Vững vàng bảo vệ biển đảo của Tổ quốc

Ra đời ngày 7/5/1955 với lực lượng tiền thân là Cục Phòng thủ bờ biển gồm 141 cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên, phương tiện vũ khí thô sơ, trải qua 65 năm xây dựng, trưởng thành, Quân chủng Hải quân đã trở thành quân chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại với đầy đủ các thành phần lực lượng, sẵn sàng chiến đấu và giành thắng lợi, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia biển đảo, thềm lục địa, góp phần bảo vệ Tổ quốc, xây dựng, phát triển đất nước.

Những dấu mốc chói lọi

Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi đưa đến Hiệp định Giơnevơ được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp tại Việt Nam nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Chính vì vậy, để bảo vệ chủ quyền, quản lý chặt chẽ trên 800km dải bờ biển miền Bắc từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị), ngày 7/5/1955, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục Phòng thủ bờ biển – đơn vị tiền thân của Hải quân Việt Nam.

Ngày 7/5/1955, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Cục Phòng thủ bờ biển – đơn vị tiền thân của Hải quân Việt Nam.

Cùng thời điểm này, Trường Huấn luyện bờ biển cũng được thành lập và lập tức thực hiện khóa huấn luyện đầu tiên. Tiếp đó là việc thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng – đây là những đơn vị chiến đấu chính quy đầu tiên của Hải quân Việt Nam.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, trước yêu cầu của tình hình mới, ngày 3/1/1964, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Cục Hải quân thành Bộ Tư lệnh Hải quân với nhiệm vụ: lãnh đạo, chỉ huy xây dựng Quân chủng Hải quân, tự đảm nhận nhiệm vụ hoạt động chiến đấu trên không phận, hải phận, bờ biển miền Bắc.

Bộ đội hải quân trên đảo Trường Sa được giải phóng, ngày 29/4/1975. (Ảnh: Nguyễn Khắc Xuế/TTXVN phát)
Bộ đội hải quân trên đảo Trường Sa được giải phóng, ngày 29/4/1975. (Ảnh: Nguyễn Khắc Xuế/TTXVN phát)

Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam về quy mô tổ chức và sức mạnh chiến đấu trên con đường xây dựng một quân chủng mới – Quân chủng Hải quân, một quân chủng chiến đấu bằng lực lượng binh chủng hợp thành và phương tiện kỹ thuật hiện đại, lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông nước, biển và hải đảo của Tổ quốc.

Chưa đầy 10 năm thành lập, quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam đã lập công ra quân đánh thắng trận đầu vào ngày 2 và 5/8/1964 – anh dũng đánh đuổi tàu khu trục Maddox của đế quốc Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc, bắn rơi 1 máy bay; hiệp đồng chiến đấu với lực lượng Phòng không và quân, dân các địa phương ven biển miền Bắc bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống giặc lái, lập nên chiến công đánh thắng trận đầu. Chiến thắng này đã viết tiếp truyền thống “bách chiến, bách thắng,” đã ra quân là đánh thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chưa đầy 10 năm thành lập, quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam đã lập công ra quân đánh thắng trận đầu vào ngày 2 và 5/8/1964 – anh dũng đánh đuổi tàu khu trục Maddox của đế quốc Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc

Chiến thắng đó chỉ là một trong những mốc son của Hải quân nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với quân dân cả nước trong hành trình vĩ đại đó, Hải quân đã nêu cao ý chí quyết tâm “Đánh địch mà đi, mở luồng mà tiến,” làm nòng cốt phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng vũ trang đánh bại chiến tranh phong tỏa sông, biển miền Bắc bằng thủy lôi và bom từ trường của đế quốc Mỹ. Hải quân đã mở tuyến, thông luồng, nối lại tuyến vận tải đường biển chiến lược chi viện miền Nam, dũng cảm, táo bạo, kịp thời tiến công giải phóng và làm chủ quần đảo Trường Sa… góp phần cùng quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sắt son một lòng

Bước vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó có chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, đối mặt với biết bao thử thách, khắc nghiệt, nhất là trước những diễn biến hết sức phức tạp trên biển Đông, Hải quân nhân dân Việt Nam phát huy truyền thống vẻ vang, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ  trang nhân dân thời kỳ đổi mới cho lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam,  sáng 2/5/2015, tại Cam Ranh (Khánh Hòa). (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới cho lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam, sáng 2/5/2015, tại Cam Ranh (Khánh Hòa). (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng thường xuyên nắm chắc tình hình trên các vùng biển trọng điểm; kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động bất ngờ, bảo vệ được chủ quyền và các mục tiêu chiến lược, các hoạt động kinh tế biển, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển để phát triển đất nước.

Những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2010, thực hiện chủ trương tiến thẳng lên hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI, XII của Đảng, Hải quân nhân dân Việt Nam đẩy mạnh phát triển lực lượng, hình thành 5 vùng trải dọc chiều dài đất nước với 5 binh chủng: Tàu mặt nước; Tàu ngầm; Không quân Hải quân; Pháo binh-Tên lửa bờ; Hải quân đánh bộ và Đặc công Hải quân. Nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại được bổ sung, đưa vào khai thác hiệu quả, tạo đột phá về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu toàn quân chủng, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Hải quân nhân dân Việt Nam đẩy mạnh phát triển lực lượng, hình thành 5 vùng trải dọc chiều dài đất nước với 5 binh chủng

Ngày nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo nhưng Hải quân nhân dân Việt Nam luôn một lòng sắt son với Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân; không ngừng nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Quân chủng Hải quân luôn nắm chắc và dự báo đúng tình hình liên quan đến quốc phòng, an ninh trên biển; chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoạch định đường lối, chủ trương, đối sách phù hợp, xử lý linh hoạt, đúng các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm trên biển, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược; không để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; giữ vững độc lập, chủ quyền biển, đảo và hoạt động đối ngoại quốc phòng với Hải quân các nước; tạo môi trường thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Lực lượng Hải quân đánh bộ huấn luyện hiệp đồng đổ bộ lên đảo. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN) 
Lực lượng Hải quân đánh bộ huấn luyện hiệp đồng đổ bộ lên đảo. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN) 

Cùng với đó, Hải quân nhân dân Việt Nam đã thực hiện tốt công tác dân vận, tích cực tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nông thôn mới; luôn đi đầu trong giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn.

Công tác phối hợp tuyên truyền biển, đảo của Quân chủng Hải quân với các tỉnh thành trên cả nước là một phương thức quan trọng tạo nên sức mạnh to lớn trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển.

Chương trình “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển” được triển khai toàn diện ở 28 tỉnh, thành có biển, đã hiện thực hóa chủ trương lớn của Bộ Tư lệnh Hải quân cũng như các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế biển gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc./.

Những “cặp mắt thần dệt lưới lửa”…

56 ngày đêm trong lòng chảo Tây Bắc năm 1954 đã trở thành một phần máu thịt của những người lính từng “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” như ông Lê Gia Tuất. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, ông thuộc Tiểu đoàn 396, Trung đoàn Cao xạ 367 (nay là Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không Không quân).

Trải qua bao khói lửa đạn bom suốt những “dặm dài kháng chiến,” đối mặt với không ít “bão tố” trên đường đời nhưng ký ức về thời kỳ “nếm mật, nằm gai” vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của người lính Điện Biên năm xưa.

Ông Tuất bảo đó là phần ký ức không thể và cũng không được phép lãng quên! Cả dân tộc đã đồng lòng viết nên bản hùng ca lịch sử, tạo ra chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Cựu binh Lê Gia Tuất đã cùng đồng đội dùng sức trẻ đốt cháy “pháo đài bất khả xâm phạm” trên đồi A1, hạ gục “con nhím quân sự” khổng lồ.

Dồn lực về Điện Biên

Đã hơn sáu thập kỷ qua đi nhưng “tiếng sấm Điện Biên” năm xưa vẫn âm vang trong tâm trí người cựu chiến binh đã ở tuổi “xưa nay hiếm.” Trong căn nhà nhỏ ở quận Thanh Xuân (Hà Nội), ông Tuất bồi hồi nhớ lại một thời hoa lửa.

Ông kể, sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, “tự lực cánh sinh,” với vũ khí thô sơ và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh,” quân dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Lúc này, cậu bé Lê Gia Tuất (sinh năm 1934 tại Thanh Trì, Hà Nội) đã cùng các anh, chị trong gia đình và bạn bè làm giao liên cho các chiến sỹ giữ thành Hà Nội.

56 ngày đêm trong lòng chảo Tây Bắc năm 1954 đã trở thành một phần máu thịt của những người lính từng “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” như ông Lê Gia Tuất. 
56 ngày đêm trong lòng chảo Tây Bắc năm 1954 đã trở thành một phần máu thịt của những người lính từng “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” như ông Lê Gia Tuất. 

Chiến thắng Biên giới (1950) tạo ra một bước chuyển cơ bản cho cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới, chuyển hẳn sang liên tục tấn công và phản công địch. Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu Đông 1953, thực dân Pháp đã cho ra đời kế hoạch Nava với mục tiêu tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương trong vòng 18 tháng.

Trước âm mưu của địch, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân nhằm giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào.

Địch đã cho tập trung ở đây khoảng 16.200 quân (trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, một đại đội xe tăng, một phi đội không quân, một đại đội vận tải cơ giới). Thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, coi đây là “một pháo đài bất khả xâm phạm,” nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị đã quyết định tập trung bốn đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo với tổng số hơn bốn vạn quân.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng pháo binh của ta được huy động với mức cao nhất, tổ chức ở cả cấp chiến dịch và chiến thuật, hình thành một hệ thống hoả lực mặt đất mạnh, bao trùm toàn bộ tập đoàn cứ điểm. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng pháo binh của ta được huy động với mức cao nhất, tổ chức ở cả cấp chiến dịch và chiến thuật, hình thành một hệ thống hoả lực mặt đất mạnh, bao trùm toàn bộ tập đoàn cứ điểm. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

“Khi ấy, cả dân tộc ra trận, tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với phương châm ‘Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!’ Các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa. Trên 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn, hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch,” cựu chiến binh Lê Gia Tuất kể.

Ký ức như thước phim quay chậm mở ra trước mắt người cựu chiến binh già. Từ cuối năm 1952, chàng thanh niên Lê Gia Tuất được cử tham gia khóa huấn luyện súng pháo phòng không 37mm, một trang bị khí tài mới để phục vụ cho những trận đánh mới.

Cả dân tộc đã ra trận, tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với phương châm “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”

“Tôi vốn nhạy với các con số nên được huấn luyện làm trắc thủ cao xạ với nhiệm vụ quan sát, nắm bắt cự ly, khoảng cách, độ cao, tốc độ và nhận dạng các loại mục tiêu phục vụ chỉ huy bắn,” ông Tuất nhớ lại.

Nói rồi, ông dõi đôi mắt mờ đục, hằn in dấu vết thời gian ra phía khung cửa sổ. Đôi bàn tay nắm chặt, ông bảo, sau gần 70 năm, chưa khi nào ông quên những điều căn dặn, nhắn gửi của Bác Hồ đối với các học viên pháo cao xạ năm ấy: Không quân là thế mạnh của địch; muốn tiêu diệt máy bay địch, ta cần xây dựng lực lượng pháo cao xạ mạnh.

Đến cuối năm 1953, ông Lê Gia Tuất được biên chế vào Tiểu đoàn 396, Trung đoàn Cao xạ 367. Sáng 21/12/1953, tại cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn Pháo cao xạ 367 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Toàn đơn vị nhận lệnh, tiếp nhận trang bị vũ khí, khí tài, hành quân về Điện Biên Phủ.

“Lưới lửa” tiêu diệt máy bay địch

Miên man trong dòng hồi ức, ông Lê Gia Tuất nhớ lại, vào thời điểm đó, lực lượng pháo cao xạ còn non trẻ, lần đầu tiên tham gia chiến dịch lớn, tác chiến trong đội hình binh chủng hợp thành, địa bàn rừng núi phức tạp, phải đương đầu với lực lượng không quân rất mạnh của địch nên đã gặp không ít khó khăn, thử thách. Thế nhưng, với ý chí, quyết tâm cao, bộ đội pháo cao xạ đã vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù, chiến đấu dũng cảm, kiên cường, góp phần quan trọng vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị của ông Tuất có nhiệm vụ bảo vệ các tuyến giao thông, hậu phương chiến dịch, tập trung ở các trọng điểm trên tuyến vận chuyển, hình thành thế trận bảo vệ giao thông có chiều sâu từ hậu phương đến trung tuyến và hỏa tuyến.

Đó là những ngày thường xuyên phải cơ động, triển khai chiến đấu dưới làn bom đạn của địch. Thời gian đầu tham gia chiến dịch, cánh lính trẻ còn có chút hoảng hốt, sợ hãi mỗi lần bom rơi, đạn nổ; nhưng rồi, tiếng máy bay ù ù quần thảo trên đầu, tiếng súng nổ đì đùng đã trở thành những âm thanh quen thuộc đến… quá đỗi bình thường.

Lô cốt xây dựng bằng gỗ để giấu pháo của quân đội ta được tái hiện lại trong bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. Đây là một chiến thuật hết sức tài tình của quân đội ta khi khiến cho địch không thể phát hiện được trận địa pháo ở đâu.
Lô cốt xây dựng bằng gỗ để giấu pháo của quân đội ta được tái hiện lại trong bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. Đây là một chiến thuật hết sức tài tình của quân đội ta khi khiến cho địch không thể phát hiện được trận địa pháo ở đâu.

“Địch thường sử dụng bom nổ trên không để gây sát thương lớn cho các trận địa pháo cao xạ của ta. Sự khốc liệt của cuộc chiến đã buộc chúng tôi phải vừa chiến đấu vừa gấp rút vận chuyển đồng đội bị thương về phía sau, không còn thời gian hay những khoảng lặng để suy tư,” cựu chiến binh Lê Gia Tuất chia sẻ.

Ông bảo, cho tới tận bây giờ, khi nghĩ lại, ông vẫn còn bị ám ảnh bởi cái cảm giác căm thù tới sục sôi những ngày trên trận địa ấy. Những người đồng đội trẻ măng, vừa nói cười chào nhau, chỉ lát sau đã bị sức ép từ bom cướp đi mất cả đôi tay… Máu, bùn đất và cả mồ hôi khô lại, hóa thành một lớp nhờ nhờ, đen đúa trên nòng pháo, bám đầy cả những sợi dây thừng dùng để kéo pháo vào trận địa.

Máu, bùn đất và cả mồ hôi khô lại, hóa thành một lớp nhờ nhờ, đen đúa trên nòng pháo, bám đầy cả những sợi dây thừng dùng để kéo pháo vào trận địa. 

Pháo chiếm cứ các đỉnh cao. Pháo phục kích dọc các sườn núi nhìn thẳng về phía lòng chảo Mường Thanh, đón lõng máy bay địch “lướt qua” để sẵn sàng tiêu diệt. Nhờ vậy, lực lượng pháo cao xạ đã hạn chế được hoạt động của không quân địch, cùng các lực lượng khác bảo vệ an toàn, thông suốt các tuyến giao thông vận tải, giữ vững mạch máu bảo đảm hậu cần cho chiến dịch.

Trong thoáng chốc, người cựu chiến binh bỗng dưng trở nên sôi nổi hẳn khi dòng ký ức hào hùng ùa về. Với nhiệm vụ trắc thủ, ông Tuất phải sử dụng các phương tiện trinh sát bầu trời, thậm chí đôi lúc bằng cả mắt thường để đón bắt mục tiêu trên trời.

Bộ đội ta ăn mừng trên xác máy bay Pháp bị bắn rơi ở Mường Thanh. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Bộ đội ta ăn mừng trên xác máy bay Pháp bị bắn rơi ở Mường Thanh. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

“Yêu cầu đặt ra là bằng mọi giá, pháo cao xạ phải ‘dệt’ được lưới lửa ngăn cản máy bay địch tấn công các trận địa của ta, từ đó hạn chế thương vong đến thấp nhất. Do đó, trắc thủ cũng phải tính toán thật kỹ, để có thể tiêu diệt được địch ngay từ những loạt đạn đầu,” ông Tuất nhớ lại.

Cánh lính trên lòng chảo Điện Biên ngày ấy dần quen với hình ảnh những chàng trắc thủ thi thoảng lại nhô hẳn đầu ra khỏi công sự, mắt hướng đăm đăm lên trời… để săn… máy bay địch.

Nhờ những “cặp mắt thần” này, Trung đoàn Pháo cao xạ 367 đã bắn rơi 52 máy bay (trong tổng số 62 máy bay địch bị bắn rơi và phá hủy), bắn bị thương 153 chiếc khác, trong đó có máy bay ném bom B.24; tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái.

“Mỗi lần thấy máy bay địch bốc khói và rơi, tôi lại cảm thấy rạo rực trong lòng. Ký ức ấy đến nay vẫn chưa bao giờ phai nhạt,” ông Tuất nhớ lại.

Những khẩu đại bác 105 ly nặng trên 2 tấn được kéo qua đèo dốc gập ghềnh đến vị trí chờ ngày nổ súng. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Những khẩu đại bác 105 ly nặng trên 2 tấn được kéo qua đèo dốc gập ghềnh đến vị trí chờ ngày nổ súng. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Thực tế đã cho thấy chiến thắng vang dội của chiến dịch Điện Biên Phủ có phần đóng góp quan trọng của lực lượng pháo binh. Từ những vị trí xung quanh lòng chảo Điện Biên, lực lượng pháo binh đã chi viện hỏa lực kịp thời, chính xác, tạo cơ hội để bộ binh đánh giành chiến thắng ở những trận then chốt, từng bước tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trong chiến dịch lịch sử này, hỏa lực pháo binh là “quả đấm thép”, có tác dụng tiêu diệt trận địa đối phương, ghìm đầu bộ binh địch, che chở cho bộ binh đột phá, đánh chiếm các mục tiêu và tiêu diệt các cơ sở hậu cần, kỹ thuật, bẻ gẫy các đợt phán kích của địch.

Việc bố trí các loại pháo ở các tầm bắn hiệu quả khác nhau đã tập trung được hỏa lực, nâng cao hiệu quả chiến đấu.

Tướng Henri Navarre đã phải thừa nhận trong cuốn hồi ký “Đông Dương hấp hối,” rằng: “Ở Điện Biên Phủ, các máy bay Pháp đã phải vượt qua một lưới lửa dày đặc, tương tự như lưới lửa cao xạ bảo vệ những điểm quan trọng của chiến trường châu Âu cuối Đại chiến Thế giới thứ hai.”

Bộ đội ta kéo những khẩu pháo nặng hàng chục tấn vượt núi, xuyên rừng vào chiến trường Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)
Bộ đội ta kéo những khẩu pháo nặng hàng chục tấn vượt núi, xuyên rừng vào chiến trường Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát)

Những ngày đáng nhớ

Một tuần đầu sau khi nhiễm bệnh với tôi là khoảng thời gian khủng khiếp nhất. Ban đầu là triệu chứng sốt, người hâm hấp nóng, rồi những cơn ho dồn dập kéo đến. Cơ thể mệt mỏi, rã rời. Vùng thắt lưng đau nhói, người rất mệt.

Qua 7 ngày khủng khiếp khiến người đau như dần đó, sức khỏe tôi lại bình thường. Tôi quyết định tập thể dục thể thao để rèn luyện sức khỏe, thể lực của mình ngay khi vẫn còn trong phòng bệnh. Một ngày tôi tập thế dục 3 giờ đồng hồ, hết chạy quanh phòng rồi lại chống đẩy…

Bệnh nhân 137 Đặng Văn Bé – 36 tuổi, địa chỉ ở Yên Thành, Nghệ An – người đã dương tính lại với SARS-CoV-2 sau 15 ngày được công bố khỏi bệnh đã chia sẻ như vậy khi anh nhiều lần liên tiếp có kết quả âm tính và tiếp tục được công bố khỏi bệnh vào sáng 5/5 tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 (Đông Anh, Hà Nội).

Một tuần đầu sau khi nhiễm bệnh với tôi là khoảng thời gian khủng khiếp nhất. Ban đầu là triệu chứng sốt, người hâm hấp nóng, rồi những cơn ho dồn dập kéo đến. Cơ thể mệt mỏi, rã rời. Vùng thắt lưng đau nhói!

Những ngày không thể quên

Khoảng thời gian 50 ngày vừa qua với anh Đặng Văn Bé – một bệnh nhân mắc COVID-19 là những ngày không bao giờ có thể quên. Bởi sau khi được công bố khỏi bệnh, anh về nhà được 24 giờ lại phải tức tốc lên xe 6 giờ đồng hồ để quay trở lại bệnh viện vì có kết quả xét nghiệm dương tính trở lại.

Anh Bé kể lại, anh là lao động ở Đức đã 2 năm nay.

“Đến thời điểm ngày 14/3, tình hình dịch bệnh ở Đức thời điểm tôi về cũng khá lo ngại khi có hơn 1.249 người nhiễm bệnh COVID-19, đã có 3 bệnh nhân tử vong. Ở bên đó tôi không cảm thấy an toàn, nên tôi quyết định về Việt Nam. Tôi nhập cảnh ở Đức về Việt Nam ngày 15/3 và được cách ly tập trung tại Sơn Tây (Hà Nội) và được lấy mẫu làm xét nghiệm,” anh kể lại.

Cách ly được 6 ngày tại khu cách ly tập trung thì tại phòng ở của anh có 1 trường hợp bệnh nhân từ nước Anh về dương tính. Ba ngày sau, anh cũng có biểu hiện giống bệnh nhân kia. Đến ngày cách ly thứ 9, khi kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, anh đã ngay lập tức được chuyển về điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ ngày 25/3.

Khi biết tin mình mắc bệnh, anh trộm nghĩ: “Dẫu sao mình đã bị mắc bệnh rồi, cứ lạc quan lên thôi.”  Tự nhủ như thế nhưng anh vẫn không thể tưởng tượng nổi mình đã phải trải qua 7 ngày “ác mộng” nhất trong đời tưởng chừng như không thể gắng gượng…

Anh được cách ly 1 mình trong phòng rộng khoảng 15 mét vuông. Vào thời kỳ cao điểm, có lúc phòng 2-3 người.

Anh Bé kể, một ngày với bệnh nhân COVID-19 như anh không hề nhàm chán. Anh xem phim, đọc báo, lướt web, nói chuyện với bạn bè. Thường thường buổi sáng anh dậy lúc 5 giờ 30.

Anh Bé kể, một ngày với bệnh nhân COVID-19 như anh không hề nhàm chán, anh tự tạo cho mình những hoạt động để tinh thần thoải mái. Anh xem phim, đọc báo, lướt web, nói chuyện với bạn bè. Thường thường buổi sáng anh dậy lúc 5 giờ 30 phút.

“6 giờ sáng tôi chạy thể dục và chống đẩy ở trong phòng 1 tiếng rưỡi. Chiều 16 giờ 30 phút tôi lại tiếp tục vận động 1 tiếng rưỡi. Như vậy, mỗi ngày có 3 giờ tập thể dục – trừ 7 ngày đầu mắc bệnh phải nằm bẹp dí và ít hoạt động,” anh Bé chia sẻ về những ngày điều trị và cách ly tại bệnh viện.

[Video]: Bệnh nhân chia sẻ về gần 2 tháng điều trị tại bệnh viện:

Bệnh nhân 137 kể về những ngày điều trị.

Ở nhà vỏn vẹn 24 giờ đồng hồ

Anh Đặng Văn Bé điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ ngày 25/3 và được tuyên bố khỏi bệnh hôm 7/4. 14 ngày ở lại bệnh viện sau khi được công bố khỏi bệnh, anh Bé được xuất viện vào chiều 22/4 sau 6 lần xét nghiệm âm tính.

Buổi chiều 22/4 anh sửa soạn đồ đạc, xuất viện về nhà. Trong lòng anh Bé không khỏi khấp khởi mừng thầm “Thế là mình đã thoát khỏi con COVID rồi”.

“Việc đầu tiên là tôi gọi điện cho người thân, mọi người ở nhà chuẩn bị đồ ăn sẵn sàng cho tôi trong vòng 15 ngày. Mọi người trong nhà tôi gồm vợ và 3 con đều di tản hết qua nhà anh trai tôi ở cách đó 200 mét. Nếu ai muốn nhìn nhau thì đứng từ ngoài cổng cách xa.

“6 giờ tôi chạy thể dục và chống đẩy ở trong phòng 1 tiếng rưỡi đồng hồ. Chiều 16 giờ 30 tôi lại tiếp tục vận động 1 tiếng rưỡi nữa. Như vậy, mỗi ngày có 3 giờ tập thể dục,” anh Bé chia sẻ

Rời bệnh viện là 3h30 chiều. 9 giờ tối tôi về đến nhà. Đứng trước cổng, nhìn ngôi nhà với 4 sào đất rộng, tôi hít hà không khí ở quê, cảm giác thân thuộc, không khí trong lành nơi mình gắn bó bao nhiêu năm ùa vào lồng ngực,” anh Bé bồi hồi.

Anh dự định sẽ cho phép mình xả hơi, nghỉ ngơi 2 ngày rồi xắn tay chân vào việc cuốc đất, trồng cây rèn luyện sức khỏe.

Biểu đồ tương tác về tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam:

Click vào biểu đồ để tương tác. (Đồ hoạ: Thùy Giang/Vietnam+)

Thế nhưng, cuộc đời vẫn còn nhiều bất ngờ. Đến chiều 23/4, khi đang tự cách ly một mình ở nhà tại Nghệ An, vào 16 giờ 30 chiều, anh  Bé bỗng nhận được cuộc điện thoại của các bác sỹ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương thông báo kết quả xét nghiệm của anh dương tính trở lại (lần xét nghiệm thứ 7 ngay trước khi ra viện).

Chia sẻ về cảm giác khi nhận được thông tin dương tính trở lại, anh Bé cho hay: “Khi đó tôi rất bất ngờ bởi vì sức khỏe của tôi từ khi công bố khỏi bệnh ngày 7/4 đến nay hoàn toàn bình thường, không có triệu chứng gì. Chính vì vậy, dù có lại phải quay vào viện, tôi vẫn lạc quan.”

Vào 16 giờ 30 chiều, anh  Bé bỗng nhận được cuộc điện thoại của các bác sỹ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương thông báo kết quả xét nghiệm của anh dương tính trở lại.

Ngay đêm đó, vào 23 giờ 30 phút, xe chuyên dụng của bệnh viện đón anh Bé để quay trở lại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 2. Suốt 6 giờ ngồi trên xe, đến 5 giờ sáng, ngay khi đến bệnh viện anh đã được các bác sỹ lấy máu, xét nghiệm lại. Điều đáng mừng là lần xét nghiệm này của anh Bé đã cho kết quả âm tính và các ngày tiếp theo, các mẫu xét nghiệm cũng đều âm tính. Đến nay, anh đã 4-5 lần có kết quả xét nghiệm âm tính liên tiếp.

Và sáng ngày 5/5, điều mà anh Bé mong chờ cũng đã tới. Anh được các bác sỹ Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương công bố khỏi bệnh.

Bệnh nhân 137 mắc COVID-19 (thứ hai từ phải qua) được công bố khỏi bệnh ngày 5/5/2020. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Bệnh nhân 137 mắc COVID-19 (thứ hai từ phải qua) được công bố khỏi bệnh ngày 5/5/2020. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Không giấu được sự xúc động, Anh Bé chia sẻ: “Tôi rất vui mừng và cảm ơn đội ngũ y bác sỹ đã tận tình chu đáo, động viên chăm sóc, tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian 1,5 tháng vừa qua. Tôi không biết nói gì hơn, chỉ biết nói lời cảm ơn chân thành nhất tới các y bác sỹ của bệnh viện.”

Điều đáng nói là anh Bé sẽ tiếp tục được theo dõi ở bệnh viện thêm 14 ngày nữa và về nhà sẽ tự cách ly thêm 14 ngày. Như vậy, tổng thời gian dự kiến điều trị bệnh và tự cách ly của anh Bé là 78 ngày (2,5 tháng).

Anh bảo, giờ anh chỉ thèm cảm giác được ôm con vào lòng. Nhưng chắc phải gần 1 tháng nữa, anh Bé mới có thể làm được điều tưởng chừng như  rất đơn giản đó.

Không e ngại các trường hợp tái dương tính

Như vậy, tính đến nay, tại Việt Nam đã có 232 ca mắc COVID-19 được điều trị khỏi bệnh. Cả nước còn 39 bệnh nhân COVID-19 đang tiếp tục điều trị, trong đó có 2 bệnh nhân nặng là bệnh nhân số 19 và 91.

Liên quan các ca tái dương tính, giáo sư Nguyễn Văn Kính-nguyên Giám đốc Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, chuyên gia cao cấp của bệnh viện cho biết trên thực tế, các trường hợp tái dương tính ở Việt Nam đều không có bất cứ dấu hiệu lâm sàng nào. Những bệnh nhân sau khi nhập viện trở lại đều khỏe mạnh, ăn ngủ bình thường; trong quá trình theo dõi tại bệnh viện cũng không phải điều trị bằng một loại thuốc nào. Tất cả các xét nghiệm virus SARS-CoV-2 sau khi bệnh nhân vào viện một thời gian cũng đều cho kết quả âm tính.

Theo giáo sư Kính, tất cả bệnh nhân tái dương tính nhập viện đều được nuôi cấy virus nhưng virus đều không mọc, việc bệnh nhân có kết quả tái dương tính có thể do xét nghiệm phát hiện đoạn gene của virus, chứ không phải virus còn hoạt động và không có khả năng lây bệnh. Về bản chất, phương pháp xét nghiệm virus SARS-CoV-2 đang được sử dụng hiện nay là RT-PCR.

“Với RT-PCR, chúng ta chỉ lấy đoạn mồi để phát hiện đoạn gene đặc trưng của virus SARS-CoV-2, nên về bản chất là phát hiện mã di truyền của virus chứ không phải là phát hiện toàn bộ con virus. Muốn phát hiện toàn bộ chúng ta phải thực hiện giải trình tự gene,” giáo sư Kính cho hay.

Tất cả các trường hợp tái dương tính ghi nhận ở Việt Nam sau khi đem mẫu bệnh phẩm đi nuôi cấy thì virus đều không phát triển.

Cũng theo giáo sư Kính, để khẳng định các trường hợp tái dương tính, virus SARS-CoV-2 còn khả năng hoạt động hay không thì cần phải đem phân lập, nuôi cấy. Tất cả các trường hợp tái dương tính ghi nhận ở Việt Nam sau khi đem mẫu bệnh phẩm đi nuôi cấy thì virus đều không phát triển. Các bằng chứng này cho thấy kết quả xét nghiệm RT-PCR trước đó thực chất chỉ phát hiện những mảnh ARN của virus và có thể coi đó là xác của virus.

Giáo sư Kính phân tích: “SARS-CoV-2 là một loại virus mới nên thế giới cần nhiều thời gian để nghiên cứu về sinh bệnh học và những khoa học cơ bản về đáp ứng miễn dịch của con virus này. Đối với những trường hợp tái dương tính, cũng cần nghiên cứu thêm về kháng thể của người bệnh. Tuy nhiên, về mặt y tế công cộng, chúng ta không cần e ngại gì với các trường hợp tái dương tính”./.

Xét nghiệm nhanh COVID-19 cho người dân. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Xét nghiệm nhanh COVID-19 cho người dân. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Các gã khổng lồ công nghệ đang tăng tốc đuổi theo Zoom

Khi mọi người chuyển sang ứng dụng trò chuyện video Zoom trong những tuần gần đây, tiếng vang của nó đã thu hút sự chú ý của gã khổng lồ Facebook. Bên trong mạng xã hội lớn nhất thế giới, điều đó lập tức gây ra những tranh cãi.

Tờ The New York Times dẫn ba nguồn thạo tin cho biết Mark Zuckerberg, giám đốc điều hành của Facebook, đã yêu cầu nhân viên tập trung vào các dự án cuộc gọi video, cũng như tăng cường sử dụng các sản phẩm của công ty. Trong hệ thống tin nhắn nội bộ của Facebook, nhiều nhân viên còn thể hiện sự ngạc nhiên trước mức độ phổ biển của Zoom.

Vào thứ Sáu 1/5, Facebook đã tiết lộ một trong những mở rộng lớn nhất của mình vào lĩnh vực cuộc gọi video với một số tính năng và dịch vụ trò chuyện video mới. Chúng bao gồm các cuộc trò chuyện nhóm video cho tới 50 người trên Facebook Messenger, các cuộc gọi video WhatsApp cho tối đa tám người và các cuộc gọi video trong Facebook Dating.

Cơn ác mộng với các gã khổng lồ

Zuckerberg không phải là người duy nhất bị Zoom ám ảnh trong tâm trí. Google trong tháng này đã phải mở cửa ứng dụng trò chuyện video của mình, Meet, dễ truy cập hơn thông qua Gmail. Cisco gần đây đã quảng bá dịch vụ cuộc gọi video Webex của mình bảo mật cao hơn Zoom. Và Verizon, một nhà mạng di động của Mỹ đã công bố rằng họ đang mua BlueJeans Network, một dịch vụ cuộc gọi video.

Zuckerberg không phải là người duy nhất bị Zoom ám ảnh trong tâm trí.

Các gã khổng lồ công nghệ và viễn thông đang huy động mọi nguồn lực để chống lại Zoom khi công ty ở Thung lũng Silicon này trở thành một trong những người hưởng lợi công nghệ lớn nhất từ sự bùng phát của virus SARS-CoV-2. Trong tháng qua, số lượt tải xuống của Zoom đã tăng tới 740%, theo App Annie, một công ty phân tích dữ liệu. Mới đây, Zoom tuyên bố có hơn 300 triệu người tham gia hàng ngày, tăng từ 10 triệu trước khi xảy ra đại dịch – tuy nhiên, sau đó hãng này đã thừa nhận thổi phồng con số này và có “sự nhầm lẫn trong cách diễn đạt.”

Facebook, Google và những người khác muốn có một phần thành công đó. Đằng sau hậu trường, những nguồn thạo tin về các công ty cho biết, các nhân viên buồn rầu rằng họ đã không tạo được nhiều tiếng vang như Zoom, khi nhiều gã khổng lồ đã tung ra những phần mềm cuộc gọi video của riêng họ – như Google Meet – trong nhiều năm.

Biểu tượng dịch vụ Meet của Google (trái) và biểu tượng dịch vụ Zoom (bên phải).
Biểu tượng dịch vụ Meet của Google (trái) và biểu tượng dịch vụ Zoom (bên phải).

Khi nhắm mục tiêu vào Zoom, các gã khổng lồ công nghệ đang hướng đến một chiến thuật về việc triển khai các nguồn lực khổng lồ của họ để đè bẹp đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn nhưng đang tăng trưởng nhanh. Năm ngoái, Facebook và Google đã chĩa mũi súng của họ vào TikTok, ứng dụng video do Trung Quốc sản xuất, khuấy đảo giới trẻ. Thông thường, các công ty lớn nhất sẽ mở ví và chộp lấy các đối thủ nhỏ bé để loại bỏ chúng như là đối thủ cạnh tranh.

Trong một cuộc phỏng vấn, Zuckerberg đã tỏ ra bực tức khi bị so sánh với Zoom và nói rằng một ứng dụng cuộc gọi video mới chỉ trở thành một hiện tượng lớn hơn khi mọi người nhắm đến kết nối kỹ thuật số theo những cách gần gũi hơn.

‘Chúng tôi không nghĩ về cạnh tranh mà chỉ tập trung vào người dùng và trải nghiệm của họ trong một ‘cuộc khủng hoảng có lẽ là 100 năm có một.” (Giám đốc điều hành của Zoom, Eric Yuan)

“Thế giới đã đi theo hướng này trước COVID-19,” Zuckerberg nói trong khi sử dụng sản phẩm video mới trên Facebook Messenger. “Đây là xu hướng nói chung – khả năng cảm thấy hiện tại nhiều hơn, ngay cả khi các bạn không ở bên nhau.”

Giám đốc điều hành của Zoom, Eric Yuan, cho biết trong một cuộc phỏng vấn trong tháng này rằng công ty của ông không nghĩ về cạnh tranh mà chỉ tập trung vào người dùng và trải nghiệm của họ trong một “cuộc khủng hoảng có lẽ là 100 năm có một.”

Zoom, được thành lập vào năm 2011 bởi ông Yuan, cựu giám đốc của Cisco. Nó được thiết kế để dễ sử dụng và cài đặt. Không giống như các sản phẩm cuộc video khác, ứng dụng này có chế độ xem dạng lưới cho phép mọi người nhìn thấy nhau cùng lúc trong một cuộc gọi, tạo ra một bầu không khí xã hội hơn. Công ty có trụ sở tại San Jose, California, đã phát hành cổ phiếu vào năm ngoái.

Giám đốc điều hành của Zoom, Eric Yuan. (Nguồn: Getty Images)
Giám đốc điều hành của Zoom, Eric Yuan. (Nguồn: Getty Images)

Khi sự lây lan của COVID-19 tăng mạnh, tạo ra hiện tượng cuộc gọi video trực tuyến, Zoom nổi lên như một người đi trước rõ ràng, chủ yếu nhờ truyền miệng về sự dễ dàng và đơn giản của nó. Nó đã là ứng dụng được tải xuống nhiều nhất trong Apple Store hơn một tháng. Zoom được định giá khoảng 47 tỷ USD, nhiều hơn cả Slack và Pinterest.

Zoom nổi lên như một người đi trước rõ ràng, chủ yếu nhờ truyền miệng về sự dễ dàng và đơn giản của nó.

Nhưng thành công đến với Zoom là một con đường rất gập ghềnh, với những chỉ trích về bảo mật và quyền riêng tư. Zoombombing – những hành vi cố ý gây rối trong các phòng họp Zoom với nội dung khiêu dâm hoặc các hình thức quấy rối kỹ thuật số khác – đã trở nên phổ biến đến mức thuật ngữ này đã trở thành một phần của diễn ngôn chính thống.

Chạy đua để bặt kịp Zoom

Các công ty công nghệ và viễn thông lớn hơn đang chạy đua để bắt kịp Zoom, mặc dù trước đó họ đã tung ra các dịch vụ gọi video. Cisco mua lại Webex vào năm 2007 với giá 3,2 tỷ USD. Facebook từ lâu đã thổi phồng các dịch vụ trò chuyện video của riêng mình. Microsoft đã mua dịch vụ gọi Internet Skype vào năm 2011 với giá 8,5 tỷ USD.

Trong tháng này, Google cho biết họ sẽ tích hợp Meet trực tiếp vào Gmail để người dùng có thể thực hiện các cuộc gọi video trong cửa sổ trình duyệt email của họ. Google cũng đang bắt chước Zoom, tung ra chế độ xem dạng lưới cho Meet và thêm các tính năng để cải thiện chất lượng video trong điều kiện ánh sáng yếu. Mới đây, Google còn thêm tùy chọn khử tiếng ồn cho các cuộc gọi video và mở rộng miễn phí các tính năng nâng cao cho tất cả các khách hàng của mình.

Google cho biết việc sử dụng Meet đã tăng hơn 25 lần so với tháng 1, với hơn hai triệu người đăng ký mới mỗi ngày.

Sau khi xuất hiện những câu hỏi về quyền riêng tư và bảo mật của Zoom, các đối thủ cạnh tranh cũng vội vàng đưa ra những tuyên bố bảo đảm với khách hàng rằng dịch vụ của họ an toàn hơn. Javed Khan, phó chủ tịch của Cisco, nói rằng không chỉ việc sử dụng Webex tăng vọt – có lúc, công ty đã thêm 240.000 người dùng mới trong 24 giờ – mà hãng này cũng tăng cường hoạt động bảo mật.

“Là một công ty bảo mật doanh nghiệp lớn nhất thế giới, chúng tôi đã giúp khách hàng kết nối và hợp tác một cách an toàn,” ông Javed Khan nói.

Sau khi xuất hiện những câu hỏi về quyền riêng tư và bảo mật của Zoom, các đối thủ cạnh tranh cũng vội vàng đưa ra những tuyên bố bảo đảm với khách hàng rằng dịch vụ của họ an toàn hơn.

Khi Verizon tuyên bố mua BlueJeans vào ngày 16/4, BlueJeans cũng nhấn mạnh đến bảo mật. “Thời đại làm việc tại nhà hiện nay đã cho chúng ta thấy, có các công cụ cộng tác an toàn, đáng tin cậy và chất lượng cao như BlueJeans là điều cần thiết,” công ty nói trong một bài đăng trên blog.

Houseparty, một ứng dụng trò chuyện video mà Epic Games mua lại năm ngoái, đã được phổ biến với người dùng trẻ. Trong những tuần gần đây, hơn 50 triệu người đã đăng ký, mở rộng đối tượng cho những người cũng sử dụng Zoom. Để tạo sự khác biệt, Houseparty cho biết họ đang nhấn mạnh các tính năng như khả năng chơi trò chơi với những người tham gia khác trong ứng dụng.

Thừa nhận đối thủ để cạnh tranh sòng phẳng

Rất ít công ty đã thừa nhận sự lớn mạnh của Zoom như Facebook.

Zuckerberg gần đây đã hối thúc một số nhóm làm việc của Facebook tăng tốc phát hành sản phẩm cuộc gọi video của họ, bao gồm cả ứng dụng máy tính để bàn cho Facebook Messenger trong tháng này. “Hơn 700 triệu người hiện thực hiện các cuộc gọi trên Messenger và WhatsApp mỗi ngày,” Zuckerberg nói, “cho thấy rõ rằng các tính năng khác cần được xây dựng càng sớm càng tốt.”

Chúng bao gồm các phòng trò chuyện Messenger Rooms, một cách để nhanh chóng tạo các phòng trò chuyện video bằng Facebook Messenger có thể hỗ trợ hàng chục người cùng lúc. Facebook cũng tích hợp trò chuyện video vào sản phẩm Dating (Hẹn hò) của mình và có kế hoạch mang khả năng tạo của Messenger Rooms lên WhatsApp, Instagram Direct và các dịch vụ khác.

Messenger Rooms.
Messenger Rooms.

Zuckerberg cho biết Zoom tính khuôn mẫu lịch biểu và ít bình thường hơn so với Messenger Rooms. Ông chủ Facebook nói rằng ông muốn làm cho trải nghiệm trò chuyện video trở nên “tình cờ” hơn.

“Tôi không thể thực sự nghĩ rằng hôm nay bạn có thể hiển thị bất cứ thứ gì mà bạn có thể hiển thị đặc biệt khi bạn đang đi chơi và có ai muốn tham gia cùng bạn qua video,” Zuckerberg nói. “Đôi khi mọi người so sánh những gì chúng tôi làm với các công ty khác, như bạn đã làm trước đó với Zoom. Tôi nghĩ rằng lực đẩy chính là cách mọi người trải nghiệm Rooms sẽ rất khác nhau.”

Rất ít công ty đã thừa nhận sự lớn mạnh của Zoom như Facebook.

Các nguồn thạo tin nói với tờ New York Times của Mỹ rằng bộ phận thực tế ảo tăng cường của Facebook, nơi phát triển một thiết bị liên lạc video có tên Portal, cũng đã làm việc để đưa các cuộc gọi video Zoom lên trên thiết bị này. Dự kiến thiết bị Portal hỗ trợ cuộc gọi Zoom sẽ ra mắt vào tháng 5, nhưng nõ đã bị trì hoãn khi Zoom gần đây quyết định đóng băng tất cả sự phát triển tính năng mới trong 90 ngày để dành thời gian tăng cường bảo mật.

Bộ phận thực tế ảo tăng cường của Facebook cũng đang thảo luận với các công ty khác để mở rộng quan hệ đối tác cung cấp dịch vụ cuộc gọi video, hai trong số những người nói.

Phía Facebook và Zoom đã từ chối bình luận về những thông tin trên.

Sự cố của lãnh đạo Google và mức độ phổ biến của Zoom

Tuy nhiên, Zoom có thể đã quá ăn sâu và phổ biến trên thị trường để những gã khổng lồ ở Thung lũng Silicon nhổ bỏ.

Cuối tháng trước, Philipp Schindler, giám đốc kinh doanh của Google, đã tổ chức hội nghị truyền hình với hàng ngàn nhân viên  qua Google Meet. Trong phiên đối thoại, một nhân viên đã hỏi tại sao Zoom lại gặt hái những hành công vang dội mặc dù Google đã tung ra Meet từ lâu.

Ông Schindler đã cố gắng xoa dịu những lo ngại của các nhân viên. Nhưng sau đó, một chuyện hy hữu xảy ra khi đứa con trai nhỏ của ông Schindler tình cờ nhìn vào camera và hỏi liệu ông có nói chuyện với các đồng nghiệp trên Zoom không.

Ông Schindler đã cố gắng xử lý tình huống này, nhưng cậu bé tiếp tục nói rằng cậu ta và bạn bè thích sử dụng Zoom như thế nào.

Một phát ngôn viên của Google từ chối bình luận về sự cố.

Lăng Bác Hồ

Thể theo ý nguyện thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, trong phiên họp sáng 29/11/1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã bàn và quyết định: Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người.

Đảng và Nhà nước ta quyết định xây dựng lăng của Người tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Lăng Bác là một công trình kiến trúc đồ sộ, uy nghi; lăng cao 21,6 mét, bề mặt rộng 31 mét. Hai cánh gà mở ra hai phía.

Phần dưới Lăng lát đá hoa cương mầu sẫm gồm ba tầng, tầng trên nhỏ hơn tầng dưới, hình thành một tam cấp đồ sộ. Nét độc đáo của kiến trúc dân tộc đã tạo cho Lăng một thế đứng vững chãi, trang nghiêm.

Phần mái Lăng cũng hình thành một tam cấp nhẹ nhõm, thanh thoát với những đường vắt chéo, làm cho mái Lăng vừa mang những nét gọn gàng, giản dị của kiến trúc hiện đại, vừa phảng phất dáng vẻ mềm mại, uyển chuyển của mái cong kiến trúc dân tộc cổ truyền.

Dưới mái Lăng, bốn phía đều có các hàng cột cao, to bằng đá hoa cương màu xám bạc.

Sáng 29/8/1975, Đảng và Nhà nước đã tổ chức lễ trọng thể khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đưa Người về an nghỉ mãi mãi ở nơi đây, giữa trái tim của toàn dân tộc

Bên trong bốn hàng cột trang nghiêm là bốn bức tường đá hoa cương đỏ màu son: đó là căn phòng yên nghỉ vĩnh cửu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau 700 ngày đêm lao động của  cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên xây dựng Lăng, và đặc biệt là có sự giúp đỡ bằng sức người và sức của của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, chúng ta đã vượt qua trăm nghìn gian khó xây dựng nên ngôi nhà vĩnh hằng của Bác.

Sáng 29/8/1975, Đảng và Nhà nước đã tổ chức lễ trọng thể khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đưa Người về an nghỉ mãi mãi ở nơi đây, giữa trái tim của toàn dân tộc.

Việc xây dựng Lăng của Người có sự giúp đỡ nhiệt tình của Chính phủ Liên Xô. Từ ngày 9-23/1/1970, Chính phủ Liên Xô đã cử một đoàn gồm 7 cán bộ sang Việt Nam để bàn về việc thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ trong một tuần, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã soạn thảo xong bản “Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

Ngày 19/10/1970, bản dự thảo đã được thông qua tại phiên họp Bộ Chính trị.

Trong hơn một tháng, tập thể kiến trúc sư, kỹ sư và cán bộ kỹ thuật của Việt Nam đã hoàn thành phương án “thiết kế sơ bộ” của Lăng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định lấy ngày 2/9/1973 là ngày khởi công và ngày 2/9/1975 là ngày hoàn thành, đưa công trình vào hoạt động.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định lấy ngày 2/9/1973 là ngày khởi công và ngày 2/9/1975 là ngày hoàn thành, đưa công trình vào hoạt động.

Từ ngày 19/3 đến ngày 6/5/1970, một đoàn cán bộ gồm ba kiến trúc sư Việt Nam đã mang bản “thiết kế sơ bộ” sang tiếp tục làm việc với bạn. Dựa trên những phương án đã có của hai đoàn, một phương án chung có tăng cường các giải pháp kỹ thuật phù hợp với môi trường khí hậu nhiệt đới của Việt Nam đã được hình thành. Bản thiết kế này được đặt phiên hiệu là công trình 75808.

Cũng trong thời gian này, rất nhiều thư từ mọi miền Tổ quốc và của cả Việt kiều ở nước ngoài gửi về bày tỏ nguyện vọng được đóng góp, kiến nghị và thiết kế Lăng. Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định lùi việc duyệt bản “thiết kế sơ bộ” lại 4 đến 5 tháng để tổ chức một đợt sáng tác các mẫu thiết kế Lăng và trưng bày các mẫu sáng tác đó, lấy ý kiến tham gia của nhân dân.

Sau khi đợt sáng tác mẫu được phát động, từ cuối tháng 5/1970 đến cuối tháng 8/1970, Ban tổ chức đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế khác nhau của 16 đơn vị, ngành và nhiều cá nhân gửi tới. Ban tổ chức đã chọn ra được 24 phương án có nhiều ưu điểm và tổ chức trưng bày tại 5 địa điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Tổng cộng có 745.487 lượt người tới thăm và 34.022 người tham gia ý kiến.

Sau 10 ngày kết thúc đợt triển lãm mô hình Lăng, bản “thiết kế sơ bộ” tổng hợp ý kiến nhân dân đã được đoàn cán bộ mang sang Liên Xô làm việc với các chuyên gia.

Ngày 9/2/1971, tại Moskva, “Hiệp nghị giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa XôViết về việc Liên Xô giúp đỡ kỹ thuật cho Việt Nam trong việc giữ gìn thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người được đại diện của hai Chính phủ là Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nôvicốp ký kết.

Ngày 3/11/1971, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định chính thức thành lập Ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng ngày, Phó Thủ tướng Đỗ Mười đã ký quyết định thành lập Ban chỉ huy công trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 31/12/1971, Thường vụ Hội đồng Chính phủ đã ký quyết định phê chuẩn bản “thiết kế kỹ thuật.”

Ngày 5/2/1972, Thủ tướng Chính phủ  ra quyết định chính thức phân công nhiệm vụ cho các bộ, các ngành, các địa phương tham gia xây dựng công trình 75808, trong đó hai lực lượng nòng cốt là Bộ Kiến trúc và Bộ Quốc phòng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định lấy ngày 2/9/1973 là ngày khởi công và ngày 2/9/1975 là ngày hoàn thành, đưa công trình vào hoạt động.

Bộ Quốc phòng được giao nhiệm vụ là bên A của công trình (bên chủ quản công trình sau khi xây dựng xong) và phụ trách lắp ráp toàn bộ thiết bị bên trong công trình. Bộ Tư lệnh công binh đã thành lập một trung đoàn cho việc thi công lắp ráp, lấy tên là trung đoàn 259B (hay là Đoàn Ba Đình).

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định lấy ngày 2/9/1973 là ngày khởi công và ngày 2/9/1975 là ngày hoàn thành, đưa công trình vào hoạt động.

Đêm 18/6/1973, toàn bộ mặt bằng công trường bắt đầu được quây kín, sẵn sàng thi công.

Ngày 2/9/1973, lễ khởi công xây dựng Lăng Bác được tiến hành.

Sau 60 ngày đêm làm việc liên tục, công đoạn đào móng Lăng đã hoàn thành.

Ngày 30/10/1974, công trường hoàn thành mẻ bêtông cuối cùng ở nóc Lăng.

Băngrôn chào mừng 45 năm Thống nhất đất nước trên đường Điện Biên Phủ, phía trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
Băngrôn chào mừng 45 năm Thống nhất đất nước trên đường Điện Biên Phủ, phía trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình văn hóa, nghệ thuật, phần công việc trang trí  và hoàn thiện chiếm hơn một nửa thời gian xây dựng. Phần công tác này đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mỹ thuật rất cao.

Nhìn từ ngoài Lăng, cũng như đi sâu vào bên trong, người xem dễ nhận thấy toàn bộ khối Lăng chủ yếu được kết cấu, trang trí bằng đá.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã gửi tặng Việt Nam hai vạn miếng đá hoa cương và cẩm thạch mài nhẵn.

Ngày 1/11/1974, viên đá đầu tiên được ốp vào công trình Lăng.

Sau khi viên đá đầu tiên được ốp ở phòng khách, hàng loạt bức tường khác đã được ốp đá, mỗi phòng, mỗi tường có những quy cách khác nhau tạo dáng phong phú đa dạng, phù hợp với ánh sáng, mầu sắc, hài hòa với bố cục chung. Mặt ngoài của Lăng được ốp bằng đá hoa cương mầu xám đậm, tạo vẻ tôn nghiêm thành kính. Chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” trên nóc lăng được ghép bằng đá ngọc Cao Bằng. Cửa chính của Lăng được ốp bằng đá đen bóng.

Hai phòng khách và lối ra lễ đài, các nền và bậc cầu thang cũng lát bằng đá hoa cương. Tất cả các tường và cột ốp bằng đá cẩm thạch. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tươi, làm nền cho dòng chữ  “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác được mạ vàng rực rỡ.

Phòng Bác nằm, ốp bằng đá cẩm thạch Hà Tây, những viên đá có hình chữ nhật xếp thẳng đứng kế tiếp nhau nối từ chân tường đến đỉnh trần làm ta liên tưởng tới những thanh gỗ lát nhà sàn của Bác. Hai lá cờ: cờ Đảng và cờ Tổ quốc được ghép bằng 4.000 miếng đá hồng ngọc của Thanh Hóa, Búa Liềm và sao năm cánh ghép bằng đá cẩm vân vàng sáng.

200 bộ cửa được các nghệ nhân mộc Nam Hà, Hà Bắc, Nghệ An đóng với kỹ xảo điêu luyện.

Từ mọi miền đất nước, nhân dân đóng góp những vật liệu đặc sản của địa phương mình cho công trình: Ximăng của Nhà máy Ximăng Hải Phòng; đá dăm ở khu vực Thác Bà, Xuân Hòa; Cát vàng Kim Bôi, Hòa Bình; gỗ của miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên…

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình có nhiều hệ thống máy móc hiện đại nhằm giữ gìn nguyên vẹn lâu dài thi hài Bác.

Từ tháng 9/1973, một đoàn cán bộ kỹ thuật điện, cấp thoát nước, thông hơi, điều hòa, cơ khí sang Liên Xô tham gia thiết kế thi công phần lắp và nắm trước thiết kế, nắm trước các biện pháp thi công.

Tháng 3/1974, bản thiết kế thi công điện, nước hoàn thành, và tới tháng 4, phần thiết kế thi công thông hơi, điều hòa kết thúc.

Cuối tháng 12/1974, cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên công trường đã cơ bản hoàn thành lắp hệ mạng của hệ kỹ thuật.

Hệ trung tâm điều hòa không khí được coi như lá phổi của công trình, do Liên Xô thiết kế và đặt hàng cho một số nước khác sản xuất. Có tất cả 17 hệ thông hơi, điều hòa, 4 hệ điều hòa trung tâm nặng 160 tấn rất hiện đại. Hỗ trợ cho hệ điều hòa trung tâm còn có các bộ làm lạnh cục bộ, các bộ sấy cục bộ, các máy điều hoà treo, ngoài ra còn có 620 thiết bị lẻ như tiêu âm, van gió, môtơ, lưới hút, thổi… Và một nhà máy lạnh có sáu cụm máy lạnh với tổng công suất hơn 2,5 triệu kilô calo/giờ.

Lăng có 3 hệ thống cấp và thoát nước với 5 bình chứa nước dung tích từ 10 đến 50m3, gần 50 máy bơm các loại, hơn 450 van khóa và 5.000mét ống nước.

Đặc biệt, các máy móc ở đây được thiết kế khá độc đáo, yêu cầu lắp ráp với độ chính xác cao. Trong các loại máy móc thiết bị tinh vi quan trọng có thiết bị quan tài. Thiết bị này do các chuyên gia lắp. Quan tài trong suốt và kín. Máy móc nâng hạ quan tài cũng theo nguyên lý chuyển động chính xác đặc biệt. 20 loại đèn nhiều tia, có màu khúc xạ bởi nhiều bộ lăng kính và hệ thoát nhiệt. Trình độ công nghệ và trình độ khoa học ở thiết bị này rất cao.  

Vào Lăng viếng Bác. (Nguồn: TTXVN)
Vào Lăng viếng Bác. (Nguồn: TTXVN)

Cùng với việc thiết kế, xây dựng Lăng Bác là việc thiết kế, cải tạo xây dựng lại Quảng trường Ba Đình. Quảng trường Ba Đình, vườn hoa tiếp giáp và Lăng Bác là một quần thể kiến trúc thống nhất. Tổng diện tích cải tạo và xây dựng là 14ha. Quảng trường ở phía trước Lăng có diện tích 20.000m2, chia thành 176 ô vuông trồng cỏ (từ ngày 14/3 đến 17/7/2000 vừa qua đã tôn tạo lại thảm cỏ với hệ thống tưới phun tự động), giữa có lối đi rộng 1,4 mét. Xung quanh Quảng trường là hè rộng 7 mét và 4 mét lát bằng tấm bêtông cốt thép sỏi nổi trang trí. Tổng diện tích lát hè 7.800m2. Dưới mặt đất là hệ thống tiêu thoát nước. Nước được thu dần về hai trạm bơm đặt ngầm dưới mặt đất.

Đường Hùng Vương, đi qua trước Lăng làm bằng bêtông cốt thép, dài 1.060 mét, riêng đoạn trước Lăng rộng 60 mét. Đường Bắc Sơn dài 280 mét, rộng 60 mét, chia làm hai làn, ở giữa là dải phân cách rộng 12 mét làm vườn hoa. Đường Ba Đình dài 400 mét, rộng 18 mét. Ngoài ra còn có đường xung quanh Lăng gồm các đoạn ra vào vườn hoa hai bên và phía sau Lăng…

Để Quảng trường được khô ráo nhưng vẫn bảo đảm cho hàng trăm thứ cây cảnh có thể sống tốt tươi, một hệ thống ống cống bằng bê tông cốt thép đã được đặt ngầm dưới các hè dọc đường với tổng chiều dài 4.200 mét. Dưới các ô vuông cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm. Hệ thống cấp nước được bố trí trên các khu vực Quảng trường sau Lăng và đường Bắc Sơn.

Quảng trường sử dụng các đèn thủy ngân cao áp đặt trên các cột cao.

Quảng trường còn có một hệ thống thông tin, truyền thanh, truyền hình. Các công trình này sẽ đảm bảo thông tin liên lạc, truyền thanh, thu thanh và thu phát hình tại chỗ.

Công trình cây xanh, cây cảnh và vườn hoa làm tôn vẻ đẹp và tạo ra không khí trong lành cho toàn bộ khu vực Lăng và Quảng trường Ba Đình. Với tấm lòng kính yêu Bác vô hạn, các địa phương trên mọi miền đất nước đã gửi về Thủ đô những cây xanh, những loại hoa tiêu biểu cho vùng đất của mình./.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

ХО ШИ МИН

В поиске путей освобождения своего народа и страны, президент Хо Ши Мин побывал во многих странах мира, и в каждой из них он оставил о себе теплые чувства и пользовался уважением народов этих стран.

Образ дяди Хо стал особым символом, знакомым и ярким образом в памяти вьетнамского народа и друзей на пяти континентах.

Поэт То Хыу писал: “Хо Ши Мин присутствует повсюду… / Великие морские волны приветствуют шепотом” …

В начале июня 1999 года журнал International Who’s Who провел голосование о 100 самых влиятельных фигурах XX века. Рейтинг получил название “Список Mellenium”.

Президент Хо Ши Мин был выбран в качестве одного из трех самых выдающихся людей среди очень немногих восточных знаменитостей, вошедших в этот список.

Президент Хо Ши Мин – любимый вождь рабочего класса и вьетнамского народа; коммунист, который получил высокую оценку всего мира.

А недавно, по случаю дня рождения Хо Ши Мина в 2020 году, в статье, опубликованной венесуэльской газетой Ciudad Caracas, были рассмотрены основные этапы жизненного пути вьетнамского лидера, подчеркнута его руководящая роль в исторической августовской революции 1945 года, которая привела к основанию Демократической Республики Вьетнам, которая теперь является Социалистической Республикой Вьетнам, что ознаменовало начло эпохи свободы и независимости для страны.

В статье также говорилось о революционной морали Хо Ши Мина, который стал достойным примером для подражания благодаря своей скромности и преданности нации. Его мысли стали идеологической основой для Коммунистической партии Вьетнама и локомотивом революции в стране.

Согласно газете, национально-освободительное движение во главе с президентом Хо Ши Мином принесло достойный авторитет вьетнамской культуре, поскольку он всегда осознавал важное значение культуры, которая отражает природу нации и человечества. Учитывая это, он был увековечен ЮНЕСКО как Вьетнамский герой национального освобождения и выдаюшийся деятель культуры в 1987 году. В статье говорится, что президент Хо Ши Мин всегда прилагал усилия для укрепления солидарности в поисках решений для освобождения всего человечества, описывая его жизнь как благородный символ революционного духа, независимости, патриотизма, любви к людям и справедливости.

По случаю 130-летия со дня рождения президента Хо Ши Мина, VietnamPlus процитировала несколько восторженных отзывов международных друзей из тысяч записей о президенте Хо Ши Мине, оставленных ими в книгах почетных гостей:

– Товарищ Гейдар Алиев, член Политбюро Советского Союза, в “Книге впечатлений” в доме-музее президента Хо Ши Мина в Президентском дворце, Ханой, 29 октября 1983 года.):

Государственный совет Китайской Народной Республики, 5 сентября 1969 г. (Информационный бюллетень ВИА от 12 сентября 1969 г.:

Принц, президент Лаоса Суфанувонг в Сэм Неуа (Лаос), 5 сентября 1969 г. (Информационный бюллетень ВИА от 6 сентября 1969 г.:

Хамсук Каеола, от имени Союзного комитета лаосских патриотических нейтральных сил, Сэм Неуа, 6 сентября 1969 года, (Информационный бюллетень ВИА от 12 сентября 1969 г.)

На фото: президент Хо Ши Мин принимает товарища Кайсона Фомвихана, глава делегации Комитета партии и Патриотического Фронта Лаоса во время его дружественного визита во Вьетнам (1966 г.). Фото: из архива ВИА

Глава государства Камбоджи Нородом Сианук, Пномпень, 4 сентября 1969 года (Информационный бюллетень ВИА от 6 сентября 1969 года)

На фото: президент Хо Ши Мин принимает принца Нородома Фуриссару, министра иностранных дел Королевства Камбоджа во время его визита во Вьетнам (10 января 1968 года). (Источник: из архива ВИА)

Майор Фидель Кастро, первый секретарь ЦК Коммунистической партии Кубы, премьер-министр Революционного правительства Республики Куба, Гавана, 4 сентября 1969 г. (Информационный бюллетень ВИА от 6 сентября 1969 г.)

На фото: Президент Хо Ши Мин принимает президента Кубы Освальдо Дортикоса в своем доме на сваях в Президентском дворце 29 октября 1966 года. (Источник: из архива ВИА)

Кубинская газета “Гранма”, специальный выпуск за воскресенье, 14 сентября 1969 года

Французская газета Le Figaro – из академического обзора № 1/1970

HỒ CHÍ MINH

Lúc sinh thời, trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bôn ba qua rất nhiều nước trên thế giới. Ở những quốc gia Bác đã đi qua và ngay cả nơi Bác chưa kịp đến, người dân ở đó đều dành tình cảm quý mến và kính trọng đặc biệt đối với Bác.

Hình ảnh của Bác đã trở thành một biểu tượng đặc biệt, thân thuộc, sống động trong ký ức của nhân dân Việt Nam và của bạn bè trên khắp năm châu.

Phải chăng đó là nguồn cảm hứng để nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh, Người ở khắp nơi nơi…/ Hồn biển lớn đón muôn lời thủ thỉ”…

Đầu tháng 6/1999, Tạp chí Quốc tế Danh nhân thế giới (International Who’s Who) đã bình chọn danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ thứ XX. Danh sách được gọi là “Thiên niên kỷ” (The Mellenium list).

Chủ tịch Hồ Chí Minh được chọn là một trong ba người nổi bật nhất trong số rất ít danh nhân phương Đông được nhất trí chọn đưa vào danh sách này.

Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người Cộng sản đã được cả thế giới ca ngợi.

Nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, VietnamPlus xin được trích một số trong hàng ngàn lời ngợi ca Chủ tịch Hồ Chí Minh của bạn bè thế giới:

– Đồng chí Geydar Aliye, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô (cũ), trong Sổ ghi Cảm tưởng của Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội, ngày 29/10/1983):

– Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ngày 5/9/1969 (Bản tin Việt Nam Thông tấn xã 12/9/1969):

– Hoàng thân Chủ tịch Souphanouvong, Sầm Nưa, 5/9/1969 (Bản tin Việt Nam Thông tấn xã 6/9/1969):

– Khamsuk Kaeola, Thay mặt Ủy ban Liên minh lực lượng trung lập yêu nước Lào, Sầm Nưa, ngày 6/9/1969 (Bản tin Việt Nam Thông tấn xã 12/9/1969)

Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và nói chuyện thân mật với đồng chí Kaysone Phomvihane, Trưởng đoàn đại biểu Đảng và Mặt trận Lào yêu nước sang thăm hữu nghị Việt Nam (1966). Ảnh: Tư liệu TTXVN

– Quốc trưởng Norodom Sihanouk, Phnom Penh ngày 4/9/1969 (Bản tin Việt Nam Thông tấn xã ngày 6/9/1969):

Trong ánh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Hoàng thân Norodom Phurissara, Bộ trưởng Ngoại giao Vương quốc Campuchia sang thăm Việt Nam (10/1/1968). (Nguồn: Tư liệu TTXVN)

– Thiếu tá Fidel Castro, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng nước Cộng hòa Cuba, La Habana, ngày 4/9/1969, (Bản tin Việt Nam Thông tấn xã 6/9/1969):

Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Chủ tịch Cuba Osvaldo Dorticos tại nhà sàn trong Phủ Chủ tịch, ngày 29/10/1966. (Nguồn: Tư liệu/TTXVN)

Báo Granma của Cuba, Xã luận số đặc biệt ra ngày Chủ Nhật 14/9/1969:

– Báo Le Figaro của Pháp – Dẫn từ Tạp chí Học tập số 1/1970:

‘Những nạn nhân không triệu chứng’ của COVID-19

Chính phủ Ấn Độ đã quyết định tiếp tục kéo dài lệnh phong tỏa toàn quốc thêm 2 tuần sau ngày 4/5, trong bối cảnh số bệnh nhân mắc COVID-19 tại quốc gia đông dân thứ hai thế giới tới thời điểm này đã tăng lên hơn 42.000 ca, trong đó gần 1.400 người tử vong.

Đây là lần thứ hai Ấn Độ gia hạn lệnh phong tỏa, bởi giải pháp này được coi là hết sức cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của virus SARS-CoV-2 tại một quốc gia có tới hơn 1,3 tỷ dân, với mật độ dân cư tập trung đông đúc, hệ thống cơ sở hạ tầng vệ sinh nghèo nàn, tỷ lệ người dân từ nông thôn lên thành phố mưu sinh cao.

Tuy nhiên, đối với Sunil Das, một lao động di cư sống trong khu nhà ổ chuột ở Dharavi không xa trung tâm tài chính Mumbai, cảm giác tuyệt vọng lại đè nặng. Kể từ khi Chính phủ Ấn Độ ban hành lệnh phong tỏa toàn quốc từ ngày 25/3, suốt nhiều tuần, Das cùng hơn 10 người khác sống cùng phòng, chật vật ‘tồn tại’ chỉ với gạo và muối. Hoàn cảnh của Das và những người quanh anh có lẽ không phải là số ít.

Người nghèo, người thất nghiệp, vô gia cư – nhóm người được gọi chung là “những nạn nhân không triệu chứng của COVID-19” – sẽ là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất.

Theo số liệu của Liên hợp quốc, hơn 270 triệu người dân Ấn Độ thuộc diện nghèo. Trong số 500 triệu lao động phi nông nghiệp, hơn 90% làm các công việc chân tay như thợ xây dựng, bán hàng rong, chạy xe kéo…, trong đó khoảng 120 triệu người là lao động nhập cư tại các thành phố như Das.

Nhìn từ một vài góc độ nào đó, các quy định về giãn cách xã hội hay các biện pháp cách ly có thể là khoảng lặng để nhiều người nghỉ ngơi và dành thêm thời gian cho bản thân hay gia đình. Song ở nhiều góc khuất của xã hội, những con người bình thường vốn đã phải chật vật vì cơm áo gạo tiền, nay lại càng khốn cùng hơn khi các hoạt động sản xuất và kinh tế dường như đều đóng băng, cắt đứt nguồn sống của họ.

(Nguồn: economictimes.indiatimes.com)
(Nguồn: economictimes.indiatimes.com)

Dịch bệnh đang làm cho hố sâu ngăn cách xã hội và tình trạng bất bình đẳng ngày càng rộng thêm. Tương tự như tất cả các cuộc khủng hoảng quy mô khác, đại dịch COVID-19 sẽ có những hiệu ứng domino. Bên cạnh những tác động rõ ràng đến sức khỏe và tài chính, hệ quả mà nó kéo theo sẽ lan rộng đến vấn đề an ninh lương thực và đói nghèo.

Rõ ràng, trong trận tuyến đương đầu với kẻ thù vô hình này, người nghèo, người thất nghiệp, vô gia cư – nhóm người được gọi chung là “những nạn nhân không triệu chứng của COVID-19” – sẽ là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất.

Những con số đáng báo động

Theo nhận định của các chuyên gia thuộc Sáng kiến phát triển con người và đói nghèo Oxford (OPHI), dịch COVID-19 sẽ có những ảnh hưởng trên quy mô đặc biệt nghiêm trọng đối với các khu vực đang phát triển. Nếu dịch bệnh lây lan mạnh hơn, dự kiến khoảng 22% người dân tại vùng Hạ Sahara châu Phi và hơn 5% cư dân châu Á rơi vào tình trạng thiếu dinh dưỡng, thiếu nước sạch và nhiên liệu, trong khi con số này tại châu Âu và Trung Á là vào khoảng 0,3%.

Dịch bệnh đang làm cho hố sâu ngăn cách xã hội và tình trạng bất bình đẳng ngày càng rộng thêm.

Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo dịch COVID-19 nhiều khả năng sẽ khiến lần đầu tiên từ năm 1998 – thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á – tình trạng đói nghèo trở nên tồi tệ hơn. Theo các dự đoán mới, số người nghèo – với mức sống ít hơn 1,9 USD/ngày – sẽ tăng từ 8,2% năm ngoái lên 8,6% trong năm nay, tương đương 665 triệu người. Đáng chú ý, theo tính toán, dịch bệnh sẽ đẩy ít nhất 49 triệu người rơi vào tình trạng nghèo đói cùng cực.

(Nguồn: AP)
(Nguồn: AP)

Tác động từ dịch COVID-19 được đánh giá sẽ tạo ra thách thức đáng kể cản trở thế giới thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc nhằm chấm dứt tình trạng đói nghèo vào năm 2030. Tổ chức phi chính phủ Oxfam ước tính cuộc khủng hoảng kinh tế do dịch COVID-19 gây ra có thể khiến khoảng 500 triệu người (tức khoảng 10% dân số thế giới) lâm vào nghèo đói, nếu không có các biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn.

COVID-19 nhiều khả năng sẽ khiến lần đầu tiên từ năm 1998 – thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á – tình trạng đói nghèo trở nên tồi tệ hơn.

Tương tự, các chuyên gia Trường King’s London và Đại học Quốc gia Australia (ANU), trong một nghiên cứu, ước tính số người nghèo trên thế giới sẽ tăng thêm 400-600 triệu người. Như nhận định của chuyên gia Christopher Hoy, một trong những người tham gia nghiên cứu: “Khủng hoảng kinh tế sẽ còn tồi tệ hơn khủng hoảng y tế.”

Trong khi đó, Chương trình Lương thực thế giới (WFP) của Liên hợp quốc dự báo số người đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng có thể tăng gần gấp đôi trong năm nay, lên tới 265 triệu người vì tác động của đại dịch COVID-19.

Cuộc chiến không của riêng ai

Theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các biện pháp phong tỏa một phần hoặc toàn diện mà các nước trên thế giới áp dụng đã ảnh hưởng tới khoảng 2,7 tỷ người lao động, tương đương 81% lực lượng lao động toàn cầu. Khoảng 38% lực lượng lao động toàn cầu làm việc trong các lĩnh vực hiện đang chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng về sản lượng, đi kèm với nguy cơ cao phải sa thải lao động, giảm lương và giờ làm.

Một nữ nhân viên nhà hàng với con trai đi trên đường với tiền lương của cô, ở Brooklyn, New York, ngày 19/3/2020. Công ty sở hữu nhà hàng của cô, đã đóng cửa bốn địa điểm do COVID-19 và sa thải 650 trong số 850 nhân viên. (Nguồn: AP)
Một nữ nhân viên nhà hàng với con trai đi trên đường với tiền lương của cô, ở Brooklyn, New York, ngày 19/3/2020. Công ty sở hữu nhà hàng của cô, đã đóng cửa bốn địa điểm do COVID-19 và sa thải 650 trong số 850 nhân viên. (Nguồn: AP)

Các biện pháp phong tỏa nhằm đảm bảo giãn cách xã hội thật sự là thách thức đối với nhiều nước đang phát triển, nhất là những quốc gia có các thành phố đông dân cư với những khu nhà của người lao động thu nhập thấp.

Người cao tuổi được cho là đối tượng tấn công chính của virus SARS-CoV-2, song có một sự thật nghiệt ngã là những người nghèo mới là nạn nhân của dịch bệnh này. Đơn cử ở Mỹ, thống kê của truyền thông cho thấy phần lớn nạn nhân của COVID-19 tại quốc gia này là người Mỹ gốc Phi, điều mà giới chức và bản thân Tổng thống Donald Trump cũng phải thừa nhận.

Tại thành phố Chicago, tỷ lệ người da màu thiệt mạng vì virus SARS-CoV-2 cao gấp 6 lần so với người da trắng. Bang Louisiana ghi nhận 70% bệnh nhân tử vong thuộc cộng đồng người Mỹ gốc Phi, vốn chỉ chiếm có 32% dân số của bang. Tình trạng này diễn ra tương tự tại các bang Michigan, New Jersey hay Bắc Carolina.

Ở Mỹ, thống kê của truyền thông cho thấy phần lớn nạn nhân của COVID-19 tại quốc gia này là người Mỹ gốc Phi.

Rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng ấy. Những người thu nhập thấp thường khó có cơ hội tiếp cận các biện pháp phòng ngừa và hướng dẫn về y tế, trong khi mức sống thấp dễ dẫn đến nguy cơ có bệnh lý nền, khiến họ trở nên mong manh hơn trước dịch bệnh. Dịch bệnh không phân biệt giàu nghèo, nhưng cơ hội được tiếp cận các dịch vụ y tế khi bị nhiễm bệnh thì có. Không phải quốc gia nào cũng đảm bảo chữa trị miễn phí cho người dân khi họ nhiễm virus SARS-CoV-2.

Người dân sinh sống trong các không gian chật hẹp, đông đúc và việc đảm bảo vệ sinh hay giữ khoảng cách là thứ gì đó xa xỉ khi điều kiện không cho phép. Khoảng 160 triệu người Ấn Độ không được sử dụng nước sạch, 74 triệu người, tương đương 1/6 dân số, sống trong các khu ổ chuột lèn chặt người, nơi hệ số lây nhiễm COVID-19 ước tính cao hơn 20% so với thế giới.

Xét ở quy mô lớn hơn, ngay cả các nước giàu có cũng đang chật vật với việc kiểm soát dịch COVID-19 và rơi vào tình trạng thiếu hụt các trang thiết bị, vật tư y tế cùng các bộ xét nghiệm hay thậm chí là giường bệnh. Các nước đang phát triển chắc chắn sẽ đối mặt với những thách thức lớn hơn nếu phải đối diện với những đợt bùng phát mạnh như ở châu Âu hay Mỹ hiện nay.

Dịch bệnh và nghèo đói là vòng tròn luẩn quẩn, chúng sẽ làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, gia tăng chi phí sinh hoạt, làm nảy sinh những vấn đề về an ninh xã hội nói chung, khiến những thách thức nghiêm trọng càng trở nên tồi tệ hơn.

Đi tìm giải pháp

Song song cùng cuộc chiến chống COVID-19 là yêu cầu cấp thiết của cuộc chạy đua hỗ trợ người nghèo và người yếu thế trong xã hội, những mắt xích dễ tổn thương nhất khi nền kinh tế suy thoái.

Người dân chờ xét nghiệm COVID-19 tại Mumbai, Ấn Độ, ngày 16/4/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Người dân chờ xét nghiệm COVID-19 tại Mumbai, Ấn Độ, ngày 16/4/2020. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Trước thềm các cuộc gặp quan trọng của WB, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), tổ chức phi chính phủ Oxfam đã kêu gọi các nhà lãnh đạo nhanh chóng ủng hộ chương trình “Gói giải cứu khẩn cấp cho tất cả” để giúp các nước nghèo hỗ trợ tài chính cho người bị mất thu nhập và giải cứu các doanh nghiệp nhỏ.

Hội nghị Phát triển và Thương mại Liên hợp quốc (UNCTAD), cũng kêu gọi gói viện trợ trị giá 2,5 nghìn tỷ USD để giải cứu nền kinh tế của các nước đang phát triển, bao gồm các biện pháp giãn nợ, huy động vốn và hỗ trợ hệ thống y tế.

Các chính phủ châu Âu đã bổ sung khoảng 1% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thường niên và lên phương án triển khai Quỹ Bình ổn châu Âu (ESM) để hỗ trợ nền kinh tế nói chung. Nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ đã công bố các chương trình giải cứu tài chính cho ngành công nghiệp, các doanh nghiệp và cá nhân bị ảnh hưởng bởi các biện pháp phong tỏa phòng dịch bệnh.

Cuộc chạy đua hỗ trợ người nghèo và người yếu thế trong xã hội, những mắt xích dễ tổn thương nhất khi nền kinh tế suy thoái.

Các nước châu Á cũng đang triển khai nhanh chóng nhiều biện pháp thiết thực. Chính phủ Hàn Quốc đã tung gói hỗ trợ tài chính thứ hai trị giá 7.600 tỷ won (6,2 tỷ USD) để hỗ trợ các gia đình thuộc nhóm thu nhập thấp. Nhật Bản có kế hoạch triển khai thêm gói biện pháp kinh tế khẩn cấp đối phó với dịch bệnh bằng việc viện trợ tổng số tiền 300.000 yen (2.780 USD) cho những hộ gia đình gặp khó khăn. Chính phủ Ấn Độ đã công bố gói hỗ trợ kinh tế trị giá 22,6 tỷ USD để hỗ trợ người nghèo và miễn phí các hoạt động xét nghiệm, điều trị COVID-19.

Nhiều nước Đông Nam Á khác như Malaysia, Philippines Indonesia… cũng đều thông báo các gói cứu trợ để hạn chế tác động của dịch COVID-19, chủ yếu là những biện pháp hỗ trợ trả lương cho người phải nghỉ việc, giảm giá sinh hoạt, và các gói cứu trợ người nghèo.

Người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng hưởng bảo  trợ xã hội ở Hà Nội nhận tiền hỗ trợ từ gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng.  (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng hưởng bảo trợ xã hội ở Hà Nội nhận tiền hỗ trợ từ gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Tại Việt Nam, quốc gia được quốc tế đánh giá là có tiềm lực hạn chế song lại là một trong những hình mẫu về hiệu quả phòng chống dịch COVID-19, chính phủ đã thông qua gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng cho các nhóm đối tượng gặp khó khăn vì dịch bệnh.

Khoảng 20 triệu người Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề nhất do dịch COVID-19 đã bắt đầu nhận được khoản hỗ trợ trong gói an sinh 62.000 tỷ đồng này, được ví như “phao cứu sinh” giúp người nghèo vượt qua khó khăn.

Nhiều biện pháp có thể là ở tầm vĩ mô khi nhìn vào những con số, song tất cả là để giảm thiểu bất ổn và những tác động tiêu cực của nó. Bởi tình trạng nghèo đói do dịch bệnh có thể dẫn tới bất ổn xã hội, và điều này sẽ đòi hỏi nhiều nỗ lực chung hơn nữa trong tương lai để đối phó nếu không có các biện pháp ứng phó ngay từ bây giờ./.

(Nguồn: AP)
(Nguồn: AP)

Chiến thắng Điện Biên Phủ

Không phải ngẫu nhiên mà danh từ “Điện Biên Phủ” lại có tên trong từ điển bách khoa quân sự thế giới. Hơn 6 thập kỷ trước, với sức mạnh trí tuệ và bản lĩnh anh hùng, quân và dân ta đã “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều,” giành toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ba tiếng Điện Biên Phủ đã trở thành niềm tự hào và biểu tượng của sức mạnh Việt Nam.

“Chín năm làm một Điện Biên”

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử để Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp.


Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử và niềm tự hào và biểu tượng sức mạnh của Việt Nam.

Trong số đó, chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông (năm 1947) là đòn quyết định làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng và đầu não kháng chiến; Chiến thắng Biên giới (năm 1950) đã tạo ra một bước chuyển cơ bản cho cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới, chuyển hẳn sang liên tục tấn công và phản công địch.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên phủ với quyết tâm tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm này. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên phủ với quyết tâm tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm này. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng, quân viễn chinh Pháp càng ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố.

Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu-Đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương.

Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam.”

Trước âm mưu của địch, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở và nơi tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng.

17h30 phút ngày 13/3/1954, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
17h30 phút ngày 13/3/1954, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng tấn công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, ngày 20/11/1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ với dự định xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc.

Đối với địch, đây có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam châu Á. Do đó, chúng liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.

Cụ thể, chúng đã cho tập trung ở đây 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới.

Bộ đội ta vượt qua cầu Mường Thanh, tấn công vào Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chiều 7/5/1954. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Bộ đội ta vượt qua cầu Mường Thanh, tấn công vào Sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chiều 7/5/1954. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Theo đó, Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava. Và thực dân Pháp tin chắc lòng chảo này sẽ “nghiền nát” quân đội Việt Nam.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, công việc chuẩn bị cho chiến dịch được ráo riết tiến hành từ cuối năm 1953.

Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy và Chỉ huy trưởng mặt trận.

Chính phủ quyết định tổ chức Hội đồng cung cấp Mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch và Hội đồng cung cấp Mặt trận các cấp.

Cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng.”

Các đơn vị xung kích của ta tấn công sân bay Mường Thanh và làm chủ sân bay từ chiều 22/4, cắt đứt đường tiếp tế cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Các đơn vị xung kích của ta tấn công sân bay Mường Thanh và làm chủ sân bay từ chiều 22/4, cắt đứt đường tiếp tế cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000 quân. Các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch.

Trên 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn, hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch…

Đến đầu tháng 3/1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đã hoàn thành.

“Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”

17 giờ ngày 13/3/1954, quân ta tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử bắt đầu.

Ngay phút đầu, trong trận tấn công cụm cứ điểm Him Lam, pháo binh ta đã lập công, bắt chết tên quan tư Paul Pégot – chỉ huy Him Lam và tên quan năm Gôxê – chỉ huy phân khu trung tâm.

Lực lượng pháo binh với sự có mặt của lựu pháo 105mm bố trí xung quanh lòng chảo Điện Biên của ta đã tạo thành “quả đấm thép” chi viện hỏa lực kịp thời, chính xác, áp chế địch, tạo cơ hội để bộ binh ta đánh các trận then chốt, quyết định, bóc dần Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tuy còn non trẻ, nhưng pháo binh đã góp phần vô cùng quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng pháo binh Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Lực lượng pháo binh với sự có mặt của lựu pháo 105mm bố trí xung quanh lòng chảo Điện Biên của ta đã tạo thành “quả đấm thép” chi viện hỏa lực kịp thời, chính xác, áp chế địch, tạo cơ hội để bộ binh ta đánh các trận then chốt, quyết định, bóc dần Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tuy còn non trẻ, nhưng pháo binh đã góp phần vô cùng quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của lực lượng pháo binh Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Sau 2 giờ chiến đấu, ta tiêu diệt 2 cứ điểm. Tại cứ điểm thứ 3 phía Tây Bắc Him Lam, từ một lô cốt ngầm, địch bắn ra ác liệt. Một chiến sỹ mình đầy thương tích của ta đã trườn lên, dồn hết sức lao vào lấp lỗ châu mai, dập tắt hỏa điểm địch. Đó chính là anh hùng Phan Đình Giót.

Trận đầu phải thắng, đó là truyền thống của quân đội ta. Trong ngày mở màn chiến dịch, ta tiêu diệt Him Lam, diệt 300 tên địch, bắt sống 200 tù binh.

Liên tiếp các ngày từ 14 đến 17/3, ta tiêu diệt nhanh gọn 2 cụm cứ điểm kiên cố vào bậc nhất của địch, đồng thời làm tan rã một tiểu đoàn địch. Quân Pháp ở vị trí Bản Kéo sợ hãi kéo cờ trắng ra hàng. Cánh cửa phía Bắc vào Trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị phá toang.

Với khí thế phấn khởi đánh thắng trận đầu, quân ta tấn công đợt 2 vào 5 cao điểm phía Đông then chốt phòng ngự của địch. Để tăng cường cho Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã tập trung hầu hết máy bay chiến đấu, máy bay vận tải ở Đông Dương cho mặt trận.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao lá cờ “Quyết chiến-Quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị lập công. Điện Biên Phủ là một trong những trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao lá cờ “Quyết chiến-Quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị lập công. Điện Biên Phủ là một trong những trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đế quốc Mỹ tăng viện gấp cho Pháp hàng trăm máy bay chiến đấu và vận tải; lập cầu hàng không chở dù từ Nhật và Mỹ sang mật trận Điện Biên Phủ. Đế quốc Mỹ còn đưa 2 tàu sân bay vào vịnh Bắc Bộ diễn tập “đổ bộ ào ạt vào Đông Dương.”

Về phía ta, qua hai đợt chiến đấu, lực lượng không ngừng được củng cố. Từ ngày 30/3 đến 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho các cứ điểm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng huy hiệu cho các chiến sỹ lập nhiều chiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng huy hiệu cho các chiến sỹ lập nhiều chiến công trong chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Đây là đợt tấn công dài ngày nhất, quyết liệt nhất, ta và địch giành nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt, tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Từ ngày 1/5/1954, ta mở đợt tiến công thứ ba. Quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đêm ngày 6/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm kiên cố của địch. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải đầu hàng.

Tướng De Castries (đi đầu) cùng toàn bộ Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng, chiều 7/5/1954. (Ảnh: Triệu Đại/TTXVN)
Tướng De Castries (đi đầu) cùng toàn bộ Bộ tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng, chiều 7/5/1954. (Ảnh: Triệu Đại/TTXVN)

17 giờ 30 ngày 7/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng!

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ôtô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là biểu hiện rực rỡ sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta. Mới gần 10 tuổi, quân đội ta đã ghi trên Quân kỳ hàng nghìn chiến công, mà đỉnh cao và đời đời bất diệt là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Tù binh Pháp ở Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 quân địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự, bắn rơi nhiều máy bay; xóa sổ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương của quân đội Pháp. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Tù binh Pháp ở Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 quân địch, thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự, bắn rơi nhiều máy bay; xóa sổ hoàn toàn tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương của quân đội Pháp. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đây là một trận quyết chiến chiến lược, một trận tiêu diệt điển hình nhất, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương; tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử; là chiến thắng của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội; của đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, biết đánh và biết thắng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Thời gian đã lùi xa, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam; là sức mạnh tinh thần, nguồn cổ vũ, động viên to lớn, đồng thời để lại nhiều bài học quý giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau./.

 Trận pháo kích vào cứ điểm Him Lam, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
 Trận pháo kích vào cứ điểm Him Lam, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Diễn biến chính của chiến dịch Điện Biên Phủ

Ngày 20/11/1953, Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, manh nha ý định xây dựng căn cứ quân sự ở đây và ngăn chặn quân chủ lực Việt Nam chiếm đóng Tây Bắc.

Ngày 03/12/1953, Navarre chính thức quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau khi nghiên cứu, xem xét và cân nhắc những điều kiện thuận lợi tại thung lũng lòng chảo phía Tây Bắc Việt Nam.

Quyết định này đưa tới sự ra đời của tập đoàn cứ điểm “chưa từng thấy” ở Đông Dương với 49 cứ điểm mạnh mẽ, được đầu tư viện trợ tối đa và binh lực và hỏa lực và sự dẫn dắt, chỉ huy của Đại tá De Castries.

Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông- Xuân 1953-1954 của ta với Thực dân Pháp, đồng thời cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư kiêm Tổng tư lệnh mặt trận.

Ngày 26/01/1954, Tổng tư lệnh mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc.”

Ngày 31/01/1954, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ chuyển vị trí đóng quân đến khu rừng Mường Phăng trên đại điểm xã Mường Phăng, huyện Điện Biên cách Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 40km đường bộ và khoảng hơn 15km đường chim bay.

Ngày 13/3/1954, sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, ta chính thức mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại Trung tâm đề kháng Him Lam, một trong những cụm cứ điểm mạnh nhất của Pháp nằm phía Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm.

Ngày 31/3/1954, Đợt tấn công thứ hai vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhiệm vụ tập trung vào dãy cao điểm phía Đông, khu sân bay Mường Thanh, thừa cơ tiến vào khu trung tâm, nơi có Sở chỉ huy của De Castries.

Ngày 01/5/1954, Đợt tấn công cuối cùng nhằm kết thúc số phận của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tiến hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tiêu diệt nốt A1 và C2, thừa cơ tiến hành tổng công kích. 06/5/1954, vào lúc 20 giờ 30 phút, khối bộc phá 960kg nổ trên Đồi A1 báo hiệu ngày tàn của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày 07/5/1954, sau khi mở được chiếc chìa khóa cuối cùng A1, quân ta từ các hướng tiến thẳng vào hầm chỉ huy của De Castries. Không có sự kháng cự, De Castries cùng Bộ chỉ huy quân Pháp và sau đó là toàn bộ quân đồn trú từ các hầm trú ẩn và các cứ điểm ra hàng.

Ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneva được ký kết, Pháp và các nước tham gia công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân khỏi Đông Dương./.

Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Báo chí

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ Cách mạng vĩ đại của dân tộc ta, đồng thời là nhà báo lớn khai sinh nền Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Năm 1921, tại Pháp, Người đã sáng lập ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa, kiêm cả viết, chủ nhiệm, chủ bút, chữa bài, thủ quỹ, xuất bản và liên lạc. Người đã viết 38 bài (trung bình một số báo viết một bài).

Năm 1925, Người đã sáng lập ra tờ báo Thanh niên (ra số 1 ngày 21/6/1925) và chỉ đạo suốt 88 số báo.

Năm 1941, Người sáng lập tờ Việt Nam độc lập, gọi tắt là Việt Lập và trực tiếp chỉ đạo 36 số đầu (số 1 ra ngày 1/8/1941 và số 36 ra ngày 11/2/1942). Đây là tờ báo cách mạng đầu tiên ra đời trong nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết báo trên 50 năm với khoảng trên dưới 2.000 bài, trong đó có 1.524 bài báo được viết với 53 bút danh khác nhau  

Kể từ bài báo đầu tiên, đúng với ý nghĩa một bài báo, là bài “Vấn đề người bản xứ” đăng trên l’Humanité ngày 2/8/1919 (có quan niệm cho rằng bài báo đầu tiên của Bác là bài “Yêu sách của nhân dân An Nam” mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc ký tên đề gửi các đại biểu các nước dự Hội nghị Versailles năm 1919, đồng thời được đăng lên 2 tờ báo xuất bản ở Paris là l’Humanité và le Populaire de Paris cùng ngày 18/6/1919) cho đến bài cuối cùng trước khi Người qua đời là “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng” ký T.L đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/6/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết báo trên 50 năm với khoảng trên dưới 2.000 bài, trong đó có 1.524 bài báo được viết với 53 bút danh khác nhau (không kể bút danh trên sách).

Bác Hồ dành sự quan tâm đặc biệt đối với báo Nhân Dân. Kể từ bài đầu tiên “Phong trào mua công trái” đăng trên số 1, ngày 11/3/1951, đến bài cuối cùng, Người đã viết 1.205 bài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin để soi sáng những vấn đề của cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực chính trị-kinh tế-xã hội, trong đó có hoạt động báo chí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người sáng lập Đảng, Nhà nước, vừa là người khai sinh nền báo chí cách mạng của đất nước, đồng thời là một nhà báo vĩ đại. Cùng với các tác phẩm báo chí xuất sắc, Bác Hồ còn để lại cho chúng ta di sản đặc biệt - tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, phong cách làm báo cách mạng và nghệ thuật làm báo cách mạng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người sáng lập Đảng, Nhà nước, vừa là người khai sinh nền báo chí cách mạng của đất nước, đồng thời là một nhà báo vĩ đại. Cùng với các tác phẩm báo chí xuất sắc, Bác Hồ còn để lại cho chúng ta di sản đặc biệt – tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, phong cách làm báo cách mạng và nghệ thuật làm báo cách mạng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Bằng thiên tài của mình, từ đỉnh cao của trí tuệ loài người là chủ nghĩa Marx-Lenin và từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam, Người am hiểu sâu sắc hoạt động báo chí, coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng.

Với hàng nghìn bài báo, hàng chục bút danh đề cập toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng, của đời sống xã hội, Người đã để lại một di sản báo chí quý báu. Không những thế, Người đã viết và dạy những người làm báo cách viết báo để sao cho tác phẩm báo chí đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng, Người viết: “Muốn viết báo thì cần: 1 – Gần gụi quần chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực; 2- Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người; 3- Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cẩn thận. Tốt hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào họ không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; 4 – Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ. Các bạn nên thi đua nhau, thi đua một cách thiết thực để cùng nhau tiến bộ.”

Người có nhiều bài nói về công việc viết báo, chia sẻ kinh nghiệm viết báo với đồng nghiệp hoặc cán bộ cấp dưới. Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ ba của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8/9/1962, Bác nói: “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm.”

Báo chí là một hình thức đặc biệt của giao tiếp ngôn ngữ. Với riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người xác định:

1-Viết cái gì? Viết những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của bạn bè ta. Đồng thời để phê bình khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, nhân dân, bộ đội.

2-Viết cho ai? Viết cho công-nông-binh, viết cho mọi tầng lớp người Việt Nam, không phân biệt già trẻ, nam nữ, tôn giáo, đảng phái.

3-Viết để làm gì? Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng.

4-Viết thế nào? Viết phải gọn gàng, sáng sủa, mạch lạc, có đầu có đuôi, có nội dung.” (Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Nxb Văn học. H.1981).

Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò nữ phóng viên Tuệ Oanh của Việt Nam Thông tấn xã về cách viết tin trong dịp đưa tin cuộc bầu cử Quốc hội khóa III (1964). (Ảnh: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò nữ phóng viên Tuệ Oanh của Việt Nam Thông tấn xã về cách viết tin trong dịp đưa tin cuộc bầu cử Quốc hội khóa III (1964). (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói và viết cho công-nông-binh, tức là cho đại đa số nhân dân. Vì xác định được đối tượng của báo chí nên Người luôn tâm niệm “Viết và nói phải có mục đích, có nội dung.” Chính vì thế mà Người nói và viết dù chỉ một câu cũng làm cho người dân bình thường nhất hiểu và làm theo được. Trả lời câu tự hỏi: “Nói và viết như thế nào?,” Người khẳng định: “Viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu.” Bởi vì, với đối tượng là quần chúng và mục đích là vì nhiệm vụ cách mạng, thì tính phổ thông, dễ hiểu là cách giao tiếp chủ yếu.

Nói chuyện với các nhà báo tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (8/9/1962), Bác góp ý với các nhà báo:

– Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống”, không phù hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng.- Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta.- Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng.- Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài; nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau.- Lộ bí mật.- Có khi quá lố bịch.- Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng.”

Tại Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam 16/4/1959, Người căn dặn các nhà báo rất nhiều điều, trong đó quan trọng là: “… tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.”

Đây là tư tưởng lớn xuyên suốt toàn bộ đường lối thông tin đại chúng của Đảng ta trong nhiều thập kỷ, mặc dù cách diễn đạt của từng văn kiện lúc này, lúc khác không giống nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” (trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”

Ở đây, Người muốn nhấn mạnh đến tính giai cấp, tính khuynh hướng chi phối bởi ý thức hệ của các phương tiện thông tin đại chúng. Bất cứ một phương tiện thông tin đại chúng nào khi lập một chương trình, xây dựng một chuyên đề, xuất bản một tác phẩm, thể hiện một đề tài đáp ứng nhu cầu của đối tượng nghe, nhìn… đều chịu sự chi phối của định hướng chính trị.

Ngoài định hướng chính trị tốt, Người còn dặn những người làm báo phải nâng cao chất lượng báo chí: “Chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách; còn phải trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; đi sâu vào thực tiễn, đi sâu vào quần chúng lao động” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia 1995, tập 10, tr.616); Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 5 khóa VIII nhấn mạnh: “Không ngừng nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp, chất lượng tư tưởng, văn hóa của hệ thống thông tin đại chúng. Khắc phục xu hướng thương mại hóa trong hoạt động báo chí xuất bản.”

Ngày 8/1/1946, Bác căn dặn các cán bộ tuyên truyền: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe. Ta đừng bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo và nhân viên phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960). (Ảnh: TTXVN)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo và nhân viên phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960). (Ảnh: TTXVN)

Tính chân thật luôn được xem là đạo đức của người làm báo cách mạng. Vì thế, báo chí cách mạng Việt Nam là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí đã phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của dân đối với công cuộc xây dựng đất nước.

Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống nạn tham nhũng, buôn lậu; chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội; chống lại những biểu hiện tha hóa, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Với việc làm đó, báo chí đã đem đến cho công chúng niềm tin ở sự thật, tin ở sự nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào truyền thống cách mạng và nhân văn của nhân dân ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhận định: “Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung và cách viết” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr.615). Nhận định này của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù các phương tiện thông tin đại chúng đã được phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, cả loại hình lẫn tần số xuất bản.

“Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung và cách viết” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Tư tưởng này được các Đại hội Đảng trước đây đề cập và đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII: “Xây dựng và từng bước thực hiện chiến lược truyền thông quốc gia phù hợp đặc điểm nước ta và xu thế phát triển thông tin đại chúng của thế giới. Đẩy mạnh thông tin đối ngoại. Tận dụng thành tựu của mạng Internet để giới thiệu công cuộc đổi mới và văn hóa Việt Nam với thế giới, đồng thời có biện pháp hiệu quả ngăn chặn, hạn chế tác dụng tiêu cực qua mạng internet cũng như qua các phương tiện thông tin khác.” “… cần nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí để nó làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó… Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr 613-616).

Chất lượng của báo chí ở đây Bác muốn nói đến nội dung bài viết và cả cách bố trí, trình bày. “Các báo thường có ảnh và tranh vẽ. Đó là một tiến bô nhưng ảnh thì thường lèm nhèm, vẽ thì chưa khéo lắm. Cần phải cố gắng nhiều hơn nữa” (Sđd, tr. 616). Đó vừa là câu động viên, vừa là lời nhắc nhở bởi vì những phương tiện thông tin đại chúng những năm 60 còn nhiều yếu kém. Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ mới trong lĩnh vực thông tin đại chúng: “Sắp xếp lại và quy hoạch hợp lý hệ thống truyền hình, phát thanh, thông tấn, báo chí, xuất bản, thông tin mạng nhằm tăng hiệu quả thông tin, tránh lãng phí… Chăm lo… về kỹ thuật hiện đại đối với truyền hình là loại báo chí có ưu thế lớn, có sức thu hút công chúng đông đảo.”

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo chí là vũ khí đấu tranh cách mạng. Người là người thầy của các thế hệ nhà báo. Những lời dạy của Người đối với các nhà báo luôn là những lời dạy quý báu, được truyền từ thế hệ nhà báo hôm nay đến thế hệ các nhà báo mai sau./.