Trong những ngày cuối năm 2019, người dân Sóc Trăng vui mừng với việc hạt gạo ST25 do nhóm nhà khoa học của tỉnh lai tạo, phát triển đã được công nhận là “Gạo ngon nhất thế giới 2019” tại Hội nghị Thương mại Gạo thế giới lần thứ 11 tại Manila (Philippines).
Thành công hạt gạo Việt vươn đến đỉnh cao thế giới là sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước cùng sự mài nghiên cứu lai tạo của các nhà khoa học. Tuy nhiên, đằng sau thành công ấy còn là một hành trình để giữ vững thương hiệu, bảo vệ nguồn giống lúa quý giá sau hơn 25 năm tìm tòi, lao động…
Hành trình của những hạt gạo mang thương hiệu ST
Kỹ sư Hồ Quang Cua và bảng vàng vinh danh gạo ngon nhất thế giới. (Ảnh: TTXVN phát)
ST là tên viết tắt của chữ Sóc Trăng. Trước khi có giống lúa ST25 ra đời thì hàng chục năm trước, nông dân cả nước đã biết đến những giống lúa ST3, ST5, ST10, ST19, ST20…
Những dòng ST cứ thế nối tiếp nhau ra đời là một câu chuyện dài của kỹ sư, anh hùng Lao động Hồ Quang Cua, người con của quê hương Sóc Trăng cùng các cộng sự tích cực là tiến sỹ Trần Tấn Phương, thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hương đã không quản ngày đêm miệt mài sáng tạo, lao động.
Theo ông Hồ Quang Cua, dòng lúa thơm ST đầu tiên ra đời từ sự tình cờ sau chuyến thăm đồng vào một buổi sáng mùa Đông năm 1996 khi đang ngắm nghía những hạt lúa no tròn trên thửa ruộng.
Bằng cặp mắt nhà nghề, ông phát hiện có những cây lúa lạ, gốc màu tím, hạt thon dài rất đẹp. Lội ngay xuống ruộng, mân mê những bông lúa lạ, mắt ông sáng lên như người tìm được vật quý bởi đó là những cá thể đột biến đầu tiên.
Từ đây, một công trình lai tạo, nhân giống với hàng loạt giống lúa thơm mang tên ST được ra đời.
Từ sự phát hiện tình cờ ấy, trên 1.000 cá thể đột biến đầu tiên được ông Cua thu thập và sau đó tiến hành trồng thử nghiệm rồi cho lai tạo theo nhiều cách khác nhau để chọn những cá thể vượt trội nhất đưa vào sản xuất.
Công việc lai tạo không hề đơn giản vì thiếu nhiều trang thiết bị, dụng cụ hỗ trợ, nhất là tiêu chuẩn về giống lúa thơm của Việt Nam lúc này vẫn chưa có.
“Dòng lúa thơm ST đầu tiên ra đời từ sự tình cờ sau chuyến thăm đồng vào một buổi sáng mùa đông năm 1996.”
Ông cho biết: “Lúc mới bước vào lai tạo, thiếu nhiều thứ lắm, nhưng cái gì tự chế được thì mình chế, cái gì chưa có thì “mượn tạm” của người khác. Trong tạo giống lúa, nếu thiếu các tiêu chí về giống cũng như người đi biển thiếu la bàn. Bởi vậy chúng tôi “mượn tạm” tiêu chí lúa thơm BE. 2541 của Thái Lan để thực hiện.”
Sau này một cộng sự của ông Cua là tiến sỹ Trần Tấn Phương (nay là Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp Sóc Trăng) phát minh ra phương pháp đánh giá mùi thơm rất nhanh chóng và hiệu quả.
Thông qua tiêu chí mùi thơm, ông Cua cùng các cộng sự loại được những giống lúa không đạt chuẩn nhanh hơn, thuận lợi cho lai tạo giống lúa thơm những dòng tiếp theo.
Những giống lúa thơm ST được lai tạo cho năng suất cao, có tính chống chịu ngoại cảnh khá tốt so với những giống lúa đang trồng phổ biến. Đặc biệt, lúa thích hợp với vùng đất lúa-tôm như cứng cây, thẳng, kháng bệnh, không cần bón phân nhiều, năng suất cao có thể đạt 6 tấn/ha, giá bán cao, chịu mặn, thích nghi tốt với biến đổi khí hậu…
Tuy là giống lúa thơm, nhưng giống ST24, ST25 lại khá ngắn ngày, trung bình 95-100 ngày, trong khi lúa thơm Thái là dạng lúa mùa dài ngày hơn mà năng suất chỉ đạt trung bình 1,7 tấn/ha. Nên canh tác một năm hai vụ, sản lượng lúa thơm ST của Việt Nam trên cùng một đơn vị diện tích có thể cao hơn gấp 5 đến 6 lần giống lúa thơm các nước.
Ngoài việc khảo nghiệm, đưa ra nhân rộng, được nông dân chấp nhận, thị trường ưa chuộng, kỹ sư Hồ Quang Cua còn thường xuyên đem hạt gạo ST tham gia những cuộc thi “Gạo ngon,” “Cơm nào ngon hơn,” “Cơm ngon thương hiệu Việt”… tại các cuộc triển lãm, hội chợ trong và ngoài tỉnh nhằm quảng bá cho lúa thơm ST và những giống lúa ST như: ST19, ST24.
Trong xu hướng nâng cao chất lượng gạo đặc sản Sóc Trăng để xây dựng thương hiệu, nhóm nghiên cứu đã lập trình những tổ hợp lai gồm nhiều đời bố mẹ có gene thơm, tạo ra những phẩm chất rất đặc biệt, xen lẫn mùi thơm dứa nên người tiêu dùng sẽ cảm nhận được hương vị khác của lúa thơm Sóc Trăng.
Hai năm trước, gạo ST24 của Sóc Trăng lọt vào Top 3 “Gạo ngon nhất thế giới” tại Hội nghị quốc tế lần thứ 9 về thương mại gạo tổ chức tại Macau (Trung Quốc). Tại Hội nghị Thương mại Gạo thế giới lần thứ 11 tại Manila diễn ra từ ngày 10-13/11/2019, Hiệp hội Lương thực Việt Nam chọn 2 loại gạo ST24 và ST25 của ông Cua và các cộng sự tham dự.
Theo ông Cua, ngoài việc nộp 2 túi gạo, mỗi túi 2kg kèm bảng mô tả 200 chữ, ông còn ghi tỉ lệ nước, gạo bao nhiêu là phù hợp để nấu cơm ngon. Ban giám khảo là những đầu bếp chuyên nghiệp, đẳng cấp trên thế giới. Ngoài yếu tố chất lượng, Ban giám khảo còn cho điểm hình thức.
Kết quả là cả 2 loại gạo ST 24 và ST 25 đều lọt vào tốp đầu thế giới, nhưng Ban giám khảo chọn ST25 để trao giải nhất. “Thành tích này là của tập thể; trong đó, vai trò của tiến sỹ Phương và thạc sỹ Hương là rất quan trọng” – “cha đẻ” của những dòng lúa ST và giống lúa ST25 khiêm tốn cho biết.
Gạo ST 25 có hạt dài, trắng trong. (Ảnh: Vũ Hà/Vietnam+)
Gạo nhái, gạo giả “ăn theo” ST 25
Gạo ST25 cùng với ST24 trước đó của Sóc Trăng được sản xuất, lai tạo từ giống lúa thơm nổi tiếng của vùng đất Sóc Trăng nhiều năm liền là gạo ngon nhất trong các hội thi cấp tỉnh, cấp vùng.
Đến nay, những giống lúa này đã được sản xuất rộng rãi trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và một số địa phương khác trong cả nước. Lúa được sản xuất theo quy trình sạch và chế biến gạo theo dây chuyền hiện đại, công nghệ của Thụy Sĩ, với mục tiêu “3 không” là không hàm lượng: cadimi, aflatoxin; không dư lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ; không dùng hóa chất tạo mùi.
Việc được công nhận là giống lúa/gạo ngon nhất thế giới, ST25 đã tạo sức hút mạnh mẽ trên thị trường trong nước với nhiều mức giá, phổ biến ở mức từ 20.000 – 28.000 đồng/kg nhưng cũng không có để bán. Đến thời điểm này cơn sốt gạo ST25 vẫn chưa hạ nhiệt, thậm chí nhiều người còn tìm mua loại gạo này làm quà Tết khiến cho gạo ST25 trở nên sốt hàng và xuất hiện loại gạo ‘nhái’ ST25.
Hiện người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh đang rất hoang mang và khó phân biệt gạo ST25 thật hay giả. Bởi chỉ cần ra chợ truyền thống hoặc tìm mua gạo ST25 trên các trên mạng Internet đều thấy rao bán gạo ST25 với nhiều loại bao bì và giá khác nhau. Có một số trang web còn đẩy giá gạo ST25 lên mức từ 35.000-45.000 đồng/kg, cao hơn gạo ST25 chính thống từ 8.000-20.000 đồng/kg.
Theo kỹ sư Hồ Quang Cua, sở dĩ có tình trạng nhái sản phẩm gạo ST25 là do việc làm “giấy khai sinh” cho một giống lúa khá chặt chẽ, kéo dài khiến việc chứng nhận bản quyền cho một giống gạo mới cũng chậm. Vì chậm nên nhiều doanh nghiệp lợi dụng sơ hở chưa có chứng nhận “chủ quyền” với loại gạo mới để tung ra thị trường các loại gạo tương tự giống loại gạo đang “hút hàng” như ST25.
Hiện loại gạo ST25 chỉ có doanh nghiệp Hồ Quang Trí ở Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp với số lượng có hạn và đến nay doanh nghiệp chỉ phân phối cho các đại lý chính thức thì rất khó có nhiều gạo ST25 để bán tràn lan trên thị trường.
Chuyên gia hàng đầu về nông nghiệp Việt Nam, giáo sư Võ Tòng Xuân khẳng định việc gạo ST25 đoạt giải gạo ngon nhất thế giới có thể được xem là cơ hội vàng cho thương hiệu gạo Việt Nam vươn ra thế giới.
Tuy nhiên, cơ quan chức năng các địa phương cần mạnh tay hơn trong việc xử lý tình trạng vi phạm bản quyền các giống gạo ngon của Việt Nam.
Việc sản xuất và kinh doanh giống lúa nhái thương hiệu các giống lúa nổi tiếng; trong đó có giống ST25, sẽ gây những hậu quả là hạt gạo sẽ không ngon, không thơm như quảng cáo… nên người tiêu dùng sẽ không tin và không mua giống lúa này để gieo trồng.
Giáo sư Võ Tòng Xuân đề nghị, để gạo ST25 ngon nhất thế giới đứng vững ở thị trường trong nước và thế giới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương cần vào cuộc để giữ vững vị trí gạo ST25 ngon nhất trên trường quốc tế.
Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng tặng bằng khen cho nhóm lai tạo giống lúa gồm anh hùng Lao động Hồ Quang Cua, tiến sỹ Trần Tấn Phương và thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hương. (Ảnh: Trung Hiếu/TTXVN)
Cơ hội vươn tầm thế giới
Trong chuyến làm việc tại Sóc Trăng mới đây, ghi nhận thành tích của nhóm lai tạo giống lúa ST25, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường đã tặng Bằng khen cho kỹ sư Hồ Quang Cua và các cộng sự.
Bộ trưởng cũng hoan nghênh Sóc Trăng đã biến nguy cơ biến đổi khí hậu thành cơ hội. Theo Bộ trưởng, mô hình lúa-tôm Sóc Trăng đang triển khai là mô hình bền vững và hiệu quả nên tỉnh cần tập trung xây dựng thương hiệu lúa thơm Sóc Trăng, sớm hoàn thiện lại Đề án lúa đặc sản; trong đó xác định vùng chuyên sản xuất hai giống lúa ST24 và ST25.
Sóc Trăng cần coi mô hình tôm-lúa là sản phẩm chuyên biệt của địa phương, sớm xây dựng thương hiệu tôm, thương hiệu gạo (sản phẩm kép) từ mô hình tôm-lúa…
Lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng cũng cho rằng sự kiện giống lúa ST25 đạt giải “gạo ngon nhất thế giới” là niềm tự hào của gạo Việt, là điều kiện, mở ra một cơ hội rất lớn cho gạo chất lượng cao của Việt Nam nói chung và của tỉnh Sóc Trăng nói riêng vươn tầm thế giới.
Từ kết quả này, Sóc Trăng xác định giống lúa ST25 cần được phát triển, nhân rộng ở tất cả các vùng có đủ điều kiện trồng, không riêng ở Sóc Trăng. Đồng thời, gạo ST25 cần được mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Trước mắt, tỉnh chỉ đạo cơ quan quản lý thị trường tăng cường chống gian lận thương mại; sớm quy hoạch vùng trồng, vùng sản xuất giống, vùng sản xuất lúa gạo thương phẩm…
Ông Lương Minh Quyết, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng cho biết thêm, năm 2019, diện tích sản xuất lúa đặc sản trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đạt 177.000 ha, sản lượng lúa đặc sản ước đạt trên 1 triệu tấn, tăng trên 20% so với mục tiêu của Đề án phát triển sản xuất lúa đặc sản tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 2012-2020.
Gạo ST 25 (phải) có hạt gạo dài, trong so với một loại gạo khác (trái). (Ảnh: Vũ Hà/Vietnam+)
Năm 2010, Sở đã đăng ký nhãn hiệu gạo thơm ST cho 2 nhóm sản phẩm và hiện nay nhãn hiệu gạo thơm đã được giao cho doanh nghiệp tư nhân Hồ Quang Trí sử dụng theo quy định. Những năm gần đây, giống lúa ST ngày càng được nông dân nhân rộng; trong đó giống ST25 hàng năm được gieo cấy hơn 10.000 ha.
Với thương hiệu được vinh danh lần này, sắp tới tỉnh sẽ quy hoạch vùng trồng lúa ST, chú trọng nhân rộng mô hình lúa hữu cơ ST24, ST25 ở các địa phương có ưu thế như ở địa bàn thị xã Ngã Năm, huyện Thạnh Trị và vùng tôm-lúa huyện Mỹ Xuyên. Thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh sẽ phối hợp triển khai các hoạt động hỗ trợ sản xuất và xúc tiến thương mại đối với gạo ST24, ST25 để đưa gạo thơm Sóc Trăng ngày càng vươn xa.
Một tin vui với nhóm tác giả lai tạo giống ST25 và người nông dân Sóc Trăng là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường đã ký Quyết định số 5052/QĐ-BNN-TT công nhận đặc cách giống lúa thơm ST25 do nhóm tác giả kỹ sư Hồ Quang Cua, tiến sỹ Trần Tấn Phương và Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hương nghiên cứu, chọn tạo.
ST25 đạt giải nhất trở thành gạo ngon nhất thế giới mới chỉ là bước khởi đầu cho chiến lược dài hơi là nâng cao giá trị và xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Do đó, chuyện của hạt gạo ST bây giờ không còn là của riêng nhóm nghiên cứu, hay của tỉnh Sóc Trăng, mà là câu chuyện của cả ngành lúa gạo Việt Nam, nếu muốn hạt gạo ST nói riêng đi xa hơn, được người tiêu dùng chấp nhận, có giá trị cao trên thị trường xuất khẩu lúa gạo thế giới./.
Thành phố Hồ Chí Minh từng dẫn đầu và chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh có dấu hiệu chững lại, trong khi nhiều địa phương khác đang từng bước vươn lên mạnh mẽ.
Trong bối cảnh đó, để củng cố vai trò đầu tàu về xuất khẩu nói riêng, kinh tế nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh đang xây dựng chiến lược dài hơi trong việc chuyển dịch cơ cấu và nâng cao giá trị xuất khẩu.
Thành phố Hồ Chí Minh là cửa ngõ xuất khẩu quan trọng của cả nước với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu có thời điểm đạt tới 20%/năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tăng trưởng xuất khẩu đang giảm dần, chỉ trên dưới mức 10% năm, tỷ trọng xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước cũng giảm khá mạnh.
Tăng trưởng chững lại
Tại Diễn đàn đầu tư và xuất khẩu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019, ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đánh giá hoạt động xuất khẩu của thành phố liên tục phát triển và là lĩnh vực kinh tế quan trọng đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế của thành phố.
Hiện thành phố có nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như sản phẩm máy tính, linh kiện điện tử ước đạt 10 tỷ USD; dệt may ước đạt 4,2 tỷ USD; giày dép ước đạt 1,9 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ ước đạt 1,6 tỷ USD.
Bên cạnh đó, nhiều mặt hàng như gạo, thủy hải sản, hàng rau quả, phương tiện vận tải và các loại phụ tùng cũng có kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu USD/năm.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Thành Phong cũng nhấn mạnh số liệu thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng trong hoạt động xuất khẩu của thành phố đã có dấu hiệu chững lại. Tốc độ tăng trưởng trong gần 10 năm trở lại đây đã giảm xuống dưới 10%/năm; cơ cấu xuất khẩu chậm chuyển dịch và chịu sự tác động mạnh diễn biến kinh tế thế giới, nhất là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, khủng hoảng nợ công châu Âu 2010-2012 và gần đây nhất là tác động xung đột thương mại Hoa Kỳ-Trung Quốc.
Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Nguồn: TTXVN)
Trong khi đó, Báo cáo của Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng nếu như năm 2001, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm ưu thế nổi bật về hoạt động xuất khẩu, đóng góp hơn 51% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước thì đến năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ chiếm 15,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Về quy mô xuất khẩu, năm 2010, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn nổi trội nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây, nhiều địa phương khác như Đồng Nai, Bình Dương và Bắc Ninh, Thái Nguyên đã vươn lên mạnh mẽ. Đặc biệt là sự vươn lên ngoạn mục của Bắc Ninh và Thái Nguyên do thu hút được nhiều dự án FDI lớn trong lĩnh vực điện tử, trong khi Đồng Nai và Bình Dương dựa trên việc thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp.
Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phụ thuộc vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Ông Phạm Ngọc Hòa, nguyên Phó Giám đốc Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh phân tích kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phụ thuộc vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nếu như năm 2005, thành phần kinh tế trong nước chiếm 55% và thành phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 45% thì đến cuối năm 2019, tỷ lệ tương ứng là 33,6% và 66,4%. Riêng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu qua cửa khẩu thành phố (không tính dầu thô) ước đạt 36,8 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm 2018. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp thành phố ước đạt 12,4 tỷ USD, trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ước đạt 24,5 tỷ USD.
Chỉ so với năm 2018, cơ cấu tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2019 tiếp tục xu hướng giảm đối với các doanh nghiệp trong nước (từ 37,7%) và tăng đối với các doanh nghiệp nước ngoài (từ 62,3%). Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của doanh nghiệp nước ngoài (tăng 25,4%) cũng vượt trội so với doanh nghiệp trong nước (tăng 4,8%) cho thấy khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong nước đối với các diễn biến phức tạp từ thị trường thế giới chưa thật sự hiệu quả.
Mất dần lợi thế so sánh
Trên thực tế, các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Thành phố Hồ Chí Minh như sản phẩm điện, điện tử, dệt may, giày dép chủ yếu do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất, xuất khẩu.
Dưới góc nhìn của chuyên gia, tiến sỹ Đinh Công Khải, Viện trưởng Viện Chính sách công, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh đang mất dần lợi thế cạnh tranh do khả năng đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu và đa dạng hóa thị trường thấp. Nhìn tổng thể, xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là mô hình tăng trưởng theo chiều rộng và chạy theo thị trường, thiếu định hướng chiến lược phát triển xuất khẩu theo lợi thế so sánh.
Những ngành có quy mô và tốc độ tăng trưởng lớn như sản phẩm điện tử-cơ khí phụ thuộc doanh nghiệp FDI, dệt may, da giày là ngành thâm dụng lao động giá trị gia tăng thấp. Sản phẩm rau, củ, quả, hạt các loại chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất ở Tây Nguyên, trong khi sản phẩm động vật sống, thịt động vật các loại, bao gồm cả thủy hải sản phụ thuộc vào khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nói cách khác, Thành phố Hồ Chí Minh không có thế mạnh về sản xuất sản phẩm xuất khẩu mà chỉ là nơi thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hóa cho các vùng lân cận trong khu vực phía Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh không có thế mạnh về sản xuất sản phẩm xuất khẩu mà chỉ là nơi thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hóa cho các vùng lân cận trong khu vực phía Nam
Theo tiến sỹ Đinh Công Khải, Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành cửa ngõ xuất khẩu cho cả vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung thời gian qua nhờ có vị trí địa lý thuận lợi. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng phục vụ xuất khẩu khá đầy đủ các loại hình và đồng bộ, nguồn nhân lực dồi dào về số lượng và tương đối về chất lượng, hơn nữa, môi trường kinh doanh thuận lợi thu hút FDI phục vụ xuất khẩu.
Tuy nhiên, các năng lực cạnh tranh này của Thành phố Hồ Chí Minh là không bền vững và ngày càng mất lợi thế so sánh với nhiều địa phương khác. Cụ thể, việc phân công lao động và liên kết vùng trong xây dựng chuỗi hàng hóa xuất khẩu còn yếu, cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu dần quá tải, kết nối cơ sở hạ tầng giao thông chưa hoàn chỉnh, chi phí lao động ngày càng tăng và kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc lớn vào hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI.
Bốc xếp hàng hóa tại Công ty Cổ phần cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Liên quan đến hạ tầng hỗ trợ xuất khẩu, bà Đặng Minh Phương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam đánh giá đầu tư xã hội cho sản xuất hàng xuất khẩu, kết cấu hạ tầng quan trọng phục vụ hoạt động xuất khẩu như cảng biển, sân bay, đường giao thông, kho ngoại quan… còn thiếu và yếu, ảnh hưởng đến khả năng gia tăng quy mô sản xuất, xuất khẩu.
Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư chưa cao, chưa có những dự án quy mô lớn dành cho sản xuất hàng xuất khẩu cũng như phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ nên cơ cấu sản xuất và xuất khẩu chậm được đổi mới, tỷ lệ hàng công nghiệp chế biến xuất khẩu chưa cao. Thị trường xuất khẩu vẫn tập trung nhiều ở Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, trong khi những thị trường lớn như châu Âu vẫn còn khiêm tốn.
Nhiều chuyên gia cũng chỉ ra những ngành có quy mô xuất khẩu lớn nhất của Thành phố Hồ Chí Minh đang là những ngành tạo ra phần lớn việc làm, nhưng chủ yếu là việc làm có mức thu nhập thấp hơn so với các nhóm ngành còn lại. Về đóng góp ngân sách, các ngành đóng thuế cao nhất là những ngành có quy mô xuất khẩu lớn và thâm dụng lao động (thực phẩm, may mặc, điện tử, da giày, hóa chất, cao su-nhựa) và hiện là những ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phố. Tuy nhiên, về lâu dài, những ngành này không còn nhiều dư địa để phát triển do thiếu lao động phổ thông, sự dịch chuyển các nhà máy về các tỉnh lân cận.
Trở thành trung tâm xuất khẩu của khu vực
Theo các chuyên gia, hoạt động xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh đã đến ngưỡng giới hạn phát triển theo chiều ngang, sẽ khó tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng trong thời gian tới nếu không có giải pháp chiến lược mang tính đột phá để nâng cao giá trị gia tăng.
Đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại
Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò và lợi thế là trung tâm kinh tế của cả nước, các doanh nghiệp thành phố cũng được đánh giá là năng động trong việc thích ứng và tận dụng cơ hội từ thị trường để xuất khẩu.
Trong bối cảnh xu hướng thương mại và thị hiếu tiêu dùng liên tục thay đổi, ông Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại cũng là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước đổi mới cách thức tổ chức xúc tiến xuất khẩu theo hướng gắn kết từng mặt hàng xuất khẩu với những thị trường cụ thể. Xác định rõ các mặt hàng chủ lực và những thị trường mục tiêu để có cách tiếp cận nhanh và phù hợp nhất.
TP.HCM sẽ tập trung tái cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng giảm phụ thuộc vào một số ít thị trường lớn, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và khai thác tối đa các khu vực thị trường nhiều tiềm năng
Cụ thể, thành phố sẽ tập trung tái cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng giảm phụ thuộc vào một số ít thị trường lớn, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và khai thác tối đa các khu vực thị trường nhiều tiềm năng như châu Âu, Trung Đông, thị trường các nước Hồi giáo. Riêng với thị trường xuất khẩu truyền thống và lớn nhất là Trung Quốc, sẽ chuyển đổi từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch.
Nhiều chuyên gia nhận định các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là FTA thế hệ mới với những cam kết cắt giảm sâu về thuế quan sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu đáng kể cho nền kinh tế nói chung. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, việc thực thi các FTA được dự đoán sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2021-2025 tăng thêm 2,5-3%/năm, từ 2026-2030 sẽ tăng thêm 2-2,5%/năm và đạt trên 100 tỷ USD vào năm 2030. Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực tận dụng FTA cho doanh nghiệp cũng cần được chú trọng.
Sản xuất linh kiện điện tử. (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN)
Trong khi đó, các doanh nghiệp cho rằng cần hệ thống lại các chính sách hỗ trợ xuất khẩu cho từng ngành hàng cụ thể để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận. Các chương tình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu và phát triển xuất khẩu của thành phố cũng cần được tập trung thành chiến lược dài hạn và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tế.
Bà Bùi Thanh An, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cho rằng để giữ vững vị trí là Trung tâm xuất khẩu Thành phố Hồ Chí Minh cần phát huy sự sáng tạo, đa dạng hóa trong tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại hướng tới các thị trường mục tiêu. Thời gian tới, thành phố cần hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các thị trường lân cận trong khu vực ASEAN, tiếp cận và mở rộng các thị trường trọng điểm khu vực Đông Bắc Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện, đặc biệt khi Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới song phương và đa phương, hoạt động xúc tiến thương mại cần được nâng cao, cả về chất và lượng, triển khai phối hợp đa dạng trong và ngoài nước, hướng tới mục tiêu tăng cường tối đa tính chuyên nghiệp, hiệu quả.
Song song với đó, tăng cường tổ chức khảo sát nghiên cứu thị trường; kết nối doanh nghiệp với các đối tác, nhà nhập khẩu tiềm năng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, các chính sách nhập khẩu của các nước nhằm đẩy mạnh khai thác các thị trường tiềm năng, các thị trường mới, đặc biệt là thị trường thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) và sẵn sàng tận dụng hiệu quả cơ hội xuất khẩu từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA).
Tập trung phát triển dịch vụ xuất khẩu
Để khai thác hiệu quả những lợi thế của Thành phố Hồ Chí Minh đối với hoạt động xuất nhập khẩu, ông Nguyễn Ngọc Hòa, nguyên Phó Giám đốc Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh nêu quan điểm xây dựng chiến lược cho xuất khẩu của thành phố cần lấy chất lượng tăng trưởng làm nền tảng. Cơ cấu xuất khẩu cần chuyển dịch theo hướng cung cấp dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu và xuất khẩu dịch vụ hàng hóa vô hình (phần mềm, sản phẩm nội dung số); tập trung phát triển nhóm dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu (logistics, hội chợ triển lãm thương mại, dịch vụ tài chính, pháp lý…); đẩy mạnh liên kết vùng.
Xây dựng chiến lược cho xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh cần lấy chất lượng tăng trưởng làm nền tảng
Cụ thể, trước mắt, thành phố cần tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cho các ngành hàng xuất khẩu truyền thống, có kim ngạch cao như dệt may, da giày để đảm bảo nguồn thu; đồng thời chuẩn bị nền tảng về công nghệ và nguồn nhân lực để có thể sản xuất và xuất khẩu các nhóm ngành kỹ thuật liên quan đến điện tử, cơ khí lắp ráp, chế tạo, tự động hóa, cụ thể là thiết kế, chế tạo dụng cụ sản xuất, linh kiện cho các ngành công nghiệp khác.
Mặt khác, thành phố cũng chú trọng phát triển các dịch vụ nền như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hạ tầng và chất lượng logistics để từng bước phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu và xuất khẩu các sản phẩm dịch vụ; đẩy mạnh liên kết vùng, phối hợp sản xuất hàng xuất khẩu chuyển dịch đến các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị, phù hợp với lợi thế so sánh giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam.
Chế biến gạo xuất khẩu. (Nguồn: TTXVN)
Dưới góc độ của doanh nghiệp, ông Trần Việt Anh, Tổng giám đốc Công ty Nam Thái Sơn cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần quan tâm đến dịch vụ xuất khẩu; trong đó, có dịch vụ logistics, cùng với việc lựa chọn những sản phẩm xuất khẩu là thế mạnh của thành phố. Bởi lẽ, trong quá trình xuất nhập khẩu, doanh nghiệp đang chịu chi phí logistics cao.
Tương tự, ông Đỗ Hà Nam, Tổng giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Intimex nêu dẫn chứng Công ty Intimex xuất khẩu trên 1 triệu tấn hàng mỗi năm (tương đương 50.000 container). Hiện đang tồn tại điều vô lý là hàng hóa từ Thành phố Hồ Chí Minh đi một số nước (Singapore, Trung Quốc) chỉ mất vài ngày, nhưng ra miền Trung mất cả tuần theo đường thủy, đường sắt.
“Rất cần giải pháp cho ngành logistics để giảm thiểu thời gian và chi phí cho doanh nghiệp,” ông Nam nhấn mạnh.
Đồng tình với quan điểm của nhiều doanh nghiệp, tiến sỹ Đinh Công Khải cho rằng hầu hết các sản phẩm có quy mô xuất khẩu lớn của Thành phố Hồ Chí Minh đều có rất ít các cơ hội để đa dạng hóa do nền tảng cho những sản phẩm này khá đơn giản. Do đó, Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh các cụm ngành xuất khẩu tiêu biểu theo hướng chuyên môn hóa hoạt động xuất khẩu dựa trên lợi thế so sánh của thành phố là tham gia vào các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị toàn cầu cũng như tăng cường liên kết với các doanh nghiệp nhằm xây dựng nền tảng năng lực cạnh tranh cho các ngành trong tương lai.
Cùng với đó, thành phố phải hoàn thiện chiến lược phát triển cụm ngành logistics, trong đó chú trọng quy hoạch lại hệ thống cảng biển và cơ sở hạ tầng logistics, tăng cường khả năng kết nối giao thông đến các vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu, mới có thể biến Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm dịch vụ xuất khẩu của vùng và khu vực./.
Một góc cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh). (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Sau 4 ngày làm việc, Hội nghị thường niên Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 2020 ở khu nghỉ dưỡng Davos (Thụy Sĩ) với chủ đề “Các bên liên quan hướng tới một thế giới bền vững và gắn kết,” đã khép lại ngày 24/1.
Thương mại toàn cầu, biến đổi khí hậu và tương lai của “các đại gia” công nghệ là những vấn đề nóng được hàng nghìn đại biểu, trong đó có hơn 50 nguyên thủ quốc gia, bàn bạc nhiều trong Diễn đàn Davos năm nay.
Chưa bao giờ, triển vọng thương mại và tăng trưởng toàn cầu, tương lai của các công ty công nghệ, chủ nghĩa đa phương và trật tự địa chính trị phải đối mặt nhiều thách thức như hiện nay. Cuộc khủng hoảng khí hậu đang ngày một nghiêm trọng càng gây sức ép đối với các vấn đề trên. Do vậy, biến đổi khí hậu đã trở thành đề tài thảo luận ưu tiên năm nay.
Thương mại toàn cầu, biến đổi khí hậu và tương lai của “các đại gia” công nghệ là những vấn đề nóng
Theo cảnh báo của WEF, lượng khí nhà kính trong khí quyển hiện nhiều hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử loài người và đòi hỏi phải có hành động khẩn cấp từ nhiều bên.
Phát triển hệ thống kinh tế bền vững là một trong những trọng tâm của hội nghị năm nay. Hơn 160 sáng kiến riêng lẻ đã được đưa ra, trong đó có mục tiêu trồng 1.000 tỷ cây xanh trong thập niên tới và trang bị cho 1 tỷ người những kỹ năng cần thiết trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0.
WEF 50 đang nỗ lực biến sự kiện tại Davos trở thành một trong những hội nghị quốc tế về phát triển bền vững quan trọng nhất. Theo đó, diễn đàn thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, hệ thống kinh tế nhằm loại bỏ chất thải và sử dụng nhiều tài nguyên, trước mắt là giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế các vật liệu trong công tác hậu cần của hội nghị.
(Nguồn: Getty Images)
Với mục tiêu trên, WEF 2020 đặt kế hoạch giảm 25% lượng rác thải so với năm 2019 bằng cách đưa ra các thiết kế mới, loại bỏ nhựa sử dụng một lần và tái sử dụng các vật liệu. WEF 2020 cũng hoàn trả một nửa chi phí vé tàu hạng nhất cho những người tham gia hội nghị đi bằng đường sắt.
Một tin vui từ Hội nghị Davos năm nay là tỷ phú Mỹ George Soros cam kết tài trợ 1 tỷ USD cho dự án phát triển mạng lưới các trường đại học trong nỗ lực hạn chế những tác động tiêu cực của tình trạng biến đổi khí hậu đối với sự phát triển của xã hội.
Cũng tại hội nghị lần này, Tổng thống Trump tuyên bố Mỹ sẽ tham gia sáng kiến trồng 1.000 tỷ cây xanh. Tuy nhiên, nhà hoạt động môi trường 17 tuổi Greta Thunberg khẳng định chỉ trồng cây thôi là chưa đủ để chống biến đổi khí hậu.
Nhà hoạt động môi trường trẻ tuổi đã chọn Diễn đàn Davos để một lần nữa phát đi thông điệp: “Trái Đất đang bị thiêu đốt. Sự thiếu hành động của các ngài đang khiến lửa bùng cháy dữ dội hơn”. Thunberg cũng kêu gọi “chấm dứt ngay” các nguồn đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch.
WEF 50 đang nỗ lực biến sự kiện tại Davos trở thành một trong những hội nghị quốc tế về phát triển bền vững quan trọng nhất.
Một vấn đề cũng giành sự quan tâm lớn tại Diễn đàn Davos năm nay là triển vọng tăng trưởng. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá “rào cản thương mại” là lý do chủ chốt khiến tổ chức này hạ mức dự báo tăng trưởng toàn cầu, và có thể tiếp tục hạ xuống trong các báo cáo tới. Đầu tháng này, Ngân hàng Thế giới (WB) cũng hạ mức dự báo tăng trưởng toàn cầu năm nay thêm 0,2% xuống 2,5%. Tổ chức này cảnh báo căng thẳng Mỹ-Trung hạ nhiệt cũng không giúp kinh tế toàn cầu tăng tốc.
Cho dù Tổng thống Mỹ Donald Trump đã có giọng điệu hòa hoãn hơn trong vấn đề thương mại, nhưng các CEO tề tựu tại WEF cho rằng rất khó hoàn tất thỏa thuận Mỹ-Trung giai đoạn hai trước khi ông kết thúc nhiệm kỳ. Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp bày tỏ sự nghi ngại về các vòng đàm phán thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung giai đoạn hai. Trong đó, hai vấn đề hóc búa nhất có thể cản trở tiến trình đàm phán này là thuế quan của Mỹ đánh vào hàng hóa Trung Quốc vẫn còn và liệu Bắc Kinh có thực hiện cam kết mua hàng hóa Mỹ nhiều hơn.
Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới lần thứ 50 (WEF 2020) ở Davos, Thụy Sĩ, ngày 21/1/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)
Những hoài nghi quanh thỏa thuận giai đoạn hai đã chi phối phần nào các buổi thảo luận của giới CEO với quan chức Nhà Trắng tại Davos, trong bối cảnh ông Trump đang chạy đua tái tranh cử trong những tháng tới.
Chính vì vậy, nhiều nhà bình luận cho rằng bài phát biểu kéo dài khoảng nửa giờ của ông Trump tại Diễn đàn Davos năm nay có vẻ như là không chỉ nhằm vào cử tọa có mặt ở điễn đàn, mà còn hướng tới hàng triệu cử tri Mỹ sẽ quyết định vào tháng 11 rằng ông có xứng đáng với một nhiệm kỳ thứ hai hay không.
Đối với Liên minh châu Âu, những phát biểu của Tổng thống Mỹ lần này đã mang theo thông điệp cụ thể. Cho dù ông Trump bày tỏ mong muốn đạt được một thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), nhưng ông vẫn trung thành với chiến lược dùng thuế quan làm làm vũ khí khi tiếp tục đe dọa áp thuế 25% trên ôtô châu Âu nếu EU và Mỹ không sớm đạt thỏa thuận thương mại.
Ông Trump còn thằng thừng tuyên bố Mỹ đã bị các đồng minh châu Âu đối xử không công bằng trong nhiều năm qua và “Nếu không thể đạt được một thỏa thuận, chúng ta sẽ phải làm điều gì đó.”
Nhiều nhà bình luận cho rằng bài phát biểu kéo dài khoảng nửa giờ của ông Trump tại Diễn đàn Davos năm nay có vẻ như là không chỉ nhằm vào cử tọa có mặt ở điễn đàn, mà còn hướng tới hàng triệu cử tri Mỹ
Lời cảnh báo này cũng với việc EU đang nỗ lực xúc tiến kế hoạch đánh thuế nhằm vào các tập đoàn công nghệ lớn, chủ yếu của Mỹ, có nguy cơ đẩy quan hệ thương mại giữa Mỹ và EU càng thêm căng thăng khi mà tân Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen vốn nổi tiếng là một nhà đàm phán cứng rắn.
Cũng tại hội nghị, nhiều ý kiến phát biểu đều bày tỏ quan ngại thế giới đang ở thời kỳ bất ổn, với chính trị, kinh tế và xã hội rạn nứt, chia rẽ; bất bình đẳng và phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc. Chủ tịch WEF Klaus Schwab đã kêu gọi thay đổi tư duy, phương thức quản trị, kêu gọi các quốc gia, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm chung, hài hòa lợi ích riêng với lợi ích chung, lợi ích ngắn hạn với lợi ích lâu dài, bền vững.
Chủ tịch Klaus Schwab nhấn mạnh hợp tác là bản sắc và giá trị cốt lõi của WEF ngay từ khi thành lập cách đây 50 năm; khẳng định WEF không chỉ là diễn dàn chia sẻ ý tưởng, mà còn là một “nền tảng” thúc đẩy hợp tác toàn cầu trong xử lý các vấn đề toàn cầu.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hội nghị WEF Davos, WEF đã ra “Tuyên ngôn Davos 2020,” trong đó có các quy tắc ứng xử cho các doanh nghiệp trong thời đại Cách mạng 4.0. Nhiều ý kiến phát biểu tại hội nghị còn đề cao liên kết, hợp tác quốc tế, ủng hộ chủ nghĩa đa phương và chống bảo hộ mậu dịch.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại phiên toàn thể với bài phát biểu về “Triển vọng chiến lược ASEAN.” (Ảnh: Lê Hồng Sơn/Vietnam+)
Tại hội nghị Davos lần này, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã trở thành diễn giả chính tại phiên toàn thể với bài phát biểu về “Triển vọng chiến lược ASEAN.” Đây là một trong những điểm nhấn của WEF lần thứ 50.
Trong bài phát biểu, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình khẳng định với trọng trách kép là Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác giữa ASEAN và Liên hợp quốc nhằm đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh của khu vực và thế giới cũng như thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời nỗ lực thúc đẩy vai trò, tiếng nói của ASEAN tại các diễn đàn đa phương quan trọng khác nhằm góp phần đề cao chủ nghĩa đa phương, hợp tác quốc tế trong các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Việt Nam một lần nữa thể hiện vai trò thành viên tích cực của WEF, đồng thời thể hiện một cách năng động vai trò Chủ tịch ASEAN.
Sau khi tổ chức thành công Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 tại Hà Nội, có thể nói tại Diễn đàn Davos 2020 lần này, Việt Nam một lần nữa thể hiện vai trò thành viên tích cực của WEF, đồng thời thể hiện một cách năng động vai trò Chủ tịch ASEAN khi tạo cầu nối gắn kết giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN với cộng đồng thế giới.
Trong bối cảnh các nước Đông Nam Á đang xây dựng cộng đồng đoàn kết và phát triển bền vững, những đề xuất và kế hoạch hợp tác thiết thực của Việt Nam tại Diễn đàn WEF 2020 không chỉ nâng cao vai trò của ASEAN mà còn tạo những nền tảng thuận lợi để các nước Đông Nam Á có thể tận dụng những xu thế sáng tạo mới trong quá trình phát triển này.
Có thể thấy Diễn đàn Davos 2020 một lần nữa cho thấy trong bối cảnh cộng đồng quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức phức tạp, tất cả các bên cần tham gia đóng góp tích cực hơn nữa và hợp tác vì lợi ích chung để giải quyết hiệu quả các vấn đề. Đó cũng là tinh thần gắn kết và bền vững mà WEF hướng tới sau 50 năm thành lập./.
“Thế giới biến động và dự cảm cho Việt Nam” là tựa đề bài viết của Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn viết riêng cho cuốn sách “Dự báo 2020: Phá hủy/Tái thiết” do Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xuất bản, mua bản quyền nội dung của tổ chức truyền thông quốc tế Project Syndicate.
Báo điện tử VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu nội dung bài viết:
Năm 2019 vừa đi qua với những sự kiện lớn cả trong và ngoài nước. Việt Nam cũng vừa đón chào năm 2020 với niềm tin và hy vọng mới. Đây là thời điểm cùng nhìn lại tình hình môi trường quốc tế, khu vực và đánh giá, dự báo tình hình cũng như suy nghĩ về những dự định cho năm mới.
Đối với Việt Nam, năm 2019 có ý nghĩa quan trọng, năm kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong và ngoài nước nhằm nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020.
Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung (phải, hàng thứ 2, bên trái) dẫn đầu vui mừng sau khi kết quả bỏ phiếu cho thấy Việt Nam được bầu chọn là ủy viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, tại New York, Mỹ ngày 7/6/2019. (Ảnh: THX/TTXVN)
Trong khi đó, nhìn lại năm 2019 vừa qua, bức tranh toàn cảnh thế giới và các khu vực có những mảng sáng tối đan xen, có cả những thay đổi bước ngoặt, nhưng nổi lên là những diễn biến phức tạp và bất ổn hơn cả về kinh tế và chính trị-an ninh, trong đó phải kể đến:
Năm 2019 có ý nghĩa quan trọng, năm kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo,môi trường hòa bình, nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020.
Thứ nhất, kinh tế thế giới sau 10 năm phục hồi và tăng trưởng tích cực, đang có dấu hiệu chậm lại trong môi trường quốc tế chuyển biến nhanh chóng, phức tạp có nhiều bất trắc. Nhiều đánh giá đã chỉ ra rằng có tới 90% số nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới xuống 2,9%-3%; đồng thời cho rằng thế giới đang đối mặt với 4 “đám mây đen” là cọ xát thương mại Mỹ-Trung, tiến trình Brexit kéo dài, sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc và áp lực buộc các nước phải thắt chặt chính sách tiền tệ-tài khóa.
Một số nhà nghiên cứu còn đánh giá tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm qua đang ở trạng thái “4 thấp”: tăng trưởng thấp, thương mại và đầu tư thấp, lãi suất thấp và lạm phát thấp.
Thứ hai, mặc dù kinh tế và thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại và chịu sức ép từ trào lưu bảo hộ, dân tộc chủ nghĩa và dân túy, nhưng trong năm qua, các liên kết kinh tế vẫn được thúc đẩy.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (thứ 8, bên phải) và lãnh đạo các nước thành viên Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) chụp ảnh chung tại Hội nghị thượng đỉnh RCEP lần thứ 3 ở Bangkok, Thái Lan, ngày 4/11/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Có thể kế đến việc Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được triển khai hiệu quả, các nước đạt thỏa thuận kết thúc đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Khu vực tự do mậu dịch châu Phi (AfFTA) ra đời, các sáng kiến liên kết như Vành đai-Con đường, Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, hàng loạt thỏa thuận thương mại song phương và đa phương giữa các nước được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo động lực mới cho tăng trưởng toàn cầu và các khu vực.
Thứ hai, mặc dù kinh tế và thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại và chịu sức ép từ trào lưu bảo hộ, dân tộc chủ nghĩa và dân túy, nhưng trong năm qua, các liên kết kinh tế vẫn được thúc đẩy.
Có thể kế đến việc Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được triển khai hiệu quả, các nước đạt thỏa thuận kết thúc đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Khu vực tự do mậu dịch châu Phi (AfFTA) ra đời, các sáng kiến liên kết như Vành đai-Con đường, Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, hàng loạt thỏa thuận thương mại song phương và đa phương giữa các nước được thúc đẩy mạnh mẽ, tạo động lực mới cho tăng trưởng toàn cầu và các khu vực.
Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, Việt Nam đã có quan hệ với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong ảnh: Đoàn xe đưa Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un di chuyển qua Quảng trường Cách mạng Tháng Tám để đến gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump, tại Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều Tiên lần thứ hai, ngày 28/2/2019. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Thứ ba, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong đó có cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến môi trường kinh tế quốc tế và quan hệ quốc tế, đặt ra cơ hội và thách thức đan xen cho tất cả các quốc gia.
Không ngày nào chúng ta không chứng kiến những tiến bộ vượt bậc về công nghệ trên mọi lĩnh vực tác động đến đời sống. Công nghệ dữ liệu, kinh tế số, an ninh mạng đang trở thành chủ đề nổi bật tại các diễn đàn đa phương và hợp tác kinh tế quốc tế.
Đồng thời, công nghệ cũng đặt ra những vấn đề rất mới và phức tạp đối với nhiều nước. Trong thế giới ngày nay, công nghệ cao đã trở thành động lực chính cho tăng trưởng của mỗi nền kinh tế. Ai làm chủ được công nghệ cao sẽ nắm lợi thế trong cuộc cạnh tranh quyết liệt về sức mạnh tổng hợp cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Chính vì vậy trong năm qua, công nghệ đã trở thành tiêu điểm trong cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, kéo theo tác động đến quan hệ giữa nhiều quốc gia với nhau.
Tổng thống Mỹ Donald Trump (phải) và Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần hai ở Hà Nội ngày 28/2/2019. (Ảnh: Yonhap/TTXVN)
Thứ tư, tình hình nhiều nước, trong đó có các đối tác quan trọng của ta, đều chứng kiến những diễn biến mới, phức tạp hơn, nhất là tăng trưởng kinh tế giảm sút, chia rẽ trong chính trị nội bộ dưới tác động của trào lưu dân tộc chủ nghĩa và dân túy, tư tưởng hoài nghi, chống hội nhập, sự ủng hộ dành cho lãnh đạo một số nước cũng suy giảm.
Những khó khăn về nội bộ như vậy không khỏi có những tác động đến quyết sách đối ngoại của nhiều nước, và do vậy cũng tác động đến tình hình thế giới và nhiều khu vực.
Thứ năm, các nước lớn gia tăng cọ xát, cạnh tranh ảnh hưởng. Cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chuyển sang một giai đoạn mới toàn diện hơn trước, thể hiện cả ở sự leo thang chiến tranh thương mại cũng như gia tăng căng thẳng về các vấn đề an ninh khu vực.
Tuy hai nước đạt được thỏa thuận giai đoạn một, nhưng không ai có thể khẳng định cuộc chiến thương mại giữa hai bên đến đây sẽ dừng lại. Quan hệ Mỹ-Nga, Nga-Trung, Nga-EU, Nhật-Hàn đều có những diễn biến mới đáng chú ý.
Từ trái sang: Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin trước vòng đàm phán thương mại ở Bắc Kinh ngày 14/2/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Bên cạnh đó, các nước lớn vẫn duy trì đối thoại và hợp tác trên những lĩnh vực chia sẻ lợi ích chung. Cạnh tranh giữa các nước lớn cũng đang tác động mạnh đến vai trò của các thể chế đa phương quốc tế và khu vực cũng như hiệu lực của luật pháp quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề chung của thế giới. Các nước vừa và nhỏ nhìn chung đều lo ngại và bất an trước một cục diện như vậy.
Tập hợp lực lượng và ứng xử trong quan hệ quốc tế ngày càng mang tính thực tế, thực dụng và linh hoạt, trong đó mỗi nước đều phải coi lợi ích quốc gia-dân tộc là tiêu chí cao nhất và mang tính quyết định trong mọi quyết sách đối nội cũng như đối ngoại.
Thứ sáu, nhiều điểm nóng trên thế giới đang có chiều hướng diễn biến phức tạp hơn. Tình hình Biển Đông trở nên khó lường và căng thẳng trước những hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế, làm tổn hại đến chủ quyền, lãnh thổ, an ninh và an toàn hàng hải của các nước ven biển.
Trong ảnh (tư liệu): Một vụ phóng thử tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm của Triều Tiên ngày 24/4/2016. (Ảnh:EPA/TTXVN)
Tiến trình đối thoại liên quan đến bán đảo Triều Tiên gặp trắc trở. Các điểm nóng tại khu vực Trung Đông-Bắc Phi, nhất là trong quan hệ giữa Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Syria, Israel, Palestine… kéo dài suốt cả năm 2019 và sẽ còn diễn biến căng thẳng trong năm 2020 này.
Đi kèm với chiều hướng đó là các bất ổn xã hội bùng phát và kéo dài dẫn đến tình trạng bất ổn trong nội bộ nhiều quốc gia và khu vực, trong đó có Hong Kong (Trung Quốc), một số nước Mỹ Latinh (tại Venezuela, Brazil, Peru, Ecuador, Colombia, Chile), Trung Đông – Bắc Phi (Algeria, Sudan, Iran, Iraq, Liban), một số nước châu Âu (như Pháp). Có nơi nhiều cuộc biểu tình mang tính bạo lực, thậm chí bạo loạn.
Đáng chú ý, những bất ổn nói trên nổi lên ở cả những nước đang phát triển và nước phát triển, đối tượng đấu tranh nhằm vào cả chính quyền cánh tả và cánh hữu, với những nguyên nhân rất phức tạp và nhiều chiều, cả chủ quan và khách quan, cả từ bên trong lẫn bên ngoài.
Thứ bảy, có thể nói hiếm có năm nào các nguy cơ an ninh phi truyền thống như thiên tai, biến đối khí hậu, nước biển dâng, an ninh nguồn nước tại khu vực châu Á (nhất là lưu vực sông Mekong), cháy rừng tại Australia, ô nhiễm không khí, ảnh hưởng của dịch bệnh tại nhiều nước khu vực… lại trầm trọng, diễn biến nhanh và tác động mạnh như vậy đến các nước.
Nếu không có sự chia sẻ nhận thức chung, phối hợp chặt chẽ và chung tay hành động thì những nguy cơ này sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến ổn định chính trị, kinh tế và xã hội của các khu vực và các nước.
Tuy nhiên, dù bối cảnh quốc tế đang diễn biến phức tạp như vậy, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế và nguyện vọng chung, không nước nào có lợi ích trong một cục diện căng thẳng đến mức vượt khỏi tầm kiểm soát, bùng nổ thành xung đột trên diện rộng.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chứng kiến ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)
Các nước cạnh tranh với nhau song cũng có nhu cầu hợp tác giải quyết các vấn đề toàn cầu tác động chung đến nhân loại, và đều tìm cách tranh thủ môi trường hòa bình, ổn định để tập trung cho phát triển, tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi nước, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi mạnh mẽ tương quan so sánh sức mạnh giữa các nước.
Trong bối cảnh đó, mặc dù không nằm ngoài những xu hướng địa chính trị và địa kinh tế phức tạp trên toàn thế giới, nhưng nhìn chung châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động nhất, thu hút quan tâm và ngày càng trở thành ưu tiên của các nước lớn.
Tăng trưởng kinh tế khu vực đạt mức trên 5%, cao hơn mức tăng trưởng trung bình của cả thế giới. Trong xu hướng thúc đẩy các liên kết kinh tế khu vực và liên khu vực thì châu Á-Thái Bình Dương cũng đang là đầu tầu.
Các sáng kiến khu vực của Trung Quốc và Mỹ được thúc đẩy triển khai một cách toàn diện hơn, chú trọng đến các nội hàm kinh tế, cơ sở hạ tầng chất lượng cao và quan tâm hơn đến các tiêu chuẩn lao động, môi trường, xã hội…
Hồ Gươm. (Ảnh: Đình Na/TTXVN)
Khu vực Đông Nam Á nhìn chung vẫn ổn định hơn nhiều nơi khác trên thế giới và đang đứng trước những thuận lợi căn bản: quy mô kinh tế số của ASEAN lần đầu tiên chạm ngưỡng 100 tỷ USD, tăng 72 tỷ USD so với năm 2018, trong đó Indonesia và Việt Nam là hai nước tăng trưởng nhanh nhất.
Công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã góp phần quan trọng giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tựu chung lại, có thể nói, môi trường chiến lược của Việt Nam năm 2019 nổi lên nhiều yếu tố phức tạp, bất ổn hơn năm 2018 và dự báo năm 2020 sẽ còn phức tạp hơn. Môi trường quốc tế tiếp tục chuyển biến nhanh, cơ hội và thách thức đan xen. Việt Nam nằm trong khu vực phát triển năng động, các nước đều muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam.
Tuy nhiên, thách thức là không nhỏ, tác động nhiều chiều đến môi trường an ninh, phát triển của Việt Nam. Việt Nam cần nhìn nhận đúng đắn để thấy rằng những thời cơ và thách thức nêu trên đan xen và có thể chuyển hóa cho nhau.
Chính với tinh thần chủ động nắm bắt thời cơ và vượt qua thách thức mà năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn về đối ngoại. Công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã góp phần quan trọng giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, đưa các mối quan hệ với các nước láng giềng khu vực, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, triển khai mạnh mẽ đối ngoại đa phương và hội nhập quốc tế, đóng góp trực tiếp và có hiệu quả vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế./.
Ngày 18/12/2019, tại Hà Nội, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn hội đàm với Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ David Stilwell nhân dịp chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ (12/7/1995-12/7/2020). (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)
Доктор наук, доцент Чан Тхи Жанг Хыонг – директор Департамента международного сотрудничества при Министерстве здравоохранения, была назначена Всемирной организацией здравоохранения (ВОЗ) директором программы по контролю заболеваний ВОЗ региона Западной части Тихого океана.
Для национальной системы здравоохранения это было большой честью, когда первый представитель Вьетнама заняла руководящий пост в крупнейшей в мире организации здравоохранения.
Корреспондент VietnamPlus взял интервью у этой талантливой женщины по случаю Нового года по Лунному календарю и узнал о ее новогодних планах.
Корр: Расскажите, пожалуйста, что вам помогло получить должность директора, ответственного за очень важную область деятельности ВОЗ?
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг: В последние годы, осуществляя политику партии и государства в сфере международных отношений и интеграции, сектор здравоохранения Вьетнама активно развивает международное сотрудничество, вносит позитивный вклад в этот процесс, а также повышает роль и позицию сектора здравоохранения на международной арене.
За четверть века (25 лет) работы в Министерстве здравоохранения, в том числе более 11 лет в качестве директора Департамента международного сотрудничества, я накопила много знаний, профессионального опыта и развила соответствующие навыки. Мне удалось организовать и развить сотрудничество с международными партнерами, работающими в области глобального здравоохранения.
Не смотря на то, что Вьетнам достаточно глубоко интегрировался в международную систему, провел много крупных мероприятий регионального и международного масштаба, число вьетнамцев, работающих в международных организациях по-прежнему небольшое.
Вьетнам широко известен как надежный и ответственный партнер международного сообщества. В своей новой роли я признаю, что участие страны в международных организациях является ответственностью и одновременно эффективным вкладом в решение глобальных проблем здравоохранения, что также способствуя повышению роли и позиции Вьетнама на международной арене.
О вакансии в ВОЗ узнала случайно. При поддержке руководителей Министерства здравоохранения и Министерства иностранных дел, я подала заявку на должность директора программы ВОЗ по борьбе с заболеваниями в регионе Западной части Тихого океана. Прошла 3 раунда конкурса, меня выбрали среди сотен других кандидатов из стран региона и мира. Я была назначена на должность директора программы ВОЗ по борьбе с заболеваниями.
Корр: Таким образом, вы стали первым представителем Вьетнама, которого ВОЗ назначила на столь высокую должность?
Доктор наук, доцент Чан Тхи Жанг Хыонг (Фото: корреспондент/Vietnam+)
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг: Да, я стала первым вьетнамцем, назначенным на столь высокую должность (уровень директора) в ВОЗ, самом важном медицинском учреждении Организации Объединенных Наций.
Это должность директора, ответственного за очень важную и обширную область, включающую профилактику инфекционных заболеваний и расширенную программу иммунизации населения. В мои обязанности также входит деятельность по профилактике туберкулеза, ВИЧ/СПИД, малярии, забытых тропических болезней, а также сфера неинфекционных заболеваний и расстройств психики.
Корр:Вы занимали должность директора Департамента международного сотрудничества более 11 лет, а сейчас стали директором программ ВОЗ по борьбе с болезнями. Как вы считаете, в чем сходство и различия между этими двумя должностями? На чем будет сосредоточена ваша новая работа?
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг: В качестве директора, отвечающего за государственное управление международным сотрудничеством в секторе здравоохранения, я вместе с Департаментом международного сотрудничества и своими коллегами отвечаю за управление и координацию мероприятий международного сотрудничества в секторе здравоохранения. Мы также занимаемся мобилизацией и привлечением помощи от международных партнеров в сфере технического сотрудничества для использования в приоритетных целях сектора здравоохранения.
Во время моей работы в Министерстве здравоохранения я постоянно изучала, исследовала и непосредственно участвовала во многих профессиональных мероприятиях, включая деятельность по профилактике болезней, которая является одной из сильных сторон Вьетнамского сектора здравоохранения.
Можно сказать, что этот опыт очень помог мне как новому директору Программы ВОЗ по борьбе с болезнями. Я занимаюсь предоставлением технической помощи в вышеупомянутых сферах 37 странам и территориям региона, разрабатываю планы действий, стратегии профилактики заболеваний и борьбы с неинфекционными заболеваниями, психическими расстройствами.
С другой стороны, я была непосредственно вовлечена во многие специализированные области деятельности ВОЗ на новом уровне с их широким спектром влияния в масштабах региона. Это очень важная, но и в то же время очень сложная работа, требующая хороших навыков в управлении, обширных знаний и опыта, которые необходимы для координации деятельности ВОЗ во всем регионе Западной части Тихого океана.
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг от имени Министерства здравоохранения получила Сертификат ВОЗ о ликвидации Вьетнамом лимфатического филяриатоза в 2018 году. (Фото: Корреспондент/Vietnam+)
Корр.: Каково ваше впечатление о многонациональной рабочей среде?
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг: За последние 6 месяцев работы на новой должности я достаточно хорошо интегрировалась в международную профессиональную рабочую среду. У меня был шанс показать свою управленческую и профессиональную компетентность и утвердить себя на новой должности. Результаты моей работы были высоко оценены Региональным директором доктором Такеши Касаи и моими коллегами из ВОЗ. Это стало отличной мотивацией для меня в стремлении к самореализации и выполнению поставленных задач, принимая участие в заботе и охране здоровья 1,9 миллиарда человек, которые проживают в Западной части Тихого океана, включая население Вьетнама.
Это отличная мотивация для меня для того, чтобы продолжать стремиться к самоутверждению и выполнять поставленные задачи, способствуя заботе и охране здоровья 1,9 миллиарда человек в районе Западной части Тихого океана, включая Вьетнам.
Корр.: Какие планы поддержки национального сектора здравоохранения Вы бы хотели реализовать на своей новой должности?
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг: На новой должности я направлю свою деятельность на заботу и охрану здоровья населения в регионе Западной части Тихого океана, включая Вьетнам.
Помимо получения технической помощи от ВОЗ и других стран, Вьетнам может предложить свой опыт и преимущества другим странам региона, тем самым способствуя обмену медицинскими знаниями на региональном и международном уровнях, что приведет к укреплению роли и положения сектора здравоохранения Вьетнама в мире.
Помимо получения технической помощи от ВОЗ и других стран, Вьетнам может предложить свой опыт и преимущества другим странам региона, тем самым способствуя обмену медицинскими знаниями на региональном и международном уровнях, что приведет к укреплению роли и положения сектора здравоохранения Вьетнама в мире.
Я также надеюсь, что сектор здравоохранения Вьетнама предпримет правильные и мудрые шаги в ближайшее время, проанализирует и воспользуется опытом других стран при развитии справедливого, эффективного процесса интеграции в сфере здравоохранения, помогая заботе и защите здоровья населения в будущем.
ВОЗ всегда готова оказать помощь и поддержку Вьетнаму в этом процессе. Я также надеюсь, что в будущем увеличится число молодых и талантливых представителей Вьетнама, желающих работать в ВОЗ и в других международных организациях.
Корр.: Какие воспоминания у вас остались за 25 лет работы в министерстве и более 11 лет работы в качестве директора департамента международного сотрудничества?
Доцент Чан Тхи Жанг Хыонг: За четверть века работы в Министерстве здравоохранения у меня осталось много незабываемых воспоминаний. Самым запоминающимся для меня было участие в мероприятиях по профилактике SARS в 2003 году. Мы можем гордится тем, что Вьетнам стал первой страной в мире, признанной ВОЗ, которая успешно взяла под контроль распространение эпидемии SARS.
Следующим памятным воспоминанием стало то, как Вьетнам успешно организовал серию важных международных мероприятий в области здравоохранения, в том числе и 63-ю сессию Всемирной организации здравоохранения для стран региона Западной части Тихого океана. Сессия была организована во Вьетнаме впервые в 2012 году и имела большой успех. Остальные воспоминания, связаны с организацией совещания министров здравоохранения стран АСЕАН 2014 года, совещания старших должностных лиц АСЕАН по вопросам развития здравоохранения в 2015 году и конференция министров здравоохранения и экономики АТЭС 2017 года.
Благодаря международным медицинским мероприятиям, организованным Вьетнамом, мне удалось развить и накопить ценный опыт как в области менеджмента, так и в области медицины. Это помогало мне расти профессионально и приобрести уверенность в себе, что также позволило успешно адаптироваться к современной международной рабочей среде./.
Phó giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ Trần Thị Giáng Hương – Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ Y tế) được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bổ nhiệm vào vị trí Giám đốc các chương trình kiểm soát bệnh tật của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương.
Đây cũng là vinh dự của ngành y tế nước nhà khi có người việt đầu tiên được đảm nhận một vị trí lãnh đạo tại tổ chức y tế lớn nhất thế giới.
Phóng viên Báo VietnamPlus có cuộc trò chuyện với người phụ nữ giỏi giang này nhân dịp Tết Nguyên đán Canh Tý về những dự định, kế hoạch trong năm mới.
– Xin bà cho biết cơ duyên nào đưa bà đến với vai trò Giám đốc phụ trách một lĩnh vực rất lớn và quan trọng của WHO?
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương: Trong những năm qua, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, ngành y tế Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, góp phần tích cực vào tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước và nâng cao vai trò, vị thế của ngành y tế Việt Nam nói riêng và của đất nước nói chung trên trường quốc tế.
Với một phần tư thế kỷ (25 năm) gắn bó và làm việc ở Bộ Y tế, trong đó có hơn 11 năm làm Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ, tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ cũng như tạo dựng được một mạng lưới kết nối các đối tác quốc tế hoạt động trong lĩnh vực y tế trên toàn cầu.
Một câu hỏi trăn trở trong tôi là dù Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng, đã chủ trì nhiều sự kiện quốc tế lớn mang tầm khu vực và quốc tế nhưng số lượng người Việt Nam làm việc cho các tổ chức quốc tế còn rất khiêm tốn.
Việt Nam ngày càng được biết đến như một đối tác tin cậy và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Trên vai trò của mình, tôi nhận thức thấy việc tham gia làm việc tại các Tổ chức quốc tế là thể hiện trách nhiệm và sự đóng góp hiệu quả, thiết thực vào giải quyết các vấn đề sức khỏe trên toàn cầu, đồng thời góp phần nâng cao được vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Như một cơ duyên, tôi được biết WHO, cơ quan chuyên môn y tế cao nhất của Liên hợp quốc có đăng tuyển một số vị trí quan trọng tại Văn phòng WHO khu vực Tây Thái Bình dương, là khu vực gồm 37 quốc gia và vùng lãnh thổ với dân số 1.9 tỷ người trong đó có Việt Nam là một quốc gia thành viên.
Được sự ủng hộ của Lãnh đạo Bộ Y tế và của Bộ Ngoại giao, tôi đã đăng ký thi tuyển vào vị trí Giám đốc các chương trình kiểm soát bệnh tật của WHO khu vực Tây Thái bình dương và qua 3 vòng thi tuyển minh bạch, gắt gao tôi đã đứng ở vị trí đầu tiên vượt qua hàng trăm ứng viên đến từ các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, được WHO chọn vào vị trí Giám đốc nêu trên.
– Đây có phải là lần đầu tiên có người Việt Nam được WHO bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo cao như vậy không thưa bà?
Phó giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ Trần Thị Giáng Hương. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương: Đúng vậy, tôi là người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào vị trí cao như vậy (Director level) tại WHO, cơ quan chuyên môn y tế cao nhất của Liên hợp quốc.
Đây là vị trí Giám đốc phụ trách lĩnh vực hết sức quan trọng và rộng lớn bao gồm phòng chống các bệnh truyền nhiễm; trong đó có chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống lao, HIV/AIDS, sốt rét, phòng chống các bệnh nhiệt đới bị lãng quên, quản lý các bệnh không lây nhiễm và sức khỏe tâm thần.
– Đã từng đảm nhận chức Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế trong suốt hơn 11 năm qua và nay là Giám đốc các chương trình kiểm soát bệnh tật của WHO, vậy bà thấy hai vị trí này có những điểm gì giống và khác nhau? Và đâu sẽ là trọng tâm trong công việc mới mà bà hướng tới?
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương: Trong vai trò là Vụ trưởng phụ trách công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực hợp tác quốc tế của ngành y tế, tôi đã cùng tập thể Vụ Hợp tác quốc tế và các đồng nghiệp trong ngành y tế chủ trì quản lý và điều phối các hoạt động hợp tác quốc tế trong toàn ngành, vận động và thu hút các nguồn viện trợ và hợp tác kỹ thuật của các đối tác quốc tế để sử dụng cho các mục tiêu ưu tiên của ngành y tế
Trong suốt thời gian công tác tại Bộ Y tế tôi đã không ngừng học tập, nghiên cứu và tham gia trực tiếp vào nhiều hoạt động chuyên môn của ngành, trong đó có công tác phòng chống dịch bệnh, là một trong những thế mạnh của ngành y tế Việt Nam.
Có thể nói, kinh nghiệm trên đã giúp ích rất nhiều cho tôi khi đảm nhiệm cương vị mới là Giám đốc các Chương trình Kiểm soát bệnh tật của WHO. Tôi chỉ đạo việc hỗ trợ kỹ thuật trong các lĩnh vực nêu trên cho 37 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực, xây dựng các kế hoạch hành động, các khung chiến lược về phòng chống dịch bệnh, quản lý các bệnh không lây nhiễm, sức khỏe tâm thần trong khu vực.
Mặt khác, tôi được trực tiếp tham gia vào nhiều lĩnh vực chuyên môn sâu ở một tầm cao mới, với tầm ảnh hưởng rộng khắp trong cả khu vực. Đây là một công việc rất quan trọng nhưng cũng đồng thời rất thách thức, đòi hỏi phải có trình độ quản lý tốt và kiến thức chuyên môn sâu rộng và bề dày kinh nghiệm để có thể chỉ đạo điều hành các công việc chuyên môn cho cả khu vực Tây Thái Bình Dương.
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương thay mặt Bộ Y tế đón nhận Chứng nhận của WHO về Việt Nam thanh toán bệnh giun chỉ bạch huyết năm 2018. (Ảnh: PV/Vietnam+)
– Ấn tượng của bà trong môi trường làm việc đa quốc gia như thế nào?
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương: Trong 6 tháng qua, trên cương vị mới tôi đã bước đầu hòa nhập tốt với môi trường làm việc quốc tế mang tính chuyên nghiệp và đòi hỏi cao. Tôi đã có điều kiện thể hiện được năng lực quản lý và chuyên môn và khẳng định được bản thân trên cương vị mới, được Giám đốc Khu vực – tiến sỹ Takeshi Kasai và các đồng nghiệp tại WHO đánh giá cao. Đây là nguồn động lực lớn lao giúp tôi tiếp tục nỗ lực phấn đấu để khẳng định bản thân và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần vào công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của 1,9 tỷ dân trong khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.
– Ở trên cương vị mới, bà có những ấp ủ gì trong việc hỗ trợ cho ngành y tế nước nhà?
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương: Ở trên cương vị mới, với phạm vi phụ trách các lĩnh vực chuyên môn quan trọng, tôi sẽ có cơ hội được đóng góp sức mình vào chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong khu vực Tây Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam.
Đặc biệt ngoài việc tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật từ WHO và các quốc gia khác, Việt Nam có thể chia sẻ các kinh nghiệm và thế mạnh của mình cho các quốc gia trong khu vực, qua đó góp phần vào tri thức y học của khu vực và thế giới, đồng thời nâng cao được vai trò và vị thế của ngành y tế Việt Nam trên trường quốc tế.
Đặc biệt ngoài việc tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật từ WHO và các quốc gia khác, Việt Nam có thể chia sẻ các kinh nghiệm và thế mạnh của mình cho các quốc gia trong khu vực, qua đó góp phần vào tri thức y học của khu vực và thế giới.
Tôi cũng mong rằng ngành y tế Việt Nam sẽ có những bước đi đúng đắn, sáng suốt trong thời gian tới, tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm và bài học thành công của các nước nhằm xây dựng ngành y tế công bằng-hiệu quả và hội nhập, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
WHO luôn sẵn sàng dồng hành và ủng hộ, hỗ trợ Việt Nam trong tiến trình đó. Tôi cũng mong rằng trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều người Việt Nam, đặc biệt là các cán bộ trẻ có năng lực, có khát khao cống hiến sẽ được vào làm việc cho WHO và các tổ chức quốc tế khác.
– Kỷ niệm đáng nhớ nhất của chị trong 25 năm công tác ở Bộ và hơn 11 năm trên cương vị Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế?
Phó giáo sư Trần Thị Giáng Hương: Chặng đường một phần tư thế kỷ công tác ở Bộ Y tế để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Trong đó có kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với tôi đó là được tham gia vào công tác phòng chống dịch SARS năm 2003 và thật tự hào Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới được WHO công nhận đã khống chế thành công dịch SARS.
Kỷ niệm đáng nhớ tiếp theo là Việt Nam đã tổ chức thành công một loạt các sự kiện y tế quốc tế quan trọng, trong đó có thể kể đến Kỳ họp lần thứ 63 của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái bình dương lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam (2012) đã thành công rực rỡ, tiếp đến là Hội nghị Bộ trưởng Y tế ASEAN (2014), Hội nghị các quan chức cao cấp ASEAN về phát triển y tế (2015) và Hội nghị Bộ trưởng Y tế và các nền kinh tế APEC (2017).
Chính các sự kiện y tế quốc tế mà Việt Nam đăng cai tổ chức này đã giúp tôi được tôi luyện và tích lũy được nhiều kinh nghiệm quí báu cả về công tác quản lý điều hành và chuyên môn, giúp tôi trưởng thành và tự tin đứng vững trong môi trường làm việc quốc tế hiện nay./.
“Vai trò của Quốc hội Việt Nam trong cải cách thể chế, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập trong thời kỳ phát triển mới” là tựa đề bài viết của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân viết riêng cho cuốn sách “Dự báo 2020: Phá hủy/Tái thiết” do Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xuất bản, mua bản quyền nội dung của tổ chức truyền thông quốc tế Project Syndicate.
Báo điện tử VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu nội dung bài viết:
Quốc hội đã từng bước tạo lập các cơ sở pháp lý quan trọng, vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và hội nhập quốc tế.
I-Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong cải cách thể chế. Thông qua việc thực hiện các chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, Quốc hội từng bước tạo lập các cơ sở pháp lý quan trọng, vững chắc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và hội nhập quốc tế.
Với việc ban hành Hiến pháp 1992, Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới, trên cơ sở từng bước kế thừa các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, Quốc hội Việt Nam đã xác định khuôn khổ hiến định để cải cách bộ máy nhà nước, cải cách kinh tế xã hội, giải phóng các nguồn lực phục vụ sự phát triển đất nước. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 1992 trước yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, một hệ thống pháp luật mới đã được Quốc hội các khóa VIII, IX, X, XI, XII xây dựng và hoàn thiện, khắc phục căn bản tính chất, hệ quả của hệ thống pháp luật của thời kỳ kinh tế, kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, tạo lập nền tảng pháp lý cho đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, theo nguyên tắc pháp quyền và tái cấu trúc nền kinh tế theo quy luật của thị trường.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang Ký Lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)
Hiến pháp 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam, khẳng định các thành quả cải cách thể chế và thành tựu phát triển đất nước qua 27 năm đổi mới. Với vai trò là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Quốc hội có trách nhiệm to lớn và nặng nề trong việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp để tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Qua hơn 5 năm tổ chức thi hành Hiến pháp 2013, Quốc hội Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, nổi bật trong hoạt động lập pháp, được thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo quy định của Hiến pháp 2013, các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Kiểm toán Nhà nước đã được Quốc hội thông qua. Các đạo luật này đã xác định rõ bản chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo đó, Quốc hội là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Tòa án là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp.
Qua hơn 5 năm tổ chức thi hành Hiến pháp 2013, Quốc hội Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, nổi bật trong hoạt động lập pháp
Thứ hai, điều chỉnh lại hợp lý hơn thẩm quyền, trách nhiệm và cơ cấu tổ chức bộ máy của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Hội đồng Bầu cử quốc gia; đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo đúng các quy định của Hiến pháp, đảm bảo vừa giữ vững mô hình tổng thể bộ máy nhà nước đã được xác định trong Hiến pháp 1992, vừa tạo bước đổi mới cơ bản cho từng thiết chế quyền lực nhà nước đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, quy định rõ hơn việc phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương nhằm hướng tới một bộ máy nhà nước tinh gọn về tổ chức, hiệu quả trong hoạt động.
Thứ tư, trong lĩnh vực bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bám sát tinh thần và nội dung của Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, các luật, Bộ luật đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Các giá trị cao quý và thiêng liêng về quyền con người, quyền công dân không chỉ được quy định trong các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi), Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi), Luật Tạm giữ, tạm giam (sửa đổi), Luật Tín ngưỡng tôn giáo mà còn được quán triệt xuyên suốt trong các đạo luật khác thuộc tất cả các lĩnh vực điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân.
Thứ năm, pháp luật về dân sự, kinh tế với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển và phù hợp hơn với các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, với luật pháp và thông lệ quốc tế. Quốc hội đã ban hành hàng loạt các văn bản luật để tiếp tục cải cách các thể chế kinh tế. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng, hoàn thiện theo các tiêu chuẩn và nguyên tắc của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Chế độ sở hữu ngày càng hoàn thiện, các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được xây dựng ngày càng đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và thế giới, phù hợp với các quan hệ cung cầu, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ chính sách vĩ mô.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng, hoàn thiện theo các tiêu chuẩn và nguyên tắc của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, thông thoáng hơn. Quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm. Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong các lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế, giải quyết hợp lý hơn mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường và xã hội.
Thứ sáu, pháp luật về giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hóa-thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội đã được xây dựng tương đối đầy đủ, toàn diện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công dân, bảo đảm tương thích với pháp luật quốc tế.
Pháp luật về giáo dục và đào tạo đã thể chế hóa quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục. Hành lang pháp lý về khoa học và công nghệ với nhiều quy định mới đã khuyến khích sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, xác định phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Học sinh Việt Nam liên tục tham dự nhiều kỳ thi mang tầm vóc quốc tế và đạt giải cao, mang vinh quang về cho Tổ quốc. Trong ảnh: Đoàn học sinh Việt Nam xuất sắc giành 2 huy chương vàng, 4 huy chương bạc tại Kỳ thi Olympic Toán quốc tế lần thứ 60 – IMO 2019, xếp thứ 7 trong số 110 quốc gia, vùng lãnh thổ dự thi. (Nguồn: TTXVN phát)
Pháp luật về y tế đã tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển mạng lưới y tế cơ sở, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, bảo đảm để mọi người dân có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
Pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm được hoàn thiện, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, ổn định; tạo điều kiện để người lao động đều có cơ hội có việc làm và thu nhập tốt hơn. Pháp luật về dân tộc, tôn giáo đã quán triệt, thể chế hóa cơ bản những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước được ghi nhận trong các kỳ Đại hội. Hệ thống an sinh xã hội được xây dựng đa tầng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân.
Thứ bảy, pháp luật về quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội không ngừng được hoàn thiện, thể chế hóa quan điểm, chủ trương mới của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013. Các luật, pháp lệnh được ban hành đã bám sát chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới; bảo đảm cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân làm tốt nhiệm vụ quốc phòng an ninh, qua đó góp phần thực hiện nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm, chống khủng bố, phòng, chống tệ nạn xã hội và các vấn đề khác về trật tự, an toàn xã hội được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Quốc hội đã phê chuẩn nhiều điều ước quốc tế quan trọng thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội liên quan đến chủ quyền quốc gia, biên giới, lãnh thổ, việc gia nhập các tổ chức quốc tế quan trọng (WTO; CPTPP…)
Thứ tám, pháp luật về hội nhập quốc tế được tăng cường, hoàn thiện, hình thành khung pháp lý thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế và hoạt động tương trợ tư pháp, tạo cơ chế bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, chú trọng nội luật hóa những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, Quốc hội đã phê chuẩn nhiều điều ước quốc tế quan trọng thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội liên quan đến chủ quyền quốc gia, biên giới, lãnh thổ, việc gia nhập các tổ chức quốc tế quan trọng (WTO; CPTPP…); đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh có liên quan để bảo đảm sự tương thích với các cam kết quốc tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có việc gia nhập các tổ chức quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do.
Đại biểu Quốc hội ấn nút thông qua nghị quyết. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)
II. Thực tiễn đổi mới đất nước hơn 30 năm qua đã khẳng định sự đúng đắn về tầm nhìn và tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc xác định mục tiêu, các chủ trương, định hướng lớn và giải pháp cơ bản trong cải cách thể chế. Quốc hội đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ lập pháp của mình, tạo cơ sở pháp lý và động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, làm thay đổi diện mạo, đưa đất nước vượt ra khỏi tình trạng đói nghèo, chậm phát triển, trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Chúng ta đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, cân đối giữa các lĩnh vực. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của nước ta vẫn chưa thật sự đồng bộ, tính ổn định và dự báo chưa cao, một số quy định còn thiếu tính thống nhất và tính khả thi. Trong bối cảnh mới của thời đại, đất nước đang đứng trước những cơ hội và đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi tiếp tục cải cách thể chế, đặc biệt là các thể chế về nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo động lực mới, sức bật mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Mọi cải cách thể chế đều phải lấy con người làm trọng tâm, đều phải hướng tới mục tiêu tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người.
Ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội Việt Nam, cùng các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, tập trung nỗ lực đẩy mạnh cải cách thể chế, đưa các cải cách đi vào chiều sâu, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới và hội nhập trong thời kỳ phát triển mới.
Kế thừa, phát huy các kết quả tích cực trong cải cách thể chế hơn 30 năm qua, Quốc hội Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hoạt động lập pháp trên các nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng trên các trọng tâm sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện các thể chế nhà nước đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đổi mới tư duy về vai trò của nhà nước trong mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội. Theo đó, Nhà nước tập trung làm tốt chức năng tổ chức kiến tạo phát triển, tạo khuôn khổ pháp luật đảm bảo cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển xã hội.
Cử tri quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh nêu ý kiến tại buổi tiếp xúc cử tri. (Ảnh: Thu Hoài/TTXVN)
Bộ máy nhà nước được tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả để thực hiện tốt quyền lực do nhân dân ủy quyền theo đúng nguyên tắc hiến định: Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cần tập trung xác định rõ hơn sự phân công quyền lực, đổi mới cơ chế phối hợp, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực phù hợp để đảm bảo mọi hoạt động thực thi quyền lực của nhân dân đều phải được kiểm soát chặt chẽ.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng tăng dần tính chuyên nghiệp; hoàn thiện quy trình làm luật, đảm bảo quyền lập pháp của Quốc hội trong cải cách thể chế. Tăng cường và đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức giám sát tối cao của Quốc hội, hướng trọng tâm vào kiểm soát lĩnh vực tài chính, ngân sách, nhân sự, tài nguyên, môi trường, thúc đẩy cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí trong thời kỳ mới.
Nghiên cứu cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về Chủ tịch nước, làm rõ hơn, cụ thể hơn quyền hạn, trách nhiệm của Chủ tịch nước cả về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang, tăng cường vai trò của Chủ tịch nước trong sự phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Hoàn thiện pháp luật về quyền con người theo đúng các quy định của Hiến pháp và cam kết quốc tế về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về nền hành chính quốc gia, đảm bảo cơ sở pháp lý minh bạch để Chính phủ thực hiện hiệu quả quyền hành pháp và trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội, trước nhân dân về chất lượng quản trị quốc gia, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Tập trung sự quan tâm thực hiện tốt mục tiêu tinh gọn bộ máy Chính phủ, bộ máy hành chính theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính để xây dựng Chính phủ phục vụ, kỷ cương, liêm chính, hành động vì lợi ích của nhân dân và xã hội.
Xây dựng một nền tư pháp nhân dân trọng sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh và chuyên nghiệp, đảm bảo cho tòa án thực hiện đúng, đầy đủ quyền tư pháp, Thẩm phán và hội thẩm khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật về đơn vị hành chính lãnh thổ và cấp chính quyền địa phương, tạo cơ sở pháp lý để sắp xếp lại các đơn vị hành chính các cấp bảo đảm các tiêu chí nhằm tạo không gian pháp lý cho sự phát triển kinh tế-xã hội, tinh gọn bộ máy, đảm bảo hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Tiếp tục đổi mới mô hình chính quyền địa phương theo hướng đa dạng hóa các mô hình tổ chức phù hợp với các đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền con người theo đúng các quy định của Hiến pháp và cam kết quốc tế về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Lễ rước và cầu nguyện chào mừng Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc lần thứ 11 trên đường phố Hà Nội. (Ảnh: Nguyễn Dân/TTXVN)
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và tự do cá nhân. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức trong tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi vi phạm, xâm hại đến quyền con người, quyền công dân.
Mọi cải cách thể chế đều phải lấy con người làm trọng tâm, đều phải hướng tới mục tiêu tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, giải phóng các tiềm năng con người, tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho mỗi người, mỗi cộng đồng có cơ hội và điều kiện phát triển, được cống hiến, được hưởng thụ ngày càng đầy đủ các giá trị vật chất, tinh thần, văn hóa từ sự phát triển chung của đất nước. Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định. Quy định quyền công dân đồng thời cũng quy định rõ nghĩa vụ của công dân.
Ba là, khâu đột phá trong cải cách thể chế tiếp tục là các cải cách thể chế kinh tế nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế.
Mọi cải cách thể chế đều phải lấy con người làm trọng tâm, đều phải hướng tới mục tiêu tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, giải phóng các tiềm năng con người, tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho mỗi người.
Quốc hội tập trung hoàn thiện pháp luật về các loại thị trường: thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… đảm bảo cơ sở pháp lý để các thị trường ngày càng phát triển, hoạt động thông suốt, cạnh tranh công bằng, bình đẳng. Quan tâm bổ sung, sửa đổi hoàn thiện các quy định pháp luật về sở hữu, về các thành phần kinh tế (đặc biệt kinh tế tư nhân), các loại hình doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản; thúc đẩy quyền tự do kinh doanh, giải phóng mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội phục vụ sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Cải cách các thể chế kinh tế phải luôn gắn liền với thay đổi phương thức quản lý kinh tế của nhà nước, thay đổi cơ chế quản trị đối với doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế, tạo động lực đột phá và phù hợp với thực tiễn của cuộc sống.
Bốn là, cùng với cải cách thể chế kinh tế, đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường
Luật pháp cần quy định chặt chẽ việc quản lý, khai thác, sử dụng, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên đáp ứng yêu cầu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, xử lý hài hòa nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên cho phát triển hiện đại và bảo vệ, tái tạo, giữ gìn vốn tài nguyên cho các thế hệ mai sau. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền của người dân “được sống trong môi trường trong lành” đã được quy định trong Hiến pháp 2013.
(Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Năm là, tiếp tục đổi mới pháp luật trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ theo đúng quan điểm phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu
Phát triển giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với tiến bộ khoa học công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động. Việc cải cách thể chế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ trong những năm tới phải thật sự là một khâu đột phá quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội nhằm nâng cao dân trí; đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, phấn đấu sớm đưa nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Hoàn thiện pháp luật về khoa học công nghệ làm cho khoa học và công nghệ thật sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế trí thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng an ninh của đất nước. Tập trung cải cách mạnh mẽ và đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động khoa học-công nghệ, huy động mạnh mẽ nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ.
Sáu là, cải cách thể chế gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, phát triển xã hội đảm bảo sự phát triển đồng bộ của đất nước
Để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, Quốc hội Việt Nam quán triệt mục tiêu: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Xây dựng cơ sở pháp luật để đảm bảo văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước và sự trường tồn của dân tộc.
Quốc hội Việt Nam phải không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động để làm tốt nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, góp phần đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới, thực hiện thành công mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Sự gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện và không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và nhất quan trong hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia và giám sát tối cao của Quốc hội.
Cùng với hoạt động lập pháp, Quốc hội đặc biệt quan tâm đến giám sát việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Sự giám sát của Quốc hội không chỉ đảm bảo cho việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ các quy định của Hiến pháp, pháp luật trong thực tiễn, mà còn kịp thời phát hiện các bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Cải cách thể chế là nhiệm vụ quan trọng, luôn là một quá trình không dễ dàng, đầy khó khăn và thách thức, nhất là trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình phát triển nhanh chóng, hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi một quyết tâm chính trị, năng lực, tầm nhìn và trách nhiệm cao của mỗi cơ quan, tổ chức. Nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm lớn lao của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội Việt Nam phải không ngừng đổi mới cả về tổ chức và hoạt động để làm tốt nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, góp phần đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới, thực hiện thành công mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Для превращения частного сектора в двигатель социалистически ориентированной рыночной экономики, как была заявлено Коммунистической партией Вьетнама (КПВ), не только каждой компании и бизнесмену необходимо осознать свою роль, развивать стремление и сильную волю идти вперед, но важна прозрачная и открытая правовая среда, соответствующая принципам рыночной экономики и обязательствам Вьетнама по международной интеграции. Существует необходимость в «инкубаторе» частного сектора экономики, чтобы в полной мере воспользоваться возможностями для преодоления трудностей на пути своего развития и сделать достойный вклад в общие достижения страны в экономике.
За последние годы, Партия и правительство постоянно разрабатывают руководящие принципы и методы для создания рычагов, позволяющих частному сектору экономики иметь равноправную и справедливую бизнес-среду как в других секторах экономики, и иметь равные возможности для своего эффективного развития.
Для дальнейшего разъяснения этой важной и последовательной политики Партии, по случаю празднования 90-летия со дня создания КПВ (3 февраля 1930/ 3 февраля 2020 года), Вьетнамское информационное агенство (ВИА) представило серию из трех статей на тему «Частный сектор – важный двигатель экономики».
Частный сектор экономики: прорыв для вывода страны на путь быстрого развития
Спустя всего один месяц после основания Демократической Республики Вьетнам, 13 октября 1945 года, президент Хо Ши Мин написал письмо представителям промышленности и бизнеса страны, в котором он подчеркнул их огромную роль в деле национального строительства.
«В то время как другие отрасли работают над восстановлением полной независимости страны, промышленность и бизнес должны работать над созданием устойчивой и процветающей экономики и финансов. Правительство, народ и я – все мы сделаем все возможное, чтобы помочь промышленности и бизнесу в этом деле строительства», – написал он.
VI съезд КПВ (декабрь 1986 года) начал процесс обновления страны, чтобы пробудить, развить силы и потенциал для продвижения страны вперед. (Фото: ВИА)
С тех пор прошло более 70 лет, но время доказало, что письмо президента остается актуальным и сегодня. Оно демонстрирует свои здравые стратегические ориентиры и наставления в отношении дела национального строительства, особенно в нынешних тенденциях международной экономической интеграции.
Придавая большое значение роли частной экономики
VII Всевьетнамский съезд Компартии, и особенно второй пленум ЦК партии 7-го созыва, придавали большое значение частному экономическому сектору и поощряли его развитие без каких-либо ограничений по масштабам и областям деятельности в сферах, не запрещенных законом.
Идея президента Хо Ши Мина о положении и роли промышленности и бизнеса было отражено во многих руководящих принципах и стратегиях. VI Всевьетнамский съезд Компартии (в декабре 1986 года) превозгласил начало процесса “Доймой” (политика обновления) в нескольких секторах экономики.
Рабочие на текстильной фабрике в городе Хошимин в первые годы политики обновления страны. Производство одежды было определено как один из ключевых экспортных секторов Вьетнама начиная с процесса “Дой Мой” (1988). (Фото: Архивное фото ВИА)
VII Всевьетнамский съезд Компартии, и особенно второй пленум ЦК партии 7-го созыва, придавали большое значение частному экономическому сектору и поощряли его развитие без каких-либо ограничений по масштабам и областям деятельности в сферах, не запрещенных законом.
VIII Всевьетнамский съезд Компартии (в июле 1996 года) подтвердил продолжение долгосрочной последовательной политики многосекторальной экономики, основанной на равном отношении ко всем секторам экономики.
Вопросы частного сектора экономики неоднократно выносились на обсуждение на IX, X, XI и XII Всевьетнамских съездах Компартии, с тем чтобы завершить политику и механизмы, способствующие развитию сектора во всех отраслях и сферах экономики, и сделать его важным двигателем национальная экономика.
Завод по производству замороженных продуктов № 1, на котором производится переработка морепродуктов на экспорт, создал 3.300 рабочих мест. В 1987 году завод продал 2.400 тонн рыбы в Японию и Австралию на общую сумму 21 млн. долларов США. (Фото: из архива ВИА)
Положение частного экономического сектора было закреплено не только в документах партии, но и в Конституции 2013 года. Статья 51 Конституции гласит: «1. Вьетнамская экономика – это социалистическая рыночная экономика с различными формами собственности и секторами экономики, в которой государственный сектор играет ведущую роль.2. Все сектора экономики являются важными составляющими национальной экономики. Организации в разных секторах экономики равны перед законом и должны сотрудничать и конкурировать друг с другом в соответствии с законом.3. Государство поощряет и создает условия для предпринимателей, предприятий или других лиц или организаций для осуществления инвестиционной, производственной или коммерческой деятельности и устойчивого развития отраслей экономики для содействия национальному строительству. Законная собственность частных лиц и организаций, занимающихся инвестиционной, производственной или коммерческой деятельностью, охраняется законом и не подлежит национализации».
Доверяй, но проверяй
XII Всевьетнамский съезд Компартии продолжил закрепление положения и роли частного экономического сектора в социалистически ориентированной рыночной экономике. Правительство подчеркнуло важность создания механизмов и политики, направленных на поощрение и содействие развитию частного экономического сектора в большинстве отраслей и сфер экономики, тем самым превращая его в важный двигатель экономики.
Точка зрения XII Всевьетнамского съезда Компартии о том, что частный экономический сектор является важной движущей силой национальной экономики, продемонстрировала прорыв в восприятии партии по сравнению с предыдущим периодом, когда частный экономический сектор считался одной из движущих сил экономики.
Экономика хорошо росла, а социалистически ориентированная рыночная экономика постепенно формировалась и развивалась. (Фото: Зань Лам / ВИА)
Четвертый пленум ЦК партии XII созыва продолжал требовать ускорения развития частного экономического сектора как в количественном, так и в качественном отношении, чтобы он действительно стал важной движущей силой экономики.
Пятый пленум Центрального комитета партии XII созыва издал тематические резолюции о совершенствовании институтов социалистически ориентированной рыночной экономики, а также о реструктуризации, реформировании и повышении эффективности государственных предприятий. В частности, на пленуме была принята резолюция 10/NQ-TW (июнь 2017 года) о превращении частного экономического сектора в важную движущую силу социалистически ориентированной рыночной экономики. Утверждается, что резолюция является решительным шагом в обновлении мышления частного сектора экономики в направлении создания условий для этого сектора, чтобы получить равный доступ ко всем возможностям и ресурсам, в частности к капиталу, земле и природным ресурсам.
Точка зрения XII Всевьетнамского съезда Компартии о том, что частный экономический сектор является важной движущей силой национальной экономики, продемонстрировала прорыв в восприятии партии по сравнению с предыдущим периодом, когда частный экономический сектор считался одной из движущих сил экономики.
Резолюция определила общую цель развития частного экономического сектора здоровым, эффективным и устойчивым образом, превратив его в важную движущую силу социалистически ориентированной рыночной экономики, помогая достичь быстрого и устойчивого социально-экономического развития, постоянно улучшать положение и условия жизни населения, реализовать социальный прогресс и равенство, обеспечить национальную безопасность, и в скором времени превратить страну в одно из промышленно развитых государств современности.
Чтобы конкретизировать резолюцию партии, правительство издало резолюцию 98-NQ/CP от 3 октября 2019 года о плане действий по выполнению резолюции 10/NQ-TW. Правительство определило конкретные задачи по развитию частного экономического сектора, сосредоточив внимание на трех основных направлениях политики: создании благоприятных условий для развития частного экономического сектора; содействии сектору в инновациях, модернизации технологий, развитии людских ресурсов и повышении производительности труда; повышении эффективности и действенности государственного управления.
За последние два года, в духе принятых резолюций, вся политическая система предприняла решительные действия для поддержки развития частного экономического сектора. Многие новые механизмы и политика были обнародованы и были приняты решения, направленные на улучшение деловой среды и своевременное устранение препятствий в развитии частного экономического сектора в соответствии с руководящими принципами и политикой Партии./.
Специализированный международный туристический порт Халонг, в Байчай, город Халонг (Куангнинь) – один из трех ключевых проектов транспортной инфраструктуры, инвестируемых Sun Group. (Фото: ВИА)
Создание благоприятных условий для “взлета” частной экономики
За последние годы, благодаря заботе Партии и государства, частный сектор стал одной из важных движущих сил экономики страны. В частном секторе экономики занято 85% рабочей силы, создается 42% ВВП и формируется около 30% доходов государственного бюджета.
Такие результаты говорят о высоком потенциале и возможностях этого сектора экономики. Для раскрытия потенциала частной экономики, важную роль играет прозрачность механизмов и политики, которая выступает стартовой площадкой для экономического прорыва в развитии страны.
Определение конкретных и четких критериев
Резолюция № 10-NQ/TW о превращении частной экономику в движущую силу социалистически ориентированной рыночной экономики отразила сильное инновационное мышление Партии, открывшее путь к разработке более подходящих механизмов и политик для превращения частного сектора в динамичный и творческий сектор экономики.
В частном секторе экономики занято 85% рабочей силы, создается 42% ВВП и формируется около 30% доходов государственного бюджета.
С целью институционализации и совершенствования правовых норм в соответствии с Резолюцией № 10-NQ/TW, Национальное собрание приняло некоторые важные законы и внесло на рассмотрение в приоритетном порядке законопректы, касающиеся этой резолюции.
Произошло значительное улучшение производительных сил в количественном и качественном отношении. Повышается качество роста в некоторых аспектах, в том числе постепенно растет уровень производственных технологий. На фото: специализированная ферма по выращиванию моркови в уезде Камзянг, провинция Хайзыонг: (Фото: Ву Шинь/ВИА)
В дополнение к Закону о конкуренции и Закона о поддержке малого и среднего бизнеса, Национальное собрание приняло Закон «О внесении изменений и дополнений в статью 6 и приложение 4 Закона об инвестициях».
Соответственно, с 1 июля 2017 года, количество условных бизнес-направлений было сужено с 267 до 243.
Правительство и министерства разных уровней, скоординированно и эффективно применяя руководящие принципы Партии на практике, разработали нормативные документы и развернули конкретные программы действий, тем самым создавая благоприятную и открытую деловую среду для развития частной экономики.
Премьер-министр Нгуен Суан Фук пообещал и впредь создавать благоприятные условия, пространство, ресурсы и возможности для более комфортного развития частного сектора экономики, используя такие ключевые выражения, как “создание справедливости” в развитии, “защиты”, “предоставление возможностей”.
Эти обещания главы правительства были подкреплены важными документами и политикой правительства, такими как резолюция № 19/NQ-CP о продолжении выполнения ключевых задач и решений для улучшения деловой среды и повышения национальной конкурентоспособности в 2017 году и с ориентацией на 2020 год; резолюция № 35/NQ-CP о поддержке и развитии предприятий до 2020 года; резолюция № 98/NQ-CP, обнародующая план действий правительства по выполнению резолюции № 10/NQ-TW…
VIIcъезд КПВ (июнь 1991 г.) подтвердил необходимость продолжения надлежащих шагов основательного процесса синхронного обновления во всех сферах и сохранении его социалистической направленности. Резолюции от VIII съезда КПВ до сих пор продолжают подтверждать настойчивость и последовательность в деле обновления страны и международной интеграции (Фото: ВИА)
Отличие от предыдущей программы состоит в том, что эти документы четко определяют конкретные цели и комплексные решения с четкими и количественными критериями.
Правительством и премьер-министром был выпущен ряд решений по улучшению деловой среды, таких как реформирование административных процедур; снижение производственных и коммерческих затрат; доступ к рынку; упорядочивание инспекционной и ревизионной деятельности; упрощение и сокрашение условий ведения бизнеса.
Многие нормативно-правовые документы, разработанные правительством, министерствами и ведомствами разного уровня, направлены на регулирование предпринимательской деятельности и управление частным сектором экономики.
Послание, отраженное в Резолюции № 98 / NQ-CP, заключалось в том, чтобы создать «Правительство действий» с целью сосредоточить внимание на устранении узких мест в организации для помощи предприятиям в сокращении расходов, повышении операционной эффективности и конкурентоспособности.
В том же духе, резолюция требует, чтобы все министерства и ведомства всех уровней взялись за выполнение задачи по “созданию благоприятной деловой и инвестиционной среды для развития и поддержки частной экономики для внедрения инноваций, современных технологий, развития людских ресурсов и повышения производительности труда”.
План действий сожержит конкретные и четкие цифры. Например, правительство выдвинуло “ультиматум” в бескомпромиссной борьбе с сублицензией министерствам, ведомствам, подведомственным учреждениям правительства, народным комитетам провинций и городов центрального подчинения и соответствующим органам. Заинтересованные ведомства продолжают анализ и оценку ситуации. Они также предлагает упразднить как минимум от 1/3 до 1/2 текущих условий ведения бизнеса и административных процедур в своей управленческой области, которые препятствуют компаниям вести инвестиционную деятельность.
План действий также требует, чтобы Народные комитеты провинций и городов проводили регулярные встречи с бизнес-сообществом и прессой по крайней мере два раза в год с целью устранения трудностей и препятствий с которыми сталкивается бизнес. Правительство поручило министрам, руководителям ведомств на уровне министров, руководителям подведомственных учреждений правительства и президентам Народных комитетов провинций и городов центрального подчинения сосредоточить усилия на руководстве, проверке и побуждении к реализаци Плана действий. Они ежегодно обязаны отчитываться перед премьер-министром о результатах реализации Плана и направлять отчеты в Министерство планирования и инвестиций для мониторинга и обобщения информации в соответствии с нормативными актами.
Частная экономика быстро росла количественно, постепенно повышая эффективность бизнеса, создавая рабочие места и внося все больший вклад в ВВП. На фото: автострада Халонг-Вандон (Куангнинь), общей протяженностью почти 60 км – один из трех ключевых проектов транспортной инфраструктуры, инвестируемых Sun Group. Компания инвестирует в развитие воздушных, дорожных и водных путей. Все проекты – крупномасштабные и современные сооружения, которые мобилизуют внебюджетный капитал в форме совместного государственно-частного партнерства и демонстрирующие прорыв в стратегии экономического развития провинции Куангнинь. Таким образом, рост и роль частной экономики – важные движущие силы экономического развития Вьетнама, который следует курсом Компартии на обновление страны. (Фото: ВИА)
Правительство также разработало не только резолюцию 98/NQ-CP, но и многие механизмы и политики для поддержки развития бизнеса и улучшения инвестиционного климата страны.
В Резолюции № 35/NQ-CP правительство представило ряд решений для создания благоприятной деловой и инвестиционной среды, поддержки предприятий в получении доступа к кредитному капиталу, производственным и коммерческим помещениям, доступа к рынкам. Были приняты решения по снижению производственных и коммерческих издержек предприятий, что способствует повышению национальной конкурентоспособности, открытию ресурсов, содействию развитию частного сектора экономики и формированию некоторых частных корпораций, которые обладают большим потенциалом и масштабом в стране …
В последнее время были внесены изменения и дополнения в соответствующие правовые механизмы и политики с целью повышения прозрачности государственных монополий, контроля и предотвращения монополизации предприятий. Правительством ведется развитие реформ с целью сокращения сфер с государственным контролем…созданию благоприятной активности для улучшения инвестиционной и деловой среды посредством предоставления равных условий для субъектов экономики.
Совместная работа всех заинтересованных сторон
Примечательно, что в реализации правительственной программы реформ заинтересованные министерства и ведомства принимали активное участие. На протяжении многих лет несогласованность была основным ограничением, сдерживавшим реформы деловой среды.
Таможенный департамент международного пограничного пункта Лаокай активизирует реформу административных процедур, направленных на создание благоприятных условий для импортно-экспортных предприятий. (Фото: Фам Хау/ВИА)
В 2018 году сокращение и упрощение условий ведения бизнеса наиболее полно были реализованы министерствами и отраслевыми ведомствами в рамках Резолюции 01/2018/NQ-CP, в которой была поставлена цель сокращения и упрощения на 50% инвестиционных и бизнес-процедур.
Министерства и отраслевые ведомства рассмотрели и представили 28 нормативных правовых документов, направленных на сокращение и упрощение более 3300 из почти 6200 процедур ведения бизнеса. Объем проделанной работы эквивалентен 54,5%, что на 8,1% выше по сравнению с планом правительства. В число министерств сокративших и упростивших многие процедуры входят Министерство промышленности и торговли, Министерство здравоохранения, Министерство транспорта и путей сообщения…
Примечательно, что такие процедуры, как планирование бизнеса в нефтяной отрасли Министерства промышленности и торговли, существовавшие в течение длительного времени и «укоренившиеся», также были отменены. Таким образом были созданы более благоприятные условия для производственной и предпринимательской деятельности компаний.
В 2019 году улучшение инвестиционной и деловой среды продолжает оставаться одним из центральных направлений деятельности правительства. 1 января 2019 года правительство издало резолюцию № 02/NQ-CP о продолжении выполнения ключевых задач и решений по улучшению деловой среды и повышению национальной конкурентоспособности в 2019 году с ориентацией на 2021 год.
Погрузка и выгрузка риса на экспорт в порту Сайгон. (Фото: Динь Хюэ /ВИА)
Министерства и ведомства всех уровней, в соответствии с этой резолюцией и директивой премьер-министра № 26/CT-TTg о поддержке и развитии предприятий, с начала года и по настоящее время активно реализуют порученные им задачи. Многие министерства и ведомства, пересмотрев свои сферы деятельности, предложили сократить, упростить и проанализировать бизнес-процедуры на уровне, превышающим плановые показатели правительства. В 2019 году был разработан план административной реформы для продолжения обновления, повышения качества и эффективности проведения реформы, способствуя улучшению деловой среды и повышению национальной конкурентоспособности.
Спустя полтора года после вступления в силу закона о поддержке малых и средних предприятий в основном были приняты указы и нормативные акты, регулирующие реализацию этого закона.
Министерство планирования и инвестиций и министерство финансов ведут активную работу по внедрению мер, предусмотренных законом о поддержке малых и средних предприятий. Ведется работа по совершенствованию проекта постановления правительства с целью расширения перечня секторов и областей, имеющих право на инвестиционные льготы, закрепленные в законе о поддержке малых и средних предприятий и в резолюции Национального собрания о льготном подоходном налоге для малого и среднего бизнеса.
Во многих провинциях разрабатываются конкретные планы и проекты для поддержки малых и средних предприятий, отвечающие практическим требованиям развития малого и среднего бизнеса соответствующих регионов страны.
В последние годы усилия правительства и ведомств всех уровней направлены на создание прозрачной деловой среды, которая создает основу для прорывного развития частного сектора экономики.
Этот сектор быстро растет в количественном и качественном отношении, создавая условия для высвобождения ресурсов общества, чтобы социалистически ориентированная рыночная экономика могла максимально развивать свой огромный потенциал./.
Социалистически ориентированная рыночная экономика постепенно формируется и развивается. 28 декабря 2019 года в порту Чулай (открытая экономическая зона Чулай, провинция Куангнам) THACO организовала церемонию передачи 15 вьетнамских автобусов THACO, экспортируемых на Филиппины. Это первая коммерческая поставка Thaco – результат работы вьетнамской автомобильной промышленности после более 16 лет инвестиций и исследований. (Фото: Чан Тинь/ВИА)
Развитие потенциала частной экономики
Резкое изменение в осознании Коммунистической партии Вьетнама (КПВ) роли частной экономики и решительные действия правительства, министерств всех уровней создало благоприятные условия для развития и глубокой интеграции вьетнамских компаний в глобальную экономику.
Тем не менее, для того, чтобы частная экономика развивалась устойчиво и в полной мере использовала свои возможности и преимущества, необходимо срочно и решительно провести институциональные реформы, создавая равные и прозрачные условия для бизнес-сообщества.
Необходим прорыв в механизмах и политиках
После более чем 30-летнего обновления страны, частная экономика превратилась в одну из важных движущих сил экономического роста. Этот сектор экономики все активнее и глубже интегрируется практически во все сферы, внося значительный вклад в государственный бюджет и создавая миллионы рабочих мест.
Депутат Национального собрания Нгуен Ньы Ко: “Нам нужен прорыв в механизмах и политиках для устранения барьеров в развитии частных предприятий. Это сформирует чувство безопасности у бизнесменов, чувство счастья и уверенности. Таким образом, они будут больше вкладывать средств в свой бизнес, тем самым повышая эффективность национальной экономики”.
“Должен быть настоящий прорыв в механизмах и политиках для устранения барьеров в развитии частного бизнеса. Это сформирует чувство безопасности у бизнесменов, чувство счастья и уверенности. Таким образом, они будут больше вкладывать средств в свой бизнес, тем самым повышая эффективность национальной экономики”, – отметил депутат.
Депутат Национального собрания Нгуен Ньы Шо (Бакнинь) отметил, что за 9 месяцев 2019 года, инвестиционный капитал негосударственного сектора достиг 624,6 трлн. донгов, увеличившись на 16,9% по сравнению с аналогичным периодом в 2018 году. Это самый высокий показатель среди всех секторов экономики.
Переработка резины на экспорт на предприятии по производству каучука Заутиенг, провинции Биньзынь. (Фото: Зыонг Чи Тыонг/ВИА)
Этот структурный сдвиг показывает, что частная экономика является одним из важных движущих сил, ежегодно обеспечивающих более 40% ВВП и создавающих 1,2 миллиона рабочих мест. По словам депутатов, у частной экономики все еще большой потенциал для развития, она пока еще не совершила прорыв и не сформировала новую опору национальной экономики, поэтому необходимо найти решения для повышения конкурентоспособности этого сектора экономики.
“Должен быть настоящий прорыв в механизмах и политиках для устранения барьеров в развитии частного бизнеса. Это сформирует чувство безопасности у бизнесменов, чувство счастья и уверенности. Таким образом, они будут больше вкладывать средств в свой бизнес, тем самым повышая эффективность национальной экономики”, – отметил депутат.
Согласно рейтингу Всемирного экономического форума за 2019 год, Вьетнам занял 67-е место среди самых конкурентоспособных экономик в мире, поднявшись с 77-го на 67-е место с 3,5 баллами.
Тем не менее, делегат Нгуен Ньы Шо обратил внимание на парадокс, что Вьетнам, хотя и занял высокую позицию в рейтинге глобальной конкурентоспособности, однако только за 9 месяцев 2019 года, количество компаний, ожидающих процедуру банкротства, выросло на 6,3% по сравнению с 2018 годом.
“Это заставляет нас задуматься о том, действительно ли деловая среда идеальна для развития частной экономики? Мы находимся в ситуации, когда правительство решительно создает директивы и руководит, однако министерства и ведомства относятся безответственно к своим обязанностям. Это ведет к снижению энтузиазма бизнесменов и компаний. Сублицензирование, неофициальные издержки, особенно нормативные акты усиливают давление на предприятия”, – сказал делегат.
Исходя из этого депутат предположил, что государству нужны активные реформы, начиная от деятельности по вмешательству до управленческой поддержки. С целью содействия качественному росту частного сектора экономики, соответствующего своему потенциалу, правительству необходимо уделять внимание развитию ресурсов, связанных с секторами экономики: земельных ресурсов, кредитного капитала, обучению человеческих ресурсов и др.
VIII Съезд ознаменовал поворотный момент для нашей страны, ведя страну в новую эру – эра ускоренной индустриализации и модернизации. Резолюции восьмого съезда Компартии до сих пор продолжают подтверждать настойчивость в осуществлении политики обновления страны и международной интеграции. (Фото: Суан Лам / ВИА)
“Необходимо сделать индивидуальные предприятия большой движущей силой, проникающей в другие сектора экономики и которая будет привлекать компании из этих секторов, в особенности мелкий бизнес. Содействовать развитию сельского хозяйства и деревень, тем самым формируя связи в цепочке и обеспечивая равные условия в доступе к ресурсам, кредитным источникам, а также справедливые регламенты и политики их регулирующих”, – подчеркнул депутат Нгуен Ньы Шо. Например, более 700 000 частных предприятий официально формируют лишь 10% национального ВВП, а более 30% ВВП формируется более 5 миллионами представителей малого бизнеса, в том числе 2 миллионами домохозяйств, которые зарегистрированны.
“Ни в одной рыночной экономике нет такого большого полуформального и неформального сектора”, – подчеркнул г-н Лок.
Профессор Ву Тиен Лок проанализировал, что мелкие домашние хозяйства, по сути, представляют собой тип малых и сверхмалых предприятий, но поскольку они не были определены юридически, мелкие домохозяйства страдают от правовых ограничений своего бизнеса…
Во внутренних бизнес-отношениях мелким домохозяйствам не хватает эффективной и четкой системы управления. Кроме того, государственное управление бизнесом мелких домохозяйств не прозрачно, они не получает стимулов и поддержки для устойчивого развития. Деловая активность этих мелких домашних хозяйств формирует благодатную почву для мелкой коррупции…
Вьетнам стал развивающейся страной со средним уровнем дохода. В стране происходит ускорение процессов индустриализации, модернизации и международной интеграции. Солнечная электростанция на озере Дами (провинция Биньтхуан). (Фото: Нгок Ха/ВИА)
“Для решения этой проблемы, мы не можем ликвидировать бизнес мелких домохозяйств и мы не можем заставить их преобразоваться в другой вид бизнеса, однако мы можем их легально “переодеть” в костюм мелкого бизнеса домохозяйств. То есть их необходимо поместить в сферу регулирования закона о предпринимательстве с минимальными, но прозрачными правовыми нормами, обеспечивающими равенство мелких домохозяйств с микро, малыми и средними предприятиями”, – проанализировал г-н Лок.
Обеспечение справедливой конкуренция
С точки зрения индивидуального предпринимателя, г-жа Нгуен Тхи Нга, президент BRG Group, заявила, что институциональная реформа является “ключом” к развитию частной экономики, утверждая ее роль и положение в национальной экономике.
Соответственно, в определенных случаях, правительство должно принимать протекционные меры для защиты индивидуальных предприятий в ключевых секторах экономики, чтобы они могли конкурировать на международной арене. В то же время, правительство, министерства и ведомства всех уровней должны обеспечивать равную конкуренцию между секторами экономики, не выбирать своим приоритетом лишь предприятия с ПИИ и проводить конкретную политику, направленную на получение всеми секторами экономики справедливых льгот.
Кроме этого, необходимо разрешить индивидуальным предприятиям участвовать в секторах, где государство является все еще монополистом, таких как ж/д, электроэнергетика, авиационная инфраструктура и т.д . “Индивидуальные предприятия имеют достаточный опыт и обильные ресурсы, могут гибко участвовать в разработке крупных проектов, помогающих правительству ограничить государственный долг и использующих частный капитал и капитал ПИИ”, – сказала г-жа Нга и отметила, что правительству необходимо оказать льготы компаниям частного экономического снектора, которые вносят большой вклад в национальную экономику.
Премьер-министр Нгуен Суан Фук выступает на Вьетнамском форуме в 2019 году, посвященному частному сектору экономики. (Фото: Фыонг Хоа/ВИА)
В особенности, правительству необходимо упростить административные процедуры, поскольку они все еще противоречивы и создают трудности, приводящие к бессмысленной трате времени и ресурсов компаний, а также имеют лазейки для нарушений.
В эпоху промышленной революции 4.0 правительство может изучать и применять информационные технологии в административных процессах, чтобы минимизировать контакты между предприятиями и государственными управленческими органами. Упрощенные и точные административные процедуры помогут сократить растрату социальных ресурсов, повысить эффективность бизнеса и сделать государственное управление прозрачным.
Высвобождая ресурсы экономических корпораций
В процессе развития и рост частного сектора экономики нельзя ни упомянуть экономические корпорации, делающие Вьетнам известным на мировой экономической карте.
Процесс развития экономических корпораций требует соответствующего правового коридора, чтобы не только соответствовать руководящим принципам Партии, но и создать предпосылки для возникновения более могущественных корпораций регионального и мирового уровней.
Премьер-министр Нгуен Суан Фук считает, что благодаря принятию синхронных решений в разработке механизмов и политик, частная экономика становится важной движущей силой социалистически ориентированной рыночной экономики.
Премьер-министр Нгуен Суан Фук считает, что благодаря принятию синхронных решений в разработке механизмов и политик, частная экономика становится важной движущей силой социалистически ориентированной рыночной экономики.
По словам профессора, доктора наук Нгуен Мая, председателя Ассоциации предприятий с иностранными инвестициями, государству нужна политика, стимулирующая развитие компаний, как ядра в каждой цепи поставок продукта, в таких сферах, как высокотехнологичное сельское хозяйство, промышленность и современные услуги.
Премьер-министр Нгуен Суан Фук, член Политбюро, секретарь Центрального комитета Коммунистической партии Вьетнама (ЦК КПВ), Заведующий Отделом ЦК КПВ по экономическим вопросам Нгуен Ван Бинь, Вице-президент Данг Тхи Нгок Тхинь и Заместитель председателя Национального собрания Фунг Куок Хиен принимают участие на Вьетнамском форуме в 2019 году, посвященному частному сектору экономики. (Фото: Фыонг Хоа/ВИА)
В то же время, необходимы прозрачные положения о договорных отношениях внутри групп компаний, чтобы предотвратить и оперативно реагировать на “трансфертное ценообразование”, уклонение от уплаты налогов, совместное владение…
Кроме этого, у государства должна быть политика поддержки экономических корпораций в создании и развитии брендов, особенно для того, чтобы занять свое положение на мировом рынке. Таким образом, они смогут быстро нарастить торговое и инвестиционное сотрудничество, а также смогут участвовать в международных тендерах в рамках крупных проектов, работа в которых многим вьетнамским компаниям в настоящее время не под силу.
Особенно, государству необходимо усовершенствовать законы, связанные с мобилизацией, накоплением и концентрацией капитала. Целесообразно также создать правовой коридор для экономической деятельности корпораций.
Выступая на пленарном заседании Вьетнамского форума, посвященного частному сектору экономики во Вьетнаме в 2019 году, премьер-министр Нгуен Суан Фук подтвердил, что он и правительство постоянно поощряют частную инициативу, возлагая большие надежды на развитие и создание частного сектора, основанного на мобилизации ресурсов от частных предприятий во многих других секторах.
Премьер-министр считает, что экономика Вьетнама может стать сильной только в случае наличия предприятий с глобальной конкурентоспособностью.
Партия и правительство разработали механизмы и политики, создающие наиболее благоприятные условия для предприятий. Процесс внедрения этих принципов будет проводится масштабно и во всех сферах, позволяя частному сектору экономики развиваться быстрыми темпами, что и сделает его важной движущей силой социалистически ориентированной рыночной экономики, как заявлено КПВ./.
Сфера гражданской авиации во Вьетнаме постоянно развивается и представлена не только Vietnam Airlines, но и многими новыми авиакомпаниями . (Фото: Хай Хунг/ВИА)
Để kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như quan điểm của Đảng đã xác định, không chỉ cần nhận thức, nội lực, ý chí vươn lên mạnh mẽ của từng doanh nghiệp, doanh nhân mà còn rất cần một môi trường pháp lý đầy đủ, thông thoáng, phù hợp với kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, là “bà đỡ” để kinh tế tư nhân tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, vươn lên đóng góp xứng đáng vào thành tựu phát triển chung của đất nước.
Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước liên tục ban hành nhiều chủ trương, quyết sách tạo đòn bẩy để kinh tế tư nhân có môi trường công bằng, bình đẳng như các thành phần kinh tế khác, có cơ hội ngang nhau để bứt phá đi lên.
Làm rõ hơn chủ trương lớn và nhất quán này của Đảng, nhân dịp Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng 3/2/1930-3/2/2020, Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu loạt 3 bài với tiêu đề Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế đăng phát 18-20/1/2020)
Kinh tế tư nhân: Chọn điểm bứt phá để đưa đất nước vươn xa
Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa ra đời mới hơn một tháng, ngày 13/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một bức thư gửi cho giới công thương Việt Nam.
Trong bức thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò to lớn của giới công thương trong công cuộc kiến thiết đất nước. “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy hoàn toàn nền độc lập của nước nhà, thì giới Công-Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ, Nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công-Thương trong công cuộc kiến thiết này.”
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) mở đầu công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy sức mạnh, tiềm năng để đưa đất nước tiến lên. (Ảnh: TTXVN)
Hơn 70 năm qua đã chứng minh ý nghĩa lịch sử của bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi giới công thương vào ngày 13/10/1945 vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện đường lối đúng đắn và chỉ dẫn mang tính chiến lược của Người đối với sự nghiệp xây dựng và kiến thiết đất nước, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Coi trọng vai trò của kinh tế tư nhân
Từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1992), kinh tế tư nhân đã được coi trọng và khuyến khích phát triển “không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm.”
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của giới công thương đã được Đảng hiện thực hóa qua hàng loạt chủ trương, đường lối.
Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) khởi xướng công cuộc đổi mới với chính sách kinh tế nhiều thành phần gồm kinh tế, xã hội chủ nghĩa, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên ở vùng núi cao.
Công nhân tại một nhà máy dệt may ở Thành phố Hồ Chí Minh những năm đầu đổi mới. May mặc được xác định là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam từ thời kỳ Đổi mới (1988). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Đến Đại hội VII, đặc biệt từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1992), kinh tế tư nhân đã được coi trọng và khuyến khích phát triển “không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm.”
Đại hội VII tiếp tục làm rõ hơn bằng việc khẳng định vị trí “kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của nhà nước.” Đồng thời, địa vị kinh tế của mỗi người dân được xác định cụ thể “mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp.”
Đại hội VIII (7/1996) của Đảng tiếp tục khẳng định tính nhất quán lâu dài phát triển kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở mọi thành phần kinh tế đều được đối xử bình đẳng, nhà nước tạo mọi điều kiện để các doanh nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.
Qua các Đại hội IX, X, XI, XII, vấn đề phát triển kinh tế tư nhân nhiều lần được đưa ra thảo luận nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Nhà máy Thực phẩm đông lạnh số 1, nơi chế biển các sản phẩm hải sản xuất khẩu với quy mô 3.300 công nhân. Vào năm 1987, nhà máy đã bán được 2.400 tấn cá cho Nhật Bản và Australia, tổng giá trị 21 triệu USD. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Vị thế của kinh tế tư nhân không chỉ được khẳng định trong các văn kiện của Đảng mà còn được tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp năm 2013: “1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; 2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; 3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.”
Chọn mặt gửi vàng
Tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh việc “hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.”
Quan niệm kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế” tại Đại hội XII cho thấy bước đột phá về nhận thức của Đảng so với giai đoạn trước, khi chúng ta chỉ coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Từ đây kinh tế tư nhân đã được lựa chọn là một điểm bứt phá của nền kinh tế đất nước, với kỳ vọng lớn lao là tận dụng được tiềm năng của lực lượng này để có những đóng góp xứng đáng vào sư phát triển của nền kinh tế nước nhà.
Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tiếp tục yêu cầu phải phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng và chất lượng, để thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Để tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hội nghị Trung ương 5, khóa XII của Đảng đã ban hành các nghị quyết chuyên đề về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Đây được xem là quan điểm rất tích cực trong đổi mới về tư duy phát triển kinh tế tư nhân nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng mọi cơ hội, các nguồn lực, nhất là nguồn lực về vốn và đất đai, tài nguyên.
Quan niệm kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế” tại Đại hội XII cho thấy bước đột phá về nhận thức của Đảng so với giai đoạn trước, khi chỉ coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.
Đặc biệt, Hội nghị đã ban hành Nghị quyết số 10 – NQ/TW (6/2017) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát: Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 98-NQ/CP, ngày 3/10/2017 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW. Chính phủ xác định rất cụ thể các nhiệm vụ phát triển kinh tế tư nhân tập trung vào ba nhóm chủ trương chính sách lớn trong Nghị quyết số 10-NQ/TW là: tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Hai năm qua, với tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển. Nhiều cơ chế, chính sách mới đã được ban hành; nhiều giải pháp đã được triển khai, tất cả nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc, góp phần phát triển kinh tế tư nhân theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng./.
Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Trong ảnh: Cảng tàu khách du lịch quốc tế chuyên biệt Hạ Long tại Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, (Quảng Ninh) – một trong 3 công trình hạ tầng giao thông trọng điểm do Tập đoàn Sun Group đầu tư trên cả 3 lĩnh vực đường không, đường thủy, đường bộ. (Ảnh: TTXVN)
Rộng đường để kinh tế tư nhân “cất cánh”
Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, kinh tế tư nhân nổi lên như một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế đất nước. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang tạo ra khoảng 42% GDP, 30% ngân sách Nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước.
Kết quả này đã phản ánh năng lực tiềm tàng của lực lượng kinh tế tư nhân. Để có được kết của này, sự thống thoáng trong cơ chế, chính sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là bệ phóng để nâng cách cho kinh tế tư nhân bứt phá, có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Tiêu chí cụ thể, rõ ràng
Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của Đảng trong vấn đề này, mở đường cho việc đưa ra những cơ chế, chính sách phù hợp hơn nhằm phát triển kinh tế tư nhân thành một khu vực kinh tế năng động, sáng tạo.
Khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang tạo ra khoảng 42% GDP, 30% ngân sách Nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước.
Thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW và hoàn thiện khung khổ pháp lý, Quốc hội đã ban hành và chỉ đạo triển khai một số luật quan trọng và ưu tiên xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh những dự án luật nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng. Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất có bước được nâng lên. Trong ảnh: Vùng chuyên canh cà rốt tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Bên cạnh ban hành Luật Cạnh tranh, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 của Luật Đầu tư.
Theo đó phạm vi ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được thu hẹp từ 267 ngành, nghề xuống còn 243 ngành, nghề, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017.
Đưa các chủ trương của Đảng vào thực tiễn đồng bộ, hiệu quả, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã ban hành các văn bản quy định chi tiết, triển khai nhiều chương trình hành động cụ thể, qua đó tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng để kinh tế tư nhân phát triển.
Chia sẻ với doanh nghiệp tư nhân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cam kết sẽ tiếp tục tạo điều kiện, kiến tạo không gian, nguồn lực, cơ hội cho khu vực tư nhân phát triển thuận lợi hơn, với các từ khóa như “tạo bình đẳng” trong phát triển, được “bảo vệ”, “trao cơ hội.”
Những cam kết này của người đứng đầu Chính phủ đã được cụ thể qua hàng loạt văn bản chính sách quan trọng của Chính phủ như: Nghị quyết số 19/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 98/NQ-CP ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-TW…
Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VIII đến nay tiếp tục khẳng định sự kiên định, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. (Ảnh: TTXVN)
Điểm khác biệt so với chương trình trước đây là các văn bản này đều xác định rõ ràng, cụ thể các mục tiêu, giải pháp toàn diện với các tiêu chí mang tính định lượng, rõ ràng.
Cùng với đó, hàng loạt giải pháp về cải thiện môi trường kinh doanh đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành, chỉ đạo thực hiện, như cải cách thủ tục hành chính; giảm chi phí sản xuất kinh doanh; tiếp cận thị trường; chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra; đơn giản hóa và giảm bớt điều kiện kinh doanh.
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được Chính phủ, bộ, ngành, địa phương ban hành, hướng dẫn các luật liên quan đến hoạt động kinh doanh và quản lý khu vực kinh tế tư nhân.
Thông điệp mà Nghị quyết số 98/NQ-CP đưa ra là xây dựng “Chính phủ hành động” với mục tiêu tập trung tháo gỡ vướng mắc về thể chế giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực cạnh tranh.
Trên tinh thần đó, Nghị quyết yêu cầu tất cả các bộ, ngành, địa phương phải “vào cuộc” để thực hiện nhiệm vụ “Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân và hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.”
Chương trình hành động đã nêu ra các con số rất cụ thể, rõ ràng. Chẳng hạn, trong cuộc chiến không khoan nhượng với giấy phép con, Chính phủ đưa ra “tối hậu thư” là các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, đánh giá, đề xuất bãi bỏ ít nhất từ 1/3 đến 1/2 số điều kiện kinh doanh hiện hành trong lĩnh vực quản lý và thủ tục hành chính, gây cản trở, khó khăn cho hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương trình hành động cũng yêu cầu, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức đối thoại công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng doanh nghiệp, báo chí để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Chính phủ giao các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ và của từng bộ, cơ quan, địa phương; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện với Thủ tướng, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi và tổng hợp theo quy định.
Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Trong ảnh: Tuyến cao tốc Hạ Long – Vân Đồn (Quảng Ninh) với tổng chiều dài gần 60km – một trong 3 công trình hạ tầng giao thông trọng điểm do Tập đoàn Sun Group đầu tư trên cả 3 lĩnh vực đường không, đường thủy, đường bộ, đều là các công trình quy mô lớn, hiện đại, huy động nguồn vốn ngoài ngân sách theo hình thức PPP, điểm đột phá của Quảng Ninh trong chiến lược phát triển kinh tế, đánh dấu sự lớn mạnh và vai trò của kinh tế tư nhân – động lực quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam theo đường lối đổi mới của Đảng. (Ảnh: TTXVN)
Không chỉ riêng Nghị quyết 98/NQ-CP, nhiều cơ chế, chính sách về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cũng được Chính phủ ban hành.
Trong Nghị quyết số 35/NQ-CP, Chính phủ đưa hàng loạt giải pháp nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng, mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp cận thị trường cũng như những giải pháp nhằm giảm chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển, hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực và quy mô lớn trong nước…
Khung pháp luật và chính sách được ban hành và sửa đổi, bổ sung trong thời gian qua đã hướng đến mục tiêu tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước; kiểm soát, ngăn chặn, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp; tăng cường cải cách, thu hẹp những ngành lĩnh vực mà Nhà nước nắm giữ đã tạo điều kiện cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng bình đẳng, thuận lợi cho các chủ thể kinh tế.
Vào cuộc đồng bộ
Một điều đáng ghi nhận trong thực hiện chương trình cải cách của Chính phủ là sự chủ động, tích cực của bộ, ngành có liên quan, điều mà trong nhiều năm qua luôn là một điểm yếu, kìm hãm cải cách môi trường kinh doanh.
Cục Hải quan cửa khẩu Quốc tế Lào Cai đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. (Ảnh: Phạm Hậu/TTXVN)
Năm 2018 là thời gian việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh được các bộ, ngành thực hiện mạnh mẽ nhất, theo yêu cầu tại Nghị quyết 01/2018/NQ-CP, với mục tiêu cụ thể là phải cắt giảm, đơn giản hóa 50% điều kiện đầu tư kinh doanh.
Theo đó, các bộ, ngành đã rà soát, trình ban hành 28 văn bản quy phạm pháp luật, cắt giảm, đơn giản được hơn 3.300 trong tổng số gần 6.200 điều kiện kinh doanh, tương đương 54,5%, vượt 8,1% so với yêu cầu chỉ đạo của Chính phủ. Các bộ có nhiều điều kiện kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa gồm: Bộ Công Thương; Bộ Y tế; Bộ Giao thông Vận tải…
Đáng chú ý, có những điều kiện kinh doanh “bám rễ” rất lâu nhưng vẫn được bãi bỏ như quy hoạch kinh doanh xăng dầu của Bộ Công Thương, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Năm 2019, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục là một trong những trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Ngày 1/1/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021.
Bốc xếp gạo xuất khẩu tại cảng Sài Gòn. (Ảnh: Đình Huệ/TTXVN)
Thực hiện Nghị quyết này và Chỉ thị số 26/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, từ đầu năm đến nay, các bộ, ngành, địa phương đã chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao. Qua rà soát, nhiều bộ, ngành đã đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa và chuyển hậu kiểm các điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý, đạt tỷ lệ vượt chỉ tiêu Chính phủ đề ra; đồng thời ban hành kế hoạch cải cách hành chính năm 2019 nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cải cách hành chính, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Sau một năm rưỡi kể từ khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực, các Nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành luật đã cơ bản được ban hành đầy đủ.
Đồng thời, để khẩn trương đưa một số chính sách quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đi vào cuộc sống, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đang tích cực hoàn thiện dự thảo Nghị định của Chính phủ về bổ sung một số ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư quy định tại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị quyết của Quốc hội về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhiều địa phương xây dựng các kế hoạch, đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhiều chính sách đặc thù nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh/thành phố.
Nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch đã tạo nền tảng cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bứt phá và mạnh mẽ trong thời gian qua.
Khu vực này đã tăng trưởng nhanh cả về số lượng, chất lượng, tạo điều kiện để giải phóng các nguồn lực phát triển trong xã hội, để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát huy tối đa tiềm năng to lớn của mình./.
Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Ngày 28/12/2019, tại cảng Chu Lai (Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam), THACO đã tổ chức Lễ bàn giao 15 xe Bus THACO thương hiệu Việt Nam xuất khẩu sang Philippines. Đây là lô hàng thương mại đầu tiên của Thaco sau hơn 16 năm đầu tư và phát triển trong ngành ôtô Việt Nam. (Ảnh: Trần Tĩnh/TTXVN)
Để kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng
Sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân cùng hành động quyết liệt từ phía Chính phủ, các bộ, ngành đã tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt vươn lên, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, để kinh tế tư nhân phát triển bền vững, phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của mình, việc cải cách thể chế, tạo sân chơi bình đẳng, minh bạch cho cộng đồng doanh nghiệp cần tiếp tục được thực hiện khẩn trương, rốt ráo hơn nữa.
Cần sự đột phá về cơ chế, chính sách
Sau hơn 30 năm đổi mới, kinh tế tư nhân đã nổi lên như một trong những động lực quan trọng, dẫn dắt sự tăng trưởng của nền kinh tế. Khối kinh tế này ngày càng tham gia nhiều hơn, sâu hơn vào hầu hết lĩnh vực, đóng góp đáng kể cho ngân sách quốc gia, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động.
“Phải có sự đột phá về cơ chế, chính sách nhằm xóa bỏ rào cản phát triển doanh nghiệp tư nhân. Đây là điều kiện tiên quyết để người dân an tâm, hồ hởi, bỏ tiền ra làm ăn, gia tăng hiệu quả cho nền kinh tế.” (Đại biểu Quốc hội Nguyễn Như So)
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Như So (Bắc Ninh) dẫn chứng, 9 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước đã đạt 624,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2018, cao nhất trong các khu vực kinh tế.
Chế biến mủ cao su phục vụ xuất khẩu tại nông trường Cao su Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. (Ảnh: Dương Chí Tưởng/TTXVN)
Sự chuyển dịch về cơ cấu này thể hiện kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng đóng góp trên 40% GDP tạo ra 1,2 triệu việc làm mỗi năm. Tuy nhiên, theo đại biểu, kinh tế tư nhân vẫn phát triển dưới tiềm năng, chưa bứt phá, tạo thành trụ cột mới của nền kinh tế, vì thế cần các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế tư nhân.
“Phải có sự đột phá về cơ chế, chính sách nhằm xóa bỏ rào cản phát triển doanh nghiệp tư nhân. Đây là điều kiện tiên quyết để người dân an tâm, hồ hởi, bỏ tiền ra làm ăn, gia tăng hiệu quả cho nền kinh tế,” đại biểu chỉ rõ.
Phân tích năm 2019, theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam là nền kinh tế có tính cạnh tranh thứ 67 trên thế giới, tăng 10 bậc và 3,5 điểm. Tuy nhiên đại biểu Nguyễn Như So nêu lên một nghịch lý, mặc dù trở thành quán quân trong cuộc đua cải thiện thứ hạng trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, thế nhưng chỉ trong 9 tháng đầu năm 2019, số doanh nghiệp ngừng hoạt động, chờ giải thể tăng 6,3% so với năm 2018.
“Việc đó khiến chúng ta phải đặt câu hỏi môi trường kinh doanh có thực sự lý tưởng để doanh nghiệp tư nhân phát triển? Tình trạng trên nóng, dưới lạnh, ở giữa thờ ơ đã giảm nhiệt huyết của người dân, doanh nghiệp, các giấy phép “con cháu.” Chi phí không chính thức và đặc biệt là chi phí tuân thủ pháp luật do tồn tại quá nhiều quy định gia tăng áp lực lên doanh nghiệp,” – đại biểu nhận định.
Từ đó, đại biểu đề nghị, Nhà nước cần thay đổi mạnh mẽ từ can thiệp, hỗ trợ quản lý, tăng cường nguồn lực, hỗ trợ đủ mạnh về đất đai, nguồn vốn tín dụng, đào tạo nhân lực liên kết với các thành phần kinh tế, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân tăng trưởng và chất lượng cao tương xứng với tiềm năng.
Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoóa, hiện đại hoá. Các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VIII đến nay tiếp tục khẳng định sự kiên định, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. (Ảnh: Xuân Lâm/TTXVN)
“Cần phải đặt doanh nghiệp tư nhân là động lực lớn, lan tỏa, lôi kéo các thành phần kinh tế khác, nhất là hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, hình thành trục liên kết theo chuỗi, đồng thời đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn tài nguyên, thể chế, chính sách, nguồn tín dụng,” đại biểu Nguyễn Như So nhấn mạnh.
Trong khi đó, theo tiến sỹ Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), ở Việt Nam, mặc dù đã đóng góp tới 40% GDP, nhưng ở khu vực kinh tế tư nhân đang có nghịch lý lớn.
Đó là, trên 700.000 doanh nghiệp thuộc khu vực doanh nghiệp tư nhân chính thức đóng góp chỉ vẻn vẹn 10% cho GDP, còn lại hơn 30% GDP là thuộc về trên 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, trong đó có 2 triệu hộ kinh doanh có đăng ký.
“Không có một nền kinh tế thị trường nào có khu vực bán chính thức và phi chính thức lớn đến như vậy,” ông Lộc nhấn mạnh.
Tiến sỹ Vũ Tiến Lộc phân tích, về bản chất, hộ kinh doanh cá thể chính là một loại hình doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nhưng do chưa được định danh rõ ràng về mặt pháp lý, nên với bên ngoài, hộ kinh doanh bị hạn chế về quyền kinh doanh…
Trong quan hệ nội bộ, hộ kinh doanh đang thiếu một khung khổ quản trị có hiệu quả và không rõ ràng về trách nhiệm của các cá nhân tham gia. Bên cạnh đó, quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thiếu minh bạch, hộ kinh doanh không được thúc đẩy và hỗ trợ để lớn lên. Hoạt động kinh doanh của các hộ này đang là mảnh đất màu mỡ cho nạn tham nhũng vặt…
Đất nước đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong ảnh: Nhà máy điện mặt trời trên hồ thủy điện Đa Mi (tỉnh Bình Thuận). (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
“Để giải quyết vấn đề này, chúng ta không thể xóa bỏ hộ kinh doanh, không thể ép buộc hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, mà chỉ có thể khoác tấm áo pháp lý mới cho hộ kinh doanh: đưa hộ kinh doanh vào phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp với những quy định pháp lý tối giản nhưng minh bạch, bảo đảm sự bình đẳng của hộ kinh doanh với các loại hình doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa” – ông Lộc phân tích.
Đảm bảo cạnh tranh công bằng
Dưới góc độ doanh nhân tư nhân, bà Nguyễn Thị Nga, Chủ tịch Tập đoàn BRG khẳng định, cải cách thể chế là “chìa khóa” để kinh tế tư nhân vươn lên, khẳng định vai trò và vị thế của mình.
Theo đó, trong các trường hợp nhất định, Chính phủ cần có biện pháp bảo hộ doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực trọng điểm kinh tế để cạnh tranh với quốc tế.
Đồng thời, Chính phủ, các bộ, ngành cần đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, có chính sách cụ thể để các thành phần kinh tế nhận được những ưu đãi công bằng, không quá ưu tiên cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI).
Bên cạnh đó, cần cho phép doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các lĩnh vực mà Nhà nước vẫn độc quyền như đường sắt, truyền tải điện, hạ tầng hàng không… “Doanh nghiệp tư nhân có đủ kinh nghiệm, nguồn lực dồi dào, có thể vận hành linh hoạt để phát triển các dự án lớn, giúp Chính phủ hạn chế nợ công đồng thời tận dụng được nguồn vốn tư nhân và vốn FDI” – bà Nga nhận định và đề xuất, Chính phủ nên có các ưu đãi cho các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều đóng góp cho nền kinh tế.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
Đặc biệt, Chính phủ cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính bởi trên thực tế, thủ tục hành chính vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn, lãng phí thời gian, nguồn lực của doanh nghiệp, tạo kẽ hở cho tiêu cực.
Trong thời đại của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chính phủ có thể nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin trong các quy trình hành chính nhằm hạn chế tối đa tiếp xúc cơ học giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Thủ tục hành chính tinh gọn, chính xác giúp giảm lãng phí nguồn lực xã hội, gia tăng hiệu quả kinh doanh, minh bạch hóa nền hành chính công.
Khơi dậy nguồn lực của tập đoàn kinh tế
Trong quá trình phát triển, sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân không thể không nhắc đến những doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, giúp Việt Nam ghi tên trên bản đồ kinh tế thế giới.
Quá trình phát triển của các tập đoàn kinh tế đòi hỏi phải có hành lang pháp lý phù hợp, để vừa thực hiện đúng đường lối của Đảng, vừa tạo tiền đề để có thêm nhiều tập đoàn hùng mạnh đạt tầm khu vực và thế giới.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tin tưởng với các nghị quyết, cơ chế, chính sách đồng bộ, kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo Giáo sư, tiến sỹ khoa học Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển tập đoàn kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp và dịch vụ hiện đại làm hạt nhân trong từng chuỗi cung ứng sản phẩm. Đồng thời, quy định minh bạch về quan hệ hợp đồng trong nội bộ tập đoàn để đề phòng và xử lý kịp thời tình trạng “chuyển giá,” trốn thuế, sở hữu chéo…
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh và Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển tham gia đối thoại tại diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tập đoàn kinh tế xây dựng và phát triển thương hiệu, nhất là tạo chỗ đứng trên thị trường thế giới để không chỉ gia tăng nhanh chóng quan hệ thương mại và đầu tư, mà còn có thể tham gia đầu thầu quốc tế những dự án quy mô lớn mà hiện nay nhiều tập đoàn kinh tế nước ta đủ sức thực hiện.
Đặc biệt, Nhà nước cần hoàn thiện luật pháp liên quan đến huy động vốn, tích tụ và tập trung vốn tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của tập đoàn.
Phát biểu tại phiên toàn thể Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Thủ tướng và Chính phủ đã liên tục động viên tư nhân khởi nghiệp, nuôi dưỡng khát vọng lớn trong phát triển, kiến tạo các lĩnh vực dựa trên việc động viên nguồn lực từ các doanh nghiệp tư nhân trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau.
Thủ tướng tin tưởng rằng, nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể hùng mạnh khi có những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Các nghị quyết, cơ chế, chính sách này được thực thi một cách đồng bộ, kinh tế tư nhân sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn và sẽ trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như quan điểm của Đảng đã xác định./.
Lĩnh vực vận chuyển hàng không dân dụng liên tục phát triển với sự ra đời của một số hãng hàng không mới, bên cạnh Vietnam Airlines. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Đảng sinh ra vào mùa Xuân và mang đến cho đất nước, dân tộc Việt Nam những mùa Xuân bất tận. Đảng là biểu tượng của mùa Xuân, là người chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Hãy cùng nhìn lại những chặng đường vinh quang chói lọi trong suốt 90 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam để thêm yêu, thêm tự hào về đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. VietnamPlus xin trận trọng giới thiệu chùm bài viết tổng hợp về những chặng đường, mốc son lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Một mốc son chói lọi
Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Sau bao năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển, vừa lao động, học tập, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và thực tiễn các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tìm được con đường tất yếu: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội), một tổ chức “quá độ” đặt cơ sở cho một Đảng Cộng sản về sau. Người ra báo Thanh niên, huấn luyện, đào tạo cán bộ, tổ chức tuyên truyền lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng cách mạng vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam.
Từ ngày 25-30/12/1920, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc ủng hộ Luận cương của V.I.Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Bốn năm sau, tháng 3/1929, chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành lập tại nhà số 5D phố Hàm Long, Hà Nội. Chi bộ chủ trương phải tích cực vận động thành lập một Đảng Cộng sản thay tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 17/6/1929, hơn 20 đại biểu các tổ chức cộng sản ở các tỉnh Bắc Kỳ họp tại nhà số 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Hội nghị thông qua Chính cương, Tuyên ngôn, Điều lệ của Đảng. Các văn kiện này thừa nhận đường lối của Quốc tế Cộng sản, thừa nhận vai trò bá quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cách mạng và thừa nhận mục đích của chủ nghĩa cộng sản. Mục đích của Đảng là đánh đổ đế quốc và tư sản chủ nghĩa, diệt trừ chế độ phong kiến, giải phóng công nông, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, bác ái.
Mục đích của Đảng là đánh đổ đế quốc và tư sản chủ nghĩa, diệt trừ chế độ phong kiến, giải phóng công nông, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, bác ái.
Để nhanh chóng xây dựng cơ sở của mình ở Nam Kỳ, ngày 21/7/1929, Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng họp tại Tam Sơn (Bắc Ninh) đề ra chủ trương, biện pháp xây dựng cơ sở trong Nam.
Các chi bộ cộng sản lần lượt được thành lập ở Nam Kỳ, ở Trung Kỳ và ở Xiêm. Các đảng viên hoạt động ở Trung Quốc được tập hợp trong một chi bộ mang tên An Nam Cộng sản Đảng. Chi bộ này được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và đã liên lạc với Quốc tế Cộng sản. An Nam Cộng sản Đảng ra đời vào tháng 8/1929.
Tháng 9-1929, bản Tuyên đạt của Đông Dương Cộng sản liên đoàn tuyên bố: “chánh thức lập ra Đông Dương Cộng sản liên đoàn,” lấy chủ nghĩa Cộng sản làm nền móng, lấy công, nông, binh liên hiệp làm đối tượng vận động cách mệnh.
Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước.
Trong vòng không đầy bốn tháng (từ giữa tháng 6 đến tháng 9-1929) đã có ba tổ chức đảng ở Việt Nam lần lượt ra đời. Sự ra đời nhanh chóng các tổ chức cộng sản lúc bấy giờ là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam. Song, sự tồn tại ba đảng độc lập có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước. Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho những người cộng sản Đông Dương, nhấn mạnh: Nhiệm vụ tuyệt đối cần kíp của tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một đảng cách mạng của giai cấp vô sản…
Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan phong trào cách mạng ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng để bàn việc thống nhất thành một đảng.
Từ ngày 6/1-7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp ở bán đảo Cửu Long, thuộc Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. (Nguồn: Tranh tư liệu/TTXVN phát)
Từ ngày 6/1 đến đầu tháng 2/1930, Hội nghị họp tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng để lập ra một đảng duy nhất lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và các Điều lệ vắn tắt của Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội phản đế đồng minh và Hội cứu tế do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.
Phải hợp nhất thành một tổ chức cộng sản ở xứ Đông Dương để cho sức mạnh cộng sản vững chắc và duy nhất mới có thể thực hiện cách mạng cộng sản.
Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Song Đông Dương Cộng sản liên đoàn vẫn còn là một đảng riêng lẻ. Việc hợp nhất Đông Dương Cộng sản liên đoàn vào Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một yêu cầu khách quan.
Trong bản Tuyên đạt thành lập đảng của mình, Đông Dương Cộng sản liên đoàn cũng chủ trương phải hợp nhất với Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng “thành một tổ chức cộng sản ở xứ Đông Dương để cho sức mạnh cộng sản vững chắc và duy nhất mới có thể thực hiện cách mạng cộng sản.” Vì thế, sau Hội nghị hợp nhất, Đông Dương Cộng sản liên đoàn đã yêu cầu gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm 20 của thế kỷ XX.
Ngày 24/2/1930, Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu cùng hai ủy viên của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời là Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt) và Phạm Hữu Lầu cùng Ngô Gia Tự, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã họp quyết định chấp nhận Đông Dương Cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, cả ba tổ chức cộng sản Việt Nam đã thống nhất trọn vẹn vào một Đảng cộng sản duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng ra đời là một mốc son chói lọi đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm 20 của thế kỷ XX.
(Nguồn: Reuters)
90 mùa Xuân qua, dù con đường đi lên có lúc quanh co, phức tạp, dù Đảng ta có lúc phạm khuyết điểm, sai lầm, nhưng do có bản lĩnh vững vàng, thực sự khiêm tốn, cầu thị, Đảng ta nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, được nhân dân tin yêu, ủng hộ, cho nên Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không một thế lực nào ngăn cản nổi.
Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không một thế lực nào ngăn cản nổi.
Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thắng lợi của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; thắng lợi của công cuộc đổi mới, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hình ảnh về một Việt Nam mới đầy sức trẻ, tự tin hội nhập với những đô thị hiện đại, nông thôn mới, những khu công nghiệp đang trở thành điểm sáng trên trường quốc tế. Đất nước ta, dân tộc ta tự hào có Đảng quang vinh, sắt son một lòng theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn./.
Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền
Một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc.
Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với ba cao trào cách mạng có ý nghĩa to lớn, đưa đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của giai cấp công nhân và cách mạng Việt Nam; chứng tỏ giai cấp vô sản Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng sản với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng nước ta phát triển theo xu thế của thời đại đã được mở ra từ cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917.
– Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh
Ngay từ khi mới ra đời với khẩu hiệu chiến lược “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng,” Đảng đã lãnh đạo nông dân và công nhân trong cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh.
Ở những nơi đó, quần chúng cách mạng đã thực hiện quyền làm chủ, đứng ra tự quản lý đời sống của mình, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở nông thôn. Lần đầu tiên, nhân dân ta thật sự nắm chính quyền ở địa phương.
Cao trào cách mạng 1930-1931 khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam do Ðảng đề ra là đúng đắn và để lại những bài học quý báu về xây dựng liên minh công-nông.
Cao trào cách mạng 1930-1931 khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam do Ðảng đề ra là đúng đắn và để lại những bài học quý báu về xây dựng liên minh công-nông, về xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, về phát động phong trào quần chúng đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền.
– Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939) – bước chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
Mặt trận Dân chủ Đông Dương tổ chức mít tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tại Khu Đấu xảo Hà Nội (nay là Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô), tháng 5/1938, trong Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936-1939). Bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ; quần chúng được giác ngộ về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; Đảng đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp… (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ thời kỳ 1936-1939, Đảng đã giáo dục và xây dựng được một đội quân chính trị to lớn ở nông thôn và thành thị; đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
Bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ; quần chúng được giác ngộ về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng; Đảng đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp…
Cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ thời kỳ 1936-1939, Đảng đã giáo dục và xây dựng được một đội quân chính trị to lớn ở nông thôn và thành thị
Qua cao trào này, trình độ và khả năng công tác của cán bộ và đảng viên được nâng cao, đội ngũ cán bộ cách mạng dày dạn kinh nghiệm ngày càng đông đảo. Đây là một bước chuẩn bị của nhân dân ta cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
– Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945) kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” Đó cũng là tư tưởng bất hủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra với cả thế giới ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. (Nguồn: Tư liệu TTXVN)
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, phát xít Nhật kéo vào Đông Dương (1940). Nhân dân ta chịu cảnh “một cổ hai tròng” vô cùng cực khổ. Ngày 9/3/1945, Nhật hất cẳng Pháp. Đảng đã nhanh chóng chuyển hướng chiến lược, đề ra chủ trương tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, đẩy tới cao trào kháng Nhật, cứu nước. Ngày 12/3/1945, Đảng ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta.”
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng với sự đoàn kết hăng hái, chiến đấu ngoan cường và hy sinh to lớn của biết bao đảng viên cộng sản, chiến sỹ và đồng bào yêu nước đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã phá tan sự thống trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên nhân dân ta mấy mươi thế kỷ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Khái quát ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và Nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.”
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu.
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc và chống phong kiến không ngừng được bổ sung và làm rõ hơn, đặt nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên hàng đầu, vận dụng đúng đắn và có sự phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Marx-Lenin về cách mạng thuộc địa.
Thực tiễn qua 15 năm đấu tranh cách mạng giành chính quyền, Đảng và nhân dân ta đã đặt ra và giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược, bảo đảm cho phong trào cách mạng phát triển đúng hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc./.
Đảng lãnh đạo đấu tranh
Giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại những kẻ thù sừng sỏ nhất của thế kỷ XX
Để bảo vệ thành quả của cách mạng và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta lại phải tiếp tục chiến đấu 30 năm với hai cuộc kháng chiến trường kỳ đầy hy sinh gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Bằng đường lối cách mạng đúng đắn và tài thao lược của mình, với khối đại đoàn kết dân tộc và ý chí đấu tranh quật cường, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại những kẻ thù sừng sỏ nhất của thế kỷ XX mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu,” tiếp đến là cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử hoàn toàn thắng lợi, Bắc-Nam sum họp một nhà.
– Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954)
Trong những năm 1945-1946, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (6/1/1946); xây dựng và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên (9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới, đời sống mới của nhân dân, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng Tháng Tám; đồng thời thực hành sách lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đảng đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, đánh dấu thời khắc của chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.” (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Thành công nổi bật của hơn một năm xây dựng chính quyền non trẻ là đã tăng cường được sức mạnh của cách mạng để có thể tự bảo vệ khi chưa có sự giúp đỡ trực tiếp từ bên ngoài.
Đảng đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.”
Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu,” buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Geneva chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.
Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Geneva năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
– Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1975)
Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế-văn hóa, xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Geneva, hất chân thực dân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng.
Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ III được tổ chức từ ngày 5-10/9/1960 tại Hà Nội, quyết định đường lối cách mạng XHCN và xây dựng CHXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đồng chí Lê Duẩn được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (Nguồn: TTXVN)
Nhiệm vụ của Đảng ta trong giai đoạn này hết sức nặng nề, đó là phải lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bằng tầm cao khoa học và nghệ thuật.
Với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, Đảng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại.
Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.
Song song với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế-xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã giành được những thành tựu quan trọng, chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của, hoàn thành vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam; tạo những cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này./.
Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV được tổ chức từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)
Đảng lãnh đạo thành công
sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) có tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn, quyết định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để. Từ đó đến nay, qua các kỳ đại hội, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước luôn được khẳng định, thông qua những thành tựu to lớn của đất nước trong suốt hơn 30 năm qua.
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 chứa đựng ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại to lớn, kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước Việt Nam, hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên cả nước, non sông thu về một mối.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước luôn được khẳng định, thông qua những thành tựu to lớn của đất nước trong suốt hơn 30 năm qua.
Sau ngày thống nhất, cả nước bước vào công cuộc xây dựng CNXH, phải đối diện với những thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, khu vực và trên trường quốc tế. Nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, Đại hội VI của Đảng đã quyết định sự nghiệp đổi mới, coi đó là cơ sở khoa học để xác định đúng chính sách và cơ chế lãnh đạo, quản lý đất nước. Theo đó, Đảng ta quyết định thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; đồng thời đổi mới chính sách xã hội, hướng vào những giải pháp nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) mở đầu công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát huy sức mạnh, tiềm năng để đưa đất nước tiến lên. (Nguồn: TTXVN)
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước tiếp tục có những quyết sách rất quan trọng để vượt qua khó khăn, thách thức mới nảy sinh, đưa đất nước phát triển, điển hình như: Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội khóa VIII thông qua tháng 12/1987, có hiệu lực từ ngày 1/1/1988, tạo động lực lớn cho thu hút đầu tư vào Việt Nam; Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (năm 1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, giao ruộng đất cho các hộ nông dân sử dụng lâu dài, tạo bước phát triển lớn chưa từng có trong nông nghiệp…
Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, công cuộc đổi mới được triển khai tích cực. Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định, phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000.
Đại hội xác định đường lối đối ngoại: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Đây là bước phát triển mới về nhận thức lý luận của Đảng. Thời kỳ này, đất nước chuyển mạnh sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng đã chỉ rõ 4 nguy cơ lớn: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ tham nhũng và nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1/1994) chủ trương thúc đẩy công nghiệp hóa, hiên đại hóa xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; thực hiện tốt các chính sách xã hội, nhất là xóa đói giảm nghèo, chính sách với người có công. Những vấn đề quan trọng đó tiếp tục được Trung ương bàn sâu và quyết định.
Từ thực tiễn đổi mới, Đảng đã chỉ rõ 4 nguy cơ lớn: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ tham nhũng và nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Trong nhiệm kỳ khóa VIII, Trung ương Đảng quyết định chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học-công nghệ (tháng 12/1996); chiến lược cán bộ (tháng 6/1997); đường lối phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (tháng 7/1998); tích cực thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia có trách nhiệm trong ASEM, APEC.
Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy trao các văn kiện về việc kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO cho Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Trương Đình Tuyển, tại buổi lễ kết nạp Việt Nam vào WTO, ngày 7/11/2006, tại trụ sở WTO ở Geneva (Thụy Sĩ). (Nguồn: AFP/TTXVN phát)
Thế giới bước vào thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học- công nghệ, hội nhập và toàn cầu hóa, nhưng cũng có nhiều diễn biến phức tạp và thách thức khó lường, như: chiến tranh cục bộ, xung đột lợi ích, khủng bố…
Trước tình hình đó, Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) chủ trương phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đề ra Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đại hội X của Đảng (tháng 4/2006) đã ban hành những nghị quyết quan trọng về đổi mới tổ chức bộ máy, cơ quan Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; chính sách kinh tế khi Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; đẩy mạnh cải cách hành chính; xây dựng giai cấp công nhân, công tác thanh niên, xây dựng đội ngũ trí thức; vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, xây dựng nông thôn mới.
Trải qua 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đại hội XI của Đảng (tháng 1/2011) đề ra Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (2011-2020) với những mục tiêu dựa trên cơ sở đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ.
Đặc biệt, năm 2013, Trung ương chủ trương hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính trị; Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 2013; đẩy mạnh cải cách hành chính vì một nền hành chính hiện đại, minh bạch, có hiệu quả, chú trọng cải cách tư pháp.
Trải qua 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội (1996), vượt qua tình trạng một nước nghèo, kém phát triển (2008); đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội cũng khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Quang cảnh Đại hội XII của Đảng.
Những thành tựu to lớn, toàn diện
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới ở Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, làm biến đổi và phát triển đất nước cả về chính trị, kinh tế, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nâng cao và khẳng định vị thế của đất nước trong đời sống chính trị, kinh tế của thế giới.
Trên lĩnh vực kinh tế, đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh và ổn định, cơ sở vật chất-kỹ thuật được tăng cường, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt gần 7%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 200 USD năm 1990 lên 2.587 USD năm 2018.
Đặc biệt, năm 2019, tăng trưởng GDP toàn quốc đạt 7,02%. Năm 2019, nhiều kỷ lục khác cũng được xác lập, như kim ngạch xuất nhập khẩu cán mốc trên 500 tỷ USD, xuất siêu 9,1 tỷ USD và là năm thứ 4 liên tiếp xuất siêu. Hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọn: dầu khí, dệt may, da giày, thủy hải sản, lương thực, cây công nghiệp, lắp ráp linh kiện điện tử… Giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, Việt Nam hiện là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành. Kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại song phương với hơn 100 nước, trong đó có 20 hiệp định thế hệ mới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới ở Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, làm biến đổi và phát triển đất nước cả về chính trị, kinh tế, xã hội.
Về văn hóa, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt, an sinh xã hội được bảo đảm. Chú trọng xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện. Công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả tốt, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53 % năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019.
Về đối ngoại, Việt Nam đã phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), Hoa Kỳ (năm 1995); gia nhập ASEAN (năm 1995); gia nhập WTO (năm 2006); mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết các nước lớn, như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức, Italy…; ký Hiệp ước chiến lược và Hiệp ước toàn diện với nhiều nước trên thế giới đồng thời, tăng cường đàm phán, ký kết các Hiệp ước Thương mại tự do với ASEAN, EU, Mỹ…; tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động hội nhập quốc tế.
Về quốc phòng-an ninh, thành tựu cơ bản, bao trùm là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố an ninh, quốc phòng với chống “diễn biến hòa bình,” bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng phản động trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, để gây mất ổn định…
Các nhà lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Hội nghị cấp cao APEC 2017 ở Đà Nẵng, tháng 11/2017. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang đạt được một số kết quả tích cực.
Số lượng đảng viên không ngừng gia tăng. Từ Đại hội lần thứ I (năm 1935) Đảng ta có khoảng 500 đảng viên đến Đại hội lần thứ XII (năm 2016) Đảng ta có hơn 4,5 triệu đảng viên. Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước. Nhiều đảng viên đã để lại nhiều tấm gương tốt thể hiện tinh thần tiên phong và tính gương mẫu.
Hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước trong hoàn cảnh mới.
Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước càng khẳng định vai trò lãnh đạo xuất sắc của Đảng và minh chứng rõ ràng Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam./.