Thử nghiệm lâm sàng vắcxin ngừa COVID-19 do Việt Nam sản xuất

Một năm qua, đại dịch COVID-19 như một “cơn ác mộng” đối với toàn thế giới. Đến nay dịch bệnh này đã có hơn 74 triệu người mắc bệnh, trong đó có hơn 1,6 triệu người đã tử vong.

Nhiều nước trên thế giới bắt tay ngay vào công cuộc nghiên cứu vắcxin ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Trong thời gian qua ngành y tế Việt Nam đã khởi động toàn bộ hệ thống nghiên cứu để nghiên cứu sản xuất vắcxin, trong đó có 4 nhà sản xuất đã tham gia triển khai, với sự tham gia của các chuyên gia quốc tế cũng như các nhà khoa học trong nước.

Trong thời gian qua ngành y tế Việt Nam đã khởi động toàn bộ hệ thống nghiên cứu để nghiên cứu sản xuất vắcxin.

Sáng 17/12, Học viện Quân y bắt đầu tiêm thử nghiệm mũi vắcxin ngừa COVID-19 của Việt Nam với tên gọi Nano Covax trên người tình nguyện ở giai đoạn 1. Đây là giai đoạn 1 của chương trình thử nghiệm lâm sàng vắcxin Nano Covax.

(Ảnh: Hiếu Hoàng/Vietnam+)
(Ảnh: Hiếu Hoàng/Vietnam+)

Xung quanh vấn đề này, giáo sư Đỗ Quyết – Giám đốc Học viện Quân y, Chủ nhiệm của chương trình nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng vắcxin ngừa COVID-19 đã có những chia sẻ với báo chí.

– Thưa giáo sư, ông có thể cho biết, chương trình thử nghiệm lâm sàng vắcxin ngừa COVID-19 do Việt Nam sản xuất đã được chuẩn bị như thế nào?

Giáo sư Đỗ Quyết: Để có quyết định trên, Hội đồng Y đức của Bộ Y tế gồm các chuyên gia trong cả nước đã họp và thông qua hai khâu quan trọng: Thử nghiệm tiền lâm sàng sau khi Công ty Nanogen đã thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật. Hội đồng đã kết luận công tác thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật đạt yêu cầu và triển khai sang bước thử nghiệm lâm sàng trên người.

Mốc thử nghiệm tiền lâm sàng trên người được Hội đồng Y đức của Bộ Y tế thông qua rất quan trọng.

Bởi vậy, theo đúng kế hoạch, đúng chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Y tế, Học viện Quân y và Công ty Nanogen đã khởi động chương trình thu tuyển các đối tượng tình nguyện và trên cơ sở thu tuyển những người tình nguyện đến tiêm.

Giáo sư Đỗ Quyết nói về chương trình thử nghiệm lâm sàng vắcxin Nano Covax:

– Đây là một hoạt động nghiên cứu có thể đánh giá được triển khai rất nhanh. Vậy chúng ta chuẩn bị cơ sở vật chất như thế nào thưa giáo sư?

Giáo sư Đỗ Quyết: Về cơ sở vật chất và trang thiết bị để thử nghiệm lâm sàng, Học viện Quân y đã sẵn sàng đảm bảo các tiêu chuẩn được Bộ Y tế quy định và các đoàn kiểm tra của Cục Khoa học công nghệ đào tạo của Bộ Y tế xác nhận đủ điều kiện.

(Ảnh: PV/Vietnam+)
(Ảnh: PV/Vietnam+)

Cụ thể, chúng tôi đã chuẩn bị khu riêng để tiêm, theo dõi và sẵn sàng cấp cứu. Đến nay, mọi phương tiện chuẩn bị, nguồn lực và nhân lực đã sẵn sàng.

Học viện Quân y đã chuẩn bị khu riêng để tiêm, theo dõi và sẵn sàng cấp cứu. Đến nay, mọi phương tiện chuẩn bị, nguồn lực và nhân lực đã sẵn sàng.

– Giáo sư có thể cho biết đợt 1 dự kiến tuyển chọn và tiêm thử nghiệm trên bao nhiêu người và công tác theo dõi như thế nào?

Giáo sư Đỗ Quyết: Chúng tôi sẽ chia ra giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Giai đoạn 1 chủ yếu là dò liều, đánh giá tính an toàn, một phần liên quan tới hiệu quả của đáp ứng miễn dịch. Giai đoạn 2 làm nhiều hơn và chúng ta sẽ tiếp tục đánh giá tính an toàn. Thời điểm đó sẽ tính toán nhiều hơn về tính đáp ứng miễn dịch, tức khả năng phòng vệ của cơ thể khi nhiễm Sars-CoV-2.

Với giai đoạn 1 và mục tiêu như thế, chúng tôi tuyển chọn 60 người tình nguyện, chia ra làm 3 nhóm, mỗi nhóm tương ứng với liều từ thấp đến cao: 25mcg, 50mcg và 75mcg.

(Ảnh: Hiếu Hoàng/Vietnam+)
(Ảnh: Hiếu Hoàng/Vietnam+)

Theo kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng thì 3 liều đó đều có đáp ứng. Để an toàn cho người bệnh, cho các đối tượng tham gia, chúng tôi chọn lựa liều từ thấp đến cao. Mỗi liều tiêm cách nhau 28 ngày.

– Trong chương trình thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 vắcxin phòng COVID-19 trên người do Việt Nam sản xuất, yếu tố nào được đặt lên hàng đầu?

Giáo sư Đỗ Quyết: Đó là an toàn. Việc đầu tiên là phải xác định tính an toàn cho những đối tham gia, vì vậy công tác chuẩn bị, tuyển chọn, thăm khám sức khỏe để có chỉ định là rất quan trọng.

Sau khi tiêm cho những người tình nguyện, chúng tôi sẽ có những theo dõi và sẵn sàng xử lý, đáp ứng các tình huống đảm bảo an toàn nhất cho người tham gia.

Sau khi tiêm cho những người tình nguyện, chúng tôi sẽ có những theo dõi và sẵn sàng xử lý, đáp ứng các tình huống đảm bảo an toàn nhất cho người tham gia.

– Giả sử có tình huống nếu như vắcxin không an toàn, người thử nghiệm không đảm bảo có triển khai giai đoạn tiếp theo không thưa ông?

Giáo sư Đỗ Quyết: Với tư cách là Chủ nhiệm của chương trình nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tôi khẳng định nếu không an toàn chúng tôi sẽ dừng lại, không làm nữa.

– Vậy nếu như chương trình thử nghiệm lâm sàng vắcxin Nano Covax trên người triển khai tốt đẹp thì đến bao giờ vắcxin này được đưa ra thị trường?

Giáo sư Đỗ Quyết: Nếu như mọi chuyện đúng như dự kiến, thì đến tháng 2/2021 sẽ kết thúc giai đoạn 1,2 và tiếp theo là giai đoạn 3. Giai đoạn 3 có đông người thử nghiệm hơn nên đòi hỏi số lượng người đông hơn và nếu thành công thì vắcxin sẽ được sử dụng vào cuối năm 2021.

Như vậy, là mất khoảng 1 năm cho công tác thử nghiệm lâm sàng, so với thế giới thì Việt Nam đã triển khai khá nhanh. Chúng tôi vẫn lưu ý rằng nhanh nhưng phải đảm bảo an toàn, đặt an toàn phải là số 1. Chúng ta không đổi bất cứ thứ gì với sự an toàn, chúng ta đặt sự an toàn của người dân lên hàng đầu. Bởi sau này tiêm cho cộng đồng với số lượng rất đông…

Tuy nhiên, tôi vẫn nhắc thông điệp là trước khi có vắcxin và trên thế giới kể cả trong trường hợp có vắcxin để tiêm thì người dân vẫn cần tuân thủ theo hướng dẫn về y tế và đặc biệt là cách ly và thông điệp 5K hiện nay phải luôn được nêu cao. Đây là phương pháp chủ động phòng bệnh rất tốt.

– Xin trân trọng cảm ơn giáo sư!./.

Quân đội – Thành trì vững chắc trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

“Thế trận lòng dân” là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, khát vọng độc lập tự do, ý chí đấu tranh của dân tộc được khơi dậy, phát huy, tạo thành nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh của cả dân tộc để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng, an ninh trong từng giai đoạn.

Trải qua 76 năm xây dựng, trưởng thành,phát triển, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy “thế trận lòng dân,” khẳng định vai trò của một trong những sức mạnh nội sinh – nền tảng tạo nên thành trì vững chắc trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

76 năm xây dựng, trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng đồng thời là quá trình xây dựng, củng cố và phát huy “thế trận lòng dân,” khẳng định vai trò của một trong những sức mạnh nội sinh – nền tảng tạo nên thành trì vững chắc trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn dân

“Thế trận lòng dân” là vấn đề khách quan, có tính quy luật trong truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” là một trong những yếu tố góp phần thể hiện tư tưởng xuyên suốt “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Quân và dân Thủ đô đào hào chiến đấu trong những ngày Toàn quốc kháng chiến (12/1946). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Quân và dân Thủ đô đào hào chiến đấu trong những ngày Toàn quốc kháng chiến (12/1946). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt. Nhiệm vụ của nền quốc phòng không chỉ là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mà còn phải bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 đã thể hiện rõ: “Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân,” biểu hiện ở lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, sự đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới về chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vào khả năng và sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh vô địch của nhân dân và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.”

Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)


Chiến sỹ đảo Trường Sa thường xuyên nâng cao cảnh giác, ngày đêm tuần tra bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là xây dựng cả lực lượng và thế trận; xây dựng tiềm lực mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực chính trị-tinh thần; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và hệ thống chính trị vững mạnh, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc.

Cơ sở quan trọng nhất tạo nên sức mạnh quốc phòng Việt Nam là sức mạnh chính trị-tinh thần, sức mạnh của lòng dân, khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, quân với dân; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, đoàn kết, thống nhất của Đảng.

Nội dung tại mục “Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” trong dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nêu rõ: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.”

So với Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII, dự thảo Báo cáo Chính trị lần này không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề xây dựng thế trận lòng dân mà còn bổ sung thêm vấn đề phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân.

Việc khẳng định phải xây dựng, phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân không chỉ thống nhất với quan điểm của Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử; phù hợp với truyền thống, kinh nghiệm của ông cha ta trong công cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước mà còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ

Chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh toàn dân để xây dựng quốc phòng là luận điểm cách mạng, khoa học quan trọng trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bộ đội biên phòng Lai Châu giúp người dân La Hủ xây dựng nhà mới. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)
Bộ đội biên phòng Lai Châu giúp người dân La Hủ xây dựng nhà mới. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)

Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quan tâm đến nguyện vọng chính đáng của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong “xây dựng thế trận lòng dân,” tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, giúp nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là ở các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh; giữ vững bản chất, truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ; tăng cường mối quan hệ mật thiết quân-dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Dân vận: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” và quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã cụ thể hóa các nghị quyết, chương trình…, chỉ đạo toàn quân thực hiện công tác dân vận luôn hướng về cơ sở, chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo.

Hình thức dân vận thường xuyên được đổi mới đa dạng, phong phú, xây dựng được nhiều mô hình sáng tạo, hoạt động hiệu quả, nhất là mô hình hành quân dã ngoại làm công tác dân vận.

Tặng quà cho các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các em học sinh nghèo vượt khó trên địa bàn xã Phiêng Khoài (Sơn La) tại tại chương trình Xuân biên cương, Tết quân dân. (Ảnh: Diệp Anh/TTXVN)
Tặng quà cho các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các em học sinh nghèo vượt khó trên địa bàn xã Phiêng Khoài (Sơn La) tại tại chương trình Xuân biên cương, Tết quân dân. (Ảnh: Diệp Anh/TTXVN)

Là một trong những lực lượng đi đầu trong thực hiện công tác dân vận của Quân đội, với nhiệm vụ đặc thù đứng chân trên những địa bàn vùng sâu, vùng xa, Bộ đội Biên phòng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc nơi biên giới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Với phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt,” cán bộ, chiến sỹ Biên phòng đã kiên trì thực hiện “ba bám”: bám đơn vị, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách và “bốn cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc.

Các phong trào thi đua yêu nước, các mô hình, chương trình tiêu biểu như: “Bộ đội Biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới,” “Nâng bước em tới trường,” “Hãy làm sạch biển,” Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”… được thực hiện tốt, đem lại nhiều kết quả tích cực.

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từng khẳng định: “Trong mỗi bước phát triển, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội đều có sự giúp đỡ, bao bọc, chở che của nhân dân. Càng trong khó khăn, gian khổ, tình quân dân càng thêm gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi, đồng cam, cộng khổ. Vì vậy, tiến hành công tác dân vận, không chỉ là nhiệm vụ của Quân đội thực hiện chức năng “đội quân công tác” mà còn là tình cảm, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ đối với sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, che chở của nhân dân trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành và chiến đấu của Quân đội; phản ánh bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam.”

Trước những diễn biến khó lường của đại dịch COVID-19, Quân đội là một trong những lực lượng trên tuyến đầu phòng, chống dịch, với hàng nghìn tổ, chốt Biên phòng duy trì những lá chắn nơi biên cương.

Lực lượng Quân y ngày đêm nỗ lực tham gia nghiên cứu sinh phẩm xét nghiệm virus SARS-CoV-2 và vắcxin ngừa COVID-19. Giữa tâm dịch, lực lượng Bộ đội Hóa học đã kịp thời có mặt, đảm bảo thực hiện công tác tiêu tẩy, khử trùng ở những ổ dịch, hạn chế mức thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng.

Lực lượng phòng hóa học, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 (Hải Phòng) chuẩn bị cho công tác phun hóa chất khử trùng tiêu độc trên các tuyến đường chính của thành phố Hải Phòng để phòng chống dịch COVID-19. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Lực lượng phòng hóa học, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 (Hải Phòng) chuẩn bị cho công tác phun hóa chất khử trùng tiêu độc trên các tuyến đường chính của thành phố Hải Phòng để phòng chống dịch COVID-19. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Với nhiệm vụ tiếp nhận, tổ chức cách ly y tế đối với người nhập cảnh từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có dịch COVID-19 vào Việt Nam, trên khắp đất nước, các đơn vị của Quân đội được huy động trở thành những khu cách ly an toàn. Quân đội kiện toàn và sẵn sàng triển khai hàng trăm tổ cơ động phòng, chống dịch từ các bệnh xá quân y và đội y học dự phòng của các quân khu, quân đoàn…

Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, trước sự tàn phá khốc liệt của thiên tai, lũ lụt trên địa bàn các tỉnh miền Trung, gây nên thiệt hại lớn về tính mạng, tài sản của nhân dân, để lại hậu quả nặng nề đối với mọi mặt của đời sống xã hội, cán bộ, chiến sỹ Quân đội đã không ngại gian khổ, kịp thời có mặt ở những nơi khó khăn nhất, hiểm nguy nhất để tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn.

Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ. Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng – đội quân tuyệt đối trung thành, tin cậy, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân đã góp phần làm ngời sáng thêm phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ,” bộ đội của dân.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, Quân đội đã xây dựng “thế trận lòng dân” từ chính sự gắn bó mật thiết với nhân dân, từ hình ảnh người chiến sỹ cứu hộ cứu nạn trong gian khó, hiểm nguy; người chiến sỹ trên tuyến đầu chống dịch; những người lính quân hàm xanh ngày đêm canh giữ các điểm chốt biên cương; người chiến sỹ mũ nồi xanh tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc…, cũng như biết bao cống hiến lặng thầm của tất cả những người lính trên khắp đất nước này, đang từng ngày, từng giờ đóng góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, khắc họa rõ nét phẩm chất, bản lĩnh của Bộ đội Cụ Hồ Việt Nam, ghi dấu ấn trong lòng nhân dân và lan tỏa hình ảnh đẹp ra thế giới./.

Các nữ bác sỹ Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 1 lên đường sang nhận nhiệm vụ tại Nam Sudan, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (15/10/2018). (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)
Các nữ bác sỹ Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 1 lên đường sang nhận nhiệm vụ tại Nam Sudan, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (15/10/2018). (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)

Người ‘săn’ hình ảnh

Gần tới Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12, Đại tá Trần Hồng càng bận rộn với những cuộc họp mặt, lễ kỷ niệm và các sự kiện của ngành. Cả là năm nay, ông tất bật chuẩn bị cho phòng trưng bày 103 bức ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Khu Công nghiệp Nam Cầu Kiền, thành phố Hải Phòng.

Ông tự tay đi phóng ảnh, giám sát quá trình xử lý, gửi ảnh về Hải Phòng rồi khảo sát quá trình tổ chức. Ông đã xuất bản 4 cuốn sách ảnh và tổ chức nhiều triển lãm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đối với ông, “hạnh phúc nhất cuộc đời là được cầm máy ảnh” và “may mắn nhất trong đời là được chụp rất nhiều ảnh về Đại tướng.”

Gác lại công việc còn bộn bề, đại tá, nhà báo, nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Hồng niềm nở tiếp khách vào một ngày đông giá rét. Ở cái tuổi ngoại thất thập, ông vẫn còn rất tinh anh. Những câu chuyện của ông đem lại cho người đối diện thật nhiều cảm xúc về một thời gian khó để có những tấm hình tư liệu quý giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sinh năm 1947 tại Hà Tĩnh, đại tá Trần Hồng tốt nghiệp khóa 1 (1969-1973) trường Tuyên huấn Trung ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Ông cũng là chiến sỹ Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn.

Trở thành phóng viên ảnh báo Quân đội Nhân dân từ năm 1973, cùng năm, lần đầu tiên ông được giao nhiệm vụ chụp ảnh người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam từ phía xa.

Trở thành phóng viên ảnh báo Quân đội Nhân dân từ năm 1973, cùng năm, lần đầu tiên ông được giao nhiệm vụ chụp ảnh người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam từ phía xa.

“Những cú bấm máy lúc ấy phải tính toán kỹ lưỡng, không được phép sai sót vì máy ảnh và phim là hai thứ rất quý, không thể lãng phí và sử dụng tùy tiện. Tôi còn nhớ, khi đi thực tập, mỗi người chỉ được phép chụp 5 tấm thôi,” ông kể lại.

Tới tháng 10/1994, nhà báo Trần Hồng được tiếp cận gần gũi với Đại tướng. Khi ấy, ông đến nhà riêng của Đại tướng xin được chụp ảnh, song không thuyết phục được người thư ký. Trần Hồng buồn bã, định ra về thì Đại tướng xuất hiện và bảo “cứ để cậu ấy vào.”

Người thư ký không hề biết phía sau cánh cửa Trần Hồng và Đại tướng đã trò chuyện những gì, chỉ biết rằng, 5 giờ sáng hôm sau, người phóng viên ảnh gầy gò ấy lại đến nhà Đại tướng ở cho đến 9 giờ tối mới về. Kết quả, Trần Hồng đã có được thiên phóng sự “Một ngày với Đại tướng” mà ông vô cùng tâm đắc.

Đại tá Trần Hồng kể, rất nhiều người khi gặp ông đã đặt câu hỏi, vì cớ gì mà ông lại được may mắn chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều đến thế? Vì cớ gì ông lại được Đại tướng lựa chọn, cho phép ông có thể đến gặp và chụp ảnh Đại tướng bất cứ lúc nào…? Rồi ông bảo, đó là một câu hỏi khó, không dễ trả lời, có lẽ đó là vì một cơ duyên nào đó…

Có lần, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng hỏi ông: “Trần Hồng ơi, sao cậu chụp ảnh tớ nhiều thế?” Trần Hồng trả lời: “Thế sao Đại tướng lại cho em chụp ảnh nhiều như vậy?” “Lúc đó, khi nghe xong câu nói của tôi, Đại tướng chỉ cười, một nụ cười hiền mà tôi không bao giờ quên được,” đại tá Trần Hồng nhớ lại.

Ông tự nhận mình là người chụp ảnh không giỏi, chỉ trung bình. Ngay cả máy ảnh ông sử dụng, ông cũng bảo, nó chỉ thuộc loại “xoàng” chứ không “xịn” như của nhiều nhiếp ảnh gia khác. Bởi thế, với ông, việc được chụp ảnh Đại tướng nhiều có lẽ chỉ nhờ một chữ “nhân duyên.”

Là người có vinh dự được chụp ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong nhiều năm, đại tá, nhà báo Trần Hồng đã lưu giữ lại cho thế hệ mai sau những hình ảnh độc đáo, rất đời thường, dung dị.

Lần tiếp xúc mà Trần Hồng nhớ nhất chính là một ngày ở nhà Đại tướng. Câu chuyện bắt đầu từ khi vị tướng tài ba tập thể dục và ngồi thiền buổi sáng. Đại tướng biết Trần Hồng đang say sưa chụp ảnh, nên ông cũng tập lâu hơn thường ngày nhằm tạo điều kiện cho chàng phóng viên trẻ tác nghiệp ở những góc độ khác nhau. Xong xuôi, Đại tướng cười hiền: “Hôm nay có cậu chụp nên tôi tập nhiều hơn thường ngày, có hơi mệt đấy.”

Đến bữa, Trần Hồng xúc động khi thấy mâm cơm của Đại tướng và phu nhân Đặng Bích Hà trong ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu có một đĩa muối, một đĩa rau và hai quả trứng. Ông kể lại: “Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh hai quả trứng cứ lăn qua lăn lại. Đại tướng nói: ‘Em ăn đi! Cứ gắp cho anh nhiều thế?’ Tôi nghe được trọn vẹn giọng nói thương yêu, trìu mến, nhanh tay bấm được bức ảnh rồi mắt chớp lệ nhòa.”

Hôm đó, rất nhiều lần tay của người phóng viên ảnh run lên bởi mỗi khi giơ máy lên là cảm xúc trào dâng. Nhiều lúc Trần Hồng run rẩy, không bình tĩnh được bởi ông được tận mắt nhìn thấy một vị Đại tướng làm quân thù khiếp vía nhưng rất đỗi bình dị, gần gũi trong cuộc sống đời thường.

Nhiều lúc Trần Hồng run rẩy, không bình tĩnh được bởi ông được tận mắt nhìn thấy một vị Đại tướng làm quân thù khiếp vía nhưng rất đỗi bình dị, gần gũi trong cuộc sống đời thường.

Bên cạnh bộ ảnh đời thường, Trần Hồng còn có những bộ ảnh “độc” khi Đại tướng đi công tác Cao Bằng, về thăm chiến trường Điện Biên, Đại tướng với bạn bè quốc tế và đặc biệt là khoảng thời gian 1.559 ngày Đại tướng nằm điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (từ năm 2009 cho đến năm 2013, khi Đại tướng mất). Suốt thời gian đó, đại tá Trần Hồng thường xuyên vào thăm Đại tướng trong bệnh viện, mang cho Đại tướng xem những bức ảnh ông đã chụp.

“Có một ngày, Đại tướng trông rất buồn, các cán bộ, bác sỹ chăm sóc đều cảm thấy lo lắng không hiểu vì sao, về sau mới hay rằng, ngày hôm đó, căn phòng được dọn dẹp, bài trí lại cho đẹp hơn nhưng bức ảnh chân dung hai vợ chồng Đại tướng thì chưa được treo về vị trí cũ, nơi mà từ giường bệnh, ông vẫn thuận tiện ngắm nhìn,” nhà báo Trần Hồng trầm ngâm kể lại.

Khi xem những bức ảnh Đại tá Trần Hồng chụp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã nhận xét Trần Hồng đã chụp những bức ảnh ở khoảng cách gần, với tâm thế như con ngắm cha, như cháu ngắm ông.

“Đó là cái nhìn của người thân trong một gia đình ấm cúng. Vì thế, Trần Hồng cho chúng ta nhiều bức ảnh có giá trị. Đặc biệt là giá trị tư liệu. Như bức ảnh ông chơi với cháu, ông bà dùng bữa cơm đạm bạc, rồi ông chơi đàn, ông tập thiền… Những hình ảnh đó cho chúng ta hiểu được, Võ Nguyên Giáp không chỉ là vị tướng huyền thoại, ông còn là một người cha chu đáo, một người ông hiền từ, một nghệ sỹ phiêu lãng…,” nhà thơ Trần Đăng Khoa đánh giá.

Nói về cảm xúc của mình khi được chụp ảnh về đại tướng, nhà báo Trần Hồng bảo rằng dù Đại tướng đã đi xa nhưng hình ảnh vị anh cả của quân đội vẫn luôn trong trái tim ông, rạng rỡ, tươi cười và luôn là tượng đài tinh thần vững chắc.

Bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những bà mẹ Việt Nam là chủ đề lớn mà nhiếp ảnh gia Trần Hồng đam mê theo đuổi trong suốt hơn 40 năm cầm máy.

Từng là một người lính bước ra từ chiến trường, nghệ sỹ nhiếp ảnh Trần Hồng hiểu được sự hy sinh, nỗi đau mất mát và nghị lực của các bà mẹ Việt Nam. Theo đuổi những bức hình đề tài “mẹ” từ khi biết cầm máy ảnh, ông đã ghi lại rất nhiều chân dung của những người mẹ Việt Nam, trong đó có các Mẹ Việt Nam Anh hùng, những người mẹ với nỗ lực vươn lên để thành công, hay đơn giản là một người phụ nữ bình thường với thiên chức cao quý – làm mẹ.

Theo đuổi những bức hình đề tài “mẹ” từ khi biết cầm máy ảnh, ông đã ghi lại rất nhiều chân dung của những người mẹ Việt Nam

Đại tá Trần Hồng chia sẻ: “Trải qua những cuộc chiến tranh, các bà mẹ Việt Nam đã phải chịu đựng vô vàn mất mát, đau khổ. Tôi đã đi khắp nơi, từ vùng này đến vùng khác, chụp bà mẹ này đến bà mẹ khác. Mỗi khi cầm máy, tôi lại nhớ đến mẹ của mình. Đó chính là nguyên nhân khiến tôi say mê theo đuổi từ khi ra trường năm 1973 cho đến nay và càng chụp càng cảm thấy hứng thú. Sự hy sinh cao cả, sự chịu đựng khổ đau hiện lên rất rõ trong ánh mắt.”

Năm 1992, Đại tướng đến dự triển lãm ảnh về các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng tại nhà triển lãm số 45 Tràng Tiền của Trần Hồng. Đại tướng thân tình hỏi: “86 bức ảnh chân dung Mẹ, Trần Hồng thích ảnh nào nhất?” Trần Hồng thẳng thắn đáp rằng ông thích cả 86 ảnh vì tất cả đều là tâm huyết của ông và ông sẽ chịu trách nhiệm đến cùng với thành quả lao động của mình. Câu trả lời giản dị nhưng khiến Đại tướng hài lòng. Đại tướng đã viết mấy chữ đề tặng triển lãm: “Những tấm ảnh (những bức tranh) như thơ, như nhạc. Qua những hình ảnh ghi lại, người xem rất xúc động với những tình cảm, những nỗi đau thương và những niềm vui. Qua những con mắt làm cho người xem nhớ mãi. Chúc Trần Hồng, người nghệ sỹ-chiến sỹ có nhiều tác phẩm lớn. (Ngày 23/12/1992. Ký tên: Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

Chính bởi vì đối với Trần Hồng, Đại tướng là một tượng đài, nên nhà báo-chiến sỹ Trần Hồng rất tự nhiên đã tiếp thu được tinh thần và nhân cách của Đại tướng từ những việc nhỏ nhất.

Trong suốt những lần cầm máy đi theo Đại tướng, Trần Hồng hiểu rằng Đại tướng là con người thẳng thắn, ghét dối trá, nên ông luôn tâm niệm rằng “nghề báo phải đi đến tận cùng sự thật” và “sự thật là chân lý, là sức thuyết phục mạnh nhất.”

Khi được hỏi rằng ông có lời khuyên nào cho những tay máy trẻ, Trần Hồng cũng vẫn lặp lại điều này. “Bạn chỉ có một giây để ghi lấy sự thật trong khoảnh khắc, cho nên bức ảnh phải làm sao cho thật ‘đắt.’ Ảnh báo chí tuyệt nhiên không khi nào được dùng kỹ xảo để chỉnh sửa ảnh, không được chắp ghép. Ảnh báo chí là sự thượng tôn đối với sự thật, không được lừa dối bạn đọc,” ông nói.

Ngoài ra, ông nhấn mạnh một điều là làm gì cũng cần sự đam mê. Bất kỳ việc gì, cứ có đam mê là đã thành công đến 50% rồi, nửa còn lại do may mắn hoặc các yếu tố khách quan khác.

“Nếu nói rằng tôi thành công ở mảng ảnh về Đại tướng, thì điều đó là nhờ tôi say mê chụp và chụp rất nhiều,” ông chia sẻ.

“Hãy sống với đam mê của mình, vì mỗi người đều có một sức ảnh hưởng nhất định trong cuộc đời này. Hãy lắng nghe tất cả những lời khen chê, đừng vì được tán dương mà để ‘trọng tâm rơi khỏi chân đế.’ Và, cuối cùng, hãy giữ sự hồn nhiên, dù ở độ tuổi nào,” ông nói.

Tạm biệt người lính già cả đời gắn mình với nhiếp ảnh khi phố đã lên đèn, tôi nhớ mãi những lời khuyên của ông. Đó cũng chính là cách sống của Trần Hồng: Tràn đầy năng lượng tích cực và nụ cười luôn thường trực trên môi./.

Những bệnh nhân thoát cửa tử

Năm 2020, đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi nhiều phương thức trong công tác khám chữa bệnh ở các bệnh viện.

Điển hình như trong tình hình dịch bệnh truyền nhiễm như COVID-19 trở thành mối quan ngại lớn với ngành y tế, bệnh nhân được phân luồng nên khám chữa bệnh tại tuyến dưới, tránh tình trạng vượt tuyến không cần thiết lên tuyến trên.

Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba (Hà Nội) từ đầu năm đến nay có rất nhiều trường hợp bệnh nhân ngừng tuần hoàn, ngừng tim, ngộ độc khí… được cứu sống kịp thời nhờ hệ thống báo động đỏ nội viện và liên viện.

Bệnh nhân thoát cửa tử

Ngày 7/11, bệnh nhân N.T.H 67 tuổi ở phường Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội nhập Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba trong tình trạng mặt tím tái, khó thở.

Khi được đưa tới viện, các bác sỹ chẩn đoán bệnh nhân bị ngộ độc khí gây kích ứng hô hấp. Bệnh nhân sau đó càng khó thở hơn.

Bác sỹ khám cho bệnh nhân tại đơn nguyên cấp cứu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Bác sỹ khám cho bệnh nhân tại đơn nguyên cấp cứu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Tiến sỹ Trần Thị Nguyệt Nga – Trưởng khoa Nội (Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba) cho hay bệnh nhân bị kích ứng, ngạt thở do khí của nước tẩy bồn cầu. Bệnh nhân vào viện trong tình trạng suy hô hấp nặng, sau đó được các bác sỹ đặt ống nội khí quản và bóp bóng hỗ trợ.

Có rất nhiều trường hợp bệnh nhân ngừng tuần hoàn, ngừng tim, ngộ độc khí… được cứu sống kịp thời nhờ hệ thống báo động đỏ nội viện và liên viện.

Ngay sau đó hệ thống báo động đỏ liên viện được kích hoạt. Các bác sỹ của Khoa Nội đã liên hệ với các bác sỹ của Trung tâm Chống độc (Bệnh viện Bạch Mai) hướng dẫn xử lý cấp cứu ngay cho bệnh nhân và chuyển tuyến. Sau 2 ngày điều trị tại Trung tâm Chống độc sức khỏe của bệnh nhân đã ổn định và được chuyển về tuyến dưới.

Bác sỹ khám, theo dõi cho bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Bác sỹ khám, theo dõi cho bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Bệnh nhân H. có tiền sử tăng huyết áp, mắc bệnh đái tháo đường điều trị thường xuyên.

Người nhà của bệnh nhân kể lại, bà H. bị ngộ độc khi đang cọ rửa bồn cầu, hít phải thuốc tẩy rửa bồn cầu.

Trước đó, vào tháng 5/2020, bệnh nhân H.M.H, 71 tuổi ở Hàng Gai, Hoàn Kiếm, Hà Nội bị đau ngực 5 ngày nhưng không đi khám vì sợ dịch COVID-19. Sau đó gia đình đưa bệnh nhân vào trong tình trạng mệt và được các bác sỹ chỉ định điện tim. Sau khi điện tim xong, các bác sỹ chỉ định làm thủ tục chuyển bệnh nhân sang Bệnh viện Tim Hà Nội. Khi điều dưỡng đang làm thủ tục chuyển thì bệnh nhân ngừng tim.

Ba quy trình báo động đỏ của bệnh viện được đẩy mạnh trong thời gian xảy ra dịch COVID-19.

Ngay lập tức, tua trực tiến hành cấp cứu cho bệnh nhân H., ép tim và bóp bóng, sốc tim suốt từ bệnh viện tới khi tới Bệnh viện Tim Hà Nội. Sau khi cấp cứu kịp thời, đến nay bệnh nhân đã ổn định.

Một trường hợp khác là bệnh nhân V.T.H, 73 tuổi ở Cửa Nam, Hoàn Kiếm, Hà Nội là trường hợp mắc bệnh tiểu đường. Khi nhập viện, bệnh nhân trong tình trạng lả người, đi lại khó khăn phải có người dìu vào. Khi bệnh nhân được đưa vào giường nằm thì ngừng tuần hoàn.

Các bác sỹ Khoa Nội tiến hành ép tim, bóp bóng, tiêm Adrenalin. Sau đó các bác sỹ Khoa gây mê hồi sức hỗ trợ đặt nội khí quản. Sau cấp cứu, bệnh nhân được chuyển tới Bệnh viện Tim Hà Nội điều trị kịp thời đến nay sức khoẻ vẫn ổn định.

Tiến sỹ Trần Thị Nguyệt Nga - Trưởng khoa Nội (Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba). (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Tiến sỹ Trần Thị Nguyệt Nga – Trưởng khoa Nội (Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba). (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Hoàn thiện hệ thống báo động đỏ

Tiến sỹ Trần Thị Nguyệt Nga cho biết tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba quy trình báo động đỏ của bệnh viện được đẩy mạnh trong thời gian xảy ra dịch COVID-19. Những ca bệnh được cứu sống kịp thời trong các tháng qua đã chứng minh việc tổ chức cấp cứu thông qua hệ thống này hiệu quả, thuận lợi cho nhiều bệnh nhân nặng. Có bệnh nhân ngừng tim, nhồi máu cơ tim cấp được bệnh viện kích hoạt hệ thống báo động đỏ kịp thời để cứu sống bệnh nhân.

Theo tiến sỹ Trần Thị Nguyệt Nga, hệ thống báo động đỏ nội viện và ngoại viện được đẩy mạnh đồng thời với nhau. Với bệnh nhân nội viện, bất kỳ trường hợp nào ở các khoa khác khi có bệnh nhân có sốc phản vệ gọi hệ thống báo động đỏ trong đó có danh sách của lãnh đạo khoa và bác sỹ có trình độ, năng lực cấp cứu, đơn nguyên cấp cứu của khoa nội là chủ đạo, kết hợp với khoa gây mê hồi sức hỗ trợ các khoa lâm sàng có những tình huống bệnh nhân nặng khi đến sẽ cùng nhau phối hợp để xử lý cấp cứu. Khi bệnh nhân ổn và không có nguy cấp sẽ duy trì điều trị tiếp.

Số lượng bệnh nhân năm nay được cấp cứu thông qua hệ thống báo động đỏ nội viện và liên viện nhiều và thành công hơn.

Đối với hệ thống báo động đỏ ngoại viện, tại bệnh viện có danh sách khoa cấp cứu của các bệnh viện như: Thanh Nhàn, Xanhpôn, Bạch Mai, Viện Tim Hà Nội. Khi có bệnh nhân nguy cấp cần chuyển viện, các bác sỹ sẽ liên hệ, tuyến trên hỗ trợ kịp thời. Hệ thống báo động đỏ nội viện đang hoạt động tốt, mỗi một khu có 1 valy cấp cứu nâng cao để trang bị kịp thời các thiết bị cấp cứu.

“Số lượng bệnh nhân năm nay được cấp cứu thông qua hệ thống báo động đỏ nội viện và liên viện nhiều và thành công hơn. Đó là những kỳ tích đáng tự hào. Từ những ca cấp cứu thành công đó, chúng tôi tiến hành rút kinh nghiệm ở khoa và ở bệnh viện để hoàn thiện hơn các quy trình, phác đồ cấp cứu tiếp theo,” bác sỹ Nga chỉ rõ.

Hệ thống báo động đỏ của bệnh viện ngày càng hoàn thiện hơn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Hệ thống báo động đỏ của bệnh viện ngày càng hoàn thiện hơn. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Tiến sỹ Nguyễn Đình Phúc – Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba cho hay trong những năm gần đây, hệ thống báo động đỏ của bệnh viện ngày càng hoàn thiện hơn và dần phát huy hiệu quả. Khi bệnh nhân đến viện được các bác sỹ khám sàng lọc và chẩn đoán nhanh, trong trường hợp cần chuyển tuyến sẽ được các bác sỹ liên hệ chuyển tuyến kịp thời, tránh tình trạng bệnh nhân vượt tuyến không cần thiết.

Đặc biệt, để nâng cao hiệu quả của hệ thống báo động đỏ, bệnh viện đã triển khai nhiều lớp tập huấn đặc biệt là cấp cứu ngừng tuần hoàn hô hấp, cấp cứu phản vệ để bất kỳ nhân viên y tế nào cũng xử lý được khi có tình huống xảy ra với người bệnh./.

Nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân, các bệnh viện đã đầu tư trang thiết bị, đào tạo và tăng cường nhân lực cả về số lượng và chất lượng, cải tạo cơ sở hạ tầng, phát triển nhiều lĩnh vực mũi nhọn về khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện, tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe…

Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cu Ba có hơn 100.000 người đăng ký khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại đây. Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 400 bệnh nhân tới khám và điều trị.

Phòng chống dịch COVID-19

Trong thời gian qua, các địa phương đã cố gắng để đưa cuộc sống trở lại bình thường nhưng từ nay tới cuối năm có nhiều sự kiện quan trọng của đất nước nên yêu cầu phòng, chống dịch cần phải cao hơn. Do đó, cần chuẩn bị tất cả các tình huống cho COVID-19.

Theo dự báo, dịch COVID-19 trong mùa Đông năm nay sẽ rất khốc liệt không chỉ với Việt Nam mà đối với tất cả các nước.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh như vậy khi phát biểu tại Hội nghị trực tuyến tăng cường công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới với 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương tại hơn 700 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã, do Bộ Y tế tổ chức sáng 24/11, tại Hà Nội.

Thường trực mối lo nhập cảnh trái phép

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết Việt Nam đã qua 83 ngày không ghi nhận ca mắc COVID-19 trong cộng đồng. Tuy nhiên, tình hình thế giới căng thẳng, sự lây nhiễm COVID-19 không có xu hướng chậm lại.

Những nghiên cứu, đánh giá cho thấy hệ số lây nhiễm không tăng nhưng số người nhiễm COVID-19 tại nhiều quốc gia lại tăng lên. Quần thể nhiễm ở các nước rất cao nên việc phòng chống khó hơn rất nhiều.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bộ trưởng Bộ Y tế chia sẻ mối lo lắng và khẳng định: “Nguy cơ nhiễm COVID-19 từ các nước vào Việt Nam là rất lớn và hiện hữu. Nếu đặt trong bối cảnh như vậy thì hệ thống y tế của chúng ta khó đáp ứng được nhu cầu điều trị COVID-19.”

Bộ trưởng Bộ Y tế dẫn chứng, chỉ riêng trong ngày 23/11, có khoảng 5.000 người nhập cảnh/xuất cảnh, trong đó có 77 trường hợp nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ở phía Bắc. Trong khi đó, tại các khu cách ly, dù Bộ Y tế đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nhưng vẫn có tình trạng lơ là, chểnh mảng trong giám sát, cách ly, đặc biệt là ở các khách sạn, lưu trú dân sự. Do đó, Bộ trưởng Long nhấn mạnh vai trò quản lý của các địa phương để việc quản lý cách ly được đảm bảo, chặt chẽ.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Mạnh - Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Thiếu tướng Nguyễn Đức Mạnh – Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng Nguyễn Đức Mạnh – Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng cho biết chuẩn bị tới Tết Nguyên đán nên nhu cầu thăm thân nhân của người dân khu vực biên giới rất lớn. Bên cạnh đó, đời sống của nhân dân ở vùng biên còn gặp nhiều khó khăn, thiếu việc làm, đặc biệt trong mùa nông nhàn. Vì nhu cầu mưu sinh, người dân tìm mọi cách để xuất nhập cảnh trái phép.

Đại diện Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng cũng nêu lên thực trạng, có người Trung Quốc hết visa nhập cảnh vào Việt Nam nhưng không về nước do sợ dịch COVID-19. Những đối tượng này làm giả giấy tờ để kéo dài thời gian lưu trú tại Việt Nam hoặc lưu trú bất hợp pháp tại khách sạn, khu nhà trọ…

Cần tổ chức chốt chặt, nghiêm tại các đường mòn, lối mở biên giới

Bên cạnh đó, tình trạng người Việt Nam nhập cảnh trái phép, trốn cách ly khi về nước cũng đang diễn biến phức tạp. Một số lao động ở Lào về không muốn cách ly nên nhập cảnh trái phép qua các đường mòn lối mở, một số lao động từ Brunei nhập cảnh trái phép về nước qua tuyến biển…

Các đối tượng liên lạc với nhau bằng sim rác sau đó thuê xe ôm, taxi để vận chuyển người trái phép. Đáng chú ý, một số đối tượng lẩn trong tàu hàng, tàu cá, container để vào Việt Nam.

Từ đầu năm tới nay, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã được duy trì trên 6.000 chốt đường mòn, lối mở và làm thủ tục cho hơn 2,7 triệu người nhập cảnh, phát hiện hơn 20.000 trường hợp nhập cảnh trái phép vào Việt Nam…

Xác định cuộc chiến chống COVID-19 còn lâu dài, tình trạng xuất nhập cảnh trái phép dự báo gia tăng, để đảm bảo cho lực lượng bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ, đại diện Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đề nghị Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp, ngành, thôn bản, xã phường tiếp tục tuyên truyền cho nhân dân địa bàn biên giới không xuất nhập cảnh trái phép và tiếp tay cho các hành vi vi phạm.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Mạnh cũng cho rằng cần tổ chức chốt chặt, nghiêm tại các đường mòn, lối mở biên giới, bởi theo Thiếu tướng Mạnh, về cơ bản các tỉnh hiện đã rút hế lực lượng về và cơ bản chỉ còn lực lượng biên phòng, nên công tác phòng, chống dịch cũng khó khăn…

Phương án bệnh viện chuyên điều trị COVID-19

Trong công tác điều trị, thạc sỹ Nguyễn Trọng Khoa – Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh cho biết, hiện nay có 61,5% ca không có biểu hiện lâm sàng, 21,2% ca có biểu hiện nhẹ; số bệnh nhân nặng 156 ca chiếm tỷ lệ 14,2%.

Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn một ca mắc/một triệu dân, nếu chúng ta gặp phải tình huống như Nga, Mỹ, Pháp có 30.000 ca mắc trong cùng thời điểm/1 triệu dân thì vô cùng khó khăn.

Thạc sỹ Nguyễn Trọng Khoa - Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Thạc sỹ Nguyễn Trọng Khoa – Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh. (Ảnh: PV/Vietnam+)

“Nếu Việt Nam chỉ cần có 3.000 ca mắc/một triệu dân, chúng ta đã không có cơ sở y tế nào điều trị nổi. Chúng ta cũng phải chuẩn bị sẵn lực lượng cán bộ y tế nội khoa để không bỡ ngỡ khi tham gia với các cơ sở điều trị khi thiết lập bệnh viện dã chiến,” ông Khoa nhấn mạnh.

Vì vậy, các địa phương hiện có trang bị hầu hết các máy thở chức năng cao. Tuy nhiên, thực tế cho thấy năng lực điều trị hiện nay còn hạn chế, chỉ có một số bệnh viện làm được kỹ thuật này, còn hầu hết huy động từ bệnh viện tuyến trên. Các địa phương phải tự mình lo cho chính mình, phục vụ bệnh nhân chính địa phương mình.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh dẫn chứng vụ dịch vừa qua tại Đà Nẵng chỉ có 1-2 địa điểm dịch nên cả nước dồn lực tập trung hỗ trợ. Nhưng với tình huống xấu có 10 địa phương như thế thì chúng ta không có khả năng hỗ trợ từ Trung ương và các địa phương khác.

Ông Khoa đề nghị các địa phương cần phải có phương án chuyển đổi từ bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thành bệnh viện chuyên điều trị COVID-19. Những bệnh viện này sẽ có hệ thống oxy hồi sức cấp cứu, hỗ trợ kiểm soát nhiễm khuẩn, tạo thông khí, dinh dưỡng cho người bệnh, xét nghiệm sinh hóa, vi sinh, cấy nấm.

Cần phải có phương án chuyển đổi từ bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thành bệnh viện chuyên điều trị COVID-19.

Đặc biệt, các địa phương ít nhất có 1-2 bệnh viện có phương án chuyển đổi thành bệnh viện điều trị COVID. Phải có phương án thiết lập một đơn vị dã chiến được xây dựng từ một cơ sở dân sự. Chẳng hạn như với 60% ca mắc không có triệu chứng chỉ cần cách ly điều trị tại ký túc xá hoặc cơ sở dân sự khác, có tổ y tế theo dõi.

Liên quan tới công tác xét nghiệm COVID-19, Bộ trưởng Bộ Y tế cho hay hiện nay, mỗi ngày Việt Nam thực hiện từ 3.800-4.000 mẫu. Con số này tăng gần gấp đôi so với thời điểm tháng 7. Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Long đánh giá, so với các trường hợp có triệu chứng cúm, viêm phổi nặng thì con số xét nghiệm này còn rất thấp, trong khi chúng ta có cơ chế, có bảo hiểm y tế chi trả.

Ông Long nhấn mạnh: “Bài học là phát hiện càng nhanh, dập dịch khoanh vùng càng nhanh. Trung Quốc xét nghiệm 4 triệu dân cho 1 thành phố là như vậy. Vì vậy, cần lưu ý phải đẩy nhanh tốc độ xét nghiệm nếu không thì sẽ có tình trạng lấy mẫu không kịp xét nghiệm như bài học từng xảy ra tại Hà Nội.

Hiện, các cơ sở y tế đang hoạt động trở lại gần như bình thường, đây cũng là một trong nguy cơ lây nhiễm COVID-19 cao. Theo ông Long, Bộ Y tế đã ban hành chỉ đạo để phòng, chống COVID-19 chặt chẽ tại các cơ sở y tế tuy nhiên, bên cạnh các bệnh viện thực hiện tốt thì vẫn còn một số bệnh viện còn lơ là, đặc biệt là khối tư nhân, bệnh viện tư nhân.

Ông Nguyễn Thanh Long cũng cảnh báo về việc giám sát COVID-19 ở thực phẩm nhập khẩu. Bộ Y tế đã yêu cầu thực phẩm đông lạnh từ nước có dịch phải được xét nghiệm COVID-19 vì khả năng sinh tồn ở thời gian dài. Do đó, Bộ trưởng Bộ Y tế yêu cầu phòng, chống dịch COVID-19 cần phải đẩy lên cao hơn, cần chuẩn bị tất cả các tình huống ứng phó với việc xuất hiện ca bệnh COVID-19 ở cộng đồng./.

Ghép thành công 2 cẳng tay cho bệnh nhân

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 công bố các bác sỹ của bệnh viện vừa thực hiện thành công lần thứ tư ca lấy, ghép đa mô tạng từ người cho chết não.

Từ một người chết não hiến đa tạng, hơn 150 y bác sỹ của bệnh viện lập 12 bàn mổ lấy và ghép tạng cho 6 bệnh nhân.

Đặc biệt, trong ca lấy ghép đa mô tạng lần này, các bác sỹ của Bệnh viện Trung ương Quân đội đã lần đầu tiên tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á tiến hành ghép thành công đồng thời 2 cẳng tay cho một bệnh nhân nam 18 tuổi.

Đau đáu một giấc mơ có đôi tay lành lặn

Ghép tạng là một trong những thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Nhờ có ghép tạng, đã có hàng chục nghìn bệnh nhân trên thế giới được cứu sống.

Việt Nam đang dần làm chủ được kỹ thuật lấy, ghép mô, tạng và đang đạt được nhiều thành tựu lớn trong lĩnh vực này.

Các ca lấy và ghép tạng được thực hiện vào ngày 16/9, đến nay sức khỏe những bệnh nhân nhận tạng đều ổn định mới được bệnh viện công bố.

Em lúc nào cũng đau đáu một giấc mơ: có đôi tay lành lặn để tự phục vụ cho bản thân mình và có được một cuộc sống bình thường giống như bao người khác

Người nhà của bệnh nhân được ghép 2 cẳng tay cho hay cách đây 3 năm, khi chưa đầy 15 tuổi, nam thanh niên bị tai nạn chất nổ khiến cả hai cẳng tay bị dập nát hoàn toàn. Cuộc sống của em kể từ đó gặp nhiều khó khăn.

Ca ghép thành công đồng thời 2 cẳng tay cho một bệnh nhân nam 18 tuổi. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Ca ghép thành công đồng thời 2 cẳng tay cho một bệnh nhân nam 18 tuổi. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Sau khi bị cắt cụt cả 2 cẳng tay, không những sinh hoạt hàng ngày của nam thanh niên trở nên vô cùng bất tiện, mà ngay cả giấc mơ được tiếp tục ngồi trên ghế nhà trường để học tập và trở thành người có ích cho xã hội cũng không còn nữa.

“Kể từ đó, trong em lúc nào cũng đau đáu một giấc mơ: có đôi tay lành lặn để tự phục vụ cho bản thân mình và có được một cuộc sống bình thường giống như bao người khác,” nam thanh niên chia sẻ.

Nam thanh niên bị cụt hai tay trước khi phẫu thuật. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Nam thanh niên bị cụt hai tay trước khi phẫu thuật. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Thật may mắn, giấc mơ ấy của nam thanh niên trên đã trở thành sự thật. Từ nghĩa cử hiến tặng vô cùng nhân văn và cao đẹp của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong ca hiến đa mô tạng này, em đã được phẫu thuật ghép thành công đồng thời cả 2 cẳng tay.

Đây là thành công xuất sắc tiếp theo trong lĩnh vực ghép chi thể của Việt Nam nói chung và tập thể y bác sỹ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 nói riêng sau thành công của ca ghép bàn tay đầu tiên trên thế giới lấy từ người cho sống đã được thực hiện thành công tại Bệnh viện vào tháng 1/2020.

Hơn 150 y bác sỹ vào cuộc

Ngày 16/9/2020, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thực hiện ca lấy, ghép đa mô tạng từ người cho chết não để cứu sống cho 6 bệnh nhân khác nhau.

Đó là ca ghép 2 phổi cho một bệnh nhân được chẩn đoán xơ phổi nguyên phát; ghép gan cho một bệnh nhân suy gan cấp trên nền xơ gan do nhiễm virus viêm gan B; ghép 2 thận cho 02 bệnh nhân bị suy thận mạn tính giai đoạn cuối; ghép đồng thời 2 cẳng bàn tay cho 1 bệnh nhân bị cụt cẳng tay cả 2 bên do tai nạn chất nổ.

Các bệnh nhân này đều được ghép tạng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Ngoài ra, Bệnh viện còn phối hợp với Trung tâm Điều phối Quốc gia tiến hành lấy và ghép tim cho 1 bệnh nhân bị viêm cơ tim thể dãn giai đoạn cuối tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

“Đây thực sự là một trận đánh lớn, có sự chỉ đạo, điều hành, phối hợp và tổ chức thực hiện rất chặt chẽ”

Sau 24 giờ chuẩn bị khẩn trương và trong suốt hơn 10 giờ tiến hành phẫu thuật, hơn 150 bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên, nhân viên của Bệnh viện viện Trung ương Quân đội 108 cùng với sự tham gia phối hợp chặt chẽ của Bệnh viện Phổi Trung ương thực hiện thành công ca lấy, ghép đa mô tạng thứ 4 tại Bệnh viện.

Giáo sư Mai Hồng Bàng – Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho hay: “Đây thực sự là một trận đánh lớn, có sự chỉ đạo, điều hành, phối hợp và tổ chức thực hiện rất chặt chẽ giữa các chuyên khoa trong Bệnh viện. Để thực hiện ca lấy ghép đa mô tạng này, 12 bàn mổ được phối hợp hoạt động đồng thời. Kết quả của các ca lấy, ghép đa mô tạng cho đến nay đều diễn biến rất thuận lợi.”

Bệnh nhân được ghép phổi là một người đàn ông 54 tuổi, được chẩn đoán xơ phổi nguyên phát từ 2 năm nay. Đây là loại bệnh lý gây xơ hóa phế nang và mô kẽ của phổi dẫn đến cơ thể bị thiếu oxy nghiêm trọng. Ghép phổi là cơ hội duy nhất để dành lại sự sống cho người bệnh.

Theo giáo sư Bàng, ghép phổi được đánh giá là một trong thách thức khó khăn trong lĩnh vực ghép tạng, kể cả với những nước có nền y học tiên tiến trên thế giới hiện nay.

Ca ghép gan từ người cho chết não lần này là ca ghép gan thứ 51 được thực hiện thành công tại Bệnh viện viện Trung ương Quân đội 108. Hiện nay, ghép gan đã trở thành phẫu thuật thường quy trong Bệnh viện mà đặc biệt là ghép gan lấy từ người cho sống.

Cho đến nay, Bệnh viện đã thực hiện thành công 14 ca ghép gan cấp cứu lấy từ người cho sống trong điều trị suy gan cấp.

Hơn 10 giờ tiến hành phẫu thuật, hơn 150 bác sỹ, điều dưỡng, dược  sỹ, kỹ thuật viên, nhân viên của Bệnh viện viện Trung ương Quân đội 108.  (Ảnh: PV/Vietnam+)
Hơn 10 giờ tiến hành phẫu thuật, hơn 150 bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên, nhân viên của Bệnh viện viện Trung ương Quân đội 108. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Giáo sư Mai Hồng Bàng đánh giá thành công của ca lấy ghép đa mô tạng từ người cho chết não đã khẳng định khả năng làm chủ các kỹ thuật đỉnh cao y học của người lính áo trắng. Sau ghép, sức khỏe của tất cả các bệnh nhân được ghép đều hoàn toàn ổn định. Các chỉ số xét nghiệm đều trong giới hạn bình thường.

Các bệnh nhân ghép gan và ghép thận đã được xuất viện 3 tuần sau mổ. Bệnh nhân ghép phổi cũng đã được ra viện sau ghép 4 tuần.

Các bác sỹ của Bệnh viện viện Trung ương Quân đội 108 đã triển khai thực hiện thành công 240 ca ghép tạng

Đối với bệnh nhân được ghép đồng thời 2 cẳng bàn tay thì cho đến nay tất cả các vết thương đều đã liền sẹo, chi ghép sống tốt. Bệnh nhân đang tiếp tục được tập phục hồi chức năng tại bệnh viện để nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường.

Trước đó, Trung ương Quân đội đã thực hiện thành công ca ghép phổi từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam và ghép chi thể đầu tiên trên thế giới lấy từ người cho sống.

Sau 3 năm thực hiện đề án khoa học công nghệ “Tăng cường năng lực nghiên cứu để phát triển kỹ thuật ghép mô, bộ phận cơ thể người”, tính đến tháng 10/2020, các bác sỹ của Bệnh viện viện Trung ương Quân đội 108 đã triển khai thực hiện thành công 240 ca ghép tạng, trong đó có: Ghép phổi: 03 ca; Ghép chi thể: 02 ca; Ghép gan: 51 ca; Ghép thận: 69 ca; Ghép giác mạc: 17 ca; Ghép tủy: 36 ca; Ghép tế bào gốc: 62 ca. Sau khi ghép, các bệnh nhân đều phục hồi tốt./.

Hạnh phúc nở hoa

13 năm trước, sau khi phát hiện nhiễm HIV, khổ tâm, dằn vặt lại thêm bị tất cả mọi người hắt hủi, nhiều khi chị chỉ muốn chết. Những người xung quanh và cả gia đình chồng chị phân biệt, kỳ thị chị tới từng chiếc bát, cái đũa. Họ nhìn thấy gia đình chị là xua đuổi…

Nuốt những nỗi niềm ấy vào trong lòng, vợ chồng chị Trần Thị Sen đã rời bỏ quê hương Nghệ An vào Nam sinh sống, để tránh đi sự cô đơn, ghẻ lạnh của những người xung quanh.

Một năm sau (năm 2008) chồng chị mất. Một mình chị đi làm công nhân may vừa để có kinh phí đi điều trị vừa nuôi con nơi xứ người. Giờ đây, sau hơn 10 năm nơi đất khách quê người, cuộc sống mới đã mỉm cười với gia đình chị. Chị Sen đã lên chức bà nội với hai đứa cháu kháu khỉnh và một người chồng thứ hai – là sỹ quan công an ân cần ở bên đồng hành, chăm sóc cho chị.

Lặn lội đi tìm người có HIV

Tại phòng khám ngoại trú, Khoa Truyền nhiễm (Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương), đầu giờ sáng có mấy chục bệnh nhân đến khám, ngồi chờ lấy thuốc.

Nhìn chị Sen, ít ai nghĩ chị mang trong mình bệnh HIV, bởi chị xông xáo, hoạt bát không giống một người đang có bệnh. Những năm qua, chị điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) và đạt tải lượng virus ở mức không phát hiện được trong máu thì không có nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục cho người khác.

Chị Trần Thị Sen tận tụy với công việc hỗ trợ những người có HIV đi điều trị. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)
Chị Trần Thị Sen tận tụy với công việc hỗ trợ những người có HIV đi điều trị. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)

Hơn 10 năm nay tất bật với công việc hỗ trợ cho các bệnh nhân có HIV tại đây, chị cười, khi nào mình còn khoẻ thì vẫn còn làm, còn đi hỗ trợ vận động những người có HIV khác điều trị.

Chị Trần Thị Sen sinh năm 1974 (hiện ở Bến Cát, Bình Dương), một người nhiễm HIV đã 13 năm nay. Chị cho hay, chị tham gia vào công việc hỗ trợ điều trị, vận động những người có HIV đi điều trị từ năm 2009 đến nay. Hàng ngày, chị hỗ trợ những bệnh nhân có HIV động viên tới khám. Chị rà soát khi đến ngày không có bệnh nhân tới khám sẽ gọi điện để nhắc lịch bệnh nhân.

Chị Sen hướng dẫn người có HIV đi khám và lấy thuốc. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)
Chị Sen hướng dẫn người có HIV đi khám và lấy thuốc. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)

Nhiều người bệnh nhân khi nhận kết quả cũng cảm thấy sốc, lo lắng và buồn tủi. Rất may mắn, khi các bệnh nhân tôi động viên đi điều trị đều đạt được kết quả tốt. Trong 10 năm qua chị không nhớ hết đã vận động được bao nhiêu bệnh nhân tới điều trị HIV.

Chị kể: “Những ngày đầu, tôi đi tìm bệnh nhân để vận động, đưa họ vào điều trị kịp thời. Trong hành trình của mình, cũng có vài lần gặp trường hợp người mắc bệnh HIV không đi điều trị kịp đã tử vong rất xót xa.”

Làm quen với công việc đi tìm bệnh nhân rồi, nên nhiều khi chị không còn biết sợ. Đây vừa là phần việc chị yêu thích khi giúp đỡ những người mắc bệnh như chị có thêm cơ hội duy trì sự sống đồng thời chị cũng có thêm một phần kinh phí để trang trải cuộc sống.

Trong hành trình của mình, cũng có vài lần gặp trường hợp người mắc bệnh HIV không đi điều trị kịp đã tử vong rất xót xa.

Có những ngày chị một mình lặn lội lên vùng trồng cây cao su ở Đồng Tháp, đi tìm bệnh nhân bỏ điều trị. Tôi đi mãi, đi mãi không tới nơi vì bệnh nhân đó không khai đúng địa chỉ.

Trước những tình huống trên, chị phải tìm đến địa phương phải khéo léo liên hệ với ban phụ nữ, với công an để nhờ họ phối hợp nhằm tìm ra chính xác người cần tìm. Khi đó, mình lại phải nói nhân viên hỗ trợ điều trị của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương muốn tìm bệnh nhân này.

Sau đó, những bệnh nhân họ có ý thức và biết sử dụng công nghệ hơn, chị sử dụng Zalo, facebook để liên hệ nên việc liên lạc cũng đỡ vất vả hơn.

Chị Sen nhớ lại, có bạn một bạn nam, sinh năm 1985 ở Thủ Dầu 1, thành phố Bình Dương bị mắc HIV nhưng khi chị vận động đi chữa trị thì viện cớ mưu sinh để trốn tránh.

Nhân viên y tế phát thuốc ARV điều trị cho bệnh nhân. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)
Nhân viên y tế phát thuốc ARV điều trị cho bệnh nhân. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)

“Khi đó, tôi chỉ biết bảo ai cũng chết, nếu không điều trị, trước khi bạn chết sẽ đau đớn vô cùng, da mốc xì, lở loét hôi tanh… Bệnh này có thể chữa được và sống lâu dài, bạn hãy quay lại uống thuốc đều đều và biết yêu thương bản thân mình hơn. Tôi đã từng trải qua những thời điểm này giống như bạn. Bạn hãy sống cuộc sống lành mạnh và có trách nhiệm hơn,” chị Sen tâm sự. Nói mãi, rồi bạn nam đó cũng đã nghe chị và kiên trì điều trị.

“Ngày mai bạn sẽ hạnh phúc hơn ngày hôm nay”

Miên man trong những câu chuyện về những người có HIV, chị Sen luôn lạc quan. Chị bảo, với mọi người, chị đều nhắn nhủ với phương châm: “Chắc chắn ngày mai bạn sẽ hạnh phúc hơn ngày hôm nay. Tôi muốn tôi là người cần thiết, người có ích.”

Chị Sen cho hay, chị điều trị HIV đã được hơn 10 năm, sức khỏe tốt và đạt được K=K (Không phát hiện = Không lây truyền cho người khác) nên rất mừng. Ngoài làm việc ở phòng khám, chị còn nhận làm thêm việc khác như may, lau dọn nhà cửa.

Nhớ lại khoảng thời gian hơn 10 năm trước, chị cho hay: “Mình bị nhiễm HIV từ chồng. Chồng thì đi chơi với bạn bè, có dùng ma túy. Hội bạn của chồng thường tặng nhau bằng cách chích ma túy chung. Rồi đến một ngày mặt anh cứ xanh xao. Gặng hỏi mãi anh ấy mới nói: “Anh nói thật với em, em hãy tha thứ cho anh! Anh chích ma túy chung với người có HIV, bác sỹ vừa thông báo anh đã mắc bệnh.” Những ngày sau đó, chị Sen đi kiểm tra và cũng nhận được kết quả nhiễm bệnh. “Khi đó, mình sốc một thì ông xã sốc nhiều lần,” chị Sen nhớ lại.

Mỗi người mang trong mình một bệnh, cái bệnh ấy không có tội lỗi, điều quan trọng nhất là bạn sống như thế nào

Ngày mới vào Nam, chị Sen xin làm công nhân may. Sau đó gần một năm thì chồng chị chết. Chị Sen sau đó đi chữa bệnh, bởi nghe nói đã có thuốc điều trị bệnh HIV.  

“Cuộc đời người ta có nhiều dấu mốc khiến người ta thay đổi. Thời điểm sau khi biết hai vợ chồng chị mắc bệnh, gia đình chị bị kỳ thị. Sau khi chồng chị mất, gia đình chồng ở Nghệ An hầu như không còn ai có mối liên hệ gì với mẹ con chị,” chị Sen nhớ lại.

Chị tâm niệm một điều: “Mỗi người mang trong mình một bệnh, cái bệnh ấy không có tội lỗi, điều quan trọng nhất là bạn sống như thế nào, khi bạn sống chân thành, bạn sẽ nhận được quả ngọt là hạnh phúc.”

Những bệnh nhân chờ khám, điều trị HIV tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)
Những bệnh nhân chờ khám, điều trị HIV tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương. (Ảnh: Thùy Giang/Vietnam+)

Hiện tại, chị đang sống với một người chồng thứ hai là sỹ quan công an. Khi quen nhau, chị có chia sẻ chị là người có HIV, nhưng anh cũng không kỳ thị và sợ hãi gì, vẫn quyết tâm theo đuổi, đến với chị dù biết chị có bệnh.

Chị lấy người chồng thứ hai vào năm 2010. Anh nói: “Đó như là một duyên Trời, đến với nhau, gắn kết với nhau để mỗi người hết cô đơn trong cuộc đời này.”

Chung sống với nhau 10 năm qua, người chồng thứ hai của chị không mắc bệnh HIV, vì chị uống thuốc ARV đều đặn nên không có khả năng lây truyền bệnh qua đường tình dục cho người khác.

Trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống, chị Sen bộc bạch, với mỗi người chị đều nhắn nhủ: Bạn hãy vui vẻ, hãy yêu thương khi mình còn có cơ hội để làm những việc chưa làm được. Vượt qua bệnh tật, mình vẫn đi làm, nuôi con ăn học, dựng vợ gả chồng cho con.

“Cảm ơn những nỗi đau mà tôi đã có như ngày hôm nay. Dù bẽ bàng thật, nhưng sau vẫn có hạnh phúc. Những người phụ nữ như chúng tôi vẫn được yêu thương,” chị Sen nghẹn ngào./.

“K=K – Không phát hiện = Không lây truyền” được dịch từ tiếng Anh U=U (Undetectable = Untransmittable) là một phát hiện mới về lợi ích của điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) với người nhiễm HIV dựa trên bằng chứng khoa học.

Một người nhiễm HIV, được điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) và khi đạt tải lượng virus ở ngưỡng không phát hiện được trong máu thì nguy cơ lây truyền HIV sang người khác qua đường tình dục rất thấp (từ không đáng kể đến không có nguy cơ).

Tải lượng virus không phát hiện được định nghĩa là khi có dưới 200 bản sao/ml máu. Điều này có ý nghĩa rằng, một người nhiễm HIV được điều trị ARV khi có tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện sẽ vừa bảo vệ sức khoẻ cho người sống chung với HIV và ngăn ngừa lây nhiễm HIV sang bạn tình.

Người đồng tính nam nhiễm HIV

“Nửa năm trước, khi cầm trên tay tờ giấy trả kết quả xét nghiệm, em đã choáng váng không tin vào thực tại.

Kết quả xét nghiệm cho thấy em đã dương tính với HIV. Có lẽ, từ khi sinh ra đến giờ, đó là thời khắc mà em cảm thấy sốc nhất trong đời. Những ngày đầu, em như gục ngã hoàn toàn, chỉ biết ân hận…”

Cậu thanh niên 20 tuổi Lê Văn G. (một người nam quan hệ tình dục đồng giới với nam – MSM) quê ở huyện Lai Vung, Đồng Tháp với dáng người dong dỏng, ngồi chờ khám và lấy thuốc tại Trung tâm y tế thị xã Thuận An (Bình Dương) đã chia sẻ lại cảm xúc về những ngày đầu khi nhận được hung tin mắc bệnh HIV của mình.

HIV chưa phải là án tử

Đã nửa năm nay, tháng nào cũng vậy L.V.G., một công nhân làm việc tại Khu công nghiệp ở Bình Dương đều đặn dành một ngày tới Trung tâm y tế thị xã Thuận An lấy thuốc kháng virus (thuốc ARV) điều trị HIV.

G. kể lại: “Ban đầu khi nghe tin mình mắc HIV, do chưa hiểu biết nhiều về bệnh, em nghĩ mình dính án tử rồi và cảm thấy tuyệt vọng. Em mất ngủ triền miên và sụt cân do suy nghĩ nhiều. Sau đó, em được các bác sỹ giải thích đây chỉ như một bệnh thông thường, đã có thuốc chữa, có thể sống khỏe mạnh, có gia đình và đi làm như những người bình thường khác nếu uống thuốc đầy đủ, em đã bình tâm trở lại.”

Tâm sự về nguyên nhân mắc bệnh, G. nhớ lại trong gần một năm trước, em có yêu và quan hệ đồng tính với bạn nam không sử dụng thuốc dự phòng phơi nhiễm HIV hay bao cao su. Một thời gian sau đó, người bạn của G. về quê và có gọi điện thông báo bị mắc bệnh HIV trong khoảng thời gian hai người yêu nhau. Vào tháng Ba vừa qua, G. đi xét nghiệm và nhận được kết quả dương tính với HIV.

G. kể, do đây là lần đầu em quan hệ với bạn nam đồng tính nên không có kinh nghiệm, em không sử dụng các phương pháp phòng hộ an toàn nào như bao cao su, hay thuốc dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP). Em cũng không nghĩ bạn tình của mình lại nhiễm HIV nên chủ quan.

Ban đầu khi nghe tin mình mắc HIV, do chưa hiểu biết nhiều về bệnh, em nghĩ mình dính án tử rồi và cảm thấy tuyệt vọng.

Từ ngày 8/5, G. bắt đầu uống thuốc ARV đều đặn theo sự chỉ dẫn từ phác đồ điều trị của bác sỹ, từ đó đến nay, mỗi ngày 1 viên. Thuốc được bảo hiểm y tế chi trả toàn bộ nên G không phải trả bất kỳ chi phí nào.

“Em uống thuốc vào 22 giờ tối, ban đầu uống thuốc chưa quen em hay bị nhức đầu. Nhưng chỉ sau khoảng nửa tháng, em đã quen thuốc, hàng ngày vẫn đi làm bình thường và tăng cần đều. Cuộc sống của em như trở lại bình thường, em thấy lạc quan hơn,” G. chia sẻ.

G. khi được các bác sỹ tại Trung tâm tư vấn và giải thích nếu tuân thủ điều trị ARV tốt, xét nghiệm virus sẽ không còn, ít nguy cơ lây cho người khác. Đặc biệt, những người có HIV có thể lấy vợ sinh con mà không bị lây nhiễm, nam bệnh nhân đã yên tâm và tuân thủ rất tốt phác đồ điều trị.

Nhân viên y tế hướng dẫn cách dùng thuốc cho bệnh nhân L.V.G. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Nhân viên y tế hướng dẫn cách dùng thuốc cho bệnh nhân L.V.G. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Cũng tại Trung tâm y tế thị xã Thuận An, một nam sinh tên N.V.H. 16 tuổi là MSM nhiễm HIV đã được tư vấn và điều trị ARV.

H. giấu bố mẹ về bệnh của mình, nhưng sau đó bố mẹ phát hiện H. mắc bệnh qua sổ khám bệnh và suy sụp khi nghĩ rằng cuộc đời của H. như một dấu chấm hết.

Chỉ sau khoảng nửa tháng, em đã quen thuốc, hàng ngày vẫn đi làm bình thường và tăng cần đều.

Sau đó, H. đã nhờ bác sỹ tư vấn và giải thích cho bố mẹ về việc cậu đã tuân thủ điều trị ARV nên tải lượng virus thấp, sức khỏe hoàn toàn bình thường. Bởi khi H. uống thuốc điều trị ARV đầy đủ đạt ngưỡng K=K, (tức là không phát hiện lượng virus trong máu, thì không còn nguy cơ lây truyền qua đường tình dục) và vẫn có thể sinh con khoẻ mạnh.

Trung tâm Y tế Thuận An (tỉnh Bình Dương) đang quản lý 789 bệnh nhân có HIV điều trị ngoại trú (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Trung tâm Y tế Thuận An (tỉnh Bình Dương) đang quản lý 789 bệnh nhân có HIV điều trị ngoại trú (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Tình trạng nhiễm HIV dần trẻ hóa

Việt Nam là 1 trong 4 quốc gia cùng với Anh, Đức, Thuỵ Sỹ có chất lượng điều trị HIV/AIDS tốt nhất thế giới với tỷ lệ người nhiễm HIV được điều trị ARV có tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế đạt 96%, góp phần giảm lây nhiễm HIV trong cộng đồng.

Thời gian gần đây, tình hình dịch HIV đã có sự thay đổi về cách thức lây truyền khi đối tượng mắc bệnh là những người nam quan hệ đồng giới gia tăng một cách “chóng mặt.” Điển hình như tại tỉnh Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Một đặc điểm nổi bật ở Bình Dương là số người mắc HIV trong nhóm MSM tăng rất nhanh.

Bác sỹ Vương Thế Linh – Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bình Dương cho biết tỉnh có hơn 28 khu công nghiệp, dân số ước tính khoảng gần 2,5 triệu người, trong đó 80% là dân nhập cư. Đến nay, tỉnh Bình Dương đã phát hiện 7.509 người dương tính với HIV, trong đó có 3.939 người nhiễm HIV còn sống đang được quản lý.

Theo bác sỹ Linh, trong 8 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn toàn tỉnh phát hiện mới gần 600 trường hợp mắc HIV, tăng hơn 18% so với cùng kỳ của năm 2019. Đáng lưu ý trong số 98 trường hợp mắc HIV mới là người Bình Dương có tới 52% là MSM (người đồng tính).

Một đặc điểm nổi bật ở Bình Dương là số người mắc HIV trong nhóm MSM tăng rất nhanh. Sáu năm trước, con số này chỉ là 2,4% thì nay chiếm tới 52%, mà đáng lo khi có nhiều bệnh nhân là trẻ vị thành niên. Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm bệnh dần trẻ hóa trong nhóm tuổi từ 15 đến 25, xu hướng tăng nhanh trong nhóm nam quan hệ đồng tính (MSM) và lây truyền qua đường tình dục.

Tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tình trạng những người có HIV gia tăng nhanh ở nhóm nam quan hệ đồng giới cũng tăng mạnh trong những năm gần đây.

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tính đến cuối tháng 7/2020, lũy tích số người nhiễm HIV là 4.920 người nhiễm. Trong đó, số tử vong là 2.111 người, chiếm 43%, còn sống là 2.809 người (57%). Số nhiễm HIV mới phát hiện 7 tháng đầu năm 2020 là 125, chuyển gửi thành công đến phòng khám ngoại trú (OPC) là 120 trường hợp (96%).

Tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, đáng lưu ý trong số các trường hợp mắc mới có 21,7% là đối tượng nghiện chích ma túy, đối tượng quan hệ tình dục khác giới chiếm tỷ lệ 13,3%, đối tượng chiểm tỷ lệ cao nhất là nam quan hệ tình dục đồng giới (51,7%), còn lại là các nhóm khác.

Đẩy mạnh các biện pháp can thiệp

Bác sỹ Đậu Mỹ Duyên – Trung tâm Y tế Thuận An (tỉnh Bình Dương) cho hay tại phòng khám của trung tâm đang quản lý 789 bệnh nhân có HIV điều trị ngoại trú, đa số bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt.

Tủ thuốc ARV và thuốc điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Tủ thuốc ARV và thuốc điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV. (Ảnh: T.G/Vietnam+)

Bác sỹ Duyên cũng bày tỏ lo ngại khi tại trung tâm thời gian gần đây ghi nhận nhiều trường hợp MSM mắc bệnh HIV khi mới 18-20 tuổi. Hiện nay, khó khăn trong điều trị HIV cho nhóm MSM là nhiều người thay đổi bạn tình liên tục, thậm chí chỉ là tình một đêm, nên việc tư vấn về xét nghiệm, dịch vụ PrEP (thuốc dùng dự phòng cho người nguy cơ cao) cũng phải liên tục.

Với trẻ vị thành niên nhiễm HIV, nhân viên y tế càng gặp nhiều vấn đề khi phải tư vấn cho cả phụ huynh, linh động thời gian phát thuốc, tránh cho trẻ phải nghỉ học.

Hiện nay, cùng với tư vấn, điều trị cho các bệnh nhân MSM có HIV, các bác sỹ còn phải tư vấn cho bạn tình của họ sử dụng PrEP, vì họ là đối tượng nguy cơ cao.

Trong năm đầu, bệnh nhân uống thuốc điều trị, còn bạn tình của họ uống thuốc dự phòng, khi xét nghiệm tải lượng virus xuống thấp, nguy cơ lây truyền gần như bằng không, thì bạn tình không cần uống thuốc dự phòng nữa.

Để ngăn ngừa nguy cơ bùng phát dịch HIV ở Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu, ngành y tế địa phương đang đẩy mạnh các biện pháp can thiệp giảm hại như cung cấp bơm kim tiêm, bao cao su cho nhóm nguy cơ cao, điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP), triển khai chiến dịch K=K; tăng cường truyền thông về nguy hại của virus HIV trong các công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ để khuyến khích người nguy cơ cao kết nối điều trị dự phòng PrEP…

Bên cạnh đó, các nhóm đồng đẳng viên phát huy hiệu quả thực hiện các chương trình, chuyển gửi dịch vụ xét nghiệm, điều trị ARV thực hiện tốt bảo hiểm y tế cho bệnh nhân…/.

Vắcxin đầu tiên của Việt Nam đã hoàn thiện quy trình nghiên cứu

Ông Hồ Nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc NANOGEN cho biết suốt 6 tháng qua, việc nghiên cứu vắcxin phòng COVID-19 được đơn vị này ngày đêm triển khai với khoảng 300 nhân viên tham gia.

Tới nay, NANO COVAX là vắcxin đầu tiên của Việt Nam hoàn thiện quy trình nghiên cứu và đạt hiệu quả cao trong thử nghiệm tiền lâm sàng, hứa hẹn sẽ là vắcxin COVID-19 “made in Vietnam” đầu tiên đưa ra thị trường.

“Do được sự chỉ đạo từ Bộ Y tế và các đơn vị có liên quan, chúng tôi sản xuất vắcxin theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước trợ giá nên có giá phù hợp, vào khoảng 120.000 đồng. Chúng tôi đang nỗ lực để có thể sản xuất vắcxin đáp ứng nhu cầu của người dân trong thời gian sớm nhất,” ông Nhân cho biết.

Kết quả thử nghiệm trên khỉ rất tốt

Sáng 10/12, Bộ Y tế, Học Viện Quân y (Bộ Quốc Phòng) và Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Dược NANOGEN chính thức thông tin khởi động dự án thử nghiệm lâm sàng dự án vắcxin phòng COVID-19 – NANO COVAX do Công ty NANOGEN nghiên cứu và sản xuất.

(Ảnh:PV/Vietnam+)
(Ảnh:PV/Vietnam+)

Tiến sỹ Nguyễn Ngô Quang – Phó Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) cho hay COVID-19 là bệnh viêm đường hô hấp cấp tính truyền nhiễm gây ra bởi chủng virus corona SARS-CoV-2. Bệnh được phát hiện lần đầu trong đại dịch COVID-19 năm 2019-2020.

Hàng chục nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới đang chạy đua để phát triển vắcxin có khả năng ngừa virus SARS-CoV-2.

Hàng chục nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới đang chạy đua để phát triển vắcxin có khả năng ngừa virus SARS-CoV-2.

Tại Việt Nam, hiện có bốn nhà sản xuất vắcxin phòng COVID-19 đang nỗ lực, tập trung các nguồn lực nghiên cứu, sản xuất, đó là Viện Vaccine và Sinh phẩm Y tế (IVAC), Công ty Vaccine và sinh phẩm số 1 (VABIOTECH), Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất vaccine và Sinh phẩm Y tế (POLYVAC) và Công ty Công nghệ sinh học Dược NANOGEN.

Giáo sư Đỗ Quyết-Giám đốc Học viện Quân y cho biết từ tháng 5/2020, Công ty NANOGEN đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu và sản xuất vắcxin COVID-19. Đây là dự án theo đơn đặt hàng của Bộ Khoa học công nghệ. Vắcxin phòng COVID-19 có tên gọi NANO COVAX, được phát triển theo công nghệ protein tái tổ hợp.

Sáng 9/12, Hội đồng Đạo đức/Ban Đánh giá các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Bộ Y tế đã họp và phê duyệt thử nghiệm lâm sàng vắcxin NANO COVAX.

Từ 10/12, Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Dược NANOGEN phối hợp với Học viện Quân Y (Bộ Quốc Phòng) bắt đầu quá trình thử nghiệm vắcxin trên người.

(Ảnh: PV/Vietnam+)
(Ảnh: PV/Vietnam+)

Ông Hồ Nhân phân tích nhược điểm của loại vắcxin này là vấn đề thời gian vì phải tạo dòng và chọn lọc trên tế bào. Tuy vậy, ưu đểm lớn nhất của NANO COVAX là tạo được đáp ứng miễn dịch tốt, độ an toàn cao, ít tác dụng phụ và có điều kiện bảo quản thuận lợi hơn so với các loại vắcxin khác (bảo quản 2 độ C-8 độ C ).

Sau quá trình thử nghiệm tiền lâm sàng trên chuột Balb/c, chuột Hamster và khỉ cho quả rất tốt, Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Dược NANOGEN đã nộp hồ sơ xin được cấp phép thử nghiệm lâm sàng vắcxin COVID-19 trên người.

Sẽ tối ưu hoá công suất lên 30 triệu liều/năm

Trong thời gian qua, Công ty NANOGEN đã tham khảo các nghiên cứu lâm sàng của nước ngoài, xây dựng các tiêu chí đánh giá độ an toàn và hiệu quả dựa trên đặc điểm quần thể và dịch tễ học tại Việt Nam để lập đề cương nghiên cứu và lựa chọn thiết kế nghiên cứu phù hợp.

Ông Hồ Nhân cho biết công suất hiện tại của công ty có thể sản xuất hai triệu liều/năm. Trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, công ty vừa sản xuất, vừa nâng cấp nhà máy để tối ưu hóa công suất lên 20-30 triệu liều/năm. Công suất lý tưởng là 50 triệu liều/năm.

Trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, công ty vừa sản xuất, vừa nâng cấp nhà máy để tối ưu hóa công suất lên 20-30 triệu liều/năm. Công suất lý tưởng là 50 triệu liều/năm.

Tiến sỹ Nguyễn Ngô Quang khẳng định việc thử nghiệm vắcxin thành công hay không không chỉ phụ thuộc vào nhà sản xuất, nhà nghiên cứu, nhà quản lý mà còn phụ thuộc nhiều vào cộng đồng chung, toàn xã hội.

“Chúng tôi kêu gọi sự chung tay của xã hội, của người dân với ngành y tế để có chương trình nghiên cứu an toàn, bảo đảm tính hiệu quả và có một sản phẩm vắcxin an toàn, hiệu quả phục vụ cho cộng đồng,” ông Quang nhấn mạnh.

Công ty NANOGEN đề xuất thử nghiệm lâm sàng qua ba giai đoạn, trong đó:

Giai đoạn 1: Từ 12-2020 – 2-2021, có 60 người từ 18-50 tuổi.

Giai đoạn 2: 2-2021- 8-2021, có khoảng 400 – 600 người từ 12-75 tuổi.

Giai đoạn 3: Từ 8-2021- 2-2022, có 1.500 – 3.000 người từ 12-75 tuổi.

(Ảnh: T.G/Vietnam+)
(Ảnh: T.G/Vietnam+)

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được tiêm bắp hai liều vắcxin hoặc giả dược (đối với giai đoạn 2 và 3). Khoảng cách giữa hai liều là 28 ngày. Thời gian nghiên cứu cho mỗi đối tượng là khoảng 56 ngày để đánh giá mục tiêu nghiên cứu và theo dõi đến tháng thứ 6 kể từ liều tiêm đầu tiên.

Theo giáo sư Quyết, các tiêu chí đánh giá an toàn trong thời gian thử nghiệm của vắcxin đã được hội đồng đưa ra rõ ràng. Giai đoạn 1: Đánh giá tính an toàn và bước đầu đánh giá đáp ứng sinh miễn dịch của ba liều ứng viên vắcxin NANO COVAX tiêm bắp gồm 25 mcg, 50 mcg, 75 mcg trên người lớn khỏe mạnh.

Các tiêu chí đánh giá an toàn trong thời gian thử nghiệm của vắcxin đã được hội đồng đưa ra rõ ràng.

Giai đoạn 2: Đánh giá tính an toàn và so sánh đáp ứng sinh miễn dịch của ba liều ứng viên vắcxin NANO COVAX tiêm bắp gồm 25 mcg, 50 mcg, 75 mcg trên người khỏe mạnh từ đó xác định liều dùng tối ưu của vắcxin nghiên cứu; Giai đoạn 3: Đánh giá hiệu quả vắcxin NANO COVAX trên người khỏe mạnh.

Giáo sư Đỗ Quyết cho biết việc xét tuyến khởi động từ hôm nay và dự kiến kéo dài 1-2 tuần, tới khi đủ số lượng. Với mức thông báo này, sau 1 tuần có thể triển khai tiêm mũi đầu tiên.

“Chúng tôi mới phổ biến sơ bộ trên báo chí và đã được rất động đảo người tình nguyện gọi đến. Tôi nghĩ sự tin tưởng vào chất lượng vắcxin, sự nhiệt tâm, sẵn sàng tình nguyện của người dân cùng chung sức vào việc có vắcxin được sản xuất xuất tại Việt Nam và tiêm cho người dân an toàn, hiệu quả,” Giám đốc Học viện Quân y nhấn mạnh./.

(Ảnh: T.G/Vietnam+)
(Ảnh: T.G/Vietnam+)

60 người tình nguyện thử giai đoạn 1 vắcxin COVID-19

Bộ Y tế đã họp thẩm định về việc phê duyệt, triển khai thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 vắcxin Nanocovax của Công ty Cổ phần công nghệ sinh học dược Nanogen tại Học viện Quân Y.

Giai đoạn 1 sẽ có 60 người tình nguyện khỏe mạnh từ 18 đến 50 tuổi tham gia thử nghiệm lâm sàng vắcxin Nanocovax.

Khởi động thử nghiệm lâm sàng vắcxin COVID-19

Ngày 9/12/2020, Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học quốc gia đã họp thẩm định và thông qua hồ sơ nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1-2 đối với vắcxin Nanocovax do Công ty Cổ phần công nghệ sinh học dược Nanogen sản xuất và giao cho nhóm nghiên cứu của Học viện Quân y làm chủ trì đề tài nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng này.

Dự án nghiên cứu, sản xuất vắcxin phòng COVID-19 được Nanogen triển khai từ tháng 3 và đến tháng 6/2020 được Bộ Khoa học và Công nghệ chấp thuận cho phép triển khai.

Dự án nghiên cứu, sản xuất vắcxin phòng COVID-19 được Nanogen triển khai từ tháng 3 và đến tháng 6/2020 được Bộ Khoa học và Công nghệ chấp thuận cho phép triển khai.

Vắcxin có tên Nanocovac, được bào chế thành công dựa trên công nghệ sản xuất protein tái tổ hợp.

Trong cuộc họp, Hội đồng đạo đức Quốc gia đã thông qua kế hoạch thu tuyển người tình nguyện tham gia nghiên cứu giai đoạn 1, dự kiến ngày 10/12/2020 Học viện Quân Y sẽ khởi động chương trình thử nghiệm lâm sàng vắcxin COVID-19 và thông báo thu tuyển người tình nguyện tham gia nghiên cứu. Ngày 17/12/2020 sẽ tiêm mũi vắcxin đầu tiên cho người tình nguyện tham gia nghiên cứu giai đoạn 1.

         (Ảnh: PV/Vietnam+)
         (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo kế hoạch ngày 10/12/2020 Học viện Quân y chính thức thông báo thu tuyển người tình nguyện tham gia nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 vắcxin Nanocovax phòng COVID-19 của Công ty Cổ phần công nghệ sinh học dược Nanogen và khởi động Chương trình thử nghiệm vắcxin tại Việt Nam.

Đến thời điểm này, các nhà sản xuất vắcxin COVID-19 trong nước đang nỗ lực đẩy mạnh tiến độ triển khai nghiên cứu tiến tới thử nghiệm tiền lâm sàng.

Số lượng, tiêu chuẩn lựa chọn, loại trừ người tham gia nghiên cứu và nội dung thông tin cung cấp cho người tình nguyện tham gia nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học quốc gia thông qua.

Đến thời điểm này, các nhà sản xuất vắcxin COVID-19 trong nước đang nỗ lực đẩy mạnh tiến độ triển khai nghiên cứu tiến tới thử nghiệm tiền lâm sàng. Có 3 đơn vị sản là Viện Vắc xin và Sinh phẩm y tế (IVAC), Công ty TNHH Một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH), Nanogen đã và đang đánh giá tính an toàn, tính miễn dịch của vắcxin trên động vật.

Đặc biệt, NANOGEN đã hoàn thành giai đoạn này và chuẩn bị sẵn sàng để tiến tới thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1.

Người tình nguyện được tiêm bắp 2 mũi

Theo thông tin trong cuộc họp, giai đoạn 1 sẽ có 60 người tình nguyện khỏe mạnh từ 18 đến 50 tuổi tham gia và được phân ngẫu nhiên vào 3 nhóm, bao gồm nhóm 1a với 20 người dùng mức liều 25 mcg sẽ được thu tuyển đầu tiên, tiếp theo là nhóm 1b gồm 20 người dùng mức liều 50 mcg và sau đó là nhóm 1c gồm 20 người dùng mức liều 75 mcg.

(Ảnh: Hiếu Hoàng/Vietnam+)
(Ảnh: Hiếu Hoàng/Vietnam+)

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu giai đoạn 1 sẽ được tiêm bắp 2 mũi vắcxin, khoảng cách giữa 2 mũi tiêm là 28 ngày.

Để đảm bảo tính an toàn cho người tham gia nghiên cứu, giai đoạn thu tuyển 60 đối tượng tham gia đánh giá an toàn theo thiết kế dò liều tăng dần.

Để đảm bảo tính an toàn cho người tham gia nghiên cứu, giai đoạn thu tuyển 60 đối tượng tham gia đánh giá an toàn theo thiết kế dò liều tăng dần.

Quy trình thu tuyển đối tượng tham gia vào giai đoạn 1 sẽ được bắt đầu với 3 người thuộc nhóm liều 25 mcg.

Trên cơ sở kết quả theo dõi đánh giá sau 72 giờ sau tiêm vắcxin trên 3 người đầu tiên này mới quyết định mức liều và số người tham gia tiếp theo.

Thời gian nghiên cứu cho mỗi người tham gia là khoảng 56 ngày để đánh giá mục tiêu nghiên cứu và theo dõi đến tháng thứ 6 kể từ liều tiêm đầu tiên.

(Ảnh: PV/Vietnam+)
(Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo kế hoạch, ngày 17/12/2020 sẽ tiêm mũi vắcxin đầu tiên cho người tình nguyện đủ điều kiện tham gia nghiên cứu giai đoạn 1.

Trên cơ sở hồ sơ đề cương nghiên cứu được Hội đồng đạo đức Quốc gia thông qua Bộ Y tế sẽ chỉ đạo và tổ chức Đoàn công tác theo dõi giám sát toàn bộ quy trình triển khai nghiên cứu của nhóm nghiên cứu nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các đối tượng tình nguyện tham gia nghiên cứu.

Bộ Y tế đã chủ động thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu sản xuất vắcxin trong nước đồng thời tăng cường hợp tác, trao đổi, đàm phán với các đơn vị sản xuất vắcxin trên thế giới

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của việc nghiên cứu, sản xuất vắcxin COVID-19. Thời gian qua, Bộ Y tế đã chủ động thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu sản xuất vắcxin trong nước đồng thời tăng cường hợp tác, trao đổi, đàm phán với các đơn vị sản xuất vắcxin trên thế giới để sớm tiếp cận được nguồn vắcxin phục vụ nhu cầu tiêm chủng phòng chống dịch trong nước.

Đối với đơn vị sản xuất còn lại, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long yêu cầu đơn vị tiếp tục thực hiện việc nghiên cứu, sản xuất vắcxin COVID-19 đồng thời tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Nga và chủ động liên hệ với Trung Quốc để có thể tiếp cận với vắcxin của các quốc gia này./.

(Ảnh: TTXVN/Vietnam+)
(Ảnh: TTXVN/Vietnam+)