai thoát được. Tất cả đều nằm lại trong hố chôn tập thể nằm sâu trong rừng cao su cạnh bản làng. Ông lão sống dở, chết dở gặp bộ đội vừa khóc, vừa nhồm nhoàm nhai tép lương khô từ tay những người lính chiến mà bảo: “Đã mấy năm rồi, tôi mới được ăn ngon như thế này.”

Đói và khát cũng là thảm cảnh chung của tất cả các bản làng ngày ấy. Lần giở lại trí nhớ, ông Hai Trí kể lại: “Có lần, chúng tôi tìm được một bản hiếm hoi còn có người ở lại. Thấy quân tình nguyện sang, hơn 200 người cả già, trẻ, gái, trai chạy ra đón. Tất cả đều trông xơ xác, đói khổ do chịu cảnh lao động khổ sai lâu rồi. Hầu hết đều rách rưới và không đủ quần áo mặc. Họ vừa khóc vừa níu tay chúng tôi nói: Bộ đội lên rồi thì đừng về, nếu không Pol Pót sẽ giết hết dân mất. Bộ đội có đi, xin cho dân đi cùng với.”

Bữa ấy, dân làng Campuchia gom góp sạch tất cả các nhà đã… vét ra được 3 chén lúa để nấu cơm cho cả tiểu đoàn. Nhìn những hạt gạo đã xạm nâu, ngả màu mốc thếch, ông Hai Trí không sao cầm được nước mắt. Ngay lập tức, ông gọi về hậu phương, xin phép được lấy gạo và thực phẩm mang theo để nấu một bữa no cho dân. Một nồi cỡ lớn đã bày ra giữa sân làng. Lửa được nổi lên. Gạo những người lính mang theo từ Việt Nam được đổ ra, sùng sục sôi trong ánh mắt mong chờ của hơn 200 dân bản. Bộ đội còn hãm nước trà, mang lương khô và bánh kẹo ra chia cho mọi người. Cả ngôi làng đìu hiu và xơ xác trong phút chốc như trở thành ngày hội.

Mãi về sau này khi chiến tranh đã lùi lại rất xa phía sau, ông Hai Trí vẫn nhớ như in câu nói của trưởng bản ngày ấy: “Đã 5 năm rồi, dân không biết ăn một bữa no, không biết uống một ngụm trà.”

Chuyện ăn là thế, ngay cả đến chuyện mặc cũng là một giấc mơ xa xỉ đối với người dân Campuchia lúc bấy giờ.

Ông Hai kể lại: Những ngày trên đất Chùa tháp, ông và đồng đội đã từng rất ngạc nhiên khi thấy đồng bào các dân tộc bạn thi thoảng lại mặc những bộ quần áo rách tả tơi được làm từ võng dù của bộ đội Việt Nam những năm 1970. Hỏi ra mới biết, do quá thiếu thốn, họ đã phải đào hài cốt của bộ đội Việt Nam lên, nhặt từng mảnh võng còn nguyên vẹn để may thành áo quần.

Pol Pot khi đó với ngay cả dân bản địa giống như một con quỷ dữ, lê lưỡi hái tử thần khắp các bản làng. Khi rời đi, thứ duy nhất nó để lại là đói, khát và sự chết chóc, khổ đau.

GIẾNG CHỨA XÁC VÀ CUỘC HỒI SINH TRÊN MIỀN ĐẤT CHẾT

Cựu lính thông tin mặt trận Tây Nam Trần Đăng Trường lại lưu giữ cho mình những câu chuyện rùng rợn hơn về những giếng xác người trên đường tiến vào Campuchia.

Mắt nhìn ra xa xăm, ông bắt đầu kể bằng thứ giọng trầm buồn: “Năm 1977, khi đang là sinh viên, chúng tôi được tổng động viên tham gia chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và chiến đấu chống lại Pol Pot. Tôi được đưa về Tiểu đoàn 86, Trung đoàn 132 của Bộ Tư lệnh thông tin.”

Ngày tiến vào Siem Reap, những chàng lính trẻ măng mới mười tám, đôi mươi đã mắt tròn, mắt dẹt khi lần đầu tiên đối mặt với những thành phố chết theo đúng nghĩa đen. Những xác người vất vưởng ngang vệ đường không ai chôn cất cứ lặng lẽ phơi nắng, phơi sương.

“Không có một bóng người. Không cả một tiếng gà gáy trưa. Tất cả chỉ còn cỏ dại. Chúng nó cướp hết, đốt hết, giết hết rồi,” ông nâng chén trà, nói như tiếng thở dài vọng về từ quá khứ.

Đáng sợ nhất phải kể đến những chiếc giếng chứa xác người. Đó là những hố lớn cỡ hố bom nhưng rất sâu, nước trong veo. Thấy nước sạch, lính trẻ ùa xuống tắm, rồi thách nhau lặn xuống đáy như để tìm về cảm giác đắm mình nơi con sông quê thanh bình. Nhưng vừa chạm xuống vùng sâu nhất, cả đám cuống cuồng bơi ngược trở lên. Bởi, phía dưới đáy nước trong vắt ấy là lổn nhổn xương người. Tất cả đều vỡ nát, chồng chất lên nhau và không một mảnh xương nào toàn vẹn. Những chàng lính trẻ vốn có thể cười nói ngay trong mưa bom bão đạn, coi cái chết nhẹ như lông hồng nhìn cảnh tượng ấy đã phải rùng mình, nôn thốc tháo.

“Nó như một địa ngục ngay dưới chân mình. Hai đồng đội của tôi khi đó đã bị tiêu chảy không sao cầm được vì uống nước từ hố này và phải đưa ngược về Long An cấp cứu. Dọc đường hành quân, những chiếc hố như thế là nỗi ám ảnh kinh hoàng với tất cả chúng tôi,” ông Trường đưa tay lên vuốt mặt, nén tiếng thở dài đang chực bật ra từ lồng ngực theo tiếng ho khan khe khẽ.

Ghê rợn hơn là lần lính thông tin vào rừng đào hang chuột để cải thiện bữa ăn. Khi những nhát cuốc cuối cùng mở tung cửa hang, tất cả tái mặt khi thấy bên trong lổn nhổn các lóng xương ngón tay, ngón chân trắng ởn.

“Đấy là một địa ngục thực sự khi con người cuối cùng lại phải trở thành bữa ăn cho thú vật,” ông Trường thở dài đánh sượt.

Sau ngày Phnom Penh giải phóng, những người sống sót lũ lượt trở về quê cũ. Họ trở về trên những đôi chân trần sứt sẹo, hay trên những chiếc xe đạp chỉ còn trơ lại vành sắt nhưng với họ đấy là cả một gia tài.

Trong tiếng cười hiếm hoi khi nghĩ về một thời đã xa, cựu lính thông tin rì rầm kể tiếp: “Hôm ấy, vừa giải phóng xong, tôi cùng đồng đội đi qua một vườn xoài vô chủ. Trời nắng, lại khát nước nên mấy anh em vào vườn, hái quả để ăn. Lúc này, có một ông lão gày nhẳng đi về phía bộ đội.”

– Xôm Nhăm Bai – người lính Việt Nam mời ông lão đối diện ăn bằng thứ tiếng Khmer ít ỏi.

Ông lão vui vẻ ăn xoài cùng bộ đội. Một lát sau, cánh lính mới buột miệng hỏi bằng tiếng Việt: “Ông ơi, vườn xoài này của nhà ai?” thì bất ngờ, ông lão cũng trả lời bằng tiếng Việt: “Của nhà tôi đấy. Nhưng các chú cứ ăn đi. Nhà tôi chết hết rồi. Nó giết hết rồi. Chỉ còn tôi chạy sang Việt Nam nên sống sót. Các chú cứ ăn, rồi lấy về cho cả anh em ở đơn vị nữa.”

Lại một lần khác, Tiểu đoàn của ông tiến vào một làng đã được giải phóng. Gần như ngay lập tức, người dân ùa ra đón. Trong số này có một cụ già cứ cúi lạy bộ đội. Bà vừa lạy, vừa bảo: “Tôi cám ơn bộ đội. Nếu không có bộ đội thì cả nhà tôi đã nằm chung trong những hố chôn người mất rồi.”

Với những người lính như ông, cái vái lạy ấy có giá trị hơn bất kỳ thứ tài sản nào. Nó là sự trân trọng, là tình cảm của người Campuchia gửi đến người lính Việt. Cái vái lạy ấy chứa đựng tất cả những gì tôn quý và yêu thương nhất.

Nhờ nỗ lực của đội quân tình nguyện Việt Nam như ông Hai Trí, Trần Đăng Trường… tới ngày 7/1/1979, tập đoàn Pol Pot – Ieng Sary chính thức bị lật đổ và tháo chạy ra khỏi thủ đô Phnom Penh; đánh dấu cho sự tàn lụi có hệ thống của một trong những chế độ diệt chủng tàn khốc vào bậc nhất trong lịch sử loài người. Từ đây, những hạt giống của hòa bình và hạnh phúc đã bắt đầu vươn mình trên đất nước Campuchia./.

Hồi ức của những người lính “đội quân nhà Phật”

Sau 40 năm ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cùng quân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, chúng tôi lần theo những lời kể của những người đã trực tiếp cầm súng bảo vệ biên giới phía Tây Nam tổ quốc và giải phóng nhân dân Campuchia để tìm hiểu về “đội quân nhà Phật” khi xưa.

Năm 1978, ông Lê Thanh Hiếu, ông Xuân Tùng đều tròn 18 tuổi. Hai ông nhập ngũ cùng năm và vào chiến trường Tây Nam. Ông Hiếu  ở Trung đoàn 209, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Ông Tùng ở Trung đoàn 2, Sư đoàn 9.

Ông Tùng cho biết, ban đầu ông nghĩ vào Nam tăng gia sản xuất làm kinh tế mới. Chứng kiến giao tranh biên giới, ông vẫn chỉ nghĩ chỉ là xung đột biên giới thông thường. Nhưng, khi ông đọc tin quân Khmer Đỏ thảm sát ở Tân Biên (Tây Ninh), chúng giết cả trẻ em theo cách man rợ, ông và đồng đội biết, họ sẽ phải tham gia một cuộc chiến khốc liệt.

Còn theo ông Hiếu, những ngày đầu bảo vệ biên giới phía Tây Nam tương đối nhọc nhằn. Ông Hiếu kể: “Tôi chiến đấu ở biên giới 4 tháng. 4 tháng đó ta chỉ kìm giữ, bảo vệ lãnh thổ và tìm cách đàm phán hòa bình với Khmer Đỏ. Công cuộc này diễn ra từ trước đó khá lâu. Chúng ta đi ra khỏi những cuộc chiến chinh quá dài rồi, chúng ta không muốn mất mát thêm nữa.”

Nhưng đó là cuộc chiến bắt buộc vì kẻ thù không cho chúng ta lựa chọn. Quân đoàn 4 của ông Hiếu, ông Tùng cùng các đơn vị tham gia chiến đấu được lịch sử giao sứ mệnh giải phóng nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.

Họ đi qua làng mạc, thành phố xơ xác không người. Và, họ phải đối mặt với kẻ thù ác độc bậc nhất trong lịch sử loài người. “Tôi nhớ mãi lần cứu xác tử sỹ của tiểu đoàn. Khi đến, đập vào mắt chúng tôi là cảnh những liệt sĩ đã bị băm nát mặt bằng xẻng bộ binh. Chúng tôi không còn nhận ra ai cả. Còn cả những tù binh bị chặt đầu hay hành quyết dã man, rất nhiều sự man rợ mà tôi không tiện kể,” Ông Tùng cho hay.

Phía Khmer Đỏ không bao giờ giữ tù binh. Chúng luôn dùng những phương pháp tra tấn, giết người tàn bạo khi bắt được lính đối phương hay chính người dân Campuchia bị cho là không ủng hộ chúng. Cũng bởi vậy, ông Tùng cùng đồng đội luôn giữ một quả lựu đạn trong người. Họ tự nhủ với nhau “không để bị chết hai lần”. Tức là, dù có hi sinh cũng không để chúng “hành quyết” xác của mình thêm một lần nữa. Quả lựu đạn sẵn sàng nổ trong trường hợp ta không thể chống lại địch. Ông Tùng và đồng đội đã luôn mang quả lựu đạn đi suốt cuộc chiến chinh. Đến tận năm 1983, khi được lệnh xuất ngũ, ông mới ‘hóa kiếp’ cho quả lựu đạn khi chạm tới biên giới quê hương.

Ngoài ra, bộ đội Việt Nam còn phải đối mặt với những lạ lẫm do thổ nhưỡng, địa hình nước bạn. Chưa kể, những người lính miền Bắc còn hoàn toàn xa lạ với hình thái khí hậu ở Campuchia.  “Ở Miền Bắc quen 4 mùa, vào Nam rồi sang Campuchia chỉ có mùa mưa và mùa khô.”- Ông Hiếu kể – “Mùa mưa tác chiến khó khăn vô cùng. Chúng tôi vừa tát nước ở hầm chiến đấu vừa đối mặt với kẻ thù”.

Họ đi qua làng mạc, thành phố xơ xác không người. Và, họ phải đối mặt với kẻ thù ác độc bậc nhất trong lịch sử loài người. (Nguồn: TTXVN)
Họ đi qua làng mạc, thành phố xơ xác không người. Và, họ phải đối mặt với kẻ thù ác độc bậc nhất trong lịch sử loài người. (Nguồn: TTXVN)

Còn mùa khô, theo các cựu binh, nước là vấn đề lớn. Nhiều người đã chết vì khát. Mọi chuyện thay đổi khi tiểu đoàn ông Hiếu bắt được một nhóm tù binh Khmer Đỏ. Khi bị bắt, đầu chúng ướt vì nước chứ không phải mồ hôi. Lúc ấy, tiểu đoàn cũng để chúng khát như bộ đội Việt Nam một buổi. Rồi quân ta vờ để chúng trốn thoát. Các trinh sát bám theo và biết được chúng tìm đến lòng suối cát vàng khô trơ đáy và đào mạch nước ngầm ở rất sâu.

“Trong cuộc chiến giải phóng nhân dân Campuchia, chúng tôi phải đối diện với một tâm lý khá đặc biệt. Đó là chiến đấu vì một người khác.”- Ông Hiếu nhấn mạnh- “Nếu như những cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, ta đánh để bảo vệ non sông ta, bảo vệ cha, mẹ, anh, chị em, đồng bào ta thì cuộc chiến này, chúng ta dùng cả sinh mạng để cứu một dân tộc khác. Nhưng chúng tôi không bao giờ do dự và không phút giây khoan nhượng với Khmer Đỏ. Nhất là khi nhìn sâu vào ánh mắt van lơn của người dân Campuchia. Không hiểu sao, tôi lại nghĩ tới người thân mình. Họ không đáng phải chịu một cuộc đầy ải như vậy!”.

Theo ông Tùng, Pol Pot bảo vệ quyền lực của mình bằng việc lùa người dân đi theo trong những cuộc rút chạy. Chúng có thể mất đất nhưng chúng cần dân để tiếp tục cuộc chiến. Và, những chúng sẵn sàng trút đạn vào những người già yếu, người chậm chân không theo kịp chúng. Bộ đội Việt Nam giải phóng đất đến đâu, người dân nô nức chạy về phía bộ đội Việt Nam để trở lại quê hương.

Ông Tùng kể: Tôi nhớ mãi trận đánh ở núi Aoral tại tỉnh Pursat. Khi quân Pol Pot bị đẩy lùi, chúng tôi bắt gặp những người dân thất thểu nơi núi rừng, lả đi vì đói. Chúng tôi đã chia gạo cho họ, dẫn họ ra đường lớn để họ hồi hương. Nhưng, tôi ám ảnh mãi hình ảnh một cánh tay người đã khô ở trong túi một người dân trong đoàn người đói khổ.

Theo lời kể của các cựu binh, họ hành quân qua những “cánh đồng chết”, những ngôi làng tiêu điều. Đơn vị ông Hiếu đã trồng lúa trên những cánh đồng hoang phế để “tự cung, tự cấp” trên đất bạn. Suốt nhiều tháng ròng, họ đã vun trồng, chăm bón cho cây lúa đến mùa vụ. Song, vì sợ bị hiểu nhầm, nhóm ông Hiếu phát lúa cho người dân mà không nhận lại một hạt thóc nào.

“Tình cảm giữa lính Việt Nam và dân Campuchia ở những vùng giải phóng cảm nhận rất rõ ràng. Có lần chúng tôi được dân biếu con gà nhưng nhìn cảnh tang thương của họ, chúng tôi không cho phép mình nhận bất cứ thứ gì. Chúng tôi trả lại và bảo để con gà lại để bà con làm giống dựng xây lại. Không phải biểu tượng, nhìn khung cảnh Campuchia lúc đó hoang tàn tới độ, tôi nghĩ gia súc gia cầm trên đất nước này cũng không còn nhiều.”- Ông Hiếu kể.

Không hỗ trợ được về vật chất, người dân Campuchia hỗ trợ bộ đội Việt Nam lợp doanh trại bằng lá thốt nốt. Họ mời người bộ đội uống nước thốt nốt. Ở chiều ngược lại, bộ đội cố san sẻ khẩu phần ăn không nhiều của mình để giúp đỡ trực tiếp những người dân đang quay quắt vì đói.

Ông Hiếu kể tiếp: Có lần, vào lúc nửa đêm, có một ông cụ vào doanh trại của chúng tôi. Nhìn cụ tiều tụy lắm. Cụ kể, Khmer Đỏ đã vắt kiệt người dân Campuchia. Người dân đói tới độ phải tìm quả thốt nốt ăn. Song chúng cũng giết hại ai ăn thốt nốt. Bởi chúng cho rằng tất cả những gì trên đất nước Campuchia là của Angkar (cách bè lũ Pol Pot tự gọi mình – PV). Cụ kể mà nước mắt ứa ra. Hình ảnh cụ già trong ánh đèn leo lét lúc ấy làm tôi nhớ mãi.

Người dân Campuchia chào đón những người lính tình nguyện Việt Nam (Nguồn: TTXVN)
Người dân Campuchia chào đón những người lính tình nguyện Việt Nam (Nguồn: TTXVN)

Có mặt trong đêm 7/1/1979, ngày “đội quân nhà Phật” cùng quân dân Campuchia giải phóng Thủ đô Pnom Penh, ông Hiếu cho biết ấn tượng đầu tiên là toàn thành phố xác xơ, không bóng người. “Tôi cảm giác lúc đó như đang đứng ở một thành phố chết chứ không còn là Thủ đô một nước. Cảnh vật đổ nát, xác người ở nhiều nơi. Thành phố tang thương tối thui đêm đó chỉ có bộ đội Việt Nam. Đêm về khuya, tôi thấy một khu nhà có ô văng chìa ra rất giống vỉa hè Hà Nội. Tôi ngả lưng đánh một giấc tới sáng. Sau tôi mới biết đó là chợ Orussey nổi tiếng của Pnom Penh.”

Theo các cựu binh, sau đó, họ đi chinh chiến ở các nơi cho đến gần một năm sau, họ trở lại Pnom Penh, Thành phố hồi sinh chóng mặt: Điện sáng nhiều nơi, đá bào giải khát đã được bán ở lòng phố, tiền Riel được lưu hành rộng rãi trở lại…

Ông Hiếu, ông Tùng cùng xuất ngũ năm 1983. Sau khi đã ‘hóa kiếp’ quả lựu đạn, việc đầu tiên ông Tùng làm là… ăn hủ tiếu và uống cafe. “Cảm giác về xứ sở sau nhiều năm chinh chiến đặc biệt lắm. Khung cảnh Việt, tô hủ tiếu Việt, ly cafe Việt sao mà thân thương đến thế. Tôi gọi liền 2 tô hủ tiếu. Xong tôi uống tiếp 4 ly cafe. Không cần phải về đến Sài Gòn, về ngay đến Tây Ninh đã phải ăn, phải uống, phải hít thở bầu không khí đất nước mình hòa bình cho nó thỏa.”

Tình cảm mà người dân Campuchia dành cho Bộ đội nhà Phật (Nguồn: TTXVN)
Tình cảm mà người dân Campuchia dành cho Bộ đội nhà Phật (Nguồn: TTXVN)

Sau khi đã ‘hóa kiếp’ quả lựu đạn, việc đầu tiên ông Tùng làm là… ăn hủ tiếu và uống cafe.

Còn ông Hiếu thì nhớ tiếng Việt. Về Tổ quốc, ông lắng nghe tiếng mẹ đẻ vang vang trong nhịp sống thường nhật mà xúc động. Ở chiến trường, cũng là tiếng Việt nhưng là âm thanh chiến tranh, mà cũng chỉ đơn thanh của những người lính thanh niên với nhau. Còn khi về Việt Nam, tiếng người già, tiếng trẻ em, tiếng phụ nữ… “Tôi nói cậu đừng cười, lúc ấy, nghe tiếng chửi thề mà lòng mình cũng hân hoan.”- Ông Hiếu nghẹn ngào nhớ lại.

40 thập kỷ đã trôi qua, chợ Orussey hoang tàn ngày nào ông Hiếu ngủ qua đêm đầu tiên trong ngày giải phóng Pnom Penh nay đã thành địa điểm du lịch nổi tiếng của nước bạn. Ông Tùng giờ đã thảnh thơi tận hưởng ly cafe giữa phố phường Hà Nội và kể chuyện chiến chinh. Khi cuộc trò chuyện với người viết gần kết thúc, ông Tùng nói:

“Nghĩ về Campuchia, tôi có nhiều kỷ niệm. Song, tôi nhớ mãi ngày 17/4/1979 ở tỉnh Pursat. Lúc đó, chúng tôi cận kề sinh tử nhất. Ban chỉ huy Đại đội 1 bị tấn công bất ngờ sau lưng. Anh Lẽ truyền đạt đang đi lấy nước cho anh em thương binh. Anh Sơn (thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn – PV) bị trái M.79 trinh sát địch bắn trúng đùi. Tôi đã chạy vào giật máy điện thoại để chuẩn bị rút. Mọi người sẵn sàng mang thương binh đi. Phảng phất, tôi nghĩ tới quả lựu đạn trong người. Nhưng thật may, chốt đã không “bay” khi anh em chiến đấu quả cảm.”

Ông Tùng ngậm ngùi hồi lâu khi nhớ lại trận đánh ác liệt ấy. Bất giác, ông nhắc: “À, cậu nhớ thêm thằng Điệp, liên lạc của anh Sơn khi đó vào bài viết. Trận đó, trong lúc hành quân bất ngờ gặp, nó đã bắn hai loạt đạn phủ đầu quá hay!”

Chuyện lính Tây Nam

May mắn hơn những người đồng đội khi được trở về lành lặn, người cựu binh già Xuân Tùng đã bắt tay vào viết cuốn hồi ức dày hơn 300 trang về những năm tháng chiến đấu ở chiến trường K, gây tiếng vang với tựa “Chuyện lính Tây Nam.” Cuốn hồi ức đậm chất sử thi được nhiều người ví von như “quân sử” của quân đội cách mạng. Còn với Trung Sỹ, bút danh của Xuân Tùng, thì cuốn sách là cách để ông nhớ về phần máu thịt của đồng đội, gói trong hai từ thân yêu: “Đã từ lâu tôi đã có ý định viết về trung đoàn 2, sư đoàn 9 thân yêu của tôi…” như lời tựa ông viết trong ấn bản được Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành.

Người Campuchia: ‘Chúng tôi tin Việt Nam’

Ông Khieu Kola, Ủy viên Ban lãnh đạo Câu lạc bộ Nhà báo Campuchia đã sống trong chiến tranh và trải qua chế độ diệt chủng khủng khiếp từ hơn 40 năm trước. Tâm sự với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Campuchia, ông Khieu Kola nói sẽ không quên, và sợ phải quên đi những kỷ niệm về một cuộc sống kinh khủng dưới thời Campuchia dân chủ khát máu, bè lũ Pol Pot đàn áp và giết hàng triệu người từ ngày 17 tháng Tư năm 1975 đến ngày 7 tháng Một năm 1979.

Từ giữa năm 1977 đến tháng 3 năm 1979, tôi sống tại huyện Moung Ruessei (tỉnh Battambang) cách Phnom Penh khoảng 250km về phía Tây. Đó là nơi tôi phải lao động nhọc, xa tỉnh Prey Veng quê nhà (giáp biên giới Việt Nam) sau khi bọn Pol Pot tiến vào Phnom Penh ngày 17/4/1975.

Vì tranh chấp ở nội bộ Angkar, bè lũ do Pol Pot và Nuon Chea cầm đầu coi người dân và cán bộ vùng Đông của đất nước là người ủng hộ Việt Nam, thậm chí còn gọi là tay sai của “kẻ thù Việt Nam” nên tôi thuộc một trong số hơn 1 triệu người bị đuổi khỏi quê nhà (giáp tỉnh Đồng Tháp của Việt Nam) ra đi tỉnh Battambang như kể trên.

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Thời ấy, tôi sống một mình xa bố và gia đình (mẹ tôi đã mất vào thời đầu 1971) và 4 anh em trai. Một đêm đầu tháng Ba năm 1979, tôi đã nghe tiếng súng nổ và xích xe tăng sầm sập đổ về. Một bạn tôi cùng tổ thanh niên kín đáo bảo, ông đã nghe trường ấp của Khmer Đỏ nói rằng bộ đội Việt Nam vừa mới đánh chiếm trụ sở huyện của Khmer Đỏ tại thị trấn Moung Ruessei. Tôi đáp lại với bạn tôi rằng “thế thì tốt cho chúng ta rồi, nếu như bộ đội Việt Nam tới làng thì chúng ta sẽ sống và tất nhiên, nếu không thế thì trước sau chúng ta chỉ có chết. Hoặc bị chúng giết hoặc bị chết đói mà thôi.”

Bạn tôi và tôi bàn bạc. Chúng tôi tin nhau và không tin lời tuyên truyền của Khmer Đỏ, rằng quân đội Việt Nam tới Campuchia thì chẳng có cơm, chỉ ăn cám mà thôi.

Tiếng súng nổ ngày càng lớn, cảm giác chỉ cách làng tôi ở khoảng vài cây số về phía Nam thị trấn Moung Ruessei. Quân Khmer Đỏ sợ hãi tháo chạy khỏi làng, chúng khăng khăng lùa dân vào rừng sâu nhưng chẳng ai đi theo. Khmer Đỏ trốn cả, chúng còn phát tin bịa đặt rằng ai không chạy, Việt Nam sẽ giết nhưng tôi và dân làng không tin.

Thực tế, chúng mới chính là những kẻ giết người mà chúng tôi đã là nhân chứng cho điều đó. Tất cả đã trải qua những ngày đen tối và chứng kiến sự dã man của bọn Angkar áo đen. Tôi đã thấy tận mắt bộ đội Việt Nam vào làng, nhìn thấy xe tăng của bộ đội ai ai cũng mừng. “Phum soóc được giải phóng rồi, hoan hô bộ đội Việt Nam,” ai cũng hoan hỉ reo lên, mừng quá, mừng đến chảy nước mắt. Tôi coi đây là niềm vui vô hạn trong đời mình, “Ôi niềm vui biết bao vì được sống lại.”

(Nguồn: TTXVN)
(Nguồn: TTXVN)

Tất nhiên, ở thời điểm đó, chẳng ai dám nói ra tin về ngày 7/1/1979 thủ đô Phnom Penh đã được giải phóng. Nó chỉ được người ta bí mật chuyền tai nhau. Đã có nhiều người bị Angkar bắt đi thủ tiêu nếu bị chúng phát hiện tung ra tin này.

Sau ngày Battambang được giải phóng, dân làng tôi ai ai cũng yêu thương bộ đội Việt Nam vì thấy tận mắt họ đã hy sinh xương máu để giải phóng đất nước Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, chăm sóc người dân, phân phối lương thực, thuốc men. Tuyệt đối không có hành động nào làm mất lòng dân như lời xuyên tạc của bè lũ Khmer Đỏ.

Ngay sau ngày giải phóng 7/1/1979, suy nghĩ đầu tiên của tôi là phải đi học, tiếp tục học. Nhưng lòng căm thù chế độ diệt chủng đã thôi thúc tôi tham gia lực lượng Mặt trận Dân tộc thống nhất Cứu quốc Campuchia chiến đấu chống tàn quân Khmer Đỏ từ giữa năm 1979 đến giữa năm 1980 ở Battambang.

Sau đó, nhận được tin bố tôi và 3 anh trai nữa của tôi vẫn còn sống (em trai út của tôi bị giết thời Pol Pot), tôi quyết định xin xuất ngũ về Phnom Penh để gặp lại bố và anh trai cả làm việc tại Thông tấn xã Campuchia SPK.

Cuốn sách đổi đời

Tới Phnom Penh, tôi lại tiếp tục đi học trường phổ thông trung học rồi sau đó vào giữa năm 1981, tôi tham gia lớp học tiếng Việt 6 tháng tại Thông tấn xã Campuchia SPK.

Hồi đó, SPK do ông Chey Saphon người Campuchia làm Tổng Giám đốc, chính ông ấy là người sáng lập ra lớp học tiếng Việt. Tôi vẫn nhớ như in kỷ niệm bà vợ ông Chey Saphon đã tặng tôi cuốn từ điển Việt-Khmer. Cuốn từ điển ấy mở mang kiến thức, hiểu biết, là khoảnh khắc thay đổi cuộc đời tôi, từ một người nô lệ thành bộ đội, học sinh, cán bộ thanh niên của Đảng Nhân dân Campuchia, nhà báo, nhà văn, tất nhiên sau 40 năm phải trở thành một ông chồng, ông nội, ông ngoại của 4 đứa cháu, và tất nhiên có một cô con gái là MC nổi tiếng tại Vương quốc Campuchia, nàng Sansana. Tôi nghĩ rằng tục ngữ Việt Nam có câu “Con hơn cha là nhà có phúc” là rất đúng.

Thủ tướng Hun Sen đã từng nói “tôi tin Việt Nam” và khẳng định “không có Việt Nam (giải phóng) nhiều người Campuchia nữa sẽ chết, trong đó có thể có cả vợ và con tôi” (Báo Tuổi trẻ số ra ngày 22/6/2001).

Đối với tôi, lời cảm xúc của Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia phản ánh chân lý sự thật từ 40 năm qua, rằng nếu không có ngày 7/1/1979 bộ đội Việt Nam giúp đỡ bộ đội Heng Samrin của Mặt trận Dân tộc thống nhất Cứu quốc Campuchia để giải phóng đất nước Chùa tháp thoát khỏi nạn diệt chủng, sẽ không có ngày nay và tất nhiên không có bài viết này.

Năm 2018, Vương quốc Campuchia đã trở thành một đất nước phát triển, chất lượng đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 7% giúp thu nhập bình quân tăng liên tục. Đời sống đã thay đổi từ khổ đau tới hòa bình và phát triển như ngày nay của đa số người dân làm tôi nhớ lại công lao to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, bộ đội tình nguyện Việt Nam trên đất nước của kỳ quan Angkor Wat.

Vận mệnh hai dân tộc Campuchia-Việt Nam là không thể tách rời nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã từng nói rằng, mối quan hệ đoàn kết Việt Nam-Campuchia là đoàn kết thật lòng, đoàn kết bằng hành động, không phải đoàn kết bằng miệng.” Đối với tôi Việt Nam là bạn, là thầy, là giải phóng quân.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã từng nói rằng, mối quan hệ đoàn kết Việt Nam-Campuchia là đoàn kết thật lòng. (Nguồn: TTXVN)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã từng nói rằng, mối quan hệ đoàn kết Việt Nam-Campuchia là đoàn kết thật lòng. (Nguồn: TTXVN)

Vấn đề diệt chủng phải có sự can thiệp bằng quân sự

Nhà báo Trần Chí Hùng trò chuyện với ông Youk Chhang
Nhà báo Trần Chí Hùng trò chuyện với ông Youk Chhang

Ngày 7/1 là ngày hồi sinh của dân tộc Campuchia

Thế giới nợ Việt Nam một lời xin lỗi

40 năm sau chiến thắng ở cuộc Chiến tranh Bảo vệ Biên giới Tây Nam và giúp đỡ Nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, Đại tướng Phạm Văn Trà (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) vẫn không thể quên được những tháng ngày đỏ lửa trên đất bạn. Ông gọi đó là quãng thời gian mà chính nghĩa đã chiến thắng hung tàn; quãng thời gian mà đoàn quân “bộ đội nhà Phật” theo cách gọi của nhân dân Campuchia đối với quân tình nguyện Việt Nam, nêu cao được tinh thần quốc tế cao cả.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot (7/1/1979-7/1/2019), VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với Đại tướng Phạm Văn Trà.

Trong cuộc chiến tranh Bảo vệ Biên giới Tây Nam, tướng Phạm Văn Trà giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9. Sau đó, ông được bổ nhiệm chức Phó Tư lệnh Mặt trận 979.

– Thưa ông, xin ông chia sẻ về bối cảnh lịch sử của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam cũng như cuộc chiến chống chế độ diệt chủng Pol Pot?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Thực tế không phải tới tận năm 1977, Pol Pot mới bắt đầu tấn công chúng ta. Ngay từ tháng 4/1975, sau khi lên nắm quyền lãnh đạo Campuchia, Pol Pot đã thường xuyên xuyên tạc về Việt Nam, cho quân gây rối, xâm lấn lãnh thổ nước ta trên vùng biển biên giới Tây Nam. Thậm chí, chúng còn đánh chiếm đảo Thổ Chu và một số đảo khác, giết hại người dân hết sức dã man.

Vào thời điểm này, sau khi kết thức cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi được phân công tiếp tục ở lại Trung đoàn 1 U Minh; sau đó là Sư đoàn 4 của Quân khu 9 trực tiếp tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu chống sự xâm lược của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary; giành lại chủ quyền của các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Ông, Hòn Bà và bảo vệ tuyến biên giới từ Tịnh Biên (An Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang).

Tuy nhiên, tới cuối năm 1976, các cuộc tiến công của quân Pol Pot vào lãnh thổ nước ta ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn; có nơi vào sâu lãnh thổ nước ta tới 15km làm cho tình hình biên giới Tây Nam của nước ta hết sức căng thẳng. Những cuộc tiến công này không phải là hành động bộc phát mà có sự chỉ đạo mang tính hệ thống và được chuẩn bị kỹ lưỡng. Và tới đêm 30/4/1977, quân Pol Pot đã sử dụng lược lượng cấp sư đoàn và lực lượng địa phương các tỉnh biên giới bất ngờ đồng loạt tiến công xâm lược toàn tuyến biên giới phía Tây Nam nước ta.

– Khi nhận được thông tin Pol Pot chính thức xâm lấn lãnh thổ Việt Nam, cảm giác của ông lúc đó như thế nào, thưa Đại tướng?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Vào thời điểm đó, tôi đang là Trung đoàn trưởng của Trung đoàn U Minh 1. Đây là một giai đoạn hết sức đặc biệt khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa kết thúc. Anh em rất mừng vì vừa mới giải phóng đất nước, hòa bình rồi, sau bao nhiêu năm cuối cùng mới có thể về thăm lại quê hương.

Vì thế, khi nghe tin quân Pol Pot xâm lấn vào lãnh thổ Việt Nam, tôi rất bất ngờ và căm phẫn. Bộ Quốc phòng lúc này quyết định đưa chúng tôi ra ngoài biển để giải phóng các đảo như Thổ Chu, Phú Quốc…

Cần phải nói, đây là chúng ta đánh để bảo vệ Tổ quốc chứ không phải đánh với nhân dân Campuchia. Anh em chiến sỹ khi đó đều sẵn sàng hy sinh để giành lại những đảo mà Pol Pot chiếm đóng.

Vào thời điểm năm 1975, chỉ riêng đảo Thổ Chu, quân Pol Pot đã giết 500 thường dân Việt Nam. Nếu quân đội nhân dân Việt Nam không ra sớm thì ngay cả Phú Quốc cũng rơi vào cảnh tương tự. Chúng ta đã kịp thời giải phóng và bảo vệ được những đảo mà Pol Pot chưa chiếm kịp.

(Nguồn: Vietnam+)
(Nguồn: Vietnam+)

– Vào các năm tiếp theo, chiến sự tại khu vực biên giới Tây Nam tiếp tục leo thang khi quân Pol Pot mở đợt tiến công toàn diện trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Thời điểm đó, tinh thần chung của quân và dân ta như thế nào, thưa Đại tướng?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Cuối tháng 4/1977, quân Pol Pot sử dụng lực lượng cấp sư đoàn và lực lượng địa phương các tỉnh biên giới đồng loạt tiến công xâm lược toàn bộ tuyến biên giới phía Tây Nam. Khi ấy, nhân dân ta, đặc biệt là người dân khu vực biên giới rất hoang mang. Riêng trên tuyến biên giới Quân khu 9, chúng sử dụng 7 tiểu đoàn cùng lực lượng địa phương 2 tỉnh Takeo và Kandan đánh vào 13 đồn Công an vũ trang và 14/16 xã từ Vĩnh Gia đến Vĩnh Xương (An Giang).

(Nguồn: Vietnam+)

Lúc ấy, nhân dân ta, đặc biệt là người dân khu vực biên giới rất hoang mang. Mặc dù vậy, gần như ngay lập tức, quân chủ lực từ các Sư đoàn đã được huy động, phối hợp tác chiến cùng với lực lượng vũ trang địa phương và các đồn Công an vũ trang đánh trả địch quyết liệt, bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, từng bước hất chúng về phía bên kia biên giới.

Nếu không đánh, người dân vùng biên sẽ còn bị giết hại, còn phải sống trong cảnh khốn khổ. Thấy lực lượng chúng ta đánh thắng như thế, nhân dân rất phấn khởi. Nhân dân ủng hộ nhiệt tình, sẵn sàng giúp đỡ bộ đội, tiếp tế cho bộ đội mặc dù điều kiện chung còn rất khó khăn.

Thực ra, cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến bắt buộc chứ không phải chúng ta chủ động. Bản thân chúng ta luôn muốn giữ mối quan hệ hòa bình mãi mãi với nhân dân Campuchia nhưng Pol Pot lại chủ động tấn công, xâm lấn lãnh thổ, buộc chúng ta phải cầm súng. Tất cả đều quyết tâm bảo vệ tới cùng từng thước đất của quê hương.

– Khi Quân đội nhân dân Việt Nam đẩy chiến tranh sang bên kia biên giới, xuất hiện nhiều luồng dư luận đánh giá chưa thực sự khách quan từ phía quốc tế. Xin ông cho biết quan điểm của mình về vấn đề này, thưa Đại tướng?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Thực ra, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và chiến tranh chống chế độ Pol Pot của chúng ta có 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là cuộc kháng chiến bảo vệ biên giới, biên cương Tổ quốc. Giai đoạn thứ hai là giải phóng cho nhân dân Campuchia. Giai đoạn cuối cùng từ năm 1980 tới 1985, do nước ngoài ủng hộ nên Pol Pot khôi phục lại lực lượng ở biên giới giáp với Thái Lan.

Riêng đối với giai đoạn chúng ta tiến hành giải phóng nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng Pol Pot, một người Mỹ về sau có nói với tôi như thế này: “Khi quân đội Việt Nam tiến sang Campuchia, cả thế giới đã lên án, kể cả Mỹ, Thế nhưng, cho tới bây giờ, chúng tôi nghĩ thế giới phải cám ơn và ủng hộ Việt Nam vì đã sớm phát hiện và tiêu diệt sớm bọn khủng bố quốc tế.”

Ngay cả nhân dân Campuchia khi đó cũng rất ủng hộ quân tình nguyện Việt Nam. Họ gọi bộ đội Việt Nam là “bộ đội nhà Phật” vì chúng ta đã giải thoát cho hàng vạn người dân Campuchia ra khỏi các trại tập trung.

Đặc biệt, sau đợt đánh cảnh cáo đầu tiên trên đất bạn, khi bộ đội rút quân về nước, người dân Campuchia đã khóc. Họ nói với chúng tôi rằng: Nếu không có bộ đội Việt Nam sang thì họ đã bị giết hết. Họ muốn chúng tôi ở lại, nhưng lúc đó đã có lệnh của Bộ Quốc phòng. Đến khi chúng tôi đánh lần hai và ở lại, bà con người Campuchia rất phấn khởi.

Đại tướng Phạm Văn Trà. (Ảnh: Vietnam+)
Đại tướng Phạm Văn Trà. (Ảnh: Vietnam+)

– Cuộc chiến chống lại chế độ diệt chủng Pol Pot trên đất bạn Campuchia của Quân tình nguyện Việt Nam cũng là một cuộc chiến tranh nhân dân, vì nhân dân và dựa vào nhân dân, thưa Đại tướng?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Đúng vậy! Khi Quân tình nguyện tiến công sang bên kia biên giới, chúng tôi cũng phải dựa vào dân, phối hợp cùng với quân đội bạn để hình thành được chiến tranh nhân dân. Nhờ đó mới đẩy được lực lượng nằm vùng của Pol Pot trong nhân dân chạy ra. Nếu không được nhân dân ủng hộ thì sẽ khó để thực hiện được điều này vì bọn nằm vùng cũng là dân thôi.

Tôi có một kỷ niệm rất đáng nhớ. Đó là khi đơn vị tôi vào các xã, thôn của nước bạn thì thấy tất cả tượng Phật trong chùa đều bị quân Pol Pot chặt hết đầu. Chúng tôi đã đi nhặt từng bộ phận về lắp lại rồi mời những ông sư trước kia không dám nhận là sư trở về chùa. Nhân dân Campuchia bấy giờ liên tục cảm ơn bộ đội. Cái này chỉ có quân đội Việt Nam mới làm được thôi.

Khi giải phóng xong làng mạc, bộ đội lại xuống làm dân, cùng giúp đỡ dân, tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc sống. Các sư đoàn đã rải quân xuống từng thôn; tìm được người đứng đầu để lập ra chính quyền cơ sở thì bộ đội mới rút. Chính vì vậy, nhân dân càng phấn khởi. Các đồng chí thuộc mặt trận [Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia – PV] cũng đồng tình với cách làm này.

Từ sau năm 1985, khi chúng ta giải phóng được các căn cứ của Pol Pot ở biên giới Thái Lan-Campuchia thì Quân tình nguyện vẫn tiếp tục giúp bạn ổn định tình hình rồi mới rút quân về vào năm 1989.

– Đại tướng đánh giá thế nào về toàn bộ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và chiến tranh chống chế độ diệt chủng Pol Pot 40 năm về trước?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Thứ nhất, thực ra chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một cuộc chiến của chính nghĩa. Cũng vì sự chính nghĩa mà toàn thể nhân dân đã ủng hộ. Đến khi chúng ta đánh sang Campuchia, yếu tố chính nghĩa tiếp tục thể hiện. Nếu không vì chính nghĩa, nhân dân Campuchia sẽ không bao giờ ủng hộ và cũng sẽ không tiêu diệt được Pol Pot.

Đất nước nào cũng thế thôi, quân đội nước ngoài đánh chiếm nước ấy mà không được nhân dân ủng hộ sẽ không bao giờ thành công. Toàn bộ cuộc chiến ấy là cuộc chiến của chính nghĩa và vì chính nghĩa.

– 40 năm sau chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot, Việt Nam và Campuchia tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc cùng xây dựng đường biên giới chung hòa bình và hữu nghị. Ông đánh giá thế nào về sự hợp tác này, thưa Đại tướng?

Đại tướng Phạm Văn Trà: Tôi rất mừng vì hiện nay việc cắm mốc đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia đã cơ bản hoàn thành. Bây giờ chỉ còn lại một vài đoạn thôi. Nhưng sớm muộn, chúng ta cũng sẽ thực hiện xong. Ta vẫn dựa vào bản đồ thời Pháp cũ đã quy hoạch rồi vì những đường [biên giới – PV] đó là chính xác nhất. Chúng ta cũng mời các chuyên gia của Pháp đến lấy bản đồ để cắm mốc.

– Xin cám ơn Đại tướng vì cuộc trò chuyện!

Vĩ thanh

Có một nghĩa trang Trường Sơn ở Tây Nam Tổ Quốc

Những người lính từ chiến trường Campuchia trở về gọi nghĩa trang Dốc Bà Đắc là nghĩa trang Trường Sơn của vùng Bảy Núi (Tịnh Biên, An Giang). Nơi đây đã quy tập được hơn 8.000 ngôi mộ của các chiến sỹ 3 miền Bắc – Trung – Nam hy sinh qua các thời kỳ chiến tranh; trong đó phần lớn là những người đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cuộc chiến chống chế độ diệt chủng Pol Pot.

Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Bà Đắc nằm trên địa bàn xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Trong những năm tháng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, nghĩa trang Dốc Bà Đắc được hình thành và trực thuộc Sư đoàn 330. Sau nhiều lần tôn tạo, hiện thuộc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Tịnh Biên trực tiếp quản lý.

Ai đã một lần đi qua nơi ấy, ngước nhìn lên bia đá nghĩa trang, đều sẽ có chung một cảm xúc tự hào và bi tráng. Hình ảnh người lính đá vọng kèn vào trời xanh như khắc sâu trông tâm can con người ta một khúc tráng ca về những người đã ngã xuống. Cây kèn rướn về phía nơi mộ chí các anh, nghe trong gió vẫn như vang vọng tiếng hò reo ồn ã, tiếng từng bước chân đi theo lời hiệu triệu non sông.

Nơi nghĩa trang ấy, chẳng bao giờ vắng mùi hương trầm thoảng bay trong gió. Thân nhân liệt sỹ tới thắp hương những cho ngôi mộ đã tìm về được về với gia đình, người hành hương hay đồng đội năm xưa đốt nén nhang thơm bên bia mộ khuyết danh.

Điều đặc biệt, những ngôi mộ liệt sĩ tại nghĩa trang này phần lớn là quân tình nguyện Việt Nam hy sinh qua các thời kỳ chiến tranh trên đất Campuchia. Và thời ấy, các anh còn rất trẻ…

Các anh trở về với đất mẹ, khi tuổi mới đôi mươi, người bỏ lại mẹ già nơi quê hương đang vào vụ gặt, người buông bút sách gác lại ước mơ tuổi trẻ lên đường đánh giác, có người là con thứ, con trưởng, con một, có người có vợ con, có người chưa…

Nơi các anh nằm xuống, người trên đất mẹ Việt Nam, người bỏ lại xác thân trên đất bạn Campuchia. Các anh trở về đây nhờ vòng tay những người đồng đội năm xưa. Khi chiến tranh cùng nhau xung phong ra mặt trận, ngày trở về lại dìu dắt nhau tìm lại những người đã anh dũng hy sinh.

Những đồng đội năm xưa dù không chung một đơn vị nay tập hợp bên nhau lập thành Đội Chuyên trách K90 Quân khu 9 và Đội Chuyên trách K93 An Giang tìm kiếm, cất bốc và hồi hương tại các tỉnh: Kandal, Kampong Chhnang, Koh Kong, Kampong Speu, Takeo, Kampot (Campuchia). Đến nay, Đội K93 đã tổ chức 30 đợt ra quân tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; phát hiện, cất bốc được 2.827 hài cốt liệt sĩ bao gồm cả trong nước và trên đất bạn Campuchia.

(Nguồn: Vietnam+)

Ông Ngô Văn Định, quản trang tại Dốc Bà Đắc cho biết: Tính trong vòng hai năm 2017-2018, đã có hơn 160 bộ hài cốt từ Campuchia được quy tập. Tuy nhiên, việc đưa những người lính đã nằm xuống trên đất nước chùa Tháp trở về ngày càng một khó khăn hơn do địa hình thay đổi, cộng với việc các nhân chứng đều đã không còn.

Chiến tranh đã qua đi 40 năm. 40 năm các anh vẫn còn gửi thân nơi đất bạn. Và tại nghĩa trang này, hàng trăm đồng đội, đồng chí còn lại vẫn cứ xây sẵn những hộc mộ trống để chờ các anh trở về giữa vòng tay Tổ quốc.

Những ngày cuối năm, “nghĩa trang Trường Sơn” phía Tây Nam của Tổ quốc vẫn ngào ngạt hương trầm và lồng lộng gió.