Thông tấn xã Giải phóng

Lời dẫn

Trong hơn một thập kỷ kiên cường hoạt động dưới bom đạn kẻ thù (1960-1975), Thông tấn xã Giải phóng đã hoàn thành “sứ mệnh” vẻ vang, duy trì mạch thông tin thông suốt, kịp thời về cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình, thống nhất đất nước.

Lớp lớp phóng viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Giải phóng đã “tay bút, tay súng,” hòa mình vào cuộc chiến chung của dân tộc. Nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu, suối nguồn. Máu của các nhà báo-chiến sỹ thấm trong mỗi dòng tin, bài viết, bức ảnh, thước phim được gửi về từ chiến trường khốc liệt.

45 năm đã qua đi, những người trở về từ cuộc chiến vẫn không giấu được sự xúc động, những hàng lệ trực trào ra nơi khóe mắt khi nhớ về một thời đạn bom. Sau cùng, trong câu chuyện của những chứng nhân lịch sử ấy, niềm tự hào về truyền thống vẻ vang, sự tiếp bước của những thế hệ người làm báo Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) sau này vẫn vẹn nguyên, lấp lánh.

Thông tấn xã Giải phóng: Khi lịch sử yêu cầu, tất cả đều sẵn sàng

Từ chiến khu Chàng Riệc (Tây Ninh), Thông tấn xã Giải phóng ra đời, không ngừng lớn mạnh. Phóng viên Thông tấn xã Giải phóng đã có mặt, kiên cường bám trụ ở hầu hết trận địa, điểm nóng trên chiến trường miền Nam, trực tiếp tham gia chiến đấu và ghi lại những chiến công, trang sử hào hùng của dân tộc.

Những bản tin từ thiết bị cũ kỹ

Đầu năm 1960, cách mạng ở miền Nam chuyển sang một giai đoạn mới. Cơ quan Xứ ủy Nam kỳ dời về căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh), xúc tiến việc thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Để phục vụ cho việc tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam, ngày 22/4/1960, Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 18-TVA về việc tổ chức một bộ phận cán bộ chính trị và cán bộ kỹ thuật để thành lập một cơ quan thông tin chính thức ở miền Nam.

Xứ ủy đã giao nhà báo Đỗ Văn Ba (nguyên phụ trách chi nhánh Việt Nam Thông tấn xã Nam bộ trong thời kháng chiến chống Pháp) chịu tránh nhiệm triển khai, chuẩn bị nhân sự, phương tiện kỹ thuật… cho sự ra đời của Thông tấn xã Giải phóng.

Điện báo viên B8 (Thông tấn xã Giải phóng) đang thu phát tin. Ảnh: TTXVN

Điện báo viên B8 (Thông tấn xã Giải phóng) đang thu phát tin. Ảnh: TTXVN

Các tài liệu còn lưu giữ hiện nay của Thông tấn xã Việt Nam, trung tâm thông tin quốc gia tin cậy của Đảng và Nhà nước, nêu rõ nhiệm vụ của cơ quan thông tin chính thức ở miền Nam rất nặng nề.

Đây không chỉ cung cấp tin tức cho lãnh đạo Xứ ủy mà phải liên hệ với các địa phương, tổng hợp tình hình, biên soạn tin tức và phát ra Hà Nội để cung cấp kịp thời cho Trung ương Đảng, các cơ quan Nhà nước và toàn thể nhân dân miền Bắc về diễn biến thực tế cuộc đấu tranh của quân dân miền Nam.

Trước yêu cầu mới, lực lượng cán bộ được tăng cường từ đất thép Củ Chi, Long An, Đồng Tháp…

Sau một thời gian khẩn trương tập hợp, bổ sung lực lượng, chuẩn bị máy móc, thiết bị, đúng 19 giờ ngày12/10/1960, với chiếc máy phát 15W và máy ragono cũ (do Trung ương chi viện từ năm 1954), từ chiến khu Dương Minh Châu, bản tin đầu tiên của Thông tấn xã Giải phóng được phát đi. Bản tin này cũng là thông báo ra mắt của Thông tấn xã Giải phóng.

Bản tin tiếng Việt có tiêu đề “Giải phóng xã,” phía dưới ghi dòng chữ “Cơ quan thông tấn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam,” thông báo với nhân dân trong nước và thế giới về phong trào Đồng khởi của đồng bào miền Nam, cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù.

Trong thời gian đầu thành lập, Thông tấn xã Giải phóng là một bộ phận của Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ (từ năm 1961 là Trung ương Cục miền Nam).

Từ đó, bản tin của Thông tấn xã Giải phóng được phát ra Hà Nội đều đặn vào 18 giờ hàng ngày. Đây là nguồn thông tin không thể thiếu của nhiều cơ quan thông tin ở Việt Nam và ở nước ngoài (phần lớn thông qua Việt Nam Thông tấn xã) lúc bấy giờ, cũng như đối với những người quan tâm tình hình miền Nam trước ngày thống nhất đất nước.

Kiên cường bảo vệ căn cứ

Trong suốt chặng đường 15 năm hoạt động, hàng trăm phóng viên, biên tập viên, điện báo viên, kỹ thuật viên… của Thông tấn xã Giải phóng vừa phải chiến đấu bảo vệ căn cứ vừa phải bảo đảm cung cấp thông tin chuẩn xác, liên tục cho Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và chuyển tin ra miền Bắc.

Dù thời gian đã lùi xa hơn bốn thập kỷ, nhưng ký ức về những tháng ngày làm báo trong lửa đạn vẫn vẹn nguyên trong tâm trí nhà báo Vũ Tiến Cường, nguyên phóng viên Thông tấn xã Giải phóng. Hồi ức về những ngày tham gia “bẻ gãy” chiến dịch Junction City như thước phim quay chậm mở ra trước mắt ông.

Phóng viên Đinh Quang Thành của Việt Nam Thông tấn xã gặp gỡ, thu thập thông tin từ người dân Sài Gòn trong ngày giải phóng 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Phóng viên Đinh Quang Thành của Việt Nam Thông tấn xã gặp gỡ, thu thập thông tin từ người dân Sài Gòn trong ngày giải phóng 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Nhà báo Vũ Tiến Cường kể, trong thời gian từ ngày 2/2-15/3/1967, quân Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa mở chiến dịch càn quét quy mô lớn ở miền Nam mang tên Junction City, nhắm vào các căn cứ của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Chiến khu C.

Địch huy động khoảng 4,5 vạn quân với sự yểm trợ của nhiều xe tăng, “pháo đài bay” B52 cùng các loại máy bay khác và nhiều loại pháo, trang thiết bị tối tân, hiện đại khi đó nhằm các cơ quan đầu não của Trung ương Cục miền Nam. Đặc biệt, địch tập trung đánh vào căn cứ của Trung ương Cục miền Nam nằm ở hai bên Quốclộ 22, Bắc Tây Ninh.

“Trước diễn biến nhanh chóng của thực tế, nhà báo Võ Nhân Lý (Vũ Linh), Giám đốc cơ quan Thông tấn xã Giải phóng đã hạ lệnh di chuyển. Từ khu vực Cây Dầu Trời Đánh, vượt ‘Trảng Cố vấn,’ cơ quan Thông tấn xã Giải phóng đến bám trụ ven Trảng Tranh, canh Phum Cháy. Đây là địa điểm thứ năm mà cơ quan dời đến thiết lập căn cứ,” nhà báo Vũ Tiến Cường nhớ lại.

Trong tiếng ầm vang của bom, mìn vọng lại, tập thể phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên của Thông tấn xã Giải phóng khẩn trương dựng xây lán trại mới, thiết kế hầm hào, công sự. “Thủ trưởng đa năng. Đó là cách mà chúng tôi vẫn gọi người thủ lĩnh của mình. Ông vừa chỉ đạo tác nghiệp vừa trực tiếp chỉ huy chiến đấu, giữ vững căn cứ,” cựu phóng viên Thông tấn xã Giải phóng hồi tưởng.

Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Tổ phóng viên mũi nhọn của Việt Nam Thông tấn xã đưa tin, ảnh về Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Lặng đi chừng vài phút, ông chia sẻ: “Có lẽ đây là một trong những chiến dịch ác liệt nhất mà chúng tôi trải qua. Anh Ngọc Đặng, người sau này được truy tặng danh hiệu ‘Dũng sỹ xe cơ giới’ đã anh dũng hy sinh sau khi bắn cháy hai xe bọc thép của Mỹ.”

Ngoài ra, Thông tấn xã Giải phóng đã cử một tổ phóng viên cùng tổ điện báo đi theo các mũi tiến công của quân giải phóng. Trong suốt chiến dịch (kéo dài 13 ngày), tổ điện báo bị đánh bom hơn 10 lần. Hai cán bộ của Thông tấn xã Giải phóng đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, căn cứ của Thông tấn xã Giải phóng đã phải di dời khoảng 9 lần. Trên 250 phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên… của Thông tấn xã Giải phóng và Việt Nam Thông tấn xã đã ngã xuống suốt từ Quảng Trị tới Cà Mau trong tư thế của người chiến sỹ.

Vượt qua những gian khổ, các phóng viên của Thông tấn xã Giải phóng đã vững tay bút, tay súng để duy trì “mạch máu” thông tin giữa chiến trường khốc liệt./.

Làm báo trong lửa đạn chiến tranh

Những hồi ức không quên

Trong 15 năm sát cánh cùng quân dân miền Nam với cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, cán bộ và phóng viên, kỹ thuật viên… của Thông tấn xã Giải phóng đã có mặt ở các chiến dịch lớn, luồn sâu vào vùng địch, ấp chiến lược để giữ cho dòng tin chảy mãi.

Màn đêm là buồng tối

Lần giở lại những bức ảnh đã ố màu thời gian, nhà báo Hồ Phước Huề, nguyên phóng viên Thông tấn xã Giải phóng không khỏi xúc động. Từ cuối năm 1972, ông nhận nhiệm vụ tăng cường cho chiến trường khu V, thường xuyên tác nghiệp tại các tỉnh từ Quảng Nam vào Bình Định.

Ngược dòng thời gian, cựu phóng viên chiến trường kể: Trong khoảng thời gian này, các vùng giải phóng và vùng bị địch chiếm đóng nằm xen kẽ nhau, tạo thành địa hình “loang lổ như da báo.” Từ nơi đóng quân ở Quảng Nam, với sự dẫn đường của các giao liên, những phóng viên chiến trường như ông Hồ Phước Huề hành quân bộ vượt núi, xuyên rừng.

Tổ điện báo Thông tấn xã Giải phóng điện tin từ mặt trận về căn cứ. Ảnh: TTXVN

Tổ điện báo Thông tấn xã Giải phóng điện tin từ mặt trận về căn cứ. Ảnh: TTXVN

“Khi đó, tính kỷ luật và sự chủ động luôn phải đặt lên hàng đầu. Nếu thiếu cẩn trọng, bị lạc đường, chúng tôi sẽ bị địch bắt. Nếu không chủ động, chúng tôi sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ,” ông Huề nói.

Dù là một phóng viên tin nhưng bên cạnh cuốn sổ, chiếc bút, phóng viên Hồ Phước Huề vẫn luôn mang theo chiếc máy ảnh để ghi lại những hình ảnh chân thực, quý giá về cuộc chiến đấu kiên cường của dân tộc.

Giữa khói lửa chiến tranh, việc chụp ảnh, thu thập thông tin đã khó; việc phát tin, tráng phim, chuyển tư liệu về tổng xã còn thử thách hơn nhiều lần. Dụng cụ tráng phim của ông Huề cũng như nhiều phóng viên chiến trường khi ấy là chiếc đèn pin bịt lá cây (để che bớt ánh sáng), chiếc bát sắt đựng thuốc tráng phim, thuốc hãm và nước suối để rửa phim.

“Không có phòng tối, chúng tôi phải đợi màn đêm buông xuống để mang phim ra tráng. Không ít lần, khi tôi đang tráng phim thì máy bay địch quần thảo. Đến lúc rời hầm trú ẩn trở lại khe suối, số phim quý báu chỉ còn là tàn tro. Giữa rừng sâu, hang tối, nhiều người phải chui vào màn để muỗi, côn trùng không bám vào làm hỏng phim,” ông Huề nhớ lại một thời gian khó.

“Cầu người” năm ấy

Tinh thần quả cảm của người chiến sỹ cùng sự nhạy bén nghề nghiệp của một nhà báo trưởng thành trong trận mạc đã giúp các phóng viên Thông tấn xã Giải phóng năm xưa chớp được những khoảnh khắc “để đời.”

“Cầu người” của nhà báo Phạm Văn Thính là một trong những bức ảnh như vậy.

Bức ảnh
Bức ảnh “Cầu người” của nhà báo Phạm Văn Thính.

Nhớ về những năm tháng trai trẻ gắn bó với chiến trường Đông Nam Bộ, nhà báo Phạm Văn Thính khi sôi nổi, lúc trầm ngâm. “Trở thành chứng nhân của lịch sử là một điều đáng trân trọng nhưng trải nghiệm về những ngày rực lửa không nên và không được phép lặp lại trong cuộc đời mỗi con người,” ông lão ở tuổi bát tuần đã trải qua đủ những đau thương, mất mát chia sẻ.

Dõi đôi mắt về phía xa xăm, ông nhớ về cuộc hành quân tiến về Sài Gòn cùng Trung đoàn 3B, Sư đoàn 9 trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968).

“Đến khu vực suối Nhum (huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh), tôi bỗng thấy phía trước xôn xao. Linh tính mách bảo rằng có gì đó không ổn. Tôi vội vượt lên. Khung cảnh bất ngờ mở ra trước mắt: Một đoàn thanh niên xung phong đang ngâm mình dưới nước, biến thân mình thành trụ đỡ cho các tấm ván. Họ tạo thành chiếc cầu để việc vận chuyển thương binh qua suối bớt khó khăn,” ông kể.

Sau phút bất ngờ đến thảng thốt, ngỡ ngàng, phóng viên Phạm Văn Tính nhanh chóng chọn góc đứng, giơ máy ảnh và thu vào ống kính hình ảnh nhân văn – “Cầu người.”

“Thử hỏi, nếu không có chiếc cầu đặc biệt được làm nên bằng tình thương và lòng nhân ái đó, việc vận chuyển thương binh sẽ khó khăn nhường nào. Những người lính vốn đang bị vết thương hành hạ sẽ càng thêm đau đớn nhường nào?” Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ông vẫn trăn trở với những câu hỏi đó.

“Cầu người” là biểu tượng của tình người, sự sáng tạo và ý chí vượt lên khó khăn. Năm 1976, bức ảnh “Cầu người” của phóng viên ảnh Phạm Văn Thính được triển lãm ở Hungary.

“Thời điểm đó và nhiều năm về sau, không ít bạn bè, đồng nghiệp gửi lời chúc mừng đến tôi, nhưng tôi nghĩ đó không chỉ là thành tích cá nhân. Quan trọng hơn, việc bức ảnh được chọn giới thiệu ở Hungary cho thấy sự ghi nhận của dư luận, truyền thông quốc tế đối với đóng góp của những thế hệ người làm báo Thông tấn xã Việt Nam trong việc ghi lại những hình ảnh chân thực, sinh động về cuộc chiến chính nghĩa của dân tộc. Thông tấn xã Giải phóng đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành, cho tôi những kinh nghiệm làm báo sâu sắc,” cựu phóng viên chiến trường Phạm Văn Thính bày tỏ./.

Về chung “một nhà” 

Tự hào viết tiếp truyền thống vẻ vang

Trong những giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, không một chiến trường, không một hướng tiến quân, không một địa bàn chiến đấu nào vắng mặt phóng viên Thông tấn xã Giải phóng: từ chiến thắng Ấp Bắc (1963), Bình Giã (1964) đến cuộc Tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) và đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975), giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thanh xuân gửi lại nơi chiến trường

Sự ra đời của Thông tấn xã Giải phóng đã khai thông liên lạc giữa miền Bắc với miền Nam trên làn sóng điện. Trong suốt cuộc trường chinh của dân tộc, Việt Nam Thông tấn xã luôn coi việc chi viện nhân lực cho miền Nam, cho Thông tấn xã Giải phóng là nhiệm vụ thiêng liêng để giữ vững mạch máu thông tin.

Từ sau ngày 12/10/1960, Việt Nam Thông tấn xã liên tiếp tổ chức thực hiện các đợt chi viện nhân lực và thiết bị cho Thông tấn xã Giải phóng.

Với lực lượng cán bộ không ngừng được bổ sung, lớn mạnh, Thông tấn xã Giải phóng tổ chức thành các phòng biên tập tin đối nội, tin đối ngoại, tin thế giới, nhiếp ảnh, điện vụ kỹ thuật, văn phòng, tổng hợp, in ấn, giao liên, phát hành. Hàng ngày, Thông tấn xã Giải phóng in và phát hành trên 400 bản tin các loại.

Ngược dòng thời gian, trở về những năm tháng gắn bó với chiến trường Quảng Đà, nhà báo Ðinh Trọng Quyền, nguyên phóng viên Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung Bộ, nguyên Phó Trưởng ban biên tập tin Trong nước nghẹn giọng: “Đó là miền ký ức không thể lãng quên và không được phép lãng quên.” Ông là một trong số hàng trăm phóng viên của Việt Nam Thông tấn xã đã lên đường chi viện cho Thông tấn xã Giải phóng.

Sáng 15/5/1975, hàng triệu nhân dân Sài Gòn – Gia Định đổ về quảng trường trước trụ sở Ủy ban quân quản thành phố để dự Lễ mừng chiến thắng. Ảnh: TTXVN

Sáng 15/5/1975, hàng triệu nhân dân Sài Gòn – Gia Định đổ về quảng trường trước trụ sở Ủy ban quân quản thành phố để dự Lễ mừng chiến thắng. Ảnh: TTXVN

Đầu tháng 10/1969, khi vừa bước chân lên khỏi hầm, ông bị trúng pháo địch. Bàn chân phải và một phần bắp chân trái bị phá nát. “Tôi cố gắng dùng tất cả sức lực còn lại lấy vải dù thắt đầu mỏm cụt lại để cầm máu. Sau những phút gắng gượng di chuyển đau đớn, buốt tận óc qua những bãi đất ngổn ngang, tôi đến được một căn hầm khác để nhờ anh em đưa đi cấp cứu,” nhà báo Đinh Trọng Quyền nhớ lại.

Máu thấm đỏ chiếc võng trên đường tới trạm xá. Đau đớn chồng đớn đau khi cẳng chân bị hoại tử, bác sỹ yêu cầu cưa sát đầu gối. Cuộc phẫu thuật diễn ra ở bệnh xã lưng núi Hòn Tàu (Quảng Nam): Không thuốc gây mê, không thuốc giảm đau. Người phóng viên chiến trường năm xưa ngất đi trong đau đớn…

Mạch truyện nối dài, ông kể, khi biết tin bệnh xá HònTàu bị địch tấn công, ông lại là một trong số các bệnh nhân nặng đang điều trị tại đây, các đồng nghiệp ở phân xã Quảng Đà ngỡ tưởng ông đã không thể vượt qua định mệnh. Lần tìm lên khu vực bệnh xá, họ mang theo bó nhang để thắp cho người quá cố.

“May thay, tôi đã được các chiến sỹ, bác sỹ vận chuyển đến địa điểm an toàn, để rồi sau này được trở về với gia đình, sống những ngày hòa bình đáng giá. Trong khi đó, nhiều đồng đội, đồng nghiệp của tôi đã vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu, núi cao,” giọng ông trùng xuống.

Câu chuyện “từ cõi chết trở về” của nhà báo Đinh Trọng Quyền nhắc nhớ những hy sinh, cống hiến to lớn của những người làm báo Thông tấn xã Giải phóng để làm nên đại thắng mùa Xuân 1975. Tin, ảnh của các nhà báo-chiến sỹ từ Quảng Trị đế đất mũi Cà Mau, từ vùng nông thôn U Minh Thượng đến đô thị Sài Gòn-Gia Định… liên tiếp được gửi về, trở thành nguồn tin chiến lược, bổ sung và thẩm định các nguồn tin riêng của Trung ương, giúp Đảng hoạch định quyết sách đúng trong chiến tranh.

Xứng danh Thông tấn xã Anh hùng

Theo thống kê chưa đầy đủ, Thông tấn xã Giải phóng có hơn 240 nhà báo và kỹ thuật viên hy sinh, tương đương gần 50% tổng biên chế của Thông tấn xã Giải phóng vào cuối năm 1974. Đây là tổn thất nặng nề nhưng cũng chính là đóng góp vô giá của những người làm báo Thông tấn xã Giải phóng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ngày 12/5/1976, Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng, hai người anh em ruột thịt, tuy hai mà một, đã chính thức hợp nhất với tên gọi là Thông tấn xã Việt Nam. Đây là thời khắc lịch sử. Sức mạnh của hai cơ quan thông tấn đã được hợp nhất trong giai đoạn mới của đất nước. Sức mạnh đó tiếp tục được củng cố khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Từ thời điểm lịch sử đó đến nay, đội ngũ người làm báo Thông tấn xã Việt Nam đã kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang, viết tiếp các trang vàng lịch sử của ngành.

Sáng 13/5/1975, các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và quân, dân miền Nam ra sân bay Tân Sơn Nhất đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng dẫn đầu Đoàn đại biểu BCHTƯ Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dự Lễ mừng chiến thắng tại thành phố Sài Gòn. Trong ảnh: Đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng bộ miền Nam đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN

Sáng 13/5/1975, các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và quân, dân miền Nam ra sân bay Tân Sơn Nhất đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng dẫn đầu Đoàn đại biểu BCHTƯ Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dự Lễ mừng chiến thắng tại thành phố Sài Gòn. Trong ảnh: Đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng bộ miền Nam đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN

Những người làm báo Thông tấn xã Việt Nam có mặt tại các điểm nóng về thiên tai, sự cố, thức trọn đêm ở những sự kiện lớn như Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần thứ hai…

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có những chuyến vượt sóng ra đảo xa để phản ánh đời sống của người dân và chiến sỹ nơi tiền tiêu của Tổ quốc.

Phóng viên thường trú tại ngoài nước đã có những chuyến tác nghiệp thành công tại các địa bàn đang là điểm nóng, xung đột quân sự, nội chiến hay để tiếp cận những trường hợp bảo hộ công dân Việt Nam…

Hình ảnh những phóng viên trẻ tràn đầy nhiệt huyết như phóng viên Đinh Hữu Dư sẽ sống mãi trong lòng các đồng nghiệp.

Trong thời gian gần đây, từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nhà báo thông tấn làm việc không kể ngày đêm để đưa tin từ các vùng tâm dịch tại Việt Nam và trên thế giới. Họ chưa bao giờ ra chiến trường, nhưng họ chắc chắn sẽ chiến thắng trong trận chiến này.

“Trong chiến tranh hay trong hòa bình, nhà báo thông tấn luôn là những người đứng ở tuyến đầu. Dù phương thức tác nghiệp ở mỗi thời có những điểm khác nhau, nhưng phẩm chất và đạo đức nhà báo thì không có gì thay đổi.” ông Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam khẳng định.

Hiện nay, Thông tấn xã Việt Nam khẳng định vị thế của một hãng thông tấn quốc gia hiện đại với khoảng 2.300 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, chuyên viên, kỹ thuật viên…

Thông tấn xã Việt Nam sản xuất gần 70 sản phẩm thông tin thuộc đủ các loại hình: Tin văn bản, ảnh, truyền hình, tin đồ họa, tin âm thanh cùng nhiều sản phẩm thông tin hiện đại như megastory, phát hành trên các bản tin, báo in, báo điện tử, truyền hình, truyền thông đa phương tiện và mạng xã hội.

Thông tấn xã Việt Nam cũng là cơ quan báo chí có hệ thống cơ quan thường trú ngoài nước lớn nhất Việt Nam, với 30 cơ quan thường trú tại 28 quốc gia; cùng với đó là mạng lưới cơ quan thường trú tại 63 tỉnh, thành trong cả nước.

Hoạt động đối ngoại ngành không ngừng phát triển. Thông tấn xã Việt Nam có quan hệ hợp tác với hơn 40 hãng thông tấn và tổ chức báo chí nước ngoài tại cả năm châu lục, với uy tín không ngừng được nâng cao tại các tổ chức báo chí quốc tế và khu vực.

Ngày 1/9, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 1521/QĐ-CTN về việc phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho 15 tập thể vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thông tấn xã Giải phóng (Thông tấn xã Việt Nam) có tên trong danh sách phong tặng danh hiệu lần này. Đây là lần thứ 3, Thông tấn xã Việt Nam vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Trải qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và phát triển gắn liền với những dấu mốc lịch sử của đất nước, Thông tấn xã Việt Nam là cơ quan báo chí vinh dự được phong tặng ba danh hiệu Anh hùng: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và 2 lần phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Cùng với đó, Thông tấn xã Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, hai Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Nhân dân thành phố Sài Gòn mít tinh chào mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. Ảnh: Minh Lộc – TTXVN
Nhân dân thành phố Sài Gòn mít tinh chào mừng Ủy ban Quân quản thành phố ra mắt, ngày 7/5/1975. Ảnh: Minh Lộc – TTXVN

Những danh hiệu và phần thưởng cao quý đó là niềm tự hào, cũng là lời nhắc nhở đối với mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, người lao động Thông tấn xã Việt Nam hôm nay phải nỗ lực hơn nữa để viết tiếp những trang sử vẻ vang của ngành trong thời kỳ hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế.

Phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Thông tấn xã Việt Nam (15/9/1945-15/9/2020) được tổ chức trang trọng sáng 13/9 tại Trung tâm Thông tấn Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Những thời khắc lịch sử của dân tộc, dù đau thương hay hào hùng, được bạn đọc biết đến, được thế giới biết đến và ủng hộ, cũng nhờ những thông tin mà các nhà báo-chiến sỹ của Thông tấn xã Việt Nam đã ghi lại, phát đi.”

Tiếp bước truyền thống, hiện nay, với vai trò cơ quan thông tấn đa phương tiện chủ lực quốc gia, Thông tấn xã Việt Nam có con đường riêng của mình là “ngân hàng tin” cung cấp thông tin định hướng chính thống cho hệ thống báo chí, cho công chúng trong và ngoài nước, là nguồn thông tin báo cáo có giá trị phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan nghiên cứu.

Thủ tướng nhấn mạnh đó là bản sắc riêng, giá trị nền tảng mà Thông tấn xã Việt Nam cần tiếp tục phát huy, giữ vững trong quá trình xây dựng các định hướng phát triển tương lai của ngành.

Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể thấy, Thông tấn xã Việt Nam đã phát triển nhanh, mạnh cả về bề rộng và chiều sâu, trở thành hãng thông tấn quốc gia hàng đầu trong khu vực.

Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Thông tấn xã Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất tặng Thông tấn xã Việt Nam./.

Sự hy sinh thầm lặng của cảnh sát giao thông

Nắng cháy, mưa tuôn, hay những đêm rét cắt da thịt, đối diện với biết bao hiểm nguy trực chờ không thể lường trước, những chiến sỹ Cảnh sát giao thông vẫn âm thầm giữ bình yên trên mỗi cung đường, vì một xã hội an toàn, an ninh.

Bình yên trên những tuyến đường không chỉ được đổi bằng mồ hôi mà có khi còn bằng cả xương máu.

Theo báo cáo của Bộ Công an, năm 2017, có 51 vụ chống người thi hành công vụ, làm 3 Cảnh sát giao thông hy sinh và 6 cán bộ, chiến sỹ bị thương.

Còn trong 2 năm 2018-2019, toàn quốc xảy ra 72 vụ chống người thi hành công vụ làm 2 Cảnh sát giao thông hy sinh và 27 cán bộ, chiến sỹ bị thương. Lực lượng Cảnh sát giao thông đã trực tiếp và phối hợp các đơn vị khác bắt giữ 91 người có biểu hiện chống đối để bàn giao cơ quan chức năng xử lý.

Không chỉ bị chống đối, Cảnh sát giao thông còn đối mặt với không ít tai nạn rập rình. Ở đâu đó vẫn có những lời ong, tiếng ve, nhìn nhận lực lượng Cảnh sát giao thông với con mắt tiêu cực, bởi trong ngành vẫn còn những “con sâu làm rầu nồi canh,” nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ trong số hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ toàn lực lượng vẫn ngày đêm miệt mài giữ bình yên cho những cung đường, chẳng quản nguy nan.

Chùm bài viết “Sự hy sinh thầm lặng” giúp bạn đọc hiểu rõ hơn sự vất vả và những đóng góp âm thầm của các chiến sỹ cảnh sát giao thông vì sự bình yên và trật tự xã hội./.

Nỗi niềm Cảnh sát giao thông vùng cao

Tiếng chuông điện thoại reo, Hiển bật máy, đầu dây bên kia giọng bé gái cất lên “ba ơi, bao giờ ba về.” Không trả lời vào câu hỏi của con, Hiển nói “ba đang đi công tác.” Em bé giọng nũng nịu “bao giờ ba về, con nhớ ba lắm,” Hiển chỉ nói với con “ba gọi lại cho con sau nhé,” rồi ngắt máy.

Đối diện với biết bao hiểm nguy trực chờ không thể lường trước, những chiến sỹ cảnh sát giao thông vùng cao vẫn âm thầm giữ bình yên trên mỗi cung đường, vì một xã hội an toàn, an ninh.

Phân trần với đoàn công tác, Thiếu tá Lê Duy Hiển, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông đường bộ, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tuyên Quang cho biết, cả tuần nay em không về nhà nên con bé nhớ ba, ngày nào cũng gọi điện.

Lấy cơ quan làm nhà

Thành phố Tuyên Quang có diện tích 184,38 km2. Nhà ngay thành phố, cách cơ quan không xa, nhưng có những giai đoạn cao điểm, vì nhiệm vụ công tác, cả tuần Hiển không về nhà, hoặc có về thì cũng vào lúc đêm đã khuya, con đã đi ngủ.

Nhiều khi để tránh làm vợ, con mất giấc ngủ, sau ca tuần tra kiểm soát, Hiển ở luôn cơ quan, nên chuyện lấy cơ quan làm nhà cũng là thường tình.

Cảnh sát giao thông kiểm tra các phương tiện vi phạm. (Ảnh: TTXVN)
Cảnh sát giao thông kiểm tra các phương tiện vi phạm. (Ảnh: TTXVN)

Đặc thù địa bàn miền núi xa xôi, lực lượng lại mỏng, nên Cảnh sát giao thông khá vất vả.

“Có những khi vừa kết thúc ca tuần tra kiểm soát buổi tối, đội nhận được thông tin có vụ tai nạn giao thông cách đó 70-80km, thế là lại lên đường, giải quyết xong thì cũng tới sáng,” Thiếu tá Nguyễn Xuân Hoàng, cán bộ Đội Cảnh sát giao thông đường bộ, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tuyên Quang tâm sự.

Vì đặc thù nghề nghiệp, không thể nói rõ công việc của mình, Hoàng chỉ nói “nhiều việc lắm chị ạ.” Tôi hiểu, ngoài nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, Cảnh sát giao thông còn phải kiêm thêm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và đây cũng được coi là một chỉ tiêu để đánh giá mức độ hoàn thành công việc.

Vì vậy, không chỉ Hoàng, Hiển, mà nhiều anh em khác luôn trong tình trạng áp lực. Những tưởng sau chuyến công tác Na Hang 2 ngày, mọi người sẽ được trở về nhà bên bữa cơm gia đình đầm ấm của gia đình và ngả lưng cho lại sức, nhưng… đêm nay chúng em lại lên đường ( một chiến sỹ tâm sự) .

Khó khăn trong công tác tuyên truyền

Cũng là Cảnh sát giao thông, nhưng ở miền núi có đặc thù riêng. Chưa kể giao thông đi lại bất tiện, địa hình đèo dốc quanh co, chỉ riêng việc tuyên truyền cho bà con dân tộc đã là cả một vấn đề.

Là địa bàn miền núi, huyện Na Hang có 12 dân tộc anh em, việc tuyên truyền pháp luật trật tự an toàn giao thông gặp không ít khó khăn. Để tuyên truyền được, phải chọn cán bộ cho phù hợp, với đồng bào dân tộc nào, phải chọn cán bộ biết tiếng đó. Song, không phải lúc nào cũng tuyên truyền đúng đối tượng.

Phụ nữ dân tộc vùng cao vẫn giữ truyền thống búi tóc cao và khi đội mũ bảo hiểm sẽ rất khó khăn. (Ảnh: CTV Xuân Phúc)
Phụ nữ dân tộc vùng cao vẫn giữ truyền thống búi tóc cao và khi đội mũ bảo hiểm sẽ rất khó khăn. (Ảnh: CTV Xuân Phúc)

Thượng tá Ma Văn Tòng, Phó trưởng Công an huyện Na Hang cho hay, Công an huyện đã ký kết giao ước với các trường học nên cứ đến đầu năm học, hai bên lại phối hợp tổ chức tuyên truyền cho học sinh, sinh viên.

Còn đối với người dân, Công an huyện khoán cho lực lượng trong ngành hàng tháng tổ chức tuyên truyền ít nhất một buổi tại một thôn về pháp luật trật tự an toàn giao thông.

Anh Tòng kể, khó khăn nhất trong công tác tuyên truyền là tổ chức họp dân. Có những khi thôn, xã tổ chức họp dân tuyên truyền các chính sách, chương trình, Công an huyện phối hợp luôn để lồng ghép tuyên truyền chính sách pháp luật về trật tự an toàn giao thông, nhưng hiệu quả cũng không cao vì chủ yếu là người già, phụ nữ, trẻ em – những người ít hoặc không bao giờ điều khiển phương tiện tham gia thông – ngồi nhà rảnh rỗi mới tham gia.

Trong khi đó, những đối tượng cần tuyên truyền lại không tham gia, nên có những lúc, cán bộ phải lên tận nương rẫy để tuyên truyền cho bà con, còn lại chủ yếu là tuyên truyền ngẫu nhiên, tuyên truyền lưu động qua công tác tuần tra, kiểm soát.

Do địa bàn miền núi, chủ yếu là bà con dân tộc, ý thức tuân thủ pháp luật về giao thông chưa tốt, bên cạnh đó, còn có yếu tố phong tục, tập quán, người cùng làng bản, nên việc kiểm soát cũng chủ yếu tập trung vào tuyên truyền, nhắc nhở là chính mà không đặt nặng vấn đề xử phạt, đôi khi là xuê xoa cho các lỗi vi phạm hành chính.

Nhìn thấy tổ tuần tra kiểm soát đang làm nhiệm vụ trên đường, từ xa, chị Bàn Thị Ghến – một phụ nữ dân tộc Dao – dừng xe lấy chiếc mũ bảo hiểm đội lên đầu, nhưng loay hoay cả 15 phút vẫn không đội được, chị đành lên xe đi tiếp.

Mũ bảo hiểm mới có chóp nhọn dành cho phụ nữ dân tộc Tây Bắc. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Mũ bảo hiểm mới có chóp nhọn dành cho phụ nữ dân tộc Tây Bắc. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Vi phạm quy định về an toàn giao thông, chị bị tổ công tác dừng xe kiểm tra, nhắc nhở. Phân trần, chị Ghến thật thà do hôm nay có buổi lễ quan trọng, phải mặc trang phục và đội mũ dân tộc mình, không thể đội mũ bảo hiểm, “em có mũ bảo hiểm nhưng em không đội được, bắt buộc em phải như thế này ạ, cho em xin lỗi các anh nhé.”

Chị Ghến lý giải, chiếc mũ dân tộc Dao vừa to, vừa cứng, dù đã cố gắng đội lồng mũ bảo hiểm lên trên nhưng vẫn không làm được, cũng không thể đến buổi lễ mới mặc trang phục và đội mũ vì làm việc này phải mất chừng 1 tiếng và phải có người trợ giúp. Do vậy, mỗi dịp lễ, hội, chị đều mặc trang phục của người Dao, dù vẫn mang theo mũ bảo hiểm trên xe nhưng không bao giờ đội, nếu lỡ có bị Cảnh sát giao thông bắt thì “em lại xin thôi, chả biết làm sao, vì đội cái mũ này thì không đội mũ bảo hiểm được. Rất xin lỗi vì bọn em lúc nào cũng thế. Bình thường khi đi đường bao giờ em cũng đội mũ bảo hiểm, tham gia giao thông an toàn, nhưng cứ mặc trang phục này là không thể đội được, thông cảm cho em.”

Thượng tá Ma Văn Tòng cho biết, theo phong tục tập quán địa phương, vào dịp lễ, hội, bà con dân tộc lại sử dụng trang phục của dân tộc mình. Với người Dao, chiếc mũ có vành to, đội mũ bảo hiểm vào không vừa, lực lượng Công an đã vận động bà con khi tham gia giao thông phải bỏ vành mũ ra để đảm bảo đúng theo quy định.

Nhưng thực tế, khi tham gia giao thông trên đoạn đường ngắn, người dân ít khi chấp hành, đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải cho việc lỗi vi phạm giao thông trên địa bàn huyện Na Hang phần nhiều là không đội mũ bảo hiểm.

“Do trình độ dân trí chưa đồng đều, người tham gia giao thông chấp hành quy định của pháp luật chưa nghiêm, nhất là lỗi về mũ bảo hiểm. Con em vùng sâu, vùng xa khi tham gia giao thông ít đội mũ bảo hiểm, trừ trường hợp ra đến thị trấn hay đi xa,” Thượng tá Tòng nói.

Ngay cả các giấy tờ như giấy phép lái xe, đăng ký xe hay chứng minh nhân dân của nhiều người bị mờ, không nhìn rõ ảnh và thông tin, lực lượng Cảnh sát giao thông cũng phải tuyên truyền cho bà con đề nghị cấp lại, cấp đổi theo đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo Thượng tá Ma Văn Tòng, do đa số bà con đi lại gần nên ít người quan tâm đến việc cấp đổi giấy tờ xe, trên địa bàn huyện mỗi năm chỉ có vài chục chủ phương tiện tiến hành cấp đổi.

Riêng đối với chứng minh nhân dân, hàng tháng, lực lượng Công an phải luân phiên tới các xã để tiến hành cấp đổi cho người dân, với người cao tuổi, bố trí cán bộ chiến sỹ tới tận nhà để thực hiện./.

Lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và xử phạt chủ phương tiện vi phạm giao thông. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)
Lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra và xử phạt chủ phương tiện vi phạm giao thông. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)

Máu đã đổ và nước mắt đã rơi

Bên nấm mộ cỏ dại lúp xúp, chị Thúy gạt cỏ, chọn chỗ bằng phẳng nhất để đặt đồ lễ và thắp hương cho chồng. Hơn một năm kể từ ngày anh hy sinh, ngôi mộ nhang tàn, khói lạnh lại được sưởi ấm bằng nén nhang của đồng đội. Cấp trên cùng đồng đội về trao bằng Tổ quốc ghi công cho gia đình anh, để ghi nhận sự cống hiến, hy sinh của anh vì bình yên cuộc sống.

Hy sinh thầm lặng

Sáng 30/11/2017, trong lúc làm nhiệm vụ tại Km66 đường cao tốc Hà Nội-Thái Nguyên (hướng Thái Nguyên-Hà Nội), Thiếu tá Trần Văn Vang (sinh năm 1975, Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 2, Phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Cục Cảnh sát giao thông) bị một bị nam thanh niên điều khiển môtô vi phạm chở quá số người quy định, chạy với tốc độ cao, không chấp hành hiệu lệnh dừng xe và đâm thẳng vào người.

Bình yên trên những tuyến đường không chỉ được đổi bằng mồ hôi mà có khi còn bằng cả xương máu. 8 tháng năm nay, lực lượng Cảnh sát giao thông phải chứng kiến sự ra đi mãi mãi của 2 đồng đội khi đang làm nhiệm vụ.

Cú đâm bất ngờ khiến anh đập đầu xuống đường. Đồng đội nhanh chóng đưa anh đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Nguyên, tuy nhiên, do vết thương quá nặng, anh đã hy sinh vào chiều cùng ngày.

Ngày 1/12/2017, Bộ trưởng Bộ Công an đã có quyết định thăng cấp hàm lên Trung tá đối với Thiếu tá Trần Văn Vang. Để ghi nhận sự hy sinh, cống hiến của anh trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 760/QĐ-TTg về việc cấp bằng “Tổ quốc ghi công” cho 318 liệt sỹ thuộc các Bộ Công an, Giao thông vận tải, Quốc phòng và 31 tỉnh, thành phố, trong đó, Trung tá Trần Văn Vang là một trong hai liệt sỹ của Bộ Công an.

Bia nghĩa trang liệt sỹ xã Tân Thành – quê hương anh, thêm dòng tên Trần Văn Vang ở số thứ tự 73 và là người duy nhất hy sinh trong thời bình kể từ năm 1981 trở lại đây.

Đồng đội, nhân dân sơ cứu và đưa chiến sỹ công an bị hai đối tượng đâm xe ở thành phố Nam Định đi cấp cứu. (Nguồn: cand.com.vn)
Đồng đội, nhân dân sơ cứu và đưa chiến sỹ công an bị hai đối tượng đâm xe ở thành phố Nam Định đi cấp cứu. (Nguồn: cand.com.vn)

Cũng như bao gia đình thuần nông nghèo ở xã Tân Thành (Kim Sơn, Ninh Bình), nhà anh Trần Văn Vang ngày ấy chẳng dư dả gì. Sinh ra trong gia đình có 9 người con, mẹ mất sớm, học xong cấp 3, anh phải đi làm để kiếm tiền phụ bố nuôi các em ăn học.

Năm 1996, tham gia Công an nghĩa vụ, anh mới bắt đầu có một công việc ổn định, mở ra tương lai sau này. Cho đến lúc hy sinh, anh Vang công tác trong ngành Công an chưa đầy 22 năm.

Quãng đường sự nghiệp ngắn ngủi nhưng cũng là khoảng thời gian rất dài so với hạnh phúc gia đình mà anh có được với chị Trần Thị Thúy, người con gái cùng xã. Kết hôn năm 2009, anh công tác tại Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình, còn chị Thúy làm điều dưỡng ở Bệnh viện 09 ở Hà Nội (bệnh viện chuyên điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS). Thuê một căn nhà trọ nhỏ ở Hà Nội, hai người chỉ có thể gặp nhau vào dịp cuối tuần.

Xa cách về địa lý, chị Thúy lại bị vô sinh không rõ nguyên nhân, nên sau 4 năm chạy chữa, tới năm 2013, anh chị mới có con. Những tưởng hạnh phúc đã tới trọn vẹn khi chị Thúy mang song thai, nhưng trớ trêu, niềm vui ấy không được bao lâu, chị phải nhập viện vì một thai không phát triển được do bị hội chứng truyền máu nhau thai.

Có người khuyên chị nên bỏ thai nhưng sự hiếm muộn và niềm tin lớn lao của người mẹ đã thôi thúc chị quyết giữ. Nằm viện từ tuần thứ 22 đến tuần thứ 28, chị chuyển dạ sinh non được bé Trần Ngọc Bảo Trâm nặng 1,4 kg. Còn một bé đã mất trước đó 5 ngày.

Những tháng ngày nằm viện, nuôi con trong lồng kính là biết bao nhọc nhằn, vất vả, đè nặng lên đồng lương ít ỏi của hai người. Thời gian này, anh Vang đã chuyển công tác lên Cục Cảnh sát giao thông nên có điều kiện để chăm sóc vợ con.

Sợ vợ ăn uống ở bệnh viện không đảm bảo, sáng 4 rưỡi, 5 giờ, anh dậy nấu đồ ăn mang vào hai vợ chồng cùng ăn. Quãng đường từ nhà trọ đến bệnh viện 15km nhưng đều đặn ngày 3 bữa, anh mang cơm vào viện cho vợ. Sau 1 tháng nằm lồng kính, tăng vỏn vẹn 1 lạng, bé Bảo Trâm được ra viện. Anh chị lại thay nhau thức đêm trông con, đề phòng bé sinh non hay bị nôn trớ.

Hoàn cảnh khó khăn, con nhỏ hay ốm, 7 tháng, chị Thúy phải gửi con về nhờ bà ngoại chăm sóc. Nhờ tình yêu thương và chăm sóc chu đáo, kỹ càng của bà, bé Bảo Trâm lớn nhanh, khỏe mạnh, đến 2 tuổi được bà “trả về” cho bố mẹ…

Bình yên có khi phải đổi bằng xương máu

Dò dẫm hỏi đường, cộng với tắc đường giờ tan tầm, phải mất 1 tiếng rưỡi từ trung tâm thành phố, tôi mới tìm được đến căn nhà nơi chị Thúy và bé Bảo Trâm sinh sống.

Con đường dọc sông Kim Ngưu chật chội, uốn lượn, đầy ổ gà, khiến xe máy của tôi liên tục rung lên bần bật. Ngôi nhà cấp 4 trong căn ngõ nhỏ ở xóm 2, thôn Phú Diễn, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì là sự dành dụm, gom góp, vay mượn của hai vợ chồng anh chị suốt cả chục năm qua. Mua nhà được 1 tháng 3 ngày thì anh mãi mãi ra đi.

Lái xe điều khiển chiếc xe khách 29B-501.64 đã đâm vào một chiến sỹ Phòng Cảnh sát cơ động (Công an tỉnh Bắc Giang) khiến anh hy sinh trong khi làm nhiệm vụ trên tuyến cao tốc Hà Nội-Bắc Giang chiều 14/9. (Nguồn: Oto+)
Lái xe điều khiển chiếc xe khách 29B-501.64 đã đâm vào một chiến sỹ Phòng Cảnh sát cơ động (Công an tỉnh Bắc Giang) khiến anh hy sinh trong khi làm nhiệm vụ trên tuyến cao tốc Hà Nội-Bắc Giang chiều 14/9. (Nguồn: Oto+)

Cổng nhà khóa, một người đàn ông đứng bên chiếc xe máy chở 2 bao tải to tướng bảo tôi chờ, Thúy về bây giờ. Chừng 3 phút, mẹ con chị về tới nhà, trên xe cũng là 1 bao tải to như của anh chàng kia.

Sau này, trong câu chuyện, tôi mới biết, với mức thu nhập chưa đầy 10 triệu đồng và tiền liệt sỹ, tử tuất của chồng, Thúy phải buôn bán thêm miến dong để có tiền trang trải cuộc sống và trả nợ tiền nhà.

Chị kể vừa nhận lại bộ quần áo của chồng mặc ngày cuối cùng, chị mang về làm kỷ niệm, phải giặt tới 4 lần mới sạch. Chiếc xe máy của chồng, chị cũng giữ lại làm kỷ niệm.

Sáng hôm đó, chị đã có linh cảm chẳng lành. Nhận được tin dữ, Thúy bắt taxi đi thẳng lên Thái Nguyên. Trên đường đi, liên tục nhận được điện thoại của lãnh đạo Đội nhưng chị không nhận được câu trả lời cho câu hỏi “tình hình chồng em thế nào,” cứ đến lúc chị hỏi thì đầu dây bên kia ngắt máy.

Tới bệnh viện, nhận được thông báo anh Vang đã chết não, chị không cầm được nước mắt, không tin và không chấp nhận điều đó là sự thật. Tai nạn khiến mặt anh biến dạng, phù toàn thân, chị không nhận ra chồng mình. Chỉ khi xem tay, chân, Thúy mới biết không thể nhầm với ai khác được nữa.

“Không thể tả lúc đón nhận đau đớn như thế nào nữa, như kiểu con người mình chết đi một nửa. Lúc ấy, em cầu trời, khấn Phật có phép màu để anh tai qua nạn khỏi kiếp nạn này, ở bên vợ con, gia đình… Em chỉ ước giá như em không có chuyên môn ngành y, để mình còn hy vọng, chỉ cần chút hy vọng mong manh thôi. … “ Thúy dằn mình để nén cảm xúc, sự việc đã qua gần 3 năm rồi nhưng trong chị tất cả mới như ngày hôm qua . . . Anh Vang đi không kịp để lại cho vợ con một lời trăng trối.

Cho đến giờ, nhiều lúc chị Thúy vẫn không tin đó là sự thật, chỉ nghĩ chồng đang đi công tác xa. Trên zalo, Thúy đặt tên là “Nhớ Anh.”  Xót xa nhất là giai đoạn đầu khi anh mới mất, bé Bảo Trâm thường hay mơ thấy bố rồi ao ước được bố cho đi chơi.

Có lần chị nói với con, giờ mẹ vừa làm bố, vừa làm mẹ, bé Trâm bảo mẹ không làm được thế đâu, mẹ chỉ làm mẹ, không làm bố được, chị nghĩ thương con chảy nước mắt. “Về quê nhìn bác giống bố, con cứ gọi bố. Vào Thành phố Hồ Chí Minh chơi với chú, chú giống bố lắm, gọi chú là bố, . . . rồi hai mẹ con cùng khóc vì nhìn chú chăm sóc con cái mà nhà mình thì đang thiếu tình cảm của người bố,” Thúy kể.

Nhớ về người chồng hết mực thương vợ, yêu con, chị Thúy cho biết, như có dự cảm từ trước, chiều 29/11, anh Vang gọi điện cho vợ nấu bát canh cá chua – món ăn anh yêu thích. Làm về sớm, anh đi đến từng nhà chào mọi người ở khu nhà trọ cũ. Mua nhà chưa trả hết tiền cọc, anh đã vội vàng tu sửa, lắp toàn bộ cửa sắt từ trong ra ngoài đề phòng lúc đi công tác vắng, nhà chỉ có 2 mẹ con, dù chị ngăn cản vừa mua xong, tiền còn đang nợ nhiều, sau này sửa cũng được.

Tại lễ trao bằng Tổ quốc ghi công cho gia đình anh trên mảnh đất quê hương Tân Thành, Thiếu tướng Trần Quốc Trung, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông chia sẻ: “Quá trình công tác trong lực lượng Công an nhân dân, Trung tá Trần Văn Vang đã không ngừng nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xứng đáng vào truyền thống chiến đấu vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân nói chung và lực lượng Cảnh sát giao thông nói riêng. Đồng chí Trung tá Trần Văn Vang hy sinh là sự mất mát lớn của gia đình và Cục Cảnh sát giao thông.”

Báo cáo của Bộ Công an khiến chúng ta không khỏi giật mình, năm 2017, có 51 vụ chống người thi hành công vụ, làm 3 Cảnh sát giao thông hy sinh và 6 cán bộ, chiến sỹ bị thương.

 Đối tượng Điêu Mạnh Cường (sinh năm 1984, trú tại Chung cư The Vesta, Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội) bị khởi tố vì đã có hành vi hành hung cảnh sát giao thông. (Nguồn: TTXVN)
 Đối tượng Điêu Mạnh Cường (sinh năm 1984, trú tại Chung cư The Vesta, Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội) bị khởi tố vì đã có hành vi hành hung cảnh sát giao thông. (Nguồn: TTXVN)

Bình yên trên những tuyến đường không chỉ được đổi bằng mồ hôi mà có khi còn bằng cả xương máu.

Còn trong 2 năm 2018-2019, toàn quốc xảy ra 72 vụ chống người thi hành công vụ làm 2 Cảnh sát giao thông hy sinh và 27 cán bộ, chiến sỹ bị thương. Lực lượng Cảnh sát giao thông đã trực tiếp và phối hợp các đơn vị khác bắt giữ 91 người có biểu hiện chống đối để bàn giao cơ quan chức năng xử lý. Qua phân tích các vụ việc, cơ quan chức năng kết luận mức độ phạm tội của người chống đối Cảnh sát ngày càng liều lĩnh, bất chấp hậu quả.

Trong thời bình, nhưng vẫn còn những chiến sỹ Công an nói chung, Cảnh sát giao thông nói riêng hy sinh. 8 tháng năm nay, lực lượng Cảnh sát giao thông cũng phải chứng kiến sự ra đi mãi mãi của 2 đồng đội khi đang làm nhiệm vụ.

Cục Cảnh sát giao thông đã phải tăng cường tập huấn nhằm bảo vệ an toàn cho cán bộ, chiến sỹ, tuy nhiên, vẫn có nhiều tình huống không thể lường trước được, nhất là khi phải đối mặt với những đối tượng liều lĩnh, manh động.

Mới đây nhất, ngày 24/9, Thiếu úy Vũ Trung Toàn, cán bộ Cảnh sát giao thông Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (được điều động tăng cường phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái) khi đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường Yên Ninh, thuộc tổ 4, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái đã bị một nam thanh niên điều khiển xe máy vi phạm Luật Giao thông đường bộ đâm bị thương nặng.

Trước đó, ngày 8/7, Trung úy Vũ Văn Quang, Đội Cảnh sát giao thông số 4 (Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội) bị một tài xế đâm và kéo lê trên đường 27m, khiến anh bị chấn thương khá nặng./.

Cảnh sát Giao thông tỉnh Hòa Bình thực hiện đo chiều cao đối với các xe cơi nới chở hàng vượt quá chiều cao cho phép. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Cảnh sát Giao thông tỉnh Hòa Bình thực hiện đo chiều cao đối với các xe cơi nới chở hàng vượt quá chiều cao cho phép. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)


Vì bình yên trên mỗi cung đường

Không chỉ bị chống đối, Cảnh sát giao thông còn đối mặt với không ít tai nạn rập rình. Ở đâu đó vẫn có những lời ong, tiếng ve, nhìn nhận lực lượng Cảnh sát giao thông với con mắt tiêu cực, bởi trong ngành vẫn còn những “con sâu làm rầu nồi canh,” nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ trong số hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ toàn lực lượng vẫn ngày đêm miệt mài giữ bình yên cho những cung đường, chẳng quản nguy nan.

Đối mặt với nguy nan

Những ngày hè, dự báo nhiệt độ các tỉnh phía Bắc và miền Trung thường từ 35-37 độ C, ở trong nhà còn cảm nhận được cái nóng hầm hập, người khô háo, mất nước. Vậy mà, trong cái nắng cháy da thịt ấy, nhiệt độ ngoài trời lên đến trên 40 độ C, thậm chí trên các tuyến cao tốc nóng tới 50 độ C, các cán bộ, chiến sỹ lực lượng Cảnh sát giao thông vẫn trần mình thực hiện cao điểm tổng kiểm soát phương tiện theo kế hoạch của Bộ Công an.

Ở đâu đó vẫn có những lời ong, tiếng ve, nhìn nhận lực lượng Cảnh sát giao thông với con mắt tiêu cực, nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ trong số hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ toàn lực lượng vẫn ngày đêm miệt mài giữ bình yên cho những cung đường, chẳng quản nguy nan.

Mỗi ca tuần tra kiểm soát kéo dài 6 tiếng đồng hồ, cán bộ, chiến sỹ phải thay phiên nhau vào tiếp nước làm mát, bảo đảm sức khỏe để thực thi nhiệm vụ.

Dội nhanh chai nước mát từ mặt xuống cổ, Đại úy Nguyễn Văn Tình, cán bộ Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 3, Phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Cục Cảnh sát giao thông lại di chuyển như con thoi để điều tiết giao thông.

Lực lượng Cảnh sát giao thông điều tiết tại nút giao ngã 3 Chợ Trưa, thành phố Tam Điệp, tinh Ninh Bình. (Ảnh: Đức Phương/TTXVN)
Lực lượng Cảnh sát giao thông điều tiết tại nút giao ngã 3 Chợ Trưa, thành phố Tam Điệp, tinh Ninh Bình. (Ảnh: Đức Phương/TTXVN)

Cái nắng nóng như đổ lửa của mùa hè trên tuyến cao tốc Hà Nội-Ninh Bình khiến bộ quân phục của anh ướt đẫm. Tuy nắng rát mặt, hơi nóng phả lên hầm hập từ mặt đường, nhưng theo Đại úy Nguyễn Văn Tình, Cảnh sát giao thông vẫn luôn phải phơi mặt, bám đường, bởi ý thức tham gia giao thông của nhiều người chưa tốt, chỉ cần vắng bóng lực lượng Cảnh sát giao thông là họ sẵn sàng vi phạm.

Thiếu tá Nguyễn Quang Việt, cán bộ Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 4, Phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, Cục Cảnh sát giao thông cho biết, nhiệt độ ngoài trời đã cao, ở trên cao tốc, hiệu ứng nhiệt độ lại càng cao hơn do sức nóng từ mặt đường nhựa phả lên và hơi nóng từ các phương tiện lưu thông.

Thùng nước ướp lạnh, khăn ướt là “vũ khí” để các cán bộ, chiến sỹ chống chọi với cái nắng bỏng rát, nhưng giải pháp tình thế này cũng chỉ kéo dài được chừng 3-4 tiếng, càng về trưa, đá tan chảy hết, nước cũng không còn mát, vừa lau xong, mồ hôi đã đầm đìa.

Ngày cũng như đêm, mùa hè hay mùa đông, mỗi ca tuần tra lại có những khó khăn, vất vả riêng. Ngoài thực hiện công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Cảnh sát giao thông còn làm nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Chỉ trong tháng 8/2020, lực lượng Cảnh sát giao thông toàn quốc đã phát hiện 606 vụ phạm pháp hình sự, kinh tế, môi trường, bắt giữ 655 đối tượng có dấu hiệu tội phạm.

Trong đó, có 161 vụ buôn lậu và gian lận thương mại; 64 vụ tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy; 24 vụ khai thác cát, khoáng sản trái phép; 13 vụ tàng trữ trái phép vũ khí; 43 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Số thuốc lá và phương tiện của đối tượng vận chuyển bị Phòng Cảnh sát kinh tế - chức vụ Công an tỉnh Bình Phước phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Chơn Thành phát hiện và bắt giữ. (Ảnh: Đậu Tất Thành/TTXVN)
Số thuốc lá và phương tiện của đối tượng vận chuyển bị Phòng Cảnh sát kinh tế – chức vụ Công an tỉnh Bình Phước phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Chơn Thành phát hiện và bắt giữ. (Ảnh: Đậu Tất Thành/TTXVN)

Tang vật thu giữ được gồm 19 bánh heroin, 123.214 viên ma túy tổng hợp, hơn 210kg ma túy các loại; 51.175 bao thuốc lá ngoại; 120m3 đất, cát; 38,3m3 gỗ các loại, cùng nhiều hàng hóa, tang vật khác có giá trị gần 3 tỷ đồng…

Con số trên cho thấy phần nào những đóng góp không nhỏ của Cảnh sát giao thông cho công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Đặc biệt, khi “làn sóng” COVID-19 thứ hai bùng phát, ngay lập tức, lực lượng Cảnh sát giao thông đã ra quân tuần tra ngày đêm, phát hiện, bắt giữ nhiều đối tượng đưa người nước ngoài nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

Cũng chẳng phải ngoa khi nói rằng nghề của Cảnh sát giao thông là “nghề nguy hiểm,” bởi tai nạn luôn luôn trực chờ, không biết ập đến khi nào. Mới đây, ngày 20/9, khi làm nhiệm vụ trên tuyến quốc lộ 1B, Thiếu úy Lê Ngọc Sơn đã bị một người điều khiển xe môtô đâm trúng, phải nằm viện.

Được sự phân công của lãnh đạo đơn vị, ngày 20/9, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát giao thông số 5, Phòng Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Hà Nội thực hiện tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến quốc lộ 1B. Trong quá trình làm nhiệm vụ, tại Km 152+450 (hướng Hà Nội đi Bắc Ninh), Tổ công tác phát hiện trên đường có một khúc gỗ rơi, có thể gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông.

Thiếu úy Lê Ngọc Sơn cùng các đồng đội đã dừng xe, cảnh báo cho các phương tiện đang lưu thông và thu gọn chướng ngại vật. Trong khi đang nhặt khúc gỗ, Thiếu úy Lê Ngọc Sơn đã bị xe môtô do một nam thanh niên điều khiển đâm gãy ống chân, xây xát mặt và đầu.

Vào tháng 11/2018, Đại úy Nguyễn Văn Kha, cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện An Phú (An Giang) khi đang làm nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường một vụ tai nạn giao thông, đã bị tài xế xe tải điều khiển xe trong trạng thái ngủ gật đâm đúng khiến anh hy sinh trên đường đi cấp cứu.

Trường hợp đau xót nhất của lực lượng Cảnh sát giao thông trong năm 2020 phải kể đến là sự hy sinh của hai cán bộ, chiến sỹ thuộc Đội Cảnh sát giao thông-Trật tự Công an quận Sơn Trà (Đà Nẵng).

9 giờ tối 2/4, Trung tâm thông tin chỉ huy Công an thành phố Đà Nẵng nhận được thông tin có nhóm thanh thiếu niên đang tụ tập tổ chức đua xe, cướp giật tại khu vực phường Thọ Quang (quận Sơn Trà, Đà Nẵng).

Vừa xong ca trực chốt kiểm soát phòng, chống dịch COVID-19, trở về đơn vị, Thiếu tá Đặng Thanh Tuấn (sinh năm 1979) và Thượng sỹ Võ Văn Toàn (sinh năm 1997) đang ăn dở bát mỳ vội bỏ bữa nhận lệnh lên đường truy bắt tội phạm.

Khi đuổi theo đối tượng đến khu vực cầu Mân Quang (phường Thọ Quang) thì không may xảy ra va chạm giao thông. Đại úy Đặng Thanh Tuấn ra đi để lại vợ và hai con thơ. Con gái lớn học lớp 5, con trai học lớp 3, anh là trụ cột kinh tế chính của gia đình. Còn Thượng sỹ Võ Văn Toàn hy sinh khi tuổi xuân còn đang phơi phới, để lại niềm tiếc thương cho gia đình, đồng đội.

Nhân lên những hình ảnh đẹp

Là người trực tiếp làm việc và tiếp xúc với dân, lực lượng Cảnh sát giao thông được coi là “mặt tiền của mặt tiền.” Chính vì thế cần phải giữ hình ảnh đẹp trong mắt nhân dân.

Tâm niệm điều đó, toàn lực lượng luôn quan tâm đến việc xây dựng lễ tiết, tác phong, văn hóa ứng xử. Những hình ảnh đẹp đang ngày càng xuất hiện nhiều lên, nhân ra rộng hơn.

 Trung úy Nguyễn Đắc Đông đưa thí sinh tới điểm làm thủ tục (Ảnh: PV/Vietnam+)
 Trung úy Nguyễn Đắc Đông đưa thí sinh tới điểm làm thủ tục (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông vừa qua, không khó để nhận ra “sắc nắng” trên mỗi ngả đường, mỗi điểm thi. Dù nắng, dù nóng, dù dịch COVID-19 vẫn đang rình rập đâu đó, nhưng các đoàn viên thanh niên Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Giang… vẫn nhiệt tình đứng phát nước uống miễn phí cho thí sinh và người nhà thí sinh.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, 21 điểm thi đều có mặt các tổ Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ, đảm bảo cho thí sinh một kỳ thi an toàn khi dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp.

Các đoàn viên thanh niên thuộc Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt tình nguyện đồng hành cùng thí sinh trong suốt kỳ thi với nhiều hành động thiết thực như: tặng nước suối, bút, thước, nước rửa tay sát khuẩn, khẩu trang… cho thí sinh.

Để mỗi thí sinh đến điểm thi an toàn, đúng giờ, ngay từ sáng sớm, lực lượng Cảnh sát giao thông đã tỏa ra các tuyến đường trung tâm làm nhiệm vụ điều tiết giao thông.

Hình ảnh Thượng úy Huỳnh Phước Hoàng, cán bộ Cảnh sát giao thông Công an thành phố Quảng Ngãi sử dụng xe chuyên dụng chở thí sinh về nhà lấy thẻ và đến điểm thi an toàn hay Đại úy Nguyễn Anh Tú, cán bộ Đội Cảnh sát giao thông Bến Thành (Thành phố Hồ Chí Minh) nhường áo mưa cho thí sinh dự thi tốt nghiệp Trung học phổ thông, sau đó dùng xe chuyên dụng đưa thí sinh này đến điểm thi trong cơn mưa tầm tã khiến nhiều người cảm kích.

Đại úy Nguyễn Anh Tú cũng chính là người dùng xe môtô đặc chủng chở người phụ nữ và con của chị đến bệnh viện cấp cứu, khi cháu bé ho rũ rượi, có biểu hiện tím tái.

Bên cạnh đó, hàng ngày vẫn có biết bao hình ảnh đẹp, đầy xúc động như cán bộ, chiến sỹ Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh chạy đua với thời gian, vượt qua quãng đường gần 10km từ sân bay Tân Sơn Nhất đến Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố để hỗ trợ đưa lá gan đến Bệnh viện nhanh chóng, an toàn, giúp các bác sỹ có đủ thời gian “vàng” thực hiện ghép gan thành công cho bệnh nhân; tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Hà Nam đưa cô gái bị lạc về với gia đình; Cảnh sát giao thông tỉnh Đắk Nông lấp “ổ gà,” điểm sụt lún trên Quốc lộ 14, Cảnh sát giao thông Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng cưa cây, dọn dẹp đường sau bão số 5.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban Chính phủ điện tử quốc gia và các đại biểu trải nghiệm dịch vụ công quốc gia qua việc bấm biển số tại Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban Chính phủ điện tử quốc gia và các đại biểu trải nghiệm dịch vụ công quốc gia qua việc bấm biển số tại Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Hướng đến gần dân, sát hơn, vì dân hơn, thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công an là lực lượng Cảnh sát giao thông phải thực hiện đi đầu trong thực hiện công nghệ số, Cục Cảnh sát giao thông đã tích cực triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, tích hợp dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, giúp giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời từng bước hoàn thiện Chính phủ điện tử, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, mang lại lợi ích thiết thực cho cả người dân và cơ quan nhà nước.

Theo Đại tá Đỗ Thanh Bình, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, tính đến ngày 9/9, Cục đã đưa lên Cổng Dịch vụ công quốc gia 79.148 quyết định xử phạt, trong đó, có 25.698 trường hợp cung cấp điện thoại cho cơ quan chức năng và đã nhận được tin nhắn về số quyết định xử phạt để thực hiện việc nộp phạt. Có 1.599 trường hợp nộp phạt qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Mới đây, dịch vụ công thứ 1.000 là kê khai, nộp lệ phí trước bạ mức độ 4 và cấp đăng ký, biển số xe mức độ 3 (thí điểm đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) đã được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, giúp người dân, doanh nghiệp hoàn toàn có thể ngồi tại nhà để khai, nộp lệ phí trước bạ; đồng thời chỉ cần đến cơ quan công an một lần để bấm biển số và lấy biển số, giấy chứng nhận đăng ký xe.

Theo số liệu tổng hợp của Cảnh sát giao thông, khi triển khai toàn quốc, dịch vụ này sẽ phục vụ khoảng 4 triệu trường hợp đăng ký xe trong một năm. Với việc áp dụng thí điểm tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, ước tính chi phí tiết kiệm được của xã hội tối thiểu hơn 327 tỷ đồng/năm./.

Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

奥黛—与越南妇女       形象息息相连的                文化象征

很久以前,奥黛已成为与越南妇女形象息息相连的文化象征。经历过许多发展时期,奥黛一直在不断改进,但仍维持传统性,为弘扬越南妇女优雅温柔之美作出贡献。 奥黛通常使用丝绸等软性布料来制作,上衣是一件长衫,胸袖剪裁非常合身,突显女性玲珑有致的曲线,而两侧开高叉至腰部,走路时前后两片裙摆随风飘逸,下半身配上一条喇叭筒的长裤,因此无论日常生活的行、住、坐、卧都很方便,我们常常看到越南街头骑自行车和摩托车的奥黛少女都是穿着这样的衣裳。

奥黛已成为与越南妇女形象息息相连的文化象征。图自越通社
奥黛已成为与越南妇女形象息息相连的文化象征。图自越通社

奥黛–越南灵魂、越南文化

尽管尚有将奥黛规定为国服的正式文件,但有史以来,越南人和国际友人一向将传统服装–奥黛视为越南民族文化精髓的象征。

在越南,奥黛被使用在许多重要活动,如家庭、办公室、社会、外交、艺术表演活动、文化节日、传统春节等场合。

与世界多国的传统服装不同,越南妇女不需要花很长时间来穿上奥黛,奥黛即简单、整齐,身穿奥黛的妇女又显得十分妖娆。

可能正因为如此,越南传统奥黛自然而然地成为了越南妇女日常生活中的服饰。经过研究过程,奥黛被视为越南人的骄傲,是因为不是哪一个民族都有这种即藏匿又性感的服装。

如果韩国有韩服、日本有和服、苏格兰有方格裙等,那么越南就以窈窕的传统奥黛而闻名。“奥黛”这个词已被收入牛津词典,并被释义为越南妇女的服装,同时具体的描述了其设计。

因此,除了与越南生活方方面面密切相连,奥黛还成为越南旅游宣传推广工作的“桥梁”、“使者”。来到越南时,国际游客,尤其是女性游客都将奥黛选为独特且颇具特色的纪念品。

奥黛现已不再是一种普通的消费品,而且还成为带有越南浓郁民族特色的产品,成为越南妇女的象征。

越南奥黛的历史

迄今,尚未确定越南奥黛的起源,但根据越南民族的辉煌历史,各研究家作出的结论强调,这套国服于数千年前就已经出现。交领服装是越南奥黛最古老的形象,达约于1744年出现。这时候,奥黛尺寸大、用4块布料缝制、长至脚后跟、侧面开叉、袖子长、手袖宽。奥黛与黑色裙子结合,外面使用棉布腰带。进入第十七世纪,为了给工作和生活带来方便,交领奥黛的设计减缩为四身袄,符合于农民的生活和工作条件。进入第十九世纪,五身袄出现,旨在将贵族阶层和农民阶层区别开来。

 资料图:昔日的奥黛
 资料图:昔日的奥黛

到第二十世纪,Lemur奥黛诞生。1930年代,当时最有名的设计师同时也是作家的阮吉祥从巴黎时装获得灵感,设计了一系列明亮色系、肩膀打折、圆型低领、马甲剪裁等具有浓厚法式风格的奥黛,同时也使用垫肩、袖套、蕾丝、流苏等欧式配件。而另一位设计师LePho也延续这种剪裁合身的风格,奠定了现代越南奥黛的基本样式。

Lemur奥黛。图自Vietnam+
Lemur奥黛。图自Vietnam+

1950年代,越南这两位服装设计师将领口到腋下这部分改采45度的插肩袖设计,可避免手臂活动时产生的绉折,同时也在长裤部分做了贴臀、宽管的斜边剪裁设计,直到今天仍被继续沿用。

1954年之后,南北越进入分裂时期,越南南方受到美国文化的影响,开始出现无领的奥黛。

直到1986越南“革新开放”以后,越南政府开始重新提倡奥黛,奥黛因此才再度流行起来,并成为女性公务人员、旅馆接待、新闻主播、航空公司空姐以及高中女生的标准制服。越南政府鼓励妇女在正式场合穿着国服。例如,春节时普遍穿红色的,丧礼穿黑色,婚礼以粉色为最佳。大中院校的女子校服定为白色国服,以象征少女的纯洁(所以在胡志明市街道上,时有遇到穿着传统服装的竟然都是女学生,一到上学或放学的时间,街道上成群的白色“奥黛”晃动着,十分醒目)而在她们结业典礼时则可换上色彩鲜艳的国服意味着她们的成熟,和和服有些相似。越南航空公司空姐的工作服也被设计成“奥黛”的样式。一般情况下,中年妇女穿深色国服较合适,少女则为浅色或白色为主。

奥黛节。图自越通社
奥黛节。图自越通社

推崇越南奥黛之美

每逢顺化文化节之际,不得不提到带有浓郁的顺化文化特色–奥黛节,为顺化文化节的成功作出巨大贡献。来到奥黛节,游客将有机会欣赏越南著名设计师的奥黛集锦。在奥黛节期间,游客有机会欣赏顺化妇女乃至越南全国妇女的奥黛之美。

通过奥黛,顺化文化得到广泛地宣传,顺化女子的美丽优雅也得到推崇。

身穿奥黛的外籍模特
身穿奥黛的外籍模特

承天顺化省面向“奥黛之都”建设目标

面向“顺化–越南奥黛之都”建设目标,承天顺化省举行许多活动,意在保护与推介顺化市奥黛乃至越南传统奥黛之美。

为了弘扬奥黛传统文化价值,承天顺化省曾经举行许多活动,传播顺化文化和传统奥黛之美。承天顺化省文化体育厅厅长潘青海认为,身穿奥黛有助于发挥顺化传统奥黛乃至越南奥黛的文化价值,面向恢复与发展“顺化–越南奥黛之都”的品牌。

奥黛已成为与越南妇女形象息息相连的文化象征。图自越通社
奥黛已成为与越南妇女形象息息相连的文化象征。图自越通社

目前,承天顺化省文化体育厅为顺化奥黛节做出积极准备。按计划,顺化奥黛节在越南成功控制新冠肺炎疫情后举行,旨在保护与弘扬顺化文化特色,同时也是该省制定“顺化–越南奥黛之都”提案的重要前提。(完)

Áo dài: Biểu tượng văn hóa gắn với hình tượng phụ nữ Việt Nam

Đã từ lâu, áo dài là một biểu tượng văn hóa gắn liền với hình tượng phụ nữ Việt Nam. Qua nhiều thời kỳ phát triển, tà áo dài không ngừng biến đổi nhưng vẫn đảm bảo tính truyền thống, góp phần tôn lên vẻ đẹp thanh lịch, dịu dàng của những người phụ nữ Việt.

Tâm hồn Việt, văn hóa Việt

“Dù ở đâu – Paris, London hay những miền xa/Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố/Sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó, em ơi…” Không ngẫu nhiên mà lời bài hát “Một thoáng quê hương” của nhạc sỹ Từ Huy-Thanh Tùng trở thành âm điệu quen thuộc với đông đảo người Việt Nam.

Vượt qua giá trị của chính mình trong vai trò một sản phẩm tiêu dùng, chiếc áo dài đã đạt đến một vai trò quan trọng hơn đó là một sản phẩm văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc, là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam.

Bởi vì, cả trăm năm qua, áo dài đã từ đời sống đi vào nghệ thuật điện ảnh, âm nhạc, hội họa… thậm chí trở thành một biểu tượng, một phần tâm hồn người Việt trên chính quê hương hay ở khắp thế giới.

Nếu như Hàn Quốc có Hanbok, Nhật Bản có Kimono, Scotland có váy Kilt… thì Việt Nam được biết đến với tà áo dài duyên dáng. Từ “Áo dài” đã được đưa nguyên bản vào từ điển Oxford. và được giải thích là một loại trang phục của phụ nữ Việt Nam với thiết kế hai tà áo trước và sau dài chấm mắt cá chân che bên ngoài chiếc quần dài.

Góc trưng bày “Áo dài năm thân” đầu thế kỷ 19. (Ảnh: Nguyễn Luân/Báo ảnh Việt Nam)

Góc trưng bày “Áo dài năm thân” đầu thế kỷ 19. (Ảnh: Nguyễn Luân/Báo ảnh Việt Nam)

Miêu tả về tà áo dài Việt Nam, nhà thơ Đinh Vũ Ngọc đã có những câu thơ rất đẹp:

“Chiếc áo quê hương dáng thướt thaNon sông gấm vóc mở đôi tàTà bên Đông Hải lung linh sóngTà phía Trường Sơn rực rỡ hoa/Vạt rộng Nam phần chao cánh gióVòng eo Trung bộ thắt lưng ngàNhịp tim Hà Nội nhô gò ngựcHương lúa ba miền thơm thịt da.”

Tuy chưa có văn bản chính thức nào quy định áo dài là quốc phục, nhưng từ xưa đến nay, trong tâm thức người Việt Nam và trong mắt bạn bè quốc tế thì tà áo dài truyền thống được xem là một biểu tượng chứa đựng tinh hoa-văn hoá của dân tộc Việt.

Áo dài được sử dụng trong nhiều sự kiện, từ những nghi lễ trang trọng trong gia đình, công sở, xã hội, ngoại giao… cho đến biểu diễn nghệ thuật, ứng dụng hằng ngày, nhất là vào dịp lễ hội, Tết cổ truyền; trình diễn trong các kỳ festival, tuần lễ thời trang, thi hoa hậu, người đẹp trong và ngoài nước…

Khác với những trang phục truyền thống của nhiều nước trên thế giới, mặc áo dài, phụ nữ Việt không cần tốn nhiều thời gian, lại đơn giản, gọn gàng, duyên dáng mà thanh lịch.

Những mẫu trang phục gìn giữ được vẻ đẹp của chiếc áo dài truyền thống Việt Nam. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)
Những mẫu trang phục gìn giữ được vẻ đẹp của chiếc áo dài truyền thống Việt Nam. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)


Có lẽ chính vì vậy mà áo dài – trang phục truyền thống đã “len lỏi” vào cuộc sống hằng ngày của phụ nữ Việt một cách tự nhiên và dễ dàng. Qua nhiều nghiên cứu, chiếc áo dài được khẳng định chính là một niềm kiêu hãnh của người Việt Nam, bởi không phải dân tộc nào cũng có trang phục mang vẻ đẹp vừa kín đáo, vừa duyên dáng, gợi cảm như vậy.

Vì lẽ đó, ngoài việc gắn liền với sự phát triển của đời sống xã hội, áo dài còn là “cầu nối,” là “sứ giả” trong việc quảng bá du lịch Việt. Khách du lịch khi đến Việt Nam, nhất là các nữ du khách thường chọn áo dài như món quà lưu niệm độc đáo, đặc sắc.

Trong những năm gần đây, bằng sự nỗ lực, tinh thần tự hào dân tộc, nhiều nhà thiết kế đã đem đến cho chiếc áo dài những vẻ đẹp mới lạ. Nhà thiết kế Minh Hạnh, Sĩ Hoàng, Võ Việt Chung… là những người đã góp phần làm rạng rỡ thêm tên tuổi trang phục áo dài trên làng thời trang khu vực và quốc tế.

Vượt qua giá trị của chính mình trong vai trò một sản phẩm tiêu dùng, chiếc áo dài đã đạt đến một vai trò quan trọng hơn đó là một sản phẩm văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc, là biểu tượng của phụ nữ Việt Nam.

Lịch sử áo dài Việt Nam

Cho đến nay vẫn chưa xác định rõ nguồn gốc của chiếc áo dài Việt Nam đã được bắt đầu chính xác từ đâu nhưng dựa trên bối cảnh lịch sử hào hùng của dân tộc, các nhà nghiên cứu đưa ra một kết luận thống nhất chung khẳng định bộ quốc phục này đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm.

Hình ảnh cổ xưa nhất của áo dài được biết đến là áo Giao lĩnh (khoảng năm 1744). Ở giai đoạn này đất nước được trị vì bởi chúa Nguyễn Phúc Khoát ở phía Nam, còn phía Bắc là chúa Trịnh.

Để có được một chiếc ào dài mang đậm nét văn hóa đặc trưng như ngày nay, bộ trang phục này đã phải trải qua nhiều giai đoạn biến thể khác nhau.

Hình ảnh cổ xưa nhất của áo dài được biết đến là áo Giao lĩnh (khoảng năm 1744). Ở giai đoạn này đất nước được trị vì bởi chúa Nguyễn Phúc Khoát ở phía Nam, còn phía Bắc là chúa Trịnh.

Một mẫu thiết kế áo dài của nhà thiết kế Viết Bảo tại Festival Huế 2019. (Nguồn: baothuathienhue.vn)
Một mẫu thiết kế áo dài của nhà thiết kế Viết Bảo tại Festival Huế 2019. (Nguồn: baothuathienhue.vn)

Lúc này, áo có kích thước rộng, thân áo được may bằng 4 tấm vải, dài chấm gót chân, xẻ 2 bên hông, phần tay áo dài, cổ tay rộng. Áo mặc cùng váy đen bên trong và thắt lưng vải bên ngoài.

Theo ông Phan Thanh Hải Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên-Huế, chúa Nguyễn Phúc Khoát là người có công rất lớn để có được chiếc áo dài, vị thế áo dài như ngày hôm nay.

Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã chủ trương cải tổ triều phục, cải cách trang phục dân gian xứ Đàng Trong, đưa áo dài trở thành trang phục chính thức.

Đến thế kỷ 17, để thuận tiện hơn trong công việc làm đồng và buôn bán, chiếc áo Giao lãnh được thiết kế gọn lại thành kiểu áo tứ thân, trong đó vạt trước được xẻ rời thành 2 vạt, người mặc có thể buộc 2 vạt này lại với nhau ở phía trước bụng. Áo tứ thân thường có màu tối vì trang phục này được sử dụng phổ biến ở tầng lớp nông dân – những người lao động quanh năm với ruộng đồng.

 Các mẫu áo dài thời xưa.(Ảnh tư liệu: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên-Huế)
 Các mẫu áo dài thời xưa.(Ảnh tư liệu: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên-Huế)

Thế kỷ 19, áo dài ngũ thân được ra đời nhằm tạo ra sự cách biệt giữa tầng lớp quý tộc sang trọng và tầng lớp nông dân. Dựa trên cơ sở áo tứ thân, phần thân vạt trước của áo dài ngũ thân được bổ sung thêm một vạt áo như lớp lót kín đáo chính là vạt áo thứ 5. Kiểu áo này được may theo phom rộng, có cổ và rất thịnh hành đến đầu thế kỷ 20.

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, áo dài Lemur được ra đời bởi bàn tay sáng tạo của họa sĩ Cát Tường. Áo được may ôm sát cơ thể, chỉ có hai vạt trước và sau, vạt trước dài chấm đất. Nhằm tạo điểm nhấn, chiếc áo dài Lemur được Âu hóa với phần áo có thắt eo, dáng tay phồng, cổ áo khoét hình trái tim…

Có lẽ vì lý do này nên áo dài Lemur vấp phải sự phản đối của dư luận cho rằng kiểu áo này bị lai Tây, không đúng đắn, không phù hợp phong tục tập quán Việt Nam thời bấy giờ.

Đến thời áo dài Lê Phổ, dưới bàn tay khéo léo của nhà thiết kế cùng tên, bà đã thu gọn kích thước áo dài để ôm vừa vặn thân hình người phụ nữ Việt Nam, đẩy cầu vai, kéo dài tà áo chạm đất và đem đến nhiều màu sắc mới mẻ. Nói cách khác, bà khiến nó trở nên gợi cảm, tinh tế và thu hút hơn. Đây là chiếc ào dài nhận về khá nhiều sự khen ngợi và được sử dụng qua nhiều thời kỳ.

Giới thiệu áo dài Lemur tại Lễ thành lập Viện nghiên cứu Trang phục Việt tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: Vietnam+)
Giới thiệu áo dài Lemur tại Lễ thành lập Viện nghiên cứu Trang phục Việt tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: Vietnam+)

Đến những năm 1960, áo dài Raglan (còn gọi là áo dài giắc lăng) ra đời do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn sáng tạo ra. Điểm khác biệt lớn nhất của áo dài Raglan là áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo xuống một góc 45 độ giúp người mặc thoải mái linh hoạt hơn. Hai tà nối với nhau bằng hàng nút bấm bên hông. Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong cách cho áo dài Việt Nam sau này.

Đến nay, áo dài Việt Nam có sự biến đổi với nhiều kiểu dáng, chất liệu từ hiện đại đến phá cách. Nhưng dù thế nào thì chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt vẫn giữ được nét uyển chuyển, gợi cảm, kín đáo mà không trang phục nào có được.

Tôn vinh áo dài Việt

Trong các kỳ festival Huế, không thể không nhắc đến lễ hội áo dài – một trong những chương trình chính thức, mang đậm chất văn hóa Huế, đã góp phần làm phong phú và đa dạng chương trình lễ hội cũng như sự thành công của sự kiện.

Trình diễn áo dài tại Festival Huế 2018. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)
Trình diễn áo dài tại Festival Huế 2018. (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Đến với lễ hội áo dài, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các bộ sưu tập áo dài của các nhà thiết kế nổi tiếng. Ở đó, tà áo dài của người phụ nữ Huế nói riêng và áo dài Việt Nam nói chung được biến hóa qua bàn tay tài năng của người nghệ sỹ để trở thành những bộ sưu tập mang dáng vẻ cổ kính đến hiện đại trên các chất liệu vô cùng phong phú và đa dạng.

Nổi bật là bộ sưu tập “Trở lại thiên đường” của Nhà thiết kế Minh Hạnh tại Festival Huế 2004 được thể hiện bằng màu sắc của nghệ thuật Pháp Lam đã làm nổi bật nét đẹp kiêu kỳ và sang trọng vốn có của người con gái Huế kết hợp độc đáo với cảm giác xưa cũ trên nền rêu phong của đền đài lăng tẩm.

Năm 2016, với chủ đề “Màu thời gian,” 10 nhà thiết kế nổi tiếng như Hoài Sang với cảm hứng từ gốm men lam, Anh Vũ là những hoa văn trên cửu đỉnh, Việt Hà với hoa mai cách điệu trên gốm kỷ hà, Hồng Dung với những họa tiết trên các bông gió gốm, Thương Huyền là ấn tượng sen… đã đưa ra trình diễn hơn 300 bộ áo dài với những chủ đề rất riêng, ghi lại những hình ảnh tinh túy nhất của cố đô Huế…

Trong festival Huế 2018, lễ hội áo dài với chủ đề “Huế vàng son” là sự hòa quyện, gắn kết văn hóa, đưa khán giả quay ngược thời gian để tìm về lịch sử hình thành và phát triển của tà áo dài Việt Nam nói chung và tà áo dài truyền thống Huế nói riêng.

Các nghệ sỹ đã sáng tạo ra những bộ sưu tập áo dài được ví như tác phẩm hội họa đầy màu sắc, làm nổi bật văn hóa truyền thống Huế, đậm chất cung đình qua các thời kỳ.

Các người mẫu ngoại quốc trong trang phục áo dài cách tân Việt Nam. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)
Các người mẫu ngoại quốc trong trang phục áo dài cách tân Việt Nam. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)


Hiện nay, áo dài Huế đã trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo, tạo nét duyên dáng và kín khiến bất cứ ai ngắm nhìn cũng phải nao lòng. Những chiếc áo dài được cắt may, thêu thùa tinh tế và sắc sảo bởi đôi tay tài hoa của người thợ xứ Huế đã để lại bao ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách trong và ngoài nước, góp phần bảo tồn và phát huy một nét văn hóa đặc sắc, quý giá của dân tộc.

Qua áo dài, văn hóa Huế được quảng bá rộng rãi và hiệu quả đến với du khách trong nước và quốc tế, đồng thời, tôn vinh nét đẹp dịu dàng của người mang trên mình chiếc áo dài Huế.

Thừa Thiên-Huế hướng đến Kinh đô Áo dài

Hướng đến xây dựng “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam,” tỉnh Thừa Thiên- Huế đã tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện nhằm bảo tồn, quảng bá cho áo dài truyền thống Việt Nam nói chung và áo dài xứ Huế nói riêng.

Những mẫu áo dài cách tân tại buổi trình diễn. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)
Những mẫu áo dài cách tân tại buổi trình diễn. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)


Đối với mỗi người dân xứ Huế, chiếc áo dài luôn được coi là trang phục truyền thống không thể thiếu từ xưa đến nay. Đối với nữ, áo dài là trang phục tôn vinh vẻ kín đáo, dịu dàng làm toát lên nét duyên dáng, thanh lịch của người con gái Huế, áo dài nam là trang phục mang nét trang trọng, nghiêm cẩn tạo nên tâm hồn, tính cách của người đàn ông.

Hướng đến xây dựng “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam,” tỉnh Thừa Thiên- Huế đã tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện nhằm bảo tồn, quảng bá cho áo dài truyền thống Việt Nam nói chung và áo dài xứ Huế nói riêng.

Nhằm đẩy mạnh và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của áo dài, Thừa Thiên-Huế từng phát động nhiều chương trình, hoạt động để lan tỏa nét đẹp văn hóa Huế qua trang phục áo dài truyền thống.

Từ năm 2018, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế đã ban hành Quyết định số 48/2018/QĐ-UBND quy định về Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh, trong đó có quy định: “Cán bộ, công chức, viên chức nữ các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh mặc Bộ áo dài truyền thống vào ngày thứ Hai hàng tuần.”

Bên cạnh đó, Thừa Thiên-Huế còn tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị bảo tồn và phát triển áo dài truyền thống; tổ chức hành hương tri ân chúa Nguyễn Phúc Khoát và vua Minh Mạng – những người được xem là sáng tạo và phát triển áo dài Việt.

Đoàn hành lễ tri ân Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát.(Ảnh: Mai Trang/TTXVN)
Đoàn hành lễ tri ân Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát.(Ảnh: Mai Trang/TTXVN)

Tỉnh vận động cán bộ công sở, giáo viên, học sinh, sinh viên toàn tỉnh cùng mặc áo dài ít nhất 2 ngày/tuần; miễn phí vé tham quan di sản Huế đối với phụ nữ mặc áo dài truyền thống dịp lễ… Nhờ vậy, nét đẹp về hình ảnh áo dài truyền thống của nữ giới lan tỏa, tạo ra hiệu ứng, quảng bá văn hóa cho vùng đất Cố đô.

Không chỉ tôn vinh, quảng bá nét đẹp áo dài của người phụ nữ, Thừa Thiên-Huế đang xây dựng lại nét đẹp văn hóa truyền thống từ áo dài ngũ thân dành cho nam giới.

Từ đầu tháng 9, Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên-Huế đã triển khai thí điểm cho toàn thể cán bộ công chức, người lao động khối văn phòng mặc áo dài trong lễ chào cờ tập trung kết hợp giao ban đơn vị vào ngày thứ Hai đầu tiên của mỗi tháng.

Theo đó, nữ chọn áo dài màu tím đặc trưng, có họa tiết hoa sen làm nổi bật nét duyên dáng, nhẹ nhàng. Các cán bộ nam may áo dài ngũ thân truyền thống, với tông nền áo màu xanh đậm, quần trắng rất trang nhã, lịch thiệp.

Quang cảnh hội thảo khoa học “Huế - Kinh đô Áo dài Việt Nam” 
Quang cảnh hội thảo khoa học “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam” 

Đây là những tín hiệu đáng mừng đánh dấu sự trở lại của chiếc áo dài truyền thống, đặc biệt là áo ngũ thân, chiếc áo sản sinh ra từ Huế và đã trở thành quốc phục của người Việt trong hàng trăm năm qua.

Sau khi triển khai thí điểm việc nam công chức mặc áo dài ngũ thân đến công sở, bên cạnh nhiều phản ứng tích cực từ dư luận, cũng xuất hiện những ý kiến trái chiều cho rằng “tốn kém” và “không phù hợp.”

Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên-Huế Phan Thanh Hải cho rằng việc mặc áo dài nhằm đẩy mạnh và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của chiếc áo dài Việt Nam nói chung và áo dài truyền thống Huế nói riêng, trong đó trọng tâm là chiếc áo dài ngũ thân nam. Mục đích hướng đến phục hồi, phát triển thương hiệu “Huế – kinh đô áo dài Việt Nam.”

Đây là hành động thiết thực trong bối cảnh Thừa Thiên- Huế triển khai thực hiện Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên- Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu xây dựng Cố đô Huế thành một đô thị di sản đặc thù, thành phố trực thuộc Trung ương trên nền tảng của văn hóa, di sản và bản sắc vùng đất Huế.

Trước những ý kiến phản hồi của dư luận, Sở sẽ tiếp thu để có những điều chỉnh phù hợp nhằm triển khai chủ trương này tốt hơn.

Theo Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, áo dài là một nét đặc trưng của văn hóa Huế. Trong thập niên 1990 trở lại đây, cùng với sự đổi mới của đất nước, áo dài đã dần hồi sinh với diện mạo mới. Áo dài nữ được khôi phục, lan tỏa rộng khắp nhưng áo dài truyền thống nam giới lại chưa được quan tâm đúng mực. Vì vậy, việc cán bộ Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên-Huế mặc áo dài truyền thống, nam mặc áo dài ngũ thân đi làm vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng là đáng khuyến khích. Thiết kế và màu sắc bộ áo dài ngũ thân của nam cán bộ ngành văn hóa khá chuẩn, rất lịch sự, nhã nhặn, sang trọng, phù hợp với công việc của ngành.

Vẻ đẹp thướt tha, dịu dàng và nữ tính của áo dài đã trở thành trang phục mang đậm dấu ấn thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Vẻ đẹp thướt tha, dịu dàng và nữ tính của áo dài đã trở thành trang phục mang đậm dấu ấn thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)

Đáng chú ý, việc quảng bá áo dài ngũ thân được lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên- Huế dành sự quan tâm đặc biệt. Điển hình, là quyết định của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên- Huế Phan Ngọc Thọ trong việc tiên phong nêu gương, mặc áo dài ngũ thân truyền thống trong các nghi thức ngoại giao, góp phần xây dựng hình ảnh rất đẹp và độc đáo về cố đô Huế, quê hương của áo dài ngũ thân.

Với riêng xứ Huế, áo dài mang theo một quá khứ vàng son, trở thành một trong những nét văn hóa truyền thống, biểu tượng của vùng đất kinh kỳ. Hình ảnh chiếc áo dài xứ Huế trở thành hình ảnh gắn bó với đời thường và trong các dịp lễ hội.

Những lễ hội áo dài gắn với Festival Huế và Festival Nghề truyền thống Huế bắt đầu từ năm 2000 đến nay, đã đánh thức vẻ đẹp kiêu sa, đài các của áo dài Việt nói chung và tà áo dài truyền thống Huế nói riêng.

Huế cũng là vùng đất có nhiều nghệ nhân may áo dài, cùng đội ngũ thợ may chuyên nghiệp, nổi tiếng, tài hoa đã tạo ra những sản phẩm áo dài tinh tế, sắc sảo, góp thêm những món quà lưu niệm độc đáo cho những ai mỗi lần đến Huế. Những chiếc áo dài đã góp phần quảng bá văn hóa Huế đến với du khách trong nước và quốc tế.

Những mẫu áo dài cách tân nam tại buổi trình diễn. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)
Những mẫu áo dài cách tân nam tại buổi trình diễn. (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)


Hiện nay, Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên-Huế đang tích cực triển khai nhiều hoạt động để chuẩn bị tổ chức Ngày hội Áo dài Huế. Theo kế hoạch, Ngày hội Áo dài Huế gồm 4 chuỗi sự kiện chính: Tri ân tiền nhân, Áo dài và di sản nghệ thuật, Áo dài nghệ thuật và Áo dài cộng đồng. Trong đó, chương trình Tri ân tiền nhân chúa Nguyễn Phúc Khoát và vua Minh Mạng, nhằm ghi nhớ người đã xây dựng và cải tổ triều phục, cải cách trang phục dân gian Đàng Trong, từ đó hình thành và phát huy giá trị áo dài Việt.

Chương trình Áo dài và di sản sẽ trình diễn các bộ sưu tập thời trang áo dài kết hợp những tiết mục ca nhạc, múa, hát tại di sản Huế; cùng với các yếu tố kiến trúc cảnh quan qua sự sắp đặt hoa, cây xanh; sắp đặt đuốc lửa, lồng đen tạo hiệu ứng ban đêm, tạo nên không gian nghệ thuật lung linh huyền ảo, tôn vinh vẻ đẹp áo dài và di sản Huế.

Phần Áo dài nghệ thuật sẽ là hoạt động “đinh” gồm 3 chương trình trình diễn các bộ sưu tập thời trang với chủ đề “Ký ức trường xưa,” “Vọng kinh kỳ” và “Huế luôn luôn mới.”

Các chương trình trình diễn nghệ thuật Áo dài được xây dựng kịch bản và tổ chức chuyên nghiệp, hướng đến mục tiêu nâng tầm thương hiệu Áo dài Huế, trở thành dịch vụ văn hóa du lịch đặc sắc. Chương trình Áo dài cộng đồng nhằm lan tỏa nét đẹp của áo dài truyền thống trong đời sống cộng đồng dân cư địa phương.

Dự kiến, Ngày hội Áo dài Huế sẽ thực hiện sau khi Việt Nam khống chế thành công đại dịch COVID-19 nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Huế, đồng thời cũng là cơ sở để tiến tới xây dựng đề án “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam”./.

Trình diễn áo dài trong khuôn khổ Lễ hội Áo dài Thành phố Hồ Chí Minh lần 3 năm 2016. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)
Trình diễn áo dài trong khuôn khổ Lễ hội Áo dài Thành phố Hồ Chí Minh lần 3 năm 2016. (Ảnh: Phương Vy/TTXVN)

Tình người trong cơn “lốc xoáy”: Những mệnh lệnh từ trái tim

Thở phào nhẹ nhõm sau những ngày cách ly tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, anh Vi Đ. Minh (Hà Tĩnh) không giấu nổi niềm xúc động kể anh cũng như nhiều đồng nghiệp làm việc tại Guinea Xích đạo thời điểm chưa về nước thực sự đã phải bật khóc vì không biết có thể sống tiếp hay không.

Bản thân anh trước khi về nước, kết quả xét nghiệm cho thấy anh mắc COVID-19 khiến mọi thứ xung quanh dường như sụp đổ, đường về nhà lại càng trở nên mờ mịt hơn bao giờ hết…, nhất là trong bối cảnh ở nước sở tại, dịch bệnh đang bùng phát mạnh mẽ.

Thế nhưng, nỗi lo lắng đã được giải tỏa đối với anh Minh và những người lao động xa quê ở Guinea Xích đạo khi được thông báo có chuyến bay “giải cứu” công dân vào ngày 28/7. Niềm vui vỡ oà, đường về nhà đã được mở!

“Chúng tôi cảm thấy mình may mắn và tự hào khi được chính phủ quan tâm, tạo điều kiện để được trở về nhà,” anh Minh sung sướng nhớ lại.

Không ai bảo ai, họ nhanh chóng gói ghém đồ đạc, chờ đợi… đếm từng giờ từng phút, hướng mắt về bầu trời để chờ đón chiếc máy bay màu xanh từ Việt Nam sang đưa về Tổ quốc thân yêu…

Và rồi, chuyến bay “giải cứu” khi đó xác định có tới 50% ca bệnh dương tính với virus Sars-Cov-2 (129 người) đã trở về an toàn trong sự vỡ oà niềm hạnh phúc của 219 người con xa xứ…

“Chúng tôi cảm thấy mình may mắn, tự hào khi được chính phủ quan tâm, tạo điều kiện để trở về nhà,”(anh Vi Đ. Minh)

Và niềm hạnh phúc đó càng được nhân lên gấp bội khi anh Minh và nhiều người khác trên chuyến bay “lịch sử” đó có thể đoàn tụ gia đình sau hơn 2 tuần cách ly.

Đầu tháng Chín này, chuyến bay mang số hiệu VN409 hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất ngày 6/9 cũng thật đặc biệt khi có tới 53 “công dân nhí” là các trẻ em dưới 1 tuổi, trong tổng số 403 công dân Việt Nam vừa trở về từ Hàn Quốc. Do hoàn cảnh khó khăn, đang trong thời gian lao động tại Hàn Quốc nên ba mẹ các bé chưa thể trở về mà phải cho các bé về trước.

Công dân trở về từ Guinea Xích đạo nhận giấy ra viện trước khi trở về nhà sau thời gian cách ly. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Công dân trở về từ Guinea Xích đạo nhận giấy ra viện trước khi trở về nhà sau thời gian cách ly. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Những đứa trẻ này đã được chăm sóc đặc biệt trong khu cách ly tại Trung tâm Y tế huyện Bàu Bàng (Bình Dương), với hàng chục cán bộ y tế chuyên khoa nhi…

Đó chỉ là 2 trong số hơn 100 chuyến bay giải cứu rất đặc biệt, đầy tình người… chuyên chở tình nhân ái, sự quan tâm, đùm bọc với tinh thần không quản ngại khó khăn, vất vả của các cơ quan chức năng để đưa hơn 30.000 người Việt ở 50 quốc gia trên thế giới về nước an toàn thời gian dịch bệnh vừa qua.

Những “cánh chim” mang hy vọng

Năm 2020, đại dịch COVID-19 được xem như cơn lốc xoáy, càn quét qua hơn 220 quốc gia, không kể giàu-nghèo, nước lớn hay bé, không ngoại trừ châu lục nào… với tốc độ khủng khiếp.

Nhiều nước đóng cửa biên giới, các chuyến bay trên bầu trời trở nên hiếm hoi hơn. Nhưng trên dải đất hình chữ S, trong cơn lốc bệnh tật đang càn quét kinh hoàng ấy, tinh thần nhân văn, tình thương thân tương ái càng được thể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết.

Trên dải đất hình chữ S, trong cơn lốc bệnh tật đang càn quét kinh hoàng ấy, tinh thần nhân văn, tình thương thân tương ái càng được thể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết.

Ngày 30/3/2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để bảo đảm chiến thắng đại dịch COVID-19.

Những chuyến bay của Hàng không quốc gia Việt Nam với các phi công, tổ lái, tiếp viên… và đội ngũ y bác sỹ không quản nguy hiểm, bay đến các “tâm dịch” để đón công dân Việt Nam về nước đã thực sự trở thành niềm tự hào về tinh thần tương thân thương ái của dân tộc.

“Hôm nay là một ngày đặc biệt, tôi sẽ về đoàn tụ với gia đình sau khoảng thời gian vô cùng sóng gió,” (anh N.P.T)

Ngày 14/8, có 183/219 công dân từ Guinea Xích đạo về nước trên chuyến bay ngày 29/7, sau thời gian cách ly và có kết quả âm tính đã chính thức được trở về với gia đình.

Nhiều người tâm sự, về nước là đã sống rồi: “Chúng tôi tin tưởng và đặt hết niềm tin vào các bác sỹ Việt Nam. Hôm nay là một ngày đặc biệt, tôi sẽ về đoàn tụ với gia đình sau khoảng thời gian vô cùng sóng gió,” là một trong số những người kết thúc cách ly y tế vào ngày 14/8, anh N.P.T không giấu nổi vui mừng nói.

Anh N.P.T cho hay thời điểm đó, khi Guinea Xích đạo đã có 3.000 ca mắc COVID-19 và hơn 50 ca tử vong, những người lao động Việt Nam, trong đó có anh, cảm thấy rất bế tắc. Anh em không ai nghĩ rằng lại có được ngày hôm nay. “Xin cảm ơn mọi người vì tất cả!” anh N.P.T xúc động.

Tàu bay A350 của Vietnam Airlines tại Sân bay quốc tế Bata, Guinea Xích Đạo chuẩn bị đón lao động Việt Nam về nước. (Nguồn: TTXVN)
Tàu bay A350 của Vietnam Airlines tại Sân bay quốc tế Bata, Guinea Xích Đạo chuẩn bị đón lao động Việt Nam về nước. (Nguồn: TTXVN)

Còn anh B.V.C là một trường hợp đã được xác định nhiễm virus SARS-CoV-2 khi đang ở Guinea Xích đạo thì cho biết: “Từ khi mắc bệnh tôi đã bị sốt cao, ho, tức ngực và đôi lúc khó thở. Cũng như những bệnh nhân khác, tôi được đưa vào bệnh viện ở nước sở tại để cách ly, điều trị. Lúc vào viện, tôi rất hoang mang vì sự cách biệt về văn hóa và ngôn ngữ, nên rất khó để nói chuyện với các y, bác sỹ.”

Rất may mắn, khi trở về Việt Nam, anh C. đã có kết quả xét nghiệm RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 ngay trong lần sàng lọc đầu tiên.

Không để ai bị bỏ lại phía sau

Trước tình hình dịch COVID-19 diễn biến ngày càng phức tạp, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng chống dịch COVID-19 xác định với phương châm: “Tính mạng con người và lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết” và “Không để ai bị bỏ lại phía sau.”

Đảng, Chính phủ đã đưa ra các giải pháp phòng, chống dịch phù hợp, hiệu quả trong từng giai đoạn; quyết liệt chỉ đạo thực hiện với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt có sự đồng thuận, thực hiện nghiêm túc của người dân cả nước.

Với lời hiệu triệu “Mỗi người dân là một chiến sỹ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh” của Đảng, Chính phủ, nhân dân cả nước đã đồng tâm, đồng sức, đồng lòng chống lại đại dịch.

Trong khó khăn, những giá trị nhân văn của tinh thần “tương thân tương ái,” “lá lành đùm lá rách,” sự đoàn kết của dân tộc Việt Nam được thắp sáng bằng nhiều hình thức tạo hiệu ứng lan tỏa những điều tốt đẹp trong xã hội.

Trong khó khăn, những giá trị nhân văn của tinh thần “tương thân tương ái,” “lá lành đùm lá rách,” sự đoàn kết của dân tộc Việt Nam được thắp sáng bằng nhiều hình thức tạo hiệu ứng lan tỏa những điều tốt đẹp trong xã hội.

Đó là một Việt Nam không để ai bỏ lại phía sau với những chuyến bay giải cứu đưa công dân từ các vùng tâm dịch về nước, là những người Việt Nam nghiêm chỉnh tuân thủ chấp hành các khuyến cáo của Đảng, Chính phủ, ngành y tế…; đặc biệt, là sự tận tâm của đội ngũ y bác sỹ không quản ngại ngày đêm điều trị khỏi những ca bệnh nặng bất kể là người Việt Nam hay người nước ngoài, mà điển hình là trường hợp bệnh nhân 91 sau hơn 100 ngày điều trị tích cực đã trở về đoàn tụ với gia đình ở Anh.

Còn nhớ, khi bệnh nhân số 91, phi công người Anh trong giai đoạn nguy kịch tưởng chứng như không qua khỏi, đội ngũ y bác sỹ của Việt Nam tìm mọi cách để duy trì sự sống cho bệnh nhân.

Bệnh nhân phi công người Anh đã có 68 ngày thở máy, hầu hết trong số đó anh phải phụ thuộc vào ECMO, một hình thức hỗ trợ sự sống chỉ được dùng trong những trường hợp nghiêm trọng nhất.

Lãnh đạo Bộ Y tế trao giấy chứng nhận xuất viện và chứng nhận âm tính với virus SARS-CoV-2 cho bệnh nhân 91. (Nguồn: TTXVN)
Lãnh đạo Bộ Y tế trao giấy chứng nhận xuất viện và chứng nhận âm tính với virus SARS-CoV-2 cho bệnh nhân 91. (Nguồn: TTXVN)

Có những lúc bệnh nhân như cận kề với “cửa tử” khi 90% phổi đông đặc, phương án ghép phổi được các bác sỹ đưa ra. Ngạc nhiên thay, vì sự sống của một công dân người nước ngoài, đã có hơn 60 người Việt Nam tình nguyện đăng ký hiến phổi khi biết bệnh nhân không có người thân. Đó là những nghĩa cử cao đẹp, đầy tính nhân văn của người Việt Nam, là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần tương thân, tương ái, sự bao dung không biên giới.

Việc bệnh nhân Cameron còn sống được sau khoảng thời gian dài hôn mê và được các bác sỹ Việt Nam cứu chữa thực sự là một điều hiếm có. (Bác sỹ Manish Patel,người chịu trách nhiệm chăm sóc cho bệnh nhân phi công người Anh)

Sau khoảng 4 tháng được các bác sỹ Việt Nam tại Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) tận tình cứu chữa, Stephen Cameron – bệnh nhân mắc COVID-19 trong tình trạng nặng nhất ở Việt Nam được biết đến với cách gọi bệnh nhân 91, đã trở về quê hương Scotland, Vương quốc Anh.

Bác sỹ Manish Patel, chuyên gia tư vấn hô hấp và là người chịu trách nhiệm chăm sóc cho bệnh nhân phi công đánh giá việc bệnh nhân Cameron còn sống được sau khoảng thời gian dài hôn mê và được các bác sỹ Việt Nam cứu chữa thực sự là một điều hiếm có.

Tỏa sáng tấm lòng Việt Nam

Tinh thần chống dịch COVID-19 không chỉ dừng lại ở trong nước, mà từ Chính phủ, bộ, ngành đến các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp… đều quan tâm đến việc hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người Việt đang ở nước ngoài và ngành y tế các nước, nhất là các nước bị dịch bệnh hoành hành nặng nề như Mỹ, Italy, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nga, Ấn Độ và các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Myanmar…

Hàng nghìn tấn thiết bị y tế gồm khẩu trang, găng tay, đồ bảo hộ y tế, dung dịch sát khuẩn… đã được Chính phủ, Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Hội hữu nghị các nước và doanh nghiệp gửi tặng Chính phủ, nhân dân các nước, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Chính phủ, nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế cũng như tinh thần quốc tế cao cả.

Lòng nhân ái không giới hạn của người Việt Nam một lần nữa lại tỏa sáng, nhận được nhiều lời ca ngợi của bạn bè quốc tế.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn trao tượng trưng vật tư y tế của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và nhân dân Việt Nam gửi tặng Chính phủ,nhân dân Hoa Kỳ phòng, chống COVID-19 cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink. (Nguồn: TTXVN)
Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn trao tượng trưng vật tư y tế của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và nhân dân Việt Nam gửi tặng Chính phủ,nhân dân Hoa Kỳ phòng, chống COVID-19 cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink. (Nguồn: TTXVN)

Điều đó cho thấy trong gian khó, Đảng và Chính phủ luôn đồng hành vì dân và lo cho dân. Khi dịch COVID-19 lan rộng trên toàn cầu, người Việt ở khắp thế giới muốn trở về quê hương, dù tốn kém, khó khăn do đất nước còn nghèo, công cuộc chống dịch và phát triển kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng đất Mẹ Việt Nam vẫn dang rộng vòng tay đón họ trở về.

Với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, từ đầu tháng 4/2020 đến nay, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan triển khai được hơn 100 chuyến bay đưa hàng chục nghìn người từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ về nước an toàn.

Từ khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát, Việt Nam đã phối hợp với nhiều nước như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Singapore, Canada… tổ chức các chuyến bay đặc biệt đưa người Việt về nước, sau khi các quốc gia này dừng đường  bay thương mại để ngăn COVID-19 lây lan.

Với tinh thần quyết tâm và coi công tác bảo hộ, đưa công dân về nước trong bối cảnh đại dịch không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là “mệnh lệnh đến từ trái tim”, Bộ Ngoại giao đã chủ trì, tổ chức, tham gia nhiều cuộc họp liên ngành để cùng các bộ: Quốc phòng, Y tế, Giao thông vận tải xây dựng chi tiết các kế hoạch bay và thực hiện cách ly, giám sát y tế.

Lòng nhân ái không giới hạn của người Việt Nam một lần nữa lại tỏa sáng, nhận được nhiều lời ca ngợi của bạn bè quốc tế.

Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước, nhân nghĩa. Mỗi khi đất nước gặp khó khăn, truyền thống đó lại càng được nhân lên gấp bội. Thời gian qua, toàn dân ta đã đồng lòng, cùng chung sức với Đảng, Nhà nước ngăn ngừa và kiểm soát dịch bệnh qua các giai đoạn hiệu quả.

Thực tế đã chứng minh trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống dịch COVID-19, các ngành, các cấp, các địa phương, cả hệ thống chính trị đã đoàn kết, thống nhất triển khai quyết liệt nhiều biện pháp đồng bộ, vừa ngăn chặn, hạn chế tốc độ lây lan của dịch bệnh, vừa bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh, an toàn xã hội.

Những kết quả tích cực đó thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc, sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong cuộc chiến đấu chống đại dịch, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao./.

(Đón công dân Việt Nam và trẻ em trở về từ Hàn Quốc thực hiện cách ly y tế. (Ảnh: Phan Sáu/TTXVN)
(Đón công dân Việt Nam và trẻ em trở về từ Hàn Quốc thực hiện cách ly y tế. (Ảnh: Phan Sáu/TTXVN)

Hà Nội ‘cứ mưa là ngập’

Lời tòa soạn!

Hà Nội từng được ví như Paris của Đông Dương với những di sản từ thời Pháp thuộc gồm hệ thống biệt thự cổ, Nhà Hát Lớn và cả hệ thống… thoát nước. Trong cuốn tiểu thuyết “Những người khốn khổ” (Les Miserables) năm 1862, Victor Hugo từng viết “Có một Paris khác ở ngay phía dưới thành phố, một Paris của các cống ngầm.”

Vậy nhưng, sau nhiều thập kỷ, kể từ khi người Pháp rời đi, những thay đổi từ sức ép phát triển và việc chỉnh trang đô thị theo nhiệm kỳ đã khiến nội thành Hà Nội trở nên chật hẹp, cứ mưa đường phố lại ngập.

Vẫn biết nắng mưa là chuyện của trời, nhưng điệp khúc “cứ mưa là ngập” diễn ra với tần suất dồn dập và ngày càng nặng nề hơn khiến người dân Thủ đô ngán ngẩm, ngay cả những khu vực nằm ven hồ nước điều hòa, mưa xuống, đường phố cũng “thành sông” và tràn vào nhà thì lại có dấu hiệu không bình thường nếu xét về yếu tố địa hình…

Những thay đổi từ sức ép phát triển và việc chỉnh trang đô thị theo nhiệm kỳ đã khiến nội thành Hà Nội trở nên chật hẹp, cứ mưa đường phố lại ngập.

Đáng nói hơn, để phục vụ mục tiêu thoát nước chống ngập, cách đây 10 năm, thành phố Hà Nội đã có quy hoạch tổng thể đến năm 2030. Từ năm 1998 đến nay, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội cũng đã xin chủ trương của Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư nhiều dự án thoát nước, trong đó có 3 dự án lớn với nguồn kinh phí lên tới hơn 19.000 tỷ đồng, thế nhưng kết quả lại không tương xứng.

Trước thực trạng trên, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng Hà Nội cần phải rà soát lại hệ thống cấp thoát nước toàn thành phố và đưa ra giải pháp xử lý kịp thời, không thể để tiếp diễn mãi cảnh “quýt làm-ngân sách chịu.” Tức là chủ đầu tư, cá nhân, doanh nghiệp làm sai còn Nhà nước thì phải chạy theo giải quyết hậu quả!

Để góp một cái nhìn toàn cảnh về câu chuyện tiêu thoát nước này, Báo Điện tử VietnamPlus mời quý độc giả cùng phóng viên dạo quanh Hà Nội để tìm hiểu những điểm nghẽn bất cập trong công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án “đô thị ngầm” ngốn hàng chục nghìn tỷ đồng nhưng vẫn “thất thủ” khi trời mưa../.

Hà Nội cứ mưa to là ngập. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Hà Nội cứ mưa to là ngập. (Nguồn ảnh: TTXVN)

“Chỉ mặt” nguyên nhân khiến Hà Nội cứ mưa là… ngập

Sau 10 năm, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt “Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050,” hàng loạt tuyến đường, khu phố lại rơi vào tình cảnh “cứ mưa là ngập.” Thậm chí, có những điểm, thành phố đã phải huy động rất nhiều nguồn lực, phương tiện và chi ngân sách để “tát nước ra sông” nhưng vẫn không giảm được ngập úng…

Gánh nặng úng ngập

Đường Lý Thường Kiệt nằm cách hồ Gươm không xa và là một trong những tuyến phố chính và đắt đỏ bậc nhất quận Hoàn Kiếm. Thế nhưng, tỷ lệ nghịch với sự đắt đỏ ấy là điệp khúc buồn “cứ mưa to là ngập,” thậm chí có những thời điểm đường biến thành sông.

Minh chứng rõ thấy là từ đầu năm 2020 đến nay, trên địa bàn Hà Nội xảy ra ít nhất 4 trận mưa với cường độ từ 10 đến trên 100 mm thì đã có tới 3 trận mưa khiến khu phố Lý Thường Kiệt, Phan Bội Châu và nhiều khu phố khác bị ngập nặng.

Gần đây nhất là trận mưa xảy ra vào chiều 17/8. Theo ghi nhận của phóng viên Báo điện tử VietnamPlus, sau khoảng 30 phút kể từ khi trời mưa, hàng loạt tuyến phố tại các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng đã bị ngập quả nửa bánh xe ôtô, khiến hàng chục phương tiện giao thông chết máy. Nhiều trường hợp, người dân chở hàng cồng kềnh, con nhỏ nhưng vẫn phải xuống xe dắt bộ.

Trận mưa này xảy ra từ lúc 16 giờ 30, nhưng tới 19 giờ, những điểm ngập nặng như Lý Thường Kiệt, Phan Bội Châu… mới thoát hết nước.

Theo báo cáo mới nhất của Sở Xây dựng Hà Nội, với cường độ mưa khoảng từ 50-100 mm/2 giờ, các tuyến phố chính còn tồn tại 12 điểm úng ngập.

Có 6 điểm không giảm được úng ngập, gồm: Ngã tư Phan Bội Châu-Lý Thường Kiệt; ngã năm Đường Thành-Bát Đàn-Phùng Hưng; Cao Bá Quát; Nguyễn Khuyến; Trường Chinh; Đại lộ Thăng Long. Lý do được đưa ra là bất lợi về địa hình, xa nguồn xả…

Tuy nhiên, theo ghi nhận của phóng viên, ngoài các điểm ngập úng đã được Sở Xây dựng Hà Nội liệt vào “danh sách đen” trên, hầu hết các trận mựa có cường độ từ 50-100mm/2giờ xuất hiện từ đầu năm 2020 đến nay còn khiến hàng loạt tuyến đường khác tại các quận nội thành “biến thành sông,” nước tràn vào nhà dân.

Tuyến phố Nguyễn Gia Thiều là ví dụ điển hình. Theo phản ánh của người dân sinh sống tại đây, từ đầu năm đến nay, khu phố này đã 3 lần bị ngập. Thậm chí, một số vị trí, nước còn tràn vào tận nhà dân dù cường độ mưa không quá lớn. Thực trạng này với người dân là điều bất thường, bởi khu phố này nằm ngay bên hồ Thiền Quang rộng lớn và có trạm bơm sẵn sàng hút nước mỗi khi mưa xống.

Tại nhiều khu phố khác như Tạ Hiện, Trần Hưng Đạo, khu vực Nhà hát lớn,… gần đây cũng thường xuyên xảy ra tình trạng úng ngập. Trên bản đồ vị trí các điểm úng ngập khi mưa của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thoát nước Hà Nội, số vị trí điểm ngập cũng xuất hiện với tần suất dày hơn so với trước…

Tình trạng ngập úng sâu liên tiếp xảy ra tại phố Nguyễn Gia Thiều, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. (Ảnh: Vietnam+)
Tình trạng ngập úng sâu liên tiếp xảy ra tại phố Nguyễn Gia Thiều, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. (Ảnh: Vietnam+)

Cách làm “phá” quy luật?

Theo đánh giá của giới chuyên gia về kiến trúc xây dựng, việc Hà Nội “cứ mưa là ngập” là do thực trạng phát triển “nóng” hạ tầng đô thị không có trọng tâm, không đồng bộ và “lệch” so với hệ thống khung của toàn thành phố. Đặc biệt là sự bất thường từ việc chặt hạ cây xanh cổ thụ, chỉnh trang đô thị, thay lát vỉa hè…

Đơn cử như đường Lý Thường Kiệt, Phan Bội Châu, Kim Mã, Dương Đình Nghệ, đường Láng, Nguyễn Văn Huyên,… trước đây vỉa hè được lát bởi các loại gạch thấm nước và luôn trừ khoảng trống để đất có thể “thở,” những hàng cây xanh ven đường cũng có khoảng đất để sinh tồn, bám chắc rễ nên cây cối ít bị đổ ra đường.

Hệ quả là mỗi khi mưa, nước không được thẩm thấu được xuống đất, xối xả chảy ra đường, gây ngập úng, ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động giao thông.

Thế nhưng, gần chục năm trở lại đây, do tốc độ phát triển quá “nóng” cùng với việc chỉnh trang vỉa hè, một số hàng cây xanh dọc các đoạn đường đã bị chặt hạ, sau đó bịt hết khoảng không tự nhiên bằng đá hoa cương.

Phó giáo sư tiến sỹ Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (Mạng lưới sông ngòi Việt Nam), cho rằng: “Đây có thể nói là một cách làm thiếu tầm nhìn và đi ngược với quy hoạch, bởi Hà Nội là đô thị cổ, cứ 100m2 đô thị thì có đến 90m2 là công trình, nhà ở; chỉ có khoảng 10% là đường phố, vỉa hè, cống thoát nước.”

Với diện tích công cộng nhỏ hẹp khoảng 10m2 nêu trên, theo ông Tứ, đối với vỉa hè, Hà Nội cần dùng những loại gạch hút nước để tăng cường độ thấm, cũng như giảm đi một phần lượng nước đổ ra đường, tránh ngập úng.

“Thế nhưng, đến nay vỉa hè ở Hà Nội lát bằng đá hoa cương được mài nhẵn và bịt hết mọi khoảng không của đất thì làm sao nước thấm được? Ngập là điều khó tránh khỏi,” ông Tứ trăn trở.

Nói thêm về việc “thay áo mới” cho vỉa hè, tiến sỹ, kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội, cho rằng lát đá ở vỉa hè, đặc biệt là lát đá trên toàn khu vực phố cổ đã có từ lâu nhưng không thành công, bởi trong số hơn 1.000 tuyến phố tại Thủ đô thì mỗi tuyến phố có một đặc trưng khác nhau. Vì vậy không nên đổ đồng loạt các tuyến phố để xử lý vỉa hè.

Vì thế, các chuyên gia cho rằng chủ trương “mặc áo mới” cho vỉa hè là tốt, nhưng nếu đồng loạt xới tung trên diện rộng để lát đá tự nhiên, không đồng bộ với hạ tầng ngầm sẽ là bước đi thụt lùi.

Hoạt động chỉnh trang đô thị, lát đá bịt kín vỉa hè là một trong những nguyên nhân gây ngập úng ở nội thành Hà Nội. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Hoạt động chỉnh trang đô thị, lát đá bịt kín vỉa hè là một trong những nguyên nhân gây ngập úng ở nội thành Hà Nội. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Áp lực tiêu thoát nước

Ngoài lý do chặt hạ cây xanh, chỉnh trang đô thị, lát gạch bịt vỉa hè, một nguyên nhân khác gây cản trở việc thoát nước ở Hà Nội, được giới chuyên gia đề cập đến là việc một số hộ dân, cơ sở sản xuất tự ý xây dựng trái phép bục bệ, đường dẫn kiên cố kết nối phần vỉa hè, lòng đường để làm nơi kinh doanh cũng khá phổ biến.

Theo quy định, vỉa hè phải cao hơn mặt đường tối thiểu 10cm để đảm bảo dẫn và thoát nước, song nhiều nhà dân và các cơ sở kinh doanh đã tự ý đổ bê tông kín cả phần cống thoát nước tạo thành bục bệ, đường dẫn kết nối với vỉa hè, lòng đường.

Đơn cử, tại các tuyến phố Thái Thịnh, Chùa Bộc, Xã Đàn (quận Đống Đa), Mai Hắc Đế (Hai Bà Trưng), Tam Trinh, Kim Giang (quận Hoàng Mai),… phần lớn rãnh thoát nước trên tuyến đường đã bị các hộ kinh doanh mặt phố lấn chiếm, xây dựng bục bệ, cầu dẫn kết nối với vỉa hè để tiện cho việc đưa xe lên xuống.

Sau mỗi trận mưa việc tiêu thoát nước tại các tuyến phố nội đô nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào việc đưa nước tới miệng hố ga.

Thực trạng trên không chỉ gây mất mỹ quan mà còn làm tắc dòng chảy tiêu thoát nước. Đánh giá của Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thoát nước Hà Nội cho thấy sau mỗi trận mưa việc tiêu thoát nước tại các tuyến phố nội đô nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào việc đưa nước tới miệng hố ga. Nếu hố ga hoặc rãnh nước bị tắc sẽ khiến nước mưa dềnh lên gây ngập cục bộ.

Không những thế, tại nhiều tuyến phố, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, rửa xe hàng ngày cũng đang xả một lượng nước lớn chứa dầu mỡ vào hệ thống thoát nước chung của thành phố, khiến nước khó tiêu thoát và ô nhiễm môi trường nước.

Về phía cơ quan quản lý, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Hạ tầng kỹ thuật, người được Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội giao trả lời câu hỏi của phóng viên Báo điện tử VietnamPlus, cũng thừa nhận việc thi công xây dựng các công trình có ảnh hưởng ít nhiều tới khả năng tiêu thoát nước của thành phố.

Dẫn chứng trận mưa gây ngập cục bộ vào chiều 17/8/2020, ông Hùng cho biết tại khu vực hồ Hoàn Kiếm, mực nước hồ trước khi mưa vận hành cao hơn mực nước khống chế trên 5cm, làm giảm khả năng thu nước. Thời điểm ngập, hồ bị tràn bờ. Hay như khu vực phố Nguyễn Gia Thiều, từng là “điểm đen” về ngập úng bởi đây là cái “rốn nước” của các khu vực xung quanh.

Tuy nhiên, gần 10 năm trước đã có hệ thống trạm bơm hút nước mưa, nên điểm ngập này đã bị “xóa,” tức là không phải cắt cử người trực để xử lý thoát nước như các điểm ngập khác. “Còn việc khu vực này bị ngập trong các trận mưa từ đầu năm tới nay là do mưa tập trung, hệ thống thoát nước không thoát kịp thời,” ông Hùng nhấn mạnh.

“Giờ muốn xử lý thì chỉ có làm lại hệ thống thoát nước toàn thành phố!”

“Với lượng mưa khoảng 90mm/1 giờ đến 110mm/1,5 giờ, phố Nguyễn Gia Thiều hay các nơi khác bị ngập cũng không có gì lạ. Ví dụ vận động viên cử tạ, chỉ nâng được mức 100 cân mà đè 200 cân thì sao chịu được,” ông Hùng giải thích và nói rằng “giờ muốn xử lý thì chỉ có làm lại hệ thống thoát nước toàn thành phố”./.

Người dân Hà Nội khốn khổ vì “bơi” trong “biển nước đường phố”. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Người dân Hà Nội khốn khổ vì “bơi” trong “biển nước đường phố”. (Nguồn ảnh: TTXVN)

‘Bơm’ hàng nghìn tỷ đồng chống ngập, Hà Nội vẫn ‘bì bõm’ trong mưa lớn

Theo tìm hiểu của phóng viên Báo điện tử VietnamPlus, từ năm 1998 đến nay, Hà Nội đã “bơm” hàng trăm triệu USD triển khai các dự án thoát nước, trong đó có những dự án “ngốn” hàng nghìn tỷ đồng, với hy vọng sẽ giải quyết được ngập úng cho các quận, huyện trên toàn thành phố, đặc biệt là khu vực nội thị.

Thế nhưng, kết quả vẫn chưa được như kỳ vọng.

Đầu tư lớn, Hà Nội vẫn chưa thoát ngập

Tìm hiểu của phóng viên cho thấy thoát nước Hà Nội là dự án được “bơm” nhiều kinh phí nhất trong số các dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu thoát nước ở thành phố từ trước tới nay. Dự án này được chia thành hai giai đoạn, với tổng mức đầu tư khoảng 550 triệu USD, chủ yếu bằng nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản.

Trong đó, giai đoạn 1 của dự án triển khai từ năm 1998 và kết thúc vào cuối năm 2004 với mục tiêu chống úng ngập trên địa bàn thành phố do những trận mưa có cường độ 172mm/2 ngày; tăng khả năng vận hành, duy tu, duy trì hệ thống thoát nước cho Công ty Thoát nước Hà Nội; cải thiện về cảnh quan môi trường đô thị…

Giai đoạn II tiếp tục được khởi động từ năm 2006 với mục tiêu chống úng ngập cho thành phố trong lưu vực sông Tô Lịch với lượng nước mưa 310mm/2 ngày, chu kỳ bảo vệ 10 năm đối với sông và mương thoát nước. Dự án này dự kiến hoàn thành vào năm 2013, sau đó lùi tới năm 2015.

Thế nhưng, sau đó dự án vẫn tiếp tục “tắc” do triển khai chậm và đội vốn thêm 100 triệu USD. Nguyên nhân được Ban quản lý dự án đưa ra là do vướng mắc giải phóng mặt bằng (việc giải phóng mặt bằng trải dài trên 8 quận, huyện với gần 9.000 phương án thực hiện). Vì thế, đến cuối năm 2016, dự án này mới “về đích.”

Trong vòng hơn 20 năm qua, Hà Nội đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng để tiêu úng, chống ngập nhưng kết quả chưa như mong đợi. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Trong vòng hơn 20 năm qua, Hà Nội đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng để tiêu úng, chống ngập nhưng kết quả chưa như mong đợi. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Đáng chú ý, theo kết luận Thanh tra Bộ Xây dựng về công tác quản lý đầu tư xây dựng đối với Dự án thoát nước nhằm cải thiện môi trường Hà Nội (dự án II, quy mô đầu tư dự án ban đầu là hơn 6.300 tỷ đồng, sau điều chỉnh lên tới 8.000 tỷ đồng), quá trình triển khai dự án này đã để xảy ra hàng loạt sai phạm trong công tác lập, thẩm tra, thẩm định và phê duyệt dự toán, chi phí xây dựng công trình.

Trước những hạn chế về phạm vi và giải quyết úng ngập của dự án thoát nước trên, từ năm 2015 đến nay, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục phê duyệt các dự án: Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa và Cụm công trình đầu mối Liên Mạc… nhằm thoát nước, chống ngập úng cho khu vực phía Tây, bao gồm các quận Cầu Giấy, Nam-Bắc Từ Liêm, Hà Đông và các huyện ngoại thành vừa mở rộng.

Cụ thể, dự án Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa triển khai từ năm 2015 (tổng vốn đầu tư hơn 7.400 tỷ đồng) có chức năng bơm nước từ lưu vực sông Nhuệ ra sông Đáy, nhằm giảm ngập úng cho Hà Đông, Thanh Xuân; dự án Cụm công trình đầu mối Liên Mạc (tổng vốn đầu tư hơn 3.600 tỷ đồng) thi công trong giai đoạn từ năm 2018-2020, với mục tiêu sau khi hoàn thành sẽ bơm nước từ sông Nhuệ ra sông Hồng, nhằm giảm ngập úng cho khu vực Cầu Giấy, Nam-Bắc Từ Liêm và phụ cận.

Đến nay, cả hai dự án mang nhiều hứa hẹn về giải quyết tình trạng ngập úng cho các quận, huyện tại Thủ đô đang trong tình trạng dở dang trong khi cứ trời mưa, nhiều tuyến đường Hà Nội lại ngập úng “không lối thoát.”

Lý giải cho việc “chi hàng nghìn tỷ đồng đầu tư thoát nước, Hà Nội vẫn ngập” nêu trên, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Hạ tầng kỹ thuật, Sở Xây dựng Hà Nội cho rằng nguyên nhân chính khiến các dự án chậm tiến độ là do vướng trong giải phóng mặt bằng, có dự án vẫn chưa xong công tác bố trí, bàn giao mặt bằng…

Ông Hùng cũng khẳng định: “Việc đầu tư các dự án thoát nước là cần thiết để cải thiện ngập úng. Tuy nhiên, hơn 19.000 tỷ đồng đầu tư trên cũng chỉ có giá trị bằng khu đô thị, mà ở đây là đầu tư phục vụ cho cả thành phố…”

Nước ngập sâu, người tham gia giao thông phải dắt bộ xe máy. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Nước ngập sâu, người tham gia giao thông phải dắt bộ xe máy. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Mới đáp ứng được 20% yêu cầu

Theo ông Hùng, đầu tư hệ thống thoát nước thì phải đồng bộ, từ hệ thống ga thu trên đường, hộ dân đến các tuyến sông, trạm bơm… Tuy nhiên, hiện dự án thoát nước Hà Nội cũng mới đáp ứng được một phần, các khu vực ngoài vẫn chưa được đầu tư đồng bộ và dự án nhỏ lẻ của quận cũng chỉ giải quyết được các điểm nhỏ lẻ.

Nói rõ hơn, ông Hùng cho biết thời kỳ năm 1993-1995, tổ chức OECF (sau này là JICA) của Nhật Bản đã giúp Hà Nội quy hoạch tổng thể cấp thoát nước với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng hơn 1.100 triệu USD, nhưng hiện mới có 2 dự án thoát nước đầu tư vài trăm triệu USD, tức chỉ đáp ứng được khoảng 20% so với yêu cầu.

“…nếu số tiền trên so với yêu cầu thì mới chỉ đáp ứng được một phần. Và mục tiêu cũng chỉ được đến thế, nên mưa to nước vẫn bị ngập.”

“Vì thế, nếu số tiền trên so với yêu cầu thì mới chỉ đáp ứng được một phần. Và mục tiêu cũng chỉ được đến thế, nên mưa to nước vẫn bị ngập,” ông Hùng nói và cho rằng muốn giải quyết được tình trạng ngập úng thì đầu tiên là phải đầu tư hạ tầng cấp thoát nước đồng bộ nhưng “cái này rất tốn kém.”

Chia sẻ thêm về hiện trạng hệ thống tiêu thoát nước hiện nay, ông Hùng cho biết hệ thống thoát nước khu vực nội thành Hà Nội gồm 12 quận với diện tích khoảng 300km2, chủ yếu là hệ thống thoát nước chung với khối lượng quản lý theo danh mục được phê duyệt bao gồm: 5.735,44km cống rãnh; 254,2 km mương, sông, kênh; 40.407 ga thu; 125 hồ điều hòa; 10 trạm bơm thoát nước mưa chính;…

Đến nay, Hà Nội mới chỉ thực hiện đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thoát nước khu vực nội thành thuộc khu vực sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu với diện tích 77,5km2. Các khu vực khác chưa được đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước như khu vực Tả Nhuệ, Hữu Nhuệ, khu vực Long Biên, Hà Đông.

Ngoài ra, một số trạm bơm chưa được đầu tư đồng bộ, sông Nhuệ và hệ thống kênh xả kênh dẫn về các trạm bơm chưa được cải tạo, nạo vét và kè đến cốt thiết kế cũng là những nguyên nhân không đảm bảo được việc thoát nước cho thành phố.

Trong khi đó, theo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu môi trường và cộng đồng (CECR), một trong những lý do góp phần dẫn tới tình trạng ngập úng ở Hà Nội là do hoạt động lấn chiếm, san lấp ao, hồ để kinh doanh,…

Nghiên cứu của CECR cho thấy tính từ năm 2010-2017, Hà Nội có tới 17 hồ bị san lấp hoàn toàn nhưng chỉ bổ sung 7 hồ mới.

Trong đó, quận Đống Đa có nhiều ao hồ nhất (trên 30 hồ), nhưng chỉ trong 5 năm (2010-2015) đã có 4 hồ bị san lấp; một số quận không thay đổi hiện trạng ao, hồ thì diện tích mặt nước bị thu hẹp đáng kể.

Tình trạng ngập úng mỗi khi mưa đã trở thành câu chuyện quen thuộc ở Hà Nội. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Tình trạng ngập úng mỗi khi mưa đã trở thành câu chuyện quen thuộc ở Hà Nội. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Hệ thống thoát nước chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa

Nhìn nhận ở góc độ chuyên gia, kiến trúc sư Trần Huy Ánh, Hội Kiến trúc sư thành phố Hà Nội cho rằng việc cơ quan quản lý hạ tầng thoát nước đô thị Hà Nội nhận định mưa to quá nên ngập hay mưa to vẫn bị ngập là thiếu trách nhiệm.

Theo vị kiến trức sư này, đơn vị làm công tác thoát nước ở Hà Nội sử dụng nguồn lực của thành phố để chống ngập, nhưng ngập lụt vẫn kéo dài thì không nên đổ thừa cho mưa to quá. Ông cũng cho rằng cần phải xem xét lại các dự án thoát nước có vốn lớn đầu tư đã thực chất hay chưa.

Với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về quy hoạch thành phố Hà Nội, kiến trúc sư Trần Huy Ánh phân tích hệ thống thoát nước của thành phố hiện nay kế thừa quy hoạch thoát nước của người Pháp trước năm 1954. Sau đó, Hà Nội mở rộng, do kinh nghiệm quy hoạch của ta không nhiều, nguồn lực hạn chế, nên trong khoảng thời gian vài chục năm sau, việc thoát nước ở Hà Nội “khá tùy tiện.”

Ông Ánh cho rằng đến những năm 2000, nhờ có Nhật Bản giúp thiết kế nên quy hoạch thoát nước ở Hà Nội có bài bản hơn. Thế nhưng, khi thiết kế xong, định hướng phát triển đô thị lại lạc hậu so với thiết kế hệ thống thoát nước này. Do đó, hệ thống thoát nước ở Hà Nội là không tổng thể, lạc hậu so với thực tế phát triển.

Có cùng quan điểm, kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội khẳng định nguyên nhân dẫn đến tình trạng Hà Nội cứ mưa là ngập đã nói nhiều nhưng chưa có giải pháp. Điều đáng lưu ý là, mặc dù hệ thống thoát nước của thành phố đã từng bước được cải tạo nhưng chưa theo kịp được tốc độ đô thị hóa nhanh.

Điều đáng lưu ý là, mặc dù hệ thống thoát nước của thành phố đã từng bước được cải tạo nhưng chưa theo kịp được tốc độ đô thị hóa nhanh.

Các khu vực đất trống có thể thẩm thấu nước sau khi mưa hay các hồ điều hòa cũng dần bị thu hẹp, bê tông hóa. Thế nên đôi khi hệ thống thoát nước bị quá tải. Mặt khác, việc sinh hoạt, tổ chức sản xuất, kinh doanh làm tăng nhu cầu nước thải xả ra các cống. Hiện tượng xả rác của người dân còn chưa được ngăn chặn triệt để.

Còn theo giáo sư tiến sỹ Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tốc độ đô thị hóa nhanh được xem là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng úng ngập ở Hà Nội. Tuy nhiên, một lý do không thể không nhắc tới đó là tốc độ biến mất diện tích mặt nước ở Hà Nội tăng nhanh đầu thế kỷ 21.

Nghịch lý là nhiều ao hồ không những không được bảo vệ, mà còn bị san lấp, biến thành các công trình, dự án, chung cư cao tầng. Trong khi đó việc quy hoạch xây dựng đô thị manh mún, thiếu quy hoạch tổng thể đã dẫn đến mâu thuẫn trong tiêu thoát nước giữa các tiểu khu, bởi hệ thống thoát nước ở Thủ đô vẫn chủ yếu là tự chảy nên khả năng tiêu thoát nước không cao./.

Hệ thống thoát nước không tiêu thoát kịp nước mưa. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Hệ thống thoát nước không tiêu thoát kịp nước mưa. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Giải quyết úng ngập cho Thủ đô Hà Nội cách nào?

Trước thực trạng các dự án thoát nước có vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng liên tiếp bị “tắc” tiến độ, đội vốn đầu tư, khiến tình trạng ngập úng ở Thủ đô vẫn chưa được giải quyết như kỳ vọng, bên cạnh việc “hiến kế” giúp Hà Nội thoát ngập, nhiều chuyên gia cho rằng cơ quan chức năng phải vào cuộc, không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý “quýt làm, ngân sách chịu.”

Phải đánh giá tổng thể hệ thống thoát nước

Như VietnamPlus đã phản ánh trong bài trước, từ năm 1998 đến nay, Hà Nội đã “bơm” hàng trăm triệu USD để triển khai các dự án thoát nước cho thành phố, đặc biệt là giải quyết các “điểm đen” ngập úng ở khu vực nội thị. Thế nhưng, 20 năm qua, các dự án vẫn lần lượt bị “tắc,” hệ quả là mưa xuống phố vẫn thành sông.

Dẫn lại bài học từ trận lụt năm 2008, phó giáo sư tiến sỹ Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (Mạng lưới sông ngòi Việt Nam), cho biết Hà Nội đã từng xảy ra đợt mưa lũ khiến hàng triệu người dân phải sống trong cảnh lụt lội, thiếu nước sinh hoạt. Nguyên nhân là do hệ thống thoát nước không đồng bộ nên không tiêu thoát kịp nước mưa.

Ở thời điểm ấy, đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết đã thẳng thắn lên tiếng đề nghị lãnh đạo Hà Nội phải chịu trách nhiệm.

Sự việc trên càng đáng trách hơn khi trước đó, vào năm 1998, Hà Nội đã bắt tay vào xây dựng dự án cải tạo hệ thống thoát nước (dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn 1, hoàn thành vào năm 2005) với số tiền khoảng 200 triệu USD.” Ông Thuyết đề nghị thành phố Hà Nội cần “soi lại mình” và xử lý trách nhiệm của các ban ngành.

Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh cũng cho rằng để xảy ra lụt lội trên có một phần trách nhiệm của thành phố Hà Nội. “Tất nhiên, để xảy ra thiệt hại có phần lý do khách quan là mưa quá lớn nhưng cá nhân tôi cũng như rất nhiều người mong Hà Nội có một quy hoạch, tầm nhìn xa hơn. Ví dụ, cống thoát nước ở ta rất nhỏ so với nước ngoài, chỉ một vài trận mưa là bùn đất lại tắc,” bà Khánh nói.

Về phía Hà Nội, sau trận mưa lũ gây gập khủng khiếp trên, Ủy ban Nhân dân thành phố đã tiếp tục chi hàng chục nghìn tỷ đồng để triển khai các dự án tiêu thoát nước, nhưng đến nay, phần lớn các dự án vẫn bị “tắc” tiến độ; dự án đã vận hành cũng mới chỉ đáp ứng được một phần việc dẫn nước ra sông.

 Cần nghiên cứu tổng thể lại hệ thống thoát nước trên phạm vi cả thành phố. (Nguồn ảnh: TTXVN)
 Cần nghiên cứu tổng thể lại hệ thống thoát nước trên phạm vi cả thành phố. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội, cho rằng để đối phó với biến đổi khí hậu, rõ ràng không thể chỉ xử lý những điểm ngập cục bộ mà phải đánh giá tổng thể hệ thống thoát nước toàn thành phố; kết hợp giữa yêu cầu thoát nước với phát triển đô thị; kết hợp xử lý thoát nước với quy hoạch hệ thống công viên, cây xanh.

Theo ông Nghiêm, Hà Nội đã có quy hoạch thoát nước, nhưng với tốc độ đô thị hóa tăng mạnh, thành phố phát triển nhanh thì cần phải có điều chỉnh phù hợp để ứng phó theo hướng nâng cao khả năng tiêu úng cho cả nội thành và ngoại thành. Do vậy, cần phải nghiên cứu tổng thể lại hệ thống thoát nước trên phạm vi cả thành phố, với tầm nhìn trong khoảng 5 năm, 10 năm, 20 năm…

Hà Nội cần phải nghiên cứu tổng thể lại hệ thống thoát nước trên phạm vi cả thành phố, với tầm nhìn trong khoảng 5 năm, 10 năm, 20 năm…

Trong đó, thành phố cần chú trọng các vấn đề về cốt nền phù hợp từng khu vực, thoát nước mỗi khu vực riêng hài hòa với thoát nước cả thành phố, giữ lại nước mưa để tận dụng.

Kiến trúc sư Trần Huy Ánh, Hội Kiến trúc sư thành phố Hà Nội, cũng nêu quan điểm cần có quy hoạch tích hợp tổng thể từ xây dựng, đô thị hóa, giao thông, thoát nước, xử lý thải… Bởi theo ông Ánh, những vấn đề đô thị như Hà Nội đang đối mặt cũng giống như nhiều thành phố trên thế giới đã trải qua.

Vì thế, đối với khu vực nội đô không có quỹ đất rộng, có thể học hỏi kinh nghiệm phát triển không gian ngầm đa chức năng, trong đó có chứa nước khi cần; có thể phát triển không gian ngầm trong đô thị làm bãi đỗ xe, đường giao thông, hồ ngầm chứa nước mưa để tận dụng làm nước tưới cây, rửa đường, chữa cháy…

“Nếu có giải pháp kỹ thuật kết hợp được đa chức năng như vậy, vừa tiết kiệm tiền xây dựng, vừa sử dụng tài nguyên tiết kiệm trong điều kiện nước ngọt ngày càng hiếm, đô thị thông minh,” kiến trúc sư Trần Huy Ánh nhấn mạnh.

Vị chuyên gia Hội Kiến trúc sư thành phố Hà Nội cũng lưu ý, để thực hiện các giải pháp trên, trước hết cần phải tách được nguồn nước thải ra khỏi nước mưa chảy tràn. Đối với nước thải của thành phố, cần có giải pháp khu trú từng vùng để xử lý làm sạch ngay tại nguồn, giảm thiểu ô nhiễm chứ không nên làm tập trung; xây dựng các trạm bơm thoát nước ven các sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu… để rút ngắn quãng đường tập trung nước, tạo thành nhiều điểm cuối nguồn thoát nước.

Cần nnâng cao khả năng tiêu úng cho cả nội thành và ngoại thành. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Cần nnâng cao khả năng tiêu úng cho cả nội thành và ngoại thành. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Hiến kế giúp Hà Nội thoát ngập

Theo phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Việt Anh, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường, thách thức lớn trong thoát nước đô thị hiện nay là việc đấu nối các hộ gia đình vào mạng lưới thoát nước thành phố. Hầu hết các dự án thoát nước nguồn vốn ODA đều không có hợp phần này. Sau dự án, việc đầu tư của chính quyền đô thị hay cộng đồng cho việc đấu nối rất khó thực hiện được.

Vì thế, tiến sỹ Nguyễn Việt Anh cho rằng việc lựa chọn sơ đồ tổ chức thoát nước, công nghệ thu gom, xử lý nước thải, mô hình tổ chức quản lý vận hành, đấu nối hộ gia đình, đảm bảo bù đắp chi phí vận hành và bảo dưỡng hệ thống thoát nước là các vấn đề cần lưu tâm trong xử lý nước thải đô thị.

Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường cũng lưu ý, mặc dù việc đầu tư cũng như quản lý hạ tầng kỹ thuật xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với rất nhiều thách thức từ chính sách pháp luật, nguồn vốn, công nghệ cho tới ý thức tự nguyện của người dân. Tuy nhiên, nếu chúng ta có hướng đi phù hợp thì nó sẽ trở thành một thị trường hấp dẫn.

Trước mắt, ngành thoát nước cần có những phương tiện cơ động để giải quyết úng ngập cục bộ, khi mà hệ thống thoát nước ở Hà Nội chưa thể sửa trong ngày một ngày hai…

Có chung quan điểm, kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm kiến nghị biện pháp trước mắt là ngành thoát nước cần có những phương tiện cơ động để giải quyết úng ngập cục bộ, khi mà hệ thống thoát nước ở Hà Nội chưa thể sửa trong ngày một ngày hai.

Về lâu dài, Hà Nội cần điều chỉnh bổ sung dự án thoát nước, bởi lượng mưa của Hà Nội đã vượt quá mức tính toán; xây dựng một dự án điều chỉnh, trong đó cần chú trọng đến việc gia tăng các trạm cuối nguồn như trạm bơm Yên Sở, Liên Mạc; chú trọng kết nối với các khu dân cư và hệ thống thoát nước nhỏ; xem xét lại hệ thống giải quyết nước thải sinh hoạt tránh gây ách tắc cho hệ thống cống nguồn.

Bên cạnh giải quyết hệ thống thoát nước, Hà Nội cũng cần phải chú trọng đến việc điều hòa nước, bởi hiện nay toàn thành phố có hơn 100 hồ trong nội thành nhưng diện tích thoát nước bị lấp đi rất nhiều. Quan trọng hơn là phải thường xuyên nạo vét, làm sạch hồ để nâng cao hiệu quả thẩm thấu và điều hòa.

Hàng loạt phương tiện giao thông bị chất máy, người dân phải dắt bộ. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Hàng loạt phương tiện giao thông bị chất máy, người dân phải dắt bộ. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Ngoài ra, thành phố Hà Nội và Bộ xây dựng cũng cần có quy định, bàn thảo với các chủ đầu tư khi xây dựng các dự án, nhằm đảm bảo thiết kế hệ thống thoát nước của các dự án phải khớp với hệ thống khung của thành phố, tránh tình trạng giải quyết điểm ngập này lại phát sinh điểm ngập mới.

Ông Nguyễn Hồng Tiến, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cấp thoát nước Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng Kỹ thuật (Bộ Xây dựng) cũng cho biết để giải quyết tình trạng úng ngập ở Thủ đô, thời gian tới, Hà Nội cần thực hiện đồng loạt các giải pháp như xây dựng bể ngầm, hồ chứa nước mưa để thu nước mưa tại chỗ, bảo đảm được hệ thống hồ điều hòa không bị san lấp sử dụng vào mục đích khác.

Cùng với đó, Hà Nội cần chủ động ưu tiên nguồn vốn ngân sách cho việc xây mới, cải tạo, duy tu, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước. Chỉ khi nào Hà Nội hoàn thành công tác xây dựng hệ thống thoát nước đáp ứng lượng mưa trên 300mm trong hai ngày với cường độ lớn thì tình trạng ngập úng mới giảm.

Trong bối cảnh điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhưng các dự án “ngốn” hàng chục nghìn tỷ vẫn liên tiếp bị “tắc” tiến độ, đội vốn, Hà Nội không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý “quýt làm, ngân sách chịu.”

Góp thêm ý kiến, phó giáo sư tiến sỹ Đào Trọng Tứ cho rằng để giải quyết tình trạng ngập úng, Hà Nội cần có quy hoạch đồng bộ hệ thống ngầm, cấp thoát nước. Tuy nhiên, trước tiên, Hà Nội cần rà soát, đánh giá lại toàn bộ hệ thống thoát nước xem tắc, nghẽn ở đâu để tháo gỡ.

“Hà Nội đã đầu tư quá nhiều tiền cho hệ thống thoát nước, vì thế nếu tắc vì tiền thì cân nhắc đầu tư thêm để đồng bộ hệ thống; nếu tắc vì lý do khác thì cũng cần phải đưa ra nghiên cứu, có góp ý của giới chuyên gia để giải quyết,” ông Tứ chia sẻ.

Tuy nhiên, trong bối cảnh điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhưng các dự án “ngốn” hàng chục nghìn tỷ vẫn liên tiếp bị “tắc” tiến độ, đội vốn, ông Tứ và nhiều chuyên gia cho rằng Hà Nội không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý “quýt làm ngân sách chịu.” Tức là cá nhân, doanh nghiệp làm sai, còn ngân sách nhà nước thì phải chạy theo để giải quyết hậu quả. Nhà nước không thể bao cấp mãi về môi trường.

Đưa ra giải pháp thoát nước, chống úng ngập khu vực nội thành trong thời gian tới, đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho biết sẽ nâng cấp Trung tâm điều hành hệ thống thoát nước; nâng cấp phần mềm HSDC Maps (ứng dụng cảnh báo điểm ngập úng) trên điện thoại thông minh như thông tin mực nước, lượng mưa, hình ảnh camera của điểm ngập, tương tác với người dân qua chức năng gửi thông tin sự cố…

Ngoài ra, thời gian tới, Sở Xây dựng sẽ tiếp tục vận hành 15 camera giám sát điểm úng ngập; chuẩn bị sẵn sàng các xe bơm di động, xe hút stec, các thiết bị phương tiện cơ giới và các trạm bơm cục bộ hiện có để bơm nước chống úng ngập cục bộ ưu tiên giải quyết nhanh trên các trục đường chính, giải tỏa ách tắc giao thông khi có mưa lớn; triển khai ứng trực 24/24 giờ giải quyết thoát nước khi mưa, điều động toàn bộ nhân lực triển khai công tác thoát nước theo địa bàn được phân công./.

Ngã tư Phan Bội Châu - Lý Thường Kiệt là 1 trong 6 điểm không giảm ngập úng ở Hà Nội. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Ngã tư Phan Bội Châu – Lý Thường Kiệt là 1 trong 6 điểm không giảm ngập úng ở Hà Nội. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Kháng chiến chống Mỹ

Lời dẫn

Có thể khẳng định những cuộc đấu tranh trên mặt trận giáo dục, văn hóa đã góp phần quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng với cuộc chiến trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao… để giành độc lập cho dân tộc. Đặc biệt, việc xây dựng và phát triển giáo dục song hành cùng cuộc chiến đã giúp đất nước ta chuẩn bị được lực lượng nhân sự vừa có trình độ cao, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng cho công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh.

Trong những năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã có gần 3.000 nhà giáo từ miền Bắc mang bút nghiên, sách vở lên đường đi B để chi viện cho mặt trận giáo dục miền Nam. Đây đều là đội ngũ giáo viên, giảng viên giỏi, được lựa chọn không chỉ về chuyên môn mà cả ý chí chiến đấu.

Có lẽ không có nơi nào, cuộc chiến nào kéo dài mà vẫn song hành phát triển được giáo dục như ở Việt Nam. Nơi nào giải phóng, kể cả ở các “vùng lõm” giải phóng bé nhỏ, hay các vùng còn tranh chấp, ở đâu có dân, ở đó có lớp học dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó là điều đặc biệt của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.

Trải qua 75 mùa Xuân kể từ khi đất nước được hòa bình, đặc biệt là trong những năm chiến tranh chống Mỹ, những giá trị thực tiễn của sự nghiệp “trồng người” của một thời bom đạn vẫn còn nguyên ý nghĩa…

Hãy cùng VietnamPlus dõi theo những ngày tháng đau thương nhưng cũng đầy hào hùng của dân tộc, những “bước chân” của các thầy giáo, cô giáo không biết mỏi mệt và không màng hiểm nguy để mang ánh sáng cách mạng tới từng bản làng, ngõ xóm.

Thầy Văn gói gém sách vở, đồ dùng cá nhân, vài bộ quần áo trong chiếc ba lô, ôm hôn từ biệt hai đứa con thơ, đứa lớn ba tuổi, đứa nhỏ mới tròn 8 tháng, an ủi, động viên người vợ trẻ, rồi lên đường. Đó là ngày 5/3, mùa Xuân năm 1969…

Cùng hơn 200 đồng nghiệp, thầy Nguyễn Trọng Văn, lên đường đi B với nhiệm vụ riêng của những nhà giáo: Xây dựng và phát triển giáo dục trong vùng chiến.

“Có lẽ không có nơi nào, cuộc chiến nào kéo dài mà vẫn song hành phát triển được giáo dục như ở Việt Nam. Nơi nào giải phóng, kể cả ở các ‘vùng lõm’ giải phóng bé nhỏ, hay các vùng còn tranh chấp, ở đâu có dân, ở đó có lớp học dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó là điều đặc biệt của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam,” thầy Đỗ Trọng Văn, nay đã 80 tuổi, xúc động nói khi nhớ lại những năm tháng thanh xuân trên mặt trận riêng của ngành giáo dục trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước.

Thầy Đỗ Trọng Văn (hàng dưới, thứ hai từ trái qua) và các cán bộ Tiểu ban Giáo dục R. (Ảnh: NVCC)
Thầy Đỗ Trọng Văn (hàng dưới, thứ hai từ trái qua) và các cán bộ Tiểu ban Giáo dục R. (Ảnh: NVCC)

Chiến lược “3 vùng”

Ngay khi cuộc chiến tranh vẫn còn đang diễn ra ác liệt, để đập tan chính sách “ngu dân” của Mỹ-Ngụy đồng thời phát triển tri thức cho lực lượng cách mạng, Đảng và Bác Hồ đã rất quan tâm đến việc xây dựng nền giáo dục mới ở miền Nam. Với quan điểm chiến tranh toàn diện, Đảng chủ trương giáo dục phải được xây dựng và đấu tranh trên cả ba vùng: Vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng bị tạm chiếm.

Sau phong trào Đồng khởi Bến Tre năm 1960, các vùng giải phóng tuy ở thế cài da báo với địch, nhưng cũng ngày càng mở rộng hơn. Giải phóng đến đâu, giáo dục phát triển tới đó, kể cả các vùng lõm giải phóng, dù chỉ là một thôn, xóm. Để có sự chỉ đạo phát triển giáo dục thống nhất giữa các địa phương và toàn khu, tháng 10/1962, Tiểu ban Giáo dục miền Nam, thường được gọi là Tiểu ban Giáo dục R, đã được thành lập, trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục. Tiểu ban có nhiệm vụ trực tiếp phụ trách, chỉ đạo công tác giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cách mạng trong suốt thời kỳ chiến tranh, góp phần thắng lợi chung của dân tộc.

Thông tư 44/TT ngày 13/2/1963 của Trung ương Cục xác định rõ nhiệm vụ của công tác giáo dục miền Nam Việt Nam là “dựa vào lực lượng nhân dân, cán bộ giáo dục và các nhà giáo yêu nước, kiên quyết đả phá chính sách ngu dân và các hình thức giáo dục nô dịch, phản động, ngoại lai, đồi trụy của Mỹ-Ngụy; tích cực xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ và khoa học theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nhằm bồi dưỡng chính trị, văn hóa cho nhân dân lao động, trước nhất là cán bộ và chiến sỹ, đào tạo thế hệ trẻ toàn diện, biết căm thù giặc sâu sắc, biết yêu nước nồng nàn, có kiến thức, đạo đức và sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và kiến thiết xã hội sau này.”

Nhiệm vụ của các cán bộ giáo dục là vừa phải nâng cao trình độ dân trí, vừa phải chống phá địch trên mặt trận văn hóa, giáo dục. (Ảnh: NVCC)
Nhiệm vụ của các cán bộ giáo dục là vừa phải nâng cao trình độ dân trí, vừa phải chống phá địch trên mặt trận văn hóa, giáo dục. (Ảnh: NVCC)

Theo đó, giáo dục miền Nam phải thực hiện hai nhiệm vụ: Đấu tranh với địch trên mặt trận văn hóa giáo dục và xây dựng lực lượng giáo dục cách mạng. Để thực hiện hai nhiệm vụ này, Tiểu ban Giáo dục R đã vạch ra hai chương trình giáo dục và Phổ thông và Bình dân học vụ cho hai nhóm đối tượng là trẻ em và người lớn.

Tiểu ban Giáo dục R đã vạch ra hai chương trình giáo dục và Phổ thông và Bình dân học vụ cho hai nhóm đối tượng là trẻ em và người lớn.

Tiểu ban Giáo dục R có vai trò và cơ cấu như một bộ giáo dục thu nhỏ phụ trách miền Nam với Văn phòng, Phòng Phổ thông, Phòng Bình dân, Phòng Đô thị (phụ trách giáo dục khu vực đô thị), Phòng Tuyên truyền, Phòng In ấn và phát hành… Tiểu ban giáo dục của các khu, tỉnh, huyện, xã cũng lần lượt được ra đời để chỉ đạo phong trào giáo dục khắp cả miền Nam.

Nơi nào có dân, nơi đó có giáo dục

Trong điều kiện chiến tranh, việc triển khai các hoạt động giáo dục cũng gặp vô vàn khó khăn, thách thức khi thiếu từ đội ngũ giáo viên đến tài liệu giảng dạy, thiếu cả học sinh, địch thì liên tục bắn phá, bắt bớ. Từ những con số 0 tròn trĩnh: không trường, không học sinh, không giáo trình, các nhà giáo cách mạng đã có rất nhiều sáng tạo để dựng trường, mở lớp.

Phong trào giáo dục phát triển mạnh mẽ tại tất cả các vùng ở Nam Bộ, bất chấp sự tàn phá của kẻ thù. (Ảnh: NVCC)
Phong trào giáo dục phát triển mạnh mẽ tại tất cả các vùng ở Nam Bộ, bất chấp sự tàn phá của kẻ thù. (Ảnh: NVCC)

Hệ thống giáo dục miền Nam vẫn phát triển mạnh mẽ và được tổ chức chặt chẽ từ Trung ương Cục đến từng xã với phương châm “nơi nào có dân, nơi đó có giáo dục.” Hai nhiệm vụ xây dựng trường lớp, lực lượng giáo dục, phát triển tri thức cho nhân dân và đấu tranh văn hóa với địch đều được triển khai quyết liệt trên cả ba vùng.

Ở vùng giải phóng, các cơ sở đạo tạo giáo viên được thành lập ở khắp các địa phương. Trường học được mở ở cả ba cấp 1, 2, và 3 như trường Nguyễn Văn Trỗi ở Quảng Nam, trường Hoàng Lê Kha ở Tây Ninh, trường Trừ Văn Thố ở Mỹ Tho, trường Lý Tự Trọng ở Tây Nam Bộ… Các trường học có nhiệm vụ đào tạo lớp thanh thiếu niên cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Bên cạnh các trường còn có các lớp phân tán trong dân, đặc biệt là các lớp xóa mù chữ và bổ túc văn hóa cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân.

Hai nhiệm vụ xây dựng trường lớp, lực lượng giáo dục, phát triển tri thức cho nhân dân và đấu tranh văn hóa với địch đều được triển khai quyết liệt trên cả ba vùng.

Ở vùng tranh chấp, vùng tạm chiếm, trường lớp không được tổ chức quy mô nhưng các lớp học vẫn được lập ra và tổ chức cơ động, linh hoạt, liên tục thay đổi địa điểm. Lớp học dưới tán cây trong rừng, trong cơ sở nhà dân và cả dưới hầm trú ẩn, lúc học ban đêm, khi học ban ngày. Bên ngoài các lớp học luôn được bố trí lực lượng cảnh giới để kịp thời thông báo nếu có địch đến. Dù giặc Mỹ càn quét, bom đạn cày nát xóm làng, dù có những người thầy đã ngã xuống nhưng các lớp học vẫn được dựng lên.

Học sinh Trường Thiếu nhi Bình Thạnh (Kiến Phong) trao đổi bài trước khi vào lớp. (Ảnh: NVCC)
Học sinh Trường Thiếu nhi Bình Thạnh (Kiến Phong) trao đổi bài trước khi vào lớp. (Ảnh: NVCC)

Với hình thức tổ chức lớp học linh hoạt, cơ động, từ trường học chính quy đến các lớp bí mật, tùy vào từng vùng đã giúp cho hàng vạn cán bộ, chiến sỹ và nhân dân xóa được nạn mù chữ, nâng cao trình độ. Từ đó, ta đã xây dựng được lực lượng chính trị nòng cốt để nuôi dưỡng và phát triển phong trào đấu tranh chống Mỹ -Ngụy đồng thời đào tạo được thế hệ nhân lực nguồn chất lượng cho công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước sau giải phóng.

Dân trí được nâng cao đã có ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh với địch trên mặt trận văn hóa, đánh bại các âm mưu dùng giáo dục phục vụ cho công cuộc bình định của Mỹ. Tiểu ban Giáo dục có Phòng Truyền thông, trực tiếp phụ trách biên tập nội dung hai buổi phát thanh hàng tuần trên đài phát thanh giải phóng. Ta cũng cài người vào các trường học khu đô thị, vận động giáo viên và học sinh đi theo cách mạng. Từ năm 1954, phong trào học sinh, giáo viên đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, giảm học phí, tăng lương, đòi giảng dạy bằng tiếng Việt, chống khủng bố và đàn áp… diễn ra mạnh mẽ. Sang giai đoạn đầu những năm 70, các cuộc đấu tranh của học sinh, giáo viên trực diện hơn với các cuộc biểu tình phản đối văn hóa nô dịch, đòi Mỹ rút về nước, đòi hòa bình, độc lập…

Những cuộc đấu tranh trên mặt trận giáo dục, văn hóa đã góp phần quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng với cuộc chiến trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao… để giành độc lập dân tộc. Đặc biệt, việc xây dựng và phát triển giáo dục song hành cùng cuộc chiến đã giúp ta chuẩn bị được lực lượng nhân sự vừa có trình độ cao, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng cho công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh.

“Điều này cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng và Bác Hồ. Trong điều kiện chiến tranh, giáo dục vẫn được quan tâm đặc biệt và được tổ chức bài bản. Giáo dục được xây dựng thành một mặt trận riêng trong cuộc chiến tranh toàn diện của dân tộc, vừa đấu tranh, vừa đào tạo nhân lực để sẵn sàng đưa đất nước đi lên ngay sau giải phóng. Đặc thù này có lẽ chỉ có ở Việt Nam,” nhà giáo Đỗ Trọng Văn nói./.

Trong điều kiện chiến tranh, việc triển khai các hoạt động giáo dục cũng gặp vô vàn khó khăn, thách thức, thiếu và yếu từ đội ngũ giáo viên đến sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, điều kiện tổ chức trường lớp và cả việc vận động người dân đi học. Từ những con số 0 tròn trĩnh: không trường, không học sinh, không giáo trình, các nhà giáo cách mạng đã có rất nhiều sáng tạo để dựng trường, mở lớp.

Dựng lớp từ những số 0

Thầy Đỗ Trọng Văn, nguyên cán bộ Tiểu ban Giáo dục R, cho biết đội ngũ giáo viên được huy động từ ba nguồn: Chi viện từ miền Bắc, giáo viên các trường ở miền Nam đi theo cách mạng và lực lượng đào tạo cấp tốc tại chỗ. Từ năm 1962 đến 1975, đã có gần 3.000 giáo viên miền Bắc cầm bút nghiên, sách vở lên đường đi B để chi viện cho mặt trận giáo dục miền Nam. Đây đều là đội ngũ giáo viên, giảng viên giỏi, được lựa chọn từ các trường.

Tuy nhiên, lực lượng giáo dục đào tạo tại chỗ có trình độ thấp hơn. Với tinh thần “biết hai dạy một”, chấp nhận “cơm chấm cơm”, những người có trình độ cấp một, cấp hai sẽ được đào tạo cấp tốc trong ba, bốn tháng về nghiệp vụ sư phạm để đứng lớp. Để có nguồn giáo viên, nhiều cách làm sáng tạo, thậm chí có tính đột phá, đã được triển khai. Trường Sư phạm Kiến Tường, thuộc Tiểu ban Giáo dục khu 8, là điển hình của sự táo bạo khi chuyển cả đội tân binh nữ 30 người sang làm học viên, trong đó có cả những người chưa xóa mù chữ. Ai chưa biết chữ được dạy cho biết chữ rồi đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Khẩu hiệu đặt ra của giáo dục Kiến Tường là “học đến đâu, dạy đến đó” (sáng là giáo viên, chiều thành học viên), “người biết chữ dạy cho người mù chữ”. Lực lượng tân binh này sau đó đã trở thành đội ngũ giáo viên nòng cốt, cùng phong trào giáo dục “cơm chấm cơm, muối chấm muối” đưa giáo dục Kiến Tường phát triển mạnh mẽ.

Trường Sư phạm cấp 1 tỉnh Mỹ Tho trong thời kỳ chống Mỹ. (Ảnh: NVCC)
Trường Sư phạm cấp 1 tỉnh Mỹ Tho trong thời kỳ chống Mỹ. (Ảnh: NVCC)

Lực lượng nhân lực thiếu và yếu, tài liệu giảng dạy càng thiếu thốn hơn. Các nhà giáo từ miền Bắc khi đi chi viện cho miền Nam đều mang theo nhiều sách giáo khoa. Tuy nhiên, hầu hết phải gửi lại giao liên trên đường hành quân vào Nam vì sức khỏe giảm sút, buộc giáo viên phải hy sinh sách để giữ sức khỏe và cõng lương thực, thực phẩm.

 Để có nguồn giáo viên, nhiều cách làm sáng tạo, thậm chí có tính đột phá, đã được triển khai.

Để có tài liệu giảng dạy, giáo viên phải tự biên soạn, hoặc lấy sách của hệ thống giáo dục của địch ở miền Nam để chọn lọc, viết lại cho phù hợp. Sách khan hiếm đến mức có khi cả tỉnh, thậm chí cả khu mới có một quyển và giáo viên, học sinh phải chuyền tay nhau chép.

Nhà giáo Trần Thư Nguyên nhớ lại những năm tháng đi B trên chiến trường miền Nam. (Ảnh: PM/Vietnam+)
Nhà giáo Trần Thư Nguyên nhớ lại những năm tháng đi B trên chiến trường miền Nam. (Ảnh: PM/Vietnam+)

Nhà giáo Trần Thư Nguyên vốn là một giáo viên khoa học tự nhiên nhưng vẫn phải nhận nhiệm vụ soạn sách lịch sử. “Đến giờ tôi không nhớ nổi khi đó mình tìm kiếm tư liệu bằng cách nào để hoàn thành được nhiệm vụ đó,” thầy Trần Thư Nguyên, nguyên cán bộ Tiểu ban Giáo dục khu 8, chia sẻ.

Tài liệu có thể tự khắc phục nhưng việc tổ chức lớp học còn khó khăn hơn nhiều lần. Ở vùng giải phóng, giáo viên phải đến từng nhà để động viên, kêu gọi học sinh tới trường.

Thầy Trần Thư Nguyên,  vẫn không thể quên những ngày ngồi xuồng đi khắp vùng sông nước Cửu Long để vận động học sinh.

“Có khi đến nơi thì các em đã theo bố mẹ ra sông đánh cá. Nhưng chúng tôi vẫn kiên trì, nay tới không gặp mai lại tới. Có lẽ vì thấy thầy giáo nhiệt tình, tâm huyết nên người dân cuối cùng vẫn cho con đi học rất đông,” thầy Nguyên nhớ lại.

Vừa học vừa chạy địch càn

Ở các vùng tranh chấp hoặc vùng tạm chiếm, địa điểm lớp học tạm bợ, thay đổi liên tục. Người thầy vừa đứng lớp, vừa sẵn sàng cầm súng đánh giặc khi bị càn. Hàng trăm nhà giáo đã anh dũng hy sinh.

Khi được học cấp tốc để làm giáo viên, Đinh Lê Hà mới 17 tuổi. Lớp học của cô ở Tiểu ban Giáo dục Kiến Phong được dựng bằng tre, lợp lá dừa nước, nép dưới bóng cây tràm, ngay cạnh bờ sông. “Mỗi lần được báo địch càn, chúng tôi giấu tài liệu vào vỏ thùng đựng đạn, bọc kín rồi để xuống dưới nước. Cô trò sẽ lên xuồng vô đầm. Cũng có khi phải ‘chạy’ ngồi ở suối cạn khi trực thăng địch truy đuổi trên đầu,” cô giáo Đinh Lê Hà, nay đã 69 tuổi, kể.

Học sinh miền Nam vượt cầu khỉ tới trường. (Ảnh: NVCC)
Học sinh miền Nam vượt cầu khỉ tới trường. (Ảnh: NVCC)

Nhưng trận càn mà cô Hà nhớ nhất là năm 1969, địch đánh vào Trường Nguyễn Văn Trỗi: “Bị địch đánh lộ căn cứ, cả thầy và trò phải chạy suốt đêm về Côngpôngchàm trên đất bạn Campuchia. Chúng tôi phải chia học sinh, giao cho đoàn thanh niên phụ trách mỗi người một vài em. Lúc đầu các em còn chạy bộ được, sau đó thì chúng tôi phải cõng vì các em quá mệt. Cứ thế, vừa cõng học sinh vừa chạy.”

Nhà giáo Nguyễn Trọng Đàm, nguyên Hiệu trưởng Trường Sư phạm khu 8 vẫn nhớ những ngày cuối khóa đào tạo đầu tiên của trường, ghi lại trong hồi ký: “Hội đồng thi đang chấm bài thì một chiếc máy bay đầm già (máy bay trinh thám –PV) lên đảo một vòng rồi thả trái điểm ngay giữa khu vực trường. Anh em trong hội đồng thi chưa kịp ra công sự thì quả bom đầu tiên nổ cách chỗ chúng tôi hơn chục thước, tiếp theo là liên tục những quả bom và rocket. Tôi kéo các đồng chí vào một công sự chữ A thì một tiếng nổ dữ dội, khói đen bao phủ toàn bộ khu vực, chúng tôi đều có cảm giác như công sự bị sập. Sau trận ném bom kết thúc, chúng tôi nhìn thấy dấu vết một trái bom nổ sát ngay công sự nhưng may mắn miệng bom lại tạt về hướng khác.”

Trên mặt trận giáo dục, nhiều nhà giáo đã vĩnh viễn không thể trở về. (Ảnh: NVCC)
Trên mặt trận giáo dục, nhiều nhà giáo đã vĩnh viễn không thể trở về. (Ảnh: NVCC)

Trong cuộc chiến ác liệt, nhiều nhà giáo đã anh dũng hy sinh. Nhớ về những đồng đội được chi viện về tỉnh Quảng Đà cùng mình năm 1965, nhà giáo Bùi Thị Nguyên cho biết trong số 8 người thì có 4 người hy sinh, một người bị bắt đi tù Côn Đảo, ba người bị thương. Trên tấm bia tưởng niệm liệt sỹ của ngành giáo dục dựng tại Tây Ninh có danh sách của hơn 600 nhà giáo, trong đó có trên 100 nhà giáo từ miền Bắc đi B đã vĩnh viễn nằm lại miền Nam.

Sự càn quét ác liệt của địch cũng khiến cho nhiều kế hoạch phát triển giáo dục của ta bị đổ bể. Năm 1965, Đảng chủ trương thành lập Đại học Sư phạm và đã đưa hơn mười cán bộ của Đại học Tổng hợp Hà Nội vào Nam nhưng kế hoạch không thể triển khai khi Mỹ ồ ạt đưa quân thực hiện Chiến tranh Cục bộ. Năm 1969, hơn 200 cán bộ, giáo viên miền Bắc được bố trí theo 20 khung trường sư phạm với đủ hiệu trưởng, hiệu phó, tổ chuyên môn được chi viện cho miền Nam, sẵn sàng thành lập hệ thống trường đào tạo giáo viên cho khắp các tỉnh Nam bộ, nhưng vào đến nơi thì tình hình chiến sự thay đổi nên cũng không thực hiện được.

Tuy nhiên, giáo dục miền Nam vẫn phát triển mạnh mẽ, bất chấp mọi khó khăn thiếu thốn, mọi sự tàn khốc của chiến tranh, với nhiều cách làm sáng tạo.

Trên tấm bia tưởng niệm liệt sỹ của ngành giáo dục dựng tại Tây Ninh có danh sách của hơn 600 nhà giáo, trong đó có trên 100 nhà giáo từ miền Bắc đi B đã vĩnh viễn nằm lại miền Nam.

Những ngày thâu đêm in sách

và thư viện trong lòng đất

Phạm Mai

Để lưu trữ tài liệu và sách giáo khoa trong điều kiện chiến tranh, Tiểu ban Giáo dục R đã đào một căn hầm sâu và rộng chừng 80m2, thiết kế một sàn gỗ lớn cách tường hầm khoảng 0,6m để đi lại. “Để dưới hầm thì an toàn, nhưng mỗi lần soi đèn pin tìm sách thì những con chôm chôm lại nhảy choi choi vào mặt rất khó chịu,” cô giáo Đinh Lê Hà, nguyện cán bộ Văn thư- Phát hành, Tiểu ban Giáo dục R kể.

Thâu đêm in sách

Mùa hè năm 1968, sau thất bại của chiến dịch Mậu Thân, địch phản kích quyết liệt. Do các nhà giáo cũng tham gia chiến dịch nên các cơ sở trường lớp ở địa phương trước đây được cán bộ giáo dục dày công xây dựng hầu như bị xóa. Hoạt động của Tiểu ban Giáo dục gặp nhiều khó khăn do số cán bộ giáo dục hy sinh và bị bắt rất nhiều. Cô giáo Đinh Lê Hà được huy động về bộ phận Văn thư-Phát hành của Tiểu ban Giáo dục R. Năm ấy, cô Hà tròn 17 tuổi…

“Để dưới hầm thì an toàn, nhưng mỗi lần soi đèn pin tìm sách thì những con chôm chôm lại nhảy choi choi vào mặt rất khó chịu.”

Dù hơn 40 năm đã trôi qua, bà Hà vẫn không thể quên những ngày đầu làm công tác văn thư, lưu trữ, bắt đầu làm quen với đánh máy chữ, in sách giáo khoa. “Anh Hiếu, tổ trưởng, ân cần hướng dẫn tôi đánh máy, cách đặt bàn tay trên phím, phân công các ngón tay, mắt nhìn vào trang bản thảo thế nào để vừa đọc bản thảo vừa đánh cho nhanh. Ban đầu tôi lóng ngóng, gõ lên chữ cứ như gà mổ thóc. Buổi tối, tôi chong đèn học thuộc vị trí các chữ cái trên bàn phím để sớm thành thạo. Nhờ vậy, trong vòng một tuần, tôi đã sử dụng được mười ngón tay, lướt nhanh gần như đánh vần. Chúng tôi đặc biệt lưu ý chữ i và o, vì các từ trong văn bản nếu nhầm thì nghĩa sẽ đổi rất tệ, như từ đồng chí, giáo dục,” bà Hà kể.

Cô Đinh Lê Hà cùng đồng đội trên con đường xuyên trảng cỏ giữa hai căn cứ. (Ảnh: NVCC)
Cô Đinh Lê Hà cùng đồng đội trên con đường xuyên trảng cỏ giữa hai căn cứ. (Ảnh: NVCC)

Khi đánh máy đạt cấp độ cao, bà Hà mới được giao nhiệm vụ đánh trên giấy stencil để in sách. Đó là loại giấy bằng chất liệu đặc biệt dai, được tráng qua một lớp sáp, khi đánh chữ lên đó, máy sẽ đục thủng lớp sáp. Lắp tờ giấy sáp vào khung lụa hoặc vải, kéo ru-lô tráng lớp mực in đi qua sẽ được trang sách đầy chữ. Phương pháp in stencil này được sử dụng tới năm 1973, khi Tiểu ban Giáo dục R được chi viện từ miền Bắc một số thiết bị in typo hiện đại hơn.

Trong điều kiện chiến tranh, phải đảm bảo tiêu chí gọn, nhẹ, vận chuyển thuận lợi nên sách được in theo khổ 13×19, chữ nhỏ, sắc nét để một trang được nhiều chữ.

Ban ngày làm việc ở cứ, ban đêm, bà Hà lại cùng đồng đội đi tải giấy mực, vật liệu văn phòng phẩm, gạo, muối, thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày. “Nhiều khi đi cả đêm, ban ngày đánh máy buồn ngủ quá, đang nghe tiếng gõ giòn tan, phút chốc đã im bặt, quay lại thấy Hiền [đồng đội của bà Hà-PV] gục đầu vào máy ngủ rồi. Những hôm cần tài liệu gấp, chúng tôi làm việc xuyên đêm, người nọ phải canh gọi người kia dậy, rửa mặt, vận động xua tan cơn buồn ngủ rồi lại đánh tiếp cho kịp,” bà Hà kể.

“Những hôm cần tài liệu gấp, chúng tôi làm việc xuyên đêm, người nọ phải canh gọi người kia dậy, rửa mặt, vận động xua tan cơn buồn ngủ rồi lại đánh tiếp cho kịp.”

Hàng ngày, vào một giờ nhất định, các đơn vị trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục cử nhân viên mang văn thư và những tài liệu, sách vở cần phát hành đến tại một điểm an toàn trong khu căn cứ. Địa điểm này được thay đổi luôn để bảo mật. Tài liệu cần chuyển về địa phương hoặc các cơ quan khác sẽ được chuyển ra trạm giao bưu. Ngoài các bọc tài liệu, sách giáo khoa, thư từ cần chuyển thì khi ra trạm giao bưu, ai cũng phải mang một khẩu tiểu liên để phòng biệt kích và thú dữ.

“Chúng tôi thường sử dụng lại những bản tin của Thông tấn xã Giải phóng đã đọc xong để làm phong bì. Gói sách giáo khoa bằng giấy dầu, loại dai như bao xi măng, để bảo vệ được sách khi vận chuyển trong điều kiện mưa gió, đi lại khó khăn khi phải tránh các trận càn của địch. Việc phân phối tài liệu, sách giáo khoa dựa trên số điểm trường, lớp ở các tỉnh và các cơ quan. Khi có thêm lớp, thêm trường sẽ được gửi bổ sung,” bà Hà chia sẻ.

Thư viện trong lòng đất

Để lưu trữ tài liệu và sách giáo khoa đã in, Tiểu ban Giáo dục Ra đã đào một căn hầm sâu và rộng chừng 70-80m2, dưới hầm thiết kế một lớp sàn gỗ lớn, chỉ cách tường hầm khoảng 0,6m để đi lại kiểm tra và xuất nhập sách vở, tài liệu. Hầm chứa sách như một thư viện mini trong lòng đất.

Phút giải lao của các cán bộ Văn thư- Phát hành, Tiểu ban Giáo dục R. (Ảnh: NVCC)
Phút giải lao của các cán bộ Văn thư- Phát hành, Tiểu ban Giáo dục R. (Ảnh: NVCC)

Thư viện trong lòng đất tránh được bom đạn kẻ thù, nhưng lại phải đối diện với nhiều mối nguy cơ khác như mối, mọt, ẩm mốc, đặc biệt là vào mùa mưa. Các cán bộ Văn thư-Phát hành tránh mối bằng cách buộc vào thân mỗi cột tiếp giáp đất một mảnh vải dày, cứ vài ba ngày lại thấm dầu vào miếng vải đó một lần để mối sợ mùi dầu không dám tới.

“Dưới hầm có rất nhiều con chôm chôm, chúng tôi hay gọi là con vũ nữ, cứ nghe hơi người là nó chạy nhảy choi choi, nhảy luôn vào mặt, vào người rất khó chịu. Để khắc phục, chúng tôi xếp sách thành một sơ đồ hợp lý, thuộc nằm lòng để khi cẩn soạn, chỉ quét đèn pin sơ qua là tìm được ngay, ít tốn pin mà lại khỏi làm bạn lâu với mấy con ‘chân dài’ này,” bà Hà cười kể.

Thư viên mini ngoài các tài liệu, sách giáo khoa còn có nhiều tiểu thuyết và truyện dịch như “Thép đã tôi thế đấy”, “Ruồi trâu”, “Sông Đông êm đềm”, “Thời thơ ấu”… Tranh thủ những giờ phút hiếm hoi được nghỉ ngơi để đọc sách, bà Hà bảo những tác phẩm văn học kinh điển ấy đã giúp bồi dưỡng cho vốn ngôn ngữ và những ước mơ thời thiếu nữ của mình được bay bổng hơn, ý chí cũng vững vàng hơn.

Còng lưng cõng sách

Với sự càn quét của địch, hoạt động văn thư cũng như mọi công tác khác đều phải liên tục di chuyển để bảo mật, an toàn. Nhưng với những cán bộ văn thư, phát hành như bà Hà, mỗi lần di chuyển là một lần đào hầm làm thư viện rồi còng lưng cõng sách từ điểm cũ sang điểm mới. “Chúng tôi bỏ sách vào từng bao lớn, cột dưới đáy bao hai cục giấy để giữ sách không bị bẩn và hỏng khi di chuyển, mỗi bao chừng 20 đến 30kg, tùy sức mỗi người, đeo trên lưng để mang đi,” bà Hà kể.

Trong ký ức của người cán bộ giáo dục năm xưa vẫn không quên được những lần địch tấn công, những cán bộ văn thư phải chạy đến điểm an toàn để giữ tính mạng, chờ giặc đi rồi lại quay về khuân vác sách giáo khoa, tài liệu sang cứ mới.

Với những cán bộ văn thư, phát hành như bà Hà, mỗi lần di chuyển là một lần đào hầm làm thư viện rồi còng lưng cõng sách từ điểm cũ sang điểm mới.

“Còn nhớ vào một ngày tháng 5/1970, chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp do có thông tin địch sẽ rải thảm vùng căn cứ Sáu Cầu. Đó là thời điểm bắt đầu trận càn Đông Dương. Trong vòng 15 phút, chúng tôi phải thu xếp tư trang cá nhân cùng với máy móc, công cụ để có thể làm việc bất cứu lúc nào. Khi ấy tôi mang hai ba lô, cái đằng trước là tư trang cá nhân, cái sau lưng là máy chữ, giấy và vật liệu đủ để dùng khi đi đường, đến cứ dự bị Côngpôngchàm ở sâu trên đất bạn Campuchia. Chúng tôi vừa đi vừa chạy, chỉ đi chừng 15 phút là nghe bom nổ ầm ầm nơi cứ cũ. Căn nhà của tôi trúng một trái bom, không còn lại một dấu vết gì là nơi tôi từng sống,” bà Hà kể.

Đến cứ mới, bà Hà cùng đồng đội căng tăng, mắc võng ở tạm, khi ổn định chỗ làm việc lại xây dựng thư viện mini, nhà ở… “Cứ như thế chúng tôi làm việc, lao động và chiến đấu không ngơi nghỉ. Xây dựng rồi bị giặc đánh phá, rồi tiếp tục xây dựng, từ khi phong trào giáo dục còn là số không, phát triển dần lên, quần nhau với giặc… Cho tới một ngày, chính là ngày 30/4/1975, chúng tôi đã vui sướng cùng nhau vào tiếp quản Bộ Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên Sài Gòn,” bà Hà xúc động chia sẻ./.

Những trang sách kịp đến với học sinh là niềm vui của các cán bộ phụ trách Văn thư-Phát hành như cô Hà.(Ảnh: NVCC)
Những trang sách kịp đến với học sinh là niềm vui của các cán bộ phụ trách Văn thư-Phát hành như cô Hà.(Ảnh: NVCC)

Thầy cô giáo “bộ đội giải phóng”

và niềm vui vỡ òa khi tiếp quản

Phạm Mai

“Ngày 30/4/1975, cảm xúc như vỡ òa khi đất nước hoàn toàn giải phóng, chúng tôi, những cán bộ Tiểu ban Giáo dục R vào Sài Gòn tiếp quản các cơ sở giáo dục trong nhiềm vui chiến thắng hân hoan,” bà Đinh Lê Hà xúc động nói.

Vừa đi vừa may cờ Tổ quốc

Từ cuối tháng 3/1975, Tiểu ban Giáo dục R đã lên kế hoạch thành lập Tiểu ban tiếp quản giáo dục Sài Gòn với ba đoàn tiếp quản ở ba bộ phận: Cơ sở Bộ Văn hóa Giáo dụcThanh niên, các viện đại học, các trường trung học. Tiểu ban đã họp để phát quân phục cho các thành viên, tổ chức tập huấn công tác tiếp quản.

Nhớ về những ngày tiếp quản Sài Gòn, bà Đinh Lê Hà vẫn đầy xúc động: “Ngày 28/4/1975, mọi công tác chuẩn bị đã sẵn sàng. Sáng 29/4/1975, xe bắt đầu chuyển bánh đưa chúng tôi tiến về Sài Gòn. Trên xe, chúng tôi vừa đi vừa may cờ Tổ quốc để sẵn sàng treo lên trụ sở Bộ Văn hóa Giáo dục Thanh niên. Xe xóc đâm gẫy cả kim. Ai nấy đều trào dâng niềm vui không gì diễn tả được, niềm vui chiến thắng, vui như nở từng khúc ruột.”  

Đã 45 năm trôi qua, bà Hà vẫn không thẻ quên niềm vui vỡ òa của ngày chiến thắng. (Ảnh: NVCC)
Đã 45 năm trôi qua, bà Hà vẫn không thẻ quên niềm vui vỡ òa của ngày chiến thắng. (Ảnh: NVCC)

“Niềm vui ấy càng vỡ òa khi cả đoàn đi đến gần Củ Chi thì nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng. Đất nước đã hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi đều reo hò. Thế là hòa bình. Thế là không còn bom đạn, không còn lo bị phục kích. Xe chạy băng băng trên đường đất đỏ bụi mù và trong niềm vui chiến thắng hân hoan,” bà Hà bồi hồi kể.

Tới Củ Chi, mọi người đều chỉnh trang lại trang phục, đầu tóc, phủi bụi trên quần áo, thật đàng hoàng tiến về Sài Gòn. Đến Ngã tư Bảy Hiền, đường đông chật cứng người.

“Người dân đứng kín đường đón chào quân giải phóng. Nhiều người tò mò sờ thử vào người tôi xem chiến sỹ cộng sản thì như thế nào rồi thì thào ‘không mọc lông như khỉ nhỉ’, vì họ được giặc tuyên truyền là ‘bảy tên cộng sản đu không gãy cành đu đủ’, và cộng sản ở trong rừng nên ‘mọc lông như khỉ”, bà Hà cười giòn khi nhớ về lần đầu tiên đặt chân đến Sài Gòn hoa lệ. Cô gái Đinh Lê Hà khi ấy mới 19 tuổi. Niềm vui quá lớn khiến cô và bao đồng đội dường như không thể ngủ. “Tới tận mấy năm sau, mỗi dịp 30/4, tôi vẫn không ngủ được vì nhớ lại những cảm xúc của ngày chiến thắng, nhớ đồng đội và những năm tháng ở R,” bà Hà chia sẻ.

“Ngả mũ” trước giải phóng quân

Tiếp quản cơ sở giáo dục của ngụy quyền, các nhà giáo chiến sỹ đã khiến cho lực lượng cán bộ của địch đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về “bộ đội cụ Hồ.”

Nhìn 10 ngón tay như múa trên bàn phím của cô giải phóng quân trẻ tuổi Đinh Lê Hà, đội ngũ văn thư thuộc bộ phận văn phòng của Bộ Văn hóa Giáo dục Thanh niên của ngụy quyền Sài Gòn “choáng váng” vì tốc độ đánh máy quá nhanh.

“Mình đánh máy bằng ngón tay và từng gõ thâu đêm suốt sáng nên đánh rất nhanh, trong khi các cô văn thư ở đây lại gõ máy bằng… bút vì họ sợ hỏng móng tay. Vì thế, nhìn tôi gõ phím, họ lé mắt,” bà Hà cười khi nhớ lại.

Thầy Đỗ Trọng Văn (đi giữa) vào tiếp quản trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. (Ảnh: NVCC)
Thầy Đỗ Trọng Văn (đi giữa) vào tiếp quản trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. (Ảnh: NVCC)

Với nhà giáo Đỗ Trọng Văn, ngày tiếp quản cũng là một kỷ niệm khó quên khi ông được giao nhiệm vụ tiếp quản Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. “Nhiệm vụ của tôi khi ở Tiểu ban Giáo dục R là làm công tác tuyên truyền. Tôi phải nghiên cứu viết bài về giáo dục trong vùng tạm chiếm nên đọc được nhiều bài viết của các giáo sư, trí thức ở vùng tạm chiếm, trong đó có các giáo sư của Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Vì thế, khi gặp các giảng viên, giáo sư của trường, tôi nói chuyện, phân tích về nền giáo dục Sài Gòn và nền giáo dục cách mạng ở miền Bắc, trong đó có đề cập đến các quan điểm giáo dục của chính các giáo sư này khiến họ rất ngạc nhiên. Họ không hiểu tại sao ‘các anh bộ đội giải phóng’ đội mũ tai bèo lại am hiểu về giáo dục như thế. Họ đặt ra những câu hỏi về giáo dục của hai chế độ miền Nam và miền Bắc, về tương lai của nền giáo dục nước nhà, tôi đều trả lời rành mạch nên họ rất khâm phục bộ đội cụ Hồ,” thầy Trọng Văn chia sẻ.

Nhà giáo Hoàng Tư Hậu, khi được giao nhiệm vụ đứng lớp để giảng về giáo dục cách mạng cho các giáo viên ngụy quyền, chỉ bằng một bài thơ đã thay đổi góc nhìn của các giáo viên này về người chiến sỹ giải phóng. Ông kể trong tuyển tập “Nhà giáo Nghệ An đi B, một thời để nhớ”: “Một buổi tối, anh em đề nghị tôi hát, tôi xin đọc bài thơ ‘Lửa Đèn’ của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mấy trăm giáo viên ở sân trường Tiểu học Gò Dầu im phăng phắc. Khi tôi đọc: ‘Anh cùng em sang bên kia cầu…’ Tôi nghỉ uống nước, nghe tiếng nho nhỏ: ‘Họ cũng yêu, cũng tình cảm đó chứ’. Khi đọc đến đoạn: “Ta thắp đèn lên đỉnh núi, gọi quân giặc đem bom đến dội, cho đá lở đá lăn, lấy đá kê cầu… Ta bật đèn pha ôtô trong chớp lòe ánh đạn. Rồi tắt đèn quay xe, đánh lạc hướng giặc rồi ta lại lái xe đi. Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng. Anh dắt tay em, trời chi chít sao giăng…” Đọc đến đây thì tiếng vỗ tay rầm rầm không dứt. Âm thanh ấy như còn đọng trong đầu tôi đến tận bây giờ”./.

Niềm vui ngày gặp lại của những người thầy cô giáo miền Bắc từng cống hiến cả tuổi thanh xuân cho giáo dục miền Nam. (Ảnh: NVCC)
Niềm vui ngày gặp lại của những người thầy cô giáo miền Bắc từng cống hiến cả tuổi thanh xuân cho giáo dục miền Nam. (Ảnh: NVCC)

Giải phóng mặt bằng ở Hà Nội

Chính sách thiếu đồng nhất

Theo đánh giá của cơ quan chức năng, giải phóng mặt bằng luôn được các bộ, ngành, địa phương xác định là việc khó. Song với thành phố Hà Nội, việc này lại càng khó khăn hơn bởi đặc thù ở đây “tấc đất là tấc vàng.”

Do giá trị của đất cao, cũng như vấn đề phức tạp nên thống kê cho thấy có trên 70% số đơn thư khiếu nại, kiến nghị tại Hà Nội liên quan đến đất đai và giải phóng mặt bằng.

Có thể thấy chính sách giải phóng mặt bằng giống nhau nhưng việc thực thi, “cầm cân nảy mực” ở một số nơi còn tùy tiện, tư lợi, tham nhũng nên không cho ra mẫu số chung, dẫn đến việc người chây ì giải phóng mặt bằng lại được hưởng đền bù giá cao, gây bức xúc không chỉ ở Hà Nội hiện nay.

Do mất lòng tin từ “kẽ hở” trong giải phóng mặt bằng nên nhiều người, nhiều nơi có những hành vi cản trở quá trình thu hồi đất.

Do mất lòng tin từ “kẽ hở” trong giải phóng mặt bằng nên nhiều người, nhiều nơi có những hành vi cản trở quá trình thu hồi đất.

Trong quá trình hoàn thiện, phát triển của mỗi địa phương sẽ không tránh khỏi việc giải phóng mặt bằng, khiến nhiều hộ dân phải rời xa nơi “chôn rau cắt rốn” của mình để dành đất cho công trình. Đó là tất yếu của một xã hội.

Nhưng với tính chất phức tạp của việc giải phóng mặt bằng nên tại Hà Nội cũng như một số tỉnh, thành khác trên cả nước, việc này thường kéo dài, vắt qua nhiều thời kỳ.

Trong khi đó, chính sách giải phóng mặt bằng liên tục thay đổi, dẫn tới việc chính quyền áp giá đền bù, hỗ trợ cho người bị mất đất không đồng nhất. Thế nên có thực tế, một thửa ruộng, mảnh vườn áp dụng hai giá đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Điều này làm cho người dân bị mất đất rất tâm tư, dùng dằng khi bàn giao đất cho chủ đầu tư, tạo ra hệ lụy lâu dài cho xã hội.

Mỏi mòn đi tìm công bằng

Năm nay hơn 60 tuổi, ông Nguyễn Tiến Dũng ở xóm Đình, thôn Triều Khúc, xã Tân Triều (Thanh Trì, Hà Nội) đã nếm đủ ngọt đắng trong đời nhưng khi nhắc đến đền bù giải phóng mặt bằng dự án Tây Nam Kim Giang giai đoạn 1, ông lại cảm thấy cay mắt như chực khóc.

Nhớ lại thời điểm bắt đầu triển khai giải phóng mặt bằng vào năm 2007, khi đó gia đình ông đã dành 680m2 đất nông nghiệp trồng lúa, rau màu cho dự án với giá đền bù là 162.000/m2, cùng tiền hỗ trợ khác nữa.

Cũng thời điểm đó, ông Dũng đăng ký nhận 60m2 đất tái định cư theo quy định. Nhưng từ đó đến nay, gia đình ông chưa được nhận tiền đền bù đất và suất đất tái định cư.

Để ổn định cuộc sống sau khi mất đất cho dự án, gia đình ông đã xoay sang nghề bán đồ ăn sáng, kiếm thu nhập qua ngày.

Ông Nguyễn Tiến Dũng ở xóm Đình, thôn Triều Khúc, xã Tân Triều (Thanh Trì, Hà Nội) chia sẻ về việc 13 năm chưa nhận được đền bù hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Tây Nam Kim Giang. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Ông Nguyễn Tiến Dũng ở xóm Đình, thôn Triều Khúc, xã Tân Triều (Thanh Trì, Hà Nội) chia sẻ về việc 13 năm chưa nhận được đền bù hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Tây Nam Kim Giang. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Trong ngôi nhà cấp 4 của mình, ông Dũng thở dài và hướng ánh nhìn về phía các tòa nhà cao tầng ở khu Tây Nam Kim Giang, mọc lên trên chính mảnh ruộng của mình than thở: “Mong Nhà nước sớm trả tiền đền bù và đất tái định cho người dân để ổn định cuộc sống, yên tâm khi về già.”

Ông Dũng nói thêm cùng thời điểm trên, cụ Nguyễn Huy Tiệc – bố đẻ của ông – đã bàn giao 170m2 đất nông nghiệp cho dự án Tây Nam Kim Giang. Đồng thời, nhận tiền đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cùng 60m2 đất tái định cư.

Dự án Tây Nam Kim Giang được hình thành cách đây 13 năm theo Quyết định số 4272 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ngày 26/10/2007, về việc thu hồi 357.910m2 đất tại xã Tân Triều (Thanh Trì) để làm quỹ nhà tái định cư cho thành phố.

Lúc bấy giờ, thành phố giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố thực hiện giải phóng mặt bằng.

Vốn là một khu ruộng màu mỡ, khu Tây Nam Kim Giang đã mọc lên những khối nhà cao hơn 20 tầng với dáng vẻ một khu đô thị mới đang hình thành. Song dưới chân tòa nhà cao tầng ấy, còn có những ruộng, khu đất được quây tôn, cỏ mọc um tùm cho thấy khu Tây Nam Kim Giang vẫn đang dở dang giải phóng mặt bằng.

Dự án Tây Nam Kim Giang sau 13 năm triển khai vẫn đang dang dở giải phóng mặt bằng. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Dự án Tây Nam Kim Giang sau 13 năm triển khai vẫn đang dang dở giải phóng mặt bằng. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tân Triều Đặng Ngọc Quyền, sở dĩ công tác giải phóng mặt bằng bị tắc là do thay đổi chính sách đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng bị thay đổi.

Cụ thể, ngày 29/9/2008 Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 18/2008/QD-UBND; trong đó quy định hỗ trợ, chuyển đổi việc làm cho các hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao 60m2 đất ở hoặc nhà ở.

Tuy nhiên, ngày 29/9/2009, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội lại ban hành Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND nhằm thay thế Quyết định số 18 kể trên.

Theo Quyết định số 108 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng đối với cá nhân bị thu hồi đất được tính bằng 5 lần giá đất nông nghiệp, không còn quy định hỗ trợ bằng đất như Quyết định số 18.

Nhưng khi áp dụng chính sách đền bù mới vào thực tế lại vấp phải sự phản đối của đa số các hộ dân. Phần lớn các hộ dân Tân Triều vẫn muốn nhận 60m2 đất ở vì cho rằng như thế có lợi hơn nhận hỗ trợ bằng tiền.

Do chính sách thay đổi như vậy nên trong cùng một dự án chỉ có 161/414 hộ được bố trí tái định cư, số hộ còn lại áp dụng giá bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng bằng tiền

Vẫn theo ông Quyền, do chính sách thay đổi như vậy nên trong cùng một dự án chỉ có 161/414 hộ được bố trí tái định cư, số hộ còn lại áp dụng giá bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng bằng tiền là 810.000 đồng/m2.

Cùng một dự án nhưng tại xã Tân Triều đã có hai chính sách được áp dụng nên nhiều ngày nay người dân Tân Triều vẫn gửi đơn đi nhiều nơi để tìm sự công bằng.

Trao đổi về vấn đề nói trên, ông Bùi Huy Hoàng, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Thanh Trì, cho biết nguyên nhân của việc 253 hộ còn lại không được nhận hỗ trợ bằng đất mà phải nhận bồi thường bằng tiền là do không có đơn đăng ký nguyện vọng lấy đất. Hơn nữa những hộ được hỗ trợ bằng đất ở là chính sách đền bù từ trước năm 2014.

Còn sau mốc thời gian đó, trên địa bàn thành phố Hà Nội không còn chính sách hỗ trợ bằng đất khi thu hồi đất nông nghiệp nên phía Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Trì dù muốn cũng không thể giao đất dịch vụ cho người dân tại dự án Tây Nam Kim Giang.

“Hiện tại Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Trì cũng đang rất cố gắng báo cáo Ủy ban Nhân dân thành phố và các Sở, ban, ngành liên quan xem xét tháo gỡ, đáp ứng nguyện vọng của người dân,” ông Hoàng thông tin thêm.

Dùng dằng đi-ở

Những ngày Hè năm 2020, tâm trạng của nhiều hộ dân thôn 2, xã Hồng Kỳ (tiếp giáp cổng chính của bãi rác Nam Sơn) càng chộn rộn hơn.

Họ đang bị vận động, yêu cầu phải di dời khỏi mảnh đất “chôn rau cắt rốn” của mình để dành đất mở rộng bãi rác Nam Sơn thêm 500m tính từ chân tường rào của bãi.

Thôn 2 có 255 hộ dân thuộc diện di dời, song đến nay chưa ai nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng về đất ở. Theo tìm hiểu của phóng viên, hiện thành phố Hà Nội đang áp dụng giá đền bù đối với đất thổ cư tại thôn 2 là 4,08 triệu đồng/m2. Còn đất vườn liền kề có giá đền bù là 500.000 đồng/m2. Hiện, người dân bày tỏ băn khoăn về đơn giá đền bù trên.

Bí thư Chi bộ thôn 2 Nguyễn Thanh Kỳ cho biết phần lớn người dân ở đây đều có diện tích đất thổ cư lớn. Nhiều gia đình được cấp “sổ đỏ” tới 2.000m2 đất thổ cư.

Bí thư Chi bộ thôn 2 (xã Hồng Kỳ) Nguyễn Thanh Kỳ chia sẻ về giải phóng mặt bằng bãi rác Nam Sơn bán kính 500 mét. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Bí thư Chi bộ thôn 2 (xã Hồng Kỳ) Nguyễn Thanh Kỳ chia sẻ về giải phóng mặt bằng bãi rác Nam Sơn bán kính 500 mét. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Trong khi đó, chính quyền thành phố chỉ tính đền bù cho người dân có 400m2 (hạn mức đất ở tối đa cho phép), số diện tích còn lại tính giá đất vườn liền kể, trồng cây lâu năm.

“Nếu tách bạch rạch ròi ra như vậy thì đa số dân chúng tôi dành hết cả tiền đền bù đất thổ cư, ruộng vườn cũng chưa đủ mua một suất tái định cư. Vậy sau giải phóng mặt bằng chúng tôi sống thế nào?” Bí thư Chi bộ thôn 2 trăn trở.

Theo kế hoạch của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, có hơn 1.100 hộ dân thuộc diện di dời giải phóng mặt bằng dành đất mở rộng bãi rác. Đến nay, huyện Sóc Sơn đã chi trả tiền đền bù, hỗ trợ hoa màu và đất nông nghiệp được hơn 90% số hộ.

Còn về đất thổ cư, mới chỉ dừng ở bước lập và công khai phương án đền bù chứ chưa chi trả được cho hộ dân nào. Trong khi đó, thành phố Hà Nội đặt ra yêu cầu với huyện Sóc Sơn là đến thời điểm tháng 7 năm nay hoàn thành đền bù giải phóng mặt bằng bãi rác.

Theo Ban Kinh tế-Ngân sách Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, dự án giải phóng mặt bằng bãi rác Nam Sơn thuộc diện được thành phố Hà Nội dùng ngân sách để đền bù cho các hộ dân của ba xã Nam Sơn, Hồng Kỳ và Bắc Sơn.

Đến hết năm 2019, các ngành chức năng của thành phố mới chỉ giải ngân được 500 tỷ đồng/3.000 tỷ đồng cho giải phóng mặt bằng bãi rác lớn nhất Thủ đô này. Do không đảm bảo tiến độ giải ngân giải phóng mặt bằng bãi rác nên đã làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chung của cả thành phố.

Chính phủ nhận định, giải phóng mặt bằng đang là thủ phạm “bóp nghẹt” việc giải ngân vốn đầu tư công không chỉ ở Hà Nội mà đang diễn ra ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.

Vì chưa có mặt bằng “sạch” nên nhiều dự án, công trình chưa thể thi công khiến phát sinh nhiều hệ lụy từ đội vốn đầu tư, ách tắc giải ngân vốn, giảm hiệu lực, hiệu quả của nguồn vốn đầu tư./.

Chị Đinh Thị Cảnh - người dân thôn 2, xã Hồng Kỳ dùng dằng chưa muốn di dời giải phóng mặt bằng mở rộng bãi rác Nam Sơn vì giá đền bù chưa thỏa đáng. (Ảnh: Mạnh Khánh/Vietnam+)
Chị Đinh Thị Cảnh – người dân thôn 2, xã Hồng Kỳ dùng dằng chưa muốn di dời giải phóng mặt bằng mở rộng bãi rác Nam Sơn vì giá đền bù chưa thỏa đáng. (Ảnh: Mạnh Khánh/Vietnam+)

Dự án bị ‘ngâm’ nên ứ vốn đầu tư công

Với thành phố Hà Nội, việc giải ngân vốn đầu tư công sẽ rất quan trọng, bởi nguồn vốn này của thành phố giai đoạn 2016-2020 chiếm tỷ trọng 10% vốn đầu tư công của cả nước.

Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay ở Hà Nội và nhiều tỉnh, thành trong cả nước xung quanh việc giải ngân vốn đầu tư công được nhận diện chính là khâu giải phóng mặt bằng.

Điều này khiến nhiều công trình giao thông “đắp chiếu,” kéo dài cả chục năm; vốn đội lên gấp nhiều lần so với ban đầu, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực Nhà nước.

Tiền có mà đường chưa thông

Giải ngân vốn đầu tư công đang là câu chuyện thời sự của nhiều Bộ, ngành, tỉnh, thành phố lúc này. Theo Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, năm 2020, thành phố bố trí kế hoạch vốn đầu tư công khoảng 28.000 tỷ đồng cho 581 dự án.

Khối lượng công việc khổng lồ như vậy nhưng qua số liệu của Kho bạc Nhà nước Hà Nội, trong 8 tháng năm 2020, ước tính thành phố giải ngân được khoảng 14.000 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt trên 50% kế hoạch. Trong số đó, có nhiều dự án đạt tỷ lệ giải ngân rất thấp.

Về điều này đã được ông Lương Thanh Phong, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp thành phố thừa nhận, đến tháng 9/2020, Ban mới thực hiện giải ngân đạt 38% kế hoạch.

Riêng về dự án trụ sở Thành ủy, hiện đang hoàn thiện hồ sơ nên giải ngân đến tháng 1/2020 mới đạt 18,9%. Về dự án Cột cờ Hà Nội tại Mũi Cà Mau (Cà Mau), đã đưa vào sử dụng từ tháng 10/2019, mới giải ngân đạt 6%.

Còn ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt đô thị Hà Nội, cho biết dự án đường sắt đô thị Hà Nội đến ngày 10/9 mới giải ngân được khoảng hơn 13.000 tỷ đồng, bằng 40,87% tổng nguồn vốn. Nguyên nhân là vướng mắc trong việc giải phóng mặt bằng, mặt bằng xen kẹt khiến việc thực hiện bị ngắt quãng, kéo dài.

Dự án đường sắt đô thị Hà Nội đến ngày 10/9 mới giải ngân được khoảng hơn 13.000 tỷ đồng, bằng 40,87% tổng nguồn vốn 

Một số dự án khác cũng trong cảnh “rùa bò” dẫn đến giải ngân thấp dưới 5% như: đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục trong dự án đường Vành đai 1 thuộc địa bàn 2 quận Đống Đa, Ba Đình được Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư từ cuối năm 2017, với kế hoạch hoàn thành vào năm 2020. Nhưng sau 3 năm dự án chưa được triển khai do vướng mắc giải phóng mặt bằng. Hay dự án Quốc lộ 1A đoạn đi qua địa phận Thanh Trì cũng đang dở dang sau hàng chục năm ì ạch… Mặt bằng sạch để thi công đang là yêu cầu cấp bách đối với các dự án này.

Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội, các dự án đầu tư công, sử dụng vốn ngân sách của thành phố đều là các dự án thuộc những lĩnh vực quan trọng, thiết yếu có ý nghĩa dân sinh với Thủ đô như: xây dựng, giao thông, văn hóa, môi trường, cấp thoát nước…

Cưỡng chế giải phóng mặt bằng tại thôn Đoài và thôn Đông, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh. (Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN)
Cưỡng chế giải phóng mặt bằng tại thôn Đoài và thôn Đông, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh. (Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN)

Kết quả giải ngân chậm ảnh hưởng tới đời sống dân sinh, phát triển kinh tế-xã hội. Nguyên nhân dẫn tới giải ngân vốn đầu tư chậm, ngoài năng lực của cán bộ thì mẫu số chung là do vướng mặt bằng sạch để thi công dự án.

Trước thực trạng trên, ngày 31/8, tại phiên giải trình về đầu tư công của thành phố, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc yêu cầu các dự án không vướng mắc mà giải ngân chỉ đạt 41% thì cần làm rõ lý do vì sao không giải ngân được, từ đó đề nghị Ủy ban Nhân dân thành phố cần phân loại, phân công, phân nhiệm, nghe báo cáo về từng dự án và làm việc với các quận, huyện để tháo gỡ; nếu có khó khăn về cơ chế, chính sách thì đề xuất Hội đồng Nhân dân thành phố.

Cơ chế bồi thường còn nhiều bất cập

Theo bà Hồ Vân Ngân, Trưởng Ban Kinh tế-Ngân sách của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội, qua nhiều lần giám sát tại các dự án chậm triển khai do vướng mặt bằng nhận thấy, cơ chế bồi thường giải phóng mặt bằng hiện nay còn nhiều bất cập. Đó là chủ đầu tư, đơn vị thực hiện giải phóng mặt bằng khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất, quy định về giá đất thay đổi, khiến cho một số người có tâm lý kéo dài việc giải phóng mặt bằng để được tăng giá đền bù.

Còn về nguyên nhân chủ quan, việc tuyên truyền đến người dân về chính sách giải phóng mặt bằng còn chưa đầy đủ. Cùng với đó, tình trạng chưa minh bạch và công bằng trong lập phương án đền bù giải phóng mặt bằng cũng gây tâm lý không tin tưởng trong người dân, từ đó, tạo cơ sở cho việc chây ì hoặc khiếu kiện vượt cấp để mong muốn được hưởng thêm quyền lợi trong đền bù giải phóng mặt bằng.

Giải phóng mặt bằng vốn là vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Qua tìm hiểu, chỉ cần người thực thi công vụ tư lợi, có thể Nhà nước bị thất thoát hàng tỷ đồng ngân sách. Thực tế tại Hà Nội đã có những vụ việc cán bộ tư túi, khiến ngân sách bị thất thoát, lòng tin của người dân bị hao mòn, công tác giải phóng mặt bằng bị ảnh hưởng.

Phương tiện cơ giới được huy động để tiến hành cưỡng chế giải phóng mặt bằng. (Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN)
Phương tiện cơ giới được huy động để tiến hành cưỡng chế giải phóng mặt bằng. (Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN)

Đơn cử là năm 2007, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có quyết định thu hồi 1.173.030 m2 đất tại xã Cổ Nhuế và Xuân Đỉnh (nay là phường Xuân Tảo và phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm). Khi đó, Ủy ban Nhân dân huyện Từ Liêm (cũ) ra quyết định thu hồi đất của từng hộ gia đình để bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng theo quy định.

Tổng kinh phí giải phóng mặt bằng theo dự toán là 337,1 tỷ đồng. Nguồn tiền này do Công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển THT ứng trước và sau này được đối trừ vào tiền thuê đất.

Trong quá trình giải phóng mặt bằng, Thanh tra thành phố Hà Nội phát hiện tổ công tác xã Xuân Đỉnh và Ủy ban Nhân dân xã Xuân Đỉnh không thực hiện đúng quy trình dẫn đến sai phạm về kê khai hiện trạng, xác nhận, thẩm định nguồn gốc đất gây thất thoát cho Nhà nước số tiền hơn 26,9 tỷ đồng. Đã có 8 bị can đi tù vì tham ô trong giải phóng mặt bằng nêu trên.

Hay như những sai phạm trong đền bù giải phóng mặt bằng tại dự án Khu công nghệ cao Hòa Lạc sau nhiều năm được làm rõ với việc cán bộ xã, huyện ở Thạch Thất đã lập hồ sơ khống rút ruột nhà nước hơn 3 tỷ đồng.

Trước hành vi trên, ngày 25/11/2016, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên sơ thẩm và tuyên phạt 8 bị cáo với hai tội danh “Nhận hối lộ” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.” Tổng hình phạt của các bị cáo là 55 năm tù.

Nhìn nhận về vấn đề trên, ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, hiện có một bộ phận cán bộ làm giải phóng mặt bằng năng lực còn hạn chế và thiếu chuyên nghiệp. Họ chưa làm tốt tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật.

Mặt khác, khi triển khai giải phóng mặt bằng lại quá thiên về biện pháp hành chính, áp đặt hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm.

Các thông tin về giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, phương án giải quyết việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi ở một số dự án được đưa ra nhỏ giọt, thiếu công khai, dân chủ, chưa đảm bảo đúng lợi ích mọi mặt của những người bị thu hồi đất. Điều này dẫn đến người dân chưa tin tưởng bàn giao đất và tài sản, hoa màu… trên đất cho chủ đầu tư…/.

Khu vực cưỡng chế giải phóng mặt bằng thuộc ô đất số 3 phường Phương Liên (Đống Đa). (Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN)
Khu vực cưỡng chế giải phóng mặt bằng thuộc ô đất số 3 phường Phương Liên (Đống Đa). (Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN)

‘Gỡ nghẽn’ chính sách

Trong thời gian qua, do đô thị hóa nhanh, nhu cầu phát triển hạ tầng đô thị mạnh mẽ dẫn tới mỗi năm khối lượng giải phóng mặt bằng tại Hà Nội và cả nước nói chung rất lớn.

Riêng tại Hà Nội, theo số liệu của Ủy ban Nhân dân thành phố, thời gian tới, thành phố cần phải giải phóng mặt bằng khoảng 2.700 dự án với diện tích thu hồi đất gần 6.000ha, liên quan tới trên 80.000 hộ dân, số tiền bồi thường, hỗ trợ khoảng 60.000 tỷ đồng.

Thành phố cần bố trí tái định cư cho khoảng 19.000 hộ dân sau khi giải phóng mặt bằng. Vì vậy, Hà Nội xác định giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu và chỉ đạo các quận, huyện, thị xã cùng ban ngành tập trung thực thi.

Doanh nghiệp loay hoay mắc kẹt

Ngoài bất cập như ở xã Tân Triều (Thanh Trì) có hai chính sách đền bù cho dự án khu Tây Nam Kim Giang, ở một số nơi khác, cũng xảy ra trường hợp không thống nhất về cách tính giá đền bù đối với vị trí thu hồi.

Điển hình như trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Liên ở thôn 7, xã Đông Dư (Gia Lâm) có 1 thửa đất ở bị thu hồi để thực hiện 2 dự án. Trong đó, dự án đường hành lang chân đê áp mức bồi thường với đất ở vị trí 2; còn dự án đường Đông Dư-Dương Xá lại áp dụng vị trí 3.

Chưa hết, trên cùng rẻo đất cạnh nhà ông Liên, có 9 hộ khác bị thu hồi đất để phục vụ dự án xây dựng Bộ Tư lệnh Hải quân và đơn vị vệ tinh, lại được áp dụng vị trí 2.

Do đó, gia đình ông Liên và 6 hộ khác đang bị áp vị trí 3 đang chưa đồng thuận, kiến nghị với huyện Gia Lâm để được áp giá bồi thường ở vị trí 2, nhằm đảm bảo quyền lợi cho mình.

Ngoài ra, Luật Đất đai vẫn đang cho tồn tại hai hình thức thu hồi, đền bù trong giải phóng mặt bằng. Đó là dự án do Nhà nước thu hồi đất (bắt buộc) và dự án doanh nghiệp tự thỏa thuận (tự nguyện) đền bù với người dân có quyền sở hữu đất.

Do có hai cơ chế giải phóng mặt bằng như kể trên đã tạo sự chênh lệch bất bình đẳng về giá bồi thường giải phóng mặt bằng ngay trên cùng một cánh đồng, một địa phương, gây nên nhiều tranh chấp, khiếu kiện về đất đai.

Thực tế đang diễn ra cho thấy, cơ chế doanh nghiệp phải tự thỏa thuận khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực hiện dự án có mục đích kinh doanh đang đẩy doanh nghiệp lâm vào thế “niềm đau dai dẳng” khi “ôm” đất 10 năm mà chưa thể nhận được cái “bắt tay” từ phía người dân.

Câu chuyện của dự án nhà ở, văn phòng Phan Trọng Tuệ (Thanh Trì) của Công ty cổ phần Đầu tư Đồng Phát cho thấy một thực tế “mặn chát” về tự thỏa thuận giải phóng mặt bằng.

Trong vòng 2 tháng năm 2019, xã Minh Tân (Sóc Sơn) đã hoàn thành giải phóng  mặt bằng hơn 700 ngôi mộ của hơn 200 hộ dân để dành đất mở trường đua ngựa trong  tương lai. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Trong vòng 2 tháng năm 2019, xã Minh Tân (Sóc Sơn) đã hoàn thành giải phóng mặt bằng hơn 700 ngôi mộ của hơn 200 hộ dân để dành đất mở trường đua ngựa trong tương lai. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Từ năm 2014, chủ đầu tư đã được thành phố chấp thuận chuyển đổi hơn 1.000m2 đất nông nghiệp phù hợp quy hoạch để làm khu nhà ở.

Theo đó, chủ đầu tư đã mua quyền sở hữu đất nông nghiệp của người dân từ năm 2015 đến nay với nhiều mức giá khác nhau.

Song, doanh nghiệp đang bế tắc khi thời điểm này chưa thể thỏa thuận đền bù giải phóng mặt bằng với 7 hộ dân cuối cùng nằm trong dự án có diện tích khoảng 550m2, dù đã trả giá khá cao so với mặt bằng quanh khu vực. Điều này làm cho dự án bị chậm thời gian khởi công nhiều năm so với kế hoạch ban đầu.

“Doanh nghiệp đang mong muốn huyện Thanh Trì có hướng dẫn cụ thể về cách giải quyết đối với những hộ không đồng tình phương án thỏa thuận mà công ty đưa ra, sau khi đã căn cứ các quy định của pháp luật. Chứ cứ dây dưa kéo dài thì sẽ rất khó khăn, phá vỡ hết kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp,” ông Tô Nhật Phương – Trưởng phòng Đầu tư dự án Công ty cổ phần Đầu tư Đồng Phát đề xuất.

 Toàn thành phố Hà Nội có tới 383 dự án, chiếm 80% dự án tự thỏa thuận giải phóng mặt bằng đang “đắp chiếu” để hoang hóa 

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội, toàn thành phố có tới 383 dự án, chiếm 80% dự án tự thỏa thuận giải phóng mặt bằng đang “đắp chiếu” để hoang hóa. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên liên quan đến việc không thể giải phóng mặt bằng.

Còn theo phản ánh của các doanh nghiệp, mặc dù, các quy định về mức bồi thường, hỗ trợ đã được quy định trong các văn bản pháp luật của Nhà nước và địa phương nhưng không ít hộ dân có những đòi hỏi vượt quá mức quy định chung.

Khi chủ đầu tư không đồng ý thì họ không chịu di dời, gây khó khăn, làm ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của cả chủ đầu tư và những hộ dân khác. Bất cập trên đang khiến nhiều doanh nghiệp loay hoay mắc kẹt trong xử lý chính sách về đất đai, đọng vốn dẫn đến khả năng phá sản dự án.

Khó-dễ là do cách làm

Cùng một chính sách giải phóng mặt bằng giống nhau nhưng chỉ có khác về cách thực thi đã cho ra kết quả khác nhau trong công tác này. Trên thực tiễn tại Hà Nội đã xuất hiện cách làm hay, sáng tạo không gây bức xúc, khiếu kiện kéo dài. Giải phóng mặt bằng đã là động lực cho kinh tế-xã hội địa phương phát triển.

Như vẫn còn nguyên cảm xúc ngổn ngang và trăn trở khi chia sẻ về những ngày làm dân vận giải phóng mặt bằng dự án mở rộng, nâng cấp ngõ Chùa Liên Phái (Cầu Dền-Hai Bà Trưng), Bí thư Chi bộ 5 phường Cầu Dền Đỗ Thị Sáng cho biết, năm 2017, ban đầu một số người dân còn bị tác động bởi sự xúi giục của người ngoài nên nhất định không hợp tác với chính quyền và những người làm dân vận giải phóng mặt bằng.

Ngõ chùa Liên phái Cầu Dền (Hai Bà Trưng) được mở rộng sau khi chính quyền vận động người dân bàn giao giải phóng mặt bằng. (Ảnh: Mạnh Khánh/Vietnam+)
Ngõ chùa Liên phái Cầu Dền (Hai Bà Trưng) được mở rộng sau khi chính quyền vận động người dân bàn giao giải phóng mặt bằng. (Ảnh: Mạnh Khánh/Vietnam+)

Hiểu được tâm lý “tiếc của” của người dân khi đất đai, nhà cửa có giá trị sử dụng lớn nên muốn Nhà nước áp giá đền bù cao nên bà Sáng khéo léo vận động và đến gặp các hộ dân kể cả buổi tối, hay khi thời tiết không thuận lợi như mưa to, gió lớn. Từ đó, người dân thấy được sự nhiệt tình, trách nhiệm của cán bộ dân vận với công việc chung mà tích cực hợp tác.

“Tuy khổ cực một chút mà thành công. Nhờ làm tốt công tác dân vận, ngõ Chùa Liên Phái được mở rộng 6m, trải bê tông nhựa phẳng lì, hai bên đường nhà cửa khang trang, sạch đẹp,” bà Sáng chia sẻ.

Ở thời điểm năm 2019-2020 quận Hai Bà Trưng có 40 dự án đang tiến hành xây dựng liên quan đến giải phóng mặt bằng; trong đó, một dự án trọng điểm của thành phố là đường Vành đai 2 (đoạn cầu Vĩnh Tuy-Ngã Tư Vọng), đi qua nhiều phường, ảnh hưởng tới hơn 4.000 hộ dân trên địa bàn.

Với số lượng người dân bị ảnh hưởng từ giải phóng mặt bằng “khủng” nhất thành phố, quận này đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tích cực tuyên truyền vận động, bám sát chỉ đạo.

“Điểm khác biệt là quận phân công công việc trên tinh thần rõ người, rõ việc và có sự kiểm tra chéo lẫn nhau trong quá trình làm việc, trên cơ sở đảm bảo đúng quy trình. Quan điểm của quận, tập trung tuyên truyền, đối thoại từ cấp cơ sở; hạn chế đơn thư khiếu kiện vượt cấp, không tạo điểm “nóng” gây mất trật tự an toàn xã hội,” ông Nguyễn Quang Trung, Phó Bí thư quận ủy Hai Bà Trưng nêu kinh nghiệm.

Đường vành đai 2 đoạn cầu Vĩnh Tuy-Ngã Tư Sở. (Nguồn: TTXVN)
Đường vành đai 2 đoạn cầu Vĩnh Tuy-Ngã Tư Sở. (Nguồn: TTXVN)

Còn tại huyện Đông Anh, trong 3 năm trở lại đây đã giải phóng mặt bằng xong hơn 200 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế-xã hội… bàn giao hơn 430 ha đất, liên quan hơn 7.300 tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, với số tiền đền bù là 2.500 tỷ đồng.

Theo đó, có nhiều dự án quan trọng tầm cỡ quốc gia như: Dự án xây dựng cầu Nhật Tân và đường nối cầu Nhật Tân đi Sân bay quốc tế Nội Bài, Quốc lộ 3 mới, đường 5 kéo dài, Thành phố thông minh, Công viên Kim Quy, Trung tâm triển lãm quốc gia…

Dù khối lượng công việc giải phóng mặt bằng đồ sộ như vậy nhưng huyện đã hoàn thành và bàn giao đất đúng tiến độ, được thành phố đánh giá cao.

Theo ông Lê Trung Kiên, Bí thư huyện ủy Đông Anh, ngoài công khai minh bạch, đơn giá đền bù hỗ trợ, huyện còn tổ chức nhiều hội nghị, đối thoại để tuyên truyền, phổ biến các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tới gần 10.000 hộ dân nhằm giải đáp các khó khăn, vướng mắc…

Ngoài ra, huyện còn ban hành quy trình giải phóng mặt bằng với 18 bước, cụ thể hóa các văn bản của cấp trên để người dân và doanh nghiệp nắm được. Nhờ đó, hầu hết nhân dân đồng thuận chủ trương của Đảng, chấp hành quy định pháp luật của Nhà nước về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, bàn giao đất cho chủ đầu tư.

Hay vấn đề giải phóng mặt bằng nghĩa trang để dành đất cho công trình luôn khiến nhiều địa phương e ngại, đụng chạm đến vấn đề tâm linh của mỗi hộ gia đình. Thế nhưng ở xã Tân Minh (Sóc Sơn), trong vòng 2 tháng năm 2019 đã hoàn thành giải phóng mặt bằng  hơn 700 ngôi mộ của hơn 200 hộ dân để dành đất mở trường đua ngựa trong tương lai.

“Chúng tôi chọn thời điểm cuối năm để vận động người dân bàn giao mộ cho dự án. Cách làm là vận động từ trưởng các dòng họ, đến gia đình cán bộ đảng viên thực hiện trước và đến các hộ dân trong thôn,” Chủ tịch xã Tân Minh, Đàm Khắc Trường cởi mở thông tin./.

Trung tâm văn hóa thôn Thượng Phúc, xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh được xây dựng  sau khi chính quyền vận động người dân bàn giao mặt bằng. (Ảnh: Mạnh  Khánh/Vietnam+)   
Trung tâm văn hóa thôn Thượng Phúc, xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh được xây dựng sau khi chính quyền vận động người dân bàn giao mặt bằng. (Ảnh: Mạnh Khánh/Vietnam+)   

Vì mục tiêu tạo quỹ đất sạch

Giải phóng mặt bằng luôn được các cấp chính quyền xác định là việc phức tạp, nhạy cảm có thể “sai một li, đi một dặm” gây thất thoát tiền của Nhà nước và mất lòng tin trong nhân dân. Do vậy, nhiều cán bộ ở Hà Nội nói riêng đã tìm cách “né” hoặc đùn đẩy cả việc chỉ đạo cũng như thực thi giải phóng mặt bằng để giữ an toàn cho bản thân. Vì trên thực tế, chưa có khung chế tài và cũng chưa có cán bộ nào bị xử lý vì để chậm giải phóng mặt bằng khiến cho xã hội phải gánh chịu hậu quả.

Thế nên, phải tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước ở lĩnh vực này trong thời gian tới, hướng tới cách làm đồng bộ để giải phóng mặt bằng không còn là lực cản mà trở thành động lực cho sự phát triển của mỗi địa phương.

Không thể trách nhiệm chung chung

Tại Hà Nội, thời gian qua có thể kể tên hàng chục dự án chậm giải phóng mặt bằng nhưdự án Tây Nam Kim Giang, đường sắt Cát Linh-Hà Đông, Quốc lộ 1A đoạn qua huyện Thanh Trì, dự án Hoàng Cầu-Voi Phục, đường 5 kéo dài… gây đội vốn; ách tắc giải ngân vốn đầu tư công, giảm hiệu quả đầu tư… khiến dư luận bức xúc. Hậu quả từ việc giải phóng mặt bằng chậm không chỉ nhìn thấy bằng mắt thường mà còn để lại hệ lụy lâu dài cho xã hội.

Song theo một số chuyên gia về pháp luật, trên thực tế không có ai chịu trách nhiệm về việc chậm giải phóng mặt bằng ở các dự án trên.

Nhận thấy tình trạng “cha chung” trong giải phóng mặt bằng sẽ khiến người cán bộ không đeo bám, quyết liệt và sáng tạo trong chỉ đạo nên Thành ủy Hà Nội đã ban hành văn bản quy trách nhiệm người đứng đầu trong lĩnh vực này.

Lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội đối thoại với người dân bãi rác Nam Sơn (Sóc Sơn) về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội đối thoại với người dân bãi rác Nam Sơn (Sóc Sơn) về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Nghị quyết số 08-NQ/TU mới đây của Ban Thường vụ Thành ủy về “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 và những năm tiếp theo” chỉ rõ thủ trưởng các đơn vị, chủ tịch Ủy ban Nhân dân các quận, huyện, thị xã có trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng kế hoạch thực hiện cho cơ quan mình. Trong đó nhấn mạnh, chủ tịch các quận, huyện thị xã rà soát lại quy trình và phương pháp thực hiện của địa phương, lấy tiến độ hiệu quả, đúng pháp luật là phương châm chỉ đạo.

“Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận, huyện, thị xã phải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, không được ủy quyền lại cho cấp phó,” Nghị quyết trên của Thành ủy Hà Nội yêu cầu.

Cùng với đó, Thành ủy Hà Nội cũng chỉ đạo, đưa việc giải phóng mặt bằng vào chương trình công tác hằng năm của cấp ủy, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, cần tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả cao.

Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Bí thư Chi bộ thôn 2 xã Hồng Kỳ (Sóc Sơn) cho biết, chi bộ cũng đã phân công tuyên truyền giải thích cho người dân. Bà con trong thôn cũng nhận thấy cái sai khi thực hiện ngăn chặn xe rác. Nhưng sở dĩ họ chặn xe rác là do tiến độ di dân khỏi vùng bán kính 500 m và việc đền bù, giải phóng mặt bằng quá chậm. Bên cạnh đó, giá đất tái định cư hiện có sự chênh lệch lớn với giá đất đền bù khiến việc ổn định đời sống của người dân sau di dời gặp khó khăn.

Khu vực giải phóng mặt bằng mở rộng bãi rác Nam Sơn vùng bán kính 500 mét tính từ chân tường rào bãi rác. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Khu vực giải phóng mặt bằng mở rộng bãi rác Nam Sơn vùng bán kính 500 mét tính từ chân tường rào bãi rác. (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Đến nay, riêng tại hai xã Nam Sơn và Hồng Kỳ vẫn còn nhiều hộ dân chưa nhận được đền bù đất nông nghiệp, đất ở. Người dân trải qua thời gian dài không có tư liệu sản xuất nên rất bức xúc.

Về chậm trễ giải phóng mặt bằng bãi rác Nam Sơn bán kính 500m, trong buổi đối thoại với người dân ngày 17/7, ông Phạm Văn Minh – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Sóc Sơn thừa nhận, việc chậm đền bù đất nông nghiệp có trách nhiệm chủ yếu của huyện. Việc kiểm đếm các trường hợp thuộc diện đền bù hiện đã được huyện thực hiện xong. Tuy nhiên, việc lên phương án cần thời gian.

“Nguyên nhân của tình trạng chậm trễ là do một số công trình xây dựng trong khu dân cư thuộc diện di dời khó xác định thời điểm nên phải họp thôn, xóm để xác minh,” ông Phạm Văn Minh giãi bày và cho biết thêm, thời gian tới sẽ nâng cao vai trò của người đứng đầu địa phương theo chỉ đạo của Thành ủy, từ đó, triển khai nhanh hơn nữa các bước để thực hiện dự án di dân vùng ảnh hưởng môi trường bãi rác Nam Sơn.

Luật Đất đai năm 2013 đã chỉ ra, đất đai là tài nguyên của quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát triển và là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Song, đất đai luôn là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.

Do đó, tại một số địa phương của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung, việc thi hành Luật Đất đai năm 2013 còn nhiều bất cập. Dẫn tới nhiều hộ dân không đồng ý với phương án bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư, khiếu kiện kéo dài, gây mất trật tự xã hội tại địa phương.

Giải quyết công khai

Cùng với việc quy trách nhiệm cho người đứng đầu cấp ủy, đơn vị về giải phóng mặt bằng như nêu ở trên thì nhiều ý kiến cho rằng cần phải nhanh chóng sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 theo hướng để chính quyền, người dân và doanh nghiệp dễ thực hiện. Còn nếu cứ để doanh nghiệp tự thỏa thuận với người dân sẽ rất khó đi đến “chung kết” cho một dự án có sinh lời như kiểu xây dựng khu nhà ở.

Về nội dung trên, theo ông Nguyễn Trần Nam, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, trong trường hợp để doanh nghiệp tự giải phóng mặt bằng như hiện nay, khiến cho nhiều dự án bị chậm triển khai, do không thể tìm tiếng nói chung với người dân.

“Đối với dự án giải phóng mặt bằng được 70%, còn lại 30% nếu người dân không chấp nhận, Nhà nước sẽ là “trọng tài” để tiến hành giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư, chứ không thể doanh nghiệp “tự bơi” như hiện nay được,” vị chuyên gia đề xuất.

Còn cán bộ địa chính xã Tân Triều (huyện Thanh Trì) Nguyễn Hữu Tâm nêu kiến nghị, cơ quan chức năng cần nhất quán một chính sách cho một dự án. Vì nếu cứ áp dụng nhiều chính sách như ở Tây Nam Kim Giang sẽ rất khó cho cấp dưới triển khai công việc.

Lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội đối thoại với người dân bãi rác Nam Sơn (Sóc Sơn) về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)
Lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội đối thoại với người dân bãi rác Nam Sơn (Sóc Sơn) về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng (Ảnh Mạnh Khánh/Vietnam+)

Qua tìm hiểu tại Hà Nội, nhiều địa phương như Hoài Đức, Ba Vì, Gia Lâm, Mê Linh… cũng có tình trạng một dự án nhưng được áp dụng nhiều chính sách trong đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

Có thể cùng một cánh đồng nhưng người có đất phải thu hồi cho các dự án mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thì nhận được chế độ bồi thường theo mức giá ấn định của Nhà nước.

Trong khi đó, người có đất thu hồi cho các dự án của doanh nghiệp được chủ đầu tư thỏa thuận bồi thường theo giá thị trường thì được hỗ trợ, đền bù thậm chí cao hơn hàng chục lần so với mức của Nhà nước. Điều này khiến cho cán bộ địa chính của nhiều địa phương rất khó tuyên truyền giải thích với người dân, dẫn đến ảnh hưởng đến việc giải phóng mặt bằng chung trên địa bàn.

Để giải quyết vấn đề trên, theo ông Hoàng Văn Cường, đại biểu Quốc hội khóa 14-đoàn Quốc hội thành phố Hà Nội, ở tất cả các dự án, chỉ nên có một chủ thể duy nhất là Nhà nước, tiến hành thu hồi giải phóng mặt bằng theo một quy định chung, sau đó ô đất đó sẽ mang ra đấu thầu công khai, sẽ giảm được tình trạng so bì như hiện nay.

Còn có ý kiến khác cho rằng hiện nay, nhiều dự án vốn nằm chờ giải phóng mặt bằng, rất lãng phí nguồn lực đầu tư. Về nội dung này, ông Nguyễn Lê Hiến, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông Anh kiến nghị Chính phủ nên cho phép địa phương chủ động giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất “sạch” theo quy hoạch sử dụng đất, tầm nhìn gần đã được cấp thẩm quyền phê duyệt quy hoạch 1/500, đối với những dự án đã có chủ trương đầu tư và bố trí vốn. Như vậy mới khắc phục được tình trạng kéo dài dự án.

Theo Ban Chỉ đạo Giải phóng mặt bằng thành phố Hà Nội, trong thời gian tới, Trung ương cũng cần sớm hoàn thiện hệ thống hồ sơ dữ liệu về quản lý đất đai; tăng cường quản lý, chống lấn chiếm, xây dựng trái phép, kịp thời giải tỏa các vi phạm về đất đai… Bởi lẽ đây là những nội dung chính ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở pháp lý thực hiện giải phóng mặt bằng và tiềm ẩn phát sinh khiếu kiện phức tạp sau này.

Ngoài ra, một số chuyên gia khác nêu quan điểm chính quyền cần đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp tạo quỹ “đất sạch” và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất để nhà đầu tư chủ động về mặt bằng, rút ngắn thời gian thực hiện các dự án đầu tư, giải quyết kịp thời những vướng mắc về chính sách đối với bồi thường, giải phóng mặt bằng./.

越南抗击新冠肺炎疫情之力量源泉:经济力量

越通社河内9月23日——“不闭关锁国,不让经济受创伤”是越南政府、政府总理在抗击第二波疫情中的指导精神。事实表明,在新冠肺炎疫情导致世界经济陷入严重低迷,许多战略伙伴陷入困境,各大国之间的竞争异常激烈的背景下,越南仍然挺立并发挥其优势而成为极少数2020年经济呈现正增长的国家。

越南国家新冠肺炎疫情防控指导委员会召开会议,就越南迎接外籍专家、管理人员和高科技工作者来到越南工作等问题展开讨论。图自越通社
越南国家新冠肺炎疫情防控指导委员会召开会议,就越南迎接外籍专家、管理人员和高科技工作者来到越南工作等问题展开讨论。图自越通社

努力战胜困难

越南政府总理阮春福在政府常委会与各部委行业、地方政府关于新冠肺炎疫情防控工作的全国视频会议上发表讲话时强调:“不能藐视老百姓的生命,但也不能闭关锁国使所有活动瘫痪”。

吸取成功扑灭第一波疫情的经验,在抗击第二波疫情过程中,越南政府继续实施社交距离措施,但仅限于疫情重点地区,其他地方仍最大限度地维持社会的正常运转。

越南已经为来自韩国、中国香港和日本的数千名专家入境越南创造便利条件。图自越通社
越南已经为来自韩国、中国香港和日本的数千名专家入境越南创造便利条件。图自越通社

越南政府副总理、国家新冠肺炎疫情防控指导委员会主任武德儋表示,越南不能闭关锁国,而需要在新常态下实现“双重目标”,即在抗击疫情的同时促进经济发展和确保社会保障。越南要迎接外籍专家、管理人员和高科技工作者来到越南工作。

在疫情得到有效控制的情况下,重新开放社会经济活动是必然需求。目前,最需要的是恢复开通商业航线,迎接外籍专家和投资商来到越南开展合作与交流活动,为国家带来利益,同时促进政治、经济、文化、社会等领域的发展。

在2020年前8个月,尤其是近两个月来,越南已经为来自韩国、中国香港和日本的数千名专家入境越南创造便利条件,致力于维持和扩大生产活动。

越南不能闭关锁国,而需要在新常态下实现“双重目标”,即在抗击疫情的同时促进经济发展和确保社会保障。越南要迎接外籍专家、管理人员和高科技工作者来到越南工作。

越南政府一方面集中精力采取防疫的配套措施,另一方面为商品流通创造便利条件。

根据政府总理的指示精神,越南实行无任何限制、不会因防止疫情蔓延而禁止贸易交往,更不会进行社会封锁,在决定采取社交距离措施之前必须仔细地考虑并采取合理的范围和规模。在尚未制定适当的方案,特别是未出现疫点疫区的情况下,不许采取导致经济社会活动陷入停滞的社交距离措施。

此外,越南政府还着重于实施一系列扶持措施,如:为受疫情影响的人民和企业出台总额达62万亿越盾的援助计划;着重开发国内市场;加快资金到位进度,提高公共投资资金的使用效率;开展一系列大型项目等措施。

                             越南经济连续改善排榜排名达到更高水平。
                             越南经济连续改善排榜排名达到更高水平。

由于落实了如此强有力的指示意见和措施,尽管受到新冠肺炎疫情的巨大影响,但越南经济仍保持了正增长。宏观经济稳定,保障和改善民生工作成效显著。在许多国家经济呈现负增长,并预计在下个季度继续陷入深度衰退的背景下,越南所取得的成果令人鼓舞!

做好突破准备

作为一个高度开放的经济体,越南遭受全球供应链中断的严重影响。预计,越南国内生产总值增长率将创下几十年来的历史新低。然而,与十多年前不同,现在越南经济实力已大大增强。疫情既带来挑战,也带来了机遇。机遇就是继续进行体制和行政审批制度改革,企业变革,开拓新市场,迎来投资浪潮并做好突破准备。

         2020年前8个月,越南外汇储备达约920亿美元。图自互联网
         2020年前8个月,越南外汇储备达约920亿美元。图自互联网

越南计划与投资部部长阮志勇表示,越南不会“守株待兔”,而将努力发展基础设施,进行有选择性的招商引资,提高经济体的内部实力,摆脱由疫情造成的经济陷阱

根据计划与投资部的报告显示,越南的许多宏观经济指标在今年前8个月得到改善,例如:外汇储备达约920亿美元,贸易顺差为120亿美元,公共投资资金到位率同比增长31%,恢复运营的企业数量增长近30%等。

越南不会“守株待兔”,而将努力发展基础设施,进行有选择性的招商引资,提高经济体的内部实力,摆脱由疫情造成的经济陷阱。

在许多国家经济出现负增长的背景下,不少国际组织继续预测,越南经济仍处于地区和全球经济正增长国家之列。越南的财务状况良好,并完全可以降低新冠肺炎疫情的影响。在乐观情况下,2020年越南经济增长率可达2-3%,并在2021年呈现更强劲的增长态势,增长6-6.5%左右,这是越南吸引外国直接投资的巨大机会。

印度金达尔全球大学金达尔国际关系学院讲师潘卡吉·杰哈(Pankaj Jha)教授在现代政策网站上发表的一篇文章中对越南的经济前景持乐观态度。他表示尽管发生第二波疫情,但越南已积累了从第一波疫情中的诸多成功经验。

                             2020年前8个月越南贸易顺差达120亿美元。
                             2020年前8个月越南贸易顺差达120亿美元。

许多经济专家认为,由于越南政府的巨大努力以及各项政策开始发挥作用,越南今年最后几个月的经济前景会向好。

据普华永道会计师事务所(PwC)的《 2050年的世界》报告显示,越南、印度和孟加拉国将成为2016-2050年期间增长最快的三个经济体,年均增长率约为5%。

疫情过后颇具吸引力的目的地

政府总理阮春福表示,越南不仅是一个防疫有效的安全目的地,同时越南的自然环境也是十分安全的。阳光明媚的海滩和清新的空气不仅给游客带来有趣的体验,而且还有利于游客的身体健康。阮春福重申:“我想向全社会,特别是游客和投资商强调的是,越南拥有安全、颇具吸引力和潜力巨大的商业和生活环境。”

      永福省各工业区是吸引外国投资商前来投资的目的地之一。图自互联网
      永福省各工业区是吸引外国投资商前来投资的目的地之一。图自互联网

在各家跨国集团正在寻找安全目的地来重建生产设施的背景下,越南被视为外国投资商的“投资乐土” 。

越南经济专家阮智孝博士表示,很明显,越南已经成功控制第一波疫情并建立了良好的声誉,而投资商则希望找到一个新市场、一个新目的地来重新启动业务活动。

阮智孝认为,将不会出现涌向越南投资的浪潮,但越南希望美国和西方国家的部分制造商将其生产线转移到越南,但不会形成“浪潮”。因为,越南还要与泰国、马来西亚、印尼、新加坡等国家竞争。越南应持乐观与谨慎并行的态度。

阮春福总理:“我想向全社会,特别是游客和投资商强调的是,越南拥有安全、颇具吸引力和潜力巨大的商业和生活环境。”

阮智孝表示,今后越南需要抓紧机会并制定有效的投资资金吸收机制,同时为外国投资商出台扶持政策。

阮智孝认为,越南政治社会稳定,新冠病毒感染率和死亡率较低。此外,越南的地理优势、廉价劳动力、部分领域的技能熟练劳动者等优势也是外国投资商作出投资决定的重要因素。

日本贸易振兴机构(JETRO)驻河内代表处首席代表Takeo Nakajima最近在一场新闻发布会上表示,获得东盟供应链多元化项目的援助资金的30家日企中的15家企业选择越南作为其扩大投资和生产的目的地。

越南也是三星公司最新产品大部分组件的生产基地,其证明越南的劳动力可以满足供应链最高阶梯的需求。

                            ADB: 越南经济在新冠肺炎疫情暴发时仍稳定增长。

越南不仅是颇具吸引力的投资目的地,而且还是疫情过后游客理想的旅游目的地。

越南拥有丰富的旅游资源,全国各地都有颇具吸引力的旅游景点。除了风景美丽、美食美味、历史悠久以外,越南还是热爱和平的国家,是游客的安全目的地。

严格执行防疫措施帮助越南获得游客的信任。此外,越南的旅游服务质量也大大提升。许多国内外大型投资商为改善旅游服务基础设施的质量做出了贡献,建成了许多世界级的独立旅游胜地。

                                             岘港市太阳世界巴拿山度假旅游区为游客恢复开放。图自越通社
                                             岘港市太阳世界巴拿山度假旅游区为游客恢复开放。图自越通社

2019年是越南旅游业留下了深刻印象并获得了许多国际称号的一年,如:世界第一遗产旅游目的地、全球最佳高尔夫球旅游目的地、亚洲最佳旅游目的地等。此外,越南还在美国历史最悠久的商业杂志《福布斯》2019年14强旅游目的地名单中排名第5位。《福布斯》认为,14强旅游目均发生巨大的改变,并值得成为2019年全球游客的优先目的地。

                              越南被列入十大最便宜的旅游目的地名单。

越南文化体育与旅游部旅游总局局长阮重庆表示,2019年越南旅游业实现了创纪录的两位数增长。然而,到2020年初,由于新冠肺炎疫情的影响,越南国际游客接待量却出现前所未有的下降。越南旅游业的复苏将取决于全球何时成功控制疫情。然而,目前,越南已重新开放各旅游景点,大力开发国内客源市场,并为接待国际游客作出充分的准备。

今年是充满挑战的一年,然而越南被期望明年将呈现强劲的增长态势,在全球经济开始复苏时越南将重新回到一个颇具吸引力的投资与旅游目的地的地位。(完)

                            越南从2020年9月15日正式恢复部国际商业航线。
                            越南从2020年9月15日正式恢复部国际商业航线。

Vietnam-US relations

Hanoi (VNA) – On the night of July 11, 1995 (July 12, 1995 in Vietnam time), US President William J. Clinton announced the normalisation of relations with Vietnam. Only hours later, Vietnamese Prime Minister Vo Van Kiet read out a statement on the normalisation.

Since then, the two countries have successfully turned from former foes to friends and comprehensive partners in all fields, from politics-diplomacy, economy, education and science-technology to defence-security, with increasingly reinforced momentum and expanded scope of substantive and effective cooperation.

Political-diplomatic ties promoted with important landmarks

After the two countries declared the normalisation of bilateral ties and the establishment of diplomatic relations, US Secretary of State Warren Christopher and Vietnamese Foreign Minister Nguyen Manh Cam signed a protocol in Hanoi on August 5, 1995, officially setting up diplomatic relations between the two sides.

Shortly after that, Vietnam and the US opened their embassies in Washington DC and Hanoi in August 1995.

In November 2000, President William J. Clinton visited Vietnam, becoming the first US leader to pay an official trip to the Southeast Asian nation. He was seen as a person with great contributions to the normalisation of the countries’ relations, both while serving as President and after leaving office.

The approval of the Vietnam-US Joint Vision Statement shows the straightforwardness and openness between the two countries’ leaders in discussing issues previously considered sensitive.

In June 2005, Prime Minister Phan Van Khai visited the US at the invitation of President George W. Bush, marking the first time a Prime Minister of Vietnam to have come to the North American nation after the end of the war.

During this tour, the two sides inked an agreement on economic and technical cooperation, along with others on intelligence and military cooperation. The Vietnamese Prime Minister, along with more than 100 representatives of the public and private sectors, also visited three other cities where many major business contracts were signed.

US President William J. Clinton announces the normalisation of relations with Vietnam on the night of July 11, 1995 (US time) (Photo: The White House)
US President William J. Clinton announces the normalisation of relations with Vietnam on the night of July 11, 1995 (US time) (Photo: The White House)

In November 2006, US President George W. Bush made a four-day trip to Vietnam within the framework of the Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC) Leaders’ Meeting.

At that time, President Bush and Secretary of State Condoleezza Rice visited Hanoi and Ho Chi Minh City. Trade Representative Susan Schwab attended an APEC ministers’ meeting, bilateral meetings and other events in Hanoi from November 15 to 18.

In June 2007, Vietnamese President Nguyen Minh Triet paid an official visit to the US at the invitation of President George W. Bush. The two leaders met to talk about economic and trade connections. Meanwhile, Deputy Minister of Trade Nguyen Cam Tu and Deputy Trade Representative Karan Bhatia signed the Trade and Investment Framework Agreement (TIFA) on June 21.

Prime Minister Vo Van Kiet reads out a statement on the normalisation of Vietnam-US relations in Hanoi in the morning of July 12, 1995 (July 11 in US time) (Photo: VNA)
Prime Minister Vo Van Kiet reads out a statement on the normalisation of Vietnam-US relations in Hanoi in the morning of July 12, 1995 (July 11 in US time) (Photo: VNA)

In June 2008, Prime Minister Nguyen Tan Dung came to the US at the invitation of President George W. Bush. At meetings with senior officials of the US, including speakers of the Senate and the House of Representatives, the Secretary of Defence and the Secretary of the Treasury, the Government leader of Vietnam received positive signals in the promotion of bilateral ties in all aspects, especially economy, trade, investment and education. This visit’s outcomes marked a new milestone in their relations.

In July 2013, another visit to the US by a Vietnamese leader, President Truong Tan Sang, was made at the invitation of President Barack Obama. The biggest outcome of this trip was the establishment of the Vietnam-US comprehensive partnership, shaping the framework for bilateral connections in the new period as well as orientations for their relations in the subsequent years.

The opening ceremony of the US Embassy in Vietnam at No. 7 Lang Ha street, Hanoi, on August 6, 1995, in the presence of US State Secretary Warren Christopher (Photo: VNA)
The opening ceremony of the US Embassy in Vietnam at No. 7 Lang Ha street, Hanoi, on August 6, 1995, in the presence of US State Secretary Warren Christopher (Photo: VNA)

In July 2015, when the two countries were celebrating 20 years since the normalisation of relations, Party General Secretary Nguyen Phu Trong paid an official visit to the North American nation. Following the two leaders’ talks, the Vietnam-US Joint Vision Statement was issued, showing the straightforwardness and openness between the Vietnamese and US leaders in discussing issues previously described as sensitive. It was expected to help the countries’ relations become more substantive in the future when cooperation aspects will no longer be hampered by differences.

The Vietnam-US Joint Vision Statement reads that the good and full implementation, along with the unceasing intensification and diversification of the comprehensive partnership on the basis of respect for each other’s independence, sovereignty and political regimes and non-intervention in each other’s internal affairs, provides the foundation for building trust and developing bilateral ties to a new level.

In the official visit to Vietnam in May 2016, President Barack Obama held talks with his Vietnamese counterpart Tran Dai Quang in Hanoi, announcing the important decision to lift the lethal arms trade ban on Vietnam. The joint statement issued following the talks also featured many commitments to enhancing cooperation in all spheres. A number of important documents and large project agreements were also inked.

That visit was seen as a new landmark in bilateral relations. With the lethal arms trade ban fully lifted, the last obstacle in Vietnam-US relations was removed, marking the complete normalisation of their ties and sending out a meaningful message about the enhancement of the strategic trust and the comprehensive partnership. The trip was described as a demonstration of a long stride in US leaders’ mindset towards Vietnam.

The historic handshake between Prime Minister Phan Van Khai and President George W. Bush at the White House on June 21, 2005 during the former’s visit to the US from June 19 to 25, 2005, marking a new development in bilateral links after 10 years of normalised relations. This was also the first official tour of the US by a Government leader of Vietnam in three decades since the end of the war. (Photo: AP/VNA)
The historic handshake between Prime Minister Phan Van Khai and President George W. Bush at the White House on June 21, 2005 during the former’s visit to the US from June 19 to 25, 2005, marking a new development in bilateral links after 10 years of normalised relations. This was also the first official tour of the US by a Government leader of Vietnam in three decades since the end of the war. (Photo: AP/VNA)

The official visit to the US in May 2017 by Prime Minister Nguyen Xuan Phuc at the invitation of President Donald Trump was seen as opening up a new chapter in the Vietnam-US comprehensive partnership. During the visit, the two sides pledged to bolster the upward trend of their relations and also reached a common perception on a new framework for the partnership in the coming time, thus creating new driving forces for their partnership and contributing to regional and global peace and prosperity.

In November 2017, President Donald Trump paid a state visit to Vietnam and attended the APEC Leaders’ Meeting from November 11 to 12.

In the joint statement issued in this visit, both sides agreed to continue strengthening the comprehensive partnership on the basis of respecting each other’s independence, sovereignty, territorial integrity and political regime.

For his part, President Donald Trump took part in the second summit between the US and the Democratic People’s Republic of Korea held in Hanoi in February 2019. During the stay, he also had meetings with Vietnamese leaders.

Party General Secretary Nguyen Phu Trong has talks with President Barack Obama at the White House in Washington DC on July 7, 2015 during his official trip to the US from July 6 to 10. This was the first visit to the US by a top leader of the Communist Party of Vietnam since the end of the war, opening up a new chapter in bilateral ties. (Photo: VNA)
Party General Secretary Nguyen Phu Trong has talks with President Barack Obama at the White House in Washington DC on July 7, 2015 during his official trip to the US from July 6 to 10. This was the first visit to the US by a top leader of the Communist Party of Vietnam since the end of the war, opening up a new chapter in bilateral ties. (Photo: VNA)

On this occasion, Party General Secretary and State President Nguyen Phu Trong and President Donald Trump witnessed the singing of four cooperation documents relating to the aviation sector with the total value of about 21 billion USD.

Over the last 25 years, the two countries have also exchanged mutual visits at all levels, including the trips to the US by Deputy Prime Minister and Foreign Minister Pham Binh Minh and Defence Minister Ngo Xuan Lich, and the tours of Vietnam by Defence Secretary James Mattis and State Secretary Mike Pompeo.

During the term of President Donald Trump, relations between the two countries have been generally developing well. High-level visits by their leaders have helped intensify the comprehensive partnership.

Regarding the issues of democracy and human rights, both sides have continued straightforward and constructive dialogues on differences so as not to let those problems negatively affect other cooperation aspects.

In terms of multilateral aspects, Vietnam and the US have reinforced collaboration and coordinated well with each other at international and regional forums, worked together on global agenda, promoted the role of ASEAN, and tightened ASEAN-US connections.

US Secretary of State Warren Christopher and Vietnamese Foreign Minister Nguyen Manh Cam sign a protocol in Hanoi on August 5, 1995, officially setting up diplomatic relations between the two countries (Photo: VNA)
US Secretary of State Warren Christopher and Vietnamese Foreign Minister Nguyen Manh Cam sign a protocol in Hanoi on August 5, 1995, officially setting up diplomatic relations between the two countries (Photo: VNA)

Breakthrough growth in economic-trade links

Apart from sound political links, economic and trade relations are also considered one of the most successful fields of bilateral cooperation and becoming a driving force for the overall relationship between the two countries.

The US is currently the third-largest among the more than 100 trade partners of Vietnam around the globe.

Vietnam and the US are complementary to each other in economic and trade links.

In return, the Southeast Asian country ranks 16th among the trade partners of the North American nation. Bilateral trade has grown by 20 percent annually, with Vietnam continuously recording surplus with the US.

Trade between the two countries has surged by almost 120 times, from 451 million USD in 1995 to 7.8 billion USD in 2005, 45.1 billion USD in 2015, 47.15 billion USD in 2016, 50.8 billion USD in 2017, and 60.3 billion USD in 2018.

Their trade turnover reached 77.5 billion USD in 2019, which was forecast to hit 80 billion USD this year by the American Chamber of Commerce (AmCham).

According to Deputy Minister of Industry and Trade Do Thang Hai, Vietnam and the US are complementary to each other in economic and trade links.

The US has big demand for typical farm produce or products that Vietnam has strength in like apparel, footwear, wood products, machinery and electronic devices. Meanwhile, Vietnam also needs machinery, hi-tech devices, aviation and telecoms equipment and raw farm produce that the US has abundant supply.

In terms of investment, by the end of 2019, the US ranked 11th among the 130 countries and territories directly investing in Vietnam, with nearly 1,000 valid projects worth approximately 10 billion USD at present, data of the Ministry of Planning and Investment show.

Having yet to rank among the top foreign investors in Vietnam, the US is still assessed as a high-quality investor. Running many valuable projects, US businesses have been actively cooperating with and assisting their local partners to develop while contributing considerably to social activities.

The North American country is also an investment recipient of Vietnamese enterprises. It stood at the second place among overseas destinations of Vietnamese investment between January and May this year, with 21.72 million USD or nearly 12 percent of the latter’s total overseas investment.

Minister of Trade Vu Khoan and US Trade Representative Charlene Barshefsky sign the Bilateral Trade Agreement in Washington DC on July 13, 2000 after four years of negotiations. Since this deal took effect on December 10, 2001, the US has applied the normal trade relations status and the most favoured nation status, cutting down average tariffs on imports from Vietnam from 40 percent to 4 percent and opening its market to Vietnamese exporters. (Photo: VNA)
Minister of Trade Vu Khoan and US Trade Representative Charlene Barshefsky sign the Bilateral Trade Agreement in Washington DC on July 13, 2000 after four years of negotiations. Since this deal took effect on December 10, 2001, the US has applied the normal trade relations status and the most favoured nation status, cutting down average tariffs on imports from Vietnam from 40 percent to 4 percent and opening its market to Vietnamese exporters. (Photo: VNA)

Defence-security cooperation – Impressive changes made

Defence-security ties between Vietnam and the US were formed right when their relations were normalised in 1995, and cooperation in this regard has undergone impressive changes.

While the countries initially just held bilateral meetings with a focus on the prisoner of war/missing in action (POW/MIA) in the war in Vietnam, they later began organising mutual visits by defence ministers and have enjoyed substantive strides in the settlement of war aftermaths and other issues.

The reception of remains of four US servicemen at Hanoi’s International Airport on August 5, 1995 in the presence of US State Secretary Warren Christopher. (Photo: VNA)
The reception of remains of four US servicemen at Hanoi’s International Airport on August 5, 1995 in the presence of US State Secretary Warren Christopher. (Photo: VNA)

In June 2015, the two countries’ defence ministers signed the Vietnam-US Joint Vision Statement on Defence Relations.

Particularly, during his official trip to Vietnam on May 23, 2016, President Barack Obama announced the complete lifting of the US’ embargo on the sale of lethal weapons to Vietnam, a meaningful stride to foster the comprehensive partnership, helping to consolidate mutual trust for stronger cooperation to effectively respond to regional security threats.

Collaboration has also been expanded to military medicine training, humanitarian aid, disaster relief, peacekeeping, information sharing, improvement of counter-terrorism capacity, cyber security, and water resources security. The US has actively assisted Vietnam to address war consequences and improve the capacity of Vietnamese coast guards and navy, and supported Vietnam’s peacekeeping force.

So far, the two sides have organised more than 4,000 joint searches which found and returned to the US the remains of 1,000 servicemen missing in action. They are also keeping joint efforts to search for about 200,000 Vietnamese soldiers missing in action.

Additionally, the Southeast Asian country welcomed US aircraft carriers twice, in March 2018 and March 2020.

They are currently maintaining all-level delegation exchanges, bilateral dialogue mechanisms and meetings at regional forums.

Vietnam, the US and other nations are also working together to maintain navigation freedom and exercise the 1982 UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) in the East Sea. Both support the viewpoint that the freedom and security of navigation and overflight must be guaranteed, international law and UNCLOS respected, disputes resolved via diplomatic and legal processes without use or threat to use force, and actions escalating tensions in the region avoided.

Together with many other regional countries, Vietnam has been cooperating closely with the US to carry out UN resolutions relevant to the issue of the Democratic People’s Republic of Korea.

The two sides also approved the three-year plan of action for defence cooperation for 2018-2021.

Defence Secretary Ashton Carter and Defence Minister Phung Quang Thanh exchange the signed Vietnam-US Joint Vision Statement on Defence Relations in Hanoi on June 1, 2015 during the former’s official trip to Vietnam. (Photo: VNA)
Defence Secretary Ashton Carter and Defence Minister Phung Quang Thanh exchange the signed Vietnam-US Joint Vision Statement on Defence Relations in Hanoi on June 1, 2015 during the former’s official trip to Vietnam. (Photo: VNA)

Multiple opportunities for scientific-technological cooperation

In 2000, the countries signed an agreement on scientific-technological cooperation and established a joint committee for scientific-technological cooperation. Meanwhile, the Agreement for Cooperation Concerning Peaceful Uses of Nuclear Energy was inked on May 6, 2014, opening up considerable chances for bilateral partnership in the area of civil nuclear energy.

Meanwhile, Vietnam and the US have also begun working together on outer space when the US National Aeronautics and Space Administration (NASA) and the Vietnam Academy of Science and Technology (VAST) signed a statement of joint intent on cooperation in space exploration in December 2011.

Later, the VAST and the US Agency for International Development (USAID) inked a statement on scientific-technological cooperation in March 2015 and an administrative arrangement under the Agreement for Cooperation Concerning Peaceful Uses of Nuclear Energy in May 2016.

The two sides held the first dialogue on energy security in Hanoi in March 2018 and the second in Washington DC in April 2019.

Connections in culture, education, environment prove fruitful

Education-training cooperation is also an important factor in bilateral ties.

There are more than 3,000 Vietnamese students and interns in the US at present, making Vietnam the largest in Southeast Asia and the sixth in the world in terms of the number of foreign students in the US.

In 2017, the countries opened the Fulbright University Vietnam, facilitating Vietnamese youth to access high-quality education. Every year, the US also grants scholarships for post-graduates of Vietnam under scholarships programmes like Fulbright and the Vietnam Education Foundation.

Microsoft Chairman Bill Gates at a meeting with lecturers and students of the Hanoi University of Science and Technology on April 22, 2006. (Photo: VNA)
Microsoft Chairman Bill Gates at a meeting with lecturers and students of the Hanoi University of Science and Technology on April 22, 2006. (Photo: VNA)

They have also cooperated actively under the deal on the implementation of the Peace Corps programme, allowing US volunteers to teach English in Hanoi and Ho Chi Minh City.

Besides, the US has continued to pay attention to medical, environmental and humanitarian cooperation with Vietnam.

It has maintained and increased funding for the settlement of war consequences in Vietnam, including the detoxification of dioxin contamination hotspots and support for Agent Orange/dioxin victims.

In 2017, the US basically completed the dioxin cleanup at Da Nang Airport and pledged to continue the remediation at Bien Hoa Airport. The country has also sponsored projects on addressing consequences of war-left unexploded ordnance in Vietnam with the total funding amounting to 94 million USD via non-governmental organisations since 1993.

With regard to tourism, 687,200 visitors from the US traveled to Vietnam in 2018, rising 11.9 percent year on year and accounting for 4.4 percent of the total foreign arrivals in the latter.

US visitors to Vietnam make up about 11 percent of all the US travelers to the whole Asia. Many famous websites, magazines and TV channels have also honoured destinations in Vietnam.

Over the last two and a half decades, the two countries have coordinated closely in multiple spheres at bilateral, regional and global levels. That development matches the trend of the era, thereby generating benefits for the two peoples, as well as peace, friendship, cooperation and development in the region and the world./.

On December 5, 2019, USAID, the air defence - air force service of the Vietnamese Defence Ministry and the National Action Centre for Toxic Chemicals and Environmental Treatment (NACCET) launch the dioxin cleanup project at Bien Hoa Airbase and sign an agreement on implementing a 65-million-USD project supporting people with disabilities. (Photo: VNA)
On December 5, 2019, USAID, the air defence – air force service of the Vietnamese Defence Ministry and the National Action Centre for Toxic Chemicals and Environmental Treatment (NACCET) launch the dioxin cleanup project at Bien Hoa Airbase and sign an agreement on implementing a 65-million-USD project supporting people with disabilities. (Photo: VNA)