Hiện nay tuổi thọ bình quân của người Việt Nam với nam giới là 72,1 tuổi; nữ là 82,3 tuổi; (bình quân là 76,6 tuổi). Những năm qua, công tác dân số đã bảo đảm cho đất nước có cơ cấu dân số hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong tình hình mới, công tác dân số lại gặp khá nhiều thách thức về tỷ lệ sinh giữa các vùng.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Doãn Tú – Tổng Cục trưởng Tổng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình (Bộ Y tế).
Khống chế thành công gia tăng dân số quá nhanh
– Thưa Tổng Cục trưởng, ông đánh giá như thế nào về những thành tựu của công tác dân số trong thời gian qua?
Ông Nguyễn Doãn Tú: Sau nhiều năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (Nghị quyết 4), công tác dân số ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng cả về nhận thức và thực hiện.
Theo thống kê, dân số Việt Nam năm 2018 khoảng 95 triệu người. Ước tính quy mô dân số đã giảm được khoảng 20 triệu người nhờ có các chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình phù hợp trong thời gian qua.
Số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ giảm nhanh, đạt mức thay thế (2,1 con) vào năm 2006, sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết 4 và được duy trì trong hơn một thập kỷ qua. Mô hình gia đình hai con đã trở thành chuẩn mực xã hội phổ biến. Tốc độ dân số gia tăng dân số quá nhanh đã được khống chế thành công. Cơ cấu dân số có chuyển biến tích cực.
Việt Nam đã bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007, mở ra cơ hội cho phát triển kinh tế-xã hội với tốc độ nhanh hơn. Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Mật độ dân số giữa các vùng được phân bố hợp lý hơn.
Theo thống kê, dân số Việt Nam năm 2018 khoảng 95 triệu người. Ước tính quy mô dân số đã giảm được khoảng 20 triệu người nhờ có các chính sách dân số-kế hoạch hóa gia đình phù hợp trong thời gian qua. Kết quả đạt được trong công tác dân số thời gian qua đã góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
Ông Nguyễn Doãn Tú – Tổng Cục trưởng Tổng cục Dân số – kế hoạch hoá gia đình (Bộ Y tế). (Ảnh: PV/Vietnam+)
– Trọng tâm của công tác dân số trong tình hình mới hiện nay là gì, thưa ông?
Ông Nguyễn Doãn Tú: Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-TW về công tác dân số trong tình hình mới (Nghị quyết 21) đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo việc tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.
Điều này phù hợp với định hướng của Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển tổ chức tại Cairo, Ai cập năm 1994 và chủ đề của Ngày Dân số Thế giới năm 2019 của Quỹ Dân số Liên hợp quốc: “25 năm sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD): Thúc đẩy tiến độ nhằm đạt được những nội dung đã cam kết.”
Đây cũng là nội dung phù hợp với định hướng của Hội nghị thượng đỉnh về Dân số và Phát triển sẽ được tổ chức trong thời gian tới tại Nairobi từ ngày 12-14/11/2019.
Mục tiêu của công tác dân số đến năm 2030 được xác định là: Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế-xã hội.
Bên cạnh đó, trong công tác dân số cần duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước.
– Hiện nay, có thông tin cho rằng, tại nhiều tỉnh mức sinh giảm xuống thấp và đáng lo ngại. Tổng Cục trưởng có thể cho biết, đó là những tỉnh nào? Và với những địa phương này, chúng ta cần có chiến lược gì để mức sinh tăng lên?
Ông Nguyễn Doãn Tú: Hiện nay, Việt Nam đã đạt và duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước. Số con trung bình mỗi phụ nữ đã giảm từ 3,74 con năm 1992 xuống đạt mức sinh thay thế 2,09 con năm 2006 và tiếp tục được duy trì cho đến nay.
Với việc duy trì mức sinh thay thế kéo dài hơn 12 năm, Việt Nam đã kết thúc giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học quan trọng, chuyển từ mức sinh cao sang mức sinh thấp, hợp lý.
Theo tôi, một trong những thách thức của công tác dân số hiện nay là mặc dù tỷ suất sinh chung của cả nước là khoảng 2 con trên 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhưng ở một số vùng đô thị, kinh tế-xã hội phát triển, mức sinh đã xuống thấp, có nơi thấp xa so với mức sinh thay thế. Điển hình như: Đồng Tháp: 1,34 con/phụ nữ, Thành phố Hồ Chí Minh: 1,36 con/phụ nữ, Bà Rịa Vũng Tàu: 1,37 con/phụ nữ, Hậu Giang: 1,53 con/phụ nữ.
Để nâng mức sinh ở các tỉnh này, trước mắt ngành dân số đã thay đổi thông điệp truyền thông ở các tỉnh này như: “Mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con,” xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích người dân sinh đủ 2 con, xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Đề án điều chỉnh mức sinh giữa các vùng, đối tượng đến năm 2030.
Hiện nay vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đã mức nghiêm trọng và ngày càng lan rộng, cả thành thị và nông thôn. Cao nhất là 113,8/100 vào năm 2013, sau đó giảm xuống còn 112,2/100 năm 2014 và 2016, mức 112,1/100 năm 2015 và 2017, năm 2018 lại tăng lên 115,1 bé trai/100 bé gái sinh ra sống.
– Về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đến nay đã có những biến chuyển tích cực hơn so với 10 năm trước không, thưa ông?
Ông Nguyễn Doãn Tú: Hiện nay vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đã mức nghiêm trọng và ngày càng lan rộng, cả thành thị và nông thôn. Bình thường, tỷ số này dao động từ 103-107 bé trai tương ứng với 100 bé gái. Ở Việt Nam, tình trạng này xuất hiện sau, nhưng với tốc độ nhanh từ năm 2006 ở mức 109,8 bé trai/100 bé gái lên 112,1/100 vào năm 2008, cao nhất là 113,8/100 vào năm 2013, sau đó giảm xuống còn 112,2/100 năm 2014 và 2016, mức 112,1/100 năm 2015 và 2017, năm 2018 lại tăng lên 115,1 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Như vậy sau 13 năm, chúng ta đã khống chế được tỷ lệ tăng nhanh tỷ số giới tính khi sinh.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu Nghị quyết 21/NQ-TW về công tác dân số trong tình hình mới là giảm tỷ lệ giới tính khi sinh đến năm 2030 xuống dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống thì thời gian tới ngành dân số tập trung vào nhiều nhiệm vụ và giải pháp.
Đó là các giải pháp như: Truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi đối với công tác kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm các quy định về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật…
Số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ giảm nhanh. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
– Theo ông, thách thức lớn nhất đối với vấn đề dân số và đặt ra đối với ngành dân số hiện nay là gì?
Ông Nguyễn Doãn Tú: Mặc dù công tác dân số đã đạt được đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nhưng hiện nay, công tác dân số đang phải đối mặt với một số thách thức.
Thách thức lớn nhất là mức sinh khác biệt đáng kể giữa các vùng miền, khu vực nông thôn và thành thị. Khu vực kinh tế-xã hội nhiều khó khăn có mức sinh cao, có nơi rất cao. Trong khi ở một số vùng đô thị, kinh tế-xã hội phát triển, mức sinh đã xuống thấp, có nơi thấp xa so với mức sinh thay thế.
Sự chênh lệch mức sinh giữa các vùng sẽ trở thành yếu tố bất lợi cho việc ổn định quy mô dân số và phát triển kinh tế-xã hội, tác động tiêu cực đến bảo đảm an sinh xã hội.
Tình trạng người có điều kiện kinh tế khó khăn, ít có điều kiện nuôi dạy con tốt lại đẻ nhiều con, trong khi người có điều kiện kinh tế khá giả lại sinh ít con làm ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng dân số.
Mặc dù đã có những điều chỉnh chính sách, quy định theo hướng làm tăng mức sinh, song ở hầu hết những nơi mức sinh đã xuống thấp, chưa có dấu hiệu tăng mức sinh trở lại, thậm chí vẫn tiếp tục giảm, nhất là các tỉnh phía Nam. Trong khi tại phía Bắc, mức sinh không ổn định, một số nơi đã tăng cao trở lại.
Tiếp đó là các thách thức như: Mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng thừa nam thiếu nữ đã mức nghiêm trọng và ngày càng lan rộng, cả thành thị và nông thôn. Dân số vàng của Việt Nam mới chỉ đạt tiêu chí về số lượng. Chất lượng nguồn nhân lực cũng như năng suất lao động còn rất hạn chế, thiếu chủ động trong nghiên cứu, đề ra giải pháp, ban hành cơ chế chính sách đồng bộ chủ động phát huy lợi thế dân số vàng.
Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong 7 nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Trong khi đó, các điều kiện kinh tế-xã hội chưa được chuẩn bị tốt để thích ứng kịp với tốc độ già hóa dân số. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn hạn chế. Chưa phát huy khả năng, vai trò của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.
Nhiều thống kê đã chỉ ra, sức khỏe của người cao tuổi trong tình trạng yếu và rất yếu, mắc cùng một lúc nhiều bệnh, trong đó có các bệnh cần phải điều trị suốt đời. Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe người cao tuổi chưa phát triển, số nhân viên tại cộng đồng vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về nghiệp vụ, kỹ năng.
Chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại tuyến xã. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Củng cố mạng lưới chuyên ngành lão khoa
– Như ông phân tích, trong giai đoạn này, chúng ta đã bắt đầu nhận thấy những vấn đề bất cập bộc lộ: tuổi thọ bình quân của người dân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp. Vậy, để khắc phục những bất cập này, chúng ta cần có những chiến lược gì trong thời gian tới?
Ông Nguyễn Doãn Tú:Việt Nam là một trong 7 nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Trong khi đó, các điều kiện kinh tế-xã hội chưa được chuẩn bị tốt để thích ứng kịp với tốc độ già hóa dân số và vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn hạn chế, chưa phát huy khả năng, vai trò của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.
Việt Nam là một trong 7 nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Trong khi đó, các điều kiện kinh tế-xã hội chưa được chuẩn bị tốt để thích ứng kịp với tốc độ già hóa dân số và vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn hạn chế
Chính vì vậy, ngành dân số trong cả nước đang tích cực triển khai các giải pháp nhằm đạt mục tiêu: “Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm” theo tinh thần Nghị quyết số 21/NQ-TW về công tác dân số trong tình hình.
Chúng tôi đang tiếp tục thực hiện Đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017-2025 với mục tiêu: “Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thích ứng với giai đoạn già hóa dân số góp phần thực hiện Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi, Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản, Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.”
Tổng cục Dân số đang xây dựng Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, Đề án chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đến năm 2030 và Đề án Truyền thông dân số đến năm 2030 để đề ra các giải pháp và hoạt động cụ thể, phù hợp như phát triển mạng lưới chăm sóc người cao tuổi phù hợp với tốc độ già hóa dân số.
Đặc biệt, ngành y tế-dân số cũng tập trung củng cố mạng lưới chuyên ngành lão khoa theo nguyên tắc gắn kết dự phòng, nâng cao sức khỏe, điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc giảm nhẹ; phát triển hệ thống chuyên ngành lão khoa trong hệ thống y tế…
– Xin trân trọng cảm ơn ông!
Ở nhiều nơi mức sinh đã xuống thấp. (Ảnh: T.G/Vietnam+)
Quan Ho (canto de dúo de amor) es un arte folclórico de las aldeas en el delta del Río Rojo, caracterizado por coplas de amor interpretadas por cantantes masculinos (Lien Anh, en vietnamita) y femeninos (Lien Chi). Es una combinación de melodías, letras, vestuario y ceremonia-festival, en el cual hombres y mujeres cantan de forma alternativa.
Se trata de uno de los cantos más diversos de Vietnam en cuanto a la melodía, en el que grupos de hombres y mujeres de distintos pueblos cantan respondiendo el uno al canto del otro usando melodías similares pero de letras diferentes. Cada aldea habitualmente tiene varios grupos de cantantes masculinos y femeninos. Al cantar, unos se encargan de liderar el canto o de cantar en parejas para lograr la compatibilidad vocal.
El canto Quan Ho fue reconocido Patrimonio Cultural Inmaterial de la Humanidad por la Organización de las Nacionaes Unidas para la Educación, la Ciencia y la Cultura (UNESCO) el 30 de septiembre de 2009.
La provincia norteña de Bac Ninh, ubicada a la orilla meridional del río Cau, es considerada la cuna de Quan Ho, pero ese arte también tiene origen del distrito de Viet Yen, en la provincia cercana de Bac Giang. Viet Yen es también el único distrito de Bac Giang que cuenta con cinco aldeas incluidas en la lista de 49 localidades honradas por la UNESCO por su tesoro de Quan Ho. En medio de la vertiginosa vida moderna, la conservación y transmisión de ese legado a las generaciones jóvenes constituyen la mayor preocupación de los artistas veteranos en Viet Yen.
Antigua aldea de Quan Ho al norte del Río Cau
Gracias al reconocimiento por la UNESCO a Quan Ho como patrimonio cultural intangible de la humanidad, este arte folclórico ha atraído la creciente atención de la comunidad.
“No obstante, pocos entienden del espacio de actuación, los términos y estilos de cantar de Quan Ho,” expresó Doan Thi Mui, artista de 63 años de edad en Viet Yen.
Una mañana de otoño, la casa comunitaria de la comuna de Noi Ninh, en Viet Yen, atrae a una gran multitud. Los artistas, con vestido tradicional, se congregan en el patio del sitio, en medio de la excitación de los espectadores, de ellos turistas que viajan un largo camino para llegar a la tierra de Quan Ho.
Los artistas, con vestido tradicional, están listos para las actuaciones de Quan Ho. (Fuente: VietnamPlus)
A los 80 años de edad, la artista Dam Thi O sigue conquistando a su audencia con la voz dulce, profunda y emocionante.
“Es común la idea equivocada de que Quan Ho es legado exclusivo de Bac Ninh. De hecho, es el patrimonio mutuo de las orillas norte y sur del río Cau.”
De acuerdo con la artista veterana, cinco de las 49 aldeas de Quan Ho se encuentran en Bac Giang, a saber, Huu Nghi, Gia Son, Noi Ninh, Mai Vu y Sen Ho.
El Club de Quan Ho de Noi Ninh. (Fuente: VietnamPlus)
En 2006, al elaborar el expediente para solicitar el reconocimiento de la UNESCO a este arte, las autoridades e investigadores señalaron que además de esas cinco localidades, Bac Giang cuenta con otras 13 aldeas que reúnen los requisitos necesarios.
Los resultados de ese estudio confirman que Quan Ho se practica en una extensiva área al norte del río Cau, donde se preserva en abundancia los valores de ese patrimonio cultural.
Para los artistas veteranos como Dam Thi O, el estilo tradicional de cantar se difunde en su sangre, como un puente que conecta las orillas del río Cau y preserva siglos de la cultura de Quan Ho.
Quan Ho, canto de amor
De acuerdo con la artista Dam Thi Mui, Quan Ho no solo es un género de performance folclórico, sino también refleja el estilo de comportamiento de los pobladores en la antigua ruralidad del norte del Delta del río Rojo.
“Los residentes en Viet Yen conceden importancia al amor, a la simpatía entre los seres humanos, y ese pensamiento se refleja en cada gesto, cada palabra, así como en la letra de cada de los centenares de cantos tradicionales. El mismísimo amor ha mantenido la energía de Quan Ho a lo largo de su historia,” afirmó.
Thi Mui dijo que incluso los ancianos en el área no saben el tiempo exacto de la aparición de Quan Ho, pero es cierto que tras siglos, a pesar los vaivenes de la historia, el canto dúo de amor sigue formando parte esencial de la vida de los pobladores locales.
“Nunca hemos perdido el amor a Quan Ho. Además de las actuaciones programadas, los artistas siguen levantando la voz en el trabajo agrícola, en ocasiones como boda y fiestas, al acoger a visitantes e incluso como canciones de cuna. Mis padres contaban que, durante la guerra, en los refugios bajo la tierra, los pobladores seguían transmitiendo las canciones de Quan Ho que aprendían de sus antepasados,” dijo Nguyen Van Dac, residente local en Viet Yen.
Nguyen Van Dac, residente local en Viet Yen. (Fuente: VietnamPlus)
Dam Thi O, quien dedicó más de 70 años a este arte, dijo que como todos los cantantes locales, nació y creció en la melodía de Quan Ho.
A inicios de los años 20 del siglo pasado, el país enfrentaba incontables dificultades económicas. “Mientras que cada grano de arroz era tan precioso como oro, deterioré -no sé cuántas- comidas de la familia, solo por que era tan apasionada con Quan Ho. De pequeña, a menudo abandoné la comidad que estaba preparando para estudiar a hurtadillas las canciones que mi abuelito enseñaba a mi padre,” contó.
Quan Ho, un peculiar arte de perfomance
Hay que notar que los artistas de Quan Ho no necesitan el acompañamiento de los instrumentos musicales, sino su propia voz y especiales técnicas para cantar suaves legatos.
“Al escuchar la voz, los espectadores pueden entender los sentimientos de los cantantes,” afirmó el artista Nguyen Van Dac.
La cantante Doan Thi Mui compartió sus recuerdos de las “infinitas noches de Quan Ho” según la tradición de Viet Yen.
Doan Thi Mui, jefa del Club de Quan Ho de Noi Ninh.
“Mi padre dedicó una parte de la casa de la familia exclusivamente a las reuniones de los cantantes de Quan Ho. En esa casa generaciones de artistas aprendían e interpretaban las canciones. Las noches eran como las fiestas, cuando los cantantes de dividían en grupos, se competían y compartían el amor a Quan Ho,” recordó.
Esa costumbre reflejan la belleza peculiar y los valores tradicionales de Quan Ho.
En Viet Yen, Quan Ho llegó a ser el vínculo que conecta a los pobladores locales.
Nguyen Duc Hien, director del Centro de Cultura y Deportes de Viet Yen, afirmó que este arte forma partes indispensable de las fiestas tradicionales de todas las localidades a la orilla norte del río Cau.
De acuerdo con el alto funcionario, en Bac Giang se conservan 200 antiguas canciones de Quan Ho. Además, los artistas también renuevan esas canciones para atraer la atención de las generaciones jóvenes.
La cantante Doan Thi Mui evaluó que durante la última década, ese arte experimentó un vigoroso rejuvenecimiento. Desde 2000 hasta la fecha, el número de miembros del Club de Quan Ho de Noi Ninh subió de siete a 30 personas con edades comprendidas de ocho a 94 años.
“Todas las clases son gratuitas, y los maestros siempre están dispuestos a dejar de lado las preocupaciones de la vida cotidiana para enseñar a sus sucesores,” aseguró.
Duong Thi Oanh, residente en la comuna de Noi Lat, ha trabajado durante años para preservar y divulgar las canciones de Quan Ho. (Fuente: VietnamPlus)
En la aldea de Noi Lat, la artista Duong Thi Oanh, de 52 años de edad, quien actualmente el jefa del Club de Quan Ho local, ha dedicado la mayoría de su vida a la conservación y el desarrollo de este arte.
“En las áreas rurales siempre tenemos trabajo por hacer. Las actividades del Club son totalmente gratuitas, así que es difícil atraer a más miembros. Afortunadamente, tenemos el amor a Quan Ho, por lo tanto en los últimos años el Club siguió expandiéndose,” compartió.
Al mismo tiempo, los artistas se han convertido en coleccionistas de las antiguas canciones.
“El antiguo Quan Ho es caracterizado por el uso de palabras que ya no se utilizan ampliamente. Por eso solo las generaciones predecesoras de artistas pueden recordar,” explicó Nguyen Van Dac.
El patio de la casa comunitaria es destino de los cantantes de la aldea de Noi Ninh cada finde. (Fuente: VietnamPlus)
“Pero la mayoría de los ancianos son iletrados, por eso debemos grabar sus canciones y luego escribir la letra,” continuó.
Nguyen Van Dac y otros artistas recorrieron por todos los rincones de Noi Ninh y otras aldeas de Quan Ho en Viet Yen. Durante más de una década, su grupo logró recolectar casi 200 canciones.
De acuerdo con la cantante Dam Thi Mui, algunas veces los artistas llevan hasta medio mes en aprender de memoria o practicar con fluidez una antigua canción.
En los últimos cinco años, ha resurgido la tradición “hat chieu”, una forma de performance competitivo, en la cual cada grupo de artistas canta en turno y desafía al otro a responder.
Para participar en una sesión de “hat chieu”, los artistas deben poseer abundantes conocimientos y técnicas de Quan Ho. (Fuente: VietnamPlus)
Por lo tanto, los artistas deben poseer abundantes conocimientos y técnicas de Quan Ho para participar en una sesión de “hat chieu”. La resurreción de esa antigua tradición enriquece el legado artístico de la localidad, al obligar a los cantantes a convertirse en coleccionistas que recopilan y estudian incansablemente los valores olvidados.
Hay que notar que en los últimos años, se registró un creciente número de miembros, entre ellos niños y adolescantes, de los clubes de Quan Ho en Viet Yen.
Nguyen Dai Luong, vicepresidente del gobierno local, afirmó que el distrito coordina con los medios de comunicación para promocionar en sitios web y redes sociales los valores de Quan Ho al público nacional e internacional.
Además de organizar festivales anuales del canto patrimonial, las autoridades de Viet Yen llevaron a cabo estudios para preservar canciones antiguas, añadió./.
Nhiều thầy cô giáo từ miền xuôi lên vùng cao, biên giới công tác, tận mắt thấy cuộc sống khó khăn nơi đây muốn bỏ về, nhưng nhìn khuôn mặt học sinh nhem nhuốc, ánh mắt hồn nhiên, trìu mến như muốn níu kéo nên thương trò, họ quyết định ở lại và gắn bó với mảnh đất biên viễn nắng và gió này.
Thương trò vùng sâu
Chúng tôi đi xe ôtô từ thành phố Lai Châu hơn gần ngày đường mới vào trung tâm xã Pa Ủ của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Pa Ủ thuộc là xã biên giới, tất cả dân địa phương là dân tộc La Hủ, đời sống rất khó khăn. Thầy cô giáo phải thường xuyên trèo đèo, lội suối về các bản, gặp phụ huynh để vận động đưa học sinh ra lớp. Về trường ở bán trú, học sinh được thầy cô giáo yêu thương như con, mua quần áo, dày dép và lo lắng từ miếng ăn đến giấc ngủ.
Sau giờ học trên lớp, các em cùng các thầy cô giáo ra vườn chăm sóc luống rau xanh và hái rau về cải thiện bữa ăn tối. Trời Đông biên giới lạnh, chúng tôi trò chuyện ấm cúng bên mâm cơm gia đình thầy giáo Hà Ánh Hùng, hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú tiểu học Pa Ủ.
Nhìn khuôn mặt học sinh nhem nhuốc, ánh mắt hồn nhiên,trìu mến như muốn níu kéo nên thương trò, nhiều thầy cô quyết định ở lại vùng cao
Thầy giáo Hùng cho biết xã Pa Ủ thuộc địa bàn biên giới, cách xa trung tâm huyện và tỉnh, khó khăn về nhiều mặt, trình độ dân trí thấp, giao thông cách trở… giáo viên miền xuôi lên công tác, nếu không chịu khó, không yêu nghề, yêu trẻ thì sẽ bỏ về.
Theo thầy Hà Ánh Hùng, giáo viên phải vượt qua nhiều khó khăn để mang con chữ lên với vùng đặc biệt khó khăn biên giới. Những dịp Hè, Tết, giáo viên phải về trường sớm so với các vùng thuận lợi khác để vận động, đưa các em về trường học chữ. Các em về trường rồi, giữ các em lại càng khó hơn. Vì vậy, bằng tình yêu thương, các thầy cô đã chăm sóc các em như con mình, tổ chức các hoạt động để học sinh muốn ở lại trường, không bỏ về bản.
Giáo viên và học sinh trường Tiểu học số 2 xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu băng qua suối để tới lớp học. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)
Nhớ lại buổi đầu vào Pa Ủ nhận công tác, thầy giáo Hùng chia sẻ năm 2007, anh lên mảnh đất này dạy chữ, chưa có điện thắp sáng và sóng điện thoại, giao thông đi lại vất vả. Học sinh ít, trường lớp tạm bợ, nơi ăn chốn nghỉ của thầy cô và trò chật vật. Học sinh bỏ học theo bố mẹ vào rừng ở, tỷ lệ chuyên cần thấp…
Trong những năm qua, chính sách đầu tư của Nhà nước cho vùng biên giới, đặc biệt là dân tộc La Hủ, hiện nay đời sống của người dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 94% (năm 2015) xuống còn 72%. Cơ sở vật chất đường, điện, trường, trạm được đầu tư khang trang, kiên cố. Phụ huynh quan tâm đến việc học của con cái nên tỷ lệ chuyên cần luôn đạt 95%.
Trong bữa cơm, tôi hỏi cô giáo Bùi Thị Tháp (vợ thầy Hùng) có nhớ các con ở quê không. Thầy Hùng thay lời vợ nói “nhớ cũng đành chịu.” Cô giáo Bùi Thị Tháp quê ở Hòa Bình lên vùng đất khó Pa Ủ công tác, cạnh trường của thầy Hùng. Thương cảnh nam giới ở một mình, cô giúp thầy Hùng bữa cơm, giặt hộ bộ quần áo, rồi nảy sinh tình cảm.
Năm 2009, họ nên duyên vợ chồng, tổ chức đám cưới tại bản Mu Chi trong niềm vui hân hoan của đồng nghiệp và học sinh, phụ huynh. Từ đó đến nay, vợ chồng thầy giáo Hùng gắn bó với đất và người Pa Ủ, không muốn rời xa. Vì công việc, vợ chồng thầy Hùng phải gửi hai con nhỏ cho ông bà nội chăm sóc, mỗi năm được hai dịp Hè và Tết về nhà. Hết phép, vợ chồng chia tay con về trường công tác, lòng quặn thắt. Nhớ con bao nhiêu, họ lại dồn tình yêu thương cho những đứa trẻ vùng cao.
Vượt khó cắm bản
Nói đến dạy và học ở các điểm trường lẻ vùng cao của một trong những huyện nghèo nhất của cả nước là nghĩ ngay đến những gian khó, vất vả. Những ngày này, trên những điểm trường xa xôi, khó khăn ấy ở huyện vùng cao Bát Xát (Lào Cai), đội ngũ các thầy cô giáo vẫn miệt mài gắn bó với công việc “gieo chữ,” ươm những mầm xanh.
Những ngày đầu bỡ ngỡ đặt chân đến điểm trường Mầm non Ngải Thầu, xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, Lào Cai, hai cô giáo trẻ Lê Thị Tuyết và Trương Bích Hương thật khó để hình dung chặng đường sắp tới sẽ khó khăn như thế nào. Khung cảnh hoang vu, hẻo lánh trước mắt khác xa với những gì các cô mường tượng về một ngôi trường khang trang, đủ đầy tiện nghi khi còn ngồi trên giảng đường. Giấc mơ ấy giờ hiện lên trần trụi với những trận gió rít lạnh lẽo, đường núi đá lởm chởm, sự khác biệt về ngôn ngữ văn hóa với người dân bản địa và cả những cô đơn chờ đón.
Các giáo viên vùng cao dắt xe máy qua điểm sạt lở do mưa lũ gây ra để đến điểm trường trong năm học mới. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
Nói về gian khó khi đặt chân lên xã Dề Thàng của huyện Bát Xát, cô giáo Lê Thị Tuyết chia sẻ: “Thật ngỡ ngàng, không thể tin được vào mắt mình! Quãng đường 35km ở dưới xuôi rất bình thường nhưng trên này càng đi càng thấy xa. Những ngày đầu, tôi đã khóc vì quá vất vả, nhớ nhà. Lên đến đây, nhà ở quá tạm bợ, chật chội, hiu quạnh, chỉ có núi nối núi và rừng thăm thẳm, mọi thứ đều mông lung. Tôi đã định bỏ về nhưng vì nghề nên cố gắng ở lại.”
Điểm trường Mầm non Ngải Thầu cách trung tâm hơn 10km nhưng đường trơn trượt, gồ ghề nên đi mất gần một giờ đồng hồ, đây là điểm xa nhất của xã Dề Thàng. Cô giáo Tuyết và cô giáo Hương gắn bó với điểm trường này 5 năm rồi, nhiều lần đi ra đi vào bị ngã xe, lấm lem bùn đất, nhưng đi nhiều, ngã nhiều rồi cũng quen. Năm học 2019-2020, điểm bản có 41 cháu mầm non, con em của đồng bào dân tộc Mông.
“Khó khăn như vậy nhưng khi nhìn thấy học sinh thân yêu, lòng yêu nghề lại trỗi dậy mạnh mẽ. Các em học sinh mặt nhem nhuốc, mắt đen lay láy vô tư tinh nghịch. Dù hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn, còn nhỏ tuổi, nhưng các em học sinh đã phải vừa giúp đỡ việc gia đình vừa đi học. Học sinh chăm ngoan, nghe lời, đã bù đắp lại những khó khăn thiếu thốn của các thầy cô giáo cắm bản nơi đây,” cô giáo Trương Bích Hương cho hay./.
Ở nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu, học sinh phải đi đò qua sông đến trường với sự giúp đỡ của giáo viên. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)
Dạy chữ nơi có nhiều ‘không’
Hiện nay, ở vùng Tây Bắc, nhiều điểm bản không có đường, điện, nước sinh hoạt, sóng điện thoại, lớp học tạm bợ… Các thầy cô giáo vì yêu nghề, thương học sinh nên đã bám trường, bám lớp, lặng thầm gieo con chữ nơi rẻo cao.
Vượt khó để dạy chữ
Mất hơn 2 giờ đồng hồ men theo sườn núi với những con dốc dài lởm chởm đá, có chỗ mặt đường bùn lầy, trơn trượt…, chúng tôi cũng vượt qua quãng đường 25km từ trường trung tâm để đến điểm trường Khau Luông – điểm trường xa nhất và khó khăn nhất của xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Bản Khau Luông nằm trên đỉnh núi, có 27 hộ đồng bào Mông sinh sống và được mệnh danh là “bản nhiều không”
Bản Khau Luông nằm trên đỉnh núi, có 27 hộ đồng bào Mông sinh sống và được mệnh danh là “bản nhiều không”: không đường, điện lưới, chợ, sóng điện thoại. Cuộc sống của đồng bào Mông nơi đây phụ thuộc vào việc làm nương rẫy.
Phụ trách điểm trường Khau Luông là cô giáo Nguyễn Thị Minh, có thâm niên 34 năm trong nghề. Cô Minh được phân công phụ trách điểm trường đã được 2 năm. Cùng ăn, cùng ở với người dân trong bản, cô Minh thấu hiểu những khó khăn, thiếu thốn của đồng bào nơi đây. Ngoài việc dạy chữ cho các em, cô thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào cách ăn, ở sao cho hợp vệ sinh, cách phòng chống bệnh tật ở trẻ em.
Giáo viên trường Tiểu học số 2 xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đưa học sinh tới trường trung tâm. (Ảnh: Việt Hoàng/TTXVN)
Cô giáo Nguyễn Thị Minh cho biết điểm trường Khau Luông hiện có 15 học sinh học từ bậc mầm non đến lớp 4. Tất cả học sinh của điểm trường là con em đồng bào Mông. Điểm trường có 3 cô giáo, do nhà xa nên các cô ở lại đây từ thứ Hai đến thứ Sáu. Ở điểm trường này, điều kiện sinh hoạt còn thiếu thốn như không có điện lưới, sóng điện thoại, không chợ… Khi mới lên đây công tác, các cô cảm thấy như rời xa với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, thương học trò, các cô giáo cố gắng vượt qua khó khăn để dạy chữ cho các em.
“Giáo viên coi học sinh như con, em của mình. Thấy quần áo các em rách quá, các cô thay người mẹ vá cho các em, xin quần áo cho các em mặc… Ngoài ra, việc dạy học cho học sinh người Mông cũng gặp nhiều khó khăn do các em không biết tiếng phổ thông, ít tiếp xúc với bên ngoài gây ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài học của các em. Tôi mong muốn Nhà nước quan tâm, đầu tư làm đường và điện lưới vào bản Khau Luông để người dân đỡ vất vả, học sinh có cơ hội được tiếp xúc với bên ngoài,” cô giáo Nguyễn Thị Minh chia sẻ.
Đầu năm 2019, điểm trường được một tổ chức từ thiện tài trợ xây dựng hai phòng học, một phòng cho giáo viên ở và làm việc khá khang trang nhưng điều kiện sinh hoạt vẫn còn nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng trên, các cô giáo phải tự trồng rau xanh, mang thực phẩm từ nhà lên điểm trường sử dụng. Những lúc nhớ nhà, các cô giáo phải đi lên đỉnh đồi nằm cách điểm trường gần 3km để bắt sóng điện thoại gọi điện về cho gia đình.
Giờ học của học sinh mầm non điểm trường Thẩm Xét (huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). (Ảnh: Lê Hữu Quyết/TTXVN)
Điều kiện làm việc, sinh hoạt khó khăn, thiếu thốn là vậy nhưng với tình yêu nghề, thương học sinh, các cô giáo ở điểm trường Khau Luông vẫn quyết tâm gắn bó, từng bước khắc phục khó khăn để dạy tốt, học tốt. Điểm trường Khau Luông nhiều năm liền không có học sinh bỏ học, tỷ lệ chuyên cần luôn đạt 100%.
Ông Lều Chính Phủ, thôn Khau Luông, xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn cho biết nhờ có các cô giáo cắm bản, con em đồng bào Mông không phải đi xa để học chữ, thực hiện ước mơ của mình. Đồng bào ở đây rất biết ơn, yêu quý các cô giáo.
Hoa rừng tặng cô
Chúng tôi đi từ trung tâm xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai vào tới bản Ngải Thầu hơn một giờ đồng hồ. Đoạn đường 10km trơn trượt, đất đá gồ ghề, có chỗ lầy lội. Đoạn đường này chỉ có giáo viên cắm bản và người dân địa phương quen đường mới có thể đi xe máy qua một cách thuận lợi. Bản Ngải Thầu có 100% là người Mông sinh sống, ở đây vẫn chưa có điện lưới quốc gia, thiếu thốn nước sinh hoạt.
Ngoài vấn đề đi lại, các cô ở điểm Trường Mầm non-Tiểu học Ngải Thầu gặp không ít khó khăn về cơ sở vật chất. Phân hiệu được đặt ở giữa khoảng sân của một số nhà dân, gồm 4 phòng học và không có sân chơi (2 lớp mầm non và 3 lớp tiểu học). Theo các thầy cô giáo ở đây, có được diện tích như vậy để xây dựng phân hiệu đã là quá lý tưởng bởi địa hình dốc cao núi đá, khó tìm được một khoảng đất trống bằng phẳng.
Điểm trường Khau Luông nhiều năm liền không có học sinh bỏ học, tỷ lệ chuyên cần luôn đạt 100%
Hai cô giáo Mầm non Lê Thị Tuyết và Trương Bích Hương đã gắn bó ở đây 5 năm, với 41 học sinh từ 3-5 tuổi. Gọi là điểm trường nhưng ở đây chỉ có 5 phòng học, phòng ngủ của giáo viên và nhà bếp tạm bợ. Đây là phân hiệu nằm xa nhất, khó khăn nhất của xã Dền Thàng.
Cô giáo Trương Bích Hương tâm sự trong hoàn cảnh khó khăn nhưng các cô không hề nản chí, từng bước khắc phục để mang đến cho các em một môi trường giáo dục tốt nhất. Cô mong chính quyền các cấp sớm đầu tư làm đường vào bản, kéo điện lưới và xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt để người dân đỡ vất vả.
Chia tay cô giáo Lê Thị Tuyết và Trương Bích Hương, đi đến đầu cổng, chúng tôi bắt gặp hình ảnh các cháu mẫu giáo trên tay cầm bó hoa rừng hớn hở đi về phía lớp học. Những lời bộc bạch, nhiệt huyết của cô giáo trẻ vùng cao khiến chúng tôi cảm thấy ấm lòng, vững tay lái xuống núi./.
Do thiếu phòng học, nhiều điểm trường ở vùng cao phải học ghép lớp và được ngăn bởi những tấm phên nứa. (Ảnh: Quang Cường/TTXVN)
Chăm sóc học sinh như con
Học sinh người Mông, Dao, Tày…từ bản xa về ăn, ở bán trú tại các điểm trường được thầy, cô giáo yêu thương, chăm sóc từ miếng ăn đến giấc ngủ. Thương học sinh vùng cao, dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên giáo viên đã nhận các em làm con nuôi để học sinh có điều kiện tốt hơn khi tới trường.
Cô giáo đùm bọc 4 em nhỏ
Mỗi sớm, tại khu vực thị trấn Phong Hải, huyện Bảo Thắng (Lào Cai), người ta lại thấy một người phụ nữ với dáng vẻ gầy guộc tất bật chuẩn bị cho bốn đứa trẻ sàn sàn tuổi nhau đến trường. Nếu ai không biết có thể nghĩ rằng đó là một người mẹ và bốn đứa con nhỏ. Thực tế, người phụ nữ ấy là một cô giáo đã tình nguyện đón 4 em nhỏ người Mông về nhà để chăm lo cho các cháu ăn học…
Về thị trấn Phong Hải, hỏi cô giáo nhận nuôi 4 cháu nhỏ ai cũng biết là cô Nguyễn Thị Thanh Minh, giáo viên Trường Mầm non số 2 (thị trấn Phong Hải).
Nhìn lũ trẻ hớn hở, vui đùa vì lần đầu được tắm gội bằng xà phòng thơm, rồi được mặc áo mới cười khúc khích, cô rất hạnh phúc…
Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Minh cho biết nhà các cháu ở bản xa, phải trèo lên đỉnh Sảng Pả, đường đất ẩm ướt, trơn trượt khó đi. Thấy 4 đứa trẻ mặt mũi nhem nhuốc, đầu tóc bù xù, quần áo không lành lặn, thương các con, cô giáo đã xin nhà trường và phụ huynh để đưa về nhà chăm sóc. Sau khi về ở, các cháu được dạy dỗ cẩn thận, mọi thứ đi vào khuôn phép. Những đứa trẻ thiếu ăn trở nên khỏe mạnh, mỗi cháu tăng 1-2kg.
Cô Minh kể: Cháu Cư Thị Chứ nhỏ tuổi nhất, tóc vàng hoe, có cả tổ chấy trên đầu. Cô phải tắm rửa, chải tóc cho cháu liên tục mới hết ngứa ngáy, khó chịu. Mấy ngày đầu nhìn lũ trẻ hớn hở, vui đùa vì lần đầu được tắm gội bằng xà phòng thơm, rồi được mặc áo mới cười khúc khích, cô rất hạnh phúc.
Cô Minh trong giờ dạy học tại trường Mầm non số 2 thị trấn Phong Hải (Bảo Thắng, Lào Cai). (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)
Nhờ có sự kiên trì cùng nhiệt huyết, cô giáo được đồng bào Mông trên đỉnh Sảng Pả rất yêu quý và đồng ý cho con xuống dưới học tập. Những nghĩa cử cao đẹp của cô Minh cũng đánh thức được lòng tốt của mọi người. Lo cho cô vất vả, nhà trường kêu gọi giáo viên và các tổ chức, cá nhân quyên góp ủng hộ gạo, quần áo, một số nhu yếu phẩm khác hỗ trợ học sinh có cuộc sống tốt hơn.
Nuôi dạy tốt học sinh bán trú
Những năm gần đây, có chế độ bán trú, học trò vùng cao Tây Bắc được ăn, ở tại trường để yên tâm học tập. Mỗi bữa cơm nóng hổi trở thành động lực khuyến khích học trò vùng cao Tây Bắc xuống núi học chữ.
Pa Vệ Sử thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu là xã biên giới, có hai dân tộc ít người là La Hủ và Mảng, đời sống đồng bào rất khó khăn. Thầy cô giáo phải thường xuyên trèo đèo, lội suối về các bản, gặp phụ huynh để vận động đưa học sinh ra lớp. Về trường ở bán trú, học sinh được thầy cô giáo yêu thương như con, mua quần áo, giày dép và lo lắng từ miếng ăn cho đến giấc ngủ. Vì vậy, các em vui sướng khi về trường vì vừa được ăn ngon và vui chơi cùng bạn bè.
Xã Pa Vệ Sử có hơn 2.600 nhân khẩu và hơn 560 hộ, trình độ dân trí thấp, đời sống đồng bào đặc biệt khó khăn. Toàn xã có 15 bản nhưng có tới 4 bản giáp biên giới, giao thông đi lại vất vả. Phụ huynh mong muốn con ở nhà phụ giúp công việc, các em ngại đường xa nên không muốn xuống trường học.
Năm học 2019-2020, Trường phổ thông Dân tộc bán trú Trung học Cơ sở xã Pa Vệ Sử có 275 học sinh, trong đó 172 học sinh ở bán trú. Theo chế độ chính sách học sinh bán trú, mỗi tháng, các em được hỗ trợ 520 nghìn đồng và 15kg gạo.
Thầy Phan Thanh Hội, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Trung học Cơ sở xã Pa Vệ Sử cho biết để học sinh từ bản xa về trường ăn học, không bỏ học, các giáo viên phải yêu thương, chăm sóc tận tình, chu đáo cho các em. Nhà trường thường xuyên tổ chức hoạt động vui chơi, sinh hoạt ngoại khóa để gắn kết học sinh khác dân tộc, khác lứa tuổi hòa đồng vui vẻ, muốn ở lại trường, không bỏ về bản. Trong năm học vừa qua, nhà trường đã đạt được nhiều thành tích, có học sinh đạt học sinh giỏi huyện và tỷ lệ chuyên cần luôn đạt 90% đến 100% học sinh lên lớp.
Mặc dù gặp nhiều khó khan, thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy, học tập và sinh hoạt, nhưng thầy cô và học sinh ở Lai Châu luôn phấn đấu quyết tâm dạy tốt, học tốt. (Ảnh: Nguyễn Duy/TTXVN)
Theo thầy Phan Thanh Hội, để đạt tỷ lệ chuyên cần cao, ngay từ đầu năm, các thầy cô giáo phải tập trung về trường sớm, thực hiện nhiệm vụ vận động, đưa học sinh ra lớp. Do điều kiện thiếu thốn nên thầy cô giáo phải ở nhà tạm bợ, để dành phòng xây kiên cố cho học sinh ở. Để rèn kỹ năng sống và ý thức tự giác, có rau xanh cải thiện bữa ăn, thầy cô giáo Trường phổ thông Dân tộc bán trú Trung học Cơ sở xã Pa Vệ Sử tổ chức cho các em trồng rau xanh.
Chiều về, các em tập trung vun luống trồng rau, tưới nước. Vườn rau cải của thầy cô và trò đã bén rễ, phát triển xanh tốt. Nơi biên giới, núi nối núi, rừng nối rừng, sương mù bao bọc nhưng tình yêu thương của thầy cô giáo và học sinh rất ấm áp.
Do điều kiện thiếu thốn nên thầy cô giáo phải ở nhà tạm bợ, để dành phòng xây kiên cố cho học sinh ở
Hiện nay, địa bàn huyện biên giới Mường Tè (Lai Châu) có 22 trường phổ thông dân tộc bán trú, nuôi dạy 3.072 học sinh.
Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Tè Lý Mý Ly khẳng định nhờ sự quan tâm của các cấp chính quyền và sự cống hiến tận tâm của đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo dục của huyện được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ chuyên cần đạt 96%…
Ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Tè quyết liệt trong việc không để bản “trắng” lớp học và học sinh không được đến trường. Dù các điểm trường ở vùng sâu nhưng giáo viên vẫn vượt khó khăn để đứng lớp, dạy con chữ cho học sinh. Tuy nhiên, hệ thống trường, lớp còn nhiều phòng học tạm, học sinh còn thiếu thốn đủ bề…/.
Ngoài học tiếng phổ thông, thầy cô tại các điểm trưởng còn phụ trách dạy nhạc, họa và thể dục. (Ảnh: Diệp Anh/TTXVN)
Nâng cao chất lượng giáo dục vùng sâu, vùng xa
Trong những năm qua, nhiều thế hệ các thầy cô giáo đã nỗ lực, hy sinh thầm lặng để cống hiến, cùng với Nhà nước đầu tư xây dựng trường lớp và thực hiện chế độ hỗ trợ cho học sinh… Nhờ vậy, chất lượng giáo dục vùng cao ngày một nâng cao. Học sinh đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn có điều kiện tốt hơn để tới trường học chữ.
Tham dự Chương trình “Thay lời tri ân” năm 2019 diễn ra tối 17/11 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bày tỏ sự cảm phục trước những tấm gương của các thầy cô giáo đang hằng ngày, hằng giờ vượt qua khó khăn để cống hiến cho giáo dục.
Theo Phó Thủ tướng, nhà giáo vừa cần có tri thức vừa phải có tấm lòng. Tất cả các thầy cô giáo đều cố gắng để vượt qua chính mình, tiếp tục phát huy thành tích tốt, khắc phục những tiêu cực, hạn chế còn tồn tại, chắc chắn sự nghiệp đổi mới giáo dục sẽ thành công, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước sẽ ngày càng nâng lên.
Các thầy, các cô cắm bản đã hy sinh tuổi xuân, phải sống xa gia đình, sống trong điều kiện thiếu thốn để mang kiến thức đến cho các em học sinh ở vùng sâu, vùng xa…
Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Minh Anh Tuấn chia sẻ các thầy, cô giáo cắm bản thực sự là những con người rất tâm huyết với nghề. Thầy, cô giáo đã nỗ lực hết sức mình để đưa chính sách giáo dục của Nhà nước, các chủ trương của ngành giáo dục đến với học sinh, đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa. Sự nỗ lực của các thầy, cô giáo cắm bản đã giúp cho ngành giáo dục tỉnh Tuyên Quang thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm của từng năm học.
“Các thầy, các cô cắm bản đã hy sinh tuổi xuân, phải sống xa gia đình, sống trong điều kiện thiếu thốn để mang kiến thức đến cho các em học sinh ở vùng sâu, vùng xa, làm thay đổi tư duy, suy nghĩ của cha mẹ học sinh về vấn đề cho con em đến trường học tập. Đồng thời, thầy cô giáo đã góp phần nâng cao dân trí của xã hội đặc biệt là vùng sâu, vùng xa,” Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang cho hay.
Giáo viên tận tuỵ dạy trẻ tập viết ở điểm trường nhỏ lẻ vùng sâu, vùng xa tỉnh Cao Bằng. (Ảnh: Chu Hiệu/TTXVN)
Chúng tôi đi các điểm trường bản khó khăn, được ăn món cá khô kho, trứng rán… của giáo viên tiếp đãi thịnh soạn và nghe câu chuyện thu nhập, chi tiêu đắt đỏ ở đây. Giáo viên vùng cao, biên giới phải đi lại khó khăn, cách trở, mọi chi phí sinh hoạt đắt gấp 3 lần so với miền xuôi, trong khi đó thu nhập không cao. So với chế độ của giáo viên vùng đồng bằng, giáo viên vùng đặc biệt khó khăn được hưởng tiền hỗ trợ thu hút 5 năm đầu với mức từ 5-7% lương, địa bàn biên giới được hưởng thêm 70-100% lương.
Theo các thầy cô giáo, tiền lương và các khoản hỗ trợ khác, nếu chi tiêu không tằn tiện thì khó để dư ra đồng nào gửi về quê nuôi con. Ở địa bàn dân tộc, thương học sinh, giáo viên còn phải bỏ tiền túi mua thêm đồ dùng học tập, mua quần áo cho các em.
Bà Trần Thị Vân, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai mong muốn trong thời gian tới giáo viên vùng đặc biệt khó khăn sẽ được hưởng chế độ thu hút kéo dài hơn (hiện 5 năm là chấm dứt chế độ thu hút), được hưởng các chế độ chính sách khác như hỗ trợ kinh phí xăng xe đi lại và nước sạch cho giáo viên. Đời sống được bảo đảm tốt, giáo viên mới yên tâm cống hiến lâu dài. Nhà nước cần đầu tư làm đường giao thông thuận lợi, để người dân và thầy cô giáo đi lại bớt phần khó khăn, gian khổ.
Giáo viên điểm trường Mầm non Suối Tiếu, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đến từng nhà để vận động phụ huynh cho học sinh đến lớp. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)
Theo Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu Đinh Trung Tuấn, Nhà nước cần có chính sách đặc thù để hỗ trợ, địa phương bố trí cấp đất cho giáo viên, chí ít phải xây dựng nhà công vụ cho giáo viên ở. Ngành giáo dục chú trọng đến công tác khen thưởng, cử giáo viên đi học để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Nếu chính sách thực hiện tốt, các thầy, cô giáo sẽ ổn định tâm lý và đầu tư cho công tác giảng dạy, chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn sẽ được nâng lên.
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu khẳng định giáo viên các nhà trường học sẽ phát huy kết quả đạt được tiếp tục xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh và thân thiện. Ngành giáo dục Lai Châu sẽ tập trung nâng cao chất lượng giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; chú trọng công tác nuôi dạy học sinh bán trú để bảo đảm tỷ lệ chuyên cần, hạn chế thấp nhất số lượng học sinh bỏ học…
Khi tiếp xúc với các thầy, cô giáo vùng cao, biên giới, chúng tôi thấy nụ cười luôn hiện hữu trên khuôn mặt họ. Dù trong hoàn cảnh nào, các cô giáo, thầy giáo cũng luôn giữ trọn tâm huyết, đam mê với nghề, là tấm gương đạo đức cho các thế hệ học trò noi theo, xứng đáng với sự tôn vinh mà xã hội dành cho nghề giáo, như lời của ca khúc “Bài ca người giáo viên nhân dân” của tác giả Hoàng Vân:
Trên những nẻo đường của Tổ quốc xanh tươi Có những loài hoa thơm đậm đà sắc hương Có những bài ca nghe rạo rực lòng người Bài ca ấy, loài hoa ấy đẹp như em – người giáo viên nhân dân…/.
Cô giáo Mông Thị Hồng, phụ trách điểm trường Khuẩy Lìn, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang có 25 năm gắn bó với các lớp học vùng cao của huyện Yên Sơn. (Ảnh: Quang Cường/TTXVN)
Marc Boettcher bắt đầu ngày mới trước cả khi bình minh ló dạng bằng cách khởi động chiếc máy nghiền kiểu búa đập để xay ngô làm thức ăn cho những con bò đực non ở trang trại.
Từng có một buồng trống được anh dùng làm nơi vắt sữa bò trước khi chúng bị đem bán cách đây vài năm. Chỉ mới mùa Hè này, gần như cả trang trại chật ních những con gia súc với vẻ “tò mò, lo âu và kỳ cục” một cách đáng yêu, chen lấn nhau để được nhìn thấy anh. Một con “thả” một món quà vào máng nước uống cho anh. Một con khác bằng cách nào đó trèo được vào máng ăn và nằm đó, mắt chớp chớp, như thể đó là chỗ nằm hoàn hảo nhất.
“Chúng tôi đã phải vất vả một chút để đưa nó ra,” Boettcher, một nông dân thế hệ thứ tư, chớp mắt nhớ lại.
Anh đã quen với sự bấp bênh của nghề nông. Anh biết một cơn bão tuyết, một mùa xuân ẩm ướt, hay một trận hỏa hoạn ở nhà máy chế biến cách đó hàng trăm dặm có thể làm ảnh hưởng đến mình như thế nào. Anh tin rằng sự biến đổi khí hậu đã khiến thời tiết thay đổi theo hướng cực đoan hơn. Và giờ đây lại có thêm một yếu tố con người khác khiến ngành nông nghiệp vốn đang gặp khó khăn phải rùng mình: Những tranh chấp thương mại của Tổng thống Trump.
“Chẳng có ‘nếu như,’ ‘và’ hay ‘nhưng’ gì cả, tôi đã thất thu,” Boettcher thở dài khi mặt trời nhô lên phía trên ruộng đỗ tương xanh mướt như một tấm thảm tại một trong những cánh đồng của anh. Giá cả vốn đã thấp, và những đòn trừng phạt trả đũa bằng cách đánh thuế mà Trung Quốc và các nước khác áp lên các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ “là một yếu tố khác kìm hãm, hoặc đè bẹp, hoặc ngăn cản sự phát triển của nông nghiệp,” anh nói.
Lời hứa khôi phục lại sự thống trị thương mại của Tổng thống Donald Trump đã giúp ông giành được sự ủng hộ sâu rộng ở vùng nông thôn, góp phần đảm bảo chiến thắng sát nút của ông tại bang Wisconsin hồi năm 2016. Trong bối cảnh những cuộc đụng độ thương mại do ông Trump châm ngòi trực tiếp làm tổn thương người nông dân, thì thông điệp của vị tổng thống lại vô cùng đơn giản: Hãy tin tôi, tất cả rồi sẽ được đền đáp.
Người nông dân vẫn đang chờ đợi. Nhưng làn sóng các loại thuế quan mới và phi lý hơn vẫn chưa làm xáo trộn niềm tin của nhiều nông dân vào lời hứa mang lại sự công bằng cho sân chơi của tổng thống.
Boettcher, người từng hai lần bỏ phiếu cho Barack Obama, đã bỏ phiếu cho Trump và lời hứa sẽ thay đổi tình hình chính trị của ông. Đến lúc này, Boettcher vẫn cảm thấy những thiệt hại của mình là sự hy sinh xứng đáng.
Boettcher là nông dân cuối cùng trong đại gia đình của mình. Jessica Rinaldi/Globe Staff
Người nông dân vẫn đang chờ đợi. Nhưng làn sóng các loại thuế quan mới và phi lý hơn vẫn chưa làm xáo trộn niềm tin của nhiều nông dân vào lời hứa mang lại sự công bằng cho sân chơi của tổng thống.
“Đó chỉ là một phần nhỏ của điều mà chúng tôi cần phải làm, nhân danh nước Mỹ, để duy trì lối sống mà chúng tôi đang có,” anh nói. Nhưng anh thừa nhận rằng sự kiên nhẫn của mình với các loại thuế quan cũng có giới hạn.
“Phải có một lộ trình thời gian rõ ràng,” Boettcher nói. “Nếu tình hình cứ tiếp tục diễn tiến thế này, tôi cho rằng kịch bản trong trường hợp xấu nhất sẽ xảy ra.”
Năm nay là một năm tồi tệ với nông dân ở Wisconsin: 718 trang trại bò sữa đã phải đóng cửa tính từ tháng 1, và những người canh tác cây trồng hàng hóa như ngô hay đậu nành giống như Boettcher cũng đang phải chịu tổn thất. Lý do rất phức tạp, nhưng nông dân và các nhà kinh tế nói rằng những vấn đề dài hạn đã trở nên trầm trọng hơn do ảnh hưởng từ các cuộc chiến tranh thương mại của ông Trump, thu hẹp thị trường trên toàn cầu cho các sản phẩm nông nghiệp đến từ các thị trấn ở vùng trung tâm đất nước, giống như thị trấn Bloomer ở miền Tây Nam Wisconsin này.
Ông Trump đã phá vỡ các mối quan hệ với những đối tác thương mại đáng tin cậy của Mỹ như Canada hay Mexico, đồng thời áp đặt các mức thuế bất hợp lý lên hàng hóa Trung Quốc. Những quốc gia này đã phản kháng bằng cách áp các mức thuế do họ đề ra lên hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ, đặc biệt là đậu nành và các sản phẩm nông nghiệp khác.
Theo Cục Nông nghiệp Mỹ, giá trị xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc đã giảm từ khoảng 19,5 tỷ USD năm 2017 xuống 9,1 tỷ USD hồi năm ngoái, và giảm thêm 1,3 tỷ USD nữa trong nửa đầu năm nay. Doanh số sụt giảm đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới thu nhập của người nông dân. Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2018 đến tháng 6/2019, Wisconsin đã trải qua nhiều vụ phá sản trang trại nhiều hơn bất kỳ bang nào khác ở Mỹ.
Tuy nhiên, với cuộc bầu cử năm 2020 đang đến gần, nhiều nông dân vẫn bày tỏ sự ủng hộ với đương kim tổng thống. Một cuộc khảo sát do tạp chí Farm Journal thực hiện hồi tháng 9 vừa qua với 1.138 nông dân cho thấy 76% trong số này ủng hộ hoặc ủng hộ mạnh mẽ viecj ông Trump tiếp tục tại vị, cho dù những chính sách của ông đã trực tiếp gây tổn hại đến túi tiền của họ.
Nhưng cũng có những dấu hiệu cho thấy một số nông dân sắp hết kiên nhẫn, ngay cả khi tổng thống đã tuyên bố hồi đầu năm nay rằng chính quyền của ông sẽ bảo đảm rằng “đây là thời điểm tốt để làm một nông dân.”
Khi Bộ trưởng bộ Nông nghiệp Sonny Perdue tới thăm Minnesota hồi tháng 8, một số nông dân đã bắt đầu lên tiếng phàn nàn. “Mọi thứ đang xuống dốc, và xuống dốc rất nhanh,” Brian Thalmann, cựu chủ tịch Hiệp hội Người trồng ngô của bang Minnesota chia sẻ.
Mặt trời mọc chiếu sáng những kiện cỏ khô tại trang trại của Boettcher’s. Jessica Rinaldi/Globe Staff
Các chính sách khác ở Washington đã làm tăng thêm nỗi thất vọng, ví dụ như việc Cơ quan Bảo vệ Môi trường cho phép một số nhà máy lọc dầu không cần pha thêm ethanol vào các sản phẩm dầu của mình.
Các chính sách khác ở Washington đã làm tăng thêm nỗi thất vọng, ví dụ như việc Cơ quan Bảo vệ Môi trường cho phép một số nhà máy lọc dầu không cần pha thêm ethanol vào các sản phẩm dầu của mình.
Chính quyền Trump đã cố gắng bù đắp thiệt hại từ các tranh chấp thương mại bằng cách phê duyệt khoảng 28 tỷ USD tiền cứu trợ cho nông dân, nhưng với một số người, số tiền đó cũng chẳng thấm vào đâu.
“Tôi không biết chủ nghĩa xã hội là gì nếu không phải là nhận được một tờ séc từ chính phủ,” Les Danielson, một nông dân 49 tuổi trồng ngô và đậu nành sống ở Cadott, một cộng đồng nông nghiệp khác cách Bloomer khoảng 30 phút đi xe chia sẻ. Anh không ủng hộ Trump hay các chính sách thuế quan của ông, và anh tin rằng sẽ có thêm nhiều nông dân nữa có cùng quan điểm với mình khi cuộc chiến thương mại tiếp tục kéo dài.
“Chúng tôi phải tỏ ra rằng mình là người yêu nước trong khi đang bị tổn thất một đống tiền sao?” anh nói.
Doug Danielson, anh trai của Les, từng lái máy kéo dưới bầu trời mùa hè xanh thẳm, cày bừa những mảnh đất hoang lấm chấm hoa dừa cạn và những con cò đồi cát để chuẩn bị gieo trồng cỏ ba lá và cỏ linh lăng cho đàn bò của mình.
Cánh đồng ở Cadott đã kể câu chuyện về cách mọi thứ đang diễn ra trong thời gian gần đây. Nó từng thuộc sở hữu của một nông dân nuôi bò sữa bị phá sản, và rồi được thuê bởi một người khác, nhưng người này cũng chẳng thể canh tác được gì ở đó vì mùa xuân quá ẩm ướt.
Sarah Kurtz nuôi một con bê tại trang trại Polzin ở Cadott.Jessica Rinaldi/Globe Staff
Cũng giống anh trai của mình, Danielson không bỏ phiếu cho Trump. Anh biết cuộc khủng hoảng sữa xảy ra trước cả nhiệm kỳ tổng thống, nhưng anh tin rằng nông dân Mỹ cần phát triển thị trường sữa, và anh muốn các hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ.
Bây giờ, Danielson, người đã chăn nuôi bò sữa từ những năm 1980, chuẩn bị thử sức ở đây. Anh có một đàn bò sữa 440 con, những chuồng nuôi cao ráo và một phòng vắt sữa hoạt động gần như suốt ngày đêm. Nhưng vào thời điểm này, sau nhiều năm giá sữa giảm mạnh khiến ngành chăn nuôi bò sữa rơi vào khủng hoảng, ngày càng khó để bám trụ, và anh cho biết mình đang phải lạm cả vào vốn để có tiền trang trải cuộc sống.
“Tôi từng nghĩ rằng mình làm việc này khá tốt, nhưng hóa ra là tôi không giỏi đến thế,” Danielson tâm sự với một chút thất vọng về bản thân.
Cũng giống anh trai của mình, Danielson không bỏ phiếu cho Trump. Anh biết cuộc khủng hoảng sữa xảy ra trước cả nhiệm kỳ tổng thống, nhưng anh tin rằng nông dân Mỹ cần phát triển thị trường sữa, và anh muốn các hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ.
Danielson không mong gì hơn việc con trai anh cùng làm nông với mình, nhưng anh không kìm nổi một giọt nước mắt khi biết rằng điều đó sẽ không bao giờ hợp lý về mặt tài chính. “Tôi sẽ là thế hệ làm nông nghiệp cuối cùng trong gia đình mình,” anh nói.
Gần đây, giá sữa đã tăng trở lại, nhưng không đủ để bù đắp cho nhiều năm tổn thất. Những cuộc vật lộn về kinh tế trong những năm gần đây được thể hiện rõ ở khắp mọi nơi tại Cadott, nếu bạn biết phải nhìn vào đâu. Các cửa hàng tạp hóa đã biến mất, và khoảng không từng được dùng làm nơi buôn bán máy kéo giờ bỏ không. Trên hành trình đi vào thị trấn, George Polzin, một nông dân nuôi bò sữa hiện đã chuyển sang nghiên cứu di truyền bò sữa và các sản phẩm khác, chỉ tay về những chuồng nuôi trống không nằm rải rác trong thị trấn nơi gia đình anh đã làm nghề nông suốt nhiều thế hệ.
“Có một chuồng trống gần như còn mới nguyên ở phía đó. Chúng tôi rất buồn,” Polzin nói khi lái xe qua chuồng bò sơn màu đỏ tinh khôi để vào thị trấn. “Nông trại từng ở ngay đây, với bốn thế hệ làm nông. Mùa xuân này, chúng tôi phải bán hết. Không kiếm được đủ tiền để nuôi sống gia đình.”
Danielson đã trèo lên máy kéo trên mảnh đất bị mất bởi một nông dân khác gần đây ở Cadott. Jessica Rinaldi/Globe Staff
“Bạn không mua được thiết bị mới. Bạn cũng chẳng mua được thiết bị cũ. Bạn chỉ có thể chết đứng ở đó – Ví dụ, tôi phải lợp lại mái chuồng. Tốn 17.000 USD. Tôi sẽ không tiêu số tiền đó vào lúc này,” Les Danielson cho biết.
Với rất nhiều trang trại treo biển rao bán, ngày càng nhiều gia đình người Amish đã chuyển vào thị trấn, do đó không khó để bắt gặp những con ngựa và xe ngựa nhỏ tại đây.
Gần đây, thuế quan đã ăn vào lợi nhuận của những nông dân vẫn còn kinh doanh, làm giảm khả năng chi tiêu tại thị trấn của họ.
“Bạn không mua được thiết bị mới. Bạn cũng chẳng mua được thiết bị cũ. Bạn chỉ có thể chết đứng ở đó – Ví dụ, tôi phải lợp lại mái chuồng. Tốn 17.000 USD. Tôi sẽ không tiêu số tiền đó vào lúc này,” Les Danielson cho biết.
Polzin biết rằng thuế quan không phải là nguyên nhân của tất cả những tai ương ở đây. Nhưng anh cũng nói rằng chúng là thứ cuối cùng mà mọi người cần. “Đây là lần đầu tiên trong đời mà tôi không chắc chắn rằng chuyện gì sẽ xảy ra,” anh chia sẻ.
Marc Boettcher, 51 tuổi, xuất thân từ một gia đình có truyền thống làm nông dân. Ông nội của anh đã canh tác ở khu vực này từ đầu những năm 1900, và Boettcher là một trong 18 đứa cháu của ông – nhưng trong số tất cả các anh chị em họ, anh là người duy nhất còn giữ nghề.
Những con bò quan sát khi Sarah Kurtz giữ lấy chiếc xe cút kít tại trang trại Polzin ở Cadott. Jessica Rinaldi/Globe Staff
Đã từng có 7 nông dân nuôi bò sữa ở gần đây, nhưng giờ chỉ còn lại 1 người.
Anh đã chứng kiến nền kinh tế nông nghiệp thay đổi xung quanh mình. Các trang trại lớn lên ngôi và những hoạt động nhỏ lẻ ở phạm vi gia đình dần trở nên kém lợi nhuận hơn. Đã từng có 7 nông dân nuôi bò sữa ở gần đây, nhưng giờ chỉ còn lại 1 người.
“Nếu mọi chuyện cứ tiếp diễn thế này, Donald Trump sẽ không bao giờ trở thành tổng thống,” Boettcher nói.
Hạt Chippewa, nơi có thị trấn Bloomer và Cadott, đã giúp Trump chiến thắng với số phiếu 19% trong năm 2016 sau khi mang lại chiến thắng cho ứng viên Mitt Romney của đảng Cộng Hòa trước đối thủ Obama vào năm 2012 với 160 phiếu nhiều hơn.
Những sự thay đổi như vậy đã góp phần vào chiến thắng sát nút của đương kim tổng thống trước ứng viên Hillary Clinton tại bang Wisconsin, ở đây ông đã thắng với chênh lệch chưa tới 23.000 phiếu. Đảng Dân chủ và Cộng hòa coi Wisconsin là một chiến trường quan trọng vào năm 2020, và thăm dò dư luận cho thấy một cuộc đua sát nút, bất kể ứng viên của Đảng Dân chủ là ai.
Danielson nghĩ rằng nhiều nông dân sẽ nhìn thấy mọi thứ theo cách của mình khi cuộc chiến thương mại kéo dài. Jessica Rinaldi/Globe Staff
Sau khi Boettcher cho bầy gia súc ăn xong, khoảng 7 giờ 15 sáng hôm đó, anh có một nhiệm vụ khác: tập bóng bầu dục tại trường trung học Bloomer, nơi anh đang là trợ lý huấn luyện viên phòng ngự. Anh từng chơi ở vị trí trung vệ và hậu vệ khi còn học ở trường này – hồi đó gần như tất cả các thành viên trong đội là “con nhà nông”. Bây giờ, theo lời anh, hầu hết đám trẻ trong đội là “trẻ con thành phố”. Chúng vẫn sống ở vùng nông thôn Wisconsin này, nhưng gia đình chúng không làm nông nữa.
Boettcher vẫn giữ được dáng vẻ thể thao của mình. Anh và vợ, Diane, là những người Công giáo sùng đạo, và họ có một cặp sinh đôi 8 tuổi cùng một người con trai lớn, Cole, hiện đang ở trong quân đội. Boettcher hy vọng một ngày nào đó Cole sẽ trở về nhà để điều hành trang trại.
Trong bữa sáng – có trứng và thịt xông khói tại quán cà phê Main Street, Boettcher ước tính anh đã mất khoảng 15% thu nhập để đóng thuế, mặc dù anh cho rằng khó có thể phân định rạch ròi nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của mình. Tất cả đều bị tổn thương, nhưng trang trại của anh vẫn có thể tồn tại.
“Tôi hoàn toàn không chắc chắn rằng mình sẽ bỏ phiếu cho ai,” Boettcher chia sẻ. “Lúc này, bất kỳ ai cũng có thể làm tôi đổi ý. Tôi đang cảm thấy rất bấp bênh.”
Boettcher biết anh và anh em nhà Danielson không đồng tình với nhau khi nói về Trump. Nhưng lúc này, anh sẵn sàng chấp nhận hy sinh với hy vọng rằng cuộc chiến thương mại của Trump rồi cũng sẽ giúp các trang trại ở Wisconsin khởi sắc hơn. Tuy nhiên, sự ngờ vực của anh với Washington đã tăng lên trong vài tháng qua, dẫn tới một điều không chắc chắn nữa trong đời anh: anh không biết mình sẽ ủng hộ ai giữ chức tổng thống vào năm 2020 tới.
“Tôi hoàn toàn không chắc chắn rằng mình sẽ bỏ phiếu cho ai,” Boettcher chia sẻ. “Lúc này, bất kỳ ai cũng có thể làm tôi đổi ý. Tôi đang cảm thấy rất bấp bênh.”
Boettcher đã bỏ phiếu cho Barack Obama hai lần và cho Trump vào năm 2016. Lần này, ông không chắc chắn lắm. Bất cứ ai cũng có thể làm ảnh hưởng đến tôi vào thời điểm này, ông nói. Jessica Rinaldi/Globe Staff
La contaminación por los residuos plásticos constituye hoy día uno de los problemas más graves a nivel mundial. Con el fin de reducir las afectaciones negativas producto de este fenómeno, Vietnam ha desplegado una serie de medidas e iniciativas, así como participa de manera activa en los mecanismos de cooperación internacional y regional, especialmente en un escenario en el que el mundo está sufriendo el cada vez más fuerte impacto de la contaminación generada por esos desechos.
En particular se destaca el movimiento “Di no a los residuos plásticos” en la sociedad. Para impulsar el mismo los órganos gubernamentales de la nación indochina deben concentrarse en el mejoramiento de la conciencia de la población sobre ese asunto.
Formar la conciencia de las generaciones jóvenes
Una de las afectaciones más graves de los residuos plásticos al medio ambiente es la larga duración de su descomposición, que podría tardar miles de años.
Los jóvenes, con su papel importante en la sociedad, necesitan equiparse con una correcta y perfecta conciencia sobre los daños provocados por los residuos plásticos en el entorno natural.
Recientemente, la carta de una estudiante de quinto grado recibió la atención de toda la sociedad. En esa misiva, la alumna Nguyet Linh pidió a 40 rectores rechazar el uso de globos en las ceremonias de apertura del año escolar. Como resultado de esta iniciativa, numerosas escuelas se comprometieron a mitigar el consumo de los productos plásticos, incluidos los globos.
En la carta, la alumna Nguyet Linh pidió a 40 rectores rechazar el uso de globos en las ceremonias de apertura del año escolar (Fuente: VNA)
En el año escolar 2018-2019, Vietnam contó con más de 23 millones de estudiantes, incluidos más de ocho millones 300 mil alumnos de la enseñanza primaria. Por lo tanto, los cambios en la política del uso de los productos plásticos en esas escuelas podrán ayudar a que reducir el consumo de este material, así como a generar efectos positivos en la conciencia de las nuevas generaciones.
Una de las costumbres de los estudiantes vietnamitas es forrar sus libros y libretas con periódicos o revistas de uso. Sin embargo, este hábito afecta negativamente la salud de los niños, por la alta tasa de plomo.
Los estudiantes también tienden a cubrir sus libros con nailon, gracias a su comodidad y el bajo costo. En el inicio del año escolar en agosto pasado, varias escuelas permitieron a sus alumnos a utilizar los libros sin forro.
El consumo de otros tipos de implementos también genera una gran cantidad de residuos plásticos. Por ejemplo, una profesora de primaria “recomendó” comprar dos cajas plásticas a cada de sus alumnos, con el fin de ayudarles a mejorar la disciplina. Sin embargo, esta “iniciativa” enfrentó críticas de los padres por el alto consumo de productos plásticos.
Se extendió a partir de ese hecho el rechazo a los reglamentos relacionados con el uso de plásticos y nailon en los centros educativos.
Varias personas coinciden que los órganos que operan en el sector de la educación y la formación necesitan desplegar reglas para la disminución del uso de productos plásticos y de nailon, así como impulsar la enseñanza sobre el daño de estos materiales al medio ambiente y la salud humana.
Ampliar el movimiento contra los residuos plásticos
Aunque los productos plásticos y de nailon son útiles, estos materiales provocan grandes daños al entorno natural y la salud humana.
De acuerdo con el Ministerio de Recursos Naturales y Medio Ambiente, Vietnam emite anualmente alrededor de dos millones de toneladas de esos residuos.
En junio de 2019, el primer ministro, Nguyen Xuan Phuc, inició un movimiento a nivel nacional contra el consumo masivo de estos productos, especialmente de los artículos desechables. Desde entonces, múltiples ministerios y entidades gubernamentales orientaron mitigar el uso de estos materiales mediante su sustitución por otros naturales y reciclables, el fortalecimiento de los trabajos de propaganda sobre el daño de los productos plásticos y la obligación de clasificar de residuos en las oficinas, entre otras medidas.
El primer ministro vietnamita Nguyen Xuan Phuc en un movimiento contra el residio plástico (Fuente: VNA)
Juntos con los esfuerzos del gobierno, la comunidad empresarial nacional también participa de manera activa en este movimiento con varios cambios en la política de comercio, tales como el uso de materiales naturales para sustituir a las bolsas plásticas y la inversión en los proyectos para el reciclaje de residuos, entre otros.
En un supermercado de Vietnam, donde usan las bolsas amigables con el medio ambiente (Fuente: VNA)
Perfeccionar el marco legal sobre las obligaciones
En la actualidad, los residuos plásticos se clasifican como materiales reciclables. Sin embargo, el sistema legislativo vietnamita no cuenta con las instrucciones sobre la gestión, la recogida y tratamiento de los mismos, así como se adolece de políticas adecuadas para incitar las inversiones con ese propósito.
Por lo tanto, una de las medidas directas para reducir la emisión de los desechos plásticos es la mitigación del consumo de este material. Además, los órganos gubernamentales, las empresas y toda la sociedad deben participar en los movimientos, desplegar las iniciativas y propagar los modelos ejemplares.
A nivel nacional, el Gobierno necesita emitir las políticas y estrategias convenientes para estimular la utilización de las materias reciclables y los productos ecológicos, así como estrechar el control y la supervisión de la emisión de los residuos plásticos.
Los absorbentes hechos de bambú y cristal vendidos en Vietnam (Fuente: VNA)
With the rise of social networks, such as Zalo, Facebook, Youtube, etc., illegal trade of elephant ivories has been booming. Advertisements on non-sense miraculous effects of the item, such as chasing away evil spirits and bringing power, prosperity and luck, have greatly boosted the demand for it.
Illegal ivory trade is widely available at physical and online retail outlets throughout Vietnam, according to a new TRAFFIC report published with support from USAID.
The study, “From tusk to trinket: persistent illegal ivory markets in Vietnam,” documents surveys recently carried out at 852 retail outlets in 13 locations and 60 individual sellers on 17 online platforms.
Although selling ivory is illegal in Vietnam, researchers found more than 10,500 items for sale, demonstrating the persistence of the ivory retail market.
But the report also found that retailers are often transitory.
Although ivory was found in all 13 locations, its sale appeared to highly transitory in nature: repeat visits found that 43 per cent of retail outlets observed with ivory had only just began to sell, stopped selling or simply closed over the course of the survey. The comparable figure for online retailers was 86 per cent.
There are clear links between Vietnam’s physical ivory markets and online outlets, the report said.
The survey found retail outlets expanding their networks to sell ivory items online and vice versa.
In eight instances, online sellers were either linked to physical stores or physical stores were also selling their items on social media websites, e-commerce websites or online forums.
With the thriving market, Vietnam is considered a transition station for trans-national wildlife trafficking, as admitted by the Ministry of Agriculture and Rural Development in its Action Plan for Preventing Elephant Ivory and Rhino Horn Trading 2018-2020.
Wildlife trafficking, especially elephant ivory trading, not only brings about detrimental effects to national security and consonation goals, but also deters the country’s law enforcement to fight illegal ivory trade.
In order to fight wildlife trafficking, Prime Minister Nguyen Xuan Phuc in September 2016 issued a Direction on urgent measures in preventing and fighting against wildlife animal abuse.
Accordingly, the Government undertakes to tighten legal regulations on wildlife protection through ‘reviewing, monitoring and seriously handling illegal elephant ivory and rhino horn trading activities; carefully examining craft villages, workshops, souvenir and traditional herbal medicine stores’.
To reduce and eliminate Vietnam’s illicit ivory markets, insiders offer a number of recommendations to the Vietnamese Government, conservation groups and the wider stakeholder community.
They include closing legislative loopholes, boosting enforcement capacity and increasing deterrents against criminal activity, restricting the market availability of ivory, reducing consumer demand for ivory, and continuing to monitor market trends.
In 2013, the Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora (CITES) Secretariat told Vietnam to prepare a National Ivory Action Plan as part of its international responsibility under the convention to address the illegal ivory trade and curtail the associated poaching of elephants.
The plan included activities addressing regulations, corruption and ivory stockpile management among other things.
According to experts in wildlife protection, Vietnam is among the world’s most bullish elephant trading markets
Despite strenuous efforts from within and without Vietnam, wildlife trafficking situation, especially illegal elephant ivory trading, is still complicated, greatly hindering the law enforcement forces.
According to experts in wildlife protection, Vietnam is among the world’s most bullish elephant ivory trading markets. It is estimated that 150 elephant ivory trading cases with a total volume of 53 tonnes were confiscated from 2010 to 2018, according to Education for Nature-Vietnam (ENV) organisation. Among which, 30 cases with volumes of over 500 kilos per one were uncovered. A majority of them were captured at border gates and sea ports.
What causes headache among authorities is that no recipients were captured in spite of addresses written in each shipment.
Given the unusual situation, Vietnamplus journalists visit Don village, Buon Don district, Buon Me Thuot city, Dak Lak province, where is renowned for its name of ‘Vietnamese elephant capital’. The visit revealed a number of sophisticated tricks of ivory traders./.
A break into Vietnamese ivory capital
On early days of March, elephants are stirring up the atmosphere of the Coffee Festival in Buon Ma Thuot city in Dak Lak province. They are living the moment without any idea that their family members elsewhere are being brutally killed for ivory, fur, skin and bone.
Ivory hunt
With advice from some ivory buyers who also attend the Coffee Festival, we Vietnamplus journalists, distinguished as visitors, easily discover a handicraft outlet on Y Ngong street.
Here, we are offered with abundant choices, such as rings, necklaces, pens, combs, etc., which are made from elephant tush. When asking for ‘something cooler’, we are told to pay over 4,000 US dollars to own whole tusk weighing 2.2 kilos.
Ivory items are publicly displayed for sale in Dak Lak province (Photo: Vietnam+)
Right next to the place where an outlet staff member is convincing us to buy ivory items, sit a young man, who seems to be an experienced ivory buyer. He is bargaining with the shop owner, whose name is V., over the price of tusks contained in large nylon bags.
V., after finishing talking to the guy, turns his head to us, whom he sees as potential customers. He points to shiny glass shelves in a hidden corner of the outlet, on which full of ivory items are on display, while assuring us they are all ‘authentic’. “If these products are made from fake ivory, I will give you thousands of dollars, even my car” he speaks confidently.
Ivory displayed publicly for sale in Don village
V. is not the only ivory dealer in Don village. Ivory trading is so hectic that it even has a ‘black market’ within the market itself. The black market is operated by double-job secret vendors.
With a random question on where to buy ivory products, H., a ticket collector at Don village eco-tourism site immediately shows herself as an ivory dealer. She pulled out from her purse several ivory-like products.
Authentic ivory products are only introduced when mutual trust is built between traders and buyers.
She revealed a trick that ivory dealers often adopt, which is displaying and carrying fake ivory products to avoid police officers’ suspicion. Authentic ivory products are only introduced when mutual trust is built between traders and buyers.
It is so nice of her that she even tells us how to differentiate authentic and fake ivory products.
“Authentic ivory products must be concealed carefully to prevent not only police officers’ suspicion and also thieves. An authentic ivory bracelet could be sold at thousands of dollars. Who do not want good cash?” H. says.
Ivory items are publicly displayed for sale in Dak Lak province (Vietnam+)
Believing that we want to buy authentic ivory jewelries, she makes a phone call to her husband to bring authentic ones from home to show us. Among those ivory items, the experienced dealers also include a package with an address in Dong Thap province on it. Such shipment is among many others that have been successfully shipped across Vietnam, according to H.
She assures us that the shipments encounter no difficulties when boarding on trains or planes. “I once carried a bunch of ivory bracelets to the airplane without any troubles,” she adds.
Before we leave, she also gives us her number, telling me to reach her if I need anything ‘bigger’. To prove her capacity of offering such products, she shows me some images of whole elephant tusk, which she has sold recently.
She also complains over a pending a dozens-of-thousand-dollar deal for a large elephant teeth due to strict surveillance of local authorities during the Coffee Festival.
Her statement is also affirmed by other ivory dealers in Don village. They all tell us to wait for a few days after being asked for a whole tusk.
Apart from the ivory capital, various souvenir outlets in famous tourist attractions across Vietnam also display ivory products. The venues include but not limited to Ben Thanh market in Ho Chi Minh City, Bao Dai Palace in Da Lat city, Lam Dong province.
In order to reach more customers, ivory market, despite a black one, also go for e-commerce.
Ivory dealers join e-commerce
Apart from the ivory capital, various souvenir outlets in famous tourist attractions across Vietnam also display ivory products. The venues include but not limited to Ben Thanh market in Ho Chi Minh City, Bao Dai Palace in Da Lat city, Lam Dong province.
In order to reach more customers, ivory market, despite a black one, also go for e-commerce.
Ivory dealers go digital
After voicing our need for a tailor-made ivory sculpture, an owner of a souvenir outlet in Nguyen Van Cu street in Buon Ma Thuot city, Dak Lak province told us to add his account in Zalo, a familiar social network to Vietnamese people, to work on the trade deal.
Ivory products are displayed for sale (Photo: Vietnam+)
A few days later, N. – the outlet owner – sends me a picture of a 4-kilo elephant tusk which he assures that it matches perfectly the size of the sculpture we want.
While N. keeps persuading us to close the deal, a message from G., a Lao dealer living in Vietnam, also arrives, urging us to send detailed description of the sculpture we want.
Similar to N., G. uses Zalo as a trading platform to sell the prohibited products. She has a professional selling procedure. “You need to know what you want first, then tell me about it. I will send you pictures of similar products for you to choose. After you agree on a product, you can send me deposit,” G. suggests.
Hectic ivory market only
Ivory dealers not only use Zalo as a mean of communication, but they also use it as an online store.
NP., a dealer in Buon Me Thuot city, Dak Lak province, posts a few statuses advertising his ivory products, both raw material and elaborately carved products, on Zalo a day. With a wide range of products at various prices, his virtual store seems more diverse than any stores we have visited during our trip to the province.
Ivory products are displayed publicly in social networks (Photo: Vietnam+)
Besides Dak Lak, online stores selling ivory products are pretty common in various localities, especially metropolises such as Ho Chi Minh City. The online ivory stores are no less professional than any other stores in social networks. Dealers post pictures and videos of their products every day.
With substantial profit from selling ivory, a souvenir outlet owner in An Binh street, district 5, Ho Chi Minh City also does a part time job of selling the products to anyone with a demand of owning those.
After being acknowledged that we are looking for a whole tusk for carving a sculpture, he sends me a picture of African ivory, which he vows that it comes from Africa.
“The price for raw ivory is 30 million Vietnamese dong for a kilogram. If you agree, please make deposit. I will tell my people in Hanoi to send me the shipment then I will deliver it to you,” he instructs me.
Dealers even work with multiple logistic firms to provide customers with various choices of shipping services.
Ivory products are displayed publicly in social networks (Photo: Vietnam+)
Apart from Facebook and Zalo, ivory products even show up on big online retail platforms. For example, when searching for the keywords ‘ivory’ in Sendo.vn, one of the largest digital trading platforms in Vietnam, one might see hundreds of results.
After contacting the shop owners on Sendo, we try to make an appointment with them to see the products in our own eyes. Meeting with them, we are overwhelmed with the products’ diversity. According to them, what they post online are just ‘for show’ as they even have much more, as long as customers reveal what they look for.
Answering Vietnamplus on marketing and selling elephant ivory on social networks and digital trading platform, a representative from Ho Chi Minh City Public Security Department said: “Firstly, we must be clear that ivory trading is illegal. Even when one sells fake ivory products, it is still illegal as advertising wildlife products is against current governing laws”./.
Paradox in ivory market
Easy to trade, difficult to discover
Ivory products win customers’ favour due their false belief that ivory can chase away evil spirits and bring luck to bearers. This blind faith, along with lenient regulations over wildlife trafficking, has taken away many lives of innocent elephants.
From a blind faith
Searching for ‘ivory products’ on social networks and digital trading platforms, one might see plenty of ads indicating the miraculous effects of elephant ivory.
In order to attract customers, dealers continually fraudulently claim that ivory jewelries are lucky charms, which could bring their owners good business deals, power, romantic relationships while chasing away evil spirits and bad lucks.
Showing Vietnamplus journalists meticulously carved ivory bracelets, N., a vendor in Ben Thanh market, Ho Chi Minh City, affirmed “These bracelets could control bearers’ blood pressure and chase away evil spirits haunting you. Wearing those, you will be very healthy”.
Ivory trading is among major factors driving elephants to the brink of extinction.
The false claims on ivory products’ extraordinary impacts have drawn great attention from consumers regardless of their social backgrounds.
Ivory trading is among major factors driving elephants to the brink of extinction.
In order to attract customers, dealers continually fraudulently claim that ivory jewelries are lucky charms, which could bring their owners good business deals, power, romantic relationships while chasing away evil spirits and bad lucks (Photo: Vietnam+)
Even those with good education background are deceived by false claims of miraculous effects of ivory products, leading to tragic deaths of thousands of elephants worldwide every year.
To deaths of innocent elephants
The study, “From tusk to trinket: persistent illegal ivory markets in Vietnam,” documents surveys recently carried out at 852 retail outlets in 13 locations and 60 individual sellers on 17 online platforms.
Although selling ivory is illegal in Vietnam, researchers found more than 10,500 items for sale, demonstrating the persistence of the ivory retail market.
The question is how such a great amount of ivory products could freely circulate in the market.
The question is how such a great amount of ivory products could freely circulate in the market.
Da Lat city in Lam Dong province has been identified as a hotspot of ivory trading nationwide. In recent years, the municipal authorities have accelerated inspection and control over ivory trading activities within the localities. Thus, ivory products are no longer displayed publicly in souvenir outlets. However, they have not really gone but moved to hidden shelves in local jewelry and gem stores.
As observing five random jewelry and gem stores in Nguyen Thi Minh Khai road, Da Lat Central Market and La Tulipe Mall, we discover that one might easily find products made from elephants’ ivory and fur once asking.
Similarly, the market in Ho Chi Minh City is no less vibrant. Stores selling ivory products are located everywhere, from traditional markets to shopping malls.
An owner of NT. gem store in An Dong shopping mall, after showing us various ivory products, whispered in our ears “We have all kinds of ivory products. Just send me pictures of what you like, we will deliver them to you”.
In order to avoid local authorities’ inspection, they only introduce the prohibited products after carefully verify customers. They also tell the buyers to keep their head down to avoid troubles for the both sides.
“We have to conceal those products very carefully or else we will be captured right away”, N., a vendor in Ben Thanh market, Ho Chi Minh City whispers.
“It is customers with continual demand for ivory who indirectly cause elephants’ deaths”
Ama Kong is dubbed as ‘King of Elephants’ in Vietnam for his natural ability of domesticating wild elephants. His love for elephants has been passed down to his kids and grandkids.
It is customers with continual demand for ivory who indirectly cause elephants’ deaths”
It is customers with continual demand for ivory who indirectly cause elephants’ deaths”
One of Ama Kong’s kids Kham Phet Lao tells Vietnamplus reporter “Back in those days when my grandfather was still alive, anyone who kill elephants might be subject to strict punishments, even death penaly.”
Then he looks down with a sad face and says, “It is customers with continual demand for ivory who indirectly cause elephants’ deaths”.
Police often encounters difficulties in dealing with ivory trafficking mostly because of their limited human resource (Photo: Vietnam+)
According to a chief officer of the Environment Police Division under Ho Chi Minh City’s Department of Public Security, they often encounter difficulties in dealing with ivory trafficking mostly because of their limited human resource.
“There is a lot of information about ivory dealers on social networks. We have also received information from social organisations. However, with only three officers in the Environment Police Division, we cannot handle all of that. Meanwhile, we also have to handle other crimes relating to the environment,” he added.
The situation is not better in Dak Lak province. One month following our reporting on ivory trading activities within the localities, we only receives head shakes from the provincial public security sectors.
“We have inspected the venues but we could not verify the cases. So we cannot capture them,” they say.
It could be seen that there is a paradox between our easy access to ivory products and relevant authorities’ difficulties in capturing and handling the cases./.
Joint efforts needed to fight ivory trafficking
Given the complicated accelerations of ivory trading activities in Vietnam, the local authorities’ efforts to prevent and fight against the situation encounter numerous difficulties.
Vietnamplus had an interview with Bui Thi Ha, vice director of Education for Nature on the issue.
Please give the real picture about illicit trading of ivory and ivory byproducts in Vietnam?
According to an assessment by the Education for Nature (ENV), the current illegal trading of ivory and its byproducts in Vietnam is very complicated. Vietnam is not only a promising market for ivory consumption but also an important transshipment place in the trafficking of wild animals to other regional countries.
From 2010 to 2018, EVN recorded some 150 cases of trafficking of over 53 tonnes of ivory. Of the amount, more than 30 cases with a total weight of over 500kg of ivory each were seized at both border gates and seaports.
Vietnam is not only a promising market for ivory consumption but also an important transshipment place in the trafficking of wild animals to other regional countries.
However, the trading of ivory now is not as openly done as in the past in many traditional village markets, but functional agencies have still been able to detect quite a few of them and have seized a big amount of ivory.
Besides that, the internet has become a means for ivory traders to do their business illegally.
I have to admit that the seizure of illegal ivory only reduces the benefits for the trading criminals, and doesn’t deter related crimes.
Ivory trading activities in Vietnam is complicated (Vietnam+)
Why is Vietnam a “centre” or transhipment point for cross-border ivory trafficking?
Vietnam is situated in a very good position for the trafficking of ivory in Southeast Asia.
From 2010 to 2018, some 150 trafficking cases were detected and seized, and traffickers in only 30 cases were brought to court. And only traffickers involved in 10 cases were sentenced to prison.
Though the amount of ivory seized was high, the handling of such illegal trading was very limited. From EVN’s point of view, Vietnamese functional agencies should get more involved in the fight against illegal ivory trafficking, and traffickers should be given due punishments.
The best deterrent is to give the traffickers heavy sentences
Can you elaborate on your suggestion that Vietnam should take stronger legal measures to “fill the void” in ivory trafficking?
In my opinion, the best deterrent is to give the traffickers heavy sentences.
I should say that the ENV has many times informed Vietnamese functional agencies about Vietnamese ivory traffickers on the internet. However, in many cases, these agencies have not properly evaluated the level of seriousness of those trafficking acts.
Adding to that, at present, Vietnam is keeping some 50 tonnes of ivory that has been seized in State storage, and the authorities have not yet adopted any measures to solve this problem.
I should also say that in 2016, at the onset of the Hanoi international conference on anti-wildlife trafficking, Vietnam destroyed more than two tonnes of elephant ivory and 70kg of rhino horns which were illegally brought into Vietnam. Such action taken by the Vietnamese authorities has been highly acclaimed by foreign countries.
The ENV’s point of view is very clear: all countries should join hands in the fight against the illegal hunting and trafficking of both elephants and Rhinos.
At present, Vietnam is keeping some 50 tonnes of ivory that has been seized in State storage (Photo: Vietnam+)
Do you think that Vietnam’s Criminal Code on giving heavy sanctions to wildlife traffickers, particularly elephant ivory, is strong enough?
Under the 2015 Vietnamese Criminal Code which came into force on January 1, 2018, any trafficker found trafficking more than 2kg of elephant ivory will be sentenced to 15 years of imprisonment. This is a demonstration of Vietnam’s political will in the fight against such serious crimes.
Photo: Vietnam+
Vietnam should focus more on detecting and giving due sanctions to the ringleaders of elephant ivory, rhino and products from other wild animals.
However, from the ENV’s point of view, we suggest that Vietnam should focus more on detecting and giving due sanctions to the ringleaders of elephant ivory, rhino and products from other wild animals.
What’s more important, Vietnam should take action to prevent the selling, buying and consuming of elephant ivory and give due sanctions to the culprits.
In addition, the ENV also encourages Vietnamese authorities to destroy a part of the elephant ivory being kept in storage. Such an action will demonstrate the country’s will to give harsh punishments to elephant ivory trafficking.
Chủ đề hồi hương các phần tử thánh chiến nước ngoài, chủ yếu là là công dân châu Âu, từng tham chiến cho tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng tại Iraq và Syria, đã được bàn thảo hơn 1 năm nay kể từ khi liên minh quốc tế chống IS do Mỹ dẫn đầu tuyên bố “xóa sổ” tổ chức khủng bố này tại khu vực Trung Đông.
Tổng thống Mỹ Donald Trump không ít lần hối thúc các đồng minh châu Âu (đặc biệt là Anh, Pháp và Đức) cho hồi hương những công dân nước mình tham gia IS hiện bị giam giữ tại Syria hay Iraq, thậm chí đe dọa Washington “buộc phải thả những tay súng này nếu châu Âu không tiếp nhận.”
Cuộc họp khẩn của liên minh chống IS kết thúc tại Washington trong bế tắc bởi Mỹ và các nước châu Âu tiếp tục chia rẽ về việc hồi hương các tay súng IS nước ngoài, lên tới khoảng 10.000 người, đang bị giam giữ ở Syria và Iraq.
Các nước Trung Đông cũng kêu gọi những quốc gia có liên quan phải cùng “gánh vác trách nhiệm,” bởi các tay súng thánh chiến nước ngoài như vậy được xem như những “quả bom hẹn giờ.”
Tuy nhiên, dường như các quốc gia có công dân tham gia IS ở Trung Đông, đặc biệt là các nước châu Âu, vẫn chưa thống nhất được quan điểm về việc có cho phép số người này hồi hương hay không.
Cuộc họp khẩn của liên minh chống IS vừa kết thúc tại Washington trong bế tắc bởi Mỹ và các nước châu Âu tiếp tục chia rẽ về việc hồi hương các tay súng IS nước ngoài, lên tới khoảng 10.000 người, đang bị giam giữ ở Syria và Iraq.
(Nguồn: Getty Images)
Cuộc họp khẩn được tổ chức theo đề xuất của Pháp trong bối cảnh sự lo ngại về tương lai của các tù binh trên đang ngày càng gia tăng khi Mỹ chính thức rút quân khỏi miền Bắc Syria.
Đây cũng là lần thứ hai liên minh quốc tế này nhóm họp nhằm bàn về “kế sách” tiếp theo trong cuộc chiến chống IS sau cuộc họp đầu tiên cũng diễn ra tại Washington vào tháng 2/2019, phản ứng với quyết định bất ngờ cuối năm 2018 của Tổng thống Trump về việc rút 2.000 binh lính Mỹ từ Syria về nước.
Giống như cuộc họp tháng 2, tại cuộc họp 9 tháng sau đó, đại diện 31 nước thành viên liên minh chống IS cũng không đi đến sự đồng thuận nào về “chương mới” của cuộc chiến chống khủng bố tại Trung Đông sau khi Mỹ rút quân khỏi Đông Bắc Syria.
Thay vào đó là sự bất đồng và đùn đẩy trách nhiệm giữa Mỹ và các nước châu Âu về việc giải quyết vấn đề tù binh IS đang bị giam giữ tại Syria và Iraq.
Quan điểm của Mỹ là rõ ràng: đã đến lúc châu Âu phải gánh vác trách nhiệm vì phần lớn những tay súng IS người nước ngoài bị bắt giữ hiện nay là công dân châu Âu.
Tuy nhiên, các nước châu Âu đã thể hiện thái độ lưỡng lự, né tránh bằng những lý do an ninh ở trong nước và các thách thức về mặt hậu cần.
Dư luận nhiều nước cho rằng nếu cho phép các tay súng IS hồi hương, nguy cơ đất nước bị tấn công khủng bố sẽ tăng gấp nhiều lần.
Chuyên gia Lorenzo Vidino thuộc Đại học George Washington nhận định việc châu Âu từ chối hồi hương nhóm người này xuất phát từ lo ngại về an ninh.
Một khi hồi hương các tay súng IS về châu Âu, việc kết tội những đối tượng này để tiếp tục giam giữ sẽ gặp khó khăn về pháp lý bởi họ phạm tội ở nước ngoài, khó tìm đủ bằng chứng để truy tố.
Bên cạnh đó là nguy cơ gia tăng các cuộc tấn công khủng bố ngay trên lãnh thổ châu Âu do chính những đối tượng này tiến hành, và sự phản ứng của xã hội châu Âu.
Bản thân Tổng thống Mỹ từng tuyên bố nếu được thả ra, các tay súng IS “sẽ lại gây ra nhiều tai ương trên toàn cầu.”
Các tay súng Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) tại Raqa, Syria ngày 30/6/2014. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Các chuyên gia từng cảnh báo việc liên minh quốc tế giành lại kiểm soát phần lãnh thổ IS chiếm giữ tại Syria không đồng nghĩa với việc chấm dứt các tư tưởng cực đoan và nguy cơ đe dọa khủng bố của tổ chức này, bởi vậy tìm ra phương án để các tay súng IS được hồi hương sẽ không thể gây ra các hành động tấn công khủng bố sau khi trở về nhà, thực sự là thách thức lớn.
Trong khi đó, các cuộc khảo sát cho thấy nhiều người dân châu Âu không mặn mà với kế hoạch hồi hương chiến binh IS bởi những nguy cơ không thể kiểm soát được.
Dư luận nhiều nước cho rằng nếu cho phép các tay súng IS hồi hương, nguy cơ đất nước bị tấn công khủng bố sẽ tăng gấp nhiều lần, đồng thời hoạt động truyền bá tư tưởng cực đoan cũng sẽ gia tăng và trở nên khó giám sát…
Chẳng ai dám bảo đảm những tay súng từng bị tiêm nhiễm tư tưởng thánh chiến sẽ không “ngựa quen đường cũ” ở ngay trên đất châu Âu.
Theo số liệu của tổ chức Mỹ The Soufan, hơn 1.000 tù nhân IS người châu Âu đang bị giam giữ tại các nhà tù do người Kurd kiểm soát tại Đông Bắc Syria, bên cạnh 1.500 người là thân nhân của những phần tử cực đoan này.
Tuy nhiên, con số này chỉ là một phần nhỏ trong tổng số 6.000 người châu Âu đã rời bỏ quê hương đến tham gia thánh chiến ở Syria sau khi IS tuyên bố thành lập cái gọi là “Vương quốc Hồi giáo” tại Mosul, Iraq hồi năm 2014.
Trên thực tế, chính phủ nhiều nước châu Âu trong tình thế “tiến thoái lưỡng nan” đối với vấn đề này. Chính phủ Anh tới nay vẫn “phớt lờ” sức ép từ Mỹ cho rằng những chiến binh nước ngoài của tổ chức IS nên được xét xử ở nơi “các tội ác đã được thực hiện.”
Đức công nhận “quyền cơ bản” được trở về nước của công dân, song một sự trở lại sẽ chỉ có thể được thực hiện nếu chính quyền Đức có thể đảm bảo rằng những người này sẽ được đưa ra xét xử ngay lập tức và phải bị giam giữ.
Thụy Điển có khoảng 100 công dân tham gia IS, song lại không muốn hồi hương họ bởi “những công dân Thụy Điển tham gia tổ chức IS đã gây ra tội ác trước tiên phải được phán xét tại các quốc gia nơi họ đang ở” như tuyên bố của Bộ trưởng Nội vụ Thụy Điển Mikael Damberg.
Một thực tế là Thụy Điển hiện chưa có cơ sở pháp lý chặt chẽ trong việc xét xử các phần tử khủng bố, nên nếu cho hồi hương những công dân tham gia IS thì tòa án nước này cũng không có căn cứ để xét xử.
Hồi đầu tháng, Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt đầu thực hiện kế hoạch hồi hương các tay súng thánh chiến IS được cho là có gốc châu Âu và bị bắt giữ tại nước này, trong đó có người quốc tịch Đức, Pháp, Bỉ và Ireland.
Các tay súng Tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) tại Raqa, Syria ngày 30/6/2014. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng nếu thế giới muốn cùng nhau đấu tranh chống khủng bố thì các tất cả các quốc gia phải quản lý chính những đối tượng khủng bố của nước họ.
Mặc dù động thái của Thổ Nhĩ Kỳ được cho là để gây sức ép với Liên minh châu Âu (EU), bởi việc nhận lại các chiến binh IS sẽ khiến dư luận châu Âu lo sợ, song điều đó cũng cho thấy EU khó có thể chần chừ khi vấn đề đã quá cấp bách.
Pháp đã thương lượng với Iraq về việc xét xử các tù binh Pháp ngay tại quốc gia Trung Đông. Quan điểm của Pháp là nên xét xử các tay súng IS tại những nơi gần nhất có thể – ám chỉ không hồi hương những đối tượng này.
Kể từ đầu năm 2018, tòa án Iraq đã ra phán quyết đối với 514 đối tượng IS là công dân Pháp, trong số này có nhiều trường hợp bị kết án tử hình.
Đổi lại, Chính phủ Iraq cũng yêu cầu phương Tây bồi thường tài chính cho các hoạt động giam giữ, xét xử và cung cấp thực phẩm cho số tù binh này.
Do đó, các quốc gia châu Âu như Anh, Đức, Bỉ, Đức hoàn toàn có thể đưa ra yêu cầu tương tự với Iraq để giải quyết số phận của 1.000 tù nhân IS công dân những nước này.
Tuy nhiên, tiến trình xét xử một tù binh IS ngốn nhiều thời gian trong khi điều kiện các cơ sở giam giữ tại Iraq còn yếu kém sẽ gây ra gánh nặng đối với một quốc gia còn nhiều bất ổn an ninh và khó khăn như Iraq.
Với tình hình này, nguy cơ các tù nhân IS lợi dụng sơ hở về an ninh để trốn thoát và sự hồi sinh của IS từ những “chân rết” có tư tưởng cực đoan này là điều có thể tính tới.
Nhiều rủi ro đang rình rập không chỉ với châu Âu mà là cả thế giới từ những “quả bom nổ chậm” này.
Bên cạnh đó, việc Mỹ tuyên bố rút quân tại miền Đông Bắc Syria, bỏ lại phía sau lực lượng người Kurd, cũng tạo nguy cơ tiềm ẩn trong việc kiểm soát một số lượng lớn tay súng thánh chiến bị giam giữ ở khu vực này.
Đó là chưa kể tình hình chính trị tại Syria có thể thay đổi và những nhóm tàn dư của IS đang lẩn trốn để chờ đợi cơ hội trỗi dậy. Chỉ riêng tình hình nhân đạo tồi tệ trong các trại giam giữ tù nhân chật chội và kém an ninh cũng đang gây mối lo ngại lớn.
Các chuyên gia cho rằng ngày càng có nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy các trại này cũng là những môi trường thuận lợi để IS hồi sinh.
Rõ ràng số phận của hàng trăm tay súng thánh chiến châu Âu từng chiến đấu ở Trung Đông hiện bị giam giữ ở Syria và Iraq đang đặt ra thách thức lớn đối với EU.
Nhiều rủi ro đang rình rập không chỉ với châu Âu mà là cả thế giới từ những “quả bom nổ chậm” này. Đây là vấn đề vô cùng hóc búa vì nếu không xử lý tốt sẽ gây ra những nguy cơ không thể kiểm soát được.
Trong khi đó, EU đến nay vẫn chưa có quyết định nào ở cấp độ của khối và vấn đề này thuộc thẩm quyền chính phủ của từng quốc gia thành viên./.
Các tay súng IS tại tỉnh Anbar, Iraq ngày 17/3/2014. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Ngày 16/11, khoảng 16 triệu cử tri Sri Lanka sẽ đi bỏ phiếu bầu tổng thống mới cho quốc gia Nam Á này. Với nhiều thách thức về kinh tế, an ninh-xã hội thời gian qua, nhà lãnh đạo mới của Sri Lanka được kỳ vọng sẽ đưa ra được những chính sách hiệu quả, giúp quốc gia này vượt qua giai đoạn khó khăn, cải thiện đời sống, phục hồi tăng trưởng, thúc đẩy hàn gắn giữa các cộng đồng, đáp ứng mong mỏi của người dân.
Là đảo quốc nhỏ ở Ấn Độ Dương, Sri Lanka có 21,8 triệu dân và nằm trong nhóm quốc gia có thu nhập trung bình (4.102 USD/người vào năm 2018). Sau khi cuộc nội chiến kéo dài 26 năm kết thúc vào năm 2009, nền kinh tế Sri Lanka đã dần phục hồi với tăng trưởng trung bình mỗi năm ở mức 5,6% trong giai đoạn 2010-2018. Tỷ lệ đói nghèo đã giảm từ 15,3% trong năm 2006 xuống còn 4,1% năm 2016.
Tuy nhiên, những năm gần đây, con số tăng trưởng đã có dấu hiệu chững lại. Cuộc khủng hoảng chính trị năm 2018 là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
Cuộc bầu cử tổng thống năm 2019 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Sri Lanka đang tăng trưởng ở mức thấp nhất trong 18 năm
Năm ngoái, bất ổn liên quan đến việc Tổng thống Maithripala Sirisena cách chức rồi bổ nhiệm lại Thủ tướng Ranil Wickremesinghe đã khiến đồng nội tệ mất giá, nền kinh tế Sri Lanka bị các cơ quan xếp hạng tín nhiệm hạ bậc.
Cuộc bầu cử tổng thống năm 2019 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Sri Lanka đang tăng trưởng ở mức thấp nhất trong 18 năm. Trong báo cáo mới nhất, Ngân hàng Thế giới (WB) đã hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế của Sri Lanka năm nay xuống còn 2,7%.
Với tổng nợ công lên tới 72 tỷ USD (82% GDP), trong đó gần một nửa là nợ nước ngoài (34,4 tỷ USD), Chính phủ Sri Lanka hiện nay đang gặp khó khăn trong việc trả nợ, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Cảnh sát và các quan chức bầu cử làm nhiệm vụ tại thủ đô Colombo, Sri Lanka ngày 15/11/2019. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Để trả được số nợ này, trong 3-4 năm tới, ước tính mỗi năm Sri Lanka phải nhận được 3 tỷ USD từ thị trường vốn nước ngoài, đồng nghĩa với việc chính phủ cần thực hiện các chính sách “thắt lưng buộc bụng”, cũng như tìm cách giảm bớt gánh nặng từ khu vực nhà nước với 1,5 triệu lao động. Dù lạc quan rằng tăng trưởng sẽ phục hồi vào năm sau, song WB cảnh báo tình trạng kinh tế của Sri Lanka còn phụ thuộc vào ổn định chính trị và các biện pháp cải cách nhằm tăng thu nhập ở nước này. Với đa số người dân Sri Lanka, nghèo đói và thất nghiệp vẫn đang là vấn đề họ quan tâm nhất hiện nay.
Trong tình trạng nợ cao và tăng trưởng yếu kém như vậy, nền kinh tế Sri Lanka lại tiếp tục chịu thêm cú sốc mới. Vụ tấn công khủng bố dịp lễ Phục sinh tháng 4 vừa qua đã khiến số lượng du khách giảm mạnh và ngành du lịch, vốn đóng góp 4,9% GDP, bị ảnh hưởng nặng nề. An ninh quốc gia một lần nữa trở thành tâm điểm ở Sri Lanka, nơi từng trải qua một trong những cuộc nội chiến dai dẳng nhất ở châu Á.
Vụ tấn công do các phần tử trung thành với tổ chức khủng bố “Nhà nước Hồi giáo” (IS) tự xưng thực hiện khiến 269 người thiệt mạng, đã làm dấy lên mối quan ngại về chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, đồng thời thể hiện thiếu sót nghiêm trọng trong công tác đảm bảo an ninh tại Sri Lanka.
Bên cạnh an ninh, vụ tấn công một lần nữa làm trầm trọng thêm căng thẳng sắc tộc tại Sri Lanka. Thống kê cho thấy số vụ bạo lực nhằm vào người Hồi giáo đã tăng đáng lo ngại sau vụ tấn công. Tại Sri Lanka, có tới 70% dân số theo đạo Phật, trong khi cộng đồng Hồi giáo chỉ chiếm 10%. Trước nguy cơ bạo lực leo thang, Tổng thống Sri Lanka Maithripala Sirisena đã chỉ thị nhà chức trách đảm bảo an ninh tối đa cho các ứng cử viên tham gia tranh cử.
Cảnh sát Sri Lanka tăng cường an ninh tại thủ đô Colombo. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tham gia tranh cử lần này có 35 ứng cử viên, một con số kỷ lục tại Sri Lanka. Mỗi cử tri sẽ được chọn tới 3 ứng cử viên theo thứ tự ưu tiên. Ứng cử viên nào giành được hơn 50% phiếu ủng hộ sẽ chiến thắng. Do đó, nhiều khả năng sẽ khó có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu ngay từ vòng một. Trong trường hợp đó, hai người có số phiếu cao nhất sẽ bước vào vòng hai. Tại vòng này, những lá phiếu chọn hai ứng cử viên trên làm ưu tiên số hai sẽ tiếp tục được cộng dồn vào để chọn ra người chiến thắng cuối cùng.
Trong số những ứng cử viên tham gia tranh cử lần này, lãnh đạo đảng đối lập Mặt trận Nhân dân Sri Lanka (SLPP), cựu Bộ trưởng Quốc phòng Gotabaya Rajapaksa và Bộ trưởng Nhà ở Sajith Premadasa, đại diện cho đảng Dân tộc thống nhất (UNP) cầm quyền là hai ứng cử viên sáng giá nhất. Nắm được nguyện vọng của cử tri, hai ứng viên đều đề ra hàng loạt giải pháp và cam kết nhằm tăng cường an ninh và thúc đẩy tăng trưởng.
Cựu Bộ trưởng Rajapaksa, 70 tuổi, từng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh bại nhóm Những con hổ giải phóng Tamil dưới thời cựu Tổng thống Mahinda Rajapaksa. Do đó, sau vụ tấn công khủng bố đẫm máu vào tháng Tư năm nay, nhiều người trong cộng đồng Phật giáo đã thể hiện sự tin tưởng vào năng lực lãnh đạo mạnh mẽ của ông. Ngay trong phát biểu tranh cử, ông Rajapaksa đã khẳng định sẽ mở lại cuộc điều tra về vụ tấn công, đồng thời coi an ninh và kinh tế là những ưu tiên hàng đầu khi lên nắm quyền.
Hiện trường vụ nổ tại khách sạn Shangri-La ở Colombo, Sri Lanka, ngày 21/4/2019. (Ảnh: THX/TTXVN)
Trong vấn đề kinh tế, ông Gotabaya đã cam kết sẽ giảm một nửa thuế giá trị gia tăng hiện đang ở mức 15% và bãi bỏ một số loại thuế khác nhằm kích thích tiêu dùng. Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn tới ngân sách bị thất thu hơn 600 tỷ LKR (tương đương 3,31 tỷ USD).
Về vấn đề phúc lợi, ông Rajapaksa cam kết thành lập thêm các trung tâm chăm sóc trẻ cho các bà mẹ đi làm, đồng thời xóa nợ nhỏ cho phụ nữ nông thôn.
Ông Premadasa, 52 tuổi, xem an ninh, kinh tế và phúc lợi cho người nghèo là những vấn đề cốt lõi trong cương lĩnh tranh cử. Đặc biệt, ông coi chủ nghĩa tôn giáo cực đoan, buôn ma túy, tham nhũng là ba vấn đề an ninh trọng tâm cần giải quyết. Những giải pháp mà ông đề xuất bao gồm đưa ra các luật mới nhằm giám sát tốt hơn, điều tra, khởi tố các phần tử cực đoan, tăng ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa cơ quan tình báo, cảnh sát và các lực lượng an ninh.
Tập trung vào nhóm người có thu nhập thấp trong xã hội, ông Premadasa đã cam kết cung cấp nhà ở miễn phí cho tất cả người dân, miễn phí đồng phục và bữa ăn cho học sinh và miễn phí phân bón cho nông dân. Để nâng cao bình đẳng giới, ông tuyên bố sẽ tăng thời gian nghỉ đẻ, tăng cường an ninh cho giao thông công cộng, thành lập một ủy ban phụ nữ mới nhằm giải quyết các vấn đề phân biệt đối xử.
Cử tri Sri Lanka đang hy vọng cuộc bầu cử sẽ tạo ra sự thay đổi để đem lại ổn định chính trị, bảo đảm an ninh và cải thiện kinh tế
Về kinh tế, ông Premadasa khẳng định sẽ nâng mức tối thiểu cho thuế giá trị gia tăng và giảm bớt các loại thuế khác. Với những chính sách như vậy, ông Premadasa đang giành được tín nhiệm của những người có thu nhập thấp cùng các cộng đồng người Tamil và Hồi giáo thiểu số tại Sri Lanka.
Mặc dù đưa ra hàng loạt các cam kết giảm thuế và khuyến khích tiêu dùng, song cả hai ứng cử viên lại bỏ qua vấn đề quan trọng là tăng nguồn thu ngân sách.
Phó Chủ tịch cơ quan đánh giá tín nhiệm Moody Anushka Shah nhận định nếu không được bù đắp bằng các biện pháp mạnh nhằm tăng thu nhập, việc thực hiện các chương trình mà hai ứng cử viên cam kết sẽ trì hoãn khả năng củng cố tài chính của Sri Lanka, cũng như khiến nợ công của chính phủ hiện đang ở mức cao có nguy cơ tiếp tục tăng.
Với những ưu thế riêng trong từng chính sách, cả hai ứng cử viên tổng thống triển vọng của Sri Lanka đều nhận được sự ủng hộ các nhóm cử tri nhất định trong xã hội. Hơn lúc nào hết, cử tri Sri Lanka đang hy vọng cuộc bầu cử sẽ tạo ra sự thay đổi để đem lại ổn định chính trị, bảo đảm an ninh và cải thiện kinh tế tại của quốc gia Nam Á này./.
Khách du lịch tại Colombo, Sri Lanka. (Ảnh: AFP/TTXVN)
El 2 de septiembre de 1945, el Presidente Ho Chi Minh proclamó en la plaza capitalina de Ba Dinh la independencia de Vietnam. En las elecciones generales de la primera Asamblea Nacional, celebradas a principios de 1946, Hanoi fue elegida como capital del país. La noche del 19 de diciembre de 1946, en respuesta al llamamiento de Ho Chi Minh, el ejército y los ciudadanos de Hanoi lanzaron una ofensiva contra los franceses.
A 65 años de la liberación de Hanoi, los recuerdos sobre ese acontecimiento histórico viven intactos en la mente de los jóvenes de una generación heroica, que se unieron con los residentes capitalinos en el ambiente festivo de aquel día.
Tras la resonante victoria de Dien Bien Phu, el Acuerdo de Ginebra fue rubricado el 20 de julio de 1954, obligando a las tropas colonialistas francesas a concluir su invasión en Indochina y también a retirarse de Indochina.
En virtud de ese pacto, después de nueve años de guerra de resistencia, el 10 de octubre de 1954, las calles de Hanoi se engalanaban con banderas y flores para saludar a las tropas revolucionarias que liberaron la capital.
A 65 años de la liberación de Hanoi, los recuerdos sobre ese acontecimiento histórico viven intactos en la mente de los jóvenes de una generación heroica, que se unieron con los residentes capitalinos en el ambiente festivo de aquel día.
Promesa cumplida
Con páginas de periódicos y fotos, cuyos colores ya no son los mismos de antes, en las manos, Pham Hong Cu, exsubjefe de la Dirección de Política del Ejército Popular de Vietnam, describió la imagen de Hanoi decorada con flores y banderas en otoño de 1954.
Una unidad de las tropas revolucionarias entró en Hanoi através de Cua Nam, el 10 de octubre de 1954. (Fuente: VNA)
Con las manos apretadas, el veterano contó los recuerdos de su juventud, cuando asistió a ambas resistencias del pueblo contra el colonialismo y el imperialismo.
“La vida de nuestra generación estaba vinculada con el destino del pueblo desde la lucha ardua por el éxito de la Revolución de Agosto de 1945. Estamos orgullosos de que pertenecimos a la generación de la “Jura de Independencia”, que consagró todos al cumplimiento de esa promesa,” contó el testigo histórico.
Hace 65 años, Pham Hong Cu se integró a las tropas libertadoras de Hanoi.
“Por cada paso en la larga marcha contra el colonialismo francés, soñamos con regresar a Hanoi, esta vez como los ganadores.”
“Para los vietnamitas, el 10 de octubre de 1954 es el día de liberación de Hanoi. Para mi generación, esa fecha marcó el cumplimiento de la promesa de regresar a la capital que hicieron los jóvenes hanoienses al partieron en 1946 de la ciudad para luchar contra el colonialismo,” expresó.
Nunca olvida el excombatiente de la División 308 de las fuerzas vanguardistas la imagen de Hanoi bajo el fuego del enemigo. El 17 de febrero de 1947, después de 60 días y nochas de resistencia contra los intentos del ejército francés de reinvadir a Vietnam, las tropas revolucionarias se retiraron de la capital para prepararse para una lucha duradera en el futuro.
Ardía el corazón de cada soldado y funcionario la nostalgía de Hanoi.
“Por cada paso en la larga marcha contra el colonialismo francés, soñamos con regresar a Hanoi, esta vez como los ganadores,” continuó.
Durante la resistencia anticolonialista, fue comisario político del Batallón Binh Ca y subcomisario político del Regimiento 36, de la División 308, y participó directamente en grandes campañas, entre ellas la batalla Dien Bien Phu en 1954.
La victoria resonante de esa operación estratégica obligó a los colonialistas a sentarse en la mesa de negociaciones del Acuerdo de Ginebra, que reconoce la independencia, la soberanía y la integridad territorial de los tres países indochinos, y retirar sus tropas del norte de Vietnam.
En virtud de ese pacto, los combatientes franceses tuvieron que retirarse de Hanoi dentro de 80 días.
“Con el fin de prevenir que el enemigo aprovechara el período de transición para destruir las bases económicas, culturales y sociales en Hanoi, se prepararon rigurosamente para reasumir el control de la capital. El 17 de septiembre de 1954, se estableció el Comité de Administración Militar de Hanoi,” precisó.
“Para los vietnamitas, el 10 de octubre de 1954 es el día de liberación de Hanoi. Para mi generación, esa fecha marcó el cumplimiento de la promesa de regresar a la capital que hicieron los jóvenes hanoienses al partieron en 1946 de la ciudad para luchar contra el colonialismo.” (Fuente: VietnamPlus)
En septiembre de 1954, los combatientes de la División 308 se congregaron cerca de Hanoi.
“A mediados de septiembre, recibimos una orden para marchar hacia el norte. El 19 de septiembre de 1954, fui uno de los soldados que tuvieron el honor de reunirse con el Presidente Ho Chi Minh en el Templo de los Reyes Hung (fundadores de la nación) en la provincia de Phu Tho, para escuchar las orientaciones sobre la misión en Hanoi.”
Imbuido en las emociones, el veterano militar dijo que quedas imprimidos en su mente los recuerdos de aquel día. El Tío Ho, sentándose en el rellano del templo, pidió que los combatientes mantuviera la unidad y la disciplina, para proteger el orden, la seguridad, la vida y los bienes de los pobladores, así como para luchar contra cualquier intento del enemigo.
“En especial, el Tío Ho aconsejó que fortaleciéramos los vínculos con el pueblo, para que todo el mundo, desde los niños hasta los ancianos, entendieran y confiaran en los soldados. El llamamiento pronunciado acá por el líder revolucionario “Los Reyes Hung crearon la nación, debemos protegerla” siempre vive en el corazón de los vietnamitas,” afirmó.
La División 308 entró en la calle Hang Dao el 10 de octubre de 1954. (Foto: VNA)
El regreso en triunfo
En su cuento, el excombatiente dijo que una coincidencia de la historia brindó especiales honores a su carrera militar.
“Me integré al Batallón Binh Ca, la primera unidad en retirarse de Hanoi en 1947 y también la primera en reasumir el control de la capital en 1954. Nosotros, los testigos tanto de la partida como el regreso, sentimos la alegría, a la vez que nunca olvidamos el sacrificio de nuestros compañeros y compatriotas, quienes cayeron por el retorno en triunfo.”
El 8 de octubre de 1954, el Batallón Binh Ca cruzó el puente Duong, convirtiéndose en la primera unidad en entrar en Hanoi para garantizar la seguridad para las tropas que se hicieron cargo de la capital dos días después.
Los capitalinos centraron sus miradas en la bandera nacional que ondeaba en el asta de Hanoi, el 10 de octubre de 1954. (Fuente: VNA)
A las 5:00 hora local del 8 de octubre, nada más se levantó el toque de queda, todos los capitalinos salieron a las calles para dar la bienvenida a las tropas libertadoras. El Comité de Administración Militar y los soldados se dividieron en grupos, para entrar en la capital a través de diferentes puertas.
“Aquel día todas las calles se decoraban con banderas, flores y pancartas. Todo el mundo salía con sus mejores ropas para celebrar ese evento. A las 8 horas, los soldados, con la insignia “Combatiente de Dien Bien Phu” en el pecho, regresaban a Hanoi en la calurosa acogida de los pobladores. Donde llegaban los soldados, resonaban oleadas de vítores. Las sonrisas se mezclaban con lágrimas, las manos se apretaban, y los ojos brillaban al ver a las tropas revolucionarias,” describió Pham Hong Cu.
Residentes en Hanoi dan la bienvenida a las tropas revolucionarias. (Fuente: VNA)
El histórico acto de saludo a la bandera nacional
El 10 de octubre de 1954, Hanoi estaba libre del enemigo. A las 15:00 hora local, el Comité de Administración Militar efectuó el primer acto de saludo a la bandera nacional en una capital liberada.
En el patio del Asta de la Bandera Nacional de Hanoi, todas las fuerzas se congregaron solemnemente.
El acto de saludo a la bandera nacional el 10 de octubre de 1954. (Fuente: VNA)
En la memoria de Pham Hong Cu, en las calles que rodean el sitio las multitudes de residentes locales dirigían, unánimente, la mirada hacia la bandera que ondeaba en el cielo de libertad.
Todos los soldados y pobladores escucharon a Vuong Thua Vu, presidente del Comité de Administración Militar, quien leyó el llamamiento del Presidente Ho Chi Minh enviado al pueblo de Hanoi.
Una unidad con la bandera “Quyet chien, quyet thang” (en idioma vietnamita significa “perseguir el combate a ultranza y estar decidido a vencer”) condecorada por el Presidente Ho Chi Minh, asiste al histórico acto de saludo a la bandera nacional. (Fuente: VNA)
“Después del acto, las multitudes se extendían por las calles. Cada persona guardaba en la mente el llamamiento del Presidente Ho Chi Minh, de que el pueblo de Hanoi trabajara con el Gobierno para superar las dificultades y construir una capital pacífica y próspera,” continuó.
El 10 de octubre de 1954 es también fecha que abrió un nuevo capítulo de la historia de la capital y del pueblo, el capítulo de los cambios, de paz y de desarrollo./.