Thông tấn xã Việt Nam

Li dn:

Từ thời khắc thiêng liêng của ngày 15/9/1945, khi bản Tuyên ngôn Độc lập cùng danh sách Chính phủ Cách mạng lâm thời được Việt Nam Thông tấn xã phát ra thế giới bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp đến nay, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) luôn đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.

Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, đội ngũ người làm báo Việt Nam Thông tấn xã luôn có mặt ở những nơi nóng bỏng nhất của cuộc chiến, cùng sống, cùng chiến đấu với bộ đội và nhân dân. Trong những giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, không một chiến trường, một hướng tiến quân, một địa bàn chiến đấu nào vắng bóng phóng viên của Việt Nam Thông tấn xã.

Suốt cuộc trường chinh, Việt Nam Thông tấn xã luôn coi việc chi viện cho miền Nam, cho Thông tấn xã Giải phóng (cơ quan phát ngôn và thông tấn chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) là nhiệm vụ thiêng liêng.

Thế hệ người làm báo của Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng khi ấy không chỉ ghi lại các sự kiện như những nhân chứng lịch sử mà còn trực tiếp tham gia và góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc.

Lớp lớp phóng viên, kỹ thuật viên của Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng đã lên đường ra trận. Chỉ tính riêng trong kháng chiến chống Mỹ, hơn 240 người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Máu của các phóng viên, kỹ thuật viên thấm trong mỗi dòng tin, bài viết, bức ảnh, thước phim được gửi về từ chiến trường khốc liệt.

Ngày 12/5/1976, Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng – hai người anh em ruột thịt, đã chính thức hợp nhất với tên gọi Thông tấn xã Việt Nam. Điều đó đã tạo nên sức mạnh để TTXVN hòa vào khí thế cách mạng chung của dân tộc, bước vào giai đoạn mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

GP10 – Từ lớp phóng viên đặc biệt đến chiến trường khốc liệt

Dù chiến tranh đã lùi xa hơn bốn thập kỷ nhưng ký ức về những tháng ngày “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” hiến dâng tuổi thanh xuân cho cuộc hành quân, băng mình trên trận địa từ Bắc vào Nam, từ quê hương Việt Nam tới đất bạn Lào, Campuchia để rồi có mặt tại Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn… trong những ngày tháng Tư (1975) lịch sử vẫn vẹn nguyên trong ký ức các phóng viên chiến trường GP10 của Thông tấn xã Việt Nam.

GP10 (Giải phóng-khóa 10) là một trong những lớp phóng viên đặc biệt nhất của Thông tấn xã Việt Nam – lớp phóng viên được đào tạo riêng cho chiến trường, cho “trận đánh cuối cùng” để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Từ thời điểm bước lên chuyến tàu rời miền Bắc, chi viện cho miền Nam ruột thịt (ngày 16/3/1973), với khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước, họ đã sống, chiến đấu như những người lính. Bằng cuốn sổ, cây bút và chiếc máy ảnh, họ đã viết tin, chụp hình phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống, chiến đấu của quân dân Việt Nam, ghi lại những khoảnh khắc lịch sử khi giang sơn thu về một mối.

Bên cạnh đó, với trái tim nhân hậu, góc nhìn nhân văn, các phóng viên GP10 còn ghi lại những cuộc hội ngộ xúc động sau bao năm chia cắt, khổ đau, nụ cười rạng rỡ và giọt nước mắt nghẹn ngào của những con người từng ở hai đầu chiến tuyến.

GP10 là lớp phóng viên được đào tạo riêng cho chiến trường, cho “trận đánh cuối cùng” để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khát vng tui đôi mươi

Đầu năm 1972, chiến sự leo thang. Hội nghị lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) đề ra nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân: “Với tinh thần kiên trì kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, phải động viên toàn lực, cố gắng vượt bậc, anh dũng tiến lên, đẩy mạnh kháng chiến.”

Trên tinh thần đó, Việt Nam Thông tấn xã tổ chức tuyển chọn, đào tạo lớp phóng viên đặc biệt (GP10) để chi viện cho chiến trường miền Nam nói chung và Thông tấn xã Giải phóng nói riêng, nhằm đảm bảo cho dòng tin không bị gián đoạn.

Tháng 4/1972, gần 150 sinh viên ưu tú của các trường (Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Ngoại giao) được tuyển chọn về Việt Nam Thông tấn xã, tham gia khóa đào tạo phóng viên chiến trường. Các lớp học được tổ chức tại T6 – một trong những địa điểm sơ tán của Việt Nam Thông tấn xã trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ tại huyện Quốc Oai (tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội).

Gia đình và đồng nghiệp tiễn nhà báo Trần Thanh Xuân (đội mũ) dẫn đầu đoàn phóng viên GP10 vào chiến trường miền Nam. (Ảnh: TTXVN)
Gia đình và đồng nghiệp tiễn nhà báo Trần Thanh Xuân (đội mũ) dẫn đầu đoàn phóng viên GP10 vào chiến trường miền Nam. (Ảnh: TTXVN)

“Khi đó, chúng tôi đều là những thanh niên ngoài đôi mươi, tràn đầy nhiệt huyết, hòa mình vào tinh thần, khí thế chung (xếp bút nghiên, ra trận, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt) của thế hệ trẻ bấy giờ,” nhà báo Nguyễn Sỹ Thủy, nguyên học viên GP10 nhớ lại.

Các học viên GP10 được các cây bút kỳ cựu, dày dặn kinh nghiệm của giới báo chí cách mạng khi đó (như ông Đống Ngạc-thư ký của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng, nhà báo Hoàng Tùng-Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã, nhà báo Trần Thanh Xuân-Phó Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã…) trực tiếp truyền dạy kiến thức, kỹ năng làm báo.

“Ban đầu, chúng tôi cảm thấy có phần gượng gạo bởi nhiều người trong số học viên GP10 năm ấy vốn là sinh viên các chuyên ngành gắn bó với những con số, công thức tính toán nhiều hơn các con chữ và chuyện viết lách (như hóa học, sinh học…). Tuy nhiên, cách truyền đạt dễ hiểu, hướng dẫn triển khai các thể loại tin, bài bằng chính kinh nghiệm thực tế của các giảng viên qua những trường hợp, ví dụ cụ thể đã giúp chúng tôi có hình dung rõ ràng hơn về công việc sắp tới, để nhập cuộc nhanh hơn khi vào chiến trường,” ông Sỹ Thủy kể.

Các học viên GP10 được các cây bút kỳ cựu, dày dặn kinh nghiệm của giới báo chí cách mạng khi đó trực tiếp truyền dạy kiến thức, kỹ năng làm báo.

Trong khoảng sáu tháng tham gia khóa đào tạo nghiệp vụ phóng viên chiến trường của Việt Nam Thông tấn xã, sinh viên Sỹ Thủy năm ấy cùng nhiều người bạn vẫn hoàn thành luận văn tốt nghiệp đại học. Ông bảo: “Trước khi vào chiến trường, chúng tôi đều là những cử nhân. Thời điểm ấy, chúng tôi đều tự dặn lòng, cả dân tộc đang dồn lực cho cuộc kháng chiến, mỗi người đều nỗ lực gấp hai, ba lần, thậm chí nhiều hơn nữa. Vì thế, không có lý do gì để những thanh niên như chúng tôi đứng ngoài ‘guồng quay’ ấy.”

Từ suy nghĩ đó, ban ngày, các học viên GP10 tham gia lớp học nghiệp vụ báo chí. Vào buổi tối và những ngày nghỉ, họ lại trở về với giáo trình đại học, đến các cơ sở thực tế thu thập tư liệu, hoàn thành luận văn tốt nghiệp. “Khát vọng cống hiến, trở về xây dựng quê hương, được làm công việc đúng với chuyên ngành đào tạo sau khi đất nước yên tiếng súng là động lực để tôi vượt qua những mệt mỏi, thiếu thốn của giai đoạn ấy,” ông Thủy chia sẻ.

Ký ức ùa về như thước phim quay chậm mở ra trước mắt người phóng viên chiến trường năm xưa khung cảnh Thủ đô những ngày “rực lửa.” Lặng đi chừng vài phút, ông bảo, giai đoạn cuối năm 1972, từ nơi sơ tán hướng về Hà Nội trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” với tiếng còi hú liên tục, cảnh pháo phòng không sáng rực trời, tiếng máy bay gầm rít, các học viên GP10 đều cảm thấy “lòng nóng như lửa đốt,” muốn khóa học kết thúc thật nhanh để lên đường ra trận, góp sức vào cuộc chiến chung.

Chặng dừng chân của đoàn phóng viên GP10 của Việt Nam Thông tấn xã trên đường vào Chiến dịch Hồ Chí Minh để chi viện cho Thông tấn xã Giải phóng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chặng dừng chân của đoàn phóng viên GP10 của Việt Nam Thông tấn xã trên đường vào Chiến dịch Hồ Chí Minh để chi viện cho Thông tấn xã Giải phóng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đim ta nơi hu phương

Tết Nguyên đán Quý Sửu 1973, các học viên GP10 được trở về quê nhà đón năm mới cùng gia đình. Với họ, đó là cái Tết không thể quên.

Chính chàng sinh viên Nguyễn Sỹ Thủy năm ấy cũng không đoán định trước rằng đám cưới của mình lại diễn ra ngay trong Tết.“Gia đình hiểu rằng, sau lần hội ngộ này, chưa biết đến khi nào tôi mới lại trở về. Bởi vậy, cha mẹ động viên tôi tổ chức đám cưới luôn để tôi có thêm điểm tựa tinh thần nơi hậu phương, ông bà sớm có cháu bồng bế,” nhà báo Nguyễn Sỹ Thủy nhớ lại.

Cựu học viên GP10 gọi quãng thời gian tham gia chương trình huấn luyện ở Hòa Bình là những ngày ở “thiên đường.”

Vậy là, một đám cưới giản dị nhưng ấm cúng diễn ra ngay trong ngày mùng Hai Tết Quý Sửu 1973 với trầu cau, hoa trái vườn nhà và chiếc phông đỏ dán hình đôi chim câu đấu mỏ vào nhau. Đám cưới giữa thời chiến, đại diện chính quyền xã đến chúc mừng và “quán triệt” tinh thần: “Vui duyên mới, không quên nhiệm vụ.”

Phóng viên ảnh của Thông tấn xã Giải phóng đang trao đổi công việc. (Ảnh: TTXVN)
Phóng viên ảnh của Thông tấn xã Giải phóng đang trao đổi công việc. (Ảnh: TTXVN)

Ba ngày sau đám cưới, nhà báo Nguyễn Sỹ Thủy từ biệt gia đình ở Thái Bình. Các học viên GP10 hội ngộ tại ga Hàng Cỏ để lên đường tới T105-ngôi trường của Ban Thống nhất Trung ương đặt bí mật tại Hòa Bình, để rèn luyện sức khỏe, kỹ năng thực địa.

“Hệ thống loa phóng thanh ở ga liên tục phát nội dung Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trong số thanh niên GP10 năm ấy, có những bạn trầm ngâm, chăm chú lắng nghe, có nhóm bạn hồ hởi chia sẻ với nhau kỷ niệm về quê ăn Tết. Một trong những câu chuyện khiến chúng tôi xúc động nhất chính là câu chuyện đám cưới của anh Sỹ Thủy, mừng vì gia đình anh đã có một cái Tết đủ đầy, ấm cúng hơn,” bà Cao Tân Hòa, cựu học viên GP10 chia sẻ.

Sau hồi còi vang vọng, gần 150 học viên GP10 nô nức bước lên tàu. Nhớ lại quãng thời gian tham gia chương trình huấn luyện ở Hòa Bình, bà Hòa gọi đó là những ngày ở “thiên đường.” Bởi lẽ, trong hơn một tháng ấy, bên cạnh việc rèn luyện (đeo gạch hành quân bộ, leo núi, băng rừng…), các học viên GP10 được “tẩm bổ” chu đáo.

“Mỗi lần đến giờ ăn, chúng tôi lại òa lên vì bất ngờ, vỗ tay sung sướng. Sinh viên nghèo vốn chỉ quen với cơm độn bột mỳ, canh ‘không người lái,’ bánh nắp hầm khô khốc (một loại bánh làm từ bột mỳ, sau khi nhào bột, dàn đều lên nắp nồi gang dày rồi đặt lên bếp than hoặc bếp củi để nướng)… Vậy mà nay, chúng tôi được ăn cơm trắng, mỗi bữa đều có khoảng ba món ăn mặn. Thực đơn thay đổi thường xuyên. Đã thế, cán bộ còn liên tục động viên: ‘Nhà báo ăn nhiều vào, ăn thêm nữa đi để lấy sức ra chiến trường, tiến về giải phóng miền Nam.’ Còn gì vui thích hơn!” bà Hòa nhớ lại.

Tổ điện báo Thông tấn xã Giải phóng điện tin từ mặt trận về căn cứ. (Ảnh: TTXVN)
Tổ điện báo Thông tấn xã Giải phóng điện tin từ mặt trận về căn cứ. (Ảnh: TTXVN)

Chuyến xe đnh mnh

Sau khi kết thúc khóa học, các học viên GP10 được chia thành ba khối, vượt Trường Sơn tiến về ba hướng: B1-chiến trường Bình Trị Thiên; B2-chiến trường Nam Bộ và B3-chiến trường Trung Trung Bộ.

Chiều 16/3/1973, sân ga Thường Tín có cả nụ cười và nước mắt. “Nhiều người thân, bạn bè ra tiễn chúng tôi lên đường. Thời thanh niên sôi nổi là vậy nhưng chúng tôi vẫn ngập ngừng, e ngại, chẳng dám ôm ghì lấy nhau giữa chốn đông người. Cuộc chia ly chỉ có những cái nắm tay siết chặt, những giọt nước mắt giấu trong chiếc khăn tay và những ánh mắt bịn rịn,” bà Hòa kể.

Bước lên tàu, các học viên GP10 để lại phía sau tất cả quần áo, tư trang cá nhân, thẻ đoàn viên, thư từ của một thời hoa mộng. 

Bước lên tàu, các học viên GP10 để lại phía sau tất cả quần áo, tư trang cá nhân, thẻ đoàn viên, thư từ của một thời hoa mộng. Họ mang theo võng tăng, khoác lên người chiếc balô con cóc, mũ tai bèo…

Đến điểm trung chuyển ở Thanh Hóa, những chiếc xe Zil mui trần tiếp tục chở những nhà báo trẻ đầy nhiệt huyết vượt Trường Sơn. Đến đầu tháng 4/1973, đoàn GP10 đã cách Hà Nội khoảng 1.000km, phần lớn đi đường rừng.

Những bức ảnh quý giá thời mới vào chiến trường miền Nam của nhà báo Triệu Thị Thùy - cựu học viên GP10 của Việt Nam Thông tấn xã. (Ảnh: TTXVN)
Những bức ảnh quý giá thời mới vào chiến trường miền Nam của nhà báo Triệu Thị Thùy – cựu học viên GP10 của Việt Nam Thông tấn xã. (Ảnh: TTXVN)

“Ban đầu, chúng tôi còn hào hứng chia nhau đếm xem mình đã đi qua bao nhiêu ngọn núi cao, con suối sâu, đoạn cua gấp; nhưng rồi, nhiều quá, không thể đếm xuể. Nhiều lúc, chúng tôi không dám nhìn sang hai bên bởi một bên là núi cao cheo leo, một bên là vực sâu thăm thẳm, chỉ thấy thấp thoáng những ngọn cây. Tây Nguyên nắng rát, khiến anh em đều thấm mệt, nhiều người ôm balô ngủ gật. Thỉnh thoảng, chúng tôi bị đánh thức bởi hiệu lệnh (‘cúi xuống’ hay ‘nghiêng đầu sang trái,’ ‘ghé đầu sang phải’) của chiến sỹ lái xe để tránh những cành cây hai bên đường,” ông Hoàng Đình Chiến, cựu học viên GP10, kể lại.

Sự cố bất ngờ xảy ra sau hơn nửa tháng rời Hà Nội. Một chiếc xe khác chở đoàn phóng viên B2 gặp nạn. Ông Hoàng Đình Chiến nghẹn ngào nói: “Đó là một ngày đau buồn, khắc sâu trong tim chúng tôi nỗi đau chia lìa vĩnh viễn. Chúng tôi vẫn biết ra trận là hy sinh, mất mát. Thế nhưng, khi ấy, chúng tôi vẫn là những thanh niên trẻ trung, tràn đầy sức sống. Lần đầu tiên chứng kiến đồng nghiệp, đồng chí vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu, chúng tôi không khỏi bàng hoàng.”

Lúc đó là khoảng 10 giờ ngày 2/4/1973. Xe chở nhóm phóng viên B2 bị đổ ở gần thị xã Mường Mày (tỉnh Attapeu, Lào). Hai phóng viên Phạm Thị Kim Oanh và Trần Viết Thuyên cùng ông Lâm Văn Bang (cán bộ miền Nam tập kết) đã vĩnh viễn ra đi. Nhiều người bị thương nặng, phải chuyển ra Bắc và trở thành những thương binh: Nguyễn Văn Huê, Nguyễn Thu Hương, Đoàn Văn Đức…

Những phóng viên trẻ đã không thể vào tới chiến trường như ước vọng ngày lên đường. Khi chứng kiến các bạn ra đi, tim người may mắn sống sót như thắt lại. Ông Hoàng Đình Chiến và những đồng nghiệp GP10 năm ấy tự hứa với lòng mình rằng sẽ phải cố gắng hơn, làm nhiều hơn để thay các bạn hoàn thành nhiệm vụ.

Thế hệ phóng viên GP10 đã góp phần quan trọng để giữ cho dòng tin không bị gián đoạn giữa chiến trường khốc liệt.

Từ biệt những người bị thương nặng phải ở lại điều trị, nhóm phóng viên GP10 tiếp tục lên đường. “Chúng tôi lội bộ xuyên rừng qua những cung đường mòn Trường Sơn. Trước khi vượt sông Sekon, chúng tôi lấy nhật ký ra đọc lại rồi thả tất cả trôi theo dòng nước siết. Tuổi đôi mươi là vậy! Chúng tôi muốn để lại phía sau tất cả những ưu tư, lo lắng, bi thương để nhập cuộc,” nhà báo Hoàng Đình Chiến nói.

Với tâm thế ấy, thế hệ phóng viên GP10 đã góp phần quan trọng để giữ cho dòng tin không bị gián đoạn giữa chiến trường khốc liệt./.

Điện báo viên B8 đang thu phát tin. Ảnh: TTXVN
Điện báo viên B8 đang thu phát tin. Ảnh: TTXVN

Trước yêu cầu của cách mạng, bên cạnh nhiệm vụ thông tin nhanh, đúng định hướng, góp phần quan trọng vào việc cổ vũ tinh thần quân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thế hệ người làm báo Thông tấn xã Việt Nam khi ấy còn trực tiếp cầm súng chiến đấu như những chiến sỹ kiên cường, sẵn sàng hy sinh để bảo toàn căn cứ.

Ni nim n nhà báo nơi rng sâu

“Những phóng viên nữ được tuyển chọn về Việt Nam Thông tấn xã khi ấy cũng không hề bị bắt buộc ra mặt trận. Thế nhưng, khi cả dân tộc đang ‘căng mình’ chi viện cho miền Nam, chúng tôi không thể ngồi yên! Nhiều câu chuyện về những cô gái bị sốt rét rừng hành hạ, vết thương chi chít trên cơ thể, mái tóc óng ả của thiếu nữ trở nên xác xơ… không thể ngăn cản chúng tôi viết đơn tình nguyện đi B,” nữ nhà báo Minh Huệ, nguyên phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ chia sẻ.

Đường Trường Sơn, “tuyến lửa” huyền thoại thử thách ý chí và bản lĩnh con người, đặt phóng viên chiến trường vào những hoàn cảnh khắc nghiệt.

Đường Trường Sơn là tuyến đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam. (Ảnh: TTXVN)
Đường Trường Sơn là tuyến đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam. (Ảnh: TTXVN)

Nhà báo Cao Tân Hòa, cựu học viên GP10 nhớ lại, khoảng hơn 10 ngày từ khi rời Hà Nội (16/3/1973), chiếc xe chở nhóm phóng viên B3 vào chi viện cho Thông tấn xã Giải phóng gặp nạn trên đường Hồ Chí Minh. Nữ phóng viên Cao Tân Hòa bị thương nặng, phải ở lại điều trị tại một binh trạm thuộc Bộ Tư lệnh 559 trong gần một tháng. Bác sỹ quân y kết luận bà bị chấn thương sọ não, cần chuyển về tuyến sau điều trị.

“Nghe xong, tôi thấy mọi thứ chao đảo trước mắt mình. Không lẽ, vào đến đây rồi, tôi lại phải quay về? Cuộc hành trình mới của tôi mới bắt đầu không lâu và tôi không muốn phải dừng lại! Khát vọng lên đường thôi thúc tôi thuyết phục các bác sỹ cho phép tiếp tục điều trị tại binh trạm, để sau khi hồi phục, tôi có thể thuận tiện lên đường làm nhiệm vụ. Lúc ấy, tôi thiết nghĩ, nếu trí óc bị ảnh hưởng, không thể làm phóng viên lấy tin, viết bài, tôi vẫn có thể góp sức vào cuộc chiến chung bằng những công việc khác như phục vụ hậu cần, chăm sóc thương binh,” bà Hòa kể lại.

Đường Trường Sơn, “tuyến lửa” huyền thoại thử thách ý chí và bản lĩnh con người, đặt phóng viên chiến trường vào những hoàn cảnh khắc nghiệt.

Với chiếc balô, mũ tai bèo và gậy Trường Sơn, các nữ phóng viên chiến trường đã lội suối, băng rừng. Dưới đại ngàn Tây Nguyên, những cô gái tuổi đôi mươi đã đi đến tận cùng những cung bậc cảm xúc: Yêu thương, sẻ chia, căm thù, ám ảnh, mất mát, sợ hãi…

“Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây/ Bên nắng đốt, bên mưa quây…” Bà Hòa vừa lẩm nhẩm câu hát vừa bảo, nếu chưa trải nghiệm thực tế, sẽ rất khó để hình dung được sự khắc nghiệt của thời tiết. “Khi vừa trải qua những ngày hành quân mệt nhoài dưới cái nắng như đổ lửa cuối mùa khô ở Đông Trường Sơn, chúng tôi lại dầm mình giữa những cơn mưa tầm tã của Tây Trường Sơn. Ghẻ lở, sốt rét, bệnh phụ khoa… đã trở thành điều bình thường trên đường hành quân vào vùng chiến sự,” người phụ nữ từng trải qua một thời đạn bom nhớ lại.

Miên man trong câu chuyện, bà bảo, chỉ phụ nữ mới thấu hiểu nỗi vất vả khi “đến tháng” mà phải ở vào hoàn cảnh thiếu nước. Sau những chặng hành quân, việc được dừng chân ở gần bờ suối là điều lý tưởng. Còn nếu dừng lại ở lưng chừng đèo hay vách núi thì ôi thôi… là khổ! Chị em chỉ còn cách cuốn vải xô lại, mang theo đến nơi có nguồn nước thì lấy ra giặt.

Phóng viên Thông tấn xã Giải phóng và Việt Nam Thông tấn xã tham gia đưa tin trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: TTXVN)
Phóng viên Thông tấn xã Giải phóng và Việt Nam Thông tấn xã tham gia đưa tin trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Tay súng-tay bút, tay súng-tay máy

“Vào miền Nam, chúng tôi không chỉ là nhà báo viết tin, chụp ảnh, chi viện cho Thông tấn xã Giải phóng mà còn trực tiếp cầm súng chiến đấu, bảo vệ căn cứ, tham gia tải gạo, làm rẫy, tăng gia sản xuất…,” nhà báo Vương Nghĩa Đàn, cựu học viên khóa GP10 nhớ lại.

Phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng có mặt trong tất cả các chiến dịch lớn, ở những địa bàn bị đánh phá ác liệt nhất, luồn sâu vào vùng địch, trong ấp chiến lược.

Nhà báo Hứa Kiểm-một trong những tay máy nòng cốt của tổ ảnh quân sự đã kiên cường bám trụ ở “tuyến lửa” Vĩnh Linh, “cung đường lửa”-Đường 20 Quyết thắng…

Ngược dòng thời gian, cựu phóng viên chiến trường Hứa Kiểm kể, vào đầu năm 1966, một tuyến đường mới dài hơn 120km (Đường 20) được mở, bắt đầu từ thôn Phong Nha (Bố Trạch, Quảng Bình), vắt ngang dãy Trường Sơn, gặp Đường 128 tại ngã ba Lùm Bùm (Khăm Muộn, Lào). Đây là con đường huyết mạch nối Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn, đầu mối quan trọng trong chiến lược vận tải của đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử, chi viện cho chiến trường miền Nam.

Phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng có mặt trong tất cả các chiến dịch lớn, ở những địa bàn bị đánh phá ác liệt nhất, luồn sâu vào vùng địch, trong ấp chiến lược.

Bởi vậy, đến trước thời điểm Hiệp định Paris được ký kết, Đường 20, đặc biệt là cụm trọng điểm liên hoàn ATP (gồm cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích) trở thành mục tiêu đánh phá tàn khốc của đế quốc Mỹ.

Theo lời kể của ông, trong giai đoạn nửa cuối năm 1966, có ngày, địch cho máy bay B52 quần thảo khu vực này tới 18 lần. Sự tàn phá của địch khiến nơi đây hoang tàn như vùng đất chết: Cây cối cháy rụi, rừng già biến thành đồi trọc, vùng đất đỏ biến thành ao bùn lầy…

“Vượt lầy” góp phần quan trọng làm nên ý nghĩa của bộ ảnh “Đường 20 Quyết ThắngThắng.” Với bộ ảnh này, cựu phóng viên chiến trường Hứa Kiểm đã được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. (Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN)
“Vượt lầy” góp phần quan trọng làm nên ý nghĩa của bộ ảnh “Đường 20 Quyết ThắngThắng.” Với bộ ảnh này, cựu phóng viên chiến trường Hứa Kiểm đã được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. (Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN)

Để có được những bức ảnh ghi lại cảnh những đoàn xe, chiến sỹ vượt qua những đoạn đường lầy, nhà báo Hứa Kiểm cũng phải lội bùn hàng giờ. Những lớp bùn nhầy nhụa, bết dính khiến cho công việc càng trở nên khó khăn. Ông càng cố giơ máy lên cao thì lại càng bị kéo lún xuống, lúc cúi thấp để chụp thì lại sợ bùn bắn lên làm hỏng máy. “Giữa chiến tranh, phương tiện kỹ thuật hạn chế, một chiếc máy ảnh quý giá lắm,” ông Kiểm nói.

Trong thời chiến, việc thu thập thông tin, chụp được những bức ảnh đã khó, việc phát tin, in ảnh, gửi về tổng xã còn khó khăn gấp nhiều lần.

Nhà báo Hứa Kiểm nhớ lại, giữa rừng sâu, khi tráng phim, in ảnh, phóng viên phải chui vào màn để tránh không bị muỗi, côn trùng bám vào làm hỏng phim. Ở nhiều nơi, anh em còn phải tự đào giếng để lấy nước sinh hoạt, làm ảnh.

Ngoài ra, do không có phòng tối, những chiến sỹ trên mặt trận thông tin phải đợi khi màn đêm buông xuống mới có thể mang phim ra tráng. “Không ít lần, khi tôi đang in, tráng ảnh thì máy bay địch quần thảo trên đầu. Tôi được lệnh vào hầm trú ẩn. Lúc trở lại, tất cả số phim đã tan tành theo đạn bom. Ngoài ra, trong hang, độ ẩm không khí cao nên phim cũng bị hỏng nhiều. Phóng viên và kỹ thuật viên phải dùng máy quay tay phát điện để gửi về tổng xã, có khi cặm cụi cả buổi cũng chỉ gửi được một tấm ảnh,” ông Kiểm nhớ lại một thời gian khó.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, khoảng 240 cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên của Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng đã ngã xuống trên khắp các mặt trận từ Quảng Trị đến Cà Mau.

Bộ phận điện vụ của Thông tấn xã Giải phóng hoạt động trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN)
Bộ phận điện vụ của Thông tấn xã Giải phóng hoạt động trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN)

Ông Vũ Tiến Cường, nguyên phóng viên Thông tấn xã Giải phóng cho biết sau những trận càn của địch, có những phân xã đã hy sinh toàn bộ, điển hình như phân xã Nam Tây Nguyên có năm phóng viên, kỹ thuật viên đều hy sinh trong năm 1969. Ngoài ra, có nhiều căn cứ (phân xã Kiên Giang, phân xã Long An…) liên tục bị địch càn quét nhằm ngăn cản việc cung cấp thông tin về tình hình chiến sự cho Trung ương Cục miền Nam và các cơ quan báo chí trong, ngoài nước.

Việt Nam Thông tấn xã luôn coi việc chi viện cho miền Nam, cho Thông tấn xã Giải phóng là nhiệm vụ thiêng liêng. Trong khoảng thời gian từ năm 1959-1975, Việt Nam Thông tấn xã đã cử gần 450 phóng viên, kỹ thuật viên vào chiến trường miền Nam, chưa kể những đoàn phóng viên đi các chiến dịch.

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, khoảng 240 cán bộ, phóng viên, kỹ thuật viên của Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng đã ngã xuống trên khắp các mặt trận từ Quảng Trị đến Cà Mau.

Bên cạnh đó, Việt Nam Thông tấn xã còn tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, máy móc cho Thông tấn xã Giải phóng. Để chuẩn bị sẵn sàng cho những chuyển biến mới ở miền Nam, tháng 3/1973, một đoàn xe chở lượng lớn trang thiết bị kỹ thuật (bao gồm máy phát sóng 500W, máy truyền ảnh, máy truyền chữ…) đã khởi hành từ Hà Nội theo đường giao liên vượt Trường Sơn vào căn cứ của Thông tấn xã Giải phóng. Nhờ đó, khả năng cung cấp thông tin, uy tín, vị thế của Thông tấn xã Giải phóng được nâng lên.

Trong buổi làm việc với Việt Nam Thông tấn xã (ngày 26/3/1974), bà Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã biểu dương sự chi viện, giúp đỡ của Việt Nam Thông tấn xã đối với Thông tấn xã Giải phóng để đơn vị này ngày càng phát triển, góp phần thông tin, tuyên truyền cho nhân dân trong nước và dư luận quốc tế hiểu được tính chính nghĩa trong cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam. Việc tiếp sức này càng có ý nghĩa to lớn khi đặt trong hoàn cảnh Việt Nam Thông tấn xã vừa phải xây dựng, bảo đảm thông tin vừa phải chiến đấu để bảo toàn, giữ vững lực lượng lượng, cơ sở vật chất kỹ thuật để tin, ảnh của hai cơ quan thông tấn không bị gián đoạn./.

Tiến về Sài Gòn – Những bản tin, hình ảnh mang tính sử liệu

Bước sang năm 1975, toàn ngành dồn sức chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cùng với các phóng viên, kỹ thuật viên đang có mặt ở miền Nam, Việt Nam Thông tấn xã tiếp tục cử thêm nhiều cán bộ chi viện cho miền Nam, sẵn sàng ghi lại những khoảnh khắc lịch sử.

Dù nhân vật, sự kiện, bối cảnh nào xuất hiện trong những bản tin, khuôn hình của phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng gửi về từ tuyến lửa thì ẩn sau đó vẫn là khát vọng hòa bình, hòa hợp dân tộc và thống nhất đất nước.

Thn tc tiến v Sài Gòn

Từ giữa tháng 3/1975, trước tình hình chiến sự dồn dập, các tổ phóng viên cơ động của Việt Nam Thông tấn xã liên tục được huy động vào mặt trận.

Bám sát các binh đoàn chủ lực, những người làm báo Thông tấn xã Việt Nam khi ấy đã có mặt ở các thành phố, thị xã mới được giải phóng suốt từ Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Định, Phước Long…

Các phóng viên Trần Mai Hưởng, Ngọc Đản và Hoàng Thiểm đang qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng giải phóng, ngày 29/3/1975. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)
Các phóng viên Trần Mai Hưởng, Ngọc Đản và Hoàng Thiểm đang qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng giải phóng, ngày 29/3/1975. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)

Đặc biệt, ngày 2/4/1975, một đoàn công tác đặc biệt do nhà báo Đào Tùng, Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã, dẫn đầu đã xuất phát, tiến vào chiến trường để phối hợp với Thông tấn xã Giải phóng đưa tin, ảnh về chiến thắng của quân dân ta. Ngày 9/4/1975, đoàn tới căn cứ của Thông tấn xã Giải phóng ở Tây Ninh.

“Chỉ cần nghe thấy bốn chữ ‘Giải phóng Sài Gòn,’ chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh để băng rừng, vượt suối. Số phận, nghề nghiệp đã cho tôi may mắn được có mặt chứng kiến những bước ngoặt quan trọng, thời khắc thiêng liêng của lịch sử dân tộc giữa lòng Sài Gòn 45 năm trước,” nghệ sỹ nhiếp ảnh Đinh Quang Thành, nguyên phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh hồi tưởng.

Nhờ đó, những phóng viên chiến trường đã có những bản tin, bài viết, bức ảnh mang tính sử liệu, gắn với những bước ngoặt lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc.

Nhà báo Thanh Bền - cựu phóng viên Thông tấn xã Giải phóng. (Ảnh: TTXVN)
Nhà báo Thanh Bền – cựu phóng viên Thông tấn xã Giải phóng. (Ảnh: TTXVN)

Ngược dòng thời gian, nhà báo Nguyễn Thanh Bền, nguyên phóng viên Thông tấn xã Giải phóng nhớ lại: “Đầu tháng 4/1975, tình hình trở nên gấp rút. Sáng ngày 6/4 năm ấy, nhà báo Trần Thanh Xuân, Giám đốc Thông tấn xã Giải phóng đã triệu tập tôi cùng bốn thành viên khác để thành lập tổ Thông tấn xã Giải phóng đầu tiên xuống đường phố Sài Gòn thu thập thông tin, ghi nhận, phản ánh tình hình, cổ vũ tinh thần đấu tranh của quân dân ta. Lúc đó, tim tôi như nghẹn lại vì sung sướng. Tôi hiểu rằng, ngày toàn thắng đã rất gần.”

Nhà báo Thanh Bền cho biết, trong cuộc tiến công và nổi dậy thần tốc của quan ta, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng luôn sát cánh bên nhau trong từng mũi tiến công; cùng có mặt tại các trận đánh và trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn.

“Hành quân tới đâu, phóng viên tin tranh thủ tốc ký, ghi nhận tình hình, phóng viên ảnh tranh thủ thu vào ống kính từng khoảnh khắc quý giá bởi thời gian, sự kiện… là những thứ ‘một đi không trở lại.’ Trong khi đó, các điện báo viên lại căng ăngten, mở đài, kết nối với tổng xã để truyền tin, ảnh cập nhật tình hình,” nhà báo Thanh Bền kể.

Từ căn cứ Tây Ninh, do xe ôtô bị hư hỏng nặng, nhà báo Đào Tùng, Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã trực tiếp cử phóng viên tin Trần Mai Hạnh và phóng viên ảnh Văn Bảo dùng xe máy tiến về Sài Gòn với yêu cầu bằng mọi giá phải đến được Dinh Độc Lập để có ảnh và bài tường thuật về giờ phút toàn thắng.

Phóng viên chiến trường đã có những bản tin, bài viết, bức ảnh mang tính sử liệu, gắn với những bước ngoặt lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc.

Trên đường đi, chiếc xe máy bị thủng lốp. Không còn cách nào khác, hai phóng viên chia nhau người dắt, người đẩy xe, theo dấu lốp ôtô trên đường để đuổi theo đoàn quân phía trước, tiến về Sài Gòn.

“Dọc theo cuộc chiến, chúng tôi đã vượt qua bao bom đạn, hiểm nguy rình rập, từng hành quân bộ dài ngày, đẩy xe cả chục km để giúp lái xe vượt qua những trảng cây ngút ngàn giữa rừng già. Lần này, chúng tôi đã vượt cả nghìn km từ Hà Nội vào đây, không thể để lỡ giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn. Đó là động lực để tôi và anh Văn Bảo mải miết băng rừng, đuổi theo đoàn quân phía trước,” nhà báo Trần Mai Hạnh kể.

Thời điểm hai phóng viên chiến trường của Việt Nam Thông tấn xã tới được cửa ngõ Sài Gòn là 12 giờ đêm 29/4/1975.

Nhà báo Đào Tùng, Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã (giữa) tiễn hai nhà báo Trần Mai Hạnh (bên phải) và Văn Bảo tại cửa rừng Tây Ninh sáng sớm 29/4/1975 lên đường tiến về Sài Gòn. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
Nhà báo Đào Tùng, Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã (giữa) tiễn hai nhà báo Trần Mai Hạnh (bên phải) và Văn Bảo tại cửa rừng Tây Ninh sáng sớm 29/4/1975 lên đường tiến về Sài Gòn. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)

Nhng bc nh, bn tin lch s

Đêm cuối cùng của chiến tranh, không gian ầm vang âm thanh của nhiều loại vũ khí. Tiếng súng liên thanh rộ lên phía Trảng Bàng-Tây Ninh, tiếng trọng pháo gầm thét, chớp lửa rực sáng bầu trời phía Đông Nam. “Có lẽ, đêm ấy, nhiều người đã không thể chợp mắt bởi cảm giác hồi hộp, xúc động, mừng vui, háo hức xen lẫn lo lắng bao phủ tâm trí,” nhà báo Thanh Bền trải lòng.

Sáng 30/4/1975, tổ mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã (gồm các phóng viên Vũ Tạo, Đinh Quang Thành, Hứa Kiểm, Trần Mai Hưởng, Ngọc Đản, Hoàng Thiểm, lái xe Ngô Bình, điện báo viên Lê Thái) đã bám sát Quân đoàn 2 tiến vào dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.

Cùng với mũi thọc sâu của Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe tăng 203, tổ mũi nhọn của Thông tấn xã Việt Nam là những người có mặt sớm nhất tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975.

Cùng với mũi thọc sâu của Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe tăng 203, họ là những người có mặt sớm nhất tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, thu thập được những tư liệu chân thực, ghi lại những hình ảnh mang tính lịch sử về sự kiện này, trong đó có bức ảnh “Xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập” của nhà báo Trần Mai Hưởng, được sử dụng rộng rãi như một trong những biểu tượng của ngày chiến thắng.

Ảnh chụp Bản tin Đấu tranh Thống nhất sáng 1/5/1975 đăng bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng” phát báo đêm 30/4/1975 của nhà báo Trần Mai Hạnh. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)
Ảnh chụp Bản tin Đấu tranh Thống nhất sáng 1/5/1975 đăng bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng” phát báo đêm 30/4/1975 của nhà báo Trần Mai Hạnh. (Ảnh: Nhà báo Trần Mai Hạnh cung cấp)

Thực hiện nhiệm vụ do nhà báo Đào Tùng (Tổng Biên tập Việt Nam Thông tấn xã) giao phó, trưa 30/4/1975, hai phóng viên Trần Mai Hạnh, Văn Bảo cũng đã có mặt tại Dinh Độc Lập. “Khi vừa tới nơi, ngay lập tức, tôi tìm hiểu các dữ kiện: chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc lập lúc mấy giờ? Chiến sỹ cắm cờ quân giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập tên là gì? Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng như thế nào?… Sau đó, tôi ra bến cảng Sài Gòn để viết bài tường thuật về sự kiện trọng đại,” nhà báo Trần Mai Hạnh nhớ lại.

Bài tường thuật có nhan đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ sao vàng” của phóng viên Trần Mai Hạnh được đăng trên Bản tin Đấu tranh thống nhất của Việt Nam Thông tấn xã phát đêm 30/4/1975, được đọc trong bản tin thời sự đặc biệt của Đài Tiếng nói Việt Nam trưa 1/5/1975. Sau đó, nhan đề bài tường thuật được đổi thành “Tiến vào Phủ Tổng thống ngụy” và đăng trang trọng trên Báo Nhân Dân số đặc biệt ra ngày 2/5/1975 chào mừng đất nước thống nhất.

Thời gian đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng ký ức về buổi sáng lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên trong tâm trí cựu phóng viên chiến trường Hứa Kiểm. Ông kể, từ các ngõ phố, người dân tay cầm cờ đỏ sao vàng, cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, giơ cao ảnh Bác Hồ ùa ra. Trên khắp các ngả đường, người cười, người khóc, nghẹn ngào xúc động, cùng nhau hô vang: “Hòa bình rồi! Thống nhất rồi! Hết chiến tranh rồi!”

Ông bảo, dù không ghi lại được khoảnh khắc xe tăng của quân ta tiến vào Dinh Độc Lập nhưng ông đã kịp chụp lại hình ảnh người dân nô nức đón chào quân giải phóng. Với ông, đó là bức ảnh kết thúc chiến tranh.

Vào lúc 12 giờ ngày 30/4/1975, đoàn cán bộ Thông tấn xã Giải phóng do Giám đốc Trần Thanh Xuân dẫn đầu cũng đã có mặt tại Sài Gòn để tiếp quản Việt Tấn xã – cơ quan thông tấn của nguỵ quyền Sài Gòn.

Phóng viên TTXVN Trần Mai Hưởng có mặt kịp thời và chụp được hình ảnh xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Phóng viên TTXVN Trần Mai Hưởng có mặt kịp thời và chụp được hình ảnh xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

Nt lng trong bn hòa ca

Theo lời kể của nhà báo Trần Mai Hưởng, ngay sau khi ghi lại những hình ảnh lịch sử tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975, ông cùng phóng viên Vũ Tạo mượn chiếc xe máy của Đại tá Hoàng Đan, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, để đi tới những địa điểm khác trong thành phố nhằm ghi lại khung cảnh Sài Gòn ngày giải phóng.

Dấu vết của một cuộc tháo chạy tán loạn hiện rõ qua khung cảnh tan hoang, giấy tờ bừa bộn, xe cộ ngổn ngang ở Đại sứ quán Mỹ, nha cảnh sát, Phủ Thủ tướng nguỵ quyền Sài Gòn… Trong khi đó, ở khu vực đường Nguyễn Huệ, chợ Bến Thành, nhiều bà mẹ đã không cầm được nước mắt, ôm những đứa con thơ, khóc nức nở.

Trong ngày đại thắng, bên cạnh niềm hạnh phúc vỡ, có những phóng viên đã nén nỗi lo, nước mắt sợ hãi vào trong để hoàn thành công việc.

Ngay trong đêm 30/4/1975, phần lớn phóng viên của Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng tham gia các cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn đã hội ngộ trong niềm hân hoan.

Để dòng thông tin không bị gián đoạn, họ lại lập tức bắt tay vào công việc, viết bài tường thuật về việc giải phóng, tiếp quản các cơ sở. Thông tin từ các cánh quân, phân xã, phân khu dồn dập chuyển về căn cứ ở Tây Ninh. Tại đây, Tổng biên tập Đào Tùng đã huy động toàn bộ lực lượng phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên tham gia vào việc xử lý thông tin để chuyển về Hà Nội.

Trong ngày đại thắng, bên cạnh niềm hạnh phúc vỡ, có những phóng viên đã nén nỗi lo, nước mắt sợ hãi vào trong để hoàn thành công việc. Tại căn cứ của Thông tấn xã Giải phóng ở Tây Ninh, nhà báo Vương Nghĩa Đàn thấp thỏm lo âu. Đến 30/4/1975, khi miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, người bạn đời của bà (nhà báo Vũ Long Sơn) theo một đơn vị đặc công ra trận từ trước đó vẫn chưa trở về.

Phóng viên ảnh Vũ Tạo của TTXVN đã chụp được hình ảnh lịch sử các chiến sỹ Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang tiến vào cắm cờ trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh Vũ Tạo/TTXVN)
Phóng viên ảnh Vũ Tạo của TTXVN đã chụp được hình ảnh lịch sử các chiến sỹ Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang tiến vào cắm cờ trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh Vũ Tạo/TTXVN)

“Đó là khoảng thời gian vô cùng khó khăn. Tôi chỉ cắm cúi làm việc, né tránh mọi lời thăm hỏi, động viên. Nước mắt lúc nào cũng chỉ trực trào ra. Biết lòng tôi rối bời, dáng vẻ thất thần, các đồng nghiệp, những người xung quanh cũng tránh nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi đau đớn hình dung đến trường hợp xấu nhất và xót xa nghĩ: ‘Ngày đất nước thống nhất, bao gia đình sum họp, lẽ nào, tôi mất anh?’ Nhiều lần, tôi phải dùng lý trí để bật dậy, tự đánh, cấu vào người mình cho tỉnh, để thoát ra khỏi tâm trạng tồi tệ,” bà Đàn trải lòng.

Thế rồi, hạnh phúc đã mỉm cười với bà. Đến trung tuần tháng 5/1975, nhà báo Vũ Long Sơn trở về, mang theo rất nhiều cuộn phim đã chụp. Ông kể lại, sau ngày 30/4/1975, ông say sưa đi khắp các tỉnh Nam Bộ để ghi lại không khí hân hoan, niềm vui chiến thắng. “Đó cũng là công việc, nhiệm vụ của người lính trên mặt trận thông tin. Sau những ngày khắc khoải lo lắng, tôi thấy ấm lòng vì cả hai chúng tôi đều đã góp sức mình vào thắng lợi chung của dân tộc,” nữ phóng viên chiến trường năm xưa bồi hồi chia sẻ./.

TTXVN: Tiếp nối truyền thống, vững bước tương lai

Suốt chặng đường gần 75 năm đồng hành cùng dân tộc, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng và Nhà nước, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) không ngừng lớn mạnh, phát triển vượt bậc về cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, điều hành thông tin và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở hạ tầng.

Đội ngũ người làm báo TTXVN đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của ngành để giữ vững vai trò xung kích trên mặt trận thông tin-tư tưởng, bảo đảm thông tin thông tấn là dòng thông tin chủ lưu, liên tục và chuẩn xác, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, là nguồn thông tin phong phú và tin cậy cho các cơ quan báo chí Việt Nam và quốc tế cũng như độc giả trên khắp thế giới.

Để hiểu rõ hơn về vai trò, đóng góp của TTXVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như định hướng phát triển của TTXVN trong tương lai, VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với nhà báo Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc TTXVN.

Trong suốt 75 năm đồng hành cùng dân tộc, Việt Nam Thông tấn xã – VNTTX (nay là Thông tấn xã Việt Nam – TTXVN) đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Xin Tổng giám đốc cho biết vai trò của VNTTX và Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được thể hiện như thế nào?

Trước tiên, tôi phải khẳng định, để nói về đóng góp của VNTTX và TTXGP, sau này hợp thành TTXVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phải cần nhiều thời gian và rất nhiều trang giấy. Khuôn khổ cuộc phỏng vấn này không cho phép tôi nêu được đầy đủ và toàn diện.

Tôi chỉ có thể nói ngắn gọn về vai trò của VNTTX ở miền Bắc và của TTXGP ở miền Nam trong giai đoạn lịch sử này ở ba hoạt động đặc biệt. Đó là đưa phóng viên lên tuyến đầu, cung cấp thông tin mật phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cung cấp thông tin thời sự từ chiến trường và từ bàn đàm phán. “Cơ quan thông tin chiến lược của Đảng và Nhà nước” là đánh giá ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa mà Bộ chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng dành cho TTXVN thời kỳ đó.

Về hoạt động đưa phóng viên lên tuyến đầu, đội ngũ đông đảo những người làm báo của VNTTX và TTXGP thực sự là những nhà báo-chiến sỹ. Họ dũng cảm xông pha nơi chiến trường, chiến đấu bằng ngòi bút, máy ảnh, máy quay và bằng cả vũ khí, để dòng chảy thông tin của TTXVN không một phút ngừng nghỉ. Họ thực sự là những tấm gương về đức hy sinh, sự tận tâm với nghề, cần cù và sáng tạo. Bất chấp nguy hiểm, nhiều phóng viên tin, phóng viên ảnh và kỹ thuật viên đã lên đường ra mặt trận.

Không chỉ thực hiện công tác thông tin, nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên kỹ thuật TTXGP còn trực tiếp tham gia nhiều trận đánh cùng Quân Giải phóng. Theo thống kê chưa đầy đủ, TTXGP có hơn 240 nhà báo và kỹ thuật viên hy sinh, tương đương gần 50% tổng biên chế của TTXGP vào cuối năm 1974. Nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trong các cánh rừng, hài cốt đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Đó là tổn thất nặng nề, song cũng chính là đóng góp vô giá của TTXGP đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Theo thống kê chưa đầy đủ, TTXGP có hơn 240 nhà báo và kỹ thuật viên hy sinh, tương đương gần 50% tổng biên chế của TTXGP vào cuối năm 1974.

Thứ hai, về hoạt động cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong thời chiến: Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, TTXVN đã tận dụng tất cả các lợi thế của mình để khai thác được từ nhiều nguồn, như thông tin của phóng viên chiến trường về những động thái bất thường của bên kia chiến tuyến, thông tin của hệ thống các phóng viên thường trú TTXVN ở nước ngoài gửi về và thông tin mà đội ngũ ở Tổng xã thường xuyên theo dõi và khai thác từ đài phát thanh và các hãng thông tấn phương Tây.

Từ các báo cáo mật chứa đựng nhiều thông tin quý giá của TTXVN, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước có thêm cơ sở để dự báo và ra các quyết sách mang lại chiến thắng cho Việt Nam trên chiến trường và trên bàn đàm phán. Điều này giải thích tại sao các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Tố Hữu và nhiều đồng chí lãnh đạo khác đã từng nhiều lần đến thăm và làm việc tại các trụ sở của TTXVN.

Đồng chí Lê Văn Lương (nguyên Bí thư Khu ủy Tả Ngạn, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Thành ủy Hà Nội) đã có lần dành cả ngày ở TTXVN và đã nói với lãnh đạo TTXVN: “Nguồn tin của các anh quan trọng lắm. Bộ Chính trị coi đây là nguồn tin chiến lược, bổ sung và thẩm định các nguồn tin riêng của Trung ương, giúp Đảng hoạch định quyết sách đúng trong chiến tranh”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường đến TTXVN vào thời điểm trước các trận đánh lớn như Xuân Mậu Thân 1968, Quảng Trị 1972.

Từ các báo cáo mật chứa đựng nhiều thông tin quý giá của TTXVN, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước có thêm cơ sở để dự báo và ra các quyết sách mang lại chiến thắng cho Việt Nam trên chiến trường và trên bàn đàm phán.

Thứ ba là hoạt động cung cấp thông tin thời sự. Quan điểm của TTXVN là thông tin thời chiến phải kịp thời và có lợi cho đất nước, không được gây hoang mang cho nhân dân và chiến sĩ, đồng thời thông tin phải khách quan để thế giới thấy rõ bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong thời kỳ chiến sự ác liệt “vừa đánh, vừa đàm”, thông tin từ phóng viên chiến trường miền Nam của TTXGP và thông tin của các phóng viên VNTTX có mặt tại các sự kiện chính trị-ngoại giao lớn của đất nước, như đàm phán Hiệp định Paris, đặc biệt có giá trị.

Bên cạnh đó, VNTTX còn thực hiện hiệu quả thông tin về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc. Mặc dù số lượng cán bộ thời kỳ đó còn ít ỏi, song VNTTX không bỏ sót thông tin quan trọng nào.

Tôi có thể khẳng định, giai đoạn chiến tranh chống Mỹ cứu nước là giai đoạn hào hùng và đáng tự hào nhất của TTXVN và đây là niềm tự hào chung của tất cả các thế hệ nhà báo thông tấn.

– Trong suốt cuộc trường chinh của dân tộc, VNTTX luôn coi việc chi viện nhân lực cho miền Nam, cho TTXGP là nhiệm vụ thiêng liêng để giữ vững mạch máu thông tin. Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào, thưa ông?

Chi viện cho miền Nam, cho TTXGP ruột thịt là nhiệm vụ thiêng liêng của VNTTX.

Chúng ta cần nhắc lại giai đoạn lịch sử của năm 1959, năm mở đầu phong trào Đồng khởi của nhân dân ta ở miền Nam. Khi đó, rất cần có một cơ quan thông tin để kịp thời phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt đó. Sau một thời gian tập hợp lực lượng và chuẩn bị phương tiện, lúc 19 giờ ngày 12/10/1960, bản tin đầu tiên của TTXGP được phát đi, với tiêu đề “Giải phóng xã” và dòng chữ “Tiếng nói chính thức của những người yêu nước miền Nam Việt Nam,” thông báo với nhân dân trong nước và thế giới cuộc đồng khởi của đồng bào miền Nam phá thế kìm kẹp của địch.

Sự ra đời của TTXGP đã khai thông liên lạc miền Bắc với miền Nam trên làn sóng điện.

TTXGP trở thành cơ quan phát ngôn chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, thực hiện nhiệm vụ thông tin và phổ biến kinh nghiệm đấu tranh của đồng bào, phản ánh khí thế ngày càng lớn mạnh của phong trào cách mạng ở miền Nam và sau này là sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn.

Sự ra đời của TTXGP đã khai thông liên lạc miền Bắc với miền Nam trên làn sóng điện. Kể từ ngày lịch sử đó, bản tin của TTXGP phát ra Hà Nội đều đặn vào 18 giờ hàng ngày. Cũng từ ngày đó, trên các báo ở miền Bắc và thế giới có nguồn tin TTXGP. Qua VNTTX ở Hà Nội, bản tin TTXGP được đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng ở miền Bắc, được phát đi thế giới với tên viết tắt là “LPA.”

Cũng từ sau ngày 12/10/1960, các đợt chi viện nhân lực và thiết bị cho TTXGP liên tiếp được VNTTX tổ chức thực hiện. Đặc biệt, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ và leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, VNTTX bước vào cuộc chiến đấu mới, một mặt vừa tổ chức lực lượng, chuẩn bị cơ sở dự phòng, tăng cường trang thiết bị, vừa tiếp tục chi viện cho TTXGP ruột thịt, vừa mở rộng thông tin đối nội và đối ngoại. Lực lượng lãnh đạo và hàng trăm phóng viên tin, ảnh, kỹ thuật viên nối tiếp nhau vào mặt trận đã đảm bảo cho TTXGP không bỏ sót thông tin về mặt trận nào.

Cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho TTXGP, VNTTX còn đào tạo phóng viên, kỹ thuật viên, cử cán bộ lãnh đạo tham gia chiến trường. Từ năm 1959-1975, VNTTX đã cử vào chiến trường gần 450 người.

Với lực lượng cán bộ đông đảo, TTXGP xây dựng cơ cấu tổ chức thành các phòng biên tập tin đối nội, đối ngoại, thế giới, nhiếp ảnh, điện vụ kỹ thuật, văn phòng, tổng hợp, in ấn, giao liên, phát hành. Hàng ngày, TTXGP in và phát hành trên 400 bản tin các loại như tin phổ biến, tin nhanh, tin đặc biệt, tài liệu tham khảo.

Khi Hiệp định Paris được ký kết, để chuẩn bị đón thời cơ mới, theo lệnh của Trung ương Cục miền Nam, TTXGP nhanh chóng dời căn cứ Kađôn trở về căn cứ cũ tại Phum Cháy, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, TTXGP được VNTTX chi viện một đoàn quân mới, lớp GP10, gồm 100 phóng viên, biên tập viên, điện báo viên và cán bộ kỹ thuật, do đồng chí Trần Thanh Xuân, Phó Giám đốc VNTTX làm trưởng đoàn, cùng 14 xe vận tải chở hành chục tấn máy móc, thiết bị thông tin.

Khi tiếng nổ ran của băng pháo dài từ nóc nhà số 5 Lý Thường Kiệt thả xuống, cũng là lúc tiếng reo hò của quần chúng vang lên làm nức lòng người. Đó cũng là tiếng pháo đầu tiên ở Hà Nội mừng ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đặc biệt, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, đồng chí Đào Tùng, Giám đốc VNTTX, đích thân từ Hà Nội dẫn đầu một lực lượng cán bộ, phóng viên, nhân viên kỹ thuật giỏi tăng cường vào Nam. Phóng viên VNTTX và TTXGP sát cánh bên nhau trên từng mũi tiến quân, có mặt ở tất cả các địa phương trong cuộc tiến công và nổi dậy thần tốc đó, đặc biệt có mặt trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Chính họ là một số trong những phóng viên ghi nhận và phát đi những thông tin và hình ảnh về sự đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh.

Mỗi khi đọc lại các trang sử TTXVN viết về ngày 30/4/1975, các nhà báo thông tấn ngày nay đều trào dâng niềm xúc động và tự hào. Khi lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên VNTTX và TTXGP ở Sài Gòn chứng kiến sự cáo chung của nội các Dương Văn Minh và tường thuật bằng tin, bài, hình ảnh thì tại Hà Nội, trước cửa trụ sở VNTTX ở số 5 Lý Thường Kiệt, nhân dân đứng đông như trong ngày hội chờ tin giải phóng Sài Gòn. Khi tiếng nổ ran của băng pháo dài từ nóc nhà số 5 Lý Thường Kiệt thả xuống, cũng là lúc tiếng reo hò của quần chúng vang lên làm nức lòng người. Đó cũng là tiếng pháo đầu tiên ở Hà Nội mừng ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

– Ngày 12/5/1976, VNTTX và TTXGP – hai người anh em ruột thịt, đã chính thức hợp nhất với tên gọi TTXVN. Thưa ông, điều đó đã tạo nên sức mạnh ra sao khi TTXVN hòa vào khí thế cách mạng chung của dân tộc, bước vào giai đoạn mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa?

Đối với TTXVN, ngày 12/5/1976 là thời khắc lịch sử khi VNTTX và TTXGP chính thức hợp nhất. Sức mạnh của hai cơ quan thông tấn ruột thịt đã được hợp nhất trong giai đoạn mới của đất nước và sức mạnh đó tiếp tục được củng cố khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Song hành cùng với sự phát triển của đất nước, TTXVN đã không ngừng lớn mạnh cả về cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, điều hành thông tin và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật hạ tầng, phát triển nhiều loại hình thông tin trên nền tảng công nghệ hiện đại, tăng cường hợp tác quốc tế.

Có thể khẳng định TTXVN nay đã trở thành một hãng thông tấn quốc gia hiện đại, với khoảng 2.300 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, chuyên viên, kỹ thuật viên… hoạt động theo mô hình tổ hợp, trong đó có năm ban biên tập tin nguồn, Trung tâm Thông tin tư liệu và Đồ họa, Trung tâm Truyền hình Thông tấn – kênh thông tin chính luận chuyên biệt; các tòa soạn báo gồm báo Tin tức, Thể thao và Văn hóa, Báo ảnh Dân tộc và Miền núi – tờ báo ảnh duy nhất phát hành song ngữ là tiếng Việt và 11 tiếng dân tộc thiểu số, cùng các báo đối ngoại đều “duy nhất ở Việt Nam” như nhật báo tiếng Anh Việt Nam News, tạp chí tiếng Pháp Le Courrier du Vietnam, Báo ảnh Việt Nam (bằng 10 ngữ), Thời báo Việt-Hàn, tạp chí tiếng Anh chuyên đề về luật Vietnam Law & Legal Forum, và báo điện tử VietnamPlus – một trong những báo điện tử hàng đầu Việt Nam với 6 ngôn ngữ thể hiện; bên cạnh đó là Nhà Xuất bản Thông tấn, các đơn vị chức năng, hai doanh nghiệp in đặt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh…

Có thể khẳng định TTXVN nay đã trở thành một hãng thông tấn quốc gia hiện đại, với khoảng 2.300 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, chuyên viên, kỹ thuật viên… 

TTXVN sản xuất gần 70 sản phẩm thông tin thuộc đủ các loại hình: tin văn bản, ảnh, truyền hình, tin đồ họa, tin âm thanh, cùng nhiều sản phẩm thông tin hiện đại như megastory, phát hành trên các bản tin, báo in, báo điện tử, truyền hình, truyền thông đa phương tiện và mạng xã hội.

TTXVN cũng là cơ quan báo chí có hệ thống cơ quan thường trú ngoài nước lớn nhất Việt Nam, với 30 cơ quan thường trú tại 28 quốc gia, cùng với đó là mạng lưới cơ quan thường trú tại 63 tỉnh, thành trong cả nước. Các phóng viên của chúng ta nỗ lực không ngừng, khẳng định vai trò xung kích tại các điểm nóng thông tin ở trong nước cũng như trên thế giới.

Hoạt động đối ngoại ngành không ngừng phát triển. TTXVN có quan hệ hợp tác với hơn 40 hãng thông tấn và tổ chức báo chí nước ngoài tại cả năm châu lục, với uy tín không ngừng được nâng cao tại các tổ chức báo chí quốc tế và khu vực.

Có thể khẳng định rằng TTXVN đã phát triển nhanh, mạnh cả về bề rộng và chiều sâu, trở thành hãng thông tấn quốc gia hàng đầu trong khu vực. Với vai trò là cơ quan thông tấn tin cậy của Đảng và Nhà nước, có nhiều đóng góp quan trọng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong suốt nhiều thập kỷ, TTXVN vinh dự là cơ quan báo chí đầu tiên ở Việt Nam được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và Anh hùng Lao động, cùng nhiều danh hiệu cao quý khác.

– Trong những giai đoạn ác liệt nhất của hai cuộc kháng chiến chống Mỹ, không một chiến trường, không một hướng tiến quân, không một địa bàn chiến đấu nào vắng mặt phóng viên của TTXVN. Ngày nay, đội ngũ người làm báo TTXVN đã kế thừa truyền thống đó như thế nào để giữ vững vai trò xung kích trên mặt trận thông tin-tư tưởng, đảm bảo thông tin thông tấn là dòng tin chủ lưu, liên tục, chuẩn xác và có tính định hướng cao?

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Nhìn lại chặng đường phát triển của ngành từ sau năm 1975 đến nay, tôi có thể khẳng định rằng đội ngũ những người làm báo TTXVN đã và đang viết tiếp các trang vàng lịch sử của ngành. Những điều bạn vừa nêu, như dòng tin chủ lưu, liên tục, chuẩn xác, tính định hướng cao, là đặc điểm nổi bật của thông tin thông tấn. Theo tôi, cần bổ sung những đặc tính khác, như hiện đại, hấp dẫn và đa dạng về hình thức thể hiện và kênh phát hành…

Thông tin thông tấn có được các đặc tính nổi bật đó là nhờ sự tận tụy với nghề, sự năng động, nhạy bén và sáng tạo của đội ngũ người làm báo của ngành. Có không ít phóng viên đã trải qua những thử thách khắc nghiệt của nghề báo, tác nghiệp tại những địa bàn khó khăn như vùng núi, hải đảo và trong những thời điểm “nước sôi lửa bỏng.”

Có những phóng viên của chúng ta phải xông vào các điểm nóng về thiên tai, sự cố; phải bám sát hàng ngày, hàng giờ diễn biến của các phiên tòa “điểm,” thức trọn đêm ở Đồng Đăng để giữ được vị trí ghi hình tốt trong sự kiện Thượng đỉnh Mỹ-Triều, trắng đêm chờ thông tin của Bộ Giáo dục Đào tạo về những trường hợp gian lận thi cử trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018.

Phóng viên TTXVN đã có những chuyến vượt sóng ra đảo xa để phản ánh đời sống của người dân và chiến sỹ nơi tiền tiêu của Tổ quốc, hay các chuyến tác nghiệp đột xuất của phóng viên thường trú ngoài nước tới các địa bàn đang là điểm nóng, xung đột quân sự, nội chiến hay để tiếp cận những trường hợp bảo hộ công dân Việt Nam…

Chúng ta sẽ mãi không quên hình ảnh người đồng nghiệp trẻ đầy nhiệt huyết, đầy hoài bão của chúng ta, phóng viên Đinh Hữu Dư, anh đã hy sinh khi đang tác nghiệp, đưa tin trận lũ quét kinh hoàng ở Yên Bái tháng 10/2017 .

Gần đây nhất là đợt thông tin về dịch bệnh COVID-19 kéo dài suốt bốn tháng qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều nhà báo thông tấn làm việc không kể ngày đêm để đưa tin từ các vùng tâm dịch tại Việt Nam và trên thế giới.

Những nỗ lực không ngừng nghỉ và sự bất chấp hiểm nguy của đội ngũ y bác sỹ Việt Nam cũng như sự chu đáo, nhiệt tình của các cán bộ chiến sỹ đã được các nhà báo TTXVN phản ánh sinh động.

TTXVN cũng đi đầu trong phản ánh những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế đối với thành công của Việt Nam trong kiểm soát dịch bệnh này, với những nhận định làm nức lòng người và khích lệ người dân Việt Nam cùng chung tay với chính phủ. Đây là một trong nhiều đợt thông tin lớn mà TTXVN huy động sức mạnh của toàn ngành, thể hiện vị trí, vai trò của cơ quan báo chí chủ lực quốc gia.

– Trong thời đại công nghệ số, đứng trước áp lực cạnh tranh thông tin (đến từ sự phát triển không ngừng của truyền thông trong nước và quốc tế, kể cả truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội), TTXVN sẽ tiếp tục có những đổi mới gì để giữ vững vai trò định hướng thông tin, nhằm phục vụ đắc lực hơn nữa công cuộc Đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, vừa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của độc giả, thưa ông?

Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, báo chí có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đứng trước những thách thức nặng nề hơn. Chúng ta đã đặt mục tiêu đưa TTXVN trở thành một hãng thông tấn quốc gia đa phương tiện mạnh. Mục tiêu này bao hàm nhiều ý nghĩa. Nhưng để biết được chúng ta cần chú trọng hướng phát triển nào, trước tiên, chúng ta phải hiểu được những thách thức lớn nhất đối với TTXVN hiện nay là gì để từ đó đặt ra các bước đi cụ thể.

Thách thức đầu tiên là làm thế nào để TTXVN không bị tụt hậu.

Thách thức đầu tiên là làm thế nào để TTXVN không bị tụt hậu. Để vượt qua thách thức này chúng ta phải nắm bắt được xu thế của truyền thông thế giới để từ đó xây dựng chiến lược phát triển phù hợp theo hướng làm chủ công nghệ hiện đại và ứng dụng cho sản xuất thông tin.

Trong lĩnh vực này, thì việc ưu tiên đầu tư cho công tác đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm báo cũng như đầu tư cho hạ tầng công nghệ, kỹ thuật của ngành là đòi hỏi tiên quyết.

Bên cạnh đó, công tác đối ngoại giữ một vai trò quan trọng. Việc tham khảo, học hỏi các hãng thông tấn bè bạn, nhất là các hãng thông tấn hàng đầu thế giới, đang và sẽ được TTXVN chú trọng.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng uy tín của TTXVN đã không ngừng được nâng cao trên diễn đàn báo chí quốc tế những năm gần đây. Ngày càng có nhiều hãng thông tấn, cơ quan báo chí từ châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, tìm đến TTXVN đề nghị thiết lập quan hệ hợp tác. TTXVN được bầu vào Ban Chấp hành OANA liên tục nhiều nhiệm kỳ gần đây. Thực tế này chứng tỏ chúng ta đang nằm trong dòng chảy thông tin thế giới, và nhiệm vụ của chúng ta là duy trì và củng cố vị thế này.

Thách thức thứ hai là nạn tin giả và sự lấn lướt của mạng xã hội. 

Thách thức thứ hai là nạn tin giả và sự lấn lướt của mạng xã hội. Bất kỳ hãng thông tấn hay cơ quan báo chí nào, của Việt Nam cũng như thế giới đều đang phải đương đầu với thách thức này. Tin giả đang như một bệnh dịch len lỏi vào từng ngóc ngách của xã hội, “ký sinh” trên mạng xã hội mà bùng phát. Nó không chỉ bóp méo thực trạng xã hội mà còn được sử dụng cho các âm mưu chính trị và gây rối trật tự xã hội. Chẳng đâu xa, những tác hại của tin giả trong đại dịch COVID-19 toàn cầu hiện nay là minh chứng rõ rệt nhất.

Vì vậy, không chỉ trông chờ biện pháp xử lý của các cơ quan chức năng mà mỗi chúng ta – mỗi người làm báo của TTXVN – có thêm nhiệm vụ của một “công dân mạng” chân chính. Đó là kịp thời có thông tin chỉnh hướng, bác bỏ thông tin sai lệch, xuyên tạc trên các sản phẩm thông tin của ngành và ngay trên mạng xã hội. Đây là nhiệm vụ lâu dài và thường xuyên mà lãnh đạo ngành đặt ra với mỗi thành viên của gia đình thông tấn.

Thứ ba là thách thức về con người. Nghề báo có một số đặc thù, phải trải qua cọ xát thực tế để tích lũy kiến thức và rèn luyện bản lĩnh, cũng như luôn phải tiếp cận với công nghệ mới để không bị bỏ lại phía sau.

Trong chiến tranh hay trong thời bình, nhà báo thông tấn đều luôn là những người đứng ở tuyến đầu. Dù phương pháp tác nghiệp ở mỗi thời có những điểm khác nhau, nhưng phẩm chất và đạo đức nhà báo thì không có gì thay đổi.

Trong tình hình xã hội ngày nay, nhà báo cần giữ vững đạo đức và trách nhiệm xã hội của người cầm bút, vượt qua được mọi cám dỗ để viết và viết những gì có lợi cho đất nước. Sự phát triển nhanh của công nghệ đòi hỏi mỗi phóng viên, biên tập viên của TTXVN ngày càng phải đa năng hơn, đặc biệt là các nhà báo trẻ. Tôi đặt nhiều hy vọng ở thế hệ trẻ của TTXVN hiện nay.

Để vượt lên chính mình của ngày hôm qua, đội ngũ những người làm báo chúng ta, ngoài kiến thức chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ, giờ đây cần phải am hiểu công nghệ, cập nhật các phương thức làm báo hiện đại, nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp.

Chúng ta đang sống trong những ngày kỷ niệm 45 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cũng là những ngày tháng đầy hoài niệm về lịch sử vẻ vang của Ngành. Trân trọng và biết ơn các thế hệ đi trước, chúng ta càng ý thức được trách nhiệm của mình, càng phải nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với quá khứ và thích ứng tốt với tương lai.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Hà Nội, ngày Phở về

Nhớ nhung, thèm thuồng, nôn nao, phấp phỏng, mong mỏi, hân hoan, vồ vập, sung sướng… Ôi chao là những động từ chỉ trạng thái của cảm xúc con người Hà Nội trong những ngày giãn cách xã hội, phải “cách ly” khỏi món phở thân thương. Thế mới thấy, Phở có vị trí quan trọng thế nào trong lòng người Hà Nội, chứ không chỉ là một món quà sáng thông thường.

Con virus Corona thật gớm ghê. Thứ sinh vật bé “mi li ti” chỉ hiện hình trong kính hiển vi điện tử đó đã làm lộn nhào cả thế giới, khiến quan điểm của con người hiện sinh của thời đại dư thừa vật chất và ngạo nghễ phải thay đổi. Từ những giá trị cao siêu như “siêu cường kinh tế” đến những giá trị giản đơn như bát phở.

Thật sự, có nằm mơ hoang đường đến mức nào đi chăng nữa, chẳng có ai có thể nghĩ đến cảnh tượng có một ngày Hà Nội hoàn toàn vắng bóng những quán phở vốn mở chi chít dọc ngang ở đất này và người Hà Nội lại khao khát tột cùng việc được xơi một bát phở.

Hình ảnh quen thuộc trong những ngày Giãn cách xã hội (Ảnh: Tuệ Lam)
Hình ảnh quen thuộc trong những ngày Giãn cách xã hội (Ảnh: Tuệ Lam)

Thế mà đã có cả quãng thời gian hơn 20 ngày mà dài như 20 thế kỷ như vậy vừa qua đây, khiến người Hà Nội phải cồn cào, quay quắt vì phở. Cứ như thời chiến tranh loạn lạc, bao cấp khó khăn khiến cho việc được xơi một bát phở trở thành một ân sủng lớn lao vô cùng.

Hoá ra, con người của cái thời cơm phở phè phỡn này đã hư hỏng nhiều vì được nuông chiều. Thì đấy, đi khắp Hà Nội có biết bao nhiêu quán phở bán từ tinh mơ đến tờ mờ sáng. Người ta đau đầu vì không biết nên chọn ăn ở quán nào, ăn phở gì khiến việc đi ăn phở thôi đôi khi trở thành trò lẩn thẩn của kẻ “nhiều điều kiện”.

Để rồi, đến một lúc, con virus Corona giáng cho con người hư hỏng một đòn đau choáng váng. Từ kẻ được nuông chiều nhắm mắt quờ tay giữa ngày Mồng Một Tết cũng có phở để ăn, bỗng dưng lâm cảnh “cơ hàn” đói khát phở suốt gần cả một tháng trời.

Phở bỗng nhiên lấy lại thứ giá trị quyền uy của mình, mở mắt cho con người hiện sinh hư hỏng kia thấy được mình còn hơn một món ăn và không thể lượng hoá bằng những khái niệm như calorie, dinh dưỡng, chất béo… chỉ nhằm làm đầy những cái dạ dày rỗng tuếch.

Hà Nội có biết bao nhiêu quán phở bán từ tinh mơ đến tờ mờ sáng. (Ảnh: Lê Minh Sơn/Vietnam+)
Hà Nội có biết bao nhiêu quán phở bán từ tinh mơ đến tờ mờ sáng. (Ảnh: Lê Minh Sơn/Vietnam+)

…bỗng dưng lâm cảnh “cơ hàn” đói khát phở suốt gần cả một tháng trời 

Bởi khi phở biến mất, con người kia vẫn còn cơm, bánh, cháo và đặc biệt là hàng núi mỳ tôm dự trữ cơ mà. Thế mà sao vẫn cứ đói khát, thèm thuồng một bát phở phủ đầy những miếng gàu chen mỡ vàng óng ả, những miếng nạm nâu trầm, được rắc lên mướt mát hành chẻ xanh rì rồi ngập tràn trong thứ nước phở nóng rãy thơm đến nồng nàn.

Thấy không, con người no đủ, anh đã hiểu thế nào là phở chưa? Anh có thấy phở quý giá vô cùng không? Có thấy những phố phường Hà Nội khi không còn hàng phở là lập tức đánh mất linh hồn của mình không? Anh có nhận ra rằng, không chỉ “phố Phái thâm nâu”, hay “cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ” mới đem lại vẻ đẹp cho Hà Nội, mà cả những miếng chín, miếng tái, quả thăn, quả bắp không?

Anh có nhìn thấy biết bao người Hà Nội đi lang thang vô định trên đường phố, mắt tuyệt vọng nhìn vào những hàng phở đóng cửa lạnh lùng, khô khốc, không một chút tình cảm, không hẹn ngày tái ngộ, để rồi những ngọn khói phở len lén trong ký ức hành hạ đến vật vã, đến thất điên bát đảo hay không?

Phở như một tình nhân trong mộng vốn vô cùng yêu thương trân quý, nhưng khi đã chiếm đoạt thoả thuê lại sớm buông lòng ruồng rẫy. Để rồi, khi mối nhân tình đó vụt tan, vụt biến, mới thấy tiếc nuối và nhận ra rằng, anh đã đánh mất một thứ trân quý bởi sự vô tình, lạnh lẽo của chính mình.

Cho dù lịch con trăng đã sang tháng Tư, nhưng vì bởi năm nay nhuận tháng Tư thế nên thời khí vẫn chỉ là tháng Ba. Thế nên, cái rét nàng Bân càng khiến người Hà Nội nhung nhớ phở.

Cánh cửa đóng sập của quán phở khiến người Hà Nội rất đau. Quán cũ đây nhưng phở đâu rồi, những bó hàng hoa treo xanh biếc đâu rồi, những tảng thịt chín lộng lẫy đâu rồi, những làn khói ấm thơm nức nở đâu rồi, những âm thanh dao thớt lanh lảnh hay tiếng húp nước sụp soạt đâu rồi? Tất cả đã như cánh hạc vàng bay mất, chỉ còn chút lưu hương của quế hay hồi.

Người Hà Nội bần thần trong cái rét nàng Bân. Mà ghê gớm thay, cái rét nàng Bân năm nay mới dai dẳng làm sao? Cái rét bất thường của chưa từng thấy trong 10 năm khiến người Hà Nội càng da diết một chiếc “áo bông nước” của ông Nguyễn, thứ áo bông mà nuốt đến đâu, châu thân ấm sực đến đó, sức sống bừng bừng đến đó, và rồi khi lùa xong miếng phở cuối cùng, mồ hôi túa ra “như nuốt cả chiếc áo bông”.

Cho dù lịch con trăng đã sang tháng Tư, nhưng vì bởi năm nay nhuận tháng Tư thế nên thời khí vẫn chỉ là tháng Ba. Thế nên, cái rét nàng Bân càng khiến người Hà Nội nhung nhớ phở. Trời này, lạnh này mà được ngồi hít hà một bát sốt vang đỏ rực màu hoa hiên, xanh tươi dọc hành chẻ, rưới đẫy hạt tiêu Bắc thơm lừng và những lát ớt tươi thì thật là sung sướng.

Thế nhưng, những cánh cửa vẫn đóng chặt im ỉm, những lò than vẫn nguội lạnh, trơ cả tro xỉ đã kịp bạc màu. Phở Bát Đàn, đóng. Phở Ấu Triệu, đóng. Phở Tư Lùn, đóng. Phở Biên, đóng. Phở Hàng Đường, đóng. Phở Khôi, đóng. Phở Sướng, đóng. Phở Vui, đóng. Phở Hà Nội, thôi từ nay đừng gọi tên nhau.

Có người sẽ hỏi: Quán phở không còn sao không về nhà tự nấu phở? Phở bây giờ dễ nấu như úp mỳ tôm, rồi thả xúc xích thôi mà, sao không tự nấu? Quả có vậy nhưng éo le thay không phải vậy.

Đành rằng, khi điều kiện kinh tế khởi sắc, việc mua bán online giúp các gia đình có được đồ nấu phở và nguyên liệu nấu phở chỉ trong một cú click chuột. Từ nồi ống inox nấu nước phở, bếp điện chuyên dụng, dao thớt, bát đĩa chẳng thiếu thứ gì cho đến bắp bò Mỹ, lõi rùa bò Úc, gầu bò Kobe, thăn hoa bò Argentina… rồi bánh phở thái sẵn, hành hoa, rau mùi, rau thơm đầy nhan nhản trên mạng, cứ việc đặt về.

Nhưng phở là thứ thời trân khó có thể nấu tại nhà, ngoại trừ phở gà, phở xào hay phở cuốn… Cứ nghiệm mà xem, có rất nhiều món không thể nấu tại nhà bởi dù có nấu khéo đến đâu, ăn vẫn cứ chống chếnh như thiếu thiếu một cái gì đó. Nước chấm của bánh cuốn, ốc luộc, bún chả là một ví dụ.

Phở là một thực thể sống động bởi lớp lớp văn hoá áo lên nó từ khi hình thành đến giờ, cho nên phở có tinh thần của riêng mình, chứ không đơn thuần là một món ăn.

Đặc biệt là phở. Hầu như những con nghiện phở chuẩn mực đều thấy rằng phở nhà mình nấu ăn không bao giờ ngon bằng phở của quán. Nào có thiếu gì đâu, thậm chí, nguyên liệu chế biến còn hảo hạng gấp vạn lần, nhưng không thể nào sánh được. Đâm ra nhiều người cứ bị mang tiếng oan “thích lê la ăn phở ngoài đường”.

Có lẽ là bởi phở nấu ở nhà, ăn ở nhà thiếu mất một yếu tố – mà khốn nạn thay lại cực kỳ quan trọng – đó là yếu tố “tinh thần phở”. Như đã nói, phở là một thực thể sống động bởi lớp lớp văn hoá áo lên nó từ khi hình thành đến giờ, cho nên phở có tinh thần của riêng mình, chứ không đơn thuần là một món ăn.

Không chỉ người Việt nhìn thấy tinh thần của món phở mà ngay cả người Nhật cũng nhìn thấy tinh thần của nhiều món ăn ở nước mình, ví dụ như món mỳ ramen. Mỳ ramen chỉ gồm có sợi mỳ, thịt lợn nấu nhừ, miếng măng khô và nước ninh từ xương lợn.

Xuất thân từ một món ăn đường phố, tinh thần của phở là thấm đấm hơi thở của phố phường.

Khi ăn mỳ ramen, bao giờ người Nhật cũng ngắm nghía bát mỳ trong vài chục giây, sau đó, dùng đũa gắp miếng thịt lên để ngắm nghía chán chê rồi lại rục xuống, giấu dưới lớp mỳ. Họ đầu tiên ăn vài sợi mỳ, rồi dùng đũa gại gại vào miếng măng để đánh thức nó dậy, sau đó gắp lên để ngắm nghía, rồi mới cắn miếng măng.

Cứ như thế, khi gần hết họ mới ăn cùng cả mỳ, thịt và măng. Người Nhật quan niệm rằng, ăn như thế mới đánh thức và chiêm ngưỡng được trọn vẹn tinh thần của bát mỳ ramen.

Vậy tinh thần của phở nằm ở đâu? Rất đáng tiếc là tinh thần đó không nằm ở nhà, hay bát phở nấu ở nhà mà nằm ngoài đường phố, vỉa hè, và không gian quán. Xuất thân từ một món ăn đường phố, tinh thần của phở là thấm đấm hơi thở của phố phường.

Những gánh phở, quầy phở đặt ghé trên vỉa hè, người ăn phở đứng ngồi lô xô trên vỉa hè, bậc thềm, thậm chí trên rãnh nước từ thuở sơ khai đã tiêm nhiễm tinh thần đường phố cho phở.

Mùi phở quấn quýt, gắn chặt với mùi của đường phố, tạo nên một phong vị rất đặc biệt.

Sau này, khi vào trong quán, phở vẫn tiếp xúc rộng rãi với môi trường đường phố với những bếp lò đun nồi nước phở đặt ngoài vỉa hè, những tảng thịt treo lúc lắc trong hồng trần, và đặc biệt khu làm phở bao giờ cũng được đặt sát đường phố nhất, không bao giờ để ở cuối phòng hay sâu trong quán.

Để hưởng thụ đầy đủ tinh thần của phở, thực khách nên ăn phở trong không gian mở của hè phố. Điều này càng tuyệt đối cần thiết trong yêu cầu “giãn cách xã hội” của thời đại dịch COVID-19. Mùi phở quấn quýt, gắn chặt với mùi của đường phố, tạo nên một phong vị rất đặc biệt.

Tháng này, những tán lá bàng trên phố Hàng Vải nở ra xanh non, lọc thứ ánh sáng đi qua nó thành một thứ hào quang diễm lệ và tuyệt đẹp vô cùng. Sao có gì sung sướng bằng việc ngồi xơi một bát phở Lâm hay phở Khôi dưới cái tán ngọc ngà lung linh biếc xanh đó.

Ăn một bát phở chín gầu vào một buổi sáng chan hoà ánh sáng huyền ảo, trong thanh âm rộn rã của còi xe, tiếng người rì rầm trò chuyện, tiếng gọi phở, điều phở, tiếng xoảng xoảng của thanh sạn cọ vào chảo khi áp chảo hay tái lăn, tiếng xuýt xoa vì cay và nóng.

Nào đã hết. Còn mùi nữa chứ. Mùi bã trà ngai ngái, mùi bã mía ngòn ngọt, mùi khói xe khen khét, mùi gây gây lưu cữu của thịt bò, mùi của bụi bặm, mùi nước hoa người, mùi cà phê chín trong phin, mùi của chợ búa họp vội gần đó… Tất cả, tạo nên tinh thần của phở, khiến người Hà Nội phải tâm đắc: Đây mới đúng là phở.

Cà phê bệt của người Sài Gòn đôi khi ngon khi giơ ly cà phê lên, bỗng một cơn gió bay qua khiến hàng me trút lá như mưa. Và rồi, một vài cánh lá me mảnh mai vô tình đậu vào ly cà phê đem lại chút ngon lành, thi vị cho người uống. Để rồi, khi khi ngồi bệt trên vỉa hè Sài Gòn uống một ly đen, lòng lại mong ngóng một cơn mưa lá me. Những thứ đó, dần tạo thành tinh thần của cà phê bệt, như phở vậy.

Rồi cũng đến ngày Phở về Hà Nội. Ngay từ trong đêm, những dòng tâm trạng về nỗi khao khát phở nhấp nháy sáng Facebook. Người Hà Nội náo nức chờ đón phở, sau những ngày u uất, buồn chán và ảm đảm. Trên phố sách Đinh Lễ, những bà bán sách kháo nhau rằng xem đã kịp ăn phở chưa, rằng phở Thìn Bờ Hồ sáng nay, người ăn phở đông, xếp thành dãy dài như người đi nhận gạo ở ATM vậy.

Câu chuyện chủ đạo của ngày hết phong toả chỉ phở và phở. Trời vẫn cứ rét nàng Bân nhưng không còn mưa mà đã khô và hửng nắng. Điều kiện đó quá tuyệt vời để đi “ôm phở vào lòng”, cho dù phở cũng vội vàng về lại chốn xưa nên còn chưa chuẩn lắm.

Câu chuyện chủ đạo của ngày hết phong toả chỉ phở và phở.

Kệ, qua bao ngày giông gió, thấy quý ngày bình yên. Đã qua cơn nhịn phở “những hăm mấy ngày”, thì có phở để ăn đã là tuyệt vời lắm rồi. Bất chấp nước cuối nồi gia thêm nhiều nước lọc nên đục và mặn, thiếu mùi thơm của xương bò; bất chấp chưa có nhiều sự lựa chọn nào gầu mỡ hay gầu giòn. Cứ yêu là yêu đã.

Ngồi trước bát phở, hít hà cái mùi phở quyến rũ, kệ cho nước miếng cứ tuôn ra như triều cường; kệ cho con tì, con vị giục giã “ăn đi, ăn ngay, ăn luôn cho sướng”; kệ cho những kẻ đến muộn bị trượt bát phở cuối cùng, thở dài thườn thượt, mặt chảy như nỗi buồn, hãy cứ tận hưởng cái cảm xúc trùng phùng quý giá.

No mắt, no mũi, no tai rồi mới để cái mồm, cái lưỡi được no. Ôi chao, sao mà miếng phở ngon đến thế, hơn đứt mọi thể loại bún, miến, mỳ, cháo tầm thường. Miếng thịt bò đập bép, nở bồng bềnh trong làn nước nóng như một đoá hoa và ngọt ngon gấp vạn lần thứ beefsteak thăn nội, thăn ngoại hay T-bone.

Miếng phở trôi đến đâu, sự hồi sinh nảy nở ở đó. Đến khi, bát phở an vị trong dạ dày thì mùi thơm bắt đầu toả ra thơm ngát khắp cơ thể. Đứng dậy, đeo khẩu trang, mùi phở cứ nồng nàn trong cánh mũi mãi không thôi, chẳng bù cho mùi cồn nghiệt ngã hôm nào.

Phở của ngày trở về đầy cảm xúc và thăng hoa. Những quán phở quen thuộc lần lượt xoá bỏ cách ngăn, xiềng xích. Hai Bà Trưng, Ấu Triệu, Bát Đàn, Lê Văn Hưu, Lò Đúc, ngõ Trung Yên, Hàng Giày, Phủ Doãn, Hàng Chiếu, Hàng Đường, Hàng Da, Ngõ Trạm, Bờ Hồ, Hàng Đồng, Hàng Vải.. và khắp năm cửa ô chốn kinh kỳ.

Phở, sau thời gian xa cách và sống chậm, đã cho người Hà Nội biết được thế nào là phẩm cách cao quý của mình, một giá trị đã bị sự gấp gáp, khủng hoảng thừa che lấp bấy lâu nay. Phở không phải chỉ là thức ăn cho dạ dày mà còn là suối nguồn tưới tắm cho tâm hồn của người Hà Nội.

Thăng Long, phi chiến địa rồi cũng đã bị khói lửa chiến tranh ập đến và tan biến. Hà Nội phi dịch bệnh, rồi cũng đã lao đao vì dịch bệnh và đứng vững vàng. Nhưng Hà Nội sẽ không bao giờ thiếu vắng được phở, bởi trong thời điểm cách ly, giãn cách, phở vẫn cứ tồn tại, cho dù trong nỗi nhớ.

Để rồi, khi Hà Nội ngày Phở… về, tình yêu phở càng trở nên mãnh liệt vô cùng!

*Mượn ý tiêu đề bài hát “Hà Nội, ngày trở về” của Phú Quang

Bài: Tuệ Lam

Ảnh: Lê Minh Sơn

Thiết kế: Thanh Trà

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc; trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Người cũng là vị chỉ huy tối cao. Trong suốt thời gian chỉ huy chiến dịch, Bác Hồ đã tham dự và chủ tọa nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị để nhận định, đánh giá tình hình diễn ra trên mặt trận, chỉ đạo sát sao không chỉ trên chiến trường Điện Biên Phủ mà trên cả các chiến trường phối hợp trong cả nước nhằm phục vụ cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn của Đảng ta trong việc vạch ra đường lối, chủ trương kháng chiến đúng đắn, sáng tạo và là người chỉ đạo sát sao, giáo dục động viên, cổ vũ kịp thời quân dân ta trong suốt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến-Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, đánh dấu thời khắc của chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.” (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến-Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, đánh dấu thời khắc của chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.” (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 10/1953, trong buổi họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Tỉn Keo, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên bàn về kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1953-1954, do Bác Hồ chủ trì, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày về ý đồ táo tợn của tướng Pháp H.Nava là tập trung một lực lượng cơ động rất lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để khiêu chiến, làm tiêu hao chủ lực của ta, tạo điều kiện để giành quyền chủ động và tiến tới giành một thắng lợi quyết định trong vòng 18 tháng.

Bác nghe chăm chú rồi nói: “Địch tập trung quân cơ động để tạo sức mạnh. Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn.” Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón trỏ về một hướng. Theo tư tưởng chỉ đạo ấy, ta đã nghiên cứu kế hoạch Đông Xuân, cho những bộ phận chủ lực của ta tiến về 5 hướng chiến lược nhằm những nơi hiểm yếu và tương đối yếu của địch, chọn hướng chính là Lai Châu ở Tây Bắc.

Tháng 1/1954, Bác đã căn dặn thêm Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước ngày đồng chí ra mặt trận: “Cần nắm chắc nghị quyết của Trung ương và chủ trương của Bộ Chính trị là: “Đánh chắc thắng.”

17h30 phút ngày 13/3/1954, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
17h30 phút ngày 13/3/1954, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Bác đã tặng cờ “Quyết chiến Quyết thắng” làm giải thưởng luân lưu để khích lệ mọi người, lập công trong chiến dịch. Tết đến, Bác đã gửi tặng mỗi cán bộ, chiến sỹ ở mặt trận một chiếc ca rất đẹp có in đậm hai hàng chữ đỏ tươi: “Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ.”

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, một cuộc đọ sức toàn diện nhất, quyết liệt nhất giữa ta và địch. Thắng, bại của quân dân ta trong chiến dịch này sẽ có ảnh hưởng lớn đối với dân tộc ta và nhân dân thế giới đang chiến đấu vì độc lập, tự do. Vì vậy, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải có quyết tâm và nỗ lực rất cao.

Trong thư gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12/1953, Bác Hồ viết: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.”

Đầu tháng 1/1954, trước khi lên đường ra mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến Khuổi Tát chào Bác. Bác hỏi: “Chú ra mặt trận lần này có khó khăn gì không?” Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: “Chỉ khó khăn là xa hậu phương nên khi có vấn đề quan trọng và cấp thiết thì khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị.”

Bác nói: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền.” Khi chia tay, Bác nhắc: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng; chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.”

Những lời dặn dò của Bác là tư tưởng chỉ đạo giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp có căn cứ để xử trí trong quá trình chỉ huy trận đánh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới (1950). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới (1950). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp theo tư tưởng Bác Hồ – đã gọi điện cho các binh chủng thông báo chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” và các đơn vị tùy điều kiện cụ thể mà sử dụng binh lực tiêu diệt, tự giải quyết hậu cần…

Cũng vào thời gian trên, trong thư gửi cán bộ và chiến sỹ Mặt trận Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: các cán bộ và chiến sỹ ta “Phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh: Quyết tâm tiêu diệt địch; Quyết tâm giữ vững chính sách; Quyết tâm giành nhiều thắng lợi.”

Quyết tâm chiến lược của Đảng, của Bác Hồ, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, đã biến thành ý chí và hành động của toàn quân và dân ta.

Đúng 17 giờ ngày 13/3/1954, pháo binh quân đội ta bắn dồn dập vào khu sân bay Mường Thanh và cả 3 cứ điểm của Trung tâm đề kháng ở Him Lam, mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã đặc biệt chăm lo giáo dục tinh thần quyết tâm chiến đấu cho bộ đội.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác ở Việt Bắc (1951). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác ở Việt Bắc (1951). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị bàn về chủ trương tác chiến Đông-Xuân 1953-1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Bác đã huấn thị cho cán bộ, chiến sỹ tham gia chiến dịch: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Các chú phải đánh cho thắng. Tất cả các chú, cán bộ cũng như chiến sỹ đều phải: Quyết tâm chiến đấu, triệt để chấp hành mệnh lệnh; Bền bỉ dẻo dai, vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn; Tiêu diệt thật nhiều địch, giành cho được toàn thắng.”

Sức mạnh chiến đấu của quân đội được tạo thành bởi tổng hợp các yếu tố giữa con người và vũ khí, giữa các nhân tố chính trị tinh thần với trình độ tổ chức chỉ huy… trong đó nhân tố chính trị tinh thần, trước hết là ý chí quyết tâm chiến đấu, đóng vai trò rất to lớn.

Bác phân tích một cách sâu sắc rằng: “Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kỹ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sỹ… Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên.”

Đồng thời, Bác cũng luôn thể hiện sự quan tâm, động viên, dạy bảo ân cần đối với cán bộ, chiến sỹ ta từ những vấn đề rộng lớn của chiến tranh và xây dựng vũ trang nhân dân, đến từng việc làm, cách ứng xử cụ thể trong chiến đấu và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

Bộ chỉ huy Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947 báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh kế hoạch tác chiến. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Bộ chỉ huy Chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947 báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh kế hoạch tác chiến. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Còn cán bộ, chiến sỹ ta – những người đã trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và cũng là những người đã từng được gặp gỡ và tiếp xúc cùng Bác cũng luôn thể hiện những tình cảm chân thành, lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Để kịp thời động viên, cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho quân ta vượt qua khó khăn và đánh thắng quân địch ở Điện Biên Phủ ngay từ trận mở đầu, ngày 11/3/1954, nghĩa là trước khi quân ta nổ súng tiến công trung tâm đề kháng Him Lam 2 ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các chiến sỹ Mặt trận Điện Biên Phủ.

Người căn dặn: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang… Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới.”

Và, ngay sau khi quân ta tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam và đập tan đợt phản kích của địch hòng chiếm lại Him Lam, ngày 15/3/1954, Bác Hồ lại gửi điện khen ngợi, cổ vũ và căn dặn toàn thể cán bộ và chiến sỹ ở Mặt trận Điện Biên Phủ: “Bác và Trung ương Đảng được báo cáo về hai trận thắng đầu tiên của quân đội ta ở Điện Biên Phủ. Bác và Trung ương Đảng có lời khen các đồng chí. Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng. Địch sẽ ra sức đối phó, ta phải cố gắng, chiến đấu dẻo dai, bền bỉ, chớ chủ quan, khinh địch, giành toàn thắng cho chiến dịch này.”

Trong suốt thời gian diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954) Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và chủ tọa nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị để nhận định, đánh giá tình hình diễn ra trên mặt trận, chỉ đạo sát sao không chỉ trên chiến trường Điện Biên Phủ mà trên khắp các mặt trận nhằm phục vụ cho thắng lợi Điện Biên Phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn cho chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ từ việc hoạch định đường lối cứu nước chung đến việc chỉ đạo từng trận đánh, từng chiến dịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi chặt chẽ diễn biến trận đánh các cứ điểm địch ở Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới (16/9/1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi chặt chẽ diễn biến trận đánh các cứ điểm địch ở Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới (16/9/1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Là lãnh tụ của dân tộc, đồng thời là người chỉ huy tối cao của chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ ân cần dạy bảo cán bộ chiến sỹ ta những vấn đề rộng lớn, nói lên những chân lý lớn nhất của thời đại, những quan điểm cơ bản về chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn động viên, chỉ bảo cán bộ, chiến sỹ trong từng chiến dịch, từng trận đánh, từng việc làm và cách cư xử cụ thể.

Người đã truyền cho quân và dân ta sức mạnh phi thường của tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” – một niềm tin sắt đá, một ý chí “quyết chiến thắng” vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để giành thắng lợi hoàn toàn.

Khi quân ta toàn thắng, Bác đã điện khen ngay và quyết định tặng huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên Phủ ” cho các đồng chí tham gia chiến dịch lịch sử này.

Trong các bức thư và điện gửi cán bộ và chiến sỹ ở Mặt trận Điện Biên Phủ, Người xác định rõ: “Điện Biên Phủ là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng.” Người rất vui lòng vì những thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật, vì bộ đội ta đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt nhiều địch ngoài mặt trận.

 Đảng ta đã huy động được một lực lượng lớn dân công, đảm bảo hậu cần cho chiến thắng Ðiện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 Đảng ta đã huy động được một lực lượng lớn dân công, đảm bảo hậu cần cho chiến thắng Ðiện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Người động viên bộ đội “Phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh.” Và như thường lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng “chờ tin thắng lợi để khen thưởng.”

Theo dõi Điện Biên Phủ, nắm tin tức từng ngày, từng giờ, Hồ Chí Minh đã đem tới cho cán bộ và chiến sỹ ngoài mặt trận một sức mạnh lớn lao và niềm tin vào thắng lợi, niềm tin bắt nguồn từ chính Người và lòng tin con người, những cán bộ chiến sỹ ngoài mặt trận: dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc, đồng bào vùng địch tạm chiếm…

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân cả nước ta, chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Người tin ở sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Mặt trận. Người có niềm tin tất thắng vì cuộc chiến đấu của chúng ta là một cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ nhân phẩm con người, vì nền độc lập, tự do, hoà bình của nhân loại.

Phấn khởi trước sự động viên, cổ vũ của Trung ương Đảng và Bác Hồ, ngày 30/3/1954, quân ta bước vào đợt tiến công thứ hai của chiến dịch Điện Biên Phủ, một đợt tiến công kéo dài và ác liệt. Biết bao nhiêu khó khăn, trở ngại lớn mà quân và dân ta đã gặp phải trong đợt này.

Tàu chiến của Pháp bị quân, dân ta đánh đắm trên sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Tàu chiến của Pháp bị quân, dân ta đánh đắm trên sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Để khắc phục mọi khó khăn, trở ngại, bảo đảm cung cấp cho tiền tuyến, Bộ Chính trị và Bác Hồ kịp thời ra Nghị quyết, chỉ rõ: “Toàn dân, toàn Đảng, và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện cho Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này.”

Được sự chỉ đạo sát sao và được sự giáo dục, động viên, cổ vũ kịp thời của Trung ương Đảng và Bác Hồ, ngày 7/5/1954, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ sau 56 ngày chiến đấu liên tục đánh thắng hoàn toàn thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ.

Lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cho quân đội ta tung bay hiên ngang trên nóc hầm sở chỉ huy của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.

Hết sức phấn khởi trước thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta, ngày 8/5/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc – những người trực tiếp làm nên chiến thắng vĩ đại này.

Những lính Pháp cuối cùng lên tàu tại Đồ Sơn để rút khỏi Hải Phòng, ngày 15/5/1955, đánh dấu mốc lịch sử miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Những lính Pháp cuối cùng lên tàu tại Đồ Sơn để rút khỏi Hải Phòng, ngày 15/5/1955, đánh dấu mốc lịch sử miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Trong thư, Bác viết: “Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ. Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sỹ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang. Thắng lợi tuy lớn, nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn, Bác và Chính phủ sẽ khen thưởng những cán bộ, chiến sỹ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương có công trạng đặc biệt.”

10 năm sau, tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (3/1964), Bác Hồ đã nói: “… Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân cả nước ta, chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Marx-Lenin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công…”

Bác Hồ tặng Huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên” cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh: TTXVN)
Bác Hồ tặng Huy hiệu “Chiến sỹ Điện Biên” cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam-Hồ Chí Minh-Điện Biên Phủ – nhân loại tiến bộ đã từng hô vang như vậy. Sợi dây bền chặt liên kết Việt Nam-Hồ Chí Minh-Điện Biên Phủ là tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – tư tưởng giải phóng con người, lòng tin vào con người và một niềm tin tất thắng không có gì phá vỡ nổi.

Hồ Chí Minh là linh hồn của chiến dịch Điện Biên Phủ. Tư tưởng “Tướng quân tại ngoại và đánh chắc thắng” là hành trang của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nơi chiến trường, đem lại một niềm tin-sức mạnh, nguồn cổ vũ lớn lao, là bó đuốc soi đường đi tới thắng lợi trọn vẹn, vẻ vang.

 Ngày 20/7/1954, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định đình chiến ở Việt Nam. Ngay sau đó, Hiệp định đình chiến ở Lào và Campuchia cũng được ký kết, tại Hội nghị Geneva (Thụy Sĩ). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 Ngày 20/7/1954, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định đình chiến ở Việt Nam. Ngay sau đó, Hiệp định đình chiến ở Lào và Campuchia cũng được ký kết, tại Hội nghị Geneva (Thụy Sĩ). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Ngày 21/7/1954, Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết tại Hội nghị Geneva (Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ 26/4 đến 21/7/1954 tại Geneva, Thụy Sĩ).

Để chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam, Hiệp định quy định: Cả hai bên tham chiến cùng thực hiện ngừng bắn tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực; lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm ranh giới giữa hai miền. Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời hoàn toàn không thể coi là ranh giới về chính trị và lãnh thổ.

Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng Tổng tuyển cử tự do trong cả nước tổ chức vào tháng 7/1956 dưới sự kiểm soát của một ủy ban quốc tế (gồm Ấn Độ, Ba Lan, Canada, do Ấn Độ làm Chủ tịch).

Hiệp định Geneva đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có Mỹ giúp sức ở Việt Nam và Đông Dương. Công lao đó là của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó công lao trước hết thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người không chỉ biết tập trung mọi nỗ lực để ngăn chặn chiến tranh khi nó chưa xảy ra mà cả khi chiến tranh đã bùng nổ, Người đã tài tình chỉ đạo, động viên, cổ vũ toàn quân và toàn dân ta ra sức chiến đấu để giành thắng lợi, Người vừa dàn xếp thương lượng vừa tích cực chuẩn bị kháng chiến.

Và để có một Hội nghị Geneva thắng lợi, Hồ Chí Minh đã cùng với nhân dân Việt Nam làm nên một Điện Biên Phủ có sức chấn động toàn thế giới./.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với một đơn vị bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh: TTXVN)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với một đơn vị bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. (Ảnh: TTXVN)

Sự nguy hiểm của ‘làn sóng lây nhiễm thứ hai’

“Làn sóng lây nhiễm thứ hai” dịch COVID-19 là cảnh báo được nhắc tới nhiều vào thời điểm hiện nay khi các quốc gia đang dần nới lỏng các biện pháp hạn chế và phong tỏa – vốn được áp đặt nhằm khống chế sự lây lan của virus SARS-CoV-2.

Mặc dù sau 4 tháng kể từ khi dịch bệnh bùng phát tại Trung Quốc và lan ra khắp thế giới, khiến hơn 3 triệu người mắc với hơn 211.000 ca tử vong, tới nay có trên 924.000 người nhiễm virus được chữa khỏi, tâm dịch đầu tiên, tỉnh Vũ Hán hiện cũng không còn ca bệnh nào tại bệnh viện, song giới chuyên gia vẫn cho rằng virus SARS-CoV-2 rất “biến ảo” với khả năng lây lan nguy hiểm, khó lường.

Thực tế diễn biến lây nhiễm COVID-19 trên thế giới đã cho thấy hàng loạt yếu tố “bất thường:” 1/3 số ca dương tính với virus SARS-CoV-2 ở Trung Quốc không có triệu chứng, được coi là nhóm người “mang bệnh thầm lặng”; gần 200 ca tái nhiễm ở Hàn Quốc chỉ sau một thời gian ngắn được xác định khỏi bệnh; xuất hiện rất nhiều những ca mắc COVID-19 có thời gian ủ bệnh rất lâu hoặc những ca không xác định được nguồn gốc lây nhiễm…

Diễn biến lây nhiễm COVID-19 trên thế giới đã cho thấy hàng loạt yếu tố “bất thường”

Những yếu tố này khiến mối lo ngại về “làn sóng lây nhiễm thứ hai” càng có cơ sở, nhất là sau “hồi chuông cảnh báo” từ Singapore, quốc gia từng được coi như “hình mẫu” chống dịch thành công giai đoạn đầu, hồi cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm nay, sau một tháng đang trở thành “điểm nóng” dịch COVID-19 của châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng.

Singapore được đánh giá đã kiểm soát hiệu quả “làn sóng lây nhiễm thứ nhất” nhờ các biện pháp mạnh như kiểm soát biên giới chặt chẽ, truy dấu tích cực người nghi ngờ mắc bệnh, cách ly nghiêm ngặt, hạn chế đi lại và có tỷ lệ xét nghiệm hàng loạt hàng đầu thế giới ngay khi các ca bệnh đầu tiên ở nước này được công bố cuối tháng 1. . . Tình hình bắt đầu vượt tầm kiểm soát với ổ dịch bùng phát tại nhà hàng ở khu vui chơi giải trí Safra Jurong đầu tháng 3, do các hoạt động tập trung đông người tiếp tục được tổ chức, trường học, nhà hàng vẫn mở cửa bình thường.

Bộ Y tế Singapore hồi trung tuần tháng 3 xác định rằng khoảng 1/5 trong tổng số 160 ca nhiễm virus SARS-CoV-2 tại quốc đảo này vào thời điểm đó đã không hạn chế tiếp xúc, tiếp tục đi làm, ra đường, sử dụng phương tiện giao thông công cộng….Tiếp đó là tình trạng lây lan mạnh trong các khu tập thể dành cho lao động nhập cư.

Nhân viên y tế lấy mẫu dịch xét nghiệm COVID-19 cho người dân tại Singapore ngày 27/4/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Nhân viên y tế lấy mẫu dịch xét nghiệm COVID-19 cho người dân tại Singapore ngày 27/4/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Từ hơn 100 ca (đầu tháng 3), số bệnh nhân COVID-19 ở Singapore sau 1 tháng tăng lên hơn 1.000 người và đến ngày 28/4, nước này đứng đầu Đông Nam Á về số ca nhiễm – 14.951 ca.

Giới chuyên gia cho rằng các ca mắc COVID-19 tăng vọt tại đảo quốc với 5,7 triệu dân này, chủ yếu xuất phát từ làn sóng lây nhiễm bệnh thứ hai, với gần 80% số ca mắc liên quan đến lao động nhập cư sống trong 43 nhà tập thể trên cả nước cũng như liên quan đến người dân Singapore trở về từ Mỹ và Anh. Dù Singapore đã áp đặt các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt từ ngày 7/4, song virus đã kịp lây lan ở cấp độ cộng đồng.

Đáng lo ngại hơn, dù đã nỗ lực truy vết tiếp xúc để chặt đứt chuỗi lây nhiễm, phong tỏa đất nước trong hai tuần, song tình trạng lây nhiễm trong cộng đồng vẫn chưa thể kiềm chế và ngày càng xuất hiện nhiều ca mất dấu bệnh nhân đầu tiên (F0).

Các ca mắc COVID-19 tăng vọt tại Singapore với 5,7 triệu dân này, chủ yếu xuất phát từ làn sóng lây nhiễm bệnh thứ hai

Thống kê cho thấy, hiện Singapore không thể tìm thấy nguồn lây nhiễm của 17 trong số 25 ca bệnh mới mỗi ngày. Điều này đồng nghĩa với việc khoảng 68% trường hợp lây lan trong cộng đồng ở Singapore được coi là mất dấu F0 và rất nhiều người có khả năng mắc bệnh mà vẫn chưa được phát hiện. Singapore đã phải gia hạn lệnh đóng cửa đất nước tới ngày 1/6 để đối phó với làn sóng lây nhiễm thứ hai,

Tại Trung Quốc, đầu tháng 4, người dân nước này chưa hết hân hoan khi thành phố Vũ Hán được gỡ bỏ lệnh cách ly, thì ngày 23/4, thành phố Cáp Nhĩ Tân – một trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa quan trọng ở vùng Đông Bắc, cũng là cơ sở công nghiệp quan trọng, đã phải phong tỏa chỉ vì để lọt 1 ca bệnh là du học sinh, 22 tuổi, trở về từ New York (Mỹ) hồi tháng 3.

Kết quả xét nghiệm ban đầu cho thấy âm tính và do không hề có những triệu chứng thông thường của người mắc COVID-19 nên bệnh nhân chỉ được cách ly tại nhà. Du học sinh này sau đó đã lây cho hàng xóm. Kết quả là ngày 9/4  xuất hiện 1 ca nhiễm mới ở Cáp Nhĩ Tân và đến nay thành phố này đã có hơn 80 người mắc bệnh, biến thành phố 11 triệu dân trở thành tâm dịch của làn sóng lây nhiễm thứ hai tại Trung Quốc.

Một trạm kiểm soát ở thành phố biên giới Tuy Phân Hà, thuộc tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc, vào ngày 21/4. (Nguồn: Getty Images)
Một trạm kiểm soát ở thành phố biên giới Tuy Phân Hà, thuộc tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc, vào ngày 21/4. (Nguồn: Getty Images)

Ở tỉnh Hokkaido, miền Bắc Nhật Bản, việc gỡ bỏ phong tỏa quá sớm được cho là một trong những nguyên nhân khiến làn sóng lây nhiễm virus SARS-CoV-2 quay trở lại. Cũng từng được coi là “mô hình thành công” trong việc khống chế COVID-19, khi dịch bệnh tràn vào Nhật Bản, cuối tháng 2 vừa qua, Hokkaido là địa phương đầu tiên của Nhật Bản ban bố tình trạng khẩn cấp, đóng cửa các trường học, cấm tụ tập đông người và khuyến khích người dân ở nhà.

Chính sách này phần nào đã phát huy hiệu quả khi số ca mắc mới mỗi ngày chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, ngày 19/3, chính quyền tỉnh đã quyết định dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp. Tuy nhiên, 26 ngày sau, chính quyền tỉnh này phải ban bố tình trạng khẩn cấp trở lại khi số ca mắc mới tăng tới 80% trong chưa đầy 1 tháng.

Làn sóng lây nhiễm thứ hai bắt đầu khởi phát khi thông báo gỡ bỏ phong tỏa được đưa ra ngay trước kỳ nghỉ cuối tuần và người dân Hokkaido đã tràn ra đường,

Bác sỹ Kiyoshi Nagase, Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Hokkaido, đã phải thừa nhận: “Tôi rất hối hận. Chúng tôi đáng lẽ không nên gỡ bỏ tình trạng khẩn cấp.”

Theo bác sỹ Nagase, làn sóng lây nhiễm thứ hai bắt đầu khởi phát khi thông báo gỡ bỏ phong tỏa được đưa ra ngay trước kỳ nghỉ cuối tuần và người dân Hokkaido đã tràn ra đường, ngồi lại trong các quán càphê và tổ chức ăn mừng sau nhiều tuần “chôn chân tại nhà.” Trong khi đó, người dân Nhật Bản ở các vùng khác bắt đầu tới Hokkaido để du lịch, sinh viên trở lại học tập và các doanh nghiệp cử người lao động đến Hokkaido từ Tokyo hay Osaka.

Giới chuyên gia Nhật Bản cũng thừa nhận rằng chính quyền nhìn thấy nguy cơ từ những người đến từ nước ngoài, nhưng không nghĩ rằng việc di chuyển trong nước cũng có khả năng mang virus trở lại và “những gì xảy đến ở Hokkaido cho thấy sẽ rất nguy hiểm,… ngay cả khi khống chế được làn sóng lây nhiễm đầu tiên, chúng ta cũng không thể thỏa mãn.”

Làng cổ Edo của Hokkaido vắng lặng trong đại dịch COVID-19. (Nguồn:ttgasia.com)
Làng cổ Edo của Hokkaido vắng lặng trong đại dịch COVID-19. (Nguồn:ttgasia.com)

Theo quan điểm của phó giáo sư về dịch tễ tại Đại học Johns Hopkins (Mỹ) Justin Lessler, dịch bệnh cũng như những đám cháy, khi có sẵn nguồn nhiên liệu, chúng sẽ bùng phát không kiểm soát; còn khi nguồn nhiên liệu dần cạn kiệt, chúng sẽ cháy âm ỉ.

Điều này có nghĩa là một dịch bệnh đã tạm lắng dịu hoàn toàn có thể tái bùng phát khi có những điều kiện thích hợp, và nguy cơ này càng nghiêm trọng hơn khi những người mang mầm bệnh tồn tại trong cộng đồng không được phát hiện, bởi rất nhiều người nhiễm bệnh không hề có triệu chứng hoặc người tái nhiễm sau khi được công bố khỏi bệnh.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng cho rằng không thể chắc chắn những người từng xét nghiệm dương tính với virus SARS-CoV-2, đã khỏi bệnh sẽ không bị tái nhiễm.

Dịch bệnh cũng như những đám cháy, khi có sẵn nguồn nhiên liệu, chúng sẽ bùng phát không kiểm soát; còn khi nguồn nhiên liệu dần cạn kiệt, chúng sẽ cháy âm ỉ

Ngay cả ở những nước được đánh giá là kiểm soát dịch bệnh thành công như Việt Nam, với 270 ca mắc tính đến tối 28/4, trong đó 82% đã được điều trị khỏi (222 ca), không có ca tử vong và liên tiếp 12 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng, song nhiều chuyên gia y tế cho rằng nguy cơ dịch vẫn tiềm ẩn, bởi tại Viêt Nam cũng xuất hiện các ca dương tính trở lại sau khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2.

Thực tế thì Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn phòng chống dịch COVID-19, trong đó mỗi giai đoạn đều xuất hiện những yếu tố gây nguy cơ mới đòi hỏi các biện pháp quyết liệt để ngăn chặn.

Giai đoạn đầu, Việt Nam đã đạt được thành công trong việc ngăn chặn dịch bệnh từ nước ngoài xâm nhập với những biện pháp tích cực và mau lẹ kể từ khi phát hiện những ca bệnh đầu tiên ngày 23/1, và chỉ sau 1 tháng, toàn bộ 16 ca mắc COVID-19 đầu tiên ở Việt Nam đã khỏi bệnh. Tuy nhiên, sau hơn 20 ngày không có ca bệnh mới, Việt Nam bước vào giai đoạn hai, từ ca xâm nhập lây sang người Việt Nam sau khi các ca bệnh 17 và 34 từ nước ngoài trở về nước.

Tiếp tục tuyên truyền  tới người dân nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng  chống dịch. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)
Tiếp tục tuyên truyền tới người dân nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng chống dịch. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

Với quyết định tạm dừng nhập cảnh đối với tất cả người nước ngoài từ 0 giờ ngày 22/3, đồng thời thực hiện cách ly tập trung 14 ngày đối với mọi trường hợp nhập cảnh, Việt Nam đã chặn tất cả nguồn lây nhiễm từ bên ngoài. Song cùng lúc đó, Việt Nam đã ghi nhận 3 ca bệnh mở đầu cho giai đoạn ba của dịch COVID-19: giai đoạn dịch bệnh lây lan trong cộng đồng, với các ổ dịch tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), quán bar Buddha (Thành phố Hồ Chí Minh), sau đó là xã Sơn Lôi, huyện Mê Linh (Hà Nội). Thông qua các biện pháp giãn cách xã hội kịp thời, quyết liệt, dịch bệnh đã không bùng phát và Việt Nam dã kiểm soát được sự lây lan của virus.

Mặc dù vậy, các chuyên gia đánh giá giãn cách xã hội cũng không thể giải quyết được 100% dịch bệnh cũng như sự lây nhiễm trong cộng đồng, chỉ có thể giảm tối đa việc người mang mầm bệnh tiếp xúc với người lành và ngược lại, hạn chế được sự lây lan một cách thấp nhất.

Nguy cơ làn sóng lây nhiễm COVID-19 thứ hai hoặc thậm chí thứ ba, thứ tư… vẫn đang rình rập, mà chỉ một chút chủ quan, lơi lỏng cũng sẽ dẫn đến hậu quả khó lường

Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh trên thế giới diễn biến phức tạp, với khoảng 40% người mang mầm bệnh không có triệu chứng, chưa thể loại trừ còn trường hợp người mang mầm bệnh đang sống trong cộng đồng, chưa kể những ca dương tính trở lại, đó sẽ là nguồn “lây lan thầm lặng” tạo ra “làn sóng lây nhiễm thứ hai” khó kiểm soát khi thế giới vẫn chưa có vắcxin ngừa virus SARS-CoV-2 hay thuốc đặc trị.

Nói như ông Paul Anantharajah Tambyah, Chủ tịch Hiệp hội Vi sinh học lâm sàng khu vực châu Á-Thái Bình Dương: “Chúng ta không an toàn ở bất cứ đâu cho tới khi mọi người trên toàn thế giới được an toàn.”

Bài học lịch sử, dịch cúm năm 1918, khiến 50 triệu người thiệt mạng, là ví dụ điển hình rằng dịch bệnh tấn công theo từng đợt nối tiếp nhau, đợt sau nghiêm trọng hơn đợt trước. Bài học tái bùng phát dịch dịch COVID-19 từ Nhật Bản, Singapore,… cũng đều cho thấy làn sóng lây nhiễm thứ hai có thể xâm nhập, tồn tại và phát triển trong một cộng đồng và chỉ được phát hiện khi đã lay lan cho nhiều người. Điều đó có nghĩa là nguy cơ làn sóng lây nhiễm COVID-19 thứ hai hoặc thậm chí thứ ba, thứ tư… vẫn đang rình rập, mà chỉ một chút chủ quan, lơi lỏng cũng sẽ dẫn đến hậu quả khó lường./.

(Nguồn: Getty Images)
(Nguồn: Getty Images)

Tổng Giám đốc Nguyễn Đức Lợi:

Lời tòa soạn

Suốt chặng đường gần 75 năm đồng hành cùng dân tộc, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng và Nhà nước, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) không ngừng lớn mạnh, phát triển vượt bậc về cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, điều hành thông tin và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở hạ tầng. Đội ngũ người làm báo TTXVN đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của ngành để giữ vững vai trò xung kích trên mặt trận thông tin-tư tưởng, bảo đảm thông tin thông tấn là dòng thông tin chủ lưu, liên tục và chuẩn xác, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, là nguồn thông tin phong phú và tin cậy cho các cơ quan báo chí Việt Nam và quốc tế cũng như độc giả trên khắp thế giới.

Để hiểu rõ hơn về vai trò, đóng góp của TTXVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như định hướng phát triển của TTXVN trong tương lai, VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với nhà báo Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc TTXVN.

Trong suốt 75 năm đồng hành cùng dân tộc, Việt Nam Thông tấn xã – VNTTX (nay là Thông tấn xã Việt Nam – TTXVN) đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Xin Tổng giám đốc cho biết vai trò của VNTTX và Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ được thể hiện như thế nào?

Trước tiên, tôi phải khẳng định, để nói về đóng góp của VNTTX và TTXGP, sau này hợp thành TTXVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phải cần nhiều thời gian và rất nhiều trang giấy. Khuôn khổ cuộc phỏng vấn này không cho phép tôi nêu được đầy đủ và toàn diện.

Tôi chỉ có thể nói ngắn gọn về vai trò của VNTTX ở miền Bắc và của TTXGP ở miền Nam trong giai đoạn lịch sử này ở ba hoạt động đặc biệt. Đó là đưa phóng viên lên tuyến đầu, cung cấp thông tin mật phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cung cấp thông tin thời sự từ chiến trường và từ bàn đàm phán. “Cơ quan thông tin chiến lược của Đảng và Nhà nước” là đánh giá ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa mà Bộ chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng dành cho TTXVN thời kỳ đó.

Về hoạt động đưa phóng viên lên tuyến đầu, đội ngũ đông đảo những người làm báo của VNTTX và TTXGP thực sự là những nhà báo-chiến sỹ. Họ dũng cảm xông pha nơi chiến trường, chiến đấu bằng ngòi bút, máy ảnh, máy quay và bằng cả vũ khí, để dòng chảy thông tin của TTXVN không một phút ngừng nghỉ. Họ thực sự là những tấm gương về đức hy sinh, sự tận tâm với nghề, cần cù và sáng tạo. Bất chấp nguy hiểm, nhiều phóng viên tin, phóng viên ảnh và kỹ thuật viên đã lên đường ra mặt trận.

Không chỉ thực hiện công tác thông tin, nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên kỹ thuật TTXGP còn trực tiếp tham gia nhiều trận đánh cùng Quân Giải phóng. Theo thống kê chưa đầy đủ, TTXGP có hơn 240 nhà báo và kỹ thuật viên hy sinh, tương đương gần 50% tổng biên chế của TTXGP vào cuối năm 1974. Nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trong các cánh rừng, hài cốt đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Đó là tổn thất nặng nề, song cũng chính là đóng góp vô giá của TTXGP đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Theo thống kê chưa đầy đủ, TTXGP có hơn 240 nhà báo và kỹ thuật viên hy sinh, tương đương gần 50% tổng biên chế của TTXGP vào cuối năm 1974.

Thứ hai, về hoạt động cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong thời chiến: Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, TTXVN đã tận dụng tất cả các lợi thế của mình để khai thác được từ nhiều nguồn, như thông tin của phóng viên chiến trường về những động thái bất thường của bên kia chiến tuyến, thông tin của hệ thống các phóng viên thường trú TTXVN ở nước ngoài gửi về và thông tin mà đội ngũ ở Tổng xã thường xuyên theo dõi và khai thác từ đài phát thanh và các hãng thông tấn phương Tây.

Từ các báo cáo mật chứa đựng nhiều thông tin quý giá của TTXVN, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước có thêm cơ sở để dự báo và ra các quyết sách mang lại chiến thắng cho Việt Nam trên chiến trường và trên bàn đàm phán. Điều này giải thích tại sao các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Tố Hữu và nhiều đồng chí lãnh đạo khác đã từng nhiều lần đến thăm và làm việc tại các trụ sở của TTXVN.

Đồng chí Lê Văn Lương (nguyên Bí thư Khu ủy Tả Ngạn, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Thành ủy Hà Nội) đã có lần dành cả ngày ở TTXVN và đã nói với lãnh đạo TTXVN: “Nguồn tin của các anh quan trọng lắm. Bộ Chính trị coi đây là nguồn tin chiến lược, bổ sung và thẩm định các nguồn tin riêng của Trung ương, giúp Đảng hoạch định quyết sách đúng trong chiến tranh”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường đến TTXVN vào thời điểm trước các trận đánh lớn như Xuân Mậu Thân 1968, Quảng Trị 1972.

Từ các báo cáo mật chứa đựng nhiều thông tin quý giá của TTXVN, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước có thêm cơ sở để dự báo và ra các quyết sách mang lại chiến thắng cho Việt Nam trên chiến trường và trên bàn đàm phán.

Thứ ba là hoạt động cung cấp thông tin thời sự. Quan điểm của TTXVN là thông tin thời chiến phải kịp thời và có lợi cho đất nước, không được gây hoang mang cho nhân dân và chiến sĩ, đồng thời thông tin phải khách quan để thế giới thấy rõ bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong thời kỳ chiến sự ác liệt “vừa đánh, vừa đàm”, thông tin từ phóng viên chiến trường miền Nam của TTXGP và thông tin của các phóng viên VNTTX có mặt tại các sự kiện chính trị-ngoại giao lớn của đất nước, như đàm phán Hiệp định Paris, đặc biệt có giá trị.

Bên cạnh đó, VNTTX còn thực hiện hiệu quả thông tin về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc. Mặc dù số lượng cán bộ thời kỳ đó còn ít ỏi, song VNTTX không bỏ sót thông tin quan trọng nào.

Tôi có thể khẳng định, giai đoạn chiến tranh chống Mỹ cứu nước là giai đoạn hào hùng và đáng tự hào nhất của TTXVN và đây là niềm tự hào chung của tất cả các thế hệ nhà báo thông tấn.

– Trong suốt cuộc trường chinh của dân tộc, VNTTX luôn coi việc chi viện nhân lực cho miền Nam, cho TTXGP là nhiệm vụ thiêng liêng để giữ vững mạch máu thông tin. Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào, thưa ông?

Chi viện cho miền Nam, cho TTXGP ruột thịt là nhiệm vụ thiêng liêng của VNTTX.

Chúng ta cần nhắc lại giai đoạn lịch sử của năm 1959, năm mở đầu phong trào Đồng khởi của nhân dân ta ở miền Nam. Khi đó, rất cần có một cơ quan thông tin để kịp thời phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt đó. Sau một thời gian tập hợp lực lượng và chuẩn bị phương tiện, lúc 19 giờ ngày 12/10/1960, bản tin đầu tiên của TTXGP được phát đi, với tiêu đề “Giải phóng xã” và dòng chữ “Tiếng nói chính thức của những người yêu nước miền Nam Việt Nam,” thông báo với nhân dân trong nước và thế giới cuộc đồng khởi của đồng bào miền Nam phá thế kìm kẹp của địch.

Sự ra đời của TTXGP đã khai thông liên lạc miền Bắc với miền Nam trên làn sóng điện.

TTXGP trở thành cơ quan phát ngôn chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, thực hiện nhiệm vụ thông tin và phổ biến kinh nghiệm đấu tranh của đồng bào, phản ánh khí thế ngày càng lớn mạnh của phong trào cách mạng ở miền Nam và sau này là sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn.

Sự ra đời của TTXGP đã khai thông liên lạc miền Bắc với miền Nam trên làn sóng điện. Kể từ ngày lịch sử đó, bản tin của TTXGP phát ra Hà Nội đều đặn vào 18 giờ hàng ngày. Cũng từ ngày đó, trên các báo ở miền Bắc và thế giới có nguồn tin TTXGP. Qua VNTTX ở Hà Nội, bản tin TTXGP được đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng ở miền Bắc, được phát đi thế giới với tên viết tắt là “LPA.”

Cũng từ sau ngày 12/10/1960, các đợt chi viện nhân lực và thiết bị cho TTXGP liên tiếp được VNTTX tổ chức thực hiện. Đặc biệt, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam tiến hành chiến tranh cục bộ và leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, VNTTX bước vào cuộc chiến đấu mới, một mặt vừa tổ chức lực lượng, chuẩn bị cơ sở dự phòng, tăng cường trang thiết bị, vừa tiếp tục chi viện cho TTXGP ruột thịt, vừa mở rộng thông tin đối nội và đối ngoại. Lực lượng lãnh đạo và hàng trăm phóng viên tin, ảnh, kỹ thuật viên nối tiếp nhau vào mặt trận đã đảm bảo cho TTXGP không bỏ sót thông tin về mặt trận nào.

Cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho TTXGP, VNTTX còn đào tạo phóng viên, kỹ thuật viên, cử cán bộ lãnh đạo tham gia chiến trường. Từ năm 1959-1975, VNTTX đã cử vào chiến trường gần 450 người.

Với lực lượng cán bộ đông đảo, TTXGP xây dựng cơ cấu tổ chức thành các phòng biên tập tin đối nội, đối ngoại, thế giới, nhiếp ảnh, điện vụ kỹ thuật, văn phòng, tổng hợp, in ấn, giao liên, phát hành. Hàng ngày, TTXGP in và phát hành trên 400 bản tin các loại như tin phổ biến, tin nhanh, tin đặc biệt, tài liệu tham khảo.

Khi Hiệp định Paris được ký kết, để chuẩn bị đón thời cơ mới, theo lệnh của Trung ương Cục miền Nam, TTXGP nhanh chóng dời căn cứ Kađôn trở về căn cứ cũ tại Phum Cháy, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, TTXGP được VNTTX chi viện một đoàn quân mới, lớp GP10, gồm 100 phóng viên, biên tập viên, điện báo viên và cán bộ kỹ thuật, do đồng chí Trần Thanh Xuân, Phó Giám đốc VNTTX làm trưởng đoàn, cùng 14 xe vận tải chở hành chục tấn máy móc, thiết bị thông tin.

Khi tiếng nổ ran của băng pháo dài từ nóc nhà số 5 Lý Thường Kiệt thả xuống, cũng là lúc tiếng reo hò của quần chúng vang lên làm nức lòng người. Đó cũng là tiếng pháo đầu tiên ở Hà Nội mừng ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đặc biệt, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, đồng chí Đào Tùng, Giám đốc VNTTX, đích thân từ Hà Nội dẫn đầu một lực lượng cán bộ, phóng viên, nhân viên kỹ thuật giỏi tăng cường vào Nam. Phóng viên VNTTX và TTXGP sát cánh bên nhau trên từng mũi tiến quân, có mặt ở tất cả các địa phương trong cuộc tiến công và nổi dậy thần tốc đó, đặc biệt có mặt trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Chính họ là một số trong những phóng viên ghi nhận và phát đi những thông tin và hình ảnh về sự đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh.

Mỗi khi đọc lại các trang sử TTXVN viết về ngày 30/4/1975, các nhà báo thông tấn ngày nay đều trào dâng niềm xúc động và tự hào. Khi lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên VNTTX và TTXGP ở Sài Gòn chứng kiến sự cáo chung của nội các Dương Văn Minh và tường thuật bằng tin, bài, hình ảnh thì tại Hà Nội, trước cửa trụ sở VNTTX ở số 5 Lý Thường Kiệt, nhân dân đứng đông như trong ngày hội chờ tin giải phóng Sài Gòn. Khi tiếng nổ ran của băng pháo dài từ nóc nhà số 5 Lý Thường Kiệt thả xuống, cũng là lúc tiếng reo hò của quần chúng vang lên làm nức lòng người. Đó cũng là tiếng pháo đầu tiên ở Hà Nội mừng ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

– Ngày 12/5/1976, VNTTX và TTXGP – hai người anh em ruột thịt, đã chính thức hợp nhất với tên gọi TTXVN. Thưa ông, điều đó đã tạo nên sức mạnh ra sao khi TTXVN hòa vào khí thế cách mạng chung của dân tộc, bước vào giai đoạn mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa?

Đối với TTXVN, ngày 12/5/1976 là thời khắc lịch sử khi VNTTX và TTXGP chính thức hợp nhất. Sức mạnh của hai cơ quan thông tấn ruột thịt đã được hợp nhất trong giai đoạn mới của đất nước và sức mạnh đó tiếp tục được củng cố khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Song hành cùng với sự phát triển của đất nước, TTXVN đã không ngừng lớn mạnh cả về cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, điều hành thông tin và đổi mới trang thiết bị kỹ thuật hạ tầng, phát triển nhiều loại hình thông tin trên nền tảng công nghệ hiện đại, tăng cường hợp tác quốc tế.

Có thể khẳng định TTXVN nay đã trở thành một hãng thông tấn quốc gia hiện đại, với khoảng 2.300 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, chuyên viên, kỹ thuật viên… hoạt động theo mô hình tổ hợp, trong đó có năm ban biên tập tin nguồn, Trung tâm Thông tin tư liệu và Đồ họa, Trung tâm Truyền hình Thông tấn – kênh thông tin chính luận chuyên biệt; các tòa soạn báo gồm báo Tin tức, Thể thao và Văn hóa, Báo ảnh Dân tộc và Miền núi – tờ báo ảnh duy nhất phát hành song ngữ là tiếng Việt và 11 tiếng dân tộc thiểu số, cùng các báo đối ngoại đều “duy nhất ở Việt Nam” như nhật báo tiếng Anh Việt Nam News, tạp chí tiếng Pháp Le Courrier du Vietnam, Báo ảnh Việt Nam (bằng 10 ngữ), Thời báo Việt-Hàn, tạp chí tiếng Anh chuyên đề về luật Vietnam Law & Legal Forum, và báo điện tử VietnamPlus – một trong những báo điện tử hàng đầu Việt Nam với 6 ngôn ngữ thể hiện; bên cạnh đó là Nhà Xuất bản Thông tấn, các đơn vị chức năng, hai doanh nghiệp in đặt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh…

Có thể khẳng định TTXVN nay đã trở thành một hãng thông tấn quốc gia hiện đại, với khoảng 2.300 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, chuyên viên, kỹ thuật viên… 

TTXVN sản xuất gần 70 sản phẩm thông tin thuộc đủ các loại hình: tin văn bản, ảnh, truyền hình, tin đồ họa, tin âm thanh, cùng nhiều sản phẩm thông tin hiện đại như megastory, phát hành trên các bản tin, báo in, báo điện tử, truyền hình, truyền thông đa phương tiện và mạng xã hội.

TTXVN cũng là cơ quan báo chí có hệ thống cơ quan thường trú ngoài nước lớn nhất Việt Nam, với 30 cơ quan thường trú tại 28 quốc gia, cùng với đó là mạng lưới cơ quan thường trú tại 63 tỉnh, thành trong cả nước. Các phóng viên của chúng ta nỗ lực không ngừng, khẳng định vai trò xung kích tại các điểm nóng thông tin ở trong nước cũng như trên thế giới.

Hoạt động đối ngoại ngành không ngừng phát triển. TTXVN có quan hệ hợp tác với hơn 40 hãng thông tấn và tổ chức báo chí nước ngoài tại cả năm châu lục, với uy tín không ngừng được nâng cao tại các tổ chức báo chí quốc tế và khu vực.

Có thể khẳng định rằng TTXVN đã phát triển nhanh, mạnh cả về bề rộng và chiều sâu, trở thành hãng thông tấn quốc gia hàng đầu trong khu vực. Với vai trò là cơ quan thông tấn tin cậy của Đảng và Nhà nước, có nhiều đóng góp quan trọng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong suốt nhiều thập kỷ, TTXVN vinh dự là cơ quan báo chí đầu tiên ở Việt Nam được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và Anh hùng Lao động, cùng nhiều danh hiệu cao quý khác.

– Trong những giai đoạn ác liệt nhất của hai cuộc kháng chiến chống Mỹ, không một chiến trường, không một hướng tiến quân, không một địa bàn chiến đấu nào vắng mặt phóng viên của TTXVN. Ngày nay, đội ngũ người làm báo TTXVN đã kế thừa truyền thống đó như thế nào để giữ vững vai trò xung kích trên mặt trận thông tin-tư tưởng, đảm bảo thông tin thông tấn là dòng tin chủ lưu, liên tục, chuẩn xác và có tính định hướng cao?

Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Nhìn lại chặng đường phát triển của ngành từ sau năm 1975 đến nay, tôi có thể khẳng định rằng đội ngũ những người làm báo TTXVN đã và đang viết tiếp các trang vàng lịch sử của ngành. Những điều bạn vừa nêu, như dòng tin chủ lưu, liên tục, chuẩn xác, tính định hướng cao, là đặc điểm nổi bật của thông tin thông tấn. Theo tôi, cần bổ sung những đặc tính khác, như hiện đại, hấp dẫn và đa dạng về hình thức thể hiện và kênh phát hành…

Thông tin thông tấn có được các đặc tính nổi bật đó là nhờ sự tận tụy với nghề, sự năng động, nhạy bén và sáng tạo của đội ngũ người làm báo của ngành. Có không ít phóng viên đã trải qua những thử thách khắc nghiệt của nghề báo, tác nghiệp tại những địa bàn khó khăn như vùng núi, hải đảo và trong những thời điểm “nước sôi lửa bỏng.”

Có những phóng viên của chúng ta phải xông vào các điểm nóng về thiên tai, sự cố; phải bám sát hàng ngày, hàng giờ diễn biến của các phiên tòa “điểm,” thức trọn đêm ở Đồng Đăng để giữ được vị trí ghi hình tốt trong sự kiện Thượng đỉnh Mỹ-Triều, trắng đêm chờ thông tin của Bộ Giáo dục Đào tạo về những trường hợp gian lận thi cử trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018.

Phóng viên TTXVN đã có những chuyến vượt sóng ra đảo xa để phản ánh đời sống của người dân và chiến sỹ nơi tiền tiêu của Tổ quốc, hay các chuyến tác nghiệp đột xuất của phóng viên thường trú ngoài nước tới các địa bàn đang là điểm nóng, xung đột quân sự, nội chiến hay để tiếp cận những trường hợp bảo hộ công dân Việt Nam…

Chúng ta sẽ mãi không quên hình ảnh người đồng nghiệp trẻ đầy nhiệt huyết, đầy hoài bão của chúng ta, phóng viên Đinh Hữu Dư, anh đã hy sinh khi đang tác nghiệp, đưa tin trận lũ quét kinh hoàng ở Yên Bái tháng 10/2017 .

Gần đây nhất là đợt thông tin về dịch bệnh COVID-19 kéo dài suốt bốn tháng qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều nhà báo thông tấn làm việc không kể ngày đêm để đưa tin từ các vùng tâm dịch tại Việt Nam và trên thế giới.

Những nỗ lực không ngừng nghỉ và sự bất chấp hiểm nguy của đội ngũ y bác sỹ Việt Nam cũng như sự chu đáo, nhiệt tình của các cán bộ chiến sỹ đã được các nhà báo TTXVN phản ánh sinh động.

TTXVN cũng đi đầu trong phản ánh những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế đối với thành công của Việt Nam trong kiểm soát dịch bệnh này, với những nhận định làm nức lòng người và khích lệ người dân Việt Nam cùng chung tay với chính phủ. Đây là một trong nhiều đợt thông tin lớn mà TTXVN huy động sức mạnh của toàn ngành, thể hiện vị trí, vai trò của cơ quan báo chí chủ lực quốc gia.

– Trong thời đại công nghệ số, đứng trước áp lực cạnh tranh thông tin (đến từ sự phát triển không ngừng của truyền thông trong nước và quốc tế, kể cả truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội), TTXVN sẽ tiếp tục có những đổi mới gì để giữ vững vai trò định hướng thông tin, nhằm phục vụ đắc lực hơn nữa công cuộc Đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, vừa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của độc giả, thưa ông?

Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, báo chí có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đứng trước những thách thức nặng nề hơn. Chúng ta đã đặt mục tiêu đưa TTXVN trở thành một hãng thông tấn quốc gia đa phương tiện mạnh. Mục tiêu này bao hàm nhiều ý nghĩa. Nhưng để biết được chúng ta cần chú trọng hướng phát triển nào, trước tiên, chúng ta phải hiểu được những thách thức lớn nhất đối với TTXVN hiện nay là gì để từ đó đặt ra các bước đi cụ thể.

Thách thức đầu tiên là làm thế nào để TTXVN không bị tụt hậu.

Thách thức đầu tiên là làm thế nào để TTXVN không bị tụt hậu. Để vượt qua thách thức này chúng ta phải nắm bắt được xu thế của truyền thông thế giới để từ đó xây dựng chiến lược phát triển phù hợp theo hướng làm chủ công nghệ hiện đại và ứng dụng cho sản xuất thông tin.

Trong lĩnh vực này, thì việc ưu tiên đầu tư cho công tác đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm báo cũng như đầu tư cho hạ tầng công nghệ, kỹ thuật của ngành là đòi hỏi tiên quyết.

Bên cạnh đó, công tác đối ngoại giữ một vai trò quan trọng. Việc tham khảo, học hỏi các hãng thông tấn bè bạn, nhất là các hãng thông tấn hàng đầu thế giới, đang và sẽ được TTXVN chú trọng.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng uy tín của TTXVN đã không ngừng được nâng cao trên diễn đàn báo chí quốc tế những năm gần đây. Ngày càng có nhiều hãng thông tấn, cơ quan báo chí từ châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, tìm đến TTXVN đề nghị thiết lập quan hệ hợp tác. TTXVN được bầu vào Ban Chấp hành OANA liên tục nhiều nhiệm kỳ gần đây. Thực tế này chứng tỏ chúng ta đang nằm trong dòng chảy thông tin thế giới, và nhiệm vụ của chúng ta là duy trì và củng cố vị thế này.

Thách thức thứ hai là nạn tin giả và sự lấn lướt của mạng xã hội. 

Thách thức thứ hai là nạn tin giả và sự lấn lướt của mạng xã hội. Bất kỳ hãng thông tấn hay cơ quan báo chí nào, của Việt Nam cũng như thế giới đều đang phải đương đầu với thách thức này. Tin giả đang như một bệnh dịch len lỏi vào từng ngóc ngách của xã hội, “ký sinh” trên mạng xã hội mà bùng phát. Nó không chỉ bóp méo thực trạng xã hội mà còn được sử dụng cho các âm mưu chính trị và gây rối trật tự xã hội. Chẳng đâu xa, những tác hại của tin giả trong đại dịch COVID-19 toàn cầu hiện nay là minh chứng rõ rệt nhất.

Vì vậy, không chỉ trông chờ biện pháp xử lý của các cơ quan chức năng mà mỗi chúng ta – mỗi người làm báo của TTXVN – có thêm nhiệm vụ của một “công dân mạng” chân chính. Đó là kịp thời có thông tin chỉnh hướng, bác bỏ thông tin sai lệch, xuyên tạc trên các sản phẩm thông tin của ngành và ngay trên mạng xã hội. Đây là nhiệm vụ lâu dài và thường xuyên mà lãnh đạo ngành đặt ra với mỗi thành viên của gia đình thông tấn.

Thứ ba là thách thức về con người. Nghề báo có một số đặc thù, phải trải qua cọ xát thực tế để tích lũy kiến thức và rèn luyện bản lĩnh, cũng như luôn phải tiếp cận với công nghệ mới để không bị bỏ lại phía sau.

Trong chiến tranh hay trong thời bình, nhà báo thông tấn đều luôn là những người đứng ở tuyến đầu. Dù phương pháp tác nghiệp ở mỗi thời có những điểm khác nhau, nhưng phẩm chất và đạo đức nhà báo thì không có gì thay đổi.

Trong tình hình xã hội ngày nay, nhà báo cần giữ vững đạo đức và trách nhiệm xã hội của người cầm bút, vượt qua được mọi cám dỗ để viết và viết những gì có lợi cho đất nước. Sự phát triển nhanh của công nghệ đòi hỏi mỗi phóng viên, biên tập viên của TTXVN ngày càng phải đa năng hơn, đặc biệt là các nhà báo trẻ. Tôi đặt nhiều hy vọng ở thế hệ trẻ của TTXVN hiện nay.

Để vượt lên chính mình của ngày hôm qua, đội ngũ những người làm báo chúng ta, ngoài kiến thức chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ, giờ đây cần phải am hiểu công nghệ, cập nhật các phương thức làm báo hiện đại, nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp.

Chúng ta đang sống trong những ngày kỷ niệm 45 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cũng là những ngày tháng đầy hoài niệm về lịch sử vẻ vang của Ngành. Trân trọng và biết ơn các thế hệ đi trước, chúng ta càng ý thức được trách nhiệm của mình, càng phải nỗ lực hơn nữa để xứng đáng với quá khứ và thích ứng tốt với tương lai.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Quần đảo Trường Sa

Vào những ngày này 45 năm trước, cùng với đoàn quân tốc chiến tốc thắng tiến về Sài Gòn, đã có một lực lượng đặc biệt được giao thực hiện một nhiệm vụ cũng rất đặc biệt trên mặt trận biển Đông là giải phóng Trường Sa.

Đây là một quyết định thể hiện tầm nhìn chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Quốc Phòng đối với vấn đề chủ quyền biển đảo.

Chủ trương đúng, kịp thời

Sau khi Buôn Ma Thuột, Trị Thiên-Huế và Đà Nẵng được giải phóng, tình hình chiến trường miền Nam diễn biến hết sức mau lẹ. Thời cơ giải phóng biển đảo, thống nhất đất nước đến nhanh hơn bao giờ hết.

9 giờ sáng ngày 29/4, phân đội chiến đấu cuối cùng của Lữ đoàn 126 đổ bộ làm chủ đảo Trường Sa. Từ đó quần đảo Trường Sa bước vào thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ xây dựng chiến đấu và trưởng thành, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày 4/4/1975, thay mặt Thường vụ Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một bức điện cho Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân, chính thức giao nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa, trong đó chỉ rõ: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy giao nhiệm vụ cho Khu ủy, Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân khẩn trương nghiên cứu kế hoạch tác chiến và tiến hành mọi công tác chuẩn bị để khi có thời cơ thì kịp thời giải phóng quần đảo Trường Sa, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng.”

Lực lượng Đặc công hải quân Đoàn 126 giải phóng đảo Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 28/4/1975. (Ảnh: TTXVN)
Lực lượng Đặc công hải quân Đoàn 126 giải phóng đảo Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 28/4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Do ý thức đầy đủ về chủ quyền biển, đảo nên ngay từ đầu năm 1975, Quân chủng Hải quân cũng đã xây dựng các phương án và chuẩn bị tác chiến trên hướng biển, đặc biệt là giải phóng các đảo khi có lệnh.

Theo phương án tác chiến, mục tiêu là các đảo Song Tử Tây, Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa; phương châm tác chiến là: bí mật, bất ngờ tiến công. Thời cơ đánh chiếm đảo được xác định từ 0 đến 2 giờ sáng là lúc ta có thể lợi dụng yếu tố thủy văn để bí mật đổ quân lên đảo.

Ngày 9/4/1975, khi ở trong đất liền, cuộc tiến công vào phòng tuyến Xuân Lộc mở màn, thì trên hướng biển, Bộ Tư lệnh Hải quân được lệnh ra giải phóng quần đảo Trường Sa.

Ngày 11/4/1975, các lực lượng của ta bí mật xuất phát từ Đà Nẵng và chọn đảo Song Tử Tây làm mục tiêu giải phóng đầu tiên.

Rạng sáng 14/4, Đội 1 đặc công hải quân, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Ngọc Quế, đội trưởng (Đoàn 126) chia làm 3 mũi, bí mật áp sát đảo. Đúng 4 giờ ta bắt đầu nổ súng.

Trong chuyến ra thăm Trường Sa (tháng 5/1988), Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh phát biểu về chủ quyền thiêng liêng của quần đảo Trường Sa và trách nhiệm, sứ mệnh của bộ đội Trường Sa trong việc bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc nơi đầu sóng ngọn gió. Bài phát biểu ấy được coi như Tuyên ngôn về Trường Sa có sức mạnh đặc biệt đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong thời kỳ mới. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Trong chuyến ra thăm Trường Sa (tháng 5/1988), Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh phát biểu về chủ quyền thiêng liêng của quần đảo Trường Sa và trách nhiệm, sứ mệnh của bộ đội Trường Sa trong việc bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc nơi đầu sóng ngọn gió. Bài phát biểu ấy được coi như Tuyên ngôn về Trường Sa có sức mạnh đặc biệt đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong thời kỳ mới. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Trước sự tấn công bất ngờ của ta, địch phản ứng yếu ớt, buộc phải đầu hàng. 4 giờ 20 phút, thượng sỹ Lê Xuân Phát kéo cờ giải phóng tung bay trên đảo, báo hiệu ta làm chủ hoàn toàn trận đánh.

Sau khi ta giải phóng Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ của địch trên quần đảo Trường Sa bị đe dọa, địch hoang mang lo sợ. Chớp thời cơ đó, lúc 0 giờ 30 ngày 25/4, ta sử dụng 2 tàu 673 và 641 chở lực lượng từ đảo Song Tử Tây đến đảo Sơn Ca, do thiếu úy Đỗ Viết Cường chỉ huy, đổ bộ lên đảo.

2 giờ 30 phút, ta nổ súng tấn công tiêu diệt địch. 3 giờ sáng 25/4 ta giải phóng hoàn toàn đảo Sơn Ca.

Sau chiến thắng của quân Giải phóng tại Song Tử Tây và Sơn Ca, hệ thống phòng thủ của địch trên các đảo bị đe dọa nghiêm trọng. Nam Yết mặc dù là trung tâm chỉ huy của địch trên quần đảo Trường Sa, nhưng chúng vẫn không thể kháng cự được.

10 giờ 30 ngày 27/5, ta làm chủ hoàn toàn Nam Yết. Đúng 10 giờ 20 phút ngày 28/4, ta làm chủ hoàn toàn đảo Sinh Tồn.

Bộ đội Đặc công hải quân Đoàn 126 giải phóng đảo An Bang thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 28/4/1975. (Ảnh: TTXVN)
Bộ đội Đặc công hải quân Đoàn 126 giải phóng đảo An Bang thuộc quần đảo Trường Sa, ngày 28/4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Đến 9 giờ sáng ngày 29/4, phân đội chiến đấu cuối cùng của Lữ đoàn 126 đổ bộ làm chủ đảo Trường Sa. Từ đó đảo Trường Sa nói riêng và quần đảo Trường Sa nói chung bước vào thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ xây dựng chiến đấu và trưởng thành bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Trường Sa – vững vàng trường tồn nơi đầu sóng

Kể từ ngày được giải phóng, đã 45 năm trôi qua, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân huyện đảo Trường Sa vẫn luôn vững vàng bám biển, bám đảo.

Với biết bao hy sinh và nỗ lực của quân và dân ta, Trường Sa hôm nay đã có một diện mạo hoàn toàn mới. Sức sống mới đang hiện diện khắp nơi.

Giữa sóng nước Trường Sa, cuộc sống của quân và dân trên các xã đảo, điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa diễn ra bình dị và tràn ngập tiếng cười vui, điển hình như sự thay da đổi thịt ở Song Tử Tây.

 Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)
 Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

Đặt chân lên đảo, khung cảnh rất thanh bình với những mái nhà đỏ tươi nằm xen giữa cây xanh, những con đường nhỏ đổ bêtông sạch sẽ…

Đặc biệt, đảo còn có tượng đài Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, chùa Song Tử Tây nằm sát biển.

Đi trên làng đảo, nghe tiếng trẻ em học bài, cùng tiếng chuông chùa ngân nga lúc ban chiều, cảm thấy yên bình đến lạ.

45 năm sau ngày giải phóng, Trường Sa hôm nay đã có một diện mạo hoàn toàn mới, ngày càng thay đổi, vươn mình kiêu hãnh và vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió.

Những năm gần đây, xã đảo Song Tử Tây còn trở thành điểm tựa của ngư dân đánh bắt xa bờ. Đội dịch vụ hậu cần nghề cá âu tàu đảo Song Tử Tây cung cấp miễn phí nước ngọt, các dịch vụ y tế, sửa chữa tàu thuyền cho bà con ngư dân. Ngư dân muốn sử dụng nhiên liệu, nhu yếu phẩm cũng được cung cấp với giá như trong đất liền.

Trên đảo Song Tử Tây còn có ngọn hải đăng rất đẹp đầu tiên được xây dựng trên quần đảo Trường Sa (tháng 10/1993). Đây là hải đăng cấp 1, thuộc hệ thống bảo đảm an toàn hàng hải quốc tế. Trên đảo còn có một trạm khí tượng thủy văn.

Dự án trồng rau xanh nhà kính được triển khai tại đảo Sơn Ca với 2 khu nhà kính (khoảng 100m2/khu) do Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam thực hiện và bàn giao cho đơn vị, đảm bảo cơ bản nhu cầu về rau xanh cho đảo Sơn Ca cũng như cho các đảo khác ở Trường Sa. (Ảnh: Trần Việt/ TTXVN)
Dự án trồng rau xanh nhà kính được triển khai tại đảo Sơn Ca với 2 khu nhà kính (khoảng 100m2/khu) do Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam thực hiện và bàn giao cho đơn vị, đảm bảo cơ bản nhu cầu về rau xanh cho đảo Sơn Ca cũng như cho các đảo khác ở Trường Sa. (Ảnh: Trần Việt/ TTXVN)

Riêng ở thị trấn Trường Sa (đảo Trường Sa Lớn) còn có rặng tre – món quà của một người bố mang ra đảo khi thăm con. Đó là hình ảnh thân thuộc, thương nhớ với biết bao người lính ở những vùng quê miền Bắc, miền Trung khiến cho đảo xa như một miền quê thân thương giữa đại dương mênh mông.

Trường Sa đã trồng và phát triển được nhiều loài cây nước lợ, thậm chí gần đây có cả một số loài cây ăn trái, rau xanh mà trước kia vốn chỉ sinh trưởng ở đất liền.

Chiến sỹ đảo Trường Sa đọc ấn phẩm báo chí từ đất liền gửi tặng để trau dồi kiến thức, làm phong phú thêm đời sống văn hóa. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)
Chiến sỹ đảo Trường Sa đọc ấn phẩm báo chí từ đất liền gửi tặng để trau dồi kiến thức, làm phong phú thêm đời sống văn hóa. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Từ một quần đảo không có sẵn các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sống, giờ đây cây xanh ở các đảo đều sinh trưởng tốt và đầy sức sống trong nắng gió Biển Đông.

Trên đảo những chú bò thảnh thơi dưới bóng cây, đàn vịt nước mặn kiếm ăn bên bờ biển, đàn chó bắt cá cùng chiến sỹ, những vườn rau xanh mướt, đàn cá kìm bơi tung tăng bên cầu cảng như ở ao nhà, những cây bàng vuông, phong ba, bão táp cổ thụ ngát hương hoa… Tất cả những hình ảnh bình yên ấy chẳng khác gì bức tranh thôn quê đầy sức sống nơi đất liền.

Nhiều đảo như Song Tử Tây, Trường Sa Lớn, Sinh Tồn… có trường học, có người dân ra lập nghiệp sinh sống, có trụ sở ủy ban xã đảo, có bệnh xá, có cả dân quân tự vệ.

Trẻ em vui đùa trên đảo Trường Sa Lớn. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)
Trẻ em vui đùa trên đảo Trường Sa Lớn. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Đến nay đã có năm ngôi chùa được xây dựng ở đảo Trường Sa Lớn, Song Tử Tây, Nam Yết, Sơn Ca và Sinh Tồn.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước bằng tinh thần “cả nước vì Trường Sa, Trường Sa vì cả nước,” nơi đảo xa ngày càng thay đổi, vươn mình kiêu hãnh và càng vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió.

Tháng rồi năm, mưa rồi nắng, những người con từ mọi miền đất nước vẫn nối nhau đến, ở lại tuyến đảo tiền tiêu, chắc tay súng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của Tổ quốc và để cùng nhau nở nụ cười tự hào khi nhìn về đất Mẹ.

Trường Sa – hai tiếng thiêng liêng và rất đỗi tự hào. Còn đảo, còn tàu, còn người, còn Tổ quốc; đảo là nhà, biển cả là quê hương; vững tay súng bảo vệ vững chắc biển đảo là nhiệm vụ được giao, tất cả vì Trường Sa thân yêu… những khẩu hiệu ấy không chỉ của cán bộ, chiến sỹ, nhân dân nơi đây mà còn là ý chí, quyết tâm của cả dân tộc bởi Trường Sa là một phần máu thịt không thể tách rời./.

Tàu cá của ngư dân vào neo đậu tránh trú bão ở âu tàu Sinh Tồn, huyện đảo Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)
Tàu cá của ngư dân vào neo đậu tránh trú bão ở âu tàu Sinh Tồn, huyện đảo Trường Sa. (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục thiếu nhi

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, kể từ khi tìm được con đường cứu dân cứu nước cho đến lúc vĩnh biệt chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo, săn sóc đến sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ, dành cho họ “muôn vàn tình thân yêu” và một niềm tin vững chắc vào khả năng cách mạng to lớn của tuổi trẻ Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trẻ em không chỉ “như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan” mà còn là người chủ tương lai của đất nước, một lực lượng “tuy tuổi còn nhỏ cũng có thể làm những việc ích nước, lợi dân.”

Lòng yêu thương sâu sắc, bao la của Bác Hồ đối với thiếu nhi không gì có thể so sánh nổi. Đó vừa là tình cảm của một lãnh tụ cách mạng kiệt xuất vừa là của người Bác kính yêu vô cùng gần gũi, luôn luôn đồng cảm và chan hoà với các cháu.

Theo tư tưởng của Người, trẻ em luôn luôn là một chủ thể sáng tạo, một lực lượng tham gia tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, một bộ phận của lực lượng cách mạng, là “người chủ tương lai của nước nhà.”

Trẻ em – Chủ nhân tương lai đất nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trẻ em không chỉ “như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan” mà còn là người chủ tương lai của đất nước, một lực lượng “tuy tuổi còn nhỏ cũng có thể làm những việc ích nước, lợi dân.”

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đón các cháu thiếu nhi tại Phủ Chủ tịch trong ngày Tết Trung thu năm 1961. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đón các cháu thiếu nhi tại Phủ Chủ tịch trong ngày Tết Trung thu năm 1961. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Trong thư gửi các cháu Tết Trung thu năm 1952, Bác Hồ viết:

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh Tính các cháu ngoan ngoãn, mặt các cháu xinh xinh Mong các cháu cố gắng, thi đua học và hành Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của minh Để tham gia kháng chiến, để giữ gìn hòa bình Các cháu hãy xứng đáng, cháu Bác Hồ Chí Minh!”

Đối với Người, trẻ em không chỉ là lớp cháu con cần xã hội dành cho tình thương yêu, sự chăm chút (mà chính Người suốt đời đã từng yêu thương, chăm chút, ngay cả trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, những lúc vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc), mà trẻ em còn là một lực lượng xã hội “biết yêu nước, biết ghét đế quốc,” khi người lớn phải kháng chiến cũng “hăng hái tham gia” và cũng “oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.”

Người mong muốn và đặc biệt quan tâm, nhắc nhở, khích lệ các cháu là học tập, học sao cho tốt, cho giỏi, bởi “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công cuộc học tập của các cháu…”

Con người là vốn quý, thiếu nhi là vốn quý nhất trong vốn quý ấy. Bác Hồ chỉ rõ: “Ngày nay chúng là thiếu nhi, ít năm sau chúng sẽ là công dân, cán bộ” điều này có nghĩa rằng hôm nay chúng ta chuẩn bị cho các em như thế nào, nay mai hệ quả gặt hái được sẽ như thế ấy.

Nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, tối 31/5/1969, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng thiếu nhi Thủ đô xem biểu diễn văn nghệ chào mừng Bác. (Ảnh: TTXVN)
Nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, tối 31/5/1969, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng thiếu nhi Thủ đô xem biểu diễn văn nghệ chào mừng Bác. (Ảnh: TTXVN)

Với mục tiêu đào tạo các em thành “người chủ tương lai của nước nhà, người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,” Bác Hồ đặt ra yêu cầu thực hiện giáo dục toàn diện đối với thiếu nhi.

Ngày 15/5/1961, vào dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Người đã gửi thư cho thiếu niên, nhi đồng cả nước và căn dặn:

1- Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào,2- Học tập tốt, lao động tốt,3- Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt,4- Giữ gìn vệ sinh thật tốt5- Khiêm tốt, thật thà, dũng cảm

Năm điều Bác dạy thiếu nhi hàm chứa những truyền thống quý báu từ bao đời nay của dân tộc ta. Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, kiên cường chiến đấu chống mọi kẻ thù xâm lược; ham học hỏi, cầu tiến bộ; đoàn kết, nhân ái, thương người như thể thương thân; lao động cần cù, dũng cảm, sáng tạo và mối quan hệ tin cậy, chân thật trong cộng đồng…

Năm điều Bác Hồ dạy thiếu nhi phản ánh những đặc trưng cơ bản của lớp người mới được hình thành trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mang tính toàn diện rõ rệt.

Năm điều ấy cũng phản ánh nguyên lý giáo dục mới của Đảng ta là học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vui múa hát cùng các cháu thiếu nhi tại Phủ Chủ tịch nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1960. (Nguồn: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh vui múa hát cùng các cháu thiếu nhi tại Phủ Chủ tịch nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6/1960. (Nguồn: TTXVN)

Cùng với năm điều Bác dạy đó, di sản lý luận và những lời dạy, những kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục thiếu nhi mà Bác để lại cho chúng ta hết sức phong phú trên nhiều bình diện.

Bác dạy: “Trồng người phải mất trăm năm,” Bác kêu gọi các tổ chức đoàn thể, nhà trường, gia đình, các anh chị phụ trách bồi dưỡng cho các em “dần dần có cái tư cách của con người mới,” “thành những công dân có tài, có đức.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi (Việt Bắc, năm 1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi (Việt Bắc, năm 1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc dạy chữ phải luôn đi đôi với việc dạy các em làm người; việc chăm sóc luôn phải đi đôi với việc bảo vệ thiếu nhi, giáo dục trong tổ chức Đội. Chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em vừa là vấn đề hướng đến ngày mai vì tương lai của dân tộc, vừa là những công việc cần làm tốt ngay từ hôm nay vì hạnh phúc của mỗi gia đình.

Người nói: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học… Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương yêu đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra người già cả… Trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường học, trong xã hội chúng đều vui, đều học.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đoàn nghệ thuật thiếu nhi Liên khu X và đội thiếu sinh quân đến chúc mừng sinh nhật lần thứ 60 của Người tại chiến khu Việt Bắc (19/51950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đoàn nghệ thuật thiếu nhi Liên khu X và đội thiếu sinh quân đến chúc mừng sinh nhật lần thứ 60 của Người tại chiến khu Việt Bắc (19/51950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Cũng từ am hiểu đặc tính của trẻ em, Người yêu cầu các thầy cô giáo, cán bộ phụ trách, các Đảng viên, những người lớn, các bậc cha mẹ, phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm trước các em.

“Nếu các cô, các chú bảo: “các em phải siêng làm” nhưng các cô các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà” nhưng các cô các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung” nhưng các cô các chú bẩn như thế không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô các chú phải là người tốt,” Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn.

Sinh thời, tình yêu thương vô tận của Bác Hồ luôn trước hết hướng về các cháu thiếu nhi: “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh.” Trước lúc đi xa, Người vẫn để tâm nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân “nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh

Ngày 6/3/1926: Trong “Báo cáo gửi quốc tế Cộng sản,” đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thông báo ở mục 3 là Bác đã “Tổ chức một tổ chức thiếu nhi, lựa chọn trong con em nông dân và công nhân…”

Chủ tịch Hồ Chí Minh bón cơm cho một cháu bé khi đến thăm trại nhi đồng ở chiến khu Việt Bắc (1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh bón cơm cho một cháu bé khi đến thăm trại nhi đồng ở chiến khu Việt Bắc (1950). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Ngày 22/7/1926: Bác Hồ viết thư cho Ủy ban Trung ương Đội thiếu niên Tiền phong (thuộc Đoàn thanh niên Cộng sản Lenin) đề nghị đào tạo theo chương trình lâu dài một số thanh niên Việt Nam thành cán bộ đoàn sau này.

Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931: đã xuất hiện tổ chức Đội Đồng Tử Quân, tham gia đấu tranh lập chính quyền Xô Viết ở Nghệ Tĩnh. Nhiệm vụ chủ yếu của các tổ chức này là làm giao thông liên lạc, canh gác bảo vệ cuộc họp.

Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, tổ chức của Thiếu nhi Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 15/5/1941.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ trở về Tổ quốc. Từ hang Pác Bó (Cao Bằng) Bác viết thư gửi “trẻ chăn trâu”:

Nhi đồng cứu quốc Hội taẤy là lực lượng, ấy là cứu tinhẤy là bộ phận Việt MinhDân mình khắc cứu dân mình mới xong

 Chủ tịch Hồ Chí Minh quàng khăn đỏ cho đại biểu thiếu nhi Thủ đô đến chúc mừng kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (1960). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh quàng khăn đỏ cho đại biểu thiếu nhi Thủ đô đến chúc mừng kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (1960). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Từ ý tưởng của Bác, ngày 15/5/1941, tại Nà Mạ (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Đội nhi đồng cứu quốc được thành lập, gồm 5 đội viên: Nông Văn Dền (tức Kim Đồng), Nông Văn Thàn (tức Cao Sơn), Lý Văn Tinh (tức Thanh Minh), Lý Thị Nì (tức Thuỷ Tiên), Lý Thị Xậu (tức Thanh Thuỷ). Anh Kim Đồng được bầu làm đội trưởng.

Đội có mục đích góp phần đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập nước nhà, với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, bảo vệ đưa đón cán bộ, bảo vệ các cuộc họp của Đảng.

Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, tổ chức của Thiếu nhi Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 15/5/1941.

Ngày 19/8/1945: Tại Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành nhiều Đội thiếu niên, nhi đồng cứu quốc ra đời. Nổi tiếng là các Đội: Đội nhi đồng cứu quốc Mai Hắc Đế, Đội thiếu niên Hoàng Văn Thụ, Đội tình báo Thiếu niên Thành Huế; Đội thiếu nhi ở Sài Gòn và Liên khu 5.

Tháng 2/1948: Bác viết thư hướng dẫn thiếu nhi nước ta làm công tác Trần Quốc Toản. Từ đấy công tác Trần Quốc Toản ra đời và trở thành phong trào thi đua sôi nổi, hấp dẫn trong cả nước cho đến ngày nay.

Tháng 3/1951: Tại Việt Bắc, Hội nghị cán bộ Đoàn đã quyết định thống nhất các tổ chức thiếu niên, nhi đồng và lấy tên là Đội Thiếu nhi tháng Tám.

Hội nghị cũng thống nhất một số chủ trương mới như thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ, bài ca chính thức, khẩu hiệu, phiên chế tổ chức đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chia kẹo cho các cháu nhi đồng ở nhà trẻ của con em công nhân nhà máy cao su Sao Vàng, xà phòng Hà Nội và thuốc lá Thăng Long, ngày 15/2/1961. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chia kẹo cho các cháu nhi đồng ở nhà trẻ của con em công nhân nhà máy cao su Sao Vàng, xà phòng Hà Nội và thuốc lá Thăng Long, ngày 15/2/1961. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Ngày 4/11/1956: Đại hội lần thứ II của Đoàn ra Nghị quyết về công tác thiếu niên nhi đồng và quyết định đổi tên Đội thiếu nhi tháng Tám thành Đội thiếu niên Tiền phong Việt Nam, bao gồm hai lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên.

Gần 80 năm qua, được Đảng, Nhà nước, các bậc cha mẹ, thầy cô giáo, anh chị phụ trách chăm lo và sự dìu dắt của Đoàn Thanh niên; trải qua các giai đoạn cách mạng, Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi; là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, góp phần quan trọng vào việc tập hợp, giáo dục thiếu niên nhi đồng thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ, đoàn viên thanh niên cộng sản, góp phần tô đẹp thêm truyền thống vẻ vang của Đội.

Thực hiện di chúc thiêng liêng của Người, và trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã tạo những điều kiện tốt nhất, những cơ hội bình đẳng để các em được chăm sóc, học tập và trưởng thành về mọi mặt, vững vàng bước tới tương lai trong tư thế “sánh vai các cường quốc năm châu”./.

Nhân dịp Tết Nguyên đán đầu tiên sau hòa bình, thiếu nhi Thủ đô Hà Nội đến chúc Tết Bác Hồ và múa hát quanh Bác trong vườn hoa Phủ Chủ tịch (9/2/1955). (Nguồn: TTXVN)
Nhân dịp Tết Nguyên đán đầu tiên sau hòa bình, thiếu nhi Thủ đô Hà Nội đến chúc Tết Bác Hồ và múa hát quanh Bác trong vườn hoa Phủ Chủ tịch (9/2/1955). (Nguồn: TTXVN)

LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

Nhân dịp kỷ niệm Nhân kỷ niệm 45 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2020), Đại tướng, giáo sư-tiến sỹ Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã có bài viết nêu bật những đóng góp to lớn của lực lượng Công an Nhân dân vào chiến thắng vĩ đại, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ của dân tộc.Báo điện tử VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết này:

Cách đây tròn 45 năm, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đây là chiến thắng vĩ đại của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có sự đóng góp to lớn của các lực lượng vũ trang, trong đó có lực lượng Công an Nhân dân.

Bảo vệ vững chắc an ninh, trật tự trong mọi tình huống, góp phần làm thất bại các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, nước ta tạm thời bị chia cắt, thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng chiến lược. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngay trong thời gian tiếp quản các vùng giải phóng, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp câu kết, ráo riết cài cắm gián điệp, cất giấu vũ khí và phương tiện hoạt động, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam; các đối tượng phản động gây phỉ, gây bạo loạn vũ trang hòng phá hoại an ninh, trật tự, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng “Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng mọi âm mưu phá hoại Hiệp định của địch, củng cố hòa bình, phục hồi và nâng cao sản xuất, củng cố miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam,”[Bộ Công an (2000), Lịch sử Công an nhân dân Việt Nam (Sơ thảo) 1954-1975, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, Tr15.] lực lượng Công an Nhân dân nhanh chóng xác định nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới, đổi mới biện pháp, hình thức đấu tranh.

Lực lượng công an bắt giữ một biệt kích Mỹ. (Ảnh tư liệu)
Lực lượng công an bắt giữ một biệt kích Mỹ. (Ảnh tư liệu)

Tập trung làm tốt công tác kết hợp giữa chống cưỡng ép di cư với phòng, chống gián điệp, hạn chế đồng bào bị Mỹ-ngụy dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam và ngăn chặn có hiệu quả âm mưu của địch cài cắm gián điệp, nội gián để phá hoại, gây rối nội bộ ta; phối hợp chặt chẽ với Quân đội Nhân dân đồng loạt mở các chiến dịch tiễu phỉ, bắt và diệt gần 5.000 tên, giải quyết dứt điểm nạn “nổi phỉ” ở các tỉnh vùng núi phía Bắc.

Từ năm 1961–1973, với chiến thuật “dùng địch để đánh địch,” lực lượng Công an Nhân dân đã tiến hành 33 chuyên án, bắt diệt 166 toán gián điệp, biệt kích với hơn 1.000 tên, thu hơn 100 tấn vũ khí và phương tiện hoạt động, đập tan các kế hoạch chiến tranh tình báo, gián điệp biệt kích của Mỹ-ngụy, giữ ổn định an ninh, trật tự, chính trị-xã hội ở các tỉnh phía Bắc.

Lực lượng Công an Nhân dân đã tiến hành 33 chuyên án, bắt diệt 166 toán gián điệp, biệt kích với hơn 1.000 tên, thu hơn 100 tấn vũ khí và phương tiện hoạt động.

Trong trận chiến đấu 12 ngày đêm lịch sử với các cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 của đế quốc Mỹ, toàn lực lượng Công an xác định tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự xã hội với yêu cầu cao hơn và khẩn trương hơn; nhanh chóng chuyển sang thực hiện nếp sống quân sự hóa theo tình hình thời chiến; tổ chức thực tập phương án phối hợp, hiệp đồng chiến đấu với lực lượng quân đội, giao thông, y tế… trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự.

Chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền tổ chức sơ tán ra khỏi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng hơn 500.000 người già, trẻ em và những người không trực tiếp sản xuất, chiến đấu.

Giữa mưa bom, bão đạn, cán bộ, chiến sỹ Công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương đã luôn bám sát vị trí chiến đấu, tiếp tục làm tốt công tác vận động nhân dân phòng không sơ tán, tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác bảo vệ những địa bàn trọng điểm, bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải; chiến đấu kiên cường, mưu trí, sáng tạo và dũng cảm cứu hỏa, cứu sập, cứu giúp người bị nạn, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của nhân dân;

Công an Hà Nội và dân phòng cứu thương trên phố Nguyễn Thiệp, Ba Đình, Hà Nội.(Ảnh tư liệu)
Công an Hà Nội và dân phòng cứu thương trên phố Nguyễn Thiệp, Ba Đình, Hà Nội.(Ảnh tư liệu)

Bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật của Trung ương và địa phương, như Đài Phát thanh Mễ Trì (Từ Liêm), kho xăng Đức Giang (Gia Lâm), Đài Điện Ly (Đông Anh), Đài Phát tín Sơn Đồng (Hoài Đức), cầu Long Biên, Nhà máy Điện Yên Phụ ở Hà Nội, Cảng Hải Phòng và các mục tiêu khác thường xuyên bị máy bay Mỹ bắn phá… góp phần làm nên chiến thắng lừng lẫy “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không,” buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Nhanh chóng, kịp thời chi viện lực lượng, vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, hậu cần vào chiến trường miền Nam phục vụ chiến dịch

Thực hiện chủ trương của Đảng về chi viện cho cách mạng miền Nam để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước, ngay từ năm 1955, Đảng đoàn, Bộ Công an đã thành lập Tổ cán bộ miền Nam (sau này là Bộ phận cán bộ miền Nam) chuyên trách công tác lựa chọn,bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ để chi viện cho chiến trường miền Nam.

 Lớp lớp cán bộ Công an Hà Nội hăng hái lên đường chi viện cho an ninh miền Nam, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Lớp lớp cán bộ Công an Hà Nội hăng hái lên đường chi viện cho an ninh miền Nam, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Với tinh thần “tất cả vì tiền tuyến lớn,” “tất cả vì miền Nam ruột thịt” và quyết tâm cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, từ năm 1959 đến tháng 4/1975, Bộ Công an đã huy động đến mức cao nhất về lực lượng, hậu cần–kỹ thuật, chi viện hơn 10.000 cán bộ, chiến sỹ; hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược, phương tiện liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, thuốc men… vào chiến trường; đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo An ninh miền Nam về nghiệp vụ công tác an ninh, cảnh sát, nắm tình hình, chống gián điệp, phản động, phá tề ngụy.

Từ năm 1959 đến tháng 4/1975, Bộ Công an đã huy động đến mức cao nhất về lực lượng, hậu cần–kỹ thuật, chi viện hơn 10.000 cán bộ, chiến sỹ; hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược, phương tiện liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ, thuốc men… vào chiến trường

Năm 1962, Bộ Công an đã đưa 5 Tổ Tình báo vào hoạt động tại Sài Gòn-Gia Định, Nam Trung bộ, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị, sát cánh cùng các lực lượng an ninh nắm tình hình, âm mưu địch, tiếp cận nhóm Dương Văn Minh, nhóm Trần Văn Hương, Trung tâm đào tạo gián điêp, biệt kích ngụy; qua đó nắm tình hình địch ở miền Nam, chủ động đối phó với hoạt động gián điệp biệt kích Mỹ-ngụy tung ra miền Bắc.

Dù nhiệm vụ được giao vô cùng khó khăn, hoàn cảnh chiến trường ác liệt, nhưng các cán bộ Công an chi viện đã không quản hy sinh, gian khổ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cùng đồng chí, đồng bào xây dựng lực lượng chính trị, phát động quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp của Mỹ-ngụy, diệt ác, trừ gian, bảo vệ cách mạng; bóc gỡ mạng lưới tình báo, gián điệp, cơ sở của địch. Nhiều đồng chí trưởng thành, tham gia cấp ủy địa phương, là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lực lượng an ninh ở hầu hết các địa phương miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến khi thống nhất đất nước và trở thành vốn quý của lực lượng Công an Nhân dân trong nhiều năm sau này.

Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân anh dũng chiến đấu, tiến công nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi,” [Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, sđd, tr.407] lực lượng An ninh miền Nam chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo; phối hợp xây dựng lực lượng chính trị, phát động quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp của Mỹ-ngụy, diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn, bóc gỡ mạng lưới tình báo, gián điệp, nội gián của địch, bảo vệ các cơ quan của Đảng, căn cứ cách mạng, làm thất bại các âm mưu hiểm độc “kế hoạch bình định,” “kế hoạch Phượng Hoàng,” “kế hoạch Hải Yến” của địch; khám phá nhiều vụ nội gián nguy hiểm, bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở và lực lượng cách mạng.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Ban An ninh Trung ương Cục đã huy động hơn 13.000 cán bộ, chiến sỹ tham gia tiến công địch trên nhiều hướng, nhiều mũi, đánh thẳng vào các căn cứ, sào huyệt của địch; tổ chức công tác tuyên truyền, phát động quần chúng nổi dậy, trừng trị, xử lý các đối tượng gián điệp, tình báo, chiêu hồi, đầu sỏ ác ôn, chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công, truy kích số đối tượng phản cách mạng lẩn trốn; tiếp quản, thu hồi, bảo vệ tuyệt đối an toàn hồ sơ, tài liệu, phương tiện của địch; giải thoát các đồng chí cán bộ cách mạng bị địch bắt, giam cầm.

Lực lượng An ninh Sài Gòn-Gia Định nhanh chóng áp sát, chiếm lĩnh trụ sở, thu giữ toàn bộ tài liệu các cơ quan đầu não của địch. Các cơ sở của An ninh T4 nhanh chóng có mặt tại Phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, chủ động tiếp cận, thuyết phục Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi binh lính ngừng bắn, bàn giao chính quyền cho cách mạng, góp phần hạn chế một cuộc giao tranh khốc liệt trong thành phố và tránh sự đổ máu không cần thiết.

Các chiến sỹ công an bảo vệ thành phố sau ngày giải phóng.
Các chiến sỹ công an bảo vệ thành phố sau ngày giải phóng.

Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, hơn 10.000 cán bộ, chiến sỹ Công an Nhân dân đã hy sinh anh dũng; gần 5.000 đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước [BĐC Tổng kết lịch sử CAND, Viện lịch sử Công an: Tổng kết lịch sử CAND Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tr6 – NXB CAND, 2017]; hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ An ninh miền Nam bị địch bắt, tù đày tra tấn dã man trong các nhà tù, trại giam của địch hoặc bị nhiễm chất độc da cam; hàng vạn cơ sở quần chúng cách mạng đã thầm lặng đóng góp, cống hiến hy sinh trên khắp các chiến trường và miền Bắc hậu phương lớn, góp phần to lớn đối với sự toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tô thắm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an Nhân dân.

lực lượng An ninh miền Nam chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo; phối hợp xây dựng lực lượng chính trị, phát động quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp của Mỹ-ngụy, diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn, bóc gỡ mạng lưới tình báo, gián điệp

Kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng vẻ vang và những cống hiến to lớn của các thế hệ cha anh, lực lượng Công an Nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, với Tổ quốc và nhân dân; đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Sáu điều Bác Hồ dạy, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đồng lòng, chung sức, vượt qua khó khăn, gian khổ, kề vai sát cánh cùng với Quân đội Nhân dân, phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với các cấp, các ngành, gắn bó máu thịt với nhân dân; quyết tâm xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân./.

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại nên việc bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề ô nhiễm trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu.

Cũng chính vì lý do này, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã chọn chủ đề “Đổi mới sáng tạo vì một tương lai Xanh” cho Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2020 (26/4), theo đó đặt đổi mới sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo làm trọng tâm của những nỗ lực hình thành nên một hành tinh ít khí thải carbon.

Theo một báo cáo công bố tại Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP25) tháng 12/2019, băng ở Greenland đang tan chảy nhanh gấp 7 lần so với trong những năm 1990 và 1/3 dân số thế giới đang có nguy cơ không có nước sạch sinh hoạt.

Trong khi đó, dữ liệu của Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA) cho thấy Trái Đất vừa trải qua 5 năm nóng kỷ lục kể từ năm 2010.

Cả thế giới đều đang cảm nhận được tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, với những cơn bão, lũ, hạn hán, cháy rừng xảy ra thường xuyên, ngày càng dữ dằn và khó lường hơn.

Trên toàn thế giới, nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường đang được nâng cao. Các chính phủ, doanh nghiệp và mọi người dân đều đang chung tay hành động để giải quyết hiện tượng biến đổi khí hậu. Thế nhưng đó không phải là một bài toán đơn giản và có thể giải quyết chóng vánh.

Trụ sở chính của WIPO tại Geneva. (Nguồn: eifl.net)
Trụ sở chính của WIPO tại Geneva. (Nguồn: eifl.net)

Về phương diện nào đó, công nghệ đã gây ra tình trạng suy thoái môi trường. Song công nghệ cũng là một chìa khóa quan trọng để mở ra cánh cửa tới tương lai Xanh và hệ thống sở hữu trí tuệ đóng vai trò then chốt để hỗ trợ các công tác phát triển và thử nghiệm những công nghệ, sản phẩm và dịch vụ cần thiết nhằm giảm thiểu lượng khí thải.

Quyền sở hữu trí tuệ khuyến khích đổi mới sáng tạo hơn nữa bằng cách đảm bảo rằng các nhà sáng chế, chủ thể sáng tạo có được sự công nhận, cũng như nguồn thu nhập xứng đáng và bền vững đối với chất xám mà họ đã bỏ ra.

Các sáng kiến liên quan công nghệ môi trường ngày càng tập trung giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Sáng chế liên quan công nghệ Xanh như tái chế, làm sạch nước, xử lý khí thải độc hại, phục hồi hệ sinh thái… đã và đang được tiếp tục nghiên cứu, triển khai, ứng dụng một cách hiệu quả và phù hợp.

Là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, Trung Quốc đi đầu trong công cuộc đầu tư vào công nghệ Xanh như năng lượng Mặt Trời và năng lượng gió, cũng như các phương tiện giao thông chạy bằng điện nhằm cải thiện chất lượng không khí tại các thành phố.

Trong khi đó, tại châu Âu, Liên minh châu Âu (EU) đặt ra mục tiêu cho đến năm 2050 khu vực này sẽ trung hòa lượng carbon. Thậm chí, một số vùng và thành phố còn muốn tiến nhanh hơn, trong đó thành phố Copenhagen của Đan Mạch đặt mục tiêu cho đến năm 2025 sẽ trở thành thủ đô đầu tiên trên thế giới trung hòa được lượng khí CO2.

Năm 2019, trang trại turbin gió Horns Rev 3 đã được khai trương ở khu vực biển phía Tây của Đan Mạch. Với 49 turbin sản xuất được 407MW, trang trại này “đủ để đáp ứng mức tiêu thụ điện cho khoảng 425.000 hộ dân ở Đan Mạch mỗi năm.”

Còn tại Maroc, nhà máy Noor có diện tích khoảng 1,4 triệu m2 dự kiến sẽ trở thành một trong những nhà máy năng lượng Mặt Trời lớn nhất thế giới sau khi hoàn tất.

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), nhà máy này sẽ giúp Maroc giảm thiểu đáng kể sự phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, cũng như giảm hàng trăm nghìn tấn khí phát thải ở nước này mỗi năm.

(Nguồn: EPO)
(Nguồn: EPO)

Tại Việt Nam, Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu quan trọng là đưa Việt Nam vào nhóm các nước dẫn đầu Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về trình độ sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ.

Các giải pháp công nghệ như thiết bị xử lý khí thải XLKT-HB0005GPCN, thiết bị thu hồi và tái chế chất thải nguy hại trong công nghiệp, hay công nghệ xử lý rác thải thành nguồn tài nguyên có lợi… đã được áp dụng trong thực tiễn.

Bằng độc quyền sáng chế không chỉ giúp các doanh nghiệp bảo đảm được khoản đầu tư khổng lồ để có thể thực hiện được các dự án năng lượng xanh có quy mô lớn nêu trên mà còn hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo quy mô nhỏ hơn, phần lớn trong số đó tìm cách mang lại lợi ích cho cộng đồng nghèo tài nguyên ở các quốc gia đang phát triển.

Các hộ gia đình ở một số khu vực xa xôi nhất trên thế giới cũng đang được hưởng lợi từ các công nghệ được bảo hộ sáng chế giúp cung cấp nguồn chiếu sáng sạch, an toàn và chi phí hợp lý.

Bằng việc khích lệ và ủng hộ các giải pháp công nghệ xanh, “chúng ta có thể cùng nhau đổi mới, hướng tới một tương lai xanh hơn, tươi sáng hơn và bền vững hơn”

Ví dụ như những chiếc đèn lồng do các doanh nghiệp xã hội như Nokero hay SaLT sản xuất đã giúp người dân ở Zimbabwe giảm sự phụ thuộc vào dầu hỏa. Hay nhà vệ sinh tiết kiệm nước EcoSan, giúp cải thiện cuộc sống sinh hoạt và môi trường ở những vùng nông thôn khan hiếm nước và hệ thống cống thải.

Hoặc công nghệ thu sương mù CloudFisher® cung cấp nguồn nước sạch bền vững, với chi phí hợp lý, giúp giảm thiểu tình trạng thiếu nước ở các vùng núi khô cằn. Công nghệ ngôi nhà thông minh Azuri đưa các thiết bị và dịch vụ năng lượng Mặt Trời tới các gia đình không có điện lưới trên khắp châu Phi.

Quyền sở hữu trí tuệ cũng áp dụng đối các sản phẩm, dịch vụ như đồ nội thất, thời trang, thiết bị điện tử cá nhân hay bao bì… Đối với các nhà thiết kế, ý thức ngày càng cao khiến họ luôn cân nhắc xem xét yếu tố an toàn và bền vững của sản phẩm đối với môi trường nhằm đảm bảo không tạo ra rác thải gây hại.

Ngành công nghiệp thời trang vốn được xem là ngành gây ô nhiễm thứ hai trên thế giới cũng đang cho thấy xu hướng thân thiện hơn với môi trường.

Từ năm 2015, Giải thưởng Global Change của Quỹ H&M với mục đích phi lợi nhuận dành cho “các nhà sáng tạo, những người đã đưa ra những giải pháp làm thay đổi guồng quay của ngành công nghiệp thời trang theo xu hướng bảo vệ hành tinh và điều kiện sống của chúng ta.”

Tháng 4/2019, hãng thời trang thể thao Adidas cho ra mắt mẫu giày FUTURECRAFT.LOOP – loại “giày chạy được sản xuất để tái tạo.”

Mẫu giày FUTURECRAFT.LOOP - loại 'giày chạy được sản xuất để tái tạo.'
Mẫu giày FUTURECRAFT.LOOP – loại ‘giày chạy được sản xuất để tái tạo.’

Loại giày chạy được sản xuất từ 100% vật liệu tái chế này được Adidas giới thiệu là sản phẩm đầu tiên được làm ra “với mục đích giải quyết vấn đề rác thải nhựa, tạo thành vòng khép kín, mô hình sản xuất xoay vòng, trong đó nguyên liệu thô được tái sử dụng nhiều lần.”

Với mục tiêu đẩy lùi “ô nhiễm trắng,” công ty khởi nghiệp Evoware của Indonesia phát triển biện pháp thay thế túi nhựa đựng thực phẩm bằng túi làm từ tảo biển.

Trong khi đó, hãng Ecover của Bỉ cũng cho ra đời các sản phẩm nước giặt, nước rửa chén, dung dịch rửa tay làm từ nguyên liệu phân hủy sinh học với bao bì có thể tái chế được.

Khi nhắc đến sở hữu trí tuệ, tất nhiên không thể bỏ qua quyền tác giả bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, cũng như báo chí.

Quyền tác giả bảo đảm rằng các chủ thể sáng tạo có nguồn thu tài chính được nhờ vào các tác phẩm của mình. Ví dụ như nhà hoạt động vì khí hậu trẻ tuổi người Thụy Điển Greta Thunberg sẽ nhận được tiền bản quyền từ việc cho phép phát hành bài phát biểu “No one is too Small to Make a Difference” (tạm dịch: Chẳng ai quá nhỏ bé để không thể tạo nên sự khác biệt).

Tương tự, hệ thống bảo hộ quyền tác giả cũng hỗ trợ sản xuất các bộ phim tài liệu hấp dẫn như “Blue Planet” (Hành tinh Xanh) và “Seven Worlds One Planet” (Bảy Thế giới, một Hành tinh) của đài BBC.

Sở hữu trí tuệ thực sự đóng vai trò động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo để phát triển tài sản giá trị quốc gia cả về số lượng và giá trị. Kể từ năm 2000, Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới được WIPO kỷ niệm thường niên nhằm tri ân, tôn vinh các chủ thể sáng tạo, đồng thời truyền thông nâng cao nhận thức về vai trò của sở hữu trí tuệ trong cuộc sống hằng ngày.

Bằng việc khích lệ và ủng hộ các giải pháp công nghệ xanh, “chúng ta có thể cùng nhau đổi mới, hướng tới một tương lai xanh hơn, tươi sáng hơn và bền vững hơn” như thông điệp mà Tổng Thư ký WIPO Francis Gurry đã nhấn mạnh nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2020./.

(Nguồn: WIPO)
(Nguồn: WIPO)

Nhà báo Trần Mai Hưởng

Nhiều người biết tới Nhà báo Trần Mai Hưởng, nguyên Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam không chỉ qua những bài viết, bức ảnh nổi tiếng mà ông còn là phóng viên chiến trường, vào sinh ra tử ở những thời khắc lịch sử cùng cả dân tộc làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Nhà báo Trần Mai Hưởng được nhiều thế hệ, phóng viên chiến trường hay đồng nghiệp ngày nay nhắc tới với hai chữ “tâm-tài” trong cuộc đời, sự nghiệp.

Ông mang trong mình bầu nhiệt huyết của nghề báo và luôn có ý thức chính trị sâu sắc. Vì vậy, ở mỗi giai đoạn chiến tranh hay trong thời bình xây dựng đất nước, ông đều đóng góp nhiều công sức, trí tuệ và như là nhân chứng sống, với nhiều tư liệu, hình ảnh quý báu được lưu trữ theo năm tháng.

Nhà báo Trần Mai Hưởng được nhiều thế hệ, phóng viên chiến trường hay đồng nghiệp ngày nay nhắc tới với hai chữ “tâm-tài” trong cuộc đời, sự nghiệp.

Những ngày này, cả nước đang hướng về kỷ niệm 45 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chúng tôi có dịp gặp gỡ, trao đổi tâm tình về cuộc đời, sự nghiệp của ông.

Ở độ tuổi 70, với giọng nói hào sảng, trong trẻo đậm chất Hà Thành, ông dẫn dắt chúng tôi ôn lại những câu chuyện những năm tháng trên chiến trường, những thời khắc trong mưa bom bão đạn.

Phóng viên TTXVN Trần Mai Hưởng có mặt kịp thời và chụp được khoảnh khắc lịch sử xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài hơn hai thập niên (1954-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Phóng viên TTXVN Trần Mai Hưởng có mặt kịp thời và chụp được khoảnh khắc lịch sử xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài hơn hai thập niên (1954-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

Ông kể lại bằng sự nhiệt tâm, máu lửa, những câu chuyện như là ruột gan, da thịt, nhớ như in từng khoảnh khắc, nhất là lúc đoàn quân ta tiến vào Dinh Độc lập.

“Cánh cửa sắt của Dinh Độc Lập đã bị hất tung, khi lọt được vào trong, tôi và phóng viên nhiếp ảnh Vũ Tạo nhảy ra khỏi xe, thấy một chiếc xe tăng trong đội hình thọc sâu tiến qua cổng chính của Dinh. Một hình ảnh rất đẹp, nắng rực rỡ, xe tăng vừa vào ngang cổng, cánh cửa sắt đổ sập vẫn nằm trên mặt đất, lá cờ Quân Giải phóng trên tháp pháo tung bay. Cùng với những người lính xe tăng là các chiến sỹ bộ binh của Trung đoàn 66 cùng hành tiến hiên ngang bên tháp pháo” – Nhà báo Trần Mai Hưởng nhớ lại ký ức không thể quên.

Ông kể về khoảnh khắc tuyệt vời nhất khi chớp được bức ảnh lịch sử đã đi vào năm tháng: “Tôi đưa máy ảnh lên như một bản năng và nhãn quan của người phóng viên để kịp ghi lại một cách chân thật nhất trong trận chiến lịch sử của Quân đội ta.”

Trong số đó, ông ấn tượng nhất chính là bức ảnh “Xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập trưa 30/4/1975” mà sau đó được chuyển sớm ra Hà Nội để Thông tấn xã Việt Nam phát đi và được các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước sử dụng rộng rãi; trở thành một biểu tượng quen thuộc của Đại thắng mùa Xuân 1975 cho đến ngày nay.

Nhà báo Trần Mai Hưởng là một trong những phóng viên có mặt sớm nhất ở Dinh Độc lập, chứng kiến và ghi lại những hình ảnh của ngày Đại thắng.

Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. (Ảnh: TTXVN)
Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. (Ảnh: TTXVN)

Lúc ấy, phóng viên Trần Mai Hưởng mới 23 tuổi, vừa vào Thông tấn xã Việt Nam được ít thời gian. Ông thuộc diện được ưu tiên không phải ra mặt trận vì đã có anh trai là Nhà báo Trần Mai Hạnh đang tham gia ở chiến trường. Nhưng khi Thông tấn xã Việt Nam cần một mũi phóng viên để cùng đơn vị Quân đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông đã xung phong lên đường.

Dường như ông đã dành cả tuổi thanh xuân, trai trẻ làm phóng viên chiến trường mà ông vẫn gọi đó là “thời hoa lửa” của riêng mình.

Phóng viên Trần Mai Hưởng đã tới những mặt trận nóng bỏng nhất như Quảng Trị năm 1972, theo các cánh quân “thần tốc’ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa Xuân 1975.

Và sau này, ông còn đi cùng các cánh quân tình nguyện sang Campuchia diệt trừ quân Pol Pot, giúp giải phóng đất nước Angkor khỏi họa diệt chủng năm 1978, rồi tiếp đến lại lên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới…

Có lẽ, ông cũng không nhớ mình đã qua bao nhiêu con đường, chiến trường, đã sáng tác bao nhiêu bức ảnh, tác phẩm, bài viết mà chỉ đau đáu một điều là lên đường để phụng sự cho Tổ quốc, với một niềm tin chiến thắng mãnh liệt.

Các phóng viên Trần Mai Hưởng, Ngọc Đản và Hoàng Thiểm đang qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng giải phóng, ngày 29/3/1975. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)
Các phóng viên Trần Mai Hưởng, Ngọc Đản và Hoàng Thiểm đang qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng giải phóng, ngày 29/3/1975. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)

“Tuổi đôi mươi có sức trẻ, sức khỏe, phải làm điều Tổ quốc cần. Người phóng viên chúng tôi xác định mình cũng như những người lính, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước. Sự hy sinh trong suy nghĩ của chúng tôi lúc bấy giờ rất bình thường, vì ai cũng có thể ngã xuống bất cứ lúc nào. Ngày hôm nay có thể làm việc, ngày mai có thể qua một trận B52, qua một trận càn, vướng phải một bãi mìn, nhưng tất cả sự hy sinh đều cao cả. Tôi còn may mắn, không như đồng đội có nhiều người đã nằm lại, không về” – nhà báo Trần Mai Hưởng tâm sự.

Nơi chiến trường, ngọn lửa đam mê và trách nhiệm với nghề báo của ông đã gửi gắm vào trong nhiều trang thơ, truyện ngắn, hay bút ký, phóng sự đầy ắp ý nghĩa, giàu chất nhân văn.

Những tác phẩm như “Bích La Đông giải phóng,” “Trên vành đai điện tử,” “Huế đỏ cờ bay,” “Đà Nẵng ngày đầu giải phóng,” “Ngày vui ở khu phố Bàn Cờ…“ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc, trong đó có cả xương máu và nước mắt của tác giả.

Chuyện đời, chuyện nghề của một phóng viên chiến trường rất dài và lắm gian truân, vì vừa phải tác nghiệp nơi khó khăn, nguy hiểm, vừa phải đảm bảo tính thời sự nóng bỏng nên cũng gặp không ít trở ngại trong kết nối giữa nơi chiến trường với Tổng xã.

Các phóng viên Lâm Hồng Long và Trần Mai Hưởng trên đường qua miền Trung trong chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975. (Ảnh: TTXVN)
Các phóng viên Lâm Hồng Long và Trần Mai Hưởng trên đường qua miền Trung trong chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975. (Ảnh: TTXVN)

Lật giở từng trang ký ức, ông kể, có lần một mình phóng xe máy hàng trăm cây số từ thành phố Đà Nẵng về thị xã Đông Hà (Quảng Trị) với khẩu súng ngắn bên mình để mang toàn bộ phim của tổ phóng viên về căn cứ rồi gửi ra Hà Nội. Đến nơi, ông không kịp nghỉ ngơi, một tiếng viết xong ngay bài ký Đà Nẵng ngày giải phóng để kịp gửi về Tổng xã. Nhưng khi vừa chợp mắt, lại nhận được thông tin từ Hà Nội gửi vào do thời tiết xấu nên cần phải gửi lại bài viết, thế là ông lại cặm cụi cùng tổ kỹ thuật, xuyên đêm chuyển bài.

Dù ở công việc nào, từ phóng viên đến cương vị người lãnh đạo đứng đầu Thông tấn Việt Nam, Nhà báo Trần Mai Hưởng luôn giữ phẩm chất của người lính chiến trường, với phong cách giản dị nhưng cũng đầy quyết liệt, phản xạ nhanh và chuẩn xác cho mỗi quyết định.

Khi được hỏi về những cống hiến của mình trong giai đoạn chiến tranh, Nhà báo Trần Mai Hưởng nói: “Dù dưới những bài viết, bức ảnh ấy có tên tác giả hoặc chỉ cần danh xưng chung Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng, thế là đủ niềm vui. Và ai cũng hiểu rằng, đằng sau mỗi dòng tin, bức ảnh ấy là công sức của cả một guồng máy lớn, của hàng ngàn con người trên khắp các chiến trường, với đủ mọi công việc, từ người lãnh đạo, chỉ huy đến các phóng viên, lái xe, điện báo, kỹ thuật viên, hậu cần và bao nhiêu công sức của anh em làm nhiệm vụ nhận, xử lý thông tin ở Tổng xã…”

Rời công việc quản lý cơ quan báo chí gần chục năm nhưng Nhà báo Trần Mai Hưởng vẫn luôn quan tâm đến những vấn đề thời sự trong và ngoài nước. Thay bằng những bài báo như trước đây, nay ông chuyển thể những tâm tư, nhìn nhận của mình về hiện tượng xã hội đang được dư luận quan tâm bằng thơ với ngôn ngữ thời sự, sống động, ngắn gọn xúc tích nhưng cũng không kém phần hóm hỉnh, sâu sắc, góp phần định hướng dư luận xã hội.

Đúng như những gì nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam chia sẻ, ông Trần Mai Hưởng là một nhà báo có những năm tháng đi qua chiến tranh cận kề cái chết. Chính thế một đặc điểm nổi trội trong thơ của Trần Mai Hưởng là chính luận thời sự. Nhưng chính trị mà ông mang vào thơ là chính trị lương tâm, thời sự mà ông mang vào thơ ông là thời sự của một lịch sử dân tộc, của nhân dân./.

Nhà báo Trần Mai Hưởng tại buổi giao lưu Ký ức Hòa bình do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức tối 26/4. (Ảnh chụp màn hình)
Nhà báo Trần Mai Hưởng tại buổi giao lưu Ký ức Hòa bình do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức tối 26/4. (Ảnh chụp màn hình)