Nhận bảo hiểm xã hội một lần: Thiệt thòi cho người lao động

Theo số liệu của liệu Tổng cục Thống kê, đại dịch COVID-19 đã làm hàng triệu người lao động Việt Nam phải tạm nghỉ, mất việc làm. Thất nghiệp, mất việc làm kéo theo số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giảm, đáng lưu ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần đang gia tăng. Việc lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần, điều này trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi trước mắt và về lâu dài của người lao động.

Hệ lụy lâu dài…

Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đến hết tháng 3, số người tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc khoảng 15 triệu người (giảm 175.000 người so thời điểm hết năm 2019); bảo hiểm xã hội tự nguyện khoảng 508.000 người (giảm 16.000 người người so hết năm 2019), bảo hiểm thất nghiệp khoảng 13,2 triệu người (giảm 149.000 người so hết năm 2019|); bảo hiểm y tế khoảng 84,6 triệu người (giảm 1,35 triệu người so với thời điểm hết năm 2019)…

Nguyên nhân chính của tình trạng giảm số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là do nhiều đơn vị, doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, người lao động bị mất việc làm và đời sống người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19. Chỉ riêng trong tháng 3, ngành bảo hiểm xã hội đã phải giải quyết cho gần 69.000 người hưởng trợ cấp một lần; phối hợp với ngành Lao động-Thương binh và Xã hội giải quyết cho gần 54.000n người hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp và gần 1.500 người hưởng chế độ hỗ trợ học nghề…

Người lao động làm thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Khi lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần, các quyền lợi của người lao động sẽ bị hạn chế hơn so với khi hưởng lương hưu.

Trước thực trạng gia tăng số người lao động hưởng bảo hiểm xã hội một lần, các chuyên gia cho rằng trong thời điểm dịch bệnh khó khăn này, người lao động cần tỉnh táo, suy xét, tiếp tục tham gia thay vì rút bảo hiểm xã hội một lần. Bởi nhận bảo hiểm xã hội một lần chỉ có thể giải quyết nhu cầu kinh tế trước mắt, nhưng về lâu dài, sẽ rất thiệt thòi khi hết tuổi lao động.

Ông Đào Việt Ánh, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam phân tích: Khi lựa chọn hưởng bảo hiểm xã hội một lần, các quyền lợi của người lao động sẽ bị hạn chế hơn so với khi hưởng lương hưu. Nếu người lao động nhận bảo hiểm xã hội một lần, người lao động sau này tham gia lại bảo hiểm xã hội sẽ không được cộng nối thời gian đóng bảo hiểm xã hội, mà tính thành thời gian đóng bảo hiểm xã hội mới.

Người lao động sẽ mất đi cơ hội được hưởng lương hưu, không có thu nhập để bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động; mất nguồn tài chính hỗ trợ và ổn định cuộc sống lâu dài khi bị suy giảm khả năng lao động, hết tuổi lao động; hoặc nếu khi nghỉ hưu vẫn đủ thời gian được hưởng lương hưu nhưng do thời gian đóng bảo hiểm xã hội ngắn cho nên mức hưởng lương hưu sẽ thấp…

Đặc biệt, theo tính toán, với việc nhận bảo hiểm xã hội một lần người lao động phải chấp nhận sự thiệt thòi rất lớn, khi với 22% mức tiền lương tháng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất thì một năm tổng mức đóng là 2,64 tháng lương. Trong khi, theo quy định mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội chỉ bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014 và 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi.

Theo tính toán, với việc nhận bảo hiểm xã hội một lần người lao động phải chấp nhận sự thiệt thòi rất lớn, khi với 22% mức tiền lương tháng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất thì một năm tổng mức đóng là 2,64 tháng lương.

Nếu người lao động tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ khi nghỉ hưu sẽ hưởng mức lương hưu được điều chỉnh định kỳ theo chỉ số giá tiêu dùng và mức tăng trưởng kinh tế. Như nếu nhận bảo hiểm xã hội một lần, người lao động sẽ thiệt thòi khi chưa đến tuổi nghỉ hưu đã tiêu hết tiền dưỡng già.

Nếu không có chế độ hưu trí, người lao động khi về già sẽ phải phụ thuộc vào con, cháu và xã hội; nếu không may bị bệnh, không có thẻ bảo hiểm y tế, họ còn phải đối mặt với nguy cơ không chi trả nổi chi phí khám chữa bệnh chỉ sau một lần mắc bệnh và nằm viện thời gian dài, từ đó phải đối mặt với tình trạng nghèo đói, kiệt quệ, trở thành gánh nặng đối với gia đình và xã hội.

Còn những chính sách hỗ trợ khác

Trong thời điểm khó khăn do đại dịch, nếu không may bị thất nghiệp, người lao động nên đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp học nghề; đăng ký nhận chế độ hỗ trợ từ gói an sinh của Chính phủ. Đợi qua đợt khó khăn do dịch bệnh COVID-19 gây ra, nền kinh tế tiếp tục được vận hành, người lao động có cơ hội trở lại thị trường lao động, tiếp tục được đóng bảo hiểm xã hội để cộng nối thời gian tính hưởng lương hưu sau này.

Quyền lợi người lao động được hưởng với chế độ bảo hiểm thất nghiệp gồm: Được hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp (tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở hoặc 5 lần mức lương tối thiểu vùng); được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định để khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế khi không may ốm đau; được hỗ trợ học nghề (tối đa 1 triệu đồng/người/tháng); được hỗ trợ, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

Chính phủ cũng đã có gói hỗ trợ an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng cho hơn 20 triệu người, trong đó có người lao động mất việc làm, thiếu việc làm, bị giảm thu nhập để giải quyết khó khăn trước mắt. Vì vậy, người lao động cần tỉnh táo, suy xét tìm hiểu các chính sách hỗ trợ để vượt qua thử thách, giữ và tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội để bảo đảm an sinh xã hội khi tuổi già.

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho hay: “Qua các phương tiện truyền thông, tôi thấy những ngày vừa qua, nhiều người lao động ở một số tỉnh phía Nam đã bán sổ bảo hiểm xã hội, đăng ký nhận bảo hiểm xã hội một lần sau một năm công ty phá sản, ngừng hoạt động… Tôi chia sẻ và đồng cảm với người lao động trong điều kiện cuộc sống hiện nay.”

“Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội là chính sách trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội như ‘của để dành’, được Nhà nước bảo hộ nhằm bảo đảm quyền lợi tốt hơn cho họ khi hết tuổi lao động. Khi nhận bảo hiểm xã hội một lần, người lao động sẽ bị mất khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội tính đến thời điểm nhận,” ông Bùi Sỹ Lợi nói.

Trong thời điểm khó khăn do đại dịch, nếu không may bị thất nghiệp, người lao động nên đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp học nghề; đăng ký nhận chế độ hỗ trợ từ gói an sinh của Chính phủ.

Trong thời gian qua, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố phối hợp các cơ quan liên quan tăng cường công tác truyền thông để người lao động và nhân dân thấy rõ hơn về ý nghĩa, vai trò, lợi ích của chính sách bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong việc ổn định đời sống người dân,nhất là trong giai đoạn dịch bệnh phức tạp và khó khăn này; khuyến cáo người lao động không thực hiện mua bán sổ bảo hiểm xã hội, ký hợp đồng ủy quyền giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần, hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người khác nếu không có lý do chính đáng…

Mặt khác, để quản lý chặt chẽ việc quản lý sổ bảo hiểm xã hội khi giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi cho người lao động, ngăn chặn tình trạng thu gom, mua bán sổ bảo hiểm xã hội của người lao động, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đề nghị Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thống nhất cho phép cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp tạm thời không nhận hồ sơ của người lao động ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ và nhận hộ tiền hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần trừ trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn lao động không thể đến cơ quan bảo hiểm xã hội (có Giấy xác nhận của cơ sở y tế về tình trạng sức khỏe của người ủy quyền). Đây là biện pháp để tránh tình trạng lạm dụng và thu gom, mua bán sổ bảo hiểm xã hội như thời gian vừa qua./.

Bảo hiểm thất nghiệp: “Phao cứu sinh” của người lao động

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2009. Sau hơn 11 năm thực hiện, đến nay, cả nước có trên 13 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 27,4% lực lượng lao động trong độ tuổi. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã thực hiện tốt vai trò là điểm tựa cho người thất nghiệp với trên 5,2 triệu lượt người được hưởng trợ cấp thất nghiệp, trong đó 97% người hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; số người được hỗ trợ học nghề có xu hướng tăng năm sau cao hơn năm trước, đã có trên 230.000 người được hỗ trợ học nghề.

Theo báo cáo của Cục Việc làm (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), trong ba tháng đầu năm 2020, tổng số tiền chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là hơn 2.700 tỷ đồng, đây được xem “phao cứu sinh” giúp người lao động bị mất việc làm bảo đảm một phần cuộc sống, vượt qua những khó khăn do đại dịch COVID-19 gây ra.

Chỉ riêng tháng 3/2020 (tháng cao điểm do ảnh hưởng của đại dịch), cả nước đã có 59.276 người hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 31% so cùng kỳ năm 2019, đưa tổng số người hưởng trợ cấp thất nghiệp quý 1 lên 132.320 người, tăng 10% so quý 1/2019.



Người lao động làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trong ba tháng đầu năm 2020, tổng số tiền chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là hơn 2.700 tỷ đồng, đây được xem “phao cứu sinh” giúp người lao động bị mất việc làm bảo đảm một phần cuộc sống, vượt qua những khó khăn do đại dịch COVID-19 gây ra.

Tổng chi ba tháng đầu năm từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp cho các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là 2.744 tỷ đồng, trong đó chi riêng cho trợ cấp thất nghiệp là 2.590 tỷ đồng, với mức hưởng trợ cấp thất nghiệp bình quân là 3,7 triệu đồng/người một tháng…

Báo cáo của Bảo hiểm xã hội Nam cũng cho thấy, chỉ trong quý 1 năm nay, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đã giảm 149.000 người so thời điểm cuối năm 2019; tổng số lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp hiện đạt gần 13,3 triệu người. Và tính đến cuối tháng 4, cả nước đã có hơn 380.000 người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm.

Trong đó, số người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp lên tới gần 200.000 người; số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 181.382 và hơn 6.500 người thất nghiệp có quyết định hỗ trợ học nghề.

Kết quả Điều tra lao động việc làm quý 1/2020 của Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta tăng lên; tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở mức cao nhất trong vòng năm năm gần đây… Tình trạng gia tăng số người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp chính là là do ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch COVID-19 tới thị trường lao động trong nước.

Chính trong thời điểm này, bảo hiểm thất nghiệp đã thực sự giúp người lao động bảo đảm, duy trì cuộc sống; giúp người sử dụng lao động không bị áp lực về tài chính vì không phải chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc cho người lao động và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước vì không phải cấp một khoản kinh phí cũng như thời gian để xây dựng chính sách, trình tự, thủ tục để tổ chức thực hiện hỗ trợ cho đối tượng này.

Phát huy chức năng quản trị thị trường lao động

Theo Cục Việc làm, trong thời gian tới, để phát huy vai trò tích cực hơn của chính sách bảo hiểm thất nghiệp, cần có giải pháp sử dụng hiệu quả Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.

Bên cạnh việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động, đào tạo cần phải tăng chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ thu thập thông tin thị trường lao động, khai thác vị trí việc làm trống để đẩy mạnh việc nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề cho người lao động.

Về lâu dài, cần hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng mở rộng diện bao phủ tham gia, nhất là với lao động trong khu vực phi chính thức. Cùng với đó, bổ sung các biện pháp hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trong suốt quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp.


Về lâu dài, cần hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng mở rộng diện bao phủ tham gia, nhất là với lao động trong khu vực phi chính thức. Cùng với đó, bổ sung các biện pháp hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động trong suốt quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Ông Vũ Trọng Bình, Cục trưởng Việc làm cho biết, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cũng đang xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điểm của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp. Văn bản dự kiến sẽ được trình Chính phủ ban hành trong thời gian sắp tới.

“Nội dung chính của dự thảo nghị định này nhằm mở rộng các trường hợp bất khả kháng để được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động. Bổ sung trường hợp người lao động được nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề không phải nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp,” ông Bình nói.

Ngoài ra, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đang xây dựng đề án “Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.” Đề án hướng tới hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện, hỗ trợ đầy đủ các chế độ bảo hiểm thất nghiệp để chính sách bảo hiểm thất nghiệp thực sự trở thành công cụ quản trị thị trường lao động. Cùng với đó, chú trọng phát triển năng lực thực hiện bảo hiểm thất nghiệp; xây dựng hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm đồng bộ, hiện đại, phục vụ công tác bảo hiểm thất nghiệp, đáp ứng được sự phát triển của thị trường lao động.

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ để dành cho người lao động khi thất nghiệp mà còn để đào tạo, đào tạo lại cho người lao động trở lại thị trường lao động, phòng ngừa thất nghiệp, giúp người lao động luôn.


Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ để dành cho người lao động khi thất nghiệp mà còn để đào tạo, đào tạo lại cho người lao động trở lại thị trường lao động, phòng ngừa thất nghiệp, giúp người lao động luôn có việc làm.
 

“Chúng ta phải dùng giải pháp trợ cấp thất nghiệp và cố gắng đào tạo lại lực lượng lao động thì mới có nguồn nhân lực để phát triển kinh tế-xã hội cho đất nước, cũng như tránh tình trạng người lao động rơi vào tình cảnh không có việc làm, gặp khó khăn,” ông Bùi Sỹ Lợi nói.

Trong bối cảnh hiện nay, đối với các doanh nghiệp hiện đang phải tạm dừng sản xuất do thiếu nguyên liệu, do không xuất khẩu được hàng hóa thì có thể tranh thủ thời gian này tổ chức đào tạo, đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho người lao động.

“Có thể dùng một phần Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đào tạo lại lao động. Với khoảng 70.000 tỷ đồng kết dư của Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp hiện nay, theo tôi, có thể vận dụng để góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động,” ông Bùi Sỹ Lợi nói./.

Kích cầu du lịch nội địa

Vừa qua, ngành Du lịch Việt Nam đã phát động Chương trình “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” cũng như triển khai Chương trình kích cầu du lịch nội địa… hướng đến mục tiêu tạo điều kiện để người dân du lịch tới những vùng miền trong cả nước trong bối cảnh bình thường mới sau dịch COVID-19.

Chương trình kích cầu du lịch nội địa là giải pháp hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay; thể hiện tính chủ động, kịp thời khôi phục du lịch, hướng đến kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch tại một điểm đến an toàn và hạn chế di chuyển.

Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường quốc tế chưa có “lối mở” thì thị trường nội địa là “cứu cánh” và Chương trình kích cầu du lịch nội địa là hết sức cần thiết đối với ngành du lịch Việt Nam.

Hưởng ứng chương trình, nhiều tỉnh, thành khu vực phía Nam, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang đẩy mạnh kết nối và hình thành những liên minh phát triển du lịch vùng trên cơ sở khai thác văn hóa bản địa.

Đặc biệt, doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành đã chủ động triển khai đa dạng sản phẩm, tour mới để hút khách du lịch.

Phóng viên TTXVN đã thực hiện 3 bài viết về chủ đề này đề cập đến giải pháp phát triển du lịch của mỗi địa phương và từng bước xây dựng thương hiệu du lịch vùng, hướng đến sự bền vững và phát triển./.

Tạo sức hút cho du lịch nội địa

Thời gian qua, không chỉ riêng ngành du lịch mà một số chính quyền địa phương tại khu vực phía Nam đã và đang chủ động tăng cường hoạt động quảng bá du lịch, điểm đến an toàn để thu hút khách du lịch phục vụ chiến lược kích cầu du lịch nội địa.

về Chương trình kích cầu du lịch một cách tổng thể như giảm giá, tăng thêm những dịch vụ, sản phẩm như thế nào để phát huy được tiềm năng du lịch địa phương.

Dự báo của Tổng cục Du lịch Việt Nam cho thấy, từ nay đến cuối năm 2020, khách du lịch nội địa sẽ chiếm tới 95% tổng lượng khách trong năm 2020.

Đồng thời, sở, ngành các tỉnh, thành này cũng đã làm việc với doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành, khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, cơ sở kinh doanh dịch vụ

Kích cầu du lịch nội địa

Chương trình kích cầu du lịch nội địa được Hiệp hội Du lịch Việt Nam (VITA) với Hiệp hội Du lịch các địa phương trên cả nước thống nhất triển khai trên phạm vi toàn quốc.

Đến với Hội An, du khách được tham quan miễn phí tất cả điểm du lịch trên địa bàn. (Nguồn: TTXVN)
Đến với Hội An, du khách được tham quan miễn phí tất cả điểm du lịch trên địa bàn. (Nguồn: TTXVN)

Chương trình nhằm nhanh chóng khôi phục hoạt động du lịch nội địa trên toàn quốc, cũng như chuẩn bị sẵn sàng cho hoạt động du lịch quốc tế khi Chính phủ cho phép.

Cụ thể, Chương trình kích cầu du lịch nội địa tập trung kêu gọi doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành và những đơn vị hoạt động trong ngành du lịch xây dựng đa dạng sản phẩm kích cầu mới, với các gói dịch vụ phong phú có giá ưu đãi để phục vụ và tạo sức hút du khách.

Trong đó, giá tour của chương trình sẽ có hai phương án song song, gồm giá rẻ hơn tour du lịch thông thường từ 20-30% nhưng chất lượng dịch vụ không giảm; hoặc giữ nguyên giá nhưng tăng dịch vụ cao cấp cho khách du lịch.

Theo ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch VITA, Chương trình kích cầu du lịch nội địa là giải pháp hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay; thể hiện tính chủ động, kịp thời khôi phục du lịch, hướng đến kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch tại một điểm đến an toàn và hạn chế di chuyển. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường quốc tế chưa có “lối mở” thì thị trường nội địa là “cứu cánh” và Chương trình kích cầu du lịch nội địa là hết sức cần thiết đối với ngành Du lịch Việt Nam.

Dự báo của Tổng cục Du lịch Việt Nam cho thấy, từ nay đến cuối năm 2020, khách du lịch nội địa sẽ chiếm tới 95% tổng lượng khách trong năm 2020.

 Hoạt động đặc sắc mở đầu Tuần du lịch Ninh Bình với chủ đề “Sắc vàng Tam Cốc-Tràng An” năm 2020. (Nguồn: TTXVN)
 Hoạt động đặc sắc mở đầu Tuần du lịch Ninh Bình với chủ đề “Sắc vàng Tam Cốc-Tràng An” năm 2020. (Nguồn: TTXVN)

Do đó, ngành du lịch cần kích cầu du lịch nội địa bù đắp cho việc sụt giảm nghiêm trọng số lượng khách quốc tế, giảm bớt thiệt hại cho doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành; tạo việc làm cho người lao động trong các ngành du lịch, khách sạn, hàng không…

Ở góc độ doanh nghiệp du lịch, ông Nguyễn Quốc Kỳ, Tổng giám đốc Công ty Vietravel cho rằng, để thu hút khách du lịch nội địa, nên giảm hoặc miễn phí chi phí tại điểm tham quan, bảo tàng, khu di tích lịch sử…

Đơn cử, tại Thành phố Hồ Chí Minh nếu thực hiện hoạt động giảm hoặc miễn này, không chỉ thu hút chính hơn 10 triệu dân của Thành phố Hồ Chí Minh đi du lịch nội địa mà Thành phố sẽ có thêm được lượng khách du lịch từ các tỉnh, thành lân cận.

Thêm một thực tế nữa, hiện nay có nhiều nhà hàng phục vụ ăn uống, điểm tham quan, vui chơi giải trí… chưa có kết nối, phối hợp thông tin và kế hoạch hợp tác cùng triển khai những sản phẩm kích cầu du lịch để đạt hiệu quả hơn.

Một số tỉnh, thành đang có thực trạng chỉ kích cầu du lịch trong phạm vi địa phương nên doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành rất lúng túng khi lên kế hoạch tour cho du khách đi đâu và đi như thế nào.

Chính vì vậy, mỗi địa phương cần có kế hoạch để thông tin kịp thời cho doanh nghiệp để phát triển sản phẩm tour nội địa. Cùng với đó, các tỉnh, thành nên sớm có bản đồ những điểm lưu trú, tham quan an toàn để khách nắm bắt được và lựa chọn nơi du lịch phù hợp.

Khai thác “vùng trũng” du lịch phía Nam

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là “vùng trũng” tiềm năng về du lịch của cả nước, dù còn nhiều dư địa về phát triển du lịch nhưng chưa phát triển như mong muốn.

Chương trình kích cầu du lịch nội địa sẽ tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, giúp nơi đây trở thành trung tâm du lịch của khu vực phía Nam và cả nước.

Doanh nghiệp du lịch Bình Định cam kết giảm 10-50% giá dịch vụ cung ứng và giá vé tại các khu du lịch. (Nguồn: TTXVN)
Doanh nghiệp du lịch Bình Định cam kết giảm 10-50% giá dịch vụ cung ứng và giá vé tại các khu du lịch. (Nguồn: TTXVN)

Tiếp đó, Chương trình kích cầu du lịch nội địa sẽ mang lại cơ hội lần lượt khu vực Đông Nam Bộ mà trung tâm là Thành phố Hồ Chí Minh, vùng Nam Trung Bộ và Tây nguyên, Bắc và Trung Trung Bộ, khu vực Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh ven biển phía Bắc.

Theo bà Nguyễn Thị Khánh, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh về du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử… nên công tác quảng bá xúc tiến điểm đến với du khách trong nước cần được chú trọng hơn.

Ngoài ra, muốn chương trình kích cầu phát huy hiệu quả, ngành du lịch địa phương cần có những chính sách ưu đãi phù hợp, cam kết thỏa thuận hợp tác để hỗ trợ doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành đưa du khách về với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

“Đặc biệt, các tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần chú trọng phát triển đa dạng mô hình du lịch nông nghiệp, bản địa, trải nghiệm, sinh thái … tạo điều kiện cho du khách khám phá những nét đặc sắc về vùng, miền và từ đó kéo khách ở lại dài ngày hơn.

Song song với nỗ lực của địa phương, doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành, người làm du lịch ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng nên chủ động tìm giải pháp hướng đến nâng cao giá trị riêng như bà con làm du lịch cộng đồng ở đây phải chủ động nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và dịch vụ, sửa sang nhà cửa, vườn tược, tạo thêm nhiều dịch vụ, sản phẩm hấp dẫn và đặc thù địa phương,” bà Nguyễn Thị Khánh phân tích thêm.

Chương trình kích cầu du lịch nội địa, đối với khu vực phía Nam sẽ kết nối du lịch cả nước với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long; vùng Đông Nam Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai…), nhằm thúc đẩy du lịch mang tính liên vùng.

Trong số đó, hoạt động kích cầu của khu vực này, còn tập trung phát triển sản phẩm từ du lịch, ẩm thực…với sự tham gia của tất cả địa phương trên cơ sở liên kết, hợp tác.

Theo ông Ngô Quang Tuyên, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp, tỉnh này đang tập trung nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất; đầu tư những khu du lịch hấp dẫn và khang trang hơn; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng…

Mặt khác, ngành du lịch của tỉnh cũng đã và đang khởi động đa dạng chương trình kích cầu du lịch bằng nhiều mô hình, dịch vụ mới… nhằm thu hút du khách trong thời gian tới.

Còn ông Trần Yên Vinh, Giám đốc Giám đốc khách sạn Mường Thanh Luxury Cần Thơ cho rằng, khách sạn đang triển khai các chương trình với gói sản phẩm khuyến mãi để cùng với Hiệp hội Du lịch Việt Nam triển khai chương trình kích cầu du lịch nội địa.

Theo đó, khách sạn giảm 10% giá phòng và giá thuê địa điểm tổ chức Hội nghị sẽ giảm đến hết ngày 30/9/2020. Ngoài ra, khách sạn sẽ tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo trì, bảo dưỡng trang thiết bị và đào tạo nhân viên, đảm bảo nâng cao tay nghề phục vụ khách tốt nhất./.

Biểu diễn văn nghệ tại Làng du lịch sinh thái cộng đồng Bha Lêê-Tà Lang (Đà Nẵng) phục vụ các du khách. (Nguồn: TTXVN)
Biểu diễn văn nghệ tại Làng du lịch sinh thái cộng đồng Bha Lêê-Tà Lang (Đà Nẵng) phục vụ các du khách. (Nguồn: TTXVN)

Xây dựng các tuyến du lịch liên kết vùng miền

Theo kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020, các địa phương sẽ thúc đẩy kết nối giao thông, thương mại, văn hóa, nhất là du lịch của cả khu vực phía Nam.

Theo đó, các địa phương sẽ dựa trên tiềm năng, tài nguyên du lịch và điều kiện liên quan để phát triển du lịch của mỗi địa phương và từng bước xây dựng thương hiệu du lịch vùng, hướng đến sự bền vững và phát triển.

Cơ chế điều hành liên kết

Để thực hiện kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020, Hội đồng liên kết hợp tác phát triển du lịch vùng Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long đã được thành lập.

Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2020 đã liên kết hợp tác dựa trên tiềm năng, tài nguyên để phát triển du lịch ở mỗi địa phương và từng bước xây dựng thương hiệu du lịch vùng, hướng đến sự bền vững và phát triển.

Đây là đơn vị nền tảng cơ sở cho việc tổ chức những hoạt động hình thức du lịch tìm hiểu, làm quen, tiếp thị (Famtrip) giới thiệu Chương trình du lịch liên kết đặc trưng giữa Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhiều sản phẩm phục vụ khách du lịch Check-in tại Quảng Nam đang được xây dựng để đón khách sau khi dịch COVID-19 được đẩy lùi. (Nguồn: TTXVN)
Nhiều sản phẩm phục vụ khách du lịch Check-in tại Quảng Nam đang được xây dựng để đón khách sau khi dịch COVID-19 được đẩy lùi. (Nguồn: TTXVN)

Cụ thể, mỗi tỉnh, thành sẽ có ít nhất một đoàn Famtrip đến khảo sát và xúc tiến thương mại du lịch. Còn doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành, dịch vụ du lịch, hiệp hội du lịch… phát huy vai trò then chốt trong xây dựng sản phẩm, chương trình du lịch liên kết hấp dẫn, độc đáo, khác biệt của mỗi địa phương và cả khu vực.

Ngoài ra, các bên liên quan cùng “bắt tay” thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư vào du lịch, tạo cơ hội hợp tác, liên kết phát triển của doanh nghiệp 14 địa phương.

Ông Bùi Tá Hoàng Vũ, Giám đốc Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, 14 tỉnh, thành, sẽ tổ chức khảo sát điểm đến, sản phẩm và dịch vụ trên tuyến, đề xuất danh sách một số di tích văn hóa lịch sử đã được công nhận đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hỗ trợ chuẩn hóa, nâng cấp để kết hợp phát triển du lịch.

Song song đó, Hội đồng liên kết hợp tác phát triển du lịch vùng Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long sẽ trao đổi với doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phác thảo Chương trình tour, tuyến du lịch dự kiến kết nối 14 tỉnh, thành, cũng như thống nhất cụm địa phương liên quan theo từng tuyến như tuyến du lịch “Những nẻo đường phù sa,” “Non sông hữu tình.”

Còn theo ông Đoàn Tấn Bửu, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực trọng điểm sản xuất lương thực, hoa quả, thủy sản của cả nước.

Đồng thời, khu vực này cũng là một trong 7 trung tâm du lịch với tài nguyên đặc thù cảnh quan thiên nhiên sông nước miệt vườn, đất ngập nước, du lịch biển và lễ hội.

Cần Thơ tổ chức Hội nghị kích cầu du lịch và giới thiệu sản phẩm du lịch sinh thái tại Cồn Sơn. (Nguồn: TTXVN)
Cần Thơ tổ chức Hội nghị kích cầu du lịch và giới thiệu sản phẩm du lịch sinh thái tại Cồn Sơn. (Nguồn: TTXVN)

Còn Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm thu hút khách du lịch của cả nước mà còn là trung tâm trung chuyển, đưa khách du lịch đến Đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì vậy, vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc liên kết phát triển du lịch của khu vực là rất quan trọng.

“Việc liên kết giữa 13 tỉnh, thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh để cùng phát triển bền vững là tất yếu, bởi trong những năm qua việc liên kết đã hình thành nhưng chưa đi vào chiều sâu do đó hiệu quả không cao.

Về phía tỉnh Đồng Tháp sẽ phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh cùng triển khai kế hoạch hành động thực hiện các mục tiêu của Chương trình hợp tác, phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành” – ông Đoàn Tấn Bửu nhấn mạnh.

Quảng bá, xúc tiến đầu tư

Đại diện nhiều địa phương tại khu vực phía Nam cho rằng, kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020 cần tập trung quảng bá, xúc tiến du lịch đến các thị trường trọng điểm, thị trường tiềm năng, giữ ổn định thị trường truyền thống.

Cùng với đó, các địa phương phối hợp tổ chức sự kiện chung để tăng cường liên kết, quảng bá xúc tiến sản phẩm mới, tour tuyến liên vùng.

Vườn cây Chà là ở Làng hoa kiểng Sa Đéc thu hút khách đến tham quan. (Ảnh: Nguyễn Văn Trí/TTXVN)
Vườn cây Chà là ở Làng hoa kiểng Sa Đéc thu hút khách đến tham quan. (Ảnh: Nguyễn Văn Trí/TTXVN)

Mặt khác, các địa phương nên chủ động lựa chọn, giới thiệu doanh nghiệp, nhà đầu tư tiềm năng và dự án trọng điểm về phát triển du lịch nhiều tỉnh, thành liên kết hợp tác phát triển du lịch cùng tham gia giới thiệu, xúc tiến đầu tư.

Từ đó, Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long phát huy vai trò phối hợp tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận thông tin, chính sách, quy trình thủ tục hành chính…trong đầu tư phát triển du lịch.

Thêm một vấn đề nữa, hướng đến triển khai thành công những mục tiêu của Chương trình liên kết phát triển du lịch giữa Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long, thì vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh rất quan trọng, cũng như là điểm kết nối khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước.

Với số lượng doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành đứng đầu về cả số lượng và chất lượng, các tỉnh, thành khu vực phía Nam có lợi thế phát triển những chương trình du lịch hướng đến việc xây dựng thương hiệu du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long có sức hấp dẫn cao và phát triển bền vững.

Cụ thể, đại diện Công ty du lịch Vietravel cho biết đồng bằng sông Cửu Long cần phát huy lợi thế có nhiều di sản văn hóa, ẩm thực để xây dựng sản phẩm du lịch riêng của từng tỉnh, sau đó tìm ra điểm chung để xây dựng loại hình du lịch chung, thương hiệu chung cho toàn vùng.

Trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển như hiện nay, xu hướng tiếp cận thông tin du lịch thông qua kênh online ngày càng phổ biến, du lịch Đồng bằng sông Cửu Long cần xây dựng và triển khai cổng thông tin chung của du lịch toàn vùng, thông qua website, ứng dụng di động, cập nhật thông tin du lịch, xúc tiến du lịch đến với du khách trong và ngoài nước.

Liên quan đến kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020, ông Trần Vĩnh Tuyến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, liên kết phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long đã thực hiện nhiều năm qua, song chưa có những giải pháp cụ thể, hành động đồng bộ, dẫn đến những kết quả đạt được còn rất hạn chế.

Do đó, các tỉnh, thành cần những giải pháp thiết thực khai thác được tiềm năng, lợi thế của một vùng giàu văn hóa, tài nguyên du lịch, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển bền vững của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo ông Trần Vĩnh Tuyến, trong năm 2020 các địa phương phải phối hợp hoàn thành mục tiêu xây dựng cho rõ thương hiệu du lịch vùng thông qua những chương trình hành động cụ thể như tổ chức hội nghị về hiệu quả liên kết vùng và xây dựng thương hiệu du lịch vùng; xây dựng phim quảng bá về thương hiệu du lịch vùng và ứng dụng công nghệ thông tin để hình thành cộng đồng trực tuyến của thương hiệu du lịch vùng.

Riêng với mỗi địa phương, muốn kêu gọi đầu tư đạt hiệu quả cụ thể thì nên rà soát và lựa chọn 1 hoặc 2 dự án tiêu biểu gắn với phát triển lợi thế cạnh tranh của địa phương, ưu tiên thu hút đầu tư trong giai đoạn 2020-2022.

Trong đó, các địa phương chú trọng tổ chức cho nhà đầu tư khảo sát dự án tiêu biểu mà 13 tỉnh, thành mong muốn được đầu tư để đánh giá hiện trạng và khả năng thu hút mời gọi đầu tư.

Ngoài ra, Trung tâm xúc tiến du lịch của các tỉnh, thành phải tăng cường mối liên kết, hợp tác trong việc phối hợp với Hiệp hội Du lịch, doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành cung cấp hình ảnh, sản phẩm du lịch đặc sắc, thông tin điểm đến cho du khách./.

 Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức Chương trình Kích cầu du lịch Đồng bằng sông Cửu Long sau dịch COVID-19 tại Cần Thơ. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)
 Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức Chương trình Kích cầu du lịch Đồng bằng sông Cửu Long sau dịch COVID-19 tại Cần Thơ. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)

Định vị thương hiệu, chất lượng du lịch vùng

Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá có thế mạnh phát triển du lịch sông nước, sinh thái, nông thôn, homestay… hoặc du lịch cộng đồng gắn kết với lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và du lịch biển đảo.

Tuy nhiên, để phát triển kinh tế du lịch mang tính liên vùng, các chuyên gia cho rằng, cần xây dựng thương hiệu chung, quảng bá và thu hút du khách tới vùng trước, sau đó mới đến từng địa phương.

Xây dựng tuyến, tour đặc thù

Khảo sát trên địa bàn Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, khu vực này từng bước đã xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù, đầu tư nâng cao giá trị danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa-lịch sử, lễ hội truyền thống, loại hình nghệ thuật… đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của du khách trong và ngoài nuớc.

Để phát triển kinh tế du lịch mang tính liên vùng ở Đồng bằng sông Cửu Long, các chuyên gia cho rằng, cần xây dựng thương hiệu chung, quảng bá và thu hút du khách tới vùng trước, sau đó mới đến từng địa phương.

Sự phát triển của du lịch Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang mang lại sự lựa chọn thú vị cho du khách, góp phần quan trọng trong tiến trình phát triển du lịch Việt Nam. Vì vậy, không ít doanh nghiệp, công ty lữ hành xác định Đồng bằng sông Cửu Long là thị trường trọng điểm và còn nhiều dư địa để khai thác du lịch.

Làng hoa Bà Bộ - Một trong những điểm du lịch tiêu biểu của Cần Thơ. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)
Làng hoa Bà Bộ – Một trong những điểm du lịch tiêu biểu của Cần Thơ. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)

Dẫn chứng cụ thể, ông Võ Anh Tài, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty du lịch Sài Gòn (Saigontourist) cho biết, thống kê bình quân hàng năm, Saigontourist đóng góp cho du lịch Đồng bằng sông Cửu Long hàng trăm ngàn lượt khách, doanh thu trực tiếp trên 500 tỷ đồng.

Tuy nhiên, sự tương đồng trong sản phẩm du lịch của từng địa phương tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn tồn tại là do vị trí địa lý gần nhau, những thuận lợi về tự nhiên tương đồng trong xây dựng sản phẩm du lịch và lữ hành. Để thay đổi điều này, một số chuyên gia cho rằng, các tỉnh, thành cần tìm ra đâu là nét riêng biệt nhất, phát triển sản phẩm lõi dựa trên lợi thế khác biệt đó.

Ngoài ra, muốn phát huy tối đa tiềm năng du lịch, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phải phát triển thêm sản phẩm du lịch nông nghiệp, tham quan những mô hình sản xuất nông nghiệp, hệ thống nhà nghỉ, resort trên sông…

Đặc biệt, sản phẩm du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí về đêm tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện gần như không có, nên các địa phương chủ động nghiên cứu xây dựng sản phẩm dịch vụ du lịch về đêm, đa dạng mô hình du lịch, khai thác chi tiêu du khách, giữ du khách ở lại lâu hơn.

Ghi nhận ý kiến, nhiều du khách, nhất là khách quốc tế khi đến Thành phố Hồ Chí Minh đều muốn đi tiếp hành trình khám phá vùng đất “chín Rồng,” nhưng do sản phẩm trùng lắp, đơn điệu, chất lượng dịch vụ du lịch… trong vùng chưa đủ sức hấp dẫn để níu chân du khách. Điều này cho thấy vấn đề cấp thiết là các tỉnh, thành cần xây dựng đầu mối với Thành phố Hồ Chí Minh làm điểm tiếp nhận và phân phối trung chuyển khách đến khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Một số doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành cũng đề xuất quy hoạch lại du lịch Đồng bằng sông Cửu Long theo đường Bắc-Nam, thay vì phân chia theo cụm phía Đông và cụm phía Tây như hiện tại.

Việc phân chia cụm du lịch theo hướng Bắc-Nam sẽ tạo cơ hội để các tỉnh phía Bắc, phía Nam và ở trung tâm phát triển được các thế mạnh riêng về văn hóa khi giảm số lượng các tỉnh ở mỗi vùng.

Đồng thời, ngành Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long sớm có giải pháp tổ chức vận chuyển hành khách cũng thuận tiện hơn dựa vào lợi thế kết nối hàng ngang thông qua hệ thống nội thủy, giảm áp lực lên hệ thống đường bộ.

Các địa phương cần đánh giá hiệu quả quy hoạch, phát triển kết nối địa phương trên những trục tuyến sản phẩm du lịch phụ thuộc phần lớn vào cơ sở hạ tầng giao thông.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Liên quan đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ngành Du lịch, ông Trần Vĩnh Tuyến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, theo kế hoạch liên kết hợp tác phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020, vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng sẽ được triển khai tập trung nâng cao trình độ quản lý các cơ sở du lịch thông qua hợp tác đào tạo trong và ngoài nước.

Du lịch cộng đồng Cồn Sơn - Một trong những điểm du lịch tiêu biểu của Cần Thơ. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)
Du lịch cộng đồng Cồn Sơn – Một trong những điểm du lịch tiêu biểu của Cần Thơ. (Ảnh: Ánh Tuyết/TTXVN)

Điển hình, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ký hợp tác với các đối tác uy tín của Australia để đánh giá trình độ quản lý cho cơ sở du lịch, cơ sở ăn uống và lưu trú; xây dựng chương trình đào tạo nâng cao cho đội ngũ quản lý tại cơ sở này theo chuẩn quốc tế.

Từ giai đoạn năm 2021-2022, các cơ sở đào tạo du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phối hợp với 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức đánh giá trình độ quản lý của cơ sở du lịch, cơ sở ăn uống và lưu trú địa phương.

Tiếp theo đó, các tỉnh, thành phối hợp tổ chức khoá đào tạo nâng cao năng lực nhà quản lý doanh nghiệp du lịch của 13 địa phương theo chuẩn quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Australia.

Về phía địa phương, đại diện tỉnh Bến Tre cho hay, ở lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, tỉnh đang phối hợp với Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức những lớp đào tạo bồi dưỡng dành cho cán bộ quản lý du lịch.

Ngành Du lịch Bến Tre ưu tiên phân bổ nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Bến Tre tham gia lớp đào tạo bồi dưỡng dành cho đối tượng hướng dẫn viên du lịch, quản lý khách sạn-nhà hàng và quản lý khu điểm du lịch của 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long.

Ngoài ra, để khai thác tối đa những lợi thế và nguồn lực phát triển, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Bến Tre không ngừng nỗ lực cải thiện môi trường du lịch, xây dựng dịch vụ du lịch thông minh, tăng cường liên kết phát triển sản phẩm du lịch theo hướng chuyên nghiệp hóa và tiếp cận chuỗi giá trị cung ứng dịch vụ du lịch…

Với việc xác định khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là thị trường lớn, tuyến điểm hấp dẫn, nhiều doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành đã tổ chức chuyên gia giỏi tư vấn kỹ thuật cùng ngành Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long nâng cấp sản phẩm du lịch hiện có, xây dựng mới sản phẩm du lịch đặc trưng, khác biệt phù hợp với từng phân khúc thị trường khách và theo xu hướng đi du lịch của thế giới.

Đặc biệt, doanh nghiệp du lịch, công ty lữ hành tạo điều kiện cho các địa phương cử nhân sự thực tập, nghiên cứu việc điều hành, quản lý, phục vụ tại những khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, công ty lữ hành, khu vui chơi giải trí…

Cụ thể, đối với đào tạo nguồn nhân lực, Trường Trung cấp Du lịch-Khách sạn Saigontourist đang đào tạo trên 10 chuyên ngành liên quan lĩnh vực quản lý điểm đến, nhà hàng, khách sạn, lữ hành, giải trí, tiếp thị du lịch… và là một trong những cơ sở đào tạo du lịch uy tín nhất khu vực phía Nam.

Nhiều tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên gửi học viên tham gia khóa đào tạo tại Trường hoặc mời các giảng viên của Trường tham gia khóa đào tạo tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhằm chủ động thúc đẩy phát triển du lịch, nâng cao tính chuyên nghiệp và tính cạnh tranh trong phát triển du lịch khu vực.

Để ngành Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long thu hút hàng triệu du khách, xây dựng thương hiệu, bảo tồn giá trị văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra quốc tế, các chuyên gia cũng cho rằng, cần kịp thời xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xác định là yếu tố sống còn của “ngành công nghiệp không khói” này.

Các địa phương cũng phải khắc phục những hạn chế như so với yêu cầu phát triển ngành, lực lượng lao động vừa yếu vừa thiếu ở các khâu then chốt, nhiều lĩnh lực có liên quan đến du lịch chưa xem trọng phát triển nhân lực, đáp ứng nhu cầu công việc./.

Du thuyền và ca nô phục vụ khách du lịch khi đến với Phú Quốc. (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)
Du thuyền và ca nô phục vụ khách du lịch khi đến với Phú Quốc. (Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN)

Xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc

“Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) – câu nói nổi tiếng của mục sư người Mỹ gốc Phi Martin Luther King trong bài diễn văn bất hủ tại Đài tưởng niệm Lincoln ngày 28/8/1963, được nhắc lại trong những ngày này ở nước Mỹ, khi cường quốc hàng đầu thế giới phải đương đầu với làn sóng biểu tình lan rộng tại nhiều bang trên khắp đất nước nhằm phản đối nạn phân biệt chủng tộc, cũng như tình trạng phân biệt đối xử của các nhân viên thực thi pháp luật da trắng đối với các công dân da màu.

Giấc mơ 57 năm trước của vị mục sư từng được trao giải Nobel Hòa bình về tương lai của nước Mỹ, nơi người da trắng và người da màu có thể chung sống hòa thuận, bình đẳng và công bằng, sang đến thập niên thứ ba của thế kỷ 21, vẫn còn dang dở, dù nước Mỹ đã có tổng thống da màu đầu tiên.

Giấc mơ 57 năm trước của mục sư Martin Luther King vẫn còn dang dở, dù nước Mỹ đã có tổng thống da màu đầu tiên

Vụ việc mới nhất liên quan tới cái chết của người đàn ông da màu George Floyd sau khi bị một cảnh sát da trắng ở thành phố Minneapolis, bang Minnesota ghì cổ bằng đầu gối trong hơn 8 phút, khiến người này không thở được, là mồi lửa châm ngòi cho “cơn thịnh nộ” của cộng đồng người Mỹ gốc Phi trên khắp nước Mỹ.

Sự giận dữ đã lan rộng trong các cộng đồng dân cư trên cả nước Mỹ sau khi đoạn video về những khoảnh khắc cuối cùng của ông Floyd lan truyền trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Video cảnh sát Minneapolis kẹp cổ người da màu khiến nạn nhân tử vong.

Cùng với đó, trong suốt 5 ngày qua, trên khắp các phương tiện truyền thông là hình ảnh các cuộc biểu tình biến thành bạo loạn không chỉ tại bang Minnesota mà lan ra nhiều nơi trên toàn nước Mỹ như New York, Los Angeles, Denver, Houston, California, Detroit, Milwaukee, Portland và Phoenix. Nhiều vụ đụng độ giữa lực lượng cảnh sát và người biểu tình nổ ra, các đối tượng quá khích thực hiện nhiều hành vi đập phá, cướp bóc… Chính quyền Mỹ phải điều 500 vệ binh quốc gia tới hai thành phố của bang Minnesota là Minneapolis và Saint Paul để hỗ trợ lực lượng chức năng, trong khi hàng loạt thành phố ban bố lệnh giới nghiêm để kiểm soát tình hình.

Không phải đến vụ việc ông George Floyd, nước Mỹ mới “đau đầu” về nạn phân biệt chủng tộc, bởi đâu một vấn đề nhức nhối đã tồn tại nhiều năm qua tại quốc gia này. Mỹ được biết tới là quốc gia đa sắc tộc và đa văn hóa, một xã hội phát triển hàng đầu thế giới và người Mỹ luôn tự hào với những giá trị của bình đẳng và dân chủ. Tuy nhiên, tình trạng phân biệt chủng tộc, đặc biệt là sự kỳ thị của những người Mỹ da trắng với cộng đồng người Mỹ gốc Phi, tình trạng phân biệt đối xử của các nhân viên thực thi pháp luật da trắng với công dân da màu, vẫn âm ỉ và hầu như năm nay cũng có những vụ việc bùng phát, dù chính quyền Mỹ đã làm rất nhiều việc để phá bỏ quan điểm về “chủ nghĩa da trắng thượng đẳng.”

Người biểu tình tuần hành tại Minneapolis, Minnesota (Mỹ) ngày 29/5/2020, bày tỏ phẫn nộ trước cái chết của người da màu George Floyd. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Người biểu tình tuần hành tại Minneapolis, Minnesota (Mỹ) ngày 29/5/2020, bày tỏ phẫn nộ trước cái chết của người da màu George Floyd. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Trong lịch sử nước Mỹ, nhiều vụ việc với mức độ nghiêm trọng đã xảy ra, thực sự gióng lên hồi chuông báo động rằng nạn phân biệt chủng tộc có xu hướng gia tăng ở Mỹ kể từ thập niên 1960. Điển hình như vụ đụng độ sắc tộc năm 1965 tại khu phố Watts, thành phố Los Angeles khiến 34 người thiệt mạng và gây thiệt hại hàng chục triệu USD, khi cảnh sát kiểm tra danh tính hai người đàn ông da màu trong một chiếc ôtô.

Một vụ việc khác xảy ra tại Newark, bang New Jersey năm 1967, khi hai sỹ quan cảnh sát da trắng bắt giữ và đánh đập một tài xế taxi da màu vì lỗi vi phạm giao thông nhỏ, đã khiến 26 người chết và 1.500 người bị thương.

Năm 1967, làn sóng bạo loạn liên quan tới phản đối phân biệt chủng tộc đã diễn ra ở Detroit, bang Michigan khiến 43 người chết và hơn 2.000 người bị thương, rồi lan rộng ra ở bang Illinois, Bắc Carolina, Tennessee và Maryland.

Ngoài ra còn có một loạt vụ đụng độ khác xuất phát từ sự bất bình đối với nạn kỳ thị chủng tộc xảy ra tại Miami, bang Florida năm 1980 khiến 18 người chết và hơn 300 người bị thương; ở Los Angeles năm 1992 với 59 người chết và 2.300 người bị thương; ở Cincinnati, bang Ohio vào năm 2001 ở Baltimore, bang Maryland năm 2015; làn sóng bạo động liên quan những người theo chủ nghĩa dân tộc thượng đẳng da trắng ở thành phố Charlottesville bang Virginia năm 2017.

Bất chấp những tiến bộ đạt được trong việc thúc đẩy bình đẳng chủng tộc, người da màu ở Mỹ vẫn là nạn nhân của tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử, tấn công, thậm chí sát hại, như vụ 9 người Mỹ gốc Phi ở Charleston, bang South Carolina bị một kẻ cực đoan da trắng giết chết ngày 26/6/2015.

Đặc biệt, hàng loạt vụ bạo lực của cảnh sát da trắng nhằm vào người da màu đã làm chao đảo nước Mỹ vài năm trở lại đây, từng dẫn đến làn sóng biểu tình lớn chống phân biệt chủng tộc trên quy mô toàn nước Mỹ. Vụ Michael Brown, 18 tuổi, ở Ferguson, bang Missouri bị cảnh sát da trắng bắn chết tháng 8/2014, hay Alton Sterling, 37 tuổi ở bang Louisiana, và Philando Castile, 32 tuổi ở bang Minnesota đều thiệt mạng trước mũi súng của cảnh sát vào tháng 7/2016.

Người biểu tình tuần hành trên quảng trường Foley, Hạ Manhattan, New York (Mỹ) ngày 29/5/2020, bày tỏ phẫn nộ trước cái chết của người da màu George Floyd. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người biểu tình tuần hành trên quảng trường Foley, Hạ Manhattan, New York (Mỹ) ngày 29/5/2020, bày tỏ phẫn nộ trước cái chết của người da màu George Floyd. (Ảnh: THX/TTXVN)

Các số liệu thống kê cho thấy từ trước đến nay, người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ bị cảnh sát da trắng bắn nhiều hơn so với các những nhóm chủng tộc khác và tỷ lệ này đang ngày càng gia tăng trong các năm gần đây.

Nguyên nhân sâu xa của các vụ bạo động sắc tộc kể trên không phải chỉ vì mất an ninh, tội phạm gia tăng, mà là hệ quả của một xã hội bị rạn nứt, thậm chí chia rẽ mà chưa một chính quyền nào ở Mỹ có thể giải quyết được tận gốc rễ.

Khi còn đương nhiệm, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama đã từng kêu gọi lực lượng thực thi pháp luật loại bỏ thành kiến về chủng tộc, đồng thời khẳng định đây không chỉ là vấn đề màu da hay nhập cư mà là vấn đề “người Mỹ nên cảm thấy xấu hổ” vì hết lần này đến lần khác các cảnh sát bắn vào người da màu. Ông Obama gọi những vụ việc trên là “một triệu chứng cho thấy sự bất bình đẳng đang tồn tại” trong hệ thống tư pháp Mỹ.

Trước làn sóng sôi sục trong cộng đồng về vụ việc ở Minnesota, nhà chức trách đã truy tố Derek Chauvin, viên cảnh sát đã ghì cổ ông Floyd, vì tội giết người cấp độ 3, vô tình gây ra cái chết cho người khác và tội ngộ sát do bất cẩn. Ba sỹ quan cảnh sát khác đang bị điều tra và có thể bị truy tố.

Trên Twitter, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết ông đã yêu cầu Cục Điều tra Liên bang (FBI) và Bộ Tư pháp điều tra về “cái chết rất đau buồn và bi thảm của George Floyd,” đồng thời khẳng định “Công lý sẽ được thực thi.”

Cái chết của người đàn ông da màu George Floyd một lần nữa làm lộ rõ một thực tế rằng vấn nạn phân biệt chủng tộc vẫn là “vết thương nhức nhối” trong lòng xã hội Mỹ

Ứng cử viên tổng thống đảng Dân chủ Joe Biden cũng đăng trên Twitter cho rằng sự việc là “vụ giết người khủng khiếp” và là “lời nhắc nhở bi thảm rằng đây không phải là sự cố riêng lẻ, mà là một phần của sự bất công ăn sâu vẫn tồn tại ở đất nước này.”

Thượng nghị sỹ tiểu bang Minnesota Amy Klobuchar đã gọi vụ bắt giữ cảnh sát Chauvin là “bước đầu tiên hướng tới công lý.” Tuy nhiên, việc xử lý một vụ việc đơn lẻ chưa hẳn đã giải quyết được triệt để vấn đề, khi mà một khảo sát mới đây cho thấy có tới 76% số người da màu được hỏi tin rằng hệ thống luật pháp Mỹ đang chống lại họ.

Cái chết của người đàn ông da màu George Floyd một lần nữa làm lộ rõ một thực tế rằng vấn nạn phân biệt chủng tộc vẫn là “vết thương nhức nhối” trong lòng xã hội Mỹ. Nước Mỹ sẽ còn chặng đường dài nỗ lực với những giải pháp mang tính gốc rễ để biến “giấc mơ” về xã hội công bằng, nơi con người được đánh giá không phải vì màu da, tài sản hay tôn giáo, sắc tộc…, mà được tôn trọng bởi nhân cách, phẩm giá và năng lực, như những gì mục sư Martin Luther King nói đến hơn nửa thế kỷ trước, trở thành hiện thực./.

Người biểu tình tuần hành trên quảng trường Foley, Hạ Manhattan, New York (Mỹ) ngày 29/5/2020, bày tỏ phẫn nộ trước cái chết của người da màu George Floyd. (Ảnh: THX/TTXVN)
Người biểu tình tuần hành trên quảng trường Foley, Hạ Manhattan, New York (Mỹ) ngày 29/5/2020, bày tỏ phẫn nộ trước cái chết của người da màu George Floyd. (Ảnh: THX/TTXVN)

Đóng cửa rừng tự nhiên

Sau Hội nghị “Các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020,” tổ chức tại tỉnh Đắk Lắk ngày 20/6/2016 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, ngày 22/7/2016, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo số 191/TB-VPCP về việc thực hiện nghiêm túc chủ trương đóng cửa khai thác gỗ rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ.

Sau 4 năm triển khai thực hiện, việc đóng cửa rừng tự nhiên đã mang lại kết quả tích cực, nhưng cũng còn nhiều tồn tại, vướng mắc cần tháo gỡ, đòi hỏi cần có những biện pháp căn cơ và quyết liệt, nhằm làm tốt hơn công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững trong những năm tới.

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng hiện có khoảng 2,55 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên khoảng 2,206 triệu ha, còn lại là rừng trồng; độ che phủ rừng bình quân là 46,19%.

Thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là lệnh “đóng cửa rừng” của Thủ tướng chính phủ, các tỉnh Tây Nguyên triển khai nhiều biện pháp để giữ rừng và đã có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, hiện nay tình trạng vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng vẫn là vấn đề “nóng” ở Tây Nguyên làm giảm cả về diện tích, trữ lượng rừng. Đặc biệt, thời gian gần đây, trên địa bàn Tây Nguyên liên tiếp xảy ra các vụ phá rừng hết sức nghiêm trọng.

TTXVN giới thiệu loạt 9 bài viết “Thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên: Cần giải pháp căn cơ và quyết liệt,” đề cập đến những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung từ khi Thủ tướng Chính phủ có chủ trương đóng cửa khai thác gỗ rừng tự nhiên; những áp lực, khó khăn, vướng mắc; đề xuất giải pháp từ các lực lượng chức năng, địa phương để làm tốt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ rừng hiện nay./.

Những chuyển biến tích cực

Văn Hào

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã nhanh chóng triển khai việc đóng cửa rừng tự nhiên tại 58 tỉnh, thành phố có rừng; ban hành 7 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Lâm nghiệp. Mặt khác phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức 7 hội nghị về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

Nếu như giai đoạn 2011-2015, bình quân mỗi năm cả nước phát hiện 27.265 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, diện tích rừng bị thiệt hại bình quân 2.648 ha/năm thì đến giai đoạn 2016-2018, số vụ vi phạm giảm 35%, diện tích rừng bị thiệt hại  giảm 29% so với bình quân 5 năm 2011-2015.

Các địa phương cũng đã ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động của Tỉnh ủy hoặc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; riêng 5 tỉnh Tây Nguyên đã xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 191. Nhờ đó tạo nên sự chuyển biến rõ rệt của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cộng đồng xã hội đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Rừng được phục hồi và phát triển

Từ năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hướng dẫn các địa phương không cấp chỉ tiêu, đóng cửa khai thác gỗ rừng tự nhiên trên toàn quốc, kể cả các đơn vị đã có chứng chỉ quản lý rừng bền vững quốc tế; không giải quyết khai thác tận dụng sau khai thác; dừng việc cấp chỉ tiêu khai thác gỗ gia dụng, chuyển sang cơ chế hỗ trợ khác và sử dụng vật liệu thay thế.

Lực lượng Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, tỉnh Bình Phước chủ động tuần tra phòng cháy trong mùa khô. (Ảnh: K GỬIH/TTXVN)
Lực lượng Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, tỉnh Bình Phước chủ động tuần tra phòng cháy trong mùa khô. (Ảnh: K GỬIH/TTXVN)

Nếu như giai đoạn 2011-2015, bình quân mỗi năm cả nước phát hiện 27.265 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, diện tích rừng bị thiệt hại bình quân 2.648 ha/năm thì đến giai đoạn 2016-2018, số vụ vi phạm giảm 35%, diện tích rừng bị thiệt hại bình quân 2.328 ha/năm, giảm 29% so với bình quân 5 năm 2011-2015.

Các vụ vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời, trong đó xử lý hình sự 363 vụ.

Giai đoạn 2016-2018 cả nước trồng được gần 628.000ha rừng, trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng trên 44.000ha, rừng sản xuất hơn 577.000ha.

Sản lượng khai thác rừng trồng tập trung đạt 54 triệu m3 gỗ (năm 2016 là 17,5 triệu m3, năm 2017 là 18 triệu m3, năm 2018 là 18,5 triệu m3). Năm 2019, tổng diện tích đất có rừng toàn quốc trên 14,6 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên gần 10,3 triệu ha, rừng trồng trên 4,3 triệu ha.

Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc trên 13,8 triệu ha, tỷ lệ che phủ đạt 41,89%, tăng 0,70% so với năm 2016.

Khu vực phía Bắc bao gồm 31 tỉnh (4 tỉnh vùng Tây Bắc, 13 tỉnh vùng Đông Bắc, 8 tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và 6 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ), với tổng diện tích có rừng 8.793.961ha, chiếm 60,68% diện tích rừng cả nước; tỷ lệ che phủ rừng bình quân các tỉnh năm 2018 là hơn 49,9%.

Tính đến tháng 11/2019, các tỉnh phía Bắc phát hiện 5.912 vụ vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp, giảm 662 vụ (tương đương 10%) so với cùng kỳ năm 2018.

Tổng Cục trưởng Tổng Cục Lâm Nghiệp (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Quốc Trị báo cáo về tại hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tháng 12/2019. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Tổng Cục trưởng Tổng Cục Lâm Nghiệp (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Quốc Trị báo cáo về tại hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tháng 12/2019. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Theo kết quả công bố hiện trạng rừng năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích có rừng ở Tây Nguyên là hơn 2,5 triệu ha.

Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương nơi đây đã xác định điểm nóng phá rừng cần tập trung triển khai xử lý, mặt khác kiểm tra giám sát chặt chẽ các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật, nên bước đầu diện tích rừng Tây Nguyên đã tăng trở lại, chấm dứt tình trạng suy giảm diện tích rừng của khu vực này trong suốt 45 năm qua, kể từ năm 1975.

Tác động tích cực của các chính sách

Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị khẳng định trong quá trình thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, lực lượng Kiểm lâm đã có những thay đổi căn bản để phù hợp với thực tế.

Đó là từ việc quản lý rừng tận gốc chuyển mạnh sang chú trọng hơn nữa nhiệm vụ hướng dẫn cho người dân phát triển rừng và làm công tác khuyến lâm hiệu quả.

Cùng với việc hướng dẫn không cấp chỉ tiêu khai thác chính gỗ rừng tự nhiên trên toàn quốc, năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Bộ Tài chính hỗ trợ kinh phí hơn 332 tỷ đồng cho các địa phương, chủ rừng bù đắp lợi nhuận từ không khai thác gỗ rừng tự nhiên, để họ có kinh phí đầu tư quản lý, bảo vệ rừng.

Kiểm lâm, các công ty lâm nghiệp địa phương kết hợp với các cuộc họp làng để tuyên truyền việc trồng rừng trên đất lâm nghiệp. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)
Kiểm lâm, các công ty lâm nghiệp địa phương kết hợp với các cuộc họp làng để tuyên truyền việc trồng rừng trên đất lâm nghiệp. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Đặc biệt, Nghị định 156/2018 của Chính phủ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019 quy định rõ những chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời bãi bỏ 44 thủ tục hành chính. So với các quy định hiện hành, Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp đã cụ thể hóa các tiêu chí xác định rừng tự nhiên, rừng trồng theo 3 tiêu chí về độ tàn che, diện tích liền vùng và chiều cao của cây rừng ứng với từng điều kiện lập địa; tiêu chí cụ thể của từng loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất.

Trên cơ sở kế thừa những quy định còn phù hợp của các văn bản hiện hành về thành lập các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; bảo vệ rừng; khai thác rừng, Nghị định quy định mới một số nội dung như quy định rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.

Quy định cụ thể một số loại dịch vụ môi trường rừng mới như cơ sở sản xuất thủy điện; cơ sở sản xuất công nghiệp; cơ sở nuôi trồng thủy sản; hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn. Trong đó đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thí điểm đến hết năm 2020, tổng kết, trình Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả, quản lý, sử dụng tiền chi trả dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, những năm qua việc triển khai có hiệu quả Quỹ gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại những tín hiệu tích cực, được các cấp chính quyền, địa phương quan tâm và đánh giá cao.

Riêng năm 2018, có 2 nguồn thu dịch vụ môi trường rừng mới đối với cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước, doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản có sử dụng môi trường rừng đã chính thức được quy định tại Nghị định 156/2018, góp phần gia tăng nguồn thu dịch vụ môi trường rừng.

Tiêu biểu như Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An, Quảng Nam, Hà Tĩnh đã chủ động ký được 28 hợp đồng ủy thác với các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Bên cạnh đó, Quỹ Trung ương cũng đang phối hợp với Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam và Dự án Trường Sơn xanh triển khai nghiên cứu thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng tại các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Ninh (do dự án VFD hỗ trợ nghiên cứu); Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế (do dự án Trường Sơn xanh hỗ trợ nghiên cứu).

Nhờ đó, năm 2018 thu tiền dịch vụ môi trường rừng trên cả nước đạt 2.937,9 tỷ đồng, tăng 71% so với năm 2017. Hiện diện tích rừng được trả tiền dịch vụ lên tới 5,2 triệu ha rừng trên tổng 6,3 triệu ha được thụ hưởng, chiếm 43% tổng diện tích rừng toàn quốc.

Năm 2019, riêng 20/31 tỉnh phía Bắc có nguồn thu dịch vụ môi trường rừng đã giải ngân 1.608,9 tỷ đồng, góp phần bảo vệ nghiêm ngặt 3,94ha triệu ha rừng./.

Nhiều hộ dân ở huyện Mường Tè mỗi năm nhận được hàng chục triệu đồng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)
Nhiều hộ dân ở huyện Mường Tè mỗi năm nhận được hàng chục triệu đồng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Quý Trung/TTXVN)

Vẫn xảy ra phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật

Tuấn Anh

Sau 4 năm thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, những kết quả đạt được khá nổi bật, diện tích rừng, độ che phủ rừng liên tục tăng lên, số vụ vi phạm pháp luật và thiệt hại về rừng giảm rõ nét. Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, trong giai đoạn 2016-2019, bình quân mỗi năm trong cả nước giảm 35% số vụ và 20% diện tích rừng bị thiệt hại.

Mặc dù cây pơmu phân bố ở địa hình hiểm trở, trên những đỉnh núi có độ cao từ 1.500 mét so với mực nước biển, nhưng vì thuộc loài quý hiếm nên “lâm tặc” luôn tìm mọi cách khai thác trái phép. Nếu không kịp thời bảo vệ, loài cây quý hiếm này có nguy cơ tuyệt chủng.

Tuy vậy, tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật còn xảy ra tại một số địa phương.

Tình trạng phá rừng pơmu vẫn tiếp diễn

Theo phản ánh của phóng viên TTXVN tại Đắk Lắk, những năm gần đây, tình trạng phá rừng pơ mu tại địa phương vẫn diễn biến phức tạp, nhiều vụ việc phá rừng pơmu liên tiếp xảy ra mà không tìm được thủ phạm.

Mặc dù cây pơmu phân bố ở địa hình hiểm trở, trên những đỉnh núi có độ cao từ 1.500 mét so với mực nước biển, nhưng vì có giá trị kinh tế cao, thuộc loài quý hiếm nên “lâm tặc” luôn tìm mọi cách khai thác trái phép. Nếu không kịp thời bảo vệ, loài cây quý hiếm này có nguy cơ tuyệt chủng.

Một cây pơmu khoảng 400-500 năm tuổi tại tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Một cây pơmu khoảng 400-500 năm tuổi tại tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Những ngày giữa tháng 5/2020, phóng viên TTXVN tại Đắk Lắk đã tận mục sở thị khu vực phân bố, hiện trường các vụ phá rừng pơ mu tại huyện Krông Bông – nơi có nhiều quần thể cây pơmu.

Sau hai ngày đi bộ, vượt địa hình núi cao hiểm trở, phóng viên có mặt tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông).

Khu vực này có độ cao trên 1.600 mét so với mực nước biển, khí hậu mát mẻ cùng độ ẩm cao là điều kiện lý tưởng để cây pơmu sinh trưởng và phát triển.

Tiểu khu 1219 là “thủ phủ” sinh sống của cây pơ mu cũng chính là “miếng mồi ngon” hút các nhóm lâm tặc đua nhau khai thác trái phép.

Những năm gần đây, tại khu vực này liên tiếp xảy ra các vụ “thảm sát” rừng pơmu, điển hình như các vụ khai thác trái phép: 48 cây gỗ pơmu xảy ra tháng 10/2018, 24 cây pơmu vào tháng 2/2019, 9 cây pơmu vào tháng 12/2019; 14 cây pơmu vào tháng 2/2020 và gần đây nhất là vụ cưa hạ 19 cây pơmu vào tháng 4/2020.

Điều đáng nói, tình trạng phá rừng pơmu không chỉ nóng lên trong thời gian gần đây mà đã diễn ra suốt nhiều năm liền.

Trên hành trình tiếp cận hiện trường các vụ phá rừng pơmu, bắt đầu từ độ cao khoảng 1.500 mét so với mặt nước biển tại tiểu khu 1213, phóng viên đã bắt gặp rất nhiều cây pơmu bị cưa hạ từ nhiều năm trước, dấu vết còn nguyên với những phần gốc, thân, cành và cả những phần gỗ xấu của cây pơmu còn vương vãi. Có cây đường kính gốc lên đến 1,5 mét, nằm bên vực sâu, nhưng vẫn bị lâm tặc lắp đặt hệ thống dàn giáo để cưa hạ, sau đó lấy phần gỗ từ vực sâu và vận chuyển ra khỏi rừng.

Thậm chí, nhiều phần gỗ cây pơmu bị chặt hạ từ các năm trước cũng bị lâm tặc xẻ gốc và thân cây để “mót” lại những khúc pơmu từng bị vứt bỏ tại rừng già.

Hiện trường khai thác gỗ Pơ mu trái phép từ các năm trước tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Hiện trường khai thác gỗ Pơ mu trái phép từ các năm trước tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Tiếp tục men theo lối mòn, vượt qua những con dốc gần như thẳng đứng, phóng viên tiếp cận hiện trường vụ chặt hạ 19 cây pơmu gần đây nhất (xảy ra tháng 4/2020) tại các lô 8, 9, 11, 13, khoảnh 4, tiểu khu 1219. Tại hiện trường, 1 cây pơmu đã bị lấy đi phần thân, 3 cây đã bị cắt thành đoạn ngắn, 15 cây còn nguyên tại hiện trường.

Ngoài phần gỗ đã bị lấy đi, qua đo đếm sơ bộ, số gỗ còn lại tại hiện trường khoảng gần 38m3. Vị trí các cây gỗ bị cắt hạ thuộc rừng phòng hộ.

Tại tiểu khu 1219, phóng viên còn ghi nhận nhiều cây pơmu đã bị lâm tặc cưa một phần vào gốc cây khoảng 5-10cm, một số cây còn bị đốt tại các vị trí cưa.

Theo lực lượng quản lý, bảo vệ rừng của tiểu khu 1219, việc làm trên là cách mà “lâm tặc” kiểm tra xem gỗ cây pơmu có hư bên trong hay không, đồng thời là cách “thực thi luật rừng” để các nhóm lâm tặc đánh dấu “quyền sở hữu” cây pơmu đã được nhóm mình thăm dò và chỉ chờ cơ hội để cưa hạ.

Những vụ án không tìm ra “hung thủ”

Trên hành trình tìm đến “thánh địa” của cây pơmu sinh sống tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông quản lý, có thể nhận thấy một thực tế diễn ra từ nhiều năm qua là cây pơmu có mặt ở đâu thì lâm tặc mở đường đi tới đó nhằm “truy cùng diệt tận” loài thực vật quý hiếm này.

Trong khu rừng nguyên sinh, từ độ cao trên 1.500 mét so với mực nước biển tại tiểu khu 1213 giáp ranh với tiểu khu 1219, cây pơmu đã bắt đầu phân bố thưa thớt. Tại đây, dọc con đường mòn do lâm tặc “khai lối” là những cây pơmu đã bị khai thác nằm rải rác từ nhiều năm trước.

 Hiện trường vụ phá rừng pơmu xảy ra vào tháng 4/2020 tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 
 Hiện trường vụ phá rừng pơmu xảy ra vào tháng 4/2020 tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 

Những năm gần đây, khi cây pơmu tại tiểu khu 1213 bắt đầu khan hiếm, “lâm tặc” đã mở đường “tấn công” lên tiểu khu 1219, nơi có những quần thể pơmu phân bố dày hơn. Điều này cho thấy, chỉ cần pơmu mọc ở đâu thì ở đó sẽ có đường mòn để phục vụ khai thác và vận chuyển.

Những dấu vết tại hiện trường cũng thể hiện rõ, quần thể pơmu cổ thụ ở đây đã liên tục bị “thảm sát” không thương tiếc trong nhiều năm.

Chỉ tính riêng từ năm 2018 đến nay đã xảy ra 5 vụ khai thác gỗ pơ mu tại tiểu khu 1219 khiến 114 cây pơ mu bị cưa hạ. Tuy nhiên, đến thời điểm này tất cả những vụ cưa hạ pơmu đều không được xử lý dứt điểm, vì không tìm ra “hung thủ.”

Chủ rừng “bất lực”

Rõ ràng trách nhiệm đầu tiên trong việc để mất rừng pơmu thuộc về chủ rừng. Ngoài chủ rừng còn có các lực lượng khác như Kiểm lâm, Công an, chính quyền địa phương. Vậy tại sao lâm tặc vẫn ngang nhiên lộng hành?

Tiểu khu 1219 có diện tích hơn 1.500ha, được giao cho Phân trường 2, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông quản lý bảo vệ. Đây là khu vực có địa hình vô cùng hiểm trở khiến lực lượng quản lý, bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn trong quá trình tuần tra, truy quét các nhóm “lâm tặc.”

Là người trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng tại tiểu khu 1219, anh Chu Minh Quang, Phân trường phó Phân trường 2 (Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông) cho biết khu vực tiểu khu 1219 là nơi phân bố nhiều cây pơmu nhất, cũng là vị trí đồi núi hiểm trở, dốc cao và cách trạm của Phân trường 2 hơn 20km.

Một khúc gỗ pơmu trên đường vận chuyển ra khỏi rừng bị lâm tặc bỏ lại khi phát hiện lực lượng quản lý bảo vệ rừng tuần tra. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Một khúc gỗ pơmu trên đường vận chuyển ra khỏi rừng bị lâm tặc bỏ lại khi phát hiện lực lượng quản lý bảo vệ rừng tuần tra. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Để tiếp cận khu vực này, lực lượng chức năng phải mất 2 ngày đi bộ. Do đó, dù thường xuyên tổ chức các đợt tuần tra, truy quét, nhưng rất khó kiểm soát tình trạng các nhóm “lâm tặc” chặt hạ cây pơmu.

Trong khi đó, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng của Phân trường 2 chỉ có 13 người, nhưng phải quản lý, bảo vệ hơn 12.000ha rừng. Lực lượng tuần tra được chia theo ca, mỗi ca có 3-4 người, mỗi đợt tuần tra kéo dài từ 4-5 ngày, sau đó có nhóm khác thay thế.

Các đối tượng phá rừng cũng lợi dụng khoảng thời gian giao ca giữa hai đợt tuần tra để phá rừng. Hơn nữa, việc phá rừng pơmu đa số diễn ra ban đêm, “lâm tặc” dùng đèn pin và cưa máy để thực hiện nên rất khó trong việc phát hiện và bắt quả tang đối tượng.

Đặc biệt, khi phát hiện có dấu hiệu tuần tra của lực lượng bảo vệ rừng, những đối tượng cảnh giới của “lâm tặc” sẽ đánh động cho các nhóm phá rừng tháo chạy.

Theo anh Chu Minh Quang, cũng chính vì địa hình hiểm trở, việc vận chuyển gỗ ra khỏi rừng cũng được thực hiện bằng phương pháp thủ công. Các đối tượng lâm tặc thuê người dân sống gần rừng dùng trâu kéo hoặc gùi trên vai từng tấm gỗ ra khỏi rừng.

Khi bị lực lượng bảo vệ rừng phát hiện, người dân lập tức bỏ lại gỗ để chạy thoát vào rừng. Do người dân bản địa sống gần rừng, thông thạo địa hình nên rất khó để truy bắt.

Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng (Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông) Đoàn Văn Thành cho biết một trong những khó khăn nữa là gần khu vực tiểu khu 1219 có rất nhiều con đường tỏa đi các hướng khác nhau như về xã Yang Mao, Cư Đrăm (huyện Krông Bông), đi về các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên.

Tuy nhiên, do lực lượng bảo vệ rừng quá mỏng, nên việc kiểm soát các con đường vận chuyển gỗ rất khó triển khai. Hơn nữa, nếu tập trung hết lực lượng để bảo vệ tiểu khu 1219 thì những tiểu khu khác có nguy cơ bị xâm nhập, khai thác trái phép khi “vắng bóng” lực lượng quản lý bảo vệ rừng.

Ngoài địa hình hiểm trở làm hạn chế hoạt động tuần tra, tiếp cận các “điểm nóng” phá rừng pơmu, lực lượng tuần tra bảo vệ rừng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn khác do điều kiện đi lại, ăn, ở, sinh hoạt trong rừng vô cùng khắc nghiệt.

Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông Bùi Quốc Tuấn phân trần những năm gần đây, do ảnh hưởng của thiên tai, đời sống người dân sống xung quanh khu vực rừng do Công ty quản lý, rất khó khăn.

Nhiều người dân phải dựa vào rừng để kiếm kế sinh nhai, trong đó một bộ phận tham gia vào các nhóm lâm tặc chặt hạ, vận chuyển gỗ pơmu trái phép khiến áp lực giữ rừng đè nặng lên chủ rừng.

“Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng pơmu bị tàn phá là do hầu hết các vụ phá rừng đều được cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, khởi tố vụ án để điều tra. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có vụ án nào tìm ra được đối tượng gây án nên không tạo được sự răn đe đối với các nhóm lâm tặc,” ông Tuấn cho hay.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông Lê Văn Long cho biết hầu hết các vụ phá rừng pơmu đều được khởi tố vụ án, tuy nhiên không bắt được người vi phạm, dẫn đến vụ việc không xử lý được, không đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm pháp luật. Đây cũng là thực trạng diễn ra trong nhiều năm qua khiến cho công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.

Những khó khăn trong quản lý, bảo vệ rừng pơmu và những hạn chế trong công tác điều tra làm rõ vụ việc đã đặt ra cho cả chủ rừng, cơ quan chức năng cùng chính quyền địa phương “bài toán cân não” để giữ rừng pơmu trước thực trạng bị khai thác “tận diệt” như hiện nay./.

 Một lán trại của lâm tặc dựng giữa rừng để khai thác gỗ pơmu trái phép. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 
 Một lán trại của lâm tặc dựng giữa rừng để khai thác gỗ pơmu trái phép. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 

Giải bài toán giữ rừng

Tuấn Anh

Thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, số vụ vi phạm pháp luật và thiệt hại về rừng đã giảm, nhưng tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật còn xảy ra tại một số địa phương. Để giải bài toán giữ rừng, cần tìm ra những căn nguyên, từ đó mới có thể đề ra các biện pháp căn cơ, mang lại hiệu quả trong thực tế.

Các cấp chính quyền địa phương cần tạo chuyển biến trong việc phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, vai trò của người đứng đầu chính quyền các cấp; quy định rõ xử lý trách nhiệm của chủ rừng khi để xảy ra mất rừng. 

Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta dừng khai thác rừng tự nhiên, trong khi nhu cầu, thói quen về sử dụng gỗ rừng tự nhiên của một bộ phận dân cư chưa thay đổi, nguồn gỗ rừng tự nhiên nhập khẩu có xu thế giảm; khai thác gỗ bất hợp pháp trở nên “siêu lợi nhuận.”

Một cây pơmu tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông đã bị lâm tặc cưa vào gốc cây để thăm dò gỗ có bị hư hay không. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Một cây pơmu tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông đã bị lâm tặc cưa vào gốc cây để thăm dò gỗ có bị hư hay không. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Bên cạnh đó, sức ép về phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhu cầu đất để trồng cây công nghiệp, cây nông nghiệp có giá trị kinh tế ngày càng cao.

Bên cạnh đó, tại những nơi xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật đều cho thấy, chủ rừng còn buông lỏng quản lý, các cơ quan chức năng, chính quyền sơ sở không phát hiện, ngăn chặn kịp thời, việc xử lý người có hành vi vi phạm và người có trách nhiệm quản lý chưa nghiêm.

Để giải quyết căn cơ tình trạng này, Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho rằng, trước hết các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương phải chỉ đạo, tổ chức thực hiện thường xuyên, nghiêm túc các quy định của pháp luật và Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Các cấp cần tạo chuyển biến trong việc phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, vai trò của người đứng đầu chính quyền các cấp; quy định rõ xử lý trách nhiệm của chủ rừng khi để xảy ra mất rừng.

Bên cạnh đó, cần tập trung xử lý dứt điểm các “điểm nóng,” kiên quyết thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích; truy quét các “đầu nậu,” xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật, đề xuất xứ lý người có thẩm quyền nhưng thiếu trách nhiệm, để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác lâm sản trái pháp luật.

Đồng thời, nâng cao ý thức trách nhiệm, nhận thức của người dân về bảo vệ rừng; tập trung giải quyết vấn đề sinh kế của người dân sống gần rừng để giảm áp lực lên rừng…

Xử lý nghiêm các sai phạm

Trước thực trạng liên tiếp xảy ra các vụ lâm tặc tấn công rừng pơmu tại địa bàn, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông Bùi Quốc Tuấn thừa nhận việc để mất rừng pơmu trách nhiệm trước hết thuộc về chủ rừng.

Một cây pơmu có đường kính gốc hơn 1,5m, trên 800 năm tuổi tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông bị lâm tặc cưa hạ từ các năm trước.  (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 
Một cây pơmu có đường kính gốc hơn 1,5m, trên 800 năm tuổi tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông bị lâm tặc cưa hạ từ các năm trước. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 

Tuy nhiên, đặc thù cây pơmu phân bố ở địa hình núi cao, hiểm trở gây nhiều khó khăn cho lực lượng quản lý, bảo vệ rừng. Để hạn chế việc khai thác trái phép cây pơ mu tại tiểu khu 1219, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như lực lượng Công an, Kiểm lâm và cả chính quyền các xã giáp ranh với rừng được giao cho Công ty quản lý, bảo vệ.

Với vai trò quản lý, bảo vệ rừng, Công ty cũng kiến nghị các cơ quan chức năng cần làm rõ và xử lý nghiêm những đầu nậu đứng sau mua bán, vận chuyển gỗ pơmu trên địa bàn huyện.

Nếu tạo được sự răn đe đối với các đối tượng phá rừng và kiểm soát, xử lý được các đầu nậu vận chuyển, mua bán gỗ pơmu, sẽ giảm được áp lực phá rừng tại các tiểu khu có cây pơmu phân bố.

Ông Lê Văn Long, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông cho biết trước tình trạng phá rừng pơmu diễn ra phức tạp, Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông đã triển khai các biện pháp cấp bách, căn cơ để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, đặc biệt đối với các quần thể cây pơmu tại tiểu khu 1219 thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông.

Trong đó, Ủy ban Nhân dân huyện giao cho lực lượng Công an huyện Kông Bông đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ phá rừng pơmu trên địa bàn.

Đặc biệt, lực lượng Công an chủ động thực hiện có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm vi phạm lâm luật; xây dựng các phương án mật phục, các điểm chốt chặn trên địa bàn huyện để ngăn chặn, xử lý các hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép và các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng.

Lực lượng Kiểm lâm huyện Krông Bông phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng phương án cụ thể để triển khai quản lý, bảo vệ hiệu quả rừng trên địa bàn.

Đặc biệt, ngành chức năng rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế phối hợp giữa các đơn vị liên quan trong quản lý, bảo vệ rừng; tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn huyện để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm lâm luật.

Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông cũng đề nghị đơn vị chủ rừng khắc phục khó khăn về địa bàn, địa hình để tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra trên lâm phần có các quần thể cây pơmu phân bố; nâng cao hiệu quả kiểm soát tại các trạm, chốt chặn, đảm bảo đủ khả năng phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm lâm luật, đặc biệt trong công tác bảo vệ khu vực phân bố các cây gỗ giá trị kinh tế cao như pơmu.

Ông Lê Văn Long cho biết thêm để giảm bớt áp lực trong việc người dân các xã như Yang Mao, Cư Đrăm, Cư Pui… sinh sống gần rừng xâm nhập, tham gia vào hành vi khai thác, vận chuyển gỗ pơmu trái phép, Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông đã triển khai các giải pháp để đảm bảo an sinh xã hội cho người dân như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ vốn sản xuất, kêu gọi đầu tư… nhằm cải thiện đời sống kinh tế và giải quyết việc làm cho người dân.

Làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân

Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Krông Bông, các đơn vị liên quan trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm lâm luật và chính quyền các xã cần có biện pháp để tìm, xử lý những cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có hành vi bao che, tiếp tay, thông tin cho lâm tặc phá rừng, buôn bán và vận chuyển gỗ, tránh tình trạng khi tổ chức tuần tra, truy quét thì không có lâm tặc phá rừng nhưng khi hết tuần tra, truy quét, lâm tặc lại xuất hiện.

Một cây pơmu đã bị lâm tặc cưa hạ nhưng chưa kịp vận chuyển ra khỏi rừng tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông.  (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 
Một cây pơmu đã bị lâm tặc cưa hạ nhưng chưa kịp vận chuyển ra khỏi rừng tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 

Trước tính chất nghiêm trọng, diễn biến phức tạp của các vụ tấn công rừng pơ mu diễn ra liên tiếp trong những năm gần đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk đã có văn bản yêu cầu đơn vị chủ rừng ngoài việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, phải làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong các vụ khai thác gỗ trái phép xảy ra trong thời gian vừa qua.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk cũng tiến hành xử lý trách nhiệm của tập thể, cá nhân Hạt Kiểm lâm huyện Krông Bông có liên quan trong việc để xảy ra vụ khai thác 19 cây gỗ pơmu hồi tháng 4 vừa qua và các vụ phá rừng, khai thác gỗ pơmu trái pháp luật trên lâm phần của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông quản lý, nhưng chưa chủ động kiểm tra, ngăn chặn kịp thời.

Thực trạng phá rừng nếu không được chặn đứng kịp thời, thế hệ sau chỉ biết được rừng pơmu cổ thụ, quý hiếm trên dãy Chư Yang Sin hùng vĩ qua lời kể của các già làng.

Để giữ được những quần thể pơmu còn lại trên đại ngàn Tây Nguyên hùng vỹ không thể trông chờ vào sự thức tỉnh của lâm tặc, mà cần sự phối hợp chặt chẽ và sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong cuộc chiến bảo tồn loài thực vật quý hiếm này./.

Hiện trường vụ phá rừng pơmu xảy ra vào tháng 4/2020 tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Hiện trường vụ phá rừng pơmu xảy ra vào tháng 4/2020 tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Tháo gỡ vướng mắc, sử dụng đúng mục đích quỹ đất nông, lâm trường

Văn Hào

Sau gần 17 năm thực hiện Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị và Nghị định số 118/2014 của Chính phủ về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh,” các bộ, ngành, địa phương đã nghiêm túc triển khai, tạo sự chuyển biến đáng kể trong công tác quản lý các nông, lâm trường theo cơ chế thị trường.

Các bộ, ngành, địa phương cần sớm hoàn thiện và thực hiện ngay phương án quản lý, sử dụng quỹ đất các nông, lâm trường bàn giao về địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất, hoặc không có đất ở, đất sản xuất. Đây chính là biện pháp cốt lõi để bảo vệ, phát triển rừng bền vững. 

Tuy vậy, trên thực tế, tình trạng sử dụng đất không đúng đối tượng, không đúng mục đích vẫn tiếp diễn; việc xử lý đất giao khoán chưa đảm bảo quyền lợi của người dân, đã gây ra những tranh chấp, khiếu kiện kéo dài…

Vì thế, các bộ, ngành, địa phương cần sớm hoàn thiện và thực hiện ngay phương án quản lý, sử dụng quỹ đất các nông, lâm trường bàn giao về địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất, hoặc không có đất ở, đất sản xuất. Đây chính là biện pháp cốt lõi để bảo vệ, phát triển rừng bền vững.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến hết tháng 7/2019, tổng số công ty nông, lâm nghiệp và chi nhánh sau rà soát là 246 đơn vị với diện tích đất giữ lại gần 1,87 triệu ha tại 45 tỉnh, thành phố; diện tích các công ty nông, lâm nghiệp dự kiến bàn giao về địa phương để quản lý, sử dụng 463.088ha.

Gia đình ông Nguyễn Văn Tý (phải), thôn Châu Sơn, xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trồng 3ha rừng theo tiêu chuẩn FSC với thu nhập đạt 80 triệu/năm. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)
Gia đình ông Nguyễn Văn Tý (phải), thôn Châu Sơn, xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trồng 3ha rừng theo tiêu chuẩn FSC với thu nhập đạt 80 triệu/năm. (Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN)

Trong số đó, đất giao khoán, liên doanh liên kết, cho thuê, mượn, đang có tranh chấp, bị lấn chiếm 267.445ha, chiếm 57,75% tổng diện tích dự kiến bàn giao. Riêng đất đang có tranh chấp, bị lấn chiếm lên tới 133.800ha, chiếm 28,89% tổng diện tích dự kiến bàn giao.

Từ khảo sát thực tiễn trên địa bàn Tây Nguyên, các nhà nghiên cứu Trường Đại học Tây Nguyên và Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp nhiệt đới cho rằng mâu thuẫn về quyền sử dụng đất lâm nghiệp xảy ra phần lớn liên quan giữa người dân địa phương với các đơn vị chủ quản rừng là các công ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng phòng hộ, đối tượng rừng sản xuất.

Có những trường hợp dẫn đến khiếu kiện kéo dài giữa người dân địa phương với các doanh nghiệp tư nhân đang thuê đất, thuê rừng sản xuất để triển khai các dự án phát triển nông, lâm nghiệp.

Mặt khác, tình trạng xâm canh, lấn chiếm đất lâm nghiệp để lấy đất sản xuất vẫn đang xảy ra, một số nơi tranh chấp và mâu thuẫn giữa người phá rừng, lấn chiếm với các đơn vị chủ rừng không thể giải quyết được.

Tình trạng vi phạm trong sử dụng đất lâm nghiệp kéo dài, không được báo cáo sớm và xử lý dứt điểm, nên nhiều thành phần, không chỉ riêng người dân địa phương tiếp tục phá rừng, lấn chiếm.

Rừng của hầu hết các ban quản lý đều gặp phải tình trạng này, trong đó có những ban quản lý không thể kiểm soát tệ nạn phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp.

Nguyên nhân do nhiều ban quản lý rừng phòng hộ được hình thành từ các lâm trường trước đây tách và sáp nhập, trong khi diện tích rừng và đất lâm nghiệp do đơn vị quản lý có cả rừng phòng hộ lẫn rừng sản xuất, khi quy hoạch bao gồm cả đất rẫy của dân đã làm trước đó.

Trong quá trình các ban quản lý rừng phòng hộ quản lý, dân vẫn tiếp tục lấn chiếm, xâm canh tạo ra tình trạng “da báo” đất canh tác xen kẽ trong đất rừng phòng hộ.

Hơn nữa, ban quản lý rừng phòng hộ không có chức năng xử lý vi phạm, khi phát hiện sai phạm chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, ngăn chặn, lập biên bản và báo với đơn vị Kiểm lâm.

Song Kiểm lâm chỉ hỗ trợ xử lý những trường hợp vi phạm lâm luật, còn vi phạm liên quan đến đất rừng và tài sản trên đất như chòi, cây trồng… Kiểm lâm không đủ thẩm quyền xử lý, phải báo cáo Ủy ban Nhân dân huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường…

Việc xử lý các vụ vi phạm lâm luật chưa dứt điểm đã không thể hiện tính răn đe, cảnh báo, dẫn đến các đối tượng vi phạm coi thường pháp luật, người dân mất lòng tin vì thấy mất công bằng trong vấn đề sử dụng đất.

Đối tượng phá rừng là dân địa phương, nhưng sau đó cho thuê và sang nhượng cho nhiều đối tượng từ nơi khác đến, trong đó có một số lượng không nhỏ dân di cư từ các địa phương khác. Cùng với giá một số loại nông sản tăng mạnh, nhiều người muốn mua đất để đầu tư.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tháng 12/2019. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tháng 12/2019. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Đây chính là nguy cơ của tình trạng lấn chiếm, xâm canh đất lâm nghiệp, đã và đang diễn ra phổ biến tại các địa phương có rừng.

Hiện vẫn thiếu chế tài xử lý và giải quyết triệt để đối với tình trạng dân di cư tự do và tình trạng mua bán, sang nhượng đất lâm nghiệp trái phép. Sự phối hợp giữa các ngành chức năng trong điều tra, xử lý các hành vi phá rừng, chống người thi hành công vụ như mua bán, vận chuyển gỗ, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp… thiếu chặt chẽ, chưa nghiêm và chưa kịp thời dẫn đến tình trạng các đối tượng vi phạm coi thường pháp luật và tiếp tục vi phạm…

Cơ chế hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chưa bảo đảm thu nhập để thu hút các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Việc sắp xếp lại các công ty lâm nghiệp còn chậm, ảnh hưởng đến hoàn thiện thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phê duyệt phương án sử dụng đất.

Diện tích rừng do các công ty bị giải thể quản lý, hiện địa phương chưa xác định được phương án giao quản lý, bảo vệ phù hợp do không tìm được chủ để giao. Giá trị của nguồn tài nguyên rừng ở tất cả các chủ thể quản lý chưa được định giá, báo cáo biến động dựa vào từng vụ việc xảy ra, chưa hệ thống và minh bạch làm cơ sở để giám sát và xử lý vi phạm về lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp trái phép.

Hướng liên kết thành công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên cũng là nguy cơ để các diện tích rừng hiện còn sẽ tiếp tục bị chuyển đổi, vì mục đích và kỳ vọng của phía doanh nghiệp góp vốn.

Chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên là cơ hội cho nhiều đơn vị chủ rừng, nhưng cũng là một thách thức cho các chủ rừng sản xuất, vì thiếu nguồn thu phục vụ trở lại cho bảo vệ và phát triển rừng…

Những giải pháp khả thi

Ngày 17/4/2020, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng ký Quyết định 536/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Với quan điểm lập quy hoạch là rừng được quản lý bền vững về diện tích và chất lượng, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu; xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của nhà nước với lợi ích của chủ rừng, tổ chức, cá nhân hoạt động lâm nghiệp.

 Đội Bảo vệ rừng số 6, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)
 Đội Bảo vệ rừng số 6, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)

Quyết định nêu rõ nguyên tắc lập quy hoạch đảm bảo quản lý rừng bền vững; khai thác, sử dụng rừng gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao giá trị kinh tế của rừng và giá trị văn hóa, lịch sử; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao sinh kế của người dân; rừng tự nhiên phải được đưa vào quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất.

Tuy vậy, công việc cấp bách hiện nay theo các chuyên gia là phải tập trung giải quyết tận gốc những mâu thuẫn về quyền sử dụng, tình trạng lấn chiếm, xâm canh đất lâm nghiệp.

Trước hết cần có sự thống nhất và phân công trách nhiệm cụ thể trong quản lý nhà nước giữa ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành Tài nguyên và Môi trường về quản lý đất lâm nghiệp.

Bởi trên thực tế, chức năng của kiểm lâm là quản lý tài nguyên rừng dựa vào Luật Bảo vệ và phát triển rừng; xử lý vi phạm liên quan đến tài nguyên rừng dựa vào Nghị định 157/2013, nhưng không có thẩm quyền giải quyết những sai phạm trong sử dụng đất lâm nghiệp.

Bộ phận thanh tra, quản lý đất đai ngành Tài nguyên và Môi trường quản lý đất lâm nghiệp phụ thuộc vào Luật Đất đai, xử lý vi phạm về đất đai dựa vào Nghị định 102/2014.

Những vụ vi phạm liên quan đến lấn chiếm đất lâm nghiệp, việc chỉ đạo được triển khai nhưng hồ sơ vẫn nằm ở đơn vị Kiểm lâm, trong khi tình trạng lấn chiếm và sang nhượng đất lâm nghiệp vẫn tiếp tục diễn ra.

Mặc dù việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất của các nông, lâm trường quốc doanh được thực hiện từ những năm 2003, nhưng thực tế vẫn còn một số hạn chế như chậm tiến độ điều chỉnh mô hình sắp xếp; phê duyệt phương án sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các công ty.

Các địa phương chưa tập trung cho công tác hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật và pháp lý, để quản lý loại đất này một cách thống nhất với thực tế sử dụng.

Giải đáp về vấn đề này, Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Lê Thanh Khuyến cho biết Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện và thực hiện ngay phương án quản lý, sử dụng quỹ đất các nông, lâm trường bàn giao về địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất.

Đồng thời, Bộ tiếp tục lập tổ công tác liên ngành xuống từng địa phương khảo sát đánh giá về công tác quản lý đất đai và công tác quản lý, sử dụng đất nông, lâm trường; tập trung thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất, trách nhiệm trong quản lý sử dụng đất nông, lâm trường; giải quyết dứt điểm tranh chấp, khiếu nại về đất đai giữa nông, lâm trường đối với người dân địa phương.

Tổng cục Quản lý đất đai sẽ tăng cường chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra các địa phương, doanh nghiệp trong công tác quản lý đất, thực hiện rà soát, cắm mốc giới, đo đạc lập bản đồ địa chính, lập phương án sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất./.

 Cây càphê trồng trên diện tích lấn chiếm đất rừng tại xã Phúc Thọ (Lâm Hà, Lâm Đồng). (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN) 
 Cây càphê trồng trên diện tích lấn chiếm đất rừng tại xã Phúc Thọ (Lâm Hà, Lâm Đồng). (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN) 

Giải quyết sinh kế của người dân sống gần rừng

Dư Toán

Theo Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, tập trung giải quyết vấn đề sinh kế của người dân sống gần rừng để giảm áp lực lên rừng là một trong những biện pháp căn cơ để ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép còn diễn ra ở một số địa phương, thực hiện nghiêm lệnh đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ.

Thực tế những năm qua, việc triển khai có hiệu quả Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đem lại những tín hiệu tích cực, được các cấp chính quyền địa phương quan tâm, đánh giá cao, mang lại hiệu quả thiết thực, cải thiện đời sống cho người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng.

Giải quyết vấn đề sinh kế của người dân sống gần rừng để giảm áp lực lên rừng là một trong những biện pháp căn cơ để ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái phép.

Tại Kon Tum, năm 2019, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã chi trả hơn 255 tỷ đồng cho ba nhóm đối tượng tham gia bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn là: Nhóm Chủ rừng; nhóm Ủy ban Nhân dân các xã; nhóm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn.

Riêng đối với nhóm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, nguồn quỹ đã chi trả hơn 32 tỷ đồng, giúp bà con, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có thêm thu nhập, nâng cao đời sống, xóa đói, giảm nghèo.

Mới đây, người dân xã Đăk Pxi, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum phấn khởi đến trụ sở Ủy ban Nhân dân xã nhận tiền chi trả từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh. Đây là xã vùng sâu, vùng xa của huyện Đăk Hà, với 92% là đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp nên đời sống gặp nhiều khó khăn.

Người dân xã Đăk Pxi, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Dư Toán/TTXVN) 
Người dân xã Đăk Pxi, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Dư Toán/TTXVN) 

Từ khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng, bà con nơi đây đã có thêm nguồn thu nhập, từng bước cải thiện đời sống. Năm 2019, toàn xã có 470 hộ được chi trả dịch vụ môi trường rừng với số tiền trên 3,6 tỷ đồng.

Anh A Rin, sinh năm 1977, trú thôn 8, xã Đăk Pxi cho biết, trước đây, kinh tế gia đình anh chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp với các cây trồng như lúa, sắn, bời lời trên diện tích 8 ha. Vợ chồng anh có tới 7 người con nên dù vất vả làm việc, gia đình anh cũng không dư dả.

“Từ khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng, mình có thêm nguồn thu nhập để vừa trang trải sinh hoạt trong gia đình, vừa làm vốn sản xuất nông nghiệp như mua giống, bón phân. Năm nay, nhà mình có 20,85 ha rừng được chi trả với số tiền hơn 17,8 triệu đồng. Gia đình mình vui lắm, không phải lo lắng cái ăn, cái mặc mà còn mua được ti vi, xe máy nữa,” anh A Rin vui mừng nói.

Còn anh A Ngôn, sinh năm 1971, trú thôn 7, xã Đăk Pxi chia sẻ, gia đình anh có tới 12 người con, song quỹ đất canh tác nông nghiệp không có nhiều, chỉ khoảng 2 sào trồng lúa, nên không đủ ăn. Để có tiền trang trải sinh hoạt, các thành viên trong gia đình phải đi làm thuê, làm mướn.

Từ khi tham gia dịch vụ môi trường rừng, gia đình anh đã có thêm nguồn thu nhập. Năm 2019, anh A Ngôn được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả số tiền 7,6 triệu đồng. Nhờ đó, gia đình anh có thêm nguồn tiền để trang trải cuộc sống.

Ông Nguyễn Phúc Đoan, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Đăk Pxi cho biết, khi chi trả dịch vụ môi trường rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thì ý thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ rừng được nâng lên, người dân biết lo lắng hơn cho diện tích rừng được giao khoán.

Người dân xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đang chuẩn bị cấy giống cho vụ trồng rừng năm 2020. (Ảnh: Quang Đán/TTXVN)
Người dân xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đang chuẩn bị cấy giống cho vụ trồng rừng năm 2020. (Ảnh: Quang Đán/TTXVN)

Bên cạnh đó, khi có tiền dịch vụ môi trường rừng, đời sống của bà con đã nâng lên rõ rệt, họ sử dụng tiền để phát triển kinh tế, đầu tư con giống, cây giống, phân bón cho việc sản xuất nông nghiệp; chăm lo cho việc học hành của con cái đàng hoàng hơn, cuộc sống gia đình tốt hơn.

Đối với việc chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng dân cư thôn, các cộng đồng cũng chia tỉ lệ là 50% cho công tác tuần tra truy quét, 20% dành cho quỹ thôn để phục vụ các hoạt động chung của cộng đồng và 30% còn lại cho việc phát triển kinh tế.

Năm 2020, xã Đăk Pxi phát triển dự án nuôi heo sọc dưa, được người dân đồng tình ủng hộ. Bà con sẽ vay vốn từ 30% tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng dân cư thôn để phát triển mô hình.

Đây là một trong những dự án quan trọng để xã xây dựng các mô hình trang trại, kinh tế hộ gia đình, chăn nuôi kết hợp với trồng trọt để phát triển kinh tế mang tính bền vững.

“Năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của xã là 64,37% thì đến cuối năm 2019 giảm xuống còn 42,5%. Tuy đây là kết quả chưa đạt so với kế hoạch đề ra, song để đạt được thành công trên có sự đóng góp không nhỏ từ nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, nền kinh tế của người dân đã từng bước được cải thiện, đa dạng giống cây trồng, vật nuôi,” ông Nguyễn Phúc Đoan chia sẻ.

Ông Hồ Thanh Hoàng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cho biết, đến nay Quỹ đã chi trả gần xong tiền dịch vụ môi trường rừng của năm 2019.

Đặc biệt, toàn bộ tiền dịch vụ môi trường rừng được Quỹ thanh toán thông qua tài khoản của từng hộ gia đình, cá nhân được đơn vị mở tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt chi nhánh Kon Tum, sau đó phối hợp với ngân hàng chi trả lưu động tại Ủy ban Nhân dân các xã, đảm bảo an toàn nguồn tiền chi trả và người dân thuận tiện hơn trong việc nhận chi trả.

Ngoài ra, tại các buổi chi trả lưu động, người dân sẽ làm quen với các ngân hàng, đồng thời được tư vấn gửi tiết kiệm tại các ngân hàng để tránh thất thoát nguồn tiền được hưởng khi chưa có nhu cầu sử dụng.

“Hàng năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum phối hợp với các đơn vị kiểm lâm, chính quyền địa phương tổ chức khoảng 50 hội nghị cấp xã để tăng cường công tác tuyên truyền, phát triển sinh kế cho người dân, giới thiệu các mô hình kinh tế mang lại hiệu quả cao, giúp bà con sử dụng đúng, phù hợp nguồn tiền nhận từ dịch vụ môi trường rừng,” ông Hồ Thanh Hoàng nhấn mạnh./.

Người dân xã Đăk Pxi, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum vui mừng nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Dư Toán/TTXVN) 
Người dân xã Đăk Pxi, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum vui mừng nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh: Dư Toán/TTXVN) 

Bảo vệ rừng ở Tây Nguyên sau lệnh “đóng cửa rừng”

Nhóm PV TTXVN tại Tây Nguyên

Triển khai các chính sách, pháp luật về công tác lâm nghiệp; đặc biệt là sau lệnh “đóng cửa rừng” của Thủ tướng Chính phủ chính quyền các tỉnh Tây Nguyên đã vào cuộc quyết liệt, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.

Nhờ đó, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực, tình trạng vi phạm lâm luật từng bước được kiềm chế.

Xử lý nghiêm vi phạm

Tại Đắk Lắk, sau Hội nghị “Về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020” do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, Ban thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã ban hành các chỉ thị, văn bản chỉ đạo thực hiện như Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 10/10/2016 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường các giải pháp khôi phục và phát triển rừng bền vững tỉnh Đắk Lắk; Chương trình số 13/CTr-TU ngày 19/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Quyết định số 1287-QĐ/TU ngày 04/1/2019 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về việc thành lập Ban chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước và đôn đốc thanh tra, kiểm tra, điều tra giải quyết các vụ việc, vụ án phức tạp liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng và nhiều chỉ đạo khác.

Hiện trường của một vụ khai thác gỗ bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 
Hiện trường của một vụ khai thác gỗ bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 

Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh xây dựng ban hành Quyết định số 3419/QĐ-UBND ngày 13/11/2019 về Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 297/QĐ-TTg ngày 18/3/2019, trong đó đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cần đạt được, triển khai các giải pháp tổng hợp và đặc biệt là các giải pháp xử lý đồng bộ những vấn đề dân sinh, kinh tế đang tạo áp lực lớn đối với rừng, đặc biệt là giải pháp về nguồn lực, kinh phí đầu tư để bảo vệ và khôi phục rừng.

Tỉnh Đắk Lắk cũng rà soát các dự án cấp thiết để giải quyết đất cho đồng bào dân tộc thiểu số, các dự án ổn định dân di cư tự do mà trước đây đã dự kiến lấy từ quỹ đất rừng do không thể cân đối từ quỹ đất khác.

Sau lệnh “đóng cửa rừng” của Thủ tướng Chính phủ, chính quyền các tỉnh Tây Nguyên đã vào cuộc quyết liệt, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Nhờ đó, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực, tình trạng vi phạm lâm luật từng bước được kiềm chế. 

Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội hầu hết ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn mà có liên quan đến phải chuyển đổi một bộ phận rừng, đất rừng (diện tích này không lớn), để báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chính phủ xem xét cụ thể, cho chủ trương giải quyết. Nội dung này cũng là thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ về ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường; qua đó làm giảm áp lực phá, lấn chiếm rừng để làm nương rẫy.

Ông Nguyễn Hoài Dương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk cho biết, từ năm 2015 đến nay, các cấp, ngành của tỉnh đã tăng cường kiểm tra, lập hồ sơ xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về lĩnh vực lâm nghiệp.

Phương tiện độ chế của các đối tượng lâm tặc bị lực lượng chức năng thu giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 
Phương tiện độ chế của các đối tượng lâm tặc bị lực lượng chức năng thu giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN) 

Từ năm 2015 đến tháng 4/2020 đã phát hiện, tiếp nhận, lập hồ sơ xử lý 7.017 vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lâm nghiệp, đã xử lý hành chính: 6.959 vụ; xử lý hình sự: 90 vụ/77 bị can.

So với giai đoạn (2010-2014), số vụ vi phạm đã giảm 30,5% (giảm 3.093 vụ). Từ năm 2017 đến nay, những năm sau số vụ vi phạm đều giảm so với năm trước.

Tỉnh Đắk Nông được xem là địa phương đi đầu, quyết liệt thực hiện xử lý vi phạm liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng, kể cả việc xử lý nghiêm các cán bộ có liên quan đến sai phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Tháng 12/2016, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông Nguyễn Bốn ký Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND, ngày 30/12/2016 quy định về xử lý trách nhiệm chủ rừng, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trực tiếp quản lý rừng, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

Đây là quyết định quan trọng, quy định rõ trách nhiệm chủ rừng; Ủy ban Nhân dân cấp xã, phường, thị trấn; kiểm lâm địa bàn; trạm kiểm lâm, trạm cửa rừng; hạt kiểm lâm khu bảo tồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; hạt kiểm lâm cấp huyện, thành phố.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông, tính đến hết năm 2019, sau 2 năm thực hiện Quyết định 44, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và chủ rừng đã nâng cao vai trò, trách nhiệm, từng bước thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Trong 2 năm 2017 và 2018, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý hơn 1.000 vụ phá rừng, với gần 500 ha rừng bị thiệt hại. Căn cứ vào Quyết định 44, các ngành chức năng đã xử lý trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan để xảy ra phá rừng.

Điển hình, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông đã ban hành 19 quyết định kỷ luật cán bộ, công chức kiểm lâm liên quan đến các vụ phá rừng. Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm 17 công chức kiểm lâm vì chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm để xảy ra phá rừng.

Đối với cấp xã, Ủy ban Nhân dân huyện, thị xã đã tổ chức kỷ luật, cảnh cáo 1 người, khiển trách 5 người, kiểm điểm rút kinh nghiệm 15 người và 5 ban lâm nghiệp xã.

Tháng 9/2016, Công an tỉnh Đắk Nông xác lập chuyên án (TX0916) và triển khai các kế hoạch chuyên đề tập trung đấu tranh trấn áp, xử lý tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn toàn tỉnh.

Sau gần 3 năm (từ tháng 9/2016- 8/2019), lực lượng Công an Đắk Nông đã tiếp nhận, xử lý hơn 500 vụ việc với gần 550 đối tượng vi phạm; Trong đó, ngành chức năng đã khởi tố 138 vụ với 250 bị can, chủ yếu các tội “hủy hoại rừng,” “Đưa hối lộ,” “vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”, “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.”

Lực lượng Công an cũng đã triệt phá, làm tan rã 21 nhóm với 125 đối tượng liên quan đến hoạt động bảo kê, chặt phá rừng; tranh chấp, lấn chiếm, mua bán trái phép đất rừng… Đồng thời chuyển cơ quan chức năng xử lý hành chính 330 vụ với 258 đối tượng về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản.

Bảo vệ được rừng nhờ lệnh đóng cửa rừng

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) đầu tư phát triển Đại Thành (trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông) được giao quản lý, bảo vệ hơn 18.000 ha rừng tại huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

 Gỗ tang vật của Vườn quốc gia Yok Đôn bị lực lượng chức năng thu giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
 Gỗ tang vật của Vườn quốc gia Yok Đôn bị lực lượng chức năng thu giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Theo ông Phan Bá Nhã, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty, lệnh đóng cửa rừng của Chính phủ là một giải pháp bảo vệ, phục hồi rừng, góp phần ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Công ty thấy đây là giải pháp rất hợp lý, cần thiết, trong bối cảnh rừng tự nhiên tại Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung liên tục suy giảm trong vòng mấy chục năm qua.

Tác động trực tiếp của chính sách này là từ thời điểm đóng cửa rừng đến nay, toàn bộ diện tích rừng được giao cho Công ty quản lý, bảo vệ hầu như không xảy ra tình trạng phá rừng để khai thác gỗ trái phép hoặc lấn chiếm đất lâm nghiệp. Chất lượng, trữ lượng rừng tăng nhanh, đều đặn qua từng năm đã góp phần trực tiếp vào việc ổn định khí hậu, gìn giữ nguồn nước trong khu vực.

Theo kết quả kiểm tra, đánh giá của Công ty vào tháng 10/2019, từ năm 2014 đến nay, trung bình mỗi năm trữ lượng gỗ của Công ty tăng 18.000m3. Như vậy, trong vòng 5 năm (từ 2014- 2019), trữ lượng gỗ trên lâm phần được giao cho Công ty đã tăng gần 100.000 m3.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên (trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông) được giao quản lý, bảo vệ gần 23.500ha đất rừng tại xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

Ông Nguyễn Ngọc Bình, Chủ tịch Công ty cho biết lệnh đóng cửa rừng đã tạo nên một hành lang pháp lý, một nền tảng quan trọng và hết sức thuận lợi cho đơn vị trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ lệnh đóng cửa rừng của Chính phủ, tiếp theo đó là Quyết định 44 của UBND tỉnh Đắk Nông (Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND, ngày 30/12/2016 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông quy định về xử lý trách nhiệm chủ rừng, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trực tiếp quản lý rừng, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông) cả hệ thống chính trị và chính quyền các cấp đã vào cuộc mạnh mẽ để phối hợp, hỗ trợ với đơn vị chủ rừng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Việc phá rừng khai thác gỗ, lấn chiếm đất lâm nghiệp giảm mạnh về số vụ cũng như quy mô. Rừng được bảo vệ, bảo tồn để phát triển, trữ lượng tăng mạnh và tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp cơ bản được ngăn chặn.

Ông Lê Quang Dần, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông khẳng định lệnh đóng cửa rừng của Chính phủ đã bảo tồn, bảo vệ được tài nguyên rừng tự nhiên đang trên đà suy giảm mạnh trong thời gian dài trước đó.

Lệnh đóng cửa rừng cũng đã chặn đứng, có thể nói là chấm dứt việc lợi dụng “chỉ tiêu” khai thác gỗ để tàn phá rừng trái phép. Nhờ lệnh đóng cửa rừng và hành lang pháp lý ngày càng được hoàn thiện từ Trung ương đến địa phương, công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả.

Chính điều đó đã thúc đẩy sự vào cuộc mạnh mẽ của cấp ủy, các ngành chức năng, chính quyền địa phương, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Cũng theo đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông, bên cạnh quản lý, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, mấy năm nay, công tác phát triển rừng cũng được chú trọng, góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, nâng cao độ che phủ rừng, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, góp phần tăng thu nhập cho người dân. Từ năm 2017-2019, Đắk Nông đã trồng mới gần 4.800ha rừng.

Lâm Đồng là 1 trong 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên, nơi vẫn còn những cánh rừng nguyên sinh, hoang sơ cần bảo vệ. Những năm gần đây, tỉnh Lâm Đồng đã triển khai đồng loạt các giải pháp như ngừng cấp phép khai thác lâm sản, tận thu – tận dụng lâm sản trên diện tích rừng tự nhiên.

Tỉnh thoái trả bồi thường giá trị tài nguyên rừng trên diện tích tận dụng lâm sản cho các doanh nghiệp trong các dự án đã cấp phép trước đó; kiểm kê lại tài nguyên rừng cho các doanh nghiệp để thoái trả giá trị lâm sản đã bồi thường. Những khu vực rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng tự nhiên đều nghiêm cấm khai thác, chỉ quản lý bảo vệ. Tất cả các dự án đầu tư vào rừng, liên quan đến rừng đều dừng lại hết…

Qua triển khai, tỉnh Lâm Đồng đã thu hồi 8 giấy phép đã cấp cho 7 doanh nghiệp trồng rừng cao su và rừng kinh tế trên diện tích hơn 465ha, tổng sản lượng gỗ gần 14.000m3. Với những trường hợp đã nộp tiền bồi thường giá trị tài nguyên rừng, tỉnh đã thoái trả tiền bồi thường cho 12 đơn vị với số tiền trên 11 tỷ đồng …

Nhờ thực hiện những giải pháp khá mạnh mẽ, nên trong 5 năm qua, diện tích rừng của Lâm Đồng không giảm mà còn tăng thêm. Đến nay đã đạt 536.680ha trên tổng số 978.334ha diện tích tự nhiên, đưa tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 54,5%, mỗi năm tăng 0,5%, trong khi độ che phủ bình quân của cả khu vực là 46,19%.

Theo Chi cục Kiểm lâm vùng IV (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay, độ che phủ rừng toàn khu vực đạt 46,19%, đứng thứ 2 của cả nước, sau khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.

Đây là kết quả của sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị các tỉnh Tây Nguyên nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng, từng bước nâng cao độ che phủ rừng trên toàn khu vực./.

 Lực lượng quản lý, bảo vệ rừng Vườn quốc gia Yok Đôn tổ chức tuần tra, bảo vệ rừng. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
 Lực lượng quản lý, bảo vệ rừng Vườn quốc gia Yok Đôn tổ chức tuần tra, bảo vệ rừng. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Bảo vệ rừng Tây Nguyên: Dễ đóng cửa, khó cài then

Nhóm PV TTXVN tại Tây Nguyên

Tháng 6/2016, Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên tổ chức tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 191/TB-VPCP, ngày 22/7/2016 về việc thực hiện nghiêm túc chủ trương đóng cửa khai thác gỗ rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ.

 Trong những năm qua tại Tây Nguyên vẫn liên tục bị mất rừng với nhiều vụ việc có tính chất nghiêm trọng, phức tạp dẫn đến thực trạng “đóng cửa nhưng không cài được then.”

Thực hiện lệnh “đóng cửa rừng” của Thủ tướng chính phủ các tỉnh Tây Nguyên đã triển khai nhiều biện pháp để giữ rừng. Tuy nhiên, trong những năm qua tại Tây Nguyên vẫn liên tục bị mất rừng với nhiều vụ việc có tính chất nghiêm trọng, phức tạp dẫn đến thực trạng “đóng cửa nhưng không cài được then.”

Rừng vẫn mất

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 5/2017 về công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016, diện tích đất có rừng ở Tây Nguyên là 2.558.646ha, trong đó rừng tự nhiên có 2.234.440ha.

Hiện trường vụ phá rừng và hành hung các bộ quản lý, bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Yok Đôn xảy ra ngày 18/12/2019. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Hiện trường vụ phá rừng và hành hung các bộ quản lý, bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Yok Đôn xảy ra ngày 18/12/2019. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Đến năm 2018, diện tích đất có rừng ở Tây Nguyên là 2.557.322ha, trong đó rừng tự nhiên có 2.206.975ha. Như vậy, mặc dù các tỉnh Tây Nguyên đã thực hiện các biện pháp đóng cửa rừng tự nhiên theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ nhưng diện tích rừng tự nhiên vẫn giảm hàng năm. Đặc biệt, tại một số tỉnh như Đắk Lắk, Đắk Nông có diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng.

Theo Thống kê của Chi Cục Kiểm lâm vùng IV (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tại tỉnh Đắk Lắk, tổng diện tích rừng tự nhiên năm 2019 giảm so với năm 2018 là trên 11.251ha.

Trong số đó diện tích giảm tập trung nhiều nhất tại địa bàn các huyện M’Đrắk 7.284ha; Ea Súp 1.254ha; Lắk 1.293ha…Tại tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích rừng tự nhiên năm 2019 so với năm 2018 giảm là 7.156ha.

Trong đó diện tích giảm tập trung nhiều nhất ở địa bàn các huyện Đắk Glong trên 5.681ha; Krông Nô trên 465ha; Đắk Song trên 461ha…

Nguyên nhân diện tích rừng tự nhiên tại các địa phương giảm là do phá rừng trái pháp luật, cháy rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng và nguyên nhân khác (do sai số trong kiểm kê rừng).

Chỉ tính từ đầu năm 2020 đến ngày 25/5, toàn tỉnh Kon Tum đã phát hiện 193 vụ phá rừng với khối lượng hơn 666 m3. Diện tích rừng bị thiệt hại hơn 20 ha. Riêng trong tháng 5/2020 tỉnh Kon Tum đã phát hiện 43 vụ phá rừng, tăng 12 vụ so với cùng kỳ năm 2019.

Các vụ vi phạm lâm luật chủ yếu xảy ra tại các “điểm nóng” về phá rừng từ trước đến nay như các huyện Đắk Glei, Đắk Tô và Kon Plông.

Tại các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng cũng diễn ra tình trạng tương tự. Bất chấp lệnh đóng cửa rừng của Thủ tướng Chính phủ và các biện pháp bảo vệ rừng của chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên những đối tượng lâm tặc, đầu nậu gỗ vẫn “hành quân” lên rừng để rút ruột tài nguyên.

Phương tiện và gỗ tang vật bị lực lượng chức năng của Vườn quốc gia Yok Đôn thu giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)
Phương tiện và gỗ tang vật bị lực lượng chức năng của Vườn quốc gia Yok Đôn thu giữ. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)

Những con số thống kê cho thấy, tình trạng mất rừng tự nhiên diễn ra liên tục trên khắp các địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Điều đáng nói, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, chính quyền các địa phương tại Tây Nguyễn đã “đóng cửa” rừng bằng những biện pháp tăng cường quản lý bảo vệ, hệ thống văn bản chỉ đạo nhưng thực tế là rừng vẫn mất.

Đặc biệt, thời gian gần đây, tình trạng phá rừng tại khu vực Tây Nguyên lại “nóng” lên khi nhiều vụ việc liên tục được phát hiện với tính chất nghiêm trọng, diễn biến ngày phức tạp thể hiện sự lộng hành, ngang nhiên coi thường pháp luật của lâm tặc.

Ngang nhiên “bức tử” rừng

Sự hấp dẫn từ lợi ích kinh tế đã khiến các đối tượng lâm tặc, những đầu nậu mua bán gỗ rừng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau đã xâm nhập và hủy hoại rừng tự nhiên.

Thời gian gần đây, vụ việc rừng pơmu tại huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk liên tục bị “thảm sát” đã khiến dư luận không khỏi bức xúc khi những cây gỗ pơmu hàng trăm năm tuổi bị “xẻ thịt” không thương xót ngay trên thủ phủ sinh sống của mình.

Tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) là “thủ phủ” sinh sống của cây pơmu.

Hiện trường khai thác gỗ Pơ mu trái phép từ các năm trước tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Hiện trường khai thác gỗ Pơ mu trái phép từ các năm trước tại tiểu khu 1213, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Kông Bông. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Mặc dù phân bố ở địa hình hiểm trở với độ cao trên 1.600 mét so với mặt nước biển nhưng những năm gần đây, tại khu vực này liên tiếp xảy ra các vụ “thảm sát” rừng pơmu, điển hình như các vụ khai thác trái phép: 48 cây gỗ pơmu xảy ra tháng 10/2018; 24 cây pơmu vào tháng 2/2019; 9 cây pơmu vào tháng 12/2019; 14 cây pơmu vào tháng 2/2020 và gần đây nhất là vụ cưa hạ 19 cây pơmu vào tháng 4/2020.

Hoạt động cưa, xẻ gỗ pơmu thành từng tấm diễn ra “nhộn nhịp” ngay tại hiện trường. Một số người được bố trí làm nhiệm vụ cảnh giới, khi phát hiện “bóng dáng” của lực lượng chủ rừng thì báo động cho cả nhóm bỏ chạy vào rừng và chờ thời cơ để tiếp tục công việc được “lập trình” nhiều năm nay là thăm dò cây pơmu – cưa hạ – xẻ thành tấm – vận chuyển ra khỏi rừng.

Hay trong những tháng đầu năm 2020, tình trạng phá rừng giáp ranh giữa huyện Krông Pa (Gia Lai) với Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) nóng lên từng giờ khi những cánh rừng giáp ranh bị tàn phá nặng nề.

Các loài cây bị khai thác trái phép không chỉ là những loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm mà còn cả những loài thực vật rừng thông thường như Bằng lăng, Gáo vàng, Ké, Sao…

Trước tình trạng rừng giáp ranh bị tác động mạnh, ngày 15/4/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk có văn bản văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, quản lý dân cư tại khu vực giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk.

Sự ngang nhiên của lâm tặc còn được thể hiện trong thủ đoạn phá rừng khiến dư luận xã hội không khỏi bức xúc. Điển hình như vụ việc đầu độc trên 10ha rừng thông tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2019.

Các đối tượng phá rừng khoan vào gốc cây và bơm hóa chất diệt cỏ qua lỗ khoan. Hậu quả, toàn bộ số cây thông trên 10ha chết khô mà không thể cứu chữa.

Hay vụ việc phá trắng, cạo trọc, đốt trụi hơn 15ha rừng xảy ra vào năm 2018 tại tại lâm phần do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Quảng Sơn (huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông) quản lý.

Mục đích chính của các đối tượng phá rừng là chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp ngay tại vùng lõi rừng tự nhiên. Vụ việc chỉ được các cơ quan chức năng vào cuộc xử lý khi cơ quan báo chí lên tiếng phản ánh.

Những vụ việc trên chỉ là điển hình cho tình trạng lộng hành, coi thường pháp luật của lâm tặc. Điều này cũng cho thấy tính chất nghiêm trọng, phức tạp của nạn phá rừng chưa bao giờ “nguội” trên những cánh rừng Tây Nguyên.

Đây cũng là “dấu hỏi lớn” mà dư luận và công luận đặt ra cho chính quyền các địa phương, cơ quan chức năng của các tỉnh Tây Nguyên khi nắm trong tay “công cụ quyền lực” nhưng tình trạng ngang nhiên phá rừng vẫn diễn ra.

Theo đại diện Chi cục Kiểm lâm vùng IV, điểm tồn tại lớn nhất hiện nay là nhiều đơn vị chủ rừng ở hầu hết các địa phương chưa lập được hồ sơ xác định rõ vị trí, nguyên nhân, thời điểm, trạng thái rừng bị biến động, mất theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; báo cáo không trung thực, không kịp thời.

Cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương thiếu kiên quyết trong việc chỉ đạo, đặc biệt là khâu giám sát, xử lý chưa nghiêm, chưa kịp thời. Việc xử lý trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc xảy ra mất rừng vẫn chưa được làm rõ./.

Hiện trường vụ phá rừng và hành hung các bộ quản lý, bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Yok Đôn xảy ra ngày 18/12/2019. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Hiện trường vụ phá rừng và hành hung các bộ quản lý, bảo vệ rừng của Vườn quốc gia Yok Đôn xảy ra ngày 18/12/2019. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Nhiều thách thức trong giữ rừng tự nhiên ở Tây Nguyên

Nhóm PV TTXVN tại Tây Nguyên

Ngoài sự lộng hành, coi thường pháp luật của những đối tượng phá rừng, do đặc thù địa hình hiểm trở, địa bàn rộng lớn của khu vực Tây Nguyên cùng những bất cập trong công tác quản lý bảo vệ rừng cũng tạo ra nhiều áp lực đối với các lượng lượng quản lý bảo vệ rừng.

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận, đánh giá để có giải pháp đồng bộ trong “cuộc chiến” khôi phục và phát triển rừng bền vững khu vực Tây Nguyên.

Áp lực bảo vệ rừng

Theo ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng IV (Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) với đặc thù địa lý của của khu vực Tây Nguyên, rừng tự nhiên trải rộng trên khắp các địa phương, địa hình có nhiều núi cao, hiểm trở, khó di chuyển.

Ngoài sự lộng hành, coi thường pháp luật của lâm tặc, đặc thù địa hình hiểm trở, địa bàn rộng lớn của khu vực Tây Nguyên cùng những bất cập trong công tác quản lý bảo vệ rừng cũng tạo ra nhiều áp lực đối với các lượng lượng quản lý bảo vệ rừng. 

Đặc biệt, trong mùa mưa Tây Nguyên việc di chuyển tuần tra, truy quét tại các khu vực núi cao, rừng có nhiều gỗ quý gặp không ít khó khăn. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây các đối tượng “lâm tặc” trở nên manh động, sẵn sàng chống trả lực lượng quản lý bảo vệ rừng khi bị phát hiện và khống chế. Điều này cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý bảo vệ rừng trong thời gian tới.

Một lán tạm của lực lượng quản lý bảo vệ rừng Khu bảo tồn thiên niên Ea Sô (huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk).  (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)
Một lán tạm của lực lượng quản lý bảo vệ rừng Khu bảo tồn thiên niên Ea Sô (huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk). (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)

Đơn cử như việc tiếp cận được khu vực phân bố những quần thể pơmu tại tiểu khu 1219, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Krông Bông (Đắk Lắk), lực lượng quản lý bảo vệ rừng phải đi bộ mất hai ngày với địa hình vô cùng hiểm trở ở độ cao trên 1.600 mét so với mực nước biển.

Có thể nói, để tiếp cận, bảo vệ được khu vực phân bố gỗ quý đã rất khó khăn thì việc bắt quả tang, truy bắt đối tượng phá rừng là “nhiệm vụ bất khả thi” đối với lực lượng quản lý bảo vệ rừng tại khu vực này.

Đặc biệt, thời gian gần đây nhiều kiểm lâm phải “đổ máu” trong rừng bởi các đối tượng “lâm tặc” chống trả khi bị phát hiện và truy bắt.

Một trong những vụ việc nghiêm trọng xảy ra vào tháng 9/2018 là tổ tuần tra của Vườn quốc gia Chư Yang Sin (Đắk Lắk và Lâm Đồng) do kiểm lâm Ngô Đức Liên làm tổ trưởng bị một nhóm người tấn công bằng súng tự chế.

Hậu quả, khiến anh Liên bị trúng 20 viên đạn tự chế khắp cơ thể. Mặc dù tích cực điều trị và cứu được tính mạng nhưng đến nay trong cơ thể anh Liên vẫn còn những viên đạn do bị “lâm tặc” tấn công. Hiện anh Ngô Đức Liên phải nghỉ việc do sức khỏe yếu và trở thành gánh nặng cho gia đình khi không còn sức lao động.

Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn bị hành hung sau khi bắt quả tang đối tượng phá rừng xảy ra ngày 18/12/2019. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)
Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn bị hành hung sau khi bắt quả tang đối tượng phá rừng xảy ra ngày 18/12/2019. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)

Hay gần đây nhất là hai vụ việc hành hung cán bộ kiểm lâm Vườn Quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk và Đắk Nông) xảy ra vào cuối năm 2019 và đầu năm 2020. Khi lực lượng quản lý bảo vệ rừng phát hiện các vụ phá rừng, vận chuyển gỗ rừng từ Vườn gia Yok Đôn nên tổ chức truy đuổi và vây bắt.

Tuy nhiên, khi phát hiện lực lượng chức năng có ít người, các đối tượng “lâm tặc” đã quay lại tấn công khiến nhiều cán bộ kiểm lâm phải “đổ máu” giữa rừng.

Không chỉ tấn công gây thương tích cho cán bộ kiểm lâm giữ rừng mà các “tổ chức” phá rừng, đầu nậu gỗ còn thực hiện “khủng bố tinh thần” của lực lượng Kiểm lâm bằng tin nhắn đe dọa qua điện thoại và mạng xã hội.

Rõ ràng, một nghịch lý đang diễn ra trong công tác quản lý bảo vệ rừng khi lực lượng kiểm lâm lại trở thành “mục tiêu” tấn công của các đối tượng vi phạm pháp luật. Đây cũng là áp lực không nhỏ “đè nặng” lên lực lượng quản lý bảo vệ rừng.

Bên cạnh đó, tình trạng di dân ngoài kế hoạch tại khu vực Tây Nguyên diễn biến phức tạp trong những năm qua cũng làm diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm bởi nhu cầu đất ở, đất sản xuất của dân di cư tự do.

Từ năm 2005 đến nay, tỉnh Đắk Lắk không đón nhận người dân di cư theo kế hoạch. Tuy nhiên, từ năm 2005 đến 31/12/2019 vẫn có có 1.841 hộ với 9.109 khẩu của 51 tỉnh, thành, di cư tự do đến 10 huyện trên địa bàn tỉnh.

Riêng trong 2 năm (2018-2019) đã có 150 hộ với 748 khẩu di cư đến địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong đó chủ yếu là đồng bào Mông với 134 hộ, 698 khẩu, tập trung đến các huyện Ea Súp, Lắk, M’Đrắk.

Cùng với số dân trước đó chưa được quy hoạch, giải quyết đất ở, đất sản xuất tạo ra sức ép rất lớn cho các vấn đề kinh tế, xã hội, anh ninh trật tự tại địa phương, trong đó có cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.

Hiện nay tỉnh Đắk Lắk đang triển khai 13 dự án bố trí dân di cư tự do với quy mô bố trí cho 4.402 hộ với 23.269 khẩu, số này còn sống rải rác trong rừng nhưng chưa được Trung ương bố trí đủ kinh phí để thực hiện.

Ngoài ra, qua rà soát trên địa bàn tỉnh còn phát sinh 7 điểm có dân di cư tự do cần đầu tư cấp bách với quy mô 2.635 hộ cần phải lập dự án quy hoạch để có cơ sở đầu tư sắp xếp, ổn định dân cư với tổng mức đầu tư dự kiến 945.283 triệu đồng.

Với địa hình hiểm trở, địa bàn rộng lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) gặp nhiều khó khăn trong đảm bảo các điều kiện ăn, ở. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)
Với địa hình hiểm trở, địa bàn rộng lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) gặp nhiều khó khăn trong đảm bảo các điều kiện ăn, ở. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)

Tại tỉnh Đắk Nông vẫn còn gần 6.000 hộ dân, với gần 17.000 nhân khẩu đang cư trú trái phép trên diện tích gần 12.000ha rừng.

Tình trạng người dân di cư tự do, phá rừng làm nương rẫy cũng tạo áp lực không nhỏ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực Tây Nguyên. Theo thống kê của Chi Cục Kiểm lâm vùng VI, chỉ tính từ tháng 1 đến tháng 11/2019 trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên đã có trên 550 vụ phá rừng làm nương rẫy, trong đó, tỉnh Đắk Nông xảy ra 382 vụ; Lâm Đồng xảy ra 116 vụ; Gia Lai có 44 vụ…

Cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện

Sau khi thực hiện chủ trương đóng cửa khai thác gỗ rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ vào năm 2016. Trung ương cùng các bộ, ngành đã triển khai các văn bản pháp luật như Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng; Quyết định số 297/QĐ-TTg ngày 18/3/2019 về phê duyệt Đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2030 và một số quyết định, thông tư về chính sách hỗ trợ kinh phí quản lý bảo vệ rừng cho các công ty lâm nghiệp không được khai thác rừng tự nhiên.

Lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) gặp nhiều khó khăn trong tuần tra bảo vệ rừng. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)
Lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) gặp nhiều khó khăn trong tuần tra bảo vệ rừng. (Ảnh: Tuấn Anh/ TTXVN)

Tuy nhiên, theo Chi cục Kiểm lâm vùng IV, việc thực hiện các cơ chế, chính sách trên còn nhiều khó khăn, vướng mắc như: Đối với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, chỉ được thực hiện đối với các chủ rừng có diện tích rừng nằm trong lưu vực các hồ, đập thủy điện. Đối với các chủ rừng còn lại chỉ được cấp kinh phí theo Quyết định số 2242/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, do đó gặp nhiều khó khăn về tài chính khi không đủ kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.

Theo quy định trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ kinh phí quản lý, bảo vệ rừng thì chỉ có những công ty lâm nghiệp Nhà nước được hỗ trợ. Đối với các công ty lâm nghiệp ngoài quốc doanh, được Nhà nước giao đất, giao rừng hoặc cho thuê đất, thuê rừng thì không được hỗ trợ kinh phí để quản lý, bảo vệ rừng.

Điều này cũng làm giảm hiệu quả trong quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên khi các doanh nghiệp tư nhân phải trả tiền thuê rừng cho Nhà nước và phải bỏ kinh phí để quản lý bảo vệ rừng nhưng không được hưởng lợi từ rừng.

Cũng theo Chi cục Kiểm lâm vùng IV, một trong những nguyên nhân khiến rừng tự nhiên tại Tây Nguyên bị suy giảm là một bộ phận lớn các chủ rừng, đặc biệt là các công ty lâm nghiệp Nhà nước, các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ mặc dù được Nhà nước giao quản lý với diện tích lớn nhưng không đủ năng lực, nhân lực và kinh phí để bảo vệ lâm phần được giao.

Chính quyền và các cơ quan chuyên môn ở địa phương chưa thực sự quan tâm, thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao; sự phối hợp giữa các cấp, ngành, lực lượng chức năng, chủ rừng còn chưa đồng bộ để kịp thời ngăn chặn, xử lý vi phạm “lâm luật.”

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về diễn biến tài nguyên rừng năm 2018 tại Tây Nguyên, diện tích rừng tự nhiên do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý là 300.453 ha, đây thực sự là những diện tích rừng “vô chủ” và dễ bị xâm hại nhất khi hầu hết cấp xã không đủ kinh phí và lực lượng để quản lý, bảo vệ rừng.

Những khó khăn, áp lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng cùng những bất cập trong việc thực hiện hệ thống cơ chế, chính sách khiến nguồn tài nguyên rừng Tây Nguyên đang bị suy thoái nghiêm trọng về cả số lượng lẫn chất lượng dẫn đến nguy cơ “sa mạc hóa” khu vực Tây Nguyên khi liên tục mất rừng.

Thực trạng này đòi hỏi các cấp, ngành, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải có những giải pháp thật sự hiệu quả, phù hợp với tình hình mới để khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên bền vững./.

Lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) gặp nhiều khó khăn trong tuần tra bảo vệ rừng. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Lực lượng quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (huyện Krông Bông) gặp nhiều khó khăn trong tuần tra bảo vệ rừng. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Phát triển rừng bền vững ở Tây Nguyên

Nhóm PV TTXVN tại Tây Nguyên

Đối với khu vực Tây Nguyên, tình trạng vi phạm pháp luật về lĩnh vực lâm nghiệp chưa bao giờ hết “nóng.” Điều này đòi hỏi các bộ, ngành Trung ương cùng chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên cần có giải pháp căn cơ, thật sự hiệu quả để đẩy lùi nạn phá rừng tự nhiên và phát triển rừng bền vững.

Cuộc chiến không khoan nhượng

Phải khẳng định rằng, Tây Nguyên là khu vực còn nhiều diện tích rừng tự nhiên và nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao. Thị trường lâm sản đang có nhu cầu cao, giá trị lâm sản về gỗ, đặc biệt là gỗ rừng tự nhiên ngày càng tăng nên có thể ví rừng Tây Nguyên như “miếng bánh giàu dinh dưỡng” mà bất cứ đối tượng “lâm tặc” nào cũng “thèm muốn.”

 Để bảo vệ, phát triển rừng Tây Nguyên bền vững thì cần thêm những giải pháp đồng bộ mang tính vĩ mô, đặc biệt trong việc tháo gỡ khó khăn trong thực hiện cơ chế chính sách và vấn đề an sinh xã hội cho người dân sống gần rừng.

Thực tế trong thời gian qua, trên khắp các địa phương còn rừng ở Tây Nguyên đều bị “lâm tặc” mở đường “khai chiến” để khai thác gỗ trái phép, đặc biệt là tại các huyện Đắk Glong, Tuy Đức, Đắk Song, Krông Nô (tỉnh Đắk Nông); Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Đạ Tẻh, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng); Ia HDrai, Ngọc Hồi, Kon Plông, Tu Mơ Rông, Đắk Tô (tỉnh Kon Tum); Ea Súp, Buôn Đôn, Ea Hleo, MĐrắk, Kông Bông, Lắk (tỉnh Đắk Lắk); Ia Grai, Mang Giang, Chư Prông, Krông Pa, Kbang, Chư Pah, Ayun Pa (tỉnh Gia Lai).

Hiện trường vụ chặt phá rừng trên lâm phần được giao cho Công ty TNHH Hoàng Ba quản lý. (Ảnh : Hưng Thịnh/ TTXVN)
Hiện trường vụ chặt phá rừng trên lâm phần được giao cho Công ty TNHH Hoàng Ba quản lý. (Ảnh : Hưng Thịnh/ TTXVN)

Điều này cho thấy, chỉ khi nào hết rừng thì lâm tặc mới “tìm nghề mới” và phá rừng Tây Nguyên sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp trong thời gian tới.

Tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng là hai địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn ở khu vực Tây Nguyên. Các biện pháp tăng cường quản lý bảo vệ rừng đã được tăng cường trong thời gian qua để “hạ nhiệt” nạn phá rừng.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Hoài Dương cho biết trong thời gian tới để quản lý bảo vệ rừng hiệu quả hơn, tỉnh Đắk Lắk đã quyết liệt chỉ đạo cấp ủy chính quyền các cấp, các chủ rừng, lực lượng bảo vệ rừng, các cơ quan Công an, Kiểm sát, Quân đội và các tổ chức chính trị, xã hội vào cuộc quyết liệt, đấu tranh một cách có hiệu quả, xử lý nghiêm những hành vi phá hoạt tài nguyên rừng, làm rõ trách nhiệm người phụ trách từng địa bàn, của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng.

Đắk Lắk đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân, triển khai thực hiện Đề án. Đồng thời, tỉnh tổ chức thực hiện các lớp đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho chính quyền địa phương, cho đội ngũ cán bộ quản lý rừng, đặc biệt đội ngũ cán bộ kiểm lâm, ban quản lý rừng phòng hộ, lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng.

Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng: Trước tình trạng phá rừng ngày càng diễn biến phức tạp, tỉnh Lâm Đồng đã xây dựng Đề án “Tăng cường quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và khôi phục rừng trên diện tích bị lấn chiếm giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030,” đang trình Ủy ban Nhân dân tỉnh và lấy ý kiến đóng góp.

Kiểm lâm, các công ty lâm nghiệp địa phương kết hợp với các cuộc họp làng để tuyên truyền việc trồng rừng trên đất lâm nghiệp. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)
Kiểm lâm, các công ty lâm nghiệp địa phương kết hợp với các cuộc họp làng để tuyên truyền việc trồng rừng trên đất lâm nghiệp. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Tại đề án này, Sở đề xuất không phê duyệt các dự án cho thuê rừng phòng hộ, kinh doanh du lịch dưới tán rừng nữa, mà chỉ còn dự án cho thuê môi trường rừng.

Đặc biệt, ngày 19/5/2020, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ra văn bản số 4523/UBND-LN về tổ chức Đợt cao điểm ra quân kiểm tra, truy quét tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ phá rừng để lấy gỗ, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.

Ông Nguyễn Khang Thiên, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết đơn vị sẽ tổ chức các đợt ra quân trong toàn lực lượng Kiểm lâm, trên phạm vi toàn tỉnh để tuần tra; hỗ trợ các đơn vị chủ rừng tổ chức thực hiện đợt cao điểm kiểm tra, truy quét tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ phá rừng, khai thác gỗ, lấn chiếm, sang nhượng đất lâm nghiệp trái pháp luật để có biện pháp ngăn chặn xử lý kịp thời.

Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng IV Hà Công Tài, trước sự ngang nhiên, lộng hành của “lâm tặc” trong thời gian vừa qua, Chi cục Kiểm lâm vùng IV đã tăng cường lực lượng, hỗ trợ chủ rừng, cơ quan Kiểm lâm tổ chức các đợt truy quét tại các điểm nóng phá rừng trên khắp địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.

Đây là “cuộc chiến” không khoan nhượng để bảo vệ những các cánh rừng nguyên sinh ở khu vực Tây Nguyên.

Cũng theo ông Hà Công Tài, bên cạnh tăng cường kiểm tra, truy quét các điểm nóng phá rừng, lực lượng kiểm lâm, chủ rừng các tỉnh Tây Nguyên cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các lực lượng chức năng trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, hiệu quả đối với các hành vi vi phạm “lâm luật” tại các điểm nóng, nhạy cảm về phá rừng, góp phần giảm thiểu thiệt hại về tài nguyên rừng. Đồng thời xử lý nghiêm, dứt điểm những vụ án còn tồn đọng về phá rừng, chống người thi hành công vụ để kịp thời răn đe các đối tượng khác.

Rừng thông gần 40 năm tuổi bị tàn phá, bức tử trên quy mô lớn, trong thời gian dài mà không bị ngăn chặn, xử lý. (Ảnh: Hưng Thịnh/TTXVN)
Rừng thông gần 40 năm tuổi bị tàn phá, bức tử trên quy mô lớn, trong thời gian dài mà không bị ngăn chặn, xử lý. (Ảnh: Hưng Thịnh/TTXVN)

Việc tuần tra, truy quét lâm tặc có thể làm “hạ nhiệt” nạn phá rừng trong thời gian nhất định. Để bảo vệ, phát triển rừng Tây Nguyên bền vững thì cần thêm những giải pháp đồng bộ mang tính vĩ mô, đặc biệt trong việc tháo gỡ khó khăn trong thực hiện cơ chế chính sách và vấn đề an sinh xã hội cho người dân sống gần rừng.

Tháo gỡ khó khăn để phát triển bền vững

Theo Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Hoài Dương, đối với các tỉnh tại Tây Nguyên, công tác quản lý, bảo vệ rừng rừng là nội dung liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành.

Tại nhiều cuộc họp, hội thảo các cấp, các ngành đã xác nguyên nhân chưa ngăn chặn xử lý được tình trạng xâm hại rừng trên bàn địa tỉnh là cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, còn nhiều bất cập; nguồn vốn, kinh phí nhà nước đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn quá thấp so với nhu cầu thực tế, hàng năm chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu của tỉnh.

Bên cạnh đó, chưa đủ nguồn lực để giải quyết đồng bộ hài hòa các vấn đề liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng như: Bố trí sắp xếp, ổn định dân cư giải quyết đất sản xuất, đất ở, việc làm cho người dân sống gần rừng và các vấn đề phát triển kinh tế xã hội khác liên quan đến rừng, đất rừng.

Để giảm áp lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai thực hiện Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ về ổn định dân di cư tự do và quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường, giải quyết căn bản tình trạng dân di cư tự do trên địa tỉnh trước năm 2025.

 Nhà cửa kiên cố của một số hộ dân xây dựng trên đất rừng thông ven Quốc lộ 28, đoạn qua xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông. (Ảnh: Hưng Thịnh/TTXVN) 
 Nhà cửa kiên cố của một số hộ dân xây dựng trên đất rừng thông ven Quốc lộ 28, đoạn qua xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông. (Ảnh: Hưng Thịnh/TTXVN) 

Tỉnh cũng đề nghị Chính phủ quan tâm, tạo điều kiện bố trí nguồn vốn để thực hiện trong giai đoạn 2021-2025 (trong đó ngân sách Trung ương hơn 661 tỷ đồng, ngân sách địa phương hơn 283 tỷ đồng) để giải quyết vấn đề dân di cư tự do để giảm sức ép vào rừng, đất rừng.

Đối với Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2006-2020, Trung ương mới bố trí vốn cho tỉnh Đắk Lắk hơn 66 tỷ đồng, đạt khoảng 15% nhu cầu đi của tỉnh, do vậy rất khó để có nguồn lực đầu tư phát triển rừng, địa phương phải tự chủ động bố trí, phân bổ đầu tư cho các dự án trên địa bàn tỉnh.

Trong bối cảnh ngân sách Nhà nước hết sức khó khăn, chủ yếu để bố trí cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn, chưa ưu tiên để thực hiện các dự án bảo vệ và phát triển rừng, do vậy rất khó để có nguồn lực đầu tư phát triển rừng.

Tỉnh Đắk Lắk đề nghị Trung ương quan tâm, bố trí vốn để thực hiện chương trình này gắn với thực hiện Quyết định 297/QĐ-TTg ngày 18/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2030.

 Lực lượng Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, tỉnh Bình Phước chủ động tuần tra phòng cháy trong mùa khô. (Ảnh: K GỬIH/TTXVN)
 Lực lượng Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, tỉnh Bình Phước chủ động tuần tra phòng cháy trong mùa khô. (Ảnh: K GỬIH/TTXVN)

Đối với những vấn đề khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, cũng là vấn đề cần thiết phải có đề xuất, kiến nghị tháo gỡ.

Tỉnh Đắk Lắk đã có 8 văn bản báo cáo kiến nghị Trung ương xem xét tháo gỡ khó khăn, vướng mắc một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hiện nay để các bộ, ngành, Chính phủ xem xét, tháo gỡ, tuy nhiên hiện nay nhiều kiến nghị chưa được xem xét, giải quyết hoặc có hướng dẫn thực hiện.

Theo ông Nguyễn Hoài Dương, thực tế ở Tây Nguyên nói chung, tỉnh Đắk Lắk nói riêng đang có hàng trăm ngàn hécta rừng tự nhiên nghèo, nghèo kiệt năng suất, chất lượng thấp, tỷ lệ cây phi mục đích, tỉ lệ cây gỗ có đường kính trên 20cm rất ít và chủ yếu là cây phẩm chất xấu không đáp ứng trước yêu cầu về kinh tế, phòng hộ, môi trường trong khoảng vài chục năm nữa, không thể phục hồi, trong đó có một bộ phận lớn là rừng khộp.

Trên cơ sở quy định của Luật Lâm nghiệp; Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ “được phép thực hiện cải tạo rừng”, tuy nhiên thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “Không cải tạo rừng khộp nghèo, nghèo kiệt khi chưa có đánh giá, khảo nghiệm có kết luận đầy đủ về khoa học” tại Thông báo số 511/TB-VPCP ngày 01/11/2017, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị các Bộ, ngành Trung ương quan tâm, có ý kiến với Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn tháo gỡ cho địa phương thực hiện việc cải tạo rừng theo quy định của Nhà nước.

Tỉnh Đắk Lắk cũng kiến nghị Chính phủ cần tiếp tục thực hiện các chương trình giảm nghèo trong gian đoạn 2021-2025 nhưng đổi mới phương pháp tiếp cận, các cách thức hỗ trợ, tiêu chí đánh giá… nhằm kết nối tất cả các chương trình, tổ chức, cá nhân để tạo nguồn lực tổng hợp để hỗ trợ người nghèo về sinh kế, xoá nhà dột nát, cải thiện điều kiện sống của người nghèo, nhất là người dân sống gần rừng.

Tỉnh đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tổng kết về giao rừng, cho thuê rừng trên cơ sở đó xây dựng cơ chế rõ quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của đối tượng nhận rừng, để họ yên tâm đầu tư, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng lâu dài, ổn định.

Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng, mối quan hệ với các cơ quan chức năng trong việc ngăn chặn, xử lý xâm hại rừng, đất lâm nghiệp để ngăn chặn, xử lý có hiệu quả mọi hành vi xâm hại rừng.

Thực tế cho thấy, công tác quản lý, bảo vệ rừng khu vực Tây Nguyên đang đứng trước nhiều khó khăn. Điều này đòi hỏi các bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương tiếp tục vào cuộc “mổ xẻ” những nguyên nhân làm mất rừng, từ đó đề ra những giải pháp đồng bộ, đột phá để khôi phục và phát triển bền vững rừng Tây Nguyên./.

Đội Bảo vệ rừng số 6, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)
Đội Bảo vệ rừng số 6, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)

Thuốc lá thế hệ mới

Bên cạnh các sản phẩm thuốc lá điếu, cigar, thuốc lá sợi (thuốc lào) đang được quản lý theo quy định của Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá, thị trường Việt Nam đang xuất hiện một số sản phẩm thuốc lá mới.

Trong số đó, phổ biến nhất là thuốc lá điện tử (Electronic Nicotine Delivery – ENDs) và thuốc lá làm nóng (Heated Tobacco Product – HTPs).

Các sản phẩm này đang ngày càng phổ biến nhưng lại có nguy cơ trở thành mối hiểm họa với sức khỏe người dùng.

Các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới (thuốc lá điện tử, thuốc lá nước (shisha) và thuốc lá làm nóng (HTPs) xuất hiện nhiều trên thị trường và được nhà sản xuất quảng cáo là ít tác hại hơn thuốc lá điếu thông thường, là sản phẩm để hỗ trợ người hút thuốc cai thuốc lá điếu thông thường.

Điều này khiến nhiều người nhầm tưởng thuốc lá thế hệ mới giúp họ bỏ thuốc lá điếu thông thường dần dần nhưng trên thực tế thì không phải như vậy.

Nhân Ngày Thế giới không thuốc lá (31/5), phóng viên Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu 2 bài viết làm rõ về thuốc lá thế hệ mới cũng như tác hại khôn lường từ những sản phẩm này./.

Thuốc lá thế hệ mới

Không phải giải pháp để cai thuốc lá điếu thông thường

Thời gian gần đây, các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới (thuốc lá điện tử, thuốc lá nước (shisha) và thuốc lá làm nóng (HTPs) xuất hiện nhiều trên thị trường và được nhà sản xuất quảng cáo là ít tác hại hơn thuốc lá điếu thông thường, là sản phẩm để hỗ trợ người hút thuốc cai thuốc lá điếu thông thường. Điều này khiến nhiều người nhầm tưởng thuốc lá thế hệ mới giúp họ bỏ thuốc lá điếu thông thường dần dần nhưng trên thực tế thì không phải như vậy.

Nhiều thành phần tương tự thuốc lá điếu thông thường

Theo tìm hiểu của phóng viên, thuốc lá thế hệ mới được bán nhiều tại các cửa hàng, trên mạng internet với nhiều tên gọi, dạng sản phẩm, kiểu dáng đa dạng, bắt mắt với đủ loại giá thành từ vài trăm ngàn đồng đến vài triệu đồng. Đặc biệt, thành phần của các loại thuốc lá này đều chứa nicotine (chất gây nghiện cực mạnh).

Theo các chuyên gia, nhà khoa học, thuốc lá thế hệ mới hoàn toàn không an toàn và không có khả năng hỗ trợ cai nghiện thuốc lá điếu thông thường do loại thuốc lá này vẫn chứa chất gây nghiện nicotine (chất gây nghiện tương tự như heroin hay cocaine).

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, thuốc lá điện tử và thuốc lá làm nóng là 2 loại thuốc lá thế hệ mới khác nhau. Trong đó, thuốc lá điện tử có cấu tạo gồm các bộ phận pin, sạc; bộ phận gia nhiệt, làm nóng, dẫn dòng khí; bộ phận chứa ống đựng dung dịch điện tử.

Người dân hút thuốc lá điện tử tại Washington, DC, Mỹ. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Người dân hút thuốc lá điện tử tại Washington, DC, Mỹ. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Loại thuốc lá này có loại dùng 1 lần hoặc nhiều lần (người dùng cần bổ sung thêm dung dịch điện tử khi hết). Thành phần dung dịch điện tử hầu hết chứa nicotine, glycerin, propylene glycol và hương liệu (có trên 15.500 loại hương liệu).

Propylene glycol (mặc dù được coi là an toàn trong thực phẩm nhưng không phải để hít) có thể tạo thành propylene oxide, một chất gây ung thư khi được đun nóng và hóa hơi.

Glycerin/Glycerin gốc thực vật khi được đun nóng và hóa hơi, tạo thành acrolein, gây kích ứng đường hô hấp trên. Trong khi, thuốc lá điện tử lại hoạt động bằng cách làm nóng dung dịch lỏng hòa tan (dung dịch điện tử), tạo nên một hóa hơi (không phải hơi nước) cho người dùng hít vào. Làn hơi này vẫn tỏa ra môi trường dẫn đến việc những người xung quanh cũng hít phải, ngửi thấy và cảm nhận rõ.

Thuốc lá làm nóng sử dụng thiết bị điện tử để làm nóng điếu thuốc hay đầu cắm lá thuốc ép. Điếu thuốc hay đầu mồi được làm nóng đến nhiệt độ đủ cao (vài trăm độ C) để sinh ra các hạt khói, làn khói có thể hít vào.

Thuốc lá điện tử. (Nguồn: Reuters)
Thuốc lá điện tử. (Nguồn: Reuters)

Thiết bị điện tử bao gồm bộ phận gia nhiệt làm nóng, điếu thuốc hay đầu cắm phải được sử dụng cùng nhau. Thuốc lá làm nóng sử dụng nguyên liệu lá thuốc lá, giấy pha tẩm lá thuốc lá nên có tính chất tương đồng với thuốc lá điếu thông thường về thành phần nguyên liệu. Do đó, thuốc lá làm nóng cũng gây ra tác hại với sức khỏe con người tương tự như thuốc lá điếu thông thường.

Bởi vậy, việc các nhà sản xuất quảng cáo thuốc lá điện tử, thuốc lá đốt nóng là sản phẩm không đốt cháy nên không tỏa khói từ đó giảm tác hại hơn thuốc lá điếu thông thường là không chính xác.

Các bác sỹ cho rằng dạng hơi của thuốc lá điện tử bên cạnh các chất gây nghiện, vẫn chứa formaldehyde, benzene và nitrosamines (chất đặc biệt có trong thuốc lá và gây ung thư), acetaldehyde và các chất gây ung thư khác.

Do đó, người hít phải khói thuốc lá điện tử cũng giống như người hút trực tiếp đều có nguy cơ mắc nhiều bệnh tật, trong đó có ung thư phổi, ung thư thanh quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đột quỵ, xuất huyết não, ung thư dạ dày…; các vấn đề sẽ ảnh đến chất lượng cuộc sống như vô sinh, liệt dương, bệnh lý răng miệng, bệnh lý đại tràng, dạ dày…

Không phải giải pháp để bỏ thuốc lá điếu thông thường

Theo các chuyên gia, nhà khoa học, thuốc lá thế hệ mới hoàn toàn không an toàn và không có khả năng hỗ trợ cai nghiện thuốc lá điếu thông thường do loại thuốc lá này vẫn chứa chất gây nghiện nicotine (chất gây nghiện tương tự như heroin hay cocaine).

 San Francisco là nơi đặt trụ sở của Juul Labs, một trong những nhà sản xuất thuốc lá điện tử hàng đầu thế giới. (Ảnh: Fortune)
 San Francisco là nơi đặt trụ sở của Juul Labs, một trong những nhà sản xuất thuốc lá điện tử hàng đầu thế giới. (Ảnh: Fortune)

Khi ngưng sử dụng, hàm lượng nicotin trong máu giảm, gây cảm giác bồn chồn, bứt rứt, khó chịu, thôi thúc người dùng cần phải sử dụng. Đây chính là triệu chứng nghiện nicotine, hay nghiện thuốc lá.

Khi người dùng hút càng nhiều nicotine thì cơ thể càng quen, càng gây nghiện nặng hơn. Do đó, bản thân thuốc lá thế hệ mới gây ra và duy trì chứng nghiện nicotine không kém các sản phẩm thuốc lá điếu thông thường. Đồng thời, nhiều bằng chứng khoa học cho thấy các sản phẩm này thậm chí làm người dùng vừa nghiện thuốc lẫn nghiện nicotine, nguy hại hơn là biến đổi cấu trúc ADN.

Bên cạnh đó, thuốc lá điện tử tiện dụng với các ống dung dịch được đóng gói cho hàng trăm hơi hút, hầu như không có định lượng về nồng độ nicotine trong mỗi ml.

Điều này khiến người sử dụng không kiểm soát được số lượng thuốc hút trong ngày như thuốc lá điếu thông thường, dẫn đến nguy cơ hút nhiều thuốc hơn, từ đó tiêu thụ nhiều nicotine và các chất độc hại khác, gây nguy cơ ngộ độc cấp tính.

Ngoài ra, thuốc lá điện tử sử dụng nhiều hương liệu, hóa chất không phải từ nguyên liệu lá thuốc lá điếu thông thường. Nguyên liệu thường phối trộn nhiều loại thành phần khác nhau nên dễ bị lợi dụng để tăng lượng nicotine, thậm chí pha trộn cả heroin để gây nghiện cho người sử dụng.

Tại Việt Nam, tình trạng tội phạm ma túy trộn các loại ma túy vào các sản phẩm thuốc lá điện tử và hướng vào đối tượng học sinh, sinh viên, giới trẻ đã được điều tra, phát hiện và vẫn đang diễn biến phức tạp.

Hiện chưa có đầy đủ thông tin về mức độ gây hại của các loại thuốc lá mới và bằng chứng để xác định tính hiệu quả của việc sử dụng thuốc lá thế hệ mới như một biện pháp hỗ trợ cai nghiện thuốc lá điếu thông thường.

Nhìn vào thành phần và một số nghiên cứu về thuốc lá thế hệ mới cũng có thể thấy, thuốc lá điện tử hay thuốc lá làm nóng không thể là “cứu cánh” giúp người hút thuốc lá cai thuốc lá điếu thông thường bởi bản thân thuốc lá thế hệ mới cũng chứa những thành phần độc hại giống hoặc hơn cả thuốc lá điếu thông thường.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cho biết hiện chưa có bằng chứng rõ ràng nào về công dụng cai nghiện thuốc lá thông thường của thuốc lá điện tử. Với đa số người hút thuốc, việc sử dụng thuốc lá điện tử chỉ có tác dụng làm giảm việc hút thuốc chứ không khiến họ bỏ thuốc hẳn.

Điều này cũng có nghĩa là người sử dụng sẽ dùng đồng thời cả thuốc lá thường và thuốc lá điện tử. WHO khuyến cáo nên cấm hoặc kiểm soát thuốc lá điện tử nhằm hạn chế ảnh hưởng của sản phẩm này với sức khỏe con người. Trên thế giới đã có nhiều quốc gia cấm thuốc lá điện tử và thuốc lá làm nóng, trong đó có cả các nước trong khối ASEAN./.

Biển báo cấm hút thuốc. (Nguồn: Getty Images)
Biển báo cấm hút thuốc. (Nguồn: Getty Images)

Tác hại khôn lường

Các loại thuốc lá thế hệ mới bao gồm thuốc lá điện tử (ENDs) và thuốc lá làm nóng (HTPs) đều có chứa các thành phần độc hại, khi sử dụng đều có sự đốt cháy và có khói, hơi tỏa ra môi trường gây tác hại cho cả người hút và người xung quanh do hút thuốc lá thụ động như thuốc lá điếu thông thường.

Thứ thuốc độc hại này không chỉ tiềm ẩn nhiều tác hại đối với sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Ảnh hưởng lớn đến sức khỏe

Theo Liên minh Kiểm soát thuốc lá Đông Nam Á (SEATCA) đa phần thuốc lá điện tử có chứa nicotine – chất gây nghiện cao, là nguyên nhân gây các bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa và ung thư. Sử dụng nicotine quá liều gây ngộ độc. Nghiện nicotine là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tim mạch, đột quỵ.

Thuốc lá nói chung và thuốc lá thế hệ mới nói riêng không chỉ tiềm ẩn nhiều tác hại đối với sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Có các bằng chứng cho thấy khí thải của thuốc lá điện tử, thuốc lá làm nóng có thể gây rủi ro cho những người xung quanh. Khi một người tiếp xúc với nicotine, nhịp tim và huyết áp sẽ tăng lên bởi động mạch vành bị co lại, làm giảm lưu lượng máu và khí oxy. Qua thời gian, sự tiếp xúc với nicotine có thể dẫn đến bệnh về tim, đột quỵ và đau tim.

Điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do hút thuốc lá. (Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN)
Điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do hút thuốc lá. (Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN)

Khí thải của các sản phẩm này gây ảnh hưởng lớn đến giới trẻ, đặc biệt là trẻ em vì não bộ của trẻ vẫn đang trong giai đoạn phát triển cho tới tuổi 25.

Chỉ riêng nicotine đã gây hại cho sự phát triển não bộ ở trẻ em, thiếu niên, thanh niên; gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của bà mẹ và thai nhi trong thai kì; gây ra sinh non, thai lưu. Những thay đổi do nicotine gây ra trong hệ thần kinh não khiến người dùng ở nhóm tuổi trẻ dễ bị nghiện nicotine hơn, sớm ảnh hưởng đến sức khỏe và ngày càng trầm trọng hơn trong tương lai.

Đặc biệt, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo thuốc lá làm nóng tạo ra chất khí độc hại, có nhiều chất độc giống như trong khói thuốc lá điếu thông thường. Dù thuốc lá làm nóng được nung ở nhiệt độ thấp hơn, nhưng vẫn tạo ra những hóa chất tương tự như khói thuốc lá điếu thông thường, trong đó có một số hóa chất được xếp vào nhóm gây ung thư phổi, mũi, thực quản, gan, tuyến tụy và cổ tử cung…

Trong thời gian gần đây, khi dịch COVID-19 bùng phát, lan rộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, các chuyên gia y tế đã kêu gọi những người hút thuốc bỏ thuốc và các công ty thuốc lá ngừng sản xuất và bán các sản phẩm thuốc lá để giúp giảm rủi ro từ COVID-19.

Theo tuyên bố chung của WHO, những người hút thuốc có nhiều khả năng mắc bệnh nặng như COVID-19 so với những người không hút thuốc. Bởi hút thuốc làm suy yếu chức năng phổi khiến cơ thể khó chống lại Coronavirus và các bệnh khác. Thuốc lá cũng là một yếu tố nguy cơ chính gây ra các bệnh không truyền nhiễm như tim mạch, ung thư, bệnh hô hấp và tiểu đường…

Thuốc lá điện tử. (Nguồn: Reuters)
Thuốc lá điện tử. (Nguồn: Reuters)

Ông Gan Quan, chuyên gia y tế công cộng, Giám đốc Chương trình kiểm soát thuốc lá của Liên minh Quốc tế phòng chống Lao và Bệnh phổi như hút thuốc lá gây suy yếu hệ thống miễn dịch của con người, làm hệ thống miễn dịch ít có khả năng đáp ứng hiệu quả với nhiễm trùng.

Những người hút thuốc cũng có thể đã mắc các bệnh về phổi hoặc suy giảm dung tích phổi, điều này làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng. Điều tốt nhất mà ngành công nghiệp thuốc lá có thể làm là ngay lập tức ngừng sản xuất, tiếp thị và bán thuốc lá.

Ảnh hưởng kinh tế-xã hội

Thuốc lá điện tử, thuốc lá làm nóng hiện có xu hướng nhắm tới đối tượng là giới trẻ thông qua các quảng cáo sản phẩm với nhiều kiểu dáng thiết kế “sành điệu” tạo gu thẩm mỹ, kết hợp nhiều tính năng sử dụng tiện lợi, hương vị mới lạ; sử dụng hình thức bán hàng qua mạng (bán qua app điện thoại thông minh, quảng cáo và mua bán trên internet ) để tiếp cận nhanh nhất đến giới trẻ.

Theo điều tra sức khỏe học sinh toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thực hiện tại 21 tỉnh, thành phố của nước ta vào năm 2019, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu thông thường ở học sinh Việt Nam có xu hướng giảm từ 4% xuống 3,6% nhưng tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử bắt đầu tăng lên 2,6%.

Một báo cáo tại Anh về ảnh hưởng ban đầu của việc sử dụng thuốc lá điện tử nêu rõ thanh thiếu niên chưa bao giờ hút thuốc lá nhưng sử dụng thuốc lá điện tử có khả năng sẽ hút thuốc lá điếu thông thường cao hơn tới 6 lần so với những thanh thiếu niên chưa từng sử dụng thuốc lá điện tử.

Biển báo cấm hút thuốc tại một nhà hàng. (Nguồn: AFP/TTXVN)
Biển báo cấm hút thuốc tại một nhà hàng. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Do đó, thuốc lá điện tử làm gia tăng việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá ở thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, môi trường, lối sống, hành vi của giới trẻ. Đặc biệt, việc gia tăng số lượng người sử dụng các sản phẩm thuốc lá sẽ gây ảnh hưởng đến mục tiêu giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá và nỗ lực phòng, chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, thuốc lá điện tử còn có nguy cơ cao tiềm ẩn và phát sinh các tệ nạn xã hội, nhất là sử dụng ma túy và các chất gây nghiện, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Do thuốc lá điện tử có thiết kế mở (phần chứa dung dịch tách rời có thể tự nạp) nên người sử dụng hoặc một số cơ sở bán hàng có thể tự ý tăng tỷ lệ nicotine quá mức hoặc thêm ma túy và các chất gây nghiện khác mà khó bị phát hiện.

Ngoài ra, thiết bị của các sản phẩm này có rất nhiều thành phần như nhựa, pin, bảng mạch điện, dung dịch… Quy trình dỡ bỏ, phân loại… nhằm tái chế hay vứt bỏ, tiêu hủy đều phức tạp và tốn kém. Nếu bị vứt bỏ dưới dạng vỡ, nát chúng có thể phát tán ra môi trường các chất độc hại như kim loại, axit, nicotine gây ảnh hưởng môi trường…

Đồng thời, thiết bị điện tử của các sản phẩm này có thể hỏng, lỗi và gây cháy nổ, thương tích, mất an toàn cho người sử dụng. Các chấn thương nghiêm trọng đã được ghi nhận như miệng, mặt, cổ, mắt, mũi, xương hàm… Tuy vậy, các sản phẩm này hiện vẫn thiếu hướng dẫn người dùng cách loại bỏ sản phẩm sau khi sử dụng.

Siết chặt quản lý

Tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu thông thường ở nước ta thời gian qua đã có xu hướng giảm. Tuy nhiên, mỗi năm thuốc lá vẫn gây ra 40.000 ca tử vong; chi tiêu cho hút thuốc lá chiếm trên 31.000 tỷ đồng. Chi phí cho một số bệnh tật phổ biến do thuốc lá đã lên tới trên 21.000 tỷ đồng mỗi năm.

Tình nguyện viên đạp xe hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá 31/5 và Tuần lễ quốc gia không thuốc lá từ 25-31/5/2020 trên các tuyến phố của Hà Nội. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)
Tình nguyện viên đạp xe hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá 31/5 và Tuần lễ quốc gia không thuốc lá từ 25-31/5/2020 trên các tuyến phố của Hà Nội. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Thuốc lá điện tử, thuốc lá làm nóng không làm giảm đi các tác hại này mà thậm chí sẽ làm gia tăng gánh nặng bệnh tật và các chi phí khác, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống…

Theo Phó Giám đốc Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá Phan Thị Hải hiện nay, nhiều quốc gia đã cấm mua bán, sử dụng sản phẩm thuốc lá điện tử do lo ngại những nguy cơ mà sản phẩm này mang lại, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Do đó, Việt Nam không nên cho phép thí điểm bất cứ loại thuốc lá mới nào và cần siết chặt quản lý các sản phẩm thuốc lá có mặt trên thị trường.

Việt Nam hiện không sản xuất thuốc lá điện tử, thuốc lá làm nóng nên việc cho phép nhập khẩu thuốc lá điện tử sẽ chỉ làm lợi cho các công ty thuốc lá nước ngoài, gây bất lợi đến kinh tế và sản xuất nội địa.

Hiện nay, Tổ chức Hải quan quốc tế của Liên hợp quốc xếp thuốc lá điện tử không chứa nicotine vào chương hóa chất nên không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc mức thuế thấp. Bên cạnh đó, bộ phận điện tử của sản phẩm thuốc lá điện tử là phần có chi phí và giá cao, không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ gây thất thu cho ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, thuế và giá thuốc lá ở Việt Nam vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực (trừ Campuchia) và các nước trên thế giới nên dễ tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng.

Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.
Nhấp chuột để xem kích thước chuẩn.

Cụ thể, tỷ lệ thuế trong giá bán lẻ của nhãn hiệu thuốc lá phổ biến nhất ở Việt Nam hiện đang ở mức khoảng 36,7% so với mức trung bình toàn cầu là 58,3%; mức thuế tiêu thụ đặc biệt là 70% tính trên giá xuất xưởng trong khi mức thuế tiêu thụ đặc biệt được WHO khuyến nghị là 75%.

Do vậy, để hạn chế tiêu dùng và tiếp cận sản phẩm thuốc lá (đặc biệt với học sinh, sinh viên, người có thu nhập thấp), Quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá đề nghị sửa đổi Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, trong đó tăng thuế đối với thuốc lá nhằm góp phần đạt mục tiêu quốc gia về giảm tỷ lệ hút thuốc, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá.

Việc này cũng đồng thời giúp tăng nguồn thu cho ngân sách, phù hợp với chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật phòng chống tác hại của thuốc lá “Áp dụng chính sách thuế phù hợp để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá.”

Trước những tác hại của thuốc lá thế hệ mới với sức khỏe người dân, đặc biệt là giới trẻ, Bộ Y tế cùng một số bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất Chính phủ và Quốc hội cấm sử dụng và nhập khẩu sử dụng. Riêng đối với thuốc lá nung nóng do áp dụng quy định của Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá là vẫn được dùng nguyên liệu lá thuốc lá và chế phẩm khác có liên quan, nên theo Luật, loại này vẫn được cho phép sử dụng.

Nhưng Bộ Y tế sẽ yêu cầu phải có những quy định mang tính đặc biệt hơn như cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh; phải có quy định quy chuẩn quốc gia cho loại thuốc này để giới hạn hàm lượng an toàn cho người sử dụng./.

Đại biểu thực hiện nghi thức ấn nút hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá 31/5 và Tuần lễ quốc gia không thuốc lá từ 25-31/5/2020. (Ảnh: Minh Quyết/ TTXVN)
Đại biểu thực hiện nghi thức ấn nút hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá 31/5 và Tuần lễ quốc gia không thuốc lá từ 25-31/5/2020. (Ảnh: Minh Quyết/ TTXVN)

Sản xuất ximăng tại Thái Nguyên

Theo thống kê, các doanh nghiệp sản xuất ximăng trên địa bàn Thái Nguyên có năng lực sản xuất trên 3 triệu tấn/năm, trong đó tiêu thụ nội tỉnh khoảng hơn 1 triệu tấn/năm, còn lại cung cấp chủ yếu cho thị trường các tỉnh miền núi phía Bắc.Trong nhiều năm qua, hoạt động của các nhà máy ximăng trên địa bàn đóng góp đáng kể vào việc nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp của địa phương, tạo ra thế mạnh nhất định trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh. Song gần đây, trước sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, ximăng có xuất xứ từ Thái Nguyên gặp không ít khó khăn, có thời điểm doanh nghiệp phải giảm công suất của nhà máy sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp ximăng trên địa bàn Thái Nguyên đang tập trung thực hiện nhiều giải pháp để tạo thế mạnh trong sản xuất cũng như tiêu thụ mặt hàng này.Trong điều kiện kinh tế còn khó khăn hiện nay, để tồn tại, phát triển, tăng trưởng ổn định, đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động, các doanh nghiệp sản xuất ximăng tại Thái Nguyên buộc phải thực hiện triệt để việc tái cơ cấu sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giữ vững thị trường truyền thống và từng bước mở rộng thị trường mới.

  

Áp dụng nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật

Tỉnh Thái Nguyên hiện có 5 doanh nghiệp sản xuất ximăng nhưng chỉ có 3 nhà máy ximăng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ximăng Quang Sơn thuộc Tổng công ty cổ phần xây dựng công nghiệp Việt Nam tại xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ; Công ty cổ phần ximăng La Hiên VVMI-Tổng Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV tại xã La Hiên huyện Võ Nhai và Công ty cổ phần ximăng Quán Triều VVMI (cùng thuộc Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV) tại Cụm công nghiệp An Khánh, xã An Khánh, huyện Đại Từ sử dụng công nghệ lò quay đang hoạt động.

Hai doanh nghiệp còn lại gồm: Công ty cổ phần ximăng Cao Ngạn và Nhà máy ximăng Lưu Xá thuộc Công ty cổ phần đầu tư và sản xuất Công nghiệp Thái Nguyên đã tạm dừng hoạt động nhà máy sản xuất ximăng bằng công nghệ lò đứng nhiều năm nay và chỉ còn duy trì hệ thống nghiền clinker, đồng thời, chuyển sang kinh doanh các sản phẩm gia tăng từ ximăng.

Tại Công ty cổ phần ximăng La Hiên VVMI, ngay sau những ngày phải điều chỉnh sản xuất do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, không khí lao động, sản xuất đã trở lại bình thường, các dây chuyền lò nung, nghiền clinker đã hoạt động đạt 100% công suất.

Công nhân Công ty cổ phần ximăng La Hiên-VVMI bốc xếp ximăng cho khách hàng. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Công nhân Công ty cổ phần ximăng La Hiên-VVMI bốc xếp ximăng cho khách hàng. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc công ty chia sẻ hiện nay, các sản phẩm của ximăng La Hiên đang cạnh tranh quyết liệt với nhiều các thương hiệu ximăng khác. Do vậy, thị phần tiêu thụ sản phẩm ximăng La Hiên đang bị xâm lấn mạnh bởi các doanh nghiệp cạnh tranh. Để tái cơ cấu sản xuất, cùng với việc sắp xếp lại lao động theo chỉ đạo của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV, công ty tổ chức tốt mạng lưới tiếp thị, đại lý tiêu thụ, phân công chi tiết các khu vực quản lý, thường xuyên nắm bắt tình hình thị trường.

Đặc biệt, để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, công ty đã tập trung cải tiến thiết bị để nâng cao năng suất một số thiết bị có suất tiêu hao điện năng lớn như: lắp đặt thêm một máy đập đá cấp 2 cho dây chuyền 2 với mục tiêu giảm cỡ hạt đá gia công, nâng cao được năng suất máy nghiền liệu sống dây chuyền 2 từ 130 tấn/giờ lên 155 tấn/giờ, tiết kiệm chi phí điện năng trên 2,5 kW/tấn bột liệu sống.

Trong công đoạn nghiền ximăng, công ty lắp đặt thêm một máy đập clinker cấp 2 cho máy nghiền ximăng DC1 giúp giảm cỡ hạt clinker, nâng cao được năng suất máy nghiền ximăng từ 55 tấn/giờ lên 75 tấn/giờ tiết kiệm chi phí điện năng 10kW/tấn ximăng bột. Đồng thời, công ty áp dụng sáng kiến thay đổi lại tỷ lệ phối bi trong máy nghiền ximăng dây chuyền 2, tăng cường bổ sung các loại bi có đường kính nhỏ D17-D25, giúp tăng năng suất máy nghiền ximăng P3 từ 130 tấn/giờ lên 155 tấn/giờ, giảm trên 6 kW/tấn sản phẩm.

Các công đoạn trên sau khi tăng được năng suất đã tạo cho các đơn vị vận hành có điều kiện tận dụng tối đa thời gian vận hành giờ thấp điểm và giờ bình thường, không vận hành giờ cao điểm, tiết kiệm đáng kể chi phí điện năng giảm giá thành sản xuất…

Bên cạnh đó, công ty còn thực hiện cải tiến thiết bị công đoạn nung clinker mục tiêu nhằm nâng cao mác clinker, thay mới quạt Roots cân than lò phân giải DC2; thay mới quạt gió đầu ghi lạnh DC2 để nâng cao công suất quạt khí thải đuôi lò từ 200.000 m3/giờ lên 250.000 m3/giờ, tăng cường sử dụng đá thải từ Mỏ than Khánh Hòa từ 12% lên trên 15% trong phối liệu sống, tiết giảm định mức tiêu hao than từ 0,175 về 0,155 kg/kg sản phẩm…

Cán bộ kỹ thuật Công ty cổ phần ximăng La Hiên-VVMI điều khiển hệ thống sản xuất ximăng tự động. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Cán bộ kỹ thuật Công ty cổ phần ximăng La Hiên-VVMI điều khiển hệ thống sản xuất ximăng tự động. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Việc tái cơ cấu lại sản xuất, áp dụng triệt để các sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã giúp cho thương hiệu ximăng La Hiên đứng vững trên thị trường trong và ngoài tỉnh. Gần 5 tháng qua, sản lượng tiêu thụ ximăng của công ty ước đạt trên 305.000 tấn, tăng hơn 5.500 tấn so với cùng kỳ, đảm bảo việc làm ổn định cho gần 600 lao động với tiền lương bình quân khoảng 9,6 triệu đồng/người/tháng.

Với những kết quả sản xuất kinh doanh khả quan trong các tháng đầu năm, mục tiêu sản xuất, tiêu thụ hơn 730.000 tấn ximăng các loại, đạt tổng doanh thu trên 640 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 36,5 tỷ đồng của năm 2020 của Công ty cổ phần ximăng La Hiên VVMI là hoàn toàn khả thi.

Đảm bảo yếu tố cạnh tranh

Cùng nằm trong hệ thống các nhà máy sản xuất ximăng của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc TKV, Công ty cổ phần ximăng Quán Triều VVMI cũng gặp không ít khó khăn trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trên thị trường ximăng hiện nay bởi thương hiệu ximăng của doanh nghiệp còn khá mới do công ty mới chính thức đi vào hoạt động từ năm 2011.

Để đảm bảo được yếu tố cạnh tranh, công ty đã thực hiện triệt để việc duy trì sự hoạt động ổn định của thiết bị, tiết kiệm vật tư, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường phục vụ khách hàng với mức giá tốt nhất.

Cụ thể hóa các giải pháp này, hàng loạt các biện pháp kỹ thuật đã được công ty áp dụng như: đảm bảo cho các thiết bị của công đoạn đập đá, đập sét, nghiền nguyên liệu, nghiền than, nghiền ximăng hoạt động ổn định, vượt công suất thiết kế; định mức tiêu hao điện năng các công đoạn cơ bản thấp hơn kế hoạch Tổng công ty giao; đưa vào sử dụng các công trình tự động hóa gồm; trạm quan trắc tự động, hệ thống bơm khí nén, phần mềm quản lý thiết bị Bravo.

Đặc biệt, trong quản lý nguyên liệu đầu vào, công ty thực hiện việc lựa chọn vùng nguyên liệu có thành phần hóa học tương đồng giá thấp thay thế cho những nguyên liệu có giá cao nhằm giảm chi phí về giá nguyên liệu đưa vào sản xuất, sử dụng đất sét thay thế 100% đá caosilic, sử dụng tro đáy Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn thay thế đất sét cao nhôm, sử dụng thạch cao nhân tạo thay thế thạch cao Ôman.

Dây chuyền sản xuất gạch đô thị của Công ty Cổ phần ximăng Cao Ngạn. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Dây chuyền sản xuất gạch đô thị của Công ty Cổ phần ximăng Cao Ngạn. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Ông Nguyễn Sóng Gió, Phó Giám đốc công ty, cho biết từ những giải pháp đồng bộ trong tái cơ cấu sản xuất đã giúp cho sản lượng tiêu thụ của công ty năm qua đạt hức hơn 820.000 tấn, cao nhất từ khi đi vào vận hành (năm 2011) đến nay, thương hiệu sản phẩm ximăng Vinacomin Quán Triều đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường, hệ thống tiêu thụ được phát triển rộng ở các tỉnh: Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và từng bước được mở rộng tại Hải Dương, Phú Thọ.

Để đạt mục tiêu sản xuất, tiêu thụ 760.000 tấn ximăng, đạt tổng doanh thu trên 600 tỷ đồng, đảm bảo việc làm cho hơn 350 lao động trong năm 2020, công ty tiếp tục thực hiện việc nghiên cứu cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất thiết bị, triển khai giải pháp công nghệ nâng cao mác clinker và hàng lọt các biện pháp hạ giá thành sản phẩm như sử dụng than cám 7B KH kết hợp với than cám 4A NH với tỷ lệ 50:50, sử dụng tro bay sau tuyển, điều hành các công đoạn nghiền huy động hết công suất giờ thấp điểm, hạn chế tối đa việc chạy máy vào giờ cao điểm…

Không như các doanh nghiệp lớn trực thuộc Tổng công ty Nhà nước lớn như ximăng Quán Triều hay ximăng La Hiên, Công ty cổ phần ximăng Cao Ngạn vốn là doanh nghiệp địa phương có bề dày truyền thống về sản xuất ximăng nhưng với quy mô nhỏ, sử dụng công nghệ cũ, sức cạnh tranh thấp hơn nên hiện nay Công ty cổ phần ximăng Cao Ngạn đã không còn sử dụng lò nung ximăng công nghệ lò đứng mà chỉ còn duy trì hệ thống nghiền clinker, đáp ứng yêu cầu sản xuất chỉ khoảng 40.000 tấn ximăng/năm.

Ứớc tính năm 2020, nhu cầu tiêu thụ ximăng của cả nước khoảng từ 101-103 triệu tấn, trong đó tiêu thụ ximăng nội địa khoảng từ 69-70 triệu tấn, còn lại là xuất khẩu

Ximăng của công ty một phần phục vụ các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh còn phần lớn để sử dụng cho việc sản xuất các sản phẩm gia tăng của ximăng như gạch đô thị tozero, gạch block…

Ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc công ty cho rằng việc chỉ duy trì sản xuất ximăng ở mức thấp giúp công ty giảm áp lực cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi có quy mô vốn rất lớn cũng như sự đầu tư về công nghệ vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Hiện tỷ trọng sản xuất ximăng của doanh nghiệp chỉ còn khoảng 30% trong cơ cấu ngành nghề và doanh thu.

Để phát triển doanh nghiệp, công ty chuyển hướng mạnh sang các sản phẩm gạch đô thị, kinh doanh xăng dầu và dịch vụ nhà hàng… Nhờ vậy, dù là doanh nghiệp nhỏ nhưng ở địa phương nhưng công ty vẫn giữ được thương hiệu ximăng Cao Ngạn, đảm bảo việc làm cho hơn 130 lao động mức thu nhập trên 6,5 triệu đồng/người/tháng…

Theo dự báo của Bộ Xây dựng, ước tính năm 2020, nhu cầu tiêu thụ ximăng của cả nước khoảng từ 101-103 triệu tấn; trong đó tiêu thụ ximăng nội địa khoảng từ 69-70 triệu tấn, còn lại là xuất khẩu. Do đó, các cơ hội tăng sản lượng tiêu thụ, mở rộng thị trường của các doanh nghiệp sản xuất ximăng trên địa bàn Thái Nguyên vẫn còn nhiều, nhất là lợi thế của việc chủ động nguồn nguyên liệu ngay tại địa phương.

Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp thích hợp, đầu tư mạnh cho việc đổi mới công nghệ, cơ cấu lại sản xuất theo hướng giảm giá thành, nâng cao chất lượng, nghiên cứu các sản phẩm gia tăng từ ximăng, hợp tác trong vận chuyển, mở rộng thị trường đến các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước cũng như mở rộng thị trường xuất khẩu./.

Cán bộ kỹ thuật Công ty cổ phần ximăng Quán Triều VVMI kiểm tra ximăng xuất xưởng. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Cán bộ kỹ thuật Công ty cổ phần ximăng Quán Triều VVMI kiểm tra ximăng xuất xưởng. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Coi trọng yếu tố bảo vệ môi trường

Mặc dù hiện nay, các nhà máy sản xuất ximăng trên địa bàn Thái Nguyên đều đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng hoạt động sản xuất ximăng là một trong những loại hình sản xuất có tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao và trong quá trình sản xuất không tránh khỏi gây ô nhiễm. Vì vậy, để vừa phát triển sản xuất cũng như đảm bảo môi trường, các nhà máy luôn ý thức và tăng cường giám sát cũng như đưa nhiều kỹ thuật cao trong sản xuất không để ô nhiễm môi trường.

Hiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên thường xuyên chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, lấy mẫu đột xuất khí thải tại các nhà máy, đôn đốc hướng dẫn khắc phục tồn tại hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm. Đặc biệt, Sở tích cực đôn đốc các nhà máy phải lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động theo quy định.

Bốc xếp ximăng chuẩn bị đưa ra thị trường. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Bốc xếp ximăng chuẩn bị đưa ra thị trường. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Ý thức chấp hành quy định pháp luật môi trường của các nhà máy ximăng đã từng bước được nâng cao, duy trì đều đặn việc vận hành công trình biện pháp xử lý khói bụi, thường xuyên kiểm tra bảo dưỡng sửa chữa hệ thống sản xuất, mức độ ô nhiễm được giảm thiểu.

Đến nay, chỉ còn Nhà máy ximăng Quang Sơn chưa lắp đặt hệ thống quan trắc tự động mặc dù đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên, Tổng cục Môi trường đôn đốc, hướng dẫn. Kết quả theo dõi kết quả quan trắc tự động khí thải của các nhà máy sản xuất ximăng truyền về Sở cho thấy, cơ bản các thông số quan trắc đều đạt quy chuẩn cho phép, có một số thời điểm vẫn còn chỉ tiêu vượt chuẩn nhưng không liên tục, chỉ có tính thời điểm trong thời gian ngắn, nguyên nhân chủ yếu do sự cố sụt điện áp nên hệ thống xử lý bụi hoạt động không ổn định…

Ông Lê Bá Chức, Phó giám đốc Công ty cổ phần ximăng La Hiên VVMI, chia sẻ là doanh nghiệp ximăng có 25 năm hoạt động tại Thái Nguyên, ximăng La Hiên có lợi thế thế về thị trường, thương hiệu nhưng cũng gặp không ít khó khăn do thiết bị công nghệ không được đầu tư đồng bộ, hiện đại như các doanh nghiệp sản xuất ximăng khác mới đi vào hoạt động trên địa bàn, dễ phát sinh các yếu tố gây ô nhiễm môi trường.

Do vậy, hằng năm, nguồn kinh phí đầu tư cho việc đảm bảo môi trường, sửa chữa, nâng cấp các thiết bị lọc bụi, thay túi vải lọc bụi lên tới hàng tỷ đồng.

Riêng trong năm 2019 vừa qua, công ty đã triển khai đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc bụi, khí thải tự động có tổng mức đầu tư hơn 13 tỷ đồng, hiện tại dự án đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng.

Ngoài ra, để đảm bảo môi trường lao động, trong nhiều năm qua, Công ty cổ phần ximăng La Hiên VVMI đã triển khai chương trình phủ kín cây xanh trong khu vực sản xuất, duy trì hệ thống phun tưới nước dập bụi tại các tuyến đường nội bộ, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện thu gom, phân loại và xử lý rác thải, chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất.

Công ty phát động phong trào tổng vệ sinh vào thứ sáu tuần cuối cùng của tháng, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người lao động…

Sản xuất ximăng tại Công ty Cổ phần xi măng Quán Triều VVMI. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Sản xuất ximăng tại Công ty Cổ phần xi măng Quán Triều VVMI. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Hiện tại các chỉ số về môi trường của công ty đã được đảm bảo nhưng doanh nghiệp vẫn chú trọng khắc phục một số tồn tại trong việc bảo vệ môi trường như quản lý, thu gom, phân loại, chuyển giao chất thải nguy hại đã được thực hiện nhưng chưa được chặt chẽ, một số lọc bụi hỏng, các hệ thống đường ống gió thủng, rách hỏng chưa được sửa chữa kịp thời, các bãi chứa nguyên vật liệu chưa hợp lý dễ phát sinh bụi…

Công ty cổ phần ximăng Quán Triều VVMI đã lắp đặt hệ thống dập bụi dọc các tuyến đường nội bộ, lắp đặt hệ thống chống ồn tại các khu vực có phát sinh tiếng ồn, kiểm tra, đo dạc các yếu tố môi trường trong lao động, đánh giá các yếu tố nguy hiểm độc hại. Qua kết quả kiểm tra năm 2019, trong môi trường lao động, có một số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 11/118 mẫu không đạt (chiếm 9%).

Trước thực tế này, công ty đã giải quyết bằng việc lắp thêm quạt thông gió, tăng công suất của quạt thông gió tại các vị trí có mẫu không đạt về nồng độ bụi, triển khai lắp đặt các thiết bị tiêu âm tại các vị trí có tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép…

Hiện tại, công ty đã lắp đặt 35 thiết bị lọc bụi và 3 bể xử lý nước thải, hàng năm kinh phí sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị bảo đảm môi trường từ 8-9 tỷ đồng, bụi thu về qua hệ thống lọc bụi tiếp tục được xử lý để trở thành sản phẩm ximăng. Công ty cũng vừa hoàn thành hệ thống quan trắc bụi, khí tự động kết nối với Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên với tổng kinh phí đầu tư hơn 5 tỷ đồng.

Hai nhà máy sản xuất ximăng địa phương trước đây sử dụng công nghệ lò đứng để sản xuất ximăng hiện đã chuyển hướng trong sản xuất, giúp cho việc bảo vệ môi trường tại khu vực lân cận nhà máy sản xuất đạt được nhiều kết quả khả quan.

Công ty Cổ phần ximăng Quán Triều VVMI. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Công ty Cổ phần ximăng Quán Triều VVMI. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Chẳng hạn, tại Nhà máy ximăng Lưu Xá, sau khi ngừng hoạt động lò đứng sản xuất ximăng, để tiếp tục tồn tại và phát triển, từ năm 2007, nhà máy đã tích cực áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn trong công nghiệp và trở thành một trong những đơn vị đầu tiên và tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên về áp dụng sản xuất sạch hơn và đã chuyển sang sản xuất gạch không nung.

Tại Công ty cổ phần ximăng Cao Ngạn, doanh nghiệp cũng sử dụng công nghệ sản xuất ximăng lò đứng như Nhà máy ximăng Lưu Xá.

Ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc Công ty thông tin thêm, nhận thấy nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của công nghệ ximăng lò đứng, từ nhiều năm nay, công ty đã dừng hẳn lò đứng sản xuất ximăng, chỉ duy trì trạm nghiền clinker để sản xuất ximăng phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh và sản xuất các sản phẩm gia tăng của ximăng là gạch lát đô thị, tỷ trọng sản xuất ximăng trong cơ cấu ngành nghề của doanh nghiệp chỉ còn khoảng 30%.

Việc dừng lò đứng sản xuất ximăng đã đem lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường

Việc dừng lò đứng sản xuất ximăng đã đem lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường. Từ một cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cao, hiện doanh nghiệp đã trở thành mô hình “nhà máy không ống khói,” có điều kiện để đầu tư sang các mảng kinh doanh thương mại, dịch vụ, xăng dầu… giúp cho doanh nghiệp vẫn đảm bảo mức tăng trưởng về doanh thu cũng như giá trị sản xuất công nghiệp trên 10% mỗi năm…

Ông Nguyễn Thế Giang, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên, cho biết trong thời gian tới, để tiếp tục đảm bảo môi trường trong hoạt động sản xuất ximăng, Sở yêu cầu các nhà máy phải tiếp tục tăng cường duy trì vận hành đầy đủ các hệ thống xử lý khói bụi, thường xuyên kiểm tra và kịp thời khắc phục ngay các nguy cơ để xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường; tiếp tục lắp đặt và duy trì hoạt động của hệ thống quan trắc tự động liên tục.

Mặt khác, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cũng sẽ tăng cường việc kiểm tra giám sát, kịp thời hướng dẫn đôn đốc các đơn vị khắc phục ngay các vấn đề tồn tại, đảm bảo không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh./.

Công ty cổ phần xi măng La Hiên–VVMI luôn đảm bảo môi trường sản xuất xanh-sạch-an toàn. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)
Công ty cổ phần xi măng La Hiên–VVMI luôn đảm bảo môi trường sản xuất xanh-sạch-an toàn. (Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN)

Vựa tôm Cà Mau

Nằm trong tứ giác động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển đa dạng các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực thủy sản. Tuy nhiên, ảnh hưởng hạn hán và đặc biệt là từ đại dịch COVID-19 đã khiến cho ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Để vực dậy ngành này, tỉnh Cà Mau đã triển khai nhiều giải pháp nhằm gỡ khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đang gặp khó khăn, đồng thời nỗ lực tận dụng tiềm năng, tạo môi trường thân thiện để thu hút các nhà đầu tư.

Cà Mau từ lâu đã được xem là ‘vựa tôm của cả nước’ khi chiếm khoảng 40% diện tích nuôi, với khoảng 70% dân số sống bằng nghề nuôi và khai thác thủy sản. Thế nhưng, ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đã khiến cho giá tôm liên tục giảm mạnh, kéo dài đã khiến cho ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương đối mặt với nhiều khó khăn.

Khó khăn chưa có tiền lệ

Dịch COVID-19 đã khiến nền kinh tế tại nhiều quốc gia – vốn là thị trường truyền thống của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu tôm tỉnh Cà Mau – bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao đao, hàng trăm ngàn hộ nông dân nuôi tôm rơi vào hoàn cảnh khó khăn, ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong năm 2020 của địa phương.

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau có 29 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản, với 39 nhà máy, tổng công suất 185.000 tấn/năm. Trong quý 1/2020, sản lượng tôm chế biến đạt hơn 26.400 tấn, tăng 11,3% so với cùng kỳ, nhưng sản lượng xuất khẩu thủy sản chỉ đạt 15.590 tấn, giảm 12%; kim ngạch xuất khẩu giảm gần 18%. Kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chủ yếu của tỉnh giảm; trong đó, lượng hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm hơn 66%, Trung Quốc giảm 58%, Nga giảm 37%… Điều đó đã khiến lượng hàng tồn kho và lưu kho của các doanh nghiệp chế biến khoảng 17.000 tấn. Theo đó, lưu kho khoảng 6.000 tấn, chiếm tỷ trọng khoảng 70-75% sức chứa của các kho trên địa bàn tỉnh.

Đến nay, các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động sản xuất để tiêu thụ nguồn nguyên liệu cho nông dân và giải quyết việc làm cho công nhân. Tuy nhiên, nếu dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn về thị trường xuất khẩu, kho lưu trữ hàng hóa, nguồn vốn và lao động…

Vận chuyển tôm nguyên liệu vào nhà máy chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Vận chuyển tôm nguyên liệu vào nhà máy chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Năm Căn Ngô Minh Hiển thông tin: “So với cùng kỳ năm 2019, liên tục trong những tháng đầu năm nay mức xuất khẩu của công ty đã giảm hơn 20%, bên cạnh đó, các đơn hàng cũng đã giảm hơn 50%.”

Tại cuộc họp bàn về giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản vừa được Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau tổ chức, đại diện các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn trên địa bàn đã trình bày nhiều khó khăn vướng mắc mà các đơn vị gặp phải từ khi xảy ra dịch bệnh COVID-19 đến nay. Thực tế số đơn hàng đã giảm trên 50% và lượng hàng tồn kho chiếm rất lớn. Nhiều doanh nghiệp bày tỏ lo ngại, nếu tình trạng này cứ kéo dài thì việc duy trì sản xuất là hết sức khó khăn.

Khó lại chồng khó khi so với cùng kỳ năm trước, giá tôm năm nay giảm sâu và kéo dài chưa từng có tiền lệ

Khó lại chồng khó khi so với cùng kỳ năm trước, giá tôm năm nay giảm sâu và kéo dài chưa từng có tiền lệ. Mặc dù hiện tại giá có nhích lên nhẹ nhưng vẫn còn khá thấp. Giá tôm bình quân chung của tỉnh, tôm sú loại 20 con/kg hiện có giá bình quân khoảng 170.000 đồng/kg; loại 30 con/kg có giá bình quân khoảng 140.000 đồng/kg. Tôm thẻ giá dao động từ 79.000-90.000 đồng/kg, tùy loại hình nuôi.

Ông Huỳnh Chí Linh, nông dân tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau chia sẻ giá tôm hiện nay đã nhích lên nhưng vẫn ở mức thấp so với những năm trước. Giá tôm tụt giảm mạnh và kéo dài đã khiến cho người nuôi tôm gặp khó khăn để tái đầu tư. Bên cạnh đó, khó khăn khác nữa của nông dân chính là tình trạng nắng nóng kéo dài có thể sẽ kéo theo tình trạng dịch bệnh trên tôm.

Nhiều nút thắt

Ông Ngô Minh Hiển, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Năm Căn thông tin thêm: “Trước khó khăn chung, mặc dù Hiệp hội Thủy sản tỉnh Cà Mau, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Cà Mau cũng đã có động thái nhưng chưa giải quyết được những vấn đề mà doanh nghiệp đặt ra. Theo đó phải kể đến như việc các ngân hàng thương mại chỉ giảm lãi suất huy động chứ không giảm lãi suất cho vay; hạn mức cho vay mới chưa ban hành; dẫn đến hoạt động của công ty hiện nay chủ yếu là cầm chừng. So với cùng kỳ, mức xuất khẩu giảm hơn 20%, các đơn hàng giảm hơn 50%.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại địa phương cũng cho biết Ngân hàng Nhà nước triển khai Thông tư 01/2020/TT-NHNN, ngày 13/3/2020 về khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi… là giải pháp đúng nhưng chưa thật sự trúng trọng tâm để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Bởi, điều các doanh nghiệp cần hiện nay chính là đồng vốn mới để khôi phục sản xuất, thu mua hàng thủy sản. Với tình hình dịch COVID-19, nếu không có vốn thu mua, dân sẽ treo đầm, khi hết dịch sẽ không có hàng để cung ứng.

Cà Mau có đội tàu khai thác thủy hải sản lớn, với sản lượng bình quân trên  200.000 tấn/năm. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)
Cà Mau có đội tàu khai thác thủy hải sản lớn, với sản lượng bình quân trên 200.000 tấn/năm. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Cà Mau chỉ đạo các tổ chức tín dụng khẩn trương triển khai thực hiện việc hỗ trợ như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí… cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Thông tư số 0l/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020.

Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh Cà Mau Trần Quốc Khởi cho biết: “Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ từ nguồn của Chính phủ. Do vậy, chỉ có thể áp dụng một số biện pháp như giảm lãi suất, kéo giãn nợ… Khó khăn là phải đợi các ngân hàng ban hành quy chế nội bộ. Chúng tôi chấp nhận chủ trương nhưng phải chờ đợi triển khai các bước tiếp theo để góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cũng như tạo điều kiện cho doanh đứng vững trong điều kiện dịch bệnh.”

Về vấn đề này, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử chia sẻ chủ trương đã có nhưng việc cụ thể hóa chính sách còn chậm. Các hội sở ngân hàng cần ban hành quy chế nội bộ từng hệ thống ngân hàng, chỉ đạo các chi nhánh sát cánh với doanh nghiệp để giải quyết đúng vướng mắc của các doanh nghiệp.

“Để duy trì sản xuất một cách ổn định, hiệu quả trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp cần minh bạch thông tin thu mua để nông dân nắm bắt, tránh tình trạng thương lái thu mua ép giá, gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nông dân. Bởi hơn ai hết, các doanh nghiệp cần thấy rõ vai trò của người nông dân, một khi nông dân đã không có điều kiện để đầu tư vào việc tái sản xuất thì người gặp khó đầu tiên là các doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần cung cấp đầy đủ thông tin, năng lực chế biến đối với ngân hàng để tạo đủ niềm tin, cùng nhau gỡ khó trong điều kiện dịch bệnh này,” Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử phân tích.

Trước thực tế trên, vừa qua, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau đã có công văn chỉ đạo Sở Công Thương; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh về việc cho vay vốn để thu mua nguyên liệu tạm trữ của doanh nghiệp. Đồng thời, yêu cầu Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Cà Mau khẩn trương rà soát các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Trung ương về tín dụng, đặc biệt là cho vay mới hoặc tăng hạn mức cho vay đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, nhằm khôi phục, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh khẩn trương thực hiện việc cho vay đối với các doanh nghiệp, trong đó, tập trung ưu tiên cho các doanh nghiệp thu mua nguyên liệu thủy sản tạm trữ, nhằm tiêu thụ nguồn nguyên liệu nuôi trồng, đánh bắt của người dân và giải quyết công ăn việc làm cho công nhân, góp phần ổn định kinh tế-xã hội của tỉnh.

Chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Tạo chuyển biến mạnh trong thu hút đầu tư

Là một trong bốn mũi nhọn “Tứ giác động lực” phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau được đánh giá là địa phương có nhiều tiềm năng lợi thế để phát triển. Tuy nhiên, bước vào năm 2020, do ảnh hưởng hạn hán và đặc biệt là dịch COVID-19, tỉnh Cà Mau đang triển khai nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là lĩnh vực thủy sản, để tạo chuyển biến mạnh mẽ nhằm thu hút đầu tư hiệu quả.

Đồng hành cùng doanh nghiệp

Thực tế là ngay khi trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, tỉnh Cà Mau đã chủ động gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản với những giải pháp cụ thể, để ngay khi thị trường thế giới mở cửa bình thường thì các doanh nghiệp này đã có đủ điều kiện để bứt phá thành công.

Để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo cơ quan chức năng thực hiện gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất đối với hơn 400 doanh nghiệp với tổng số tiền gần 33 tỷ đồng. Ngành ngân hàng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm phí và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Các ngân hàng thương mại chi nhánh tại Cà Mau đã hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho 1.630 khách hàng (bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, doanh nghiệp,…) với tổng số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay và giữ nguyên nhóm nợ hơn 524 tỷ đồng. Dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp thủy sản bị ảnh hưởng dịch COVID-19 là 651 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng đã rà soát cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí cho doanh nghiệp. Sở Tài chính Cà Mau cũng đã rà soát đánh giá lại các quy định về phí, lệ phí và tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh trình Hội đồng Nhân dân ban hành quy định liên quan đến phí, lệ phí.

Ngoài ra, tỉnh Cà Mau còn chú trọng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu khi dịch bệnh được kiểm soát và tận dụng triệt để từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, gia tăng giá trị kim xuất khẩu của tỉnh.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau yêu cầu các ngành, đơn vị thống kê nhanh khó khăn của doanh nghiệp trong việc phòng, chống dịch để báo cáo Ban Chỉ đạo tỉnh xem xét, giải quyết kịp thời. Sở Công Thương làm đầu mối hướng dẫn doanh nghiệp cung cấp thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành của tỉnh: công suất thiết kế, hàng tồn kho, số lượng công nhân, giá mua nguyên liệu, sản lượng hợp đồng đã ký, đăng ký tạm trữ, năng suất sản lượng năm trước và đồng thời dự báo cho cả năm nay; ngành nông nghiệp thống kê lại diện tích, số lượng, năng suất nuôi tôm trong dân năm trước và dự báo tình hình năm nay; giá cả thu mua tôm của các đại lý, doanh nghiệp trong dân hiện nay… Đây là những cơ sở dữ liệu quan trọng để tỉnh tháo gỡ khó khăn cho ngành xuất khẩu thủy sản thời gian tới.

Cà Mau có gần 150.000 hộ nuôi tôm, 20.000 công nhân đang tham gia sản xuất trong các nhà máy chế biến thủy sản

Theo ngành chuyên môn, việc giá tôm sụt giảm chưa có tiền lệ như vừa qua sẽ ảnh hưởng một cách nghiêm trọng và quy mô lớn đối với “vựa tôm của cả nước,” bởi Cà Mau có gần 150.000 hộ nuôi tôm, 20.000 công nhân đang tham gia sản xuất trong các nhà máy chế biến thủy sản.

Về vấn đề này, ông Châu Công Bằng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cho rằng đây là bài toán cần tháo gỡ ngay, đồng thời khuyến cáo người dân không nóng vội thu hoạch những ao chưa đến thời điểm thu hoạch.

“Bên cạnh đưa ra những dự báo cần thiết, Sở đã chủ động nắm bắt tình hình, liên hệ thường xuyên với doanh nghiệp, từ đó, trao đổi tình hình sản xuất, giá cả với cơ sở, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Sở đã kiến nghị Tổng cục Thủy sản có cơ chế đặc biệt với ngành hàng tôm, đề xuất gói hỗ trợ, thậm chí không lãi suất để doanh nghiệp thu mua dự trữ tôm,” ông Bằng chia sẻ.

Khu vực Mũi Cà Mau nhìn từ trên cao. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)
Khu vực Mũi Cà Mau nhìn từ trên cao. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Ông Bằng cũng cho biết thêm trong những tháng còn lại của năm 2020, ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau sẽ tập trung tái cấu trúc, tái cơ cấu kinh tế theo ngành, lĩnh vực, sản phẩm; tập trung sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là mặt hàng thủy sản (nhất là kế hoạch đầu tư, phát triển của ngành tôm) theo hướng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chú trọng hình thành các liên kết theo chuỗi hiệu quả và bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, gắn với thị trường, phát triển công nghiệp chế biến làm nền tảng để thúc đẩy sản xuất, giải quyết việc làm cho người dân…

Tập trung vào 3 đột phá chiến lược

Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau, nửa đầu quý 2/2020, giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt hơn 195 triệu USD bằng 16,3% kế hoạch, giảm 20% so cùng kỳ năm 2019; trong đó, xuất khẩu thủy sản ước đạt 188,6 triệu USD, bằng 16,4% kế hoạch, giảm 20,2% so cùng kỳ…

Theo ông Nguyễn Văn Đô, Giám đốc Sở Công Thương Cà Mau, toàn tỉnh hiện có 29 nhà máy chế biến xuất khẩu thủy sản đang duy trì hoạt động. Nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản ở Cà Mau gặp khó khăn do hàng tồn kho nhiều, hạn chế về tài chính để thu mua tôm nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu, dẫn đến sản lượng tôm chế biến giảm. Tuy gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh nhưng chưa có doanh nghiệp nào phải giải thể hoặc tạm ngưng hoạt động.

Dù thực tế còn nhiều khó khăn thách thức nhưng trước dự báo trong thời gian tới, tình hình kinh tế-xã hội sẽ khởi sắc do dịch COVID-19 đã được kiểm soát và tình trạng hạn hán sẽ kết thúc. Do đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nguyễn Tiến Hải đã yêu cầu các cấp, các ngành cần chủ động, mạnh mẽ, cụ thể trong thực hiện “mục tiêu kép.”

Tỉnh vừa quyết liệt phòng, chống, khống chế dịch, vừa tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống người dân, qua đó, chủ động xây dựng kế hoạch công tác “hậu phòng chống dịch COVID-19” để đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả công việc, đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2020.

Dây chuyền chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản  Minh Phú tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Dây chuyền chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Cụ thể, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tỉnh, Cục Thuế, Công ty Điện lực Cà Mau, Bảo hiểm xã hội tỉnh dựa trên kết quả đã đạt được trong triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, khẩn trương tiếp tục rà soát, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện hỗ trợ đảm bảo đầy đủ, đúng đối tượng được thụ hưởng.

Song song với đó, thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban Nhân dân các huyện, thành phố Cà Mau tích cực phối hợp với Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh tăng cường giải quyết, xử lý kịp thời, nhanh chóng những phản ánh, vướng mắc của các doanh nghiệp, nhà đầu tư đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh, nhằm duy trì, đẩy mạnh khôi phục sản xuất, kinh doanh do ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19…

Ông Trương Đăng Khoa, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tỉnh đã chủ động xây dựng các kịch bản, giải pháp để thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2020 trong bối cảnh tác động của dịch COVID-19 và ảnh hưởng của tình hình hạn hán.

Bên cạnh việc đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn sau những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, tỉnh Cà Mau tập trung đẩy mạnh việc cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, rút ngắn quy trình, thời gian thực hiện thủ tục cấp quyết định đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư… với quyết tâm đưa Cà Mau trở thành điểm đến lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm đến đầu tư sau đại dịch.

Về vấn đề này, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải khẳng định: “Cà Mau sẽ tiếp tục tập trung vào 3 đột phá chiến lược để thu hút đầu tư là đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và cải cách thủ tục hành chính. Mục tiêu tỉnh đặt ra là làm thế nào rút ngắn đến mức thấp nhất thời gian, thủ tục để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và người dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh.”

Với những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phục hồi sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Cà Mau tin tưởng điều này không chỉ tạo ra trợ lực đủ lớn trong công tác thu hút các nhà đầu tư mà còn góp phần phát triển bền vững, toàn diện nền kinh tế-xã hội của địa phương trong tương lai./.

Mạng xã hội và cuộc chiến chống đại dịch

Đại dịch COVID-19 hoành hành trên khắp thế giới có thể coi như một “tấm kính” bộc lộ rõ nét “tính hai mặt” của mạng xã hội.

Trong thời gian đại dịch, mạng xã hội được xem là “cây cầu” kết nối giữa mọi người, đặc biệt khi nhiều quốc gia triển khai lệnh phong tỏa đất nước.

Đại dịch COVID-19 hoành hành trên khắp thế giới có thể coi như một “tấm kính” bộc lộ rõ nét “tính hai mặt” của mạng xã hội.

Hơn thế nữa, khi bản chất của các nền tảng mạng xã hội là cho phép thông tin được chia sẻ dễ dàng, mạng xã hội cũng trở thành công cụ đắc lực phòng chống dịch COVID- 19.

 (Nguồn: thailandmedical.news)
 (Nguồn: thailandmedical.news)

Tuy nhiên, song song với đó, những thông tin giả mạo (hay còn gọi là fake news) về COVID-19 lan truyền với tốc độ chóng mặt trên mạng, trong nhiều trường hợp, lại chính là “ virus gây bệnh nan y.”

Với sức lan tỏa mạnh mẽ, rộng rãi và thu hút số lượng người dùng đông đảo, mạng xã hội đang trở thành một kênh truyền thông hiệu quả, cập nhật các diễn biến của dịch bệnh, cũng như cách phòng, chống COVID-19.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chính phủ nhiều nước trên thế giới đã tận dụng ưu thế của mạng xã hội, phát đi những thông tin nóng hổi nhất, phổ biến những kiến thức cần thiết, kịp thời truyền đi cảnh báo, tuyên truyền về cách ứng phó với virus nguy hiểm, đồng thời phát đi nhiều thông điệp ý nghĩa nhằm nâng cao tinh thần, ý thức của người dân trong việc phòng, chống dịch COVID-19. Trong trường hợp này, chính mạng xã hội là sức mạnh trong cuộc chiến chống dịch.

Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá sử dụng hiệu quả mạng xã hội để ứng phó với COVID-19.

Công an quận Cầu Giấy, Hà Nội lập hồ sơ xử phạt 12,5 triệu đồng với chủ tài khoản là P.T (SN 1990; trú tại Nghĩa Tân, Cầu Giấy) đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. (Nguồn: TTXVN)
Công an quận Cầu Giấy, Hà Nội lập hồ sơ xử phạt 12,5 triệu đồng với chủ tài khoản là P.T (SN 1990; trú tại Nghĩa Tân, Cầu Giấy) đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. (Nguồn: TTXVN)

Theo nhận định của tạp chí hàng đầu Mỹ The Nation, chiến dịch truyền thông mạnh mẽ và sáng tạo thông qua mạng xã hội là một trong những yếu tố giúp Việt Nam thành công trong cuộc chiến chống dịch.

Việc Bộ Y tế Việt Nam công bố kênh thông tin trên mạng xã hội Lotus hay ra mắt kênh chống dịch trên nền tảng TikTok… đã giúp lan tỏa những kiến thức phòng, chống bệnh đúng cách, giúp người dân cập nhập tình hình dịch bệnh, góp phần trang bị thêm kiến thức để có hành vi đúng đắn, chủ động phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ bản thân và cộng đồng.

Các công ty công nghệ hiện đang vận hành các trang mạng xã hội cũng phát triển những tính năng nổi bật, cung cấp nhiều công cụ để hỗ trợ các chính phủ phòng chống COVOD-19.

Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá sử dụng hiệu quả mạng xã hội để ứng phó với COVID-19.

Đơn cử như Facebook triển khai bản đồ theo dõi vị trí người dùng, cung cấp dữ liệu về xu hướng phạm vi di chuyển, từ đó dự báo sự lây lan của COVID-19. Nền tảng Snapchat ra mắt “Bảng tin COVID-19” với những thông tin mới nhất về dịch bệnh, được lấy từ các nguồn thông tin chính thống, như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và số liệu của chính phủ các nước.

Tại Việt Nam, mạng xã hội Lotus mở chiến dịch thông tin “Lá chắn virus corona,” cung cấp những thông tin tin cậy và kiến thức hữu ích; kêu gọi mỗi người trở thành “lá chắn” bảo vệ bản thân, người thân và xã hội. Đây là những minh chứng cụ thể cho thấy mạng xã hội có thể trở thành trợ thủ đắc lực trong công cuộc phòng chống đại dịch.

Giao diện kênh thông tin của Bộ Y tế trên mạng xã hội Lotus.
Giao diện kênh thông tin của Bộ Y tế trên mạng xã hội Lotus.

Trong thời gian đại dịch, những nền tảng trực tuyến cũng trở thành điểm hẹn kết nối những tấm lòng nhân ái ở khắp nơi. Hàng nghìn nhóm lớn nhỏ khác đã hình thành trên Facebook, WhatsApp hay mạng xã hội Weibo của Trung Quốc, hỗ trợ những người bị ốm, người cao tuổi người đang được cách ly, những người rất cần giúp đỡ trong đại dịch ở bất kỳ nơi đâu.

Tuy nhiên, mạng xã hội cũng là nguồn phát tán “fake news” về COVID-19. WHO từng mô tả COVID-19 là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, trong đó việc dư thừa thông tin trên mạng làm người dân các nước khó có thể tìm được những chỉ dẫn đáng tin cậy mà họ cần.

Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu báo chí thuộc Đại học Oxford (Anh), 1/3 số người sử dụng các nền tảng mạng xã hội ở Mỹ, Argentina, Đức, Hàn Quốc, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh đã thông báo đọc phải tin giả hoặc tin gây hiểu nhầm về đại dịch COVID-19.

Một nghiên cứu của Cơ quan Quản lý công nghệ truyền thông Anh (Ofcom) cho thấy tỷ lệ cứ 2 người tại Anh và Mỹ thì có 1 người đã đọc tin giả hoặc tin gây hiểu lầm về đại dịch COVID-19 trên mạng xã hội.

Chuyên gia IT của Israel phân tích một nền tảng mạng xã hội để xác định người dùng giả, tại trung tâm ở Tel Aviv. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Chuyên gia IT của Israel phân tích một nền tảng mạng xã hội để xác định người dùng giả, tại trung tâm ở Tel Aviv. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Khoảng 1/3 số độc giả cho biết họ cảm thấy chính các phương tiện truyền thông xã hội đã tạo ra tâm lý hoang mang về đại dịch bởi những tin giả hoặc không rõ ràng.

Khó có thể đánh giá được đầy đủ hậu quả của những tin giả hay tin đồn về COVID-19 trên các nền tảng mạng xã hội. Tuy nhiên, một số nghiên cứu công bố thời gian qua cho thấy đây là một vấn đề đáng báo động.

Theo nhận định của Giáo sư James R. Bailey tại Đại học George Washington (Mỹ), biến thể của virus corona đã khó lường thì “fake news” về COVID-19 càng khó lường và nguy hiểm hơn.

Chính phủ nhiều nước trên thế giới sau đó đã vào cuộc quyết liệt chống tin giả về COVID-19 trên mạng xã hội, trong khi các mạng xã hội cũng cùng chung tay tham gia cuộc chiến ngăn chặn nạn phát tán thông tin sai lệch.

Nổi bật là Twitter với cam kết gỡ bỏ những nội dung không phù hợp, Facebook thông báo cấm các đoạn quảng cáo dễ gây hiểu lầm về tác dụng của các bộ thử và khẩu trang, cùng cam kết đầu tư 100 triệu USD cho các cơ quan truyền thông và tổ chức xác thực thông tin.

WHO cũng lập một chuyên mục riêng trên trang chủ, có tên gọi là “MythBusters” để đưa ra các thông tin chính thống nhằm bác bỏ các thông tin giả mạo.

Nhân viên y tế bệnh viện ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) giới thiệu trang mạng tư vấn trực tuyến sơ bộ về virus corona chủng mới (SARS-CoV-2) hỗ trợ người dân phòng ngừa và ngăn chặn khả năng lây lan của dịch bệnh, ngày 7/2/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)
Nhân viên y tế bệnh viện ở Nam Kinh, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) giới thiệu trang mạng tư vấn trực tuyến sơ bộ về virus corona chủng mới (SARS-CoV-2) hỗ trợ người dân phòng ngừa và ngăn chặn khả năng lây lan của dịch bệnh, ngày 7/2/2020. (Ảnh: THX/TTXVN)

Giới chuyên gia cho rằng trong bối cảnh tin giả tràn ngập mạng xã hội, vai trò của truyền thông chính thống sẽ càng được khẳng định.

Theo kết quả nghiên cứu của công ty Edelman Trust Barometer, 64% người dùng mạng xã hội ở 10 quốc gia luôn tìm kiếm thông tin từ các cơ quan truyền thống chính, so với con số 38% chỉ sử dụng thông tin trên các nền tảng mạng xã hội.

Riêng tại Anh, 36% công dân nước này lựa chọn nguồn thông tin chính thống của các hãng thông tấn uy tín, trong khi chỉ có 5% chọn thông tin trên mạng xã hội.

Nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ tín nhiệm cao của với các nguồn tin chính thức như từ WHO hay các nhà khoa học.

Trong khi đó, tiến sỹ Naim Kapucu, Giám đốc Trường Hành chính công thuộc Đại học Central Florida, khẳng định cách hiệu quả nhất để đối phó với tin giả và tin đồn chính là minh bạch thông tin, bởi càng minh bạch thông tin thì càng làm giảm cơ hội của những thông tin giả mạo.

Giới chuyên gia và truyền thông quốc tế cũng đánh giá minh bạch thông tin là một trong những “bí quyết” để Việt Nam nổi lên như hình mẫu thành công chống dịch của thế giới.

Giám đốc Văn phòng Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC) tại Thái Lan John MacArthur cho rằng chính sự minh bạch cùng với quyết tâm chính trị nhất quán đã giúp Việt Nam làm nên thành công này.

Tạp chí The Diplomat cũng đề cao việc Chính phủ Việt Nam duy trì minh bạch thông tin về tình hình dịch bệnh và cho phép công bố thông tin không hạn chế trên Facebook.

Kết quả một cuộc thăm dò ý kiến độc giả mới đây do công ty phân tích dữ liệu và nghiên cứu thị trường YouGov (Anh) tiến hành cho thấy Việt Nam có mức tín nhiệm truyền thông cao nhất khi đưa tin về COVID-19, với 89% số người Việt Nam được hỏi tin tưởng vào truyền thông trong nước thông tin về chủ đề này.

Với khả năng kết nối gần như vô biên, mạng xã hội là một phần không thể thiếu của đời sống hiện đại. Bởi vậy, có thể nói rằng mạng xã hội cũng đóng vai trò đáng kể trong cuộc chiến toàn cầu chống đại dịch COVID-19.

Phát huy hiệu quả mặt tích cực và kiểm soát mặt trái của mạng xã hội sẽ là yếu tố góp phần giúp thế giới sớm đẩy lùi được virus SARS-CoV-2./.

Ca khúc Không Fake News của TTXVN phát hành với 15 ngôn ngữ.
Ca khúc Không Fake News của TTXVN phát hành với 15 ngôn ngữ.

‘Loạn quy hoạch’ làm biến dạng đô thị

Lời tòa soạn!

Sau hơn 100 ngày nỗ lực dập dịch COVID-19, với sự chung tay, dồn sức của nhân dân cả nước, đặc biệt là các giải pháp quyết liệt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, virus corona chủng mới làm “chao đảo” đất nước đã cơ bản được khống chế. Người dân trên khắp dải đất hình chữ S dần trở lại cuộc sống, sau bao nỗi khắc khoải, âu lo.

Cũng phải nói, để chiến thắng đại dịch này, chúng ta đã trải qua thời gian dài sống với “liều thuốc đắng” giãn cách xã hội, chi hàng nghìn tỷ đồng để “không bỏ ai ở lại phía sau” và chịu tổn thất nặng nề về kinh tế, du lịch. Nhưng dù mất mát thế nào thì việc khống chế được con virus ngoại lai này cũng chỉ là cái giá vô hình mà hẳn ai cũng hài lòng, chấp nhận để ngăn cái chết, tìm lại cuộc sống tươi đẹp hơn.

Đó cũng là “cuộc giải phóng” lịch sử trong kỷ nguyên mới, mà vũ khí làm nên thắng lợi ấy là sức mạnh của “ý Đảng, lòng dân,” khi cả nước trên dưới một lòng cùng nỗ lực dập dịch với những “mũi tấn công” quyết liệt, không có vùng cấm.

Đến nay, nỗi lo bởi virus corona đã vơi… Thế nhưng, có một loại virus khác cũng lan nhanh như “nấm mốc,” khiến đại biểu Quốc hội nhiều tỉnh trăn trở, cử tri cả nước bất bình, lo lắng và đến nay vẫn chưa có “liều thuốc đặc trị” để ngăn chặn. Đó là virus “loạn quy hoạch” làm méo mó đô thị, biến dạng cảnh quan thiên nhiên.

Ngược dòng lịch sử, chúng ta sẽ thấy xưa, cha ông ta quai đê lấn biển, bạt núi ngăn sông là để mở rộng bờ cõi, bảo vệ vị trí xung yếu phòng thủ an ninh, bảo vệ tấc đất của Tổ quốc. Còn ngày nay thì sao? Các nhà quy hoạch, “ông trùm” bất động sản cũng ngày đêm mở đất, lấp lấn biển nhưng lại âm mưu thâu tóm tài nguyên thiên nhiên quốc gia thành của riêng, hay phục vụ lợi ích của nhóm người có quyền lực.

Thực tế, cùng với tốc độ đô thị hóa phát triển “nóng” hiện nay, các dự án bất động sản, du lịch tâm linh không chỉ đua nhau mọc san sát trên những mảnh đất vàng màu mỡ, mà còn “bủa vây” cả những dòng sông, bờ biển. Thậm chí, trên cả đỉnh núi cũng đã xuất hiện vô số tòa nhà cao vút với biệt thự, khách sạn hạng sang, lâu đài đầy kiêu hãnh như thách thức lòng người và bất chấp các quy định pháp luật.

Đó là chưa kể, hàng loạt những cuộc đấu thầu dự án “quân xanh quân đỏ” đã và đang bị thao túng bởi nhóm lợi ích, xã hội đen, thậm chí bị che đậy bởi quyền lực… khiến tài nguyên của quốc gia “chảy” vào túi quan, người dân thì mất đất, kêu cứu.

Hiện trường vụ cháy quán Karaoke 68 Trần Thái Tông (Cầu Giấy, Hà Nội), khiến 13 người chết. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Hiện trường vụ cháy quán Karaoke 68 Trần Thái Tông (Cầu Giấy, Hà Nội), khiến 13 người chết. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Không thể phủ nhận, việc chạy đua với “bão” quy hoạch, phát triển “nóng” các dự án bất động sản đã đem lại lợi ích kinh tế nhất định, song thực trạng “quy hoạch chạy theo nhà đầu tư” hay nhóm lợi ích cũng đã và đang gây ra những hệ lụy đáng suy ngẫm, nhất là sự thất thoát tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường. Cảnh quan thiên nhiên bị phá nát, đô thị méo mó khó có thể phục hồi lại được.

Dù rằng, những năm qua đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dự án tai tiếng bị phanh phui, đã phá vỡ quy hoạch đô thị, làm xấu hồn cốt danh lam thắng cảnh; biết bao cán bộ “tham nhũng vặt” từ thôn tới tỉnh, đến những nhóm lãnh đạo cấp cao ở Trung ương vướng vào lao lý, bị khai trừ khỏi Đảng, xử lý hình sự… Vậy nhưng, đó cũng mới chỉ là một phần nổi của những “khối băng chìm” đang tồn tại trong “biển hồ đô thị” với vô vàn những “đại” dự án “củi tươi” chưa được xử lý triệt để.

Cứ thế, dưới lớp áo “phát triển du lịch,” các chủ dự án du lịch tâm linh, dự án bất động sản nghỉ dưỡng (condotel, cocobay), khách sạn, chung cư vẫn ngày đêm đua nhau phá rừng, bạt núi, ngăn sông, lấp lấn biển để hô biến thành những công trình xa xỉ mọc lên san sát như phố thị, thậm chí hóa thành cả vùng “đặc khu!”

Theo nhận định của giới chuyên gia về quy hoạch và các nhà quản lý, một trong số nguyên nhân khiến những “khối băng chìm” đô thị đến nay vẫn vô tư tồn tại, thách thức dư luận là bởi Việt Nam chưa từng tổ chức thanh-kiểm tra quyết định điều chỉnh quy hoạch, cũng chưa có vụ án nào xử lý người ký, lập quy hoạch sai.

Quy hoạch khu đô thị dễ dàng bị thay đổi đang khiến Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương trên cả nước rơi vào “mớ bòng bong” như không gian sống ngột ngạt, sụt lún, triều cường, chất lượng sống của người dân đi xuống…

Thực tế, lâu nay mới chỉ có chuyện xử lý doanh nghiệp xây dựng trái phép, lừa đảo. Trong khi, quy hoạch khu đô thị dễ dàng bị thay đổi đang khiến Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương trên cả nước rơi vào “mớ bòng bong” như không gian sống ngột ngạt, sụt lún, triều cường, chất lượng sống của người dân đi xuống, nhưng những người “vẽ” ra quy hoạch vẫn vô can.

Những bất cập trên cho thấy việc quy hoạch “nóng,” không hài hòa với bảo tồn là bước đi thụt lùi, nhất là khi hàng năm Nhà nước vẫn phải chi ngân sách cho việc sửa chữa, khắc phục hậu quả. Vì thế, hơn bao giờ hết cần đưa ra công lý người ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch méo mó. Cương quyết ngăn chặn “virus quy hoạch xây dựng méo mó” như dập dịch COVID-19, bằng những cuộc “đại phẫu” xử lý tận gốc sai phạm, để ổn định lại diện mạo đô thị, lấy lại niềm tin trong nhân dân…

Để rõ hơn về thực trạng trên, mời độc giả cùng phóng viên VietnamPlus đi vào thực tế để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng loạn quy hoạch; xây dựng méo mó, cũng như sự tồn tại của những con virus đang ẩn sâu trong “cơ thể đô thị” cả nước.

Từ đó rộng đường dư luận hiểu vì sao tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, hay vô số “đại dự án” sừng sững, chềnh ềnh gây nhiều hệ lụy cho các đô thị nhiều năm ầm ĩ và tốn không biết bao nhiêu giấy mực nhưng đến nay vẫn điềm nhiên tồn tại, chưa được xử lý?

Mỗi khi mưa xuống nhiều tuyến đường tại các đô thị lớn lại “biến thành sông,” tắc đường cục bộ; nắng lên, người dân lại “ngộp thở,” chịu cảnh ô nhiễm môi trường không khí, chất lượng sống của người dân đi xuống... (Nguồn ảnh: TTXVN)
Mỗi khi mưa xuống nhiều tuyến đường tại các đô thị lớn lại “biến thành sông,” tắc đường cục bộ; nắng lên, người dân lại “ngộp thở,” chịu cảnh ô nhiễm môi trường không khí, chất lượng sống của người dân đi xuống… (Nguồn ảnh: TTXVN)

‘Siêu dự án’ 

hô biến mất nhà cửa của dân nghèo thành thị

Chiều mùa hè năm 1999, trời nắng nóng như đổ lửa, được triệu tập gấp để tham dự “cuộc họp đặc biệt” của quận, bà Phan Thị Thủy tất tưởi đến hội trường Bình Khánh ở quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, bà được các cán bộ quận thông báo về việc giải tỏa khu vực chợ cũ để làm mới bằng dự án chợ An Khánh.

Không lâu sau, một gia đình với 4 thành viên đang có nhà cửa, sống ổn định, bỗng chốc phải ra đường với mức giá đền bù 0 đồng, đi ở mướn, sống cảnh vô gia cư chỉ vì dự án đến giờ vẫn đắp chiếu. Đó là những ký ức bà Thủy gần như khắc sâu trong tâm trí sau ngót hai thập kỷ khiếu nại liên quan đến Khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Đến nay, sau bao năm cơm nắm đi tìm chân lý từ thành phố đến Trung ương, điều mà người phụ nữ khốn khổ này và hơn 100 hộ dân khác cùng cảnh trong xóm tạm cư “tối” như cuộc đời họ nhận được vẫn chỉ là những lời hứa trôi theo năm tháng!

Đang yên lành bỗng thành vô gia cư…

Tôi thực hiện dòng phóng sự này đúng vào giai đoạn đỉnh điểm của dịch COVID-19 tại Việt Nam (sau sự xuất hiện của ca bệnh số 17), mặc dù việc di chuyển bằng máy bay đang được hạn chế và bản thân cũng có sự lo lắng, nhưng việc đã hẹn được những người dân – người thực việc thực ở Thành phố Hồ Chí Minh, với gần 20 năm cơm đùm, áo đúm đi khiếu nại về “siêu dự án” phá vỡ quy hoạch đô thị Thủ Thiêm đã khiến tôi gạt qua hết những lo ngại.

Ngồi như tượng trong căn nhà tạm cư đang dột nát, bà Phan Thị Thủy (67 tuổi) chao chát kể: Gần bốn thập kỷ trước, vợ chồng bà từ một vùng quê nghèo chuyển đến khu vực chợ An Khánh (bấy giờ thuộc địa bàn xã An Khánh) sinh sống. Vị trí lô đất nhà bà nằm sát ven đường nên cuộc sống mới cũng bắt đầu khá thuận lợi.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang,” sau hơn 10 năm “an cư lập nghiệp,” đến giữa năm 1999, cuộc sống đang yên của hàng chục hộ dân quanh khu vực bỗng chốc bị đảo lộn bởi thông tin giải tỏa để nhường chỗ cho dự án chợ An Khánh.

Chia sẻ của người dân quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh sau bao năm khiếu nại liên quan đến dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm.

“Nhận được thông báo giải tỏa trên, gia đình cô cũng như hàng chục hộ dân xung quanh không chấp thuận nên đi khiếu nại. Nhưng đến cuối năm 1999, tụi cô đã bị cưỡng chế, buộc phải rời nơi cư trú, với giá đền bù là 0 (không) đồng. Kể từ đó, gia đình cô với 4 thành viên phải đi ở nhờ nhà người thân, rồi đi thuê phòng trọ. Bị mất trắng, vợ chồng cô không thể làm được gì ngoài việc đi khiếu nại, cầu cứu từ thành phố đến Trung ương,” bà Thủy ngậm ngùi kể.

Câu chuyện tạm giãn đoạn bởi hai dòng ngấn lệ, người phụ nữ 67 tuổi đưa vạt áo nhàu nhĩ lên gò má lau vội nước mắt, rồi thở dài kể tiếp: “Tới tháng 10/2000, đoàn công tác liên ngành của ông Nguyễn Công Tạn (bấy giờ là Phó Thủ tướng Chính phủ) vô, sau đó có yêu cầu quận 2 và thành phố giải quyết cho người dân.”

“Nhờ đó, ông Lê Thanh Hải (lúc bấy giờ là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định 8770, nhưng cũng chỉ hỗ trợ tài sản và kinh phí cải tạo đất với số tiền 50.000 đồng/m2,” bà Thủy kể và cho biết nhà bà có 70m2, nhưng chính quyền chỉ đo 50m2 đất, tính ra chỉ được có mấy chục triệu đồng.

Trong khi, chợ An Khánh nằm ngoài ranh quy hoạch đô thị mới Thủ Thiêm nhưng sau đó lại giao cho doanh nghiệp, đô thị này quản lý. Hơn nữa, đất ở đây hiện có giá trên 300 triệu đồng/m2. Thế nên việc dân cảm thấy thiệt thòi, âu cũng là điều dễ hiểu.

“Đến giữa năm 2001, chính quyền mới đưa tụi cô vô khu tạm cư này. Trong suốt gần 20 năm qua, cuộc sống gia đình đầy rãy khó khăn…”- bà Thủy chia sẻ.

Không chấp nhận với kết quả trên, người dân ở phường Bình Khánh tiếp tục đi khiếu nại. “Đến giữa năm 2001, chính quyền mới đưa tụi cô vô khu tạm cư này. Trong suốt gần 20 năm qua, cuộc sống gia đình đầy rẫy khó khăn. Mọi thu nhập chỉ biết trong chờ vào cái quán càphê nhỏ mở ngay tại gian nhà tạm cư này.”

“Cứ thế, kiếm được đồng nào, tụi cô lại cơm nắm cùng bà con trong khu đi khiếu nại cho tới bây giờ. Quá mệt mỏi vì bao năm đi khiếu nại không được gì, mấy năm trước chồng cô, ông ấy đã tự tử, bỏ lại mẹ con rồi,” bà Thủy khóc nghẹn…

Một góc khu nhà tạm cư-nơi bà Thủy và các hộ dân đang sinh sống. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Một góc khu nhà tạm cư-nơi bà Thủy và các hộ dân đang sinh sống. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Giá thị trường “trên trời,” giá bồi thường “dưới đất”

Ông Nguyễn Tấn Cứu, người công bố còn giữ tấm bản đồ quy hoạch khu Thủ Thiêm, cho biết gia đình ông có 82m2 đất ở C4/7 đường Lương Đình Của, quận 2. Đang an cư, đến năm 2004, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hồi đất của gia đình và người dân xung quanh để thực hiện “siêu dự án” Khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Cho rằng đất nhà mình nằm ngoài ranh quy hoạch dự án, ông Cứu đã tìm tới Cục Lưu trữ thành phố xin lại tấm bản đồ để phục vụ cho việc khiếu nại. Theo Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, bản đồ ông Cứu đang giữ là bản đồ năm 1998, không phải là bản đồ 1/5000 năm 1996. Tuy nhiên, bản đồ này khá chính xác với quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Với dự án có quy mô diện tích lên tới 930ha, ảnh hưởng hơn 10.000 hộ gia đình (tương đương khoảng 15.000 người) thì việc xác định ranh giới quy hoạch và ranh giới thực địa như dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

“Nếu thành phố nói đất chúng tôi nằm trong quy hoạch thì yêu cầu đưa ‘bản đồ quy hoạch 367’ ra để chứng minh. Còn không thì yêu cầu trả đất, trả nhà, để chúng tôi trở về ổn định cuộc sống, sau bao năm phải rời nơi cư trú,” ông Cứu chia sẻ.

Thế nhưng, do tình trạng mập mờ pháp lý, không công khai bản đồ quy hoạch cho người dân vì lý do khó hiểu là “mất/thất lạc bản đồ 367 Thủ Thiêm” (thực chất là bộ đồ án đi kèm Quyết định 367/TTg ngày 4/6/1996 do Thủ tướng phê duyệt quy hoạch), đã dẫn tới việc khiếu nại kéo dài đi cùng với vấn đề thu hồi đất trong ranh, ngoài ranh.

Nhớ lại thời điểm buộc phải di dời, ông Cứu thở dài kể: “Lúc bấy giờ, ông Lê Thanh Hải nói là phải dùng ‘bàn tay sắt’ đối với đô thị mới Thủ Thiêm và họ đã dùng cần cẩu, xe cơ giới để san ủi nhà, đất, trục xuất chúng tôi ra khỏi nơi cứ trú; giao ngay đất lại cho các doanh nghiệp. Sau đó ép chúng tôi về khu tạm trú này.”

Cùng chung cảnh sống “héo mòn” ở khu tạm cư cũ kỹ suốt hơn thập kỷ qua, bà Nguyễn Thị Tám cho biết trước đây, thời điểm thông báo quy hoạch đô thị mới Thủ Thiêm, khu vực nhà bà không nằm trong quy hoạch mà nằm ngoài ranh.

“Thấy vô lý, gia đình tôi đã khiếu nại, yêu cầu chính quyền chứng minh đất nằm trong quy hoạch, nếu đúng sẽ tự nguyện di dời, nhưng họ không chứng minh được thì dùng việc cưỡng chế yêu cầu chúng tôi đi,” bà Tám buồn rầu kể lại.

Nói về việc đền bù, tất cả người dân khi chia sẻ với tác giả bài viết này đều cho rằng đền bù là đất nằm trong quy hoạch, còn đây không nằm trong quy hoạch. Vì thế, nếu doanh nghiệp muốn lấy đất để làm dự án thì phải thỏa thuận với dân về giá cả.

Hiện tại, phương án giá tiền đền bù cho các gia đình ở khu tạm cư (chưa nhận) tính ra kể cả vấn đề hỗ trợ là 18 triệu đồng/m2. Trong khi giá thị trường khu đất người dân phải di dời là 300-400triệu đồng/m2. Đó cũng là lý do người dân không chấp nhận vì cho rằng giá thị trường “ở trên trời” còn giá bồi thường thì “như dưới đất.”

“Bao năm qua, chúng tôi đi khiếu nại, vừa rồi Đảng cũng đã kỷ luật một số cán bộ liên quan, nên chúng tôi yêu cầu thành phố phải làm đúng theo pháp luật. Nếu thành phố nói đất chúng tôi nằm trong quy hoạch thì yêu cầu đưa ‘bản đồ quy hoạch 367’ ra để chứng minh. Còn không thì yêu cầu trả đất, trả nhà, để chúng tôi trở về ổn định cuộc sống, sau bao năm phải rời nơi cư trú,” ông Cứu nói thêm.

Những sai phạm tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)
Những sai phạm tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)

Cần có một “Bao Công” để luận án, rõ tình

Quay trở lại “siêu dự án” Thủ Thiêm có đến gần 15.000 hộ dân thuộc diện đền bù, giải tỏa với hơn 60.000 nhân khẩu đã di dời. Theo tìm hiểu của phóng viên VietnamPlus, để làm cơ sở pháp lý triển khai việc xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, ngày 27/5/1996, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã trình Thủ tướng Võ Văn Kiệt đồ án quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/5.000 (thời điểm đó thuộc huyện Thủ Đức).

Trên cơ sở tờ trình của Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4/6/1996, Thủ tướng đã ký Quyết định 367 phê duyệt quy hoạch “siêu dự án” Thủ Thiêm. Quyết định nêu rõ quy mô dự án là 930ha, trong đó khu đô thị mới 770ha với dân số khoảng 200.000 người; khu tái định cư 160ha với dân số 45.000 người. Nhưng sau đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần điều chỉnh quy hoạch, dẫn đến vị trí, giới hạn khu đô thị Thủ Thiêm không thống nhất về tên gọi so với bản đồ và thực địa.

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ đã công bố trong năm 2018, sai phạm tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm chủ yếu về điều chỉnh ranh quy hoạch và bố trí đất tái định cư, xảy ra trong giai đoạn đầu thực hiện.

Riêng khu tái định cư 160ha được nêu trong Quyết định 367, Thành phố Hồ Chí Minh đã phê duyệt quy hoạch, chấp thuận chủ trương tạm giao, thu hồi và giao đất cho 51 dự án với tổng diện tích 144,6ha để đầu tư kinh doanh nhà ở, văn phòng, khu vui chơi, giải trí,… sau khi Thủ tướng đã phê duyệt quy hoạch khu tái định cư.

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ đã công bố trong năm 2018, sai phạm tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm chủ yếu về điều chỉnh ranh quy hoạch và bố trí đất tái định cư, xảy ra trong giai đoạn đầu thực hiện.

Hậu quả là không đủ đất để bố trí tái định cư theo quy hoạch được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 367 và Công văn số 190/CP-NN ngày 22/2/2002 của Chính phủ, dẫn đến làm phá vỡ quy hoạch được phê duyệt, việc đầu tư xây dựng Thủ Thiêm bị đình trệ do người dân khiếu nại kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm.

Chưa kể, các lần điều chỉnh quy hoạch của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm năm 2005 và 2012, còn loại bỏ chức năng trung tâm hành chính (18ha) mà trước đó Quyết định 367 của Thủ tướng đã xác định rõ; cũng như tăng chức năng đất ở lên hơn gấp 2 lần so với Quyết định 367…

Việc “siêu dự án” đô thị mới Thủ Thiêm sau nhiều lần bị điều chỉnh dẫn đến “biến dạng” đã rõ. Thế nhưng, điều khó hiểu là sau gần 20 năm, người dân Thủ Thiêm đòi đất tái định cư theo “bản đồ 367,” đến nay, tài liệu này hầu như không được nhắc đến trong những văn bản chính thức liên quan đến quá trình giải quyết. Thậm chí từng có thông tin công bố rằng “bản quy hoạch gốc” đã bị mất, bị thất lạc…

Những công trình ngổn ngang tại quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Những công trình ngổn ngang tại quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thay vào đó, các cơ quan hữu quan căn cứ vào Quyết định 6565/QĐ “sửa sai” của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu Trung tâm Đô thị mới Thủ Thiêm vào năm 2005. Một văn bản từng gây nhiều tai tiếng vì điều khoản vượt quyền Thủ tướng Chính phủ.

Theo Quyết định 6565 thì quy mô Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm là 737ha, gồm 657ha khu đô thị phát triển và 80ha đô thị chỉnh trang. Tuy nhiên, 160ha đất tái định cư thì đã bị bỏ ra ngoài quy hoạch chung 1/5.000 và đưa 80ha đô thị chỉnh trang nằm ngoài ranh giao đất của Chính phủ vào quy hoạch 1/5000. Điều này dường như trái với Nghị định số 93/2001/NĐ-CP ngày của Chính phủ về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho Thành phố Hồ Chí Minh quy định trách nhiệm của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 93/2001/NĐ-CP: “Xây dựng, phê duyệt quy hoạch chi tiết và điều chỉnh cục bộ quy hoạch để bảo đảm tính đồng bộ, hài hòa và phù hợp với từng giai đoạn phát triển, nhưng không làm thay đổi quan điểm và định hướng của quy hoạch tổng thể đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.”

Đến nay, sau 20 năm, những gian nhà tạm cư cũng đã xập xệ, như bao mái tóc đen chuyển màu sang trắng, hàng trăm hộ dân “cũ” ở ngoài ranh “siêu dự án” đô thị mới Thủ Thiêm không những vẫn chưa được ổn định cuộc sống mà còn phải giành cả tuổi già của mình để “đấu tranh” với hi vọng được trở về nơi đất tổ của mình.

“Bao năm qua đáng nhẽ con, cháu chúng tôi sẽ có một tuổi thơ yên bình như những đứa trẻ khác, chúng tôi cũng có một tuổi già để nghỉ ngơi vậy mà…,” nỗi trăn trở cùng những giọt nước mắt dấn ướt của ông Cứu, bà Thủy, bà Tám khiến ai cũng cảm thấy như trái tim thắt lại../.

Để rõ hơn về những vướng mắc liên quan đến khu dô thị mới Thủ Thiêm, đầu tháng 3/2020, phóng viên VietnamPlus đã đến các sở, ngành của Thành phố Hồ Chí Minh (Sở Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng) đặt lịch làm việc và nhiều lần liên hệ qua điện thoại, nhưng đến nay vẫn không nhận được phản hồi nào.

Hạ tầng nội khu của Khu đô thị mới Thủ Thiêm ở quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Hạ tầng nội khu của Khu đô thị mới Thủ Thiêm ở quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Xây trước, xin sau và cái bóng của ‘nhóm lợi ích’

Không chỉ “siêu dự án” Thủ Thiêm bị phá vỡ quy hoạch dẫn đến biến dạng đô thị, theo tìm hiểu của phóng viên VietnamPlus, trong suốt hai thập kỷ qua, tình trạng quy hoạch “thần tốc,” xây dựng trái phép, sai phép, “vượt” quy hoạch cũng lây lan nhanh như virus.

Mỗi dự án có những khoảng tối khác nhau, nhưng hầu như đều chung một kịch bản là xây trước, xin-chạy sau và giải pháp nhân đạo: “phạt cho sai phạm tồn tại.” Thực tế này không chỉ dẫn tới phá vỡ quy hoạch, thất thoát tài nguyên, gây ra khiếu kiện, mà còn xuất hiện những “vết hằn” của cái bóng quyền lực…

Tràn lan công trình xây “vượt” quy hoạch

Nói về những dự án xây dựng “lùm xùm” trong thời gian qua, hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay đến công trình 8B Lê Trực hay HH Linh Đàm. Hai công trình đã và đang để lại nhiều tai tiếng, làm xấu diện mạo Thủ đô, gây bức xúc trong nhân dân.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là phần nổi của “khối băng chìm” đang tồn tại trong “biển hồ đô thị” từ Bắc vào Nam với nhan nhản dự án, công trình vi phạm. Thực tế này cũng đã được cử tri phản ánh, các đại biểu Quốc hội nêu ra rất nhiều trong các kỳ Đại hội.

Chỉ riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm, đô thị sầm uất nhất cả nước này đã có hàng nghìn công trình xây dựng không phép, sai phép bị phát hiện và xử lý. Thống kê năm 2017, cho thấy toàn thành phố có 2.856 công trình vi phạm; năm 2018 có 2.419 công trình; năm 2019 có 2.900 vụ vi phạm xây dựng công trình, nhà ở… Các công trình ấy đã góp phần phá vỡ quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.

Chỉ riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm, đô thị sầm uất nhất cả nước này đã có hàng nghìn công trình xây dựng không phép, sai phép bị phát hiện và xử lý…

Nhìn ra toàn quốc, đại biểu Quốc hội Thái Trường Giang (tỉnh Cà Mau) cho biết tình trạng xây dựng không phép, trái phép tràn lan, thực tế cho thấy hầu như công trình xây dựng nào cũng có vi phạm. Nguyên nhân là luật không quy định rõ về quản lý trật tự xây dựng và tốc độ phát triển đô thị nhanh, trong khi các quy trình phê duyệt quy hoạch đô thị chậm, các cấp chính quyền đôi khi buông lỏng quản lý.

Điều đáng nói là, rất nhiều công trình vô tư thi công “vượt đèn đỏ” khi chưa được phê duyệt quy hoạch, chưa có giấy phép, quá trình xây dựng gây ra hậu quả nghiêm trọng, nhưng chính quyền địa phương vẫn không kịp thời ngăn chặn, xử lý.

Sau bao năm, những băng rôn yêu cầu chủ đầu tư trả sổ hồng vẫn được người dân treo khắp các tòa nhà ở HH Linh Đàm. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Sau bao năm, những băng rôn yêu cầu chủ đầu tư trả sổ hồng vẫn được người dân treo khắp các tòa nhà ở HH Linh Đàm. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Đơn cử như dự án khu biệt thự và nhà phố Vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden (Vườn Vạn Tuế), tỉnh Hưng Yên. Mặc dù dự án này chưa có quyết định chủ trương đầu tư, cũng như còn “thiếu” các thủ tục pháp lý bắt buộc, nhưng chủ đầu tư vẫn ngang nhiên thi công xây dựng và thực hiện giao dịch mua bán nhà trái pháp luật.

Theo tài liệu mà phóng viên VietnamPlus thu thập được, dự án Vườn Vạn Tuế được xây dựng trên phần diện tích gần 51.000m2 từng được Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên đồng ý cho Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng Văn Giang thuê từ năm 2002, để thực hiện dự án nhà máy sản xuất gạch ngói tunnel trong thời hạn 50 năm.

Đến cuối tháng 2/2016 (tức 14 năm sau), Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên tiếp tục có quyết định cho phép Công ty cổ phần thương mại sản xuất vật liệu xây dựng Đại Hưng thay thế doanh nghiệp Văn Giang và trở thành chủ đầu tư Dự án Nhà máy sản xuất gạch ngói tunnel với quy mô sản xuất lên tới 15 triệu viên/năm.

Thế nhưng, chỉ hơn 3 tháng sau, ngày 11/6/2016, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng-“hàng xóm thân thiết” của doanh nghiệp Đại Hưng đã có văn bản gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên, đề nghị di dời nhà máy sản xuất gạch ngói đến vị trị khác vì dự án này nằm cạnh Khu đô thị Ecopark nên tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng cảnh quan khu đô thị, mà suốt 14 năm qua, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên và cả phía chủ đầu tư đã không nghĩ tới?

10 ngày sau đó, doanh nghiệp Đại Hưng liền có văn bản gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhà máy gạch để thực hiện dự án Vườn Vạn Tuế. Như vậy, chỉ gần 4 tháng tiếp quản nhà máy sản xuất gạch ngói, doanh nghiệp đã xin chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm dự án bất động sản.

Trên cơ sở đề xuất của doanh nghiệp, ngày 30/11/2016, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên đã ra Thông báo số 283/TB-UBND kết luận của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, đồng ý về chủ trương để doanh nghiệp Đại Hưng được điều chỉnh thành dự án Vườn Vạn Tuế. Lợi dụng thống báo này, chủ đầu tư đã ồ ạt triển khai thi công, dù dự án này chưa có quyết định chủ trương đầu tư, cũng như còn “thiếu” thủ tục pháp lý và thực hiện giao dịch mua bán nhà ngay trong lúc mới thi công.

Đến thời điểm cuối năm 2019, dự án Vườn Vạn Tuế đã thi công gần như hoàn thiện với đường nội bộ, điện chiếu sáng, cây xanh, hơn 200 công trình nhà biệt thự, liền kề đã được xây xong phần thô.

Các cổng ra vào của dự án được kết nối trực tiếp với hạ tầng của khu đô thị Ecopark, đều có bảo vệ, gác chắn…

Gần 2 thập kỷ nay, tốc độ đô thị hóa diễn ra chóng mặt đã khiến cuộc sống người dân ở các đô thị lớn càng trở nên ngột ngạt hơn. Một trong những yếu tố tạo nên sự “ngột ngạt” ấy là hàng nghìn công trình xây dựng trái phép, sai phép, xây “vượt” quy hoạch… (Video: Hùng Võ/Vietnam+)

“Thả gà ra đuổi” dự án xây dựng vi phạm

Điều đáng nói là, mặc dù dự án Vườn Vạn Tuế đã được lãnh đạo các Sở Xây dưng, Kế hoạch và Đầu tư xác nhận là đã xây dựng “vượt đèn đỏ” khi chưa có quyết định chủ trương đầu tư, cũng như chưa hoàn thiện các thủ tục pháp lý trình cơ quan chức năng thẩm định, nhưng khi người viết đề cập đến giải pháp xử lý thì không một ai đưa ra được giải pháp xử lý thỏa đáng trên tinh thần “thượng tôn pháp luật.”

Ngay cả đại diện lãnh đạo tỉnh Hưng Yên khi trao đổi với phóng viên VietnamPlus cũng thẳng thắn nhìn nhận thực tế trên và cho biết “trong vụ việc này cũng có phần trách nhiệm của các sở, ngành.” Nhưng, như một quy luật đã thành thói quen, dự án “xây trước, chạy sau” với quy mô 200 nhà biệt thự, liền kề đến nay vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” bất chấp việc sẽ không còn chuyện phạt cho tồn tại đối với những công trình vi phạm theo Nghị định số 139/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/1/2018!

Theo Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, kể từ ngày 15/1/2018, sẽ không còn chuyện phạt cho tồn tại đối với những công trình vi phạm. 

Nhìn nhận ở gốc độ cán bộ của cử tri, nhiều đại biểu quốc hội cũng đã không thể “ngồi yên,” liên tiếp nhắc tới tình trạng vi phạm trong hoạt động xây dựng như một mối đe dọa khi những “siêu, đại” dự án đang tồn tại như thách thức phát luật.

Thảo luận tại nghị trường Quốc hội ngày 27/11/2019 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, đại biểu Lê Quang Trí (tỉnh Tiền Giang) đã nêu lên thực trạng thời gian vừa qua có rất nhiều công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị, nhiều công trình xây dựng không phép. Có nhiều công trình xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng, sai với thiết kế được cấp có thẩm quyền thẩm định.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang Lê Quang Trí. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Đại biểu Quốc hội tỉnh Tiền Giang Lê Quang Trí. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Thực tế đã có nhiều công trình xây dựng vượt số tầng cho phép trong trung tâm thành phố, thị xã. Nhiều công trình xây dựng không phép trên đất nông nghiệp tại các huyện vùng ven của thành phố. Vi phạm nghiêm trọng trật tự xây dựng.

Không chỉ ở các đô thị lớn, vùng ven, mà ngay cả ở các tỉnh miền núi, vùng cao, tình trạng xây dựng trái phép, xây dựng “vượt đèn đỏ” cũng diễn ra phổ biến. Chỉ riêng lĩnh vực thủy điện, trong 10 năm qua, các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng đã quy hoạch trên 100 dự án thủy điện. Dù hai tỉnh này đã loại bỏ gần 40 dự án yếu kém, nhưng trung bình mỗi dòng sông vẫn phải “cõng” từ 3-6 nhà máy thủy điện. Điều đáng nói là, nhiều dự án thủy điện xây dựng trái phép, “làm trước, xin sau,” không tuân thủ các thủ tục pháp lý bắt buộc để được thi công, khai thác.

Từ đó gây hậu quả nghiêm trọng như sạt lở đất canh tác, đường quốc lộ, nhiều nhà dân, dẫn tới khiếu nại như: Thủy điện Bắc Mê, thủy điện sông Lô 2, Bát Đại Sơn.

Thậm chí, như tại Hòa Bình, một số dự án thủy điện đã xây dựng trái phép trên dưới 2 năm, đã phát điện, nhưng chỉ khi phóng viên VietnamPlus phản ánh, các sở, ngành mới “biết chuyện” và tiến hành lập biên bản xử phạt, yêu cầu doanh nghiệp lập hồ sơ để cấp giấy phép xây dựng như dự án Thủy điện Suối Mu, hồ Trọng…

Sạt lở đất canh tác, đường quốc lộ nghiêm trọng. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Sạt lở đất canh tác, đường quốc lộ nghiêm trọng. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Sừng sững chiếc bóng của “nhóm lợi ích”

Thảo luận tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV vừa qua, về công tác phòng ngừa, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, đại biểu Nguyễn Bá Sơn (Đà Nẵng) cho biết thời gian qua có nhiều công trình, dự án quy mô ban đầu chỉ vài trăm nhân khẩu, nhưng sau những lần điều chỉnh theo kiểu “đúng quy trình” thì quy mô đã lên đến 6.000-7.000 nhân khẩu.

Đáng nói là, đằng sau câu chuyện điều chỉnh đúng quy trình ấy, lẩn khuất đâu đó bóng dáng của “nhóm lợi ích.” Có rất nhiều dự án như vậy xảy ra ở nhiều nơi, quy mô lớn hơn rất nhiều và để lại những hậu quả nặng nề. Dự án thì đi sai mục đích phát triển chung, phá vỡ quy hoạch làm biến dạng hình hài đô thị, tăng áp lực nặng nề lên hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng an sinh xã hội, cảnh quan đô thị trật tự lộn xộn.

Trong khi, chính quyền thì luôn khẳng định rằng sẽ xử lý nghiêm theo pháp luật. Nhà nước thì mất cán bộ, chủ đầu tư thì vô can. Các thực thể vi phạm vẫn tồn tại lồ lộ, sừng sững, đầy thách thức. Chính vì thế, “xử lý nghiêm và triệt để đối với loại vi phạm kiểu này, tôi e rằng đó là điều không thể,” ông Sơn chia sẻ quan ngại.

Đại biểu Nguyễn Tiến Sinh, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hoà Bình thì nhấn mạnh: Hãy nhìn vào hiệu quả công tác quản lý lãnh đạo của nhà nước sẽ thấy điều gì tạo nên một hiện trạng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức vụ suy thoái, nếu không xuất phát từ tham nhũng trong công tác cán bộ?

Điều gì đằng sau những tòa nhà sai phép, không phép, hàng trăm căn hộ sai thiết kế vượt tầng, nếu không phải là tham nhũng làm ngơ trong công tác quản lý?

Cũng tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 14 vừa qua, đại biểu Phạm Trọng Nhân (tỉnh Bình Dương) đã nêu thực trạng đáng quan ngại mà báo cáo thẩm tra dự luật Xây dựng chưa đề cập, đó là sự tồn tại thách thức dư luận và thể chế của các công trình như 8B Lê Trực, HH Linh Đàm cùng nhiều dự án, nhà thương mại, chung cư cao tầng mọc trên nền của một số cơ quan, tổ chức sau khi di dời trong nội đô Hà Nội.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương Phạm Trọng Nhân. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương Phạm Trọng Nhân. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Theo ông Nhân, một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên của luật hiện hành cũng như dự luật này là đảm bảo đầu tư xây dựng công trình theo quy hoạch thiết kế. Nhưng với 1.390 quy hoạch bị điều chỉnh từ 1 đến 6 lần, quy hoạch được điều chỉnh tăng tầng cao, giảm diện tích, đất công trình, hạ tầng kỹ thuật,… mà báo cáo giám sát đã nêu thì Luật Xây dựng nói chung và các nguyên tắc cơ bản nói riêng trong Luật Thủ đô, Luật Quy hoạch và Luật Quy hoạch đô thị được dày công nghiên cứu để chế định đã bị xem thường thế nào?

Những nguyên tắc, quy định liên quan đến công tác lập, thẩm định, phê duyệt, cấp phép, thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng vướng mắc chỗ nào để sinh ra 8B Lê Trực, HH Linh Đàm, các tuyến đường sắt hay hàng ngàn chung cư sai phạm mà báo cáo giám sát đã nêu? Hay mới đây nhất, vụ xe container kéo sập cầu đường bộ hành ở Thành phố Hồ Chí Minh mới vỡ lẽ dự án này không có hồ sơ thiết kế.

“Rõ ràng thể chế không sai nhưng khâu tổ chức thực hiện đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đầu tư xây dựng. Nhưng điều đáng nói là các điều khoản trách nhiệm của luật lại không biết gắn cho ai trong những sai phạm không hiệu quả được diễn ra,” ông Nhân chia sẻ.

Ngoài ra, vị đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương cũng đề cập tới nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đầu tư xây dựng và các hành vi bị nghiêm cấm có thể được xem là kim chỉ nam, điều chỉnh mọi hành vi hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Điều quan trọng không phải là người dân hiểu và thi hành như thế nào bởi khó qua được cửa ải giấy phép hiện nay, chính cán bộ công chức phải hiểu và tổ chức thực hiện.

Vì thế, “nếu còn có sự thỏa hiệp, phạt cho tồn tại và quy hoạch còn phải chạy theo dự án vì một lý do nào đó thì 8B Lê Trực, HH Linh Đàm có lẽ sẽ tiếp tục chất vấn ở nhiều kỳ Quốc hội,” ông Nhân chia sẻ./.

Những tòa nhà, chung cư cao tầng mọc lên san sát giữa đô thị Hà Nội đang ngày chật hẹp. (Ảnh: CTV)
Những tòa nhà, chung cư cao tầng mọc lên san sát giữa đô thị Hà Nội đang ngày chật hẹp. (Ảnh: CTV)

‘Chiếc áo đô thị’ chật hẹp

Mỗi mảnh ghép một nỗi lo…

Xây dựng nhà chung cư, cao ốc đang là xu hướng phát triển tại Việt Nam. Phát triển các dự án chung cư cao tầng cũng là giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả sử dụng quỹ đất. Tuy nhiên, thực trạng quy hoạch “chạy theo” nhà đầu tư, thiếu kiểm soát đã khiến “chiếc áo đô thị” trở nên chật hẹp, biến dạng với vô vàn nỗi lo.

Đáng sợ nhất là nguy cơ cháy nổ luôn ở ngưỡng cao, khi đã xảy ra hàng nghìn vụ hỏa hoạn, gây tổn thất nặng nề về kinh tế và cướp đi sự sống của nhiều người. Trong đó, số lượng vụ cháy xảy ra ở các đô thị chiếm hơn 60,1%. Thế nhưng, vẫn còn đó, hàng nghìn công trình chưa được nghiệm thu đã đưa vào sử dụng…

Đô thị căng phồng, không gian sống bó hẹp

Trong vòng 10 năm trở lại đây, việc quy hoạch chạy theo nhu cầu của nhà đầu tư đã trở thành vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” làm tốn biết bao giấy mực nhưng vẫn chưa thể giải quyết, hẳn vì nhiều lý do. Vì thế, câu chuyện này vẫn đang là vấn đề nóng khiến người dân, cử tri cả nước và nhiều đại biểu quốc hội phải suy nghĩ.

Từ việc phát triển chung cư, cao ốc quá quá nhanh, không kiểm soát kịp thời đã dẫn tới một thực trạng là đô thị bị biến dạng, méo mó với mật độ nhà ở dày đặc; gây hệ lụy về hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội, diện tích đất cây xanh công cộng suy giảm, gia tăng nguy cơ cháy nổ, ảnh hưởng đến lợi ích của người dân.

Chung cư, nhà cao tầng đang được xây dựng ngày càng nhiều ở Hà Nội. (Ảnh: CTV)
Chung cư, nhà cao tầng đang được xây dựng ngày càng nhiều ở Hà Nội. (Ảnh: CTV)

Minh chứng rõ ràng nhất để diễn tả về “chiếc áo đô thị” chật hẹp trên là khu HH Linh Đàm nằm trong khu đô thị Tây Nam Linh Đàm 76ha (Hoàng Mai, Hà Nội). Theo thiết kế ban đầu, khu chung cư HH Linh Đàm có diện tích khoảng 3ha, gồm 6 tòa nhà cao từ 25 đến trên 35 tầng. Nhưng sau nhiều lần “âm thầm” điều chỉnh, số tòa đã tăng lên gấp đôi là 12 tòa, cao 36-41 tầng với khoảng 20 căn hộ mỗi tầng.

Những sai phạm của của Tập đoàn Mường Thanh với tổ hợp chung cư HH Linh Đàm không chỉ làm biến dạng đô thị, mà còn khiến hàng chục vạn người dân mua nhà trở thành “con tin,” sống bất an bởi đã nhiều năm vẫn chưa có “sổ đỏ” nhà ở.

Đó cũng là lý do mà liên tiếp trong các kỳ họp Quốc vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã liên tục nhắc tới số liệu báo cáo giám sát về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai đô thị cho thấy: Từ tháng 7/2014 đến hết năm 2018, có 1.390 dự án được điều chỉnh quy hoạch từ 1-6 lần. Đặc biệt là việc điều chỉnh quy hoạch theo đề xuất của nhà đầu tư đã làm đô thị “căng phồng” khác với quy hoạch ban đầu.

Từ tháng 7/2014 đến hết năm 2018, có 1.390 dự án được điều chỉnh quy hoạch từ 1-6 lần. Đặc biệt là việc điều chỉnh quy hoạch theo đề xuất của nhà đầu tư đã làm đô thị “căng phồng” khác với quy hoạch ban đầu.

Chỉ riêng tại Hà Nội, báo cáo của Ủy ban Nhân dân thành phố cho thấy qua rà soát 2.518 dự án khu đô thị mới, phát triển nhà ở trên địa bàn, các cơ quan chức năng đã ghi nhận có 232 dự án vi pham trật tự xây dựng. Trong đó, có 99 dự án xây dựng không phép, 85 dự án xây dựng sai phép, 31 dự án xây dựng sai quy hoạch, 17 công trình xây dựng gây lún, nứt, ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư.

Đáng nói là, nhiều dự án sai phạm dù đã được cơ quan thanh tra ra kết luận nhưng vẫn chưa khắc phục triệt để. Thậm chí, theo ghi nhận của phóng viên VietnamPlus, rất nhiều dự án chung cư, nhà ở mới vi phạm về thiết kế, xây dựng khi chưa được phê duyệt chủ trương đầu tư, xây dựng vượt tầng vẫn tiếp tục diễn ra. Đơn cử như dự án khu biệt thự và nhà phố Vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden, Hưng Yên; dự án Green Pearl 378 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội…

Tất cả những vi phạm ấy, cứ thế “nở rộ” như những con virus lây lan khắp các tỉnh, thành phố. Trong khi, Luật vẫn chưa theo sát thực tiễn, trở thành lỗ hổng pháp lý, vướng mắc, lúng túng trong thực thi như vết dầu loang khiến đô thị quá tải.

Thậm chí, một số trụ sở cơ quan nhà nước sau khi di dời ra ngoài nội thành Hà Nội không được thu hồi phục vụ cho mục đích cộng cộng, mà còn biến thành chung cư cao tầng, gây sức ép về hạ tầng, dân số, đi ngược với mục tiêu mà Chính phủ đề ra.

Theo quy định của Luật Thủ đô được thông qua vào năm 2012 và đã có hiệu lực được 8 năm, quỹ đất sau khi di dời sẽ được ưu tiên phát triển các công trình công cộng, phục vụ cộng đồng. Tuy nhiên, thực tế 9 cơ quan, bộ ngành đã được bố trí quỹ đất di dời nhưng vẫn có đến 7 cơ quan giữ lại trụ sở cũ và chuyển đổi sang xây dựng chung cư cao tầng thay vì được sử dụng để xây dựng công trình công cộng.

Hiện trường vụ cháy nghiêm trọng khiến 13 người thiệt mạng tại quán karaoke 68 Trần Thái Tông, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xảy ra trong năm 2016. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Hiện trường vụ cháy nghiêm trọng khiến 13 người thiệt mạng tại quán karaoke 68 Trần Thái Tông, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xảy ra trong năm 2016. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Hỏa hoạn, tang thương, tội lỗi và cụm từ “giá như…”

Đó là những câu từ đáng sợ mà hẳn bất cứ ai quan tâm, xem hình ảnh, video clips hay tận mắt chứng kiến những vụ hỏa hoạn khủng khiếp xảy ra tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng có chung một nỗi hoang mang rằng: Giá như không có có sự bất cẩn, trách nhiệm cụ thể hơn thì hậu quả đâu đễn nỗi…

Không thể phủ nhận, phần nhiều vụ hỏa hoạn bắt nguồn từ sự bất cẩn của người dân, một phần do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng. Nhưng một nguyên nhân không thể không nhắc đến là sự vô cảm và trách nhiệm của chủ đầu tư, cũng như những người làm công tác quản lý, giám sát công trình xây dựng.

Nhìn từ vụ cháy kinh hoàng tại quán Karaoke 68, Trần Thái Tông (Hà Nội) khiến 4 ngôi nhà bị thiêu rụi và 13 người tử vong cuối năm 2016; hay sự cố cháy nghiêm trọng tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, làm phát tán lượng lớn thủy ngân ra môi trường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân xung quanh xảy ra cuối tháng 8/2019, chúng ta sẽ thấy những vụ cháy này không chỉ bắt nguồn từ sự bất cẩn, mà còn do “lỗ hổng lớn” trong khâu thực thi, giám sát.

Một vụ cháy xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Một vụ cháy xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Thực tế trên đã được nhiều đại biểu Quốc hội đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV vừa qua. Báo cáo kết quả giám sát của Đoàn Giám sát Quốc hội đã nêu con số 2.662 công trình có nguy hiểm về cháy nổ đã đưa vào sử dụng nhưng chưa được thẩm duyệt, hoặc đã thẩm duyệt nhưng chưa nghiệm thu phòng cháy chữa cháy. Đặc biệt, tính đến tháng 7/2018, vẫn tồn tại 110 công trình chung cư, nhà cao tầng chưa được nghiệm thu nhưng đã đi vào sử dụng.

Ngoài ra, trong giai đoạn từ tháng 7/2014 đến tháng 7/2018, trên cả nước cũng đã xảy ra 13.149 vụ cháy, địa bàn xảy ra cháy ở thành thị chiếm 60,11%. Tuy nhiên, hạ tầng kỹ thuật giao thông phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy còn nhiều bất cập, các quy chuẩn chưa được tuân thủ nghiêm ngặt.

Dẫn ra 50 vụ cháy lớn xảy ra trong giai đoạn 2014-2018, đại biểu Quốc hội Phan Văn Tường (Thái Nguyên) cho biết đọc kỹ nội dung về trách nhiệm của các vụ cháy, có thể khẳng định nếu cơ chế xác định trách nhiệm người đứng đầu rõ ràng, ý thức về công tác phòng cháy của mỗi người cao hơn, cụ thể trong kiểm tra, kiên quyết trong duy trì công tác đảm bảo thì khoảng 40/50 vụ sẽ không cháy.

Cùng chung quan điểm, đại biểu Quốc hội Thạch Phước Bình (Trà Vinh) cho rằng xây dựng các khu chung cư cao tầng là giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, thời gian gần đây trên địa bàn cả nước xảy ra nhiều vụ cháy lớn tại các chung cư cao tầng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân.

Tại nhiều nhà chung cư, nhà tái định cư và một số tòa nhà, chủ đầu tư chưa quan tâm đến việc tổ chức thực hiện các giải pháp kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy. Trong công tác quản lý có nhiều công trình không đáp ứng yêu cầu giấy phép, sổ đỏ, không có nước, chữa cháy không đảm bảo nhưng vẫn đi vào hoạt động.

Dẫn bài học từ Hàn Quốc, đại biểu Thạch Phước Bình cho biết từ những năm 90 của thế kỷ trước, trong những khách sạn cao tầng đều được trang bị cuộn thang dây cho 2 khách nghỉ trên một phòng, kèm theo tờ hướng dẫn sử dụng khá cặn kẽ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các khách sạn, chung cư cao tầng, dù là chung cư cao cấp, việc này hầu như còn bỏ ngỏ.

“Điều này thật đáng trách và cũng đáng suy nghĩ. Cử tri đề nghị chúng ta phải hành động, hành động và hành động,” ông Bình nhấn mạnh.

Những vụ cháy nghiêm trọng xảy ra từ năm 2016 đến nay. (Nguồn: Vietnam+)

Hậu quả nặng nề, trách nhiệm người quản lý ở đâu?

Dẫn báo cáo giám sát của Quốc hội về hàng nghìn vụ cháy xảy ra, hàng trăm người thiệt mạng, cơ sở vật chất bị thiêu rụi, đại biểu Cao Thị Xuân (tỉnh Thanh Hóa) băn khoan rằng thiệt hại là rất lớn nhưng có bao nhiêu cán bộ bị kỷ luật, mất chức hoặc xử lý liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước trong phòng cháy chữa cháy?

Đại biểu Cao Thị Xuân cho rằng công tác xử lý trách nhiệm về quản lý nhà nước thời gian qua không tương xứng với những tồn tại, sai phạm trong phòng cháy chữa cháy. “Tại sao có tình trạng này, là do vi phạm của chủ đầu tư hay do tiêu cực trong công tác kiểm tra, xử lý sai phạm? Điều gì sẽ xảy ra nếu hỏa hoạn tại hàng trăm chung cư, cao ốc đang ẩn chứa nguy cơ an toàn cháy nổ?” đại biểu Cao Thị Xuân nêu một loạt câu hỏi. Đồng thời đại biểu đề nghị Chính phủ, Bộ Công an, chính quyền địa phương xử lý nghiêm tình trạng này, đặc biệt với các chung cư, nhà cao tầng khi đã đưa vào sử dụng.

“Điều gì sẽ xảy ra nếu hỏa hoạn tại hàng trăm chung cư, cao ốc đang ẩn chứa nguy cơ an toàn cháy nổ?” đại biểu Quốc hội Cao Thị Xuân (tỉnh Thanh Hóa) nêu câu hỏi.

Đó cũng là lý do Đại biểu Cao Thị Xuân đề xuất trong Nghị quyết của Quốc hội về chuyên đề giám sát lần này cần có hẳn một điều về tái giám sát, đặc biệt là trong thực thi công vụ trong phòng cháy chữa cháy. Chỉ có giám sát thường xuyên, xử lý nghiêm minh mới khắc phục được những tồn tại như báo cáo đã nêu.

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cũng đánh giá công tác thẩm định, nghiệm thu về phòng cháy đối với các công trình xây dựng cơ bản, dự án kinh tế nhà ở đô thị, khu kinh tế vẫn còn bất cập. Có đủ lý do giải trình của chủ đầu tư, cơ quan chủ quản, nhưng theo ông Hòa, đây là lỗ hổng rất lớn của công tác quản lý nhà nước.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà xin nhận trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong lĩnh vực xây dựng và trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ. (Ảnh: TTXVN)
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà xin nhận trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong lĩnh vực xây dựng và trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ. (Ảnh: TTXVN)

Bên cạnh đó, các chủ đầu tư xây dựng nhà chung cư cao tầng không đảm bảo an toàn về điện cũng khá phổ biến, chiếm không gian, khoảng cách chung cư với nhau chưa đúng quy định. Trữ nước trong phòng cháy là hiếm thấy. Việc này cơ quan chức năng có biết không? Nếu không an toàn về phòng cháy, vẫn ngang nhiên thi công, nghiệm thu hoàn thành giao cho dân để ở, vấn đề này cũng cần phải làm rõ.

“Dư luận cho rằng sự dễ dãi của cơ quan chức năng, lợi ích riêng tư của nhóm người, trong đó có cơ quan, cá nhân thẩm duyệt phòng cháy tạo kẽ hở cho sự vi phạm về phòng cháy cũng là nguyên nhân khi cháy nổ xảy ra, gây thiệt hại nặng nề về tài sản và tính mạng của người dân,” ông Hòa nhấn mạnh.

Về phía Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Phạm Hồng Hà cho biết trong báo cáo của Đoàn giám sát và các vị đại biểu quốc hội cũng rất bức xúc tại sao có những công trình chưa nghiệm thu mà trong đó có phòng cháy, chữa cháy thì đã đưa vào sử dụng. Một số các vi phạm đã phát hiện ra nhưng xử lý không nghiêm dẫn tới chủ đầu tư, một số chủ thể liên quan có biểu hiện nhờn.

“Tôi xin nhận trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong lĩnh vực xây dựng và trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Xây dựng. Trong thời gian tới sẽ làm hết sức mình để góp phần cùng với các bộ, ngành, các địa phương khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác phòng cháy, chữa cháy,” ông Hà nói.

Nhắc lại ý kiến đại biểu quốc hội nói vì sao những thành phố lớn, đô thị lớn thì tỷ lệ cháy nhiều, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết: “Chúng tôi cũng thấy có quy luật về kinh tế-xã hội càng phát triển thì các vụ cháy lại càng xảy ra với tần suất nhiều và phức tạp hơn. Hiện Bộ Công an cũng đang nghiên cứu và hoàn toàn không chủ quan về những thực tế phòng cháy, chữa cháy đã xảy ra trong thời gian qua..”/.

Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 28/8/2019, vụ cháy lớn bùng phát và khói đen bao trùm khu xưởng gần 6000m2 của Công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông tại quận Thanh Xuân (Hà Nội). Ngọn lửa lan sang khu dân cư, nhiều hộ dân phải sơ tán khỏi khu vực cháy. (Ảnh: TTXVN)
Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 28/8/2019, vụ cháy lớn bùng phát và khói đen bao trùm khu xưởng gần 6000m2 của Công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông tại quận Thanh Xuân (Hà Nội). Ngọn lửa lan sang khu dân cư, nhiều hộ dân phải sơ tán khỏi khu vực cháy. (Ảnh: TTXVN)

‘Quy hoạch miệng, dự án ma’: Mê hồn trận giúp ‘con voi chui lọt lỗ kim’

Quy hoạch miệng, “sốt ảo” đất nền, đó là thực trạng nhức nhối của thị trường bất động sản “giả, lậu, ma” tưởng chừng như “khó qua mắt luật pháp,” nhưng lại nở rộ và điềm nhiên diễn ra ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước bấy lâu nay.

Không thể phủ nhận, khi “chiếc áo đô thị” đang trở nên chật hẹp, nhiều nơi bị biến dạng đến “ngộp thở,” thì việc đi trước, đón đầu xu hướng dịch chuyển đất nền, dự án ở ngoại thành hay các tỉnh vùng ven là một thực tế tất yếu khó tránh.

Nhưng đằng sau việc hàng loạt các dự án ảo được quy hoạch từ miệng các ‘nhà đầu tư,” mà thực chất là cò đất tung ra lừa đảo người dân khiến bao nhiêu người nhà tan cửa nát, vỡ nợ, rơi vào bẫy tín dụng đen… đó chính là kẽ hở của pháp lý, cách thực thi và tham nhũng…

Dự án “ma” vẽ ra để… lừa đảo

Có thể nói, năm 2019 là một năm chao đảo của thị trường bất động sản cả nước, đặc biệt là khu vực phía Nam, khi hàng loạt công ty bất động sản làm ăn bất chính đã bị cơ quan chức năng “sờ gáy” điển hình như vụ Alibaba. Câu hỏi là, đằng sau những cú lừa táng tận lương tâm của Công ty cổ phần Địa ốc Alibaba, liệu còn bao nhiêu dự án “ma” được vẽ ra để lừa đảo, lôi kéo, chiếm đoạt tiền của khách hàng?

Gõ vào google dòng chữ “lợi nhuận kinh doanh bất động sản,” trong vòng 0,41 giây đã cho ra con số 20 triệu kết quả. Rõ ràng, bất động sản có sức hút cực kỳ hấp dẫn. Nhưng bên cạnh mặt tích cực, bất động sản cũng là lĩnh vực được xem như “canh bạc hên-xui,” khiến nhiều đối tượng bất chấp thủ đoạn, lợi dụng kẽ hở của pháp luật, lách luật để thực hiện các hành vi lừa đảo.

Trong khi, không ít khách hàng vì cả tin, thiếu hiểu biết và đôi khi vì lòng tham đã sập bẫy. Đó cũng là lý do khi gõ vào google cụm từ “dự án ma,” chỉ trong vòng 0,41 giây đã có 101 triệu kết quả. Riêng nội dung “sập bẫy dự án ma” đã lên tới hơn 1,3 triệu kết quả. Cũng gần ấy thời gian, google cho ra con số 18,5 triệu kết quả bài viết liên quan đến “quy hoạch miệng.” Những con số thật sự đáng lo ngại.

Những căn nhà tạm Công ty cổ phần địa ốc Alibaba xây dựng tại dự án ma ở xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Những căn nhà tạm Công ty cổ phần địa ốc Alibaba xây dựng tại dự án ma ở xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Đáng nói hơn là, mặc dù đã có bài học nhãn tiền từ vụ Alibaba, nhưng vừa qua, lợi dụng tình hình bất động sản đang phải “ngủ đông” vì dịch COVID-19 và cả nước đang nỗ lực dập dịch, ở một số nơi, nhiều đối tượng vẫn tiếp tục “vẽ” ra dự án “ảo” và ngang nhiên thổi giá lên cao, khiến nhiều người thờ ơ với dịch…

Đơn cử như tại xã Đồng Trúc (Thạch Thất, Hà Nội). Ghi nhận của phóng viên VietnamPlus vào những ngày giữa tháng 3/2020 cho thấy: Từ thông tin chưa được kiểm chứng về việc có tập đoàn lớn dự kiến xây khu đô thị trên địa bàn, một số đối tượng đã tung thông tin “sốt đất” và liên tục thổi giá lên cao, từ 8 triệu đồng lên 23 triệu đồng, khiến hàng trăm nhà đầu tư, cò đất kéo tới mua bán, kiếm lời.

Sự việc này chỉ được ngăn chặn khi báo chí phản ánh và chính quyền xã Đồng Trúc phát ra hàng loạt thông báo khẳng định hiện nay chưa có quy hoạch khu đô thị nào được duyệt trên địa bàn và kiên quyết giải tán “chợ đất” trái phép.

“Dự án ma” đất nền bủa vây vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)
“Dự án ma” đất nền bủa vây vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Trước đó, trong tháng 2/2020, tại xã Bình Ba và thị trấn Ngãi Giao (Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu), một số đối tượng cũng đã đưa thông tin gán ghép “dự án khu đô thị cao cấp Bình Ba” và rầm rộ quảng cáo, tạo cơn sốt đất “ảo” để trục lợi tiền bạc.

Tuy nhiên, những vụ việc nêu trên mới chỉ là một phần nổi của tảng băng chìm bất động sản “giả, lậu” đã được ngăn chặn. Trên thực tế, có rất nhiều “siêu” hay “đại” dự án từng được quy hoạch nhưng thực chất chỉ là cái cớ để thâu tóm đất vàng, chờ giá lên cao rồi bán trục lợi. Đó cũng là lý do, chỉ trong vòng 0,37 giây, google đã cho ra 1 triệu kết quả liên quan đến vấn đề “thâu tóm đất vàng.”

Một ví dụ điển hình là khu du lịch Bình Tiên tại huyện Thuận Bắc (Ninh Thuận). Theo điều tra của phóng viên VietnamPlus, dự án này được Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ tháng 8/2005, với tổng vốn đầu tư ban đầu là 555 tỷ đồng, sau đó được điều chỉnh nâng mức đầu tư lên 2.579 tỷ đồng. Thời gian khởi công và gia hạn hoàn thành dự án trong 10 năm (từ 2005-2014).

Trước khi “vẽ” siêu dự án, Công ty cổ phần Đầu tư và Du lịch Bình Tiên đã trình kế hoạch đầu tư những hạng mục rất “khủng” ở khu du lịch này, như: Hệ thống khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế 5 sao với hơn 500 phòng, trung tâm hội nghị quốc tế 1.000 chỗ ngồi, 200 căn biệt thự, bến du thuyền, sân golf, khu tái định cư…

Sau hơn 13 năm xây dựng, trải qua 6 “đời” Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, đến năm 2018, “siêu” dự án chiếm hơn 190ha “đất vàng” Bình Tiên vẫn ngổn ngang, “đắp chiếu.”

Thế nhưng, sau hơn 13 năm xây dựng, trải qua 6 “đời” Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, đến năm 2018, “siêu” dự án chiếm hơn 190ha “đất vàng” Bình Tiên vẫn ngổn ngang, “đắp chiếu.” Trong khi, để thực hiện dự án hứa hẹn khơi sáng tiềm năng du lịch cho tỉnh nghèo này, 72 hộ dân đã phải di dời, nhường đất đai cho chủ đầu tư với mức giá bồi thường 4.000-5.000 đồng/m2, thậm chí có nơi chỉ có 1.200 đồng/m2.

Từ đó gây ra tình trạng khiếu kiện kéo dài, bởi theo Quyết định số 87/2005/QĐ-UBND, ngày 21/12/2005 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận (tỉnh giáp ranh với Ninh Thuận), thì việc thu hồi đất để giao cho các dự án du lịch ven biển có giá đền bù từ 100.000-150.000 đồng/m2 tùy thuộc vào vị trí đất nằm gần hay xa bờ biển…

Đó là chưa kể, giá đất ở Bình Tiên, bây giờ đã “ở trên trời!”

Một số căn nhà điều hành được xây dựng dở dang và bỏ hoang nhiều năm qua ở khu du lịch Bình Tiên tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Một số căn nhà điều hành được xây dựng dở dang và bỏ hoang nhiều năm qua ở khu du lịch Bình Tiên tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.(Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Liên minh ma quỷ “nổ, lòe, lừa”

Dành không ít thời gian để nói về thực trạng này, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV vừa qua, đại biểu Đinh Duy Vượt (Gia Lai) cho biết qua các phương tiện thông tin, đơn thư của cử tri thì lĩnh vực bất động sản đang là môi trường cho lừa đảo hoành hành mạnh nhất, hình thành nên các băng nhóm lừa đảo có tổ chức, chiếm đoạt tài sản gây nhiều hậu quả, hệ lụy cho kinh tế và trật tự xã hội.

Mặt khác, bất động sản cũng tiềm ẩn nguy cơ gây ra nợ xấu trong một số tổ chức tín dụng vô tình tiếp tay cho các dự án “ma” của băng nhóm lừa đảo này.

Hiện nay còn nhiều công ty lừa đảo hoạt động kiểu Alibabba, Angel Lina. Hình thành các dự án ma, phân lô bán nền được sinh ra từ liên minh ma quỷ, băng nhóm xã hội đen núp bóng doanh nghiệp với thủ đoạn lừa đảo chuyên nghiệp, tổ chức tinh vi.

“Hiện nay còn nhiều công ty lừa đảo hoạt động kiểu Alibabba, Angel Lina. Hình thành các dự án ma, phân lô bán nền được sinh ra từ liên minh ma quỷ, băng nhóm xã hội đen núp bóng doanh nghiệp với thủ đoạn lừa đảo chuyên nghiệp, tổ chức tinh vi. Nhưng đều có thủ đoạn với công thức: ban đầu thì ‘nổ, lòe, lừa,’ giăng bẫy được khách hàng vào mê hồn không dễ nhận biết; lừa lọc không từ một ai để thu tiền. Tiếp đó, dùng nhiều chiêu trò gian manh, ủy quyền hợp đồng sang nhượng, bán dự án lòng vòng trong đồng bọn và nhiều đối tượng khác,” ông Vượt nói.

Vị đại biểu này cũng nhấn mạnh, với chiêu thức kiểu “ve sầu thoát xác” nhằm vừa chiếm đoạt tiền, vừa che giấu hành vi, xóa dấu vết hồ sơ phạm tội… hàng trăm người bị lừa với băng rôn, biểu ngữ cũng không thể tìm gặp công ty lừa đảo. Từ đó đẩy nhiều gia đình vào khốn khổ, thậm chí đến bước đường cùng tuyệt vọng.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Đinh Duy Vượt. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Đinh Duy Vượt. (Nguồn ảnh: TTXVN)

“Nhiều cử tri đặt ra câu hỏi nghi vấn nhưng hoàn toàn logic có phải tại cơ chế kẽ hở của pháp luật, sự lỏng lẻo quản lý nhà nước không? Hay nguyên nhân chính là do đường dây băng nhóm công chức cùng hội cùng thuyền cấu kết móc nối; vẽ đường bảo kê, cộng sinh, cổ phần chia chác cùng tạo ra môi trường tù mù, lùng bùng để băng nhóm tội phạm lộng hành chiếm đoạt tài sản, rồi đùn đẩy, bao che, chỉ trỏ lòng vòng. Người bị hại kêu trời nhưng không thấu,” đại biểu Đinh Duy Vượt trăn trở.

Nhìn nhận ở góc độ cơ quan quản lý đất đai, ông Bùi Văn Hải, Cục trưởng Cục Kiểm soát quản lý và Sử dụng đất (Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường) cũng thừa nhận đúng là trong thời gian qua ở một số địa phương có tình trạng cá nhân, doanh nghiệp tự ý dùng đất nông nghiệp lập dự án phân lô bán nền, đất ở trái phép (dự án ma) nhưng chưa được xử lý triệt để…

Đề cập đến nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, ông Nguyễn Văn Đính-Phó Chủ tịch Hội môi giới Bất động sản Việt Nam cho rằng bản chất của dự án “ma,” sốt đất ảo ngày càng tràn lan trên thị trường là do quy định giữa các Luật còn kẽ hở.

Đơn cử, Luật Kinh doanh bất động sản mặc định mọi hành vi rao bán khi dự án chưa hình thành là vi phạm, nên chỉ quản lý các hành vi từ thời điểm ký hợp đồng mua bán nền nhà, hoặc khi đã xây nền móng. Còn giai đoạn trước đó, tức là những thỏa thuận theo Luật Dân sự thì Luật Kinh doanh bất động sản lại không đề cập. Tuy vậy, nguyên nhân mẫu chốt dẫn tới việc gia tăng các dự án bất động sản “ma, ảo” là bởi sự tắc trách, lơ là quản lý của chính quyền địa phương.

“Tôi cho rằng, lý do khiến dự án bất động sản ‘ảo’ ngày càng nhiều là do sự buông lỏng quản lý, thậm chí là tiếp tay cho các doanh nghiệp của chính quyền địa phương. Nếu chính quyền địa phương quản lý chặt ngay từ đầu thì làm gì có những Alibaba,… có thể vô tư huy động vốn, lôi kéo, thổi giá, tụ tập một số lượng lớn khách hàng đến xem dự án, mà chính quyền lại không hay biết?” ông Đính lưu ý.

Để đảm bảo hoạt động xây dựng phù hợp với cảnh quan, diện mạo đô thị, giới chuyên gia cho rằng cần công khai, minh bạch quy hoạch. (Ảnh: CTV)
Để đảm bảo hoạt động xây dựng phù hợp với cảnh quan, diện mạo đô thị, giới chuyên gia cho rằng cần công khai, minh bạch quy hoạch. (Ảnh: CTV)

Vẫn còn vùng cấm, “giơ cao đánh khẽ”

Từ thực tế nêu trên, vị chuyên gia Hội Môi giới bất động sản kiến nghị đối với trường hợp chào bán đất trái pháp luật, rõ ràng là hành vi lừa đảo thì cương quyết phải dẹp, có thể xử lý hình sự. Về lâu dài, chính quyền địa phương cần phải công khai các dự án có đầy đủ hồ sơ pháp lý lên cổng thông tin địa phương, để đảm bảo công tác quản lý, cũng như tạo điều kiện cho người dân tra cứu, tham khảo.

Để xử lý vấn nạn trên, đại biểu Đinh Duy Vượt (Gia Lai) cũng đã đề nghị Bộ trưởng Bộ Công an, các cơ quan tố tụng cần tập trung chỉ đạo tấn công quyết liệt điều tra, truy tố, trừng trị nghiêm “liên minh ma quỷ,” băng nhóm tội phạm có tổ chức mới xuất hiện này, nhằm ngăn chặn không để lừa đảo lộng hành, gây đau khổ cho người dân, người bị hại trên lĩnh vực đất đai và các lĩnh vực khác.

Cùng với đó, Bộ Công an và các cơ quan tố tụng xem xét, xử lý nghiêm trách nhiệm công chức tiếp tay, bảo kê, làm ngơ trước bức xúc của người dân hoặc để dự án “ma” tồn tại nở rộ kiểu “con voi chui lọt lỗ kim.”

Ông Vượt cũng lưu ý, qua tìm hiểu được biết nhiều địa phương phường, xã đã cắm biển cảnh báo, lắp camera theo dõi ngay tại lô đất của băng nhóm lừa đảo, nhưng cắm đi cắm lại băng nhóm lừa đảo vẫn “đổ bỏ,” thể hiện hành động liều lĩnh coi thường chính quyền và pháp luật, quyết thực hiện bằng được hành vi động lừa đảo.

Vì thế, cùng với các luật khác khắc phục dự án treo, ông Vượt cũng kiến nghị công khai, minh bạch quy hoạch; ngăn chặn, xử lý dự án “ma’ đang nở rộ. Đồng thời nghiêm trị các hành vi lừa đảo để nhân dân phấn khởi được thụ hưởng thành quả kinh tế, nhưng mong muốn có một môi trường xã hội, môi trường sống tương xứng, bình yên, tính mạng và tài sản được pháp luật bảo vệ.

Góp thêm tiếng nói chống tham nhũng, đại biểu Nguyễn Văn Được (Hà Nội) cho rằng thời gian qua Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã chỉ đạo rất quyết liệt nên đã đưa ra xét xử một số vụ án lớn, đây là điều đáng mừng.

Tuy nhiên, việc xử lý vẫn chưa triệt để, vẫn còn vùng cấm, “giơ cao đánh khẽ.” Vì thế, tới đây phải làm quyết liệt.

“Nhân dân cả nước nói chung, cựu chiến binh nói riêng đã hiến hàng triệu m2 đất, hàng triệu ngày công để đóng góp xây dựng nông thôn mới, xây dựng các công trình công cộng cho đất nước. Vậy mà có những lợi ích nhóm, có những cá nhân, loại cỡ bự thiếu trách nhiệm gây thất thoát lớn còn dã tâm tham nhũng của nhà nước, của nhân dân hàng nghìn tỷ đồng,” ông Được chia sẻ.

Đại biểu Nguyễn Văn Được cũng đề nghị nhà nước, cơ quan pháp luật cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết thu hồi tài sản tham nhũng cho nhà nước; những trường hợp nào xử lý nội bộ cũng phải công khai, thông báo họ tham nhũng những gì, có bao nhiêu tiền để dân chúng biết. “Bởi, có những vụ án chỉ xử lý nội bộ, nhưng tiền của có thể họ ăn cả đời không hết, vì thế, phải công khai, minh bạch khi xử lý nội bộ,” ông Được nhấn mạnh./.

Công an thị xã Phú Mỹ tạm giữ 10 người gây rối tại dự án ma ở xã Tóc Tiên, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Công an thị xã Phú Mỹ tạm giữ 10 người gây rối tại dự án ma ở xã Tóc Tiên, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Dự án kinh doanh núp áo du lịch tâm linh

‘tận diệt’ tài nguyên

Hơn một thập kỷ nay, “du lịch tâm linh” đã trở thành loại hình phát triển mới ở Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu thờ tự, tín ngưỡng, vừa giúp hàng triệu người dân, du khách có cơ hội đi thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng “chốn bồng lai tiên cảnh.”

Nhưng, đi kèm tính chất du lịch tâm linh trong sáng ấy cũng đã bộc lộ động cơ “lấy thánh, thần ra kinh doanh” để trục lợi. Và cứ thế, vì tham vọng hay lợi nhuận, hàng loạt dự án du lịch tâm linh đua nhau “ra đời,” đồng thời với “hô biến” hàng trăm nghìn hécta đất rừng, đất lúa, tài sản thiên nhiên của quốc gia…

Kinh tế du lịch tâm linh: Được và mất!

Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, lịch sử lâu đời, đa sắc tộc và tôn giáo. Vì thế dọc chiều dài đất nước hình chữ S, 63 tỉnh-thành phố, địa phương nào cũng có di tích thờ tự, tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, có khoảng 3.000 địa danh được xếp hạng di tích quốc gia và hàng nghìn địa điểm tâm linh nổi tiếng đã đi vào sách sử.

Đánh trúng tâm lý “trước vãn cảnh, sau thăm chùa,” rất nhiều khu di tích vốn yên bình, hài hòa với thiên nhiên cũng đã trở thành biểu tượng của “kinh tế mới” để mở đường cho phát triển du lịch tâm linh, tạo nguồn thu cho doanh nghiệp đầu tư cũng như ngân sách địa phương.

…bên cạnh cái được dễ đo đếm là những cái mất vô hình, những cái mất có vẻ như xa lạ với tư duy người làm du lịch cũng như người hưởng dịch vụ, đó là giá trị phi vật thể, giá trị tâm linh bị lợi dụng vào các mục đích xấu, thu lợi bất chính.

Thế nhưng, bên cạnh cái được dễ đo đếm là những cái mất vô hình, những cái mất có vẻ như xa lạ với tư duy người làm du lịch cũng như người hưởng dịch vụ, đó là giá trị phi vật thể, giá trị tâm linh bị lợi dụng vào các mục đích xấu, thu lợi bất chính.

Thực tế cho thấy, trong vòng một thập kỷ qua, trên cả nước đã xuất hiện hàng trăm khu du lịch tâm linh với diện tích đất khó có thể thống kê đầy đủ. Và, đằng sau những “dự án tâm đức” ấy là hàng nghìn hécta rừng-tài sản của quốc gia bị biến thành “của riêng” với những lâu đài, tòa tháp bê tông cao vút đầy kiêu hãnh như thách thức lòng người và bất chấp các quy định pháp luật về quy hoạch, môi trường…

Công trình xây dựng trái phép trên núi Cái Hạ thuộc khu vực Tràng An cổ ở Ninh Bình. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Công trình xây dựng trái phép trên núi Cái Hạ thuộc khu vực Tràng An cổ ở Ninh Bình. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV vừa qua, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (thành phố Đà Nẵng) đã đặt ra nhiều câu hỏi chất vấn Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, trong đó đề nghị làm rõ căn cứ cho việc cấp hàng nghìn hécta đất tại Ninh Bình, Hà Nam,… để doanh nghiệp xây chùa Bái Đính, Tam Chúc. Việc xây chùa có nằm trong quy hoạch sử dụng đất không? Chùa do ai sở hữu?…

Trả lời chất vấn bằng văn bản sau đó, Bộ trưởng Trần Hồng Hà dù không nêu rõ trách nhiệm của ai, nhưng đã khẳng định việc giao đất ở dự án chùa Tam Chúc chưa rõ ràng về nội dung. Các quyết định giao đất chưa xác định được mục đích sử dụng đất cụ thể trong từng quyết định. Như vậy là không thống nhất và thiếu cơ sở để tính tiền thuê đất.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Việc giao đất cho các đơn vị để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng, xây dựng khu tâm linh (Chùa Bái Đính) cũng chưa thể hiện rõ đối tượng được giao đất để quản lý hay giao đất để sử dụng; không thể hiện chế độ sử dụng đất là giao có thu tiền hay không thu tiền, không xác định thời hạn sử dụng…

Đáng chú ý là Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết từ năm 2006 đến năm 2012, Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành 9 quyết định thu hồi diện tích gần 520 hécta đất (chiếm 51,5 % so với quy hoạch được duyệt). Nhưng sau 13 năm kể từ khi bắt đầu giao đất, xây chùa Bái Đính vẫn “không biết” gần 520 hécta đất thuộc về ai…

Điều này thật vô lý. Gần 520 hécta đất không phải là “chiếc kim” dễ vùi lấp hay bẻ gãy, mà là tài nguyên vô giá của quốc gia được thiên nhiên trao tặng. Thế nhưng, suốt hơn thập kỷ, Nhà nước không thu được một đồng nào từ thuế sử dụng đất, lại còn mất bao nhiêu tiền đầu tư cho hạ tầng cơ sở. Thất thoát ấy, ai chịu trách nhiệm?

“Việt Nam có nên quy hoạch cả ngàn hécta cho du lịch tâm linh kết hợp nghỉ dưỡng hay không? Trên thế giới có nước nào dành cả ngàn hécta để làm khu du lịch tâm linh như nước ta không?”

Đó cũng là lý do, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (tỉnh Đồng Tháp) từng dẫn ra câu hỏi “nóng” chất vấn trước toàn thể Quốc hội: “Việt Nam có nên quy hoạch cả ngàn hécta cho du lịch tâm linh kết hợp nghỉ dưỡng hay không? Trên thế giới có nước nào dành cả ngàn hécta để làm khu du lịch tâm linh như nước ta không?”

Một góc khuôn viên chùa Tam Chúc lúc đang trong giai đoạn hoàn thiện tại tỉnh Hà Nam. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Một góc khuôn viên chùa Tam Chúc lúc đang trong giai đoạn hoàn thiện tại tỉnh Hà Nam. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Một dự án tâm linh “gánh” ba dự án kinh doanh

Mặc dù tình trạng “lấy thánh, thần ra kinh doanh” để trục lợi đã trở thành chủ đề nóng trên các phương tiện truyền thông, dư luận xã hội và cả ở diễn đàn Quốc hội, nhưng thời gian gần đây, không ít doanh nghiệp vẫn “đổ” hàng nghìn tỉ đồng đầu tư vào các dự án du lịch tâm linh khiến hàng trăm hécta đất rừng, lúa bị “xóa sổ.”

Thậm chí, một số nơi còn ngang nhiên xây dựng chùa trái phép, lấn chiếm diện tịch đất lớn. Đơn cử như tại Nghệ An, dù mới được Ủy ban Nhân dân tỉnh đồng ý chủ trương xây chùa Linh Sâm (khoảng hơn 34 tỉ đồng), chưa được cấp phép, nhưng từ tháng 9/2019, chùa này đã được xây dựng ngay cạnh bên trái Đền Hữu (được công nhận là Di tích lịch sử-kiến trúc nghệ thuật quốc gia vào năm 2009).

Mới đây nhất, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình Bùi Văn Khánh lại có tờ trình đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng hơn 47ha đất lúa năm 2019 để thực hiện dự án Khu Du lịch sinh thái-tâm linh Lạc Thủy tại xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Pacific-Hòa Bình làm chủ đầu tư, với tổng vốn đầu tư dự kiến là 3.038 tỷ đồng.

Tuy nhiên, người phát ngôn Chính phủ cho biết dự án của tỉnh Hoà Bình hiện nay chưa đủ điều kiện để Chính phủ xem xét. Do đó, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xem xét, có ý kiến.

Trước đó, tháng 7/2018, ông Nguyễn Văn Trường-Giám đốc doanh nghiệp xây dựng tư nhân Xuân Trường (Ninh Bình) cũng đã đề xuất Hà Nội cho xây khu du lịch tâm linh Hương Sơn rộng 1.000ha tại chùa Hương, với tổng vốn đầu tư tới 15.000 tỉ đồng nhưng đã phải dừng lại trước làn sóng phản đối gay gắt của dư luận.

Nhắc tới “đại gia” Xuân Trường, dư luận hẳn sẽ nghĩ ngay tới một loạt “đại” dự án tâm linh xuất hiện trải khắp các tỉnh phía Bắc do doanh nghiệp này xây dựng như: Quần thể danh trắng Tràng An-Bái Đính, Ninh Bình với diện tích 6.000ha; khu du lịch tâm linh Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên trên 25.000ha (có tổng vốn đầu tư 15.000 tỉ đồng); Khu du lịch chùa Tam Chúc-Hà Nam với diện tích 5.100ha;…

Điều đáng nói là, dù hầu hết các dự án tâm linh của Xuân Trường xin diện tích đất rất lớn, nhưng thực tế cho phần diện tích tâm linh chỉ là một phần nhỏ, cõng cho phần lớn diện tích cho việc xây các khu dịch vụ đi kèm để kinh doanh. Đơn cử như chùa Tam Chúc, quy mô công trình là 4.000ha, nhưng chỉ có 1.205ha xây khu tâm linh, còn lại là đất mặt nước và đất xây các khu vui chơi giải trí; khu du lịch tâm linh đảo Cái Tráp có tới 108ha dành cho khu dịch vụ…

Bàn về thực trạng trên, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho rằng cần phải xem xét cẩn thận việc sử dụng quỹ đất của người dân để xây dựng những khu tâm linh kết hợp du lịch. Nếu tỉnh nào cũng muốn xây dựng khu tâm linh thì quỹ đất sẽ ngày càng cạn kiệt mà đất thì không sinh ra được, sẽ ngày càng mất đi.

Dự án khu biệt thự Đường Đệ xây dựng trên khu vực núi Cô Tiên, phường Vĩnh Hoà, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Dự án khu biệt thự Đường Đệ xây dựng trên khu vực núi Cô Tiên, phường Vĩnh Hoà, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. (Nguồn ảnh: TTXVN)

“Tận diệt” tài nguyên là bước đi thụt lùi

Không chỉ lấy quỹ đất, nhiều khu “rừng cấm” trên cả nước cũng bị “xâm chiếm” để doanh nghiệp ồ ạt xây dựng các dự án phát triển du lịch. Đơn cử như vụ ồn ào 40 biệt thự xây dựng trái phép ở Sơn Trà, Đà Nẵng, hay như những sai phạm trầm trọng tại di tích Tràng An.

Tại bán đảo Sơn Trà, lật ngược thời gian, trong vòng 10 năm (từ năm 2003 đến 2013), chính quyền Đà Nẵng đã lần lượt phê duyệt, chấp thuận giao chủ đầu tư 18 dự án du lịch nghỉ dưỡng trên bán đảo với tổng diện tích hơn 1.222 ha. Quy mô lưu trú của các dự án khoảng 1.902 biệt thự, 24 bungalow, 306 buồng khách sạn…

Trong 10 năm (từ năm 2003 đến 2013), chính quyền Đà Nẵng đã cấp phép 18 dự án vượt so với quy hoạch phê duyệt lên tới 166,5ha. 

Thế nhưng, ngày 9/11/2016, Thủ tướng Chính phủ có quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà đến 2025, định hướng 2030 với diện tích 1.056ha. Như vậy trong 10 năm trước đó, chính quyền Đà Nẵng đã cấp phép 18 dự án vượt so với quy hoạch phê duyệt lên tới 166,5ha. Điều đáng nói là, cho đến năm 2017 sau khi cấp phép hàng loạt dự án, thành phố Đà Nẵng vẫn chưa đánh giá tổng thể, hiện trạng đa dạng sinh học trên bán đảo này. Điều này đã tạo ra sự “nhập nhằng” về diện tích rừng đặc dụng ở Sơn Trà.

Hoạt động xây dựng xâm hại vùng di sản văn hóa-thiên nhiên thế giới Tràng An tại tỉnh Ninh Bình. (Video: HV/Vietnam+)

Tại Ninh Bình, trong khi gần 520ha đất còn “chưa thể hiện rõ đối tượng được giao đất để quản lý hay giao đất để sử dụng…,” thì tại vùng lõi của di sản văn hóa-thiên nhiên thế giới Tràng An, lại tiếp tục diễn ra tình trạng lấn chiếm đất, xây dựng nhiều công trình resort, homestay sai phép, xâm hại di sản. Theo Quyết định 230/QĐ-TTg ngày 4/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ, di sản thế giới Tràng An được UNESCO công nhận vào năm 2014, có diện tích 12.252ha. Trong đó, vùng bảo vệ nghiêm ngặt có 6.226ha, còn lại là diện tích vùng đệm. Vùng lõi di sản Tràng An được phân thành vùng cấm, hạn chế xây dựng.

Thế nhưng, tại Khu du lịch sinh thái Thung Nham (hơn 33ha), hình ảnh mà người viết ghi nhận cho thấy di sản Tràng An đang bị xâm hại rất nghiêm trọng. Khu du lịch này nằm trên địa bàn huyện Hoa Lư, do Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại-du lịch Doanh Sinh đầu tư. Từ năm 2016 đến nay, doanh nghiệp này đã xây sai phép, vượt hơn 1.810m2, khiến nơi đây mất dần vẻ đẹp vốn có.

Từ năm 2016 đến đầu năm 2020, Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại-du lịch Doanh Sinh đã xây sai phép, vượt hơn 1.810m2, khiến vùng lõi di sản Tràng An mất dần vẻ đẹp vốn có…

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, ngày 3/3/2020, ông Nguyễn Quốc Hưng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Hoa Lư đã thừa nhận thực trạng trên. Tuy nhiên, theo ông, việc quản lý di sản là quản lý chung của các sở, ban, nghành. Vì thế, huyện sẽ làm việc với các bên để có hướng xử lý các trường hợp vi phạm.

Tuy nhiên sau hơn nửa năm phát hiện vi phạm, phía Công ty cổ phần dịch vụ thương mại-du lịch Doanh Sinh vẫn chưa tháo dỡ dứt điểm các công trình sai phép trong vùng lõi di sản Tràng An, mà còn “cù nhầy” kiến nghị xin giữ lại một số công trình trái phép. Điều này trái với Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực là từ ngày 15/1/2018, là sẽ không còn chuyện “phạt cho tồn tại,” mà buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại.

Từ những câu chuyện trên cho thấy, nếu khai thác tài nguyên không gắn liền với bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên, núp áo phát triển du lịch mà “phá hoại” tài nguyên quốc gia, quan trọng hơn cả, khi đặt lợi ích cá nhân, doanh nghiệp lên trên lợi ích Nhà nước thì việc phát triển kinh tế với mũi nhọn du lịch chính là những bước đi thụt lùi./.

Công trình Panorama Mã Pì Lèng xây dựng trái phép tại khu vực Mã Pì Lèng, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Công trình Panorama Mã Pì Lèng xây dựng trái phép tại khu vực Mã Pì Lèng, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Hệ lụy điều chỉnh quy hoạch: Tư nhân làm, ngân sách chịu!

Sau gần hai thập kỷ “nới lỏng” cho doanh nghiệp phát triển “nóng,” quy hoạch chạy theo dự án nhưng thiếu kiểm soát đã khiến nhiều đô thị bị biến dạng với những hậu quả nhãn tiền như ùn tắc giao thông, hỏa hoạn, sụt lún, ngập nước…

Không chỉ các đô thị lớn phải “trả giá” cho việc quy hoạch méo mó, mà ngay như tại Phú Quốc-một hòn đảo nằm giữa bốn bề sóng biển, ấy vậy mà hễ cứ mưa lại ngập lụt nhiều ngày. Hay như Đà Lạt, thành phố núi đồi mà ai cũng nghĩ “nước ở trên cao sao giữ lại,” thế mà cứ trời đổ mưa, thành phố ngàn hoa lại ngập nặng.

Và trớ trêu thay, Nhà nước hàng năm vẫn phải chi không ít ngân sách cho việc sửa chữa, khắc phục hậu quả từ hệ lụy quy hoạch.

Chạy theo kinh tế, đánh đổi môi trường

Liên tiếp những năm gần đây, hàng loạt cơn lũ, lũ quét, triều cường, sạt lở đất đã xảy ra tại nhiều địa phương bị phá rừng trên cả nước, khiến hàng trăm người chết và mất tích; hàng nghìn ngôi nhà bị đổ sập, nhiều công trình hư hỏng, cuốn trôi.

Tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hễ cứ mưa xuống, triều cường lên, đường phố lại bị ngập úng. Một số thời điểm, nhiều đoạn đường thậm chí còn biến thành sông, cây xanh bỗng bật gốc đè lên xe cộ gây chết người…

Ngay cả hòn đảo ngọc nằm giữa bốn bề sóng nước như Phú Quốc hay ven biển Nha Trang, những năm vừa qua cũng liên tiếp bị sạt lở, ngập nghiêm trọng mỗi khi mưa xuống. Theo lý giải của giới chuyên gia quy hoạch, ngoài yếu tố thiên tai thì nguyên nhân chính dẫn đến ngập lụt ở Phú Quốc, Nha Trang là do các dự án xây dựng ồ ạt đã lấp sông suối, chặn dòng chảy tự nhiên khiến nước dồn ứ dâng cao gây ngập lụt. Đặc biệt, các công trình mới xây dựng quây kín bờ biển khiến vùng đất phía trong thành thung lũng, nước mưa không thể nào thoát nên mới gây ra ngập úng, sạt lở.

Thực trạng trên khiến bất cứ ai quan tâm, xem hình ảnh, video, clip hoặc tận mắt chứng kiến những khu rừng bị tàn phá tan hoang, để nhường chỗ cho những tòa nhà cao tầng bê tông kiên cố, trung tâm thương mại sầm uất, những biệt thự to đùng vương giả đến những căn nhà siêu mỏng, siêu méo chen chúc lấn vỉa hè, lòng đường, lấn sông, lấn biển, hẳn đều có chung nỗi hoang mang như câu nguyền “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” đã hiển hiện…

Cho đến nay, môi trường vẫn đang bị xem nhẹ trong cuộc đua phát triển đô thị giữa các tỉnh, thành phố. Đáng lưu tâm hơn, đó là tư duy đánh đổi môi trường lấy kinh tế. Dù rằng, những nỗi lo trên đã được Thủ tướng Chính phủ cảnh báo, dẫn chứng, nhắc nhở tại nhiều cuộc họp, cũng đã có rất nhiều bài học nhãn tiền, nhưng không những nó không được khắc phục mà thậm chí còn ngày càng tệ hại hơn.

Tình trạng cây xanh bật gốc, đổ, gãy diễn ra thường xuyên sau mỗi trận mưa tại nhiều tuyến đường ở Hà Nội. Theo nhận định của giới chuyên gia, một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng này là do lỗi quy hoạch, bê tông hóa vỉa hè đường. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Tình trạng cây xanh bật gốc, đổ, gãy diễn ra thường xuyên sau mỗi trận mưa tại nhiều tuyến đường ở Hà Nội. Theo nhận định của giới chuyên gia, một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng này là do lỗi quy hoạch, bê tông hóa vỉa hè đường. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Tại kỳ họp Quốc hội mới đây, đại biểu Phạm Trọng Nhân (Bình Dương) đã chỉ ra rằng một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên của luật là đảm bảo đầu tư xây dựng công trình theo quy hoạch thiết kế; quy định phải thẩm định hồ sơ dự án…

Nhưng với 1.390 quy hoạch bị điều chỉnh từ 1 đến 6 lần, quy hoạch được điều chỉnh tăng tầng cao, số tầng, tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất, giảm diện tích đất cây xanh công cộng, hạ tầng kỹ thuật,… mà báo cáo giám sát về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai đô thị đã nêu thì Luật Xây dựng nói chung và các nguyên tắc cơ bản nói riêng trong Luật Thủ đô, Luật Quy hoạch và Luật Quy hoạch đô thị được dày công nghiên cứu để chế định, dường như đã bị xem thường.

với 1.390 quy hoạch bị điều chỉnh từ 1 đến 6 lần, quy hoạch được điều chỉnh tăng tầng cao, số tầng, tăng mật độ xây dựng… thì Luật Xây dựng nói chung và các nguyên tắc cơ bản trong Luật Thủ đô, Luật Quy hoạch và Luật Quy hoạch đô thị, dường như đã bị xem thường. 

Không chỉ quy hoạch đô thị mà vấn đề quy hoạch phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường cũng đã và đang bị phớt lờ, trong khi công tác thanh kiểm tra, xử phạt vi phạm chưa hiệu quả, nếu không muốn nói “nhắm mắt cho qua” dẫn tới tình trạng vi phạm của doanh nghiệp; xâm phạm và phá hủy tài nguyên thiên nhiên của quốc gia ngày càng phổ biến, bất chấp pháp luật, gây ra những hậu quả nặng nề.

Nhiều cử tri, đại biểu quốc hội cũng bày tỏ bức xúc khi nhiều doanh nghiệp ngang nhiên biến “của công” thành “của ông” thông qua hoạt động xây dựng dự án, khai thác rừng núi, lấm chiếm sông, biển ồ ạt ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Điều đáng nói là, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, đất đai ngày càng thu hẹp dần để nhường chỗ cho những “siêu, đại” dự án du lịch. Nhưng dường như những sản phẩm ấy chỉ dành cho số ít người giàu, còn phần đông người dân vẫn chưa có khả năng sở hữu hay sử dụng dịch vụ cao cấp ấy. Sự hài hoà giữa kiến trúc vương giả và thiên nhiên trong yêu cầu chú trọng bảo tồn giờ chỉ là điều xa xỉ.

Đó là chưa kể quá trình thi công xây dựng còn gây ảnh hưởng tới đường xá, công trình. Hoạt động xẻ núi, lấp biển ngày đêm đã làm thất thoát tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống người dân trong vùng dự án, gây ra những hệ lụy lâu dài đến công tác bảo tồn, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên.

Cảnh tượng đường biến thành sông, người và phương tiện bì bõm trong biển nước mỗi khi mưa xuống đã trở nên phổ biến tại các đô thị, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Cảnh tượng đường biến thành sông, người và phương tiện bì bõm trong biển nước mỗi khi mưa xuống đã trở nên phổ biến tại các đô thị, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Tùy tiện trong thay đổi, điều chỉnh quy hoạch

Trước những hệ lụy liên quan đến hậu quy hoạch, trong báo cáo hoạt động chất vấn chuyên đề vừa được Bộ Xây dựng gửi tới Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Phạm Hồng Hà đã chỉ ra một loạt tồn tại, hạn chế như: Công tác lập, phê duyệt quy hoạch đô thị tại hầu hết các địa phương thực hiện chưa đồng bộ.

Kế hoạch đầu tư trung hạn và hàng năm chưa gắn kết với quy hoạch, dẫn tới việc đầu tư dàn trải, không đảm bảo đầu tư đồng bộ giữa nhà ở, khu đô thị, trụ sở… với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; đồng thời thiếu một số công trình kết nối hạ tầng (nhất là giao thông) giữa đô thị và các địa phương lân cận, làm cho tình trạng ngập úng, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng.

Đặc biệt là quỹ đất sau khi di dời các nhà máy xí nghiệp ra khỏi khu vực nội thành Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn được sử dụng để đầu tư xây dựng các dự án nhà ở, trung tâm thương mại, văn phòng, chưa tuân thủ theo đúng định hướng quy hoạch chung, gây gia tăng áp lực về dân số và quá tải về hạ tầng.

Trong quá trình thẩm định quy hoạch, sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành có liên quan (ở Trung ương cũng như địa phương) còn nhiều hạn chế, chưa thống nhất; việc lấy ý kiến cộng đồng còn chưa đúng đối tượng theo quy định, chưa tổng hợp, giải trình đầy đủ, thấu đáo các nội dung góp ý của cộng đồng dân cư; chưa đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước, chủ đầu tư và cộng đồng.

Nhìn nhận ở góc độ chuyên gia, kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng quy hoạch khu đô thị dễ dàng bị thay đổi đang khiến nhiều đô thị trên cả nước rơi vào “mớ bòng bong.” Thực trạng của việc quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch cũng là nguyên nhân dẫn đến không gian sống ngột ngạt, chất lượng sống của người dân đi xuống.

“quy hoạch khu đô thị dễ dàng bị thay đổi đang khiến nhiều đô thị trên cả nước rơi vào “mớ bòng bong,” kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng.

“Cần phải nhận thức rằng việc phê duyệt cũng như điều chỉnh quy hoạch các khu đô thị là những thành phần nằm chung trong một tổng thể. Trong quy hoạch từng dự án, từng khu lại cần phải nằm trong quy hoạch chung của địa phương và các vùng lân cận. Theo đó, với quy hoạch đô thị, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo tỷ lệ về cây xanh, mặt nước; đảm bảo các dịch vụ giao thông, trường học, bệnh viện, khu vui chơi, mua sắm; đảm bảo về tỷ lệ cấp thoát điện, nước, viễn thông, rác thải… trên mật độ dân số,” ông Tùng phân tích.

Liên quan đến việc điều chỉnh quy hoạch, kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng nhận xét: Hiện nay khi làm quy hoạch thì phải trải qua rất nhiều các cấp thẩm định để ra được quyết định phê duyệt, thế nhưng khi điều chỉnh lại không theo nguyên tắc nào. Việc quan trọng nhất trước khi điều chỉnh quy hoạch một khu đô thị là làm rõ: Vì sao lại điều chỉnh? Điều chỉnh đó có vi phạm những quy định của thành phố, Nhà nước, Chính phủ hay không? Điều chỉnh này khác gì, có trái với quy hoạch đã được duyệt lần đầu không?… Thế nhưng, hầu như các yêu cầu trên đều bị bỏ quên trong quá trình điều chỉnh quy hoạch. Cũng cần quy rõ trách nhiệm, ai cấp nào ký quyết định phê duyệt quy hoạch khu đô thị đó thì đến lúc điều chỉnh, cấp đó phải ký điều chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ.

“Chúng ta cũng chưa bao giờ đi thanh kiểm tra các quyết định điều chỉnh quy hoạch, chưa hề có vụ án nào xử lý về chuyện đó. Đến nay, việc xử lý sai phạm mới chỉ dừng lại ở xử lý các doanh nghiệp xây dựng trái phép, lừa đảo, nhưng có lẽ đã đến lúc đưa ra vành móng ngựa cả người ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch. Họ phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, pháp luật về những chữ ký của mình,” ông Tùng nhấn mạnh.

Tình trạng xây dựng nhà siêu mỏng, siêu méo vẫn diễn ra phổ biến. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Tình trạng xây dựng nhà siêu mỏng, siêu méo vẫn diễn ra phổ biến. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Cá nhân-tư nhân làm, ngân sách chịu

Những ảnh hưởng, thiệt hại về kinh tế đã rõ ràng. Thế nhưng, việc khắc phục hậu quả vẫn còn phụ thuộc vào “bầu sữa” ngân sách của Nhà nước. Vì thế, nhiều ý kiến cho rằng không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý: “Tư nhân làm, ngân sách chịu,” các cá nhân, doanh nghiệp, nhóm lợi ích thì thu lợi, còn ngân sách nhà nước phải è cổ chạy theo để giải quyết hậu quả.

Nhiều ý kiến cho rằng không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý: “Tư nhân làm, ngân sách chịu.”

Đại biểu Quốc hội Đinh Duy Vượt (Gia Lai) cho rằng hiện một số công trình, các chung cư cao tầng tại các trung tâm thành phố đang ngày càng quá tải, gây ra nhiều hệ lụy như kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm không khí, mất an toàn cháy nổ, kể cả động đất nếu xảy ra. Những công trình đắt nhất cũng gây thất thoát, lãng phí kép…

Vì thế, nếu không xử lý, khắc phục cơ bản việc buông lỏng kỷ cương trật tự xây dựng, đoạn tuyệt với việc phạt cho tồn tại như xây dựng sai quy hoạch, sai mục đích sử dụng đất, tùy tiện điều chỉnh quy hoạch thì Nhà nước và người dân là thua thiệt.

Nói thêm về điều này, kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam chia sẻ: Trên thế giới, việc đập phá công trình xây dựng sai phép hầu như không được áp dụng vì nó dẫn đến những bất ổn xã hội, làm ảnh hưởng đến kết cấu công trình xây dựng, ảnh hưởng đến tiền của của xã hội. Phương pháp giải quyết của họ là cơ quan quản lý sẽ phạt số tiền gấp 5-6 lần số tiền lãi thu được từ phần xây dựng trái phép.

Ở ta, người quản lý trước phê duyệt cho xây dựng, cơi nới thêm, nhiệm kỳ sau người quản lý khác lại đập phá… các công trình Công viên Thanh Hà, Tòa nhà 8B Lê Trực… là những ví dụ vô cùng đau xót bởi hệ lụy từ lỗi thiếu trách nhiệm của cấp giám sát, quản lý và cuối cùng xã hội thiệt, người dân thiệt.

Không chỉ người dân ở các đô thị mới bị ảnh hưởng, mà ngay cả ở các vùng núi, khu vực nông thôn, thực trạng cơ quan chức năng thiếu sâu sát hay buông lỏng quản lý cho doanh nghiệp “thoải mãi” phá núi, xây dựng công trình, nhà máy… cũng đã và đang khiến người dân phải sống khốn khổi với ô nhiễm.

Dù nằm trong bán kính “vùng ảnh hưởng” bởi hoạt động của Nhà máy xi măng Sông Lam, nhiều lần kiến nghị lên tỉnh, 2 lần gửi tâm thư cầu cứu Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, nhưng đến nay, gần 160 hộ dân xã Bài Sơn vẫn phải “sống chung” với ô nhiễm…

Đơn cử như việc Nhà máy xi măng Sông Lam được đầu tư xây dựng từ năm 2016 tại xã Bài Sơn, (Đô Lương, Nghệ An). Theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, nhà máy này phải đảm bảo bán kính an toàn cho khu dân sinh (khoảng cách từ dự án đến điểm rơi bụi và khí độc phát sinh trong quá trình hoạt động) cách lò nung khoảng 900m, cách hàng rào 600m.

Thế nhưng, suốt gần 4 năm qua, gần 160 hộ dân nằm trong bán kính “vùng ảnh hưởng,” trong đó nhiều hộ dân có nhà cửa nằm cách lò nung của nhà máy chưa tới 300m, vẫn không được di dời, ngày-đêm còn bị tra tấn bởi tiếng ồn, ô nhiễm khói bụi; mỗi khi mưa bão xuống lại tiềm ẩn nguy cơ sạt lở đất, vùi lấp nhà cửa…

Dù rằng người dân xã Bài Sơn đã nhiều lần gửi đơn thư phản ánh tới cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An; 2 lần nhờ phóng viên VietnamPlus gửi tâm thư cầu cứu tới tận tay Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, nhưng đến nay, điều mà người dân nhận được vẫn chỉ là những “lời hứa” không hẹn ngày giải quyết?

Trong khi, tài nguyên khoáng sản của quốc gia với những núi đá mà thiên nhiên ban tặng, hàng ngày vẫn cứ bị khai phá, “móc ruột,” chuyển về nhà máy xi măng để thu hàng nghìn tấn clinker đưa đi tiêu thụ, tiền chảy vào túi doanh nghiệp../.

Những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, khiến người dân bức xúc từng xảy ra tại khu vực Nhà máy xi măng Sông Lam tại xóm Đô Sơn, xã Bài Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Nguồn ảnh: PV/Vietnam+)
Những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, khiến người dân bức xúc từng xảy ra tại khu vực Nhà máy xi măng Sông Lam tại xóm Đô Sơn, xã Bài Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Nguồn ảnh: PV/Vietnam+)

Trôi nổi quả bóng trách nhiệm: Cấp trên làm sai, cấp dưới chịu tội

Trong quá trình tìm hiểu về hoạt động xây dựng làm biến dạng đô thị tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, phóng viên VietnamPlus đã được nghe không ít cán bộ, lãnh đạo cấp cơ sở (xã, phường) trải lòng về những “áp lực vô hình” từ trên dội xuống, khiến chính họ bị doanh nghiệp xem thường và bất lực trong xử lý các vụ việc.

Nhiều “siêu, đại” dự án xây dựng sai phạm, “có vấn đề” song cơ sở vẫn phải “nhắm mắt cho qua,” đến khi sự việc vỡ lở, chịu trách nhiệm chính lại là họ. Trong khi, những người trực tiếp ký phê duyệt dự án, có liên quan đến dự án sai phạm ở cấp cao hơn thì vô can, hoặc có chăng cũng chỉ bị nhắc nhở, “rút kinh nghiệm.”

Rút được những kinh nghiệm gì từ sai phạm?

Câu chuyện dự án Khu biệt thự và nhà phố vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden tại xã Phụng Công (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) là một ví dụ điển hình trả lời cho câu hỏi vì sao hàng loạt dự án xây dựng khi chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư, còn thiếu các thủ tục pháp lý, thậm chí xây dựng trái phép, sai phép vẫn xuất hiện ngày càng phổ biến và điềm nhiên “trơ gan cùng tuế nguyệt.”

Liên quan đến dự án này, mới đây, Thanh tra tỉnh Hưng Yên đã tổ chức Hội nghị công bố kết luận thanh tra, cho thấy tại thời điểm thanh tra (tháng 3/2020), dự án Khu biệt thự và nhà phố vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden mới chỉ được đồng ý về mặt chủ trương. Tuy nhiên, trên thực tế, chủ đầu tư là Công ty cổ phần thương mại sản xuất vật liệu xây dựng Đại Hưng (Công ty Đại Hưng) đã triển khai xây dựng hơn 200 nhà biệt thự, liền kề và đã chào bán trên thị trường.

Dự án Khu biệt thự và nhà phố vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden mới chỉ được đồng ý về mặt chủ trương. Tuy nhiên, trên thực tế, chủ đầu tư đã triển khai xây dựng hơn 200 nhà biệt thự, liền kề.

Ngoài ra, Thanh tra tỉnh Hưng Yên kết luận Công ty Đại Hưng còn tồn tại một số sai phạm về việc thực hiện báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư; báo cáo giám sát, đánh giá thực hiện đầu tư theo quy định; chưa đăng ký biến động thay đổi tên pháp nhân; vi phạm quy định pháp luật về đất đai; vi phạm pháp luật về đầu tư; vi phạm quy định pháp luật về xây dựng…

Đồng thời, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp…cũng chưa được Công ty Đại Hưng nộp vào ngân sách Nhà nước.

Dự án Khu biệt thự và nhà phố vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden mới chỉ được đồng ý về mặt chủ trương nhưng đã xây xong phần thô hơn 200 công trình biệt thự, liền kề. (Ảnh: CTV)
Dự án Khu biệt thự và nhà phố vườn Vạn Tuế-Sago Palm Garden mới chỉ được đồng ý về mặt chủ trương nhưng đã xây xong phần thô hơn 200 công trình biệt thự, liền kề. (Ảnh: CTV)

Tại Kết luận thanh tra cũng nêu rõ trách nhiệm của các sở ngành để xảy ra sai phạm, tồn tại liên quan đến dự án. Cụ thể là các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường chưa sâu sát, chưa kiên quyết xử lý khi phát hiện sai phạm của đơn vị; Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ trình thẩm định chưa bảo đảm nội dung theo quy định; Ủy ban Nhân dân huyện Văn Giang, xã Phụng Công chưa sâu sát trong công tác quản lý nhà nước về quản lý đất đai, trật tự xây dựng trên địa bàn, chưa có biện pháp phát hiện, ngăn chặn kịp thời vi phạm.

Loạt sai phạm trên là rất nghiêm trọng, nhưng tại Hội nghị công bố kết luận thanh tra, ông Bùi Thế Cử, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên cũng chỉ yêu cầu các đơn vị có sai phạm cần ‘nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm,” kèm theo chỉ đạo khá chung chung, “mơ hồ”: Các sở, ngành, chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm tra, thanh tra theo đúng nhiệm vụ, chức năng để kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm về đất đai, xây dựng. Cùng với đó, chủ động rà soát, nghiên cứu các văn bản để tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh, bảo đảm việc triển khai xây dựng của Công ty Đại Hưng đúng quy định.

Theo Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng, kể từ ngày 15/1/2018, những công trình vi phạm sẽ phải tháo dỡ, không còn chuyện phạt cho tồn tại!

Như vậy, sau một loạt sai phạm mà nguyên nhân chính là do trong suốt gần 3 năm trời lãnh đạo và cán bộ các sở, ngành, địa phương tỉnh Hưng Yên “chưa sâu sát, chưa kiên quyết xử lý khi phát hiện sai phạm,” để doanh nghiệp vô tư “xây chui, bán lụi,” đến nay cũng chỉ phải rút kinh nghiệm…

Về phía Công ty Đại Hưng, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên yêu cầu chấm dứt và khắc phục các sai phạm. Với yêu cầu này, có vẻ như theo quy luật, công trình vi phạm vẫn vô tư tồn tại, chờ đến giờ G để được “hợp thức hóa.”

Nếu thế, việc xử lý trên sẽ là không đúng với tinh thần Nghị định số 139/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng,… đã được chính Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà nêu ra tại kỳ họp Quốc hội thứ 8, Quốc hội khóa XIV: Kể từ ngày 15/1/2018, những công trình vi phạm sẽ phải tháo dỡ, không còn chuyện phạt cho tồn tại!

Hạng mục cáp treo thuộc Dự án khu du lịch tâm linh–sinh thái Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Hạng mục cáp treo thuộc Dự án khu du lịch tâm linh–sinh thái Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Xử lý kiểu “nhẹ trên, nặng dưới”

Nếu như ở Hưng Yên, hàng loạt cán bộ “chưa sâu sát, kiên quyết xử lý khi phát hiện sai phạm” để “đại” dự án bất động sản xây dựng “vượt đèn đỏ” trong suốt gần 3 năm trời, chỉ bị yêu cầu “rút kinh nghiệm,” thì tại Bắc Giang, việc xử lý sai phạm tại dự án Khu du lịch tâm linh-sinh thái Tây Yên Tử cũng khiến dư luận bất bình.

Cụ thể, trong khi nhiều cán bộ cấp dưới bị khởi tố hình sự vì “vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất” và “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng,” thì lãnh đạo huyện Sơn Động dù trực tiếp chỉ đạo chi trả tiền bồi thường, gây thiệt hại (ban đầu) hơn 4,5 tỷ đồng lại chỉ bị kiến nghị xử lý hành chính.

Trao đổi với phóng viên VietnamPlus, trong ngày 23/4/2020, bà Nguyễn Thị Hương, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Giang cho biết hiện vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an tỉnh khởi tố, điều tra theo quy định. “Bên tôi cũng đã nắm được tình hình vì báo chí đã phản ánh. Tuy nhiên, đến thời điểm này tôi vẫn không nhận được bất kể kiến nghị gì của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh,” bà Hương nói và cho biết hiện vụ việc đã kết thúc điều tra rồi.

“…đến thời điểm này tôi vẫn không nhận được bất kể kiến nghị gì của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh,” bà Nguyễn Thị Hương, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Giang.

Được biết, trên cơ sở điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang cũng đã quyết định chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đến Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Bắc Giang đề nghị truy tố hàng loạt các bị can công tác tại Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường Bắc Giang, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Sơn Động và cán bộ xã Tuấn Mậu, nay là Thị trấn Tây Yên Tử.

Về phần ông Giáp Văn Tâm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Động, theo Kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra, ông Tâm được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Động phân công là Chủ tịch Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện, trực tiếp chỉ đạo công tác phối hợp với các cơ quan chuyên môn trong công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Khu du lịch tâm linh Tây Yên Tử.

Tuy nhiên, khi ký ban hành các quyết định phê duyệt phương án hỗ trợ giải phóng mặt bằng từ 2 hộ sang cho 6 hộ đã chủ quan, không nghiên cứu kỹ về chế độ, chính sách trong công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, dẫn đến phê duyệt phương án sai về chế độ hỗ trợ cho các hộ dân, thiệt hại số tiền ban đầu lên tới hơn 4,5 tỷ đồng.

Việc hỗ trợ giải phóng mặt bằng từ 2 hộ dân sang cho 6 hộ dân, đã dẫn đến phê duyệt phương án sai về chế độ hỗ trợ cho các hộ dân, thiệt hại số tiền ban đầu lên tới hơn 4,5 tỷ đồng. (Ảnh: CTV)
Việc hỗ trợ giải phóng mặt bằng từ 2 hộ dân sang cho 6 hộ dân, đã dẫn đến phê duyệt phương án sai về chế độ hỗ trợ cho các hộ dân, thiệt hại số tiền ban đầu lên tới hơn 4,5 tỷ đồng. (Ảnh: CTV)

Dù vậy, ông Tâm cũng chỉ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra kiến nghị xử lý hành chính. Nhiều ý kiến cho rằng kiến nghị này thực sự rất khó hiểu và khó thuyết phục được dư luận về sự nghiêm minh, thượng tôn pháp luật. Bởi trong khi những cán bộ khác vốn làm theo chỉ đạo lại bị đề nghị truy tố còn người đứng đầu thoát tội.

Về việc xử lý cán bộ liên quan đến sai phạm tại dự án Khu du lịch tâm linh-sinh thái Tây Yên Tử (Bắc Giang), chia sẻ với báo chí, đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng, Phó Ban Dân nguyện Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng cần phải xem xét vai trò, trách nhiệm, hậu quả do ông Giáp Văn Tâm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Động và các cá nhân gây ra.

Đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Theo đại biểu Lưu Bình Nhưỡng, kết luận của cơ quan điều tra đã cho thấy rất rõ vai trò của ông Tâm, cũng như hậu quả làm thiệt hại hơn 4,5 tỷ tỷ đồng (số tiền thiệt hại ban đầu). Như vậy không chỉ là hành vi thiếu trách nhiệm, mà còn liên quan đến lý do thật sự của việc ký các quyết định gây thiệt hại như thế?

“Nếu chỉ xem xét xử lý hành chính, và cơ quan Đảng chỉ xem xét xử lý ở mức nhẹ thì không công bằng. Bởi mọi công dân phải bình đẳng trước pháp luật, có tội phải xử lý, có công phải được khen thưởng. Ông Tâm là người có tội, hành vi phạm tội rõ ràng đã được cơ quan điều tra chỉ rõ thì tại sao không xem xét trách nhiệm hình sự, trong khi những người dưới quyền lại bị chịu trách nhiệm, bị truy tố?” đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng trăn trở.

Cũng lập luận này, đại biểu Lưu Bình Nhưỡng đề nghị Viện Kiểm sát Nhân dân, cơ quan điều tra, các cơ quan nội chính tỉnh Bắc Giang phải xem xét làm rõ sai phạm theo đúng pháp luật, nếu cơ quan điều tra của tỉnh không làm được thì đề nghị Cơ quan điều tra Bộ Công an vào cuộc điều tra vụ việc. Đồng thời, các cơ quan Đảng phải xem xét trách nhiệm Đảng viên của ông Tâm.

“Ông Tâm là người có tội, hành vi phạm tội rõ ràng đã được cơ quan điều tra chỉ rõ thì tại sao không xem xét trách nhiệm hình sự, trong khi những người dưới quyền lại bị chịu trách nhiệm, bị truy tố?”- đại biểu Lưu Bình Nhưỡng đặt câu hỏi.

Có cùng nỗi trăn trở trước “sức ép” làm theo chỉ đạo, ông Hoàng Văn Tuệ, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thị trấn Tây Yên Tử cho rằng: Nếu làm theo phương án ban đầu là bồi thường cho 2 hộ dân, thì sẽ không cán bộ nào bị bắt cả, đường này cấp trên lại chỉ đạo chuyển sang làm bồi thường cho 6 hộ dân người dân tộc thiểu số để được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Sau này phát hiện sai và đã thu hồi Quyết định, thu hồi tiền cho Nhà nước nhưng tới nay (đầu tháng 5/2020) vẫn chưa thu hồi hết.

“Lúc đó tôi đâu có trong Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng, mà chỉ được giao tuyên truyền và vận động bà con bàn giao đất cho Nhà nước để thực hiện dự án, khi vụ việc bị vỡ lở cá nhân tôi cũng bị Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Động kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo và đang đợi Huyện ủy tiếp tục kỷ luật về Đảng. Nhiều cán bộ cũng dính vào vòng lao lý…,” ông Tuệ chia sẻ thêm./.

(Nguồn ảnh: TTXVN)
(Nguồn ảnh: TTXVN)

Buông lỏng kỷ cương trật tự xây dựng: ‘Anh em song sinh’ với tham nhũng

Trong hành trình tìm hiểu về “khối băng chìm quy hoạch đô thị” với hàng nghìn dự án, công trình xây dựng “vượt” quy hoạch, làm méo mó đô thị, biến dạng cảnh quan, phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đã ghi lại hàng loạt khoảng tối “có vấn đề” trong công tác thanh-kiểm tra, xử lý sai phạm. Từ đó hé lộ muôn kiểu tham nhũng bởi vết hằn của cái bóng quyền lực, dẫn tới những vụ khiếu kiện kéo dài, có những vụ diễn ra trong suốt nhiều năm, làm mất niềm tin trong nhân dân.

Điều gì sau những dự án vi phạm?

Hẳn những ai từng theo dõi “Sinh Tử”-bộ phim truyền hình dài tập thuộc thể loại chính luận, hình sự dựa trên những vụ án có thật mang hơi thở xã hội, đều thấy rõ hành vi tham nhũng, cán bộ mẫu cán của dân “thỏa hiệp” với doanh nghiệp bất động sản để “cùng hội cùng thuyền” ăn chia lợi nhuận phi pháp.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên Việt Nam có một bộ phim đi sâu phản ánh hoạt động nội bộ của các cơ quan, chính quyền một tỉnh. Lần đầu tiên công chúng được chứng kiến đời sống của quan chức trên phim, cách họ thực hiện công vụ, lối sống. Từ đó hé lộ những tham quan, cái kết của sự tha hóa, lợi ích nhóm.

Bộ phim kết thúc, với tình tiết Chủ tịch tỉnh Việt Thanh thừa nhận sai lầm. Nhưng hành động được nhìn nhận là ‘dám làm dám chịu” này chỉ có ở trên…phim. Thực tế, thì sao? Gõ vào google cụm từ “tham nhũng xây dựng,” trong 0,33 giây đã cho ra gần 111 triệu kết quả, tương tự từng đó thời gian, google cho ra hơn 2,6 triệu kết quả liên quan đến “tham nhũng đất đai.”

Dưới lớp áo phát triển du lịch, các chủ dự án bất động sản nghỉ dưỡng, condotel đua nhau xây dựng trên những khu rừng tự nhiên, giá rẻ và vốn là đất công do Nhà nước quản lý, sau đó “hóa phép,” rao bán giá “trên trời”

Kết quả này cho thấy thực trạng cá nhân, doanh nghiệp ngang nhiên thâu tóm tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, biến “của công” thành “của ông” thông qua hoạt động xây dựng dự án ngày càng phổ biến. Dưới lớp áo phát triển đô thị, phát triển kinh tế du lịch, các chủ dự án bất động sản nghỉ dưỡng, khách sạn, chung cư condotel đua nhau xây dựng trên những khu rừng tự nhiên, giá rẻ và vốn là đất công do Nhà nước quản lý, sau đó “hóa phép” thành những khu đất vàng, rao bán giá “trên trời” và đút túi khối tài sản riêng đồ sộ.

Điều này dẫn đến tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, đất đai nông nghiệp, lâm nghiệp, nhà dân ngày càng thu hẹp để nhường chỗ cho những tòa nhà cao tầng bê tông kiên cố, trung tâm thương mại… ảnh hưởng lớn đến môi sinh.

Điều gì đằng sau những tòa nhà sai phép, không phép, hàng trăm căn hộ sai thiết kế vượt tầng? (Ảnh: CTV)
Điều gì đằng sau những tòa nhà sai phép, không phép, hàng trăm căn hộ sai thiết kế vượt tầng? (Ảnh: CTV)

Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV vừa qua, đại biểu Nguyễn Tiến Sinh (Hòa Bình) đã nghiêm khắc đặt ra câu hỏi: Điều gì đằng sau những tòa nhà sai phép, không phép, hàng trăm căn hộ sai thiết kế vượt tầng, nếu không phải là tham nhũng, không phải từ sự suy thoái biến chất của các cán bộ, đảng viên có chức vụ?

Việc 4 người là cán bộ thuộc Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và Trung tâm phát triển quỹ đất Thái Bình, vừa bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình bắt sau khi điều tra vợ chồng Đường Dương (doanh nghiệp “đen” bất động sản) phần nào cho thấy những mảng tối trong đấu giá đất không chỉ ở vùng quê lúa này.

Ngay tại Thủ đô Hà Nội, thời gian qua cũng đã có không ít lãnh đạo, cán bộ thuộc các cấp quận, huyện bị xử lý do thiếu trách nhiệm, gây ra hậu quả nghiêm trọng tại một loạt dự án bất động sản như: Các dự án của Tập đoàn Mường Thanh ở Linh Đàm, tổ hợp chung cư-thương mại CT6 Xa La, Đại Thanh, Thanh Hà-Cienco 5… Đây chính là những chung cư, có số căn hộ vượt quá so với quy hoạch, trong số này, không ít căn hộ không phép đã bán cho người dân, khách hàng, dẫn tới khiếu kiện kéo dài nhưng đến bây giờ vẫn chưa làm được sổ đỏ.

“Điều gì đằng sau những tòa nhà sai phép, không phép, hàng trăm căn hộ sai thiết kế vượt tầng, nếu không phải là tham nhũng, không phải từ sự suy thoái biến chất của các cán bộ, đảng viên có chức vụ?” đại biểu Nguyễn Tiến Sinh đặt câu hỏi.

Hay như vụ việc thâu tóm “đất vàng” ở Đà Nẵng. Theo cáo trạng được Viện Kiểm sát công bố tại tòa, Trần Văn Minh (cựu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng) và các đồng phạm vì những động cơ khác nhau đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng, cố ý làm trái các quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, các quy định về quản lý đất đai, giúp cho Phan Văn Anh Vũ thu lợi bất chính đặc biệt lớn thông qua việc nhận nhiều đất dự án, mua nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước.

Hành vi trái pháp luật của ông Minh và đồng phạm đã tạo điều kiện cho Phan Văn Anh Vũ trực tiếp được nhận chuyển giao tài sản, quyền quản lý, khai thác đối với 15/22 nhà, đất công sản và 6/7 dự án đất; tạo cơ hội cho Vũ có quyền quyết định việc chuyển nhượng, khai thác, sử dụng… nhằm trục lợi từ những giá trị tăng thêm của các bất động sản, gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 22 nghìn tỷ đồng.

Mặc dù tại cơ quan điều tra, bị cáo Vũ không hợp tác khai báo, không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng căn cứ theo kết quả điều tra, cơ quan tố tụng hoàn toàn đủ cơ sở xác định, Phan Văn Anh Vũ với động cơ thâu tóm thị trường bất động sản trên địa bàn để trục lợi đã lợi dụng chủ trương trái pháp luật tại các văn bản pháp lý của Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng do ông Trần Văn Minh ký…

Không chỉ những dự án chung cư cao tầng, các dự án thủy điện cũng góp phần phá vỡ quy hoạch khi có không ít dòng sông cõng 4-6 dự án thủy điện, ngăn chặn dòng chảy, gây chết người, ảnh hưởng đến hạ du. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Không chỉ những dự án chung cư cao tầng, các dự án thủy điện cũng góp phần phá vỡ quy hoạch khi có không ít dòng sông cõng 4-6 dự án thủy điện, ngăn chặn dòng chảy, gây chết người, ảnh hưởng đến hạ du. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chi phí ngầm gây suy thoái đạo đức

Về chế tài xử lý vi phạm tình trạng xây dựng không phép, trái phép, theo đại biểu Quốc hội Thái Trường Giang (tỉnh Cà Mau), thực tế tình trạng này xảy ra tràn lan, hầu như công trình xây dựng nào cũng có vi phạm, không nhiều thì ít. Nguyên nhân, theo đại biểu Thái Trường Giang là do trong điều luật về quản lý trật tự xây dựng không được rõ ràng, trong khi đó tốc độ phát triển đô thị quá nhanh và các cấp chính quyền quản lý xây dựng tại địa phương đôi khi buông lỏng quản lý.

Chỉ riêng tại Hà Nội, tìm hiểu phóng viên VietnamPlus cho thấy giai đoạn 2015-2016, trên địa bàn thành phố có 38/40 công trình vi phạm trật tự xây dựng vẫn tồn tại nổi cộm, như: Công trình 8B Lê Trực (Ba Đình); tòa nhà Hòa Bình Green City số 505 Minh Khai (Hai Bà Trưng); dự án nhà ở thấp tầng 108 Nguyễn Trãi (Thanh Xuân); chung cư Mỹ Sơn Tower 62 Nguyễn Huy Tưởng (Thanh Xuân); chung cư 89 Phùng Hưng (Hà Đông); tòa 04-HH02 (Nam Từ Liêm)…

Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên gia thì những công trình vi phạm này và công trình vi phạm tương tự, việc xử phạt hành chính bằng tiền dường như không mang lại hiệu quả răn đe. Với mức phạt tối đa hiện nay được áp dụng là 1 tỷ đồng, rõ ràng là quá nhỏ so với lợi nhuận chủ đầu tư thu được từ việc làm trái phép. Đơn cử, nếu xây vượt thêm một tầng, chủ đầu tư sẽ “sở hữu” được thêm vài chục căn hộ, số tiền lợi nhuận có thể thu được lên tới cả trăm tỷ đồng.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau Thái Trường Giang. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau Thái Trường Giang. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Vì thế, chủ đầu tư sẵn sàng chịu phạt, cùng đó là chi tiền để “bôi trơn” cán bộ, đoàn kiểm tra khi tổ chức thanh tra dự án, nhằm tìm cách hợp thức hóa phần sai phạm của mình. Từ đó nảy sinh tiêu cực, xuất hiện thói quen nhũng nhiễu, vòi vĩnh trong các cơ quan liên quan, thậm chí là nảy sinh cả một đội ngũ “phóng viên đếm tầng” (giả mạo có, cộng tác viên hạng bét có và cả phóng viên có biên chế) của một số tạp chí, báo…

Từ những khoản tham nhũng “vặt” như món quà tặng xa xỉ, khoản lót tay kiểu “nhẹ nhàng, tình cảm, không đáng là bao” trị giá từ vài chục triệu lên tới cả vài trăm triệu… ở cấp tổ, phường khi phát hiện những căn nhà xây vượt tầng, vượt tum đến nhứng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vòi vĩnh, nhũng nhiễu một cách bài bản, lớp lang của các cán bộ công chức cộm cán.

Có thể nhìn từ một ví dụ như vụ việc cán bộ Thanh tra Bộ Xây dựng “nhận tiền hối lộ” trong quá trình thanh tra tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xảy ra giữa năm 2019. Theo kết quả điều tra ban đầu của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 12/6, tại Ban quản lý dự án huyện Vĩnh Tường, tổ công tác của Công an tỉnh này đã bắt quả tang Đặng Hải Anh (cán bộ Phòng thanh tra xây dựng) đang thực hiện hành vi nhận 90 triệu đồng của một doanh nghiệp trên địa bàn. Khi bị bắt, Đặng Hải Anh thừa nhận hành vi nhận tiền để không giảm trừ khối lượng giá trị của một số hạng mục công trình mà doanh nghiệp đã thi công trên địa bàn.

Cùng ngày, tổ công tác của Công an tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang Nguyễn Thị Kim Anh (Trưởng đoàn thanh tra Bộ Xây dựng) khi đang nhận 68 triệu đồng của kế toán Ủy ban Nhân dân xã Tân Tiến. Đồng thời bà Kim Anh cũng nhận 91,5 triệu đồng của một công chức tài chính kế toán Ủy ban Nhân dân thị trấn Thổ Tang,…

Tại kỳ họp 43 diễn ra đầu tháng 3/2020, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, kết luận việc kiểm tra tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Đảng ủy Thanh tra Bộ Xây dựng, đặc biệt là liên quan đến vụ cán bộ thanh tra Bộ này bị bắt quả tang nhận tiền hối lộ tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xảy ra trong năm 2019.

Cơ quan kiểm tra cao nhất của Đảng nhận định: Đảng ủy Thanh tra Bộ Xây dựng đã vi phạm Quy chế làm việc, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong công tác cán bộ, trong quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên và trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, để một số cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, nhận hối lộ trong quá trình thanh tra tại huyện Vĩnh Tường, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Vi phạm của Đảng ủy Thanh tra Bộ Xây dựng nhiệm kỳ 2015-2020 và các cán bộ nêu trên đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức Đảng, của Bộ Xây dựng và ngành Thanh tra, gây bức xúc trong xã hội, đến mức phải xem xét kỷ luật.

Các thành viên trong đoàn Thanh tra Bộ Xây dựng bị khởi tố. (Nguồn: TTXVN)
Các thành viên trong đoàn Thanh tra Bộ Xây dựng bị khởi tố. (Nguồn: TTXVN)

Lấy phòng ngừa để đẩy lùi nạn tham nhũng

Đóng góp ý kiến, đại biểu Quốc hội Bố Thị Xuân Linh (tỉnh Bình Thuận) cho rằng Đảng ta xác định đấu tranh chống tham nhũng là một nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh không có vùng cấm.

Theo đại biểu Bố Thị Xuân Linh, sự quyết tâm, nỗ lực đó đã góp phần khắc phục tình trạng “trên nóng dưới lạnh.” Cử tri cho rằng “lò lửa chống tham nhũng” đang cháy, sức nóng của dư luận đang dâng cao và lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, nạn tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành.

Vì thế, cần phải tập trung phát hiện và ngăn chặn từ gốc, lấy phòng ngừa để đẩy lùi nạn tham nhũng ngay từ lúc manh nha trong tư tưởng của mỗi cá nhân, tổ chức. Muốn vậy cần phải nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu về ý thức chấp hành pháp luật, tăng cường công khai, minh bạch tài sản của tất cả cán bộ công chức để giảm tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tham nhũng.

“Có nhiều công trình khó xử lý, cán bộ không biết quy trách nhiệm cho ai,” đại biểu Quốc hội Bố Thị Xuân Linh trăn trở.

Về công tác quản lý, giám sát công trình, đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường (Hà Nội) cho rằng cần phải quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý trật tự xây dựng. Theo ông, những quy định về xây dựng hiện nay được quy định rất chặt nhưng việc vi phạm về trật tự xây dựng vẫn tràn lan và phổ biến. Thế nhưng, có nhiều công trình khó xử lý, cán bộ không biết quy trách nhiệm cho ai.

“Tôi cho rằng nguyên nhân ở đây là chúng ta đang có một kẽ hở trong việc quy trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng. Đó là trách nhiệm của cơ quan, Ủy ban nhân dân địa phương hay là thanh tra xây dựng trong việc quy định này. Hai việc này đang có vẻ lập lờ và chồng lấn,” ông Cường nói và đề nghị trong dự thảo này phải phân định rất rõ ràng trách nhiệm quản lý về trật tự xây dựng và quản lý quy hoạch đó phải là trách nhiệm của ở cơ quan chính quyền địa phương.

Ngoài ra, đại biểu Hoàng Văn Cường cho rằng cần quy định rất rõ chế tài xử lý khi sai phạm xảy ra đối với chủ đầu tư cũng như cơ quan cán bộ quản lý nhà nước có liên quan./.

Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường cho rằng cần quy định rất rõ chế tài xử lý khi sai phạm xảy ra đối với chủ đầu tư cũng như cơ quan cán bộ quản lý nhà nước có liên quan. (Ảnh: CTV)
Đại biểu Quốc hội Hoàng Văn Cường cho rằng cần quy định rất rõ chế tài xử lý khi sai phạm xảy ra đối với chủ đầu tư cũng như cơ quan cán bộ quản lý nhà nước có liên quan. (Ảnh: CTV)

Xử lý sai phạm làm méo mó đô thị: Không có vùng cấm

Từ quyết tâm đẩy lùi tham nhũng đã được Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai,” nhân dân cả nước kỳ vọng sẽ được đẩy mạnh vào lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, qua đó xử lý dứt điểm các “siêu, đại” dự án sai phạm, lấy lại niềm tin nhân dân.

Kỷ luật cán bộ thật đau xót, nhưng không thể không làm…

Sau 4 năm phát động phong trào chống tham nhũng, chỉnh đốn Đảng của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, nhân dân cả nước đã thấy sự thay đổi trong cách điều hành, quản lý và loại bỏ các cán bộ “sâu mọt” đã gây tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Người dân, cử tri tin tưởng vào người đứng đầu của đất nước.

Tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” mà người đứng đầu đất nước nhấn mạnh được minh chứng bằng việc nhiều cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật, thậm chí phải chịu trách nhiệm hình sự về những sai phạm của mình.

Thực tế cho thấy ngoài những lãnh đạo cộm cán đã phải vào “lò chống tham nhũng” như Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng,… thời gian qua, nhân dân cả nước cũng đã chứng kiến hàng loạt vụ đại án liên quan đến đất đai, xây dựng, nhiều người từng là lãnh đạo chủ chốt của các tỉnh, thành phố đã bị kỷ luật, chịu án phạt.

Đơn cử như vụ việc sai phạm ở Khu đô thị mới Thủ Thiêm-“siêu dự án” để xảy ra nhiều vi phạm, làm biến dạng đô thị, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng bộ và chính quyền thành phố, gây bức xúc trong xã hội khiến người dân phải khiếu kiện tới gần 20 năm, mới đây, Ban Bí thư đã quyết định kỷ luật Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010-2015 bằng hình thức khiển trách.

Ông Lê Thanh Hải bị cách chức Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010-2015 (Ảnh tư liệu)
Ông Lê Thanh Hải bị cách chức Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010-2015 (Ảnh tư liệu)

Theo đó, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật ông Lê Thanh Hải bằng hình thức Cách chức Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010-2015; ông Lê Hoàng Quân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo.

Tại kỳ họp 44, Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng đã xem xét, kết luận một số nội dung trong đó có nội dung liên quan đến những vi phạm, khuyết điểm của lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi. Qua xem xét, giải quyết tố cáo đối với ông Lê Viết Chữ, Bí thư Tỉnh ủy và ông Trần Ngọc Căng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận thấy ông Lê Viết Chữ và ông Trần Ngọc Căng đã có nhiều vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác quản lý, sử dụng đất đai, tài chính ngân sách, dự án đầu tư và công tác cán bộ, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, đến mức phải xem xét kỷ luật.

Cũng tại kỳ họp, căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương xem xét, thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Nguyễn Văn Hiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng do đã vi phạm rất nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong vụ án hình sự xảy ra tại Quân chủng Hải quân.

Ngoài ra, một loạt “đại” dự án khác cũng đã được Thủ tướng Chính phủ yêu cầu làm rõ, kiên quyết xử lý sai phạm như 8B Lê Trực hay HH Linh Đàm…

Công tác phá dỡ tầng 18 công trình sai phạm tại số 8B Lê Trực. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Công tác phá dỡ tầng 18 công trình sai phạm tại số 8B Lê Trực. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, đại biểu Nguyễn Bá Sơn (thành phố Đà Nẵng) đã nêu lên thực trạng sai phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai, quản lý tài sản công diễn ra hầu khắp các địa phương ở nhiều cấp, kéo dài trong nhiều năm nhưng chậm được phát hiện và chấn chỉnh để đề ra biện pháp ngăn chặn, thiệt hại ở mức độ đặc biệt lớn, đặc biệt nghiêm trọng.

Theo đại biểu Nguyễn Bá Sơn, có dự án từ quy mô ban đầu vài trăm nhân khẩu, sau nhiều lần điều chỉnh, quy mô đã lên đến 6.000-7.000 nhân khẩu, những dự án như vậy xảy ra ở nhiều nơi, quy mô lớn gấp nhiều lần và để lại những hậu quả nặng nề cho cuộc sống của người dân.

Điều đáng lo là, “đằng sau câu chuyện ‘điều chỉnh đúng quy trình’ là bóng dáng của nhóm lợi ích, trong khi dự án đi sai mục đích phát triển chung, phá vỡ quy hoạch, chính quyền địa phương thì luôn khẳng định sẽ xử lý nghiêm nhưng rồi, đô thị thì biến dạng, không gian sống của người dân bị xâm phạm, Nhà nước mất cán bộ… còn chủ đầu tư vô can, các thực thể vi phạm vẫn tồn tại lồ lộ, sừng sững, đầy thách thức,” đại biểu Nguyễn Bá Sơn nhận định.

Mặc dù vậy, theo ý nhiều cử tri và thực tế ghi nhận của phóng viên VietnamPlus, những vụ việc nêu trên cũng mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm với hàng loạt “siêu, đại” dự án sai phạm đã góp phần lấp lấn biển, “tận diệt” tài nguyên thiên nhiên và làm méo mó quy hoạch, biến dạng đô thị, cần phải đưa ra để xử lý.

Và mặc dù vẫn còn có những vụ việc chưa đi tới hồi kết đang chờ hướng xử lý cuối cùng, nhưng việc kỷ luật nhiều quan chức cao cấp có sai phạm trong việc quản lý, xây dựng, sử dụng đất trong vài năm trở lại đây là chỉ dấu cho thấy có nhiều hy vọng cho việc ngăn chặn tiêu cực trong tham nhũng làm tổn hại đến lợi ích dân tộc.

“Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân. Đây là bài học sâu sắc, bài học đắt giá cho tất cả chúng ta,” Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn chia sẻ.

Nói về những cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật từ đầu nhiệm kỳ, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn chia sẻ: “Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân. Đây là bài học sâu sắc, bài học đắt giá cho tất cả chúng ta.”

Lời chia sẻ của người đứng đầu đất nước càng trở nên thấm thía và chắc chắn “cuộc chiến chống tham nhũng” sẽ còn diễn ra như kỳ vọng của nhân dân.

Lời chia sẻ của người đứng đầu đất nước càng trở nên thấm thía và chắc chắn “cuộc chiến chống tham nhũng” sẽ còn diễn ra như kỳ vọng của nhân dân. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Lời chia sẻ của người đứng đầu đất nước càng trở nên thấm thía và chắc chắn “cuộc chiến chống tham nhũng” sẽ còn diễn ra như kỳ vọng của nhân dân. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Lòng dân ủng hộ, không bỏ ai ở lại phía sau…

“Xử lý cán bộ như thế đủ nghiêm chưa? Lần trước toàn nói là tắm từ vai xuống, giờ là từ đầu xuống. Lòng dân ủng hộ, đang làm rồi phải làm tiếp, không dừng lại. Cho nên tôi nói hình ảnh cả lò nóng lên, tất cả vào cuộc là thế,” chia sẻ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi tiếp xúc cử tri quận Ba Đình và quận Tây Hồ (Hà Nội) trước kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, ngày 12/10/2017 đã tiếp thêm niềm tin cho cử tri và nhân dân cả nước trong công cuộc chống tham nhũng.

Mới đây, trong cuộc chiến chống lại COVID-19, tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi càng sáng rõ hơn bởi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trí, sức mạnh của “ý Đảng, lòng dân.” Cũng nhờ tinh thần đó, Việt Nam đã vượt qua khó khăn, chiến thắng được đại dịch.

Những cán bộ tham nhũng liên quan đến đất đai, quy hoạch xây dựng, tài nguyên quốc gia cho tới thiết bị y tế phòng chống dịch COVID-19 cũng đã bị đưa vào “lò chống tham nhũng” xử lý.

Tuy nhiên, bên cạnh việc xử lý cán bộ, người dân cũng mong chờ sự công bằng về quyền lợi của chính mình, bởi nhiều vụ án vẫn chưa thấy hướng xử lý khắc phục hậu quả, đền bù thiệt hại mà người dân bị ảnh hưởng.

Đơn cử như sai phạm của loạt dự án nhà ở do Tập đoàn Mường Thanh xây dựng ở Hà Nội, khiến hàng vạn hộ dân đến nay vẫn chưa có sổ đỏ. Nhiều cử tri cho rằng sai phạm thuộc về chủ đầu tư và các cơ quan liên quan đến việc quản lý, cấp phép.

Vì thế, nếu buộc công trình phải khắc phục, cắt ngọn thì việc giải quyết đền bù cho người dân ra sao, cơ chế nào để giúp người dân đã bỏ tiền tỷ ra mua nhà có được quyền sở hữu chính đáng tài sản của mình?

Hay như “siêu dự án” Khu đô thị mới Thủ Thiêm, do chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh điều chỉnh quy hoạch trái với quy hoạch tổng thể đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, khiến 160ha đất tái định cư bị bỏ ra ngoài quy hoạch chung 1/5.000 và đưa 80ha đô thị chỉnh trang (trong đó có diện tích đất của người dân) nằm ngoài ranh giao đất của Chính phủ vào quy hoạch 1/5.000 đẩy trăm người dân mất đất, mất chỗ ở và phải đi khiếu nại tới gần 20 năm… cách nào để khắc phục hậu quả, đền bù cho họ?

Chia sẻ với phóng viên VietnamPlus, ông Nguyễn Tấn Cứu-một trong số hơn 100 người dân bị mất đất vì “siêu dự án” Khu đô thị mới Thủ Thiêm cho rằng: “Chúng tôi đã khiếu nại gần 20 năm qua, chưa có cơ quan nào dám lên tiếng, nhưng lần này Đảng, Nhà nước đã đưa công khai tên họ ông Lê Thanh Hải và những người liên quan ra ánh sáng với các mức án kỷ luật. Người dân chúng tôi rất mừng vì Đảng, Nhà nước đã thấu hiểu lòng dân. Tuy nhiên đó là mặt xử lý Đảng thôi, còn về mặt khắc phục hậu quả thì chính quyền chưa nói tới.”

“Chúng tôi mong các cấp lãnh đạo yêu cầu những người đã sai phạm thì phải khắc phục hậu quả,” bà Nguyễn Thị Tám.

Có chung nỗi đau mất đất, mất nhà, bà Nguyễn Thị Tám cho hay: “Bây giờ hướng xử lý của Đảng đã rõ ràng, những người vi phạm cũng đã bị xử lý. Tuy nhiên, quyền lợi của chúng tôi đến nay vẫn chưa được giải quyết.

Vì vậy, chúng tôi mong các cấp lãnh đạo yêu cầu những người đã sai phạm thì phải khắc phục hậu quả, để quyền lợi của người dân chúng tôi được giải quyết thỏa đáng” và “không ai bị bỏ lại phía sau,” bởi vì sai phạm của một số cán bộ, lãnh đạo./.

Nhân dân cả nước kỳ vọng sẽ xử lý dứt điểm các “siêu, đại” dự án sai phạm, lấy lại niềm tin nhân dân. (Ảnh: CTV)
Nhân dân cả nước kỳ vọng sẽ xử lý dứt điểm các “siêu, đại” dự án sai phạm, lấy lại niềm tin nhân dân. (Ảnh: CTV)