Thắp lên tình nhân ái, niềm tin

Dịch COVID-19 bùng phát khiến cho cuộc sống của nhiều người lao động, người nghèo thêm chật vật, khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, những nghĩa cử cao đẹp, hành động tử tế đã góp phần làm vơi bớt phần nào gánh nặng mưu sinh của nhóm người yếu thế trong xã hội, thắp lên tình nhân ái, đoàn kết, niềm tin vượt qua đại dịch.

Chia sẻ yêu thương

Những ngày gần đây, nhất là từ khi bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội để hạn chế dịch COVID-19 lây lan, nhiều người nghèo, bán hàng rong, vé số… lâm vào cảnh mất việc vì không thể đi làm. Với tinh thần “tương thân tương ái,” hàng trăm điểm phát miễn phí gạo, cơm, thực phẩm, khẩu trang… đã ra đời, lan truyền mạnh mẽ thông điệp đầy tính nhân văn với những tấm băngrôn: “Nếu khó khăn cứ lấy một phần – Nếu bạn ổn xin nhường cho người khác.”

Xuất phát từ mục đích san sẻ bớt một phần gánh nặng cho cộng đồng, nhiều mô hình, cách làm từ thiện mới đã xuất hiện, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân.

“Nghĩ đến ai đó vì thiếu một bữa ăn mà vào đường cùng, tôi nghĩ mình phải đưa một bàn tay cho họ nắm và phải ngay lập tức.” (anh Hoàng Tuấn Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Vũ trụ xanh – PHG Lock tại Thành phố Hồ Chí Minh)

Ngày 6/4, tại địa chỉ 204B đường Vườn Lài (quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất hiện một điểm phát gạo từ thiện. Điểm đặc biệt là máy phát gạo từ thiện này được thiết kế như cây ATM, khi nhấn nút, gạo sẽ tự động chảy ra và mọi thao tác đều được sử dụng thông qua công nghệ. Đây là sáng kiến của anh Hoàng Tuấn Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Vũ trụ xanh (PHG Lock) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Chia sẻ về ý tưởng ra đời mô hình này, anh Hoàng Tuấn Anh cho biết: “Nghĩ đến việc còn nhiều bất ổn do dịch bệnh kéo dài, lượng người thất nghiệp đông. Nghĩ đến ai đó vì thiếu một bữa ăn mà vào đường cùng, tôi nghĩ mình phải đưa một bàn tay cho họ nắm và phải ngay lập tức.”

Anh Hoàng Tuấn Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Vũ trụ xanh (PHG Lock) tại Thành phố Hồ Chí Minh -
Anh Hoàng Tuấn Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Vũ trụ xanh (PHG Lock) tại Thành phố Hồ Chí Minh – “cha đẻ” máy ATM gạo.

Anh Hoàng Tuấn Anh nhận thấy, trong mùa dịch, nhiều người muốn tặng nhu yếu phẩm cho người nghèo nhưng nếu phát thủ công và tập trung đông người rất dễ xảy ra việc lây lan dịch bệnh. Sẵn làm trong nghề tự động, anh cùng nhóm nhân viên đã tận dụng máy móc có sẵn của công ty chế tạo ra chiếc máy này.

Sự xuất hiện của máy “ATM gạo” gây chú ý không chỉ bởi ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn vì sự độc đáo vì áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, đảm bảo an toàn phòng dịch. Ngay sau đó, nhiều cây “ATM gạo” khác cũng xuất hiện lần lượt xuất hiện ở những quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tuần sau khi ra đời, “ATM gạo” dành cho người nghèo đã tạo thành làn sóng mạnh mẽ khắp cả nước. Những mô hình tương tự đã xuất hiện ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Tây Nguyên, Long An, Đồng Nai… Cây “ATM gạo” tuôn trào những hạt gạo chứa chan tình yêu thương của cộng đồng đã đến với những người dân nghèo, giúp họ vơi bớt phần nào khó khăn.

Sự xuất hiện của máy “ATM gạo” gây chú ý không chỉ bởi ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn vì sự độc đáo vì áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, đảm bảo an toàn phòng dịch.

Với mong muốn giúp đỡ những người yếu thế bị ảnh hưởng bởi đại dịch, học sinh Trường Trung học Phổ thông Chuyên Lương Văn Chánh (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) đã sáng chế ra mô hình “ATM gạo” phát miễn phí cho người nghèo. Hành động này không đơn thuần là việc tặng gạo mà còn là bài học đối với các em học sinh về sự chia sẻ, lá lành đùm lá rách. Mô hình đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các nhà hảo tâm cùng giáo viên, phụ huynh, học sinh, các tổ chức trong và ngoài nhà trường.

Không chỉ “ATM gạo,” “ATM mỳ và trứng” cũng ra đời nhằm chia sẻ khó khăn với người nghèo. Đây là ý tưởng của bác sỹ Hoàng Thanh Tuấn, hiện đang công tác tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia. Cây “ATM mỳ và trứng” này mở từ 8 giờ đến 18 giờ hàng ngày tại địa chỉ ngõ 487 Hoàng Quốc Việt (Hà Nội), mỗi người dân đến đây sẽ được phát 10 gói mỳ tôm, 10 quả trứng.

Bác sỹ Tuấn còn tổ chức các cây “ATM di động” đến trao hàng ngàn suất mỳ và trứng tặng người có hoàn cảnh khó khăn, người bệnh đang điều trị tại các điểm: Bãi giữa sông Hồng, xóm chạy thận Bệnh viện Bạch Mai; Bệnh viện Ung bướu Hà Nội…

Người dân đến nhận gạo từ cây ATM gạo miễn phí. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Người dân đến nhận gạo từ cây ATM gạo miễn phí. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

“Siêu thị hạnh phúc – 0 đồng” là một trong những mô hình mới, cách làm sáng tạo lan tỏa tình yêu thương trong mùa dịch. Hiện siêu thị đã được mở tại hơn 10 tỉnh, thành trong cả nước, cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng chính sách xã hội, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhất là công nhân, lao động tự do bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Mỗi người dân khi đến với “Siêu thị hạnh phúc 0 đồng” sẽ được lựa chọn 5 sản phẩm khác nhau như gạo, đường, lạc, mắm, muối, dầu ăn… với tổng giá trị cho mỗi lượt “mua sắm 0 đồng” không quá 100.000 đồng và tối đa hai lần mua trong một tháng.

Lan tỏa lòng tốt của người Việt ra thế giới

Trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh, những tấm gương dũng cảm, mô hình sáng tạo, phục vụ lợi ích cho xã hội đã khiến người nghèo cảm thấy ấm lòng đồng thời gây xúc động mạnh trong cộng đồng.

Vừa nhận được hàng từ “Siêu thị hạnh phúc,” ông Nguyễn Văn Hiếu (phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) vui mừng cho biết: “Tôi làm nghề chạy xe 3 gác, từ khi xuất hiện dịch bệnh, công việc chở xe 3 gác ế ẩm nên đời sống của gia đình tôi gặp rất nhiều khó khăn. Được hỗ trợ, tặng quà thế này là rất quý.”

Những tấm gương dũng cảm, mô hình sáng tạo, phục vụ lợi ích cho xã hội đã khiến người nghèo cảm thấy ấm lòng đồng thời gây xúc động mạnh trong cộng đồng.

Bà Nguyễn Thị Thanh, người dân sống tại khu A, phường Nghĩa Tân (Hà Nội) cho biết, thường ngày bà đi nhặt phế liệu, sau đó bán lại để có thu nhập. Nhưng hiện nay, do thực hiện giãn cách xã hội, bà không ra ngoài đường được. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của bà. “Gia đình tôi có 3 người, thu nhập thường không ổn định. Tôi còn phải chăm sóc chồng bị bệnh nằm một chỗ. Số gạo nhận được từ cây “ATM gạo” sẽ giúp gia đình tôi không bị đứt bữa trong 3 ngày, cũng bớt lo lắng phần nào”, bà Thanh cho biết.

Trong thư khen gửi anh Hoàng Tuấn Anh với sáng chế “ATM gạo,” Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh hoan nghênh và biểu dương hành động của anh Hoàng Tuấn Anh cũng như tất cả những việc làm nhân ái, quả cảm của người dân trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, hiện nay, khắp các vùng miền của Tổ quốc đã, đang và sẽ còn nhiều ý tưởng hay, hành động đẹp, với nhiều hình thức sáng tạo, ý nghĩa của nhiều người, nhiều tổ chức nhằm động viên đội ngũ các chiến sỹ áo trắng cũng như các chiến sỹ trong lực lượng vũ trang, dân quân đang ngày đêm cứu chữa, ngăn ngừa dịch lây lan; chăm lo đến từng miếng ăn, giấc ngủ của những người mắc bệnh và nguy cơ mắc bệnh.

Khẳng định tinh thần đoàn kết, đồng lòng cùng Đảng, Nhà nước chung tay phòng, chống dịch hiệu quả, Phó Chủ tịch nước tin tưởng, Việt Nam sẽ vượt qua giai đoạn khó khăn và chiến thắng dịch COVID-19 nhanh nhất.

Nghĩa cử ấm áp tình người trên mảnh đất hình chữ S đã khiến truyền thông quốc tế ngỡ ngàng và dành không ít lời khen ngợi.

Đánh giá về sáng kiến “ATM gạo,” kênh Truyền hình CNN của Mỹ ngày 13/4 chạy dòng tin “một chiếc máy cho ra gạo miễn phí – một điều khó tin – nhưng những chiếc ATM gạo như thế đã được lắp đặt tại nhiều nơi trên đất nước Việt Nam để hỗ trợ cho người gặp khó khăn trong dịch bệnh.”

Trên mạng Twitter, nhà văn Mỹ Marianne Williamson dẫn bài báo ca ngợi sáng kiến “ATM gạo” tại Việt Nam trên CNN và khẳng định: “Đây là ý tưởng mà chúng ta nên thực hiện.”

Mới đây, tờ International Business Times (Mỹ) cũng có bài viết bày tỏ sự ấn tượng về cây “ATM gạo” tại Việt Nam và ví đây là “một cách khéo léo” để hỗ trợ những người gặp khó khăn vì dịch bệnh.

“Một chiếc máy cho ra gạo miễn phí – một điều khó tin – nhưng những chiếc ATM gạo như thế đã được lắp đặt tại nhiều nơi trên đất nước Việt Nam để hỗ trợ cho người gặp khó khăn trong dịch bệnh.” (Kênh truyền hình Mỹ CNN)

“Việt Nam không phải đất nước phát triển nhất thế giới nhưng chắc chắn là một trong những quốc gia nhân ái nhất.” Một độc giả người nước ngoài đã bình luận như vậy dưới bài viết đăng trên tờ báo The Straits Times của Malaysia về những cây “ATM gạo” của Việt Nam. Hơn cả lương thực, những chiếc máy này đang cho đi sự tử tế, lan tỏa lòng tốt của người Việt ra thế giới.

Những hành động thiện nguyện của các tổ chức, cá nhân đã phần nào làm vơi bớt khó khăn của người dân nghèo, nhóm yếu thế trong xã hội, để không ai bị bỏ lại phía sau trong cuộc chiến cam go chống đại dịch COVID-19.

Những việc làm này cũng thể hiện rõ truyền thống tốt đẹp “lá lành đùm lá rách” từ ngàn đời nay của dân tộc ta; tiếp thêm sức mạnh để toàn dân chung sức, chung lòng quyết tâm vượt qua hoạn nạn. Điều quan trọng là sau khi dịch bệnh đi qua, tinh thần tương thân tương ái sẽ tiếp tục duy trì, phát huy để người nghèo được hỗ trợ, tự vươn lên trong cuộc sống./.

Người dân có hoàn cảnh khó khăn ở Hà Nội tới nhận gạo trong chiều 11/4. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
Người dân có hoàn cảnh khó khăn ở Hà Nội tới nhận gạo trong chiều 11/4. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

Long đong cuộc sống người nghèo châu Âu thời COVID-19

Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 được mệnh danh là “kẻ thủ vô hình,” có thể tấn công bất cứ ai không phân biệt địa vị, giàu nghèo trong xã hội.

Lệnh phong tỏa kéo dài ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả mọi người, không trừ một ai. Nhưng một điều chắc chắn rằng nguy cơ mắc bệnh hay mức độ tác động của lệnh phong tỏa đến cuộc sống các tầng lớp cư dân là rất khác nhau.

Nghèo khó và mức độ rủi ro nhiễm virus luôn là “bạn đồng hành.” Điều này được bộc lộ rất rõ tại châu Âu những ngày này.

Những người vô gia cư

Mặc dù chính quyền thành phố London (Anh) và các tổ chức từ thiện đã chi 10,5 triệu bảng để giúp trả tiền thuê chỗ ở cho những người vô gia cư, nhưng hiện vẫn còn khoảng 900 người vô gia cư tại London không có chỗ ngủ trong nhà, điều này đồng nghĩa họ không thể thực hiện được hướng dẫn mà chính phủ khuyến cáo người dân trong mùa dịch bệnh.

Nghèo khó và mức độ rủi ro nhiễm virus luôn là “bạn đồng hành.” Điều này được bộc lộ rất rõ tại châu Âu những ngày này.

Những người ngủ trên đường phố là nhóm đối tượng được cho có nguy cơ mắc COVID-19 cao hơn vì rất nhiều người có bệnh nền. Những người này cũng sẽ không thể “tự cách ly tại nhà” như khuyến cáo nếu như họ có triệu chứng mắc bệnh.

Nhân viên y tế chuyển bệnh nhân COVID-19 tới bệnh viện ở Bologna, Italy ngày 9/4/2020. (Ảnh: THX/ TTXVN)
Nhân viên y tế chuyển bệnh nhân COVID-19 tới bệnh viện ở Bologna, Italy ngày 9/4/2020. (Ảnh: THX/ TTXVN)

Kalpana Sabapathy, một bác sỹ gia đình kiêm bác sỹ dịch tễ học, cho biết tình trạng suy dinh dưỡng cùng với một số yếu tố khác sẽ làm suy yếu hệ miễn dịch, trong khi nhiều người vô gia cư mắc các bệnh như tiểu đường, huyết áp cao, tim mạch và thậm chí HIV, viêm phổi…

Những người vô gia cư ở London thường ngủ ở vỉa hè, hiên các tòa nhà, trong ga tàu điện ngầm, bến tàu, xe, và sử dụng các nhà tắm, vệ sinh ở các khu công cộng.

Từ khi có lệnh phong tỏa, họ rất khó tìm được những chỗ như vậy, kết quả là hồi đầu tháng Tư vừa qua có tới 200 người vô gia cư đổ về tá túc tại sân bay quốc tế Heathrow.

Ông Paul Atherton, một người vô gia cư thường ngủ tại khu terminal 5 kể vì ông có bệnh nền nên ở tại sân bay sẽ an toàn hơn, nếu bị làm sao thì sẽ có người thấy mà giúp.

Sự việc đã khiến lãnh đạo sân bay Heathrow phải phối hợp với các tổ chức hội đồng địa phương, các tổ chức từ thiện giúp những người vô gia cư có một chỗ ở tạm trong những ngày này.

Cảnh vắng vẻ trên đường phố tại Paris, Pháp ngày 6/4/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)
Cảnh vắng vẻ trên đường phố tại Paris, Pháp ngày 6/4/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)

Tại Italy, tổ chức liên đoàn những người vô gia cư đã gửi thư lên Bộ Nội vụ phản kháng việc họ bị cảnh sát phạt tội ngủ ngoài đường, cho rằng “họ, những người vô gia cư, không thể ở nhà vì họ không có nhà.”

Người phát ngôn của liên đoàn những người vô gia cư Michele Ferraris chỉ trích việc phạt tiền người vô gia cư, cho rằng “phạt tiền, họ làm gì có tiền để trả, và vì vậy họ sẽ phải ra tòa. Họ lang thang trên phố không phải vì vui.”

Mauro Striano, nhân viên chính sách của tổ chức phi chính phủ chuyên giúp đỡ người vô gia cư có trụ sở tại Brussel (European Federation of National Associations Working with the Homeless) cho biết bình thường ở Bỉ không có người bị đói vì sẽ có những chỗ ăn miễn phí, nhưng bây giờ đó là vấn đề đối với người vô gia cư.

Tại Pháp cũng vậy, Laura Slimani, nhân viên tổ chức Federation of Solidarity Actors chia sẻ việc phát thực phẩm miễn phí tại Paris vấp phải khó khăn do các nhân viên xã hội làm việc tại các địa điểm phân phát này không có đủ khẩu trang, găng tay… để làm việc, dẫn đến một số cơ sở phải đóng cửa, và người nghèo không tìm ra được chỗ để nhận thức ăn miễn phí như khi bình thường không có dịch.

Các nhân viên xã hội tại Prague (Cộng hòa Séc) buộc phải tự khâu lại khẩu trang, găng tay do thiếu các đồ dùng để bảo vệ khi làm việc.

Alessandro, một người đàn ông vô gia cư, cầu xin bố thí khi một phụ nữ đeo khẩu trang cho anh tiền ở lối vào siêu thị tại Barcelona, Tây Ban Nha vào ngày 24 /3/2020. (Nguồn: Reuters)
Alessandro, một người đàn ông vô gia cư, cầu xin bố thí khi một phụ nữ đeo khẩu trang cho anh tiền ở lối vào siêu thị tại Barcelona, Tây Ban Nha vào ngày 24 /3/2020. (Nguồn: Reuters)

Đại dịch COVID-19 tấn công châu Âu trong bối cảnh số người vô gia cư tại châu lục này tăng lên đáng kể so với 10 năm trước.

Hiện ước tính có khoảng 700.000 người vô gia cư tại Liên minh châu Âu (EU) và Anh, tăng 70% so với cách đây 1 thập niên và con số này vẫn tiếp tục gia tăng ở khắp các nước (trừ Phần Lan).

Ủy viên châu Âu phụ trách vấn đề việc làm và các quyền xã hội Nicolas Schmit cho rằng chính sách “thắt lưng buộc bụng” của châu Âu sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007 đã thất bại.

Theo ông, chính sách tiết kiệm đã gây ra nhiều vấn đề xã hội, để lại nhiều vết thương xã hội trong lòng EU. Ông phê phán ý tưởng cắt giảm phúc lợi nhà nước, cắt giảm chi tiêu công, hay để giá nhà cho thị trường quyết định … khiến xã hội trở nên như ngày nay.

Bà Ruth Owen, Phó giám đốc European Federation of National Associations Working with the Homeless, đánh giá cao một số động thái tích cực diễn ra gần đây tại các thành phố London, Paris, Prague, Barcelona (Tây Ban Nha).. khi những người vô gia cư đã được sắp xếp để ngủ tạm tại khách sạn, nhà trọ trong thời kỳ dịch bệnh này.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất nằm ở chỗ làm sao để có thể biết mà chia tách được người khỏe mạnh và người bị nhiễm mà không thể hiện triệu chứng. Như tại Bỉ, những người này chỉ được phân chia cách ly nếu bị ho. Bởi vậy, bà Owen cho rằng tất cả những người vô gia cư cần được xét nghiệm vì họ là nhóm người dễ bị tổn thương, mắc bệnh.

Hàng triệu người bị đói

Theo tổ chức Food Foundation, trong vòng 3 tuần lễ phong tỏa, nước Anh có tới 1,5 triệu người bị đói do không thể đi mua thực phẩm vì trong diện tự cách ly tại nhà, không thể đến được những chỗ phát đồ ăn miễn phí do nhiều nơi đóng cửa hoặc không có tiền mua thực phẩm.

Cửa hàng tại Rome, Italy, đóng cửa ngày 6/4/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)
Cửa hàng tại Rome, Italy, đóng cửa ngày 6/4/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)

Khoảng 3 triệu người đã phải giảm bớt bữa ăn trong ngày. Hơn 1 triệu người được cho là đã mất việc làm do đại dịch, trong đó khoảng 300.000 người tin rằng họ không đủ tiêu chuẩn để được hưởng hỗ trợ của chính phủ.

Nhiều tổ chức từ thiện chuyên cấp phát thực phẩm miễn phí thông báo số người đến các trung tâm của họ tăng cao đột biến.

Sabine Goodwin, điều phối viên tổ chức từ thiện Independent Food Aid Network, bày tỏ lo ngại chính phủ đã quá chậm đưa ra các biện pháp ứng phó với tình cảnh thiếu ăn của người nghèo và nếu không xử lý kịp thời thì vấn đề sẽ “không kiểm soát nổi.”

Chẳng hạn như tại thành phố Liverpool, số người khẩn cấp xin trợ giúp của hội đồng địa phương tăng 150% trong những ngày này, đó là những người không có thực phẩm, hoặc không có tiền để trả tiền điện kể từ khi có lệnh phong tỏa.

Chính quyền thành phố đã nhanh chóng phát triển mạng lưới cấp phát thực phẩm từ thiện để giúp đỡ người nghèo tại đây. Tuy nhiên, Goodwin cho rằng nếu chỉ mỗi chính quyền địa phương hỗ trợ thì không xuể, nên rất cần sự trợ giúp từ chính phủ trong lúc này.

Người vô gia cư trên đường phố tại Rome, Italy. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Người vô gia cư trên đường phố tại Rome, Italy. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Đặc biệt, cuộc sống nhiều lao động nhập cư thêm khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng vì bị sa thải và không đủ điều kiện hưởng trợ cấp của chính phủ.

Nhiều lao động nước ngoài đã bị mất việc, không có thu nhập. Đa phần họ là những lao động nhập cư tạm thời đến từ ngoài Khu vực kinh tế châu Âu (EEA) – gồm EU, Na Uy, Iceland và Liechtenstein – những người có visa sang làm việc nhưng kèm theo quy định không được nhận tiền từ quỹ công như nhận tiền trợ cấp nếu như họ bị mất việc.

Không ít trường hợp người lao động làm việc nhưng không có hợp đồng lao động, như ông William Briones, 52 tuổi, người Tây Ban Nha gốc Ecuador, làm việc tại công ty thực phẩm, khi dịch COVID-19 xảy ra, công ty buộc phải đóng cửa, ông bị mất việc.

Đây chỉ là một trong số 2 triệu người làm việc trong nền kinh tế phi chính quy của Anh, những người không đủ tiêu chuẩn được nhận tiền từ quỹ hỗ trợ của Chính phủ Anh.

Gia tăng bất bình đẳng

Tại Tây Ban Nha, theo số liệu của chính quyền vùng Catalonia, tỷ lệ lây nhiễm bệnh của tầng lớp người lao động chiếm 533/100.000 người tại Roquetes, trong khi tỷ lệ này tại khu vực giàu có Sant Gervasi chỉ là 77/100.000.

Tỷ lệ cao tương tự ghi nhận tại các thành phố vệ tinh El Prat de Llobregat với 604 và Barcelona.

Nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại một bệnh viện ở Paris, Pháp ngày 13/3/2020. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19 tại một bệnh viện ở Paris, Pháp ngày 13/3/2020. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Bác sỹ đa khoa Nani Vall-llosera tại Bon Pastor, một vùng ngoại ô nghèo của Barcelona, cho biết rất nhiều người trong số những lao động thu nhập thấp có nguy cơ cao lây nhiễm virus SARS-CoV-2.

Bà đã chứng kiến nhiều người làm việc tại siêu thị, nhà dưỡng lão, lao công quét dọn lao động trong điều kiện không có khẩu trang. Nếu bị lây nhiễm, khi về nhà, họ lại lây tiếp cho những người sống cùng bởi nhóm người này ở trong các căn hộ quá chật chội, nên việc tự cách ly là vô cùng khó.

Bác sỹ Nani Vall-llosera lưu ý nghèo khó và sức khỏe yếu luôn gắn với nhau – càng nghèo thì khả năng có các vấn đề về sức khỏe càng cao hơn.

Giống nhiều đồng nghiệp khác, bác sỹ Vall-llosera cũng cho rằng khả năng phản ứng của hệ thống y tế Tây Ban Nha bị suy yếu bởi chính sách cắt giảm ngân sách cho ngành y tế trong nhiều năm, đặc biệt đối với các vùng tại Madrid và Catalonia.

Người dân đeo khẩu trang phòng tránh lây nhiễm COVID-19 tại Paris, Pháp, ngày 15/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người dân đeo khẩu trang phòng tránh lây nhiễm COVID-19 tại Paris, Pháp, ngày 15/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Thực tế cho thấy những vùng ít bị cắt giảm ngân sách hơn thì xử lý dịch bệnh hiện nay tốt hơn.

Chuyên gia Manuel Franco, Giáo sư dịch tễ học và y tế công tại trường đại học Alcalá (Madrid, Tây Ban Nha) và trường y tế công Johns Hopkins nhấn mạnh bất bình đẳng thu nhập, giới tính, giáo dục và nguồn gốc dân nhập cư đang là vấn đề nổi lên trong bối cảnh đại dịch vẫn tiếp diễn.

Lệnh phong tỏa khiến nhiều người buộc phải ở nhà, không đi làm càng khiến vấn đề bất bình đẳng thu nhập bộc lộ rõ hơn. Khi ở nhà, mọi người cần sử dụng hệ thống sưởi ấm, phải giúp con cái học tại nhà, có nghĩa máy tính, bàn phím, điện thoại thông minh là cần thiết để sử dụng cho các lớp học từ xa, cũng như cần hệ thống Internet tốt.

Chính phủ các nước châu Âu đang nỗ lực giảm thiểu tác động kinh tế của khủng hoảng y tế và bảo vệ những người dễ bị tổn thương, nhưng những bất bình đẳng mang tính cấu trúc vẫn đang tồn tại và trở nên xấu hơn.

Đối với người thu nhập thấp, để tiếp cận những điều kiện như vậy cũng hết sức khó khăn, và khoảng cách giàu nghèo lại bị khoét sâu thêm do đại dịch.

Ông Franco cho biết các chính phủ châu Âu đang nỗ lực giảm thiểu tác động kinh tế của khủng hoảng y tế và bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, nhưng những bất bình đẳng mang tính cấu trúc vẫn đang tồn tại và trở nên xấu hơn.

Đó sẽ là thách thức của các quốc gia châu Âu kể cả trong thời kỳ dịch bệnh hoành hành hiện nay cũng như giai đoạn phục hồi hậu COVID-19./.

Người vô gia cư trên đường phố ở Windsor, phía tây thủ đô London, Anh. (Nguồn: AFP/ TTXVN)
Người vô gia cư trên đường phố ở Windsor, phía tây thủ đô London, Anh. (Nguồn: AFP/ TTXVN)

Đường Hồ Chí Minh

Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Jacques C. Despuech từng nhận xét: “Toàn bộ con đường mòn Hồ Chí Minh mà người ta nói hôm nay là tổng kết của hàng thế kỷ đấu tranh và áp bức, con đường ấy có sức sống mãnh liệt vì nó tượng trưng cho sức chiến đấu của cả một dân tộc.”

Trong hơn 60 năm, trải qua hết bom đạn chiến tranh, cho đến ngày hòa bình xây dựng đất nước, từ một “đường mòn,” con đường mang tên vị lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trở thành tuyến huyết mạch nối liền 2 đầu đất nước, thành biểu tượng của khí phách anh hùng, bản lĩnh, trí tuệ dân tộc Việt Nam.

Con đường của khí phách và trí tuệ Việt Nam

Hiệp định Geneva tạm thời chia cắt đất nước ta làm hai miền. Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời là hậu phương cho tiền tuyến miền Nam giành lại chính quyền đang đặt dưới sự cai trị Ngụy quyền và đế quốc Mỹ. Yêu cầu ngày càng cao của mặt trận miền Nam đặt ra nhu cầu bức thiết về một tuyến vận chuyển đảm bảo được nhân lực, vật lực cho tiền tuyến.

Hơn 60 năm qua,trải qua bom đạn chiến tranh cho đến ngày hòa bình xây dựng đất nước, từ một “đường mòn,” đường Hồ Chí Minh đã trở thành tuyến huyết mạch,biểu tượng của khí phách và trí tuệ Việt Nam.

Con đường mòn xuyên dãy Trường Sơn đã được sử dụng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Những đoàn quân chiến đấu, những chuyến xe thồ, những gùi lượng thực, đạn dược đã theo con đường này tỏa ra các mặt trận từ Bắc đến Nam.

Xe qua cầu phao Lèn (Thanh Hóa) để chở hàng ra tiền tuyến. Từ năm 1965 đến 1972, đường Trường Sơn phát triển mạnh mẽ, tiến lên cơ giới hóa toàn tuyến vận tải quân sự. (Ảnh: TTXVN)
Xe qua cầu phao Lèn (Thanh Hóa) để chở hàng ra tiền tuyến. Từ năm 1965 đến 1972, đường Trường Sơn phát triển mạnh mẽ, tiến lên cơ giới hóa toàn tuyến vận tải quân sự. (Ảnh: TTXVN)

Tuy nhiên, quy mô của nó không thể đáp ứng được sự chi viện cho cách mạng miền Nam đang ngày càng lớn mạnh.

Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Đoàn 559 để xây dựng đường Trường Sơn thành tuyến chi viện chiến lược, chuyển nhân lực, vật lực từ miền Bắc vào phục vụ cách mạng miền Nam, cũng như cách mạng Lào và Campuchia.

Do ngày thành lập Đoàn 559 trùng với ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đây, con đường Trường Sơn được mang tên “Đường Hồ Chí Minh” – cái tên đi vào lịch sử như một huyền thoại sống về ý chí và trí tuệ, bản lĩnh của quân và dân Việt Nam.

Đoàn 559 có nhiệm vụ vừa vận chuyển, vừa mở đường hành quân. Với phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để đảm bảo bí mật tối đa, Đoàn thậm chí còn dùng ván gỗ để khi đi không để lại dấu vết trên đất rừng.

Bằng mọi phương tiện thô sơ, các chiến sỹ vận tải vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hoá theo tuyến đường Trường Sơn để phục vụ chiến dịch Tây Nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. (Ảnh: Thanh Tụng/TTXVN)
Bằng mọi phương tiện thô sơ, các chiến sỹ vận tải vận chuyển hàng ngàn tấn hàng hoá theo tuyến đường Trường Sơn để phục vụ chiến dịch Tây Nguyên, mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. (Ảnh: Thanh Tụng/TTXVN)

Sau 3 tháng mở đường, ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên vượt Trường Sơn được chính thức bàn giao cho chiến trường Trị Thiên.

Đây là dấu mốc có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, vì mỗi khẩu súng, viên đạn đến với chiến trường là thể hiện “ý Đảng,” “lòng dân,” là tình cảm của Bác Hồ kính yêu, của nhân dân miền Bắc gửi tới đồng bào, chiến sĩ miền Nam ruột thịt.

Với tinh thần quả cảm, sáng tạo và sự nỗ lực phi thường của Đoàn 559, hệ thống đường Hồ Chí Minh phát triển nhanh chóng, thực hiện được yêu cầu vận chuyển quy mô lớn mà Quân ủy Trung ương giao.

Đường Hồ Chí Minh trở thành tuyến vận tải chiến lược không thể chia cắt của quân đội ta, phát huy cao độ ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” “sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm” hay “máu có thể đổ, đường không thể tắc.”

Trong giai đoạn đầu, hàng hóa được vận chuyển bằng xe đạp thồ, xe bò. Đến tháng 12/1961, xe cơ giới bắt đầu được đưa vào phục vụ và sau đó tăng lên nhanh chóng.

Bất chấp những ngăn chặn khốc liệt, tàn bạo, bằng nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn, nhiều loại phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ của Mỹ, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn vẫn không ngừng phát triển, đáp ứng sự chi viện to lớn, toàn diện, liên tục, mạnh mẽ của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. (Ảnh: Văn Sắc/TTXVN)
Bất chấp những ngăn chặn khốc liệt, tàn bạo, bằng nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn, nhiều loại phương tiện chiến tranh và vũ khí hiện đại nhất lúc bấy giờ của Mỹ, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn vẫn không ngừng phát triển, đáp ứng sự chi viện to lớn, toàn diện, liên tục, mạnh mẽ của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. (Ảnh: Văn Sắc/TTXVN)

Trong 16 năm (1959-1975), bộ đội Trường Sơn đã cùng quân, dân các chiến trường từng bước xây dựng con đường thành một mạng lưới giao thông liên hoàn, vững chắc xuyên qua 21 tỉnh trên lãnh thổ 3 nước, với tổng chiều dài 20.000km đường ôtô, 60km đường sông, 1.400km đường ống dẫn dầu, 1.500km đường dây thông tin.

Lực lượng bộ đội Trường Sơn cũng đã bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sỹ đi vào chiến trường miền Nam và các hướng mặt trận lớn; đưa 650.000 lượt cán bộ, chiến sỹ từ các chiến trường về hậu phương miền Bắc, trong đó có gần 310.000 thương binh, bệnh binh; tổ chức vận chuyển trên 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu chi viện cho miền Nam.

Các khu tập kết cũng là vùng hậu phương trực tiếp của các chiến trường, là bàn đạp xuất kích đã được chuẩn bị sẵn cho các binh đoàn chủ lực tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược quan trọng, góp phần quyết định thực hiện thành công chiến lược: giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nói đến Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không nhắc đến lực lượng thanh niên xung phong với nhiệm vụ mở đường, bảo đảm giao thông vận tải và sẵn sàng bổ sung cho lực lượng quân đội khi cần thiết.

Vượt đường Trường Sơn vào chiến trường năm 1972. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Vượt đường Trường Sơn vào chiến trường năm 1972. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Những chiến công, thành tích của lực lượng thanh niên xung phong đã góp phần to lớn vào chiến công chung của dân tộc, cùng với các lực lượng ngành giao thông vận tải, bộ đội công binh, làm nên những con đường chiến lược, nối liền mạch máu giao thông, như Đường Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn, Đường 20 Quyết Thắng, Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Truông Bồn (Nghệ An), cua chữ A…

Đối với Việt Nam, đường Hồ Chí Minh là công trình giao thông có ý nghĩa sống còn, là mạch máu nối liền hai miền Nam-Bắc. Đối với kẻ thù, đó là mũi tên khoan thẳng vào lòng địch, khiến chúng khiếp sợ và tìm mọi cách tàn phá.

Đường Hồ Chí Minh đã trở thành chiến trường thử nghiệm chiến lược “chiến tranh ngăn chặn,” “chiến tranh bóp nghẹt” của nền khoa học-công nghệ cao Hoa Kỳ như hệ thống “Hàng rào điện tử McNamara.”

Trong hơn 10 năm, hàng trăm lượt máy bay Mỹ đã rải hàng triệu lít chất độc hóa học dọc tuyến hành lang vận chuyển.

Cầu cáp 10 dây dài 240m bắc ngang qua sông Đáy trên những chiếc cầu cũ đã bị bom địch phá vỡ, quãng Đoan Vĩ, đảm bảo cho xe trọng tải tới 12 tấn vượt qua. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
Cầu cáp 10 dây dài 240m bắc ngang qua sông Đáy trên những chiếc cầu cũ đã bị bom địch phá vỡ, quãng Đoan Vĩ, đảm bảo cho xe trọng tải tới 12 tấn vượt qua. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)

Trong 8 triệu tấn bom Mỹ mà Việt Nam phải hứng chịu, gần 4 triệu tấn được rải xuống nhằm phá đường, phá xe, hủy diệt mọi sự sống trên cung đường này.

Tuy nhiên, điều làm Mỹ bất lực là đường Hồ Chí Minh không những không bị cắt đứt, mà ngày càng trở nên tinh vi và hoàn thiện hơn.

Người Mỹ coi những sự đau khổ của họ “bắt nguồn chủ yếu từ con đường mòn bất khả xâm phạm này” và Quân đội Hoa Kỳ phải thừa nhận, đường Trường Sơn là “một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ 20.”

Các lực lượng trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã chiến đấu trên 2.500 trận, diệt gần 17.000 tên địch, bắt 1.200 tên, gọi hàng trên 10.000 tên, bắn rơi 2.455 máy bay, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh khác.

Viết tiếp những huyền thoại

Chiến tranh kết thúc, nhưng sứ mệnh của đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã và đang được các thế hệ sau viết tiếp. Trên những tấm bia trắng ngút ngàn của Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, hơn 1 vạn hài cốt trong tổng số hơn 2 vạn cán bộ các chiến sỹ, thanh niên xung phong năm xưa ngã xuống trên chiến trường Trường Sơn đã được quy tập về đây, để ngàn đời sau tri ân, tưởng nhớ.

 Sau ngày đất nước thống nhất, đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh mang sứ mệnh lịch sử mới - tuyến đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành tuyến quốc lộ xuyên Việt hiện đại thứ hai phía Tây đất nước, phục vụ cho thời kỳ hội nhập, phát triển và củng cố an ninh quốc phòng của đất nước. (Ảnh: Huy Hùng/ TTXVN)
 Sau ngày đất nước thống nhất, đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh mang sứ mệnh lịch sử mới – tuyến đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành tuyến quốc lộ xuyên Việt hiện đại thứ hai phía Tây đất nước, phục vụ cho thời kỳ hội nhập, phát triển và củng cố an ninh quốc phòng của đất nước. (Ảnh: Huy Hùng/ TTXVN)

Và cũng trên tuyến đường này, các công trình mới đang được xây dựng, cải tạo, nhằm biến đường Hồ Chí Minh thành một mạch xương sống mới, mang sứ mạng mới của thời kỳ xây dựng, phát triển đất nước.

Nghị quyết số 38 của Quốc hội đã quyết định xây dựng đường Hồ Chí Minh thành công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến 3.167km, kéo dài từ Pác Bó (Cao Bằng) đến tận Đất Mũi Cà Mau.

Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.
Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.

Tuyến đường chiến lược này sẽ hình thành trục xuyên Việt thứ 2, bên cạnh quốc lộ 1A, từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông, tăng cường liên hệ chặt chẽ ba miền Bắc-Trung-Nam; tạo điều kiện hạ tầng để khai thác, phát triển vùng đất rộng lớn, giàu tiềm năng ở phía Tây Tổ quốc.

Nghị quyết số 38 của Quốc hội đã quyết định xây dựng đường Hồ Chí Minh thành công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến 3.167km, kéo dài từ Pác Bó (Cao Bằng) đến tận Đất Mũi Cà Mau.

Đến nay, đường Hồ Chí Minh đã hoàn thành và đưa vào sử dụng hơn 2.200km, thể hiện rõ vai trò là con đường mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh phía Tây; góp phần quan trọng bảo đảm chính trị, an ninh, phòng thủ biên giới.

Bên cạnh đó, việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử của đường Hồ Chí Minh trong thời kỳ kháng chiến cũng mang giá trị văn hóa, nhân văn sâu sắc, giáo dục và phát huy truyền thống dựng nước, giữ nước hào hùng của ông cha cho các thế hệ mai sau./.

Một đoạn đường Hồ Chí Minh qua huyện Bù Đăng (Bình Phước). (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Một đoạn đường Hồ Chí Minh qua huyện Bù Đăng (Bình Phước). (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Khủng hoảng ‘vàng đen’ chưa có hồi kết

Trong lúc cả thế giới vẫn đang điêu đứng vì đại dịch COVID-19, giá dầu mỏ, vốn được xem là “huyết mạch” của nền kinh tế, lại tiếp tục lao dốc xuống mức thấp kỷ lục, khi các hoạt động kinh tế-xã hội tiếp tục bị đình trệ.

Điều này cho thấy thị trường đang phải chịu nhiều sức ép dư nguồn cung, bất chấp những nỗ lực của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và các nước đối tác (OPEC+) nhằm bình ổn giá dầu. Đây cũng là một chỉ dấu rằng nền kinh tế toàn cầu sẽ khó có thể nhanh chóng phục hồi sau đại dịch.

“Không ai muốn nhận dầu vào lúc này”

Trong bối cảnh nhu cầu sụt giảm mạnh, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 5 trên sàn giao dịch New York (Mỹ) cuối phiên 20/4 giảm sâu tới 55,90 USD (tương đương 306%), xuống còn -37,63 USD/thùng, mức thấp nhất trên sàn giao dịch này từ trước tới nay.

Sau khi rơi xuống vùng âm lần đầu tiên trong lịch sử, giá dầu ngọt nhẹ WTI trong phiên mở cửa đầu ngày 21/4 đã bật trở lại lên trên 0 USD/thùng và sau đó tăng dần.

Một trong những nguyên nhân khiến giá dầu lao dốc thê thảm là hợp đồng giao hàng tháng 5 đáo hạn vào ngày 20/4, các nhà đầu tư phải “bán tống bán tháo”, càng tạo áp lực đối với giá “vàng đen.”

Trong khi đó, rất ít khách hàng mua dầu WTI giao tháng 5, vì không ai muốn nhận dầu vào lúc này. Tình trạng dư thừa nguồn cung và thiếu chỗ chứa khiến người mua không mấy mặn mà. Hiện các nhà buôn tập trung nhiều hơn vào hợp đồng giao tháng 6, với giá dầu hơn 21 USD/thùng. Sự chênh lệch giữa giá dầu giao tháng 5 và tháng 6 tại một thời điểm đã mở rộng đến 60,76 USD/thùng, mức chênh lệch lớn nhất trong lịch sử của hai hợp đồng dầu hằng tháng liền nhau.

Diễn biến tiêu cực trên thị trường dầu mỏ đã khiến chứng khoán Mỹ chìm trong sắc đỏ sau 2 tuần tăng điểm liên tiếp. Cụ thể, chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 592,05 điểm (tương đương 2,44%), trong khi chỉ số tổng hợp S&P 500 giảm 1,79%, còn chỉ số công nghệ Nasdaq giảm 1,03%.

Trong 11 lĩnh vực của chỉ số S&P 500, chỉ số năng lượng giảm 3,7% trong phiên này và từ đầu năm đến nay đã giảm 45%, mức giảm mạnh nhất. Những lo ngại về rủi ro từ dầu thô đã khiến các nhà đầu tư tìm đến vàng như một “địa chỉ an toàn.” Trong phiên giao dịch ngày 20/4, giá vàng thế giới đã tăng đến 1%.

Thị trường dầu mỏ thế giới liên tục lao dốc thời gian qua do nhiều nước áp dụng biện pháp phong tỏa và hạn chế đi lại nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19, cũng như hoạt động kinh tế và công nghệ đình trệ trên toàn cầu. Nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh trong khi thị trường dầu mỏ đang dư thừa.

Thị trường dầu mỏ thế giới liên tục lao dốc thời gian qua do nhiều nước áp dụng biện pháp phong tỏa và hạn chế đi lại nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19

Lượng dầu tồn trong các kho chứa dầu của Mỹ ở Cushing đã tăng 9% trong tuần tính tới ngày 17/4, tương đương khoảng 61 triệu thùng. Các công ty lọc dầu đều đang xử lý dầu thô với mức ít hơn bình thường, vì vậy hàng trăm triệu thùng dầu bị đẩy vào các kho chứa trên toàn thế giới. Một số nhà buôn thậm chí đã phải thuê tàu neo đậu chỉ để chứa dầu thừa. Lần đầu tiên trong lịch sử, ước tính 160 triệu thùng đang nằm trong kho chứa.

Cuộc khủng hoảng giá dầu càng trở nên tồi tệ hơn do tranh cãi giữa Saudi Arabia và Nga liên quan tới cắt giảm sản lượng.

Tháng trước, giá dầu đã giảm hơn một nửa khiến ngành công nghiệp khổng lồ này lao đao. Mặc dù nhóm nước OPEC+ đã đạt được thỏa thuận cắt giảm sản lượng khai thác 9,7 triệu thùng dầu/ngày, song khi các nguồn dự trữ đã kịch trần, và phải đến ngày 1/5 thỏa thuận cắt giảm có hiệu lực, quyết định mang tính lịch sử của OPEC+ được xem là chưa đủ sức kéo giá dầu trở lại quỹ đạo.

Hơn nữa, Nga cũng hoài nghi rằng chính thỏa thuận cắt giảm sản lượng dầu mỏ của OPEC+ là nguyên nhân khiến giá dầu sụt giảm mạnh.

Những lục đục trong nội bộ nhóm nước OPEC+ càng khiến cuộc khủng hoảng giá dầu thêm trầm trọng.
Những lục đục trong nội bộ nhóm nước OPEC+ càng khiến cuộc khủng hoảng giá dầu thêm trầm trọng.

Bên cạnh đó, giá dầu giảm cũng xuất phát từ những dự báo cho rằng hoạt động kinh tế toàn cầu còn lâu mới có thể phục hồi trở lại bình thường. Một cuộc khảo sát mới đây của ngân hàng Deutsche Bank cho thấy thị trường đã “trở nên thiếu tự tin hơn nhiều” về khả năng châu Âu và Mỹ sẽ khôi phục hoạt động kinh doanh trước mùa Hè, bất chấp nhiều nước đang dần mở cửa trở lại nền kinh tế.

Mặc dù giá dầu giảm sẽ giúp giảm bớt chi phí nhiên liệu và vận chuyển, nhưng trong bối cảnh kinh tế bị chững lại như hiện nay, điều này sẽ khiến nợ xấu tăng lên, doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, tăng trưởng kinh tế suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là tại những quốc gia phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ như Nga, Saudi Arabia và Venezuela.

Giá dầu giảm sẽ giúp giảm bớt chi phí nhiên liệu và vận chuyển, nhưng trong bối cảnh kinh tế bị chững lại như hiện nay, điều này sẽ khiến nợ xấu tăng lên, doanh nghiệp có nguy cơ phá sản

Tại Mỹ, hầu hết “đại gia” dầu mỏ đều vay nợ lớn trong giai đoạn trước đó và với đợt suy giảm giá dầu lịch sử này, một số trong nhóm đó có thể sẽ không thể trụ nổi. Công ty nghiên cứu thị trường Rystad Energy đánh giá nếu giá dầu ở mức 20 USD/thùng, tính đến cuối năm 2021, sẽ có ít nhất 533 công ty sản xuất và khai thác dầu mỏ của Mỹ phải đệ đơn xin phá sản. Trong trường hợp giá dầu duy trì ở mức 10 USD/thùng, hơn 1.100 công ty sẽ lâm vào tình cảnh này.

Chuyên gia Louise Dickson, nhà phân tích thị trường dầu mỏ tại Rystad Energy, nhận định việc đóng cửa hoặc thậm chí phá sản bây giờ có thể còn đỡ thiệt hại hơn đối với một số nhà khai thác.

Để chặn lại đà giảm giá dầu và tăng nguồn dự trữ, Tổng thống Donald Trump tuyên bố Mỹ sẽ tận dụng cơ hội này mua 75 triệu thùng nhằm bổ sung vào kho dự trữ chiến lược quốc gia. Tuy nhiên, hiện 4 kho dự trữ dưới lòng đất dọc vùng Vịnh Mexico ở bang Texas và Louisiana , phía Nam nước Mỹ, chỉ có thể dự trữ được tối đa 727 triệu thùng dầu. Ông Trump cũng cho biết sẽ cân nhắc quyết định ngừng nhập khẩu dầu mỏ từ Saudi Arabia.

Một cơ sở lọc dầu của Saudi Arabia. (Nguồn: Reuters)
Một cơ sở lọc dầu của Saudi Arabia. (Nguồn: Reuters)

Saudi Arabia, nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới và là thành viên chủ chốt của OPEC, cho biết OPEC+ có kế hoạch tiếp tục điều chỉnh sản lượng theo hướng cắt giảm tới 19,5 triệu thùng/ngày, thay vì gần 10 triệu thùng/ngày như thỏa thuận đạt được hôm 12/4.

Trước những diễn biến mới, có tin Saudi Arabia đang cân nhắc việc cắt giảm sớm nhất có thể, thay vì đợi đến tháng 5. Trong khi đó, Nga tuyên bố sẵn sàng thảo luận với các đối tác để tìm hướng tháo gỡ vấn đề.

Tuy nhiên, kể cả khi OPEC+ tiếp tục cắt giảm sản lượng, thì tình trạng mất cân bằng cung-cầu cũng khó có thể được giải quyết. Các kho dự trữ dầu toàn cầu đã được lấp đầy hơn 70% công suất và ngày càng có nhiều dầu đổ vào.

Ước tính, sự mất cân đối cung-cầu tạm thời ở mức 25 triệu thùng/ngày sẽ bổ sung thêm tới 750 triệu thùng dầu và các sản phẩm dầu mỏ vào kho dự trữ toàn cầu chỉ trong tháng Tư. Do đó, vào thời điểm OPEC+ cắt giảm sản xuất kể từ tháng 5, sẽ còn lại rất ít không gian lưu trữ dầu mỏ dự phòng.

Các kho dự trữ dầu toàn cầu đã được lấp đầy hơn 70% công suất và ngày càng có nhiều dầu đổ vào.

Như vậy, động thái cắt giảm sản lượng của OPEC+ sẽ không thể giúp cân bằng thị trường ngay lập tức, các kho dự trữ dầu thô sẽ đứng trước áp lực rất lớn vào thời điểm cuối tháng 5 hoặc tháng 6. Mỹ và nhiều quốc gia đang xúc tiến việc xây thêm các kho dự trữ, song quá trình này sẽ mất nhiều thời gian. Trong lúc đó, áp lực dư cung sẽ tiếp tục đè nặng.

Trong báo cáo tháng Tư, OPEC dự báo nhu cầu dầu mỏ sẽ giảm khoảng 6,9 triệu thùng/ngày, tương đương 6,9% trong năm 2020. Con số này vẫn chưa nghiêm trọng bằng dự báo mà Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đưa ra, theo đó nhu cầu trong tháng Tư sẽ giảm 29 triệu thùng/ngày và trong cả năm giảm 9,3 triệu thùng/ngày.

Thành công của thỏa thuận OPEC+ sẽ phụ thuộc vào việc các quốc gia sẽ kéo dài biện pháp phong tỏa đến khi nào, cũng như hoạt động kinh doanh và vận tải hàng hóa bao giờ nhộn nhịp trở lại.

Người dân mua xăng một cửa hàng xăng của Tập đoàn BP ở Brooklyn, New York (Mỹ)  ngày 9/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Người dân mua xăng một cửa hàng xăng của Tập đoàn BP ở Brooklyn, New York (Mỹ) ngày 9/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)

Trong trường hợp dịch bệnh được kiểm soát, nhu cầu phục hồi, giá dầu ở nửa cuối năm 2020 sẽ cần tăng đủ để giúp cho các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ và nhiều nơi khác hoạt động trở lại. Hoặc ít nhất, mức giá cần duy trì ở ngưỡng khiến nhiều thành viên OPEC+ cảm thấy hài lòng.

Tuy nhiên, nếu điều này không xảy ra, hoặc các chính phủ tỏ ra thận trọng trong việc mở cửa lại nền kinh tế, tốc độ tăng giá của dầu thô sẽ tiếp tục bị kìm hãm. Khi đó, các nhà sản xuất dầu vẫn cần chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng giá dầu chưa thể thoát đáy và rơi vào tình trạng lỗ vốn.

“Bài toán” nguồn cung và nhu cầu vẫn là vấn đề nan giải trên thị trường dầu mỏ, vốn phụ thuộc rất lớn vào tình hình dịch COVID-19 hiện nay.

Diễn biến mới nhất là minh chứng cho thấy “bài toán” nguồn cung và nhu cầu vẫn là vấn đề nan giải trên thị trường dầu mỏ, vốn phụ thuộc rất lớn vào tình hình dịch COVID-19 hiện nay. Dù một số quốc gia đã bắt đầu mở cửa nền kinh tế, song dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và giá dầu sẽ khó có thể nhanh chóng phục hồi.

Thay vì chờ đợi tình hình, các công ty dầu mỏ và các quốc gia phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng nên chuẩn bị sẵn sàng cho một khoảng thời gian khó khăn kéo dài. Tuy nhiên, ở một phương diện khác, cuộc khủng hoảng này cũng có thể tạo cơ hội để các nước tái cấu trúc mạnh mẽ nền kinh tế, nói cách khác là chuẩn bị nguồn lực bền vững để nền kinh tế có khả năng chống đỡ trước mọi biến động bất thường của giá dầu./.

V.I.Lenin: Lãnh tụ vĩ đại của cách mạng vô sản thế giới

Là một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lenin đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc.

Lenin đã phát triển toàn diện và sáng tạo học thuyết Marxist và nâng lên thành chủ nghĩa Marx-Lenin ngày nay. Lenin đã biến học thuyết của Marx và Engels thành hiện thực: tiến hành thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Tên tuổi của V.I.Lenin mãi mãi gắn liền với phong trào cộng sản Nga và quốc tế.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 dưới sự lãnh đạo thiên tài của Lenin đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức, có ảnh hưởng to lớn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam.

Vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng vô sản thế giới

V.I.Lenin, tên thật là Vladimir Ilych Ulianov, sinh ngày 22/4/1870, ở Simbirsk (nay là Ulianovsk), trong một gia đình nhà giáo tiến bộ.

Cha Lenin là Ilya Nikolaevich Ulyanov, thanh tra trường trung học dân lập, sau trở thành Hiệu trưởng trường trung học, là một người có tư tưởng tiến bộ, có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục.

V.I.Lenin - lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới, người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng Tháng Mười Nga, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
V.I.Lenin – lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới, người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng Tháng Mười Nga, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Mẹ Lenin là Maria Alexandrovna Ulyanova, sinh ra và lớn lên trong một gia đình thầy thuốc. Bà biết nhiều ngoại ngữ, am hiểu văn học nghệ thuật và dành hết tâm huyết vào việc giáo dục con cái.

Thời thơ ấu Lenin sống trong không khí gia đình đầm ấm. Tính cách và quan điểm của Lenin thời trẻ được hình thành dưới ảnh hưởng của nền giáo dục gia đình mẫu mực, nền văn học Nga tiên tiến cùng cuộc sống lao động xung quanh.

Lenin đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc.

Người có ảnh hưởng lớn đến Lenin trong gia đình là người anh cả Aleksandr Ilyich Ulyanov, một người có ý chí kiên cường và những nguyên tắc đạo đức cao cả.

Mùa hè năm 1877, gia đình Lenin rời Simbirsk chuyển nhà đến Kazan. Cũng trong thời gian này, anh cả của Lenin bị bắt, sau đó bị xử tử hình vì tham gia vào vụ mưu sát Nga hoàng Aleksandr III.

Cái chết của người anh đã gây xúc động mạnh trong tâm trí Lenin và đã củng cố thêm ý chí cách mạng của Lenin. Tuy nhiên để đấu tranh chống chế độ chuyên chế, ông muốn tìm một con đường khác với con đường mà người anh cả đã đi.

Gia đình V.I.Lenin. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Gia đình V.I.Lenin. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Cũng trong năm đó, Lenin tốt nghiệp xuất sắc trường Trung học, được nhận Huy chương vàng (Siimbirsk, 1887) nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào của nước Nga. Nhưng là em ruột của một tội phạm tử hình, Lenin bị cấm vào học các trường Đại học ở thủ đô Petersboung, và đành xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan.

Tại đây, Lenin tích cực tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Nhóm này nghiên cứu các trước tác của Karl Marx, V.G. Bielinski…

Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, Lenin bị đuổi học và bị phạt chuyển đến làng Kukoshino, tỉnh Kazan. Tháng 10 năm 1888, Lenin trở về Kazan, gia nhập nhóm Marxist; Năm sau chuyển đến Samara.

Lenin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, Lenin đã hoàn thành tất cả các môn học của chương trình bốn năm khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa Luật, Lenin làm trợ lý luật sư ở Samara.

Tháng 8/1893, chuyển về Petersboung. Năm 1894, trong cuốn “Thế nào là những bạn dân và họ chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? “ và năm 1899, trong cuốn “Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga,” Lenin đã giáng một đòn công phá về mặt tư tưởng vào phái dân túy. Thời gian này Lenin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Marxist ở Nga.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua và thế giới sẽ còn tiếp tục đổi thay, nhưng cuộc cách mạng vĩ đại do V.I. Lenin và đảng Bolshevik lãnh đạo vẫn khẳng định sức sống, giá trị thời đại và ý nghĩa lịch sử toàn thế giới. Những lý tưởng cao đẹp mà cuộc cách mạng làm “rung chuyển thế giới” ấy vạch ra hơn 100 năm trước vẫn là khát vọng, là ước mơ cháy bỏng của loài người và ngọn lửa Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn sáng mãi. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Hơn một thế kỷ đã trôi qua và thế giới sẽ còn tiếp tục đổi thay, nhưng cuộc cách mạng vĩ đại do V.I. Lenin và đảng Bolshevik lãnh đạo vẫn khẳng định sức sống, giá trị thời đại và ý nghĩa lịch sử toàn thế giới. Những lý tưởng cao đẹp mà cuộc cách mạng làm “rung chuyển thế giới” ấy vạch ra hơn 100 năm trước vẫn là khát vọng, là ước mơ cháy bỏng của loài người và ngọn lửa Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn sáng mãi. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Mùa thu năm 1895, Lenin thành lập ở Petersbourg Hội liên hiệp Đấu tranh Giải phóng Giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Petersbourg lại. Lenin đã gặp Nadezhda Krupskaya là một thành viên trong những nhóm cách mạng lúc bấy giờ, Krupskaya dạy học ở trường buổi tối và tham gia tích cực vào phong trào công nhân. Hai người yêu nhau và đã trở thành bạn đời chung thủy.

Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có Lenin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng 2/1897, Lenin bị đi đày ba năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Siberia).

Một năm sau, Krupskaya cũng bị bắt và bị đi đày. Trong thời gian bị lưu đày, Lenin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn “Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga” (1899).

Năm 1898, chín đại biểu của các tổ chức xã hội dân chủ họp đại hội ở thành phố Minsk và tuyên bố thành lập Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga, nhưng đảng bị tan rã ngay vì tất cả các đại biểu của đại hội thứ nhất đều bị bắt.

Ngôi nhà Lenin và gia đình đã sống từ những ngày đầu bị đày tới làng Shushenskoye (1897-1898).(Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN)
Ngôi nhà Lenin và gia đình đã sống từ những ngày đầu bị đày tới làng Shushenskoye (1897-1898).(Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN)

Năm 1900, thời hạn lưu đày của Lenin kết thúc, người lại hăng hái bắt tay vào việc tập hợp những người Marxist thành lập chính đảng cách mạng.

Chính quyền Nga hoàng cấm Lenin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. Lenin phải ra nước ngoài, cùng với Plekhanov lập ra tờ báo Iskrs (Tia lửa).

Năm 1903, tại Đại hội lần thứ II Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga họp ở London, Lenin phát biểu phải xây dựng một đảng Marxist kiểu mới có kỷ luật nghiêm minh, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng.

Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này, Lenin đã trình bày trong cuốn “Làm gì” (1902) và cuốn “Một bước tiến hai bước lùi” (1904).

Tháng 4/1905, tại London tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga. Lenin được bầu làm Chủ tịch Đại hội. Đại hội đã bầu ra ủy ban Trung ương do Lenin đứng đầu.

Tháng 11/1905, Lenin bí mật trở về Petersburg để lãnh đạo cách mạng và trên thực tế Lenin đã được thừa nhận là lãnh tụ của nước Nga. Từ tháng Chạp năm 1907, Lenin sống ở nước ngoài, tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật.

Tháng Giêng năm 1912, Lenin lãnh đạo hội nghị lần thứ IV toàn Nga Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ. Tháng 6/1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này Lenin soạn thảo xong “Đề cương Marxist về vần đề dân tộc.”

Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, Lenin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” (1916) và những tác phẩm khác, Lenin đã phát triển lý luận chính trị kinh tế học Marxist và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Marxist.

Chiếc súng săn và những vật dụng bên trong phòng làm việc ngôi nhà Lenin và gia đình đã sống trong thời gian bị đày ở làng Shushenshkoye những năm 1898-1900. (Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN). (Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN)
Chiếc súng săn và những vật dụng bên trong phòng làm việc ngôi nhà Lenin và gia đình đã sống trong thời gian bị đày ở làng Shushenshkoye những năm 1898-1900. (Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN). (Ảnh: Trần Hiếu/TTXVN)

Ngày 16/4/1917, Lenin đến Petrograt để trình bày bản Luận cương Tháng Tư nổi tiếng, thực chất đây là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (tháng 4-1917) của Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối cách mạng do Lenin đề ra.

Đầu tháng 10/1917, Lenin từ Phần Lan bí mật trở về Petrograd. Ngày 23/10/1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của Lenin được Hội nghị ủy ban Trung ương Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga Nga thông qua.

Tối ngày 6/11/1917, Lenin đến Cung điện Smolnyi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đêm ngày 7/11/1917 (vào tháng Mười theo lịch Nga), Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng.

Lenin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước.

Năm 1919, Lenin sáng lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III). Năm 1920, Lenin soạn thảo ra kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa, hợp tác hóa, tiến hành cách mạng văn hóa), đề ra Chính sách kinh tế mới và Kế hoạch điện khí hóa toàn nước Nga.

Ngày 21/4/1924, Lenin qua đời ở làng Gorki (Moskva).

Di sản của Lenin

Lenin là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất; lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lenin đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc.

Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (RSFSR) trong phòng làm việc của Lenin ở Điện Smolnyi, nơi đặt nền móng cho sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. (Ảnh: Duy Trinh/TTXVN)
Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (RSFSR) trong phòng làm việc của Lenin ở Điện Smolnyi, nơi đặt nền móng cho sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. (Ảnh: Duy Trinh/TTXVN)

Di sản mà Lenin để lại cho nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn hoạt động cách mạng và lý luận tư tưởng.

– Sáng lập học thuyết Đảng kiểu mới, Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân

Lenin cho rằng “Đảng tức là đội tiên phong của giai cấp công nhân,” là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành cho mục tiêu, lý tưởng, lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Lenin cũng nêu ra những nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân gồm: lấy chủ nghĩa Marx làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng tổ chức của Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, đoàn kết thống nhất là quy luật trong xây dựng và phát triển của Đảng; chủ nghĩa quốc tế vô sản là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng tổ chức, hoạt động của Đảng…

Lenin là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất. Di sản mà Lenin để lại cho nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn hoạt động cách mạng và lý luận tư tưởng.

Những luận điểm của Lenin về Đảng kiểu mới là sự khẳng định, phát triển và hoàn chỉnh học thuyết Marx-Engels về Đảng Cộng sản, đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bolshevik Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng Marxist của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.

– Lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, làm cho Đảng Cộng sản lần đầu tiên trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội

Với tư cách là lãnh tụ của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917, Lenin là người Marxist đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Marx vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô Viết.

Dưới ngọn cờ của Lenin, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phátxít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã…

V.I.Lenin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Moskva trong Lễ kỷ niệm một năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, 7/11/1918. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
V.I.Lenin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Moskva trong Lễ kỷ niệm một năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, 7/11/1918. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Tên tuổi vĩ đại của Lenin đã gắn liền với những cải biến cách mạng vĩ đại nhất trong xã hội loài người từ đầu thế kỷ XX đến nay. Chính Lenin là người đã làm cho chủ nghĩa Marx từ lý luận trở thành hiện thực; lần đầu tiên trong lịch sử thế giới Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở ra con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

– Người chỉ ra chính sách kinh tế mới (NEP)

Chính sách cộng sản thời chiến đã bộc lộ những sai lầm tạo ra tình trạng khủng hoảng vô cùng trầm trọng, dẫn đến tình hình nguy hiểm cho nước Nga Xô Viết, làm cho quần chúng lao động, nhất là công nhân và nông dân thất vọng. Kịp thời phát hiện ra sai lầm đó, với tinh thần phê phán nghiêm khắc đối với bệnh giáo điều, xa rời tình hình cụ thể của nước Nga, Lenin đã chỉ ra chính sách kinh tế mới (NEP).

Các vật dụng trên bàn làm việc của V. I. Lenin. (Ảnh: Duy Trinh/TTXVN)
Các vật dụng trên bàn làm việc của V. I. Lenin. (Ảnh: Duy Trinh/TTXVN)

Với “Chính sách kinh tế mới,” Lenin không chỉ thuần túy đem chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến, dùng lợi ích kinh tế, vật chất như một đòn bẩy, tạo động lực làm nảy sinh tính tích cực lao động của công nhân, nông dân và mọi người lao động nói chung trong buổi đầu xây dựng nhà nước. Nhờ đó đã đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng sau Cách mạng Tháng Mười, làm cho chính quyền Xô Viết non trẻ đứng vững và nước Nga xã hội chủ nghĩa nhanh chóng hồi sinh.

Song sâu xa hơn, đó còn là khởi đầu kiến tạo mô hình phát triển mới của chủ nghĩa xã hội, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xã hội để thúc đẩy phát triển; đồng thời gợi mở lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là phải dựa trên cơ sở khoa học, tuân thủ quy luật khách quan và đáp ứng nhu cầu lợi ích của người lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo tư tưởng Lenin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Khát vọng cháy bỏng giành độc lập, tự do cho dân, cho nước đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Người đã gặp được “Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lenin.

Từ ngày 25-30/12/1920, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Từ ngày 25-30/12/1920, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Khi đọc “Sơ thảo luận cương” của Lenin, Người cảm động:“Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:“Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”

Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ Lenin, nhất là tư tưởng về quyền các dân tộc bình đẳng, về cách mạng vô sản… và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga; bằng trí tuệ và kinh nghiệm sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định: “con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản;” “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.”

Hồ Chí Minh là người đã vận dụng sáng tạo lý luận của Lenin về cách mạng thuộc địa để hiện thực hóa nó trong cách mạng dân tộc giải phóng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi những tư tưởng của Lenin và bài học từ Cách mạng Tháng Mười Nga là cái “cẩm nang thần kỳ” nhưng không sao chép, mà Người tiếp thu cái tinh thần và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Những thắng lợi vĩ đại và thành tựu có ý nghĩa to lớn, lịch sử trên con đường cách mạng Việt Nam hơn 90 năm đã để lại cho Đảng và nhân dân ta những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu. Một trong những bài học lớn là bài học độc lập tự chủ trong việc xem xét đánh giá đúng tình hình, trong việc vận dụng sáng tạo lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Marx-Lenin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, trong việc học tập kinh nghiệm của các nước.

 Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đó là bài học bắt nguồn từ tư duy biện chứng, tư duy sáng tạo của Lenin. Trong bất kỳ thời kỳ nào của cách mạng nếu biết vận dụng chủ nghĩa Marx-Lenin một cách có sáng tạo thì chúng ta giành được thắng lợi; ngược lại, nếu xa rời tư duy biện chứng, nếu giáo điều rập khuôn thì nhất định sẽ mắc sai lầm và không tránh khỏi những tổn thất nhất định.

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen; Đảng và nhân dân ta luôn kiên định con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động.

Chiều 7/5/1954, lá cờ Quyết chiến-Quyết thắng của quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. (Ảnh: Triệu Đại/TTXVN)
Chiều 7/5/1954, lá cờ Quyết chiến-Quyết thắng của quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. (Ảnh: Triệu Đại/TTXVN)

Các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương cơ sở luôn quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, quan điểm của Đảng: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; coi đây là biểu hiện sinh động nhất của sự kiên định vận dụng sáng tạo quan điểm thống nhất trong nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin về cách mạng vô sản.

Theo phó giáo sư Trần Văn Phòng, Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nếu như Marx-Engels là người sáng lập ra học thuyết về chủ nghĩa xã hội, Lenin là người đã chuyển học thuyết về chủ nghĩa xã hội thành hiện thực trên đất nước Nga Soviet, thì Hồ Chí Minh là người đã vận dụng sáng tạo lý luận của Lenin về cách mạng thuộc địa để hiện thực hóa nó trong cách mạng dân tộc giải phóng Việt Nam; và tạo ra sự khởi đầu cho một dòng thác giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Đấy là sự tiếp nối Marx-Engels, Lenin của Hồ Chí Minh mà đến bây giờ, không chỉ Việt Nam mà cả nhân loại phải ghi nhận./.

Tượng V. I. Lenin trong khuôn viên Điện Smolnyi. (Ảnh: Duy Trinh/TTXVN)
Tượng V. I. Lenin trong khuôn viên Điện Smolnyi. (Ảnh: Duy Trinh/TTXVN)

Làn gió mới trên chính trường Israel

Sau ba cuộc bầu cử liên tiếp trong chưa đầy 12 tháng, tình trạng bế tắc trên chính trường Israel cuối cùng được tháo gỡ sau khi hai đảng lớn nhất là Xanh-Trắng và Likud đạt được thỏa thuận thành lập chính phủ “quốc gia khẩn cấp” với cơ chế thủ tướng luân phiên.

Thỏa thuận cho phép ông Benjamin Netanyahu bước vào nhiệm kỳ thứ năm với tư cách là thủ tướng nắm quyền lâu nhất trong lịch sử hiện đại của nhà nước Israel, đồng thời cũng làm thay đổi cục diện chính trường Israel.

Làn gió mới trên chính trường Israel

Đảng Xanh-Trắng của ông Benny Gantz và đảng Likud của Thủ tướng Netanyahu ngày 20/4 đã ký thỏa thuận liên minh tiến tới thành lập chính phủ liên minh “khẩn cấp quốc gia,” trong đó ông Netanyahu đảm nhận vị trí Thủ tướng trong 18 tháng đầu còn ông Gantz đảm nhận vị trí Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng.

Hai đảng lớn nhất là Xanh-Trắng và Likud đạt được thỏa thuận thành lập chính phủ “quốc gia khẩn cấp” với cơ chế thủ tướng luân phiên.

Ông Netanyahu có quyền phủ quyết việc chỉ định tổng chưởng lý và các công tố viên nhà nước. Đây được xem là bước lùi của Xanh-Trắng vì quyền phủ quyết cho phép Thủ tướng Netanyahu có nhiều không gian hơn trong giải quyết các cáo buộc tham nhũng và lạm quyền mà ông đang vướng phải. Quyền hạn này cũng có thể cho phép nhà lãnh đạo Netanyahu lùi được thời hạn tòa án bắt đầu quá trình truy tố, ông, dự kiến diễn ra từ ngày 24/5 tới.

Theo thỏa thuận liên minh, ông Gabi Ashkenazi, thuộc Xanh-Trắng, sẽ nắm cương vị Bộ trưởng Ngoại giao; một nghị sỹ khác thuộc Xanh-Trắng là ông Avi Nissenkorn làm Bộ trưởng Tư pháp. Thành viên đảng Likud, nghị sỹ Yisrael Katz, nhân vật lâu nay ủng hộ Thủ tướng Netanyahu, giữ chức Bộ trưởng Tài chính; ông Miri Regev trở thành Bộ trưởng Công an và ông Yariv Levin sẽ là Chủ tịch Quốc hội Israel.

Lãnh đạo Labor (Công đảng), thuộc khối trung tả ủng hộ ông Gantz, nghị sỹ Amir Peretz sẽ đảm nhận vị trí Bộ trưởng Kinh tế; trong khi Bộ trưởng Phúc lợi xã hội cũng do nghị sỹ thuộc đảng này, ông Itzik Shmuli nắm.

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, Tổng thống Israel Reuven Rivlin và Thủ lĩnh  đảng Xanh-Trắng Benny Gantz tại cuộc gặp ở Jerusalem ngày 9/9/2019. (Ảnh:  AFP/TTXVN)
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, Tổng thống Israel Reuven Rivlin và Thủ lĩnh đảng Xanh-Trắng Benny Gantz tại cuộc gặp ở Jerusalem ngày 9/9/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Nghị sỹ Yaakov Litzman, đảng United Torah Judanism, thuộc khối cánh hữu ủng hộ ông Netanyahu, tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Y tế; lãnh đạo đảng Shas thuộc khối cánh hữu, nghị sỹ Arye Dery giữ chức Bộ trưởng Nội vụ.

Trong quốc hội, nghị sỹ thuộc đảng Likud sẽ đảm nhận chức chủ tịch Ủy ban Hiến pháp, Pháp luật và Tư pháp, Ủy ban Các vấn đề kinh tế và Ủy ban Chống dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 (tạm thời). Nghị sỹ thuộc đảng Xanh-Trắng sẽ đảm nhận chức Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng.

Như vậy, Thủ tướng Netanyahu không còn là nhân vật chính trị độc quyền trên chính trường Israel. Thời gian tới, trong các quyết định quan trọng về đối nội và đối ngoại, ông Netanyahu đều phải tham khảo với lãnh đạo Xanh-Trắng Gantz, nhân vật được đánh giá có xu hướng ôn hòa hơn ông Netanyahu, và các bộ trưởng là người của Xanh-Trắng.

Thủ tướng Netanyahu không còn là nhân vật chính trị độc quyền trên chính trường Israel.

Trong Chính phủ Israel nhiệm kỳ tới, ảnh hưởng của các đảng của người Do Thái giáo chính thống và cực hữu là đảng Yamina sẽ suy giảm. Sau nhiều năm, đảng Labor tham gia chính phủ và nắm hai bộ quan trọng là Kinh tế và Phúc lợi xã hội.

Đảng Joint List của người Israel gốc Arab, tuy là đảng lớn thứ ba trên chính trường (15 ghế) nhưng không tham gia chính phủ khẩn cấp quốc gia, tiếp tục là đối lập trong quốc hội, nhưng tiếng nói trên chính trường tương đối hạn chế.

Ưu tiên trước mắt của chính phủ

Về đối nội, ưu tiên trước mắt của chính phủ quốc gia khẩn cấp là tập trung các nguồn lực chống đại dịch COVID-19 đang bùng phát tại Israel và phục hồi nền kinh tế. Nền kinh tế Israel phụ thuộc vào dịch vụ nên dịch bệnh COVID-19 đang gây thiệt hại to lớn.

Israel ưu tiên chống địch COVID-19 đang bùng phát. (Ảnh: THX/TTXVN)
Israel ưu tiên chống địch COVID-19 đang bùng phát. (Ảnh: THX/TTXVN)

Đến hết ngày 20/4, Israel ghi nhận hơn 13.700 ca nhiễm, 177 ca tử vong. Dịch bệnh đẩy tỷ lệ thất nghiệp lên mức 25% (tính đến đầu tháng 4/2020), xấp xỉ 1,05 triệu người, tăng mạnh so tỷ lệ thất nghiệp chỉ gần 4% trước đại dịch.

Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) mới đây dự báo nền kinh tế Israel sẽ suy thoái 6,3% trong năm 2020 và chưa thể phục hồi như mức trước khi đại dịch bùng phát cho đến năm 2022.

Ngân hàng Israel cũng cho rằng nền kinh tế nước này sẽ suy thoái 5,3% trong năm nay. Tỷ lệ thất nghiệp tại Israel theo dự báo của IMF sẽ ở mức 12% vào cuối năm nay và giảm xuống 7,6% vào cuối năm 2021.

Ưu tiên trước mắt của chính phủ quốc gia khẩn cấp là tập trung các nguồn lực chống đại dịch COVID-19 đang bùng phát tại Israel và phục hồi nền kinh tế.

Về đối ngoại, chính phủ mới tại Israel tiếp tục duy trì quan hệ chặt chẽ với chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Thủ tướng Netanyahu được đánh giá là có quan hệ tốt với Tổng thống Trump và đảng Cộng hòa, trong khi ông Gantz có thể cải thiện quan hệ giữa Israel với đảng Dân chủ Mỹ.

Việc ông Gantz đảm nhận vị trí Thủ tướng sau ông Netanyahu có thể là tín hiệu tích cực để Israel cải thiện quan hệ với Liên minh châu Âu (EU), bởi lâu nay khối này không ủng hộ một số bước đi đơn phương của ông Netanyahu liên quan đến xung đột với Palestine và Iran.

Israel sẽ tiếp tục chủ động trong chính sách bảo vệ an ninh quốc gia, chống lại các thách thức an ninh đối với nước này.

Israel cũng chủ trương tiếp tục thúc đẩy cải thiện quan hệ với các nước Arab, nhưng trong bối cảnh các nước đều chịu thiệt hại từ dịch bệnh COVID-19 và Israel có kế hoạch tiến hành sáp nhập lãnh thổ tại Bờ Tây, nên khó có khả năng đạt đột phá quan hệ giữa hai bên.

Theo thỏa thuận thành lập liên minh, hai ông Netanyahu và Gantz thống nhất tiến hành các bước đi sáp nhập các phần lãnh thổ tại Bờ Tây kể từ đầu tháng 7/2020. Thủ tướng Netanyahu sẽ đưa các dự luật về sáp nhập ra để chính phủ bàn bạc và có thể trình quốc hội bỏ phiếu thông qua.

Quang cảnh Thung lũng Jordan ở giữa thành phố Beit Shean của Israel và thành phố Jericho thuộc Bờ Tây. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Quang cảnh Thung lũng Jordan ở giữa thành phố Beit Shean của Israel và thành phố Jericho thuộc Bờ Tây. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Cho đến nay, đảng Likud, đảng cực hữu Yamina, các đảng của người Do Thái giáo chính thống là United Torah Judasim và Shas, đảng cánh hữu Yirael Beytenu của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Avigdor Lieberman đều lên tiếng ủng hộ sáp nhập, như vậy về kỹ thuật, có 65/120 nghị sỹ ủng hộ kế hoạch.

Điều này tạo lợi thế cho ông Netanyahu thực hiện các cam kết về sáp nhập lãnh thổ đã đưa ra trong quá trình tranh cử.

Tuy nhiên, thỏa thuận liên minh cũng quy định việc sáp nhập sẽ được thực hiện trên cơ sở “phối hợp chặt chẽ với Mỹ, bao gồm vấn đề vẽ bản đồ, và đối thoại với cộng đồng quốc tế,” như quan điểm của ông Gantz về vấn đề này.

Do đó, tuy Israel thúc đẩy thực hiện “kế hoạch hòa bình Trung Đông” mà chính quyền Mỹ đã công bố, nhưng quy mô thực hiện trước mắt là hạn chế.

Tiến trình hòa bình Trung Đông được đánh giá khó có chuyển biến tích cực, đặc biệt nếu Israel thực hiện kế hoạch sáp nhập nêu trên, vốn được Mỹ “bật đèn xanh” bởi đây là một phần trong “kế hoạch hòa bình Trung Đông” của Washington,  song vấp phải sự phản đối của Palestine và nhiều nước.

Những khó khăn còn ở phía trước bởi sự chia rẽ và bất đồng giữa hai đảng Xanh-Trắng và Likud được cho sẽ vẫn chi phối chính trường Israel trong thời gian tới. 

Trong phản ứng đầu tiên, lãnh đạo Palestine cho rằng việc thành lập chính phủ mới của Israel “đồng nghĩa chấm dứt giải pháp hai nhà nước và loại bỏ các quyền của người Palestine.”

Với việc thành lập “chính phủ quốc gia khẩn cấp” trên cơ sở thỏa thuận liên minh giữa Xanh-Trắng và Likud, đại diện hai khối trung tả và cánh hữu ở Israel, có thể nói một “làn gió mới” đã xuất hiện trên chính trường nước này.

Đây là diễn biến tích cực đối với Israel bởi tình trạng bế tắc kéo dài do không thành lập được chính phủ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ứng phó đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 tại quốc gia Trung Đông này.

Tuy nhiên, những khó khăn còn ở phía trước bởi sự chia rẽ và bất đồng giữa hai đảng Xanh-Trắng và Likud được cho sẽ vẫn chi phối chính trường Israel trong thời gian tới.

Những kế hoạch của Israel chắc chắn sẽ tiếp tục bị Palestine phản đối. (Ảnh: THX/TTXVN)
Những kế hoạch của Israel chắc chắn sẽ tiếp tục bị Palestine phản đối. (Ảnh: THX/TTXVN)

Nhìn lại hơn 10 năm thực hiện

LỜI NÓI ĐẦU

“Ý thức chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông của nhiều người tham gia giao thông còn rất kém, coi thường pháp luật; vi phạm trật tự an toàn giao thông vẫn diễn ra phổ biến; tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông và chống người thi hành công vụ diễn biến hết sức phức tạp” – Đây là đánh giá của Bộ Công an khi nhìn lại hơn 10 năm thi hành Luật Giao thông đường bộ (có hiệu lực thi hành từ 1/7/2009).

Điều này có nguyên nhân từ những bất cập của thể chế. Luật đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cả về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông và phát triển, quản lý kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý vận tải đường bộ, đòi hỏi cần có một đạo luật đủ sức mạnh để điều chỉnh vấn đề bảo đảm an ninh, trật tự an toàn giao thông đường bộ và vấn đề xây dựng, phát triển, kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý vận tải đường bộ.

Phóng viên TTXVN thực hiện chùm 3 bài viết “Nhìn lại hơn 10 năm thực hiện Luật Giao thông đường bộ.”

Kết quả chưa vững chắc

Theo thống kê của Bộ Công an, trong 10 năm (từ năm 2009 đến năm 2019), trên 56,3 triệu trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ đã bị xử lý, nộp Kho bạc nhà nước 25.801 tỷ đồng.

Gần 3,7 triệu trường hợp bị tước giấy phép lái xe, trung bình một năm xử lý trên 5 triệu trường hợp vi phạm. Vi phạm chủ yếu là do ý thức của người điều khiển phương tiện không chấp hành pháp luật như điều khiển phương tiện vi phạm tốc độ, nồng độ cồn, sử dụng chất ma túy; không chấp hành yêu cầu kiểm tra, kiểm soát, xử lý của người thi hành công vụ; đi không đúng phần đường, làn đường; tránh vượt, chuyển hướng, lùi xe không đúng quy định; chở quá số người quy định, không có giấy phép lái xe, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật, sử dụng giấy phép lái xe, đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật giả…

Tai nạn giao thông gây thiệt hại mỗi ngày 300-500 tỷ đồng

Cũng trong 10 năm qua, cả nước đã xảy ra 326.299 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 97.721 người, bị thương 329.756 người. Trung bình mỗi năm, tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng của gần 10.000 người, trong đó nhiều người trong độ tuổi lao động.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tai nạn giao thông ở Việt Nam gây thiệt hại 2,5% GDP/năm, tương đương mỗi ngày 300-500 tỷ đồng. Kết quả kiềm chế và làm giảm tai nạn giao thông chưa vững chắc, số người chết và bị thương do tai nạn giao thông vẫn rất cao, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng tai nạn giao thông, còn xảy ra 866 vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận xã hội.

Tai nạn giao thông ở Việt Nam gây thiệt hại 2,5% GDP/năm, tương đương mỗi ngày 300-500 tỷ đồng. 

Vụ tai nạn xảy ra tại ngã tư Nhựt Chánh, huyện Bến Lức (Long An), ngày 2/1/2019 đã khiến ba người tử vong tại chỗ, một người tử vong trên đường đi cấp cứu, 18 người khác bị thương, hư hỏng 21 xe máy. Vụ tai nạn thảm khốc xảy ra ngày 21/1/2019 tại Hải Dương, khi một xe tải đâm vào đoàn người đi viếng nghĩa trang khiến 8 người thiệt mạng, 5 người bị thương.

Vụ xe khách đâm vào đoàn người đưa tang làm 7 người chết, 3 người bị thương sáng 27/3/2019, tại Yên Lạc, Vĩnh Phúc…Những vụ tai nạn này vẫn là nỗi ám ảnh với nhiều người. Phân tích nguyên nhân, Cục Cảnh sát Giao thông cho biết, lỗi vi phạm của người tham gia giao thông chiếm trên 90% số vụ; do an toàn kỹ thuật phương tiện và công trình giao thông đường bộ chỉ chiếm gần 10% số vụ.

Hiện trường một vụ tai nạn giao thông ở Ninh Thuận, tháng 4/2020. (Nguồn: TTXVN)
Hiện trường một vụ tai nạn giao thông ở Ninh Thuận, tháng 4/2020. (Nguồn: TTXVN)

Đánh giá về tình hình ùn tắc giao thông, Cục Cảnh sát Giao thông cho hay, ùn tắc trên các trục giao thông chính, đầu mối giao thông trọng điểm, các đô thị loại 1, đặc biệt là địa bàn Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở nên phức tạp, thường xuyên, liên tục, có xu hướng lan rộng cả không gian và thời gian. Ô nhiễm môi trường từ hoạt động của phương tiện giao thông ngày càng nghiêm trọng, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của nhân dân, tác động không tốt đến môi trường du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài và hình ảnh của Việt Nam đối với bạn bè quốc tế.

Từ năm 2009-2019, cả nước xảy ra 1.712 vụ ùn tắc giao thông kéo dài, gây tắc nghẽn trên diện rộng tại các đô thị lớn và trên các tuyến cao tốc, quốc lộ trọng điểm.

Bên cạnh đó, tình hình người tham gia giao thông coi thường pháp luật, không chấp hành, thậm chí chống lại người thi hành công vụ diễn ra nhiều, ngày càng manh động, phức tạp. Toàn quốc đã xảy ra 542 vụ chống lại lực lượng làm công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, làm 7 cán bộ, chiến sỹ hy sinh, 181 người bị thương.

Phương tiện tăng nhanh, hạ tầng bất cập

Theo số liệu của Bộ Công an, tổng số ôtô, môtô trên cả nước đang được đăng ký, quản lý là hơn 66 triệu xe, trong đó ôtô là hơn 4,31 triệu xe và môtô là hơn 61,7 triệu xe.

Thực trạng tham gia giao thông ở Việt Nam hiện nay là giao thông hỗn hợp với rất nhiều các loại phương tiện cơ giới, thô sơ…, trong đó chủ yếu là xe cá nhân

Với 96,2 triệu dân năm 2019, mật độ phương tiện giao thông ở Việt Nam là 726 phương tiện/1000 người. Tỷ lệ ôtô cá nhân/1000 người dân ở nước ta ở mức trung bình thấp so với các nước, nhưng đã bất cập với hạ tầng giao thông. Phương tiện giao thông tăng nhanh (so sánh năm 2019 với năm 2009: ôtô đăng ký mới tăng 110%; môtô đăng ký mới tăng 34%), bình quân tăng từ 10-15%/năm, chủ yếu là phương tiện cá nhân, tập trung tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.

Thực trạng tham gia giao thông ở Việt Nam hiện nay là giao thông hỗn hợp với rất nhiều các loại phương tiện cơ giới, thô sơ…, trong đó chủ yếu là xe cá nhân, nhiều phương tiện không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật khi tham gia giao thông, nhiều phương tiện đã được mua, bán, cho, tặng qua nhiều chủ nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu.

Các phương tiện chở hàng hóa cồng kềnh gây mất an toàn giao thông trên địa bàn thành phố. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)
Các phương tiện chở hàng hóa cồng kềnh gây mất an toàn giao thông trên địa bàn thành phố. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)

Thực tiễn công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội cho thấy, trên các tuyến giao thông đường bộ, vấn đề tụ tập đông người trái pháp luật, các loại tội phạm như ma túy, cướp, cướp giật, trộm cắp, vận chuyển vũ khí, chất nổ trái phép, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng… diễn biến hết sức phức tạp. Trên các tuyến giao thông đường bộ, 10 năm qua, lực lượng Cảnh sát Giao thông đã phát hiện, bắt và bàn giao cho các cơ quan chức năng xử lý theo thẩm quyền 5.228 đối tượng phạm pháp hình sự.

Theo quy định của pháp luật, Công an là lực lượng trực tiếp, thường xuyên và chịu trách nhiệm chính tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm đối với người, phương tiện trên các tuyến giao thông đường bộ. Tuy nhiên, hiện nay, một số lực lượng khác cũng trực tiếp kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên đường, gây ra sự trùng chéo chức năng, nhiệm vụ.

Trong công tác tổ chức giao thông, thông qua các hoạt động nghiệp vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông, lực lượng Cảnh sát Giao thông đã chủ động phát hiện nhiều bất hợp lý trong tổ chức giao thông đô thị cũng như tổ chức giao thông trên các tuyến quốc lộ, tuyến cao tốc…, qua đó có văn bản kiến nghị với ngành giao thông để sửa chữa, khắc phục, nhằm hạn chế các nguyên nhân gây tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

Hiện nay, một số lực lượng khác cũng trực tiếp kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên đường, gây ra sự trùng chéo chức năng, nhiệm vụ.

Tuy nhiều bất hợp lý trong tổ chức giao thông đã được phát hiện và gửi kiến nghị khắc phục, nhưng việc tổ chức khắc phục ở một số nơi, một số thời gian tiến hành chậm, làm ảnh hưởng đến công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Đánh giá của ngành giao thông vận tải cho thấy, hiện nay, kết cấu hạ tầng giao thông tuy đã được quan tâm đầu tư, xây dựng nhưng chưa đạt yêu cầu đề ra, còn một số hạn chế, bất cập và chưa đồng bộ. Trong 10 năm qua, tỷ lệ quỹ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị còn thấp hơn so với quy định; tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác, mới chỉ đạt từ 5-12%, trong khi theo yêu cầu là từ 16%-26%. Việc phát triển hệ thống đường cao tốc, đường quốc lộ, đường địa phương còn thiếu và chưa đồng bộ.

Lực lượng CSGT Công an tỉnh Bình Định kiểm tra nồng độ cồn của lái xe. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)
Lực lượng CSGT Công an tỉnh Bình Định kiểm tra nồng độ cồn của lái xe. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Vận tải đường bộ hiện phải đảm nhận tỷ trọng lớn (chiếm khoảng 70% vận tải hành khách và hàng hóa trong tổng số các loại hình vận tải). Chất lượng dịch vụ đã được nâng cao nhưng chưa đồng đều, còn tồn tại các đơn vị vận tải nhỏ lẻ. Các loại hình kinh doanh vận tải chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và thiếu minh bạch.

Tình trạng “xe dù, bến cóc” diễn biến phức tạp và ngày càng khó kiểm soát giữa xe tuyến cố định và xe hợp đồng trá hình… Việc quản lý người lái xe kinh doanh vận tải còn thiếu chặt chẽ. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý kinh doanh vận tải còn có những mặt hạn chế.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu, căn bản dẫn đến tình trạng trên là do quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chưa phù hợp với tình hình giao thông hiện nay./.

Còn nhiều tồn tại, hạn chế

Không thể phủ nhận những kết quả tích cực do Luật Giao thông đường bộ mang lại sau hơn 10 năm thực hiện, cả về phát triển giao thông vận tải và bảo đảm trật tự an toàn giao thông, góp phần phát triển kinh tế-xã hội và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Song, Luật cũng đã bộc lộ không ít tồn tại, hạn chế.

Chồng chéo, giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đồng thời điều chỉnh hai lĩnh vực khác nhau là bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ (thuộc lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, do ngành Công an chịu trách nhiệm chính) và lĩnh vực xây dựng, phát triển, quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, quản lý vận tải đường bộ (thuộc lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật, do ngành giao thông vận tải chịu trách nhiệm chính).

Để triển khai thực hiện Luật này, 164 văn bản dưới luật đã được ban hành.

Việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chức năng về bảo đảm trật tự an toàn giao thông thiếu rõ ràng, chưa rành mạch, không xác định được cơ quan nào chịu trách nhiệm chính dẫn đến chồng chéo, tăng tổ chức bộ máy và tăng biên chế, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chưa giải quyết được thực trạng phức tạp về trật tự an toàn giao thông đường bộ như mục tiêu đề ra.

Để triển khai thực hiện Luật này, 164 văn bản dưới luật đã được ban hành, trong đó có 22 nghị định của Chính phủ, 25 thông tư của Bộ Công an, 87 thông tư của Bộ Giao thông Vận tải, 11 thông tư của Bộ Tài chính, một thông tư của Bộ Y tế và 18 thông tư liên tịch giữa các bộ có liên quan.

(Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
(Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Đến nay,một số văn bản hết hiệu lực, nhiều văn bản phải sửa đổi, bổ sung, thay thế thường xuyên và còn một số văn bản chưa ban hành được. Điều này thể hiện thiếu tính ổn định, không tập trung, thống nhất, chưa phù hợp với quan điểm pháp chế xã hội chủ nghĩa, xu hướng lập pháp hiện nay, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện và chưa đủ mạnh về pháp lý để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra cả về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ và xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý vận tải đường bộ.

Đại tá Đỗ Thanh Bình, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Giao thông (Bộ Công an) cho biết, nhiều chính sách trong lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ còn thiếu, bất cập. Luật không quy định cụ thể về hệ thống báo hiệu đường bộ mà quy định trong thông tư của bộ quản lý chuyên ngành, tính pháp lý thấp, thường xuyên thay đổi và nhiều quy định chưa phù hợp thực tiễn.

Hành lang pháp lý chưa đủ mạnh

Tại nhiều cuộc họp của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Thượng tướng Lê Quý Vương, Thứ trưởng Bộ Công an đã đề cập đến việc các quy định về sát hạch cấp giấy phép lái xe; quản lý cấp mới, cấp lại, cấp đổi giấy phép lái xe không được quy định trong Luật mà quy định trong thông tư của bộ quản lý chuyên ngành, nên khi thực hiện đã bộc lộ nhiều kẽ hở trong công tác quản lý, nhiều lái xe chưa đảm bảo yêu cầu về trình độ, kỹ năng, đạo đức lái xe.

Sự lỏng lẻo trong công tác cấp và cấp lại giấy phép lái xe đã dẫn đến tình trạng hàng trăm nghìn giấy phép lái xe tạm giữ, bị tước quyền sử dụng, tồn đọng tại cơ quan Cảnh sát Giao thông mà người vi phạm không đến xử lý, không đến nhận. Không ít trường hợp trong số đó, cơ quan Cảnh sát Giao thông phát hiện đã được cấp lại giấy phép lái xe khác, thậm chí có người sở hữu tới 2-3 giấy phép lái xe.

Sự lỏng lẻo trong công tác cấp và cấp lại giấy phép lái xe đã dẫn đến tình trạng hàng trăm nghìn giấy phép lái xe tạm giữ, bị tước quyền sử dụng, tồn đọng tại cơ quan Cảnh sát Giao thông

Từ năm 1995 trở về trước, việc tổ chức sát hạch, cấp, quản lý giấy phép lái xe do ngành Công an thực hiện khá chặt chẽ, nên ý thức chấp hành pháp luật, đạo đức của người lái xe khá tốt, tình trạng vi phạm và số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng do ý thức, trình độ lái xe không lớn. Công tác quản lý nhà nước về giấy phép lái xe đồng bộ hơn, giám sát chặt chẽ lịch sử những lái xe vi phạm.

Tuy nhiên, khi việc đào tạo, sát hạch lái xe, cấp, quản lý giấy phép lái xe được giao cho ngành giao thông vận tải đã phát sinh không ít hệ lụy. Việc đào tạo, sát hạch dễ dãi dẫn đến tình trạng lái xe có tiền sử tâm thần, đang bị truy nã, thậm chí đang thi hành án nhưng vẫn được cấp, đổi giấy phép lái xe.

Đây là nguyên nhân của nhiều vụ chống người thi hành công vụ, gây tai nạn thảm khốc đã từng xảy ra như vụ lái xe Phạm Ngọc Lâm (sinh năm 1970, trú ở Khánh Hòa) đã gây ra vụ tai nạn làm 34 người chết, 22 người bị thương ngày 7/5/2012, khi ôtô khách 47V-2371 do lái xe này điều khiển đang lưu thông hướng Đắk Lắk-Đắk Nông đã lao xuống sông Serepok. Lái xe này nghiện ma túy, đã từng lĩnh 8 năm tù vì án ma túy, nhưng trong quá trình thụ án vẫn được đổi giấy phép lái xe. Đến khi mãn hạn tù, Lâm lại được đổi giấy phép lần 2.

Việc đào tạo, sát hạch dễ dãi dẫn đến tình trạng lái xe có tiền sử tâm thần, đang bị truy nã, thậm chí đang thi hành án nhưng vẫn được cấp, đổi giấy phép lái xe. (Ảnh: Ngọc Minh/TTXVN) 
Việc đào tạo, sát hạch dễ dãi dẫn đến tình trạng lái xe có tiền sử tâm thần, đang bị truy nã, thậm chí đang thi hành án nhưng vẫn được cấp, đổi giấy phép lái xe. (Ảnh: Ngọc Minh/TTXVN) 

Có thể thấy, Luật Giao thông đường bộ hiện hành chưa quy định quản lý quá trình chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông của người được cấp giấy phép lái xe, dẫn đến khi được cấp giấy phép, người lái xe gần như bị “bỏ ngỏ,” không cơ quan nào chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, giám sát quá trình chấp hành pháp luật của người lái xe. Thiếu các quy định về quản lý người nước ngoài điều khiển phương tiện giao thông tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, Luật cũng chưa quy định cụ thể và đầy đủ về các biện pháp tổ chức, chỉ huy, điều khiển giao thông, giải quyết ùn tắc thông, trách nhiệm giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của cơ quan công an, y tế, bảo hiểm, cơ quan khai thác, bảo trì đường bộ, Ủy ban Nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Quy tắc giao thông còn thiếu, chung chung, chưa cụ rõ ràng và sát thực tiễn. Luật chưa có các chính sách, kế hoạch cụ thể về phát triển phương tiện để đảm bảo đồng bộ với sự phát triển của cơ sở hạ tầng, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam; chưa có chế tài bắt buộc, đủ mạnh đối với các trường hợp mua, bán, cho, tặng xe nhưng không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu…

“Luật có quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, các quy định phải chấp hành, nhưng thiếu các biện pháp cưỡng chế hiệu quả.”

Một số vấn đề mới về ứng dụng khoa học công nghệ nhưng Luật chưa điều chỉnh như việc xem xét các thiết bị giám sát hành trình trên phương tiện, cũng như các camera giám sát giao thông và hình ảnh thu thập được từ các nguồn khác làm tài liệu bổ sung, hỗ trợ cho việc giải quyết tai nạn giao thông. Chính sách về quản lý, sử dụng hệ thống giám sát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, trung tâm chỉ huy, điều khiển giao thông chưa cụ thể, rõ ràng và chưa xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính trong công tác này.

“Luật có quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, các quy định phải chấp hành, nhưng thiếu các biện pháp cưỡng chế hiệu quả,” theo Đại tá Đỗ Thanh Bình.

Một cảnh sát giao thông bị hành hung.
Một cảnh sát giao thông bị hành hung.

Thời gian qua, tình hình người tham gia giao thông coi thường pháp luật, không chấp hành, thậm chí chống lại người thi hành công vụ diễn ra nhiều, ngày càng manh động, phức tạp. Từ năm 2009–2019, toàn quốc đã xảy ra 542 vụ chống lại lực lượng làm công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, làm 7 cán bộ, chiến sỹ hy sinh, 181 người bị thương. Trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có nguyên nhân do hành lang pháp lý về trật tự an toàn giao thông chưa đủ mạnh; công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông còn nhiều bất cập, kém hiệu quả.

Báo cáo của ngành giao thông vận tải đã chỉ rõ, nhiều chính sách pháp luật về đầu tư, phát triển hạ tầng thiếu quy định cụ thể và có nhiều tồn tại, hạn chế trong tổ chức thực hiện, như vấn đề thu phí không dừng, dự án BOT, xây dựng đường giao thông nông thôn, cơ chế giám sát công trình giao thông, cơ chế huy động vốn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn về xây dựng hệ thống đường bộ chưa đáp ứng yêu cầu… Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ không chỉ được điều chỉnh bởi Luật Giao thông đường bộ mà còn chịu sự điều chỉnh của nhiều luật có liên quan như các Luật Đất đai, Đấu thầu, Đầu tư, Đô thị, Quy hoạch, Xây dựng…. Do đó, việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng giao thông đường bộ gặp nhiều khó khăn. Các chính sách quản lý về kinh doanh vận tải chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý còn hạn chế./.

Cần một khung pháp lý đủ mạnh

Những tồn tại, hạn chế trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông thời gian qua có nguyên nhân căn bản là do quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chưa phù hợp với tình hình giao thông hiện nay. Xây dựng một khung pháp lý đủ mạnh để điều chỉnh về vấn đề này là vấn đề đang đặt ra.

Để giải quyết tận gốc vấn đề, theo Bộ Công an, cần có sự tách bạch giữa vấn đề về bảo đảm an ninh, trật tự an toàn giao thông đường bộ và vấn đề về xây dựng, phát triển, kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý vận tải đường bộ.

Xây dựng Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ

Tại Hội nghị đánh giá tác động xã hội, tác động giới của chính sách trong đề nghị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 và điều chỉnh chương trình năm 2020 do Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức vừa qua, Bộ Công an cho biết, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tuy đã có quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông nhưng chưa quy định cụ thể về công tác giải quyết tai nạn giao thông đường bộ. Công tác giải quyết tai nạn giao thông đường bộ nếu được quy định đầy đủ, rõ ràng sẽ góp phần giảm thiểu thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra.

Ba phương án được bộ này đưa ra, đó là giữ nguyên hiện trạng; điều chỉnh quy định về chính sách trong nghị định của Chính phủ hoặc thông tư của Bộ trưởng để bảo đảm điều chỉnh kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn; ban hành mới Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

Luật Giao thông đường bộ năm 2008 tuy đã có quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông nhưng chưa quy định cụ thể về công tác giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

Đánh giá về phương án giữ nguyên hiện trạng, Bộ Công an cho rằng, tai nạn giao thông nếu không được giải quyết kịp thời sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Bên cạnh đó, việc giải quyết hậu quả vụ tai nạn giao thông liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức có liên quan như công an, y tế, bảo hiểm, Ủy ban Nhân dân địa phương nơi xảy ra tai nạn, trong khi luật hiện hành và các văn bản dưới luật chưa quy định cơ chế giải quyết vụ tai nạn giao thông một cách rõ ràng, đồng bộ, gây nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên có liên quan trong vụ tai nạn.

Đối với phương án điều chỉnh quy định về chính sách trong nghị định của Chính phủ hoặc thông tư của Bộ trưởng để bảo đảm điều chỉnh kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phương án này phát sinh chi phí để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều văn bản dưới luật để tổ chức thực hiện.

Công an thành phố Quy Nhơn khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân vụ tai nạn. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)
Công an thành phố Quy Nhơn khám nghiệm hiện trường, điều tra nguyên nhân vụ tai nạn. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Việc giải quyết tai nạn giao thông nếu chỉ căn cứ vào các văn bản dưới luật như hiện nay sẽ gặp nhiều vướng mắc, thiếu thống nhất với các đạo luật như Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Do đó, việc giải quyết của cơ quan chức năng gặp khó khăn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.

Do vậy, phương án tối ưu là xây dựng Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ để điều chỉnh chuyên sâu các nội dung về trật tự an toàn giao thông đường bộ, tách bạch với lĩnh vực xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý hoạt động vận tải đường bộ, tạo ra một hành lang pháp lý đủ mạnh để giải quyết những vấn đề cấp bách thực tiễn đang đặt ra, bảo đảm cả hai lĩnh vực quản lý nhà nước được thực hiện hiệu lực, hiệu quả và chuyên nghiệp hơn.

Luật hóa đầy đủ các quy định về trật tự an toàn giao thông

Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông sẽ luật hóa đầy đủ và có hệ thống các quy định về trật tự an toàn giao thông; ưu tiên ứng dụng khoa học, kỹ thuật công nghệ hiện đại trong giám sát, chỉ huy, điều hành giao thông, kiểm soát, phát hiện, xử lý vi phạm; xác định rõ cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính và cơ quan có trách nhiệm phối hợp để bảo đảm hiệu quả, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót các nhiệm vụ quản lý.

Phương án tối ưu là xây dựng Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ để điều chỉnh chuyên sâu các nội dung về trật tự an toàn giao thông đường bộ

Đại tá Đỗ Thanh Bình, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Giao thông (Bộ Công an) cho biết, dự luật bổ sung nội dung trích xuất dữ liệu từ các thiết bị giám sát hành trình trên phương tiện, các camera giám sát giao thông và hình ảnh thu thập được từ các nguồn khác; áp dụng các phương tiện thiết bị kỹ thuật hiện đại để xem xét quy trình thao tác, điều khiển phương tiện tham gia giao thông, xác định nồng độ cồn, ma túy và chất kích thích khác đối với người điều khiển phương tiện giao thông để giải quyết tai nạn giao thông một cách khách quan, chính xác.

Dự luật quy định cụ thể về hệ thống báo hiệu, quy tắc giao thông đường bộ. Đặc biệt, nhằm khắc phục kẽ hở trong công tác quản lý, nâng cao trình độ, kỹ năng, đạo đức lái xe, gắn trách nhiệm của chủ phương tiện đối với việc đảm bảo an toàn kỹ thuật của phương tiện, luật quy định về cụ thể về trách nhiệm của chủ phương tiện và người lái xe trong việc bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa phương tiện để đảm bảo duy trì tình trạng an toàn kỹ thuật của phương tiện; điều kiện của người lái xe tham gia giao thông; giấy phép lái xe; tuổi, sức khỏe của người lái xe; đào tạo lái xe; sát hạch để cấp giấy phép lái xe…

Kíp trực cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ xử lý vi phạm qua hệ thống camera tại Trung tâm điều khiển giao thông Hà Nội. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Kíp trực cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ xử lý vi phạm qua hệ thống camera tại Trung tâm điều khiển giao thông Hà Nội. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Khắc phục tồn tại của Luật Giao thông đường bộ, không xác định được bộ, ngành nào chịu trách nhiệm chính trong công tác bảo đảm an toàn giao thông, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, dự luật đề cập đến phân công trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban Nhân dân các cấp theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn một cách rõ ràng, rành mạch, đúng quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước, trong đó xác định Bộ Công an là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Việc phân công cụ thể, rõ ràng, đúng chức năng, nhiệm vụ sẽ nâng cao trách nhiệm và phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng bộ, ngành, địa phương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, góp phần quan trọng làm chuyển biến tình hình trật tự an toàn giao thông, kiềm chế, làm giảm tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông.

Không tăng biên chế, tổ chức bộ máy

Theo Bộ Công an, hiện nay, lực lượng Công an đã được tổ chức ở 4 cấp từ Trung ương đến cấp xã. Do đó, việc phân công, phân cấp thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông rất thuận lợi, các chính sách được triển khai đến cơ sở và ngay tại cơ sở theo hệ thống ngành dọc thống nhất, thông suốt.

Khi chính sách pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ có sự thay đổi, ngành tiến hành đào tạo, tập huấn và sắp xếp, bố trí số cán bộ, chiến sỹ Công an Nhân dân đang làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong tổng số biên chế hiện có, đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả công tác và đảm bảo không tăng biên chế, tổ chức bộ máy.

Khi Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ được ban hành sẽ đủ mạnh để kiểm soát tình hình, tác động đến công tác quản lý Nhà nước tốt hơn.

Đối với các bộ, ngành khác được phân công một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, khi ban hành Luật này, nguồn lực vẫn được sử dụng trong tổng số biên chế hiện có, trên cơ sở sắp xếp, bố trí, đào tạo, tập huấn số cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức bộ máy của mình, đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao hiệu quả công tác, không phát sinh thêm biên chế mới.

Xu hướng hiện nay là đẩy mạnh xã hội hóa một số dịch vụ (như kiểm định xe cơ giới, đào tạo lái xe), theo đó, Nhà nước chủ yếu tập trung quản lý việc sát hạch, cấp giấy phép lái xe, quản lý quá trình chấp hành pháp luật của người lái xe sau khi được cấp giấy phép và quản lý các điều kiện đảm bảo an toàn của phương tiện khi tham gia giao thông, không can thiệp sâu vào hoạt động đào tạo lái xe, kiểm định an toàn kỹ thuật, do đó sẽ giảm chi phí từ ngân sách nhà nước và không tăng biên chế, tổ chức bộ máy.

Khi Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ được ban hành sẽ đủ mạnh để kiểm soát tình hình, tác động đến công tác quản lý Nhà nước tốt hơn, đảm bảo hành lang pháp lý cho các lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ hiệu lực, hiệu quả hơn.

Luật góp phần nâng cao chất lượng của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông để làm giảm vi phạm, tai nạn và ùn tắc giao thông, góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, hình thành văn hóa giao thông văn minh, tiệm cận với nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới./.

Tìm liều thuốc “trị thương” cho các nước nghèo

Hội nghị mùa Xuân trực tuyến đầu tiên của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) kết thúc ngày 19/4 với cam kết đẩy mạnh những nỗ lực “giảm tổn thương” cho nền kinh tế toàn cầu trước đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19, trong đó tăng cường các chương trình hoãn trả nợ cho các nước nghèo và đang phát triển.

Tuy nhiên, hội nghị lần này mới chỉ dừng lại ở những cam kết, thay vì đưa ra những giải pháp cụ thể để giúp các quốc gia nghèo và đang phát triển, vốn chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi “cơn sóng thần” COVID-19 càn quét, vượt qua giai đoạn cam go này.

Hội nghị mùa Xuân trực tuyến đầu tiên của IMF và WB mới chỉ dừng lại ở những cam kết, thay vì đưa ra những giải pháp cụ thể để giúp các quốc gia nghèo và đang phát triển ứng phó với dịch COVID-19.

Hội nghị diễn ra trong bối cảnh thế giới đang phải “căng mình” chống dịch COVID-19, được ví như một một cơn đại hồng thủy dữ dội và bất ngờ, đã và đang làm đảo lộn thế giới, gây ra suy thoái và nguy cơ khủng hoảng kinh tế, với những ảnh hưởng nặng nề, khó lường.

Nhân viên y tế Maroc kiểm tra trang thiết bị điều trị cho bệnh nhân COVID-19 ở bệnh viện quân y vùng Benslimane, ngày 17/4/2020.(Ảnh: AFP/TTXVN)
Nhân viên y tế Maroc kiểm tra trang thiết bị điều trị cho bệnh nhân COVID-19 ở bệnh viện quân y vùng Benslimane, ngày 17/4/2020.(Ảnh: AFP/TTXVN)

Không những tấn công mạnh mẽ các quốc gia giàu có với nền kinh tế phát triển, dịch COVID-19 còn để lại những hệ lụy kinh tế-xã hội-y tế nghiêm trọng đối với nhiều quốc gia nghèo và đang phát triển.

Hơn 100 tỷ USD tiền vốn đầu tư đã chảy khỏi các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, cao gần gấp 5 lần so với mức thoái vốn năm 2008.

Hơn bao giờ hết, việc tìm giải pháp để chủ động ứng phó, tháo gỡ khó khăn, chặn đà suy giảm, giúp nền kinh tế toàn cầu phát triển cũng như hỗ trợ các quốc gia nghèo và đang phát triển vượt qua dịch bệnh là một vấn đề mang tính cấp bách, đòi hỏi những giải pháp cụ thể và hiệu quả từ các thể chế tài chính đa phương lớn như IMF và WB, cũng như các quốc gia giàu có trên thế giới.

Tại hội nghị lần này, Tổng Giám đốc IMF Kristalina Georgieva và Chủ tịch WB David Malpass đều nhấn mạnh 2 thể chế nhận thức rõ về mối đe dọa đang gia tăng từ cuộc khủng hoảng COVID-19, được dự đoán sẽ đẩy nền kinh tế toàn cầu vào đợt suy thoái sâu nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái những năm 1930.

Tổng Giám đốc IMF Kristalina Georgieva phát biểu tại cuộc họp báo ở Washington, DC ngày 4/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Tổng Giám đốc IMF Kristalina Georgieva phát biểu tại cuộc họp báo ở Washington, DC ngày 4/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Với việc mô tả khủng hoảng COVID-19 là cuộc đại phong tỏa, IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu có nguy cơ sụt giảm 3% trong năm nay.

IMF và WB cam kết tăng cường các nỗ lực nhằm giảm bớt những tác động mà dịch COVID-19 gây ra cho nền kinh tế toàn cầu, đồng thời kêu gọi các nước thành viên cung cấp thêm các khoản tài trợ để có thể giúp đỡ những người nghèo và các quốc gia dễ bị tổn thương nhất.

Dù cam kết như vậy, IMF và WB chưa đưa ra lộ trình cụ thể nào để giúp các nước dễ bị tổn thương đủ năng lực khắc phục hậu quả kinh tế mà dịch COVID-19 gây ra.

Việc tăng cường các chương trình giãn nợ cũng như cung cấp các khoản tín dụng hỗ trợ các các nước nghèo và đang phát triển được xem là “phao cứu hộ” vào thời điểm hiện tại, song là giải pháp thiếu bền vững nếu xét về lâu dài bởi nguy cơ có thể làm trầm trọng thêm gánh nặng nợ của các quốc gia này.

Đấy là chưa nói đến việc WB và IMF mới chỉ dừng lại ở cam kết tăng cường hỗ trợ, còn việc thực hiện cam kết tới đâu và như thế nào vẫn còn lại câu hỏi còn bỏ ngỏ.

 Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 4/4/2020 thông báo viện trợ 5,8 triệu USD cho Chính quyền Palestine (PA) để hỗ trợ các nỗ lực phòng, chống dịch COVID-19. Trong ảnh: Nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện dã chiến, nơi điều trị cho các bệnh nhân nhiễm COVID-19, tại thành phố Bethlehem, Bờ Tây, ngày 22/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
 Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 4/4/2020 thông báo viện trợ 5,8 triệu USD cho Chính quyền Palestine (PA) để hỗ trợ các nỗ lực phòng, chống dịch COVID-19. Trong ảnh: Nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện dã chiến, nơi điều trị cho các bệnh nhân nhiễm COVID-19, tại thành phố Bethlehem, Bờ Tây, ngày 22/3/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Như đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres tại hội nghị, rằng chương trình hoãn trả nợ cho các nước nghèo nhất là bước khởi đầu, nhưng cần phải thực hiện quyết liệt hơn trước sự nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng hiện nay.

Không thể phủ nhận thời gian qua, IMF và WB đang tích cực thúc đẩy hỗ trợ tài chính cho các nước trước những tác động y tế và kinh tế bắt nguồn từ đại dịch COVID-19.

IMF đang xử lý các đơn yêu cầu cho vay khẩn cấp từ gần một nửa trong số 189 quốc gia thành viên. Gần đây, năng lực hỗ trợ khẩn cấp của IMF đã tăng gấp đôi, lên 100 tỷ USD, thông qua hai kênh: Công cụ Cấp vốn nhanh (RFI-tất cả các thành viên đều có thể tiếp cận được mà không cần thương lượng một chương trình cho vay truyền thống) và Công cụ Tín dụng nhanh (RCF-không tính lãi suất và các thành viên có thu nhập thấp có thể tiếp cận).

IMF cũng tận dụng Quỹ Cứu trợ và phòng ngừa thảm họa (CCRT) để cấp nhiều khoản viện trợ nhằm giảm nợ cho các nước nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất, bằng những ràng buộc với IMF trong công tác hỗ trợ giải quyết thảm họa.

Bà Georgieva cũng yêu cầu hỗ trợ bổ sung 17 tỷ USD nhằm củng cố Quỹ tín thác tăng trưởng và giảm nghèo (PRGT), qua đó cun cấp khoản vay ưu đãi cho các nước có thu nhập thấp.

Chủ tịch WB David Malpass phát biểu tại một cuộc họp báo ở New Delhi, Ấn Độ. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Chủ tịch WB David Malpass phát biểu tại một cuộc họp báo ở New Delhi, Ấn Độ. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Về phần mình, WB tung 160 tỷ USD trong vòng 15 tháng tới để tài trợ các quốc gia như Ethiopia, Afghanistan, Haiti hay Ecuador tăng cường các nguồn lực y tế nhằm ứng phó với cuộc khủng hoảng y tế trước mắt và hỗ trợ phục hồi kinh tế.

Ngân hàng này đã đẩy mạnh hoạ động cấp vốn nhanh, bằng các chương trình đang được thực hiện tại 25 nước với tổng trị giá 1,9 tỷ USD, và các chương trình khác được xúc tiến tại 40 nước với tổng trị giá 1,7 tỷ USD.

Tuy nhiên, giới quan sát nhận định những nỗ lực này dù tích cực, song là chưa đủ để có thể hỗ trợ các nước nghèo và đang phát triển đối phó hiệu quả với đại dịch COVID-19 và khôi phục kinh tế.

Dịch COVID-19 đã lột tả sự bất bình đẳng giữa các nước, song quan trọng hơn là những hậu quả nghiêm trọng của một trật tự kinh tế không công bằng. Trong khi các nước giàu hứng chịu tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và suy giảm kinh tế song có tất cả nguồn lực để phục hồi, các nước nghèo và đang phát triển thì không.

Hồi tháng Ba, các bộ trưởng Tài chính các nước châu Phi đã kêu gọi gói kích thích kinh tế lên tới 100 tỷ USD, trong đó gồm miễn trừ các khoản thanh toán nợ trị giá 44 tỷ USD.

Bản thân WB và IMF cũng thừa nhận dù đã nhận được nhiều gói hỗ trợ lớn, cũng như các cam kết về giãn, giảm, xoá các khoản nợ, nhưng châu lục nghèo nhất thế giới vẫn cần thêm 44 tỷ USD để khắc phục hậu quả, cũng như thoát khỏi đại dịch.

Trẻ em đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Damascus, Syria ngày 28/3/2020. (Ảnh: THX/ TTXVN)
Trẻ em đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Damascus, Syria ngày 28/3/2020. (Ảnh: THX/ TTXVN)

Với 2/3 dân số thế giới sống ở các nước đang phát triển (trừ Trung Quốc) phải đối mặt với thiệt hại kinh tế chưa từng có do dịch COVID-19, Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đã kêu gọi gói cứu trợ trị giá 2.500 tỷ USD nhằm thúc đẩy phục hồi kinh tế tại các nước đang phát triển.

UNCTAD đề xuất một chiến lược biến các biểu hiện của sự đoàn kết quốc tế thành hành động cụ thể: Cung cấp một khoản thanh toán trị giá 1.000 tỷ USD thông qua việc sử dụng quyền rút vốn đặc biệt của IMF – SDR); xóa khoảng 1.000 tỷ USD nợ của các nước đang phát triển trong năm nay; thiết lập Kế hoạch Marshall trị giá 500 tỷ USD để phục hồi thể trạng kinh tế được giải ngân dưới dạng tài trợ.

Tuy nhiên, đề xuất của UNCTAD vấp phải sự miễn cưỡng của một số cường quốc lớn nhất thế giới. IMF, dưới sức ép của các thành viên có quyền bỏ phiếu cao nhất, không thể cung cấp các khoản vay dành cho Venezuela và Iran.

Mặt khác, việc IMF và WB không đề cập tới vấn đề xóa nợ đa phương mà các nước đang phát triển nợ 2 thể chế tài chính này lại mâu thuẫn với đề xuất của UNCTAD.

Người dân di chuyển trên đường phố tại Aden, Yemen ngày 24/3/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/ TTXVN)
Người dân di chuyển trên đường phố tại Aden, Yemen ngày 24/3/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/ TTXVN)

Ngay trong tuyên bố chung của Nhóm Các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) về cam kết giãn nợ cho các quốc gia nghèo vừa qua cũng không đề cập tới việc IMF và WB cần xem xét xóa các khoản nợ đa phương này ít nhất trong năm 2020.

Tổ chức Eurodad có trụ sở tại Bỉ ước tính các khoản nợ song phương mà G20 cam kết giãn nợ cho các quốc gia nghèo vào khoảng 15,7 tỷ USD, không tính các khoản nợ trị giá 3,8 tỷ USD do IMF, WB và các tổ chức đa phương khác nắm giữ.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng thực tế là nợ vẫn phải thanh toán và việc đóng băng thanh toán chỉ áp dụng với nợ giữa các chính phủ, không áp dụng với nợ các ngân hàng tư nhân.

Eurodad cũng ước tính rằng ngay cả khi các khoản nợ song phương được xóa bỏ, các nền kinh tế thu nhập thấp sẽ buộc phải chuyển một khoản hỗ trợ khẩn cấp ước tính 9,4 tỷ USD để trả nợ.

Bên cạnh đó, một vấn đề cũng bị bỏ qua là việc xóa nợ khu vực tư nhân, làm dấy lên lo ngại rằng thay vì đáp ứng nhu cầu y tế và bảo trợ xã hội cấp bách, các nguồn lực được giải phóng thông qua xóa nợ có thể được sử dụng để trả nợ cho các chủ nợ tư nhân.

Một giải pháp hiệu quả và bền vững để hỗ trợ các nước nghèo vượt qua dịch COVID-19 đòi hỏi sự đoàn kết, hợp tác giữa tất cả các bên, từ tổ chức, thể chế tài chính đa phương, nước giàu cho tới chủ nợ của khu vực tư nhân.

Sẽ rất bất hợp lý nếu tất cả số tiền từ các tổ chức đa phương nhằm giúp đỡ các nước nghèo nhất không được sử dụng cho các biện pháp chăm sóc sức khỏe hoặc chống đói nghèo.

Có thể thấy, đối phó với một thách thức vừa là thảm họa về y tế, vừa gây khủng hoảng kinh tế-xã hội như đại dịch COVID-19, các nước nghèo đang bị đẩy vào tình trạng mong manh hơn bao giờ hết.

Vì vậy, một giải pháp hiệu quả và bền vững để hỗ trợ các nước nghèo dễ bị tổn thương vượt qua cuộc khủng hoảng hiện này đòi hỏi sự đoàn kết và hợp tác chặt chẽ giữa tất cả các bên, từ các tổ chức và thể chế tài chính đa phương, các nước giàu cho tới các chủ nợ của khu vực tư nhân./.

Cảnh vắng vẻ trên đường phố tại Algiers, Algeria ngày 25/3/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)
Cảnh vắng vẻ trên đường phố tại Algiers, Algeria ngày 25/3/2020 trong bối cảnh dịch COVID-19 lan rộng. (Ảnh: THX/TTXVN)

Những chiến thuật của Việt Nam trước “giặc” COVID-19

Thời gian qua, đại dịch COVID-19 làm chấn động toàn thế giới. Chỉ trong hơn 4 tháng, dịch bệnh này đã lây lan ra 211 quốc gia và vùng lãnh thổ. Virus SARS-CoV-2 là mối đe dọa khủng khiếp, nhiều quốc gia đã phải ra lệnh đóng cửa biên giới, đóng của đường bay, ban bố tình trạng khẩn cấp, phong toả toàn lãnh thổ…

Tính tới sáng 20/4, toàn thế giới có hơn 2,4 triệu ca nhiễm với 165.059 trường hợp tử vong. Riêng tại Mỹ, ngày 21/1, đất nước này đã thông báo xác nhận trường hợp đầu tiên mắc bệnh, đến 20/4 đã có tổng số hơn 764.000 ca mắc, hơn 40.000 trường hợp tử vong.

Việt Nam cũng có ca bệnh đầu tiên mắc COVID-19 vào cùng thời điểm với nước Mỹ (ngày 22/1). Hiện Việt Nam có 268 bệnh nhân mắc COVID-19 (chưa có tử vong).

Việt Nam cũng có ca bệnh đầu tiên mắc COVID-19 vào cùng thời điểm với nước Mỹ (ngày 22/1). Sau 3 tháng có ca bệnh đầu tiên, hiện Việt Nam có 268 bệnh nhân mắc COVID-19 (chưa có tử vong). Đặc biệt, trong 4 ngày qua, Việt Nam chưa ghi nhận thêm trường hợp mắc bệnh mới nào.

Điều gì làm nên một Việt Nam vững vàng trước đại dịch COVID-19 đang làm “điên đảo” nhiều nước trên thế giới, trong đó có những cường quốc đứng đầu về kinh tế cũng như hệ thống y tế? Phóng viên VietnamPlus có cuộc phỏng vấn với giáo sư Nguyễn Thanh Long – Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế để hiểu rõ hơn về những “chiến thuật” của Việt Nam trước “giặc” COVID-19.

Hà Nội tổ chức xét nghiệm nhanh cho hơn 200 nhân viên, tiểu thương tại chợ đầu mối nông sản Long Biên. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Hà Nội tổ chức xét nghiệm nhanh cho hơn 200 nhân viên, tiểu thương tại chợ đầu mối nông sản Long Biên. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Những “đòn đánh” riêng

Thưa Thứ trưởng, thời gian gần đây, số ca mắc mới bệnh COVID-19 tại Việt Nam đang giảm rất nhanh, đặc biệt bốn ngày liên tiếp vừa qua không ghi nhận trường hợp mắc mới, ông nghĩ sao về tín hiệu đáng mừng này?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Số trường hợp mắc COVID-19 giảm trong thời gian gần đây là một điều tích cực nhưng vẫn còn quá sớm để yên tâm bởi xu hướng giảm mới xuất hiện trong khoảng hơn 10 ngày gần đây, trong khi thời gian ủ bệnh là 14 ngày, thậm chí còn kéo dài hơn với một số trường hợp đặc biệt. Ngoài ra, chúng ta cũng đã phát hiện những trường hợp mắc tại cộng đồng mà chưa rõ nguồn lây nhiễm.

Khi các trường hợp nhiễm mới giảm, chúng ta không được chủ quan mà cần phải duy trì, tiếp tục thực hiện các biện pháp quyết liệt hơn nữa, phải tính đến phương án mở cửa trở lại chứ không thể mãi tự đóng cửa.

Việt Nam vẫn đang kiểm soát tốt tình hình dịch với việc thực hiện triệt để các biện pháp cách ly, quản lý các trường hợp từ nước ngoài trở về, các trường hợp tiếp xúc vòng 1, vòng 2 và áp dụng biện pháp giãn cách xã hội.

Khi các trường hợp nhiễm mới giảm, chúng ta không được chủ quan mà cần phải duy trì, tiếp tục thực hiện các biện pháp quyết liệt hơn nữa, đặc biệt là khi chúng ta phải tính đến phương án mở cửa trở lại chứ không thể mãi tự đóng cửa.

Khi dịch COVID-19 bùng phát ở Trung Quốc, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguy cơ rất cao do có đường biên giới giáp với Trung Quốc dài tới 1.435 km. Tuy nhiên đến nay số trường hợp mắc bệnh của Việt Nam chỉ bằng số lẻ của nhiều nước. Theo thứ trưởng, điều gì làm nên những “kỳ tích” trên?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Trước diễn biến phức tạp, mức độ nguy hiểm của dịch và nguy cơ có thể bùng phát dịch tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ban, ngành, địa phương và toàn dân đã vào cuộc mạnh mẽ với tinh thần chống dịch như chống giặc, luôn chủ động, sẵn sàng triển khai các biện pháp phòng chống dịch ở mức cao nhất.

Ngày 30/3/2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động.

Ngày 30/3/2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để bảo đảm chiến thắng đại dịch COVID-19.

Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản chỉ đạo quan trọng, đóng vai trò tiên quyết trong công cuộc chống dịch. Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Thủ tướng về phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Giáo sư Nguyễn Thanh Long - Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Giáo sư Nguyễn Thanh Long – Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Tinh thần chống dịch như chống giặc được thể hiện qua việc thực hiện các biện pháp quyết liệt từ Trung ương đến địa phương đồng thời được truyền thông liên tục để lan tỏa đến từng người dân để người dân hiểu, đồng lòng, ủng hộ và cùng tham gia vào công cuộc phòng chống dịch của cả nước.

Tại địa phương, Ban chỉ đạo phòng chống dịch được thành lập do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm trưởng ban để có thể huy động tối đa nguồn lực.

Có thể nói, tính đến thời điểm này, Việt Nam đã có đáp ứng phù hợp để kiểm soát dịch bệnh với việc triển khai đồng bộ giải pháp chuyên môn kỹ thuật y tế phù hợp, kết hợp chặt chẽ với các giải pháp hành chính theo sát với diễn biến tình hình dịch bệnh. Đây cũng là sự khác biệt với các quốc gia khác khi chúng ta là quốc gia duy nhất áp dụng khai báo y tế tại cửa khẩu, là quốc gia đầu tiên có hướng dẫn và triển khai cách ly tại nhà, nơi cư trú và cơ sở tập trung và là quốc gia thứ hai sau Trung Quốc áp dụng biện pháp thiết lập vùng kiểm soát khoanh vùng, dập dịch.

Chúng ta là quốc gia duy nhất áp dụng khai báo y tế tại cửa khẩu, là quốc gia đầu tiên có hướng dẫn và triển khai cách ly tại nhà, nơi cư trú và cơ sở tập trung

– Có thể nói, Việt Nam đang là điểm sáng về phòng chống dịch. Còn nhớ năm 2003, chúng ta cũng là quốc gia đầu tiên trên thế giới được công nhận khống chế thành công dịch SARS. Trong cuộc chiến với “giặc COVID” này, đâu là điểm khác biệt nhất của Việt Nam so với các nước khác?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Ngay từ đầu dịch, chúng ta đã chủ động áp dụng giải pháp hành chính ở mức cao nhất – đây là sự khác biệt lớn nhất giữa Việt Nam và các quốc gia khác.

Trong khi các quốc gia khác, giai đoạn đầu dịch tập trung chủ yếu vào các giải pháp chuyên môn y tế, các nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thì Việt Nam đã kết hợp hài hòa được giải pháp hành chính và chuyên môn y tế để thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch từ Trung ương đến địa phương, tại tất cả các Bộ, ban, ngành, đoàn thể và toàn xã hội.

[Video] về công tác phòng chống dịch COVID-19 tại Việt Nam:

Sự tham gia của thành viên của các Bộ, ban ngành trong Ban chỉ đạo Quốc gia đã tạo điều kiện để có sự thống nhất cao với các biện pháp phòng chống dịch mà có ảnh hưởng đến vấn đề an ninh, kinh tế, xã hội và ngoại giao mà không mất nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận…

Kiên định “5 nguyên tắc vàng”

Các tổ chức quốc tế và truyền thông nước ngoài liên tục có những bài bình luận khen ngợi nỗ lực của Việt Nam trong việc kiềm chế sự lây lan của COVID-19 với 5 nguyên tắc kiên định. Ông có thể nói rõ hơn về 5 nguyên tắc này?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Tính đến nay, về cơ bản Việt Nam đang kiểm soát tốt. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng ghi nhận việc chúng ta đã xử lý dịch bệnh COVID-19 rất tốt với năng lực quốc gia trong việc sẵn sàng ứng phó và kiểm soát các vấn đề y tế khẩn cấp.

Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 đã thống nhất phải kiên định với 5 nguyên tắc đã thực hiện từ đầu mùa dịch là: Ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch.

Việt Nam kết hợp hài hòa được giải pháp hành chính và chuyên môn y tế để thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng chống dịch từ Trung ương đến địa phương, tại tất cả các Bộ, ban, ngành, đoàn thể và toàn xã hội.

Đây là chiến lược không thay đổi, phải quyết liệt thực hiện, không được chủ quan, mất cảnh giác. Bộ Y tế đã xác định rõ các mục tiêu cho từng giai đoạn và xác định được giai đoạn vàng để kiểm soát dịch, từ đó có các biện pháp đáp ứng phù hợp.

Cụ thể, giai đoạn chưa xuất hiện trường hợp bệnh thì mục tiêu là ngăn chặn sự xâm nhập của trường hợp bệnh và phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ. Giai đoạn có xuất hiện trường hợp bệnh thì mục tiêu là kiểm soát, khống chế ổ dịch và ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh ra cộng đồng. Với giai đoạn phát hiện lây lan dịch bệnh trong cộng đồng thì mục tiêu là kiểm soát ổ dịch triệt để không để lây lan rộng.

– Phương châm 4 tại chỗ có phải cũng là một trong những mũi tên chiến lược của chúng ta?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Phương châm 4 tại chỗ đóng vai trò rất quan trọng trong phòng chống dịch, bao gồm: chỉ đạo tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ. Việc này nhằm mục đích huy động tối đa các nguồn lực hiện có, nâng cao năng lực cán bộ tại các tuyến, hạn chế tối đa các rủi ro, nguy cơ trong phòng, chống dịch bệnh.

Tôi đơn cử như về khoanh vùng dập dịch, Việt Nam xác định quy mô dịch bệnh ở mức độ nào thì tổ chức cách ly, khoanh vùng ở mức độ đó. Chẳng hạn như ở xã Sơn Lôi (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), quy mô dịch ở cấp xã thì khoanh vùng toàn xã chứ không khoanh vùng rộng hơn… Qua đó, tổ chức cách ly theo các vành đai chặt chẽ (cách ly tập trung, cách ly tại nhà…) từ vòng trong ra vòng ngoài để tránh lây nhiễm.

Về chuyên môn, Việt Nam tập trung giám sát phát hiện sớm ca bệnh để điều trị tại chỗ; thực hiện giám sát, xét nghiệm sàng lọc; tổ chức cách ly y tế theo các lớp; điều trị trên toàn tuyến, tránh tình trạng tập trung về Trung ương. Việt Nam cũng đã chữa thành công các ca nhiễm COVID-19 cả ở y tế tuyến huyện và không để tập trung quá đông người ở một địa điểm.

– Truyền thông quốc tế bình luận Việt Nam đã trở thành “hình mẫu” chống dịch COVID-19 khi thành công trong việc kiểm soát sự lây lan của virus SARS-CoV-2 và các nước có thể học tập kinh nghiệm. Việt Nam có sẵn sàng chia sẻ những “bí quyết” đó không thưa giáo sư?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Những tháng qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, các ngành, các cấp, các địa phương, cả hệ thống chính trị đã đoàn kết, thống nhất triển khai quyết liệt nhiều biện pháp đồng bộ, vừa ngăn chặn, hạn chế tốc độ lây lan của dịch bệnh. Việt Nam vừa bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh, an toàn xã hội; bước đầu đã thu được nhiều kết quả tích cực, thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc, sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc chiến đấu chống đại dịch, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Trong thời gian qua, mặc dù công tác phòng, chống dịch luôn rất căng thẳng vất vả nhưng Việt Nam vẫn luôn duy trì vấn đề hợp tác quốc tế thông qua các cuộc trao đổi, điện đàm, họp trực tuyến song phương, đa phương.

Phải kiên định với 5 nguyên tắc đã thực hiện từ đầu mùa dịch là: Ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch.

Những cuộc họp, trao đổi đó giúp chúng ta chủ động học tập các kinh nghiệm, mô hình của thế giới đồng thời sẵn sàng chia sẻ các kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh cho các quốc gia, vùng lãnh thổ.

Người dân một lòng chống “giặc COVID-19”

– Nhìn lại chặng đường 3 tháng phòng chống dịch với ba giai đoạn, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về công tác phòng chống dịch COVID-19 của Việt Nam?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Về cơ bản, Việt Nam đã đạt được thành công bước đầu trong kiểm soát dịch COVID-19. Điều thuận lợi lớn nhất giúp chúng ta có được thành công này là sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn dân với tinh thần chống dịch như chống giặc.

Đặc biệt, sự ủng hộ của người dân đóng vai trò rất lớn. Điều này thể hiện thông qua việcngười dân tin tưởng tuyệt đối và thực hiện nghiêm túc các giải pháp, các yêu cầu, hướng dẫn của Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia và Bộ Y tế.

Ngay giai đoạn đầu của dịch bệnh COVID-19, Việt Nam đã chủ động áp dụng các biện pháp sớm, cao hơn khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới. Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới áp dụng khai báo y tế bắt buộc với người nhập cảnh từ Trung Quốc vào ngày 25/1/2020 và với tất cả những người nhập cảnh từ ngày 7/3/2020. Việt Nam cũng là một trong số ít quốc gia thực hiện biện pháp ngừng miễn thị thực, hạn chế nhập cảnh và áp dụng hình thức cách ly tập trung với người nhập cảnh từ hoặc đi qua các vùng dịch và với tất cả mọi người nhập cảnh từ ngày 21/3/2020…

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 741 lau chùi lại toàn bộ vật dụng trong phòng các công dân cách ly đã ở. (Ảnh: Xuân Tư/TTXVN)
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 741 lau chùi lại toàn bộ vật dụng trong phòng các công dân cách ly đã ở. (Ảnh: Xuân Tư/TTXVN)

Các biện pháp nói trên được thực hiện mạnh mẽ, triệt để đã góp phần mang lại hiệu quả trong công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại Việt Nam, đặc biệt là giúp ngăn chặn việc lây nhiễm từ các trường hợp mắc bệnh xâm nhập từ nước ngoài.

Trước nguy cơ số trường hợp mắc có liên quan đến các ổ dịch điểm có thể sẽ gia tăng và có nguy cơ phát hiện các trường hợp mắc không rõ nguồn lây trong cộng đồng, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 thực hiện biện pháp giãn ly toàn xã hội nhằm mục đích kịp thời ngăn chặn sự lây lan của dịch trong cộng đồng.

Đây là biện pháp được nhiều nước áp dụng. Và, trên thực tế thực tế Chỉ thị 16/CT-TTg trong thời gian qua được thực hiện khá tốt.

Sự ủng hộ của người dân đóng vai trò rất lớn. Người dân tin tưởng tuyệt đối và thực hiện nghiêm túc các giải pháp, các yêu cầu, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước.

Kết quả phân tích về các xu hướng di chuyển từ 1/4/2020 cho thấy xu hướng di chuyển đến các khu thương mại, giải trí, các bến tàu, xe hay khu vực công cộng (công viên, bãi biển…) giảm mạnh từ 40%-70%. Người dân cũng đã thực hiện tốt việc làm việc trực tuyến tại nhà khi xu hướng di chuyển đến các khu công sở cũng giảm đến hơn 30%. Trên các tuyến giao thông trọng điểm, tỷ lệ di chuyển đường dài cũng đã giảm khoảng 80% so với cùng kỳ năm 2019.

Việt Nam là một trong số ít nước có hơn 200 ca bệnh mắc và chưa có trường hợp nào tử vong. Chúng ta có được kết quả này là do đâu thưa Thứ trưởng?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Việt Nam là một trong số 2 quốc gia, vùng lãnh thổ có trên 200 trường hợp mắc không có trường hợp COVID-19 tử vong dù đã có những ca bệnh nặng.

Có được kết quả này, thời gian qua, Bộ Y tế đã huy động các chuyên gia đầu ngành, hồi sức tích cực và chỉ đạo quyết liệt, đảm bảo tất cả trang thiết bị cần thiết, cung cấp các hệ thống hỗ trợ việc hội chẩn, thăm khám trực tuyến để có thể chăm sóc, điều trị tích cực nhất cho các bệnh nhân COVID-19. Phác đồ điều trị của Việt Nam liên tục được cập nhật, bổ sung trên cơ sở rút kinh nghiệm thực tế điều trị và cập nhật kinh nghiệm của thế giới.

Phun thuốc diệt khuẩn cho người giao hàng nhu yếu phẩm vào khu cách ly tại thôn Hạ Lôi. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Phun thuốc diệt khuẩn cho người giao hàng nhu yếu phẩm vào khu cách ly tại thôn Hạ Lôi. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Việt Nam cũng đã và đang chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu phát triển các sinh phẩm để phục vụ cho việc chẩn đoán, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh không để nhập viện muộn khi tình trạng bệnh đã diễn biến nặng.

Tuy nhiên, với diễn biến dịch bệnh hiện nay, chúng ta vẫn phải dồn tâm sức, trí tuệ, trang thiết bị, thuốc tốt nhất cho điều trị các bệnh nhân nặng nhất, liên tục cập nhật thông tin về các trường hợp này cũng như tình hình dịch bệnh.

Chung sống an toàn với dịch

– Xin Thứ trưởng tiết lộ kịch bản trong giai đoạn tới mà chúng ta có thể phải ứng phó?

Giáo sư Nguyễn Thanh Long: Việt Nam xác định tình hình dịch bệnh sẽ còn kéo dài khi các quốc gia trên thế giới vẫn ghi nhận gia tăng số trường hợp mắc và tử vong. Bởi vậy, công tác phòng, chống dịch cũng phải chuyển sang thời kỳ mới, trong đó tập trung các vấn đề là kiểm soát dịch bệnh không chủ quan. Chúng ta tiến tới chung sống an toàn với dịch bệnh và thúc đẩy các điều chỉnh tích cực trong xã hội.

Tích cực điều trị cho các ca bệnh COVID-19 nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 (Đông Anh, Hà Nội). (Ảnh: Hồng Hà/TTXVN)
Tích cực điều trị cho các ca bệnh COVID-19 nặng tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 (Đông Anh, Hà Nội). (Ảnh: Hồng Hà/TTXVN)

Trong thời gian tới, chúng ta phải tiếp tục kiên định thực hiện theo nguyên tắc: ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch và điều trị tích cực cho các bệnh nhân. Các biện pháp phòng chống dịch cần được thực hiện linh hoạt để có thể tiếp tục phát triển nhưng vẫn an toàn.

Để làm được điều này, các bộ, ngành, địa phương cần chủ động đưa ra những hướng dẫn an toàn cho từng hoạt động của ngành mình từ cơ sở y tế, giao thông vận tải, cơ sở sản xuất, giáo dục cho tới các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao… trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Y tế để có thể chung sống an toàn với dịch bệnh.

Chúng ta đang có những điều chỉnh tích cực trong xã hội “từ trong ra ngoài” trong thời gian qua và công tác phòng, chống dịch vẫn còn nhiều vất vả nhưng chúng ta chắc chắn sẽ thành công.

Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng./.

Phun khử khuẩn tại thôn Đông Cứu, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, Hà Nội. (Ảnh: TTXVN)
Phun khử khuẩn tại thôn Đông Cứu, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, Hà Nội. (Ảnh: TTXVN)

Hội Nhà báo Việt Nam

Cách đây tròn 70 năm, ngày 21/4/1950, tại xóm Roòng Khoa, xã Ðiềm Mặc, huyện Ðịnh Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra Đại hội thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.

70 năm qua, không chỉ là người thư ký trung thành trong mọi thời khắc lịch sử quan trọng, Hội Nhà báo và những người làm báo Việt Nam còn trực tiếp đóng góp máu xương, công sức và trí tuệ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Góp phần quan trọng vào sự nghiệp báo chí nước nhà

Vào đầu thế kỷ XX, hoạt động báo chí ở Việt Nam đã khá sôi nổi, nhưng dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp, những người làm báo không có tổ chức nghề nghiệp.

70 năm qua, không chỉ là người thư ký trung thành trong mọi thời khắc lịch sử quan trọng, Hội Nhà báo và những người làm báo Việt Nam còn trực tiếp đóng góp máu xương, công sức và trí tuệ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ buổi ban đầu thành lập, Đảng đã xác định báo chí là một mặt trận, một mặt trận quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và mỗi nhà báo là một chiến sỹ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo và nhân viên phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960). (Ảnh: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo và nhân viên phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960). (Ảnh: TTXVN)

Đặc biệt, các nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng ta đều là các nhà báo, điển hình là Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi đến các đồng chí như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Xuân Thủy, Võ Nguyên Giáp…

Do đó, Hội Nhà báo Việt Nam là một trong những hội chính trị-xã hội-nghề nghiệp ra đời sớm nhất.

Ngày 4/4/1949, tại Việt Bắc, thực hiện sự chỉ đạo của Tổng bộ Việt Minh, Đoàn Báo chí kháng chiến Việt Nam đã khai giảng Trường dạy làm báo mang tên Huỳnh Thúc Kháng, khóa học đầu tiên và duy nhất gồm 42 học viên.

Đây là cơ sở đào tạo báo chí đầu tiên trong kháng chiến chống Pháp và trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Đầu năm 1950, trước yêu cầu nâng cao vị trí Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời để đáp ứng nhiệm vụ nâng cao nghiệp vụ báo chí, Hội Những người viết báo Việt Nam được thành lập.

Phóng viên TTXVN Trần Mai Hưởng có mặt kịp thời và chụp được khoảnh khắc lịch sử xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài hơn hai thập niên (1954-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Phóng viên TTXVN Trần Mai Hưởng có mặt kịp thời và chụp được khoảnh khắc lịch sử xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài hơn hai thập niên (1954-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

Hội nghị thành lập Hội khai mạc ngày 21/4/1950 tại xóm Roòng Khoa, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã thống nhất thông qua Điều lệ, Chương trình hoạt động, bầu ra Ban Chấp hành Hội với ông Xuân Thủy làm Hội trưởng, các ông Đỗ Đức Dục và Hoàng Tùng làm Hội phó, Nguyễn Thành Lê làm Tổng Thư ký.

Từ đó, ngày 21/4/1950 đã trở thành mốc thời gian lịch sử của giới báo chí Việt Nam. Đến tháng 9/1950, Hội Những người viết báo Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ).

Nhiệm vụ của Hội Nhà báo Việt Nam là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà báo trong tác nghiệp; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ báo chí, đạo đức nghề nghiệp cho hội viên; giám sát việc tuân thủ luật pháp, quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về thông tin, báo chí; thực hiện các hoạt động đối ngoại theo quy định của pháp luật.

Chủ tịch đầu tiên của Hội nhà báo Việt Nam – cũng là một nhà ngoại giao, một lãnh đạo cao cấp của Đảng – chính là nhà báo Xuân Thủy. Ông đã đảm nhận trọng trách này suốt hai nhiệm kỳ.

 Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. (Ảnh: TTXVN)
 Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam hiện nay là nhà báo Thuận Hữu. Đến nay, Hội Nhà báo Việt Nam đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tập hợp các nhà báo hoạt động trên khắp mọi miền đất nước, thông qua các sản phẩm báo chí đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược và bảo vệ tổ quốc, đã có hàng nghìn nhà báo xung phong vào bộ đội, đi các chiến trường, có mặt trên tất cả các trận tuyến, chiến đấu bằng ngòi bút của mình và khi cần thì cả bằng vũ khí như những người lính thực thụ góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do và thống nhất đất nước.

Điển hình như đồng chí Trần Ngọc Đặng (Thông tấn xã Giải phóng), tháng 3/1967, tại căn cứ Tây Ninh, đã bắn cháy hai xe bọc thép Mỹ và anh dũng hy sinh, được tuyên dương danh hiệu “Dũng sĩ diệt cơ giới.”

Đồng chí Trần Văn Minh (chiến đấu cùng đồng chí Đặng) bị thương nặng, bị giặc Mỹ bắt và cưa chân. Đồng chí Trương Thị Mai, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng ở Trung Nam Bộ bị địch bắt, tra tấn dã man, nhưng vẫn không một lời khai báo, chấp nhận hy sinh để bảo toàn căn cứ.

Đến khi đất nước hòa bình, các nhà báo lại tiếp tục lao động không ngừng để có những dòng tin tức, hình ảnh, thước phim thời sự hàng ngày, hàng giờ phục vụ nhu cầu thông tin của xã hội.

Bên cạnh việc phát hiện và ca ngợi những điển hình tiên tiến, các nhà báo cũng dũng cảm đấu tranh chống những biểu hiện trì trệ, tiêu cực; đề xuất phương hướng giải quyết những vấn đề thiết thực mà xã hội quan tâm, đóng góp xứng đáng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới.

Nhiều thành tựu nổi bật trong công tác Hội

Không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin, trong suốt những năm qua, Hội Nhà báo Việt Nam đã nỗ lực thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng tổ chức Hội.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian trưng bày của TTXVN tại Hội báo toàn quốc 2019. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm gian trưng bày của TTXVN tại Hội báo toàn quốc 2019. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Số người làm báo gia nhập Hội tăng nhanh, tính đến hết tháng 2/2020, Hội Nhà báo Việt Nam có 25.038 hội viên đang sinh hoạt tại 294 đơn vị cấp hội gồm 63 Hội nhà báo tỉnh, thành phố, 19 liên chi hội, 212 chi hội trực thuộc Trung ương.

Riêng trong nhiệm kỳ 2015-2020 đã kết nạp trên 7.100 hội viên mới, bình quân mỗi năm kết nạp hơn 1.400 hội viên.

Nâng cao bản lĩnh, nhận thức chính trị, đạo đức nghề nghiệp của người làm báo là một trong những nhiệm vụ được Hội Nhà báo Việt Nam đặc biệt quan tâm, đặt lên hàng đầu.

Trung ương Hội đã có nhiều văn bản chỉ đạo và hướng dẫn các các cấp Hội tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa việc tổ chức cho hội viên học tập và thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước.

Hội Nhà báo Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động và tổ chức đợt sinh hoạt chính trị sâu, rộng trong toàn Hội, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về chống tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.”

  • ttxvn2004nh-1587371675-65.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371721-5.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371855-69.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371876-19.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371902-68.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371932-83.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371959-42.jpg
  • ttxvn2004nh-1587371992-73.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372015-41.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372044-78.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372070-34.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372093-59.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372119-6.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372142-86.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372174-98.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372199-49.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372225-51.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372254-80.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372295-10.jpg
  • 2004nhabao23-1587372466-49.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372495-52.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372552-48.jpg
  • ttxvn2004nh-1587372587-50.jpg

Việc thực hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng tập thể Hội trong sạch, vững mạnh gắn liền với việc triển khai thực hiện tốt Luật Báo chí 2016, 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam, thực hiện chế độ sinh hoạt đối với hội viên là phóng viên các cơ quan báo chí thường trú tại địa phương được các cấp Hội bám sát và thực hiện đầy đủ.

Trong những năm qua, công tác nghiệp vụ luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của các cấp Hội. Hoạt động nghiệp vụ luôn được Thường vụ quan tâm, chỉ đạo, tiếp tục phát triển và đạt nhiều kết quả tốt.

Trung ương Hội và các cấp Hội đã tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt nghiệp vụ phong phú, phối hợp tổ chức các giải báo chí cùng nhiều hoạt động nghiệp vụ với nội dung thiết thực, chất lượng cao được đội ngũ người làm báo tích cực hưởng ứng.

Riêng trong nhiệm kỳ 2015-2020, Hội Nhà báo Việt Nam đã tổ chức gần 40 các cuộc tọa đàm, hội thảo quốc gia, quốc tế, tăng gần gấp 2 lần so với nhiệm kỳ trước; Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí của Hội đã tổ chức được 539 lớp học cho 15.394 học viên với nhiều loại hình đào tạo.

Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn!
Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn!

Hằng năm, việc tổ chức Lễ trao Giải Báo chí Quốc gia đều được tổ chức vào đúng dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), có sức lan tỏa sâu rộng, uy tín của Giải ngày càng được khẳng định và nâng cao.

Hội cũng phối hợp và tham gia với các ban, bộ, ngành trung ương tổ chức thành công nhiều giải báo chí chuyên ngành của Hội Nhà báo Việt Nam và các giải báo chí liên ngành khác…

Hội cũng tổ chức thành công Hội Báo toàn quốc trên nền tảng của Hội Báo xuân. Không chỉ là “món ăn tinh thần” quan trọng dịp Tết đến xuân về, Hội Báo toàn quốc còn là dịp để giới thiệu về sự phát triển, lớn mạnh không ngừng của báo chí cách mạng nước nhà cả về mặt con người lẫn công nghệ làm báo.

Hiện nay, Hội Nhà báo Việt Nam có 3 cơ quan truyền thông, đó là Báo Nhà báo & Công luận, Tạp chí Người làm báo và Cổng thông tin điện tử Hội Nhà báo Việt Nam.

Có thể thấy, trải qua 70 năm, các thế hệ người làm báo luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt trọng trách của mình, xây dựng tổ chức Hội nhà báo Việt Nam ngày càng vững mạnh, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng và Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai trao giải B Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm Vàng) lần thứ III - năm 2018 cho các tác giả có tác phẩm đoạt giải. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng và Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai trao giải B Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm Vàng) lần thứ III – năm 2018 cho các tác giả có tác phẩm đoạt giải. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)