Vũ Quần Phương: Hồn thơ lịch lãm của Hà Nội

“Hà Nội là quê mẹ tôi. Tôi ra đời và lớn lên, già đi ở đất này….” câu chuyện của chúng tôi và nhà thơ Vũ Quần Phương, nhà thơ của “áo đỏ em đi giữa phố đông” đã bao thập kỷ đi vào lòng người được bắt đầu như vậy.

1. Quê cha ở Hải Hậu, Nam Định nhưng Vũ Quần Phương được sinh ra ở thị xã Xuân Phương, nay là quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Nhà thơ kể, không may mắn mồ côi bố khi mới 5 tuổi rưỡi, ông sống với mẹ và hai người em trai. Từ nhỏ, ông đã là một cậu bé rất ham học, có lẽ là nhờ mẹ – vốn là một cô giáo làng, ông giải thích. Chồng mất, bà phải ở góa nuôi ba con nhỏ, từ bỏ nghề giáo và dọn một sạp hàng nhỏ ở chợ Canh (nay thuộc Nam Từ Liêm) để nuôi con ăn học. Vì trường làng không mở lớp nhì, lớp nhất (tương ứng lớp 4, lớp 5 ngày nay), năm 11 tuổi (1951), mẹ đưa ông lên phố để ở trọ, theo học ở nội thành Hà Nội… Làng chỉ cách Hồ Gươm có 12 cây số, nhưng với chú bé 11 tuổi là bao nhiêu nước mắt nhớ mẹ, nhớ hai em.

Cứ như vậy, ông tốt nghiệp cấp ba ở Hội đồng thi Chu Văn An, trên bằng vinh dự ghi ‘Trúng tuyển hạng xuất sắc được Hội đồng thi khen.’ Ông thi đỗ đại học y dược (tiền thân của Đại học Y Hà Nội ngày nay), theo mách bảo của bài ‘ca dao học trò’: “Nhất y nhì dược, tạm được bách khoa.” Nhưng tình yêu thơ văn vẫn còn đó, cứ học xong bài vở trên lớp, ông lại tìm mượn giáo trình văn hay để đọc.

Khi ra trường năm 1965, ông đỗ điểm cao và là người duy nhất trong khóa 350 bác sĩ được chọn về Bộ Y tế. Hào hứng lắm nhưng công việc của ông lại không trực tiếp liên quan tới giường bệnh. Được 5 năm ông giật mình nhận ra bản thân đã quên hết nửa chuyên môn. Nhà thơ Chế Lan Viên khuyên ông về với ngành viết nhưng tiếc sáu năm bao nhiêu công phu với ngành y, ông đắn đo, cân nhắc tới hai năm. Cuối cùng, ông quyết định chuyển sang viết văn chuyên nghiệp rồi về làm trưởng ban biên tập cho buổi Tiếng Thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông bắt đầu viết phê bình thơ và đi nói chuyện thơ là từ giai đoạn này.

Nhà thơ Vũ Quần Phương (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Nhà thơ Vũ Quần Phương (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Trọn đời người thơ ấy đã gắn bó với mảnh đất ngàn năm văn hiến, nay bước qua ngưỡng bát tuần, hình ảnh của Hà Nội từng phố xá, nếp sinh hoạt… đã trở thành một phần của con người Vũ Quần Phương. Như ông nói ‘tất cả đã thành nền tảng cho kí ức, đã nhập vào hồn vía, vào tâm trí…’

Hà Nội với Vũ Quần Phương chỉ đẹp khi “người nào vật nào ở chỗ đó,” là những thảm có xanh mướt, là con đường Trúc Bạch quanh co, là rặng ổi Nghi Tàm… đã từng đi vào thơ của Xuân Diệu mà nay, “có lẽ vì vậy, tên thi sĩ đã được đặt cho con phố…”  đã thành tên của thi sĩ.

Ông trầm ngâm, “tôi nhớ như in đoạn đường từ Nghi Tàm lên Quảng Bá, thảm cỏ, những cành cây vươn lên, xà xuống đan vào nhau như những vòng ôm… và hương ổi, hương cỏ thanh mát, nồng nàn… một thứ hương thơm đầy quyến rũ trải dài trên mặt đê… giờ đây, mà đúng hơn đã từ lâu dấu tích của con đường đẹp như cổ tích đó đã không còn. Đành thôi, xây cái mới hiện đại to đẹp thì sẽ phải phá bỏ cái cũ…”

“Thơ của Vũ Quần Phương gọn ghẽ, chính xác, rõ ràng. Đó là một giọng thơ có một trường phủ sóng nhất định, góp phần vào sự phong phú giàu có của thi ca Việt” – Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

“Hà Nội giờ đã mất đi nhiều những dấu tích của Thăng Long, Hà Nội cũ… nhưng chúng ta không được buông xuôi, phải bằng mọi giá, mọi cách niu giữ, bởi lưu giữ chút hồn cốt của đất, của nước bởi đó là hồn thiêng sông núi, mà đã là hồn thiêng sông núi thì cần lưu dấu vào lịch sử để tồn tại mãi muôn sau,” nhà thơ trăn trở.

2. Nhà thơ Trần Đăng Khoa trong một buổi nói chuyện đã nhận xét về nhà thơ Vũ Quần Phương là “một nhà thơ có tài, rất có tài nhưng gần như bị khuất lấp trong đám đông.” Lý giải điều này, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng vì trong những năm tháng đất nước đang ì ầm bom đạn thì Vũ Quần Phương lại chọn đi vào những góc bình yên của tâm hồn. Sự thiếu cộng hưởng của thời đại khiến ông bị chìm lấp ở thời điểm đó nhưng lại có sức neo bám sâu lắng và bền vững trong lòng người đọc.

Cảm hứng sáng tác của nhà thơ Vũ Quần Phương luôn chất chứa những chiêm nghiệm cá nhân, những dòng miên man suy nghĩ khi ông quan sát, lắng nghe cuộc sống xung quanh mình. Ông chọn những sự kiện nhỏ để chuyển tải những vấn đề lớn hơn.

Ở tuổi 80, nhà thơ Vũ Quần Phương vẫn miệt mài cống hiến (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Ở tuổi 80, nhà thơ Vũ Quần Phương vẫn miệt mài cống hiến (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Người đọc luôn nhìn thấy ở thơ ông sự lấp lánh của tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, tình yêu với đất nước qua những đồ vật, hiện tượng cảnh sắc xung quanh vô cùng quen thuộc và gần gũi. Có thể nói, trong thơ Vũ Quần Phương không hề có sự phù phiếm, không có những xảo ngữ, ko làm xiếc với ngôn từ… Và đó, chính là điều mà thơ của ông có một vị trí đĩnh đạc trong dòng thơ ca Việt Nam, trong lòng độc giả yêu thơ.

Không chỉ nổi tiếng ở thi đàn, Vũ Quần Phương còn là một nhà phê bình thơ xuất chúng đặc biệt. Vào năm 2013, cùng với Tuyển tập thơ Vũ Quần Phương, ông cho ra mắt cuốn Vũ Quần Phương bình thơ – một tập hợp hơn 150 bài bình thơ dân gian, thơ cổ điển, thơ hiện đại và thơ nước ngoài. Cuốn sách của tâm hồn thơ vừa dào dạt tình cảm vừa lý trí này đã ngay lập tức được độc giả đón nhận nhiệt thành.

“Những giá trị của thơ Vũ Quần Phương là không thể phủ nhận, thơ Vũ Quần Phương và cách bình thơ của ông hình như cùng gặp nhau ở một điểm đó là giản dị, sâu mà hóm, khoa học, suy tưởng mà ăm ắp chữ tình. Vũ Quần Phương là một nhà thơ lịch lãm, một nhà thơ khi bước qua nhịp cầu tâm lý học và chạm đến tâm hồn bạn đọc bằng tầm vóc của một nhà tư tưởng.” – Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Trên diễn đàn, Vũ Quần Phương là một diễn giả thơ khá đặc biệt, ông có một sức lôi cuốn kỳ lạ khi nói chuyện. Vũ Quần Phương nói về thơ, bình thơ mà không diễn thuyết, phô diễn kiến thức. Ông không hùng biện, cũng không ‘say’ quá mức như một số diễn giả khác. Với giọng nói nhỏ nhẹ, rủ rỉ, cách đề cập của Vũ Quần Phương vô cùng hóm hỉnh, thông minh. Ông dùng những dẫn chứng phong phú, những ví von, liên tưởng thú vị và hài ước để chuyển tải đến người nghe những ý tưởng vô cùng sâu sắc. Đôi khi, trong câu chuyện của mình, Vũ Quần Phương lại chia sẻ những điều bản thân ‘còn chưa tỏ tường’ để độc giả cùng ngẫm… Sự dí dỏm và chân thành của nhà thơ đã khiến những cuộc nói chuyện thơ của ông vô cùng hấp dẫn, cuốn hút người nghe và cũng để lại trong lòng người nghe nhiều kiến thức, suy ngẫm…

3. Với tình yêu sâu sắc có lẽ đã ăn vào máu thịt của mình với Hà Nội, sau khi về hưu, nhà thơ vẫn miệt mài viết sách, viết báo mà ở đó những bài viết về Hà Nội chiếm một số lượng đáng kể.

Đọc sách là thú vui hàng ngày của nhà thơ Vũ Quần Phương (Ảnh: Minh Anh/Vietnam+)
Đọc sách là thú vui hàng ngày của nhà thơ Vũ Quần Phương (Ảnh: Minh Anh/Vietnam+)

Ông lấy bút danh là Vũ Công Dân, cái tên đã thể hiện thật rõ ràng về tính công dân của nhà thơ… trong hai thập kỷ qua.

Những điều ông đề cập, thường là gần gũi, dễ hiểu y như là ông đang nói chuyện thơ, một sở trường của Vũ Quần Phương. Ông chọn những câu chuyện đời thường để truyền đi những thông điệp thể hiện sự quan tâm của một trí thức, một người Hà Nội luôn đau đáu nỗi niềm xây dựng mảnh đất Thăng Long Hà Nội ngàn năm văn hiến phát triển trường tồn mà vẫn giữ được hồn cốt xa xưa.

Chất dí dỏm mà đầy biện chứng đã khiến những câu chuyện, những trăn trở, những ý kiến đóng góp của ông vô cùng thiết thực, gần gũi và không ít đã trở thành hiện thực. Ví dụ như đề xuất của ông về việc xã Xuân Phương nên được trả lại cái tên cũ Phương Canh (cánh đồng thơm). Sau này, khi huyện Từ Liêm được chia ra thành hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm, xã Xuân Phương đã được tách thành hai phường Phương Canh và Xuân Phương.

Bộ sưu tập đĩa sứ của nhà thơ Vũ Quần Phương (Ảnh: Minh Anh/Vietnam+)
Bộ sưu tập đĩa sứ của nhà thơ Vũ Quần Phương (Ảnh: Minh Anh/Vietnam+)

Hoặc như nỗ lực của nhà thơ mong muốn lưu lại dấu vết của Hà Nội xưa qua sắc đào Nhật Tân có một thời đã hầu như biến mất khi những cánh đồng đào được thay thế bằng những căn biệt thự to đẹp, những tòa cao ốc sừng sững xi măng… chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng nay, Nhật Tân, Tứ Liên, Quảng Bá, Tây Hồ vẫn còn đó những công viên hoa bốn mùa đua sắc. Hạ thì có sen thơm, Thu về sắc cúc ươm vàng nắng, Đông sang Xuân đến là đào, mai, quất, violet… khoe sắc muôn màu để cho người trẻ lên chụp ảnh, người già về tìm ký ức…

Vào ngày đầu tháng 10 này, trong dịp kỷ niệm 66 năm Giải phóng Thủ đô, 1010 năm Thăng Long-Hà Nội, nhà thơ của Hà Nội đã được Thành phố Hà Nội trao tặng danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú” như một sự ghi nhận trân trọng những đóng góp của ông cho Hà Nội.

Chia sẻ về danh hiệu này, nhà thơ xúc động nói: “Đây không chỉ là một điều đáng tự hào mà còn chính là động lực với tôi.”  Chúng tôi nhận thấy trong mắt ông lấp lánh niềm vui và cả sự đau đáu tình yêu với Hà Nội. Và chúng tôi tin, người thơ lịch lãm của Hà Nội dẫu đã ngoài 80 tuổi này với niềm say mê thơ ca, với tình yêu và niềm đau đáu gìn giữ hồn cốt ngàn năm của Hà Nội-Thăng Long sẽ còn sáng tác, sẽ còn tiếp tục cống hiến cho Hà Nội, cho cuộc đời thêm nhiều áng thơ hay, thêm nhiều ý kiến xây dựng giá trị…

Bài hát Đợi,thơ Vũ Quần Phương, nhạc; Huy Thục

Nhà thơ Vũ Quần Phương tên thật là Vũ Ngọc Chúc.

Trước khi chuyển sang làm thơ, nhà phê bình văn học ông từng  tốt nghiệp Đại học Y khoa và có thời gian 7 năm công tác ở lĩnh vực y tế.

Ông từng giữ các vị trí Trưởng ban biên tập chương trình “Tiếng thơ” của Đài Tiếng nói Việt Nam; Trưởng ban Biên tập văn học hiện đại của Nhà xuất bản Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội; Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du; Tổng Biên tập báo Người Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam, Phó Tổng biên tập tạp chí Văn chương Việt Nam (tiếng Pháp).

Nhà thơ Vũ Quần Phương là Đại biểu Quốc hội khóa IX, năm 2007 ông được tặng thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Các tác phẩm:

– Cỏ mùa xuân (1966)

– Hoa trong cây (1977)

– Những điều cùng đến (tập thơ, 1983)

– Đợi (1988)

– Vầng trăng trong xe bò (tập thơ, 1988)

– Vết thời gian (tập thơ, 1996)

– Quên chữ… quên câu (tập thơ, 2000)

– Giấy mênh mông trắng (tập thơ, 2003)

– Chỗ ấy sóng… (tập thơ, 2008).

Nhà thơ Vũ Quần Phương và vợ (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Nhà thơ Vũ Quần Phương và vợ (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Đi trong phố cổ Hà Nội

Chân đi trong phố, hồn trên mái xưaMái rêu âm dương nắng chiều ngả bóngMùi thơm hoa mộc hay hoa móng rồngMùi thơm bâng khuâng thơm từ trí nhớ

Hàng Đường, hàng Ngang cái thời voi ngựaXa đã rất xa gần lại rất gầnChân đi trong phố hồn trên mái xưa

Những cửa bức bàn những đèn dầu lạcMái tóc đuôi gà trên vai lụa bạchNgười như trong tranh ta như trong mơHồn trên mái xưa những căn nhà cổLòng ta vẫn ở tai ta vẫn ngheHỡi em váy đầm tóc xoăn mắt tímCó về xa thẳm nón thúng quai thaoThời nảo thời nao tiếng gà giữa ngọMá em thì hồng môi em thì lửaCha mẹ thì già nắng ngả cành dâu

Hồn ta là nhà thân ta đến ởĐi đâu về đâu hỡi vầng ngói cổPhố thành giấc ngủ cho ta nằm mê.

Tháng 12/2008

Bất chợt với Thăng Long

Bút nghển mực lên trời để viếtRồng cũng thăng về phía mây bayNgười đi cúi mặt trên đường bụiQuả trong vườn chín quá tầm tay

Tuổi tên tiến sĩ thành bia đáThóc gạo chưa thành cơm nông dânKiêu hãnh đội bia co rụt cổNhững cụ rùa Văn miếu nghìn năm

Muốn gọi rồng bay về với đấtĐất thành lúa chín với rừng xanhGióng ơi đừng vội lên trời thếHãy dọi mái nhà cho mẹ Anh.

24/9/2004

CÔNG DÂN THỦ ĐÔ ƯU TÚ

11 năm qua, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10), Hà Nội lại tổ chức lễ trao tặng danh hiệu cao quý “Công dân Thủ đô ưu tú”. Danh hiệu này dành để tôn vinh những cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, nhiều cống hiến, đóng góp cho sự phát triển của thành phố ngàn năm.

Năm 2020, thủ đô yêu dấu tròn 1010 năm tuổi, thành phố đã chọn ra 10 gương mặt tiêu biểu để xét tặng danh hiệu cao quý nói trên. Trong số đó, có vị lão thành Cách mạng nay đã 97 tuổi nhưng vẫn miệt mài đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Đảng và Nhà nước, viết sách giúp thế hệ trẻ thêm yêu lịch sử dân tộc; có người nông dân thuần phác vận động bà con chòm xóm hiến đất mở đường, tự nguyện cùng gia đình đóng góp gần 2 tỷ đồng xây dựng đường nông thôn mới; có thầy giáo khuyết tật nhưng tận tâm, nhiệt huyết với nghề, không ngừng nỗ lực trong việc tìm ra những phương pháp giảng dạy mới, tạo hứng thú cho học sinh; có bác sỹ với tấm lòng “lương y như từ mẫu” cùng kinh nghiệm vượt qua nhiều dịch bệnh đã giúp Hà Nội và nhiều địa phương trong cả nước chiến thắng dịch COVID-19 thời gian qua…

Báo Điện tử VietnamPlus xin trân trọng giới thiệu một số gương mặt trong 10 “Công dân Thủ đô ưu tú” vừa được thành phố Hà Nội vinh danh ngày 3/10/2020.

Giao thông Hà Nội:

Chỉ cần một cơn mưa hay vào giờ cao điểm, hình ảnh ùn tắc kéo dài dễ dàng được thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng. Từng dòng xe ken cứng, nhích từng mét nối đuôi nhau chen lấn để thoát khỏi dòng người trên đường. Và, nhiều người còn ví von “tắc đường là một trong những đặc sản Hà Nội” mà những ai sinh sống ở Thủ đô này đều đã và từng trải nghiệm.

Có thể thấy rõ rằng trong những năm qua, thành phố vẫn “đau đầu” để giải bài toán ùn tắc giao thông.

Ngoài việc đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng, Hà Nội cũng đưa ra nhiều giải pháp như đẩy mạnh vận tải hành khách công cộng, tổ chức giao thông và quy hoạch hệ thống giao thông song tình hình cũng chưa có nhiều cải thiện đáng kể.

Và mới đây, đề án thí điểm hạn chế xe cá nhân trong nội đô đã nhận được sự quan tâm của dư luận. Liệu đây có thực sự là giải pháp mới “giải toả” áp lực giao thông của Thủ đô hay cần hơn nữa là những chiến lược tổng thể của sự kết hợp giữa việc phát triển các loại hình phương tiện công cộng khối lượng lớn như đường sắt đô thị, metro và xe buýt.

Phương tiện cá nhân đang “ngoạm” đường

Theo số liệu của Phòng Cảnh sát giao thông (Công an thành phố Hà Nội), trên địa bàn Thủ đô hiện có khoảng 7,6 triệu phương tiện các loại; trong đó có 740.000 xe ôtô, 5,8 triệu xe máy, 150.000 xe máy điện và hơn 1 triệu xe đạp điện, chưa kể các loại phương tiện ngoại tỉnh và vãng lai. Tốc độ tăng trưởng trung bình với ôtô các loại tăng khá cao,  tương ứng 12,9%/năm; xe máy tăng trung bình 7,6%/năm, trong khi diện tích đất dành cho giao thông mới tăng ở mức 0,3%/năm… Điều này cho thấy kết cấu hạ tầng giao thông của Thủ đô đang bị quá tải.

Đơn cử, một số công trình đang khai thác đã có lưu lượng xe vượt nhiều lần so với thiết kế, như cầu Thanh Trì, đường vành đai 3 trên cao có lưu lượng 122.606 xe/ngày đêm (gấp 8,1 lần lưu lượng thiết kế); cầu Vĩnh Tuy 75.596 xe/ngày đêm (gấp 6,3 lần thiết kế); đường Tố Hữu vào các giờ cao điểm lưu lượng vượt khả năng thông hành từ 1,1 đến 1,4 lần…

Lượng phương tiện gia tăng nhanh chóng tỷ lệ nghịch so với đầu tư kết cấu hạ tầng. (Ảnh: Minh Hiếu/Vietnam+)
Lượng phương tiện gia tăng nhanh chóng tỷ lệ nghịch so với đầu tư kết cấu hạ tầng. (Ảnh: Minh Hiếu/Vietnam+)

Để giải quyết bài toán hạ tầng, thời gian qua, nhiều công trình giao thông của thành phố đã được đầu tư hoàn thành, giúp giảm tải áp lực, tăng cường kết nối giao thông giữa Thủ đô với các tỉnh lân cận, góp phần phát triển kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng giao thông khung mới đang trong quá trình đầu tư phát triển theo quy hoạch.

Một số công trình đang khai thác đã có lưu lượng xe vượt nhiều lần so với thiết kế.

Trong số đó, các dự án đã hoàn thành hoặc đang triển khai như đầu tư xây dựng hoàn chỉnh nút giao đường vành đai 3 với đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng; cầu vượt nút giao giữa đường Hoàng Quốc Việt-Nguyễn Văn Huyên; tuyến đường vành đai 3 đi thấp qua hồ Linh Ðàm; mở rộng đường Âu Cơ; dự án xây dựng đường vành đai 2, đoạn Vĩnh Tuy-Ngã Tư Sở… sẽ giúp khơi thông các tuyến giao thông huyết mạch Thủ đô.

Mặt khác, một số dự án khác sử dụng vốn ngân sách cũng đang được gấp rút hoàn thiện thủ tục đầu tư, chuẩn bị được thi công, góp phần cải thiện hạ tầng giao thông cho Thủ đô như dự án hầm chui Lê Văn Lương; cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2, các tuyến đường sắt đô thị…

Nhờ vậy, tình trạng ùn tắc giao thông đã được cải thiện, với số điểm ùn tắc giao thông giảm từ 41 điểm (năm 2015) xuống còn 34 điểm (tháng 3/2020). Song, rõ ràng nhìn vào con số có thể thấy đây vẫn là bài toán cần có lời giải căn cơ hơn.

Cần 70.000 tỷ đồng giải toả ách tắc giao thông nội đô?

Theo ông Vũ Văn Viện, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Hà Nội, trong những năm qua, nhất là sau khi đồ án quy hoạch giao thông vận tải Thủ đô được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2016, công tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đã có chuyển biến tích cực. Ðiều này thể hiện rõ qua sự gia tăng tỷ lệ diện tích đất dành cho giao thông tính trên diện tích đất xây dựng đô thị: Năm 2015, tỷ lệ diện tích đất dành cho giao thông đạt 8,6% diện tích đất xây dựng đô thị, đến cuối năm 2019 đạt 9,7% và dự kiến đến hết năm 2020 đạt khoảng 10%.

“Thành phố tập trung đầu tư hình thành mạng lưới hạ tầng giao thông khung của thành phố theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thông tuyến và khép kín các đường vành đai trong khu vực đô thị trung tâm, cùng một số tuyến đường sắt đô thị có tính kết nối,” ông Viện cho hay.

(Ảnh Huy Hùng/Vietnam+)
(Ảnh Huy Hùng/Vietnam+)

Cũng theo ông Viện, trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, thành phố sẽ rà soát, lựa chọn danh mục công trình hạ tầng giao thông cấp bách, trọng điểm để tập trung triển khai đầu tư hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng theo từng giai đoạn bảo đảm tính khả thi.

Trước mắt, Hà Nội tiếp tục cân đối nguồn lực từ ngân sách thành phố đồng thời xây dựng phương án, cơ chế chính sách để đa dạng nguồn vốn phục vụ thực hiện các dự án giao thông khung theo quy hoạch bao gồm vốn vay ODA, vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng, huy động nguồn bằng việc phát hành trái phiếu, đấu giá đất, cổ phần hóa doanh nghiệp, tiếp tục tháo gỡ vướng mắc và kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP (BT, BOT…), xã hội hóa đầu tư.

Chỉ tính riêng những tuyến đường trong nội đô tính đến năm 2030 phải cần đến trên 70.000 tỷ đồng mới giải quyết nhu cầu cơ bản để hạn chế việc ách tắc giao thông.

Tuy nhiên, theo ông Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển Đô thị Việt Nam, trong khi tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh thì chất lượng quy hoạch, tầm nhìn dự báo chưa cao; công tác lập quy hoạch còn chậm, kéo dài, nhất là quy hoạch chi tiết và việc này đã gây khó khăn cho công tác phát triển đô thị, dẫn đến sự phát triển thiếu đồng bộ.

“Bình thường một đô thị phải có 20-25% diện tích đất tự nhiên dành cho giao thông nhưng Hà Nội mới đạt khoảng 10% nên việc phát triển giao thông là nhu cầu rất lớn, đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Chỉ tính riêng những tuyến đường trong nội đô tính đến năm 2030 phải cần đến trên 70.000 tỷ đồng mới giải quyết nhu cầu cơ bản để hạn chế việc ách tắc giao thông. Trong khi đó, vừa thực hiện mạng lưới giao thông cho hoàn chỉnh nhưng vừa phải phát triển, phân bố dân cư. Tuy nhiên, quy hoạch trong nội đô hiện nay gia tăng vượt quá mức trong kế hoạch dự định,” ông Nghiêm đánh giá.

Ông Nghiêm cũng chỉ ra giữa quy hoạch giao thông và quy hoạch phát triển không gian luôn có sự kết hợp chặt chẽ. Khu đô thị thường do tư nhân đầu tư, giao thông lại do Nhà nước đảm nhận. Do nguồn vốn khó khăn, hiện thành phố vẫn chưa thực hiện được đồng thời, chính điều này dẫn tới nhiều bất cập.

Ưu tiên vận tải công cộng-giải pháp “sống còn”

Kinh nghiệm thực tế từ quá trình phát triển đô thị trên khắp thế giới đều cho thấy, khi đã có quy hoạch rõ ràng, vận tải hành khách công công luôn là chìa khóa để giải quyết ùn tắc giao thông, trong đó đường sắt đô thị luôn là “diễn viên chính” và xe buýt là “kép phụ” bổ trợ trong kịch bản giao thông vận tải của các thành phố lớn.

Khẳng định độ bao phủ của tuyến buýt hiện nay tương đối tốt (100% tới 30 quận, huyện, thị xã), song ông Nguyễn Trọng Thông, Chủ tịch Hiệp hội vận tải hành khách công cộng thành phố Hà Nội vẫn phải thừa nhận phương tiện này vẫn chưa hấp dẫn hành khách vì không thể đảm bảo được tính đúng giờ và tốc độ khai thác (vận tốc khai thác bình quân của xe buýt hiện chỉ khoảng 14km/giờ).

Xe buýt vẫn là phương tiện chủ lực của giao thông Thủ đô trong vài năm tới đây. (Ảnh: Huy Hùng/Vietnam+)
Xe buýt vẫn là phương tiện chủ lực của giao thông Thủ đô trong vài năm tới đây. (Ảnh: Huy Hùng/Vietnam+)

“Tốc độ khai thác của vận tải công cộng không ưu việt hơn nên tổng thời gian đi lại cao hơn so với việc di chuyển bằng các phương tiện cơ giới khác. Do đó, việc người dân xa rời xe buýt, lựa chọn phương tiện cá nhân là điều khó tránh,” ông Thông nói.

Thừa nhận nếu thành phố không có giải pháp gì cho xe buýt, cứ để chậm dần đều như hiện nay dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư cho xe buýt sẽ ngày càng giảm, lãnh đạo Tổng công ty Vận tải Hà Nội cho rằng 1.000 tỷ đồng trợ giá cho xe buýt nhưng hành khách cứ bỏ dần thì Nhà nước sẽ lại cắt giảm vốn. Đến một ngày, thành quả của xe buýt mà thành phố đã nỗ lực xây dựng trong gần 20 năm qua đến một ngày sẽ mất. Xe buýt nói riêng và vận tải khách công cộng nói chung sẽ không bao giờ chiến thắng phương tiện cá nhân mà không có sự can thiệp của “bàn tay” Nhà nước.

Đường sắt đô thị luôn là “diễn viên chính” và xe buýt là “kép phụ” bổ trợ trong kịch bản giao thông vận tải của các thành phố lớn.

Phó giáo sư-tiến sỹ Vũ Hoài Nam, Trưởng bộ môn Đường ôtô, đường đô thị (Đại học Xây dựng Hà Nội) cho hay ưu tiên cho giao thông công cộng là giải pháp “sống còn” cho Hà Nội. Để đạt tỷ lệ giao thông công cộng gánh 50-60% thị phần vận tải hành khách như mục tiêu đề ra, giao thông công cộng cần được ưu tiên nguồn vốn tương xứng, bố trí quỹ đất phát triển sẵn hạ tầng như đường, làn dành riêng hoặc trục vận tải hành khách chính…

Từ đó, ông thúc giục thay vì đầu tư mở nhiều tuyến đường mới, Hà Nội nên đầu tư mở đường dành riêng cho giao thông công cộng, đặc biệt là những hành lang kết nối đầu mối giao thông lớn như khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm dịch vụ, các trường đại học…

“Chúng ta không cần những con đường nhiều làn xe hoành tráng, đầy ắp xe con và xe máy mà chỉ cần hai làn xe cho xe buýt tốc độ cao vận chuyển với số lượng lớn hành khách. Chi phí đầu tư chắc chắn sẽ nhỏ hơn rất nhiều,” ông Nam nhấn mạnh.

Một con số dự báo được đưa ra, dân số Hà Nội đã tăng lên hơn 8 triệu người vào năm 2020, dự kiến lên tới 9 triệu người vào năm 2030. Theo tính toán, tại thời điểm này, mỗi giờ đồng hồ Hà Nội có từ 25.000-50.000 lượt hành khách có nhu cầu di chuyển, chỉ tính riêng trong nội đô.

Đường sắt đô thị hay metro sẽ là loại hình vận tải công cộng khối lượng lớn để giải quyết bài toán ùn tắc tại Hà Nội. (Ảnh: Huy Hùng/Vietnam+)
Đường sắt đô thị hay metro sẽ là loại hình vận tải công cộng khối lượng lớn để giải quyết bài toán ùn tắc tại Hà Nội. (Ảnh: Huy Hùng/Vietnam+)

Để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững, tăng năng lực của hệ thống vận tải khách công cộng, phương pháp hiệu quả nhất, cứu cánh quan trọng nhất chính là đường sắt đô thị, đặc biệt khi được kết nối đồng bộ với các loại hình vận tải công cộng khác.

Theo quy hoạch đến năm 2030, Hà Nội sẽ có 8 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 318km để kết nối đến các đô thị vệ tinh và vùng ven. Hiện tại, hai tuyến đường sắt đang thi công và sớm đưa vào hoạt động nhanh nhất chính là tuyến số 2 (đoạn 2A, Cát Linh-Hà Đông) và tuyến số 3 (đoạn Nhổn-ga Hà Nội). Tuyến số 1 (Ngọc Hồi-Yên Viên) dự kiến khởi công từ năm 2007 nhưng đến nay chưa khởi công.

Dự kiến, khi mạng lưới metro của Hà Nội hoàn thiện sẽ gia tăng tỷ lệ người dân sử dụng phương tiện hành khách công cộng tới 35-45%, giảm người sử dụng phương tiện cá nhân tham gia giao thông xuống 30%; đóng góp vào sự phát triển kinh tế của khu vực và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Thủ đô, môi trường đô thị nhờ giảm thiểu tắc nghẽn giao thông cũng như ô nhiễm môi trường.

Nhìn nhận xe buýt sẽ “chia lửa” cho đường sắt đô thị, ông Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Trung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị (Sở Giao thông Vận tải Hà Nội) cho biết sau khi đường sắt đô thị đi vào hoạt động, việc kết nối sẽ theo nguyên tắc xe buýt cung cấp và giải tỏa tối đa hành khách của tuyến đường sắt đô thị tại các nhà ga. Tất cả các nhà ga đường sắt đều có kết nối với hệ thống xe buýt thành phố.

Phát triển và sử dụng giao thông công cộng là thước đo trình độ phát triển của một đô thị, là con đường tất yếu phát triển đô thị đồng bộ, bền vững.

Khẳng định sự cần thiết ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng, lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải bày tỏ quan điểm việc phát triển và sử dụng giao thông công cộng là thước đo trình độ phát triển của một đô thị, là con đường tất yếu phát triển đô thị đồng bộ, bền vững.

Trong thời gian qua, Bộ Giao thông Vận tải đã chú trọng phối hợp với thành phố Hà Nội khi xây dựng các quy hoạch trong lĩnh vực giao thông, quy hoạch chung xây dựng các đô thị đều ưu tiên quy hoạch hệ thống giao thông công cộng tại các đô thị nhằm xác định mục tiêu có tính chiến lược lâu dài để huy động nguồn lực, dành quỹ đất để đầu tư xây dựng các loại hình vận tải hành khách công cộng như đường sắt trên cao, tàu điện ngầm, xe buýt, buýt nhanh BRT,…

“Hệ thống vận tải hành khách công cộng chủ yếu do các địa phương thực hiện đầu tư. Tuy nhiên, do việc xây dựng hệ thống vận tải hành khách công cộng đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng lớn, yêu cầu công nghệ cao, khối lượng giải phóng mặt bằng lớn,… nên việc đầu tư còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về vận tải hành khách công cộng, đặc biệt tại thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh,” lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải cho hay.

Thời gian tới, Bộ Giao thông Vận tải cam kết tiếp tục hỗ trợ, phối hợp với các địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp để ưu tiên thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển vận tải hành khách công cộng nhằm gắn kết với các khu đô thị, khu công nghiệp, các trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch, trường học,… để sớm hình thành mạng lưới giao thông bao quát các khu vực đô thị quan trọng, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách công cộng; tăng cường cải thiện dịch vụ vận tải hành khách công cộng; đẩy mạnh công tác truyền thông người dân từ hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân chuyển sang sử dụng phương tiện giao thông công cộng./.

Thông tấn xã Giải phóng

Sau thời gian ngắn chuẩn bị, đúng 19 giờ ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), Thông tấn xã Giải phóng đã phát đi bản tin đầu tiên, đánh dấu sự ra đời và thực hiện “sứ mệnh” thông tin vẻ vang, anh dũng, kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân, dân miền Nam vì hòa bình thống nhất đất nước. 

Với việc thực hiện xuất sắc nhiệm vụ thông tin và trực tiếp tham gia chiến đấu với những chiến công, sự hy sinh to lớn, Thông tấn xã Giải phóng đã góp phần tích cực vào trang sử oanh liệt của quân, dân miền Nam anh dũng, bất khuất, tô thắm thêm lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Ngày 24/5/1976 là thời khắc lịch sử của ngành Thông tấn cách mạng, Việt Nam Thông tấn xã cùng Thông tấn xã Giải phóng – hai người anh em ruột thịt, tuy hai mà một – đã chính thức hợp nhất, hòa với khí thế cách mạng chung của toàn dân tộc, bước vào giai đoạn mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Thông tấn xã Giải phóng và đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân do Đảng, Nhà nước trao tặng, Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết “Thông tấn xã Giải phóng – Hãng thông tấn Anh hùng” của đồng chí Nguyễn Đức Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.

Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) là trường hợp hiếm có và có lẽ là có một không hai trong lịch sử báo chí thế giới. Đây là cơ quan thông tấn, cơ quan phát ngôn của một lực lượng kháng chiến, ra đời dưới bom đạn kẻ thù, trưởng thành trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến.

Hoạt động trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy nên TTXGP đã gánh chịu những tổn thất, hy sinh mà ít có cơ quan báo chí nào trên thế giới từng trải qua, nhưng những chiến công, những vinh quang mà họ gặt hái được cũng khó ai có thể sánh bằng.

Thông tấn xã Giải phóng là trường hợp hiếm có và có lẽ là có một không hai trong lịch sử báo chí thế giới

Năm 1954, Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương đã tạm thời chia Việt Nam thành hai miền do hai chính thể quản lý để chờ tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo quy định tại hiệp định.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình miền Nam và từ những yêu cầu tất yếu của cách mạng trong tình hình mới, năm 1960, cách mạng miền Nam chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Để phục vụ cho cuộc đấu tranh này, sau một thời gian ngắn chuẩn bị về lực lượng và phương tiện, ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), qua chiếc máy phát sóng 15 wat, TTXGP đã phát đi bản tin đầu tiên của mình, đánh dấu sự ra đời và thực hiện “sứ mệnh” thông tin vẻ vang, anh dũng, duy trì mạch thông tin thông suốt, kịp thời về cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình thống nhất nước nhà đến đông đảo bạn đọc trong nước và quốc tế.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc TTXVN Nguyễn Đức Lợi. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc TTXVN Nguyễn Đức Lợi. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Trong lời ra mắt, TTXGP trịnh trọng thông báo cho quốc dân đồng bào và bè bạn trên thế giới: “Thông tấn xã Giải phóng là cơ quan phát ngôn và thông tấn chính thức của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ phổ biến tin tức và kinh nghiệm đấu tranh phong phú của đồng bào ở khắp nơi, phản ánh uy thế ngày càng lớn của phong trào cách mạng và sự suy sụp của tập đoàn thống trị miền Nam. Ngoài ra, Thông tấn xã Giải phóng cũng cung cấp một số tài liệu về tình hình địch và ta để vạch trần âm mưu, ý đồ của địch cũng như để làm sáng tỏ đường lối, chính sách của cách mạng.”

Thực hiện tôn chỉ, chức năng và nhiệm vụ đó, trong suốt hơn 15 năm hoạt động, TTXGP luôn đi tiên phong trong công tác thông tin, tuyên truyền; trở thành cơ quan chủ lực trong khối thông tấn báo chí cách mạng ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và giai đoạn đầu thống nhất đất nước.

Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù, TTXGP phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần.

Với tư cách là cơ quan phát ngôn chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, TTXGP đã thông tin “đúng sự thật, đúng sự lãnh đạo của Đảng,” trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng sắc bén, mạnh mẽ, góp phần cực kỳ quan trọng làm nên những chiến công chói lọi của dân tộc ta đi tới ngày thống nhất đất nước.

Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù, TTXGP phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần: khi ở chiến khu Tây Ninh (năm 1960), lúc dời sang Mã Đà (địa phận Đồng Nai) thuộc Chiến khu Đ (đầu năm 1961), rồi quay lại Tây Ninh (cuối năm 1961), có lúc ở giáp biên giới Campuchia và thậm chí còn ở tạm trên đất Campuchia khi Mỹ mở rộng chiến tranh Đông Dương (năm 1971) và chuyển về lại Tây Ninh sau khi ký Hiệp định Paris (năm 1973).

Tin, bài, ảnh của các phóng viên TTXGP và VNTTX về Chiến dịch Hồ Chí Minh được  sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin của Việt Nam.
Tin, bài, ảnh của các phóng viên TTXGP và VNTTX về Chiến dịch Hồ Chí Minh được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin của Việt Nam.

Cùng trong cảnh bom đạn ác liệt, các phân xã của TTXGP trên toàn miền Nam cũng liên tục thay đổi trụ sở do bị Mỹ-Ngụy tấn công tận nơi làm việc. Có phân xã nhiều lần bị hy sinh toàn bộ nên phải thành lập mới và chuyển nơi trú đóng, như Phân xã Long An 3 lần bị xóa sổ, Phân xã Rạch Giá (Kiên Giang) 5 lần bị xóa sổ. Riêng Phân xã Kiên Giang, dù chưa xác minh đủ, nhưng đã có 16 phóng viên, kỹ thuật viên hy sinh. Ở Phân xã TTXGP Nam Tây Nguyên, cả 5 người đã hy sinh cùng lúc trên đường làm nhiệm vụ, chỉ còn chiếc máy thu phát tin bị hư hại (máy thu phát 15W-RT77A/GRC-9 MAXWELL này hiện được trưng bày trong Phòng Truyền thống của TTXVN).

Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, hàng chục cán bộ, phóng viên, nhân viên kỹ thuật thông tấn từ Quảng Trị đến Cà Mau đã ngã xuống, trong đó riêng Phân xã Sài Gòn-Gia Định là 12 đồng chí… Trong trận càn kéo dài 70 ngày của địch vào Bá Hòn-Hòn Đất (Kiên Giang), hai đồng chí TTXGP đã hy sinh cùng Liệt sỹ Phan Thị Ràng (nguyên mẫu của nhân vật chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất của Nhà văn Anh Đức).

Trong trận càn Junction City, có đồng chí được phân công giữ căn cứ đã chiến đấu anh dũng, bắn cháy hai xe bọc thép của địch trước lúc hy sinh. Có gia đình có hai cha con hoặc hai anh em ruột cùng hy sinh cho sự nghiệp thông tấn, như hai cha con phóng viên ảnh Huỳnh Bỉnh Khôi và Huỳnh Văn Dũng; hai anh em Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn.

Chiến công diệt xe tăng của chiến sỹ TTXGP trong trận càn Junction City (1967). Nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên TTXGP dũng cảm chiến đấu bảo vệ căn cứ, tiêu diệt địch, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Chiến công diệt xe tăng của chiến sỹ TTXGP trong trận càn Junction City (1967). Nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên TTXGP dũng cảm chiến đấu bảo vệ căn cứ, tiêu diệt địch, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Nhà báo-Liệt sỹ Đinh Thúy (Phó Chủ nhiệm Phân xã Nhiếp ảnh TTXVN, Phó Giám đốc TTXGP) mà tên thật của ông là Bùi Đình Túy đã được đặt cho một đường phố và một cây cầu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Hài cốt của ông, cũng như của nhiều đồng nghiệp khác, cho đến nay vẫn chưa được tìm thấy.

Ở Khu V, TTXGP Trung Trung Bộ cũng phải dời địa điểm nhiều lần theo Ban Tuyên huấn Khu ủy V, chuyển từ Trung Mang, huyện Hiên (nay là huyện Đông Giang) đến Tắk Pỏ; Nước Là; Sông Thanh, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam. Từ năm 1970 đến đầu năm 1973 chuyển theo Khu ủy V về Nước Oa, huyện Trà My. Từ năm 1973 đến cuối tháng 3/1975, TTXGP Trung Trung Bộ lại chuyển đến trú đóng gần Khu ủy V tại xã Phước Trà, huyện Phước Sơn (nay là xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam – nơi đóng căn cứ cuối cùng của Khu ủy V).

Vượt lên trên tất cả những tổn thất, hy sinh vô cùng lớn đó, cũng như rất nhiều khó khăn về nguồn lực, phương tiện kỹ thuật, TTXGP đã trụ vững và trưởng thành, không ngừng phát triển cả về tổ chức và lực lượng trên khắp miền Nam, duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam.

Tin, ảnh của TTXGP từ Quảng Trị đến Cà Mau, từ vùng nông thôn U Minh Thượng đến đô thị Sài Gòn-Gia Định… đều luôn nóng hổi tính thời sự, không chỉ cung cấp kịp thời cho các cơ quan thông tấn báo chí trong, ngoài nước mà còn giúp Trung ương cục miền Nam phân tích, nhận định tình hình để đi đến những quyết định có tính chiến lược, chỉ đạo kịp thời hoạt động trên chiến trường.

Tác phẩm “Du kích Cà Mau kéo pháo để tấn công cứ điểm Cái Keo-Cà Mau” - Giải  thưởng Nhà nước năm 2007. Tác giả: Trần Bình Khuôl (TTXGP)
Tác phẩm “Du kích Cà Mau kéo pháo để tấn công cứ điểm Cái Keo-Cà Mau” – Giải thưởng Nhà nước năm 2007. Tác giả: Trần Bình Khuôl (TTXGP)

Có thể nói, ở đâu có trận đánh là ở đó TTXGP có mặt. Không một chiến trường, không một hướng tiến quân, không một địa bàn chiến đấu nào vắng mặt phóng viên của TTXGP. Những mốc lịch sử, những chiến thắng vang dội trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đều có dấu ấn đóng góp, hy sinh của phóng viên TTXGP. Đúng như 16 chữ vàng mà Trung ương Cục miền Nam đã khen tặng TTXGP: “Cần cù dũng cảm, tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.”

Bên cạnh nhiệm vụ thông tin, lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của TTXGP còn trực tiếp cầm súng chiến đấu và trở thành những chiến sỹ thực thụ. Nhiều cán bộ, nhân viên của TTXGP đã hy sinh trong tư thế chiến đấu, với cây súng trên tay.

Trong những tháng năm chiến đấu ác liệt đó, nhiều phóng viên, kỹ thuật viên TTXGP đã vĩnh viễn nằm lại trên những cánh rừng. Hài cốt của một số anh chị đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Hàng chục người khác đã để lại một phần xương máu của mình trên chiến trường và không ít người còn mang di chứng của chất độc da cam.

Theo số liệu chưa đầy đủ, hơn 240 phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, điện báo viên TTXGP đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ thông tin hoặc trực tiếp chiến đấu, tương đương 50% tổng biên chế của TTXGP vào thời điểm cuối năm 1974. Đây là cơ quan báo chí có số lượng nhà báo hy sinh lớn nhất trong lịch sử Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Phóng viên TTXGP đi công tác ở chiến trường Nam Bộ (năm 1974).
Phóng viên TTXGP đi công tác ở chiến trường Nam Bộ (năm 1974).

Ghi nhận những đóng góp to lớn của TTXGP, Đảng và Nhà nước đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý cho hơn 200 tập thể, cá nhân của cơ quan báo chí đặc biệt này. Gần đây nhất, ngày 1/9/2020, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của TTXGP trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ngày 30/4/1975 là thời khắc lịch sử của dân tộc khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước được thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà. Ngày 24/5/1976, VNTTX cùng TTXGP, người anh em “tuy hai mà một,” đã chính thức hợp nhất, đánh dấu một giai đoạn mới trong bước phát triển của ngành Thông tấn.

Ngày 1/9/2020, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của TTXGP trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Ngày 12/5/1977, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết số 84/NQ-QHK6 phê chuẩn việc đổi tên VNTTX thành Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN).

Sự trưởng thành, lớn mạnh hiện nay của TTXVN – hãng thông tấn quốc gia đa phương tiện hiện đại hàng đầu khu vực và có uy tín cao trong làng báo quốc tế – là thành quả của biết bao công lao, trí tuệ, mồ hôi, xương máu của lớp lớp các thế hệ những người làm báo thông tấn, trong đó có sự đóng góp đặc biệt nổi bật của những người từng đứng trong đội ngũ TTXGP./.

Bộ phận điện vụ của Thông tấn xã Giải phóng hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN)
Bộ phận điện vụ của Thông tấn xã Giải phóng hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. (Ảnh: TTXVN)

Tranh luận Pence-Harris:

Cuộc tranh luận trực tiếp đầu tiên và duy nhất giữa Phó Tổng thống đương nhiệm Mike Pence của đảng Cộng hòa và ứng cử viên phó tổng thống của đảng Dân chủ Kamala Harris đã diễn ra tại Trường đại học Utah, thành phố Salt Lake, bang Utah (diễn ra sáng 8/10 (giờ Việt Nam, tối 7/10 giờ Mỹ).

Đây là cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên phó tổng thống được đánh giá có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử bầu cử của Mỹ bởi những diễn biến bất ổn hiện nay trên chính trường Mỹ.

Thông thường, những cuộc tranh luận của các ứng cử viên phó tổng thống hiếm khi mang tính quyết định và không có nhiều ý nghĩa trong các cuộc bầu cử ở Mỹ, bởi nó chủ yếu tập trung vào việc một ứng cử viên phó tổng thống sẽ hỗ trợ như thế nào cho tổng thống nếu thắng cử.

Cuộc tranh luận giữa ông Mike Pence và bà Kamala Harris năm nay đã bất ngờ trở nên quan trọng và có sự khác biệt lớn do nhiều yếu tố.

Năm 2016, trong khi cuộc tranh luận đầu tiên giữa ứng cử viên tổng thống Donald Trump và cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton thu hút con số kỷ lục 84 triệu người xem, thì chỉ có 37 triệu người xem cuộc tranh luận của ứng cử viên phó tổng thống Mike Pence, khi đó là Thống đốc bang Indiana và ứng cử viên đảng Dân chủ Tim Kaine.

Tuy nhiên, cuộc tranh luận giữa Phó Tổng thống Mike Pence và ứng cử viên phó tổng thống của đảng Dân chủ Kamala Harris năm nay đã bất ngờ trở nên quan trọng và có sự khác biệt lớn do nhiều yếu tố.

Video cuộc tranh luận trực tiếp giữa ông Mike Pence và bà Kamala Harris. (Nguồn: Time)

Nước Mỹ đang phải trải qua giai đoạn đầy khó khăn và thử thách khi đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 vẫn tiếp tục hoành hành trên khắp các bang, nền kinh tế suy giảm tồi tệ hơn cả thời kỳ Đại suy thoái hay biểu tình biến thành bạo loạn liên quan đến phân biệt chủng tộc.

Cùng với đó, còn một yếu tố cũng không kém phần quan trọng, đó là vấn đề tuổi tác cũng như khả năng dễ bị tổn thương của các ứng cử viên tổng thống, đặc biệt là việc chính Tổng thống Donald Trump hiện đang mắc COVID-19, làm dấy lên nhiều quan ngại về khả năng ông sẽ quay trở lại đường đua trong khi chỉ còn chưa đầy 1 tháng nữa là tới ngày bầu cử.

Vì vậy, cuộc tranh luận giữa ông Pence và và Harris đặc biệt thu hút sự chú ý, đồng thời gây áp lực lớn đối với hai ứng cử viên bởi họ phải sử dụng diễn đàn này để trấn an dư luận cũng như cho thấy họ đã chuẩn bị sẵn sàng và có khả năng gánh vác trách nhiệm lãnh đạo đất nước trong những tình huống khẩn cấp quốc gia.

Đây cũng có thể được coi là một “bài kiểm tra chính trị,” là buổi diễn tập trước cho một cuộc tranh luận thực sự giữa hai ứng cử viên này trong năm bầu cử 2024, khi cả Thượng nghị sỹ Harris và ông Mike Pence có thể trở thành người đại diện của mỗi đảng tham gia tranh cử.

Không giống cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ứng cử viên tổng thống với nhiều gián đoạn và tranh cãi, tại cuộc tranh luận lần này, Phó Tổng thống Mike Pence, 61 tuổi, cựu Thống đốc bang Indiana và có 12 năm phục vụ trong quốc hội, và Thượng nghị sỹ Kamala Harris, 55 tuổi, từng làm Bộ trưởng Tư pháp bang California, đã cho thấy sự thay đổi trong phong cách tranh luận, dù có lúc căng thẳng và gay gắt, nhưng vẫn giữ được sự kiểm soát.

Trong cuộc tranh luận, mặc dù bị tấn công dồn dập liên quan tới cách thức chính quyền Tổng thống Donald Trump xử lý đại dịch COVID-19, kể cả việc chính Phó Tổng thống Mike Pence cũng có phần trách nhiệm với tư cách là người đứng đầu đội đặc nhiệm Nhà Trắng khi để đại dịch gây ra những hậu quả nghiêm trọng về con người và kinh tế cho đất nước, thậm chí hiện nay còn đang lan rộng trong Nhà Trắng, song ứng cử viên của đảng Cộng hòa có thể nói đã “hoàn thành nhiệm vụ.”

Ông đưa ra những lập luận sắc bén của người có kinh nghiệm với những chính sách lớn và những thách thức chính trị có được suốt 4 năm làm việc trong chính quyền Tổng thống Trump để phản bác những chỉ trích của Thượng nghị sỹ Kalama Harris, cũng như tấn công trở lại đối thủ. Phó Tổng thống Pence cho rằng người dân Mỹ đã chứng minh trong 8 tháng qua rằng họ đã nhận thức được sự thật.

Họ sẵn sàng đặt sức khỏe của gia đình, láng giềng và những người không quen biết lên trên hết. Ông cũng như Tổng thống Trump có niềm tin rất lớn vào người dân Mỹ và khả năng của họ trong việc tiếp nhận thông tin và kiểm chứng trong thực tế.

Đây được coi là một “bài kiểm tra chính trị,” là buổi diễn tập trước cho một cuộc tranh luận thực sự giữa hai ứng cử viên này trong năm bầu cử 2024.

Bằng sự điềm tĩnh và chắc chắn, phải thừa nhận Phó Tổng thống Pence đã có màn thể hiện cho thấy ông xứng đáng là nhân vật quan trọng số hai của nước Mỹ.

Ông Pence được đảng Cộng hòa kỳ vọng sẽ giúp Tổng thống Trump lấy lại được sự ủng hộ của cử tri, đặc biệt tại những bang dao động sau cuộc tranh luận đầu tiên được đánh giá không mấy thành công với ứng cử viên Dân chủ Joe Biden ngày 29/9 vừa qua.

Ứng viên Phó Tổng thống của đảng Dân chủ, Thượng nghị sỹ bang California Kamala Harris. (Nguồn: Getty Images)
Ứng viên Phó Tổng thống của đảng Dân chủ, Thượng nghị sỹ bang California Kamala Harris. (Nguồn: Getty Images)

Phó Tổng thống Pence cũng cho thấy khả năng trở thành một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và sẵn sàng làm thuyền trưởng dẫn dắt “con tàu” nước Mỹ vượt qua những khó khăn và thử thách trong trường hợp khẩn cấp quốc gia mà không ảnh hưởng tới vị trí của tổng thống đương nhiệm.

Đối với bà Kamala Harris, người được coi là nhà lãnh đạo tiềm năng cho thế hệ trẻ của đảng Dân chủ, cuộc tranh luận này cũng mang một ý nghĩa lớn và mang tính lịch sử bởi bà là phụ nữ da màu đầu tiên và người gốc Ấn Độ được một đảng lớn đề cử làm phó tổng thống.

Đây là cơ hội để nữ nghị sỹ này khẳng định bà xứng đáng trở thành đề cử của đảng Dân chủ và là người hỗ trợ đắc lực cho cựu Phó Tổng thống Joe Biden nếu ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sắp tới.

Đây là cuộc tranh luận lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của bà Kamala Harris từ trước tới nay, dù trước đó bà cũng có các cuộc tranh luận, nhưng với quy mô nhỏ, khi tham gia chạy đua vào vị trí thượng nghị sĩ và bộ trưởng Tư pháp bang California hay các cuộc tranh luận trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ.

Trong phần tranh luận của mình, ứng cử viên Kamala Harris cho thấy bà là nhà tranh luận hiệu quả, mạnh mẽ, nhiều năng lượng, có thể giúp lấp đầy khoảng trống và bổ trợ những điểm yếu của ông Joe Biden, cũng như chứng minh bà hoàn toàn có thể trở thành đại diện của đảng này ra tranh cử trong cuộc đua vào Nhà Trắng 4 năm tiếp theo.

Bà Kamala Harris là phụ nữ da màu đầu tiên và người gốc Ấn Độ được một đảng lớn đề cử làm phó tổng thống.

Bà Harris đã cố gắng cân bằng giữa việc chỉ trích hồ sơ xử lý đại dịch của chính quyền Tổng thống Trump và kế hoạch, tầm nhìn của ông Biden nếu trở thành tổng thống, cũng như những công việc mà bà sẽ hỗ trợ ông Biden trong thời gian tới.

Bà đưa ra những cam kết của liên danh tranh cử đảng Dân chủ trong việc xử lý đại dịch COVID-19, như tập trung vào việc truy tìm tiếp xúc, tăng xét nghiệm, thúc đẩy nghiên cứu vaccine và phân phát miễn phí cho toàn bộ người dân Mỹ.

Tuy nhiên, bà Harris cũng chưa thể hiện được rõ lập trường tư tưởng hay điều mà bà đại diện, và đây chính là yếu tố khiến bà chưa nhận được sự ủng hộ của nhiều từ cử tri trong cuộc bầu cử sơ bộ.

Như vậy, với màn tranh luận kéo dài 90 phút, hai ứng cử viên phó tổng thống đã phần nào giúp cử tri Mỹ hiểu được chính xác những kế hoạch và chính sách mà hai bên dự định sẽ thực hiện trong thời gian tới nhằm giúp nước Mỹ vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay để tiếp tục duy trì vị thế hàng đầu thế giới trong tất cả các lĩnh vực.

Đánh giá ở khía cạnh đó, có thể nói cả hai ứng cử viên đã hoàn thành được “bài kiểm tra chính trị” quan trọng này.

Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence (phải) và ứng viên Phó Tổng thống của đảng Dân chủ,  Thượng nghị sỹ bang California Kamala Harris tại cuộc tranh luận trực tiếp. (Ảnh:  AFP/TTXVN)
Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence (phải) và ứng viên Phó Tổng thống của đảng Dân chủ, Thượng nghị sỹ bang California Kamala Harris tại cuộc tranh luận trực tiếp. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Gỡ bài toán khó phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội

Đại dịch COVID-19 khiến các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, người lao động mất việc. Thu nhập người dân giảm nên nhiều người không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… dẫn đến số người tham gia và số thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giảm trong khi số nợ các loại bảo hiểm lại tăng lên. Các chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội của Chính phủ giao sẽ khó đạt được nếu không có nhiều biện pháp quyết liệt.

Số người tham gia bảo hiểm xã hội giảm mạnh vì COVID-19

Tình hình dịch COVID-19 đã tác động rất lớn đến nhiều doanh nghiệp tại Bình Thuận, điều này thể hiện rất rõ trong việc điều chỉnh tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của các doanh nghiệp. Theo thống kê, từ ngày 1/3 đến hết tháng 6, toàn tỉnh Bình Thuận có 748 doanh nghiệp (chiếm tới 47,5% trong tổng số doanh nghiệp) đã điều chỉnh giảm tham gia bảo hiểm y tế cho 12.242 người lao động; có 6.154 người lao động thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hơn 6.000 người lao động nghỉ việc không hưởng lương, hơn 7.000 người lao động chốt bảo lưu sổ bảo hiểm xã hội.

Ông Phạm Xuân Toan, Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Thuận cho biết, những doanh nghiệp điều chỉnh tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chủ yếu thuộc lĩnh vực du lịch, nhà hàng, khách sạn, gia công giày dép, may mặc… Việc điều chỉnh này đã tác động không nhỏ tới công tác phát triển lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Theo ông Toan, để hoàn thành chỉ tiêu đề ra, bên cạnh thực hiện đầy đủ quy trình thu nợ do bảo hiểm xã hội Việt Nam đề ra, Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Thuận đẩy mạnh thường xuyên đồng hành cùng doanh nghiệp để tổ chức đôn đốc thu nợ, hạn chế đến mức thấp nhất các đơn vị có số nợ lớn và kéo dài, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Những doanh nghiệp điều chỉnh tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chủ yếu thuộc lĩnh vực du lịch, nhà hàng, khách sạn, gia công giày dép, may mặc…

Bình Thuận không phải là địa phương duy nhất gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các chỉ tiêu của ngành bảo hiểm xã hội. Theo báo cáo của bảo hiểm xã hội Việt Nam, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, nhiều đơn vị, doanh nghiệp trên cả nước phải thu hẹp sản xuất kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động, không có việc làm phải nghỉ việc. Các hoạt động tuyên truyền, vận động người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế hộ gia đình và công tác thanh tra, kiểm tra cũng phải hạn chế.

Nhiều người lao động đã phải ngừng tham gia bảo hiểm xã hội vì gặp khó khăn do COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Nhiều người lao động đã phải ngừng tham gia bảo hiểm xã hội vì gặp khó khăn do COVID-19. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Thu nhập người dân giảm nên nhiều người không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế hộ gia đình… dẫn đến số người tham gia và số thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giảm trong khi đó số nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế lại tăng lên.

Tính đến hết ngày 31/8, cả nước có trên 15,3 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội (đạt 31,2% lực lượng lao động trong độ tuổi); trên 12,8 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (đạt 26% lực lượng lao động trong độ tuổi); trên 86,4 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (đạt tỷ lệ bao phủ 89,2% dân số). So với cuối năm 2019, mặc dù số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế có tăng trưởng dương, nhưng số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp lại giảm mạnh.

Số thu bảo hiểm xã hội dù có tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ lệ so với kế hoạch cả năm lại thấp hơn cùng kỳ (hết tháng 8/2019, số thu toàn ngành đạt 63,6% kế hoạch năm). Bên cạnh đó, số tiền nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế khoảng 21.408 tỷ đồng (bằng 5,3% số phải thu và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2019).

Ngoài ra, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tính đến tháng 9, cả nước đã có 954 đơn vị, doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch COVID-19 được phê duyệt hồ sơ tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, tương ứng với 79.522 người lao động và ước số tiền khoảng 326 tỷ đồng.

Theo tính toán của bảo hiểm xã hội Việt Nam, để đạt được chỉ tiêu Chính phủ giao, trong những tháng cuối năm nay, ngành bảo hiểm xã hội cần phải phát triển thêm trên 1,893 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội; trên 1,493 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Riêng với bảo hiểm y tế, để đạt tỷ lệ bao phủ 90,7% dân số theo kế hoạch, cũng cần thu hút thêm trên 1,6 triệu người tham gia. Những mục tiêu này đòi hỏi cần phải có sự tập trung, quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Tháo gỡ khó khăn, đảm bảo quyền lợi cho người dân

Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ, ngành bảo hiểm xã hội vẫn đảm bảo kịp thời, đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như các chỉ đạo của Chính phủ trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19. Bảo hiểm xã hội Việt Nam và bảo hiểm xã hội các địa phương đã nỗ lực đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý; đổi mới phương thức hoạt động theo hướng phục vụ chi trả nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền lợi cho người tham gia.

Trong những tháng cuối năm nay, ngành bảo hiểm xã hội cần phải phát triển thêm trên 1,893 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội; trên 1,493 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. 

Trong 8 tháng, cả nước đã chi hưởng bảo hiểm xã hội 151.757 tỷ đồng; chi bảo hiểm thất nghiệp 1.728 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2019, tuy số người được giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản giảm, nhưng số người được giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng, bảo hiểm xã hội một lần và bảo hiểm thất nghiệp đều tăng. Tương ứng là số chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cũng tăng so với cùng kỳ năm 2019, đặt biệt là số chi bảo hiểm thất nghiệp tăng mạnh lên tới 106%.

Bảo hiểm xã hội đẩy mạnh tuyên truyền để thực hiện mục tiêu phát triển đối tượng. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Bảo hiểm xã hội đẩy mạnh tuyên truyền để thực hiện mục tiêu phát triển đối tượng. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Để tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết, bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đẩy mạnh tích hợp, cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho doanh nghiệp, người dân trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tính đến nay, bảo hiểm xã hội Việt Nam đã cung cấp 15 dịch vụ công; đã tiếp nhận gần 3.500 hồ sơ qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong đó có một số dịch vụ có tần suất thực hiện lớn.

Nhằm tháo gỡ khó khăn trong những tháng cuối năm 2020, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ tập trung vào việc đảm bảo phát triển đối tượng, tăng thu, giảm nợ bảo hiểm xã hội… đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tham gia các chính sách an sinh xã hội quan trọng này.

Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Đào Việt Ánh yêu cầu các đơn vị rà soát, đưa ra chỉ tiêu, kế hoạch sát với thực tế và nhiệm vụ mà ngành bảo hiểm xã hội được giao, làm động lực cho bảo hiểm xã hội các địa phương phấn đấu. Đặc biệt, công tác tuyên truyền phải đảm bảo phù hợp với từng thời điểm, từng giai đoạn và từng nhóm đối tượng…

Bảo hiểm xã hội các địa phương kiên quyết thực hiện các giải pháp giảm nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại các đơn vị cố tình chây ỳ, trốn đóng… thông qua đẩy mạnh hoạt động thanh tra đột xuất. 

Đánh giá tác động tiêu cực của dịch COVID-19 đến doanh nghiệp sẽ khiến mục tiêu phát triển bảo hiểm xã hội bắt buộc tương đối khó khăn, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Trần Đình Liệu cho rằng: “Bảo hiểm xã hội Việt Nam vẫn có nhiều điều kiện để đảm bảo số thu trong năm 2020. Vì vậy, bảo hiểm xã hội các địa phương cần kiên quyết thực hiện các giải pháp giảm nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tại các đơn vị cố tình chây ỳ, trốn đóng bảo hiểm xã hội thông qua đẩy mạnh hoạt động thanh tra đột xuất. Bên cạnh đó, cần phát huy cao nhất quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội trong hoạt động này.”

Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh nhấn mạnh hoạt động phát triển đối tượng, tuyên truyền chính sách cần có các giải pháp phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể. Đồng thời, thực hiện tốt công tác chi trả, các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và triển khai hiệu quả hệ thống tương tác đa phương tiện giữa người dân và doanh nghiệp…

Nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác thu, ông Mạnh yêu cầu các đơn vị nghiệp vụ và bảo hiểm xã hội các địa phương cần bám sát dự toán thu, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, trong đó có cơ quan thuế để rà soát các nhóm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, tăng cường thanh tra đột xuất các đơn vị sử dụng lao động có dấu hiệu vi phạm; kiên quyết thu hồi nợ tại các đơn vị chây ỳ./.

Cán bộ bảo hiểm xã hội tuyên truyền về chính sách bảo hiểm tự nguyện cho người dân. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Cán bộ bảo hiểm xã hội tuyên truyền về chính sách bảo hiểm tự nguyện cho người dân. (Ảnh: PV/Vietnam+)

1010 năm Thăng Long-Hà Nội

Nếu bạn là một người con Hà Nội, lưu lạc nhiều năm rồi mới quay trở lại thăm quê hương, thì hẳn bạn sẽ ngỡ ngàng với diện mạo của “thành phố trong sông,” nhất là trong dịp kỷ niệm 1010 năm Thăng Long-Hà Nội, 66 năm giải phóng thủ đô.

Bởi Hà Nội đang thay đổi từng ngày, theo hướng “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn,” với những cụm công trình giao thông hiện đại, xứng tầm của một đô thị lớn trong thế kỷ 21.

Hãy cùng phóng viên VietnamPlus điểm lại những công trình trọng điểm được gắn biển mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, để thấy được sau 10 năm, những công trình ấy đã đóng góp ra sao vào sự phát triển của thủ đô cũng như của đất nước.

Cầu Vĩnh Tuy

Cầu Vĩnh Tuy được xây dựng trên địa bàn 2 quận Long Biên và Hai Bà Trưng, khởi công ngày 3/2/2005 và được khánh thành vào ngày 26/9/2010.

Công trình được thành phố Hà Nội gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Cầu Vĩnh Tuy là cây cầu thứ năm bắc qua sông Hồng đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội, được hoàn thành và đưa vào sử dụng. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu Vĩnh Tuy là cây cầu thứ năm bắc qua sông Hồng đoạn chảy qua địa bàn Hà Nội, được hoàn thành và đưa vào sử dụng. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Dự án cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 1 có tổng mức đầu tư gần 3.600 tỷ đồng được huy động từ nguồn vốn ngân sách. Cầu dài 5,8km gồm cầu vượt sông, đường hai đầu cầu và các nút giao khác mức. Trong đó phần cầu vượt sông Hồng dài 3,7km, mặt cắt ngang giai đoạn 1 là 19,2m.

Cầu có kết cấu bê-tông cốt thép và bê-tông cốt thép dự ứng lực, phần cầu chính vượt sông có kết cấu dầm đúc hẫng gồm tám nhịp dài 990m. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu có kết cấu bê-tông cốt thép và bê-tông cốt thép dự ứng lực, phần cầu chính vượt sông có kết cấu dầm đúc hẫng gồm tám nhịp dài 990m. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu được thiết kế có 2 làn xe cơ giới, 1 làn xe buýt, 1 làn xe hỗn hợp (giai đoạn I). Bảo đảm lưu lượng vận tải khoảng 35.000 lượt xe/ngày đêm vào thời điểm khánh thành năm 2010. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu được thiết kế có 2 làn xe cơ giới, 1 làn xe buýt, 1 làn xe hỗn hợp (giai đoạn I). Bảo đảm lưu lượng vận tải khoảng 35.000 lượt xe/ngày đêm vào thời điểm khánh thành năm 2010. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu được thi công với công nghệ đúc hẫng và đạt kỉ lục về chiều dài nhịp đúc hẫng của Việt Nam (135m so với cầu Thanh Trì là 130m). (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu được thi công với công nghệ đúc hẫng và đạt kỉ lục về chiều dài nhịp đúc hẫng của Việt Nam (135m so với cầu Thanh Trì là 130m). (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Cầu Thanh Trì

Cầu Thanh Trì được khởi công xây dựng ngày 30/11/2002 và ngày 2/2/2007 được thông xe hạng mục cầu chính. Đến ngày 9/10/2010 khánh thành toàn bộ phần cầu vượt cạn Pháp Vân kết nối cầu Thanh trì.

Dự án cầu Thanh Trì có tổng vốn đầu tư 5.700 tỷ đồng bằng nguồn vốn vay tín dụng ODA của Chính phủ Nhật Bản và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Công trình có điểm đầu tại Pháp Vân (Quốc lộ 1A) và điểm cuối tại thị trấn Sài Đồng, Gia Lâm (giao cắt Quốc lộ 5) với tổng chiều dài 12,8km; trong đó chiều dài cầu chính vượt sông (gói thầu số 1) dài 3.084m, rộng 33,1m.

Mỗi ngày, lượng phương tiện giao thông lưu thông trên cầu rất lớn. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Mỗi ngày, lượng phương tiện giao thông lưu thông trên cầu rất lớn. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, cây cầu vẫn là một trong những tuyến đường huyết mạch của Thủ đô góp phần làm giảm ùn tắc giao thông. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, cây cầu vẫn là một trong những tuyến đường huyết mạch của Thủ đô góp phần làm giảm ùn tắc giao thông. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu Thanh Trì được đưa vào sử dụng sẽ giải tỏa sức ép giao thông đang đè nặng lên cầu Chương Dương, Hà Nội, đồng thời phân bổ và giảm bớt đáng kể lưu lượng xe qua nội thành. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Cầu Thanh Trì được đưa vào sử dụng sẽ giải tỏa sức ép giao thông đang đè nặng lên cầu Chương Dương, Hà Nội, đồng thời phân bổ và giảm bớt đáng kể lưu lượng xe qua nội thành. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đại lộ Thăng Long

Đây là một trong những con đường cao tốc hiện đại nhất Việt Nam, góp phần phát triển đô thị và kinh tế cho Hà Nội và tạo đà phát triển kinh tế cho cả vùng Tây Bắc, Việt Bắc của Tổ quốc. Đại lộ Thăng Long là Công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long Hà Nội.

Thông xe từ năm 2010, Đại lộ Thăng Long là tuyến đường cao tốc thuộc chuỗi đô thị Xuân Mai-Miếu Môn-Hòa Lạc-Sơn Tây và là trục hướng tâm nối liền trung tâm Hà Nội, từ hồ Tây, qua các trục đường Văn Cao, Liễu Giai, Nguyễn Chí Thanh, Trần Duy Hưng, nối với tuyến đường bộ xuyên Việt: Đường Hồ Chí Minh để gắn với chuỗi đô thị phía Tây và Sơn Tây-Ba Vì, từ đó kết nối với các tỉnh Việt Bắc như: Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái...
Thông xe từ năm 2010, Đại lộ Thăng Long là tuyến đường cao tốc thuộc chuỗi đô thị Xuân Mai-Miếu Môn-Hòa Lạc-Sơn Tây và là trục hướng tâm nối liền trung tâm Hà Nội, từ hồ Tây, qua các trục đường Văn Cao, Liễu Giai, Nguyễn Chí Thanh, Trần Duy Hưng, nối với tuyến đường bộ xuyên Việt: Đường Hồ Chí Minh để gắn với chuỗi đô thị phía Tây và Sơn Tây-Ba Vì, từ đó kết nối với các tỉnh Việt Bắc như: Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái…
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đại lộ Thăng Long được khởi công vào tháng 3/2005, khánh thành ngày 3/10/2010 với chiều dài toàn tuyến lên tới 29,2km.

Điểm đầu là Km1+800 (giao cắt giữa vành đai 3 Hà Nội với đường Láng-Hòa Lạc tại nút giao Trung Hòa) và điểm cuối là nút giao Hòa Lạc Km31+064 (giao cắt với Quốc lộ 21-đường Hồ Chí Minh), tổng mức đầu tư dự án là 7.527 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách Trung ương là 1.840 tỷ đồng và nguồn vốn của thành phố Hà Nội là 5.687 tỷ đồng.

Chiều rộng tuyến đường là 140m bao gồm hai dải đường cao tốc riêng biệt quy mô 6 làn xe (rộng 16,25m); hai dải đường đô thị 2 làn xe cơ giới rộng 10,5m; dải phân cách giữa 2 đường cao tốc rộng 20m; hai dải đất dự trữ giữa hai dải đường đô thị... (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Chiều rộng tuyến đường là 140m bao gồm hai dải đường cao tốc riêng biệt quy mô 6 làn xe (rộng 16,25m); hai dải đường đô thị 2 làn xe cơ giới rộng 10,5m; dải phân cách giữa 2 đường cao tốc rộng 20m; hai dải đất dự trữ giữa hai dải đường đô thị… (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Trên tuyến đường có 51 cầu vượt sông, vượt nút giao, 3 nút giao liên thông hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh. Tuyến đường được thiết kế đạt tiêu chuẩn đường cao tốc đô thị. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Trên tuyến đường có 51 cầu vượt sông, vượt nút giao, 3 nút giao liên thông hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh. Tuyến đường được thiết kế đạt tiêu chuẩn đường cao tốc đô thị. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, tuyến đường đã có thêm hầm chui nút giao Trung Hoà nằm tại điểm đầu Đại lộ Thăng Long giúp các phương tiện dễ dàng lưu thông. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, tuyến đường đã có thêm hầm chui nút giao Trung Hoà nằm tại điểm đầu Đại lộ Thăng Long giúp các phương tiện dễ dàng lưu thông. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Dự án đường vành đai 3 trên cao

Vào năm 2009 đường vành đai 3, đoạn Mai Dịch đến Linh Đàm-Pháp Vân (giai đoạn 1) được hoàn thành và đưa vào khai thác. Tổng chiều dài toàn tuyến là 10,2km. Điểm đầu dự án từ Km18+850 (ngã tư Mai Dịch), điểm cuối dự án tại Km30+040 (điểm đầu của dự án cầu Thanh Trì) với tổng mức đầu tư là 2.201 tỷ đồng.

(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Dự án đường vành đai 3, đoạn Mai Dịch-Bắc hồ Linh Đàm (giai đoạn 2) được khởi công xây dựng bắt đầu từ tháng 6/2010 với tổng chiều dài khoảng 8,9km bao gồm 385m đường dẫn và 8,52km cầu cạn chạy suốt. Dự án có vốn đầu tư 5.547 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ODA thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và chia thành 3 gói thầu xây lắp chính gồm đoạn Mai Dịch-Trung Hoà (Km19+620 -Km23+195), đoạn Trung Hoà-Thanh Xuân (Km23+195-Km25+265), Đoạn Thanh Xuân-Bắc hồ Linh Đàm (Km25+265-Km28+532).

Sáng 21/10/2012 công trình trong điểm đường vành đai 3 trên cao Hà Nội đã chính thức thông xe. Công trình có vai trò rất quan trọng trong hệ thống giao thông của thành phố Hà Nội và các khu vực phụ cận, vừa phục vụ giao thông nội đô, giao thông liên vùng của thành phố và kết nối các đầu mối đường bộ như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, đường cao tốc Pháp Vân-Ninh Bình, đường cao tốc Láng-Hoà Lạc, đường cao tốc Thăng Long-Nội Bài và tương lai gần là đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, đường cao tốc Hà Nội-Quảng Ninh với Thủ đô.

Dự án đường vành đai 3 trên cao đoạn Mai Dịch-Nam Thăng Long có tổng mức đầu tư 5.343 tỷ đồng được động thổ ngày 6/1/2018 và thông xe vào ngày 10/10/2020. Dự án có quy mô đường cao tốc 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100Km/giờ (đoạn cuối tuyến châm chước vận tốc 80Km/giờ). Chiều dài cầu và đường dẫn 5,3Km (riêng cầu cạn dài 4,8Km).

(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, vành đai ba đã trở thành một trong những tuyến đường huyết mạch của Thủ đô Hà Nội. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, vành đai ba đã trở thành một trong những tuyến đường huyết mạch của Thủ đô Hà Nội. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Đường Kim Liên – Ô Chợ Dừa

Nay là đường Xã Đàn

Được khởi công từ năm 2005 và hoàn thành vào năm 2010. Tổng chiều dài toàn tuyến là 550m, gồm 2 làn đường, mỗi làn có chiều rộng 16m. Đường Kim Liên–Ô Chợ Dừa (nay là đường Xã Đàn) có tổng mức đầu tư là 642 tỷ đồng, tương đương hơn 1,16 tỷ đồng mỗi mét. Thời điểm khánh thành, đây được coi là con đường “đắt nhất hành tinh.”

Đường Kim Liên-Ô Chợ Dừa là một đoạn đường nằm trong tổng thể tuyến đường vành đai 1 của Thủ đô. Đường vành đai 1 là tuyến đường bộ đô thị vòng tròn của Hà Nội. Đây là đường vành đai đầu tiên của thủ đô, được xây dựng từ thời Pháp thuộc (thời Pháp gọi là Route circulaire). Là trục giao thông chính nối phía Đông vời phía Tây của thành phố, vành đai 1 đi qua các quận: Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình, Tây Hồ.

Được mệnh danh là một trong những con đường vành đai tỷ đô ở vùng lõi Hà Nội, toàn tuyến vành đai 1 có tổng mức đầu tư hơn 10.000 tỷ đồng. Vành đai 1 bắt đầu từ cầu Nhật Tân-Nghi Tàm-Trần Quang Khải-Nguyễn Khoái-Trần Khát Chân-Đại Cồ Việt-Xã Đàn-La Thành-Bưởi-Lạc Long Quân-cầu Nhật Tân (điểm cuối, khép kin đường vành đai 1).

Con đường bây giờ đã có tên mới là đường Xã Đàn. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Con đường bây giờ đã có tên mới là đường Xã Đàn. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đường vành đai 1 là con đường vành đai đầu tiên của Hà Nội, có ý nghĩa chiến lược trong việc cải thiện hạ tầng giao thông cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của thủ đô. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Đường vành đai 1 là con đường vành đai đầu tiên của Hà Nội, có ý nghĩa chiến lược trong việc cải thiện hạ tầng giao thông cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của thủ đô. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, tuyến đường vành đai 1 cơ bản đã hoàn thiện và trở thành một trong những trục xương sống về giao thông của Thủ đô. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)
Sau 10 năm, tuyến đường vành đai 1 cơ bản đã hoàn thiện và trở thành một trong những trục xương sống về giao thông của Thủ đô. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Vietnam-US friendship thrives after a quarter of a century

Vietnam-US relations have reaped various important achievements since the establishment of bilateral diplomatic ties 25 years ago, across all fields of politics, diplomacy, trade, investment, science-technology, security-national defence, education-training, culture and people-to-people exchange.

Of them, cooperation in economy-trade-investment has become a focus and driving force for the development of the bilateral ties, with two-way trade surging 170 times to 77.6 billion USD last year from just 450 million USD in 1995.

The US is currently Vietnam’s largest export market while Vietnam is the one posting the highest export growth among the US’s partners in Southeast Asia.

Regarding investment, with strategic location, stable macro-economy, better living quality and dynamic labour forces, Vietnam has attracted the attention of the world’s major firms, especially US companies with big names like IBM, Qualcomm and Coca-Cola, among others.

With recently-reached trade agreements, notably the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP) and the EU-Vietnam FTA, the Vietnamese economy is expected to expand considerably in the future.

It is also hoped to create a strong push to the bilateral economic-trade-investment in the future, particularly in digital transformation and advanced technology.

Changes in quality of Vietnam-US relations

Vietnam and the US officially set up diplomatic ties in July 1995, paving the way for bilateral trade and economic cooperation.

Minister Counsellor Bui Huy Son, head of the Vietnam Trade Office in the US, emphasised that Vietnam-US ties in the past 25 years have seen considerable progress and the two nations have become important trade partners, with breakthroughs in bilateral trade.

Diversifying export items

In the first five-year period after the establishment of the relations, bilateral trade turnover increased more than two-fold to 1.09 billion USD from 450 million USD.

July 2000 saw another milestone in Washington D.C., as the US-Vietnam Bilateral Trade Agreement (BTA) was signed, taking effect in December 2001.


“The US is the largest export market of Vietnam, so Vietnam’s staples are present in the US market with a large volume.”

Son recalled that following the signing of the BTA, there was a major change in Vietnam’s exports to the US. Aside from garment-textile and footwear, which already affirmed their position in the market, agro-forestry-fishery products, and most recently electronic components and wooden products, made them onto the list of key export items.

Statistics showed that last year, five groups of products enjoying the largest export turnover to the US included garment-textile, accounting for 24 percent of total shipments, with footwear (11 percent), mobile phones and components (15 percent), computers and electronic products (10 percent) and wooden products (9 percent).

Vietnam-US trade has made breakthroughs over the years (Illustrative photo: VNA)
Vietnam-US trade has made breakthroughs over the years (Illustrative photo: VNA)

“The US is the largest export market of Vietnam, so Vietnam’s staples are present in the US market with a large volume,” Son said.

Illustrative image (Photo: VNA)
Illustrative image (Photo: VNA)

Garment-textile and footwear affirm “made in Vietnam” reputation

After renewal, the two sectors have turned into a driving force for the Vietnamese economy, playing a significant role in export orientation. Meanwhile, the US tops the list of consumers of Vietnamese garment and footwear products.

Figures showed that Vietnam’s garment-textile exports to the US hit nearly 15 billion USD in 2019, equivalent to 45 percent of the country’s total export turnover.

Though COVID-19 wreaked havoc in various countries across the world in recent months, Vietnam remained the top garment-textile exporter to the country, raking in 4.84 billion USD.

Footwear is also a major export of Vietnam to the US, as export value reached 6.65 billion USD last year, a rise of 14.2 percent from 2018.

A representative of the Vietnam Leather, Footwear and Handbag Association (Lefaso) said that despite a decline in consumer demand during the COVID-19 pandemic, footwear exports in the first five months of 2020 to the US reached more than 2.43 billion USD, accounting for 36.3 percent of Vietnam’s footwear export turnover.

Of note, on May 28-30, some 60 footwear importers of the US joined an online trade session with Vietnamese firms to update information on the US market amid COVID-19 and assess future prospects and coping measures, as well as set up partnerships.

Binh Duong garment company in Thuan An town of Binh Duong province specialises in apparel for US market (Photo: VNA)
Binh Duong garment company in Thuan An town of Binh Duong province specialises in apparel for US market (Photo: VNA)

Data from the General Department of Vietnam Customs, in the first four months of 2020, two-way trade hit 24.9 billion USD.

Vietnam earned 20.16 billion USD from export to the American market and imported machines, devices, materials, farm produce, fruit and meat worth 4.76 billion USD in the period./.

Thông tấn xã Giải phóng

Chính thức ra đời ngày 12/10/1960 tại khu rừng Chàng Riệc (tỉnh Tây Ninh), Thông tấn xã Giải phóng đã thực hiện và hoàn thành “sứ mệnh” vẻ vang, anh dũng trên mặt trận thông tin, duy trì mạch thông tin thông suốt, kịp thời về cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình thống nhất nước nhà đến đông đảo bạn đọc trong nước và quốc tế.

Trong hơn 15 năm hoạt động và phát triển, Thông tấn xã Giải phóng phải sơ tán trụ sở hàng chục lần để tránh quân địch phát hiện và bảo mật thông tin. Đặc biệt, trong năm 1961, Thông tấn xã Giải phóng đặt trụ sở chính tại Chiến khu Đ (xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

Dù chỉ hoạt động trong thời gian ngắn tại Đồng Nai, song Thông tấn xã Giải phóng đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, tại Chiến khu Đ.

Vượt qua bom đạn của kẻ thù, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên Thông tấn xã Giải phóng luôn hiện diện tại nhiều chiến trường ác liệt. Đội ngũ phóng viên, kỹ thuật viên Thông tấn xã Giải phóng không ngừng trưởng thành, kịp thời đưa thông tin đến các cán bộ chiến sỹ cách mạng cũng như những người dân trong cả nước.

Những thông tin của Thông tấn xã Giải phóng phát đi đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; vạch trần âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, bản chất phản động của chế độ tay sai Mỹ ở miền Nam; tập hợp các tầng lớp nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ, Ngụy và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới./.

Sứ mệnh thông tin vẻ vang

Vũ Xuân Bân

Ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), Thông tấn xã Giải phóng đã phát đi bản tin đầu tiên, đánh dấu sự ra đời và thực hiện “sứ mệnh” thông tin vẻ vang và anh dũng, kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình, thống nhất đất nước.

Cơ quan phát ngôn và thông tấn chính thức của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình miền Nam và từ những yêu cầu tất yếu của cách mạng trong tình hình mới, đồng thời khẳng định sự chính danh và tăng cường thống nhất sự lãnh đạo cách mạng trong toàn miền, việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một yêu cầu cấp bách.

Ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), Thông tấn xã Giải phóng đã phát đi bản tin đầu tiên, đánh dấu sự ra đời và thực hiện “sứ mệnh” thông tin vẻ vang và anh dũng, kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình, thống nhất đất nước.

Để phục vụ cho việc tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (ngày 20/12/1960) và đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam, Ban Tuyên huấn Xứ ủy đã giao đồng chí Đỗ Văn Ba, nguyên phụ trách Chi nhánh Việt Nam Thông tấn xã Nam Bộ, chuẩn bị cho sự ra đời của một cơ quan thông tin chính thức ở miền Nam.

Biên tập viên TTXGP tại căn cứ “R” chọn ảnh của phóng viên từ các mặt trận gửi về. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Biên tập viên TTXGP tại căn cứ “R” chọn ảnh của phóng viên từ các mặt trận gửi về. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Sau một thời gian ngắn chuẩn bị về lực lượng và phương tiện, đúng 19 giờ ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), “Tiếng nói chính thức của những người yêu nước miền Nam Việt Nam” đã bắt đầu phát lên trên sóng điện 31m bằng một chiếc máy phát sóng 15W, đánh dấu sự ra đời của Thông tấn xã Giải phóng với tên gọi “GPX.”

Với tư cách là cơ quan phát ngôn chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Thông tấn xã Giải phóng với các bản tin phản ánh “đúng sự thật, đúng sự lãnh đạo của Đảng,” phát đi từ Hà Nội đều đặn vào 18 giờ hàng ngày, đã trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng sắc bén, mạnh mẽ, góp phần cực kỳ quan trọng làm nên những chiến công chói lọi của dân tộc Việt Nam đi tới ngày thống nhất đất nước.

Duy trì “mạch máu” thông tin giữa chiến trường ác liệt

Với khẩu hiệu “Làn sóng điện không bao giờ tắt,” từ lúc ra đời, mặc dù chỉ có một số máy phát 15 watt, nhưng Thông tấn xã Giải phóng không ngừng nỗ lực vượt khó, cải tiến phương tiện kỹ thuật tại chỗ và tiếp nhận các phương tiện kỹ thuật mới được tăng cường, hỗ trợ từ nhiều nguồn khác nhau.

Bản tin đầu tiên của TTXGP ra mắt, ngày 12/10/1960, đánh dấu sự ra đời và thực hiện sứ mệnh thông tin vẻ vang và anh dũng, kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình thống nhất đất nước. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Bản tin đầu tiên của TTXGP ra mắt, ngày 12/10/1960, đánh dấu sự ra đời và thực hiện sứ mệnh thông tin vẻ vang và anh dũng, kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình thống nhất đất nước. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Nhờ vậy Thông tấn xã Giải phóng nhanh chóng trở thành cơ quan thông tấn báo chí có phương tiện kỹ thuật tốt và có tính bảo mật cao nhất trong khối thông tin báo chí cách mạng ở miền Nam lúc bấy giờ.

Trong suốt 15 năm chống Mỹ ác liệt, dưới bom đạn kẻ thù, mặc dù Thông tấn xã Giải phóng đã phải thay đổi căn cứ hàng chục lần, nhưng vẫn luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam.

Tin, ảnh của Thông tấn xã Giải phóng từ Cà Mau đến Quảng Trị, từ vùng nông thôn U Minh Thượng đến đô thị Sài Gòn-Gia Định… đều luôn nóng hổi tính thời sự, không chỉ cung cấp kịp thời cho các cơ quan thông tấn báo chí trong, ngoài nước, giúp Trung ương cục miền Nam phân tích, nhận định tình hình để đi đến những quyết định có tính chiến lược, chỉ đạo kịp thời hoạt động trên chiến trường mà còn là những bằng chứng tố cáo với toàn thế giới về tội ác tàn bạo của Mỹ – ngụy, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè khắp năm châu đối với cuộc kháng chiến đầy gian lao của nhân dân.

Trong giai đoạn ác liệt của cuộc chiến, không một chiến trường, không một hướng tiến quân, không một địa bàn chiến đấu nào vắng mặt phóng viên của Thông tấn xã Giải phóng. Có thể nói, ở đâu có trận đánh là ở đó phóng viên Thông tấn xã Giải phóng, thông tin kịp thời thành tích của quân dân ta từ chiến thắng tại Ấp Bắc (năm 1963), Bình Giã (năm 1964) đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (năm 1968) đánh vào Sài Gòn và các đô thị miền Nam…

Trong suốt 15 năm chống Mỹ ác liệt, dưới bom đạn kẻ thù, mặc dù Thông tấn xã Giải phóng đã phải thay đổi căn cứ hàng chục lần, nhưng vẫn luôn duy trì “mạch máu” thông tin và có mặt ở hầu hết các mặt trận, điểm nóng trên chiến trường miền Nam.

Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, Thông tấn xã Giải phóng tung ra hai cánh quân lớn cùng với một số phóng viên Việt Nam Thông tấn xã bám sát các đơn vị chủ lực, thông tin nhanh về các trận đánh, về tình hình chiến trường, về các bước tiến quân như vũ bão của bộ đội, tiếp quản các vùng giải phóng…

Nhờ vậy, phóng viên Thông tấn xã đã kịp thời ghi lại thời khắc lịch sử, với những bức ảnh nổi tiếng như “Xe tăng chiếm dinh Độc lập” của phóng viên Trần Mai Hưởng hay “Mẹ con ngày gặp mặt” của phóng viên Lâm Hồng Long…

Thông tấn xã Giải phóng còn là đơn vị chủ lực thông tin về hai phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đấu tranh ngoại giao với phái đoàn của Mỹ và của ngụy quyền Sài Gòn tại Hội nghị Paris về Việt Nam.

Điện báo viên VNTTX dừng chân ở Trảng Bàng (Tây Ninh) để chuyển về căn cứ tin Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Điện báo viên VNTTX dừng chân ở Trảng Bàng (Tây Ninh) để chuyển về căn cứ tin Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Hàng ngày, các phái đoàn đàm phán của ta đều nhận được bản tin của Thông tấn xã Giải phóng, phục vụ đắc lực công việc đàm phán.

Thông tấn xã Giải phóng đã tạo dư luận đồng tình trong nước và quốc tế. Cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên mặt trận quân sự, ngoại giao… đã góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân 1975.

“Chắc tay bút, vững tay súng”

Bên cạnh nhiệm vụ thông tin nhanh, đúng định hướng tư tưởng, góp phần mạnh mẽ vào việc cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lực lượng phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng còn trực tiếp cầm súng chiến đấu và trở thành những chiến sỹ thực thụ.

Tại căn cứ cũng như các phân xã, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng đều được trang bị vũ khí, từ súng tiểu liên đến cả súng chống tăng và súng cối 82mm. Không chỉ cầm súng để bảo vệ căn cứ, bảo vệ nơi trú đóng mà tất cả phóng viên Thông tấn xã Giải phóng khi tham gia đưa tin trong các trận đánh đều trở thành chiến sỹ, luôn “tay viết-tay súng, tay máy-tay súng.”

Trong muôn vàn dòng tin, tấm ảnh của TTXGP gửi về miền Bắc có cả những dòng tin cuối cùng của một phân xã, bởi chỉ sau đó ít phút các anh các chị đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng để những dòng tin ấy đến được Hà Nội, đến được với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng.

Nhiều phóng viên, kỹ thuật viên, điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng đã kiên cường chiến đấu với quân địch và sẵn sàng hy sinh để bảo toàn căn cứ.

Để có những dòng tin chiến sự nóng bỏng, một tấm ảnh có sức cổ vũ, để kịp thời chuyển tải những thông tin lãnh đạo của Đảng ta đến chiến sỹ, nhân dân miền Nam, phóng viên, kỹ thuật viên Thông tấn xã Giải phóng đã phải có mặt tại những nơi nóng bỏng, tại mặt trận như những người lính và cũng chịu hy sinh như người lính.

Phóng viên TTXGP tham gia chống địch trong trận càn Junction City (năm 1967). Họ có mặt trên mọi trận đánh, hướng tiến công để thông tin kịp thời về những chiến công của quân dân ta. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Phóng viên TTXGP tham gia chống địch trong trận càn Junction City (năm 1967). Họ có mặt trên mọi trận đánh, hướng tiến công để thông tin kịp thời về những chiến công của quân dân ta. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Trong muôn vàn dòng tin tấm ảnh các anh các chị gửi về miền Bắc có cả những dòng tin cuối cùng của một phân xã, bởi chỉ sau đó ít phút các anh các chị đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng để những dòng tin ấy đến được Hà Nội, đến được với Bộ Chính trị và Trung ương Đảng.

Một cuốn phim chụp dở dang, một đoạn phim còn trong máy quay, một bản tin đang phát dở không lưu tên tác giả, không rõ người phát. Đó là những tác phẩm vô giá bởi chúng đã được đổi bằng cả cuộc đời.

Điển hình như đồng chí Trần Ngọc Đặng, tháng 3/1967, tại căn cứ Tây Ninh, đã bắn cháy hai xe bọc thép Mỹ và anh dũng hy sinh, được tuyên dương danh hiệu “Dũng sỹ diệt cơ giới.”

Đồng chí Trần Văn Minh (chiến đấu cùng đồng chí Đặng) bị thương nặng, bị Mỹ bắt và cưa chân. Đồng chí Trương Thị Mai, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng ở Trung Nam Bộ bị địch bắt, tra tấn dã man, nhưng vẫn không một lời khai báo, chấp nhận hy sinh để bảo toàn căn cứ.

Nhiều trường hợp hy sinh cả tập thể, cơ quan bị xóa sổ nhiều lần, nhưng các phân xã, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng vẫn quyết tâm bám trụ đến cùng để hoàn thành nhiệm vụ.

Cụ thể như Phân xã Kiến Tường (nay là Long An) 3 lần bị địch hủy diệt, hàng chục đồng chí hy sinh năm 1968; Phân xã Rạch Giá (Kiên Giang) 5 lần bị địch giết hại toàn bộ phóng viên, kỹ thuật viên; Phân xã Nam Tây Nguyên (khu X) có 5/6 đồng chí cùng hy sinh do bom địch năm 1969…

Rồi có gia đình, hai cha con, hai anh em ruột đều là liệt sỹ của Thông tấn xã Giải phóng.

Trong số các liệt sỹ của Thông tấn xã Giải phóng có đồng chí Phó Giám đốc Bùi Đình Túy (bút danh Đinh Thúy), hy sinh tại Trảng Dầu (Bình Long) ngày 21/9/1967 do bị địch ném bom. Ông là nhà báo đầu tiên được lấy tên để đặt cho đường phố ở Việt Nam (đường Bùi Đình Túy, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, thì trong 30 năm chiến tranh giữ nước, báo chí cả nước có khoảng 450 người hy sinh thì riêng Thông tấn xã Giải phóng có tới 240 người, là đơn vị có số lượng nhà báo hy sinh lớn nhất trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam.

Nhiều phóng viên, kỹ thuật viên Thông tấn xã Giải phóng đã vĩnh viễn nằm lại trên những cánh rừng già, đến nay hài cốt vẫn chưa tìm thấy. Bên cạnh đó, hàng chục người khác đã để lại một phần xương máu của mình trên chiến trường.

Đây là những tổn thất to lớn nhưng cũng là niềm tự hào về truyền thống dũng cảm kiên cường, bất khuất của những chiến sĩ xung kích trên mặt trận báo chí và tư tưởng, sẵn sàng hy sinh để duy trì “mạch máu” thông tin giữa chiến trường ác liệt.

Ghi nhận những đóng góp to lớn của Thông tấn xã Giải phóng, năm 1968, Trung ương cục miền Nam khen tặng Thông tấn xã Giải phóng 16 chữ vàng “CẦN CÙ DŨNG CẢM, TỰ LỰC CÁNH SINH, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ,” cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà nước.

Với việc thực hiện xuất sắc nhiệm vụ thông tin và trực tiếp tham gia chiến đấu, với những chiến công và hy sinh to lớn trong cuộc kháng chiến đầy gian khổ chống ngoại xâm, Thông tấn xã Giải phóng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.

Và ngày 12/5/1976 là thời khắc lịch sử của ngành thông tấn cách mạng, Việt Nam Thông tấn xã cùng Thông tấn xã Giải phóng chính thức hợp nhất với tên gọi là Thông tấn xã Việt Nam, hòa với khí thế cách mạng chung của toàn dân tộc, bước vào giai đoạn mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

15 năm (1960 -1975), phóng viên của TTXGP và VNTTX luôn sát cánh, có mặt trên mọi trận đánh, hướng tiến công để thông tin kịp thời về những chiến công của quân dân ta. Trong ảnh: Phóng viên TTXGP và VNTTX tham gia đưa tin trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
15 năm (1960 -1975), phóng viên của TTXGP và VNTTX luôn sát cánh, có mặt trên mọi trận đánh, hướng tiến công để thông tin kịp thời về những chiến công của quân dân ta. Trong ảnh: Phóng viên TTXGP và VNTTX tham gia đưa tin trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

35 năm nhớ lại toàn ngành vào mặt trận

Đỗ Phượng

Ba mươi lăm năm qua, năm nào ta cũng có dịp đọc bài viết, nghe lời kể, cùng những cuộc gặp mặt mừng ngày toàn thắng. Lẽ thông thường ở mỗi cuộc gặp gỡ, ở mỗi bài viết và nói từ trên những cương vị, địa bàn khác nhau thường chỉ đề cập đến hoạt động và trách nhiệm có phần đơn lẻ. Phải chăng trong lần thứ 35 năm này thử nhớ lại cục diện và hoạt động chung của toàn ngành Thông tấn trong mùa xuân 1975 lịch sử đó.

Ở đây có anh chị em VNTTX và TTXGP, tuy hai tổ chức nhưng chỉ là một. Họ đều là những chiến sỹ thực hiện chung một nhiệm vụ. Xin nâng cốc chúc Thông tấn xã cả nước ta không ngừng phát triển và tiến bộ. (Phát biểu của đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục và Thường vụ Trung ương Cục ngày 15/9/1975 tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập VNTTX)

Một nhánh, một việc đã khó, toàn cục, toàn ngành đâu có dễ dàng. Vả lại, tuổi cao, thời gian cũng đã dài, nhớ nhớ quên quên, cái còn nhớ cũng chỉ được dăm bảy phần, nhiều cái quên có khi lại quên chính việc quan trọng.

Phó Tổng biên tập Đỗ Phượng (thứ ba bên trái) tiễn đoàn phóng viên VNTTX vào chiến trường B, tháng 3/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Phó Tổng biên tập Đỗ Phượng (thứ ba bên trái) tiễn đoàn phóng viên VNTTX vào chiến trường B, tháng 3/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Nhiều người trong cuộc đã qua đời. Mạnh dạn ghi lại toàn cục, toàn ngành khó đạt tới sự chuẩn xác như mong muốn. Hy vọng có được nhiều nguồn tư liệu bổ sung để đến năm thứ 40 có được đầy đủ những tư liệu chuẩn, đúng với lịch sử đã diễn ra.

Nhớ lại một buổi chiều cuối tháng giêng năm 1975, tan cuộc họp, anh Lê Văn Lương giữ lại hỏi thăm sức khoẻ anh Trần Thanh Xuân và khả năng công tác chuyên môn và kỹ thuật của TTXGP.

Anh cũng hỏi về tình hình Phân xã khu V và tổ chức Thông tấn xã ở B5 (mặt trận Trị-Thiên) và B3 (mặt trận Tây Nguyên). Anh cũng hỏi khá kỹ về đội ngũ cán bộ và lực lượng kỹ thuật có thể cơ động của Tổng xã. Với tầm suy nghĩ chiến lược của một nhà lãnh đạo, anh dành thì giờ hỏi kỹ về kỹ thuật và đội ngũ cán bộ làm công việc hàng ngày thu lượm các nguồn thông tin nước ngoài và trình độ khả năng công tác của những phóng viên công tác ở ngoài nước.

Trước khi chia tay, anh nói vừa như nhắc nhở vừa như trao nhiệm vụ: Anh Ba (Lê Duẩn), Anh Năm (Trường Chinh) và Ban Bí thư trao trách nhiệm cho lãnh đạo Thông tấn xã, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đáp ứng mọi biến động trong tình hình mới không được để xảy ra một sơ xuất nào dù nhỏ.

Vẫn như thường lệ anh nói nhỏ nhẹ, không hề cao giọng, nhưng người nghe như cảm nhận được nỗi bức xúc và sự lo lắng của đồng chí Thường trực Ban Bí thư về chức trách của một cơ quan thông tin chiến lược của Đảng và Nhà nước trước giai đoạn bước ngoặt của cách mạng.

Các phóng viên TTXGP cùng Chủ tịch UBTW Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Nguyễn Hữu Thọ. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Các phóng viên TTXGP cùng Chủ tịch UBTW Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Nguyễn Hữu Thọ. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Những ngày trước Tết âm lịch Ban lãnh đạo Thông tấn xã cùng nhau rà soát tình hình mọi mặt. Anh Năm Trần Thanh Xuân khoẻ mạnh, đội ngũ tin, ảnh, kỹ thuật đều khá tốt, đường dây liên lạc điện báo tự động song song với điện báo Morse, kể cả truyền ảnh vô tuyến hoạt động tốt.

Đường liên lạc Hà Nội-Tân Sơn Nhất bằng điện báo tự động làm việc đều đặn. Liên lạc với khu 8, khu 9 và nhiều tỉnh Nam bộ khá tốt. Chỉ khu 6 có phần hơi yếu, nhiều khó khăn. Khu V và các tỉnh miền Trung hoạt động tốt, Tây Nguyên đã được tăng cường thêm phân xã quân sự. Trị-Thiên đảm bảo tốt.

Các ban biên tập tin Thế giới và Đối ngoại đã được kiện toàn. Lực lượng biên tập, biên dịch làm tin tham khảo, kể cả lực lượng nghe đài (thu phonie) có thể yên tâm.

Một số phóng viên tin, ảnh, điện báo ở Tổng xã và các tỉnh miền Bắc có thể huy động nhanh khi cần động viên. Phóng viên ngoài nước đều có kinh nghiệm, nhạy bén với thời cuộc. Anh Đào Tùng kết luận: Thông tấn ta luôn sẵn sàng ra quân bất cứ lúc nào. Nhưng cuộc họp vẫn đi tới những kết luận chặt chẽ: Chuẩn bị sẵn sàng một đoàn lãnh đạo Tổng xã cùng một số phóng viên giỏi vào B2 nắm tình hình cụ thể, có kế hoạch chi viện sát với thực tế, nếu tình hình chuyển biến nhanh thì trụ lại trực tiếp hỗ trợ tại chỗ.

Trước mắt, các anh Đào Tùng, Lê Chân chỉ đạo hàng ngày hai ban biên tập tin Thế giới và Đối ngoại đặc biệt coi trọng bộ phận thu tin nước ngoài và chỉ đạo phân xã ngoài nước.

Nhóm phóng viên GP 10 của VNTTX chi viện cho TTXGP đi chiến trường miền Đông Nam Bộ tại chiến khu Mã Đà (Đồng Nai) đầu năm 1974 (Từ trái qua: Kim Sơn, Vũ Xuân Bân, Phạm Cao Phong, Nguyễn Sỹ Thuỷ, Lý Văn Tích). (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Nhóm phóng viên GP 10 của VNTTX chi viện cho TTXGP đi chiến trường miền Đông Nam Bộ tại chiến khu Mã Đà (Đồng Nai) đầu năm 1974 (Từ trái qua: Kim Sơn, Vũ Xuân Bân, Phạm Cao Phong, Nguyễn Sỹ Thuỷ, Lý Văn Tích). (Ảnh: Tư liệu TTXGP)


Anh Hoàng Tư Trai rà soát tình hình T6, T7, chỉ đạo Cục Kỹ thuật vừa tổ chức sẵn sàng các tổ điện báo cơ động, vừa chuẩn bị khi cần thiết chuyển cơ sở kỹ thuật nặng vào chiến trường, đồng thời anh Hoàng Tư Trai lo thêm nguồn vốn và xin thêm xe sẵn sàng cho các tổ phóng viên cơ động.

Đỗ Phượng cùng Ban biên tập tin ảnh miền Bắc, Ban biên tập tin ảnh miền Nam, Phòng thông tấn quân sự, ban B và tổ chức cán bộ bố trí lại lực lượng phóng viên tin ảnh và điện báo cơ động, làm việc với Ban Thống nhất Trung ương chuẩn bị sẵn trang phục và vật dụng cần thiết cho các tổ cơ động, đồng thời giữ vững liên lạc với B2, B1, B3, B5, Tân Sơn Nhất và các tỉnh miền Trung, miền Nam.

Tuần đầu tháng 3 năm 1975, văn phòng anh Ba (Lê Duẩn) thông báo miệng ý kiến chỉ đạo cấp trên. Thông tấn xã chuẩn bị làm việc giống như thời kỳ tháng 12 năm 1972 (chiến tranh chống B.52).

Anh Trần Độ yêu cầu giao ban vào 7 giờ các buổi sáng ở Ban Thống nhất. Văn phòng anh Văn (Võ Nguyên Giáp) nhắc: bất cứ lúc nào trong ngày, có tin quan trọng phải báo cáo ngay.

Thực ra thời gian mở chiến dịch Tây Nguyên chỉ được truyền miệng vào tối mùng 9 tháng 3 và vẫn là tinh thần chỉ đạo giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976.

Chiến dịch Buôn Ma Thuột phát triển thắng lợi nhanh vượt qua mọi dự kiến. Anh Đào Tùng lãnh đạo đoàn cán bộ đặc biệt lên đường ngay vừa nắm tình hình tại chỗ, vừa trực tiếp tăng cường cho Tổng xã TTXGP.

Được các anh Tố Hữu, Hoàng Tùng đồng ý, anh Đào Tùng lên đường mà không kịp báo cáo và xin quyết định của Ban Bí thư (điều này hạn chế vị trí và trách nhiệm đáng phải có của anh Đào Tùng tại chiến trường).

Nhà báo Lâm Tấn Tài (người đứng bìa phải) đang theo dõi truyền tin bài về cứ tại một tổ phóng viên TTXGP tác nghiệp tại vùng ven Sài Gòn trươc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Nhà báo Lâm Tấn Tài (người đứng bìa phải) đang theo dõi truyền tin bài về cứ tại một tổ phóng viên TTXGP tác nghiệp tại vùng ven Sài Gòn trươc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Thường vụ Trung ương Cục đề nghị xin Đỗ Phượng vào tăng cường cho Ban Tuyên huấn Trung ương Cục và TTXGP. Lúc này anh Lê Văn Lương mới biết đoàn anh Đào Tùng đã lên đường. Anh Hoàng Tùng đề nghị Ban Bí thư được giữ Đỗ Phượng lại, cho đến khi anh Đào Tùng trở ra.

Mấy ngày sau, nhận tin từ anh Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh đã gặp đoàn anh Đào Tùng và giúp đoàn Thông tấn xã điều kiện vào nhanh B2, anh Đào Tùng cũng nhắc khẩn trương thực hiện các kế hoạch đã bàn.

Tình hình mặt trận phát triển dồn dập. Từ ngày 10 tháng 3 năm 1975 Phòng Thông tấn quân sự và Phòng Thư ký tập trung ăn nghỉ tại chỗ làm việc. Phòng làm việc của Đỗ Phượng luôn có mặt Lê Minh hoặc Trần Dũng cùng Xuân Ổn túc trực 24/24 giờ.

Ngoài việc giao ban 7 giờ sáng với anh Trần Độ ở Ban Thống nhất, từ sau 5 giờ chiều hàng ngày, Đỗ Phượng có mặt tại nhà riêng anh Ba (Lê Duẩn) vừa báo cáo thông tin, vừa chờ chỉ thị hoặc nghe ngóng động thái mới để kịp bố trí lực lượng.

Chị Sáu đã nhận từ Ban Thống nhất Trung ương về các trang phục, lương khô, thuốc men và cả một số máy ảnh đủ để trang bị cho các đoàn, tổ công tác cơ động. Anh Trai, anh Hoá cùng văn phòng đã lo đủ xe và các tổ máy điện báo cơ động.

Đoàn tăng cường cho khu V có cả kỹ thuật điện báo truyền chữ, truyền ảnh (teletype và telephoto) do anh Hường phụ trách đã lên đường. Liên tục các tổ cơ động có thể điều động đều được vào trận.

Đoàn xe chở phóng viên và trang thiết bị của VNTTX chi viện cho TTXGP trên đường Trường Sơn. Suốt 15 năm (1960-1975), VNTTX không ngừng chi viện sức người, sức của cho TTXGP, cùng góp sức hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của sự nghiệp thống nhất dân tộc, tô thắm trang sử vàng của Thông tấn xã Việt Nam anh hùng. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Đoàn xe chở phóng viên và trang thiết bị của VNTTX chi viện cho TTXGP trên đường Trường Sơn. Suốt 15 năm (1960-1975), VNTTX không ngừng chi viện sức người, sức của cho TTXGP, cùng góp sức hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của sự nghiệp thống nhất dân tộc, tô thắm trang sử vàng của Thông tấn xã Việt Nam anh hùng. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Tổ đi sau nhất cũng là tổ cơ động cuối cùng có Trần Mai Hưởng, Lâm Hồng Long… cũng được tăng cường cho mặt trận Huế. Với tư tưởng chỉ đạo mặt trận phát triển đến đâu thì tiến theo đến đó. Từ chiến trường B2, nửa cuối tháng 4 năm 1975, toàn TTXGP kể cả số phóng viên đi theo anh Đào Tùng, như Mai Hạnh, Văn Bảo lên đường theo các tuyến khác nhau tiến vào đích cuối cùng.

Anh chị Trần Thanh Xuân cũng rời căn cứ. Căn cứ TTXGP được trao lại cho anh Đào Tùng và một nhóm cán bộ kỹ thuật vừa lo bảo vệ căn cứ, vừa giữ liên lạc với Hà Nội và các hướng.

Lúc này anh Xuân Bích được tăng cường cho khu 6 đã có mặt ở Đà Lạt, các tỉnh Nam Trung bộ đã được tăng cường đủ phóng viên. Khoảng những ngày 15-16/3 cho đến đầu tháng 5 năm 1975, Ban biên tập tin ảnh miền Nam và Phòng Thông tấn quân sự phát tin dồn dập.

Từ cuối tháng 3, không thể chờ in vào bản tin ngày mà phải in ngay tin chiến sự kịp gửi cho đài, báo và các cơ quan Trung ương. Có mặt trận, vừa phát tin xong, lại có tin bổ sung. Có mặt trận phát tới ba, bốn tin trong ngày. Chưa bao giờ, biên tập càng làm tin, càng khỏe, càng vui. Căng tin nhộn nhịp chạy bánh, chạy phở phục vụ. Không đưa bánh, đưa phở cũng sang nghe ngóng tin tức.

Lực lượng làm tin phương Tây cũng ngập đầu trong công việc cả ngày, đêm. Không chỉ những người làm tin phổ biến, khối lượng tin, bài tham khảo nhận từ các hãng phương Tây lớn hơn, lại có nhiều chuyện giật gân như việc tướng tá ngụy tranh nhau phương tiện cả đường không, đường biển, đường bộ rút chạy ngay sau những tuyên bố “tử thủ.”

Ta đã khai thác được khá nhiều từ nguồn phương Tây làm phong phú thêm nguồn tin và ghi nhanh chiến sự ngắn gọn từ chiến trường gửi về. Càng phải cảm ơn nguồn ảnh truyền qua vô tuyến của các hãng phương Tây, ta nhận khá rõ phát cho các báo sử dụng, có ngày tới 5 hoặc 7 ảnh.

Nhiều ảnh đẹp còn được phóng to trưng bày trong bảng tin, ảnh trước trụ sở 5 Lý Thường Kiệt của VNTTX. Sáng và chiều nào, Thông tấn xã cũng nhiều khách, kể cả cán bộ cao cấp các cơ quan trung ương ghé vào đọc tin và hỏi chuyện chiến trường.

Đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy khu 5 đến thăm cơ sở thu phát tin bằng máy Teletype của Đài minh ngữ thuộc TTXGP. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy khu 5 đến thăm cơ sở thu phát tin bằng máy Teletype của Đài minh ngữ thuộc TTXGP. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)


Một ngày giữa tháng 4, chị Yến là điện báo viên phụ trách theo dõi các đài từ chiến trường báo cáo với Đỗ Phượng: Các tổ cơ động của Tổng xã và các tổ công tác của B2 đều không lên sóng. Các đài của Tổng xã đều thường trực lên hô hiệu nhưng không có phản hồi. Chị phản ánh với thái độ lo lắng.

Nhưng nguồn tin không thiếu. Thông tin từ Tân Sơn Nhất, Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, tiếp đó là Quảng Đà, Phú Khánh, Lâm Đồng cùng nguồn tin phương Tây khá đầy đặn cho bản tin hàng ngày.

Các ngày 27, 28/4, tình hình chính trị của chính quyền Sài Gòn biến động mạnh, hoạt động ngoại giao của một số sứ quán phương Tây tại Sài Gòn cũng nhộn nhịp. Đúng lúc đó, Tân Sơn Nhất điện ra: buộc phải ngừng lên máy làm việc. Các tổ cơ động của B2 kể cả bộ phận của anh Năm Xuân cùng các tổ cơ động của Tổng xã theo kỷ luật chiến trường đều không lên máy.

Như trên trời rơi xuống, chị Yến mang bản tin của tổ Mai Hưởng cùng các phóng viên ảnh, kể cả phóng viên thông tấn quân sự báo về đã gặp cựu Trưởng phòng thông tấn quân sự (Trần Bình, Phó Chính ủy Sư đoàn 304) sẽ chuyển hướng đi theo lực lượng này vào đích cuối cùng. Điện ngắn không quên nhờ nhắn tin cho gia đình cựu Trưởng phòng thông tấn quân sự.

Tràn ngập niềm vui, vội vàng lên chỗ anh Đống Ngạc (Văn phòng Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn). Không ai ở dưới nhà, ngồi chờ trên ghế gỗ cứng mà ngủ ngon lành hồi nào không biết. Có ai đó lấy báo đập nhẹ vào đầu, bừng mở mắt: anh Ba Lê Duẩn mặc quần sà lỏn tươi cười đứng trước mặt: Về, về ngủ đi cho khoẻ, anh Tấn (Tướng Lê Trọng Tấn) đã hội được cánh quân phía đông, Dương Văn Minh hay ai cũng không còn làm gì được nữa. Nhớ chuẩn bị pháo nổ to và dài. Có tin địch đầu hàng thì nổ pháo ngay. Ban Bí thư đã quyết định Thông tấn xã nổ pháo là báo tin toàn thắng cho nhân dân. Khác mọi khi anh thường nói dài, giải thích, dặn dò, lần này anh nói nhanh rồi đi vội lên lầu.

Đống Ngạc cho biết: anh Văn và các anh vừa báo tin cho anh Ba về các cánh quân đều đã tập kết đầy đủ, áp sát mục tiêu, anh Lê Trọng Tấn đã nắm Quân đoàn II và các sư của khu V, hình thành cánh quân phía đông, hợp đồng binh chủng đủ mạnh sẽ tiến thẳng vào mục tiêu chính.

Kỹ thuật viên TTXGP điều khiển dàn máy Teletype. Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù (1960–1975), TTXGP phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần nhưng vẫn luôn duy trì “mạch máu” thông tin. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Kỹ thuật viên TTXGP điều khiển dàn máy Teletype. Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù (1960–1975), TTXGP phải sơ tán trụ sở chính hàng chục lần nhưng vẫn luôn duy trì “mạch máu” thông tin. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)


Bộ Chính trị quyết định không có tiếp xúc ngoại giao, buộc địch đầu hàng không điều kiện. Tình hình chắc sẽ chuyển biến từng giờ. Các ông phải nắm tin nhanh và cả phản ứng của phương Tây, nhất là Mỹ. Nhân nhắc lại Đống Ngạc, Thông tấn xã đã đề nghị với anh Văn cho máy bay chuyển ảnh về Hà Nội cho kịp, như Tướng Zhucov đã cho máy bay chuyển ảnh từ Berlin về Moscow năm 1945 theo lệnh của Stalin.

Nhờ Văn phòng Bí thư Thứ nhất nhắc thêm. Đống Ngạc cho biết anh Văn đã đồng ý, nếu chưa bay được từ Sài Gòn thì có thể từ Đà Nẵng hay Huế đã có lệnh sẵn sàng chở phóng viên Thông tấn xã đem ảnh và tài liệu về Hà Nội.

Phóng xe về Tổng xã vừa ăn phở vừa triệu tập anh em văn phòng đang trực lên giao nhiệm vụ: chuẩn bị đủ pháo tốt, dùng dây thép nối dài từ tầng trên cùng của nhà số 5 chưa treo vội nhưng sẵn sàng có lệnh thì phải nổ pháo giòn giã và kéo dài.

Sáng 29/4, Trần Dũng cho biết cả 4 cánh quân đều có tổ phóng viên đi theo sẵn sàng lên sóng. Riêng cánh Tây Nam chưa liên lạc được, chắc sẽ sử dụng phân xã khu 8. Các phóng viên TTXGP theo các đồng chí lãnh đạo ở các hướng thì không được mang theo điện đài nên không thể chờ tin, bài của họ.

Lúc này, các báo và đài đều có người chờ sẵn ở VNTTX để nhận tin, ảnh.

20 giờ 30 phút tối hôm đó, trời mưa to, điện thoại của Đống Ngạc gọi: Lên ngay, mang theo máy ảnh. Lên đến nơi, Đống Ngạc kêu trễ rồi, anh Văn (Võ Nguyên Giáp) vừa đi khỏi nhà anh Ba được mấy phút. Đống Ngạc rất tiếc đã không chụp được ảnh anh Ba và anh Văn ôm hôn nhau cười vui trong nước mắt.

Thực ra, từ khi Văn Bảo đi cùng anh Đào Tùng đã để lại bộ máy ảnh tốt, dễ sử dụng cho anh Đống Ngạc, nhưng trong giây phút lịch sử đó, đèn máy ảnh lại không phát sáng. Chắc không tại máy mà do sự xúc động của người chụp. Ngồi lại uống trà, Đống Ngạc cho biết theo anh Văn tình hình Sài Gòn có thể kết thúc trong buổi sáng 30/4. Các ngày 1 và 2/5 có thể kết thúc ở Cần Thơ, Phú Quốc, Côn Đảo. Trường Sa và các đảo phụ cận đã thu gọn xong cả rồi.

Phóng viên TTXGP và VNTTX tham gia đưa tin trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Phóng viên TTXGP và VNTTX tham gia đưa tin trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Trưa 30/4, vừa nhận tin điện báo của tổ Mai Hưởng, vừa nghe đài Sài Gòn, làm tin ngay, song phải đưa lên cấp trên xem lại bởi đó có lẽ là bản tin quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện trọn vẹn di huấn thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.”

Không đợi duyệt tin, tràng pháo dài từ tầng trên cùng nhà số 5 Lý Thường Kiệt nổ giòn giã trong khi cán bộ và nhân dân đã đứng đông nghịt tràn ngập cửa trường Đại học Tổng hợp, trên dọc đường Lý Thường Kiệt, Lê Thánh Tông, tràn cả lên vườn hoa. Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò và cả những hàng nước mắt, các đoàn người nối tiếp nhau tràn ngập trước trụ sở VNTTX ngay cả khi tiếng pháo đã ngừng hẳn.

Khỏi phải nói thêm về khí thế, niềm vui của nhân dân ta, cả bạn bè quốc tế ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.

Trở lại Sài Gòn, các tổ và phóng viên đi theo các cánh quân và lãnh đạo đã hội đủ ở Sài Gòn. Chị Năm Xuân (Mai Thị Trình), Nguyễn Đức Giáp, Hai Luận (Ngô Dương Luận) đã liên hệ được với chị Tư Hòa (nguyên Trưởng phòng Y tế VNTTX ở Hà Nội, về hoạt động hợp pháp ở Sài Gòn đã nhiều năm), cùng các cơ sở khác.

Ngoài việc tiếp quản trụ sở Việt tấn xã làm trụ sở TTXGP, để anh Năm Xuân có chỗ làm việc ngay, còn tiếp nhận thêm một số nhà làm việc, trong đó có 155 Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) để làm trụ sở cho đại diện VNTTX tại miền Nam.

Anh Năm Xuân đã giao cho Sáu Nghĩa cử người đem ảnh chụp xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập của Văn Bảo về để phát ngay ra Hà Nội và đón anh Đào Tùng và bộ phận còn lại trong cứ ra Sài Gòn. Cơ sở kỹ thuật ở Tân Sơn Nhất được chuyển ra 155 Võ Thị Sáu nhưng chưa làm việc được ngay. Liên lạc từ Sài Gòn về Hà Nội vẫn phải dùng Morse. Cơ sở kỹ thuật của Việt tấn xã chỉ có vài máy thu teletype, không có máy phát.

Hoàng Thiểm ngay khi vào Dinh Độc Lập, đã tập hợp nhanh ảnh chụp Dinh Độc Lập, tình hình nhân dân Sài Gòn đón các đoàn quân giải phóng, lấy xe của Phó thủ tướng ngụy quyền Sài Gòn mang phim, ảnh và tài liệu theo đường bộ, lên máy bay từ Huế ra Hà Nội.

Càng biểu dương và vô cùng biết ơn anh chị em B2 vì ngay đêm 30 tháng 4, đã nhận được ảnh xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập. Vận dụng hết khả năng kỹ thuật ảnh lúc đó để có được tấm hình rõ nét cho các báo và phát qua đường vô tuyến thu ra nước ngoài.

Tấm ảnh lịch sử đó cho đến 10 năm sau, khi kỷ niệm 10 năm giải phóng Sài Gòn, Hãng Thông tấn Kyodo và nhiều báo ở Nhật Bản vẫn in lại, dù lúc đó có nhiều ảnh đẹp hơn, kể cả ảnh màu. Các bạn Nhật Bản giải thích “Đó là tấm ảnh vô giá dù có nhiều ảnh đẹp hơn nhưng lịch sử, chứng vật lịch sử cần được trân trọng mãi mãi.”

Tổ tráng phim, in ảnh (B22) của TTXGP. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Tổ tráng phim, in ảnh (B22) của TTXGP. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Trở lại với chiến công của Hoàng Thiểm. Khi Hoàng Thiểm ra Hà Nội đã tập trung in ngay hàng trăm kiểu ảnh màu và đen trắng. Đưa Hoàng Thiểm lên gặp anh Lê Duẩn và cả anh Tố Hữu. Anh Lê Duẩn thích thú và khen ngợi các tấm ảnh nhân dân nô nức đón chào quân giải phóng. Tiếp đó, Hoàng Thiểm được các anh Tổng cục Chính trị đưa đến gặp anh Văn.

Tập ảnh Hoàng Thiểm đem ra được tận dụng không chỉ cho báo mà còn được phát hành rộng rãi cho các cơ quan tuyên truyền, trưng bày trong các cuộc triển lãm cấp tốc.

Không nhớ rõ ngày giờ, nhưng chỉ nhớ Hoàng Thiểm vừa mang ảnh ra, thì các kỹ sư và kỹ thuật viên đã tìm đủ phụ tùng để sửa chữa, lắp đặt những máy teletype từ Tân Sơn Nhất đem ra 155 Võ Thị Sáu. Máy móc đã làm việc tốt, nối liền đường điện báo tự động Hà Nội-Sài Gòn. Công việc đang bề bộn trong niềm vui thì các anh Lê Văn Lương, Tố Hữu, Hoàng Tùng gọi lên cho biết Trung ương Cục điện báo yêu cầu Đỗ Phượng vào gấp. Các anh chỉ thị lên đường ngay, không cần chờ anh Đào Tùng ra.

Mãi mãi nhớ Lê Đình Phấn, anh đã về cõi Bác Hồ. Không biết từ lúc nào, anh đã chuẩn bị một xe commăngca, thay ghế ngồi bảo đảm đi đường dài, một xe nhiều chỗ ngồi được đặt tên là xe “chính sách” và một xe tải lớn mang theo các thiết bị kỹ thuật bổ sung cho B2.

Anh Phấn là Phó chánh văn phòng Thông tấn xã, lớn tuổi nhưng khoẻ mạnh, lái xe giỏi. Anh chuẩn bị sẵn hai bản đồ: Bản đồ toàn miền Nam và bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh.

Hầu như những đồng chí phụ trách gắn bó với chiến trường miền Nam cùng đi chuyến này. Cả hai đồng chí lãnh đạo thông tấn quân sự Lê Minh và Trần Dũng, anh Đỗ Bích, cán bộ cách mạng lão thành, Trưởng phòng tổ chức, một con người tiêu biểu sống mẫu mực 21 năm “ngày Bắc, đêm Nam,” chị Trần Thị Tỳ gắn liền với tư liệu miền Nam, chị Sáu, người cả cuộc đời làm tổ chức chỉ lo cho cán bộ chiến trường miền Nam, chị Yến, người gắn bó với hô hiệu các đài mang tên LPA trên toàn miền Nam và đội quân thiếu nhi con anh chị Năm Xuân, con chị Sáu, chị Yến và cả cháu Mai con chị Tư Hòa.

Vẫn mặc trang phục quân giải phóng nhưng xe đi trong hoà bình. Đi nhanh từ Hà Nội đến cầu Hiền Lương, chỉ nghỉ lại dọc đường ban đêm. Nhưng đến Huế, anh chị em gặp nhau, những phóng viên, điện báo viên trải qua những năm dài gian khổ còn sống khoẻ mạnh, cả các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ địa phương đều là người quen cũ, không thể không dừng lại, không thể không có những cuộc đi thăm hỏi, không thiếu được các bữa ăn, nhất là các món ăn Cung đình Huế. Dừng lại Huế chỉ một đêm và gần hai ngày.

Nhưng đến Đà Nẵng càng không thể đi ngay. Có biết bao gia đình và cơ sở cần đến thăm. Có bao chuyện cần bàn để xây dựng cơ quan đại diện ở miền Trung và Tây Nguyên, lại còn vừa bổ sung, luân chuyển cán bộ cho các tỉnh trong khu vực, kể cả việc dựng vợ gả chồng cho một số cán bộ phóng viên bởi đã hòa bình như lời hẹn ước.

Quảng Ngãi cũng phải dừng lại không phải chỉ vì đề tài “quê gốc của bún bò, giò heo có đúng là Quảng Ngãi không” mà cũng như mọi nơi đi qua, công tác luân chuyển và điều kiện hoạt động của cán bộ sau giải phóng đòi hỏi phải có thì giờ cùng bàn bạc.

Đến Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà thì không chỉ có những công việc giống như mọi nơi mà lại có hai việc bức xúc: một là xe chính sách gồm các chị và các cháu bỏ xa đoàn, đi lạc phải mất công tìm kiếm, hai là cần thuyết phục anh Đỗ Bích ở lại thăm gia đình. Đã 21 năm chị và các cháu ngóng tin anh. Cả tình và lý, anh Bích chấp nhận ở lại, sẽ vào Sài Gòn sau.

Đến Phan Rang quyết định ngược lên Đà Lạt gặp Xuân Bích và anh em khu 6 trong đó có cô điện báo viên duy nhất của khu 6 còn sống sau chiến tranh. Đến chỗ Xuân Bích thì có điện của anh Năm Xuân hỏi ngày đến Sài Gòn và nhắc khéo anh Trần Quang Huy chuyển lời hỏi thăm. Biết là không thể trì hoãn.

Rời Đà Lạt, tới Sài Gòn lúc 6 giờ chiều. Anh Phấn chỉ theo bản đồ mà không cần hỏi đường, xe dừng đúng trước nhà 155 Hiền Vương (Võ Thị Sáu). Hầu như tất cả đã chờ sẵn. Ôm nhau, mừng mừng, tủi tủi. Chỉ riêng cháu Mai đứng trước bố mẹ mà tần ngần. Cháu đã học cấp ba phổ thông, không quên mặt bố mẹ. Thì ra tội là ở chú Đỗ Phượng hay trêu cháu dọc đường “chuyến này về làm tiểu thư nhà tư sản ở Sài Gòn.”

Các cháu học sinh miền Bắc thời đó, phân biệt địch ta, phân biệt giai cấp rõ ràng và quyết liệt. Phải đến với cháu nói rõ “ba mẹ là anh hùng sống trong lòng địch làm kinh tế cho cánh mạng, không phải là tư sản đâu, chú nói giỡn đó.”

Vậy mà chị Tư Hòa cho biết cả tháng trời, Mai mới nhận thức rõ và quan hệ thân thiết với ba má. Mai học giỏi và ngoan, tiếc cháu mất sớm vì bạo bệnh. Xin trong trang viết này chia sẻ với chị Tư. Gặp anh chị em TTXGP, nhiều người chỉ nghe tên nhưng chưa biết mặt.

Ngay cả lớp cao tuổi như Ba Đỗ, Sáu Nghĩa, 30 năm chiến đấu chưa một lần ra Bắc. Thế mà sao thân thiết, gần gũi. Nhiều đồng chí chỉ nghe tiếng nói qua băng ghi âm và đọc thư gửi từ Hà Nội. Anh chị em không nói đến những món quà lớn mà rất nhớ những cái nhỏ nhặt như dụng cụ thô sơ để xỏ quai dép cao su.

Khoảng một tháng sau, thương anh Năm Xuân vốn nghiêm chỉnh, thật thà, luôn lo nghĩ cho anh em nên rất lo khi họp đại hội toàn Đảng bộ, chân ướt chân ráo mới vào làm sao Đỗ Phượng có đủ số phiếu trúng cử ở mức kha khá để làm Bí thư Đảng ủy như chỉ đạo của Trung ương Cục.

Trên hai trăm lá phiếu 100% đã dồn cả cho người mới đến. Không thể nói khác hơn đó là những lá thăm mang theo tình cảm cách mạng trong sáng, không tiền bạc, của cải nào có thể so sánh được. Cho đến lúc này, đã 35 năm, vẫn không thể quên tinh thần cách mạng và tình chân thành đó.

Bài viết đã quá dài, xin được kết thúc bắng sự kiện đặc biệt ngày 15 tháng 9 năm 1975. Được anh Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục và Thường vụ Trung ương Cục cho phép, Thông tấn xã đã tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày thành lập VNTTX ngay tại một nhà hàng nổi tiếng nhất ở trung tâm Chợ Lớn. A

Anh Phạm Hùng và các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục, Chính phủ Cách mạng Lâm thời, lãnh đạo các ban, ngành của miền Nam, cùng các nhà lãnh đạo lực lượng thứ ba và một số nhân sỹ, trí thức và các nhân vật tiêu biểu trong chính quyền Sài Gòn cũ đã tham dự.

Không một chút nghi thức, chủ nhà nói vài lời giới thiệu và cảm ơn chung các vị khách và mời đồng chí Phạm Hùng chúc rượu. Anh Phạm Hùng nói ngắn gọn đại ý là: Xin cảm ơn tất cả các bạn có mặt để chúc mừng 30 năm ngày truyền thống VNTTX, cơ quan thông tin chiến lược do Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập và đặt tên. Ở đây có anh chị em VNTTX và TTXGP tuy hai tổ chức nhưng chỉ là một. Họ đều là những chiến sỹ thực hiện chung một nhiệm vụ. Xin nâng cốc chúc Thông tấn xã cả nước ta không ngừng phát triển và tiến bộ.

Đó là cuộc gặp gỡ đông đảo đầu tiên mang tính tập hợp rộng rãi ở miền Nam kể từ sau ngày 30/4/1975 được Thường vụ Trung ương Cục khen ngợi, đánh giá cao.

Từ trái tim một người gắn bó với TTXVN, nhân bài viết này, hết lòng biết ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí và đồng nghiệp các thế hệ của TTXVN và gia đình họ cùng các tổ chức và cơ sở đã ủng hộ hết lòng sự nghiệp Thông tấn./

Phó Tổng biên tập VNTTX Đỗ Phượng cùng các phóng viên trên đường đi công tác tại Quảng Trị (1973). (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Phó Tổng biên tập VNTTX Đỗ Phượng cùng các phóng viên trên đường đi công tác tại Quảng Trị (1973). (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Ký ức về một lớp người cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp Thông tấn

Trần Ấm

Một nửa cuộc đời anh em chúng tôi – lớp phóng viên năm 1965 đã sống, làm việc và hy sinh cho sự nghiệp Thông tấn hôm nay.

Con đường về Thông tấn

Vào những ngày đầu tháng 5/1965, trong không khí cả nước sôi sục khí thế chống Mỹ, cứu nước, phong trào miền Bắc chi viện sức người và sức của cho miền Nam được phát động rầm rộ, anh em chúng tôi đang trong giai đoạn kết thúc cuộc đời sinh viên ở các trường đại học Tổng hợp, Sư phạm, Ngoại giao… thì được anh Châu, cán bộ tổ chức Trung ương cùng chị Sáu, anh Bích, cán bộ tổ chức của Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX), về làm việc với Ban giám hiệu các trường.

Một nửa cuộc đời anh em chúng tôi – lớp phóng viên năm 1965 đã sống, làm việc và hy sinh cho sự nghiệp Thông tấn hôm nay.

Qua lý lịch, học bạ và làm việc trực tiếp với các giáo viên chủ nhiệm để chọn người, chúng tôi được phòng giáo vụ, Ban Giám hiệu nhà trường gọi lên nói rõ mục đích, ý nghĩa việc tuyển chọn người theo yêu cầu của VNTTX để chi viện cho miền Nam. Thế là trong vòng một tuần lễ chúng tôi kết thúc sớm khóa luận văn tốt nghiệp và vui vẻ chấp hành lệnh điều động của tổ chức.

Chúng tôi được xe của VNTTX đón đi đến lớp học tại thôn Cấn Thượng, xã Cấn Hữu, huyện Quốc Oai, Hà Tây cũ, nay là Hà Nội. Và thế là chúng tôi bắt đầu bước vào nghề mới – nghề Thông tấn – báo chí.

 Phóng viên, kỹ thuật viên VNTTX trong Phòng liên lạc Ban liên hợp quân sự bốn bên tại Trại Davis Sài Gòn, tháng 3/1973, thu và biên tập tin gửi về Tổng xã tại Hà Nội để cung cấp cho các cơ quan, báo chí trong và ngoài nước. (Từ trái qua): Kỹ sư Trương Việt Cường, điện báo viên Ngô Duy Phùng, phóng viên Như Kim và kỹ thuật viên Phạm Quang Khang. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
 Phóng viên, kỹ thuật viên VNTTX trong Phòng liên lạc Ban liên hợp quân sự bốn bên tại Trại Davis Sài Gòn, tháng 3/1973, thu và biên tập tin gửi về Tổng xã tại Hà Nội để cung cấp cho các cơ quan, báo chí trong và ngoài nước. (Từ trái qua): Kỹ sư Trương Việt Cường, điện báo viên Ngô Duy Phùng, phóng viên Như Kim và kỹ thuật viên Phạm Quang Khang. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Lớp học là đình Cấn Thượng, các học viên ở trong nhà dân. Phụ trách lớp học là anh Châu Quỳ và anh Trúc, phụ trách tài vụ lớp học là anh Thọ, cấp dưỡng lớp học là anh Luân. Các thầy dạy làm nghề báo của cơ quan VNTTX là các anh Hoàng Tuấn, Lê Chân, Lê Bá Thuyên…

Các thầy ngoài cơ quan Thông tấn là các anh Quang Đạm, Hoàng Tùng (báo Nhân Dân), Lưu Quý Kỳ, Trần Minh Tước (Vụ Báo chí, Ban Tuyên huấn Trung ương), anh Trần Lâm (Tổng biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam)…

Chúng tôi được nghe giảng hoặc thảo luận tổ. Kỷ luật lớp học khá nghiêm ngặt. Suốt 3 tháng không cho phép ai về thăm gia đình hoặc về Hà Nội thăm bạn bè (trừ trường hợp thật đặc biệt). Hết 3 tháng học lý thuyết chúng tôi được chia làm hai nhóm phóng viên tin và phóng viên ảnh.

Phóng viên ảnh tiếp tục ở lại Cấn Thượng học thêm 45 ngày, còn phóng viên tin về VNTTX thực tập.

Số học viên về VNTTX – số 5 Lý Thường Kiệt thực tập chia làm 3 tốp. Tốp thực tập tin thế giới gồm các anh Hoàng Hòe, Đàm, Mến, Lương. Tốp chúng tôi gồm Trần Ấm, Nguyễn Văn Nhường, Lê Đình Phụng thực tập tin đối ngoại, về tổ tin tiếng Pháp (AVI), Ban tin Đối ngoại.

Tổ tin tiếng Pháp hồi đó có 3 người gồm các anh Tô Chương, anh Phạm Văn Đức và chị Trình (vợ anh Trần Thanh Xuân). Cũng trong thời gian thực tập ở VNTTX, chúng tôi được dự Lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập VNTTX. Phòng trưng bày truyền thống của cơ quan được đặt ở nhà ăn, 18 Trần Hưng Đạo, Hà Nội.

Phó Tổng biên tập VNTTX Trần Thanh Xuân và các phóng viên VNTTX tại một trạm dừng chân trên đường vào chiến trường miền Nam (3/1973). (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Phó Tổng biên tập VNTTX Trần Thanh Xuân và các phóng viên VNTTX tại một trạm dừng chân trên đường vào chiến trường miền Nam (3/1973). (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Dự Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập của cơ quan, anh em chúng tôi thấy được lớp đàn anh đi trước trong kháng chiến chống Pháp là những tấm gương sáng cho chúng tôi noi theo. Đặc biệt, gương các anh Đình Chương, Lê Bá Thuyên là phóng viên mặt trận Điện Biên Phủ để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng đẹp về phóng viên chiến trường. Một công việc mà chúng tôi sắp phải bắt tay vào làm việc thực sự ở miền Nam.

Dự Lễ kỷ niệm ngày thành lập cơ quan xong cũng là lúc chúng tôi kết thúc đợt thực tập và lại chuyển sang giai đoạn học tập khác. Đó là học về nhiệm vụ cách mạng miền Nam và tập hành quân đeo gạch rèn luyện sức khỏe để vượt Trường Sơn. Và từ đó, chúng tôi rong ruổi trên đường Trường Sơn đầy gian khổ với tấm chứng minh thư “đi ông cụ” (tức đi vào Trung ương Cục miền Nam ở miền Đông Nam Bộ).

Ròng rã 3 tháng trời có lẻ. Cứ ngày đi đêm nghỉ, hoặc ngày nghỉ, đêm đi tùy theo từng chặng. Mỗi chặng bình quân đi 10 giờ liên tục. Hành trang của mỗi người không thể thiếu được là chiếc ba lô cóc với bộ tăng, võng, bình toong, hăng-gô, gói muối tinh và gói mắm kem. Chúng tôi là những thanh niên ra đi với lòng phơi phới, được trực tiếp tham gia chống Mỹ ở nơi tuyến đầu.

Đoàn viên thanh niên TTXGP tại căn cứ ký kết giao ước thi đua. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Đoàn viên thanh niên TTXGP tại căn cứ ký kết giao ước thi đua. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Những ngày đầu có sức khỏe, có tinh thần chiến đấu cao nên cứ muốn một ngày đi hai trạm hoặc ba trạm để mau tới đích, kẻo vào tới nơi cuộc chiến tranh kết thúc mất, chỉ còn đi nhặt ống bơ thì uổng công quá! Nhưng đến tháng thứ hai, tháng thứ ba sức khỏe yếu dần, sốt rét rừng bắt đầu thâm nhập. Một số anh chị em phải rớt lại một vài chặng, nhưng chưa có người nào hy sinh như một số đoàn khác.

Đến đầu năm 1966 chúng tôi về tới Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP), lúc đó đóng ở vùng giáp biên giới tỉnh Tây Ninh với Campuchia, thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông. Về tới cơ quan chưa được một tuần, phần lớn anh em chúng tôi được phân công đi các mặt trận ở miền Đông Nam bộ. Có 2 tổ phóng viên trực tiếp xuống Công trường 9 (Sư đoàn 9) và Công trường 5 (Sư đoàn 5). Địa bàn hoạt động của Sư đoàn 9 là trục đường 13, vùng Bình Long-Tây Ninh. Sư đoàn 5 hoạt động ở vùng Bà Rịa-Long Khánh và vùng Rừng Sác, Lòng Tàu.

Những con đường đi săn tin

Nghề Thông tấn vốn đã cực nhọc, nhưng nghề Thông tấn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ – đặc biệt là những phóng viên chiến trường còn nhọc nhằn hơn nhiều.

Khi Mỹ-Ngụy chuẩn bị bước vào cuộc phản công chiến lược “Tìm diệt” thì cũng là lúc lãnh đạo TTXGP phân công chúng tôi đi theo các “Công trường” để đưa tin. Tổ chúng tôi đi Công trường 9 gồm có 4 phóng viên và 1 tổ điện đài gồm 5 người. Tổ phóng viên do anh Nguyễn Văn Đàm làm tổ trưởng, tôi (Trần Ấm), anh Trọng Linh, anh Nguyễn Đặng (phóng viên ảnh) làm tổ viên.

Phóng viên VNTTX Lam Thanh, Xuân Lâm, Vũ Tạo và các đồng nghiệp đi Chiến dịch Quảng Trị (tháng 1/1972). (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Phóng viên VNTTX Lam Thanh, Xuân Lâm, Vũ Tạo và các đồng nghiệp đi Chiến dịch Quảng Trị (tháng 1/1972). (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Chúng tôi lên đường đi tới Sư đoàn 9 vô cùng vất vả. Đi theo các trạm giao liên vượt sông Sài Gòn đến vùng Mã Đà. Vừa tới nơi thì được biết đơn vị hành quân về vùng Dầu Tiếng, Bời Lời (Tây Ninh). Đoàn chúng tôi quay về vùng Dầu Tiếng-Bời Lời thì đơn vị bộ đội lại vừa di chuyển để tránh bom B52. Tìm lòng vòng cả một tuần lễ mới đến được chỉ huy sở của Sư đoàn.

Đến nơi công tác, công việc đầu tiên là phải đào công sự, đi gùi gạo, gùi nước – nghĩa là phải làm những việc cần thiết để tồn tại trước. Có tồn tại thì mới nói đến chuyện hành nghề, mà có hành nghề được còn phụ thuộc vào các trận đánh của bộ đội.

Chúng tôi tới Sư đoàn 9 đúng vào lúc đơn vị đang “ém quân” (tự giấu mình), trong khi đó Sư “Anh cả đỏ” cứ lồng lộn đi tìm quân giải phóng. Còn chúng tôi bám sát hoạt động của bộ đội, để săn tin, đưa tin. Nhưng bộ đội lại không đánh, thật sốt ruột. Suốt ngày này sang ngày khác chỉ đào công sự, gùi gạo, xuống các đơn vị thâm nhập làm quen. Khi bước vào cuộc sống của bộ đội, phóng viên hòa nhập với cuộc đời người lính. Ngoài nhiệm vụ viết tin, bài, còn phải đào công sự, tải đạn ra tuyến trước, tải thương về tuyến sau.

Cũng chính trong cuộc sống hóa thân chiến sỹ ấy đã tạo cho phóng viên có được cuộc sống người chiến sỹ, viết những bài thông tấn, phóng sự gần với người lính hơn. Thậm chí bộ đội bắt được con gà rừng cũng gọi phóng viên đến cùng chia vui. Đời phóng viên ở mặt trận, lại ở mặt trận miền Đông Nam bộ quả là gian lao và vất vả. Nhưng chúng tôi cũng có niềm vui là gắn với những chiến công của chiến sỹ miền Đông bằng những tin, bài.

Các chiến dịch đường 13, các trận càn “Hòn đá vàng,” “Hòn đá bạc,” “Gadsden,” “Túc-xơn,” “Junction City”… Rồi Dầu Tiếng, Tây Ninh, Chơn Thành, Lộc Ninh… Chiến công nối tiếp chiến công; tin, bài nối tiếp tin bài. Cứ theo năm tháng mà chúng tôi trưởng thành dần lên với các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

Đến cuối năm 1967, anh em chúng tôi lại triển khai theo một hướng khác – “Tiến về Sài Gòn.” Hơn một chục phóng viên dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Vũ Linh (Bảy Lý) – Giám đốc TTXGP – theo các cánh quân tiến về Sài Gòn với Xuân Mậu Thân 1968. Tiếp sau các trận càn biên giới Việt Nam-Campuchia, chiến tranh mở rộng sang Campuchia, anh em chúng tôi lại có mặt trên các mặt trận Suông, Chúp, Kampong Cham-Ta keo, Căngđan… Rồi chiến dịch đường 13, Lộc Ninh-Chơn Thành.

Tổ ảnh quân sự của VNTTX năm 1970 (từ trái sang): Văn Bảo, Chu Chí Thành, Phạm Văn Hoạt, Nguyễn Xuân Lâm, Lương Nghĩa Dũng, Đinh Hữu Thứ. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)
Tổ ảnh quân sự của VNTTX năm 1970 (từ trái sang): Văn Bảo, Chu Chí Thành, Phạm Văn Hoạt, Nguyễn Xuân Lâm, Lương Nghĩa Dũng, Đinh Hữu Thứ. (Ảnh: Tư liệu VNTTX)

Trong khi đó ở chiến trường Bình Trị Thiên, khu 5, các anh Nghiêm Sỹ Thái, Hồ Hải Học cùng các phóng viên lớp đàn anh là Nguyễn Đình Thuyên, Võ Thế Ái, Vũ Đảo theo các chiến dịch đường 9, Khe Sanh, Đắc Tô-Tân Cảnh, Quảng Đà-Quảng Tín tạo nên tuyến tin liên hoàn của TTXGP trong thời chống Mỹ.

Khi có Hiệp định Paris 1973, tuy VNTTX ở Hà Nội có tăng cường lớp phóng viên GP10 cho TTXGP, song anh em khóa chúng tôi vẫn là lực lượng có kinh nghiệm để viết tiếp những chiến công cho đến ngày 30/4/1975, ngày toàn thắng của dân tộc.

Anh em chúng tôi về VNTTX lúc đó mới tròn 20 tuổi, đến nay đã trên dưới tuổi 70, đã 45 năm trôi qua. Với hơn 1/4 thế kỷ, một tay cầm bút, một tay cầm súng chiến đấu cho sự nghiệp Thông tấn, lớp chúng tôi cũng đã trưởng thành và cũng không ít mất mát hy sinh.

Trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, nhiều anh em đồng nghiệp của chúng tôi đã ngã xuống. Các anh Tuân (Bình Trị Thiên), Nhường (khu 5); các anh Tròn, Liệt, Cước, Phụng, Quy, Bang… ở mặt trận Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Anh Ngọc bị bắt làm tù binh, mãi đến khi có Hiệp định Paris mới được trao trả và chuyển công tác. Ngay sau Hiệp định Paris anh Đức Hoằng, lớp chúng tôi, đang là Trưởng phân xã Lộc Ninh đã bị bom Mỹ giết hại. Có thể nói anh Đức Hoằng là người phóng viên cuối cùng lớp chúng tôi ngã xuống cho sự nghiệp Thông tấn.

Lớp chúng tôi còn chưa thể yên tâm khi phải trả lời thân nhân của các anh Nhường, Quy, Phụng, Tròn, Bang, Liệt, Châu… về phần mộ của các anh hiện ở đâu. Hình ảnh các anh vẫn còn đó, nhưng phần mộ của các anh vẫn chưa tìm thấy. Những người như chúng tôi còn may mắn hơn, được sống, lòng không nguôi day dứt, bùi ngùi và nhớ thương.

Trong ngày kỷ niệm ngày thành lập ngành, trong sự nghiệp Thông tấn có hương hồn các anh. Chúng tôi – những người còn sống không chỉ dành một phút mặc niệm mà phải cần hơn thế nữa – cần suy nghĩ về họ – nghĩ về một lớp người đã cống hiến, đã hy sinh./.

Chiến công diệt xe tăng của chiến sĩ TTXGP trong trận càn Junction City (1967). Nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên TTXGP vừa dũng cảm chiến đấu bảo vệ căn cứ, tiêu diệt địch, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Chiến công diệt xe tăng của chiến sĩ TTXGP trong trận càn Junction City (1967). Nhiều cán bộ, phóng viên, nhân viên TTXGP vừa dũng cảm chiến đấu bảo vệ căn cứ, tiêu diệt địch, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Ký ức hào hùng của lớp phóng viên chiến trường GP10

Vũ Xuân Bân

Ngày đón nhận danh hiệu anh hùng của Thông tấn xã Giải phóng, nay là Thông tấn xã Việt Nam, đang đến gần khiến chúng tôi xốn xang, xúc động.

Là lớp phóng viên chiến trường GP10, chúng tôi có dịp hồi tưởng lại những tháng ngày gian khổ hành quân trên đường Trường Sơn cũng như những tháng năm hào hùng ở chiến khu xưa, hay còn gọi là ở R (Tây Ninh) và những ngày làm phóng viên mặt trận ở khắp chiến trường miền Nam.

“Đi tiếp phẩm qua trảng ‘Cố Vấn’ – Căn cứ ‘R’ – Chiến khu Tây Ninh” (Phạm Quang Nghị đi xe đạp trước, Vũ Xuân Bân đi sau. Ảnh Chụp cuối năm 1973). (Ảnh tác giả cung cấp)
“Đi tiếp phẩm qua trảng ‘Cố Vấn’ – Căn cứ ‘R’ – Chiến khu Tây Ninh” (Phạm Quang Nghị đi xe đạp trước, Vũ Xuân Bân đi sau. Ảnh Chụp cuối năm 1973). (Ảnh tác giả cung cấp)

Những tháng năm chiến tranh gian khổ đó, đói cơm, nhạt muối, lo ăn từng bữa, ốm đau bệnh tật, nhất là sốt rét không chừa một ai, sống chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào nhưng không ai kêu ca, phàn nàn, nản chí, tính toán cá nhân, mà luôn lạc quan, yêu đời, trong lòng lúc nào cũng “phơi phới dậy tương lai,” tất cả vì miền Nam ruột thịt, thống nhất đất nước.

Thế hệ trẻ lúc đó được giáo dục rất tốt. Học xong đại học, học tiếp lớp phóng viên đặc biệt GP10 cho trận đánh cuối cùng, giải phóng miền Nam, thống nhất non sông, chúng tôi được về ăn Tết nguyên đán Quý Sửu (1973) và nghỉ một tuần chia tay tạm biệt cha mẹ, người thân ở quê nhà để chuẩn bị bước vào những ngày gian khổ hành quân vượt Trường Sơn.

Buổi sáng hết phép chia tay cha mẹ, người thân, tôi mới thổ lộ: “Con ra Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới đi B” (đi nhận công tác tại chiến trường miền Nam).”

Cả nhà nghe tin đó đều bất ngờ vì cứ ngỡ tôi sau khi tốt nghiệp đại học sẽ làm việc tại một cơ quan nghiên cứu nào đó ở Hà Nội.

Việc tôi đi B đột ngột đã khiến mẹ tôi bị sốc, bà cứ thẫn thờ như người mất hồn vì thương tôi, là con trai duy nhất trong gia đình, lại phải đi B, tức vào chiến trường – nơi mũi tên hòn đạn – không biết sống chết ra sao.

Tôi còn nhớ như in hôm mẹ tiễn tôi lên đường ra đến bờ đê Nam sông Mã, mẹ tôi khóc nức nở khi tôi vẫy tay chào và nhắn hẹn: “Con đi công tác xa có lẽ khi nào giải phóng miền Nam con mới về thăm quê nhà.”

Phạm Quang Nghị (bên phải) gặp Vũ Xuân Bân (Phóng viên TTXGP) vừa miền Bắc vào “R” – Chiến khu Tây Ninh. Ảnh chụp tháng 6/1973). (Ảnh tác giả cung cấp)
Phạm Quang Nghị (bên phải) gặp Vũ Xuân Bân (Phóng viên TTXGP) vừa miền Bắc vào “R” – Chiến khu Tây Ninh. Ảnh chụp tháng 6/1973). (Ảnh tác giả cung cấp)

Vài tháng sau đó, vào buổi chiều đi chăn trâu ở ngoài đồng, mẹ tôi bần thần vì thướng nhớ con trai nên không tránh kịp trời mưa dông bất chợt và bị cảm lạnh, ốm một trận “thập tử nhất sinh.” May mà bà qua được nhưng bị di chứng lạnh cóng chân tay, sức khỏe yếu hẳn đi.

Được phân công đi chiến trường “miền Đông Nam Bộ – gian lao mà anh dũng,” chủ yếu là tại Long Khánh-Bà Rịa-Vũng Tàu trong năm 1974, tôi đã nếm trải vài ba trận sốt rét, phải tiêm thuốc quinin vào mông để nhanh chóng cắt cơn, hành quân tiếp.

Nhớ nhất là có cả gần tháng trời ở trong hang trên núi Minh Đạm với cán bộ và du kích địa phương nằm ngay sát bờ biển, cách không xa bãi tắm Vũng Tàu, vô cùng gian nan.

Tại đây cuộc đấu tranh với nguy quân, ngụy quyền diễn ra quyết liệt, tôi đã viết những bài báo đầu tiên “Cuộc sống vùng ven,” “ Dưới chân núi Minh Đạm,” “Sự thức tỉnh muộn màng của một sỹ quan ngụy,” “Trên vành đại Úc hôm nay”

Các bài báo được phát trên bản tin thời sự Thông tấn xã Giải phóng và TTXVN, sau đó được phát trên Đài phát thanh Giải Phóng và Đài Tiếng nói Việt Nam , là nguồn cổ vũ động viên rất lớn, làm tôi rất phấn chấn về nghề nghiệp.

Các phóng viên GP10 chụp ảnh kỷ niệm tại khu di tích căn cứ Trung ương cục miền Nam nhân chuyến trở lại R – Chiến khu Tây Ninh. (Ảnh: Vũ Xuân Bân/Vietnam+)
Các phóng viên GP10 chụp ảnh kỷ niệm tại khu di tích căn cứ Trung ương cục miền Nam nhân chuyến trở lại R – Chiến khu Tây Ninh. (Ảnh: Vũ Xuân Bân/Vietnam+)

Cũng chính tại đây đã không ít ngày đói cơm, nhạt muối, sốt rét hành hạ và thật may mắn đến ngày chiến thắng 30/4/1975 giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi cùng nhiều đồng đội vẫn còn sống để được về quê gặp lại cha mẹ, người thân, như nhắn hẹn lúc chia tay mẹ già ngày nào đã thành hiện thực.

Thật bất ngờ, đầu năm 2019, tôi được người bạn cùng quê Phạm Quang Nghị, đồng môn Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội cũ, nay là Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội đã tặng quyển sách quý Nhật ký “Nơi ấy là Chiến trường,” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, thu hút sự chú ý của bạn đọc.

Ở trang 253 của cuốn Nhật ký, Phạm Quang Nghị ghi chép “Ngày 7/6/1973 có nhắc đến tôi (Vũ Xuân Bân) trong một kỷ niệm ‘Ngày qua, tức ngày 6/6/1973,’ tôi mới từ ngoài Bắc vượt Trường Sơn vào nhận công tác tại Thông tấn xã Giải Phóng được 4 ngày, hỏi thăm được địa chỉ đã tranh thủ băng rừng ở “R” đến thăm Phạm Quang Nghị, lúc đó là phóng viên biên tập Văn nghệ Giải phóng.

Câu chuyện gặp nhau cách nay hơn 47 năm không ngờ đã được Phạm Quang Nghị ghi chép lại một cách trung thực, sống động.

Không những vậy, trong phần cuối của sách “Nơi ấy là CHIẾN TRƯỜNG” có mục “Một số hình ảnh và tư liệu” đăng hai bức ảnh quý tôi chụp chung với Phạm Quang Nghị, trong đó có ảnh chú thích “Gặp Vũ Xuân Bân (Phóng viên Thông tấn xã Giải phóng) vừa miền Bắc vào “R”(ảnh chụp tháng 6 năm 1973 – cách nay hơn 47 năm) và một ảnh chú thích “Đi tiếp phẩm qua trảng ‘Cố Vấn’-Căn cứ ‘R’ Tây Ninh” (Phạm Quang Nghị đi xe đạp trước, tôi đi sau – ảnh dưới: Chụp cuối năm 1973, cách nay hơn 47 năm).

Có thể nói cuốn Nhật ký “Nơi ấy là Chiến Trường” như một bộ phim tái hiện chân thực về một giai đoạn chiến tranh giải phóng miền Nam, về quê hương đất nước, về cuộc sống, về tâm trạng người chiến sỹ, người dân và các đối tượng bên kia chiến tuyến…

Đó là tư liệu quý mà bạn đồng môn, đồng nghiệp Phạm Quang Nghị, vốn là người rất cẩn trọng còn lưu giữ được và là kỷ niệm cực kỳ sâu sắc giữa tôi và Phạm Quang Nghị thời trai trẻ cùng quê, cùng học khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.

(Nghị học khoá 12, trước tôi 1 năm) và cùng vượt Trường Sơn vào “R” (Nghị đi trước tôi gần 2 năm) cùng vào chiến trường Nam Bộ, cùng là phóng viên nhưng ở 2 cơ quan Văn nghệ và Thông tấn xã Giải phóng.

Cả hai chúng tôi chỉ bị những trận sốt rét, có lúc “lên bờ xuống ruộng,” tối tăm mặt mũi tưởng không qua nổi, nhưng may mắn cuối cùng chúng tôi vẫn còn sống để về với cha mẹ, người thân và quê hương, tiếp tục công tác cho đến lúc nghỉ hưu.

Đối với Phạm Quang Nghị thành đạt hơn nhiều, trở thành cán bộ cấp cao, là một trong những cựu sinh viên khoa Sử – Đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ) thành đạt nhất, nay đã nghỉ hưu, trở về đời thường, làm “dân vạn đại,” lại tiếp tục viết sách, làm thơ dâng hiến tiếp cho đời.

Chiến tranh lùi xa gần nửa thế kỷ, Thông tấn xã Giải phóng được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng, là dịp gợi nhớ lại những tháng năm gian lao kháng chiến, ác liệt, tình đồng chí, đồng đội, tình yêu thương của người dân, đã giúp chúng ta củng cố niềm tin tất thắng, có thêm nghị lực, dũng khí, vững vàng trên vị trí phóng viên chiến trường, người lính xung kích trên mặt trận chính trị tư tưởng, góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc để đất nước có ngày hôm nay./.

Các cựu phóng viên GP10 thắp hương tại căn cứ Trung ương cục miền Nam - vùng “Mã Đà sơn cước”- chiếc nôi của “Chiến khu Đ”. (Ảnh: Vũ Xuân Bân/Vietnam+)
Các cựu phóng viên GP10 thắp hương tại căn cứ Trung ương cục miền Nam – vùng “Mã Đà sơn cước”- chiếc nôi của “Chiến khu Đ”. (Ảnh: Vũ Xuân Bân/Vietnam+)

Phân xã TTXGP Trung Trung bộ và những kỷ niệm không quên

Võ Thế Ái

Phóng viên Thông tấn xã với trận đầu thắng đế quốc Mỹ

Ông Hoàng Minh Thắng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng, khi còn ở quân đội là Chỉ huy trưởng trận Núi Thành ngày 26/5/1965, tiêu diệt gọn một đại đội thuộc Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ.

Phóng viên ảnh Phong Vân (bút danh Chính Vân) của TTXGP khai thác thông tin về du kích xã An Phú, huyện Củ Chi bắn hạ máy bay Mỹ, tháng 4/1975. (Ảnh: Nguyễn Đức Cảnh/TTXGP)
Phóng viên ảnh Phong Vân (bút danh Chính Vân) của TTXGP khai thác thông tin về du kích xã An Phú, huyện Củ Chi bắn hạ máy bay Mỹ, tháng 4/1975. (Ảnh: Nguyễn Đức Cảnh/TTXGP)

Trong cuốn hồi ký dày 392 trang nhan đề: “Nơi ấy tôi đã sống” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tháng 5/2003, ông đã dành 17 trang để kể tường tận về trận đầu thắng Mỹ lẫy lừng ấy, trong đó hai trang 111 và 112 có đoạn khá lý thú nói về việc thực hiện nghiệp vụ của phóng viên Thông tấn xã như sau:

“… Sau trận đánh tôi được điện về Khu báo cáo tình hình. Vừa đến cơ quan Quân khu đóng ở Nước Trắng, Trà My, anh Hai Mạnh (đồng chí Chu Huy Mân) hồi đó là Tư lệnh Quân khu V cho gọi chúng tôi gặp ngay. Anh Hai ân cần mời chúng tôi uống trà rồi vui vui nói:

– Các ông giỏi lắm. Chúc mừng các ông. Nhưng mình lại nhận được điện khen của anh Thanh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh) trước khi nhận được báo cáo của các ông điện về Quân khu.

Chúng tôi chuyện trò sôi nổi về trận đánh, về cái sự kỳ lạ Trung ương Cục lại nhanh chóng nhận được tin trận đánh Núi Thành trước cả Quân khu. Sau này mới biết vì có một đồng chí phóng viên Thông tấn xã đi theo trận đánh đã điện vào Trung ương Cục bài tường thuật trận đánh. Anh em kể lại, lúc đó đồng chí Nguyễn Chí Thanh đang ngồi trên võng cá nhân mắc trong rừng cao su Lộc Ninh, khi đọc xong bài tường thuật vừa nhận đã nhảy xuống khỏi võng, thảo điện khen ra Quân khu V. Trong lúc đó báo cáo của chúng tôi về Quân khu bằng đài 15W thì chưa dịch xong mật mã.”

Phóng viên TTXGP tác nghiệp trên đường đi công tác ở Đồng Tháp Mười. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Phóng viên TTXGP tác nghiệp trên đường đi công tác ở Đồng Tháp Mười. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Đến gặp người cựu phóng viên Thông tấn xã đã nghỉ hưu và đang sống tại Hà Nội để tặng cuốn sách, ông Hoàng Minh Thắng tỏ ý tiếc đã không nhớ thật chính xác họ tên người phóng viên để đưa vào sách.

Phóng viên cảm ơn và nói: “Cánh phóng viên Thông tấn xã chúng tôi có mấy khi nêu tên đâu. Anh có nhã ý nhắc tới hoạt động của Thông tấn xã vào một thời điểm lịch sử như vậy là đã quý lắm rồi.”

Hưởng gió đồng bằng

Với phong trào quần chúng rầm rộ nổi dậy phá “ấp chiến lược” và các cuộc tiến công địch dồn dập suốt năm 1964, kết thúc bằng chiến thắng lớn An Lão, tỉnh Bình Định, vào cuối năm đó, một vùng trung du và đồng bằng rộng lớn ở Trung Trung bộ đã được giải phóng, tạo thuận lợi cho các cơ quan khu V rời rừng núi, chuyển tới những vùng áp sát địch hơn.

Và thế là sau Tết Ất Tỵ (1965), sau khi thịt sạch heo gà, chúng tôi ở phân xã Thông tấn xã giải phóng cùng với toàn thể anh chị em ở Ban Tuyên huấn Khu thực hiện “hạ sơn” với tâm trạng phấn chấn, chắc mẩm phen này đi luôn về Đà Nẵng.

Phóng viên TTXGP tác nghiệp ở chiến trường Củ Chi. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)
Phóng viên TTXGP tác nghiệp ở chiến trường Củ Chi. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)


Chúng tôi tới đóng ở xã Kỳ Yên, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Cũng như nhiều vùng khác ở Trung Trung bộ, xã vừa trải qua một cơn bão lũ dữ dội cuối năm trước, nên Ban và phân xã phải thu xếp thì giờ vừa đảm bảo công tác chuyên môn vừa khẩn trương giúp dân sửa sang nhà cửa, hầm hào, trồng khoai phòng giáp hạt…

Trong xã có nhiều tín đồ Phật giáo, riêng thôn Danh Sơn có nhà thờ Thiên Chúa giáo. Lâu lắm mới được nghe tiếng gõ mõ tụng kinh và tiếng chuông ngân vang trong gió chiều, chúng tôi thấy lòng ấm áp.

Tôi và cậu Vinh, một thanh niên Quảng Ngãi đang học nghề phóng viên, ở và làm việc tại nhà một vị đại diện Phật giáo. Chắc cảm kích vì cách giao tiếp cởi mở chân thật của chúng tôi (nói đúng hơn chúng tôi cũng có tuyên truyền rỉ rả đôi chút nhưng vẫn với lòng thành thật), nên về sau ông ta thú nhận thỉnh thoảng vẫn đi Đà Nẵng xin chỉ thị của Giáo hội về “đối sách” với Mặt trận Dân tộc Giải phóng và với cán bộ Mặt trận đang ở ngay trong nhà ông.

Phóng viên VNTTX cùng các đồng nghiệp TTXGP trước cửa ngõ Sài Gòn sáng sớm 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX) 
Phóng viên VNTTX cùng các đồng nghiệp TTXGP trước cửa ngõ Sài Gòn sáng sớm 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu VNTTX) 

Cách Kỳ Yên chỉ vài cây số, phía Bắc là đồn Phước Lâm, phía khác là mấy đồn ngụy nữa, nhưng tin tưởng ở lực lượng du kích vây đồn, chúng tôi vẫn ăn ngon, ngủ yên. Nửa tháng sau, tuy nơi đóng cơ quan mới bị dội một trận pháo cấp tập, Ban và phân xã vẫn chỉ xê dịch qua các thôn của Kỳ Yên, ít lâu sau mới di chuyển đi xã khác.

Trụ bám ở đồng bằng lúc đó rất thuận lợi. Với phân xã Giải phóng xã, ấy là đưa tin nhanh hơn, phong phú hơn. Trận đầu tiên đánh đế quốc Mỹ, quân ta diệt gọn một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ ở Núi Thành, phân xã đưa ngay được bài tường thuật ra Hà Nội và vào Trung ương Cục miền Nam.

Tuy nhiên, với sự kiện quân viễn chinh Mỹ kéo vào Đà Nẵng từ 8/3/1965 và tiếp đó tới đóng ở Chu Lai cùng nhiều căn cứ khác, quân dân Việt Nam lại đứng trước thử thách khốc liệt, phải đương đầu với một kẻ địch có phương tiện chiến tranh nhiều và hiện đại gấp trăm lần quân ngụy Sài Gòn và cả quân viễn chinh Pháp trước đây.

Sinh hoạt hàng ngày của cơ quan đóng trong nhà dân trở nên rất căng thẳng. Các loại “tàu rà” của Mỹ lượn lờ trên bầu trời hầu như suốt ngày, hễ thấy chút gì khả nghi là phát tín hiệu cho đại bác dội đến xối xả hoặc máy bay xô đến oanh kích. Bọn thám báo lùng sục liều lĩnh hơn. Trực thăng đưa lính đổ bộ xuống mục tiêu hung hăng như cướp đường cướp chợ.

Kỹ thuật viên TTXGP thử nghiệm thu phát ảnh trên hệ thống máy Telephoto hiện đại nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ (năm 1974) do Cộng hòa Dân chủ Đức hỗ trợ. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Kỹ thuật viên TTXGP thử nghiệm thu phát ảnh trên hệ thống máy Telephoto hiện đại nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ (năm 1974) do Cộng hòa Dân chủ Đức hỗ trợ. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Trong các bộ phận của Ban Tuyên huấn, dễ gặp nguy hiểm nhất là bộ phận điện đài. Đài nhỏ, chỉ 15W, dùng điện ragonot quay tay, nhưng nó là điện đài minh ngữ, rất dễ bị phát hiện. Ấy vậy mà, bình thản chấp nhận chơi trò “ú tim” với địch (đồng thời cố gắng giữ bí mật hoặc thẳng thừng tranh chấp với một số cơ quan bạn sợ vạ lây), Trưởng đài Hồng Sinh và các điện báo viên vẫn tự bảo vệ được, qua thời gian dài vẫn đều đều hàng ngày cử người liên lạc với Ban và phân xã để nhận tin phát và trao tin tham khảo thu được từ Hà Nội.

Càng ngày, yêu cầu di chuyển cơ quan càng khẩn trương. Chúng tôi sống lưu động từ xã này sang xã khác, dọc vùng đồng bằng và trung du các huyện Tam Kỳ, Tiên Phước, Thăng Bình, tới đâu cũng được sự che chở của nhân dân. Tuy là “lính cùi chỏ” chuyên cầm bút, nhưng có mang súng dài, súng ngắn phòng thân, nên nhiều lúc mọi người lầm tưởng chúng tôi là bộ đội giải phóng có kỷ luật nghiêm, có vài cô gái lại chê: “Lính tráng chi như gà trống thiến.”

Được dịp tốt để phát triển đội ngũ, các anh ở Ban chủ trương mở một lớp đào tạo phóng viên để bổ sung cho báo Cờ Giải phóng, Giải phóng xã và các báo tỉnh. Lớp cũng phải dựa vào dân và nếu tôi nhớ không lầm thì buổi khai giảng diễn ra ở xã Kỳ Mỹ (huyện Tam Kỳ).

Gần hai chục anh em trẻ được tuyển dụng chọn từ các tỉnh hoặc từ thành phố Đà Nẵng ra vùng giải phóng, khỏi phải “nhảy núi,” nhưng phải học tập trong hoàn cảnh không ổn định và luôn có bom rơi, đạn nổ. Dù vậy, qua một mùa Hè nóng bỏng, khóa báo chí này vẫn đưa được vào trận những phóng viên xông xáo, yêu nghề.

Một thời gian sau, nghe đài phát thanh của Mỹ-ngụy rêu rao “bắt được một ký giả Bắc Việt,” Ban tìm cách xác minh mới biết đó là học viên cũ Lê Nguyên Khôi, bị bắt khi đi công tác ở vùng sau lưng địch. Anh Khôi giữ được khí tiết cho đến ngày ra tù và trở về với nghề làm báo ở Quảng Nam quê anh.

Các chiến sỹ thi đua của TTXGP trong Liên hoan thi đua Ban Tuyên huấn Trung ương Cục (1968). (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Các chiến sỹ thi đua của TTXGP trong Liên hoan thi đua Ban Tuyên huấn Trung ương Cục (1968). (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Khoảng tháng 4/1965, một đoàn báo chí và điện ảnh Trung Quốc vào thăm vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi được Ban phân công tiếp xúc làm việc với đại biểu Tân Hoa xã. “Hoạt động đối ngoại” khá độc đáo, khiến tôi khó quên: Các cuộc đàm đạo và tham quan đều diễn ra giữa tiếng gầm rú của các loại máy bay “Thần sấm,” “Con ma”… hoặc tiếng rít của đạn pháo Mỹ-ngụy.

Ấy vậy mà không bì được với anh Trần Đống, anh len lỏi vào tận thành phố Đà Nẵng và khu kho xăng Liên Chiểu ở chân đèo Hải Vân để quay nhiều thước phim quý giá theo đề nghị của đoàn điện ảnh Trung Quốc.

Trong năm 1965 không thể quên ấy, ngoài trận Núi Thành lịch sử, các lực lượng giải phóng Trung Trung bộ còn nện cho Mỹ-ngụy nhiều đòn nên thân khác, lừng lẫy nhất là Ba Gia và Vạn Tường.

Đồng thời, quần chúng liên tục kéo đi đấu tranh chính trị trực diện không những với ngụy mà cả với Mỹ, chống khủng bố, chống dồn dân. Chúng tôi đã có dịp gặp những bà, những mẹ vừa đi đấu tranh trở về, trán còn lấm tấm mồ hôi, áo dài còn vắt vai…

Các mẹ, các chị kể chuyện sôi nổi, sinh động, và chỉ cần chúng tôi phản ánh trung thực những chuyện kể ấy là bài viết đủ hấp dẫn, chẳng phải “thêm mắm thêm muối” gì cả. Đặc biệt các mẹ, các chị rút ra kết luận vô cùng quý báu: “Đấu với Mỹ cũng không khó hơn đấu với ngụy.”

Nhưng chiến tranh cũng mỗi ngày một ác liệt hơn. Có lần, 4 máy bay “Thần sấm” oanh tạc đúng cơ quan Ban Tuyên huấn Khu. May không có ai thiệt mạng, chỉ có nhân viên trẻ Nguyễn Tạo bị thương.

Khi chúng tôi đến vực Tạo ra khỏi cái hầm hàm ếch đào phía dưới một lũy tre thì mới hiểu ra rằng đáng lẽ đồng chí đã không bị thương nếu không nhường chỗ cho chiếc máy chữ và giỏ tài liệu được nằm phía bên trong hầm (về sau đồng chí Tạo trở thành Bí thư Huyện ủy Lý Sơn-Quảng Ngãi, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và nhân dân, và tôi rất thương tiếc khi nghe tin đồng chí không còn nữa).

Phi pháo địch hoạt động cả ngày lẫn đêm. Nhiều đêm, mọi người đang ngủ bỗng giật nẩy mình vì tiếng bom nổ rần rồi mới nghe tiếng máy bay lướt qua bầu trời.

Khi đóng cơ quan ở xã Thăng Lãnh, huyện Thăng Bình vào mùa lòn bon chín, lần đầu tiên chúng tôi nghe tiếng rùng rùng dài hàng chục phút của bom chùm do máy bay B.52 thả “rải thảm” ở một vùng ven núi gần đó, và sau đó thì nhiều lần chứng kiến bom B.52 tàn phá từng vùng trung du và đồng bằng mới được phục hồi sau bão lũ.

Trong một dịp từ nơi đóng cơ quan ở xã Phước Cẩm (huyện Tiên Phước) xuống thị trấn Cẩm Khê, chúng tôi nhìn thấy một đàn trực thăng của tụi “kỵ binh bay” Mỹ bay như châu chấu ngang trời, rền rĩ đinh tai nhức óc.

Hệ thống “ấp chiến lược” từng bị xóa sổ vào năm 1964, nay lại “đội mồ sống dậy” qua sức ép nặng nề của bom pháo và các cuộc càn quét bằng “trực thăng vận” của Mỹ.

Sự gan góc cũng phải có tính toán, nếu không thì “lợi bất cập hại.” Cùng lúc quân giải phóng tiến công địch trong Thu Đông 1965, các cơ quan khu V lần lượt trở về căn cứ địa Trường Sơn.

Ở nơi rừng núi thiếu thốn trăm bề, phân xã Thông tấn xã giải phóng Trung Trung bộ lại tiếp tục cố gắng bảo đảm cho nguồn tin luôn thông suốt trên làn sóng điện, góp phần nhỏ bé vào công tác tư tưởng: Quyết chiến đấu lâu dài vì “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (lời Bác ở một “Hội nghị Diên Hồng” của thời đại mới, năm 1966)./.

 Các phóng viên TTXGP tại căn cứ Trà Nô của Khu V, tháng 10/1974. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

 Các phóng viên TTXGP tại căn cứ Trà Nô của Khu V, tháng 10/1974. (Ảnh: Tư liệu TTXGP)

Tứ bất tử

Lời giới thiệu

Lịch sử dân tộc Việt không thể không gắn với những thần tích, mà đôi lúc chúng ta không phân biệt được đâu là huyền sử, đâu là chính sử. Trong đó, bốn vị Thánh được dân gian suy tôn là “Tứ Bất Tử” sẽ sống mãi trong tâm thức của nhân dân, bởi những thần tích về các vị thánh mang theo những khát khao, ước vọng của cả dân tộc.

Người đứng đầu trong Tứ thánh là Đệ nhất Đức Thánh Tản, hay Sơn Tinh, là vị thần núi Tản Viên (ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội), tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai; Đệ nhị Đức Thánh Gióng, hay Phù Đổng Thiên Vương, tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm; Đệ tam Đức Thánh Chử Đồng Tử, hay còn được gọi là Chử Đạo Tổ, tượng trưng cho lòng hiếu nghĩa, tình yêu, hôn nhân và sự sung túc, giàu có; Đệ tứ Thánh Mẫu Liễu Hạnh hay Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, đức hạnh, trí tuệ, sự thịnh vượng, thơ văn.

Để lý giải về con số 4 (tứ) trong tư duy, tín ngưỡng của người Việt thì chúng ta đi tìm lại các tên gọi lịch sử mang ý nghĩa triết lí như: Tứ trấn, tứ trụ triều đình, tứ phủ, Sơn Tây tứ quý, tứ nguyệt, An Nam tứ đại tài hay bốn phương tám hướng…

Như vậy có thể khẳng định, ông cha ta chọn tên gọi tứ (bốn) là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại nhất để đặt tên cho bốn vị thần được dân gian tôn vinh, trường sinh bất tử trong các thần điện, nên còn được gọi là ‘Tứ bất tử trong tâm thức Việt Nam’.

Nhìn ra thế giới, chúng ta thấy rằng văn hoá tâm linh ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có một điểm chung là suy tôn các vị thần linh biểu tượng cho những đức tính cao quý mà dân tộc đó gìn giữ, hoặc hướng tới. Mặc dù mỗi dân tộc đều có những cách thức biểu đạt riêng của sự tôn kính hoặc ngưỡng mộ, nhưng tựu chung lại thì họ luôn hướng tới cái thiện, cái nhân văn, thông qua việc xây dựng hay truyền thuyết về những vị thần đó.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh – Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền giải thích rõ hơn: “Những đức tính được tôn vinh thông qua các vị thần có thể là sự vững vàng trước thiên nhiên hung dữ, là sự mạnh mẽ trước giặc ngoại xâm, là sự bao dung, tình yêu thiên nhiên con người… Lòng nhân ái và lẽ sống vì con người luôn được tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Hay sự bất diệt của những truyền thuyết về các vị thánh bất tử chính là sự ngưỡng mộ và lòng tôn kính đối với tiền nhân và đối với những gì mà họ đã dạy cho hậu thế về lẽ sống làm người. Hình tượng Tứ bất tử chính là sức mạnh tinh thần, luôn hiển hiện trong mỗi con người Việt nam, như một lẽ sống, trường tồn cùng sự phát triển của đất nước.”

Ngược dòng lịch sử, chúng ta ghi nhận được lần đầu tiên và người đầu tiên đưa ra danh sách Tứ bất tử là Danh nhân văn hóa thế giới, là Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (sinh năm 1380-1442). Trong sách ‘Dư địa chí,’ Nguyễn Trái đã liệt kê Tứ bất tử, gồm Thánh Tản Viên Sơn, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, và người thứ tư không phải là Mẫu Liễu Hạnh mà là Từ Đạo Hạnh. Thiền sư thời Lý, hiện được thờ tại Chùa Thầy (Hoài Đức, Hà Nội), là người có công rất lớn trong việc sáng lập nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu, trong đó có môn nghệ thuật múa rối nước.

Nhưng sau đó thì danh sách Tứ bất tử đã được thay đổi. Đến thời Hậu Lê, Mẫu Liễu Hạnh, tương truyền là người con gái của Ngọc Hoàng thượng đế, ba lần đầu thai xuống trần, đã bước vào danh sách Tứ bất tử thay thế cho Từ Đạo Hạnh.

Theo chuyên gia văn hóa, PGS.TS Phạm Ngọc Trung: “Bốn vị thánh trong Tứ bất tử Việt Nam là điểm tựa về mặt tinh thần, là biểu tượng cho bốn khía cạnh quan trọng nhất của một dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển. Ví dụ như Tản Viên Sơn Thánh là vị thần liên quan đến lao động sản xuất, mà cụ thể ở đây là trị thủy để phát triển nông nghiệp lúa nước. Thánh Gióng là vị thần chiến tranh, chống ngoại xâm để bảo vệ tổ quốc. Chử Đồng Tử, đó là vị thánh về tình yêu, về xây dựng làng xóm, về sản xuất những ngành mỹ nghệ thủ công buôn bán. Thánh Mẫu Liễu Hạnh là vị thánh cai quản mặt tâm linh, phong tục tập quán, nếp sống của người Việt. Đây chính là bốn khía cạnh quan trọng nhất của một quốc gia, dân tộc. Nếu như một quốc gia, dân tộc nào mà thiếu đi một trong bốn khía cạnh đó thì không thể nào tồn tại một cách trường tồn. Dân tộc Việt Nam chúng ta trải qua 4000 năm lịch sử với bao thăng trầm, song vẫn vượt qua được là nhờ ở sự kết tinh của bốn nội dung này trong tâm thức muôn đời.”

Nội dung: Hào Nguyễn, Thúy Hằng, Khánh Linh

Ảnh/video: Hào Nguyễn

Đức Thánh Tản

và giấc mơ trị thủy

Từ đền Thượng trên đỉnh núi Ba Vì nhìn xuống, ta có thể nhìn ngắm cả một một vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ, khởi nguyên của nền văn minh lúa nước. Cũng tại nơi đây, xuất phát từ tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, Tản Viên Sơn Thánh đã được nhân dân nhân cách hóa và trở thành vị thần đầu tiên trong Bộ Tứ Bất Tử.

Có rất nhiều giả thiết và câu chuyện về nguồn gốc của Đức Thánh Tản được công bố. Nhưng dù xuất thân là một vị thần hay một người có thực thì tất cả đều đại diện cho sức mạnh của nhân dân chống lại thiên tai, bão lũ.

Ở những buổi bình minh của lịch sử, thần núi Tản Viên, cũng như bao vị thần tự nhiên khác, được thờ phụng với mong ước ngài có thể che chở, bảo vệ cho con người. Cho đến khi nền văn minh sông Hồng có sự phát triển rực rỡ, ý thức về tính gắn kết cộng đồng đã được nâng lên một tầm cao mới thì các thần thoại, truyền thuyết mới trở nên điển hình hơn và mang tính biểu tượng với tư cách của vị anh hùng dân tộc. Có thể nói, với nền văn minh nông nghiệp lúa nước làm xương sống cho sự phát triển thời bấy giờ, Đức Thánh Tản Viên Sơn trở thành một thần thoại được nhân dân sùng bái cũng là điều dễ hiểu.

Để làm chủ được vùng đồng bằng rộng lớn ở bán đảo Đông Dương ấy, người Việt phải học cách trị thủy như một lẽ tự nhiên. Bởi trị thủy thành công thì mới có những ruộng đồng tốt tươi để trồng trọt, chăn nuôi và duy trì cuộc sống, cũng như tạo cơ sở hình thành những làng xóm.

Theo PGS.TS Phạm Ngọc Trung, vùng đất phát tích của người Việt cổ là Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ,  thuộc nền văn minh Đông Sơn. Ở đó, Ba Vì chính là nơi cao nhất, trở thành ngọn núi tổ, là nơi tụ linh-tụ khí của trời và đất.

Đền Thờ Đức Thánh Tản trên đỉnh núi Ba Vì
Đền Thờ Đức Thánh Tản trên đỉnh núi Ba Vì

Chính vì thế ông cha ta đã chọn Ba Vì là nơi thờ tự Tản Viên Sơn Thánh. Cũng từ vị trí đắc địa này mà ông cha ta đã chiến thắng được cái gọi là ‘giặc nước’ để phát triển sản xuất và quần tụ.

Trong những năm qua, các nhà khảo cổ đã khai quật được rất nhiều di chỉ thuộc nền văn minh Đông Sơn, nằm ở trên vùng Phú Thọ, Đông Anh, Gia Lâm hoặc trên những gò đồi, kể cả ra những vùng Hải Phòng, Quảng Ninh cũng phát hiện di chỉ khảo cổ học từ thời Đông Sơn. Đấy chính là nơi cư trú của chủ nhân văn hóa Đông Sơn, gắn liền với huyền sử về thời đại Hùng Vương.

Ngay từ đầu, riêng cái tên Ba Vì cũng đã mang nhiều ý nghĩa. Nhà nghiên cứu văn hóa, Tiến sỹ Nguyễn Ánh Hồng giải thích: “Người Việt Nam quan niệm số 1 là số dương khởi, tức là vạn sự khởi đầu nan, Việt Nam quan trọng nhất là số 3, đó là số dương sinh và đến số 5 là số dương trung hòa, số 7 là dương thái âm và số 9 là dương hoàn mỹ tức là cực dương và số đấy chỉ dành cho các bậc đế vương. Việt Nam dùng hai con số, một là số 3, hai là số 9, số 9 dành cho bậc đế vương cho nên Vua mới ở cửu trùng, cửu đỉnh; cho nên lễ vật mà Vua Hùng yêu cầu mới là voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao; cho nên dân tộc Việt Nam mới chỉ có 54 dân tộc vì 5+4=9 và chúng ta chỉ có 63 tỉnh thành vì 6+3=9.”

“Trong dân gian, con số 3 cũng xuất hiện khi nói đến 3 miền, có 3 phương thức sản xuất, có 3 đơn vị xã hội, mỗi đơn vị xã hội (gia đình, xã hội…) đều có 3 nguyên lý hình thành. Núi của chúng ta cũng là Tam Đảo, Ba Vì, Phá Tam Giang… Thắp hương lên bàn thờ người ta cũng thắp 3 nén, vái 3 vái, người sống cúng 3 ngày, 49 ngày… tất cả đều số lẻ.”

Tín ngưỡng phụng thờ Tản Viên Sơn Thánh bao trùm một vùng không gian văn hóa rộng lớn khu vực Đồng bằng Bắc bộ, trong đó đậm đặc nhất là vùng Xứ Đoài (vùng lõi của huyện Ba Vì). Thực tế cho thấy, chỉ tính trên địa bàn huyện Ba Vì có 300 di tích, trong đó có trên 100 di tích thờ Đức Thánh Tản Viên.

Điều đó phần nào khẳng định công trạng to lớn của Ngài đối với nhân dân. Ngài không chỉ là Vị Thành hoàng bảo trợ cho làng xã mà còn được nhân dân suy tôn là Đệ Nhất Phúc Thần, Thượng đẳng tối linh thần và là vị Anh hùng dân tộc, anh hùng khai điền trị thủy, anh hùng khai sáng văn hoá của dân tộc từ thủa dựng nước. Với giá trị di sản văn hóa to lớn đó, ngày 30/1/2018, Tục thờ Tản Viên Sơn Thánh đã được Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 266/QĐ-BVHTTDL.

Đường lên đỉnh núi Ba Vì
Đường lên đỉnh núi Ba Vì

Hàng năm, vào ngày mùng 6/11 âm lịch (là ngày hóa của Đức Thánh Tản Viên), để nhớ tới công lao, ân đức của Ngài, huyện Ba Vì tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm nhằm giáo dục lòng yêu nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Ngày nay, theo xu hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nông nghiệp từ lâu đã không còn đóng vai trò then chốt. Vậy nhưng, Đức Thánh Tản Viên vẫn được dân gian tôn thờ và ngưỡng vọng vì giá trị hình tượng của ngài không dừng lại ở sự chở che cho nhân dân, ở sức mạnh chế ngự thiên nhiên mà còn là tinh thần và ý chí quật cường của bao thế hệ người Việt khi phải đối mặt với những cơn giận dữ của đất trời.

Video lễ hội Đức Thánh Tản

Với tinh thần và ý chí kiên cường ấy, trải qua biết bao phong ba bão táp của lịch sử, dân tộc Việt Nam vẫn đứng lên và tiến về phía trước. Chế ngự thiên nhiên trong thời đại mới không chỉ đơn giản là việc đấu tranh chống lại thiên tai mà còn là sức mạnh làm chủ những giá trị khoa học công nghệ.

Thánh Gióng

và khát khao của muôn dân

Sự tích người anh hùng nhỏ tuổi làng Phù Đổng đánh tan giặc Ân đã tạo nên khúc ca hoành tráng, mở đầu trang sử vàng son chống giặc ngoại xâm của dân tộc từ thời các vua Hùng dựng nước.

Thánh Gióng có mẹ, không có bố, cũng chẳng rõ tên gọi. Chỉ biết mẹ Thánh Gióng sống ở một ngôi làng ‘một là trồng lúa, hai là trồng cà’. Như vậy là mô hình sản xuất nông nghiệp lúa nước chính thức được định hình.

Nhưng tại sao Thánh Gióng lại là một đứa bé mà 3 năm không nói không cười. Như đã lý giải ở phần trước, con số 3 có ý nghĩa linh thiêng với người dân Việt, bởi nó biểu trưng cho sự sinh sôi, là số dương sinh.

Trong sự tích Thánh Gióng, ngoài mô hình làng thuần nông, dân gian còn nói đến làng nghề. Đó là khi Thánh Gióng vươn vai và nói với sứ giả là “Đúc cho ta ngựa sắt, áo giáp sắt, nón sắt ta sẽ đi đánh giặc cho.”

Một mô hình làng nữa hiện hữu thông qua một câu chuyện của Tứ bất tử là sự tích Chử Đồng Tử và Tiên Dung, đó là làng Vạn Chài. Như vậy đã có ba phương thức làng-xã đã hình thành.

Toàn cảnh đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn
Toàn cảnh đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn

Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Ánh Hồng chia sẻ: “Trả lời cho câu hỏi tại sao mẹ Thánh Gióng không có tên, là bởi vì người dân Việt Nam muốn nói rằng, Thánh Gióng là một anh hùng và anh hùng đấy là con đẻ của nhân dân, chứ không phải là con đẻ của một vĩ nhân hay nói cách khác nó đề cao tính cộng đồng trong văn hóa lối sống của người Việt.”

“Cho nên nước ta có mẹ Việt Nam anh hùng chứ không có tên một bà mẹ nào cả, tất cả đều được gọi là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Câu chuyện của bà mẹ đó lại trùng với nguyên lý mà sau này các bạn đã biết, đó là nguyên lý tính mẫu hoặc tín ngưỡng Thờ Mẫu hoặc là Đạo Mẫu mà đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại.”

Truyền thuyết Thánh Gióng là sự khái quát hóa cao nhất, đặc sắc nhất của người anh hùng chống ngoại xâm.

“Bảy nong cơm, ba nong cà

Nước uống một mạch, cạn đà khúc sông”

Từ cậu bé làng Gióng ba năm nằm trên chõng chẳng nói, chẳng cười, nhưng vừa nghe tiếng mõ rao cầu hiền tài đi đánh giặc ngoại xâm đã trở thành tráng sĩ, ăn hết bẩy nong cơm, mấy vại cà và lên đường ra trận. Sau khi đánh tan quân giặc, ngài phi ngựa tới chân núi Sóc, cởi bỏ giáp trụ rồi cưỡi ngựa sắt bay về trời.

Chuyên gia văn hóa, PGS.TS Phạm Ngọc Trung đánh giá: “Có rất nhiều  anh hùng văn võ song toàn, nhưng hình tượng Thánh Gióng luôn được đề cao và trường tồn. Bởi nó biểu hiện tinh thần chiến đấu bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân cư Việt cổ.”

Nhưng không chỉ có vậy, hình tượng Thánh Gióng còn mang theo khát vọng của người dân về một vị anh hùng không màng lấy danh lợi. Sau khi dẹp xong giặc, Thánh Gióng không cầu chức tước, địa vị, danh vọng mà bay về trời.

Sau khi đánh tan giặc, Thánh Gióng bay về trời, không màng đến danh vọng.
Sau khi đánh tan giặc, Thánh Gióng bay về trời, không màng đến danh vọng.

Bài học ấy vẫn còn mang nhiều giá trị, cho cả thời đại ngày nay. Thánh đi từ nhân dân và lớn mạnh nhờ nhân dân.

Hình tượng Thánh Gióng trong tranh dân gian
Hình tượng Thánh Gióng trong tranh dân gian

“Sức mạnh của Gióng là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố: Tinh thần và vật chất, con người và vũ khí, cá nhân và cộng đồng. Khi nào dân tộc kết hợp được các yếu tố trên thì chúng ta sẽ có sức mạnh vượt trội để chiến thắng ngoại xâm” – Tiến sỹ Nguyễn Ánh Hồng chia sẻ.

Ý nghĩa đó thể hiện qua chi tiết người dân đã hết lòng ủng hộ của cải vật chất cho cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc. Bà con quyên góp gạo cơm, mắm muối, sắt, công sức rèn vũ khí để ông Gióng xuất trận.

Câu chuyện Thánh Gióng một lần nữa tái hiện thật ở rất nhiều cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi của dân tộc ta, trong cả thời phong kiến lẫn thời hiện đại.

Có thể thấy, tính cộng đồng của người Việt đã được đúc kết trong tư thế vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Đó là hai mặt cơ bản nhất trong đời sống xã hội của cư dân Việt kể từ ngày lập quốc cho đến ngày nay.

Hội Gióng là một lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh Gióng.

Đây là cơ hội để diễn xướng hệ thống lễ thức với các thao tác thuần thục, uy nghi, mang tính nghệ thuật và tính biểu tượng cao, nhằm tái hiện mối quan hệ nhiều chiều giữa làng và nước, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và ảo, giữa thiêng liêng và trần tục.

Đấy là lý do giải thích vì sao Thánh Gióng lại trở thành một trong những Tứ bất tử, vì sao hội Gióng lại là lễ hội duy nhất trong số 8887 lễ hội của Việt Nam hiện nay được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Hội Gióng Sóc Sơn được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm ở đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn
Hội Gióng Sóc Sơn được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm ở đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn

Vùng đất Trung Châu có 72 nơi thờ Thánh Gióng mang dấu ấn riêng của từng vùng. Hiện nay, có hai hội Gióng tiêu biểu ở Hà Nội là hội làng Phù Đổng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, tương truyền là nơi ông Gióng sinh ra; hội Gióng Sóc Sơn ở đền Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, là nơi Thánh Gióng bay về trời. Cả hai lẽ hội đều đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Tượng Thánh Gióng tại Sóc Sơn
Tượng Thánh Gióng tại Sóc Sơn

Hội Gióng ở đền Sóc được tổ chức từ ngày 6-8 tháng giêng âm lịch hàng năm. Tại đây, nhân dân đã xây dựng Khu di tích đền Sóc bao gồm 6 công trình: đền Hạ (hay còn gọi đền Trình), chùa Đại Bi, đền Mẫu, đền Thượng (hay còn gọi đền Sóc), tượng đài Thánh Gióng và nhà bia.

Ông Ngô Huy Hùng – Trưởng phòng Bảo tồn Đền Sóc chia sẻ: “Giá trị cốt lõi trong câu chuyện Thánh Gióng là nhằm khẳng định sức mạnh của nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn luôn có người có thể gánh vác trọng trách bảo vệ đất nước.”

Ngoài lần xuất hiện để chống giặc ngoại xâm, Thánh Gióng sau đó còn giáng trần xuống Đông Bộ Đầu (Thường Tín ngày nay) để đảm nhận sứ mệnh giúp dân làm công tác thủy lợi.

Vậy nên, còn có hơn 10 hội Gióng khác cũng được tổ chức trên địa bàn Hà Nội như: hội Gióng Bộ Đầu xã Bộ Đầu (huyện Thường Tín); lễ hội thờ Thánh Gióng ở các làng Đặng Xá, Lệ Chi (huyện Gia Lâm); các làng Phù Lỗ Đoài, Thanh Nhàn, Xuân Lai (huyện Sóc Sơn); Sơn Du, Cán Khê, Đống Đồ (huyện Đông Anh); thôn Xuân Tảo (phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm.)

Ngày nay, hình tượng người Anh hùng làng Gióng vừa thực hiện cả hai chức năng chống thiên nhiên và chống xâm lược đã đem lại những nhận thức có được trong hệ thống ý nghĩa của “di sản văn hóa phi vật thể”. Chính những nhận thức này đã mang tính sáng tạo, lễ hội làng Gióng của Việt Nam sẽ khẳng định được vị thế và tầm ảnh hưởng của mình trong cuộc sống hiện tại và mai sau.

Toàn cảnh khu di tích đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm.
Toàn cảnh khu di tích đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm.

Thánh Chử Đồng Tử

và câu chuyện tình yêu mang tầm vóc vượt thời đại

Khi nhắc đến Thánh Chử Đồng Tử ta không thể không nhớ đến câu chuyện ‘hiếu nghĩa’, khi hành động chôn cha cùng chiếc khố duy nhất thật bình dị, lớn lao và cao đẹp. Chỉ bằng hành động này thôi, người dân Văn Lang đã suy tôn Chử Đồng Tử là vị thánh trong tâm thức dân gian.

Sự tích Tiên Dung-Chử Đồng Tử đã chuyển tải quan niệm vượt thời đại về sự tự chủ trong tình yêu. Lần gặp gỡ được ví như duyên trời định đã mở ra câu chuyện về một trong những mối tình đẹp nhất của văn hóa dân gian Việt Nam.

Bất chấp mọi rào cản về thân phận giữa một người là con gái Vua Hùng và một người xuất thân là nông dân nghèo, giữa nàng công chúa xinh đẹp với một chàng thanh niên không một manh quần tấm áo, Chử Đồng Tử và Tiên Dung vẫn đến với nhau và cùng nhau gây dựng cuộc sống.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hồng, qua câu chuyện tình yêu của Chử Đồng Tử – Tiên Dung ông cha ta muốn nhắn nhủ: “Người lao động dù nghèo, nhưng chịu thương chịu khó, ăn ở hiền lành, lại chí hiếu như Chử Đồng Tử, ắt phải được lấy con gái nhà vua lá ngọc cành vàng làm vợ. Họ sống hòa thuận, hạnh phúc. Hơn thế nữa, lại được Tiên truyền phép, cho cả điện ngọc nguy nga, lầu son gác tía, địa vị cao sang. Đó chẳng phải là ước mơ đẹp đẽ, chân chính của người bình dân trong xã hội phong kiến quá nhiều bất công hay sao ? Chi tiết này nằm trong môtip truyền thống của văn học dân gian, chẳng những ở nước ta, mà còn có ở khắp mọi nơi trên thế gian đầy rẫy bất công và khổ đau này. Ví như truyện ‘Tấm Cám’ ở nước ta, hay truyện ‘Cô Gái Lọ Lem’ ở nước khác chẳng hạn. Ý nghĩa triết học và ý nghĩa nhân văn của câu chuyện này thật là sâu sắc.”

Tuy nhiên, Chử Đồng Tử trong Tứ bất tử đóng vai trò là Chử Đạo Tổ, tức là người dạy cho dân biết làm nghề để sống, nghề đấy chính là nghề buôn bán. Nghề thứ hai gắn liền với câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm thuốc cứu người.

Huyền tích Tiên Dung - Chử Đồng Tử gắn liền với nền văn minh sông Hồng
Huyền tích Tiên Dung – Chử Đồng Tử gắn liền với nền văn minh sông Hồng

Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng đánh giá: “Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa thì đúng là câu chuyện của tình yêu và nơi mà Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa gặp nhau bây giờ người ta vẫn giữ và người ta vẫn gọi đó là xã Tự Nhiên. Nhưng nó không chỉ chứa đựng câu chuyện tình yêu đôi lứa, bởi vì khi mà Tiên Dung công chúa gặp gỡ được Chử Đồng Tử trong hình thể Adam và Eva thì hai người đã nghĩ đến đó là duyên trời và họ đã vượt qua sự ngăn cản của cha mẹ. Bây giờ thì người ta vẫn nói là “Áo mặc làm sao qua nổi đầu”, dựng vợ gả chồng đó là chuyện của mẹ cha. Nhưng Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã viết nên một bài ca về Hạnh phúc ngay từ thuở đó với một tuyên ngôn rất rõ, đó là “Dựng vợ gả chồng là chuyện của hai ta chứ không phải là chuyện của mẹ cha.”

Không dừng lại ở câu chuyện tình yêu đôi lứa, sự tích Chử Đồng Tử còn nhấn mạnh việc xây dựng một cuộc sống giàu vật chất trên nền tảng tình yêu đích thực. Thánh Chử Đồng Tử đã cùng công chúa Tiên Dung dạy dân lập làng, lập xóm, dạy cho dân biết trồng lúa, dệt vải, giao thương để phát triển sản xuất và xây dựng nên những xóm làng trù phú.

Qua đó, câu chuyện tình yêu của Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã được dân gian linh thiêng hóa. Tình yêu đó gắn với quá trình hình thành và phát triển của làng xóm Việt Nam, của sản xuất, của sự phát triển dân tộc.

Lễ hội Tiên Dung-Chử Đồng Tử
Lễ hội Tiên Dung-Chử Đồng Tử

Theo PGS.TS Phạm Ngọc Trung: “Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, dân chúng được no ấm, Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng bay lên trời. Đây là những nhân vật vừa phản ảnh cuộc sống thực tế của đời sống người Việt cổ, vừa phản ánh những mơ ước của người dân đó, mong muốn có những người tài và có đức, lo lắng cho dân chúng thay vì tranh quyền đoạt lợi, tham vọng cá nhân. Đấy là lý do giải thích tại sao người dân lại ngưỡng mộ và tôn thờ những người anh hùng dân tộc hay những vị thần linh trong tâm thức của người Việt chúng ta từ xa xưa đến như vậy.”

Ban thờ ‘cây gậy và cái nón’ ở đền Dạ Trạch. 
Ban thờ ‘cây gậy và cái nón’ ở đền Dạ Trạch. 

Chi tiết về cây gậy và cái nón đã giúp xây nên tòa lâu đài mà Chử Đồng Tử được tiên ông ban cho cũng mang nhiều tầng ý nghĩa. Cuộc sống sung túc của họ đã kéo theo những lời sàm tấu đến tai Vua Hùng. Vua Hùng sau đó đã cho binh lính đến để trị tội Chử Đồng Tử. Nhưng rồi đêm ấy, tòa lâu đài đã biến mất. Qua hình ảnh đó, có thể thấy người Việt từ xa xưa xưa đã ý thức được rằng những điều dễ dãi chẳng bao giờ được bền lâu.

Trong quan niệm và lối sống duy tình của người Việt Nam đó là “một trăm cái lý cũng không bằng một tí cái tình”. Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng khẳng định chi tiết này đã cho thấy quan niệm sống quý trọng tình nghĩa từ thuở xa xưa của ông cha ta. Vật chất rồi cũng chỉ là ảo ảnh và phù du. Sau tất cả, Chử Đồng Tử và Tiên Dung lại tiếp tục con đường đi cứu nhân độ thế của mình.

Đền Ngự Đội, tương truyền dựng lên ở nơi Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau.
Đền Ngự Đội, tương truyền dựng lên ở nơi Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau.

Hiện nay, có rất nhiều ngôi đền trên khắp Việt Nam thờ Thánh Chử Đồng Tử, nhưng Đền Dạ Trạch tại vùng Khoái Châu, Hưng Yên vẫn nổi tiếng hơn cả vì đây là nơi ngài cùng hai vị phu nhân của mình đã hóa về trời.

Hai người vợ, một người là Tiên Dung công chúa và người còn lại chính là nàng Tây Nương, một cô gái trong dân gian. Tại đây, người ta lại đọc được một điều nữa đó là tính dân chủ bình đẳng một cách chất phác nhưng giản dị và đầy thiêng liêng trong thời kỳ xa xưa của văn hóa Việt.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh – Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền chia sẻ: “Truyền thuyết về việc cắm cây gậy xuống và đặt cái nón lên thì thành quách lâu đài hiện ra ấy chỉ tượng trưng cho việc khi người ta đã có tình yêu thì họ có thể xây dựng những lâu đài tình yêu, đẹp lung linh như trong tưởng tượng, như trong mơ. Đó là ý nghĩa mà tôi nghĩ rằng câu chuyện Chử Đồng Tử – Tiên Dung đã nói lên, răn dạy cho chúng ta rất nhiều điều về giá trị tốt đẹp cho giới trẻ, cho những người mà đang yêu, đã yêu và chưa yêu, để thấy được giá trị đích thực của tình yêu.”

Đến hẹn lại lên, trung tuần tháng 2 âm lịch hằng năm, du khách thập phương lại nô nức về dự lễ hội Chử Đồng Tử-Tiên Dung (hay còn gọi là lễ hội tình yêu) diễn ra ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Đây là một trong 16 lễ hội lớn nhất cả nước, gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, một tình yêu đầy lãng mạn giữa chàng trai nghèo họ Chử và con gái Vua Hùng thứ 18.

Lễ hội Chử Đồng Tử-Tiên Dung mang giá trị văn hoá sâu sắc, là bức tranh về đời sống hết sức phong phú, sinh động của người Việt cổ vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng từ hàng ngàn năm về trước.

Đây không chỉ là huyền thoại về tình yêu mà còn là bài ca về lòng hiếu thảo, về đạo làm người, là minh chứng của nền văn minh lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lễ hội Chử Đồng Tử-Tiên Dung là lễ hội tình yêu độc đáo nhất cả nước, không chỉ là nơi thờ cúng tâm linh mà còn là điểm du lịch tham quan không thể thiếu của du khách trong Tour du lịch đồng bằng sông Hồng.

Tượng Thánh Chử Đồng tử và hai bà trong đền Ngự đội
Tượng Thánh Chử Đồng tử và hai bà trong đền Ngự đội

Giống như Sơn Tinh-Thánh Tản Viên, Chử Đồng Tử cũng là phò mã, là con rể Vua Hùng. Con người đã được người Việt xưa đặt ngang hàng, sánh tựa thần linh, như muốn nói rằng trong nhân gian, con người mới chính là tuyệt tác của tạo hóa. Và tính dân chủ bình đằng còn thể hiện ở chi tiết Tiên Dung công chúa và nàng Tây Nương, mặc cho thân phận đối nghịch đều cùng là vợ của Chử Đồng Tử.

Không phân biệt giàu-nghèo, sang-hèn, ở thuở xa xưa ấy, đời sống của người Việt đã rất hồn hậu, tự nhiên và thuần phác nhưng vẫn giàu giá trị nhân văn như những gì đã được gửi gắm qua hình tượng Thánh Chử Đồng Tử cùng bản thiên tình sử bên nàng công chúa Tiên Dung.   

Thánh Mẫu Liễu Hạnh

và chủ nghĩa nhân văn của người Việt

Liễu Hạnh Công chúa là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Mẫu Liễu Hạnh đại diện cho tín ngưỡng thờ Mẫu, Tam phủ, Tứ phủ và được nhiều triều đại phong kiến nước ta sắc phong để cảm tạ công ơn.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Ánh Hồng chia sẻ: “Mẫu Liễu Hạnh bước vào danh sách Tứ bất tử thay cho Từ Đạo Hạnh (một vị thiền sư) là sự thay đổi rõ nét trong quan niệm, từ đó cho chúng ta thấy nhu cầu, bối cảnh, môi trường văn hóa của nước ta trong thời kỳ thời kỳ Hậu Lê”.

Thời kì Hậu Lê – thời kì văn hóa Việt Nam đã phải trải 20 năm Minh thuộc, đó là cảnh:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế

Gây binh kết oán trải 20 năm”.

(Trích Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi)

Thời kỳ đó, nguyên lý tính mẫu và vai trò người phụ nữ bị coi thường. Chủ trương của nhà Lê là “bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật,” Minh Nho của nhà Lê không coi trọng vị trí của người phụ nữ. Vì thế, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của hệ tư tưởng Minh Nho đã bám rễ vào đời sống Việt Nam qua 20 năm Minh thuộc. Để chống lại tư tưởng đó, người Việt đã linh thiêng hóa, nâng cao vị trí của người qua hình tượng Thánh Mẫu.

Một buổi thực hành tín ngưỡng của đạo Mẫu (Nguồn: Vietnam+)
Một buổi thực hành tín ngưỡng của đạo Mẫu (Nguồn: Vietnam+)

Năm 1553, một tôn giáo rất mới đã du nhập vào Việt Nam đó là cơ đốc giáo. Chủ trương của Cơ đốc giáo là “nhất thần” (tức là chỉ thờ Chúa thôi), tôn giáo này thời đó không cho phép người Việt được kính chúa và thờ cúng tổ tiên cùng lúc.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Ánh Hồng, hình tượng của Mẫu Liễu Hạnh đã chứa đựng hai phản đề rất quan trọng, mang tính tư tưởng chính trị rất lớn. Một là, chống lại sự đồng hóa của Minh Nho. Hai là, chống lại sự đồng hóa văn hóa của phương Tây.

Ngày 5/6/2012, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt được tổ chức UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Ngày 1/12/2016 – đến lượt “Nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ” được vinh danh. Phục dựng lại tín ngưỡng thờ thần nữ vốn được coi là một đặc trưng gắn liền với văn hóa sản xuất nông nghiệp lúa nước của người Việt Nam.

Chính vì thế, nguyên lý tính mẫu và Đạo Mẫu ra đời đáp ứng mấy những nhu cầu như bảo vệ được đặc trưng, bản sắc văn hóa Việt Nam, gắn liền với phương thức sản xuất, với vai trò của người phụ nữ trong gia đình và trong đời sống văn hóa và phục dựng lại cái phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước. Thánh Mẫu hiện thân cho sự bao dung, hiện thân cho sự che chở. Đó cũng chính là yếu tố nhân từ trong văn hóa Việt Nam mà người ta gọi là chủ nghĩa nhân văn.

Chế độ phong kiến Việt Nam đã có một thời kỳ rất hà khắc và coi thường người phụ nữ. Nhưng đi ngược dòng lịch sử, từ thời đại đồ đồng, thậm chí thời đại đồ đá, con người đã gọi là có tín ngưỡng thờ phụ nữ. Loài người đã trải qua chế độ mẫu hệ đầu tiên và vai trò của người phụ nữ, người mẹ là rất quan trọng đối với thị tộc mẫu hệ, gia đình mẫu hệ rồi sau đó mới chuyển sang phụ hệ.

Dù bị ảnh hưởng bởi Nho giáo, Đạo giáo, thế nhưng vị trí của người phụ nữ Việt Nam vẫn được đề cao và kết tinh lại trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu có từ rất sớm và nó ghi lại dấu ấn rất đậm nét trong kí ức các dân tộc.

Toàn cảnh Phủ Tây Hồ
Toàn cảnh Phủ Tây Hồ

Đó chính là động lực, niềm tin và tình cảm mà người Việt gửi gắm để thể hiện lòng biết ơn đối với người mẹ sinh ra mình, với bà mẹ tự nhiên, là đất, là nước, là nơi mà đã nảy sinh ra sự sống, ươm mầm sự sống và nuôi dưỡng sự sống đó phát triển trường tồn.

PGS.TS Phạm Ngọc Trung chia sẻ: “Mỗi địa phương có cái sắc thái riêng nhưng tựu trung lại, những nơi thờ Mẫu là những nơi có truyền thuyết thần thoại gắn với sự xuất hiện, sự tham gia vào quá trình xây dựng làng xóm sản xuất, sinh con đẻ cái, dạy cho con người những cái lễ nghi văn hóa của Thánh Mẫu. Ở Huế trên Điện Hòn Chén thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na là mẫu của người Chàm, ở Tây Ninh cũng có đền thờ thánh mẫu. Vậy nên, không khó để nhận định rằng, tín ngưỡng thờ mẫu được lan truyền rất rộng rãi ở vùng Đông Nam Á, gắn liền với sinh hoạt của cộng đồng dân cư làng xã.”

Văn hóa Việt Nam có một truyền thống đó là tôn trọng phụ nữ. Trong tâm thức của người Việt Nam, họ gọi Tổ quốc này là mẹ, lòng mẹ bao dung mà và tổ quốc được gọi là mẹ, đó là đấng sinh thành. Đặc biệt, chỉ có người Việt mới có những nghi lễ hay nói cách khác là một cách rất đặc biệt đối với người phụ nữ. Đó chính là những ngày lễ tôn vinh họ như ngày Phụ nữ Việt Nam, ngày Quốc tế Phụ nữ…

Trong văn hóa giao tiếp bằng ngôn từ, có thể thấy những gì mà có sức dung chứa, sức sinh sôi bao giờ cũng gắn liền với từ cái. Dòng sông lớn nhất người ta gọi là ‘sông cái’, con thuyền lớn nhất người ta gọi là ‘con thuyền cái’ , đôi đũa lớn nhất người ta gọi là ‘đôi đũa cái’, cái thúng lớn nhất cũng là ‘cái thúng cái’, thậm chí những từ được coi là số từ đếm người ta cũng gọi là cái như: ‘cái áo, cái quần,…’

Trích đoạn vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú
Trích đoạn vở “Tứ phủ” của đạo diễn Việt Tú

Tiến sỹ Nguyễn Ánh Hồng chia sẻ: “Sở dĩ, văn hóa Việt Nam có cái đặc điểm trọng tĩnh, trọng tình, hướng nội, trọng nữ và cân bằng hài hòa. Yếu tố này một phần rất lớn là có nguyên nhân từ cái môi trường tự nhiên, từ phương thức sản xuất lúa nước. Nếu như ở Trung Quốc cũng là trồng lúa nhưng mà là lúa khô, là du mục, là thương mại thì họ sẽ tôn thờ thần Nông còn chúng ta thì tôn thờ Mẹ Lúa, Mẹ Đất, Mẹ Nước. Sự hy sinh của người phụ nữ Việt Nam, sự nhẫn nhịn của người phụ nữ Việt Nam chính là bệ phóng để đất nước này vươn lên tới tương lai và đó là lí do tại sao Đạo Mẫu đã hình thành và trở thành một đạo lý của người Việt.”

Trong “Tứ bất tử”, Thánh mẫu Liễu Hạnh là hình ảnh được dân gian kể lại nhiều câu chuyện nhất, vì vậy các đền thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh được xây dựng ở khắp các nơi, nhưng nổi tiếng nhất là Nam Định, Quảng Bình và Hà Nội. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ-Mẹ của muôn dân” và cuối cùng quy y cửa Phật.

Từ Phủ Dầy-Nam Định đến Bắc Lệ-Lạng Sơn, Tây Hồ-Hà Nội, Phố Cát, Sòng Sơn-Thanh Hóa, Ngọc Trọng-Cố đô Huế và nhiều nơi khác, đâu đâu cũng có di tích đền, phủ nổi tiếng thờ bà và nhiều lễ hội được tổ chức để suy tôn bà hàng năm.

Trong tiềm thức của người Việt Nam, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một vị thần biểu tượng cho khát vọng tự do, phóng khoáng, thoát khỏi những quy tắc ràng buộc của xã hội dành cho người phụ nữ. Bà còn được cho là người đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ, thờ đạo Mẫu.

Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nơi Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích. Phủ Dầy gắn liền với sự tích về Mẫu Liễu Hạnh, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, nổi tiếng với nghi lễ chầu văn hầu đồng, một nghi thức thực hành tín ngưỡng tiêu biểu nhất của đạo Mẫu. Hàng năm, khách thập phương về Phủ Dầy để thực hiện tín ngưỡng tâm linh theo tục thờ Mẫu.

Toàn cảnh Phủ Dầy, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Toàn cảnh Phủ Dầy, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Bà Trần Kim Huệ (thủ nhang Phủ Chính Tiên Hương-Phủ Dầy) cho biết: “Thánh Mẫu Liễu Hạnh thường xuất hành ngao du thêm nhiều nơi khác ở phía Bắc Việt Nam. Theo truyền thuyết, Phủ Tây Hồ là nơi hội ngộ lần thứ hai của công chúa Liễu Hạnh và trạng nguyên Phùng Khắc Khoan. Trong lần đi thuyền dạo chơi trên hồ, thấy cảnh đẹp, bèn ghé vào quán Tiên chúa, họ cùng vịnh bài thơ “Tây Hồ ngự quán” mà nay vẫn còn lưu truyền mãi”.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh chính là hiện thân của sức mạnh nữ quyền, đi ngược lại với giáo lý Nho Khổng, với đạo Tam tòng, Tứ đức. Cuộc đời trần thế của bà chính là sự thể hiện ý nghĩa nhất tình yêu cuộc sống với đầy đủ sướng, vui, đau, khổ; sự tự do trong hành động với tư duy phóng khoáng, độc lập. Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh sẽ mãi trường tồn trong tâm thức của người dân Việt Nam.

Có thể thấy, tín ngưỡng thờ Mẫu là nơi gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến. Sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh được xem là dấu ấn của đạo Mẫu và chế độ Mẫu hệ, qua đó cho ta thấy được vị trí quan trọng của người phụ nữ trong tâm thức của người Việt.